1. Văn trẻ Việt Nam hôm nay đông đảo, tấp nập. Mở trang báo nào cũng thấy có họ. Giở trang sách nào cũng gặp họ. Điểm qua tình hình văn học hàng năm không thể không nhắc đến họ. Thử kể một số cái tên trẻ trong độ tuổi 35 trở xuống - cái hạn tuổi được Hội Nhà Văn quy định cho mỗi kỳ Hội nghị những người viết văn trẻ: Phan Thị Vàng Anh, Trần Thanh Hà, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Thị Châu Giang, Phan Triều Hải, Nguyễn Bình Phương, Lưu Sơn Minh, Hoa Ngõ Hạnh, Dương Nữ Khánh Thương, Hữu Việt, Lê Huy Bắc, Nguyên Hương... Tôi kể lộn xộn, không theo một thứ tự nào, nhưng danh sách này còn kéo dài. Chẳng thế mà ban tổ chức hội nghị đã phải rất vất vả mới hạn định được số lượng đại biểu tham dự sau mấy lần kéo dãn con số thêm ra so với ước định ban đầu. Đông quá mà, những người viết trẻ hôm nay. Trước hết hẵng cứ mừng cho cái sự đông vui này. Có nó, văn đàn Việt Nam cuối thế kỷ nhộn nhịp, tưng bừng. Có nó, đời sống văn học thêm sinh khí, thêm sự đua tranh sáng tạo. Có nó, người đọc có được một cái hy vọng cho tương lai văn chương nước nhà ở thế kỷ sau. Nói gọn lại, có đội ngũ trẻ này là có một nền văn trẻ Việt Nam.
2. Trẻ của hôm nay trong mạch viết của mình không quên quá khứ. Đối với họ, quá khứ không phải là gánh nặng nhưng không phải không níu kéo, dằn vặt. Văn học thời đổi mới có một chủ điểm được xoáy sâu là nhìn nhận, soát xét lại quá khứ đất nước mấy chục năm qua. Lớp viết trẻ tham gia vào đó không phải với tư cách chủ nhân hay nạn nhân mà với tư cách chứng nhân từ vị thế hiện tại và tương lai. Họ không dự phần trách nhiệm của quá khứ nhưng họ phải bảo đảm trách nhiệm cho chính họ và những lớp người đến sau họ. Vì vậy thái độ nhìn quá khứ của họ thường là quyết liệt, gay gắt, nhưng cũng đầy cảm thông, trân trọng, và ẩn bên trong là một nỗi buồn đau làm người. Làm thế nào để con người sống thật với nhau chứ không phải sống đạo đức giả? Làm thế nào để con người được là Người hơn? Các truyện ngắn Kịch câm (Phan Thị Vàng Anh), Phù thủy (Nguyễn Thị Thu Huệ), Vườn yêu (Võ Thị Hảo), tiểu thuyết Cõi nhân gian (Nguyễn Phúc Lộc Thành) gây dư luận chú ý ở mạch viết này. Cái chính bao trùm vẫn là khát vọng sống tự do, nhân bản, hài hòa Thiên Địa Nhân như lẽ hằng tồn vũ trụ. Muốn thế con người phải dũng cảm và vị tha dám “bước qua lời nguyền” giải tỏa sự hận thù, ngờ vực giữa cha và con, vợ và chồng, anh và em, trước và sau, bên này và bên kia. Một người viết trẻ, Tạ Duy Anh, khi chưa đầy 30 tuổi (1988), đã gióng lên tiếng kinh cầu thức tỉnh ấy. Và đó là trẻ nhập vào xu thế của nhân loại thời đại ngày nay.
Đọc những trang văn không thiếu sự gay gắt, tê tái lớp trẻ viết về một thời quá khứ chưa xa của cha anh, có người e ngại một sự quay lưng, phủi tuột lịch sử. Hoặc giả lại có người cho rằng lớp trẻ ít vướng bận quá khứ nên mới có thể viết một cách nhẹ nhàng, thản nhiên như thế. Cả hai cách nghĩ đều có phần bất cập cho trẻ, dễ làm trẻ chựng lại trên đường viết. Nghĩ như Đỗ Phước Tiến (33 tuổi) có lẽ đúng với những người viết trẻ hôm nay khi nhìn lại hôm qua: “Nếu có một thế hệ nào đó cần tỏ ra cảm thông với quá khứ, thì đó phải là thế hệ của chúng tôi. Mỗi khi đặt bút, chúng tôi đều cân nhắc kỹ càng. Cần phải tỏ ra mình không phải là kẻ bội bạc, cũng không thể là đứa ngây thơ. Trong khi đó vẫn phải viết cho... hay”. Hay ở đây nghĩa là phải triệt để, phải đi đến tận cùng vấn đề, không giả trá, không nửa vời, không nhân nhượng, may ra từ đó văn học mới mang lại được chút gì cho con người trong buổi mới nhân sinh này. Ông Đốt (Dostoevski) thiên tài có lần nói rằng cả đời ông chỉ làm mỗi một việc là đẩy tới tận cùng cái mà những người khác chỉ dám làm nửa chừng. Vậy nên ông mới có Anh em nhà Karamazov, Tội ác và trừng phạt bất hủ để lại mãi mãi làm nhức nhối lương tâm nhân loại, khiến con người phải tự tẩy sạch mình hơn. Viết kiểu này văn có vẻ như lạnh lùng, tàn nhẫn. Thì đến như Gorki vĩ đại cũng chưa phải đã hiểu hết Đốt khi gọi ông là “thiên tài độc ác”. Trong văn học Việt Nam Nguyễn Khải từng bị kêu nhiều lần là văn lạnh. May mà ông Khải giữ được giọng mình trong văn nên bây giờ đọc lại văn ông viết trước đây còn được ít nhiều thú vị hơn các đồng nghiệp khác. Thế thì cái sự lạnh của văn không hẳn là một nhược điểm. Đằng sau cái lạnh có vẻ của câu chữ đó là cả tấm lòng ấm nóng xúc động buồn thương của người viết. Văn trẻ vẫn đang ồn ào nhiều, vẫn đang lắm khóc cười không đâu, nhưng ở một vài tác phẩm đứng được nó đã biết lạnh để làm nóng tâm hồn người đọc. Hãy xem nhân vật “Nó” trong truyện Kịch câm; trừng phạt bố nhưng nó có sung sướng gì đâu, trái lại nó đau khổ đến tuyệt vọng.
3. Trẻ của hôm nay khát khao được làm mới văn thơ. Ba mươi sáu tuổi đời, Nguyễn Bình Phương đã có sau lưng mình bốn tập thơ (Lam chướng, Khách của trần gian, Xa thân, Từ chết sang trời biếc), năm tập tiểu thuyết (Bả giời, Vào cõi, Những đứa trẻ chết già, Người đi vắng, Trí nhớ suy tàn). Anh vừa hoàn thành cuốn tiểu thuyết mới nhan đề "Mộng". Số lượng đã đáng nói, nhưng cách viết của Phương còn đáng nói hơn. Anh chọn một lối đi riêng và lầm lũi đi theo lối đã chọn, không màng nổi danh, không chạy theo thời thượng văn chương, không nao núng trước sự im lặng đang có đối với tác phẩm của mình. Anh kiên trì thử nghiệm, làm mới, và tin vào sự thành công của việc mình làm. Thơ Phương chối bỏ lối luận lý, giãi bày, anh nhấn sâu vào vùng cảm liên tưởng, để những hình ảnh tự cho người đọc nắm bắt.
Tiểu thuyết của Phương xáo trộn các hiện thực, đưa nhiều cái ảo vào, buộc người đọc phải theo mình vào một mê cung như cuộc đời. Tác phẩm của Nguyễn Bình Phương, vì thế, đang kén người đọc, đang mời gọi độc giả cùng tác giả đi vào một mỹ cảm mới. Tuy chưa rộng ra, nhưng ai đã đọc Phương đều thấy có cái khác, đều thấy có một hướng đi như vậy. Giới trẻ nhiều người thích văn Phương. Tôi nghĩ đó là một xu thế.
Tiểu thuyết của Phương xáo trộn các hiện thực, đưa nhiều cái ảo vào, buộc người đọc phải theo mình vào một mê cung như cuộc đời. Tác phẩm của Nguyễn Bình Phương, vì thế, đang kén người đọc, đang mời gọi độc giả cùng tác giả đi vào một mỹ cảm mới. Tuy chưa rộng ra, nhưng ai đã đọc Phương đều thấy có cái khác, đều thấy có một hướng đi như vậy. Giới trẻ nhiều người thích văn Phương. Tôi nghĩ đó là một xu thế.
Trần Thanh Hà (32 tuổi) vốn là một cô giáo dạy văn ở miền đất Quảng Trị một thời máu lửa chiến tranh khốc liệt. Quá khứ đau thương của cuộc chiến đi qua đời người, để lại những dấu ấn nhức nhối trong số phận con người, nhất là phụ nữ, hiện rõ trên những trang viết của Hà. Chững chạc ngay từ truyện đầu tay, Hà biết đi sâu vào các cảnh ngộ thân phận, biết khơi gợi vào góc khuất sâu kín của tâm hồn nhân vật để tìm một sự sẻ chia, đồng cảm. Một mảng đề tài khác trong truyện Trần Thanh Hà là lớp trẻ với những vấn đề băn khoăn, bức xúc của họ trước cuộc sống làm sao để hoàn thiện mình, để mình được là mình mà không đánh mất phẩm chất, tư cách của lớp người trẻ. Tập truyện ngắn “Gió của mùa sau” viết về đề tài này đã được giải nhất cuộc thi “Sáng tác văn học cho tuổi trẻ” của nhà xuất bản Thanh Niên (1996). Cùng năm đó Hà được giải nhất cuộc thi truyện ngắn của tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. Mới đây Trần Thanh Hà đã được kết nạp vào Hội Nhà Văn Việt Nam và là hội viên trẻ tuổi nhất.
Lưu Sơn Minh (29 tuổi), chàng trai học y khoa, hiện làm việc cho một tạp chí về ô tô xe máy, khi cầm bút viết văn đã mạnh dạn đi vào lịch sử, trăn trở khám phá các nhân vật dù là dã sử hay chính sử trên bình diện con người. Tiếng hát của chàng Trương Chi, câu chuyện hóa hổ của thái sư Lê Văn Thịnh, nỗi niềm của bà mẹ vua Lê Thánh Tông... được cây bút trẻ này khơi gợi vào những miền sâu tâm linh, muốn đồng cảm ở họ một thân phận con người, muốn đưa họ ra trước mắt người đời khác hơn như cách nhìn nhận lâu nay. Tập truyện ngắn "Mưa sâm cầm" của Lưu Sơn Minh xuyên suốt một mạch viết này. Nhưng Minh xuất hiện lần đầu là với truyện ngắn “Bến trần gian” bằng cách viết mộng ảo nói về nỗi đau mất mát trong chiến tranh. Truyện này, cùng với truyện “Duyên nghiệp” viết về cái nghiệp nghệ thuật, nghiệp người, nhờ ở nội dung sâu sắc và cách viết mới lạ đã được trao giải ba cuộc thi truyện ngắn 1992 - 1994 của tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. Truyện “Duyên nghiệp” về sau đã được dựng thành phim truyện nhựa gây được tiếng vang.
Nguyễn Quyến (28 tuổi) khi xuất hiện cách đây năm năm đã gây được tiếng vang. Thơ Quyến là trực giác suy tư hay suy tư bằng trực giác thì cũng vậy. Quyến làm thơ vừa như một đứa trẻ đang vươn lên làm người lớn, lại vừa như một người lớn muốn thu mình thành trẻ con. Ở khoảng giữa đó, trên ranh giới ấy là miền thơ của Quyến với những cảm nhận khác lạ và một trạng thái vừa phân thân vừa nhập thân đầy huyền bí. Bài thơ Ranh giới của Quyến viết về tuổi mười bảy thật mới mẻ trong một đề tài không còn mới:
Tôi ngơ ngác tuổi mười bảy ranh giới vật nhà và thú rừng
Tôi kêu lên trẻ con đã thành người chưa
Tôi ngơ ngơ như chim và cung quăng như cá
Tôi ngơ ngác giữa hai tiếng gọi, hoàng hôn em chờ
và ban mai mẹ đợi, và tôi giấu hai người điều tôi xấu hổ
(Nhưng tôi không giấu con người và con thú
cái đêm dương tính đầu tiên)
Nguyễn Quyến đã có một tập thơ riêng “Mưa ban mai” và vừa in chung tập “Thơ tự do” cùng chín tác giả khác. Sau khi tốt nghiệp khóa V trường viết văn Nguyễn Du, Quyến hiện đang làm báo tại Hà Nội và tiếp tục đam mê thơ.
Ngân Hoa (34 tuổi) viết văn làm thơ và sớm nổi lên qua hai giải thưởng: giải nhì thơ báo Văn Nghệ (1995) và giải ba cuộc thi “Sáng tác văn học cho tuổi trẻ” (nxb.Thanh Niên, 1996). Thơ và truyện của Hoa mạnh ở những khát khao tình yêu, hạnh phúc, một khát khao mãnh liệt bằng cả tình cảm và bản năng. Hoa viết mạnh bạo về những đam mê lứa đôi của tuổi trẻ, nhưng linh cảm của một người thơ mách bảo tác giả biết dừng lại đúng lúc.
Chúng mình nằm bên nhau trong nắng nhạt cuối xuân
ùa qua cửa
Anh đã ngủ quên sao em chẳng ngủ cùng
Những đóa huệ tây nở ra vì hơi nóng
Chiếc cốc nhỏ trong veo ánh sáng đã chảy tràn
Mình đã nằm như thế một ngày nào, một trưa xuân
nào trước
Chân tay gác lên nhau chăn gối lẫn trên giường
Sao em chẳng ngủ cùng một giấc
Trong hơi thở đều đều vẫn nối mãi vào nhau
Nguyễn Thị Ngọc Tư (27 tuổi), cô gái ở chót mũi Cà Mau, tác giả tập truyện "Ngọn đèn không tắt" được giải nhất cuộc thi sáng tác văn học cho tuổi hai mươi ở thành phố Hồ Chí Minh. Những truyện của cô đậm chất Nam Bộ kể về cuộc sống thường ngày của những con người bình thường, giản dị. Ngọc Tư có một truyện ngắn viết về chiến tranh "Chuyện vui điện ảnh" cho thấy cách nhìn của lớp trẻ hôm nay đối với cuộc chiến vừa qua. Chiến tranh ở Việt Nam đã trôi qua hơn một phần tư thế kỷ, đã có một lớp người sinh ra sau chiến tranh, họ không sống cuộc chiến tranh, mà chỉ được nghe kể lại, được xem trong sách báo và phim ảnh.
Cụ thể hơn chút nữa, lớp người sinh sau chiến tranh chỉ có thể thấy trên thực địa những dấu tích của chiến tranh giờ đã thành bảo tàng, thành kỷ niệm, với lớp thời gian ngày càng phủ dày lên. Như một bài haiku của Basho viết: "Cỏ hè tươi tốt mọc lên/ nơi xưa người lính trận tiền/ nằm mơ". Trong văn học, chiến tranh chắc sẽ còn hiện diện lâu dài, nó sẽ vẫn là một đề tài lớn được tiếp tục khai thác, nhưng với mỗi thế hệ người cầm bút, chiến tranh có một hình hài diện mạo riêng, một dấu ấn riêng. Lớp nhà văn đã đi qua cuộc chiến, tham gia cuộc chiến, trải nghiệm đời mình trong đạn bom máu lửa, trong đổ vỡ mất mát, trong chết chóc, chiến tranh sẽ là khúc bi ca, tráng ca, hùng ca, chiến tranh với họ sẽ mãi mãi là một phần đời, nhiều khi là cả cuộc đời, rỏ máu. Họ sẽ viết để tái hiện, để chiêm nghiệm cái hiện thực đã thành kinh nghiệm không thể nào quên, không thể nào dứt bỏ được. Như tên gọi một tiểu thuyết của Bảo Ninh, lớp nhà văn này viết trong "nỗi buồn chiến tranh". Lớp người sinh ra sau chiến tranh cầm bút viết văn cũng không né tránh cái hiện thực họ chỉ "nghe nhìn" mà không sống đó. Chiến tranh không phải một phần đời của họ, không thành quá khứ của họ, không phải niềm kiêu hãnh hay gánh nặng đối với họ. Họ sẽ nghe, sẽ xem, sẽ cảm nhận, sẽ suy nghĩ, và sẽ viết về chiến tranh theo cách của mình: cách của một thế hệ đến sau không còn muốn có chiến tranh. Họ sẽ nhìn chiến tranh bằng con mắt của thế hệ mình. Chiến tranh không phải là một trò đùa, nhưng chiến tranh là một điều khủng khiếp. Truyện ngắn "Chuyện vui điện ảnh" viết trong tinh thần này. Những người dân thường của hẻm Cựa Gà nhờ chú Sa làm bảo vệ ở hãng phim truyền hình mà thỉnh thoảng được các đoàn làm phim cho vào các vai quần chúng, nhất là trong những phim về chiến tranh. Đóng phim thì vui, vào phía bên này hay bên kia trong chiến tranh trên phim cũng được: "Thanh niên vô vai lính, lúc bên mình lúc thay áo qua bên giặc. Ông bà già con nít đóng vai dân, nhiều nhất là dân chạy loạn. Sồn sồn cỡ chú Sa hóa trang vai lãnh đạo tham mưu hoặc làm quan Tây. Tuổi nào có vai nấy, chạy ào qua cái mương, nước văng sáng trắng có thấy mặt mũi gì đâu nhưng vẫn gọi đấy là vai, vẫn vui". Vui vậy, ngờ đâu một lần chú Sa được một ông đạo diễn mời đóng chính vô vai một thiếu úy, "một tên ác ôn, giết vợ, hãm hại vợ người, tàn sát trẻ nít, huênh hoang phá xóm phá làng, sau chết vì chó điên cắn". Lại ngờ đâu, chú Sa diễn ngon quá, đạt quá, nhập vai thật quá, khiến ngay cả bà con lối xóm xem phim "vừa hể hả vừa ghê tởm". Và từ đó mọi người nhìn chú như nhìn một tên ác ôn, dần dần xa lánh lạnh nhạt với chú, ngay cả cô Thư là người mà chú đang muốn gá nghĩa. Chiến tranh, chuyện tưởng chỉ trên phim, ngờ đâu nó đảo lộn đời thật, chiến tranh qua rồi mà ám ảnh nó còn dai dẳng. "Chung quy cặn nguồn cũng tại chiến tranh hết, dù chiến tranh trôi qua đã mấy chục năm rồi" - tác giả thiên truyện gói lại một câu như vậy. Và câu chuyện vui điện ảnh của xóm Gà đã kết lại trong một điệu buồn thế này: "Hằng đêm, chú Sa đốt nhang van vái hương hồn ba má chú, van vái đất trời cho gián nhấm, chuột cắn bộ phim đó hoặc giả nó sẽ mốc meo trong kho lưu trữ đi cho rồi để mỗi dịp lễ lạt khỏi bị lấy ra chiếu đi chiếu lại, phiền lòng giữa buổi vàng thau". Người viết trẻ không quên chiến tranh, nhưng chiến tranh là điều khủng khiếp, nó qua rồi hãy để nó qua, đừng để nó tiếp tục phá hoại cuộc sống hiện tại, tiếp tục làm bất an con người. Người đi qua chiến tranh nhìn nó từ phía trước, người không trải qua chiến tranh nhìn nó từ phía sau, phía nào nó cũng là bất trắc, và đổ vỡ. Khác chăng, người trẻ hôm nay không muốn bận tâm về nó nữa.
Cụ thể hơn chút nữa, lớp người sinh sau chiến tranh chỉ có thể thấy trên thực địa những dấu tích của chiến tranh giờ đã thành bảo tàng, thành kỷ niệm, với lớp thời gian ngày càng phủ dày lên. Như một bài haiku của Basho viết: "Cỏ hè tươi tốt mọc lên/ nơi xưa người lính trận tiền/ nằm mơ". Trong văn học, chiến tranh chắc sẽ còn hiện diện lâu dài, nó sẽ vẫn là một đề tài lớn được tiếp tục khai thác, nhưng với mỗi thế hệ người cầm bút, chiến tranh có một hình hài diện mạo riêng, một dấu ấn riêng. Lớp nhà văn đã đi qua cuộc chiến, tham gia cuộc chiến, trải nghiệm đời mình trong đạn bom máu lửa, trong đổ vỡ mất mát, trong chết chóc, chiến tranh sẽ là khúc bi ca, tráng ca, hùng ca, chiến tranh với họ sẽ mãi mãi là một phần đời, nhiều khi là cả cuộc đời, rỏ máu. Họ sẽ viết để tái hiện, để chiêm nghiệm cái hiện thực đã thành kinh nghiệm không thể nào quên, không thể nào dứt bỏ được. Như tên gọi một tiểu thuyết của Bảo Ninh, lớp nhà văn này viết trong "nỗi buồn chiến tranh". Lớp người sinh ra sau chiến tranh cầm bút viết văn cũng không né tránh cái hiện thực họ chỉ "nghe nhìn" mà không sống đó. Chiến tranh không phải một phần đời của họ, không thành quá khứ của họ, không phải niềm kiêu hãnh hay gánh nặng đối với họ. Họ sẽ nghe, sẽ xem, sẽ cảm nhận, sẽ suy nghĩ, và sẽ viết về chiến tranh theo cách của mình: cách của một thế hệ đến sau không còn muốn có chiến tranh. Họ sẽ nhìn chiến tranh bằng con mắt của thế hệ mình. Chiến tranh không phải là một trò đùa, nhưng chiến tranh là một điều khủng khiếp. Truyện ngắn "Chuyện vui điện ảnh" viết trong tinh thần này. Những người dân thường của hẻm Cựa Gà nhờ chú Sa làm bảo vệ ở hãng phim truyền hình mà thỉnh thoảng được các đoàn làm phim cho vào các vai quần chúng, nhất là trong những phim về chiến tranh. Đóng phim thì vui, vào phía bên này hay bên kia trong chiến tranh trên phim cũng được: "Thanh niên vô vai lính, lúc bên mình lúc thay áo qua bên giặc. Ông bà già con nít đóng vai dân, nhiều nhất là dân chạy loạn. Sồn sồn cỡ chú Sa hóa trang vai lãnh đạo tham mưu hoặc làm quan Tây. Tuổi nào có vai nấy, chạy ào qua cái mương, nước văng sáng trắng có thấy mặt mũi gì đâu nhưng vẫn gọi đấy là vai, vẫn vui". Vui vậy, ngờ đâu một lần chú Sa được một ông đạo diễn mời đóng chính vô vai một thiếu úy, "một tên ác ôn, giết vợ, hãm hại vợ người, tàn sát trẻ nít, huênh hoang phá xóm phá làng, sau chết vì chó điên cắn". Lại ngờ đâu, chú Sa diễn ngon quá, đạt quá, nhập vai thật quá, khiến ngay cả bà con lối xóm xem phim "vừa hể hả vừa ghê tởm". Và từ đó mọi người nhìn chú như nhìn một tên ác ôn, dần dần xa lánh lạnh nhạt với chú, ngay cả cô Thư là người mà chú đang muốn gá nghĩa. Chiến tranh, chuyện tưởng chỉ trên phim, ngờ đâu nó đảo lộn đời thật, chiến tranh qua rồi mà ám ảnh nó còn dai dẳng. "Chung quy cặn nguồn cũng tại chiến tranh hết, dù chiến tranh trôi qua đã mấy chục năm rồi" - tác giả thiên truyện gói lại một câu như vậy. Và câu chuyện vui điện ảnh của xóm Gà đã kết lại trong một điệu buồn thế này: "Hằng đêm, chú Sa đốt nhang van vái hương hồn ba má chú, van vái đất trời cho gián nhấm, chuột cắn bộ phim đó hoặc giả nó sẽ mốc meo trong kho lưu trữ đi cho rồi để mỗi dịp lễ lạt khỏi bị lấy ra chiếu đi chiếu lại, phiền lòng giữa buổi vàng thau". Người viết trẻ không quên chiến tranh, nhưng chiến tranh là điều khủng khiếp, nó qua rồi hãy để nó qua, đừng để nó tiếp tục phá hoại cuộc sống hiện tại, tiếp tục làm bất an con người. Người đi qua chiến tranh nhìn nó từ phía trước, người không trải qua chiến tranh nhìn nó từ phía sau, phía nào nó cũng là bất trắc, và đổ vỡ. Khác chăng, người trẻ hôm nay không muốn bận tâm về nó nữa.
Vi Thùy Linh (23 tuổi) gây xôn xao văn đàn khi cô xuất hiện với hai tập thơ "Khát" và "Linh". Cô làm thơ tự do để cho dòng cảm xúc sôi nổi, ào ạt của mình được tuôn chảy mãnh liệt. Thơ Linh tràn trề nhục cảm như khát vọng của con người, như một cách thế bộc lộ, khẳng định mình, như một giá trị vĩnh hằng của cõi sống. Một đặc điểm dễ nhận thấy của văn học Việt Nam khoảng giao thời hai thế kỷ là các cây bút nữ đã tỏ ra táo bạo khi nói về tình yêu, không ngần ngại đụng chạm đến tình yêu nhục thể. Vi Thùy Linh ở trong dòng chảy đó. Có điều, bằng thơ, cô nói lên nồng nàn, quyết liệt những nhu cầu đòi hỏi giới tính của mình, và không riêng của mình, trong tình yêu. Nói cách khác, Linh đòi cho bản năng giới tính được đặt đúng chỗ của nó trong tình yêu, và trong thơ. Linh muốn mình ngang tàng, tỏ ra ngang tàng, nhưng cũng như bao cô gái khác, khi tình yêu đến cô chịu khuất phục. Giữa hai cực ấy của tình yêu, Linh đòi Anh phải cho Em sống đúng tình yêu là sự chung hiến riêng tư của hai con người toàn vẹn. Trong không gian tình yêu của Linh mọi điều đều có thể, không cái gì là không lành mạnh.
Từ cơn thèm muốn rất thật này:
Khỏa thân trong chăn
Thèm chồng.
Thèm có chồng ở bên.
Chỉ cần anh gối lên đùi
Mình ôm lấy anh ôm lấy mình
Biết sự bình yên của mặt đất
Từ nhục cảm này:
Cái lưỡi mềm của anh nơi gan bàn chân em
Từ nỗi nhớ xa cách này:
Nửa vòng trái đất anh xa em
Giấc mơ đắp lên em những mảnh đêm
Em ghép đêm như ghép giấc mơ đứt quãng
Nhưng em biết
Dù có ghép cả đời mình vào đó
Cũng không thể biến thành chăn kín như anh
Và cô gái đang khát yêu trong thơ Linh đã mơ cuộc hoài thai:
Mẹ viết truyện cổ tích cho con khi đang trên dàn lửa
hiến tế ham muốn được gần cha
Khi đôi môi cha mọc trên mẹ,
mẹ vẫn ước có con vào mùa cha gặp mẹ
Chỉ có cha và con là thiêng liêng; kiến tạo cuộc đời
đàn bà của mẹ.
Hai tập thơ, nhất là tập thứ hai, của Vi Thùy Linh đã gây "sốc" cho bạn đọc và đã tạo nên những tranh luận vài năm qua. Những cuộc tranh luận đó cho thấy thị hiếu văn học Việt Nam vẫn đang vất vả khó nhọc chuyển đổi hệ giá trị của mình để có thể mở đường cho những tìm tòi, sáng tạo của người viết, nhất là người viết trẻ.
4. Có một đặc điểm chung của văn trẻ: tự tin, táo bạo. Đây là đặc điểm lứa tuổi rất cần thiết cho sáng tạo văn học nghệ thuật. Nguyễn Bình Phương coi mình là người khách lạ đến cõi trần gian này để làm nên sự lạ văn chương. Nguyễn Phúc Lộc Thành bàn chuyện cả cõi nhân gian, mà bàn một cách chín chắn, thâm thúy. “Trong nghề văn khiêm tốn là một đức tính thừa!" - quan niệm này của Gabriel García Márquez, Nobel văn học 1982, hẳn có ích cho văn trẻ. Trong quá trình học và đọc, luôn luôn có những bậc thầy cho ta ngưỡng mộ, kính phục, yêu mến. Nhưng khi bắt tay vào viết, ta phải luôn nghĩ ta là nhất, là hơn hết cả, là sẽ vượt lên trên các giá trị đã có, tạo lập một giá trị mới chưa từng có. Câu thơ Xuân Diệu nói cái cô đơn cá nhân có thể vận cho tâm thế sáng tạo: “Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất, Không có chi bè bạn nổi cùng ta". Nghĩ được thế rồi, được nghĩ thế rồi, ta mới dám mạnh bạo phá tung mọi luật lệ văn chương ràng buộc níu trói chân tay, mới dám mở bung đầu óc tâm trí tìm đến những miền xa tưởng tượng, mới dám làm mới cho từng lời thơ câu văn. Ai bảo ta kiêu căng, mặc! Ai bảo ta hỗn hào, mặc! Ai bảo ta điên rồ, mặc! Đã rằng khiêm tốn nên gác ra ngoài khi một mình đối diện với trang giấy, ta chỉ biết có ta trong cơn xúc cảm sáng tạo mà thôi. Trang giấy "pháp trường trắng” (chữ dùng của Nguyễn Tuân) không cho phép ta hèn nhát chỉ nghĩ là mình cố viết sao cho bằng được cái đỉnh này, cái ngọn kia. Phải dũng cảm ở đây. Sự điên rồ của những người dũng cảm ở đây mới có thể tạo ra kiệt tác văn chương. Cái làng Macondo đã nảy nòi dưới ngòi bút G.G.Márquez chính là vì khi ngồi vào bàn viết ông đã xác quyết không chịu khiêm tốn với ai cả. Một trăm năm cô đơn, người mọc đuôi lợn, cả một cái làng bị thoái hóa... đó là cái riêng, cái duy nhất của ông nhà văn Columbia này, trước ông văn học thế giới chưa có hình tượng nào như thế, nhờ ông Columbia trở thành một địa chỉ đỏ trên bản đồ văn học thế giới.
Điều này cần phải được hiểu đúng cho lớp trẻ để chấp nhận họ, tạo điều kiện cho họ thi thố, phát huy những tiềm năng sẵn có trong mình. Văn học nước nhà đã có kinh nghiệm thành công của thế hệ trẻ Thơ Mới. Thời nào có thế hệ trẻ của thời đó, họ gánh vác nhiệm vụ của thời mình với tất cả khả năng và trách nhiệm của họ. Trẻ của hôm nay cũng phải như vậy.
5. Trẻ của hôm nay đi vào văn chương như đi hội. Điều kiện chính trị-xã hội thuận lợi, vốn văn hóa tri thức vừa đủ, báo chí xuất bản thoải mái, người đọc đông đúc đủ mọi đối tượng thành phần, tất cả những cái đó mời gọi trẻ cầm bút viết văn. Họ thấy viết văn ban đầu cũng dễ, văn viết ra được tiêu thụ nhanh chóng, tên tuổi cũng nổi nhanh. Thế cho nên văn trẻ cứ ào ào từng đợt, hết đợt này đến đợt khác, những cái tên chưa kịp đọng đã lại có những cái tên khác thế chỗ. Đó là một cuộc chạy tiếp sức của trẻ. Nhiều người hăm hở lúc đầu nửa chừng bỏ cuộc. Nhiều người tạm dừng để ngẫm xem có nên đi tiếp con đường này hay không. Nhiều người quyết định coi nó là cuộc vui không cần bỏ vốn, hẵng cứ làm nghề khác là chính, văn chương hứng thì viết, không hứng thì thôi, chẳng nên sống chết với nó làm gì. Nhìn trên văn đàn cảnh tượng này giống như trên bãi biển, các con sóng ào ạt vỗ bờ rồi tan ra, bao chất mặn thấm hết cả vào cát. Ai cũng biết muốn có muối thì nước biển phải được trang ra trên ô nề và phải chịu bốc hơi dưới cái nắng nung đốt. Văn trẻ đã có muối của mình nhưng chưa nhiều, độ mặn cũng chưa cao.
Trẻ của hôm nay chọn cách thế viết văn như một trò chơi. Khi chơi người ta biết mình là đang chơi nhưng cũng quên mình là đang chơi. Khi chơi người ta biết mình là ai và cũng quên mình là ai. Là trò chơi nên rất tự do, tung tẩy, tự mình đặt ra quy tắc cho mình, không để bị câu thúc trong một ràng buộc quy ước nào. Đây là điểm mạnh đồng thời cũng là điểm yếu của văn trẻ hôm nay. Ở một vài cây bút có suy nghĩ nghiêm túc về nghề, họ ý thức rất rõ cuộc chơi này khi đã quyết định dấn thân, nhập cuộc. Văn chương là trò chơi đời người, cần phải thận trọng. Văn chương là trò chơi nghệ thuật, cần phải hết mình. Hai điều này buộc người viết trẻ có ý thức biết chơi không phải chỉ để mà chơi. Đáng tiếc, phần đông văn trẻ hôm nay còn rất thiếu ý thức nghề nghiệp, họ ứng xử với văn chương như đùa nên đã bị văn chương đùa lại. Có cảm tưởng như là chưa ai dám sống chết với nghề văn để từ đó trau dồi nó, dồn hết tâm sức trí sức lực cho nó, để chăm chút cho nó từng câu từng chữ. Trong một hoàn cảnh chung là văn học ta còn rất ít có nhà văn chuyên nghiệp hiểu theo đúng nghĩa của từ này, văn trẻ cứ lông bông. Các hội nghị văn trẻ là dịp tập hợp đội ngũ, nhưng để trở thành nhà văn thực thụ, mỗi người viết trẻ không có cách nào khác hơn là phải tự nâng mình lên. Nợ văn chương phải trả đến hình hài, có quyết như vậy mới mong thu lượm được một chút gì của văn.
Trước người viết trẻ có một vấn nạn chung cho mọi người viết: Nghệ thuật thì vô cùng - Cuộc đời thì có hạn. Nhưng còn một vấn nạn khác đặt ra cho trẻ hôm nay: kinh nghiệm cuộc đời, kinh nghiệm văn hóa. Trải đời để nhìn đời điềm tĩnh, nhân hậu hơn. Văn hóa để hiểu con người sâu sắc, thấu đáo hơn. Một mảy năng khiếu, một chút thông minh dễ làm thành câu chuyện, bài thơ đầu tay, nhưng để đi xa trên đường văn thì như thế còn là rất thiếu. Tạ Duy Anh nhận ra ảo tưởng về chính mình của thế hệ cầm bút trẻ là do thiếu sự lịch lãm văn hóa. Đỗ Phước Tiến nhận thấy những người viết trẻ nhân dáng thì có nhưng nhân ảnh thì chưa. Phan Triều Hải nhận rằng ngoài bản năng ra còn phải có những chuẩn bị cần thiết khác nữa. Đúng, bản năng và văn hóa là điều kiện cần và đủ của người làm văn chương. Muốn đủ thì phải học, phải đọc, đọc và học rồi lại phải biết nghiền ngẫm cho ra vấn đề, cho đạt tư tưởng để hóa được thành văn.
6. Trẻ của hôm nay, như vậy, là một chặng đường. Tài năng không đợi tuổi. Thời gian không đợi người. Văn chương thực ra là một nghề rất nghiệt ngã, sòng phẳng. Đội ngũ văn trẻ đông đảo, cái nền văn trẻ khá cao, nhưng đỉnh văn trẻ thì chưa có. Đó là một thách thức, một đòi hỏi của văn học Việt Nam đối với trẻ hôm nay. Câu trả lời của họ ra sao, hãy cứ chờ xem.
Chú thích:
[1] Phạm Quỳnh. Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922 - 1932. Nxb Tri Thức, H. 2007, tr. 520.
[2] Dẫn theo: Jack A.Yeager. The Vietnamese Novel in French. A Literary Response to Colonialism. Published by university Press of New England, Hanover and London, 1987 (tr.43-60).
[1] Phạm Quỳnh. Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922 - 1932. Nxb Tri Thức, H. 2007, tr. 520.
[2] Dẫn theo: Jack A.Yeager. The Vietnamese Novel in French. A Literary Response to Colonialism. Published by university Press of New England, Hanover and London, 1987 (tr.43-60).
[3] Dẫn theo Ngô Tự Lập: http://vietbao.vn/
[4] Theo Jack A. Yeager. Sđd.
[5] http://www.truyen-thong.org/
[6] Phạm Quỳnh. Sđd, tr. 524.
[7] Phạm Quỳnh, sđd, tr. 406.
[5] http://www.truyen-thong.org/
[6] Phạm Quỳnh. Sđd, tr. 524.
[7] Phạm Quỳnh, sđd, tr. 406.
17/5/2019
Phạm Xuân Nguyên



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét