Văn học sử Việt Nam đã ghi nhận ba loại văn tự tạo nên
các văn bản của nền văn học dân tộc. Đó là chữ Hán, chữ Nôm, và chữ Quốc ngữ.
Tính từ thế kỷ X vẫn được lấy làm cái mốc của lịch sử văn học viết Việt Nam thì
chữ Hán có thời gian tồn tại lâu nhất (mười thế kỷ), tiếp đến là chữ Nôm (năm
thế kỷ), còn chữ Quốc ngữ dùng để viết văn chỉ mới có hơn một thế kỷ nhưng chắc
từ nay về sau sẽ tồn tại thiên niên vạn kỷ. Tuy nhiên, trong lịch sử văn học Việt
Nam còn có một bộ phận nữa viết bằng một thứ văn tự khác. Đó là bộ phận văn học
Việt Nam do người Việt Nam viết bằng tiếng Pháp hay còn gọi là văn học Pháp ngữ
Việt Nam. Bộ phận văn học (hay dòng văn học) này khởi phát từ đầu thế kỷ XX
nhưng đến nay hầu như chưa được giới thiệu, nghiên cứu và giảng dạy. Thậm chí
không phải nói quá là ngay trong giới nghiên cứu văn học nhiều người cũng không
biết, không nghe nói về văn học Pháp ngữ Việt Nam, không biết hình thù vóc dáng
nó thế nào. Bài viết của tôi xin trình diện đứa con vắng mặt lâu nay của gia
đình văn học Việt Nam.
I. Quá trình hình thành và diễn tiến
Năm 1858 những người lính Pháp đầu tiên đặt chân lên mảnh đất
Việt Nam ở bãi biển Đà Nẵng. Vấp phải sự chống trả và phản kháng mãnh liệt của
dân tộc Việt Nam, mãi đến đầu thế kỷ XX Pháp mới hoàn thành công cuộc “bình định”
để xâm chiếm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam và thực hiện công cuộc khai thác thuộc địa.
Người Pháp đã tiến hành thay đổi cơ cấu chính trị, kinh tế, văn hóa của xã hội
Việt Nam theo mô hình một chế độ thuộc địa để phục vụ cho các mục tiêu thực dân
của mình. Việt Nam từ là một nước phương Đông chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn
hóa và giáo dục Trung Hoa dần từng bước bị cưỡng bức về phía văn hóa và giáo dục
phương Tây qua con đường Pháp. Từ năm 1919 các khoa thi Hán học của chế độ khoa
cử cũ bị bãi bỏ. Chữ Hán như một công cụ hành chính, giáo dục và văn chương chấm
dứt vai trò của nó đối với lịch sử Việt Nam sau hơn một ngàn năm tồn tại. Các
trường học Pháp - Việt được mở ra để đào tạo những lớp người mới biết tiếng
Pháp, có được những tri thức tối thiểu của xã hội hiện đại để phục vụ cho chế độ
thuộc địa. Lúc này chữ Quốc Ngữ, một thứ chữ viết được các giáo sĩ phương Tây tạo
ra theo mẫu tự Latin để ghi âm tiếng Việt bắt đầu từ thế kỷ XVI, sau bốn thế kỷ
hình thành và định hình, đã được các trí thức, văn nghệ sĩ có tinh thần dân tộc
cổ súy phát triển và thực hành trên báo chí, xuất bản. Nhưng với hệ thống giáo
dục ở các nhà trường Pháp - Việt đặt trọng tâm vào ngôn ngữ, văn minh và văn
hóa Pháp, một lớp người có thể gọi là “song ngữ” xuất hiện. Những người xuất sắc
nhất trong lớp người này đã có thể nắm vững tiếng Pháp đến mức viết văn bằng tiếng
Pháp đạt trình độ cao. Trong một bài viết bằng tiếng Pháp năm 1930, để phản bác
lại sự chê bai người Việt học tiếng Pháp chỉ như một thứ tiếng bồi, Phạm Quỳnh
đã dẫn lời bá tước Sforza, một nhà ngoại giao Italia, nhận xét về những bản viết
tiếng Pháp của người Nam như sau: “Đó là một loại văn học nổi bật bởi hai đặc
điểm chung qua đó ai có lòng lạc quan sẽ cảm thấy yên tâm: một đặc điểm về hình
thức, một đặc điểm về nội dung. Tiếng Pháp trong những bài viết đó chính xác và
rõ ràng; người ta cảm thấy nó tuôn chảy từ một quá trình học tập lâu dài và đam
mê, chứ không dễ dãi kiểu Cận Đông như tiếng Pháp của người Syri” [1]. Tiếp đó
Phạm Quỳnh đã giới thiệu một trường hợp tiêu biểu là Nguyễn Tiến Lãng và đã
trích dẫn một đoạn Pháp văn của người thanh niên này để cho thấy “một thứ tiếng
Pháp hết sức thanh nhã, thuần khiết và hài hòa”.
Chính những người Việt Nam nắm vững tiếng Pháp như vậy đi vào
sáng tác văn chương đã tạo nên dòng văn học Pháp ngữ Việt Nam. Nhà nghiên cứu
Bùi Xuân Bào, nguyên khoa trưởng văn khoa Sài Gòn trước 1975, trong bài viết
Littératures de langue française hors de France (Các nền văn học Pháp ngữ bên
ngoài nước Pháp, 1974) nhận định: “Các tác phẩm viết bằng tiếng Pháp của người
Việt Nam, xét về số lượng và chất lượng, đã tạo nên một dòng văn học có lý do tồn
tại trong lòng cộng đồng dân tộc và có một địa vị xứng đáng trong lòng văn học
thế giới. Là hiện thực Việt Nam, trong đó có sự nhập cuộc của số phận và tự do,
sự chuyển động không thể đảo ngược của lịch sử và những nguyên cớ của hành động
sáng tạo, văn học Việt Nam viết bằng tiếng Pháp tiến triển trong bối cảnh của lịch
sử Việt Nam” [2].
Tác phẩm xưa nhất của người Việt viết bằng Pháp ngữ là vở kịch
Les amours d'un vieux peintre aux iles Marquises (Chuyện tình của ông lão họa
sĩ ở quần đảo Marquises, 1898) của Kỳ Đồng (1875 - 1929). Kỳ Đồng tên thật là
Nguyễn Văn Cẩm, người gốc Thái bình, theo phong-trào Văn thân Cần Vương khởi
nghĩa nên bị bắt năm 1887, lúc mới 12 tuổi và gửi đi Algérie. Theo học tại đó
và đỗ tú tài chương trình Pháp vào năm 1896, được trở về Việt Nam. Nhận hợp tác
với một bác sĩ Pháp để lập đồn điền ở miệt Yên Thế. Nơi đây, ông liên lạc với Đề
Thám mưu chuyện lâu dài. Việc không qua được mắt mật thám Pháp nên lại bị bắt
và đầy đi Tahiti rồi chuyển đến một quần đảo phụ tên là Marquises. Ông làm điều
dưỡng viên tại bệnh viện địa phương rồi mười ba năm sau, đổi về thủ phủ Papeete
làm việc trong nhà thuốc của quân y viện. Tại nơi lưu đầy, năm 1901, Kỳ Đồng gặp
họa sĩ Gauguin đến Marquises để sáng tác. Kỳ đồng giúp ông ta trong những ngày
đầu tiên ở vùng đất xa lạ nên hai người thành bạn thân. Lúc đó Gauguin có nhiều
phụ nữ địa phương yêu mến, muốn sống chung với ông. Sau ông chọn một cô gái thọt
nên có người chế nhạo. Là bạn thân, Kỳ Đồng bèn dựa theo đó mà viết ra kịch
trào phúng kể chuyện nhà họa sĩ già mất kính không trông rõ nên đã lấy cô vợ
gù. Gauguin đọc bản thảo thì vui lắm, theo lời Kỳ Đồng kể lại. Xét hoàn cảnh xuất
thân của tác giả cũng như hoàn cảnh ra đời và xuất bản của tác phẩm, vở kịch của
Kỳ Đồng có thể xem là sự tiên khởi của dòng văn học Pháp ngữ Việt Nam.
Năm 1913 có thể coi là năm mở đầu cho văn học Pháp ngữ Việt
Nam với tập thơ Mes heures perdues (Những giờ đã mất của tôi) của Nguyễn Văn
Xiêm và tập văn xuôi Contes et Légendes du Pays d’Annam (Truyện cổ và thần thoại
nước An Nam). Nhưng tác phẩm văn xuôi hư cấu đầu tiên là tiểu thuyết
Mademoiselle Lys (Cô Huệ) của Nguyễn Phan Long thì đến năm 1921 mới xuất bản. Từ
1913 đến nay, theo giáo sư Alain Guillemin, chuyên gia hàng đầu của Pháp về
lĩnh vực này, trong bài viết La Littéature Vietnamienne Francophone: Entre
Colonisalisme et Nationalisme (Văn học Pháp ngữ Việt Nam: Giữa chủ nghĩa thực
dân và Chủ nghĩa dân tộc) cho biết thì theo thống kê chưa đầy đủ, đã thu thập
được khoảng một trăm tác phẩm của 47 tác giả, bao gồm 62 tác phẩm văn xuôi (34
tiểu thuyết, 18 tập truyện kể, 8 tập tiểu sử tự thuật, 2 tập truyện ngắn), 31 tập
thơ, và 6 vở kịch [3]. Đấy là chưa kể mảng viết chính luận, nghiên cứu, phê
bình.
Lịch sử văn học Pháp ngữ Việt Nam như vậy đã có gần trăm năm.
Bùi Xuân Bào đã phân chia lịch sử lịch sử này ra thành bốn giai đoạn.
Đầu tiên là giai đoạn chuẩn bị, bắt đầu với việc đưa tiếng
Pháp vào Việt Nam giữa thế kỷ XIX và kết thúc năm 1913, khi sáng tác văn học bằng
tiếng Pháp của các tác giả người Việt Nam viết lần đầu tiên được công bố. Ông
Bào ghi nhận rằng việc quan tâm học tiếng Pháp là nguyên nhân xa của văn học
Pháp ngữ Việt Nam; trước thời thuộc địa triều đình Huế và một số học giả đã
quan tâm đặc biệt đến tiếng Pháp như một thứ tiếng ngoại giao và văn học. Năm
1862, chính quyền thuộc địa tuyên bố lấy tiếng Pháp làm trung gian ngôn ngữ cho
hệ thống giáo dục mới, thúc đẩy sự chú ý đến cả tiếng Pháp và chữ quốc ngữ. Đối
với một số người, tiếng Pháp thể hiện thứ văn học hiện đại, do đó nó thậm chí
được coi trọng hơn bởi những người đề xướng cách tân các hình thức và cách diễn
đạt văn học. Hai nhà văn được biết đến như những người Việt Nam đầu tiên tích cực
dùng chữ quốc ngữ, Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của, cũng thuộc số những nhà
văn Việt Nam đầu tiên dùng tiếng Pháp. Những tác phẩm đầu tiên bằng Pháp văn xuất
hiện năm 1913: tập thơ Mes heures perdues (Những giờ khắc đã mất của tôi) của
Nguyễn Văn Xiêm và tập Conte et légendes du pays d’Annam (Truyện cổ và truyền
thuyết xứ Annam) của Lê Văn Phát.
Tiếp đến là giai đoạn phát triển văn học trong bối cảnh thuộc
địa kéo dài tới năm 1940, khi quân Nhật tràn vào. Phần lớn các nhà văn đều là
song ngữ và coi sứ mệnh văn chương của mình là bảo vệ và phát triển nền văn hóa
dân tộc. Tác phẩm độc đáo đủ mọi thể loại xuất hiện vào thời gian này. Các bài
tiểu luận và phê bình bộc lộ sự uyên bác và chín muồi về trí tuệ đến mức, theo
ông Bào, có thể đọ được về mặt “khoa học... độc đáo... với các học giả Pháp”.
Phạm Quỳnh đăng các bài tiểu luận về văn học và văn hóa; Nguyễn Mạnh Tường và
Trần Văn Tùng đi sâu vào suy tư của thế hệ này trong rất nhiều bài viết về phản
ứng của họ khi ở Pháp và từ Pháp về. Loại văn học tự thuật và du ký xuất hiện,
một trong những tiểu thuyết đầu tiên thuộc loại này là cuốn Le roman de
Mademoiselle Lys (Truyện cô Huệ) của Nguyễn Phan Long in năm 1921. Cũng tác giả
này theo bước Lê Văn Phát trong tập truyện cổ Cannibales par persuasion (Chuyện
ăn thịt người). Trương Đình Tri cộng tác với Albert de Teneuile viết cuốn tiểu
thuyết Bà Đầm in năm 1930. Nguyễn Tiến Lãng thể hiện tài năng của mình trong
các bài tiểu luận, biên niên và dịch thuật.
Trong những năm 1930, một số nhà thơ có tác phẩm xuất bản:
Nguyễn Vỹ, Premières Poésies (Những bài thơ đầu tiên) và Bạch Nga; Nguyễn Văn
Yêm, Chansons pour elle (Những bài ca dâng nàng); Phạm Văn Ký, Une Voix sur la
voie (Tiếng nói trên đường); và Pierre Đỗ Đình nổi tiếng, với bài thơ dài Le
Grand Tranquille (Niềm thanh thản lớn, 1937) thể hiện cuộc vật lộn bên trong của
một người Việt cải sang đạo Cơ đốc. Vi Huyền Đắc, người đã nổi tiếng với các vở
kịch của mình, xuất bản tập Eternels regrets (Nỗi luyến tiếc khôn nguôi) năm
1938, tác phẩm đã mang lại cho ông Bằng Đại Danh Dự hạng nhất với lời khen tặng
từ Ban giám khảo Cuộc thi mùa đông 1936-37 của Viện hàn lâm Jeux Floraux de
Nice. Những khác biệt về thế hệ và học vấn và những nỗ lực sáng tạo được bộc lộ
trong các ấn phẩm tập thể của nhóm “Trách nhiệm” ở Huế và báo trước những sự
xung đột công khai của giai đoạn này đối với giai đoạn sau.
Giai đoạn thứ ba từ 1940 đến 1945 được đánh dấu bởi biến động
chính trị và xung đột vũ trang. Trong Thế chiến II, Việt Nam bị ách thống trị của
đế quốc Nhật Bản thông qua các cấu trúc chính quyền của thực dân Pháp, tạo nên
tình thế “một cổ hai tròng”. Sau chiến tranh, những người Cộng Sản lãnh đạo cuộc
đấu tranh giành độc lập dân tộc mà giai đoạn đầu kết thúc với sự đại bại của
Pháp ở Điện Biên Phủ năm 1954 và với sự chia cắt đất nước. Thậm chí dù cho Việt
Nam là quốc gia bị bao vây trong thời gian này, phần lớn các tác phẩm văn học
viết ra cũng không phản ánh chủ đề nhạy cảm nhất đó.
Trong thời kỳ Pháp-Nhật chiếm đóng, hai chiến dịch tuyên truyền
đã được phát động. Pháp muốn biến Việt Nam thành một bộ phận trong khối Liên Hiệp
Pháp trong khi Nhật muốn tập hợp tất cả các nước vùng Viễn Đông dưới quyền lực
của nó để đối lại với phương Tây. Các hoàn cảnh đó đã thúc đẩy chủ nghĩa quốc
gia mới nẩy lên ở Việt Nam tìm cách quay về nguồn, không chỉ nhằm vào người Việt
ở trong nước, mà đến cả những người Việt sống ở Pháp. Theo nguồn mạch này, các
sách tiểu luận và biên khảo về văn hóa và lịch sử Việt Nam như La Civilisation
annamite (Văn minh Annam) và Le Culte des immortelles en Annam (Tục thờ cúng tổ
tiên ở Annam) của Nguyễn Văn Huyên, cả hai cuốn đều ra năm 1944, có tầm quan trọng
hàng đầu. Do đó không có gì là ngạc nhiên khi các tập truyện cổ Việt Nam xuất
hiện: Trịnh Thục Oanh cộng tác với Marguerite viết La Tortue d’or (Rùa vàng);
Trần Văn Tùng, Le Coeur de diamant (Trái tim kim cương); và Phạm Duy Khiêm,
Légendes des terres sereines (Truyền thuyết miền tĩnh thổ) và La Jeune Femme de
Nam Xương (Thiếu phụ Nam Xương). Cuốn Légendes des terres sereines (1942) đã
mang lại Giải thưởng Đông Dương cho tác giả của nó. Ông Khiêm cũng đã ghi lại
quãng đời binh nghiệp của mình trong cuốn De Hanoi à La Courtine (Từ Hà Nội đến
Cuốctin) về sau được xuất bản ở Pháp với nhan đề La Place de l’homme (Chỗ đứng
của một con người). Tài năng thơ ca của Trần Văn Tùng và Phạm Văn Ký được khẳng
định trong các tập Muses de Paris (Suy tưởng Paris) và Fleur de jade (Hoa ngọc).
Hoàng Xuân Nhị củng cố sự về nguồn bằng cách phóng tác ra tiếng Pháp hai tác phẩm
cổ điển Chinh phụ ngâm và Truyện Kiều.
Cuộc chiến tranh giành độc lập lần thứ nhất (1946-54) không
ngăn cản việc công bố của văn học Pháp ngữ. Nguyễn Tiến Lãng khẳng định chủ
nghĩa quốc gia riêng của mình trong cuốn tiểu thuyết Chúng tôi đã lựa chọn tình
yêu in nhiều kỳ trên báo Pháp-Á (1952), về sau tập hợp lại in thành sách nhan đề
Les Chemins de la révolte (Những con đường nổi loạn). Phạm Văn Ký tiếp tục tiền
lệ của các nhà văn đi trước trong tập truyền thuyết của mình L’Homme de nulle
part (Người vô gia cư, 1946); cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông, Frères de sang
(Anh em chung dòng máu) ra vào năm sau. Trần Văn Tùng tiếp tục viết về văn hóa
Việt Nam trong khi nhà thơ Pierre Đỗ Đình quay sang phê bình văn học trong tuyển
tập Les Plus Beaux Ecrits de L’Union Francaise et du Maghreb (Những tác phẩm xuất
sắc của khối Liên hiệp Pháp và Maghreb). Bùi Xuân Bào cho rằng động lực ẩn sau
văn học giai đoạn này là lòng yêu nước hừng hực, bất chấp thực tế chính trị ra
sao, tình cảm này được diễn tả trong bài thơ Từ ngữ của Cung Giũ Nguyên đăng
trên tờ Pháp-Á năm 1948.
Sau năm 1954 Việt Nam bị chia làm hai miền. Việc kết thúc thời
kỳ thuộc địa Pháp không làm suy yếu tầm quan trọng của tiếng Pháp, tuy nhiên
bây giờ nó đứng ở vị trí thứ hai sau tiếng Việt với tư cách một phương tiện diễn
đạt văn học và một “công cụ của sự tiến bộ”.
Ông Bào nhận định văn học giai đoạn thứ tư là “đi tìm kiếm
tính dân tộc và tính phổ quát”. Hai nhà văn tiêu biểu nhất giai đoạn này là Phạm
Duy Khiêm và Phạm Văn Ký. Cuốn tiểu thuyết của ông Khiêm, Nam et Sylvie (Nam và
Sylvi, 1957) đã mang lại cho ông giải thưởng Louis Barthou của Viện hàn lâm
Pháp. Các tiểu thuyết của ông Ký - Les Yeux courroucée (Đôi mắt nổi giận,
1958), Les Contemporains (Thời hiện đại, 1959) và cuốn được giải thưởng Perde
la demeure (Mất nơi ở, 1961) - cho thấy sự phổ quát hóa của ông đối với cuộc
xung đột Đông/ Tây mà ông đã nêu ra lần đầu trong cuốn Frères de sang.
Mặc dù phần lớn văn học được viết trong các cuộc chiến tranh
trước không trực tiếp phản ánh hiện thực chính trị, nhưng tình trạng xung đột ở
Việt Nam đã để lại dấu ấn sâu sắc trên các tác phẩm giai đoạn này và được thể
hiện theo những cách khác nhau. Tiểu thuyết Les Reflets de nos jours (Nghĩ về
thời chúng ta, 1955) của Nguyễn Hữu Châu thương xót tình yêu và lý tưởng đã bị
mất. Lý Thu Hồ ghi lại những thay đổi trong xã hội Việt Nam do chiến tranh gây
nên trong các cuốn Printemps inachevé (Mùa xuân dang dở, 1962) và Au milieu du
carrefour (Giữa ngã ba đường, 1969). Trong tập tiểu luận Volonté d’existence (Ý
chí sinh tồn, 1954) Cung Giũ Nguyên xem xét quá khứ và tương lai của quan hệ
Pháp-Việt. Trong các tiểu thuyết của ông, cuốn Le Domaine maudit (Đất dữ, 1961)
thể hiện hậu quả của sự xung đột các hệ tư tưởng chính trị đối với cá nhân,
trong khi cuốn Le Fils de la baleine (Đứa con của cá ông, 1956) mô tả đời sống
truyền thống ở một làng chài nhỏ và nhu cầu cần có sự thay đổi xã hội. Vi Huyền
Đắc phân tích các nguyên nhân xung đột trong vở kịch Genghis-Khan (1972). Võ
Long Tê đi sâu vào sự huyền bí của tình yêu trong các tập thơ: Lumière dans la
nuit (Ánh sáng trong đêm, 1966), Festin de noces (Tiệc cưới, 1966) và Symphonie
orientale (Bản giao hưởng phương Đông, 1971). Các bài tiểu luận và phê bình
giai đoạn này hướng về chiều sâu văn hóa Việt Nam. Bùi Xuân Bào kết luận rằng sự
phát triển của văn học Việt Nam viết bằng tiếng Pháp và tiếng Việt phụ thuộc lẫn
nhau bởi phần lớn các nhà văn sử dụng cả hai ngữ; bởi tiếng Pháp vẫn được dùng
như một phương tiện diễn đạt; và bởi việc dùng tiếng Pháp không còn là một sự lựa
chọn riêng biệt mà chỉ là một phương tiện để tìm kiếm và mở rộng độc giả [4].
Kim & Nguyễn Lê Hiếu đề nghị một cách phân loại khác lịch sử
văn học Pháp ngữ Việt Nam. Theo tác giả này là có năm giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1: Nửa sau thế kỷ 19 là giai đoạn sửa soạn do
Pétrus Ký, Paulus Của phát triển chữ Quốc ngữ và thảo sách giảng dạy tiếng
Pháp.
Giai đoạn 2: Phần tư đầu thế kỷ 20 là giai đoạn phát triển với
người viết là những người xuất thân từ các trường Pháp ở thuộc địa, có một số
tác phẩm khá rộng rãi về nhiều thể loại, như các bài biên khảo của Phạm Quỳnh:
L’idéal du sage (1928), Les humanités annamites (1928), Quelques conférences à
Paris (1923), cuốn tự truyện của Nguyễn Văn Nhỏ Souvenirs d’un étudiant (1920),
thiên du ký của Lê Văn Đức A travers l’Allemagne, la Belgique et l’Angleterre
(1924)
Giai đoạn 3: Khoảng 1925 đến giữa thế kỷ là giai đoạn trưởng
thành phong phú, nhiều tác phẩm, nhiều loại và nhiều chủ đề. Lúc này xuất hiện lớp tác giả đầu tiên từ Pháp về.
Giai đoạn 4: Khoảng giữa thế kỷ đến 1975 là giai đoạn phân
tán: ngoài bắc thưa thớt, trong Nam sản xuất từ từ, tác giả tại Pháp sản xuất
nhiều hơn.
Giai đoạn 5: Cuối thế kỷ: ở Việt Nam tác phẩm sáng tạo ít, chủ
về dịch thuật nhiều hơn; các tác giả gốc Việt ở ngoại quốc sản xuất ngày một
thêm[5].
Các sáng tác văn học Pháp ngữ Việt Nam chủ yếu đều lấy đề
tài, nội dung từ thực tế đất nước. Vì sao các nhà văn người Việt lại chọn tiếng
Pháp làm ngôn ngữ thể hiện? Nói cách khác, sao họ lại chọn viết Pháp văn chứ
không phải Việt văn? Có thể thấy mấy lý do sau. Thứ nhất, họ muốn chứng tỏ mình
thông thạo tiếng Pháp, có đủ năng lực nắm bắt và diễn tả được các sắc thái tinh
tế, phong phú, phức tạp của một thứ ngôn ngữ phương Tây mà họ đánh giá cao so với
tiếng mẹ đẻ.
Thứ hai, họ dùng tiếng Pháp để viết về phong tục tập quán, về những con người của dân tộc mình nhằm giới thiệu văn hóa nước mình cho người Pháp nói riêng, người nước ngoài nói chung.
Thứ ba, tiếng Pháp trong tay họ được sử dụng như một công cụ để phản ứng lại thứ tư duy thực dân, thái độ thực dân của kẻ thống trị đối với kẻ bị trị. Vai trò của họ là làm cái gạch nối giữa Tây và Đông như Phạm Quỳnh nói.
Theo ông: “Đối với giới trí thức nước Nam, tiếng Pháp là thứ tiếng của văn hóa. Với chúng tôi, nó là chìa khóa và vũ khí. Chìa khóa mở ra cho chúng tôi những kho báu của tư tưởng Tây phương; vũ khí bảo vệ chúng tôi và giải phóng chúng tôi về tinh thần, luân lý, chính trị kinh tế” [6].
Thứ hai, họ dùng tiếng Pháp để viết về phong tục tập quán, về những con người của dân tộc mình nhằm giới thiệu văn hóa nước mình cho người Pháp nói riêng, người nước ngoài nói chung.
Thứ ba, tiếng Pháp trong tay họ được sử dụng như một công cụ để phản ứng lại thứ tư duy thực dân, thái độ thực dân của kẻ thống trị đối với kẻ bị trị. Vai trò của họ là làm cái gạch nối giữa Tây và Đông như Phạm Quỳnh nói.
Theo ông: “Đối với giới trí thức nước Nam, tiếng Pháp là thứ tiếng của văn hóa. Với chúng tôi, nó là chìa khóa và vũ khí. Chìa khóa mở ra cho chúng tôi những kho báu của tư tưởng Tây phương; vũ khí bảo vệ chúng tôi và giải phóng chúng tôi về tinh thần, luân lý, chính trị kinh tế” [6].
Một chủ đề lớn và chủ yếu của các tác phẩm văn xuôi Pháp ngữ
Việt Nam thời kỳ đầu là sự tương tác văn hóa Việt Pháp, thể hiện mối quan tâm
lo lắng của các tác giả về bản sắc dân tộc trước sự tác động của tiếng Pháp và
văn hóa Pháp được tiếp thu từ nhà trường Pháp Việt đối với nền văn hóa và luân
lý phương đông cổ truyền của Việt Nam. Như ở tác phẩm Le roman de Mademoiselle
Lys, Nguyễn Phan Long cho thấy nguy cơ tiềm tàng của cái học Pháp đối với phụ nữ
nước Nam. Truyện viết dưới dạng một cuốn nhật ký của Hai, một cô gái Nam Bộ trở
lại làng quê mình sau tám năm theo học trường Pháp tại Sài Gòn. Lúc đầu Hai thấy
mình xa lạ giữa quê hương, thấy mình dị ứng với những tập tục thói quen cũ ở
làng, và nhất là không thể chịu nổi những ràng buộc khắt khe của Nho giáo áp đặt
cho người phụ nữ. Có một sự xung đột văn hóa diễn ra trong lòng cô giữa những
điều học được ở trường và cuộc sống của người dân quê. Nhưng rồi áp lực truyền
thống đã thắng. Sau khi vượt qua được cơn khủng hoảng tinh thần khiến cố định tự
tử, Hai đã quay về với bản tính cố hữu của một cô gái gia giáo, nề nếp. Và khi
cô cưới chồng cũng là lúc cô quyết định khép lại cuốn nhật ký. Hay như ở tác phẩm
Ba-Dam của Albert de Teneuille và Trương Đình Tri viết chung, sự xáo trộn văn
hóa tác động đến cả những người đàn ông. Nhân vật chính của truyện là Nguyễn
Văn Sao, một sinh viên luật ở Paris. Trong sáu năm sống ở Pháp, Sao đã vật lộn
để trở thành một người Tây học. Chàng đã cưới vợ là một cô gái Pháp tên là
Janine Lassiat. Nhưng khi chàng đưa vợ về quê mình ở Nam Bộ thì gia đình, họ
hàng, làng mạc không thể nào chấp nhận được một cuộc hôn nhân dị chủng như vậy.
Trước mặt đôi vợ chồng trẻ Việt - Pháp những hàng rào khác biệt văn hóa đã được
dựng lên mà họ khó lòng vượt qua. Như vậy, ngay khi sáng tác bằng tiếng Pháp
thì cuộc đấu tranh mới cũ trong cuộc đụng độ văn hóa Việt - Pháp thời kỳ đầu vẫn
được các tác giả người Việt đi sâu thể hiện và nghiêng về phía bảo lưu các giá
trị truyền thống. Cố nhiên, là các trí thức tây học, họ rồi sẽ biết tiếp nhận
dung hòa cả hai nền văn hóa để tạo nên một bản sắc văn hóa hiện đại. Nhưng nền
tảng vẫn là giá trị văn hóa dân tộc. Các nhà văn Pháp ngữ Việt Nam chắc hẳn đồng
tình và ủng hộ tư tưởng quan trọng này của Phạm Quỳnh khi ông phát biểu trước
Hàn Lâm viện Pháp năm 1922: “Dân nước Nam không phải là một tờ giấy trắng; đó
là một cuốn sách cổ chứa đầy những dòng chữ được viết bằng một thứ mực không thể
tẩy xóa từ bao đời nay; không một chất thử nào có thể tẩy xóa chúng được hoàn
toàn và người ta không thể tự do muốn viết gì vào đấy thì viết. Người ta chỉ có
thể đóng lại cuốn sách cổ đó theo một cách mới, bày biện nó theo lối hiện đại
hơn, chứ đừng mơ tới việc viết vào đó một thứ chữ xa lạ đè lên thứ chữ đã có từ
ngàn xưa” [7]. Về mặt này, văn xuôi Pháp ngữ Việt Nam có thể cung cấp những cứ
liệu lịch sử thú vị cho người nghiên cứu lịch sử hành trình văn hóa Việt Nam thời
hiện đại.
Dòng văn học Pháp ngữ Việt Nam vẫn tiếp tục tồn tại hiện nay,
nhưng bây giờ những người viết chủ yếu là ở ngoài nước. Tác phẩm mới nhất là tiểu
thuyết đầu tay La princesse et le pêcheur (Actes Sud, 2007) của Trần Huy Minh,
một cô gái Việt sống tại Pháp. Sinh ngày 16 tháng 3 năm 1979 tại Clamart, ngoại
ô Paris, cha mẹ Việt Nam, Trần Huy Minh trở về quê hương lần đầu rồi cho xuất bản
tiểu thuyết La princesse et le pêcheur, nêu bật bi kịch của người Việt trong một
xã hội tàn nhẫn mà lịch sử giẫm đạp không thương tiếc, trên nền truyện cổ tích
dân gian. Công chúa và ngư phủ là một trong 3 tiểu thuyết bán chạy nhất trong
năm 2007. Giải thưởng Prix Riviera, giải thưởng Tân truyện (Prix
Gironde-Nouvelles Écritures), giải thưởng Prix Emmanuel Roblès, giải thưởng Ngũ
châu lục (Prix des Cinq Continents), giải thưởng Khám phá Tài năng (Bourse de
la Découverte de la Fondation Pierre de Monaco), vào chung khảo Giải Văn chương
Toàn quốc cho tiểu thuyết đầu tay Prix Goncourt 2007… Trần Huy Minh hiện làm
phó tổng biên tập Nguyệt san Văn (Magazine Littéraire), chủ biên chuyên đề Văn
học Trung Hoa từ Khổng Tử đến Cao Hành Kiện, trong ban giám khảo tuyển chọn dự
án phim truyện cho đài truyền hình d'ARTE France Cinéma, giữ mục chroniqueur
cho nhiều tuần san, phụ trách chương trình tivi Lời của đêm (Mots de nuit). Tác
phẩm thứ nhì: Le Lac né en une nuit et autres légendes du Vietnam…
II. Tình hình nghiên cứu
Một điều khá lạ lùng và khó hiểu là tuy đã có lịch sử gần một
thế kỷ tồn tại và hoạt động nhưng văn học Pháp ngữ Việt Nam lại hầu như chưa được
coi là một đối tượng nghiên cứu và giảng dạy ở Việt Nam. Trong bộ Việt Nam văn
học sử yếu (1940) của Dương Quảng Hàm, dòng văn học này không được nói đến.
Trong bộ Nhà văn hiện đại (1942) của Vũ Ngọc Phan, những nhà văn có tác phẩm viết
bằng Pháp ngữ đã bước đầu được nói đến và phân tích. Trong sách Văn thi sĩ tiền
chiến (Sài Gòn 1970), nhà thơ Nguyễn Vỹ cũng là một tác gia Pháp ngữ đã dành hẳn
một phần viết về “Văn sĩ Việt văn chương Pháp”. Nhưng đó vẫn chỉ có tính cách bộ
phận. Cho đến nay công trình duy nhất tìm hiểu và phân tích dòng văn học này một
cách khá đầy đủ và chuyên sâu là của một tác giả người Mỹ, giáo sư Jack A.
Yeager, nhan đề The Vietnamese Novel in French. A Literary Response to
Colonialism, (Published by University Press of New England, Hanover and London,
1987). Cuốn sách được viết trên cơ sở luận án tiến sĩ của ông. Cũng ở Mỹ, có một
luận án tiến sĩ khác nghiên cứu về sáng tác của Phạm Văn Ký: Nguyen Hon Nhiem
Lucy, L’échiquier et l’antinomie: Je/moi comme singe et substance du conflit
Occident-Extrême-Orient dans les oeuvres de Pham Van Ky (University of
Massachussets Amhers, 1992). Năm 2004 có cuốn Disorientation: France, Vietnam,
and the Ambivalence of Interculturality (Published by Hong Kong University
Press). Gần đây nhất là bài viết của Pgs, Ts Lê Chí Dũng với cái nhìn phủ định:
“Một dòng văn học francophone không hiện hữu trong con sông văn học Việt Nam thế
kỷ XX” (talawas, 18.3.2008). Ngoài ra là một số ít những bài viết rải rác. Những
nghiên cứu đó, bằng cách này hay cách khác, thái độ có thể khác nhau, đã phác
thảo những định hướng ban đầu, nhưng thế vẫn là chưa đủ.
Thực tế này cần phải được khắc phục bằng một chương trình khảo
cứu, biên dịch và dịch thuật lâu dài, nghiêm túc để làm rõ diện mạo một thực thể
văn học trong tổng thể văn học Việt Nam hiện đại. Hiện nay, ở Viện Văn học, tôi
đang chủ nhiệm một đề tài cấp bộ là: Nghiên cứu so sánh văn xuôi Pháp ngữ Việt
Nam - vấn đề và lịch sử. Chúng tôi sẽ triển khai đề tài trên ba phương diện: lịch
sử hình thành; tác giả và tác phẩm; đặc điểm nội dung và nghệ thuật. Kết quả của
đề tài sẽ là một tập sách trình bày cả ba phương diện trên như là một phác thảo
lịch sử văn xuôi Pháp ngữ Việt Nam. Trên cơ sở này có thể tiến hành về sau việc
khảo cứu các bộ môn sáng tác khác bằng Pháp ngữ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét