Hồng Diệu - Nhà phê bình
viết về nhà phê bình
Hồng Diệu là nhà phê bình văn học, ông đã có nhiều tác phẩm đọng
lại trong tâm trí bạn đọc với các bài phê bình văn học trong và ngoài nước. Năm
2017, Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành tác phẩm “Lý luận phê bình văn học chọn
lọc” của ông.
Hồng Diệu là nhà phê bình văn học, ông đã có nhiều tác
phẩm đọng lại trong tâm trí bạn đọc với các bài phê bình văn học trong và ngoài
nước. Năm 2017, Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành tác phẩm “Lý luận phê bình văn
học chọn lọc” của ông. Sachvan.vn xin đăng chùm bài ông viết về các nhà phê
bình văn học của chúng ta.
Trân trọng!
CHUYỆN THƠ... CỦA HOÀI THANH
Gần bốn chục năm về trước, khi cùng với Hoài Chân viết xong
Thi nhân Việt Nam (1932 - 1941) điều Hoài Thanh "ngại nhất" là
"sẽ mang tên nhà phê bình". Ấy thế mà... “ghét của nào, trời trao của
ấy", sau đó, Hoài Thanh trở thành nhà phê bình thực thụ, và từ Cách mạng
tháng Tám đến nay, ông là một nhà phê bình được nhiều nhà văn và người đọc tín
nhiệm. Nhà phê bình ấy có một bản sắc vốn được hình thành từ sớm. Chuyện thơ...
lại một lần nữa thể hiện bản sắc của ông.
Quyển sách của Hoài Thanh dày trên ba trăm trang, gồm bốn
mươi bẩy bài tiểu luận và phê bình, chủ yếu là những bài đã đăng rải rác trên
báo chí, hoặc đọc trên đài phát thanh những năm gần đây (có cả một ít bài đã
đăng từ lâu chưa được tuyển vào những tập sách trước kia của ông). Điều dễ thấy,
ở đây hầu hết là những bài ngắn. Nhiều bài chỉ dài vài ba trang, sáu bảy trăm
chữ.
Ngay trong một số bài hiếm hoi dài hai, ba chục trang (Nói
chuyện thơ Bác, Một số ý kiến ngắn về thơ Tố Hữu) cũng được móc nối bằng những
đoạn ngắn có thể đứng độc lập được viết vào những thời kỳ khác nhau. Có người
nói, tuổi tác và sức khoẻ của nhà phê bình chỉ cho ông viết ngắn như vậy (năm
nay, tác giả Chuyện thơ... vừa tròn bẩy mươi tuổi). Điều đó nếu đúng chỉ đúng một
phần. Phần đúng hơn, có lẽ là ở chỗ nhà phê bình chủ trương viết ngắn. Chắc ông
cũng thấy như người đọc, lâu nay có những khi người ta kéo dài những trang viết
mà lẽ ra nó không cần thiết phải dài như thế. Vả lại, trong lý luận phê bình,
viết ngắn cũng có những cái lợi: về phía người đọc thì đỡ chán với lối văn nhiều
khi đụng chạm đến lý luận khô khan, còn người viết thì có nhiều thì giờ đề cập
nhiều chuyện, và với Hoài Thanh, có những chuyện tưởng như không thành chuyện.
Có điều, dù viết ngắn hay dài, phong cách của Hoài Thanh, bản sắc của Hoài
Thanh vẫn hiện ra rất rõ.
Bao trùm suốt cả quyển sách là tấm lòng mến yêu, trân trọng của
Hoài Thanh đối với vốn văn hoá của dân tộc, chủ yếu là với thơ - thơ xưa và thơ
nay. Với Truyện Kiều, với một bài như Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc đã đành. Với
thơ Chủ tịch Hồ Chí Minh, thơ Sóng Hồng, thơ Tố Hữu đã đành. Với một truyện thơ
độc đáo như Sống trong mồ đã đành. Với thơ được giải thưởng trong các cuộc thi
thơ đã đành. Ông còn nhiệt tình phát hiện và biểu dương những tác giả từ lúc mới
có dăm ba bài thơ hay như Nguyễn Duy, hoặc chỉ có một bài thơ khá chưa mấy ai
biết đến như Lương Xuân Đoàn, thậm chí có người chỉ có một vài câu thơ hay... Tấm
lòng ấy thật đáng quý.
Hầu như suốt ba trăm trang sách, nhà phê bình đều giữ được giọng
chân tình, đôn hậu, chứng tỏ đối với thơ, đối với đời, ông có một lòng yêu tha
thiết. Ông có đủ lý tình để chứng minh, để lý giải những điều ông muốn nói, cho
nên cần thiết lắm ông mới trích dẫn ý kiến người khác. Lý luận ở văn ông không
còn là "màu xám" nữa mà đã được thống nhất với tình cảm để trở thành
lá của "cây đời luôn luôn xanh tươi". Có thể nói, Hoài Thanh là một
trong số không nhiều những nhà phê bình kết hợp được một cách nhuần nhuyễn giữa
tư duy lô-gích và tư duy hình tượng. Đọc ông, nhiều khi người ta không thấy lý
luận đâu cả, chỉ thấy tình cảm, hay nói đúng hơn, lý luận đã hoà trong tình cảm
để đi vào trái tim trước khi đi đến khối óc người đọc.
Văn phê bình của Hoài Thanh tự nhiên, gần với phong vị tuỳ
bút như trước kia có người đã nhận xét. Ông lại có một bút pháp rất đa dạng. Từ
bố cục, kết cấu, đến cách viết đều không công thức, dễ thu hút được cảm tình của
nhiều người. Các bài viết không theo một khuôn mẫu nào nhất định mà biến hoá
linh hoạt. Có nhiều khi, ông ôn lại một kỷ niệm. Có những khi ông giãi bầy một
tâm sự riêng để nói về những cái chung. Có khi ông tóm tắt nội dung trước khi
bình thơ. Có khi ông dẫn thơ rồi mới bình. Có khi ông dẫn thơ mà không cần bình
để thơ trực tiếp đến với người đọc. Khi bình thơ ông thường mực thước, không sa
đà vào việc "tán" quá rộng, đi quá xa như một số người thường mắc. Từ
chuyện thơ, ông nghĩ chuyện đời. Từ chuyện đời, ông nghĩ chuyện thơ. Đọc thơ
người này ông nghĩ đến thơ người khác và so sánh, liên hệ. Nhiều khi thấp
thoáng sau những nhận xét của ông là một nụ cười ý nhị. Ông có những lối nói vừa
vui, vừa thâm thuý. Không ít người giới thiệu thơ tẻ nhạt, còn ông thì sinh động
v.v...
Đó là những biểu hiện của một người có nhiều kinh nghiệm
trong nghề.
Chuyện thơ... cho thấy Hoài Thanh có vốn hiểu biết sâu rộng.
Ông lại có con mắt tinh đời. Cho nên, ông nhìn được những cái mà nhiều người
không nhìn ra. Với Truyện Kiều chẳng hạn. Người ta viết về nó đã lắm. Ông viết
về nó cũng đã nhiều. Thế mà qua "cảnh trao duyên trong Truyện Kiều"
(tức là đoạn Kiều nhờ em thay mình trả nghĩa Kim Trọng), ông cũng nêu được một
thủ pháp nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Du, không chỉ riêng trong đoạn ấy mà
trong cả truyện. Ông viết: "Nguyễn Du rất biết nhập vai. Nguyễn Du từng
hòa với Kiều làm một và hoà làm một đến một mức rất sâu. Nhưng hoà làm một với
Kiều mà vẫn là Nguyễn Du, người sáng tạo ra cả thế giới Truyện Kiều, vẫn nhìn
Kiều và nhìn mọi người với cái nhìn của Nguyễn Du" (tr.8). Lắm khi, Hoài
Thanh có những nhận xét thật bất ngờ. Chẳng hạn, trong đoạn thơ này của Phan Thị
Thanh Nhàn ở một bài thơ được giải thưởng một cuộc thi thơ:
Chúng tôi lắng nghe tên mẹ tên cha
Thấm thía nửa phần buồn của xóm
Nước mắt ông già mù nhỏ xuống
Đã tràn sang mi mắt chúng tôi
Không phải vì chuyện cũ ngậm ngùi
Chúng tôi khóc nửa phần vui đang sống
Chắc là tác giả đang để cho dòng thơ trôi theo cảm xúc chân
thực của mình, còn người đọc thì mải theo dõi luồng tình cảm rất đúng của tác
giả bài thơ, ai nấy đều quên bẵng đi cái nghĩa đen ít nhiều thô thiển ở câu thứ
ba và câu thứ tư. Hoài Thanh đánh một cái dấu vào cuối câu thứ tư rồi chú
thích: "Tình cảm đúng, chỉ tiếc hình ảnh quá tuỳ tiện về mặt vệ sinh"
(tr.249). Chắc cả tác giả và người đọc đều giật mình trước nhận xét tinh như vậy.
Những nhận xét tương tự ở Hoài Thanh khá nhiều. Chỉ có ít trường hợp ông còn sơ
ý. Khi dẫn đoạn thơ này trong một bài thơ của Kim Đính mà Hoài Thanh cho rằng
"đã nói lên một cách ý nhị" một nét mới trong cuộc sống chúng ta
(tr.296):
Đêm nay
Quả đất đi chưa trọn vẹn một vòng
Kế hoạch đã tròn đầy một tuổi
Bàn tay thợ sức tin yêu phơi phới
Vật ngã cả thời gian
Đào chưa về nhà máy đã sang xuân
Ông đã không phê phán câu Vật ngã cả thời gian. Tôi tin chắc
rằng những người thợ sẽ không hài lòng với cái nhìn thiếu tình cảm như vậy, và
chắc người đọc không đồng tình với tác giả bài thơ. (Cách nói của nhà văn Xô-viết
I. Êrenbua: Thời gian ủng hộ chúng ta mới đúng, hay và có tình làm sao!)
Như trên đã nói, Hoài Thanh rất quý mến, trân trọng thơ hay.
Từ sự quý mến, trân trọng này, đã lâu, chúng ta thấy dẫn đến một chủ trương của
Hoài Thanh: ông thường chỉ muốn tìm thơ hay để khen, ít tìm thơ dở để chê, hay
là không muốn chê thơ dở; những khi không đừng được ông mới chê, mà có chê cũng
rất nhẹ nhàng, tình cảm, và chỉ cốt làm nổi lên cái hay. Cho nên, nếu như những
năm trước đây, có những người có ấn tượng là Hoài Thanh ít đề cập những chuyện
gay go, rắc rối; có người còn cho ông ít xông xáo và thiếu tính chiến đấu kể
cũng không phải không có lý. Phải chăng, như thế mới "hợp với cái tạng của
ngòi bút" ông, như một cách nói của Hoài Thanh? Ở một mức độ nhất định,
người đọc có thể "thể tất nhân tình", nhưng tôi vẫn đồng ý với nhiều
người, muốn tác giả Chuyện thơ... phê phán nhiều hơn, mạnh hơn những chỗ dở
trong thơ, mà những chỗ dở trong thơ thì rất nhiều, như chính ông đã nhiều lần
khẳng định. Chúng tôi nghĩ, một ngòi bút được tín nhiệm và có nhiều sức thuyết
phục như Hoài Thanh mà vạch ra được những chỗ dở và phê phán nó một cách thẳng
thắn, thấm thía, chân tình, để người làm thơ không lặp lại những cái dở ấy nữa,
chắc sẽ là một biện pháp tốt để trong đời sống tinh thần của chúng ta, thơ dở
giảm đi và có thể có nhiều thơ hay hơn. Chứ sao!
Thơ mà Hoài Thanh trích để bình, thường là những thí dụ tiêu
biểu chứng minh cho những nhận xét của ông. Hiếm hoi lắm, mới có những câu cho
thấy, nếu đọc nhiều, thuộc nhiều hơn nữa, chắc ông còn dẫn được những thí dụ đắt
hơn nữa. Chẳng hạn, khi ông trích mấy câu này của Thanh Hải:
Ôi mơ ước bốn nghìn năm
Dầu ước mơ rất đẹp
Mẹ hỡi, chắt chiu đâu biết có ngày nay
Ta đánh quân thù trên cả chín tầng mây
Như Đại Thánh đằng vân diệt bầy quỷ dữ
và cho là "rõ ràng... cách nói ấy phảng phất cách nói của
người xưa" (tr.21) thì thật ra, có những câu "phảng phất cách nói của
người xưa" hơn những câu ấy nhiều, có những câu học tập được cách nói của
người xưa một cách sinh động hơn nhiều.
Lập luận của Hoài Thanh cũng thường chặt chẽ, với những nhận
định, những kết luận chính xác. Cũng hiếm thấy có những điểm phải bàn lại, như
khi ông nói dù chỉ là trong một dịp tạt qua: “giọng thơ dân gian rất hồn nhiên,
nó vốn là một ưu thế riêng của Mỹ Dạ" (tr.223), chắc là người đọc khó đồng
tình.
Có người còn muốn biết những nhận định tổng quát, những đánh
giá chung của một người am hiểu thơ như Hoài Thanh đối với thơ một thời kỳ, một
giai đoạn, từ sau kháng chiến chống Pháp đến nay, như trước kia ông đã từng làm
(với Thi nhân Việt Nam và Nói chuyện thơ kháng chiến). Điều này, rất tiếc là
Hoài Thanh chưa làm được, vì những lý do nào đấy.
Trong Chuyện thơ... có một số chuyện không phải là “chuyện
thơ", có một số chuyện rất ít liên quan đến “chuyện thơ" - dù chúng
là những chuyện hay và rất có ích. Bài Cần tôn trọng và phát huy hơn nữa quyền
làm chủ của người đọc và mấy bài khác không viết riêng về thơ, nhưng ít nhiều
có quan hệ đến thơ, để trong sách này cũng được đi. Nhưng Nhớ lại lần đầu gặp
bác Hoàng Ngọc Phách (tác giả tiểu thuyết Tố Tâm), hoặc Vấn đề tên xã, thôn,
xóm ở nông thôn là bản tham luận đọc trước Quốc hội chẳng hạn, thì không hiểu ý
kiến người khác thế nào, chứ theo thiển ý chúng tôi, hoặc là chúng phải nằm ở một
quyển sách nào khác, hoặc là nếu muốn để ở quyển sách này thì cái tên Chuyện
thơ... ở đầu sách phải được thay bằng một cái tên khác. Những chuyện tập hợp
trong Chuyện thơ... có những bài viết để đáp ứng nhu cầu phục vụ những nhiệm vụ
của một thời điểm, bây giờ đọc lại, người đọc không khỏi có ít nhiều ấn tượng
khống đều về chất lượng. Nhưng do tác giả có khả năng nhìn nhận một cách tinh tế,
sâu sắc các vấn đề ở cả những khía cạnh nhỏ, lại có nghệ thuật già dặn của một
ngòi bút phê bình lâu năm, nên những trang viết của Hoài Thanh đã để lại một ấn
tượng tốt. Đọc Chuyện thơ... của Hoài Thanh, người ta lại có dịp thấy rõ bản sắc
của một nhà phê bình thơ. Bản sắc ấy đưa tác giả vào một diện không nhiều những
nhà phê bình mà nếu bài viết có che tên tác giả đi người ta vẫn nhận ra văn ấy
"đúng là của con người ấy". Và đáp lại lòng mến yêu, trân trọng của
Hoài Thanh đối với thơ là lòng mến yêu, trân trọng của người đọc đối với Hoài
Thanh. Dù người ta còn mong muốn ở ông điều này, điều khác.
3-1979
ĐỌC 24 GIỜ TRONG ĐỜI MỘT NGƯỜI ĐÀN BÀ
Nhà văn người áo Xtê-phan Xvai (1881-1942) được coi là cây
bút cự phách của thế kỷ XX. Trong Xtê-phan Xvai - Mác-xim Gô-rơ-ki viết - có sự
kết hợp rất hiếm và do đó rất quý: sự kết hợp giữa tài năng của một nhà tư tưởng
với tài năng của một nghệ sĩ bậc nhất. Ông còn nói cụ thể hơn: "Tôi có cảm
giác trước Xtê-phan Xvai, chưa ai viết về tình yêu sâu sắc, thấm thía với một sự
quý mến con người tuyệt vời đến thế!”
Ta sẽ thấy những nhận xét trên đây của M. Gô-rơ-ki là đặc biệt
chính xác, khi đọc 24 giờ trong đời một người đàn bà của Xtê-phan Xvai (Nhà xuất
bản Văn học, 1986).
Tập sách gồm hai truyện. Một truyện lấy tên làm tên chung cho
cả tập do Lê Phát dịch, và một truyện khác: - Bức thư của người đàn bà không
quen, Dương Tường dịch.
Ở cả hai truyện, X. Xvai đều đẩy bước phát triển của sự việc
đến mức độ căng thẳng, và đều đặt nhân vật chính của mình vào những tình huống
cực kỳ éo le để bộc lộ hết tính cách của họ, và bằng một cách kín đáo, làm người
đọc xúc động trước những tấm lòng vị tha, những tâm hồn trong sạch, thanh cao,
đồng thời lên án thói ích kỷ, và căm ghét những tội ác đẩy con người tới bước
đường cùng.
Nhà văn R. trong Bức thư của người đàn bà không quen trẻ tuổi
đẹp trai, hào hoa phong nhã, nhưng quen sống buông thả, đi lại với bao nhiêu
người đàn bà rồi sẵn sàng quên ngay họ, không hề biết rằng đã có một cô gái
nghèo và xinh đẹp yêu mình một cách đặc biệt chân thành, sâu sắc. Ông cũng
không hề biết rằng để đạt được tình yêu đơn phương ấy, cô gái đã âm thầm hy
sinh tất cả, đến mức cuối cùng có với ông một đứa con; và để nuôi con, cô lại
chịu đựng bao nhiêu nỗi khổ khác, kể cả việc phải bán mình cho những người đàn
ông giàu có. Cả truyện, trừ mấy dòng đầu và mấy dòng cuối, là những bức thư tuyệt
mệnh cô gái "không quen" ấy viết cho nhà văn R, viết trong căn phòng
bên cạnh đứa con của hai người vừa chết sau một căn bệnh trầm trọng.
Thư không ghi địa chỉ người gửi, không ký tên người viết. Với năm đoạn, mỗi đoạn lại mở đầu bằng câu: "Con em chết hôm qua" hoặc "Con chúng ta chết rồi", bức thư đưa người đọc từ hiện tại trở về quá khứ, rồi trở lại hiện tại để chứng kiến một mối tình ngang trái, mà một người thì dửng dưng, một người thì đầy bi kịch dù có những khi cảm thấy mình tuyệt vời hạnh phúc. Dĩ nhiên, chuyện trong Bức thư của người đàn bà không quen không phải là chuyện có tính phổ biến, có khi còn quá hiếm nữa. Nhưng sức thuyết phục của nó là ở chỗ, qua một trường hợp cá biệt, nó nói được những cái chung, nó thể hiện đúng tính cách của một trí thức quen hưởng lạc, cầu an, và một cô gái ngây thơ, trong sạch, biết yêu, dám hy sinh cho tình yêu - một tình yêu có phần cuồng tín.
Thư không ghi địa chỉ người gửi, không ký tên người viết. Với năm đoạn, mỗi đoạn lại mở đầu bằng câu: "Con em chết hôm qua" hoặc "Con chúng ta chết rồi", bức thư đưa người đọc từ hiện tại trở về quá khứ, rồi trở lại hiện tại để chứng kiến một mối tình ngang trái, mà một người thì dửng dưng, một người thì đầy bi kịch dù có những khi cảm thấy mình tuyệt vời hạnh phúc. Dĩ nhiên, chuyện trong Bức thư của người đàn bà không quen không phải là chuyện có tính phổ biến, có khi còn quá hiếm nữa. Nhưng sức thuyết phục của nó là ở chỗ, qua một trường hợp cá biệt, nó nói được những cái chung, nó thể hiện đúng tính cách của một trí thức quen hưởng lạc, cầu an, và một cô gái ngây thơ, trong sạch, biết yêu, dám hy sinh cho tình yêu - một tình yêu có phần cuồng tín.
Hãy đọc mấy dòng cuối cùng, tác giả viết về tâm trạng nhà văn
R. sau khi xem xong bức thư: "Ông rùng mình sợ hãi. Ông thấy như đột nhiên
một cái cửa vô hình mở ra và một luồng gió lạnh giá từ thế giới bên kia lùa vào
cái yên tĩnh của phòng ông. Ông có cảm giác là một người vừa chết và trong đó
có một tình yêu bất tử; tận đáy sâu của tâm hồn ông, một cái gì mở ra, và ông
nghĩ đến người yêu vô hình ấy một cách cũng hư linh và say đắm như nghĩ tới một
tiếng nhạc xa vời (tr.147). Rõ ràng, bức thư đã có tác động tới nhà văn. Nhưng
đối với ông, nó cũng chỉ là một tác động yếu ớt. Ông không thấy day dứt, không
thấy bức bối, không thấy ân hận đúng với mức độ tội lỗi vô tình ông đã gây ra đối
với một người con gái lương thiện, mặc dù với tình yêu sâu sắc của mình, cô gái
không hề có ý oán trách ông. Những dòng cuối cùng này của truyện lại làm người
ta thấy truyện của X. Xvai mang sức tố cáo kín nhưng mạnh.
Xưa nay, người ta chỉ chép những bài thơ mà người ta
thích, ít thấy ai chép truyện. Mà với một truyện dài gần sáu chục trang sách in
như Bức thư của người đàn bà không quen chép được đâu phải nhanh? Thế mà cách
đây đã khá lâu, người viết những dòng này đã từng thấy những cô gái chuyền tay
nhau những trang chép tay Bức thư của người đàn bà không quen (bản dịch của một
người nào đó). Xem thế thì thấy, có những người đọc đồng cảm với tác giả thiên
truyện này đến thế nào, thích văn X. Xvai đến thế nào!
Tuy nhiên, Bức thư của người đàn bà không quen cũng chỉ là một
trong nhiều truyện xuất sắc nhất của X. Xvai. Cái độc đáo ở truyện 24 giờ trong
đời một người đàn bà lại biểu hiện ở những sắc thái khác. Cũng là lời kể, nhưng
không phải với hình thức một bức thư, mà là một cuộc trò chuyện. Ở đây, nhà văn
cũng đẩy sự việc đến những bước phát triển đầy tính kịch, nhưng dồn nén lại chỉ
trong vòng 24 giờ, làm diễn biến câu chuyện trở nên cực nhanh (tuy nhiên, người
đọc không thấy mệt vì được nghỉ ở những chỗ ngừng của người kể). Nhà văn cũng
viết về tình yêu, nhưng ở đây tình yêu đã lùi xuống hàng sau, để những vấn đề
khác được đưa lên vị trí chủ yếu: lòng nhân ái, tính bao dung của một người phụ
nữ nhân hậu, và sức cám dỗ đến mức cực kỳ ghê gớm của một tệ nạn và một tội ác
xã hội: tệ cờ bạc.
Cũng với một ngòi bút sâu sắc và cái nhìn tinh tế, X. Xvai
gây được những ấn tượng rất mạnh. Qua lời nhân vật chính của truyện, nhà văn
đưa ra một lối quan sát con bạc thật độc đáo: muốn biết đúng tâm trạng từng người
trong sòng bạc, không phải nhìn vào mặt, mà trước hết phải nhìn vào bàn tay họ.
Trong bốn trang liền, và rải rác ở những chỗ khác, nhà văn đặc tả những nét
riêng biệt ở bàn tay những con bạc với đủ dáng vẻ của chúng - mà người đọc sẽ
thấy đó là những biểu hiện của tính đam mê, thói lừa đảo, sự cay cú, niềm vui
và nỗi khổ... Qua cách quan sát đặc biệt ấy, bà mệnh phụ người Anh, nhân vật
chính của truyện, đặc biệt quan tâm đến một thanh niên trong suốt hai giờ của một
canh bạc, từ lúc được khá nhiều đến khi thua sạch, cuối cùng thì tuyệt vọng và
đang đi vào chỗ chết. Đó là chàng trai con một gia đình quý tộc lâu đời của Ba
Lan học trường ngoại giao, vừa tốt nghiệp một kỳ thi với kết quả đặc biệt rực rỡ.
Mang món tiền bằng một tháng lương do người bố thưởng, anh ta đến trường đua ngựa,
đánh cá, và được cược với số tiền nhiều gấp ba. Từ đó anh đâm say mê cờ bạc, cứ
thua rồi được, nhưng được rồi thua, đến nỗi phải bán tất cả những gì có thể
bán, kể cả kỷ vật có tính chất thiêng liêng, rồi xin xỏ, rồi vay mượn, cho đến
lúc phải ăn cắp món đồ trang sức quý của người bác, đến một sòng bạc lớn nước
Pháp lao vào cuộc đỏ đen cho tới bước đường cùng... Bà mệnh phụ bị kích động rất
mạnh trước tình trạng tuyệt vọng của chàng trai, để cứu anh ta, đã đưa anh ta
vào nhà trọ, cùng ở với anh qua đêm trong một căn buồng, sáng hôm sau đưa tiền,
buộc anh ta lên tàu hoả về nhà chuộc đồ trang sức cho người bác, trở lại cuộc sống
yên lành... Nhưng sau đó, sự việc bà mong mỏi sẽ diễn ra không giản đơn như bà
nghĩ...
Đọc X. Xvai, nếu để ý một chút sẽ thấy, một trong những đặc
điểm chính của văn ông là hay tạo những tình huống bất ngờ mà cả nhân vật trong
truyện lẫn người đọc khó có thể hình dung trước. Ở những truyện khác cũng như
hai truyện này. Riêng 24 giờ trong đời một người đàn bà vào loại truyện tập
trung nhiều yếu tố bất ngờ nhất, trong đó có hai lần đặc biệt. Bà mệnh phụ hơn
bốn chục tuổi, sau khi chồng chết, thấy mình không còn ham muốn gì, thấy đời
mình không còn mục đích gì, coi mình hoàn toàn vô ích, chỉ giải buồn bằng cách
đi du lịch thật nhiều cho đến bao giờ hai con trai xây dựng gia đình. Cứu vớt
chàng trai thua bạc, bà xuất phát hoàn toàn từ tấm lòng từ thiện đầy tính vị
tha, bởi căm phẫn cực độ trước một tệ nạn làm cho con người cực khổ. Thấy chàng
trai hối hận một cách đặc biệt chân thành, và biết ơn mình với một tấm lòng
kính trọng sâu sắc, bà coi như đã làm được một việc lớn, và bỗng dưng - thật bất
ngờ - một tình cảm đối với người chỉ đáng tuổi con bà nẩy sinh: tình yêu. Hai
mươi bốn năm sau, nhớ lại tình cảm của mình bấy giờ, bà sẽ kể lại: “Nếu lúc đó,
người đàn ông ấy ôm lấy tôi, nếu anh ta yêu cầu tôi đi theo anh, tôi sẽ đi với
anh tới cùng trời cuối đất, tôi sẽ làm nhục tên tuổi của tôi và của các con
tôi. Tôi sẽ bỏ ngoài tai những lời thuyết phục của mọi người và của lý trí
trong tôi, tôi sẽ trọn đời với anh ta... Tôi sẽ không hỏi là đi đâu, đi bao
nhiêu lâu, tôi sẽ không đoái nhìn lấy một lần về phía sau, về cuộc đời đã qua của
tôi, tôi sẽ hy sinh cho người đàn ông này tiền bạc, tên tuổi, tài sản, danh dự
của tôi. Tôi có thể đi ăn xin và chắc chắn không có điều gì hèn hạ ở trên đời
này mà tôi không dám chấp nhận; vì anh, tôi có thể vứt bỏ tất cả những gì mà
người ta gọi là liêm sỉ và giữ gìn; nếu anh ta chỉ tiến thêm một bước về phía
tôi và nói một lời, nếu anh ta tìm cách chiếm lấy tôi, trong giây phút ấy tôi sẽ
sa ngã và tôi sẽ ràng buộc mãi mãi với anh ta" (tr. 72-73).
Theo lời hẹn với anh ta, bà định ra ga tiễn, nhưng rồi tình
yêu bảo bà không tiễn mà làm một việc kỳ lạ: “Tôi mường tượng... tôi sẽ theo
anh ta ra ga tàu như thế nào và tới phút cuối cùng, phút chót, khi anh ta đưa
tay ra cho tôi chào vĩnh biệt lần cuối, tôi bỗng theo chàng trai còn ngạc nhiên
này lên tàu ra sao, để ở bên anh ta đêm nay, đêm mai, đến bao giờ tuỳ ở anh”
(tr.74-75). Đến ga chậm một chút, tàu đã chạy, trong nỗi thất vọng cao độ, bà
"cố tìm ít nhất một cái nhìn từ cửa sổ toa tàu, ít nhất một cử chỉ, một
cái chào", nhưng tàu chạy quá nhanh, phút chốc, chỉ còn một đám mây đen u
buồn trước đôi mắt đã mờ của bà... Nếu truyện chỉ dừng ở đây thì với tài kể
chuyện và nghệ thuật sử dụng tình tiết của nhà văn, truyện cũng đã là hay.
Nhưng giá trị của nó được nâng cao hơn rất nhiều, sau khi điều bất ngờ ấy vừa xẩy
ra thì đã lại có một bất ngờ nữa, mà lần này mới cay đắng làm sao! Yêu chàng
trai mà không có cách nào gặp được nữa, bà muốn trở lại ngay những nơi vừa diễn
ra những kỷ niệm lạ lùng và tốt đẹp giữa anh ta và bà; và nơi trở lại đầu tiên
là nơi bà gặp anh ta lần đầu: sòng bạc. Thật hết sức lạ lùng, chàng trai vừa mới
tỏ ra hết sức ăn năn hối hận, vừa mới thề thốt một cách đặc biệt trang nghiêm,
thành kính trong nhà thờ, vừa mới tỏ lòng vô cùng biết ơn người đã cứu mình, vừa
mới hứa lời hứa danh dự sẵn sàng nghe lời bà lên tàu về quê, cái chàng trai ấy
đã lại đang ngồi đúng chỗ cũ, và đang lao vào cuộc đỏ đen, bằng những đồng tiền
bà đưa, với mức độ còn đam mê điên cuồng hơn trước. Không thể nào kéo anh ta ra
khỏi sòng bạc, lại bị anh ta chửi mắng thậm tệ, bà chỉ còn cách buông mình xuống
chiếc ghế ngoài phố mà hôm trước anh ta đã ngồi, cùng với một tâm trạng tuyệt vọng
gần giống tâm trạng anh ta lúc đó...
Cuối cùng rồi bà cũng lên được tàu; qua hết ga nọ đến ga kia,
"48 giờ liền không ngủ, không nói, không ăn", trở về nhà với các con.
Còn chàng trai, sau cơn bi thảm cuối cùng ấy ở sòng bạc, đã tự tử. Tưởng khó có
truyện nào tố cáo sức cám dỗ của tệ cờ bạc nói riêng và của tội ác xã hội nói
chung mạnh và sâu như truyện này. (Có điều, hai chục trang đầu truyện, theo
tôi, khá tản mạn, và phải chăng không thật cần thiết lắm?)
Có thể nói Bức thư của người đàn bà không quen và 24 giờ
trong đời một người đàn bà là hai truyện vào loại hay nhất của X. Xvai. Nó có
thể sánh với bất cứ truyện ngắn xuất sắc nào của ông, như Bộ sưu tập vô hình
hay Men-đen, người bán sách cũ hoặc Một trái tim tan nát, v.v… Chúng thể hiện một
chủ nghĩa nhân đạo cao cả, một sự cảm thông đặc biệt với nỗi khổ của con người,
qua sự hiểu biết sâu sắc về tâm lý, với một nghệ thuật thể hiện tuyệt diệu.
Đọc những truyện như vậy của X. Xvai, tôi cứ tự hỏi:
không biết đã có bao nhiêu giọt nước mắt rơi trên những trang sách của ông,
không biết có bao nhiêu lầm lạc, bao nhiêu sa ngã và bao nhiêu tội ác đã phải dừng
lại trước những trang sách của ông. Sung sướng biết bao nhiêu, khi trên đời này
có được những nhà văn như vậy, viết được những trang sách như vậy.
6-1986
ĐỜI VĂN VŨ NGỌC PHAN
I.
Sinh thời nhà văn Vũ Ngọc Phan, tôi chỉ được gặp ông hai lần,
vào mấy năm cuối thập kỷ 70 của thế kỷ trước. Lần đầu, tại một cuộc hội thảo
khoa học, hình như do ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức, nhiều người đọc
tham luận; Vũ Ngọc Phan nói về tình hình phê bình văn học nước ta trước Cách mạng
Tháng Tám 1945, và giải thích tại sao bộ sách Nhà văn hiện đại của ông bốn quyển
mà lại in thành năm tập. (Những chuyện này, về sau, Vũ Ngọc Phan đã ghi lại kỹ
hơn trong hồi ký Những năm tháng ấy, Nhà xuất bản Văn học in năm 1987, Nhà xuất
bản Hội Nhà văn tái bản năm 2000).
Lần thứ hai, tại cuộc họp cộng tác viên lý luận, phê bình rất
hẹp của báo Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam), cả chủ và khách có hơn mười người,
tôi cũng được mời dự, nhiều người phát biểu ý kiến; Vũ Ngọc Phan thì nói về việc
nên viết ngắn trong nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học...
Cả hai lần, nhà văn Vũ Ngọc Phan đều chỉ nói trong mươi, mười
lăm phút. Cũng cả hai lần, tôi không có dịp nói với ông một lời - dù tôi đã
“quen” với Vũ Ngọc Phan và văn ông từ những ngày còn rất nhỏ.
Hai lần nghe Vũ Ngọc Phan nói, tôi có đôi chút cơ sở để đoán
- hay là nhận ra - những đặc điểm của nhà văn này: hiền từ, nhân hậu, nghiêm cẩn,
tỉ mỉ, ít nói, và làm việc không biết mệt mỏi với công việc mà ông say mê, ưa
thích.
Nhận xét ấy, sau này tôi biết là khá chính xác, khi nhìn chồng
sách viết trong cả đời văn Vũ Ngọc Phan chất cao đến mức không một nhà nghiên cứu,
lý luận phê bình nào của chúng ta từ trước đến nay có được; và cả khi đọc những
dòng mà các nhà văn, các nhà nghiên cứu, cũng như con cháu nhà văn viết về Vũ
Ngọc Phan sau khi ông qua đời. Chẳng hạn, họa sĩ Vũ Giáng Hương nói về “thời
gian biểu”, của cha mình, những ngày trước Cách mạng: “Cha tôi suốt ngày làm
báo ở nhà in, buổi tối có khi tám chín giờ mới về đến nhà. Về nhà lại viết tiếp,
lại đọc sách. Người lúc nào cũng gầy, đau dạ dày liên miên”.
Chị cũng viết:
“Ông là người hiền hòa nhưng rất nghiêm, ít nói nhưng các con
sợ lắm”.1
Giáo sư - tiến sĩ Vũ Triệu Mân thì viết về cha mình những
ngày ở Việt Bắc thời kháng chiến chống Pháp, sau lần mổ dạ dày:
“Mặc dù sức yếu, người vẫn không rời cây bút, ngày ngày người
mải mê viết dưới ánh sáng qua chiếc cửa sổ đan bằng liếp"(1).
Giáo sư - viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng nói về ấn tượng đối với mình
từ rất lâu tới những ngày cuối đời của nhà văn:
“Đến bây giờ, mỗi khi nhớ đến cha chúng tôi, tôi lại thấy
hình ảnh cha cần mẫn ngồi bên bàn viết, viết mải mê sớm chiều”…(2)
Không chỉ là các con, mà các cháu của nhà văn Vũ Ngọc Phan
cũng cùng một cảm nhận. Vũ Phương Nga nhớ lại:
“… Sáng nào cũng vậy, ông tôi mải miết viết đến tận gần bữa
cơm trưa mới đứng dậy nghỉ... Có hôm vì mải hái dây leo quá, tôi bị nhựa cây
dính đầy áo, tôi rất sợ, chạy lên gác nói với ông, chỉ sợ ông mắng, nhưng ông
chỉ cười với tôi rất hiền, bảo tôi đi thay áo và ngâm áo cho sạch".(3)
Còn Vũ Hoàng Hoa thì xưng con với ông một cách thật thân thiết
và cảm động:
“Ông như cây đại thụ vẫn tỏa sáng xuống đời con...
Giờ đây, ông hiện lên trong tâm trí con toàn vẹn hơn, gần gũi
hơn. Con thấy ông đang viết viết, xóa xóa, và suy nghĩ, có lúc lại mỉm cười
trìu mến…” (1)
Phải nói, những điều thốt lên tự đáy lòng những người thân
trong gia đình nhà văn Vũ Ngọc Phan về ông qua những thời kỳ khác nhau - vừa dẫn
một ít ở trên đây - chỉ có thể có được khi tính tình và tác phong ấy của nhà
văn đã thành chuyện hết sức bình thường, và lặp đi lặp lại hàng ngày, và in đậm
trong tâm trí họ, không bao giờ phai nhạt.
Sự nghiệp của Vũ Ngọc Phan được hình thành từ hai lĩnh vực chủ
yếu: viết báo và viết văn, mà viết văn là chính, đặc biệt là văn phê bình,
nghiên cứu. (Tôi không quên thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, Vũ Ngọc
Phan đã từng là tổng thư ký Ủy ban vận động văn hóa toàn quốc, và chủ tịch ủy
ban kháng chiến khu Đống Đa; đến những năm sau này là tổng thư ký và phó chủ tịch
hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, v.v... Nhưng đó là những công việc hoặc "bất
đắc dĩ”, hoặc theo yêu cầu của tổ chức, hoặc chỉ chiếm một thời gian không dài
trong cuộc đời ông).
Hoạt động báo chí của Vũ Ngọc Phan thể hiện ở hai phương diện.
Ông tích cực và thường xuyên viết bài cho nhiều báo, báo tiếng Việt và báo tiếng
Pháp; ông cũng trực tiếp làm báo, khi thì trợ bút, khi thì thư ký tòa soạn, khi
thì chủ bút.
Thời kỳ đầu viết báo, Vũ Ngọc Phan quan tâm đến nhiều chuyện
trong đời sống xã hội, nhất là đời sống của những người lao động. Chỉ nói riêng
một vấn đề dân số và lương thực, năm 1935, Vũ Ngọc Phan đã viết đến năm bài
báo, trong đó việc hạn chế sinh đẻ (mà ngày nay ta thường nói là sinh đẻ có kế
hoạch) là chuyện ông đặc biệt quan tâm. Nếu chúng ta nhớ rằng chuyện lương thực
ở Việt Nam mới được giải quyết tương đối ổn định trong vài chục năm gần đây,
còn việc sinh đẻ có kế hoạch hiện nay vẫn là chuyện khó khăn, và nhiều nơi trên
thế gian này còn rất nan giải với vấn đề dân số và lương thực, ta sẽ thấy ý
nghĩa thời sự với ngày nay của ngòi bút Vũ Ngọc Phan cách đây đã bẩy thập kỷ.
Những năm về sau, việc làm báo của Vũ Ngọc Phan thiên về văn
học hơn. Cái việc nhà văn đồng thời là nhà báo thì hay hay dở, và chuyện giống
nhau, khác nhau giữa người viết văn với người làm báo đã từng là đề tài cho người
trong nghề bàn luận. Hãy nghe tiếng nói của những người viết văn và cũng làm
báo đồng thời với Vũ Ngọc Phan. Chẳng hạn, Hoài Thanh (1909-1982) tán thành sự
phân biệt giữa nhà văn và nhà báo:
“… Ở các nước, nhà văn và nhà báo là hai hạng người khác nhau
hẳn. Nhà báo chỉ mong thay đổi một thời, nhà văn có cái hy vọng ảnh hưởng đến
lòng người mãi mãi; nhà văn muốn trao mỹ cảm cho người xem, nhà báo nếu cũng có
ước muốn ấy sẽ thành nhố nhăng, rồ dại”.1
Thiếu Sơn (1908-1978) thì nhấn mạnh sự cần thiết của nghề báo
đối với nghề văn:
“Roland Dorgelès, Henri Duvernois và biết bao nhiêu danh sĩ
Pháp đã nhờ có làm báo mà kết cấu nên những sự nghiệp văn chương bất hủ. Chính
ông Duvernois đã nói: [Trường học của chính nhà viết tiểu thuyết, cái trường mà
họ học trực tiếp với đời, cũng như ông thầy thuốc đã học thuốc ở đầu giường bệnh
nhân, ấy là nghề làm báo]” (2). Còn với Vũ Ngọc Phan, ông cũng thấy ích lợi của
việc làm báo khi viết văn - ở đây là văn phê bình, nghiên cứu: “… Tôi đang viết
bộ sách phê bình Nhà văn hiện đại, tôi cần thường trực một báo nào đó thì mới nắm
được tình hình văn học đương thời, mới biết được nhiều dư luận về tác phẩm văn
học" (1).
Quả như vậy. Chính do làm báo, Vũ Ngọc Phan mới bao quát được
gần nửa thế kỷ văn học, và có điều kiện để theo dõi, đọc và nghiên cứu, phê
bình nhiều tác phẩm, tác giả một cách cụ thể, tỉ mỉ đến thế trong bộ sách Nhà
văn hiện đại.
Sau Cách mạng Tháng Tám, Vũ Ngọc Phan vẫn viết báo. Những bài
báo của ông trước sau có đến hàng trăm, tiếc rằng đến nay chưa sưu tầm đầy đủ.
Có điều, chính Vũ Ngọc Phan đã sưu tầm và tuyển chọn một phần để in trong một số
quyển sách của ông, trước Cách mạng Tháng Tám như Nhìn sang láng giềng (Nhà xuất
bản Minh Phương, 1941), Chuyện Hà Nội (Nhà xuất bản Bách Việt, 1944), Những trận
đánh Pháp (Nhà xuất bản Đại La, 1946) và sau này như Qua những trang văn (Nhà
xuất bản Văn học, 1976)...
Viết về Vũ Ngọc Phan, các nhà nghiên cứu trước nay chưa có dịp
đề cập mấy tác phẩm trước cách mạng vừa dẫn của ông vì đó không phải là tác phẩm
văn học. Nhưng, hơn ở đâu hết, chính những tác phẩm ấy thể hiện cụ thể, trực tiếp
lòng yêu nước của một trí thức và trách nhiệm một công dân đối với xã hội. Nhìn
sang láng giềng bằng con mắt khách quan, xuất phát từ yêu cầu “Muốn hiểu tình
thế Đông Dương trong lúc này, không thể nào không biết đến các nước ở gần Đông
Dương”, Vũ Ngọc Phan giới thiệu với người đọc những gì ông biết được (chắc phần
lớn qua sách báo nước ngoài) về Trung Quốc, Nhật Bản, Philippin (trước kia thường
gọi là Phi Luật Tân), Ấn Độ, Thái Lan, Xingapo (trước kia thường gọi là Tân Gia
Ba) và Inđônêxia (trước kia thường gọi là Nam Dương). Những tư liệu nhiều khi rất
tỉ mỉ trong quyển sách này đến nay phần lớn đều lạc hậu (tất nhiên!) nhưng vẫn
còn không ít chứng cứ của những thời kỳ lịch sử, và quyển sách chắc chắn có
ích, mà có ích nhiều hơn đối với người đương thời cách đây già nửa thế kỷ, khi
các phương tiện thông tin đại chúng còn rất thô sơ và hạn chế.
Kể chuyện nước ngoài rồi, Vũ Ngọc Phan trở lại nước mình, và
kể Chuyện Hà Nội chuyện của một thành phố mà Vũ Ngọc Phan quen thuộc từ nhỏ, do
chính ông chứng kiến hoặc nghe những người khác kể lại. Trong lời mở đầu quyển
sách, tác giả bộc bạch: ông "hơi ngả về những cái xấu nhiều hơn là về những
cái đẹp của chốn kinh kỳ, nhưng dù xấu dù đẹp cũng đều theo con mắt vô
tư" (1). Vũ Ngọc Phan, một mặt cho rằng: “Phàm những người có cảm tình, có
tư tưởng, biết yêu mến những cái cố hữu, biết tôn trọng ký vãng của dân tộc
mình, khi đã làm quen với Hà Nội, không mấy khi lại có thể hờ hững với Hà Nội
được" (1); một mặt ông thẳng thắn tâm sự: “Hà Nội là một đô thành có cả những
cái cũ lẫn cái mới, cả những cái rất đáng ghét và những cái thật đáng yêu, những
cái thô lỗ tục tằn và những cái thật thanh cao đài các" (2). Rồi ông kể về
đường phố Hà Nội, nhà cổ Hà Nội, người đi lại bằng các phương tiện cũ (võng,
cáng, xe tay...) trên đường phố, các cung điện đền chùa Hà Nội, đám cưới ở Hà Nội,
trang phục của người Hà Nội - nhất là phụ nữ - những món ăn đặc sản ở Hà Nội,
hoạt động báo chí và văn chương ở Hà Nội, v.v... Tất cả, đến nay phần nhiều đã
xa lạ, chính vì thế mà giúp các thế hệ sau hiểu biết sâu hơn về quá khứ của cha
ông mình, đất nước mình. Nghe Vũ Ngọc Phan kể Chuyện Hà Nội, người ta cũng
thích thú như đọc những trang hồi ức của các nhà văn Nguyễn Tuân, Nguyễn Công
Hoan, Tô Hoài... về Hà Nội vậy.
Với hai tập Những trận đánh Pháp (1858-1884), cũng đã đăng
trước trên báo chí, Vũ Ngọc Phan còn hướng sự quan tâm của ông đến cả những vấn
đề về lịch sử, về quân sự. Đọc các bộ sử Việt Nam và những sách người Pháp viết
về các cuộc chiến tranh Pháp - Việt, Vũ Ngọc Phan "cố so sánh mọi việc cho
được thật đúng… cố thu nhặt tài liệu cho được đầy đủ” (Lời nói đầu), và bằng
cách viết theo kiểu "ký sự lịch sử”, rất dễ đọc (và hấp dẫn nữa) đối với mọi
người, tác giả giới thiệu khá tường tận các trận chiến đấu không cân sức, một
bên là "những chiến cụ cổ lỗ” của vua quan nước Việt Nam lúc bấy giờ, một
bên là "bọn thực dân có tàu chiến và đại bác”, kết quả là nước ta “sa vào
vòng nô lệ" để lại cho các thế hệ "những trang lịch sử đen tối của nước
nhà”, nhưng đúng như ông nói “những trang lịch sử đen tối của nước nhà lại là
những trang chúng ta cần phải đọc kỹ hơn cả" so với những trang lịch sử
hào hùng khác. Để có '”những bài học kinh nghiệm”, nhất là kinh nghiệm bảo vệ đất
nước, chống ngoại xâm.
Có điều đáng lưu ý: Các bộ sách tái bản tác phẩm Vũ Ngọc
Phan, khi in Những trận đánh Pháp, đều chỉ có tập I. Trong sách báo lưu tại gia
đình nhà văn Vũ Ngọc Phan, và trong các thư viện mà chúng tôi đã tìm, cũng
không có Những trận đánh Pháp tập II. Có thể tập này đã bị mất hết ngay sau khi
xuất bản. Hãy nghe Vũ Ngọc Phan kể:
“Đến khi in xong làm hai quyển, dự định phát hành vào năm
1946 thì tháng 12 năm 1946 bắt đầu toàn quốc kháng chiến. Bọn Tây mũ đỏ ở Đường
Thành vào phá nhà in Mai Lĩnh, sách bị tan nát, bản thảo mất, những quyển in rồi,
không rõ nhà xuất bản có nhặt nhạnh được quyển nào không. May sao, sau khi tản
cư vào Thanh Hóa, năm 1948, Hằng Phương mua được ở chợ Rừng Thông quyển Những
trận đánh Pháp tập I, còn tập II vẫn không tìm thấy". (Xem Những năm tháng
ấy, sách đã dẫn, tr. 184).
Lại là một vấn đề vừa có ý nghĩa thời sự vừa có ý nghĩa chiến
lược - vấn đề thanh niên trong đời sống xã hội - được Vũ Ngọc Phan phát hiện và
góp tiếng nói của mình. Ông viết hẳn một quyển sách, quyển Con đường mới của
thanh niên, bàn về nhiều chuyện tỉ mỉ, cụ thể, thiết thực mong sao thanh niên
có thể phát triển thành người hữu ích cho dân tộc, cho đất nước. Vũ Ngọc Phan
tâm sự từ kinh nghiệm của ông một điều bấy giờ chắc là rất mới:
“Cũng như nhiều người thuộc lớp tôi, trong lúc thiếu thời, về
đường giáo dục tôi đã được hưởng nhiều cái rất dồi dào, nhưng lại có những cái
khuyết điểm khác rất lớn mà đến nay tôi vẫn không sửa chữa được. Đó là cái giáo
dục chú trọng về tinh thần quá, không để ý đến thể chất một chút nào. Các cụ ta
tưởng như thế sẽ đào tạo cho con cháu trở nên con người hoàn toàn, nhưng có biết
đâu một khi thân thể yếu đuối, tinh thần cũng bạc nhược theo". (1)
Rồi qua các nguồn tư liệu, tác giả dẫn lời nhiều học giả nước
ngoài và cả "mấy bậc lão thành" trong nước (Huỳnh Thúc Kháng, Lê Đại,
Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Tố...) mà nhờ việc làm báo của mình, ông đã phỏng vấn
được. Hãy nghe đôi lời từ những năm đầu thế kỷ XX, về riêng một vấn đề: việc học
tập, và sẽ thấy chúng có ý nghĩa thời sự như thế nào, khi nhìn vào thanh niên
chúng ta ở mấy năm đầu thế kỷ XXI này:
“Thanh niên Việt Nam kể ra có tiếng là chịu khó học, nhưng tiếc
thay một số đông chỉ chăm học để có mảnh bằng, rồi một khi có địa vị, không bao
giờ sờ đến sách nữa. Nhưng thật ra cái học vô tư, cái học chỉ vì một mục đích
là hiểu sâu, biết rộng, mới là cái học đáng quý” (Trần Trọng Kim).
“Tôi nhận thấy rằng ngoài sự học để lấy bằng cấp, cái học của
thanh niên ta không có chủ đích gì cả, vì phần đông thanh niên đọc sách không
có định kiến" (Nguyễn Văn Tố).
Và chính Vũ Ngọc Phan cũng nhận thấy như vậy:
“Người học trò Việt Nam từ xưa đến nay bao giờ cũng là người
học trò rất chăm học; họ học đêm học ngày, học đến thờ thẫn, ốm yếu, nhưng một
khi đã đỗ đạt, một khi mảnh bằng đã giựt được, chỗ ngồi trong công sở đã yên,
người học trò không còn lưu tâm đến sự học nữa. Nhiều người lấy sự không phải rờ
đến quyển sách là một vinh dự, họ cho là đã thoát được cái nợ mà nhiều người
còn phải đeo đẳng".
Tác giả tiếp tục phát biểu chính kiến của mình về nhiều vấn đề
lớn nhỏ đối với thanh niên, trong đó cũng lại có những vấn đề có tính thời sự đối
với thanh niên ngày nay. Chẳng hạn, ông đưa thành những đề mục hẳn hoi để rồi
lý giải cặn kẽ: Chúng ta thiếu hẳn loại sách giải trí về địa dư và sử ký Việt
Nam, hay Không học được chữ, cần phải học nghề ngay, học đằng nào cũng chỉ có một
mục đích là giúp ích cho quốc gia, hoặc Có được một linh hồn trong sạch với một
thân thể lành mạnh, mới thật là người hoàn toàn, lại Vệ sinh ăn uống là một thứ
vệ sinh rất cần, và Dù học chuyên nghiệp, người thanh niên cũng phải hiểu biết
những môn phổ thông, v.v...
Có thể nói, Con đường mới của thanh niên là một quyển sách
thiết thực, hay “thực dụng" hiểu theo nghĩa tốt.
Vũ Ngọc Phan còn thích thú với thiên nhiên, loài vật.
Ông viết quyển Nguồn sống ở muôn loài (gồm ba phần:
Những vật li ti, Từ công việc kiến đến trò khỉ, Trong rừng thẳm).
Từ nguồn tài liệu ở sách báo nước ngoài mà Vũ Ngọc Phan đọc được là chính, đôi
khi từ những gì Vũ Ngọc Phan chứng kiến, tác giả Nguồn sống ở muôn loài giới
thiệu cuộc sống kỳ thú của chim muông, cây cỏ. Ngày nay, tài liệu loại này khá
nhiều, nhưng cách đây sáu, bẩy chục năm thì rất hiếm. Vũ Ngọc Phan viết về loài
sinh vật nhỏ ở Bá Linh (bây giờ gọi là Béclin, nước Đức), mỗi con chỉ nặng một
phần triệu miligam, về tổ chức rất quy củ của xã hội loài ong hay loài kiến. Rồi
mèo, chuột, khỉ, voi, sư tử, v.v… với đủ thứ chuyện về chúng, vừa lạ lùng vừa cảm
động. Ở đây, ta chỉ có thì giờ đọc ngẫu nhiên vài đoạn.
Chẳng hạn:
“Về phương diện xã hội, giống kiến kềnh có nhiều điều rất lạ;
chúng nó đời đời chinh phục tính đài các đã quen nên bao giờ cũng để bọn nô lệ
hầu hạ, không thể tự nuôi lấy thân. Nằm gần để ăn ngon mà không có bọn tôi tớ
nhét cho vào miệng thì chúng cũng đành nhịn ăn cho đến lúc đói lả và chết. Hãy
thử bắt mươi mười hai con kiến kềnh và đặt chúng bên cạnh đồ ăn mà chúng thích
nhất như mật chẳng hạn, ta sẽ thấy nó co đầu, rụt cổ, liếm láp lẻm nhẻm, đi lại
cuống quýt, đói lả đi mà cũng không ăn. Nếu ta bắt cho chúng một con kiến đen
là nô lệ của chúng, ta sẽ thấy chỉ một con kiến đen này mà hầu đủ việc: nào rửa
mặt cho hơn mười bà khỏi nhem nhọ, nào hút mật cố ép cho các bà đại lãn kia ngửng
đầu lên để mớm cho, rồi cứ lần lượt nuôi hết bà này đến bà khác".
Thật là kỳ lạ, tỉ mỉ, lý thú! Và đây nữa:
“Một đôi vẹt ăn ở với nhau đã bốn năm. Một hôm, thốt nhiên
con cái ốm... Con đực mớm đồ ăn cho vợ, nuôi nấng vợ như thế trong luôn bốn
tháng. Đến tháng thứ tư, bệnh vợ nó càng trầm trọng, con chim cái không thể đứng
được nữa, phải nằm phục trong chuồng, nó đã cố hết sức mà không tài nào leo lên
được trên cầu. Con vẹt đực lúc nào cũng ở bên vợ hết lòng nâng đỡ. Nó ngoạm lấy
mỏ vợ hay cắn vào đầu cánh vợ để cố kéo vợ lên. Cái bộ dạng quả quyết, những cử
chỉ và những cách chăm nom của con chim đực tỏ ra nó rất sốt sắng muốn cho vợ
nó đỡ đau đớn, nhọc mệt. Lúc con chim cái sắp tắt thở, trông con chim đực lại
càng thiểu não. Con chim đực chăm chút gấp hai khi trước, nó tìm cách cậy mỏ vợ
ra để mớm cho một ít đồ ăn, nó đi đi lại lại suốt ngày chung quanh vợ mà không
biết mệt, nó chạy đến bên vợ rồi lại chạy đi chỗ khác tỏ vẻ bối rối, nhiều lúc
con vẹt đực cứ đứng yên, nhìn đăm đăm vào con vẹt cái đang ngắc ngoải, thỉnh
thoảng lại kêu lên đôi ba tiếng nghe rất thương tâm, về sau con vẹt cái tắt nghỉ.
Từ lúc ấy, con vẹt đực buồn rầu ủ rũ rồi vài tuần lễ sau thì chết...”
Thật là tỉ mỉ và cảm động.
Chúng ta cũng biết, trước Cách mạng Tháng Tám, vào những năm
cuối thế kỷ XIX và những thập niên đầu của thế kỷ XX, cùng với hoạt động biên
soạn và khảo cứu, sự tiếp xúc với văn học cổ điển Trung Hoa, và đặc biệt là văn
học phương Tây đã đem lại một phong trào dịch thuật khá phong phú, sôi nổi.
Cũng như các nhà dịch thuật khác: Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Kế
Bính, Nguyễn Đỗ Mục, Phạm Quỳnh... Vũ Ngọc Phan rất hứng thú với việc này, và để
lại một khối lượng tác phẩm dịch thuật khá đồ sộ. Hoạt động báo chí cũng giúp
ông nhiều trong dịch thuật: trước khi in thành sách, không ít tác phẩm dịch của
ông đã đăng nhiều kỳ trên báo. Trước sau, Vũ Ngọc Phan đã dịch (từ tiếng Pháp
và tiếng Anh) một loạt tác phẩm: Châu đảo (còn dịch là Đảo kho vàng) của Oantơ
Scốt, Anna Kha Lệ Ninh (Anna Karênina) của Lép Tônxtôi, Truyện kỳ lạ của Etga
Pô, Lâu đài họ Hạ và Chọn bạn tình của Hopman, Tiểu Nhiên Mỹ Cơ, dịch theo
phóng tác của Giô dép Bêđiê quyển Tơrixtăng và Ido. Ở lĩnh vực dịch thuật, Vũ
Ngọc Phan đã có công giới thiệu với người đọc Việt Nam - lúc bấy giờ còn ít có
điều kiện tiếp xúc với văn học phương Tây - một số tác phẩm nổi tiếng thế giới,
trong đó có những tác phẩm mà nhiều năm về sau, các dịch giả khác của chúng ta
còn dịch lại...
III.
Tuy nhiên, điều tâm đắc nhất của Vũ Ngọc Phan, và cũng là đóng
góp quan trọng hơn cả trong sự nghiệp của ông vẫn là nghiên cứu văn học - văn học
hiện đại và văn học dân gian.
Khởi đầu lĩnh vực này là hai quyển sách: Trên đường nghệ thuật
(văn học bình luận, Nhà xuất bản Nguyễn Du - 1940; Nhà xuất bản Hà Nội tái bản
- 1943) và Thi sĩ Trung Nam (biên khảo, Nhà xuất bản Tân Dân - 1942).
Trên đường nghệ thuật giới thiệu với người đọc - chủ yếu là
những người muốn đi vào con đường viết văn - một ít kiến thức về văn học (và
văn hóa). Tác giả phân tích sơ bộ đặc tính của văn chương các nước Trung Hoa,
Pháp, Anh và Việt Nam; bàn luận về thơ, tiểu thuyết và dịch thuật, cùng một số
vấn đề của nghệ thuật viết văn, viết báo...
Ở Thi sĩ Trung Nam là tiểu sử và một ít bài thơ của những nhà
thơ có tiếng ở Nam Kỳ và Trung Kỳ: Phan Thanh Giản, Tùng Thiện, Nguyễn Đình Chiểu,
Huỳnh Mẫn Đạt, Trương Vĩnh Ký, v.v...
Có thể coi hai quyển sách này như một sự tích lũy và chuẩn bị
cho bộ sách đồ sộ Nhà văn hiện đại sẽ in ngay sau đó. Và bộ sách này là tác phẩm
quan trọng nhất trong đời văn Vũ Ngọc Phan.
Nhà văn hiện đại, sau khi xuất bản, đã được tái bản nhiều lần.
Lần xuất bản đầu tiên phải in từ năm 1942 đến năm 1945 mới xong trọn bộ, có bốn
tập (năm quyển). Theo chính nhà văn Vũ Ngọc Phan kể lại, thì Nhà văn hiện đại
được khởi thảo từ tháng 12-1938 đến tháng 1-1940 xong lần đầu; dòng chữ Viết
xong ngày 12 tháng Chạp năm 1942 ghi ở cuối bộ sách là thời điểm kết thúc lần
viết thứ hai, có sửa chữa và bổ sung. So với bản thảo của tác giả, bộ sách in
ra đã bị cắt khoảng 200 trang, một phần do kiểm duyệt của Pháp - Nhật lúc bấy
giờ, một phần do Nhà xuất bản lược bớt - cũng như tách tập bốn làm hai quyển (gọi
là quyển thượng và quyển hạ) - cho sách đỡ dày, dễ phát hành.
Có thể thấy, Nhà văn hiện đại đã vừa bao quát về diện vừa đi
sâu về điểm của một quá trình văn học, từ “những nhà văn hồi mới có chữ Quốc ngữ"
mà tác phẩm của họ xuất hiện trong khoảng mười năm đầu của thế kỷ XX đến những
nhà văn còn sung sức, còn đang sáng tác cùng thời với tác giả.
Trước hết, người đọc thấy hiện ra rất rõ trong bộ sách một
nhà nghiên cứu với tác phong cụ thể, tỉ mỉ, với một lối suy nghĩ độc lập đầy những
chính kiến - cho dù không phải lúc nào những chính kiến ấy cũng đúng, cũng
không còn chỗ sai hay bất cập.
Sức hấp dẫn lớn của Nhà văn hiện đại là ở chỗ, ngay từ khi tập
đầu của bộ sách ra đời (1942) cho đến khi tập cuối được xuất bản (1945), và suốt
những năm sau đó - thậm chí cho đến những năm gần đây - một mặt, bộ sách luôn
luôn được những người quan tâm đến văn học tìm đọc; một mặt, nó cũng luôn luôn
được các nhà nghiên cứu phê bình bàn luận, đánh giá, khen và chê.
Những người khen thường dễ nhất trí với nhau, cho rằng tác giả
Nhà văn hiện đại, qua bộ sách, đã chứng tỏ ông là người say mê, thiết tha với sự
nghiệp văn học của đất nước; bộ sách được viết một cách tỉ mỉ, công phu với chứng
cứ rõ ràng, tư liệu chính xác, lời lẽ bình tĩnh, thẳng thắn…
Những người chê thì cho Nhà văn hiện đại tản mạn, nhiều chỗ
trích dẫn quá dài; một số nhà văn không đáng có trong bộ sách, và lại có những
nhà văn đáng lẽ phải có trong bộ sách; có những nhận định không đúng về nhà văn
này, không thỏa đáng về tác phẩm kia; cách phân chia nhà văn theo nhóm và loại
không chính xác; có người còn cho rằng "ngòi bút phê bình của Vũ Ngọc Phan
luôn tỏ ra khe khắt, khắc nghiệt khi ông viết về các nhà phê bình văn học. Ông
không dành cho họ một mối thiện cảm và thái độ ủng hộ, cổ vũ nào" (1).
Lại có những ý kiến khen chê khác nhau ở những chỗ cơ bản. Chẳng
hạn, có người cho tác giả Nhà văn hiện đại là “một nhà phê bình khách quan và
khoa học"; có người lại cho tác giả Nhà văn hiện đại "là một nhà phê
bình giáo điều trăm phần trăm" và “phê bình đối với Vũ Ngọc Phan là dựa
vào mấy nguyên tắc thẩm mỹ cổ điển để khen và chê một tác phẩm" (1). Nếu có
người thấy trong Nhà văn hiện đại "lối phê bình của Vũ Ngọc Phan là khoa học,
khách quan"(2), thì có người lại khăng định trong Nhà văn hiện đại,
"thái độ phê bình của ông Vũ Ngọc Phan rất lộn xộn, lúc thì ông dựa trên
phương pháp của trường phái phê bình cổ điển, lúc thì ông dựa trên phương pháp
phê bình khách quan khoa học. Dù vậy, trong toàn bộ cuốn Nhà văn hiện đại, ông
vẫn trung thành với lối phê bình chủ quan, cổ điển” (3)…
Lẽ tất nhiên, với một bộ sách lớn như Nhà văn hiện đại những
sơ suất, những khuyết điểm, thậm chí những sai lầm là không thể tránh khỏi.
Chính Vũ Ngọc Phan cũng đã “tự phê bình" (có khi quá nghiêm khắc) về một số
điểm mà ông cho là mình đã "không thấy được”, “không thể thấy được”,
“không nhận thức được” khi viết bộ sách (4).
Nhà thơ Trần Ninh Hồ thì cho tôi biết: sinh thời nhà văn Vũ
Ngọc Phan, chính anh đã nghe thấy tác giả Nhà văn hiện đại nói với nhà văn Nguyễn
Tuân rằng, trong bộ sách của mình, ông có sơ suất là đã bỏ qua hai nhà văn Nguyễn
Huy Tưởng và Nam Cao….
Những ý kiến khen chê Nhà văn hiện đại có thể có những chỗ
còn phải bàn, và chắc là không dễ thuyết phục được mọi người. Có điều, dù khen
dù chê, không ai phủ nhận công lao của Vũ Ngọc Phan. Với Nhà văn hiện đại, ông
đã để lại một kho tư liệu quý, trong đó có những nhận định đúng, giúp ích rất
nhiều cho người đương thời, và đặc biệt là cho các thế hệ sau - khi họ muốn tìm
hiểu một thời kỳ non trẻ nhưng rất sôi động của văn học Việt Nam hiện đại.
Tác phẩm quan trọng thứ hai của Vũ Ngọc Phan sau Nhà văn hiện
đại là Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam in năm 1956; tính đến lần in ở Vũ Ngọc
Phan toàn tập là đã tái bản tới 14 lần! Những lần đầu, sách mang tên Tục ngữ và
ca dao Việt Nam. Từ lần in thứ bảy (năm 1971) trở đi, tên sách được đổi thành Tục
ngữ ca dao dân ca Việt Nam. Theo giáo sư - viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng (1938-2008),
con trai nhà văn Vũ Ngọc Phan, thì tác giả có ý định viết bộ sách này từ khi
còn ở Thanh Hóa, khoảng những năm 1947-1948. Chỉ đến năm 1951, khi được điều
lên Việt Bắc làm ủy viên ban nghiên cứu Văn Sử Địa, và sau đó công tác ở ban
Văn Sử Địa, Vũ Ngọc Phan mới có điều kiện để chuyên tâm nghiên cứu văn học dân
gian và hoàn thành bộ sách này (1).
Khác với Nhà văn hiện đại, ở Tục ngữ ca dao... ngoài phần
nghiên cứu, còn có phần sưu tầm, biên soạn. Về nghiên cứu, tác giả khẳng định
có cơ sở khoa học giá trị của văn học dân gian, bàn về quan hệ giữa văn học dân
gian và văn học thành văn, phân biệt tục ngữ, ca dao, dân ca... Về sưu tầm, ông
dựa một phần vào trí nhớ, một phần vào sách báo thời trước, một phần vào kết quả
của những chuyến “đi thực tế”... Về biên soạn, sắp xếp, ông cố gắng tìm ra những
cách mới so với những người đi trước để thuận tiện cho người đọc khi cần tra cứu...
Tất cả làm nên một bộ sách dày dặn, trải dài từ thời kỳ xa xưa đến thời ông
đang sống.
Không phải những nhận định của Vũ Ngọc Phan trong Tục ngữ ca
dao... đều chính xác từ đầu. Nhưng vì bộ sách được in nhiều lần, ông có nhiều dịp
sửa chữa những chỗ sai lầm hay bất cập của mình - hoặc do ông phát hiện, hoặc
do ông tiếp thu từ giới nghiên cứu, phê bình và người đọc, nên càng ở những lần
in sau, Tục ngữ ca dao... càng hoàn thiện. Bộ sách như còn có ý nghĩa mở đầu, nếu
ta nhớ, những năm sau đó, hàng loạt sách nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn tục ngữ
ca dao... nối tiếp nhau ra đời.
Đọc Tục ngữ ca dao... của Vũ Ngọc Phan, người ta thường nhớ đến
Tục ngữ phong dao của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc (1890-1942) do nhà in Lê Văn Tân
xuất bản năm 1928. Đó cũng là một bộ sách đồ sộ và rất có ích, dù còn có những
hạn chế so với Tục ngữ ca dao... Như về lý luận, có những điều cần thiết mà
chưa được đề cập, bàn luận; về cách sắp xếp và phân loại chưa được khoa học…
Đó là chưa nói chuyện vì biên soạn từ những năm hai
mươi của thế kỷ trước, tất nhiên Tục ngữ phong dao không có phần tục ngữ, ca
dao... những năm về sau như Tục ngữ ca dao... của Vũ Ngọc Phan.
Cũng về văn học dân gian, ngoài Tục ngữ ca dao..., Vũ Ngọc
Phan còn dành nhiều công sức nghiên cứu, biên soạn, giới thiệu truyện cổ. Quyển
sách đầu tiên của ông về loại này là Truyện cổ tích Việt Nam. Theo tác giả cho
biết, quyển sách được viết vào cuối năm 1953 ở Việt Bắc; gồm có Lời giới thiệu
và mười truyện, nhà xuất bản Văn Sử Địa in đầu năm 1955. Đây là loại sách
nghiên cứu, biên soạn và giới thiệu truyện cổ tích được viết và xuất bản sớm nhất
sau cuộc kháng chiến chống Pháp, gần như cùng thời với Tìm hiểu và phân tích
truyện cổ tích Việt Nam, hai tập, của Trần Thanh Mại (xuất bản năm 1955) và sau
đó một ít là Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, năm tập, của Nguyễn Đổng Chi (xuất
bản trong các năm 1957-1982).
Chưa đầy nửa năm sau lần in thứ nhất, tháng 5-1955, Truyện cổ
tích Việt Nam của Vũ Ngọc Phan được tái bản, cũng ở nhà xuất bản Văn Sử Địa. Đến
năm 1957, sách lại được nhà xuất bản Văn Sử Địa in lần thứ ba với cái tên mới:
Truyện cổ Việt Nam và ghi dưới tên sách: có bổ sung và sửa lại (bổ sung mười
lăm truyện và sửa ở nhiều chỗ).
Ngay sau khi Truyện cổ tích Việt Nam in lần thứ hai (8-1955),
nhà nghiên cứu và phê bình văn học Trần Thanh Mại (1908-1965) đã viết hẳn một
quyển sách có cái tên rất dài, bác lại nhiều luận điểm quan trọng của Vũ Ngọc
Phan trong quyển sách này, đối với truyện cổ tích. (1)
Kể ra, nhà phê bình cũng có chỗ quá lời và khe khắt nữa,
nhưng nhìn chung, Trần Thanh Mại đã đúng.
Và ở chỗ này, người ta lại thấy tính khiêm nhường, cầu thị ở
một nhà nghiên cứu như Vũ Ngọc Phan. Trong một dịp tâm sự với một bạn đồng nghiệp,
ông thoải mái nói về Truyện cổ tích Việt Nam của mình: “Đây là một tập truyện
viết rất máy móc, bây giờ đọc lại vẫn thấy đỏ tai" (1).
Sau đó, Vũ Ngọc Phan không thảo luận, tranh luận; ông lặng lẽ
điều chỉnh một số nhận định "máy móc" của mình, và cho in quyển sách
lần thứ ba với cái tên mới như đã nói.
Người đọc không quên Vũ Ngọc Phan còn dùng thuật ngữ văn học
dân gian sớm nhất, và còn chủ biên nhiều công trình văn học dân gian, hoặc viết
lịch sử văn học, nhất là ở các phần tục ngữ, ca dao, dân ca, truyện cổ... Rõ
ràng, trong lĩnh vực này, ông là một chuyên gia cao cấp, một học giả.
Có một vấn đề đặt ra là vì sao, từ kháng chiến chống Pháp cho
đến những năm về sau, hầu như Vũ Ngọc Phan chỉ chuyên tâm và hứng thú với việc
nghiên cứu văn học dân gian, mà rất ít viết phê bình hay nghiên cứu văn học hiện
đại?
Có thể giải thích hiện tượng này bằng mấy lý do. Một là, không
phải đến lúc này, mà từ lâu, Vũ Ngọc Phan đã say mê văn học dân gian; đọc Nhà
văn hiện đại thấy rất rõ. Hai là, Vũ Ngọc Phan được về làm việc ở ban Văn Sử Địa
mà việc sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn, giới thiệu là chủ yếu; sau đó ông lại
được tín nhiệm giữ những chức vụ đứng đầu của hội Văn nghệ dân gian; việc phê
bình - vốn quan hệ mật thiết với văn học hiện đại - đối với ông chỉ còn là thứ
yếu, và ông cũng không có nhiều thì giờ dành cho nó. Ba là, kinh nghiệm cho thấy,
làm nghiên cứu và phê bình văn học đã lâu năm, người ta thường muốn chuyển sang
nghiên cứu (...) Ba nguyên nhân ấy đứng riêng ra thì thấy bình thường, nhưng tập
trung lại ở Vũ Ngọc Phan thì có một sức thuyết phục rất mạnh trước vấn đề vừa
nêu.
Ở đây, có chuyện liên quan đến một bài viết của nhà nghiên cứu
Đặng Tiến về Vũ Ngọc Phan mà chúng tôi đã dẫn ở trên. Trong bài này, có đoạn,
ông Đặng Tiến viết:
Sau ngày Toàn quốc kháng chiến (1946), "Vũ Ngọc Phan,
nhà phê bình văn nghệ chuyên nghiệp, người có nhiều thẩm quyền nhất trong việc
phê bình văn nghệ, con người liêm khiết đó không còn viết phê bình nữa. Có người
hiểu tại sao". (Chúng tôi nhấn mạnh - HD).
Hình như ở đây, nhà nghiên cứu Đặng Tiến muốn ám chỉ đến một
nguyên nhân gì đó - hay ít ra là muốn đặt ra một nghi vấn nào đó - mà ông thấy
không tiện nói rõ. Thật ra, Vũ Ngọc Phan vẫn viết phê bình, dù ít. Có điều, Đặng
Tiến chưa đọc đó thôi. Hãy xem hai quyển sách đã dẫn: Qua những trang văn, Những
năm tháng ấy và một số sách báo khác, sẽ thấy không chỉ vài ba bài mà hàng chục
bài phê bình của Vũ Ngọc Phan (có in trong Toàn tập này). Kể cũng dễ hiểu, và dễ
thể tất; vì nhiều năm nay, nhà nghiên cứu Đặng Tiến sống và làm việc ở nước
ngoài, ông không có điều kiện theo dõi hết sách báo trong nước (chưa kể những
bài còn là bản thảo trong di cảo của nhà văn Vũ Ngọc Phan).
Nhà văn Tô Hoài có lẽ cũng nghĩ đến nhận định trên kia của Đặng
Tiến, trong đoạn văn này: "... Có một bài viết về nhà phê bình Vũ Ngọc
Phan trên một tờ báo Việt kiều ở Paris (Pháp) có nêu nhận xét: Vào kháng chiến
chống Pháp cho tới sau này, Vũ Ngọc Phan không viết phê bình. Đó cũng là một phần
nào sự thực. Nhưng tác giả bài báo trên còn muốn nêu hiện tượng đi đến ngụ ý:
phê bình văn học là cây bút tay phải của Vũ Ngọc Phan, thế mà Vũ Ngọc Phan
không viết phê bình nữa, e có vấn đề u uẩn gì bên trong. Đây cũng lại là một
cách nhìn sự việc theo lối của hôm nay và thiếu cứ liệu... Thật ra anh Vũ Ngọc
Phan cũng vẫn viết phê bình, nhưng không chuyên...” (1) (chúng tôi nhấn mạnh -
HD).
Nói dài dòng như thế là để bác bỏ một nghi ngờ - đúng hơn là
một nhận định - không có cơ sở, một nhận định không đúng. Và một người như Vũ
Ngọc Phan, nếu biết, chắc ông cũng rất đồng tình - chúng tôi nghĩ thế.
Sẽ là không thỏa đáng, nếu quên nói ở đây một điều: đời
văn Vũ Ngọc Phan sở dĩ thành tựu được đến thế là nhờ có rất nhiều công sức của
nhà thơ Hằng Phương (1908- 1983) - người bạn đời của ông. Ông có giúp đỡ bà
trong công việc sáng tác (làm thơ và cả nghiên cứu văn học nữa) nhưng bà còn
giúp đỡ ông nhiều hơn. Phục tài ông từ khi còn chưa kết hôn, bà chủ động giành
lấy việc chăm lo cho cả một gia đình. Trong những tháng năm khó khăn nhất, hầu
như một mình bà nuôi dạy tám người con và hai người cháu. Bà “hy sinh" nhiều
thời gian của mình trong công việc văn chương, để chồng yên tâm theo đuổi sự
nghiệp. Những khi cần, bà còn giúp ông sưu tầm nghiên cứu tục ngữ, ca dao, truyện
cổ… Tôi đã được đọc khá nhiều bài báo của ông do chính tay bà chép lại. Trong
trường hợp Vũ Ngọc Phan, thật đúng là “của chồng, công vợ”. Bất giác, nhớ mấy
câu thơ đùa rất hóm của cụ Nguyễn Công Hoan (1903-1977) - người bạn rất thân của
vợ chồng ông:
… Vốn tôi biết từ lâu:
“Của anh ấy của chị…" (1)
Nhìn bao quát cả đời văn Vũ Ngọc Phan sẽ thấy ngoài những việc
khác, ông có làm lý luận, phê bình, nhưng nghiên cứu thì nhiều hơn, rõ hơn, và
có những đóng góp lớn hơn. Gọi ông là nhà văn, nhà nghiên cứu văn học có lẽ
đúng hơn cả. Và cũng có thể thấy, suốt đời mình, Vũ Ngọc Phan đã dành hết tâm sức
cho công việc ông ưa thích. Ông làm được một khối lượng công việc khổng lồ, ít
nhà văn, nhà nghiên cứu nào có được. Ông để lại cho đời nhiều trang sách giá trị.
Ông có rất đông bạn đọc. Ông được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh. Tên ông được đặt
cho một đường ở Đà Nẵng, một đường ở thành phố Hồ Chí Minh và một đường ở thủ
đô Hà Nội... Ông đã được tưởng thưởng một cách vẻ vang, xứng đáng.
2009
MỘT NHẬN ĐỊNH SAI
VỀ THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
Để vấn đề lý luận mà chúng tôi đề cập trong bài này thêm một
chút xanh tươi, bớt một chút màu xám - những chữ người ta hay nhắc từ một câu của
Gớt (1749-1832) - nhà thi hào người Đức - và cũng là để "nói có sách, mách
có chứng", chúng ta hãy cùng đọc lại bài thơ này:
HAI NỬA VẦNG TRĂNG
Tình cờ anh gặp lại vầng trăng
một nửa vầng trăng thôi, một nửa
trăng vẫn đấy mà em xa quá
nơi cuối trời em có ngóng trăng lên?
Nắng tắt đã lâu rồi, trăng thức dậy dịu êm
trăng đầu tháng có lần em ví
chữ D hoa như vầng trăng xẻ nửa
tên anh như nửa trăng mờ tỏ
ai bỏ quên lặng lẽ sáng bên trời.
Ôi vầng trăng theo con nước đầy vơi
trăng say đắm dào trên cỏ ướt
trăng đầu tháng như đời anh
chẳng thể nào khác được
trăng cuối tháng như đời anh hao khuyết em đã khóc
trăng từng giọt tan vào anh mặn chát em đã khóc
nhưng làm sao tới được
bến bờ anh tim dội sóng không cùng.
Đến bây giờ trăng vẫn cứ còn xanh
cứ một nửa, như đời anh, một nửa
nhưng trăng sẽ tròn đầy, trăng sẽ...
Trăng viên mãn cuối trời đêm đêm em có nhớ
Mặt trăng từng khuất nửa ở trong nhau.
8-1981
Hoàng Hữu
Đây là một bài thơ tình hay, mặc dù khó có thể giải thích tường
tận từng câu, từng chữ (nó là loại thơ “khả giải bất khả giải chi gian").
Ta chỉ cảm thấy bài thơ buồn, một nỗi buồn cô đơn của một tình yêu đầy trắc trở.
Và cho dù cuối bài, nhà thơ có tỏ ra tin tưởng và hy vọng, anh vẫn không quên nỗi
buồn xưa… Bài thơ được giải nhì cuộc thi thơ 1981-1982 của báo Văn nghệ, Hội
Nhà văn Việt Nam.
Chúng tôi sực nhớ đến bài thơ này, ngay sau khi đọc một câu
trong bài "Hoài Thanh và Thi nhân Việt Nam” của giáo sư Phong Lê, viện trưởng
viện Văn học Việt Nam, tổng biên tập Tạp chí Văn học, đăng trên Tạp chí Văn học
số 3 (tháng 5 và 6- 1992). Bài nói trên của giáo sư Phong Lê vốn là bài phát biểu
đề dẫn tại cuộc hội thảo kỷ niệm mười năm ngày mất của nhà văn Hoài Thanh, và
năm mươi năm xuất bản Thi nhân Việt Nam, do viện Văn học phối hợp với một số cơ
quan tổ chức ngày 27-3-1992 tại Hà Nội. Câu ấy của giáo sư Phong Lê, ít nhất
cũng là một sự phàn nàn, có ý chê trách thơ Việt Nam hiện đại nghèo nàn, đơn điệu,
như sau "suốt gần 40 năm qua nền thơ ca chính thống của ta không có lấy một
bài buồn!” Một câu tưởng đơn giản mà đã đụng đến một vấn đề lớn: vấn đề đánh
giá thơ Việt Nam hiện đại!
Cách diễn đạt của giáo sư Phong Lê trong bài mình hơi tối
nghĩa, làm người đọc phân vân không biết "gần 40 năm qua" là tính từ
bao giờ đến bao giờ? Từ 1954, năm kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp đến nay
(1992) là 38 năm chăng? Hay từ 1945, năm Cách mạng tháng Tám thành công đến
1982 (năm Hoài Thanh mất) là 37 năm? Có điều, dù tính từ năm nào đến năm nào
thì "gần 40 năm qua" của giáo sư Phong Lê cũng là khoảng thời gian nằm
gọn trong phạm vi từ Cách mạng tháng Tám đến nay. Còn “nền thơ ca chính thống của
ta", theo Phong Lê, chắc là nền thơ được hình thành bởi những bài thơ in
công khai trên sách báo, được cả giới lãnh đạo lẫn công chúng chấp nhận.
Vậy, xin giáo sư Phong Lê hãy chứng minh nhận định của anh
("suốt gần 40 năm qua nền thơ ca chính thống của ta không có lấy một bài
thơ buồn!") đối với trường hợp bài Hai nửa vầng trăng trên kia của Hoàng Hữu.
Đó có phải là bài thơ nằm trong khoảng thời gian “gần 40 năm qua"? Đó có
phải bài thơ thuộc "nền thơ ca chính thống của ta"? Đó có phải là một
bài thơ buồn - dù là buồn nhiều hay buồn ít? (Chúng tôi còn nhớ nhiều bài thơ
tương tự, nhưng thấy chưa cần phải dẫn thêm).
Xem ra, chứng minh và bảo vệ được nhận định trên khó lắm
thay! Mà thật ra, làm sao có thể chứng minh được, bảo vệ được!.
8-1992
1. Xem Kỷ niệm nhà văn Vũ Ngọc Phan - Nhà xuất bản Hội
Nhà văn, Hà Nội - 2002, tr.180, 183.
1. Kỷ niệm nhà văn Vũ Ngọc Phan, sách đã dẫn, tr. 244.
2. Kỷ niệm nhà văn Vũ Ngọc Phan, sách đã dẫn, tr. 207.
3. Kỷ niệm nhà văn Vũ Ngọc Phan, sách đã dẫn, tr.271.
1. Kỷ niệm nhà văn Vũ Ngọc Phan, sách đã dẫn, tr.269.
1. Hoài Thanh: Nhà báo và nhà văn, trong Văn chương và hành động - Nhà xuất bản Phương Đông, Hà Nội, 1936 hoặc Hoài Thanh toàn tập - Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội 1999, tập I, tr. 192.
2. Thiếu Sơn: Nhà viết báo, trong Đời sống tinh thần - Nhà xuất bản Đời Mới, Hà Nội, 1945 hoặc Thiếu Sơn toàn tập, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 2003, tập I, tr. 450.
1. Vũ Ngọc Phan: Nghề viết văn và người bạn đời trong Những năm tháng ấy - Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1987, tr.163.
1. Chuyện Hà Nội, Nhà xuất bản Bách Việt, Hà Nội - 1944, tr.11.
1. Chuyện Hà Nội, sách đã dẫn, tr.15.
2. Chuyện Hà Nội, sách đã dẫn, tr.15-16.
1. Con đường mới của thanh niên, Nhà xuất bản Hà Nội, 1944, tr.9.
1. Trần Thị Việt Trung: Nhà văn hiện đại - một thành tựu lớn của phê bình văn học Việt Nam trước 1945 - Tạp chí Văn học số 5 - 1994.
1 Thanh Lãng: Phê bình văn học - thế hệ 1932, tập 2, Phong trào văn hóa (Sài Gòn) xuất bản - 1973, tr.301.
2. Đặng Tiến: Nguồn sáng Vũ Ngọc Phan, tạp chí Đoàn kết (Paris) số 1-1998. Dẫn theo bản in trong quyển Nhà văn Vũ Ngọc Phan, Mai Hương - Phong Lê biên soạn - Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 1995, tr.129
3. Mộng Bình Sơn - Đào Đức Chương: Nhà văn phê bình - Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1996, tr.200.
4. Xem Vũ Ngọc Phan: Những năm tháng ấy - sách đã dẫn, tr.236.
1. Ban Văn Sử Địa là tên gọi tắt của ban nghiên cứu Lịch sử, Địa lý, Văn học được chính thức thành lập ngày 2-12-1953 ở Việt Bắc, trực thuộc ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, là tiền thân của Viện Khoa học xã hội Việt Nam hiện nay.
1. Xem: Trần Thanh Mại - Quan điểm duy vật máy móc và duy vật biện chứng trong cách nhận định một truyện cổ tích - (Phê bình Truyện cổ tích Việt Nam của ông Vũ Ngọc Phan) - Nhà xuất bản Sông Lô, Hà Nội, 1955.
1. Xem: Phan Đăng Nhật - Từ "Nhà văn hiện đại" đến “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam" trong quyển Nhà văn Vũ Ngọc Phan, sách đã dẫn, tr.105. Vũ Ngọc Phan cũng từng nhắc lại chuyện này. Xem Những năm tháng ấy sách đã dẫn, tr.413.
1. Xem: Tô Hoài - Nhà văn Vũ Ngọc Phan viết bộ Nhà văn hiện đại - báo Văn nghệ số 28, 11-7-1987.
1. Xem: Vũ Ngọc Phan - Những năm tháng ấy - sách đã dẫn, tr.274.
1. Kỷ niệm nhà văn Vũ Ngọc Phan, sách đã dẫn, tr. 244.
2. Kỷ niệm nhà văn Vũ Ngọc Phan, sách đã dẫn, tr. 207.
3. Kỷ niệm nhà văn Vũ Ngọc Phan, sách đã dẫn, tr.271.
1. Kỷ niệm nhà văn Vũ Ngọc Phan, sách đã dẫn, tr.269.
1. Hoài Thanh: Nhà báo và nhà văn, trong Văn chương và hành động - Nhà xuất bản Phương Đông, Hà Nội, 1936 hoặc Hoài Thanh toàn tập - Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội 1999, tập I, tr. 192.
2. Thiếu Sơn: Nhà viết báo, trong Đời sống tinh thần - Nhà xuất bản Đời Mới, Hà Nội, 1945 hoặc Thiếu Sơn toàn tập, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 2003, tập I, tr. 450.
1. Vũ Ngọc Phan: Nghề viết văn và người bạn đời trong Những năm tháng ấy - Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1987, tr.163.
1. Chuyện Hà Nội, Nhà xuất bản Bách Việt, Hà Nội - 1944, tr.11.
1. Chuyện Hà Nội, sách đã dẫn, tr.15.
2. Chuyện Hà Nội, sách đã dẫn, tr.15-16.
1. Con đường mới của thanh niên, Nhà xuất bản Hà Nội, 1944, tr.9.
1. Trần Thị Việt Trung: Nhà văn hiện đại - một thành tựu lớn của phê bình văn học Việt Nam trước 1945 - Tạp chí Văn học số 5 - 1994.
1 Thanh Lãng: Phê bình văn học - thế hệ 1932, tập 2, Phong trào văn hóa (Sài Gòn) xuất bản - 1973, tr.301.
2. Đặng Tiến: Nguồn sáng Vũ Ngọc Phan, tạp chí Đoàn kết (Paris) số 1-1998. Dẫn theo bản in trong quyển Nhà văn Vũ Ngọc Phan, Mai Hương - Phong Lê biên soạn - Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 1995, tr.129
3. Mộng Bình Sơn - Đào Đức Chương: Nhà văn phê bình - Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1996, tr.200.
4. Xem Vũ Ngọc Phan: Những năm tháng ấy - sách đã dẫn, tr.236.
1. Ban Văn Sử Địa là tên gọi tắt của ban nghiên cứu Lịch sử, Địa lý, Văn học được chính thức thành lập ngày 2-12-1953 ở Việt Bắc, trực thuộc ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, là tiền thân của Viện Khoa học xã hội Việt Nam hiện nay.
1. Xem: Trần Thanh Mại - Quan điểm duy vật máy móc và duy vật biện chứng trong cách nhận định một truyện cổ tích - (Phê bình Truyện cổ tích Việt Nam của ông Vũ Ngọc Phan) - Nhà xuất bản Sông Lô, Hà Nội, 1955.
1. Xem: Phan Đăng Nhật - Từ "Nhà văn hiện đại" đến “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam" trong quyển Nhà văn Vũ Ngọc Phan, sách đã dẫn, tr.105. Vũ Ngọc Phan cũng từng nhắc lại chuyện này. Xem Những năm tháng ấy sách đã dẫn, tr.413.
1. Xem: Tô Hoài - Nhà văn Vũ Ngọc Phan viết bộ Nhà văn hiện đại - báo Văn nghệ số 28, 11-7-1987.
1. Xem: Vũ Ngọc Phan - Những năm tháng ấy - sách đã dẫn, tr.274.
28/1/2019








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét