Địa chí Hà Nam 2
Chương VIII: DÂN CƯ
I. DÂN SỐ VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN DÂN SỐ Ở HÀ NAM
1. Lịch sử hình thành dân cư của tỉnh Hà Nam
Một vạn năm trước đây, Hà Nam đã có cư dân sinh sống trong
các thung lũng đá vôi cacxtơ hai bên sườn dãy núi “99 ngọn”, kéo dài từ Ba Vì -
Tản Viên xuống tới Ninh Bình - Thanh Hóa. Đó là chủ nhân nền văn hoá Tiền Đá Mới
- Hòa Bình nổi danh thế giới. Việc phát hiện địa điểm khảo cổ học hang Chuông,
hang Gióng Lở, bước đầu cho thấy: vào thời kỳ đồ đá mới, cách ngày nay trên dưới
5.000 năm, trên vùng đất Hà Nam đã có người nguyên thuỷ sinh sống.
Hang Gióng Lở nằm trên núi Chùa, thuộc địa bàn thôn Bồng Lạng,
xã Thanh Nghị, huyện Thanh Liêm. Đây là hang đá vôi do hiện tượng cacxtơ tạo
thành, cách mặt đất 70m và mặt hang quay về hướng tây. Trước hang là một khoảnh
đất bằng phẳng rộng khoảng 100 mẫu, nay là cánh đồng trồng màu của nhân dân.
Sát chân núi về phía tây có một con ngòi. Cửa hang còn một cây búng báng khá
to. Theo các cụ già ở địa phương cho biết, trước đây ở sườn núi và quanh núi có
nhiều loại cây búng báng, sau mới bị chặt phá đi.
Lòng hang rộng rãi, khô ráo, thích hợp cho việc cư trú, cuối
hang có lối đi xuống một lạch nước mà ở đó còn lại khá nhiều vỏ ốc suối người
xưa dùng làm thức ăn, cùng với bột cây búng báng. Đặc biệt trên khu đất trước cửa
hang đã tìm thấy công cụ của người nguyên thủy. Đó là chiếc cuốc đá được chế
tác ở trình độ khá cao từ sa thạch, toàn thân được mài, hình dáng cân đối, gồm
lưỡi với rìa tác dụng cong và sắc, có đốc để buộc cán.
Hà Nam nằm trong vùng đồng chiêm trũng điển hình, là quê
hương những người từ thời cổ đại Đông Sơn trước Công nguyên dăm ba thế kỷ đã từ
miền cao đi xuống khai phá vùng đồng bằng lầy lội, rừng rậm hoang vu, sông ngòi
chằng chịt để phát triển nền văn minh lúa nước - một vùng quan trọng của văn
minh Đông Sơn, nền tảng của văn hóa Việt sau này.
Ở Hà Nam cho đến nay, nhiều mộ thuyền đã được khai quật hoặc
phát hiện ở ven đê sông Đáy, sông Hồng, sông Châu thuộc các xã Châu Sơn (thị xã
Phủ Lý), Thanh Sơn (huyện Kim Bảng), Mộc Bắc, Tiên Nội, Duy Minh, Châu Giang, Đọi
Sơn (huyện Duy Tiên)... Sự phân bố của các ngôi mộ thuyền ven sông mà có nơi
như các xã Yên Bắc, Mộc Bắc, Đọi Sơn thành khu mộ địa đã mách bảo cho chúng ta
nơi cư trú ưa thích của người nguyên thuỷ vẫn là những khu đất cao; về những đợt
di cư liên tiếp của những nhóm dân cư miền thượng du tiến về khai phá vùng đồng
bằng vào thời đại hậu kỳ đồ đồng - sơ kỳ thời đại đồ sắt. Thuở ấy, trước Công
nguyên, người Việt cổ (Lạc Việt, Âu Việt) đã biết chọn những doi đất cao ven
sông làm nơi cư trú. Họ dùng thuyền làm phương tiện chủ yếu để đi lại, chuyên
chở trên sông nước và đã biết làm ruộng hai mùa: chiêm mùa, dựa trên nền tảng kỹ
thuật đồ sắt, đồ đồng và từ đó có các đồ gỗ, tre nan, chiếu cói và nhiều đồ gốm
tinh mỹ.
Dân tộc Việt Nam cổ có nghề trồng lúa nước phát triển, gắn với
sự chinh phục châu thổ sông Hồng bằng kỹ thuật luyện kim tinh xảo đã bước vào cuộc
sống văn minh từ bốn nghìn năm về trước. Bên cạnh nghề trồng lúa nước, dân cư
thời đại đồ đồng trên đất Hà Nam còn phát triển các nghề thủ công. Nghề chế tạo,
luyện kim đồng thau đạt đến giai đoạn cực thịnh mà chứng tích là những chiếc trống
đồng chế tác tinh xảo, hoa văn phong phú được phát hiện ở các huyện Duy Tiên,
Bình Lục, Kim Bảng đều thuộc loại Hêgơ - hiện vật tiêu biểu của nền văn hóa Đông Sơn. Đặc biệt là chiếc trống đồng Ngọc Lũ, thuộc loại cổ nhất và đẹp nhất
trong những chiếc trống đồng Đông Sơn phát hiện ở nước ta, chứng minh sự phát
triển rực rỡ của nghề chế tác luyện kim đồng thau trên vùng đất này. Cùng với
trống đồng, trong các mộ táng và rải rác ở nhiều nơi cũng đã phát hiện được nhiều
loại công cụ, đồ đựng, đồ trang sức, vũ khí bằng đồng.
Thời đại đồ đồng thau phát triển cũng là thời kỳ các vua Hùng
dựng nước Văn Lang, chia cả nước thành 15 bộ. Vùng đất Hà Nam khi ấy thuộc bộ
Giao Chỉ. Kinh tế phát triển, đời sống tinh thần của dân cư Hà Nam thời đại đồ
đồng, thời kỳ Hùng Vương cũng ngày càng phong phú và phong tục tập quán dần dần
hình thành, nảy nở. về lề lối và tập quán sản xuất, nảy sinh từ một nền văn
minh lúa nước là chủ yếu, người Hà Nam có trình độ thâm canh tăng vụ cao, nắm vững
kỹ thuật làm đất chọn giống, thời vụ gieo cấy, thu hoạch mùa màng, sử dụng năng
lượng với hiệu quả cao, xét về góc độ sinh thái cây trồng.
Làng xóm (tên cổ gọi là “chạ”: “ăn chung, ở chạ”) lập nên
ngày càng nhiều, những làng cổ xưa mà địa danh học lịch sử mách bảo cho chúng
ta với từ tố “kẻ” ở đầu còn lưu lại tên gọi ở khá nhiều nơi trên đất Hà Nam
như: kẻ Non, kẻ Sở, kẻ Tâng, kẻ Lác, kẻ Lũ, kẻ Chuôn, kẻ Ngăm... và những làng
xóm lập trên những khu đất cao (gò, đống): Đống Cầu, Đống Thượng, Đống Sấu, Đống
Bùi... còn giữ nguyên địa danh cho đến ngày nay.
Trên trống đồng Ngọc Lũ khắc họa hình ảnh những tốp người ăn
mặc chỉnh tề vừa đi vừa múa, chuyển động nhịp nhàng xung quanh những tia mặt trời
thể hiện ngày vui hội mùa. Nghệ thuật nhảy múa có nhạc đệm (khèn và trống) đã
là những món ăn tinh thần của dân cư nông nghiệp Hà Nam thời dựng nước. Cảnh
đua thuyền trang trí trên thân trống, cảnh ngày lễ cầu mùa của dân cư nông nghiệp
còn lưu lại dấu ấn trong một số lễ hội truyền thống ở Hà Nam.
Quy luật của lịch sử Việt Nam là dựng nước đi đôi với giữ nước.
Quy luật đó được thể hiện ngay từ thời các vua Hùng. Truyền thuyết ở một số nơi
trong tỉnh Hà Nam đã nói tới các vị tướng và dân địa phương tham gia đánh giặc
Ân, giặc “mũi đỏ” và dẹp nạn cướp bóc, nhiễu loạn mà thần phả 3 vị hoàng thành
được thờ ở đình Công Đồng, làng An Thái (xã An Mỹ, huyện Bình Lục) là một dẫn
chứng.
1. Dân số - quy mô dân số
Cũng như nhiều tỉnh ở đồng bằng sông Hồng, dân số Hà Nam đã
trải qua nhiều thời kỳ biến động lớn. Tuy vậy, để có được những số liệu cụ thể,
chi tiết của những thời kỳ trước 1975, thì cực kỳ khó khăn. Theo nhà địa lý học
người Pháp Gourou - nhà địa lý học nổi tiếng về nghiên cứu Đông Dương thì trên
lãnh thổ Hà Nam vào năm 1921 có 404.000 người sinh sống. Đến năm 1931, tức sau
10 năm, dân số Hà Nam tăng lên khoảng 438.000 người. Chỉ số phát triển dân số
sau 10 năm là 108,42%, trung bình trong thời kỳ này mỗi năm dân số tăng 0,84%.
Đến năm 1943, dân số Hà Nam đã là 596.200 người.
Dân số Hà Nam sống tập trung chủ yếu ở nông thôn do quá trình
định canh định cư trong lịch sử và tốc độ gia tăng dân số rất nhanh ở khu vực
nông thôn.
Tháng 4 năm 1975, đất nước thống nhất, tỉnh Hà Nam có 623.600
người. Năm 1985, số dân đã tăng lên 697.700 người. Chỉ số phát triển dân số sau
10 năm là 111,88%. Trung bình mỗi năm tăng 1,19%.
2. Theo các số liệu thống kê, vào năm 1989, dân số của tỉnh Hà
Nam là 753.100 người; đến năm 1999 dân số tỉnh Hà Nam tăng lên 799.843 người. Số
dân gia tăng trong thời gian 10 năm là 46.743 người, tương đương với 6,2% so với
số dân của thời điểm năm 1989; trung bình mỗi năm tăng 0,62%. Nhìn chung, sự
gia tăng dân số trong giai đoạn này đang có xu hướng ổn định.
Theo số liệu thống kê mới nhất, năm 2003, tỉnh Hà Nam có số
dân là 817.557 người, tăng 0,43% so với số dân năm 2002. Như vậy, từ năm 1921 đến
năm 2003, sau 82 năm, dân số của tỉnh Hà Nam tăng hơn gấp đôi một chút (2,02 lần).
Nếu đem so sánh số dân của tỉnh Hà Nam với số dân của cả nước,
ta thấy dân số tỉnh Hà Nam chiếm tỷ trọng rất thấp. Cho tới thời điểm này, tỷ
trọng dân số tỉnh Hà Nam trong tổng số dân của cả nước giảm dần theo thời gian.
Vào năm 1945, tỉnh Hà Nam có số dân bằng 2,61% và năm 1943, dân số tỉnh Hà Nam
bằng 2,59% tổng số dân của cả nước.
Trải qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, đất nước
ta không có điều kiện để tiến hành các cuộc điều tra kinh tế - xã hội, thống kê
dân số. Thêm vào đấy là công tác lưu trữ cũng chưa được chú trọng, vì vậy những
số liệu về số dân và lao động của tỉnh Hà Nam cũng như của các tỉnh khác trong
cả nước không đầy đủ và không đồng bộ. Sau năm 1975, việc đầu tiên mà Đảng và
Nhà nước ta quan tâm tới là tiến hành điều tra sơ bộ về tình hình kinh tế - xã
hội - dân số - lao động. Kết quả của cuộc điều tra này cho biết, vào năm 1975,
tỉnh Hà Nam có số dân là 623.600 người, chiếm 1,31% tổng số dân của cả nước. Đến
năm 1989, tỷ trọng dân số tỉnh Hà Nam trong tổng số dân của cả nước giảm xuống
còn 1,17%.
10 năm sau, tuy số lượng tuyệt đối về số dân của tỉnh Hà Nam
có tăng, nhưng tỷ trọng số dân của tỉnh trong tổng số dân của cả nước vẫn giảm.
Cụ thể, vào năm 1999, số dân của tỉnh Hà Nam chiếm tỷ trọng bằng 1,04% tổng số
dân của cả nước. Những năm tiếp theo, dân số vẫn tăng, nhưng tỷ trọng cũng vẫn
giảm: năm 2001, dân số Hà Nam chiếm tỷ trọng 1,03% trong tổng số dân của cả nước;
năm 2002 là 1,02% và năm 2003 là 1,01%.
Trên thực tế, do địa hình có cả đồng bằng, trung du, miền núi
nên sự phân bố dân cư trong tỉnh không đồng đều, tập trung chủ yếu ở vùng đồng
bằng. Vào năm 1931, nhà địa lý học người Pháp Gourou đã xây dựng bản đồ “Mật độ
dân số châu thổ sông Hồng”. Theo đó, vùng có mật độ dân số cao nhất (trung bình
trên 600 người/km2) là vùng Duy Tiên, Lý Nhân và một phần phía đông nam của huyện
Bình Lục; vùng có mật độ dân số thấp nhất là huyện Kim Bảng - dưới 400 người/km2.
Trong những năm gần đây, các vùng đông dân nhất (mật độ trên 1.000 người/km2) vẫn
là các huyện Lý Nhân, Bình Lục, thị xã Phủ Lý. Huyện Duy Tiên có mật độ dân số
xấp xỉ 1.000 người/km2; còn huyện Kim Bảng, Thanh Liêm vẫn là những huyện có mật
độ dân số thấp nhất - dưới 800 người/km2.
Năm 2002, Hà Nam có diện tích tự nhiên là 851,7 km2, chiếm
0,26% diện tích đất cả nước. Với số dân 814.044 người (chiếm 1,02% tổng số dân
cả nước) thì mật độ trung bình toàn tỉnh là 956 người/km2, cao hơn rất nhiều so
với mật độ dân số trung bình của cả nước (bình quân chung của cả nước: 236 người/km2),
nhưng thấp hơn mật độ dân số trung bình của đồng bằng sông Hồng (1.151 người/km2)
[Nguồn: Tổng cục Thống kê. Niên giám thống kê năm 2002, Hà Nội, 2003].
Năm 2003, trong khi 4 huyện, thị đồng bằng (thị xã Phủ Lý,
huyện Duy Tiên, huyện Lý Nhân, huyện Bình Lục) tập trung 67,63% số dân của cả tỉnh
(diện tích chiếm 57,74%) thì hai huyện có vùng núi Kim Bảng và Thanh Liêm (chiếm
42,26% diện tích của tỉnh) chỉ có 32,37% số dân của tỉnh. Vì vậy, trong khi
bình quân trên 1 km2 ở các huyện đồng bằng có tới 1.124 người sinh sống,
thì ở các huyện miền núi chỉ có 735 người. So sánh mật độ dân số năm 2003 với mật
độ dân số năm 1931, ta thấy mật độ dân số của 3 nhóm khác nhau trên lãnh thổ Hà
Nam sau 72 năm đã tăng lên hơn 2 lần.
Năm 2003, dân số trung bình của tỉnh Hà Nam đã là 817.557 người
và được phân bố như sau: thị xã Phủ Lý có 75.492 người, chiếm 9,23% tổng số dân
toàn tỉnh; huyện Duy Tiên có 130.972 người (chiếm 16,02%); huyện Lý Nhân có
188.843 người (chiếm 23,10%); huyện Bình Lục có 157.624 người (chiếm 19,28%);
huyện Kim Bảng có 128.940 người (chiếm 15,77%) và huyện Thanh Liêm có 135.686
người, chiếm 16,60% tổng số dân toàn tỉnh. Trong số 6 đơn vị hành chính của tỉnh,
thì huyện Lý Nhân và huyện Bình Lục tuy không đứng nhất, nhì về diện tích trong
các huyện, thị, song lại có số dân nhiều nhất.
Nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô và mật độ dân số của
tỉnh Hà Nam trong suốt thời gian qua là sự gia tăng dân số tự nhiên. Bên cạnh
đó là sự thay đổi địa giới hành chính tỉnh.
Một ví dụ điển hình: năm 1999, thị xã Phủ Lý là nơi chỉ rộng
8,4 km2 nhưng chứa tới 32.040 người với mật độ dân số là 3.814 người/km2.
Năm 2000, do nhu cầu phát triển kinh tế và đô thị hoá, sau khi có nghị định
53/2000/NĐ-CP của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính mở rộng thị
xã Phủ Lý theo quy hoạch, một số xã của các huyện kề cận như xã Lam Hạ, huyện
Duy Tiên; xã Phù Vân, xã Châu Sơn, huyện Kim Bảng; xã Liêm Chung, huyện Thanh
Liêm được chuyển nhập vào thị xã Phủ Lý, đưa diện tích tự nhiên của thị xã tăng
lên 34,24 km2 (tăng thêm 25,9 km2 so với năm 1999) với số dân là
72.480 người; mật độ dân số lúc này là 2.117 người/km2. Mặc dù diện tích và dân
số của thị xã tăng so với năm 1999, nhưng mật độ dân số chung toàn thị xã lại
giảm. Điều này chứng tỏ những xã mới nhập vào có mật độ dân cư rất thấp.
Ngay trong thị xã Phủ Lý, dân cư phân bố cũng không đều. Thời
điểm năm 2000, vùng nội thị có diện tích 6,782 km2 (chiếm 19,80% diện tích
thị xã) nhưng chứa tới 37.418 người (chiếm 51,63% dân số thị xã). Mật độ dân số
trung bình của vùng nội thị là 5.517 người/km2. Đặc biệt, tại 4 phường nội thị
cũ, mật độ dân số rất cao: Phường Minh Khai có mật độ là 18.663 người/km2; phường
Lương Khánh Thiện là 22.283; phường Hai Bà Trưng là 10.086 và phường Trần Hưng
Đạo là 30.349 người/km2. Trong khi đó, vùng ngoại thị có diện tích là
27,458km2 (chiếm 80,20% diện tích thị xã) nhưng chỉ chứa có 35.062 người
(chiếm 48,37% dân số thị xã). Mật độ dân số trung bình vùng ngoại thị là 1.277
người/km2. Điều này chứng tỏ dân cư sống tập trung khá đông ở vùng nội thị.
4. Quá trình phát triển dân số và tốc độ gia tăng dân số tự
nhiên
Gia tăng tự nhiên là một chỉ tiêu tổng hợp, được thể hiện bằng
sự chênh lệch giữa tỷ suất sinh thô và tỷ suất chết thô trong một khoảng thời
gian xác định trên một đơn vị lãnh thổ xác định. Có nghĩa là tỷ suất tăng dân số
tự nhiên phản ánh trung bình trong một thời kỳ xác định cứ 1.000 người dân thì
có bao nhiêu người tăng thêm.
Tỷ suất sinh thô là khái niệm biểu thị số trẻ em được sinh ra
sống trong năm so với 1.000 dân. Đây là thước đo đánh giá mức sinh khá đơn giản,
dễ tính, dễ hiểu và được áp dụng rộng rãi. Tỷ suất sinh thô rất khác nhau giữa
các địa phương và các thời kỳ. Nó phụ thuộc nhiều vào cơ cấu tuổi, giới tính, tập
quán và tâm lý của dân cư.
Tỷ suất chết thô là khái niệm biểu thị số người chết trong một
năm trên 1.000 người dân. Tỷ suất chết thô chịu ảnh hưởng nhiều bởi cơ cấu dân
số, đặc biệt là cơ cấu tuổi và giới tính. Ở những nơi có dân số trẻ, tỷ lệ chết
thô sẽ thấp hơn so với những nơi có dân số già bởi tỷ lệ chết ở lứa tuổi 50 -
70 thường cao gấp nhiều lần tỷ lệ chết ở lứa tuổi 30 - 35. Việc tăng hay giảm số
sinh và số chết đều làm thay đổi quy mô, cơ cấu và tốc độ tăng tự nhiên của dân
số.
Số dân của Hà Nam tăng lên chủ yếu là do tăng tự nhiên (tỷ lệ
sinh cao hơn tỷ lệ chết). Tăng cơ học không đáng kể. Nguyên nhân chủ yếu là số
người trong độ tuổi sinh đẻ cao và trước kia nhân dân ít có ý thức về kế hoạch
hoá dân số. Mặt khác, do nền kinh tế phát triển chủ yếu dựa vào nông nghiệp, mà
đặc biệt là làm nông nghiệp trên vùng đất chiêm trũng, nên rất cần lao động. Vì
vậy, việc sinh nhiều con trước đây là tất yếu.
Ở tỉnh Hà Nam, sau ngày hoà bình lập lại, trình độ phát triển
kinh tế - xã hội còn thấp, những tập quán và tâm lý lạc hậu về số lượng
con và con trai đã có tác động đến mức sinh cao. Trong nhân dân tư tưởng trọng
nam hơn nữ vẫn là yếu tố cản trở đến việc chấp nhận và thực hiện quy mô gia
đình ít con. Tuy vậy, tỷ lệ sinh nói chung đã giảm dần theo thời gian, do thế hệ
trẻ nhận thức được rằng: gia đình đông con sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc
nâng cao đời sống. Cụ thể, tỷ lệ sinh thô năm 1975 là 3,67%; năm 1985 là 2,82%;
năm 1990 là 2,09%; năm 1997 là 1,70%; năm 2000 là 1,63% và năm 2003 là 1,60%. Tỷ
lệ sinh ở nông thôn thường cao hơn ở thành thị.
Năm 1975, tỷ lệ chết trong dân cư ở Hà Nam là 0,59%; năm 1985
là
0,58%; năm 1997 là 0,46% và năm 2003 là 0,56%.
Trong thập niên 70, 80 của thế kỷ XX, tỷ lệ sinh
trong dân cư cao nhưng tỷ lệ chết thấp, vì vậy tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của tỉnh
Hà Nam còn cao: năm 1975 là 3,07%; năm 1985 là 2,24%. Sang thập niên 90, tỷ lệ
sinh trong dân cư đã giảm nên tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của tỉnh Hà Nam cũng
giảm. Đầu thế kỷ XXI: năm 2000, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của Hà Nam là 1,17%.
Đến năm 2003, tỷ lệ tăng tự nhiên chỉ còn 1,04%.
Một điều đáng chú ý là: mức sinh đã giảm mạnh
nhưng rất không đều giữa các huyện, thị trong khi tỷ lệ chết của dân cư các huyện,
thị chênh nhau không nhiều nên đã dẫn đến tỷ lệ tăng tự nhiên dân số của các
huyện, thị trong tỉnh khác nhau. Năm 2000, huyện Kim Bảng có tỷ lệ sinh cao nhất
(1,73 %) và cũng là huyện có tỷ lệ tăng dân số tự nhiên cao nhất (1,27%); huyện
Duy Tiên có tỷ lệ sinh thấp nhất (1,31 %) và cũng là huyện có tỷ lệ tăng dân số
tự nhiên thấp nhất (0,84%).
Vì tỷ lệ sinh thô và tỷ lệ chết thô đều phụ thuộc chặt chẽ
vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và khoa học - kỹ thuật, nên gia tăng tự
nhiên có quan hệ chặt chẽ đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của tỉnh. Việc
áp dụng các công nghệ y tế công cộng như vắcxin, thuốc kháng sinh, trong đó có
các chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ em đã góp phần quan trọng làm giảm
mức chết, nhất là mức chết ở trẻ sơ sinh.
Trong những năm gần đây, do trình độ phát triển kinh tế - xã
hội ngày một nâng cao, đời sống của người dân được cải thiện; bên cạnh đó là sự
tiến bộ về nhận thức của nhân dân, cùng với sự áp dụng sâu rộng chính sách dân
số và kế hoạch hoá gia đình, nên từ năm 1990 trở lại đây số người dùng các biện
pháp tránh thai ngày một tăng. Năm 2000, số người sử dụng biện pháp tránh thai
chiếm 72,5% số người trong độ tuổi sinh đẻ. Năm 2001, số người này đã tăng lên
chiếm 73,5% số người trong độ tuổi sinh đẻ.
5. Ảnh hưởng của tốc độ gia tăng dân số kinh tế - xã hội
của tỉnh
Hàng năm, số dân tỉnh Hà Nam vẫn tăng thêm khoảng 8 - 9 nghìn
người, tạo thêm nguồn lao động dồi dào, bổ sung cho nền kinh tế quốc dân. Song
trong điều kiện trình độ sản xuất còn thấp, ngành nghề còn ít được đầu tư phát
triển thỏa đáng thì áp lực dân số và nguồn lao động đã làm cho nền kinh tế của
tỉnh chưa thể đáp ứng được nhu cầu đời sống và giải quyết việc làm cho người
lao động.
Dân số tăng nhanh gây ra nhiều khó khăn do sản xuất chưa cân
đối giữa tăng dân số và những tư liệu sinh hoạt, trước tiên là lương thực. Tại
Hà Nam, dân số năm 1999 có 799.843 người, tăng 1,28 lần so với năm 1975; trong
khi đó lương thực bình quân đầu người của năm 1999 so với năm 1975 chỉ tăng
2,09 lần. Người ta đã tính ra được hệ số - nói cách khác là điều kiện cần và đủ
cho mối quan hệ giữa sự phát triển dân số và lương thực. Khi dân số tăng
1% thì buộc lương thực phải tăng 2,5% mới bảo đảm được tính ổn định và an
toàn tối thiểu.
Nhận thức được vấn đề tăng dân số nhanh sẽ ảnh hưởng tới tốc
độ phát triển kinh tế và nâng cao mức sống cho nhân dân, thời gian qua, tỉnh Hà
Nam đã tăng cường đẩy mạnh có hiệu quả công tác truyền thông dân số - kế hoạch
hoá gia đình đến cộng đồng, đến từng gia đình, đến từng đối tượng trong độ tuổi
sinh đẻ.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 1999, số người nhập
cư từ các tỉnh khác đến Hà Nam và xuất cư từ Hà Nam đi các tỉnh khác (từ 5 tuổi
trở lên) trong 5 năm trước thời điểm tổng điều tra dân số (31/3/1999) như sau:
số người nhập cư từ tỉnh khác là 6.354 người, trong đó nữ có 2.525 người; số
người xuất cư từ Hà Nam đi các tỉnh khác là 30.932 người, trong đó nữ có 17.140
người. Như vậy số người di cư thuần tuý (gia tăng cơ học) trong 5 năm qua là
(âm) -24.578 người, có nghĩa nếu không tính gia tăng tự nhiên thì dân số năm
1999 của Hà Nam giảm 24.578 người so với năm 1994.
Quá trình di dân không chỉ ảnh hưởng đến quy mô dân số của một
vùng, mà còn có thể gây ra những biến đổi đáng chú ý trong cơ cấu và sự phân bố
dân cư, đến nguồn lao động và phân bố các ngành sản xuất ở những vùng có dân
chuyển đi và vùng có dân chuyển đến; nó làm tăng mật độ dân cư ở vùng này và
làm giảm mật độ dân cư ở vùng khác, kéo theo nó là quá trình phân bố lại và tập
trung nguồn lực phát triển tại một số vùng nhất định.
Nếu tính theo tuổi lao động, ta thấy nhóm tuổi 20 - 29 của thời
điểm 1999 (tức nhóm tuổi 15-24 của thời điểm 1994) có số lượng người tham gia
di chuyển nhiều nhất: 8.916 người, chiếm 44,28% tổng số người tham gia di chuyển.
Tại thời điểm 1994, số người này là lực lượng lao động trẻ, khoẻ, mới bước vào
tuổi lao động nên hăng hái rời nơi ở cũ đến nơi ở mới để tìm việc làm. Còn nhóm
tuổi 50 trở lên tham gia di chuyển ít hơn, chỉ có 1.223 người - chiếm 6,07% tổng
số người tham gia di chuyển; vì ở lứa tuổi này phần lớn đã ổn định nơi ở và nơi
làm việc.
Quá trình di dân còn phụ thuộc vào các yếu tố kinh tế, chính
trị, xã hội, tư tưởng, ước mơ của con người. Những người di dân có tổ chức được
Nhà nước và chính quyền địa phương nơi nhập cư tạo điều kiện giúp đỡ để có thể ổn
định và tổ chức tốt cuộc sống nơi định cư mới. Từ khi xoá bỏ bao cấp và nhất là
vào đầu những năm 90 thì di dân tự do bắt đầu phát triển. Hiện tượng di dân tự
do không chỉ diễn ra trong nội bộ tỉnh, mà ở các huyện cũng thường xuyên xảy
ra, nhất là ở các huyện miền núi.
Tại Hà Nam, ở những nơi đang phát triển, các khu đô thị luôn
luôn là địa điểm thu hút các luồng di cư trong tỉnh. Tại thời điểm 31/3/1999, tỉnh
Hà Nam có 20.137 người thay đổi nơi ở thường trú so với nơi thường trú của 5
năm về trước. Trong đó có 11.547 người trước đây cư trú ở nông thôn, 7.317 người
cư trú ở thành thị và 1.273 người không xác định được nơi ở trước đây (kể cả nội
tỉnh và ngoại tỉnh), huyện Kim Bảng là nơi có số người chuyển đến đông nhất -
4.296 người; huyện Duy Tiên có số người chuyển đến ít nhất - 2.567 người. Trong
số 20.137 người thay đổi nơi ở thường trú thì có 2.391 người đến cư trú ở các
đô thị trong tỉnh, còn 17.746 người đến cư trú ở nông thôn.
Thị xã Phủ Lý là nơi có sức hút dân cư đô thị lớn nhất trong
tỉnh. Vào thời điểm 31/3/1999, có 1.538 người từ các nơi khác chuyển đến cư trú
thường xuyên tại thị xã (chiếm 64,32% tổng số dân chuyển đến thành thị); còn
853 người từ các nơi khác chuyển đến cư trú tại các đô thị khác, mà chủ yếu là
các thị trấn - huyện lỵ trong tỉnh (chiếm 35,68% tổng số dân chuyến đến thành
thị).
Trong số dân chuyển đến cư trú tại khu vực nông thôn, huyện
Kim Bảng là nơi có số người chuyển đến nhiều nhất - 4.201 người (trong số đó có
2.343 người chuyển từ các vùng nông thôn khác; 1.672 người chuyển từ các đô thị
và 186 người không xác định được nơi ở trước chuyển đến). Tiếp đến là số người
chuyển đến huyện Lý Nhân - 3.575 người; chuyển đến huyện Thanh Liêm - 3.509 người;
huyện Duy Tiên - 2.383 người; huyện Bình Lục - 2.349 người và cuối cùng là đến
các vùng nông thôn ngoại thị xã Phủ Lý - 1.729 người.
7. Cơ cấu dân số
7.1 Cơ cấu dân số theo giới tính
Cơ cấu dân số theo giới tính là chỉ tiêu phản ảnh kết quả
phân chia tổng số dân thành dân số nam và dân số nữ. Để biểu diễn cơ cấu dân số
theo giới tính, người ta thường dùng các chỉ tiêu tỷ lệ nam (nữ) trong tổng số
dân (%). Tỷ lệ nam (nữ) được xác định bằng số nam (số nữ) chia cho tổng số dân
rồi nhân với 100. Chỉ số này cho biết: cứ 100 dân thì có bao nhiêu nam, bao
nhiêu nữ.
Cũng có thể gọi là tỷ lệ giới tính (%). Tỷ lệ giới tính được
xác định bằng cách: chia số nam cho số nữ rồi nhân với 100. Chỉ số này cho biết:
có bao nhiêu nam trên 100 nữ.
Trong những năm trước đây, tại tỉnh Hà Nam tỷ lệ dân số nam,
dân số nữ nhìn chung chênh lệch tương đối lớn. Theo dòng thời gian và theo số
liệu thống kê, tỷ lệ nam trong tổng số dân thay đổi như sau: năm 1976 là
41,81%; đến năm 1980 tỷ lệ này là 43,95%. Tổng điều tra dân số toàn quốc
1/4/1989 cho biết tỷ lệ nam trong tổng số dân của tỉnh Hà Nam đã tăng lên
46,79%.
Vào thời điểm tổng điều tra dân số toàn quốc 1/4/1999, dân số
tỉnh Hà Nam có 793.103 người; trong đó, tỷ lệ dân số nam là 48,43% và tỷ lệ dân
số nữ là 51,66%. Sang năm 1990, tỷ lệ dân số nam là 48,40% và tỷ lệ dân số nữ
là 51,60%. Cũng vào thời điểm tổng điều tra dân số toàn quốc 1/4/1999, tỷ lệ
dân số nam trong tổng số dân của nước ta là 49,09% và đến năm 2003 là 49,14%.
Điều đó nói lên tỷ lệ nam trong tổng số dân của Hà Nam thấp hơn tỷ lệ nam chung
của toàn quốc, đồng thời cũng chứng tỏ rằng: ở tỉnh Hà Nam dân số nữ nhiều hơn
dân số nam.
Tính chung cho toàn tỉnh, tỷ lệ giới tính năm 2003 của tỉnh
Hà Nam là 93,78%; có nghĩa là cứ 100 người nữ thì có 93,78 người nam. Tỷ trọng
này cho biết hiện tại cán cân nam - nữ trong dân số ở Hà Nam như vậy là thừa nữ.
Ngay trên địa bàn từng huyện, thị thì tỷ lệ dân số nam trong tổng số dân cũng
thấp hơn tỷ lệ dân số nữ và tỷ lệ này giữa các huyện, thị chênh lệch nhau không
nhiều.
7.2 Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi
Trong quá trình nghiên cứu dân số phục vụ phát triển, bên cạnh
việc nghiên cứu dân số theo giới, người ta cần phải nghiên cứu dân số chia theo
lứa tuổi của mỗi giới nhằm xác định số người trong độ tuổi đi học; dưới, trong
và trên độ tuổi lao động. Cơ cấu dân số theo lứa tuổi thay đổi theo thời gian.
Theo tổng điều tra dân số toàn quốc ngày 1/4/1999, cơ cấu dân
số tỉnh Hà Nam vào loại trẻ đang chuyển dần sang cơ cấu dân số già. Trong những
nhóm tuổi dưới 17, nam giới thường chiếm tỷ lệ lớn hơn nữ giới, thường chiếm
khoảng 51% tổng số dân trong nhóm tuổi đó. Nhưng do tính hiếu động của nam giới
và cường độ lao động nặng nhiều hơn nên từ 18 tuổi trở đi dân số nam thường chết
nhiều hơn dân số nữ. Vì vậy, từ nhóm tuổi 18 trở lên, nữ giới có tỷ lệ cao hơn
hẳn so với nam giới cùng nhóm tuổi. Đặc biệt, từ 60 tuổi trở lên và càng cao tuổi
thì tỷ lệ nữ cùng nhóm tuổi cao hơn tỷ lệ nam cùng nhóm tuổi rất nhiều. Cụ thể:
nhóm tuổi 80 - 84, tỷ lệ nữ chiếm tới 70,64%; từ 85 tuổi trở lên, tỷ lệ nữ chiếm
77,65% số dân cùng nhóm.
Vào thời điểm này, toàn tỉnh có 31,82% dân số dưới tuổi lao động
(từ 0 đến 14 tuổi). Trong khi đó, nhóm này ở Việt Nam chiếm khoảng 34%. Dân số
trẻ, ở tầm ngắn hạn, làm tăng gánh nặng nuôi, dạy và chăm sóc trẻ em; ở tầm
trung hạn thì sức ép về lao động, việc làm sẽ ngày càng tăng thêm. Tuy nhiên,
nhờ quá trình giảm sinh tương đối mạnh trong những năm qua mà tỷ trọng dân số
trẻ đã có xu hướng giảm và tỷ trọng dân số già tăng lên (quá trình già hoá dân
số). Nhóm người trong độ tuổi từ 60 trở lên chiếm 10,94% tổng số dân của tỉnh.
Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi của các huyện, thị thường khác
nhau. Tại thị xã Phủ Lý, nhóm tuổi từ 0 đến 14 có tỷ lệ rất thấp, chiếm 27,09%;
nhóm tuổi 15-59 chiếm 64,47% và nhóm 60 tuổi trở lên chiếm 8,44% tổng số dân
toàn thị xã. Trong khi đó, tỷ lệ số dân trong các nhóm 0 - 14 và 60 tuổi trở
lên của các huyện còn lại trong tỉnh Hà Nam đều cao hơn của thị xã Phủ Lý và được
thể hiện cụ thể trong bảng sau:
Từ năm 2000 đến nay (2003), số liệu thống kê số dân theo nhóm
tuổi của tỉnh Hà Nam chưa có.
7.3 Dân số thành thị, nông thôn
Hà Nam là một tỉnh nông nghiệp. Dân số của tỉnh sống tập
trung chủ yếu ở nông thôn do quá trình định canh định cư trong lịch sử và tốc độ
gia tăng dân số rất nhanh ở khu vực nông thôn.
Hà Nam có nền công nghiệp phát triển chậm nên khả năng tập
trung và tiếp nhận lao động chưa nhiều. Là một tỉnh có nền kinh tế chủ yếu dựa
vào nông nghiệp, mà đặc biệt là ruộng vùng đất trũng, độ phì thấp, nên đòi hỏi
rất nhiều sức lao động. Mặt khác, nguồn thu nhập chính của phần lớn dân cư
trong tỉnh dựa vào nông nghiệp nên dân cư sống tập trung quá đông ở vùng nông
thôn.
Năm 1976, lãnh thổ của Hà Nam nằm trong địa phận của tỉnh Hà
Nam Ninh. Dân số của Hà Nam lúc này có 653,4 nghìn người, trong đó dân cư sống ở
thành thị chỉ có 14,9 nghìn người - chiếm 2,28%; dân cư sống ở nông thôn là
638,5 nghìn người - chiếm tới 97,72% tổng số dân toàn tỉnh.
Sau năm 1975, nền kinh tế ở Hà Nam đã đi vào ổn định và phát
triển. Thị xã Phủ Lý nằm dọc quốc lộ 1A được chú ý đầu tư xây dựng. Vì vậy năm
1980, dân số thành thị đã tăng lên 35,8 nghìn người - chiếm 5,64% tổng số dân của
tỉnh, số dân sống ở nông thôn chiếm 94,36%. (Trong khi đó tỷ lệ dân cư thành thị
trên tổng số dân của cả nước năm 1976 là 20,60% và năm 1980 là 19,17%).
Từ năm 1981 đến năm 1986, nền kinh tế nước ta nói chung và nền
kinh tế của Hà Nam nói riêng bước vào giai đoạn trì trệ do cơ chế quan liêu bao
cấp, nên một số dân ở thành thị đã chuyển về nông thôn sinh sống làm cho tỷ lệ
dân cư thành thị trong tổng số dân giảm xuống rất nhiều. Năm 1984 tỷ lệ dân cư
thành thị của Hà Nam giảm còn 3,28%. Dưới thời bao cấp, thu nhập chủ yếu của phần
lớn dân cư đô thị là tiền lương từ các công sở quản lý, hành chính sự nghiệp.
Năm 1986, Việt Nam xoá bỏ chế độ bao cấp và phát triển kinh tế
thị trường định hướng XHCN. Quá trình đô thị hoá đã bước sang giai đoạn mới,
thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Nhiều thành phố cũ được mở rộng, nhiều
khu công nghiệp - đô thị mới được xây dựng. Đô thị thu hút lực lượng lao động rất
lớn từ khu vực nông thôn đến tìm việc làm.
Tại thời điểm tổng điều tra dân số toàn quốc 1/4/1989, số dân
của Hà Nam sống ở thành thị có 51.950 người - chiếm 6,99% tổng số dân toàn tỉnh;
còn số dân sống ở nông thôn có 691.875 người; tuy con số tuyệt đối tăng nhưng tỷ
lệ dân cư nông thôn đã giảm, chiếm 93,01%. Tỷ lệ dân cư thành thị tăng, một phần
là do nước ta đã xoá bỏ chế độ bao cấp vào năm 1986, người dân sống không còn
phụ thuộc vào chế độ tem phiếu nên dễ di chuyển hơn. Mặt khác, do kinh tế thị
trường phát triển và làm nông nghiệp ở vùng chiêm trũng quá vất vả nên một bộ
phận dân cư sống ở nông thôn đã chuyển ra đô thị sinh sống. Họ hy vọng thu nhập
từ các nghề dịch vụ, buôn bán ở đô thị cao hơn thu nhập từ nông nghiệp.
Tại thời điểm này (năm 1989), tỷ lệ dân số thành thị của cả
nước là 19,79%. Điều này chứng tỏ rằng quá trình đô thị hoá trong giai đoạn này
của Hà Nam chưa phát triển. Đây là một thực tế, vì trong giai đoạn này tỉnh Hà
Nam đang sáp nhập với tỉnh Nam Định và tỉnh Ninh Bình thành tỉnh Hà Nam Ninh, với
thủ phủ là Nam Định. Thị xã Hà Nam lúc này (ngày nay là thị xã Phủ Lý) chỉ là một
thị xã nhỏ thuộc tỉnh Hà Nam Ninh.
Năm 1991, tỉnh Hà Nam Ninh tách thành 2 tỉnh: Nam Hà và Ninh
Bình. Lúc này lãnh thổ của Hà Nam nằm trong địa phận của tỉnh Nam Hà và số dân
của Hà Nam đã tăng lên 727.618 người; trong đó, số dân sống ở thành thị có
50.800 người - chiếm 6,98%; số dân sống ở nông thôn vẫn chiếm 93,02%.
Sau khi tái lập tỉnh, năm 1997, dân số của tỉnh Hà Nam là
782.068 người; trong đó dân số sống ở thành thị là 60.904 người, chiếm 7,79% và
dân số sống ở nông thôn là 721.164 người, chiếm 92,21% tổng số dân toàn tỉnh.
Đến năm 1999, theo số liệu thống kê thì tỷ lệ dân cư thành thị
của Hà Nam chiếm 7,98% và dân cư nông thôn chiếm 92,02%. So với năm 1999, năm 2000
những tỷ lệ này có sự thay đổi tương đối lớn. Năm 2000, số dân trung bình toàn
tỉnh là 807.312 người; trong đó: số dân sống ở thành thị có 71.766 người - chiếm
8,89%; số dân sống ở nông thôn có 735.546 người - chiếm 91,11% tổng số dân toàn
tỉnh.
Nếu đem so sánh với năm 1999 thì ta thấy: chỉ số phát triển
dân số năm 2000 đạt 100,93%; trong khi đó chỉ số phát triển dân số thành thị đạt
112,42%. Nguyên nhân chính của sự thay đổi tỷ lệ dân cư thành thị - nông thôn ở
tỉnh Hà Nam trong một thời gian ngắn (1999 - 2000) là do thị xã Phủ Lý được mở
rộng. Vào đầu năm 2000, các xã lân cận như: xã Lam Hạ thuộc huyện Duy Tiên; xã
Phù Vân, Châu Sơn thuộc huyện Kim Bảng; xã Liêm Chung thuộc huyện Thanh Liêm được
chuyển sáp nhập vào thị xã Phủ Lý. Cùng với việc mở rộng diện tích từ 8,349
km2 lên 34,24 km2, dân số của thị xã Phủ Lý cũng tăng thêm khoảng 40 nghìn
người. Trong đó một bộ phận dân cư không nhỏ được sống trong những phường mới
được thành lập, làm cho số dân đô thị tăng.
Trong những năm gần đây, tỷ lệ số dân sống ở thành thị ngày một
tăng. Năm 2001, dân số sống ở thành thị chiếm 8,96% tổng số dân của toàn tỉnh;
năm 2002, dân số sống ở thành thị tăng lên 9,15% và năm 2003, số dân thành thị
đã tăng lên, chiếm 9,41% tổng số dân của toàn tỉnh. Điều này chứng tỏ quá trình
đô thị hoá ở Hà Nam đang trên đà phát triển.
Năm 2003, dân cư thành thị tỉnh Hà Nam phân bố theo lãnh thổ
như sau: thị xã Phủ Lý có 41.251 người, chiếm 53,65% tổng số dân thành thị toàn
tỉnh. Tiếp đến là huyện Duy Tiên, dân cư thành thị có 9.238 người (chiếm
12,01%); huyện Thanh Liêm có 9.145 người (chiếm 11,89%); huyện Lý Nhân có 6.609
người (chiếm 8,59%); huyện Bình Lục có 5.442 người (chiếm 7,08%) và huyện Kim Bảng,
dân cư thành thị chỉ có 5.210 người (chiếm 6,78% tổng số dân thành thị toàn tỉnh).
Ngay cả tỷ lệ số dân thành thị so với tổng số dân của từng
huyện, thị trong tỉnh Hà Nam cũng khác nhau. Thị xã Phủ Lý là nơi có tỷ lệ dân
cư thành thị cao nhất tỉnh; tại đây dân cư sống trong khu vực đô thị chiếm
54,64% tổng số dân của toàn thị xã. Tiếp đến là huyện Duy Tiên, dân cư thành thị
chiếm 7,05% tổng số dân của huyện. Tại huyện Thanh Liêm, dân cư thành thị chiếm
6,74%; huyện Kim Bảng - 4,04%; huyện Lý Nhân - 3,50% và tại huyện Bình Lục, dân
cư thành thị chiếm 3,45% tổng số dân của huyện.
7.4. Dân số nông nghiệp, phi nông nghiệp
Hà Nam là một tỉnh thuần nông, vì vậy dân số nông nghiệp chiếm
đa số. Năm 1975, dân số nông nghiệp chiếm 83,64% tổng số dân của tỉnh. Quá
trình công nghiệp hoá và đô thị hoá hầu như không phát triển trong một thời
gian dài, nên nhìn chung tỷ lệ dân số nông nghiệp so tổng số dân của tỉnh thay
đổi không nhiều; đến năm 1991 dân số nông nghiệp vẫn chiếm 83,85%; dân số phi
nông nghiệp chỉ chiếm 16,15% tổng số dân của tỉnh.
Tuy vậy, số dân nông nghiệp và phi nông nghiệp của từng huyện,
thị cũng khác nhau. Theo số liệu thống kê kinh tế - xã hội Hà Nam Ninh 1975 -
1991 thì vào năm 1991, Hà Nam có 125,7 nghìn nhân khẩu phi sản xuất nông nghiệp.
Nếu xét tỷ lệ dân số nông nghiệp và phi sản xuất nông nghiệp so tổng số dân của
từng đơn vị hành chính trong tỉnh ta thấy: tại thị xã Phủ Lý, số dân nông nghiệp
chỉ chiếm có 19,81%, còn số dân phi nông nghiệp chiếm tới 80,19% số dân
toàn thị xã. Trong khi đó tại các huyện còn lại, số dân nông nghiệp chiếm tới
trên 80%; còn số dân phi nông nghiệp chỉ chiếm chưa tới 20% tổng số dân của huyện.
Số nhân khẩu này phân bố theo lãnh thổ trong tỉnh như sau: thị
xã Phủ Lý có 25,5 nghìn người (chiếm 20,29%); huyện Duy Tiên có 16,0 nghìn người
(chiếm 12,73%); huyện Kim Bảng có 24,3 nghìn người (chiếm 19,33%); huyện Thanh
Liêm có 23,2 nghìn người (chiếm 18,46%); huyện Lý Nhân có 18,0 nghìn người (chiếm
14,32%) và huyện Bình Lục có 18,7 nghìn người (chiếm 14,88%).
7.5 Dân số theo trình độ văn hóa
Mức sinh cao và gia tăng dân số dẫn đến sự gia tăng tỷ trọng
dân số trong độ tuổi đi học. Năm 1999, ở Hà Nam dân số dưới 15 tuổi chiếm xấp xỉ
32%. Do dân số tăng nhanh nên trong những năm 1990, số lượng học sinh cả 3 cấp:
tiểu học, trung học cơ sở và phổ thông trung học tăng lên không ngừng. Tuy vậy,
sang những năm đầu thế kỷ XXI, tổng số học sinh của tỉnh có phần giảm hơn so với
năm học 1999 - 2000. Cụ thể: năm học 2000 - 2001 có 178.267 học sinh; năm học
2001 - 2002 có 174.986 học sinh và năm học 2002 - 2003 có 171.563 học sinh. Đặc
biệt, số học sinh ở các cấp học mẫu giáo và tiểu học giảm nhiều, còn ở cấp
trung học cơ sở và phổ thông trung học lại tăng.
Riêng năm học 2003 - 2004, toàn tỉnh có 167.289 học sinh học
tại các trường công lập và số học sinh này phân bố theo lãnh thổ trong tỉnh như
sau: Thị xã Phủ Lý có 16.059 học sinh (chiếm 9,60%); huyện Duy Tiên có 26.261 học
sinh (chiếm 15,70%); huyện Kim Bảng có 26.435 học sinh (chiếm 15,80%); huyện Lý
Nhân có 37.541 học sinh (chiếm 22,44%); huyện Thanh Liêm có 28.905 học sinh
(chiếm 17,28%) và huyện Bình Lục có 32.088 học sinh (chiếm 19,18%).
Nếu tỉnh tỷ lệ số học sinh trong tổng số dân thì ta thấy số học
sinh tại các trường công lập chiếm 20,46% tổng số dân của tỉnh. Tuy nhiên, tỷ lệ
học sinh tại các trường công lập so tổng số dân của từng huyện, thị có khác
nhau một chút: huyện Thanh Liêm có tỷ lệ cao nhất 21,30%; tiếp đến là thị xã Phủ
Lý 21,27%; huyện Kim Bảng 20,50%; huyện Bình Lục 20,36%; huyện Duy Tiên 20,05%
và thấp nhất là huyện Lý Nhân 19,88%.
II. LAO ĐỘNG, CƠ CẤU LAO ĐỘNG, SỰ PHÂN Bố LAO ĐỘNG HIỆN NAY
1. Số lượng nguồn lao động
Thông thường, dưới 5 là tuổi đi nhà trẻ mẫu giáo, từ 6 đến 18
tuổi là tuổi đi học. Số người dưới, trong và trên tuổi lao động được xác định
bởi tuổi lao động do từng nước quy định. Theo quy định của Bộ luật
Llao động hiện hành của Việt Nam, độ tuổi lao động tính từ 16 đến tròn 60 tuổi
đối với nam và từ 16 đến tròn 55 tuổi đối với nữ. Những người trong độ tuổi lao
động có nghĩa vụ và quyền lợi đem sức lao động của mình làm việc cho xã hội. Những
thanh thiếu niên dưới 16 tuổi, nữ từ 56 tuổi và nam từ 61 tuổi trở lên là những
người ngoài tuổi lao động, không có nghĩa vụ đem sức lao động của mình làm việc
cho xã hội.
Tính đến năm 1995, nguồn lao động tỉnh Hà Nam có 401.368 người,
chiếm 52,50% tổng số dân của tỉnh. Trong đó, số người trong tuổi lao động có khả
năng lao động là 356.368 người, chiếm 46,62% tổng số dân và 88,71 % tổng nguồn
lao động của tỉnh; số người còn lại là ngoài độ tuổi lao động có tham gia lao động.
Năm 1997, nguồn lao động của tỉnh Hà Nam tăng lên 416.365 người, chiếm 53,24% tổng
số dân toàn tỉnh. Nguồn lao động của tỉnh Hà Nam dồi dào và đông đảo; số người
hàng năm bước vào tuổi lao động ngày càng tăng, trung bình mỗi năm tăng khoảng
8.100 người. Năm 2000, nguồn lao động của tỉnh Hà Nam có 443.244 người; năm
2001 có 471.154 người và năm 2002 có 466.216 người Cục Thống kê Hà Nam.
Niên giám thống kê năm 2003. Tháng 4/2004. Tr. 17).
Cùng với sự tăng về số lượng, tỷ lệ người lao động so với tổng
số dân và tỷ lệ lao động trong độ tuổi có khả năng lao động so với nguồn lao động
của từng năm cũng tăng. Theo số liệu thống kê, năm 2003, nguồn lao động của Hà
Nam có 465.242 người, chiếm 56,91% tổng số dân toàn tỉnh. Trong đó: số người
trong tuổi lao động có khả năng lao động là 423.064 người (chiếm 90,93%) và số
người ngoài độ tuổi có tham gia lao động là 42.178 người (chiếm 9,07%).
Trong số người ngoài tuổi lao động có tham gia lao động sản
xuất thì số người trên tuổi lao động tăng theo thời gian; cụ thể: năm 1997 có
32.500 người, năm 1999 có 32.817 người, năm 2000 có 33.092 người và năm 2003 có
33.678 người. Ngược lại, số người dưới tuổi lao động lại giảm dần trong những
năm gần đây: năm 1997 có 15.087 người, năm 1999 có 15.200 người, năm 2000 có
15.436 người và năm 2003 chỉ có 8.500 người. Điều này chứng tỏ một phần do kinh
tế - xã hội phát triển nên trẻ em dưới tuổi lao động đã quan tâm hơn đến việc học
hành, một phần do các cơ sở sử dụng lao động của tỉnh Hà Nam đã vận dụng đúng Bộ
luật Lao động.
Tính về số lượng, thì số lao động đang làm việc trong các
ngành kinh tế của tỉnh tăng dần hàng năm: năm 1997 có 370.778 người, năm 1999
có 383.458 người, năm 2000 có 388.903 người và năm 2003 có 407.682 người. Song,
nếu so với nguồn lao động, thì tỷ lệ lao động đang làm việc trong các ngành
kinh tế lại giảm dần từ 89,05% năm 1997 xuống 87,63% năm 2003.
Tuy nhiên, nếu xem xét cụ thể số lao động đang làm việc trong
các ngành kinh tế của từng huyện, thị từ khi tái lập tỉnh đến nay thì ta thấy:
nhìn chung số lao động này của thị xã Phủ Lý và các huyện Duy Tiên, Thanh Liêm,
Bình Lục tăng dần hàng năm; còn của Kim Bảng và Lý Nhân lại giảm dần.
Cùng với sự tồn tại chưa bố trí của các năm trước, số lượng
đông đảo người trong độ tuổi có khả năng lao động đang không có việc làm (thất
nghiệp) - chiếm 2,68% nguồn lao động năm 1999 và 1,02% nguồn lao động năm 2003
- đang gây một áp lực lớn đối với vấn đề giải quyết việc làm. Một đặc điểm nữa
của nguồn lao động trong tỉnh là tỷ lệ nữ trone độ tuổi lao động chiếm khoảng
51% và số người hết tuổi lao động thấp hơn nhiều so với số người đến tuổi lao động
(xem cơ cấu dân số theo tuổi) càng làm tăng thêm áp lực và tính phức tạp trong
việc giải quyết việc làm của tỉnh.
2. Trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật của lao động
Theo số liệu của Sở Khoa học và Công nghệ Môi trường tỉnh Hà
Nam: năm 2002, toàn tỉnh có 167.827 người có trình độ từ trung học phổ thông trở
lên, chiếm 21,15% tổng số dân toàn tỉnh. Trong đó số dân có trình độ phổ thông
trung học là 147.733 người, số dân có trình độ cao đẳng là 13.796 người, số dân
có trình độ đại học là 5.836 người và số dân có trình độ trên đại học là 461
người. Tổng số đại học và trên đại học chiếm 3,75% số người có trình độ từ
trung học phổ thông trở lên của tỉnh.
Tuy vậy, số lao động có trình độ chuyên môn cao lại phân bố tập
trung ở thị xã Phủ Lý. Toàn thị xã có 23.613 người (33,72% số dân) có trình độ
từ trung học phổ thông trở lên, cao hơn rất nhiều so với bình quân chung toàn tỉnh.
Đặc biệt, số người có trình độ chuyên môn khoa học kỹ thuật cao tập trung với số
lượng tương đối lớn: đại học - 2.215 người (chiếm 37,95% số người có trình độ đại
học của tỉnh), trên đại học - 380 người (chiếm 82,43% số người trên đại học của
tỉnh). Tổng số người có trình độ đại học và trên đại học chiếm tới 10,99% số
người có trình độ từ trung học phổ thông trở lên của thị xã.
Huyện Duy Tiên là nơi có nguồn lao động dồi dào nhất tỉnh.
Toàn huyện có 24.356 người (18,95% số dân) có trình độ từ trung học trở lên.
Tuy vậy, lại không có lao động nào có trình độ trên đại học, chỉ có 462 người
có trình độ đại học, 1.292 người có trình độ cao đẳng và 22.602 người có trình
độ phổ thông trung học. Số người có trình độ đại học trở lên chỉ chiếm 1,90% số
người có trình độ từ trung học phổ thông trở lên của huyện.
Huyện Kim Bảng là nơi có 31,84% diện tích đất là đất lâm nghiệp
và mật độ dân số thấp nhất tỉnh, nhưng số người có trình độ từ trung học trở
lên chiếm 20,65% số dân toàn huyện (24.959 người). Toàn huyện có tới 27 người
có trình độ trên đại học và 676 người có trình độ đại học. Tổng số người có
trình độ từ đại học trở lên chiếm 2,82% số người có trình độ từ trung học trở lên
của huyện.
Huyện Thanh Liêm là nơi có tiềm năng lao động lớn, nhưng hiện
nay toàn huyện chỉ có 23.275 người (17,69% số dân) có trình độ từ trung học trở
lên. Huyện này cũng không có lao động nào có trình độ trên đại học. Nhưng số
người có trình độ cao đẳng và đại học nhiều gấp hai lần huyện Duy Tiên, với số
lượng tương ứng là 2.111 và 953 người. Số người có trình độ đại học chiếm tới
4,09% số người có trình độ từ trung học phổ thông trở lên của huyện.
Huyện Lý Nhân có 36.365 người (19,32% số dân) có trình độ từ
trung học trở lên; trong đó số có trình độ trung học phổ thông là 31.862 người,
cao đẳng là 3.563 người, đại học là 896 người và trên đại học là 44 người. Tổng
số người có trình độ đại học và trên đại học chiếm 2,58% số người có trình độ từ
trung học trở lên của huyện.
Huyện Bình Lục có 35.259 người (22,87% số dân) có trình độ từ
trung học trở lên; trong đó số có trình độ trung học phổ thông là 32.705 người,
cao đẳng là 1.910 người, đại học là 634 người và trên đại học là 10 người. Tổng
số người có trình độ đại học và trên đại học chiếm 1,83% số người có trình độ từ
trung học trở lên của huyện.
Như vậy, trong 6 huyện, thị xã thì huyện Duy Tiên và huyện
Bình Lục có tỷ lệ người có trình độ từ đại học trở lên rất thấp.
Về trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động của tỉnh Hà Nam
ta thấy: năm 2000, toàn tỉnh có 430.577 người từ đủ 15 tuổi trở lên tham gia hoạt
động kinh tế thường xuyên, chiếm 53,33% tổng số dân của tỉnh. Trong đó, 361.939
người không có chuyên môn kỹ thuật, chiếm 84,06%; số người có trình độ sơ cấp
là 8.246 người, chiếm 1,92%; số công nhân kỹ thuật không có bằng là 18.511 người
- chiếm 4,30%; số công nhân kỹ thuật có bằng là 19.156 người, chiếm 4,45%;
trung hoc chuyên nghiệp có 16.782 người, chiếm 3,90% và số cao đẳng, đại học trở
lên có 5.943 người, chiếm 1,38% tổng số người từ đủ 15 tuổi trở lên tham gia hoạt
động kinh tế thường xuyên trong tỉnh. Như vậy, nếu chỉ tính số lao động được
đào tạo có bằng từ công nhân kỹ thuật trở lên thì toàn tỉnh Hà Nam có 41.881
người, chiếm 9,73% tổng số người từ đủ 15 tuổi trở lên tham gia hoạt động kinh
tế thường xuyên trong tỉnh. Trong khi đó, tỷ lệ này của cả nước là 11,73%. Còn
của đồng bằng sông Hồng là 15,94%.
Nếu xét về cơ cấu lao động có bằng trong toàn tỉnh thì thị xã
Phủ Lý đứng thứ nhất, chiếm 21,28%. Tiếp đến là huyện Lý Nhân - 20,30%, huyện
Bình Lục - 17,31%, huyện Kim Bảng - 15,04%, huyện Thanh Liêm - 12,15% và cuối
cùng là huyện Duy Tiên - 13,93%.
Nếu xét về tỷ lệ lao động được đào tạo có bằng cấp theo huyện,
thị thì thị xã Phủ Lý là đơn vị có số lao động được đào tạo có bằng cấp chiếm tỷ
lệ cao nhất tỉnh, số lao động này chiếm tới 27,50% số lao động từ đủ 15 tuổi trở
lên tham gia lao động thường xuyên của thị xã. Tiếp đến là huyện Bình Lục, tỷ lệ
này chiếm 9,21%; huyện Kim Bảng - 9,15%; huyện Lý Nhân - 8,06%; huyện Duy Tiên
- 7,94% và cuối cùng là huyện Thanh Liêm - 7,10%. Những số liệu này được tổng hợp
trong bảng sau:
3. Phân bố lao động theo lãnh thổ
Năm 2003, số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế
chiếm 49,87% tổng số dân của tỉnh. Nếu xét theo huyện, thị thì huyện Thanh Liêm
có tỷ lệ lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế so tổng số dân của huyện
cao hơn các huyện, thị khác trong tỉnh, chiếm 50,90% tổng số dân toàn huyện.
Trong những năm tới, số người bước vào tuổi lao động khá nhiều. Điều này chứng
tỏ rằng, huyện Thanh Liêm có lực lượng lao động rất dồi dào.
Tiếp đến là thị xã Phủ Lý, số lao động đang làm việc trong
các ngành kinh tế của thị xã chiếm 50,48% tổng số dân thị xã. Trong những năm tới
số người bước vào tuổi lao động của thị xã không nhiều. Hơn nữa, Phủ Lý là
trung tâm chính trị, kinh tế,văn hoá, khoa học kỹ thuật của tỉnh đang trên đà
phát triển, Vì vậy trong những năm tới chắc chắn sẽ thiếu lao động.
Huyện Duy Tiên có số lao động đang làm việc trong các ngành
kinh tế chiếm 50,45% tổng số dân của huyện; huyện Kim Bảng là 50,07%; huyện Lý
Nhân là 49,43% và huyện Bình Lục có số lao động đang làm việc trong các ngành
kinh tế chiếm 48,55% tổng số dân của huyện.
Tuy lực lượng lao động dồi dào như vậy nhưng phân bố không đồng
đều giữa các huyện, thị trong tỉnh. Một điều đáng chú ý là có sự thay đổi lớn
trong phân bố lao động theo lãnh thổ. Năm 1997, số lao động đang làm việc trong
các ngành kinh tế tại thị xã Phủ Lý chỉ chiếm 4,83% tổng số lao động đang làm
việc trong các ngành kinh tế của tỉnh. Đến năm 2003, số lao động đang làm việc
trong các ngành kinh tế của thị xã tăng lên, chiếm 9,35% tổng số lao động này
trong tỉnh. Trong khi đó, tỷ lệ lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế
của mỗi huyện so tổng số đang làm việc trong các ngành kinh tế toàn tỉnh đều giảm.
4. Lao động đang làm việc chia theo khu vực kinh tế
Sự phân bố lao động theo khu vực kinh tế gắn liền với việc chuyển
đổi cơ chế quản lý kinh tế của tỉnh. Năm 1995, lao động đang làm việc trong các
ngành kinh tế của tỉnh có 362.660 người. Trong đó, lao động thuộc khu vực kinh
tế Nhà nước quản lý có 15.476 người, chiếm 4,27%; lao động thuộc các thành phần
kinh tế khác (tập thể, liên doanh, cá thể...) quản lý có 347.184 người, chiếm
95,73% tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân của tỉnh
Hà Nam. Năm 2003, lao động thuộc khu vực kinh tế Nhà nước quản lý tăng lên
21.581 người, chiếm 5,29%; lao động do các thành phần kinh tế khác quản lý có
386.101 người, chiếm 94,71% tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh
tế quốc dân của tỉnh.
Xét theo các ngành kinh tế trong tỉnh thì số lao động thuộc
khu vực kinh tế Nhà nước năm 2003 được phân bố như sau: ngành giáo dục và đào tạo
có số lượng nhiều nhất - 8.054 người, chiếm 37,32% tổng số lao động trong khu vực
kinh tế Nhà nước và 84,42% lao động trong ngành. Điều này chứng tỏ rằng, lao động
trong khu vực kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong mọi hoạt động của
ngành giáo dục và đào tạo. Tiếp đến là công nghiệp chế biến có 4.182 người, chiếm
19,38% tổng số lao động trong khu vực kinh tế Nhà nước nhưng chỉ chiếm 10,74%
lao động trong ngành. Như vậy, trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, lao động của
kinh tế tập thể và cá thể chiếm ưu thế. Lao động thuộc khu vực Nhà nước của
ngành y tế và hoạt động cứu trợ xã hội có 1.694 người, chỉ chiếm 7,85% tổng số
lao động khu vực kinh tế Nhà nước, nhưng chiếm tới 65,66% tổng số lao động của
ngành.
Đặc biệt, Hà Nam là một tỉnh thuần nông, nền kinh tế phát triển
chủ yếu dựa vào nông nghiệp nhưng lao động thuộc khu vực kinh tế Nhà nước chỉ
có 989 người, chiếm 4,58% tổng số lao động trong khu vực Nhà nước và 0,33% lao
động trong ngành nông, lâm nghiệp. 99,67% lao động hoạt động trong ngành nông,
lâm nghiệp thuộc khu vực kinh tế tập thể và cá thể.
5. Lao động làm việc chia theo ngành nghề kinh tế và cấp quản
lý
Năm 2003, toàn tỉnh Hà Nam có 407.682 người đang tham gia lao
động trong các ngành kinh tế quốc dân. Ngành có số lượng lao động đông nhất là
ngành nông, lâm nghiệp, có 296.924 người, chiếm 72,83% tổng số người đang tham
gia hoạt động kinh tế trong tỉnh; trong đó, lao động ngoài khu vực kinh tế Nhà
nước có 295.935 người (chiếm 99,67% tổng số lao động toàn ngành), còn khu vực
kinh tế Nhà nước chỉ có 989 người (chiếm 0,33% tổng số lao động toàn ngành).
Trong số lao động toàn ngành nông, lâm rmhiệp thì trung ương quản lý 173 người
(chiếm 0,06%) và địa phương quản lý 296.751 người (chiếm 99,94%). Tiếp đến là
ngành công nghiệp chế biến có 38.950 lao động, chiếm 9,55% tổng số người tham
gia hoạt động kinh tế của tỉnh; trong đó: lao động trong khu vực kinh tế Nhà nước
có 4.185 người (chiếm 10,74% lao động toàn ngành), trung ương quản lý 1.740 người
(chiếm 4,47%) và địa phương quản lý 37.210 người (chiếm 95,53%).
Đứng thứ 3 về số lượng là nhóm ngành thương nghiệp, sửa chữa
xe có động cơ - 23.867 người (chiếm 5,84% tổng số lao động đang làm việc trong
các ngành kinh tế của tỉnh), trong đó: lao động trong khu vực kinh tế Nhà nước
chiếm 6,44%; trung ương quản lý 371 người (chiếm 1,54%); ngành xây dựng có
10.400 lao động, chiếm 2,55% tổng số lao động đang làm việc của tỉnh; trong đó:
lao động trong khu vực kinh tế Nhà nước chiếm 12,23% và trung ương quản lý
2,93%; ngành giáo dục đào tạo có 9.540 người (chiếm 2,29% tổng số người tham
gia hoạt động kinh tế), trong đó: lao động khu vực Nhà nước chiếm 84,42%; địa
phương quản lý 9.315 người, chiếm 97,64% lao động toàn ngành.
Bên cạnh đấy, hầu hết số lao động tham gia trong các ngành
kinh tế như: ngành thuỷ sản; sản xuất phân phối điện, nước; khách sạn và nhà
hàng; các hoạt động liên quan đến kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn; y tế và
hoạt động cứu trợ xã hội; hoạt động văn hoá thể thao; hoạt động Đảng, đoàn thể
và hiệp hội; hoạt động phục vụ cá nhân và cộng đồng... đều do địa phương quản
lý. Cụ thể, số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân của tỉnh
phân bố theo khu vực kinh tế và cấp quản lý như sau:
Tỷ trọng lao động trong nông nghiệp trong những năm gần đây
có xu hướng tăng. Đại bộ phận lao động tập trung vào các ngành trồng trọt, nhất
là trồng cây lương thực để giải quyết vấn đề ăn. Lao động chăn nuôi trong khu vực
tập thể giảm. Nếu kể cả chăn nuôi gia đình thì có tăng, nhưng tốc độ còn chậm,
chưa đáp ứng được yêu cầu và còn thấp nhiều so với tiềm năng của tỉnh.
Phân bố lao động trong lâm nghiệp chưa chú trọng vào khâu trồng
rừng, tu bổ và cải tạo rừng. Do vậy lao động lâm nghiệp mới chỉ chiếm tỷ trọng
rất thấp trong tổng số lao động. Vì vậy vấn đề đặt ra là phải khôi phục, tu bổ,
tái tạo vốn rừng, thực hiện phương thức nông lâm kết hợp. Đồng thời phải chọn lọc
các loại cây có hiệu quả kinh tế cao... Có như vậy mới sớm phục hồi được vốn rừng,
tạo tiềm năng cho nghề rừng phát triển và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái
chung cho toàn vùng Bắc Bộ.
Phân bố lao động trong khu vực phi sản xuất vật chất tăng
nhanh ở khu vực hành chính, quản lý Nhà nước. Những ngành trực tiếp phục vụ sản
xuất như nghiên cứu khoa học, quản lý kinh tế - xã hội chưa được đầu tư phát
triển một cách thoả đáng nên năng suất lao động chưa cao.
6. Số người chưa có việc làm - thất nghiệp
Người thất nghiệp là người từ đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm
dân số hoạt động kinh tế, mà trong tuần lễ trước điều tra không có việc làm
nhưng có nhu cầu làm việc.
Theo Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hà Nam, tỷ lệ thất nghiệp ở
khu vực thành thị của toàn tỉnh năm 2000 là 6,98% tổng số dân từ đủ 15 tuổi trở
lên hoạt động kinh tế hoặc 7,11% so với số dân trong độ tuổi lao động hoạt động
kinh tế. Với lực lượng lao động nữ, các tỷ lệ này là 7,09% và 7,18%. Trong khi
đó, ở khu vực thành thị cả nước, các tỷ lệ tương ứng là 6,37%; 6,44% và 6,19%;
6,26%. Điều này chứng tỏ ở khu vực thành thị của Hà Nam, tỷ lệ người thất nghiệp
cao hơn bình quân chung của cả nước.
Tỷ lệ số lao động đã qua đào tạo từ sơ cấp, học nghề trở lên
thất nghiệp chiếm 1,53% trong trong số lao động đã qua đào tạo nói chung ở khu
vực thành thị của tỉnh. Trong đó, lao động được đào tạo ở trình độ trung học
chuyên nghiệp ngành tài chính có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất - 26,09%; tiếp đến
là lao động đã qua dạy nghề ngành sửa chữa máy móc thiết bị cơ khí - 25,98%;
lao động đã qua dạy nghề ngành dệt may - 13,33%; cao đẳng sư phạm trung học cơ
sở - 7,43%. Thấp nhất là trung học kế toán - 2,85%.
Tại khu vực nông thôn, tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng
của dân số từ đủ 15 tuổi trở lên tham gia hoạt động kinh tế thường xuyên trong
12 tháng qua tính đến thời điểm điều tra của cả tỉnh là 72,60% (cả nước là
73,86%), trong 6 huyện, thị xã có 2 huyện, thị đạt tỷ lệ cao hơn, đó là: thị xã
Phủ Lý - 81,77% và huyện Thanh Liêm - 75,43%; một huyện đạt trên 74% là huyện
Duy Tiên. Các huyện còn lại tỷ lệ ở mức 70% - 72% là Lý Nhân - 70,25%; Kim Bảng
- 71,79% và Bình Lục - 72,04%.
Tính chung cho khu vực nông thôn của toàn tỉnh, tỷ lệ thời
gian lao động đã được sử dụng của số lao động có hoạt động kinh tế chính trong
12 tháng qua là trồng trọt mới đạt 60,28% (cả nước tỷ lệ này là 68,01%; đồng bằng
sông Hồng là 64,13%). Trong 6 huyện, thị xã thì thị xã Phủ Lý có tỷ lệ cao nhất
- 76,34%; tiếp đến là Duy Tiên, Thanh Liêm, Kim Bảng đạt 60% - 61%; thấp nhất
là Lý Nhân và Bình Lục đạt 58% - 59%.
Theo số liệu thống kê, vào thời điểm 1/7/2003, nguồn lao động
của tỉnh Hà Nam có 465.242 người, trong đó: số trong tuổi lao động có khả năng
lao động là 423.064 người và số ngoài tuổi lao động có tham gia lao động là
42.178 người. Vào thời điểm này, số người trong độ tuổi lao động có khả năng
lao động đang không có việc làm (thất nghiệp) là 4.730 người, chiếm 1,02% tổng
nguồn lao động của tỉnh hoặc 1,12% tổng số người trong tuổi lao động có khả
năng lao động.
7. Đánh giá chất lượng và tình hình sử dụng nguồn lao động
Tại Hà Nam, năm 2000, lao động ở khu vực thành thị có 43.245
người, chiếm 8,95% tổng số lao động, còn lại 91,05% lao động ở khu vực nông
thôn - 440.119 người. Hiện nay, cơ cấu lực lượng lao động chia theo khu vực
thành thị, nông thôn đang chuyển dịch theo hướng: tăng tỷ trọng lực lượng lao động
ở khu vực thành thị và giảm tỷ trọng lực lượng lao động nông thôn trong tổng lực
lượng lao động nói chung của cả tỉnh (thời điểm 1/1/1999, lực lượng lao động ở
Hà Nam được chia ra như sau: thành thị chiếm 6,12%; nông thôn chiếm 93,88%).
Lực lượng lao động trẻ (từ đủ 15 tuổi đến 34 tuổi) tiếp tục
tăng thêm cả về số lượng và tỷ trọng trong tổng lực lượng lao động nói chung của
toàn tỉnh; lực lượng lao động cao tuổi tiếp tục giảm cả về số lượng và tỷ trọng.
Lực lượng lao động đã qua đào tạo từ sơ cấp/học nghề trở lên
còn chiếm tỷ lệ thấp trong tổng lực lượng lao động nói chung của tỉnh. Năm
2000, số lao động qua đào tạo có bằng chỉ chiếm 9,73% tổng số lao động hoạt động
kinh tế thường xuyên của tỉnh. Lao động được đào tạo ngành nghề hàng năm có tăng
càng gây sức ép tìm kiếm việc làm cho người lao động.
Số người trong tuổi lao động ở khu vực thành thị không có việc
làm trong nền kinh tế quốc dân còn chiếm tỷ trọng lớn (7,11%); tỷ lệ lao động
được sử dụng nói chung ở khu vực nông thôn mới đạt 72,60%. Tuy Hà Nam có nhiều
cố gắng trong lĩnh vực dạy nghề và giải quyết việc làm, nhưng với đặc điểm là một
tỉnh thuần nông, công nghiệp và dịch vụ phát triển yếu, vì vậy giải quyết việc
làm cho các đối tượng vẫn là vấn đề bức xúc. Dư thừa lao động vẫn là bài toán đặt
ra cho các nhà kinh tế Hà Nam trong những năm tới.
Cơ cấu lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc
dân chia theo ngành kinh tế của toàn tỉnh đã có sự dịch chuyển khá rõ rệt theo
hướng công nghiệp hoá. Đường lối phát triển kinh tế - xã hội do những Đại hội Đảng
toàn quốc trong những năm gần đây đề ra đã và đang tạo ra những chuyển biến
trong cơ cấu lao động và cơ cấu sử dụng lao động trong các ngành kinh tế. Lao động
trong khu vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại... ngày
càng tăng. Lao động trong khu vực nông nghiệp ngày càng giảm. Đây là xu hướng tất
yếu đang diễn ra ở Hà Nam nói riêng và cả nước cũng như các nước đang phát triển
nói chung.
III. MỨC SỐNG DÂN CƯ HIỆN NAY
1. Chỉ tiêu lương thực bình quân đầu người
Nhờ tổng sản lượng lương thực có hạt hàng năm tăng nên sản lượng
lương thực có hạt bình quân đầu người trong tỉnh cũng tăng lên qua các năm. Tại
Hà Nam, nếu như năm 1995 đạt bình quân 447 kg/người/năm thì đến năm 2003 đã đạt
bình quân 501 kg/người/năm. Trong khi đó, bình quân chung của cả nước là 363,1
kg/người vào năm 1995 và 462,9 kg/người vào năm 2003.
Nếu xét theo đơn vị hành chính thì huyện Bình Lục và huyện
Duy Tiên luôn có mức bình quân lương thực đầu người rất cao. Năm 2003, lương thực
có hạt bình quân đầu người của huyện Bình Lục đạt 612 kg/người; huyện Duy Tiên
là 598 kg/người. Tiếp đến là huyện Thanh Liêm đạt 552 kg/người; huyện Kim Bảng
đạt 529 kg/người, huyện Lý Nhân đạt 409 kg/người và thị xã Phủ Lý, nơi có bình
quân lương thực đạt thấp nhất tỉnh là 184 kg/người.
Là một tỉnh có giá trị sản xuất nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng
lớn trong GDP; trong những năm tới, Hà Nam vẫn xác định nông nghiệp là mặt trận
hàng đầu, tiếp tục đầu tư, tập trung cao cho nông nghiệp phát triển ổn định, vững
chắc làm cơ sở để phát triển công nghiệp, dịch vụ, đồng thời từng bước nâng cao
đời sống nhân dân trong tỉnh, ở địa phương nào cũng thấy xuất hiện các mô hình
công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, nhằm đưa chuyển dịch cơ cấu
kinh tế lên tầm cao mới, làm tiền đề để phát triển công nghệ, dịch vụ, du lịch.
Từ năm 1996 trở lại đây, tỷ trọng giá trị sản xuất nông, lâm,
ngư nghiệp có xu hướng giảm. Trong khi đó tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp
và xây dựng có xu hướng tăng. Điều này chứng tỏ việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ở Hà Nam đang diễn ra nhưng còn chậm.
Năm 2002, toàn tỉnh có 77 hộ có trang trại nhưng tập trung chủ
yếu ở huyện Kim Bảng - nơi mà diện tích đất lâm nghiệp chiếm tới 32% tổng diện
tích đất toàn huyện - 41 hộ; huyện Bình Lục có 24 hộ. Trong khi đó, huyện Thanh
Liêm có 8 xã miền núi thì lại không có trang trại nào.
2. Nhà ở
Về nhà ở, năm 2002 toàn tỉnh Hà Nam có 186.976 căn nhà, trong
đó có 49.058 nhà được xây kiên cố, 125.470 nhà bán kiên cố và 12.448 nhà không
kiên cố. Nhìn toàn cảnh, phổ biến nhất là loại nhà bán kiên cố được xây dựng ở
khắp nơi và chiếm tỷ trọng trên 60%, còn loại nhà không kiên cố (tranh, tre, nứa,
lá...) chiếm tỷ trọng không nhiều - 6,66%. Địa phương có tỷ trọng nhà kiên cố
cao nhất là thị xã Phủ Lý - 35,24% (tỷ trọng này của tỉnh là 26,24%), tiếp đến
là huyện Kim Bảng - 28,91%; huyện Thanh Liêm - 27,76%; huyện Duy Tiên - 24,54%;
huyện Bình Lục - 24,30% và cuối cùng là huyện Lý Nhân - địa phương có tỷ trọng
nhà kiên cố thấp nhất tỉnh - 22,98%. Hiện nay toàn tỉnh đang phấn đấu xoá bỏ
nhà tranh tre nứa lá.
3. Các điều kiện, tiện nghi sinh hoạt khác
Năm 2002, toàn tỉnh có 198.676 hộ được dùng điện (chiếm
98,70%); 2.615 hộ chưa dùng điện (chiếm 1,13% tổng số hộ trong tỉnh). Số hộ
dùng điện trong tỉnh phân bố như sau: huyện Lý Nhân chiếm nhiều nhất (23,46%);
tiếp đến là huyện Bình Lục (19,45%); huyện Thanh Liêm (16,83%); huyện Duy Tiên
(16,33%); huyện Kim Bảng (15,59%) và cuối cùng là thị xã Phủ Lý (8,34%).
Tuy nhiên, nếu tính theo huyện, thị thì huyện Bình Lục có số
hộ chưa dùng điện chiếm tỷ lệ cao nhất, số hộ này chiếm 2,45% tổng số hộ trong
huyện; sau đấy là huyện Kim Bảng (2,16%); thị xã Phủ Lý (1,75%). Các huyện còn
lại, tỷ lệ này chiếm dưới 1%.
Hiện nay, nước dùng cho sinh hoạt của người dân trong tỉnh được
cung cấp từ nhiều nguồn. Toàn tỉnh có 27 công trình cấp nước tập trung, phân bố
như sau: thị xã Phủ Lý - 2; Kim Bảng - 18; Thanh Liêm-2; Lý Nhân-1 và Bình Lục-4.
Riêng huyện Duy Tiên không có công trình nào.
Tỉnh Hà Nam có 201.291 hộ gia đình, trong đó có khoảng 13.000
hộ được dùng nước từ nguồn cấp nước tập trung; 127.545 hộ dùng nước giếng (chiếm
63,36% tổng số hộ trong tỉnh), các hộ còn lại dùng nước từ những nguồn khác (nước
sông, nước mưa...).
Số hộ dùng nước từ nguồn cấp nước tập trung sống chủ yếu ở thị
xã Phủ Lý và huyện Kim Bảng, chiếm khoảng 82% tổng số hộ được cung cấp từ nguồn
nước này. Trong số hộ dùng nước giếng thì có 50.777 hộ dùng nước từ giếng đào
có thành xây hợp vệ sinh (39,81% tổng số hộ dùng nước giếng); 17.778 hộ dùng nước
từ giếng đào có thành xây chưa hợp vệ sinh (13,94%); 49.354 hộ dùng nước giếng
khoan (38,69%); còn lại là các hộ dùng nước giếng khác.
Ngoài điện, nước là những điều kiện cần thiết cho cuộc sống;
do kinh tế phát triển, mức sống được nâng cao, nhiều hộ gia đình đã mua sắm những
tiện nghi đắt tiền, phục vụ cho cuộc sống tinh thần và phát triển kinh tế gia
đình như: toàn tỉnh có 548 hộ có ô tô; 22.802 hộ có xe máy; 7.402 hộ có điện
thoại; 128.545 hộ có tivi; 41.594 hộ có đầu video và 149 hộ có máy tính. Các hộ
có những tiện nghi này được phân bố theo các huyện, thị như sau:
Trong nhiều năm qua, công tác quản lý Nhà nước về y tế ở Hà
Nam ngày càng được tăng cường và có chiều sâu. Đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế từ
tỉnh đến cơ sở được củng cố, kiện toàn cả về số lượng và chất lượng. Các đơn vị
y tế làm tốt công tác quản lý các bệnh xã hội như lao, phong, tâm thần và mổ giải
phóng mù lòa cho bệnh nhân.
Bên cạnh đó, tiếp tục duy trì kết quả thanh toán bệnh bại liệt
và loại trừ bệnh phong trên quy mô toàn tỉnh. Hiện nay, mạng lưới y tế cơ sở
thôn xóm, công tác vệ sinh phòng bệnh được triển khai rộng rãi tại cộng đồng từ
các hoạt động vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, đến vệ sinh lao động,
vệ sinh trường học... Công suất sử dụng giường bệnh tuyến tỉnh đạt 97%, tuyến
huyện đạt 95%. Các trạm y tế cơ sở đã làm tốt công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu
tại cộng đồng, thực hiện khám và điều trị ngoại trú cho người bệnh có thẻ bảo
hiểm y tế tại 76/116 xã, phường, thị trấn trong toàn tỉnh. Đến nay, tỷ lệ bác sỹ
công tác tại trạm y tế cơ sở đạt 60%; 90% thôn xóm, đội sản xuất có nhân viên y
tế.
Ngoài những bệnh viện, phòng khám đa khoa, bệnh viện đông y của
tỉnh Hà Nam được thành lập với quy mô 50 giường bệnh. Bên cạnh việc chữa bệnh
cho nhân dân trong tỉnh, bệnh viện còn đẩy mạnh hoạt động sản xuất thuốc và đã
có nhiều sản phẩm được phép lưu hành toàn quốc.
5. Sự phân hóa giàu - nghèo trong dân cư
Đến nay, các khu công nghiệp lớn ở Hà Nam chưa nhiều. Hơn 60
làng nghề thủ công truyền thống ở các huyện đang gặp khó khăn trong khâu tiêu
thụ sản phẩm. Tuy vậy, sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế... vẫn tiếp tục có bước
phát triển.
Đời sống vật chất, tinh thần nhân dân trong tỉnh có nhiều cải
thiện và đổi mới. Bộ mặt nông thôn với cơ sở hạ tầng điện, đường, trường, trạm
ngày một phát triển: ánh sáng điện về làng; ô tô, xe máy về tận xóm; loa, đài,
tivi mang văn hoá, văn minh về từng hộ... Đó là những thành tựu đáng tự hào,
minh chứng cho những thay đổi mang tính cách mạng của tỉnh Hà Nam. Đã mãi mãi
đi vào dĩ vãng cái cảnh “chiêm mất đằng chiêm, mùa mất đằng mùa”; “bóng thuyền
thấp thoáng vờn trên vách, sóng nước long bong vỗ trước nhà” của nông thôn Hà
Nam.
Theo chuẩn mới áp dụng cho 5 năm (2001 - 2005) thì hộ nghèo
có mức thu nhập bình quân đầu người 1 tháng theo giá hiện hành như sau:
- Nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 80.000 đồng
- Nông thôn đồng bằng: dưới 100.000 đồng
- Thành thị: dưới 150.000 đồng
Theo chuẩn này, tỉnh Hà Nam đã tiến hành điều tra đánh giá hiện
trạng hộ nghèo, kết quả cho thấy: năm 2002, toàn tỉnh có 36.420 hộ nghèo chiếm
18,09% tổng số hộ trong tỉnh. Trung bình mỗi hộ có 4 nhân khẩu, như vậy, năm
2002 ước tính tỉnh Hà Nam có khoảng 158.440 người nghèo.
Số hộ nghèo này nằm chủ yếu ở 3 huyện: Lý Nhân chiếm tỷ lệ
28,11% tổng số hộ nghèo trong tỉnh; Kim Bảng - 21,25% và Thanh Liêm - 19,84%.
Hai huyện chiếm tỷ lệ thấp hơn là huyện Duy Tiên - 14,15% và huyện Bình Lục -
12,61%. Thị xã Phủ Lý chiếm tỷ lệ số hộ nghèo thấp nhất tỉnh - 4,06%.
Nếu tính tỷ lệ hộ nghèo theo huyện/thị thì ta thấy: huyện có
tỷ lệ số hộ nghèo cao nhất là huyện Kim Bảng - 24,45% tổng số hộ trong huyện;
tiếp đến là huyện Lý Nhân (21,82%), Thanh Liêm (21,45%), Duy Tiên (15,83%),
Bình Lục (11,59%) và cuối cùng là thị xã Phủ Lý (8,75%).
Qua 3 năm triển khai thực hiện chương trình quốc gia xoá đói,
giảm nghèo bằng các dự án: di dân phát triển vùng kinh tế mới, chương trình
khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, chương trình làm kinh tế theo mô hình VAC,
chương trình hỗ trợ người nghèo về giống vốn, kiến thức, kinh nghiệm làm ăn...
của các đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội đã giúp cho hàng vạn người nghèo
đói vươn lên hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng. Vì vậy, năm 2002, trong tỉnh Hà
Nam không còn hộ đói; tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn 18,09%. Hiện nay toàn tỉnh đang phấn
đấu hạ thấp tỷ lệ các hộ nghèo xuống còn 10% vào năm 2005 (theo chuẩn mới).
IV. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DÂN SỐ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LAO ĐỘNG
TRONG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH ĐẾN NĂM 2010
Từ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, hướng phát triển dân
số và sử dụng nguồn lao động trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Hà Nam giai đoạn 2001 - 2010 tập trung vào các nội dung sau:
- Phát triển hợp lý dân số, mà trước mắt là ổn định
tốc độ tăng tự nhiên 1,08% cho toàn tỉnh.
- Hình thành cơ cấu, chất lượng dân số và nguồn
lao động phù hợp với quy mô cơ cấu kinh tế của tỉnh; nâng cao chất lượng lao động,
đào tạo công nhân kỹ thuật và cán bộ chuyên môn; tăng nhanh tỷ trọng lao động kỹ
thuật trong dân số và nguồn lao động.
- Tạo việc làm cho người lao động bằng việc đẩy
nhanh việc khai thác các tiềm năng kinh tế, phát triển sản xuất, mở rộng liên kết
kinh tế với bên ngoài và tỉnh bạn, trong đó chú trọng phương thức vốn, xây dựng
cơ sở hạ tầng, đảm bảo nguyên vật liệu...
- Đẩy mạnh phân bố sử dụng nguồn lao động theo
các ngành kinh tế, tạo sự ổn định theo hướng tích cực là tăng dần lao động công
nghiệp (bao gồm cả tiểu thủ công nghiệp), lao động trong lĩnh vực phi sản xuất
vật chất, đặc biệt là những ngành trực tiếp phục vụ sản xuất như nghiên cứu
khoa học, ứng dụng... và phục vụ con người (y tế, giáo dục, văn hoá, phục vụ
công cộng...)
- Thực hiện tốt việc phân bố lại lao động theo
các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế quốc doanh đóng vai trò nòng cốt, đặc
biệt trong ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, đổi mới cơ chế quản lý, nâng cao năng suất
lao động xã hội. Kinh tế tập thể và kinh tế gia đình sẽ là khu vực lớn nhất thu
hút nguồn lao động tăng lên hàng năm. Còn kinh tế tư nhân (tiểu chủ và cá thể)
có quy chế và chính sách hướng dẫn sự phát triển nhằm phát huy tính tích cực và
tận dụng nguồn vốn, tận dụng trang thiết bị kỹ thuật, kinh nghiệm kinh doanh,
quản lý... nhằm đóng góp vào phát triển kinh tế và giải quyết việc làm cho người
lao động.
- Đẩy mạnh phân bố lao động theo lãnh thổ, thực
hiện tốt chiến lược phát triển dân số và phân bố lại dân cư, lao động của cả nước;
nhằm sử dụng, khai thác đầy đủ hợp lý các tiềm năng tự nhiên, kinh tế của tỉnh.
V. HỆ THỐNG QUẦN CƯ
1. Lịch sử hình thành các điểm quần cư trên lãnh thổ Hà Nam
Cùng với sự ra đời sớm của cộng đồng người Việt là sự xuất hiện
sớm các loại hình quần cư cư trú trên toàn bộ lãnh thổ đất nước. Trong sự hình
thành và phát triển của cộng đồng dân tộc đi đôi với sự tiến lên của lực lượng
sản xuất, từ các điểm quần cư cư trú rời rạc, phụ thuộc vào thiên nhiên và mang
nặng tính chất xã hội truyền thống ban đầu, đã hình thành từng bước một hệ thống
quần cư quốc gia, phản ánh sâu sắc đặc điểm môi trường bao quanh, đặc điểm kinh
tế - xã hội, tâm lý và tập quán sinh hoạt từng địa phương cùng với bản sắc văn
hóa chung.
Làng xã là đơn vị tụ cư, đơn vị kinh tế - xã hội, đơn vị hành
chính cơ sở của xã hội Việt Nam. Đó là nơi sản sinh và bảo tồn những giá trị
văn hoá dân tộc. Hai từ: một Nôm (làng), một Hán - Việt (xã), được dùng phổ biến,
cùng có chung một khái niệm - đơn vị tổ chức cơ sở. Cùng một khái niệm này, còn
có nhiều từ ngữ khác (như lý, hương, ấp, trang, giáp...) tùy thuộc vào từng thời
kỳ lịch sử, địa phương, quá trình khai thác đất đai và tụ cư, quy mô tổ chức...
Từ thế kỷ X, khi mới giành quyền tự chủ, hương được đổi thành
giáp. Thời Lý - Trần, đơn vị giáp, hương còn thấy ghi khá nhiều trong sách vở,
bia đá, chuông đồng. Từ thế kỷ XV trở về sau, các từ xã, thôn ngày càng phổ biến
trong văn bản, giấy tờ. Trong khi đó, cho đến đầu thế kỷ XX, trong ngôn từ của
người dân, mỗi khi nói về quê hương, chốn cư ngụ, vẫn thường nói làng này, làng
kia, hơn là thôn này, xã nọ. Từ làng in đậm dấu ấn trong ý nghĩ, tình cảm, ngôn
ngữ thường ngày hơn các từ xã, thôn. Từ giữa thế kỷ XX trở về sau, qua nhiều
thay đổi trong tổ chức cơ sở, từ làng ít được nhắc tới, và từ hầu như thống nhất
được dùng nhiều trong lời nói và văn bản là xã.
Tên làng xã phản ánh địa hình, khung cảnh thiên nhiên, môi
trường sinh thái của khu vực cư trú: rừng núi, sông biển, nơi cao, nơi thấp (Đọi
Sơn, Mộc Bắc, Mộc Nam, Tân Sơn, Liên Sơn...). Chúng ghi lại những nét đặc trưng
của phong vật địa phương (Châu Giang, Ngọc Sơn...). Tên làng xã cũng thể hiện sự
tiếp nhận những khái niệm đạo đức của Nho giáo như: Công Lý, Đức Lý, Đạo Lý,
Nhân Đạo, Nhân Chính, Tiến Thắng, Hoà Hậu...
Tổ chức xã hội và hình thái cư trú của người Việt rất chặt chẽ.
Thôn xóm, làng xã, phố phường xếp đặt theo một trật tự thống nhất về truyền thống
nhưng đa dạng theo từng địa phương. Mật độ cư trú và hình thế làng gắn liền với
nền kinh tế lúa nước, nghề thủ công và nghề đánh cá, đi sông, trồng rừng.
Ngày nay, đất nước ta đã bước sang thời kỳ phát triển mới
cùng với quá trình đô thị hoá nảy sinh trong công cuộc công nghiệp hoá đang chi
phối sự vận động của hai loại hình quần cư cơ bản là nông thôn và đô thị.
2. Sự phân bố các điểm quần cư ở Hà Nam
Với 89,13% cư dân sống ở nông thôn, hoạt động chủ yếu trong
nông nghiệp, lâm nghiệp và tiểu thủ công nghiệp truyền thống, các loại hình quần
cư ở nông thôn Hà Nam giữ vị trí nổi bật trong hệ thống quần cư thống nhất của
đất nước. Các loại hình đó vừa gắn liền với đặc điểm tự nhiên, đặc điểm sản xuất
của từng địa phương, vừa phản ánh đặc thù văn hoá của cộng đồng người cư trú tại
địa phương đó. Ở Hà Nam, sự khác biệt địa phương thể hiện rõ nét trong các loại
hình cư trú truyền thống tại đồng bằng, trung du và miền núi.
Trong từng khu vực địa lý cư trú lại có sự khác biệt giữa nơi
này với nơi khác. Ngày nay các loại hình cư trú truyền thống đó đang biến đổi mạnh
mẽ. Một số yếu tố mới và loại hình cư trú mới đang xuất hiện làm cho diện mạo
cư trú nông thôn Hà Nam càng trở nên phong phú và đa dạng hơn.
Trên địa bàn tỉnh Hà Nam không có ấp, bản; chỉ có thôn, làng,
xóm. Theo quyết định số 590 ngày 24/7/2000 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Nam thì
khái niệm làng, xóm tương đương với thôn nên gọi chung là thôn.
Hiện nay toàn tỉnh có 1.206 thôn, trong đó: thị xã Phủ Lý có
48 thôn; Duy Tiên - 162 thôn; Kim Bảng - 197 thôn; Thanh Liêm - 204 thôn; Lý
Nhân - 341 thôn và huyện Bình Lục có 254 thôn.
Vì thôn được hình thành từ xa xưa theo địa hình tự nhiên,
không có sự thống nhất nên quy mô của các thôn khác nhau. Thôn có số dân đông
nhất trong tỉnh là thôn Nhất, xã Bạch Thượng, huyện Duy Tiên: 2.915 nhân khẩu.
Thôn có số dân thấp nhất trong tỉnh là thôn An Ninh, xã Vũ Bản, huyện Bình Lục:
52 nhân khẩu (tên thường gọi là xóm trại An Ninh).
Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có 100 tổ dân phố, nằm chủ yếu
ở các thị xã, thị trấn, cụ thể: thị xã Phủ Lý - 89 tổ dân phố; huyện Duy Tiên -
07 tổ; huyện Lý Nhân - 03 tổ và huyện Thanh Liêm - 01 tổ. Tổ dân phố có số dân
đông nhất trong tỉnh là tố 11B phường Lương Khánh Thiện thị xã Phủ Lý: 1.372
nhân khẩu. Tổ dân phố có số dân thấp nhất trong tỉnh là tổ 19 phường Lê Hồng
Phong thị xã Phủ Lý: 71 nhân khẩu (phường Lê Hồng Phong mới thành lập năm 2000;
tổ 19 gồm toàn cán bộ viên chức).
Căn cứ vào chức năng sản xuất khác nhau mà tất cả các điểm
dân cư đó (thôn xóm, tổ dân phố) được chia thành các loại quần cư, đó là loại
hình cư trú nông thôn và loại hình cư trú thành thị.
2.1. Các loại hình quần cư nông thôn
Theo kết quả thống kê của các huyện, thị tại thời điểm
1/7/2000, Hà Nam có 807.312 người. Trong đó: thành thị có 87.767 người, chiếm
10,87%; nông thôn có 719.545 người, chiếm 89,13% tổng số dân toàn tỉnh.
Trong loại hình cư trú nông thôn, dân cư thường tham gia sản
xuất nông - lâm - ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp với các ngành nghề truyền thống
có từ lâu đời như trồng lúa nước, chăn nuôi gia súc và gia cầm, đánh bắt và
nuôi trồng thuỷ sản, các ngành nghề thủ công mỹ nghệ...
Việc tạo ra đầy đủ những phương tiện vật chất cần thiết để
cho các ngành sản xuất đó vận hành và ngày càng phát triển, cũng như việc hình
thành các ngành sản xuất mới, duy trì các ngành nghề truyền thống của địa
phương, đưa dân vào chuyên môn hoá và phát triển tổng hợp... đã làm cho mối
giao lưu kinh tế giữa các ngành nghề, giữa các địa phương ngày càng phát triển;
tăng cường các mối liên kết kinh tế, nhu cầu của thị trường và cùng với nó là sự
phát triển của mạng lưới giao thông vận tải giữa các vùng nông thôn với nhau,
nông thôn với thành thị sẽ giữ vai trò quyết định cho sự hình thành cơ cấu kinh
tế trong loại hình nông thôn.
2.1.1. Loại hình cư trú truyền thống ở đồng bằng
Hà Nam là địa bàn cư trú chủ yếu của người Việt. Tại đây người
Việt (Kinh) cư trú tập trung thành từng làng, theo trật tự dày đặc. Mỗi làng là
một điểm dân cư với những chức năng kinh tế - xã hội bắt nguồn từ chế độ công
xã nông thôn ra đời khá sớm trong lịch sử Việt Nam. Các làng mạc thường tập
trung ven các dòng sông hoặc trên các đống đất cao. Làng, xã thường có quy mô
khác nhau về dân số. Nhỏ nhất là vài trăm người, trung bình đến ba bốn nghìn
người, cũng có khi lên tới hơn một vạn người. Những điểm quần cư này phù hợp với
nền nông nghiệp cổ truyền mà đặc điểm chủ yếu là sản xuất lúa nước, thủ công
nghiệp gắn liền với hoạt động nông nghiệp hoặc dưới hình thức hoạt động phụ
trong những thời gian nông nhàn hoặc đã trở thành độc lập, chuyên môn hoá một
hay vài sản phẩm nhất định (thêu ren, đan lát, dệt, rèn, mỹ nghệ truyền thống,
thậm chí một bộ phận nhất định của một sản phẩm hàng hoá như khung nón, nắp bồ,
tấm tre đan).
Một số thôn tập hợp thành một xã, được coi là tế bào hành
chính cơ sở trên lãnh thổ. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, làng xã người
Việt đã giữ một vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp sức người, sức của
cho đất nước, giữ vững cốt cách văn minh dân tộc, không bị chao đảo khi kẻ thù
âm mưu đồng hoá. Làng xã, đó là bộ khung tạo hình cho diện mạo nông thôn Việt
Nam qua ngàn đời kế tiếp nhau, một nông thôn cơ bản là khép kín với một nền
kinh tế tự túc.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội hiện nay,
ở nông thôn, làng xã đồng bằng đã và đang thay đổi mạnh mẽ về quy mô, cấu trúc
và hình thái. Từ những điểm nhỏ, làng xã đang được tổ chức lại thành những cấu
trúc lãnh thổ mới. Nhà cửa được xây cất cao ráo, thoáng mát hơn, với những vật
liệu bền hơn. Nhiều công trình công cộng, kinh tế, văn hoá xuất hiện như nhà
kho, sân phơi, trạm phát điện, trạm bơm, xưởng chế biến nông sản, sửa chữa công
cụ, cửa hàng mua bán và tín dụng, trường học và nhà văn hoá, nhà trẻ, sân vận động,
trạm xá.
Trung tâm xã thường là trụ sở uỷ ban nhân dân cùng với nhà
văn hóa và cơ sở giáo dục, y tế. Mạng lưới đường giao thông trong làng, xã cũng
từng bước được cải tạo và mở rộng cho xe thô sơ và cơ giới đi lại. Một khung cảnh
nông thôn mới với bờ vùng, bờ thửa, hệ thông kênh rạch, đường giao thông được
quy hoạch lại với những hàng cây thẳng tắp và nhà cửa được ngói hóa cơ bản. Đó
là cảnh quan văn hoá mới của nông thôn Hà Nam sau chiến tranh, một nông thôn mở
cửa dần để đón đời sống hiện đại.
Tuy nhiên, trong từng loại hình cư trú truyền thống ấy của đồng
bằng, tùy thuộc vào đặc điểm phân hóa tự nhiên, lịch sử văn hóa - xã hội, cũng
có những đặc tính riêng biệt, về cơ bản chúng ta thấy nổi lên một số loại hình
sau đây:
2.1.2. Loại hình cư trú vùng trồng lúa nước.
Loại này đặc trưng cho vùng trồng lúa hai hoặc ba vụ. Làng mạc
ở đây vừa theo trật tự dày, vừa có quy mô lớn và chiếm ưu thế về số lượng trong
nông thôn Hà Nam.
2.1.3. Loại hình cư trú kết hợp nông nghiệp với thủ công nghiệp.
Đây là loại hình cư trú phổ biến ở những vùng quanh đô thị và
các thị trấn với hoạt động sản xuất có tỷ trọng hàng hoá cao hơn nơi khác. Hoạt
động thủ công nghiệp khẩn trương quanh năm hoặc theo thời vụ. Quy mô làng xóm
thường lớn, nhà cửa khang trang, trật tự quần cư dày đặc có khi chen chúc dọc
theo đường làng ngõ xóm lát gạch hoặc đổ bê tông.
2.1.4. Loại hình cư trú kết hợp giữa nông nghiệp và ngư nghiệp.
Loại hình này phổ biến dọc sông, nam giới hướng ra sông đánh
cá và khai thác đặc sản, nữ giới thường hướng về đồng ruộng để trồng trọt và
chăn nuôi, tuy gần đây có tham gia vào đánh bắt thuỷ sản. Các điểm dân cư này
thường không lớn, phân bố theo tuyến dài, trên các bờ sông hoặc trên các gò cao
gần sông vừa tiện cho việc khai thác thuỷ sản phía trước, vừa tiện cho công việc
trên đồng ruộng phía sau.
2.2. Các loại hình cư trú ở trung du - miền núi
Loại hình này đặc trưng cho nền sản xuất nông lâm nghiệp kết
hợp của các cư dân cư trú tại vùng trung du và vùng núi Hà Nam, nhất là những
vùng núi sót của huyện Kim Bảng và huyện Thanh Liêm.
Nói chung các điểm quần cư theo kiểu này thường phân bố ở
trên các cánh đồng bồn địa, hoặc tập trung men theo sườn đồi, hướng về một đường
giao thông bộ hay một con suối lấy nước, hoặc rải ra theo những sườn đồi hướng
về các cánh đồng ruộng khác nhau nhưng đều gần nguồn nước và gần nơi lao động
nông lâm kết hợp.
Các làng xóm loại hình cư trú này có quy mô lớn hay nhỏ phụ
thuộc vào diện tích đất canh tác nông lâm nghiệp. Phần lớn các điểm dân cư này
có số dân hạn chế so với số dân ở các vùng đồng bằng.
Sản xuất của cư dân trong loại hình quần cư này đã theo cung
cách mới: trồng trọt, chăn nuôi, tu bổ rừng, lập vườn rừng và khai thác lâm sản.
2.3. Các điểm dân cư mới xuất hiện
Trong công cuộc bước đầu đi vào xây dựng cơ sở vật chất và kỹ
thuật của chủ nghĩa xã hội, trên phạm vi toàn tỉnh đã xuất hiện một số loại
hình cư trú mới: đó là các công trường xây dựng giao thông, công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp, quốc phòng, cùng với các điểm dân cư mới của đồng bào lên xây
dựng kinh tế mới ở trung du và miền núi.
Những làng mới ra đời như là một sự vận động tự thân cần thiết
của cộng đồng làng, xã. Trong những năm gần đây, tại Hà Nam đã xuất hiện một số
làng mới như: làng Hồng Sơn thuộc xã Thanh Sơn, huyện Kim Bảng được thành lập
vào những năm đầu của thập kỷ 80; làng thanh niên Ba Sao cũng nằm trong huyện
Kim Bảng được thành lập vào những năm đầu của thập kỷ 90...
Đặc trưng chung của các loại hình cư trú mới nêu trên là có
quy hoạch mặt bằng sản xuất, sinh hoạt với cơ cấu hạ tầng tương đối rõ nét; nhà
cửa được xây dựng theo một quy hoạch kiến trúc tổng thể, hướng về tương lai. Đời
sống đồng bào đi dần vào tổ chức, với trường học, trạm xá, nhà văn hóa, hệ thống
truyền thanh. Cơ sở sản xuất bao gồm các trạm, trại, các xí nghiệp sơ chế hoặc
tinh chế, các cơ sở sửa chữa...
Các điểm dân cư mới xuất hiện đang làm thay đổi diện mạo
cư trú ở trung du và miền núi, tác động mạnh mẽ đến các điểm cư trú truyền thống
của nhân dân, góp phần đưa miền núi từng bước đổi mới đi theo con đường xã hội
chủ nghĩa và những tiến bộ khoa học kỹ thuật trước hết làm thay đổi tầm nhìn và
cách nghĩ, cách làm. Đồng thời đó là cơ sở ban đầu trong việc phân công lại lao
động theo lãnh thổ và tiến tới “đô thị hoá” từng bước nông thôn miền núi.
2.4. Các loại hình quần cư đô thị
Về mặt quản lý theo thể chế hiện nay, trên lãnh thổ Hà Nam có
các loại hình quần cư đô thị như sau: thị xã Phủ Lý là thủ phủ, trung tâm kinh
tế, chính trị, văn hóa chính của tỉnh, do tỉnh quản lý; thị trấn thường là
trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá chính của huyện, nhưng cũng có thể chỉ là
một nơi sinh hoạt kinh tế tấp nập không phải là huyện lỵ và do huyện quản lý;
thị tứ thường là trung tâm của thôn, xã tổ chức theo kiểu thị trấn với các cơ sở
buôn bán, dịch vụ, sản xuất tiểu thủ công nghiệp và bán dịch vụ, trao đổi hàng
hóa liên xã.
Năm 2000, tỷ trọng dân cư thành thị của Hà Nam chiếm 8,89%;
nông thôn chiếm 91,11%. Còn ở Việt Nam, năm 2000 tỷ trọng dân số thành thị chiếm
23,97%, nông thôn chiếm 76,03%.
Theo thống kê năm 2002 thì Hà Nam có 1 thị xã và 6 thị trấn,
trong đó thị xã Phú Lý có 70.026 người, chiếm 68,20% tổng số dân thành thị của
tỉnh; 3 thị trấn có số dân từ 5.000 - 9.000 người (Bình Mỹ, Vĩnh Trụ, Kiện Khê)
và 3 thị trấn có số dân từ 3.000 đến dưới 5.000 người (Hoà Mạc, Đồng Văn, Quế).
Số dân đô thị toàn tỉnh là 102.678 người, chiếm 12,94% so với số dân toàn tỉnh.
Điều này chứng tỏ tỷ trọng dân cư đô thị của Hà Nam thấp hơn rất nhiều so với tỷ
trọng dân cư đô thị chung của cả nước. Nó cũng chứng tỏ rằng quá trình đô thị
hoá ở Hà Nam diễn ra chậm. Trong mạng lưới đô thị Hà Nam, đô thị trong thế phát
triển phải kể đến thị xã Phủ Lý.
Căn cứ vào chức năng chính của các đô thị là chức năng tổ chức
lãnh thổ kinh tế vùng, chúng ta có thể thấy ở Hà Nam một số loại hình đô thị
như sau:
2.4.1. Loại hình đô thị là trung tâm phức hợp kinh
tế, văn hóa, chính trị, v.v... có tầm quan trọng đối với cả tỉnh, đó là thị xã
Phủ Lý.
Thời Pháp thuộc, Phủ Lý là một thị xã nhỏ bé nằm bên bờ sông
Châu, giáp sông Đáy. Tuy gọi là thị xã, nhưng vẫn còn mang nhiều dáng dấp nông
thôn, có nhiều hồ ao, với các bụi tre, các hàng cây xoan ta có những cánh hoa
tím, có mùi thơm ngát rơi lả tả trên đường đi.
Dân số cao nhất của thị xã thời bấy giờ cũng chỉ có trên ba
ngàn người mà phần lớn ở các khu phố người Việt, làm đủ nghề, có đủ các hàng
quán, cho đến các hiệu ăn, hiệu tạp hoá, hiệu chụp ảnh, hiệu sửa xe đạp... Có 5
- 6 cửa hàng người Tàu bán tạp hoá, cân thóc gạo, bán thuốc bắc. Cả tỉnh chỉ có
một trường tiểu học, hết lớp 5, muốn học thêm phải về Nam Định hoặc Hà Nội. Gần
trường học là các dinh thự của các quan lại người Việt Nam. Cạnh đấy là một bệnh
viện nhỏ, mà cũng là bệnh viện chính của tỉnh.
Thời chống Mỹ, diện tích thị xã Phủ Lý chỉ có bốn cây số
vuông. Từ khi tái lập tỉnh (01/01/1997), thị xã trở thành trung tâm kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng và được mở mang to rộng, thoáng
đãng hơn. Sau khi có Nghị định 53/2000/NĐ-CP ngày 25/9/2000 của Chính phủ về việc
điều chỉnh địa giới hành chính, mở rộng thị xã Phủ Lý thì diện tích của thị xã
đã tăng lên 34,25km2. Trong đó diện tích nội thị chỉ chiếm khoảng 1km2, còn lại
là các xã ngoại thị.
Các xã này, ngoài việc sản xuất nông nghiệp còn phát triển
ngành nghề dịch vụ như: chế biến lương thực thực phẩm, trồng hoa cây cảnh, chăn
nuôi theo hướng công nghiệp, sản xuất vật liệu xây dựng... Các ngành nghề này
phát triển một cách tự phát và phần nào đáp ứng được yêu cầu tiêu dùng ngày
càng tăng của xã hội.
Năm 2002, giá trị tổng sản lượng nông nghiệp của thị xã đạt
25.683,906 triệu đồng; giá trị tổng sản lượng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
đạt 36.516 triệu đồng; thu ngân sách 854.443 triệu đồng; chi ngân sách
741.731,037 triệu đồng.
Hiện nay, toàn thị xã có 16.874 hộ với 70.026 nhân khẩu, trong
đó, nhân khẩu nữ có 36.893 người. Trên địa bàn thị xã có 4 hộ có trang trại,
124 hộ có ô tô, 2.383 hộ có điện thoại, 13.290 hộ có tivi, 65 hộ có máy tính.
Thị xã có 37 trạm biến áp với 39,75 km đường điện cao thế và
71,4km đường điện hạ thế. Số hộ dùng điện là 16.579, số hộ chưa dùng điện là
295.
Hệ thống giao thông được mở rộng và nâng cấp thường xuyên. Cụ
thể: đường được bê tông hóa có 12,5km; đường được nhựa hóa - 14km; đường đá hóa - 31,2km.
Về giáo dục đào tạo: Thị xã có 23 trường học. Trong đó tiểu học
có 10 trường với 158 phòng học; trung học cơ sở có 9 trường với 102 phòng học
và 4 trường phổ thông trung học (trong đó có 1 trường dân lập).
Về y tế: Toàn thị xã có 13 cơ sở y tế, trong đó: 2 bệnh viện
với 430 giường bệnh, 1 phòng khám đa khoa với 30 giường bệnh, 10 trạm y tế
xã/phường với 46 giường bệnh. Đội ngũ cán bộ y tế có 346 người làm ngành y và
49 người làm ngành dược.
Toàn thị xã có 15.464 căn nhà, trong đó: 5.450 nhà kiên cố;
9.574 nhà bán kiên cố và 440 nhà không kiên cố.
Ngoài ra, thị xã còn có 1 sân vận động khá bề thế; 2 công
trình cấp nước sạch tập trung.
2.4.2. Loại hình đô thị là trung tâm phức hợp kinh tế,
văn hóa, chính trị, v.v... có tầm quan trọng đối với huyện, đó là các thị trấn:
Hòa Mạc, Đồng Văn, Quế, Bình Mỹ, Vĩnh Trụ, Kiện Khê.
Các thị trấn này hầu hết có quy mô nhỏ, diện tích tự nhiên
khoảng từ 1,8 km2 đến 2,7 km2. Dân số cũng không lớn, từ 3.400 người đến
9.000 người.
Cơ sở vật chất của các thị trấn còn nghèo nàn. Thị trấn Bình
Mỹ có số trạm biến áp nhiều nhất - 14 trạm với 1,18km đường điện cao thế và
6,62km đường điện hạ thế; thị trấn Kiện Khê có số trạm biến thế ít nhất - 2 trạm
với 2,2km đường điện cao thế và 20km đường điện hạ thế.
Về giáo dục: trung bình mỗi thị trấn có 1 trường trung học phổ
thông; 2 trường trung học cơ sở và trường tiểu học với số lượng; lớp học không
nhiều.
Về y tế: Mỗi thị trấn (huyện lỵ) có 1 bệnh viện đa khoa với
khoảng 100 giường bệnh; các huyện có 2 hoặc 3 phòng khám đa khoa, 1 trạm điều
dưỡng với mỗi nơi khoảng 30 giường bệnh; mỗi xã/phường có 1 trạm y tế. Riêng thị
trấn Vĩnh Trụ thì không có phòng khám đa khoa nhưng số trạm điều dưỡng nhiều
hơn.
Ngoài ra, mỗi thị trấn có 1 sân vận động và hầu như không có
bể bơi (thị trấn Hòa Mạc có 1 bể bơi).
Trong loại hình cư trú ở thành thị, dân cư đô thị ở Hà Nam
ngày nay thường tham gia vào các ngành nghề chủ yếu như tiểu thủ công nghiệp,
thương mại, dịch vụ, khoa học kỹ thuật và trực tiếp sản xuất ra tư liệu sản xuất
phục vụ nông - lâm - ngư nghiệp.
2.5. Những vấn đề đô thị hóa và quá trình đô thị hóa
Quá trình đô thị hóa đã nảy sinh từ trong công cuộc công nghiệp
hóa đang chi phối sự vận động cuả hai loại hình quần cư cơ bản là nông thôn và
đô thị ngày càng đổi mới và đa dạng hoá. Hệ thống quần cư Việt Nam thống nhất
đang được định hình trên các vùng kinh tế - xã hội khác nhau.
Cho tới khi kết thúc ách thống trị của thực dân Pháp, tỷ lệ
dân thành thị ở Hà Nam không đáng kể. Trong những thập kỷ gần đây số dân thành
thị tăng lên khá nhanh do nhiều nguyên nhân kinh tế - xã hội và lịch sử. Năm
1976, tỷ lệ dân cư thành thị chiếm 2,28%; năm 2000, tỷ lệ này tăng lên 10,87%
và năm 2002 là 12,94%. Quá trình đô thị hóa đang đi lên từ từ là do kết quả tất
yếu của bước ngoặt hiện nay trong công cuộc công nghiệp hóa XHCN. Thành thị
ngày càng tỏ rõ ý nghĩa to lớn và giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc
dân và đời sống xã hội.
Trước đây Phủ Lý được ôm bọc bởi sông Đáy, sông Nhuệ và sông
Châu thì bây giờ nơi hội tụ ba con sông lại nằm gọn trong lòng thị xã. Tốc độ
đô thị hóa tăng nhanh rõ rệt. Nhà ở của công sở và nhân dân được xây dựng gọn
gàng đẹp mắt. Quốc lộ 1A - đoạn chạy qua thị xã Phủ Lý, được nắn lại thẳng tắp
và đặt tên là đường Lê Hoàn, nối liền với chiếc cầu kiên cố mới bắc qua sông
Châu ngày đêm tấp nập người, xe qua lại.
Chợ Trấn nằm bên bờ sông Châu từng bị hủy diệt nặng nề trong
chiến tranh, nay được xây dựng lại khang trang, to, rộng. Nhiều đường phố của
thị xã Phủ Lý ngày càng sầm uất, cải tạo nâng cấp khá tốt.
Một số công sở của tỉnh và khu dân cư của thị xã được bố trí
sang cả phía bờ phải sông Đáy. Công ty xi măng Bút Sơn, một công ty xi măng mạnh
của ngành xi măng Việt Nam cách thị xã Phủ Lý khoảng 6 km về phía Tây. Quần thể
thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa Đền Trúc - Ngũ Động Sơn, Chùa Bà Đanh
- Núi Ngọc... thuộc huyện Kim Bảng, cách thị xã
Phủ Lý không xa là tiềm năng du lịch của tỉnh.
Tại các thị trấn huyện lỵ, quá trình đô thị hóa tuy đã bắt đầu
nhưng diễn ra còn chậm.
Có thể nói, thị xã Phủ Lý cũng như 5 huyện khác của tỉnh Hà
Nam đã và đang có những chuyển động mới, xuất hiện nhiều nhân tố tích cực, nhằm
góp phần nhanh chóng đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh lên cao
hơn nữa, xứng đáng với tiềm năng và sức bật của địa phương.
Chương IX
HÀ NAM TỪ THỜI TIỀN SỬ ĐẾN THẾ KỶ X
I. DẤU TÍCH CON NGƯỜI SINH SỐNG ĐẦU TIÊN TRÊN ĐẤT HÀ NAM
Các nhà địa chất qua tư liệu cổ sinh đã đưa ra kết luận về
quy mô phát triển của các thời kỳ biển tiến trong thời kỳ Đệ tứ kỷ ở đồng bằng
Bắc Bộ và nhận định: “Có thể ghi nhận, trong thời kỳ Đệ tứ kỷ ở đồng bằng
Bắc Bộ đã có ba thời kỳ biển tiến. Quy mô phát triển của mỗi thời kỳ có khác
nhau, thời kỳ sau phát triển rộng hơn thời kỳ trước. Điều đó cho thấy, ở đồng bằng
Bắc Bộ khó có thể tìm thấy các địa điểm khảo cổ thời đá cũ và đá giữa từ phía
nam sông Đuống ra biển. Vì vùng này đang bị các trầm tích của biển Holocene giữa
cũng như các thành tạo lục địa tương ứng vùi lấp ở các độ sâu tới vài mét, tới
30m đến 40m; và có thể nằm sâu hơn nữa về phía nam” (1).
(1). Đỗ Văn Tự - Biển tiến Pleistocene muộn ở
đồng bằng Bắc Bộ, trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm
1985; Nxb.Khoa học xã hội. H. 1986. tr. 17 - 18
Hà Nam là một trong những vùng đất trầm tích trẻ của châu thổ
Bắc Bộ, cho nên các di tích khảo cổ thời tiền sử được phát hiện ở Hà Nam cho đến
nay đều là những di chỉ thuộc thời đại đá mới: như hang Chuông mang đặc trưng
văn hoá Hoà Bình, hang Gióng Lở mang đặc điểm rõ nét của văn hoá hậu kỳ đá mới
đầu thời đại đồ đồng... Hai di chỉ khảo cổ này đều thuộc dải sơn khối đá vôi ở
xã Thanh Nghị (huyện Thanh Liêm). Di chỉ Hang Chuông nằm trong địa phận thôn
Thanh Bồng (xã Thanh Nghị), được tiến hành thám sát năm 2001, hiện vật thu được
trong hang gồm: công cụ chặt thô hình mai rùa, có vết ghè đẽo ở rìa cạnh, cùng
một số mảnh tước và hạch đá. Hang Gióng Lở thuộc núi Chùa, thôn Bồng Lạng (xã
Thanh Nghị). Năm 1986, người dân thôn Bồng Lạng đã phát hiện một chiếc cuốc đá
dưới độ sâu khoảng 1m. Chất liệu làm cuốc đá là sa thạch, hạt mịn, màu sáng nhạt.
Vào năm 2001, Viện Khảo cổ học Việt Nam cùng Bảo tàng Hà Nam đào hố thám sát gần
nơi đã phát hiện cuốc đá năm 1986 và cũng đã tìm thấy một chiếc cuốc có hình
dáng, chất liệu tương đồng, nhưng kích thước nhỏ hơn. Ngoài ra còn phát hiện
thêm một số công cụ khác như bàn nghiền, chày nghiền... Dấu vết bếp lửa cũng đã
được phát hiện ở một số di chỉ, xung quanh bếp đã tìm thấy xương động vật hoặc
công cụ có vết đen do lửa cháy tạo thành. Những dấu vết và hiện vật của người
nguyên thủy được phát hiện ở huyện Thanh Liêm đều thuộc nền văn hóa Bắc Sơn.
Ảnh: wikipedia
Những di tích này cho thấy dấu tích của người nguyên thuỷ đã
xuất hiện tại Hà Nam vào hậu thời kỳ đồ đá mới cách nay khoảng trên dưới 5.000
năm. Có học giả cho rằng sự xuất hiện của cư dân làm lúa nước tại Hà Nam, bắt
nguồn từ hai luồng di cư của tộc người Tày cổ từ phía Bắc xuống và của tộc người
Mã Lai cổ hay Nam đảo từ biển ngược sông vào. Bên cạnh đó, có thể do sự “bùng nổ
dân số” từ sơ kỳ thời đại kim khí nên đã bắt đầu có cư dân xuống trồng cấy ở
vùng chiêm trũng và khi đó đã có một số làng chài - nông nghiệp ở ven chân núi
cận kề sông và trũng. Họ là những phần tử “tiên phong” khai thác châu thổ Bắc Bộ (2).
(2). Trần Quốc Vượng: Việt Nam cái nhìn địa - văn
hóa. Nxb.Văn hoá dân tộc. TC.Văn hóa nghệ thuật. H. 1998.
Cư dân thuộc văn hóa Hòa Bình ở Hà Nam cũng như cư dân thuộc
văn hóa này được phát hiện trong các di chỉ khảo cổ học ở Hà Tây, Hòa Bình,
Thanh Hóa, Lai Châu, Sơn La, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Ninh... thường sống
thành bộ lạc, ở trong các hang động và mái đá thuận lợi cho việc cư trú. Họ thường
chọn những hang thấp gần sông, gần suối, hang của họ thường tập trung từng cụm
từ 3, 4 hang đến 10 hang vây quanh một thung lũng. Đất đai mầu mỡ, sông ngòi
nhiều nước là điều kiện thuận tiện cho việc trồng trọt các loại lúa nước. Trong
thời kỳ tiếp theo, cư dân thuộc văn hoá Bắc Sơn trong các di chỉ phát hiện ở Hà
Nam cũng như cư dân Bắc Sơn các vùng khác đã tiến hành chế tác đồ gốm. Các nhà
khoa học cho rằng sự xuất hiện đồ gốm là một cái mốc để phân chia thời đại đá
cũ với thời đại đá mới. Đồ gốm xuất hiện đã khiến cho cuộc sống của cư dân Bắc
Sơn được cải thiện, nhất là trong việc chế biến thức ăn hàng ngày.
II. KHU VỰC HÀNH CHÍNH VÀ CƯ DÂN HÀ NAM THỜI KỲ VĂN HÓA ĐÔNG SƠN
Vào thời Hùng Vương, Hà Nam thuộc vùng đất của bộ Giao Chỉ
(thuộc Bắc Bộ ngày nay) gồm các huyện Duy Tiên, Kim Bảng, Thanh Liêm, Bình
Lục và một phần đất của huyện Lý Nhân. Khi quốc gia Âu Lạc được
thành lập (khoảng thế kỷ III trước Công nguyên) trên cơ sở hợp thành giữa Tây
Âu và Lạc Việt, đất đai của Hà Nam cùng các vùng khác được phát triển về hướng
đông. Cư dân Hà Nam cùng với cư dân cả nước từ những vùng hoang vu rậm rạp, đầm
lầy tiến về xuôi theo triền các con sông Hồng, sông Đáy... tìm về những dải đất
cao ráo, tiến hành khai hoang lập ấp, tạo dựng nên nơi cư trú. Họ đã cần mẫn
lao động “một nắng hai sương”, dũng cảm chống lại mọi hiểm nguy của thiên
nhiên, ác thú để tồn tại và phát triển. Họ đã tạo cho chính mình một cuộc sống
ngày càng dễ chịu hơn và một nền văn hoá mang tính bản địa.
Trong thời kỳ văn hóa Đông Sơn, với sự hình thành phát triển
của quốc gia Văn Lang và sau này là Âu Lạc, cư dân Hà Nam đã cùng với cư dân cả
nước, đạt tới một trình độ lao động và văn hóa khá cao thể hiện rõ nét trên những
sản phẩm đồ đồng được phát hiện trên khắp miền Bắc, Việt Nam, từ vùng biên giới
phía Bắc như Lào Cai, Tuyên Quang tới Quảng Bình. Di tích văn hoá Đông Sơn tập
trung tại lưu vực ba dòng sông lớn là sông Hồng, sông Mã, sông Lam, được phân bố
trên một diện rộng bao gồm cả ở miền núi lẫn đồng bằng cho tới ven biển. Những
nơi phát hiện di tích văn hoá Đông Sơn thường ở những vùng đất cao, các chân đồi,
ven sông suối, là vùng thuận tiện cho việc cư trú, đi lại của người nguyên thuỷ.
Trong số những hiện vật đồ đồng, tiêu biểu nhất cho văn hoá
Đông Sơn là trống đồng. Theo sách Hậu Hán thư, cho đến những năm sau Công
nguyên, viên tướng Mã Viện vẫn còn tìm mọi cách thu cho được nhiều trống đồng
phương Nam. Chắc hẳn trống đồng phương Nam vừa đẹp lại có giá trị kinh tế cao,
nên Mã Viện mới “say sưa” vơ vét đến vậy. Hà Nam là một trong những tỉnh có số
lượng trống đồng được phát hiện nhiều nhất tại Việt Nam. Theo thống kê tính đến
năm 2001, trên địa bàn tỉnh Hà Nam đã phát hiện được 18 chiếc trống đồng cổ hầu
hết thuộc loại HI sớm muộn, chỉ có 1 chiếc thuộc loại HIV theo phân
loại của học giả Herger. Trong đó trống đồng Ngọc Lũ theo đánh giá của nhiều
chuyên gia trong, ngoài nước là chiếc trống có kích thước lớn nhất với đường
kính mặt 79cm, cao 63cm, niên đại cổ nhất (cách ngày nay khoảng trên 3.000 năm)
và hoa văn trang trí đẹp nhất.
Bên cạnh trống đồng thì các sản phẩm làm từ đồng để phục vụ
cho đời sống hàng ngày của cư dân Đông Sơn như rìu đồng, giáo đồng, dụng cụ sản
xuất nông nghiệp... cũng đã được tìm thấy tại Hà Nam (3).
(3). Mai Khánh: Rìu đồng Duy Tân (Hà Nam) - Những
phát hiện mới về khảo cổ học năm 2001. Nxb Khoa học và xã hội, 2002. tr.
327-328.
Trong đó, phải kể đến thạp đồng, một loại đồ dùng là sản
phẩm độc đáo của cư dân Đông Sơn. Tính đến năm 2001, trên địa phận tỉnh Hà Nam
đã tìm thấy 9 chiếc thạp đồng (4).
(4). Hà Văn Phùng: Thạp đồng Đông Sơn ở Việt Nam -
Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2001. Nxb Khoa học xã hội, 2002,
tr. 375-378.
Ngọc Hoa: Phát hiện hai chếc thạp đồng ở Bình Lục,
Hà Nam -Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1999. Nxb Khoa học
xã hội. H. 2000, tr. 336 - 337.
Việc phát hiện chiếc “nhíp gặt lúa” bằng đồng tại Đọi
Sơn (huyện Duy Tiên) được đoán định thuộc di vật thời đại Hùng Vương, khẳng định
rõ hơn tình hình sản xuất nông nghiệp đương thời với những công cụ sản xuất đã
đạt tới một trình độ khá phát triển.
Các hình ảnh khắc trên trống đồng Ngọc Lũ và một số trống đồng
và đồ đồng khác cùng thời như: hình chim, hình lông công, mặt trời, cảnh giã gạo,
múa hát, cảnh bơi thuyền và cảnh vui hội mùa... được miêu tả rất sinh động, phản
ánh tình hình xã hội cùng đời sống của cư dân đương thời. Đồng thời cũng thể hiện
kỹ thuật trong các nghề thủ công như đúc đồng, điêu khắc đạt tới một trình độ
cao. Trên cơ sở nắm vững được kỹ thuật luyện kim, đúc đồng mà nền nông nghiệp
lúa nước cổ truyền của cư dân Việt cổ có điều kiện phát triển lên một bước mới.
Mộ thuyền tập trung tại các vùng trũng của Hà Nam cũng chỉ rõ
cuộc đấu tranh gian khổ của nhân dân Hà Nam thời xưa đối với sự khắc nghiệt của
thiên nhiên, đặc biệt là nạn lụt lội của vùng ô trũng hạ lưu sông Hồng. Tính đến
đầu thế kỷ XXI, Việt Nam đã phát hiện khoảng gần 20 di tích mộ quan tài hình
thuyền, được xác định thuộc văn hoá Đông Sơn. Tập trung nhất là vùng đồng bằng
trũng của sông Hồng, sông Đáy và sông Nhuệ, bắt đầu từ các huyện phía nam Hà
Tây như Thanh Oai, Ứng Hòa, Phú Xuyên đến huyện Duy Tiên, Kim Bảng, thị xã Phủ
Lý của Hà Nam. Đặc điểm chung của hệ thống mộ thuyền được phát hiện tại những
vùng ở Hà Nam như Mộc Bắc, Đọi Sơn, Yên Bắc (Duy Tiên), Thanh Sơn (Kim Bảng),
Châu Sơn (thị xã Phủ Lý) là quan tài hình thuyền đều được làm từ thân cây gỗ xẻ
đôi theo chiều dọc và khoét sâu lòng máng cả ở tấm ván thiên và ván địa. Các
ngôi mộ đều được chôn ở vùng đất trũng ven sông và là đặc trưng địa - văn hoá của
các mộ thuyền trước sau Công nguyên thuộc văn hóa Đông Sơn.
Niên đại của những ngôi mộ thuyền tại Hà Nam bước đầu có thể
xác định vào khoảng từ thế kỷ III trước Công nguyên đến thế kỷ I sau Công
nguyên (cách ngày nay khoảng 2.300 năm đến 2.000 năm). Tục chôn cất người chết
bằng mộ thuyền có nguồn gốc từ những cư dân sống ở miền Đông Nam Á hải đảo, sau
đó theo đường biển, văn hóa mộ thuyền được hội nhập vào văn hoá Đông Sơn, ngược
theo các dòng sông du nhập vào các vùng trũng hai bên bờ sông Hồng(5).
(5). Trần Quốc Vượng: Việt Nam cái nhìn địa - văn hóa. Nxb.Văn
hóa dân tộc: TC.Văn hóa nghệ thuật; H; 1998.
Sự phổ biến của văn hóa Đông Sơn trên một khu vực rộng lớn từ
phía Bắc tới địa phận Quảng Bình cùng trình độ chung về kinh tế, chính trị, văn
hoá của cộng đồng cư dân Việt cổ đã tạo cơ sở cho phép khẳng định về một nhà nước
sơ khai của một quốc gia độc lập hình thành trong thời kỳ Hùng Vương.
Có thể nói chủ nhân xưa kia vùng đất Hà Nam, những người sống
trong thời kỳ Hùng Vương đã trải qua một quá trình chinh phục, thích ứng và từng
bước làm chủ vùng đất trũng lầy. Họ đã cùng với những người Việt cổ khác trên
khắp cả nước góp phần xây dựng nên một nền văn minh bản địa đầu tiên của dân tộc:
Đó là nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc (hay còn gọi là nền văn minh sông Hồng). Nền
văn minh này đã phát triển rực rỡ trong một thời kỳ dài, trên cơ sở của nền
kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước với một kết cấu xã hội cố kết chặt chẽ giữa
làng vùng miền quốc gia của cộng đồng cư dân Việt cổ. Những giá trị văn hóa của
nền văn minh này đã có đủ sức mạnh để tồn tại và nuôi dưỡng tinh thần độc lập
trong suốt thời gian Bắc thuộc hơn một nghìn năm sau đó, để đến khi có điều kiện
thì vùng lên kiên quyết đánh bại quân xâm lược, giành lại nền độc lập cho dân tộc.
III. CƯ DÂN HÀ NAM VỚI CÁC CUỘC KHỞI NGHĨA CHỐNG ÁCH THỐNG
TRỊ PHƯƠNG BẮC TRƯỚC THẾ KỶ X
1. Hà Nam với cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng
Năm 179 trước Công nguyên, cuộc kháng chiến giữ nước của nhân
dân Âu Lạc chống quân xâm lược Triệu Đà bị thất bại. Từ đây, quốc gia Âu Lạc
rơi vào vòng đô hộ liên tục trong nhiều thế kỷ của bọn cầm quyền phong kiến
phương Bắc. Từ khi bị Triệu Đà cùng các thế lực phong kiến phương Bắc đô hộ, xã
hội Việt cổ với kết cấu cổ truyền đã có những thay đổi to lớn. Những chính sách
tàn bạo, nhằm vơ vét của cải triệt để của kẻ xâm lược đã kìm hãm nghiêm trọng sự
phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa. Thay chân triều Tây Hán, vương triều Đông
Hán còn áp dụng những chính sách thủ đoạn hà khắc hơn, khiến cho nhân dân nước
ta càng lâm vào cảnh điêu linh.
Vào năm 34 sau Công nguyên, Hán Quang Vũ cử Tô Định thay Tích
Quang làm Thái thú Giao Chỉ. Chính các sách sử Trung Quốc khi nhận xét về Tô Định
cũng cho hay: Thái thú họ Tô là một viên quan tham lam hèn nhát. “Thái thú Tô Định
thấy tiền thì giương mắt lên, đánh giặc thì cụp mắt lại...”(6).
(6). Đông quan Hán ký. q. 12. “Mã Viện truyện”.
Chính sách nô dịch, bóc lột tàn bạo về chính trị và
kinh tế cùng chính sách áp đặt về văn hóa của vương triều Đông Hán cộng thêm
tính cách tham lam của viên quan đứng đầu họ Tô đã khiến cho lòng căm thù, tinh
thần độc lập tự chủ của dân chúng nước Việt bùng lên mãnh liệt. Khối mâu thuẫn
sâu sắc giữa người bị xâm lược với kẻ xâm lược đã phát triển tới đỉnh điểm. Đây
chính là nguyên nhân chủ yếu để nổ ra cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng vào những
năm 40 của thiên niên kỷ thứ nhất với sự tham gia của nhiều người thuộc tầng lớp
trên và đông đảo nhân dân lao động.
Theo sách Hậu Hán thư và Đại Việt sử ký toàn
thư, cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng bùng nổ vào mùa Xuân, tháng 2 năm
Canh Tý niên hiệu Kiến Vũ thứ 16 tức vào tháng 3 năm 40 sau Công nguyên. Cuộc
khởi nghĩa này được chuẩn bị chu đáo từ trong nội bộ gia đình Hai Bà Trưng; trước
hết là sự giúp đỡ, hợp sức tích cực của người mẹ là bà Man Thiện (theo truyền
thuyết có tên là Trần Thị Đoan) cùng hai người con gái là Trưng Trắc và Trưng
Nhị với chồng của Trưng Trắc là Thi Sách. Sau này khi Thi Sách bị Tô Định giết,
thì quyết tâm khởi nghĩa chống giặc Tô Định càng được tăng thêm mạnh mẽ.
Ngoài ra cuộc khởi nghĩa còn được sự ủng hộ nhiệt tình của đội
ngũ quý tộc Lạc hầu, Lạc tướng cùng dân chúng trong hai huyện đất bản bộ của
Hai Bà và Thi Sách là huyện Chu Diên và huyện Mê Linh. Mùa Xuân năm 40, khi cuộc
khởi nghĩa được khởi xướng từ vùng đất Mê Linh, lập tức có sự hưởng ứng đông đảo
của nhân dân các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố. Nhiều nơi khác
trong cả nước đã nhất tề nổi dậy. Sử sách chép: “Trưng Trắc, Trưng Nhị
hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và 65 thành trì ở Lĩnh Ngoại
đều hưởng ứng".
Cũng như đối với dân chúng của nhiều địa phương khác thuộc quận
Giao Chỉ đương thời, cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng nổ ra đã có tác động tích cực
tới dân chúng cùng các Lạc tướng, thủ lĩnh địa phương của Hà Nam. Vào thời Hán,
vùng đất Hà Nam nằm giữa lưu vực sông Đáy và sông Hồng (tức toàn bộ các huyện
Kim Bảng, Thanh Liêm, Lý Nhân, Bình Lục, Duy Tiên và thị xã Phủ Lý ngày nay)
thuộc huyện Chu Diên (quận Giao Chỉ). Viên Thái thú Tô Định tham lam tàn bạo đã
giết chồng Trưng Trắc là Thi Sách, một Lạc tướng và cũng chính là con dân người
huyện Chu Diên(7).
(7). Lịch sử Hà - Nam - Ninh, T.I; Phòng nghiên cứu lịch
sử Hà - Nam - Ninh; Hà - Nam - Ninh; 1986; tr.51.
Từ miền núi rừng các huyện Kim Bảng, Thanh Liêm đến miền đồng
bằng các huyện Duy Tiên, Lý Nhân, Bình Lục thời đó đâu đâu cũng dấy lên một
phong trào hưởng ứng và tham gia cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng khởi xướng(8).
(8). Lịch sử Hà - Nam - Ninh, T.I: tr. 55 - 57
Các thần tích và những câu chuyện kể mang tính truyền
thuyết về thân thế cùng hành trạng của các vị tướng từng tham gia cuộc khởi
nghĩa Hai Bà Trưng, chống lại ách thống trị tàn bạo của các viên quan cai trị
triều Đông Hán đã được sưu tầm tại nhiều địa phương như Duy Tiên, Kim Bảng,
Thanh Liêm... của Hà Nam. Tại thôn Dưỡng Mông, xã Tiên Phong (huyện Duy Tiên),
nữ tướng Nguyệt Nga đã tập hợp được hơn 2.000 người ngày đêm luyện võ nghệ, chờ
thời cơ nổi dậy tiêu diệt giặc Hán. Khi nghe tin Hai Bà Trưng khởi nghĩa ở Mê
Linh, Nguyệt Nga đã đưa lực lượng nghĩa quân của mình hợp sức cùng Hai Bà Trưng
đánh đuổi ngoại bang. Sau khi giành được thắng lợi, Nguyệt Nga được phái về cai
quản chính quyền tại phủ Lý Nhân(9).
(9). Lịch sử Hà - Nam - Ninh, T.I: tr. 55. Theo Lê
Xuân Quang: Thờ thần ở Việt Nam. T.I: Nxb Hải Phòng, 1995; tr. 97 -
101: Sau khi Hai Bà Trưng xưng Vương, phong cho Nguyệt Nga làm Nguyệt Nga công
chúa, lưu lại ở triều đình giúp chính sự.
Ở làng Thạch Tổ, xã Thanh Hà (huyện Thanh Liêm), cha đẻ của
Cao Thị Liên bị bọn tay chân của Thái thú Tô Định sát hại, sau Cao Thị Liên lại
bị đem về làm tỳ thiếp cho Tô Định. Để trả thù nhà đền nợ nước, Cao Thị Liên
cùng với người em con cậu là Hoàng Nghệ dấy binh chống lại giặc Hán. Hai chị em
Cao Thị Liên đã xây dựng căn cứ khởi nghĩa tại Thạch Tổ, tập hợp dân chúng đánh
giặc.
Tại Lý Nhân, một phụ nữ khác tên là Lê Thị Chân cũng giương
ngọn cờ khởi nghĩa chống quân xâm lược. Lê Thị Chân đưa quân sĩ của mình hợp sức
với lực lượng của Cao Thị Liên, nhiều lần đánh cho kẻ thù phải thất điên bát đảo
tại Châu Cầu (nay thuộc thị xã Phủ Lý). Sau đó, họ Lê và họ Cao đưa toàn bộ lực
lượng của mình tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng(10).
(10). Lịch sử Hà - Nam - Ninh, T.I: tr. 55 - 57
Có những câu truyện dân gian về nhân vật tham gia khởi
nghĩa Hai Bà Trưng mang tính huyền thoại được lưu truyền trong địa phương Hà
Nam. Đó là truyện Bà áo the tại Liễu Đôi (huyện Thanh Liêm), nơi gần với con
sông Đáy hiện còn nhiều di tích của khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Truyện kể rằng,
thuở ấy, giặc phương Bắc xâm lược nước ta, tại làng Thượng có cô gái họ Lê, đẹp
người lại có khí phách, giỏi võ kiếm, dân làng gọi cô là Tiên Thạch. Một đêm cô
thấy Thần ban cho một chiếc áo the. Sau đó cô dùng chiếc áo the thần này để giết
giặc. Theo Thần phả thì Bà áo the chính là một nữ tướng của Hai Bà Trưng (11).
(11). Khảo sát văn hóa truyền thống Liễu Đôi. Nxb. Khoa
học xã hội; H. 1981, tr. 61-62.
Tại vùng núi Lạt Sơn (huyện Kim Bảng) còn phát hiện căn cứ cố
thủ của nữ tướng Lê Chân để chống lại quân Đông Hán. Lê Chân vốn quê gốc ở
trang An Biên, huyện Đông Triều (nay thuộc xã Thủy An, huyện Đông Triều, tỉnh
Quảng Ninh). Sau khi Thái thú Tô Định sang trấn trị ở Giao Chỉ, bóc lột tàn ác,
thuộc hạ của Thái thú họ Tô cũng hoành hành ở vùng ven biển Quảng Ninh. Chúng
cưỡng bức nhiều thiếu nữ xinh đẹp của Giao Chỉ, buộc họ phải làm tỳ thiếp hầu hạ
chúng. Lê Chân - người con gái tài sắc của trang An Biên cũng bị bọn chúng tìm
cách cưỡng bức làm vợ. Nhằm tránh cái họa làm tỳ thiếp giặc, Lê Chân ôm hận thù
cha đẻ bị giặt sát hại, đã lẩn trốn sang vùng đất bãi bồi ven sông Cấm Hải
Phòng. Nàng đã chiêu tập được dân quanh vùng khai hoang lập ấp, thành lập trang
An Biên.
Khi nghe tin Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, Lê Chân đã cùng
một số tướng lĩnh chỉ huy đội quân trang An Biên hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Hai
Bà Trưng lập được nhiều chiến công. Khởi nghĩa Hai Bà Trưng giành thắng lợi to
lớn, triều đình Trưng Vương thiết lập đã thực thi một số chính sách được lòng
dân như: xóa bỏ chế độ thuế khóa của bọn đô hộ Hán, áp dụng luật tục Việt thay
cho luật Hán. Đặc biệt triều đình Trưng Vương đã giao trọng trách cho một số nữ
tướng đóng giữ những nơi xung yếu của đất nước, để ngăn chặn đường tiến công của
kẻ địch trong mưu đồ tái chiếm lãnh thổ nước ta. Bà Lê Chân được phong làm
Thánh Chân công chúa và được giao nhiệm vụ quan trọng là “Chưởng quản binh quyền
nội bộ” đóng bản doanh ở trung tâm Giao Chỉ và coi giữ vùng biển phía Đông,
Đông Bắc nước ta. Bà đã lãnh đạo đội quân phòng thủ “phên dậu phía Đông” ngăn
chặn đoàn quân xâm lược Mã Viện ngay từ khi chúng mới đặt chân vào địa đầu đất
nước theo đường biển. Theo tác giả Vũ Huy Chân trong tác phẩm Những người
không chết (12).,
(12). Ngô Đăng Lợi: Tinh thần yêu nước, truyền thống quật
cường của nhân dân Hải Phòng thời Bắc thuộc.
Nữ tướng Lê Chân còn đưa 1 đạo quân lên vùng Lạng Sơn để
tiến đánh cánh quân bộ của Mã Viện vào xâm lược nước ta. Sau những ngày tháng cầm
cự lâu dài, cuối cùng cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng bị thất bại, song nhiều tướng
lĩnh của Hai Bà Trưng vẫn ẩn náu nơi rừng núi, cùng dân chúng tiếp tục chống giặc
ngoại xâm. Bà Lê Chân bí mật đưa đoàn quân của mình tới hoạt động tại vùng Hải
Phòng - Kiến An - Hải Dương - Thái Bình - Hà Nam ngày nay. Đến cuối năm 43, vì
thế cùng lực kiệt, quân giặc bao vây ráo riết, bà đã tuẫn tiết ở Lạt Sơn, xã
Thanh Sơn, huyện Kim Bảng (Hà Nam). Nhân dân quanh vùng thương tiếc đã lập miếu
thờ bà tại Lạt Sơn, quanh năm hương khói. Sau này dân chúng ở An Biên - Hải
Phòng, Đông Triều - Quảng Ninh và Lạt Sơn - Hà Nam đều ngưỡng vọng kính cẩn tôn
xưng bà là “Thánh Mẫu” (13).
(13). Hiện còn ba tấm bia Thượng điện chùa Thập điện động
Thánh Chân, khắc năm Tân Hợi, niên hiệu Dương Đức triều vua Lê Gia Tông
(1671), Nam mô a di đà - Bia ghi công đức, khắc năm
Nhâm Tý, niên hiệu Dương Đức (1572) triều vua Lê Gia Tông (1672) và Lệ của
Họ Dương về Hội Tiên, kinh thánh về trời, khắc năm Nhâm Tý, niên hiệu
Dương Đức (1572) triều vua Lê Gia Tông (1672) tại vùng núi Thung Suối Bể, thuộc
xã Thanh Sơn huyện Kim Bảng. Nội dung ba tấm bia cung cấp nhiều tư liệu về lịch
sử Nho giáo, Phật giáo, địa danh thời Lê Trung hưng... một số căn cứ của nữ tướng
Lê Chân thời Hai Bà Trưng... Theo Lê Công Việt: Ba tấm bia cổ ở rừng núi Lạt
Sơn (Hà Nam). Thông báo Hán Nôm học năm 2000. Viện nghiên cứu Hán Nôm; H,
2001, tr. 570 - 573.
Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng diễn ra cách ngày nay đã gần hai
nghìn năm, võ công hiển hách của Hai Bà cùng các tướng lĩnh, nghĩa quân đương
thời, trong đó có sự đóng góp tích cực của nhân dân Hà Nam, mãi mãi làm vẻ vang
lịch sử nước nhà. Nhiều tấm gương tiết liệt của phụ nữ, nhân dân Hà Nam trong
cuộc khởi nghĩa Hai Bà còn được lưu truyền trong các truyền thuyết địa phương.
Năm 43 sau Công nguyên, tên tướng cáo già Mã Viện được cử sang trấn áp cuộc khởi
nghĩa Hai Bà Trưng, khi đưa quân tiến đến Hà Nam, hắn đã vấp phải sự chống trả
quyết liệt của nhân dân Hà Nam. Lực lượng quân chiến đấu do nữ tướng Nguyệt Nga
lãnh đạo đã kiên trì kháng cự quân Hán khi chúng tiến đến vùng phủ Lý Nhân,
song do vì quá chênh lệch về lực lượng, nên không thể cầm cự nổi. Nguyệt Nga phải
nhảy xuống dòng sông Châu (thuộc huyện Duy Tiên), anh dũng hy sinh(14).
(14). Lịch sử Hà - Nam - Ninh, T.I: tr. 58
Tại đền thờ Nguyệt Nga ở thôn Yên Phú, xã Nhật Tựu (huyện Kim
Bảng) còn đôi câu đối ca ngợi công lao cứu nước yên dân cùng cái chết lẫm liệt của
Bà như sau:
Hộ quốc tiêm cừu, trục Tô Định, phù Trưng vương, chân dũng tướng,
Xả sinh tựu nghĩa, lương đống khu, Yên Phú xã, hiển linh thần.
Dịch nghĩa:
Giúp nước giết thù, đuổi Tô Định, phò Trưng vương, thật là
viên dũng tướng.
Quên mình vì nghĩa, bậc lương đống, xã Yên Phú, hiển hiện bậc
linh thần.
Có nhà sử học coi hiện tượng này như một sự kiện được “lịch sử
hoá” của nữ thuỷ thần (15).
(15). Trần Quốc Vượng: Việt Nam cái nhìn địa - văn hóa,
tr. 240-241: “Thôn Dưỡng Mông, xã Tiên Phong, huyện Duy Tiên còn thờ bà Nguyệt
Nga là nữ tướng Hai Bà Trưng, người sau đó cai quản cả vùng phủ Lý Nhân: Đây là
một nữ thủy thần, được “lịch sử hóa” và được thờ ở nhiều nơi”.
Dù một số vị tướng của Hai Bà Trưng đã được “lịch sử hoá” vào
những thần núi, thần sông hay thần sấm, gọi chung là “nhiên thần”, nhưng cũng
phản ánh được một sự thật lịch sử là: sự tham gia tích cực của những cư dân sống
trên đất Hà Nam ngày nay vào cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Ven đôi bờ sông Đáy
có nhiều di tích nhất về các vị tướng của Hai Bà Trưng. Đây cũng là một minh chứng
cho giả thuyết: Có một phòng tuyến sông Đáy trong khởi nghĩa Hai Bà Trưng(16).
(16). Nguyễn Văn Trò: Di tích về cuộc khởi nghĩa Hai Bà
Trưng ở Hà - Nam - Ninh. Những Phát hiện về Khảo cổ học năm 1988; Nxb.
Khoa học xã hội; H : 1989, tr.101.
Bùi Thiết: Làng xã ngoại thành Hà Nội; Nxb.Hà
Nội; H; 1985.
Bùi Thiết: Có một phòng tuyến sông Đáy trong cuộc khởi nghĩa
kháng chiến của Hai Bà Trưng. TC. Nghiên cứu lịch sử số 4: 1983;
tr.28-37.
Nguyễn Vinh Phúc: Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng
ở Hà Nội. Nxb. Hà Nội: H; 1983.
Cho đến nay nhiều nơi ở Hà Nam vẫn còn thờ tự các vị tướng của
Hai Bà Trưng ngay trên quê hương của họ. Cũng như Hà Nội, Hà Bắc, Hà Tây và Hoà
Bình, Hà Nam là một tỉnh có nhiều di tích về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng.
Qua điều tra bước đầu, có 60 nhân vật tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng được
nhân dân Hà Nam phụng thờ ở tất cả các huyện Kim Bảng, Duy Tiên, Thanh Liêm,
Bình Lục, Lý Nhân và thị xã Phủ Lý. Điều này phản ánh một thực tế là, toàn thể
nhân dân trong vùng Hà Nam ngày nay đã dám xả thân vì sự độc lập của dân tộc,
tích cực hưởng ứng tham gia khởi nghĩa chống giặc Đông Hán do Hai Bà Trưng
lãnh đạo. Phần đông những người được thờ tự đều là những người sinh trưởng tại
vùng Hà Nam hoặc có sự gắn bó mật thiết với Hà Nam, trong số đó có một số tướng
sĩ của Hai Bà Trưng tuy sinh ra tại các địa phương khác, song đã tham gia chiến
đấu tại Hà Nam nên cũng được nhân dân Hà Nam ngưỡng mộ trước tinh thần quả cảm
của họ, mà hương khói quanh năm. Nhân dân trong một số làng của Hà Nam còn thờ
vọng các tướng lĩnh tham gia cứu nước giữ làng trong cuộc khởi nghĩa này. Hiện
nay nhiều nơi trong tỉnh Hà Nam vẫn còn giữ những tục lệ tưởng nhớ tới công đức
cùng phương pháp luyện tập quân sự của thời Hai Bà Trưng, như tục cướp cầu tại
thôn An Mông, xã Tiên Phong (huyện Duy Tiên), đấu gậy tại Đồng Mái, huyện Bình
Lục...
DANH SÁCH CÁC NHÂN VẬT THAM GIA CUỘC KHỞI NGHĨA HAI BÀ TRƯNG
ĐƯỢC THỜ TẠI HÀ NAM (*)
(*) Danh sách dựa trên tư liệu sưu tầm đến năm 2003, do Cử
nhân Mai Khánh cung cấp.
HUYỆN BÌNH LỤC
1. Ông Hướng Thiện:
thôn Đước, xã Tiêu Động.
2. Ông Võ Lược:
thôn Gòi, xã Bình Nghĩa.
3. Ông Học
Công:
-
-
4. Bà Quạt
Ngà:
-
-
5. Bà Hồng
Vân:
-
-
6. Bà Nga
Nương:
-
-
7. Bà Hồng
Nương:
-
-
8. Ba chị em họ Trương:
thôn Cát, xã Đinh Xá.
9. Bà Quỳnh Trân:
thôn Tái Kênh, xã Đinh Xá.
10. Bà Hoàng Cả:
thôn Thượng, xã Trịnh Xá.
11. Bà Hoàng
Hai:
-
-
12. Bà Hoàng Ba:
-
-
HUYỆN THANH LIÊM
13. Ông Nguyễn Phúc:
xã Liêm Tiết.
14. Ông Nguyễn Dung: thôn Văn Lâm,
xã Liêm Tiết.
15. Ông Cao Bá Vân:
xã Thanh Hà.
16. Bà Cao Thị Liên:
thôn Thạch Tổ, xã
Thanh Hà.
17. Bạch Hoa công chúa:
thôn Thạch Tổ, xã Thanh Hà.
18. Bà Liên Nương:
xã Liêm Sơn.
19. Bà Áo The:
xã Liêm Túc.
20. Bà Chân Y:
-
21. Bà Thổ Tinh:
-
22. Quỳnh Anh phu
nhân: -
23. Bà Bạch Y:
xã Liêm Thuận.
24. Bà Nương Nguyệt:
-
25. Ông Đặng Khoan Nhân: thôn Kênh Cạn, xã Thanh Lưu.
26. Ông Đặng Vạn
Phúc: -
27. Hảo Nương:
thôn Bồng Lạng, xã Thanh
Nghị.
28. Lưu
Nương:
-
29. Sơn Tinh công
chúa:
-
30. Quách Thị:
xã Thanh Phong.
31. Hoàng Mai công
chúa: -
32. Ngọc Dung công
chúa: -
33. Ngọc Dung công chúa:
thôn Thử Hòa, xã Thanh
Tân.
34. Ngọc Dung công chúa:
thôn Cổ Động, xã Thanh Hải.
35. Linh Bảo Nương:
xã Thanh Bình.
36. Ông Đốc:
-
37. Nguyễn Thị Hạnh:
-
38. Quỳnh Anh phu nhân: thị trấn Kiện Khê.
HUYỆN KIM BẢNG
39. Bà Lê Chân:
thôn Lạt Sơn, xã
Thanh Sơn.
40. Bà Thụy Nương:
thôn Đặng Xá, xã Văn Xá.
41. Ông Nguyễn Phúc Tính:
xã Lê Hồ.
42. Bà Nguyệt Nga:
thôn Khê Khẩu, xã
Kim Bình.
43. Bà Nguyệt Nga:
xã Đồng Hóa, xã Nhật
Tựu.
44. Bạch Hoa công chúa: thôn An Lạc, xã Kim
Bình.
45. Bạch Hoa công chúa: thôn Bút Phong, xã Liên
Sơn.
46. Bà Nga Nương:
thôn Nông Vụ, xã Đại
Cương.
47. Bà Liên Nương:
xã Thụy Lôi.
HUYỆN DUY TIÊN
48. Bà Nguyệt Nga:
thôn An Mông, xã Tiên Phong.
49. Bà Nguyệt Nga:
thôn Dưỡng Thọ,
50. Bà Nguyệt Nga:
thôn Yên Bảo, xã Tiên Ngoại.
51. Bà Nguyệt Nga:
thôn Yên Nộc,
52. Sơn Tinh công chúa: thôn Trịnh,
xã Duy Minh.
HUYỆN LÝ NHÂN
53. Lê Thị Chân:
54. Bà Bát Nàn:
thôn Nội, xã Đức Lý.
55. Ba anh em:
xã Hòa Hậu
- Nguyễn Mỹ Mạo
- Nguyễn Hộ Tấu
- Nguyễn Quận Nương
THỊ XÃ PHỦ LÝ
56. Cao Thị
Liên:
thôn Thượng Tổ, xã Thanh Châu.
57. Bạch Hoa công
chúa: -
58. Nguyễn Thiện:
xã Phù Vân.
59. Bà Nguyệt
Nga: thôn Hòa Lạc, xã Lam Hạ.
60. Lê Hoằng Nghị:
xã Liêm Chung.
Khởi nghĩa Hai Bà Trưng bị thất bại. Trước sự đàn áp tàn bạo
của Mã Viện, phong trào đấu tranh vũ trang của nhân dân hai quận Giao Chỉ và Cửu
Chân tạm thời lắng xuống. Chính sách nô dịch và đồng hoá của thế lực xâm lược
được đẩy mạnh hơn trước. Chính quyền đô hộ Đông Hán tại nước ta đã thực hiện những
biện pháp cải cách về chính trị và kinh tế nhằm ngăn chặn sự phản kháng của nhân
dân. Trước hết chúng xoá bỏ hoàn toàn chế độ Lạc tướng cha truyền con nối của người
Việt ở cấp huyện.
Lúc này Mã Viện đại diện triều đình đô hộ Đông Hán tiếp tục
chia nhỏ huyện Tây Vu là vùng trung tâm khởi nghĩa Hai Bà Trưng thành 3 huyện
nhỏ gồm: Tây Vu, Phong Khê và Vọng Hải. Như vậy nước ta vào cuối thời Đông Hán
về mặt hành chính gồm ba quận: Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam; có 22 huyện,
trong đó quận Giao Chỉ có 12 huyện, Cửu Chân có 5 huyện, Nhật Nam có 5 huyện.
Hà Nam vẫn thuộc khu vực huyện Chu Diên của quận Giao Chỉ(17).
(17). Viện Sử học: Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến thế
kỷ X, Nxb. Khoa học xã hội; H. 2001; tr. 256-260.
Sau khi nhà Đông Hán bị sụp đổ vào năm 219, đế chế
Trung Hoa lại lâm vào cảnh khủng hoảng thời Tam quốc (220 - 280), nước ta lại bị
nhà Ngô đô hộ.
Các triều đại phong kiến Trung Quốc như Ngô, Tấn, Nam triều kế
tiếp nhau thống trị nước ta. Chúng tiến hành mở rộng lãnh thổ của Giao Châu, lập
thêm những đơn vị hành chính mới, tăng cường hơn bộ máy thống trị, xiết chặt
hơn ách đô hộ đối với nhân dân Giao Châu. Nhà Ngô đã chia nhỏ các đơn vị hành
chính cấp quận và cấp huyện. Đến cuối thời Tam Quốc, Giao Châu gồm 6 quận, có
47 huyện(18).
(18). Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời; Nxb.
Khoa học xã hội; H; 1964: tr.57.
Như vậy từ đời Hán đến Nam triều thế kỷ VI, vùng đất Hà Nam vẫn
thuộc huyện Chu Diên, quận Giao Chỉ. Các triều đại phong kiến Trung Quốc tìm mọi
cách điều chỉnh khu vực hành chính ở Giao Châu nhằm đẩy mạnh khả năng kiểm
soát, kiềm chế nhân dân bản địa, ngăn chặn các cuộc khởi nghĩa tại đây. Cùng với
việc cải cách chính trị, cải cách kinh tế cũng được giai cấp thống trị tại Giao
Châu chú ý nhằm tăng cường vơ vét của cải, tài nguyên, các sản vật quý. Ngay
viên Thứ sử Giao Châu là Chu Thặng cũng từng dâng thư lên vua Hán trình bày
tình trạng tham nhũng của quan lại: “Giao Châu, nơi xa cách, quan lại tập
tục tham ô. Họ làm đủ điều gian trá, trưởng sử tha hồ bạo ngược, bóc lột nhân
dân” (19).
(19). Lê Trắc: An Nam chí lược, q.,7.
Người Việt thời này chịu cảnh tô thuế nặng nề, mức thu không
có quy định cụ thể. Các viên Thái thú, Thứ sử Trung Hoa càng quan tâm đến việc
tuyên truyền du nhập văn hoá, giáo dục khoa cử, chữ Hán, Nho giáo, Phật giáo.
Chính sách văn hoá, tôn giáo Hán không nằm ngoài mục đích đồng hoá nhân dân Giao
Châu. Tại vùng đất Hà Nam, nhằm phục vụ chính sách đồng hóa của mình, nhà Hán
đã thực thi biện pháp đưa người Hán sang “hỗn cư” với người Việt. Nhiều dấu
tích các ngôi mộ Hán được phát hiện ở các huyện Bình Lục, Thanh Liêm, Duy
Tiên... là những minh chứng rõ ràng.
Việc đẩy mạnh chính sách khai thác vơ vét của chính quyền đô
hộ đã hạn chế sức sản xuất phát triển, mặc dù vậy do yêu cầu chung của xã hội,
số lượng sản phẩm hàng hoá cung cấp cho xã hội của cả nước nói chung và của Hà
Nam nói riêng vẫn ngày một tăng lên. Diện tích canh tác của vùng Hà Nam ngày được
mở rộng do việc đẩy mạnh khẩn hoang và do phù sa bồi tụ hàng năm của các dòng
sông Hồng, sông Đáy. Từ thời Đông Hán trở đi, Giao Châu đã xuất hiện kỹ thuật
dùng cày để thay thế cho việc dùng cuốc. Việc cày bừa bằng trâu bò đã được mở rộng
trên khắp miền Giao Chỉ, Cửu Chân. Các công cụ bằng sắt được sử dụng phổ biến
trong lĩnh vực nông nghiệp. Các công trình thuỷ lợi cũng nhờ có các công cụ bằng
sắt mà phát triển và mở rộng hơn về quy mô cũng như diện tích. Nhân dân Giao
Châu, trong đó có dân cư vùng nước trũng Hà Nam đã tích cực tìm kiếm nhiều chủng
loại giống cây lương thực phù hợp với điều kiện địa hình nước trũng. Vào đầu
Công nguyên, vùng Giao Chỉ, Hà Nam đã xuất hiện việc cấy trồng hai vụ lúa trong
năm, sách sử Trung Quốc gọi loại lúa này là lúa Giao Chỉ(20).
(20). Lịch sử Hà - Nam - Ninh, T.I: tr.63.
Việc áp dụng kỹ thuật, công cụ mới, phát triển hệ thống
tưới tiêu, tăng cường giống mới, khiến cho năng suất lương thực, nhất là lúa gạo
tăng lên đáng kể. Nếu vào thế kỷ I trước Công nguyên, triều Tây Hán còn phải
dùng lừa, ngựa vận chuyển lương thực để cung cấp cho quan quân người Trung Hoa
đóng tại Giao Châu, thì chỉ trong một thời gian không dài, tính riêng số thuế
thu bằng thóc của chính quyền đô hộ triều Đông Hán tại Giao Châu đã đạt tới
13.600.000 hộc (tương đương 272.000 tấn thóc)(21).
(21).Viện Sử học: Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến thế
kỷ X, tr. 274.
Việc làm vườn, trồng rau mầu, cây hoa quả cũng phát triển.
Rau muống là loại cây chịu nước, được trồng phổ biến trên các ao hồ, và những
vùng ngập nước của Hà Nam. Chuối, vải, nhãn, cam... là những loại cây ăn quả nổi
tiếng của Giao Châu được các hoàng đế Trung Hoa ưa dùng. Nhãn lồng, vải thiều,
chuối tiêu, đặc biệt chuối ngự trồng tại Lý Nhân, thường là những loại được tiến
cống hàng năm(22).
(22). Lịch sử Hà - Nam - Ninh, T.I:
tr.63-64.
Nghề thủ công ở Giao Châu có những bước tiến đáng kể, kỹ thuật
đúc đồng đã suy thoái, kỹ thuật rèn sắt được đẩy mạnh. Công cụ bằng sắt thay thế
dần công cụ bằng đồng. Việc phát hiện các công cụ đồ sắt, các loại đồ gốm, có
hoa văn hình S, vặn thừng quả trám, quan tài ghép mộng trong các ngôi mộ cổ ở
xã Châu Sơn, huyện Kim Bảng (nay thuộc thị xã Phủ Lý), xã Tiêu Động, huyện Bình
Lục, dấu tích ngôi nhà sàn đầu Công nguyên (CN) tìm thấy tại Mộc Nam, huyện Duy
Tiên(23)
(23). Lịch sử Hà - Nam - Ninh, T.I:
tr.64.
Tam Mai: Dấu
tích ngôi nhà sàn đầu Công nguyên. Những phát hiện về khảo cổ học năm 1999;
NXb. Khoa học xã hội; H.2000, tr. 369-370.
Chứng tỏ nghề rèn sắt, nghề mộc, nghề gốm tại Hà Nam đã
đạt tới một trình độ khá cao. Trong số hơn một nghìn thợ thủ công có tay nghề
thuần thục bị Tôn Tư, Thái thú Giao Chỉ đưa về Trung Quốc xây kinh đô Kiến Nghiệp
(nay thuộc thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô) cho vua Ngô có thể có cả những
người thợ khéo léo của Hà Nam. Nghề thủ công truyền thống như trồng dâu chăn tằm,
dệt vải tại Dưỡng Mông, Nha Xá huyện Duy Tiên được đẩy mạnh (Lụa Nha Xá,
cá sông Lảnh). Kinh tế hàng hoá giầu hơn cũng bước đầu phát triển với mạng
lưới thương nghiệp gồm các chợ ở các vùng thôn quê, hàng phố tại các trung tâm
thành thị được hình thành.
Sự chuyển biến về chính trị, kinh tế và văn hoá giáo dục đã
làm thay đổi cuộc sống trên nhiều mặt của nhân dân Giao Châu, trong đó có nhân
dân Hà Nam. Song, ách thống trị tàn bạo cùng sự bóc lột nặng nề của ngoại bang
đã khiến cho nhiều người dân phải “lưu tán” và “vong mệnh”. Nhân dân Giao Châu
quyết không chịu sống mãi kiếp lầm than. Sau khởi nghĩa Hai Bà Trưng, tuy phong
trào đấu tranh tạm lắng xuống, song tinh thần quật khởi của cư dân Việt vẫn
bùng cháy vào những năm tiếp theo, thể hiện rõ trong các cuộc khởi nghĩa liên
tiếp suốt hai thế kỷ đầu Công nguyên. Đó là các cuộc nổi dậy của nhân dân Tượng
Lâm thuộc quận Nhật Nam vào những năm Vĩnh Nguyên thứ 12 (năm 100 sau CN), năm
Vĩnh Hoà thứ nhất (năm 136 sau CN), năm Kiến Khang (năm 144 sau CN), cuộc khởi
nghĩa của nhân dân Cửu Chân năm Vĩnh Thọ thứ 3 (năm 157 sau CN), cuộc nổi dậy của
nhân dân Giao Chỉ, Hợp Phố năm Quang Hòa thứ 18 (năm 178 sau CN), của binh lính
Giao Chỉ năm 184 sau CN.
Lực lượng khởi nghĩa của Giao Châu trong hai thế kỷ đầu CN,
đã phát triển nhanh chóng, chiếm đất, giết chết quan lại nhà Hán, buộc triều
đình Trung ương phải đem quân đến ứng cứu. Chính phong trào đấu tranh sôi động
trong những năm đầu CN đã tạo thành cơ sở vững chắc cho các cuộc khởi nghĩa
trong những thế kỷ tiếp theo. Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa do Bà Triệu (tên thật
là Triệu Thị Trinh) lãnh đạo nổ ra vào năm 248 sau CN tại núi Nưa thuộc huyện
Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cuộc khởi nghĩa này (thường gọi là khởi nghĩa Bà Triệu),
phát triển và mở rộng trên một quy mô lớn, được sự tham gia đông đảo của nhân
dân nhiều vùng miền của Nhật Nam, Cửu Đức và Cửu Chân. Chắc rằng trong lực lượng
đông đảo tham gia khởi nghĩa của Bà Triệu, có không ít con em nhân dân huyện
Chu Diên (một phần đất Hà Nam ngày nay) nô nức hưởng ứng tòng quân. Cuộc khởi
nghĩa Bà Triệu tuy cuối cùng bị thất bại, nhưng hình ảnh và ý chí chiến đấu bất
khuất của người phụ nữ núi Nưa vẫn sống mãi với thời gian và được khắc sâu
trong tâm thức dân gian. Sau khởi nghĩa Bà Triệu, phong trào đấu tranh chống giặc
phương Bắc đô hộ tại Giao Châu vẫn tiếp tục dâng cao, có tới 9 cuộc khởi nghĩa
đã diễn ra tại đây trong vòng hơn 200 năm(24).
(24). Viện lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử quân sự Việt
Nam. Nxb. Chính trị quốc gia; H. 2001, T.2. tr. 142-143.
3. Hà Nam trong cuộc khởi nghĩa Lý Bí và Triệu Quang Phục
Vào cuối thập niên ba mươi của thế kỷ VI, dưới sự thống trị của
Vũ lâm hầu Tiêu Tư, một Thứ sử triều Lương có tiếng “tàn bạo, mất lòng dân”,
tình hình Giao Châu có nhiều biến động. Mâu thuẫn sâu sắc giữa những hào
trưởng và nhân dân người Việt với chính quyền thống trị lên tới đỉnh điểm. Năm
541, Lý Bí phát động khởi nghĩa chống lại ách thống trị của triều Lương. Cuộc
khởi nghĩa đã tập trung được nhiều tướng lĩnh, hào trưởng có tài năng như Tinh
Thiều, võ tướng Phạm Tu, Lý Phục Man, tù trưởng Triệu Túc cùng con là Triệu
Quang Phục... và đông đảo nhất vẫn là những người dân lao động cực khổ của các
vùng miền đất nước như Giao Chỉ, Cửu Chân, Cửu Đức... Nhân dân Hà Nam đã hưởng ứng
và tập hợp theo đoàn quân khởi nghĩa đi dẹp giặc, nhiều lần lập công lớn. Trong
đó nhân vật tiêu biểu nhất là tướng quân Đinh Lôi. Ông người thôn Nguyễn Trung,
châu Lỵ Nhân (nay thuộc xã Liêm Phong, huyện Thanh Liêm). Cha ông là Đinh Phượng,
vốn quê ở châu Ái (Thanh Hoá), vì nghèo khổ phải đưa gia đình ra vùng Hà Nam kiếm
sống bằng nghề chài lưới.
Theo truyền thuyết, con trai của Đinh Phượng sinh ra có dáng
hình kỳ dị, “mặt đen như sắt, tiếng khóc như sấm”, vì thế Đinh công quyết định
đặt tên con là Đinh Lôi(25).
(25). Lịch sử Hà - Nam - Ninh, T.I: tr.65.
Năm 15 tuổi, Đinh Lôi mồ côi cả cha lẫn mẹ, thấy cảnh tàn bạo
của giặc xâm lược Lương đối với dân chúng nghèo khổ nên muốn dẹp loạn cứu dân.
Ông tập hợp được một đội quân khoảng vài nghìn thanh niên trai tráng quanh vùng
Lỵ Nhân, ngày đêm luyện tập, chờ thời lập công. Nhân dân cùng các hào trưởng địa
phương, kẻ giúp lương thực, người giúp khí giới cho đội nghĩa quân quê hương.
Khi nghe tin Lý Bí dựng cờ khởi nghĩa ở châu Thái Bình, ông đưa lực lượng của
mình tham gia. Thấy ông là người tài giỏi, hiểu nhiều biết rộng, Lý Bí liền cử
Đinh Lôi làm tướng. Ông mang quân hợp sức với Phạm Tu - viên võ tướng tài giỏi
của Lý Bí tiến đánh giặc Lương, lập được nhiều chiến công. Sau 3 tháng nổi dậy,
dưới sự chỉ huy trực tiếp của Lý Bí, cuối năm 541 đầu năm 542, nhân dân cùng
các hào kiệt đã đánh đuổi quan quân nhà Lương trên hầu hết các địa phương của
Giao Châu, chiếm được thành Long Biên, khiến cho Thứ sử Tiêu Tư không dám chống
cự, phải sai người mang của cải đút lót cho Lý Bí, rồi trốn chạy, lủi về Việt
châu (26).
(26). Viện Sử học: Lịch sử Việt Nam từ khởi nghĩa đến thế kỷ
X. tr. 336.
Lý Bí đặt bộ chỉ huy tại thành Luy Lâu ở Long Biên, bố
trí lực lượng phòng bị, nhằm chống sự phản công của nhà Lương. Lý Bí đưa anh
trai mình là Lý Thiên Bảo giữ miền Tân Xương (Vĩnh Phúc ngày nay), Lý Phục Man
làm Uy viễn tướng quân giữ miền Nhật Nam(27).
(27). Đỗ Đức Hùng: Tìm hiểu cuộc khởi nghĩa Lý
Bí (542-548). Luận án tốt nghiệp Đại học, khoa Lịch sử Trường Đại học
Tổng hợp, niên khóa 1969-1973. Tr.35.
Tướng quân Đinh Lôi được Lý Bí cử ra trấn trị miền Đông
Bắc nước ta (vùng Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh ngày nay). Đinh Lôi về quê
nhà bái yết từ đường, trước khi ra phòng bị miền ven biển Đông Bắc. Vào tháng 4
năm 542 và đầu năm 543, nhà Lương liên tiếp tổ chức hai lần phản công nước ta.
Lần đầu giặc Lương bị thất bại tại vùng Bắc Bộ, lần thứ hai cuộc chiến đấu chống
phản công của quân ta diễn ra quyết liệt hơn. Lý Bí mưu trí, chủ động tiến đánh
ngay trên đất của nhà Lương tại bán đảo Hợp Phố (nay thuộc Quảng Đông, Trung Quốc).
Bị bất ngờ, kẻ địch luống cuống, trở tay không kịp, quân ta giành được thắng lợi
oanh liệt, trong trận chiến đấu này tướng quân Đinh Lôi lập được nhiều công
tích lớn. Tháng 5 năm 543, vua nước Lâm Ấp ở phương Nam lại đem quân xâm lấn
vùng biển Cửu Đức (nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh). Đinh Lôi được cử đi cùng võ tướng
Phạm Tu đánh dẹp giặc Lâm Ấp, giữ yên biên cương phía Nam.
Sử nhà Lương chép: “Tháng 4, vua Lâm Ấp phá Đức Châu tấn công
Lý Bí, tướng của Lý Bí là Phạm Tu lại phá vua Lâm Ấp tại Cửu Đức, vua Lâm Ấp bỏ
chạy”. Cuộc khởi nghĩa do Lý Bí lãnh đạo trong vòng một thời gian ngắn đã
thu được thắng lợi trọn vẹn, làm chủ hoàn toàn đất nước. Tháng 2 năm 544, Lý Bí
lên ngôi Hoàng đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, dựng triều đình, cắt cử quan lại,
phong thưởng các tướng sĩ đã có công trong đó có Đinh Lôi cùng nhiều người dân
vùng Hà Nam. Năm 545, Trần Bá Tiên, mới nhậm chức Tư mã Giao Châu lại đưa quân
xâm lược Giao Châu, Lý Nam Đế cùng các tướng lĩnh và quân đội 3 vạn người đánh
giặc tại vùng địa phận huyện Chu Diên (vùng Hải Dương, Hưng Yên ngày nay). Lần
này, Đinh Lôi lại mang quân theo Lý Nam Đế tiến hành phản công quân giặc.
Sau khi Lý Nam Đế mắc trọng bệnh và từ trần tại động Khuất
Lão (nay thuộc Phú Thọ) vào năm 548, giao lại binh quyền cho Triệu Quang Phục.
Đinh Lôi lại theo Triệu Quang Phục tiếp tục tham gia chiến đấu đến thắng lợi
hoàn toàn. Do lập được nhiều công tích lớn, nên Đinh Lôi được phong làm “Sinh
thần Đại vương”, cho thực ấp tại thôn Nguyễn Trung, xã Cát Đàm, phủ Lý Nhân.
Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện tại trong tỉnh Hà Nam tổng số 19 nơi thuộc hai
huyện Kim Bảng và Thanh Liêm có đền thờ Đinh Lôi. Nhiều nơi hiện nay trên đất
Hà Nam vẫn còn thờ các nhân vật tham gia khởi nghĩa Lý Bí, như hai anh em Dương
Đức, Hồng Hán được thờ tại đình Nhân Trai, xã Đồn Xá, huyện Bình Lục; Nguyễn
Khôi được thờ tại thôn Thanh Nộn, xã Thanh Sơn, huyện Kim Bảng. Thần tích tại
đây cho biết: Nguyễn Khôi là người có khí phách, có công lớn phò tá triều Tiền
Lý, chống lại ách đô hộ của nhà Lương. Nguyễn Khôi là một vị tướng tài, góp nhiều
mưu lược trong khởi nghĩa, lại là người biết dùng đức trị để làm yên lòng dân
chúng. Tại đình Thượng Thanh Nộn còn đôi câu đối ca ngợi tài năng, mưu lược của
ông:
Quốc sơ vị hữu định thư, nam Lâm Ấp, bắc cường Lương, dĩ
thoái tam xá,
Thượng cố hậu khuyết sử, tả Phạm Tu, hữu Triệu Túc, ưng nhượng
nhất trù.
Dịch nghĩa:
Nước xưa chưa có sách ghi, nam là Lâm Ấp, phía Bắc là nhà
Lương hùng mạnh, phải ba lần thua chạy,
Trước việc chép sử còn thiếu, phía trái có Phạm Tu, phía phải
có Triệu Túc, còn phục mưu lược của ông: (chỉ Nguyễn Khôi)(28).
(28). Hồ Đức Thọ - Dương Văn Vượng: Lệ làng Việt
Nam: Nxb. Hà Nội; H. 1999, tr. 35 - 36.
Triệu Quang Phục lại tiếp tục sự nghiệp của Lý Bí chống giặc
Lương. Sau khi quân Lương thua chạy, đất nước được giải phóng khỏi ách thống trị
ngoại bang, Triệu Quang Phục lên ngôi vua, đóng đô tại Long Biên xưng là Triệu
Việt Vương. Trong cuộc khởi nghĩa này, cùng với nhân dân trong cả nước, nhiều
tướng lĩnh và nhân dân Hà Nam tích cực tham gia chiến đấu dưới ngọn cờ kháng
chiến của Triệu Quang Phục. Hiện còn đền thờ Triệu Quang Phục tại bốn thôn
trong huyện Lý Nhân, như đình thờ tại thôn Yên Trạch, huyện Lý Nhân đã nhiều lần
được các triều đại ban tặng sắc phong, vẫn được dân chúng quanh vùng bốn mùa
hương khói, như để nhắc nhở cháu con nhớ tới công lao của cha ông xưa.
Ngày nay mỗi khi giở lại trang sử chống ngoại xâm của dân tộc
trong buổi đầu dựng nước và giữ nước từ thế kỷ I đến thế kỷ VI, không thể không
tự hào về những đóng góp tích cực về nhân lực và vật lực của nhân dân Hà Nam
trong khởi nghĩa Lý Bí, Triệu Quang Phục chống giặc Lương, với những vị tướng
tài như Đinh Lôi, Nguyễn Khôi cùng những người dân tham gia khởi nghĩa. Họ đã
xây dựng nên nhà nước Vạn Xuân độc lập sau 500 năm đấu tranh bền bỉ, kiên trì
và vô cùng khốc liệt, đánh dấu sự trưởng thành của ý thức dân tộc cùng bước
phát triển quan trọng của phong trào đấu tranh giành lại độc lập dân tộc của
nhân dân ta trong thời kỳ Bắc thuộc.
Sau thất bại của triều Lương, các triều đại phong kiến Trung
Quốc tiếp tục nhòm ngó và tìm cách đặt lại ách đô hộ lên đất nước ta. Năm 581,
tướng Dương Kiên lật đổ triều Bắc Chu lập ra triều Tuỳ, xưng là Tuỳ Văn Đế. Nhằm
thâu tóm quyền lực, triều Tuỳ tăng cường kiểm soát chặt chẽ mọi vùng miền. Khi
đó, Giao Châu tuy thuộc dạng châu “ki mi” (ràng buộc lỏng lẻo), nhưng triều Tuỳ
cũng thi hành chính sách hành chính bỏ quận lập châu, chia nước ta ra thành 6
châu: Giao Châu, Hưng Châu, Hoàng Châu, Ái Châu, Đức Châu, Lợi Châu. Vào thời
Tuỳ Dưỡng đế năm 607, triều Tuỳ lại đổi châu thành quận, trực thuộc trung ương.
Tất cả gồm có 7 quận, trong đó vùng đất Hà Nam ngày nay vẫn thuộc quận Giao Chỉ
tức là quận Giao Châu đời Lương và đầu đời Tuỳ. Năm 618, triều Đường thay thế
triều Tuỳ, chính quyền triều Đường lại cho bãi bỏ các quận mà triều Tuỳ lập ra
tại nước ta, thay bằng các châu như cũ, đặt chức Đại Tổng quản Giao Châu, sau đổi
làm Giao Châu đô hộ phủ. Năm 679 triều Đường đổi Giao Châu thành An Nam đô hộ
phủ, quản 12 châu, gồm 59 huyện từ Bắc Bộ đến Đèo Ngang và một phần các tỉnh Quảng
Đông, Quảng Tây. Mỗi châu đều đặt chức Thứ sử, đứng đầu An Nam đô hộ phủ là một
viên “Đô hộ” hoặc “Kinh lược sứ”. Khi này Hà Nam vẫn thuộc địa phận Giao Châu.
Triều Đường tăng cường quản lý xuống tận các cấp cơ sở ở An
Nam. Chính mở rộng hệ thống hành chính dưới cấp huyện thành cấp hương và xã.
Triều Đường còn đặt các châu ki-mi để dễ bề quản lý vùng thiểu số. Thủ lĩnh các
bộ lạc đứng đầu các châu ki-mi này. Bên cạnh việc tổ chức lại hệ thống hành
chính, triều Đường còn tăng cường chính sách bóc lột kinh tế nặng nề đối với
nhân dân ta dưới hai hình thức: tô thuế và cống nạp. Không chịu được ách áp bức
nặng nề của các thế lực ngoại bang về cả chính trị và kinh tế, nhiều cuộc khởi
nghĩa của nhân dân ta vẫn tiếp tục nổ ra dưới thời thuộc Đường. Tiêu biểu nhất
phải kể đến cuộc khởi nghĩa do Mai Thúc Loan lãnh đạo vào năm 722, tiếp theo là
cuộc khởi nghĩa của ba anh em Phùng Hưng năm 791.
Cả hai cuộc khởi nghĩa đều đã giành được thắng lợi, lập nên
chính quyền, xưng vương, song không được lâu dài, cuối cùng các khởi nghĩa đều
bị thất bại. Những cuộc nổi dậy chống lại ách thống trị trong suốt mấy trăm năm
của triều Đường trên đất nước ta, có ý nghĩa to lớn. Nó làm lung lay hệ thống
chính quyền đô hộ phương Bắc ở nước ta, đồng thời là nguồn cổ vũ ý thức độc lập
cho toàn dân. Đây cũng chính là những trận tập dượt quý giá cho phong trào
giành độc lập thật sự của dân tộc sẽ diễn ra vào đầu thế kỷ X.
DANH SÁCH CÁC NHÂN VẬT THAM GIA KHỞI NGHĨA LÝ BÍ
VÀ CUỘC
KHÁNG CHIẾN CỦA TRIỆU QUANG PHỤC
ĐUỢC THỜ Ở TỈNH HÀ NAM
STT
|
Họ và tên
(nhân vật)
|
Nơi thờ
|
Ghi chú
|
|
Xã (làng, thôn)
|
Huyện
|
|||
1
|
Lôi Công đại vương
|
Đôn (th)
|
Bình Lục
|
Thôn: (th)
|
2
|
Lôi Công
|
Ông Cân (th)
|
x
|
Như trên: x
|
3
|
x
|
Bồ Xá (làng)
|
x
|
Làng: (làng)
|
4
|
x
|
Đuồn (làng)
|
x
|
|
5
|
x
|
La (làng)
|
x
|
|
6
|
x
|
An Cước (làng)
|
x
|
|
7
|
x
|
Cổ Lễ (th)
|
Thanh Liêm
|
|
8
|
x
|
Cự Xá (th)
|
x
|
|
9
|
x
|
Hạ (th)
|
x
|
|
10
|
x
|
Nguyễn Thưng (th)
|
x
|
|
11
|
x
|
Yên Việt (th)
|
x
|
|
12
|
x
|
Yên Cừ (làng)
|
x
|
|
13
|
x
|
Bến (th)
|
x
|
|
14
|
x
|
Hoàng Xá (th)
|
x
|
|
15
|
Triệu Quang Phục
|
Đọ (th) Nội Đọ (th)
|
Lý Nhân
|
|
16
|
x
|
Nội Kiều (th)
|
x
|
|
17
|
x
|
Yên Trạch (th)
|
x
|
|
18
|
Nguyễn Khôi
|
Thanh Nộn (th)
|
Kim Bảng
|
|
Chương X: HÀ NAM TỪ THẾ KỶ X ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XIX (NĂM 1858)
I. CƯƠNG VỰC HÀ NAM THẾ KỶ X - XIX
Trong lịch sử Việt Nam, thế kỷ X, là một “thế kỷ bản lề”: với việc kết thúc một thời kỳ đấu tranh nghìn năm chống Bắc thuộc để chuyển sang một kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên Đại Việt. Vào năm 905, Khúc Thừa Dụ - người Hồng Châu (Hải Dương) đã lãnh đạo nhân dân giành lấy chính quyền. Khúc Thừa Dụ tự xưng là Tiết độ sứ, xây dựng một chính quyền tự chủ của người Việt. Năm 907, Khúc Hạo thay cha lãnh đạo đất nước, tiến hành nhiều cải cách trên các mặt hành chính, kinh tế...(1). Chính những cải cách này cùng việc thi hành chính sách “khoan giản an lạc ”, khiến cho đất nước được thanh bình, nhân dân yên vui. Sau đó, Dương Đình Nghệ một bộ tướng của họ Khúc lãnh đạo cuộc kháng chiến chống ách đô hộ phương Bắc thành công, tiếp tục xưng Tiết độ sứ từ năm 931 đến 937. Năm 938, Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng; năm 939, Ngô Quyền xưng vương, đóng đô tại Cổ Loa, chưa định quốc hiệu và phân bố lãnh vực.
(1) Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược. Tân Việt: Sài Gòn: 1958. tr.71
Đinh Bộ Lĩnh sau khi dẹp yên được 12 sứ quân, lên ngôi hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư; chia nước làm 10 đạo, hiện chưa rõ danh hiệu và vị trí ra sao, chỉ biết rằng tên gọi các châu đời Đường vẫn xuất hiện trên sách sử cũ. Vương triều Tiền Lê với chiến công phá Tống bình Chiêm, cùng những thành tựu kinh tế, chính trị, văn hoá đã đóng góp vào việc củng cố và giữ vững nền độc lập thống nhất của Đại Cồ Việt ở thế kỷ X. Vừa lên ngôi, Lê Đại Hành đổi 10 đạo làm lộ, phủ, châu, nhưng cũng như thời Đinh, các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm được hết tên gọi cùng vị trí những đơn vị hành chính đó. Năm 1005, Lê Long Đĩnh kế vị, nhưng sự sa đọa và bạo ngược của ông vua này mà sử chép là Ngọa triều (do quá ham mê tửu sắc), đã khiến dân chúng cùng quần thần oán thán. Năm 1009, Long Đĩnh chết, triều đình suy tôn võ tướng giữ chức Điện tiền Chỉ huy sứ là Lý Công Uẩn (một người dòng họ khác Lê) lên làm vua và lập ra triều Lý (1010-1225). Kế thừa di sản của các triều đại trước mà cụ thể là triều Tiền Lê, ông vua khai sáng triều Lý đã chủ động xây dựng đất nước trên một quy mô tương đối hoàn chỉnh.
Việc đầu tiên Lý Công Uẩn thực hiện khi nắm vương quyền là dời đô từ Hoa Lư về Đại La, mục đích là do: “Thành Hoa Lư ẩm thấp chật hẹp, không đủ làm chỗ của đế vương”, mặt khác: “Thành Đại La, đô cũ của Cao vương (tức Cao Biền), ở giữa khu vực trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước... Xem khắp nước Việt ta đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng sư kinh đô mãi mãi muôn đời” (1). Sau khi tham bác ý kiến của quần thần, mùa thu năm Canh Tuất (1010), Lý Thái tổ thực hiện cuộc dời đô mang ý nghĩa lịch sử trong tiến trình phát triển của nước Việt. Khi đoàn thuyền ngự đến Đại La: “Thuyền tạm đỗ ở dưới thành, có rồng vàng hiện ra ở thuyền ngự, vì thế đổi gọi là thành Thăng Long” (2)
(1) Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, in lần thứ hai. NXB Khoa học xã hội, H. 1972, tr 190-191.
(2) Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, in lần thứ hai. NXB Khoa học xã hội, H. 1972, tr 191.
Sau đó, Thăng Long được xây dựng với một kiến trúc bề thế, có cung điện, thành luỹ, đền chùa và tiến hành mở mang thêm các phố phường, làng nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp. Thăng Long mau chóng trở thành trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của cả nước. Năm 1054, Lý Thánh Tông đổi tên nước là Đại Việt.
Nhằm củng cố và kiện toàn bộ máy nhà nước, Lý Thái Tổ cho chia lại khu vực hành chính, đổi 10 đạo thành 24 lộ và phủ, dưới là châu, hương, giáp, thôn; tại kinh đô có các phường.
Vào thế kỷ XI, vùng đất Hà Nam hiện nay gồm phủ Lỵ Nhân và một phần đất của lộ Hoàng Giang. Phủ Lỵ (hoặc Lợi) Nhân đời Lý bao gồm đất huyện Duy Tiên, huyện Kim Bảng (1), huyện Thanh Liêm, Duy Tiên, Lý Nhân và thị xã Phủ Lý ngày nay. Riêng huyện Bình Lục nằm trong địa phận lộ Hoàng Giang.
(1) Đại Nam nhất thống chí. TIII; NXB Khoa học xã hội; H, 1971; tra 16: “Huyện Kim Bảng, từ đời Trần trở về trước gọi là Cảo Bảng”.
Năm 1225, sau cuộc chuyển giao vương quyền êm thấm dưới hình thức xuất phát từ một cuộc hôn nhân, triều Trần được xác lập. Các vua triều Trần bắt tay ngay vào việc củng cố và bảo vệ vững chắc chính quyền của dòng họ, xây dựng bộ máy quản lý nhà nước. Tất cả những chức vị quan trọng đều do tôn thất họ Trần nắm giữ. Các vương hầu triều Trần, được phái đi trấn trị tại các địa phương, được phong thái ấp, có phủ đệ riêng. Nhằm không để vương quyền rơi vào tay dòng họ khác, nhà Trần thực hiện việc kết hôn đồng tộc. Đồng thời còn áp dụng chế độ Thượng hoàng để ngăn chặn nạn cướp ngôi đã từng xảy ra trong các triều đại trước và tập dượt để các vua trẻ có thể đảm đương được trọng trách (1).
(1) Nguyễn Hữu Tâm: Chế độ Thượng Hoàng với vương triều Trần. Đăng trong: Thời Trần và Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn trên quê hương Nam Hà; Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Sở văn hoá thông tin Nam Hà; 1996, tr. 36-41.
Vương triều Trần đã tổ chức lại hệ thống hành chính trong cả nước. Năm 1242, Trần Thái Tông đổi 24 lộ thời nhà Lý thành 12 lộ. Ngoài ra, triều Trần còn lập thêm các phủ, châu, trấn, như: Tân Bình (vùng Quảng Bình), Nghệ An, Thái Nguyên... Cấp chính quyền cơ sở thấp nhất trong hệ thống hành chính cấp địa phương đời Trần là hương, xã, sách.
Hà Nam đời Trần thuộc châu Lỵ Nhân của lộ Đông Đô. Châu Lỵ Nhân quản lãnh 6 huyện là: Thanh Liêm, Bình Lục, Cổ Bảng, Cổ Giả, Cổ Lễ và Lỵ Nhân (2). Gần đây, trong quá trình điều tra, sưu tầm đã phát hiện tấm bia đá tại chùa Dầu, xã Đinh Xá (huyện Bình Lục) được khắc vào niên hiệu Đại Trị (1358-1369). Nội dung tấm bia, đã bổ sung thêm một tên lộ còn thiếu trong các sách sử: đó là lộ Lợi Nhân (3).
(2) Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời. NXB Khoa học xã hội: H. 1964; tr. 96.
(3) Mai Khánh: Tấm bia ở chùa Dầu một hiện vật quý. Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1999. NXB Khoa học xã hội; H.2000. tr.533-536. Xem thêm: Hồ Đức Thọ: Bước đầu tìm hiểu mảnh đất - con người thời Trần ở Nam Hà. Sđd. Thời Trần và Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn trên quê hương Nam Hà; Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Sở Văn hoá thông tin Nam Hà; 1996, tr. 102-115.
Vào cuối thế kỷ XIV, khi các vua Trần tỏ ra bất lực trước những khủng hoảng xã hội, Hồ Quý Ly một ngoại thích đã tìm mọi cách thâu tóm quyền hành, tiến hành nhiều cuộc thanh trừng, gạt bỏ những thế lực chống đối. Đồng thời, ông cũng lợi dụng danh nghĩa triều Trần để thực hiện hàng loạt cải cách quan trọng trong đường lối trị nước, chuẩn bị cho việc phế bỏ triều Trần lập triều Hồ sau này.
Năm 1397, với chức vụ Nhập nội Thái sư bình chương quân quốc trọng sự, Tuyên trung vệ quốc đại vương, tự xưng là Phụ chính, Hồ Quý Ly tiến hành việc thay đổi một số đơn vị hành chính. Tháng 4 mùa hạ năm 1397, bắt đầu đổi gọi các phủ, lộ ra làm trấn.
Vào cuối đời Trần đầu đời Hồ, vùng Hà Nam hiện nay thuộc về châu Lỵ Nhân (Lợi Nhân) thuộc lộ Đông Đô, đã có một giai đoạn vào gần cuối đời Trần, châu Lỵ Nhân được nâng cấp lên thành lộ Lợi Nhân. Lộ Lợi Nhân hay châu Lợi Nhân bao gồm các huyện Thanh Liêm, Bình Lục, Cổ Bảng, Cổ Giả, Cổ Lễ, Lỵ Nhân, tức là diện tích của lộ Lợi Nhân tương đương với phần lớn tỉnh Hà Nam ngày nay.
Chính quyền triều Hồ (1400 - 1407) tồn tại không được bao lâu, thì Đại Việt lại trở thành đối tượng xâm lược của nhà nước phong kiến phương Bắc. Triều Minh (1368 - 1644), với vua Minh Thành Tổ hiếu chiến đã lợi dụng danh nghĩa “phù Trần diệt Hồ” để đem quân xâm lược nước ta. Mặc dù triều Hồ đã kiên trì tổ chức kháng chiến chống Minh, một bộ phận nhân dân dưới sự lãnh đạo của tướng lĩnh triều Hồ chiến đấu rất anh dũng, quyết liệt, nhưng do chưa tập hợp, đoàn kết được lực lượng, nên cuối cùng cuộc kháng chiến của quân dân triều Hồ và một số cuộc khởi nghĩa khác đều bị thất bại. Nước Đại Việt rơi vào ách nô dịch của triều Minh. Sau khi chiếm được Đông Đô, năm 1407, triều Minh lập tức đổi Giao Châu làm quận Giao Chỉ, chính thức đưa nước ta theo chế độ quận huyện của chính quốc. Dưới cấp quận, triều Minh chia đặt các phủ, châu, huyện. Năm 1407, chúng chia nước ta thành 15 phủ gồm 36 châu, 181 huyện; ngoài ra còn có 5 châu trực thuộc quận.
Tiếp theo, triều Minh tổ chức lại các làng xã của Giao Chỉ theo như cơ cấu hành chính nông thôn Trung Hoa đương thời, lập thành các lý và giáp. Riêng tại kinh thành Đông Đô, triều Minh lập thành phường và hương. Hà Nam thời thuộc Minh vẫn thuộc châu Lợi Nhân, nhưng cũng có một số thay đổi trong các huyện. Huyện Thanh Liêm, từ đời Trần trở về trước gọi là Thanh Liêm, năm Vĩnh Lạc thứ 6 (1408), bỏ huyện Thanh Liêm của châu Lỵ Nhân, giao cho châu Lỵ Nhân quản lãnh, lệ vào phủ Giao Châu. Huyện Bình Lục, từ đời Trần trở về trước vẫn tồn tại tên huyện, đến thời thuộc Minh do châu Lỵ Nhân quản lãnh, lệ vào phủ Giao Châu. Huyện Kim Bảng, đời Trần trở về trước gọi là Cổ Bảng (1), thời thuộc Minh giống như các huyện Bình Lục, Lý Nhân đều do châu Lỵ Nhân quan lãnh, lệ vào phủ Giao Châu. Huyện Cổ Giả, theo Thiên hạ quận quốc lợi bệnh thư, tháng 8, năm Vĩnh Lạc thứ 13 (1415) bị gộp vào huyện Lỵ Nhân. Vào tháng 8 năm Vĩnh Lạc thứ 13 (1415), huyện Cổ Lễ cũng bị gộp vào châu Lỵ Nhân. Vào tháng 9 năm Vĩnh Lạc thứ 17 (1419), huyện Lỵ Nhân bị gộp vào châu Lỵ Nhân. Các huyện Cổ Giả, Cổ Lễ có thể là một phần đất huyện Duy Tiên và Nam Xang sau này(2). Cổ Giả sau sáp nhập vào Lợi Nhân, nay là Duy Tiên, Cổ Lễ, sau sáp nhập vào Lợi Nhân) (3).
(1) Đặng Xuân Bảng: Sử học bị khảo. Viện Sử học: H; 1997. tr.381.
(2) Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời, tr.100. Xem thêm: Hồ Đức Thọ: Bước đầu tìm hiểu mảnh đất - con người thời Trần ở Nam Hà. Sđd. Thời Trần và Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn trên quê hương Nam Hà; Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Sở Văn hoá thông tin Nam Hà; 1996, tr 102-115.
(3) Đặng Xuân Bảng: Sử học bị khảo. Viện Sử học: H; 1997. tr.381.
Sau hơn mười năm chiến đấu kiên trì và gian khổ, cuối cùng cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo đã hoàn toàn thắng lợi, quân xâm lược Minh phải rút lui về nước. Quốc gia Đại Việt vui khúc khải hoàn, nhân dân lại được hưởng một cuộc sống thanh bình. Ngày 15 tháng 4 năm Mậu Thân tức ngày 29 tháng 4 năm 1428, Lê Lợi chính thức làm lễ lên ngôi Hoàng đế tại Đông Đô (sau đổi thành Đông Kinh tức Thăng Long), khôi phục lại tên nước là Đại Việt, khai sáng ra triều Lê (thường được gọi là Hậu Lê để phân biệt với triều Tiền Lê thế kỷ X).
Ngay từ khi cuộc kháng chiến chưa kết thúc, vừa ra đến Đông Đô, Lê Lợi đã chú ý tới việc xây dựng chính quyền. Năm 1428, Lê Thái Tổ chia nước làm 5 đạo gồm: Đông, Tây, Nam, Bắc (tương ứng với Bắc Bộ ngày nay) và Hải Tây (từ Thanh Hóa đến Thuận Hóa). Trong đó, Nam đạo gồm các lộ Khoái, Lý Nhân (hay Lỵ Nhân vì kiêng húy Lê Thái Tổ mà đổi Lợi Nhân thành Lỵ Nhân), Tân Hưng, Kiến Xương và Thiên Trường. Lộ Lý Nhân chính là vùng Hà Nam hiện nay. Dưới các đạo là phù, trấn, lộ, huyện, châu. Cấp xã là đơn vị hành chính cơ sở địa phương, phân ra ba loại: lớn, vừa và nhỏ do các viên xã quan phụ trách.
Lê Thánh Tông đặc biệt quan tâm đến việc tăng cường năng lực quản lý của bộ máy nhà nước, thực thi nhiều đợt cải cách tổ chức chính quyền và tổ chức hành chính tại các địa phương. Vào năm Quang Thuận thứ 7 (1466), Thánh Tông chia cả nước làm 12 đạo thừa tuyên, gồm: Thanh Hoá, Nghệ An, Thuận Hóa, Thiên Trường, Nam Sách, Quốc Oai, Bắc Giang, An Bang, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Thái Nguyên và Lạng Sơn. Năm Quang Thuận thứ 10 (1469), Lê Thánh Tông cho định bản đồ của 12 thừa tuyên trong nước, tổng cộng 49 phủ, gồm 163 huyện, 50 châu (1). Trong đó thay đổi tên gọi của 6 thừa tuyên: Nam Sách đổi thành Hải Dương, Thiên Trường thành Sơn Nam, Quốc Oai thành Sơn Tây, Bắc Giang thành Kinh Bắc, Thái Nguyên thành Ninh Sóc, Trung đô phủ thành Phụng Thiên phủ. Đến năm Hồng Đức thứ 3 (1472), Thánh Tông đặt thêm thừa tuyên Quảng Nam, nâng tổng số thừa tuyên nước ta khi đó lên 13 thừa tuyên (đạo), có 52 phủ, 178 huyện, 50 châu, 20 hương, 36 phường... Thừa tuyên Sơn Nam gồm có 11 phủ, 42 huyện, trong đó phủ Lỵ Nhân quản lĩnh 5 huyện gồm 224 xã 2 thôn: Nam Xang có 70 xã, Kim Bảng có 50 xã, Duy Tiên có 49 xã, Thanh Liêm có 46 xã, 1 thôn và Bình Lục có 29 xã, 1 thôn (1).
(1) Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục. T1; tr 1072-1088. Đặng Xuân Bảng: Sử học bị khảo. tr. 391-392, lại chép: Đầu đời Lê chia nước làm 5 đạo, Thánh Tông chia bản đồ nước làm 13 thừa tuyên, 52 phủ, 178 huyện, 50 châu.
Năm 1527, sau khi đã tiêu diệt các phe phái đối lập và tập trung được quyền lực, Mạc Đăng Dung giành được ngôi vua từ nhà Lê, lập ra vương triều Mạc (1527-1677). Sau khi đăng quang, Mạc Đăng Dung chủ trương duy trì thiết chế chính quyền theo mô hình triều Lê, thực hiện việc truyền ngôi theo chế độ trưởng nam. Mặt khác, triều Mạc cũng học tập chế độ Thượng hoàng triều Trần, nhằm tránh sự tranh chấp ngôi giữa các con. Về mặt hệ thống hành chính ở trung ương, triều Mạc không có gì thay đổi nhiều so với thời Lê Thánh Tông, trong đó vua vẫn nắm quyền tối thượng quyết định mọi việc của quốc gia, chỉ xuất hiện thêm chức Phụ chính, người giúp việc vua điều hành chính sự tương ứng với chức Tể tướng thời Lý - Trần (3).
Đối với hệ thống chính quyền địa phương, triều Mạc vẫn duy trì cách xếp đặt của Lê Thánh Tông, nghĩa là cả nước vẫn gồm 13 đạo thừa tuyên. Mười ba đạo thừa tuyên thời Mạc gồm: Hải Dương, Kinh Bắc, Sơn Tây, Sơn Nam, Lạng Sơn, Ninh Sóc, Hưng Hóa, Tuyên Quang, An Bang, Thanh Hóa, Nghệ An, Thuận Hóa, Quảng Nam. Hệ thống chính quyền địa phương thời Mạc gồm 4 cấp: Đạo hay lộ, bên dưới là cấp phủ, cấp dưới nữa là huyện hay châu và cấp xã là đơn vị hành chính cơ sở. Đặc biệt thời Mạc còn xuất hiện đơn vị hành chính là “tổng”, như ghi trên văn bia được phát hiện ở Thái Bình, Hà Nam.
Trên tấm bia Công chúa tự điển ở làng Vũ Bị, huyện Bình Lục, Hà Nam, dựng năm 1513, có ghi: “Cổ Bị tổng An Nội xã”, chức quan đứng đầu của tổng là chánh tổng. Như vậy có thể đưa ra nhận định: Hà Nam thời Mạc vẫn nằm trong địa phận của đạo (lộ) Sơn Nam, các cấp chính quyền địa phương gồm: đạo (lộ), huyện hay châu, tổng, xã, thôn. Vào những năm chiến tranh giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn, hầu như vùng đất Hà Nam không có nhiều thay đổi về tên gọi cùng địa dư. Khoảng những năm thuộc niên hiệu Thuận Đức (1600), Hoàng Định (1601 - 1619) của vua Lê Kính Tông, vì tránh tên huý nên huyện Duy Tân đổi thành huyện Duy Tiên. Theo Văn bia chùa An Thái (Phúc Lâm tự) ở thôn An Thái (An Mỹ, Bình Lục), niên đại dựng bia vào năm Vĩnh Tộ thứ nhất (1619) đời vua Lê Thần Tông, vì kiêng tên Bình An vương Trịnh Tùng nên huyện Bình Lục đổi thành huyện Thanh Lục. Năm Cảnh Hưng thứ hai của vua Lê Hiển Tông (1741), chia đặt Sơn Nam thượng lộ và Sơn Nam hạ lộ. Sử chép: “Tân Dậu, năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741)... Trịnh Doanh nhận thấy trộm cướp hoành hành ở Hải Dương, lòng người lo sợ; muốn giữ vững phiên trấn bảo vệ kinh kỳ, lấy uy quyền để trấn áp giặc cướp, bèn chia Sơn Nam làm thượng lộ và hạ lộ, hạ lệnh cho Trịnh Trụ, Ngô Đình Oánh, Trương Nhiêu và Nguyễn Đức Huy chia nhau làm Chưởng đốc... Các viên quan kể trên đều giữ việc quân và dân thuộc hạt mình” (1). Phủ Lỵ Nhân (Hà Nam) khi này cùng với các phủ Thường Tín, Ứng Thiên, Khoái Châu do Sơn Nam thượng lộ quản lĩnh và Chưởng đốc là viên quan hành chính cao nhất, phụ trách quân chính và dân chính của cả lộ. Năm Tân Tỵ, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 22 vua Lê Hiển Tông (1761), triều Lê - Trịnh lệnh cho lấy đất bãi của xã Nễ Độ, huyện Nam Xang (nay thuộc huyện Lý Nhân) và xã Yên Lệnh (nay thuộc huyện Duy Tiên) ở Sơn Nam thượng lộ, trích cấp cho người Man cày cấy, đặt làm Sở Tuy Viễn (2).
Năm 1789, sau chiến thắng quân Thanh, Nguyễn Huệ lên ngôi vua, đặt niên hiệu là Quang Trung, tiến hành chấn chỉnh lại hệ thống hành chính. Vua Quang Trung đã cho thay đổi tên gọi Sơn Nam thượng lộ và Sơn Nam hạ lộ thành Sơn Nam thượng trấn và Sơn Nam hạ trấn. Phủ Lỵ Nhân trực thuộc Sơn Nam thượng trấn và phố Châu Cầu (huyện Kim Bảng) được chọn làm nơi đặt lỵ sở làm việc của Sơn Nam thượng trấn. Vì tránh tên huý của Vua Quang Trung (Nguyễn Quang Bình) nên huyện Bình Lục dưới thời Tây Sơn đổi gọi thành huyện Ninh Lục (1).
Năm Gia Long thứ nhất (1802), triều Nguyễn chia cả nước thành 23 trấn và 4 dinh (2). Hà Nam dưới thời Gia Long là phủ Lỵ Nhân thuộc trấn Sơn Nam thượng, năm Gia Long thứ 3 (1804), trấn lỵ vẫn theo như thời Tây Sơn, dựng đắp thành của trấn Sơn Nam thượng, đặt tại Châu Cầu (huyện Kim Bảng). Riêng huyện Ninh Lục lại trở về với tên gọi là huyện Bình Lục như cũ, đến năm Gia Long thứ 7 (1808), huyện Bình Lục do phủ Lý Nhân kiêm quản (3).
Vua Minh Mệnh nối ngôi Gia Long bắt đầu từ năm 1820, bắt tay ngay vào việc cải cách hành chính từ trung ương xuống địa phương, trong đó công cuộc cải tổ cơ cấu hành chính địa phương được Minh Mệnh đặc biệt chú ý (4). Năm 1822, Minh Mệnh cho đổi trấn Sơn Nam thượng thành trấn Sơn Nam, trấn Sơn Nam hạ thành trấn Nam Định (5).
Lúc này phủ Lý Nhân trực thuộc vào trấn Sơn Nam. Năm Minh Mệnh thứ 7 (1826), một đạo dụ được ban bố, đổi các dinh Quảng Bình, Quảng Trị và Quảng Nam thành trấn Quảng Bình, Quảng Trị và Quảng Nam. Từ đây trở đi, trên toàn bộ nước Việt Nam không còn đơn vị hành chính “Dinh” hay “Đạo” nữa. Mùa đông tháng 10 năm Tân Mão, niên hiệu Minh Mệnh thứ 12 (1831), nhà vua ban dụ tham khảo ý kiến các bề tôi. Sau khi được lời nghị bàn của đình thần, Minh Mệnh quyết định chia 11 trấn của Bắc thành làm 18 tỉnh từ Quảng Trị ra Bắc. Đồng thời năm 1831, Minh Mệnh cũng điều chỉnh cương vực và chia đặt lại một số địa phương. Trong đó tách 3 huyện thuộc phủ Tiên Hưng, trấn Nam Định, và 5 huyện (thuộc phủ Khoái Châu), trấn Sơn Nam, đặt làm tỉnh Hưng Yên. Còn 3 phủ Ứng Hòa, Lý Nhân và Thường Tín thuộc trấn Sơn Nam và huyện Từ Liêm thuộc phủ Quốc Oai trấn Sơn Tây đổi thuộc vào phủ Hoài Đức, đặt làm tỉnh Hà Nội (1). Như vậy tới năm 1831, Phủ Lý Nhân được sáp nhập vào tỉnh Hà Nội, trấn Sơn Nam không tồn tại nữa, triều Minh Mệnh lấy trấn lỵ (tức thành của trấn Sơn Nam Thượng), vốn đặt tại Châu Cầu (huyện Kim Bảng) làm thành phủ Lý Nhân kiêm quản huyện Kim Bảng. Viên Tri phủ (Lý Nhân) cùng hai huyện nha Duy Tiên và Thanh Liêm cùng ở với nhau một nơi tại thành phủ Lý Nhân.
Khoảng những năm đầu niên hiệu Tự Đức thì bãi bỏ huyện nha hai huyện Duy Tiên, Thanh Liêm (2). Sau khi tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt chết vào tháng 7 năm 1832, thì chỉ ba tháng sau, tức là vào tháng 10 năm đó, Minh Mệnh cho tiến hành chia các tỉnh phía Nam. Như vậy cho đến tháng 10 năm Minh Mệnh thứ 13 (1832), trên toàn quốc trừ (phủ Thừa Thiên), có cả thảy là 30 tỉnh. Sau đó, Minh Mệnh còn phân thành 11 tỉnh lớn, 11 tỉnh vừa và 8 tỉnh nhỏ để định tiền công nhu cấp hàng năm. Vào năm này, huyện Bình Lục được đặt chức tri huyện, được một thời gian ngắn thì lại có đạo dụ: cho phủ Lý Nhân trích lấy hai huyện Nam Xang (Xương) và Bình Lục đặt riêng làm phân phủ (3).
Sau khi Minh Mệnh tiến hành cải cách ở địa phương tương đối triệt để, thì cơ cấu chính quyền vương triều Nguyễn khá hoàn chỉnh và hầu như cho tới các vị vua sau của triều Nguyễn không có sự thay đổi lớn nữa. Hệ thống chính quyền triều Minh Mệnh chia làm 4 cấp: trung ương do nhà vua nắm quyền tối thượng, tiếp theo là cấp trấn hoặc tỉnh, dưới nữa là cấp huyện (không có cấp phủ), cấp cơ sở là cấp xã (không có cấp tổng). Vùng đất Hà Nam trong thời Minh Mệnh vẫn thuộc tỉnh Hà Nội, lỵ sở của huyện Duy Tiên trước kia đóng tại xã Ninh Lão đến năm Minh Mệnh thứ 18 (1837), chuyển đóng nhờ ở phủ thành (Lý Nhân).
Lỵ sở của huyện Thanh Liêm trước đặt tại xã Hương Ngải trong huyện, đến năm Minh Mệnh thứ 20 (1819), cũng chuyển lên đóng nhờ tại phủ thành (Lý Nhân). Năm Tự Đức thứ 5 (1852), trong địa phận phủ Lý Nhân có một số thay đổi nhỏ về việc quản lý địa vực: Phân phủ Lý Nhân được đặt ra từ năm Minh Mệnh thứ 13 (1832), đến năm này (1852) bãi bỏ, thành lập trở lại 2 huyện Nam Xang (Nam Xương) và Bình Lục. Trong đó đặt chức tri huyện tại huyện Nam Xang, huyện Bình Lục do phủ Lý Nhân kiêm quản. Ngược lại, năm 1852, huyện Thanh Liêm lại bỏ chức tri huyện, giao cho huyện Bình Lục kiêm quản. Cũng vào những năm đầu thời Tự Đức thì bãi bỏ việc các huyện nha Duy Tiên, Thanh Liêm đóng nhờ tại phủ thành Lý Nhân. Từ đó cho tới trước năm 1890, hầu như phủ Lý Nhân không có gì thay đổi về địa dư, vẫn thuộc về tỉnh Hà Nội. Năm 1890, tỉnh Hà Nam được thành lập, tên gọi Hà Nam chính thức xuất hiện trong lịch sử với tỉnh lỵ là Phủ Lý.
II. HÀ NAM TRONG THỜI KỲ ĐẦU XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ QUỐC GIA ĐỘC LẬP TỰ CHỦ (KHÚC, DƯƠNG, NGÔ, ĐINH, TIỀN, LÊ)
Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938, Ngô Quyền bắt tay ngay vào việc xây dựng chính quyền củng cố nền độc lập vừa giành được. Sử cũ chép: Mùa xuân năm 939, Ngô Quyền quyết định bỏ chức tiết độ sứ của phong kiến phương Bắc và tự xưng vương: “Kỷ Hợi năm thứ nhất (939), mùa xuân vua (Ngô Quyền) bắt đầu xưng vương...” (1).
Sau 6 năm cầm quyền, vào năm 944, Ngô Quyền qua đời, trong triều đình xảy ra nhiều biến loạn và xung đột khiến cho chính quyền Trung ương non trẻ của vương triều Ngô bị suy yếu. Nhiều bề tôi của triều Ngô phải chạy trốn đi các địa phương khác, Hà Nam là một trong những vùng được chọn là nơi ẩn trốn sự truy lùng của các thế lực mới nổi lên lúc thời thế rối ren. Có những người đem cả gia tộc tới 40 người đến định cư tại vùng chiêm trũng Thanh Liêm. Tư liệu Hán văn hiện lưu giữ tại chùa Khánh Linh, thôn Khê Lôi (xã Liêm Tiết, huyện Thanh Liêm) mới được phát hiện năm 1997, cho biết: Sau khi Ngô vương Quyền qua đời năm 944, Lê Huy Tâm vốn là tả hữu cho nhà Vua, từ Nghi Tàm (nay thuộc thành phố Hà Nội) đã đưa 40 người trong họ về đây cư trú (1).
Đến năm 965, với việc Nam Tấn vương Ngô Xương Văn chết, đất nước lâm vào tình cảnh không có người đứng đầu, thổ hào, công thần cùng con cháu nhà Ngô, lợi dụng tình hình mỗi người hùng cứ một phương, tạo nên cục diện phân tán mà sử chép là “loạn 12 sứ quân” (2). Người anh hùng đứng ra dẹp yên được loạn cát cứ địa phương lúc đó là Đinh Bộ Lĩnh, người con của vùng đất Đại Hữu, châu Đại Hoàng, nay là xã Gia Phương (huyện Gia Viễn, Ninh Bình), nơi cận kề và có mối quan hệ khăng khít với vùng đất Hà Nam. Đinh Bộ Lĩnh sinh ra và lớn lên trong một gia đình “vọng tộc”, cha là Đinh Công Trứ từng giữ chức Thứ sử Hoan Châu thời họ Dương, họ Ngô nắm quyền.
Khi Đinh Công Trứ mất tại lỵ sở Hoan Châu, Đinh Bộ Lĩnh cùng mẹ là Đàm thị đưa gia quyến về sống tại quê nhà Ninh Bình. Ngay từ thuở nhỏ, Đinh Bộ Lĩnh đã sớm bộc lộ tính cách là một người có khả năng tập hợp được lực lượng. Vào độ tuổi trai tráng, Đinh Bộ Lĩnh được dân chúng địa phương tin cậy giao cho cai quản sách Đào úc (1) sau làm Thủ lĩnh châu Đại Hoàng, lấy vùng núi Hoa Lư làm căn cứ quân sự. Trong quá trình xây dựng lực lượng để tăng cường sức mạnh, một mặt chủ động thu thập nhân tài gồm những vị tướng lĩnh tài ba như: Lê Hoàn, Nguyễn Bặc, Phạm Cự Lượng, Đinh Điền..., mặt khác Đinh Bộ Lĩnh còn tranh thủ liên kết với Trần Minh Công, một trong mười hai sứ quân có thế lực mạnh đang cát cứ vùng Bố Hải Khẩu (thuộc thị xã Thái Bình ngày nay). Từ đó, uy thế của Đinh Bộ Lĩnh ngày càng lớn mạnh. Phạm vi chiếm giữ của Đinh Bộ Lĩnh suốt cả một vùng rộng lớn ven biển, hạ lưu sông Hồng, sông Đáy từ Hoa Lư (Ninh Bình) đến Cửa Bố (Thái Bình), Giao Thuỷ (Nam Định)(2). Tham gia sự nghiệp dẹp loạn của Đinh Bộ Lĩnh có rất nhiều người dân của các tỉnh vùng hạ lưu châu thổ sông Hồng, gồm cả nhân dân Hà Nam thuộc các huyện Thanh Liêm, Bình Lục, Kim Bảng...
Các nhân vật thường được nhắc đến trong công cuộc trung hưng này có: Trương Cát, Bảo Hương quê tại An Cừ (xã Liêm Thuận, huyện Thanh Liêm), Phạm Hán, Phạm Hổ ở Mai Động (xã Trung Lương, huyện Bình Lục), Chu Đang (Chu Đương) người Hương Đô (xã An Lão, huyện Bình Lục)... Các thủ lĩnh đều hăng hái đưa số quân tập hợp tại quê hương mình theo Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn. Nhà sư Nguyễn Minh Quang trụ trì tại chùa Bảo Thái thuộc xã Liêm Cần (huyện Thanh Liêm) cũng tích cực vận động các đệ tử có nhiệt huyết tham gia dưới ngọn cờ tụ nghĩa của Đinh Bộ Lĩnh. Các di tích hiện còn trên các vùng đất Hà Nam ngày nay, vẫn còn gợi nhớ tới những đóng góp tích cực của dân chúng Hà Nam đương thời vào chiến công chung dưới thời Đinh. Đó là anh em Nguyễn Ninh, Nguyễn Tĩnh ở Thanh Khê (xã Đồn Xá, huyện Bình Lục), thường được gọi một cách tôn kính là Tĩnh Công và Ninh Công, được dân làng Thanh Khê tôn thành hoàng làng thờ ở đình, vì hai ông đã có công chiêu tập quân sĩ, lập đồn trại tại quê hương, giúp đỡ Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn.
Sau khi lên ngôi Hoàng đế, Đinh Tiên Hoàng phong cho Nguyễn Ninh làm Tư thiên Thái giám, Nguyễn Tĩnh làm Thái bảo Trấn quốc công. Đặc biệt phải nhắc tới Đinh Điền và Lê Hoàn, những vị đại thần, vị tướng lừng danh của vương triều Đinh. Cánh đồng tại xã Liêm Cần (huyện Thanh Liêm) có tên gọi là bến Đồng Đò tương truyền là nơi các chiến thuyền của Thập đạo Lê Hoàn từng neo đỗ và luyện tập chiến thuật đánh giặc. Cũng tại Liêm Cần còn có Trại Nhuế - nơi Lê Hoàn đóng quân, trong đó có ao tắm ngựa, ruộng trồng cỏ để nuôi ngựa gọi là xứ Mã thực (1). Tục cướp cầu diễn ra vào mồng 4 tháng giêng âm lịch hàng năm tại làng Gừa (xã Liêm Thuận, huyện Thanh Liêm), nhằm tưởng nhớ tới Trương Nguyên, một vị tướng tài của làng tham gia đội quân của Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn mười hai sứ quân. Sau khi giang sơn thu về một mối, Đinh Tiên Hoàng tiến hành ban thưởng cho các tướng sĩ đã lập công, Trương Nguyên được ban Quốc tính (họ Đinh), song Trương Nguyên không nhận, xin trở về làng Gừa, nơi chôn rau cắt rốn, để phụng dưỡng cha mẹ. Về sau khi Trương Nguyên chết, Vua Đinh chia ruộng thờ tự, cho dân vùng Ninh Cư (làng Gừa ngày nay) lập đình thờ cúng. Tương truyền khi Trương Nguyên về ở làng Gừa có mang theo một quả cầu bằng gỗ, dùng để tập luyện trong quân. Trương Nguyên dạy cho cho dân làng cách chơi cầu, vừa là trò giải trí, vừa là hình thức luyện sức khỏe (2). Mỗi khi mùa xuân về, trai tráng làng Gừa và các làng lân cận lại háo hức tập trung để tiến hành tục lệ cướp cầu vui khoẻ truyền thống.
Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh tự xưng Hoàng đế, đóng đô tại Hoa Lư, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt.
Trong vòng gần nửa thế kỷ từ 939 đến năm 980, hai vương triều Ngô và Đinh đều lưu lại những dấu ấn sâu sắc trong lịch sử giữ nước và dựng nước của dân tộc. Vương triều Ngô xuất hiện trên vũ đài chính trị với chiến thắng giặc Nam Hán, khẳng định nền độc lập tự chủ của quốc gia Đại Việt. Vương triều Đinh ra đời từ việc dẹp yên được mười hai sứ quân, đưa đất nước trở lại quỹ đạo thống nhất dưới sự quản lý của nhà nước quân chủ trung ương tập quyền do hoàng đế đứng đầu.
DANH SÁCH CÁC NHÂN VẬT CÓ CÔNG THỜI ĐINH BỘ LĨNH ĐƯỢC THỜ Ở TỈNH HÀ NAM
TT
|
Họ và tên
(nhân vật)
|
Nơi thờ
|
Ghi chú
| |
Xã (làng, thôn)
|
Huyện
| |||
1
|
Chu Đang (Chu Hương)
|
Mỹ Đô (làng)
|
Bình Lục
|
Làng: (làng)
Như trên: x
|
2
|
Phạm Hán
Phạm Hổ (Phạm Hổ)
|
Mai Động (th)
|
x
|
Hai ông cùng được thờ 1 nơi
|
3
|
Tĩnh Công
|
Thanh Khê (th )
|
x
| |
4
|
Ninh Công
|
Thanh Khê (th )
|
x
| |
5
|
Đinh Tiên Hoàng
|
Đôn Lương (làng)
|
Duy Tiên
| |
6
|
Đinh Điền
|
Lạc Nhuệ (làng)
|
Kim Bảng
| |
7
|
Đinh Tiên Hoàng
x
x
|
Đặng Xá (làng)
Đồng Lạc (làng)
Phương Khê (làng)
|
x
x
x
| |
8
|
Phạm Hạp
|
Cao Mật (làng)
|
Thanh Liêm
| |
9
|
Bảo Hương
|
x
| ||
10
|
Đinh Điền
|
Động Xá (làng)
|
x
| |
11
|
Đinh Bộ Lĩnh
|
Ninh Thái (làng)
|
x
| |
12
|
Đinh Tiên Hoàng
|
Ứng Liêm (làng)
|
x
| |
13
|
Nguyễn Minh Quang
|
Vực (làng)
|
x
| |
14
|
Trương Cát
|
x
| ||
15
|
Trương Nguyên
|
Gừa (làng)
|
x
| |
16
|
Nguyễn Bặc
|
Liêm Cần
|
x
|
xã Liêm Cần
|
Sau sự kiện Đỗ Thích giết hại cả hai cha con Đinh Tiên Hoàng vào tháng 10-979(1), Đinh Toàn tuổi còn ấu thơ được đưa lên ngôi vua. Triều đình Hoa Lư lâm vào tình trạng khủng hoảng, ngả nghiêng. Liên tiếp nhiều biến cố quan trọng cùng lúc ập đến. Nhóm Đại thần Định quốc công Nguyễn Bặc, Ngoại giáp Đinh Điền và Phạm Hạp có ý nghi ngờ Lê Hoàn sẽ làm phản cướp ngôi nhà Đinh, mới cùng cất quân chia làm hai đạo thuỷ, bộ kéo về kinh đô Hoa Lư nhằm giết Lê Hoàn, song sự việc không thành, đều bị giết cả.
Đền thờ Lê Hoàn ở xã Liêm Cần,
Thanh Liêm. Ảnh: Thế Trang
Lúc này, một số thế lực bên ngoài cũng lăm le toan tính mưu đồ tấn công Đại Cồ Việt. Tại phương Nam, vua Chiêm Thành đem hơn nghìn chiến thuyền của thuỷ quân Chiêm Thành theo ven biển tiến đánh vào Hoa Lư, nhưng gặp bão to thuyền đắm gần hết, vua Chiêm may mắn thoát chết. Tháng 6 năm 980, Thái thường Bác sĩ Hầu Nhân Bảo giữ chức Tri Ung Châu (tỉnh Quảng Tây ngày nay), dâng thư lên vua Tống xin đánh gấp Đại Cổ Việt. Viên Tể tướng kiêm mưu sĩ thâm Nho là Lư Đa Tốn tán thành và còn đưa ra chiến lược “tật lôi bất cập yểm nhĩ” (Sét đánh nhanh không kịp bịt tai) nhằm úp gọn Đại Cồ Việt, khuyên vua Tống sớm triển khai việc tiến quân xâm lược (1). Trước tình hình đất nước, dân tộc đang trải qua những giây phút nguy nan như vậy, Thập đạo tướng quân Lê Hoàn được Thái hậu Dương Vân Nga cùng đông đảo tướng sĩ ủng hộ lên kế vị ngôi vua. Đây là một cuộc chuyển giao vương quyền từ nhà Đinh sang triều Tiền Lê trong hoàn cảnh vô cùng đặc biệt và cực kỳ quan trọng. Lễ đăng quang của Lê Hoàn diễn ra khoảng tháng 7 năm 980.
Lê Hoàn (941 - 1005), đã từng có thời kỳ sinh sống tại Ái Châu, sau vào độ tuổi trưởng thành ông lại trở về Thanh Liêm tập họp nhiều thanh niên trai tráng, luyện tập võ nghệ thành một đội nghĩa quân dũng cảm lập nhiều chiến công (2). Ông đã đem đội quân thiện chiến của mình theo Đinh Bộ Lĩnh tham gia việc dẹp loạn nạn cát cứ của các sứ quân, khắc phục tình trạng phân tán trong toàn quốc. Do lập được nhiều công tích trong chiến trận và do tài năng xuất chúng, Lê Hoàn được Đinh Tiên Hoàng giao cho chức Thập đạo tướng quân Điện tiền Đô chỉ huy sứ, cai quản toàn bộ quân đội triều Đinh.
Vào năm 980, khi mới lên ngôi vua, Lê Hoàn đã phải đương đầu với sự uy hiếp nghiêm trọng cả từ phía Bắc và phía Nam. Năm 981, dưới sự lãnh đạo tài tình của Lê Hoàn, quân ta đã đập tan cuộc xâm lược của giặc Tống. Tiếp theo Lê Hoàn lại đưa quân dập tắt được âm mưu quấy rối của Chiêm Thành. Nhân dân Hà Nam đã góp một phần công lao to lớn vào những chiến thắng phá Tống bình Chiêm của triều Tiền Lê. Nhiều tướng lĩnh ở Hà Nam mà tên tuổi của họ mãi được nhắc đến, như Nguyễn Minh Quang (943-987), người xã Liêm Cần, từng làm tới chức Phó tướng cho Lê Hoàn.
Sau chiến công phá Tống bình Chiêm, Lê Hoàn tiếp tục củng cố và xây dựng kinh tế, quốc phòng trên toàn quốc, vùng Hà Nam cùng với Ninh Bình vẫn là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước được Lê Hoàn đặc biệt quan tâm. Vấn đề kinh tế được Lê Hoàn coi là trọng tâm hàng đầu, ông đã thân chinh đi cày ruộng tịch điền ở Đọi Sơn (tức Núi Đọi, thuộc huyện Duy Tiên, Hà Nam). Sử cũ chép: “Đinh Hợi, năm thứ 8 (987)... Mùa xuân, vua bắt đầu cày ruộng tịch điền ở núi Đọi, được một chĩnh nhỏ vàng, lại cày ở núi Bàn Hải, được một chĩnh nhỏ bạc, vì thế đặt tên là ruộng Kim ngân” (1). Chính từ sự kiện này với hình thức cày ruộng tịch điền của Lê Đại Hành, ông vua đầu tiên trong lịch sử xuống đồng thâm nhập thực tế, đã mở rộng chính sách trọng nông truyền thống cho nhiều đời sau. Các ông vua tiến bộ kế tiếp sau cũng thường học theo cách làm của Lê Hoàn: tiến hành lễ tịch điền vào ngày xuân đầu năm.
Nhằm thực hiện quyền sở hữu của nhà nước quân chủ, Lê Đại Hành đã tiến hành phân phong cho các con tại một số vùng thuộc châu thổ sông Hồng. Một phần lớn ruộng đất vương triều Tiền Lê giao cho giáp, xã quản lý hàng năm có nghĩa vụ nộp tô thuế cho Nhà nước. Có một phần rất nhỏ ruộng đất thuộc quyền sở hữu tư nhân, số ruộng này thường được bổ sung bởi việc khai khẩn diện tích hoang phế ngay tại vùng châu thổ sông Hồng còn khá phổ biến hồi thế kỷ X (2). Công cuộc khẩn hoang tuy mới ở một mức độ rất khiêm tốn, nhưng cũng đã thu hút được một số hộ gia đình từ nơi khác đến các vùng châu thổ sông Hồng, đặc biệt ở vùng hạ lưu nơi mà dân cư còn thưa thớt, vắng vẻ như Hà Nam. Vào khoảng những năm đầu thời Tiền Lê, có các gia đình từ vùng Hoà Bình đã đến lập nghiệp và dựng trang trại tại huyện Thanh Liêm(3). Từ năm 944 đến 980, trải qua gần 40 năm canh tác, vùng đất Liêm Tiết, Thanh Liêm đã được thục hoá, thuận tiện cho việc trồng cấy. Dân cư sinh sống tại đây cũng ngày càng đông đúc.
Dưới triều Tiền Lê, nghề thủ công nghiệp truyền thống ở các làng quê Hà Nam như: trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa cổ truyền vẫn tiếp tục được đẩy mạnh. Vào năm 985, Lê Hoàn đã đưa một vạn tấm lụa sang cống vua Tống. Sự kiện này chứng tỏ nghề dệt thời Tiền Lê đã phát triển và đạt tới trình độ kỹ thuật cao. Nghề rèn đúc, kiến trúc cũng rất thịnh hành, để phục vụ cho nhu cầu về quân sự cũng như sinh hoạt cung đình và dân sinh trong điều kiện đất nước hoà bình, độc lập. Hàng loạt cung điện đã được xây dựng ở kinh đô Hoa Lư dưới triều Tiền Lê, với một quy mô to lớn, như sử từng chép: Giáp Thân năm thứ 5 (984), dựng nhiều cung điện, làm điện Bách bảo Thiên tuế ở núi Đại Vân làm điện coi chầu, điện Trường Xuân làm nơi vua ngủ, rồi điện Phong Lưu, Tử Hoa, Bồng Lai, Cực Lạc; trong có điện lợp bằng ngói bạc, cột điện dát vàng...
Nhà vua còn cho sản xuất hàng ngàn chiếc mũ đâu mâu bằng kim loại và những vật liệu khác sử dụng vào việc đóng thuyền chiến. Sự giao lưu kinh tế hàng hoá trong giai đoạn này gắn liền với việc xuất hiện những tiền đúc bằng đồng, kế tiếp việc đúc tiền riêng của nước ta từ thời Đinh. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: Giáp Thân, năm thứ 5 (984), mùa xuân, tháng hai, đúc tiền "Thiên Phúc” (1). Các nhà nghiên cứu đã xác định: “Vua Lê Đại Hành nhà Tiền Lê có ba niên hiệu: Thiên Phúc (980-988), Hưng Thống (989-994), Ứng Thiên (994-1005). Cả thư tịch lẫn di vật đều chỉ cho biết một loại tiền mang niên hiệu Thiên Phúc, đó là đồng “Thiên Phúc trấn bảo” (2). Tất cả những việc đó, đã tạo thành một động lực thúc đẩy nghề rèn cùng kỹ nghệ đúc, pha chế hợp kim, nghệ thuật trang trí, kiến trúc, phát triển mạnh mẽ hơn trước. Mặt khác cũng chứng tỏ, nền kinh tế giai đoạn này của triều Tiền Lê có bước phát triển mới.
Đặc biệt, nghề làm gốm đã đạt được tới trình độ kỹ thuật cao. Tại khu di tích Hoa Lư đã phát hiện được nhiều hiện vật ngói ống, ngói bản cùng nhiều loại gạch có chữ “Giang Tây quân”, “Đại Việt quốc quân thành chuyên”. Việc phát hiện những di vật thuộc giai đoạn Đinh - Tiền Lê lần đầu tiên tại Khu di tích Hoàng thành Thăng Long như gạch màu đỏ, có in chữ “Đại Việt quốc quân thành chuyên”, trang trí hình uyên ương (3) đã minh chứng sự tham gia vào công cuộc xây dựng kinh thành Thăng Long ở thế kỷ X của những người thợ thủ công tài hoa của các địa phương cả nước, trong đó có vùng đất Hà Nam. Nghề thuộc da và làm đồ da đã xuất hiện, vì vậy các đội quân lính tại kinh đô Hoa Lư và tại các vùng khác nữa đều đội mũ da... (1).
Thủ công nghiệp thời Tiền Lê không còn hoạt động lẻ tẻ, rời rạc; thợ thủ công ngày càng trở thành một tầng lớp đông đảo hơn, có trình độ kỹ thuật cao hơn. Thương nghiệp được đẩy mạnh, không chỉ khuôn hẹp phạm vi trao đổi buôn bán nhỏ trong thị trường nội địa, triều Tiền Lê còn mở rộng quan hệ thông thương với bên ngoài, đặc biệt là buôn bán ven đường biên với Trung Quốc. Năm 976, thuyền buôn nước ngoài đã đến xin trao đổi hàng hoá. Năm 1007, vua Lê Long Đĩnh chính thức cho phép đặt quan hệ mua bán tại các chợ vùng biên thuộc châu Liêm (tỉnh Quảng Đông) và trấn Như Hồng (Quảng Đông). Đồng thời với việc đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp, vương triều Tiền Lê còn chú ý mở mang giao thông nhằm phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế đất nước và đời sống nhân dân.
Nếu như thời Ngô và Đinh không thấy có ghi chép việc đào sông làm đường thì sang thời Tiền Lê, các ông vua đã thường xuyên thực thi việc mở rộng hệ thống giao thông thuỷ bộ trong toàn quốc. Hà Nam đương thời cũng là một trong những vùng được chú ý phát triển giao thông. Khi vua Lê Đại Hành tiến hành lễ cày “tịch điền” tại Đọi Sơn, quả núi có hình thế đẹp mà lại hữu tình, trên núi dưới sông, quần thần đã cho dựng tại phía Tây chân núi Đọi các Dinh để làm hành tại cho vua nghỉ, hiện vẫn còn các di tích là nền của Dinh Trong, Dinh Ngoài. Muốn đi đến Đọi Sơn, vua Đại Hành phải đi thuyền ngự theo dòng Hoàng Long, qua ngã ba Gián Khẩu, nhập vào sông Đáy, ngược lên Châu Cầu, rồi theo dòng Châu Giang lên núi Đọi. Chắc chắn các bề tôi của triều Tiền Lê đã phải tiến hành khai vét các dòng sông trong địa phận Hà Nam như sông Châu, cùng các nhánh sông khác để phục vụ cho chuyến đi kinh lý mang tầm quan trọng này của vua Lê Đại Hành.
Vào thời kỳ này, Nho giáo đã được du nhập vào nước Đại Cồ Việt, nhưng chưa phát triển rộng rãi trong toàn xã hội. Giới tăng lữ vẫn là những người thông thạo Nho học và truyền bá tư tưởng của các Nho gia. Họ là đại biểu cho tầng lớp trí thức đương thời, là những cố vấn trị nước cho các vua Tiền Lê. Với vốn kiến thức Nho-Phật-Đạo, họ đã tham gia tích cực vào nhiều lĩnh vực, đóng góp nhiều ý kiến quý cho triều đình Tiền Lê, được mọi người kính trọng và nể vì. Có nhiều nhà sư nổi tiếng thời đó như: Ngô Chân Lưu, Đỗ Pháp Thuận, Ma Ha, Vạn Hạnh... Vua Lê Đại Hành thường gọi Đỗ Pháp Sư chứ không dám gọi tên thực của Đỗ Pháp Thuận. Nhà vua cũng từng nhiều lần mời sư Ma-Ha người Chiêm Thành, giỏi cả tiếng Hán lẫn tiếng Phạn về Hoa Lư hỏi về đạo. Cho đến cuối nhà Tiền Lê, năm 1007, vua Lê Long Đĩnh còn sai con là Minh Sưởng sang nhà Tống xin Cửu kinh (9 bộ Kinh nhà Nho) và kinh sách Đại Tạng (kinh sách nhà Phật), chứng tỏ sự chủ động tiếp thu tôn giáo của các vua Tiền Lê.
Phật giáo đã đóng một vai trò quan trọng, khi đó đã trở thành công cụ tư tưởng của triều Tiền Lê. Với đội ngũ trí thức tăng lữ “nhập thế”, hoà mình vào cuộc sống, Phật giáo đã chiếm được vị trí quan trọng trong xã hội. Hiện tại trong các địa phương của Hà Nam còn lưu lại những dấu vết Phật giáo của thế kỷ X. Sự tích chùa cổ Khánh Linh ở thôn Khê Lôi (thuộc xã Liêm Tiết, huyện Thanh Liêm) cho biết: Thời Tiền Lê đã có người về đây lập chùa thờ Phật (1).
Văn hóa thời kỳ này cũng được chú ý phát triển trên cả hai phương diện: Văn hóa cung đình và Văn hóa dân gian, trong đó tính chất văn hóa dân gian sâu đậm hơn. Dòng văn học dân gian thể hiện nhận thức và tình cảm của quần chúng lao động, trong đó đông đảo hơn cả là nông dân và thợ thủ công. Dòng văn học dân gian vốn có nguồn gốc từ thời kỳ Văn Lang, Âu Lạc đã luôn luôn phát triển trong thời kỳ đấu tranh chống ách thống trị Bắc thuộc, bất chấp chính sách văn hoá phản động của đế quốc phong kiến, và là một sức mạnh to lớn chống lại chính sách ấy cũng như ách thống trị ấy (2).
Có thể nói, thế kỷ X, bắt đầu từ cha con Khúc Hạo, Khúc Thừa Dụ cho đến giai đoạn Lê Hoàn, sự nghiệp độc lập tự chủ quốc gia đã được hình thành và giữ vững. Nhân dân Hà Nam đã cống hiến nhiều sức lực cùng vật chất cho công cuộc dẹp yên nội loạn (mười hai sứ quân), thống nhất đất nước và đánh tan mọi sự xâm lược của ngoại bang ở cả phương Bắc (triều Tống) và phương Nam (Chiêm Thành), đóng góp tích cực cho sự nghiệp củng cố và xây dựng mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa của nước Đại Cồ Việt.
III. HÀ NAM TỪ THẾ KỶ XI ĐẾN THẾ KỶ XV (LÝ, TRẦN, HỒ, LÊ SƠ)
1. Nhân dân Hà Nam tích cực tham gia chống quân xâm lược, giữ gìn quốc gia và quê hương
a) Hà Nam với sự kiện dời đô năm Canh Tuất (1010) của vương triều Lý
Cuộc dời đô nổi tiếng của Lý Thái Tổ được tiến hành bằng đường thủy chính là vào tháng 7, mùa thu năm Canh Tuất. Sử cũ chép: “Vua dời đô từ thành Hoa Lư sang thành Đại La, thuyền tạm đỗ dưới thành, có rồng vàng hiện ra trên thuyền ngự, do đó đổi gọi là thành Thăng Long (1). Mặc dù sử sách không ghi chép cụ thể về địa điểm xuất phát cùng chặng đường phải đi của đoàn thuyền ngự, nhưng căn cứ vào thực địa và suy đoán có thể vạch ra như sau: Cuộc hành trình đường thuỷ từ cựu kinh Hoa Lư ra tận kinh Thăng Long, tất sẽ đi theo tuyến sông Hoàng Long - sông Đáy - sông Châu nằm trong địa phận Hà Nam - sông Hồng. Cuối mùa hè đầu mùa thu hàng năm, thường là thời kỳ nước các con sông đang dâng cao, rất thuận tiện cho việc di chuyển bằng thuyền, không sợ bị mắc cạn. Mặt khác những đợt gió nồm thổi mạnh cuối hè, đầu thu càng làm cho cuộc dời đô chắc chắn rất quy mô và hùng hậu của Lý Thái Tổ được diễn ra “thuận buồm xuôi gió”.
Mùa thu năm đó, có thể đoàn thuyền vua Lý xuất phát ngay từ Thành Ngoại, khu Ghềnh Tháp - nơi tập luyện thuỷ binh từ thời vua Đinh. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, đoàn thuyền ngự có thể ra tới sông Hoàng Long với bến chợ Trường Yên tấp nập, đông vui. Từ bến Trường Yên, đoàn thuyền trở lái xuôi về phía đông, tới ngã ba Gián khẩu - nơi sông Hoàng Long hợp lưu với sông Đáy, thì đoàn thuyền cũng bắt đầu ngược theo dòng sông Đáy lên hướng Bắc. Tới làng Châu Cầu (tức thị xã Phủ Lý ngày nay), nơi sông Đáy tách một nhánh chảy sang phía Đông hợp lưu với sông Châu, đoàn thuyền rẽ theo ngả này để đến ngã ba Lỗ Hà ra sông Hồng. Từ đây, cứ theo sông Hồng thẳng tiến lên hướng Bắc chỉ khoảng hơn 60 km là tới thành Đại La (2).
Quá trình di dời kinh đô vào đầu thế kỷ XI, với một chặng đường tuy không dài lắm, song quốc gia Đại Cồ Việt vừa phải trải qua những cuộc chiến tranh gian khổ, dân chúng đang nghèo nàn, nên triều đình nhà Lý cũng phải dự tính, lo liệu từ sớm để cuộc dời đô thành công. Mặt khác, cuộc di chuyển đòi hỏi phải cần nhiều nhân lực, vật lực, không thể chở theo mọi thứ trên những con thuyền còn chưa được hiện đại. Vì vậy vùng đất Hà Nam cận kề Hoa Lư, nơi hành trình của đoàn thuyền ngự đi qua và dừng trú nhiều, cần có những đóng góp xứng đáng. Chắc chắn nhân dân Hà Nam đã có những đóng góp đáng kể cả về vật chất lẫn tinh thần vào cuộc dời đô nổi tiếng và thành công của vua Lý Thái Tổ.
b) Nhân dân Hà Nam với cuộc Nam chinh năm 1069 của vua Lý Thánh Tông
Cùng với việc tập trung củng cố chính quyền trung ương tập quyền trên nhiều phương diện, các vua đầu triều Lý, nhất là vua Lý Thánh Tông (1054-1072), rất có ý thức xây dựng một quốc gia Đại Việt hùng mạnh nhằm ngăn chặn mọi sự tấn công từ phương Bắc và dẹp yên sự xâm lấn quấy nhiễu từ phương Nam. Trước những sự khiêu khích dồn dập dựa vào thế lực nhà Tống của Chế Củ - vua Chiêm Thành thời đó, ngày 24-2-1069, Lý Thánh Tông hạ chiếu thân chinh đi đánh Chiêm Thành. Lý Thường Kiệt được cử làm Đại tướng quân đem quân đi tiên phong và kiêm chức Nguyên soái. Lực lượng quân đội huy động trong lần Nam chinh này tới 5 vạn người, trong đó chủ yếu là quân thuỷ với hàng trăm thuyền chiến.
Cuộc hành quân của quân đội Lý Thánh Tông bắt đầu từ ngày 8-3-1069 và xuất phát từ một bến sông Hồng thuộc địa phận Kinh thành Thăng Long: “Thuyền xuôi dòng sông Lô (Nhị Hà), qua Lý Nhân hành cung (vùng Nam Xương), rẽ xuống phía Nam rồi ra cửa Đại An. Cửa Đại An nay trên sông Đáy cách bể chừng 20 cây số, thuộc địa phận làng Quần Liêu, huyện Đại An, tỉnh Nam Định... Từ Lý trở về trước cửa này là chỗ các thuyền mành qua lại để đi từ các sông nước ta ra bể vào Nam...” (1).
Qua nghiên cứu ghi chép của các thư tịch cổ và các truyền thuyết, di tích địa phương có thể khẳng định, cuộc Nam chinh này của Lý Thánh Tông có đóng góp không nhỏ về nhân lực cũng như vật chất của nhân dân Hà Nam. Đoàn quân khổng lồ với 5 vạn người khi đi qua phủ Lý Nhân, nhân dân Hà Nam chắc chắn đã ủng hộ, giúp đỡ rất nhiều cho đội quân của triều đình cả sức người và không chỉ về vật chất mà còn bổ sung nhiều con em trai tráng trong vùng cho đoàn quân Nam chinh này.
Tại thôn Quyển Sơn (xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng) hiện còn lưu giữ nhiều câu chuyện kể cùng những địa danh gắn liền với cuộc hành quân năm 1069 và vị Nguyên soái Lý Thường Kiệt. Người dân nơi đây kể rằng: Năm 1069, đoàn thuyền chiến của Lý Thường Kiệt theo dòng sông Đáy đi chinh phạt giặc phương Nam, khi đi qua trại Canh Dịch, nay là thôn Quyển Sơn thì gặp cơn gió lớn. Trận gió này bẻ gẫy cột buồm và cuốn lá cờ đại lên đỉnh núi. Lý Thường Kiệt cho quân lính dừng lại rồi cùng tướng sĩ lên làm lễ tế trời đất cầu mong chiến thắng. Vị Nguyên soái hay chữ đã đặt tên quả núi là Cuốn Sơn và trại Canh Dịch cũng đổi là làng Cuốn Sơn. Sau trận đại thắng Chiêm Thành, Lý Thường Kiệt trở về kinh đô, qua vùng Cuốn Sơn, nhớ lời cầu nguyện cũ, cho dừng thuyền, hạ trại bên rừng trúc, giết trâu mổ bò làm lễ tạ, khao thưởng ba quân. Lý Thường Kiệt cho mời dân làng cùng dự lễ mừng chiến thắng, các thôn nữ đến hát múa, trai tráng đua thuyền góp vui. Những bài hát múa của các thôn nữ có nội dung ca ngợi chiến công, tài chỉ huy của Nguyên soái Lý Thường Kiệt cùng cuộc sống thanh bình, hạnh phúc lứa đôi. Trò múa này được gọi là hát Dậm. Sau này để tưởng nhớ công lao của Lý Thường Kiệt đối với đất nước và địa phương, nhân dân Quyển Sơn lập đền thờ Lý Thường Kiệt tại nơi ông cho mở hội chiến thắng. Đó là Đền Trúc ở dưới chân núi Cấm.
Lại có một truyền thuyết khác cũng liên quan tới Lý Thường Kiệt và cuộc hành quân năm 1069: Khi Lý Thường Kiệt đến đóng quân tại vùng Quyển Sơn, một vị lương y trong đội quân lên núi Cấm hái thuốc, phát hiện tại đây có cây cỏ thi là loại thuốc quý, có thể chữa được nhiều bệnh nan y (1).
Không chỉ ở Quyển Sơn mà tại nhiều vùng khác của Hà Nam như thôn Bùi, làng Thịnh Châu (tổng Phù Đạm, huyện Kim Bảng) hay làng Yên Xá (tổng Kỳ Cầu, huyện Thanh Liêm)... đều lập đền thờ cùng thần tích, truyền thuyết về thân thế, sự nghiệp vũ công hiển hách của Lý Thường Kiệt. Tại làng Cổ Viễn (huyện Bình Lục) hiện còn đền thờ Phan công chúa, ngọc phả tại đây cho biết: vùng đất cổ Bình Lục có hệ thống giao thông quan trọng, nên vào thời Lý, Trần thường có những cuộc hành quân và chiến đấu tại đây. Khi Lý Thánh Tông đưa quân thực hiện cuộc Nam chinh năm 1069, có hành quân qua làng Cổ Viễn, công chúa họ Phan đã xin được ở lại để khai phá vùng đất này. Công chúa đã cùng nhân dân nơi đây cần cù, “một nắng hai sương”, mở mang diện tích cày cấy. Sau khi công chúa qua đời, dân làng tôn làm Thành hoàng.
c) Hà Nam trong ba cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông - Nguyên thế kỷ XIII
Đế quốc Mông - Nguyên ở thế kỷ XIII, sau hơn nửa thế kỷ tiến hành những cuộc chiến tranh đẫm máu tàn bạo trong lịch sử nhân loại, đã chiếm được một lãnh thổ rộng lớn suốt từ châu Á sang châu Âu. Đại Việt đương thời cũng nằm trong ý đồ thôn tính của đế quốc Mông - Nguyên. Chúng muốn chiếm Đại Việt và biến Đại Việt trở thành bàn đạp để tấn công các nước khác ở Đông Nam Á, sử nhà Nguyên chép: “Ngột Lương Hợp Thai vào Giao Chỉ định kế lâu dài’’ (1).
Tháng 1-1258, Ngột Lương Hợp Thai hùng hổ đem khoảng hơn hai vạn rưởi quân bao gồm cả kỵ binh Mông Cổ và quân Thoán (vùng Vân Nam) tiến dọc theo sông Hồng sang xâm lăng Đại Việt (2). Trước thế mạnh ban đầu của địch, vua tôi triều Trần chủ động vừa đánh vừa rút khỏi Kinh thành Thăng Long, một mặt bảo đảm an toàn lực lượng của ta, mặt khác nuôi ý chủ quan của địch, để đợi dịp thuận lợi, quân ta sẽ phản công. Quân đội và vua quan triều Trần quyết định rút về vùng sông Thiên Mạc (thuộc huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam).
Sông Thiên Mạc là một dòng sông ngắn (chính là con sông Mang Giang đã cạn từng phần), chia nước của sông Nhuệ đoạn cầu Giẽ, chảy qua các huyện Phú Xuyên, qua vùng Hoà Mạc-Trác Bút (Châu Giang huyện Duy Tiên), rồi đổ vào sông Hồng. Địa điểm Tắc Giang hiện nay - một bên là thôn Lỗ Hà (trong đó có xóm A Lỗ, xã Chuyên Ngoại, huyện Duy Tiên), một bên là thôn Mạc Thượng (xã Chính Lý, huyện Lý Nhân).
Con đường rút lui chiến lược mà vua quan triều Trần thực hiện từ ngày 18- 2-1258, xuất phát từ Thăng Long theo dòng Tô Lịch, đi vào sông Nhuệ, xuôi dòng Thiên Mạc (Mang Giang) tới ngã ba Tắc Giang rồi rẽ vào sông Hồng về phía Thiên Trường(3). Toàn bộ triều đình, hoàng gia và quân lính đã rút lui an toàn vì có sự bảo vệ và yểm trợ của lực lượng bộ binh ven bờ sông Hồng, sông Nhuệ, sông Đáy, sông Thiên Mạc và cả sông Hoàng Giang nữa. Những “chốt” - gọi là thái ấp, do những tôn thất triều Trần hay những người họ khác được ban Quốc tính lập trên đường nước từ Thăng Long và đi về phía Thiên Trường - Tức Mặc, đã tạo thành một hệ thống đồn luỹ khá kiên cố, mà kẻ địch không dễ gì có thể qua được. Trên con đường nước Thăng Long - Thiên Trường, ở hầu hết (nếu không phải là tất cả) các ngã ba sông quan trọng đều có các cứ điểm chính trị - quân sự - kinh tế của nhà Trần.
Chế độ thái ấp thời Trần, thể hiện một tinh thần cảnh giác cao độ của các vua Trần. Các thái ấp thường được đặt ở những vị trí hiểm yếu của đất nước hoặc là cần thiết đối với cung vua(1). Đó là thái ấp của Trần Khát Chân tại Hoàng Mai, Tương Mai (hiện thuộc phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, Hà Nội), thái ấp Trần Thông ở Thanh Oai (Hà Tây bên hữu ngạn sông Nhuệ), thái ấp của Trần Quốc Tảng tại ngã ba Gián Khẩu, thái ấp của Trần Khánh Dư tại phía dưới ngã ba ở Dưỡng Hoà - Duy Hải (huyện Duy Tiên), thái ấp của Trần Thủ Độ gần ngã ba sông Châu... (2). Trên chặng đường rút lui chiến lược năm 1258, vua tôi nhà Trần đi qua khá nhiều địa phương của Hà Nam. Nhân dân Hà Nam ở mọi vùng miền đều đã tích cực tạo nhiều điều kiện vật chất như lương thực, nơi tạm trú, để ủng hộ và bảo vệ vua tôi nhà Trần. Kho lương ở đền Trần Thương (xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân) là một minh chứng cho tấm lòng nhiệt tình với cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ nhất của nhân dân Hà Nam. Về mặt địa lý tự nhiên, làng Trần Thương xưa ở ngay bên bờ sông Hồng có nhiều gò đống, cây cối um tùm. Trần Thương là gò cao nhất, do vậy việc bố trí một kho hậu cần ở đây có ý nghĩa quốc phòng, không chỉ là kho lương cung cấp thường xuyên cho những trận chiến đấu thời Trần, mà có thể đây còn là kho hậu cần lâm thời phục vụ cho cuộc rút lui năm 1258 (3).
Sử sách thường nhắc lại các hoạt động của bà Trần Thị Dung (1) trong cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên lần thứ nhất năm 1258. Giữa lúc chiến trận đang căng thẳng, vua Trần Thái Tông ra quyết định giao cho bà Trần Thị Dung việc tổ chức một cuộc sơ tán khẩn cấp toàn bộ gia quyến của các tôn thất, ngoại thích trong triều, cùng vợ con tướng lĩnh và những vật dụng cần thiết. Bà đã bình tĩnh, khéo léo điều động thuyền, xe và sắp xếp việc sơ tán người. Đồng thời bà còn huy động nhân dân kinh thành Thăng Long thu xếp vũ khí, lương thực từ các kho của Nhà nước vận chuyển xuống thuyền đưa về vùng Hoàng Giang (Lý Nhân). Công tác sơ tán kinh thành nhanh gọn, bảo đảm bí mật. Lương thực, vũ khí không bị lọt vào tay giặc, thực hiện tốt kế hoạch “tiểu dân thanh dã” (vườn không nhà trống). Khi giặc Mông - Nguyên kéo vào, Thăng Long chỉ còn là toà thành trống rỗng. Khi đến Hoàng Giang (Lý Nhân), bà Trần Thị Dung chăm sóc chu đáo toàn bộ bầu đoàn thê tử của tôn thất, tướng lĩnh, khiến cho vua quan, tướng sĩ trong triều yên tâm chiến đấu chống giặc. Khi quân ta mở cuộc phản công thì chính bà lại đứng ra chỉ huy công tác cung cấp hậu cần (2).
Đánh giá về công lao của bà Trần Thị Dung, sử gia Ngô Sĩ Liên đã viết: "... Đến khi người Nguyên sang xâm lấn, kinh thành thất thủ. Linh Từ ở Hoàng Giang giữ gìn hoàng thái tử, cung phi, công chúa và vợ con của các tướng thoát khỏi giặc cướp, lại khám xét thuyền của các nhà có chức giấu đồ quân khí, đều lấy hết đưa đến quân, xét về phần nội trị cho nhà Trần thì Linh Từ có nhiều công to...”(3).
Năm 1285, Đại Việt của vương triều Trần lại phải đương đầu với cuộc xâm lược lần thứ hai của đế quốc Mông Cổ. Ngày 27-1-1285, quân Mông - Nguyên ngang nhiên phát động cuộc chiến với hàng chục vạn quân chia làm ba cánh tiến vào nước ta. Hội nghị Diên Hồng với tiếng thét trăm người như một đồng thanh hô “nên đánh” của các bô lão trong cả nước cùng bài Hịch tướng sĩ da diết của Trần Quốc Tuấn đã khích lệ toàn quân, dân Đại Việt. Cả nước sục sôi khí thế giết giặc, xuất hiện những bản bố cáo: “Tất cả các quận huyện trong nước, nếu có giặc ngoài đến, phải liều chết mà đánh, nếu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, không được đầu hàng” (4).
Lúc này, cùng với quân dân cả nước, nhân dân vùng Lỵ Nhân (Hà Nam ngày nay) cũng đã chuẩn bị chu đáo để bước vào một cuộc kháng chiến khốc liệt hơn. Trước thế mạnh của giặc, mặc dù quân đội nhà Trần đã đánh trả rất quyết liệt, song cuối cùng hai vua Trần (Thượng hoàng Trần Thái Tông và vua con Trần Nhân Tông) đã quyết định sáng suốt: rút khỏi kinh thành Thăng Long. Vua tôi triều Trần theo sông Thiên Mạc rút về vùng Thiên Trường (Nam Định). Trên đường rút chạy, quân ta dựa vào những cứ điểm quân sự tại các “chốt nước” ở vùng ngã ba sông để bố trí trận địa mai phục. Nhiều tấm gương hy sinh cao cả xuất hiện được sử sách ghi lại gồm cả những người con của quê hương Hà Nam cống hiến thân mình cho sự nghiệp giữ nước thời Trần. Trong đó có Trần Bình Trọng, hậu duệ của vua Lê Đại Hành. Sử chép về ông như sau: Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng: Vương là dòng dõi Lê Đại Hành, chồng sau của công chúa Thụy Bảo. Ông cha làm quan ở đời Thái Tông, được cho quốc tính là họ Trần, đánh nhau với giặc ở bãi Đà Mạc (tức Thiên Mạc, xã Châu Giang, huyện Duy Tiên) bị chết. Trần Bình Trọng bị địch bắt, không chịu ăn, giặc hỏi việc nước không trả lời. Hỏi: “Có muốn làm vương đất Bắc không?” Vương thét to: “Thà làm ma nước Nam chứ không làm vương đất Bắc!”. Sau khi Bình Trọng bị giặc giết vào ngày 26-2-1285, vua Thái Tông được tin rất lấy làm thương xót, khóc mãi (1).
Trong cuộc kháng chiến chống giặc Mông - Nguyên lần thứ hai, nhân dân vùng Hà Nam hăng hái đi theo vua quân nhà Trần đánh giặc, như Trần Duy Công, người đỗ thứ hai trong kỳ thi Đình, là người ở An Lão (huyện Bình Lục), Nguyễn Chung Công và Nguyễn Thành Công ở Bình Lục cùng hàng ngàn người dân vô danh khác. Vùng đất Hà Nam đương thời không chỉ là nơi cung cấp lương thực cho triều đình Trần và các tướng sĩ, mà còn là nơi quy tụ nghĩa sĩ bốn phương, tăng cường lực lượng bổ sung cho quân đội Trần sau những đợt chiến đấu ác liệt. Chính viên tướng A-ric-kha-ya trực tiếp tham gia cuộc chiến lần hai, đã viết thư báo về cho Hốt Tất Liệt (Khubilai): “Ở hai xứ Thiên Trường và Trường Yên mà Trần Nhật Huyên (vua Trần Nhân Tông) trốn đến, binh lực lại tập hợp” (2).
Vào tháng 5-1285, sau khi đã tập hợp lực lượng đầy đủ, lại nắm chắc tình hình quân giặc đã quá mỏi mệt, tinh thần binh lính giặc thoái chí, vua tôi nhà Trần quyết định tiến hành một cuộc phản công chiến lược. Quốc công tiết chế Trần Quốc Tuấn cùng các tướng Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật dự định trước hết đánh vào các căn cứ của giặc dọc sông Hồng rồi tiến lên giải phóng Thăng Long. Trần Quốc Tuấn đã thân chinh đánh chiếm đồn A Lỗ. Theo những xác định gần đây, đồn A Lỗ của giặc Nguyên - Mông ở vào Tắc Giang, ngã ba sông Mang Giang (đã cạn từng phần) từ cầu Giẽ chảy qua vùng Hoà Mạc - Trác Bút (Châu Giang, huyện Duy Tiên) rồi đổ vào sông Hồng. Bên cạnh Tắc Giang có thôn Lỗ Hà (trong đó có xóm A Lỗ), xã Chuyên Ngoại, huyện Duy Tiên. Viên tướng Nguyên giữ đồn này là Vạn hộ Lưu Thế Anh phải bỏ đồn rút chạy. Đây là trận chiến mở màn cho hàng loạt trận chiến khác trong cuộc phản công giải phóng kinh đô, truy kích địch ra khỏi bờ cõi phía Bắc của Tổ quốc. Trận đánh đầu tiên trong hệ thống phòng tuyến dọc sông Hồng đã diễn ra trên vùng đất Hà Nam và giành được thắng lợi. Nó có ý nghĩa quan trọng, củng cố niềm tin chiến thắng của quân dân cả nước mà trước hết là những người dân địa phương Hà Nam đã góp công sức không nhỏ vào thắng lợi này. Mặt khác chiến thắng này còn làm cho kẻ thù run sợ, làm rung động cả hệ thống phòng tuyến dọc sông Hồng của kẻ địch.
Sau gần hai tháng phản công mãnh liệt trên khắp các chiến trường phía Nam sông Đáy, phía Bắc sông Hồng, quân dân Đại Việt đã giành được thắng lợi hoàn toàn, quét sạch quân Mông - Nguyên ra khỏi bờ cõi. Trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông - Nguyên lần thứ hai năm 1285, Hà Nam cùng với Nam Định, Ninh Bình trở thành căn cứ quân sự vô cùng quan trọng có tính chất quyết định thắng lợi toàn bộ cuộc kháng chiến và sự tồn tại của vương triều Trần. Cả vùng đất Hà Nam, Ninh Bình và Nam Định đương thời đã cưu mang, bảo vệ hai vua Trần cùng các tướng sĩ, bảo đảm cho sự thành công của cuộc kháng chiến.
Năm 1287-1288, quân Mông - Nguyên ngông cuồng lại tiếp tục xâm lược Đại Việt lần thứ ba. Lần này, các vua Trần lại rút lui khỏi Thăng Long, đưa triều đình cùng tướng sĩ về Thiên Trường rồi ra cửa biển Giao Hải. Các tướng giặc là Thoát Hoan, cùng Ô Mã Nhi đuổi theo các vua Trần hòng bắt sống, nhưng chúng không đuổi được. Bọn giặc tức tối, cho quân khai quật lăng mộ của Trần Thái Tông tại phủ Long Hưng (tỉnh Thái Bình), dân binh tại đây đã đánh trả quyết liệt. Tháng 4-1288, dưới sự chỉ huy tài tình của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, quân dân cả nước, trong đó có sự tham gia của nhân dân Hà Nam, đã đánh bại giặc Nguyên trên sông Bạch Đằng, đuổi sạch quân giặc ra khỏi bờ cõi, đất nước trở lại cuộc sống thanh bình.
Trong ba lần kháng chiến chống quân Mông - Nguyên xâm lược hồi thế kỷ XIII, quân và dân Hà Nam đã góp phần quan trọng vào chiến công chung của dân tộc. Với địa thế tự nhiên và tấm lòng yêu nước của người dân địa phương, Hà Nam đã trở thành căn cứ địa vững chắc, trở thành chiến trường - mồ chôn quân thù. Rất nhiều tấm gương anh dũng của con em Hà Nam trong các cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên được người đời sau coi là Thành hoàng, hương khói thờ tự. Đó là Lê Thị Liên ở Kim Bảng đã dùng thuốc nam kiếm được trên vùng đồi núi quê hương cứu chữa cho quân đội nhà Trần lúc lui về đây tránh địch. Dương Công Đán ở làng An Bài (xã Đồng Du, huyện Bình Lục), đã tập hợp dân binh, luyện tập đánh giặc. Khi quân Nguyên tràn vào làng An Bài cướp bóc, Công Đán mưu trí chỉ huy đội dân binh đánh cho bọn giặc thua chạy khỏi làng. Sau khi ông mất dân làng lập đền thờ. Đó còn là Minh Phúc đại vương, Minh Hải đại vương người huyện Kim Bảng, là Đông Bảng Phổ Tế đại vương người huyện Lý Nhân...
Ngoài ra còn có những vị tướng nổi tiếng trong đời Trần cũng được nhân dân Hà Nam ngưỡng vọng thờ tự. Trần Khánh Dư được thờ tại thôn Thượng (xã Duy Hải, huyện Duy Tiên) không chỉ bởi ông là võ tướng mà còn được coi là Thành hoàng vì đã khai hoang lập ấp, dạy dân dệt vải, ươm cá giống và đã mất tại nơi đây (1). Đặc biệt, nhiều đền thờ Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn được nhân dân Hà Nam lập tại nhiều địa phương, chứng tỏ dân chúng rất kính trọng và ngưỡng mộ tài đức song toàn của ông.
Danh sách các nhân vật thời Trần được thờ ở tỉnh Hà Nam
TT
|
Họ và tên
(nhân vật)
|
Nơi thờ
|
Ghi chú
| |
Xã (làng, thôn)
|
Huyện
| |||
1
|
2
|
3
|
4
|
5
|
1
|
Trần Cảnh
|
Thành Thị (làng)
|
Bình Lục
| |
Trần Thị Dung
|
Thành Thị (làng)
|
x
|
Như trên: x
| |
2
|
x
|
Chân Ninh (làng)
|
x
| |
3
|
Trần Hưng Đạo
|
Đa Hiếu (thôn)
|
x
| |
x
|
Quốc (thôn)
|
x
| ||
x
|
Yên Lão (làng)
|
x
| ||
x
|
Đồng Du (làng)
|
x
| ||
x
|
Côi (thôn)
|
x
| ||
x
|
An Nội (thôn)
|
x
| ||
x
|
Phúc Tiến (thôn)
|
x
| ||
x
|
Xanh (thôn)
|
x
| ||
x
|
An Đề (thôn)
|
x
| ||
x
|
Bối Cầu (thôn)
|
x
| ||
x
|
Viễn Lai (thôn)
|
x
| ||
x
|
Trang Thượng (thôn)
|
x
| ||
x
|
Hưng Vượng (thôn)
|
x
| ||
x
|
Ngọc Lâm (thôn)
|
x
| ||
x
|
Thành Thị (thôn)
|
x
| ||
x
|
Cương (thôn)
|
x
| ||
4
|
Trần Thủ Độ
|
Thành Thị (làng)
|
x
| |
5
|
Trần Khánh Dư
|
Dưỡng Hòa (thôn)
|
Duy Tiên
| |
x
|
Lảnh Trì (thôn)
|
x
| ||
x
|
Nha Xá (thôn)
|
x
| ||
6
|
Trần Hưng Đạo
|
Bạch Xá (thôn)
|
x
| |
7
|
Đặng Ma La
|
Yên Lệnh (thôn)
|
x
| |
8
|
Trần Hưng Đạo
|
Khả Phong (thôn)
|
x
|
Nay thuộc
thị xã
Phủ Lý
|
x
|
Vân Châu (thôn)
|
x
| ||
x
|
Hòa Lạc (làng)
|
x
| ||
x
|
Thượng (thôn)
|
x
| ||
x
|
Nông Vụ (làng)
|
x
| ||
x
|
Lạt Sơn (làng)
|
x
| ||
9
|
Phạm Ngũ Lão
|
Lạt Sơn (làng)
|
x
| |
10
|
Trần Hưng Đạo
|
Hạt Vĩ (làng)
|
Lý Nhân
| |
x
|
Nhân Giả (làng)
| |||
x
|
Mão Cầu (làng)
| |||
x
|
Kinh Khê (làng)
| |||
x
|
Phú Khê (làng)
| |||
x
|
Đông Trữ (làng)
| |||
x
|
Đông Tự (làng)
| |||
x
|
Miễu (làng)
| |||
x
|
Trần Thương (làng)
| |||
11
|
Trần Hưng Đạo
|
Sơn Thông (thôn)
|
Thanh Liêm
| |
Trần Quốc Tuấn
|
Tân Khai (phố)
|
T.X Phủ Lý
| ||
x
|
Liêm Thuận (xã)
|
Thanh Liêm
| ||
12
|
Trần Nhật Duật
|
Vạn Phúc (thôn)
|
x
| |
13
|
Trần Triều An Sinh
|
Tân Khai
|
T.x Phủ Lý
|
-An Sinh Vương
|
14
|
Thượng Sĩ
|
Đỗ Xá (thôn)
|
x
|
- Tuệ Trung
|
x
|
Ngải Trì (làng)
|
Thanh Liêm
|
Thượng Sĩ
| |
15
|
Chiêu Túc Vương
|
Trạch Mai
|
x
|
- Chưa rõ tên
|
d) Hà Nam trong kháng chiến chống Minh thời Hồ và trong khởi nghĩa Lam Sơn
Vương triều Hồ được thành lập năm 1400, đặt quốc hiệu là Đại Ngu với ý muốn xây dựng đất nước được thái bình, thịnh trị như thời vua Ngu Thuấn trong lịch sử cổ đại Trung Hoa. Nhưng triều Minh ở phương Bắc, cũng như mọi triều đại phong kiến Trung Hoa khác, luôn thường trực ý đồ xâm lược nước ta. Vào những năm đầu thế kỷ XV, triều Minh đã có nhiều hoạt động như cử các đoàn sứ thần sang thăm dò, liên hệ với các quan lại cũ của triều Trần có tư tưởng chống đối triều Hồ, chuẩn bị nội ứng. Mặt khác, chúng còn xúi giục vua Chiêm Thành quấy rối vùng biên cương phía Nam của Đại Ngu. Năm 1406, triều Minh còn sai sứ sang đòi đất Lộc Châu, lấy cớ đó là đất của chúng.
Trước tình hình cả hai phía Bắc, Nam đều có nguy cơ xảy ra chiến tranh, Hồ Quý Ly tiến hành hàng loạt biện pháp tăng cường lực lượng quân sự, như lập sổ hộ tịch, điểm số dân binh, bổ sung tráng đinh, đóng thuyền đinh sắt, lập thêm kho quân khí, đặt thêm các chức Thiên hộ, Bách hộ... Vào cuối năm 1405 đầu năm 1406, triều Hồ còn ra lệnh các địa phương tích cực chuẩn bị chống giặc, huy động dân binh đóng cọc gỗ chặn cửa sông Bạch Hạc, Phú Thọ; đắp thành Đa Bang (Tiên Phong - Sơn Tây).
Tháng 4 năm 1406, lấy cớ “phù Trần diệt Hồ”, triều Minh đem 10 vạn quân đưa tên ngụy vương Trần Thiêm Bình về nước, nhưng không đạt được kết quả. Tháng 10 năm 1406, nhà Minh lại đem 20 vạn quân chia làm hai cánh theo đường Lạng Sơn và Tây Bắc xâm lược nước ta. Đến đầu năm 1407, quân Minh vượt sông Hồng tấn công thành Đa Bang. Ngày 20-1-1407 thành Đa Bang thất thủ. Giặc Minh phá vỡ được tuyến phòng thủ, chúng tràn vào Thăng Long thẳng tay vơ vét, tàn phá. Quân triều Hồ do Tả tướng Hồ Nguyên Trừng chỉ huy tạm rút về vùng Hoàng Giang (nay thuộc tỉnh Hà Nam). Giặc Minh đưa quân chốt chặn ở cửa Lỗ Giang, bờ sông Mộc Hoàn (thuộc hạ lưu sông Hồng, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam hiện nay), đóng dinh trại đối diện với sông Hoàng Giang. Giặc Minh tấn công, Hồ Nguyên Trừng phải đem quân lui về vùng Muộn Hải (nay thuộc huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định), tiếp theo chạy về giữ vùng cửa biển Đại An (huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định). Sau đó, Nguyên Trừng chỉnh đốn, bổ sung thêm quân đến Hoàng Giang, quyết định mở cuộc tiến công quy mô lớn vào quân Minh. Song do phía giặc quá mạnh, nên quân ta vỡ trận, vua quan, tướng lĩnh triều Hồ phải chạy về Tây Đô, Thanh Hoá. Tháng 5-1407, giặc Minh tiến đánh Tây Đô, Hồ Quý Ly cùng triều thần phải tiếp tục chạy vào Nghệ An. Cha con Hồ Quý Ly cùng quan quân bị sa vào tay giặc.
Vào cuối tháng 6-1407, cuộc kháng chiến chống giặc do triều Hồ lãnh đạo hoàn toàn thất bại (1). Trong cuộc kháng chiến này, nhân dân Hà Nam đã được huy động góp sức người và sức của, ủng hộ quân dân đánh giặc. Cho đến nay, mới chỉ phát hiện một di tích có khả năng liên quan tới nơi đồn trú của quân đội nhà Hồ tại xã Thanh Thủy (huyện Thanh Liêm). Qua truyền thuyết, trong thời gian đóng quân tại đây, nhà Hồ đã tuyển mộ nhân dân địa phương vào quân đội, sau này khi cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược của Hồ Quý Ly thất bại, nhiều người tiếp tục tham gia khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi khởi xướng (2).
Sau khi triều Minh đặt ách thống trị lên nước ta vào năm 1407, chúng đã thi hành nhiều chính sách tàn bạo và thâm độc nhằm bóc lột về kinh tế, đồng hóa về chính trị và văn hóa. Nguyễn Trãi đã tố cáo tội ác mà giặc Minh gieo rắc trên quốc gia Đại Việt hồi thế kỷ XV:
Tát cạn nước Đông Hải, không rửa nhục hôi tanh,
Chặt hết trúc Nam Sơn, khó ghi đầy tội ác.
Có áp bức tất có đấu tranh. Ngay từ khi giặc Minh xâm lược nước ta, nhân dân nhiều nơi trên đất Đại Việt đã đứng lên khởi nghĩa. Tiêu biểu cho phong trào chống Minh đầu thế kỷ XV, là cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi và Trần Quý Khoáng. Cuộc khởi nghĩa Trần Ngỗi nổ ra vào tháng 11-1407, tại Yên Mô (Tam Điệp - Ninh Bình) được đông đảo mọi người tham gia. Tác phẩm văn vần lịch sử “Thiên Nam ngữ lục” đã mô tả: “Bốn phương chí sĩ tranh về như ong”. Những nhóm nghĩa quân của nhân dân vùng Hà Nam dọc bờ sông Sinh Quyết (đoạn sông Đáy chảy qua địa phận Hà Nam), hưởng ứng lời kêu gọi của cuộc khởi nghĩa, đã tụ tập lực lượng nổi dậy đánh giặc (1). Sau một thời gian hoạt động và phát triển, cuộc khởi nghĩa đã làm chủ được một vùng rộng lớn gồm các huyện của Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình. Trận chiến Bô Cô cuối tháng 12-1408, là chiến thắng vang dội nhất của khởi nghĩa Trần Ngỗi, trong đó có sự tham gia tích cực của nhân dân vùng Hà Nam. Cuộc khởi nghĩa Trần Ngỗi kéo dài gần 3 năm (1407-1409), cuối cùng bị thất bại năm 1409.
Tinh thần kháng chiến của nhân dân Hà Nam và cả nước vẫn tiếp tục. Tháng 12 (âm lịch) năm 1412 (tức tháng 1 năm 1413 dương lịch), Nguyễn Liễu quê ở Lỵ Nhân đã chiêu tập nghĩa quân ở huyện Lục Na (Lục Ngạn, Bắc Giang), Vũ Lễ chống lại quân xâm lược Minh trong mấy năm (2).
Cuộc khởi nghĩa Trần Quý Khoáng (1409-1413), tiếp theo cũng bị giặc Minh dẹp tan. Các cuộc khởi nghĩa đầu thế kỷ XV, hầu hết đều do tầng lớp quý tộc tôn thất họ Trần khởi xướng, song vì năng lực hạn chế cũng như do mất đoàn kết nội bộ, nên đã không tập hợp được đông đảo quần chúng tham gia và không mở rộng được phạm vi ra toàn quốc. Nhưng dù bị thất bại, phong trào đấu tranh của nhân dân ta đầu thế kỷ XV, đã thể hiện tinh thần bất khuất chống xâm lược, quyết tâm giành lại độc lập cho cả dân tộc.
Đầu năm 1416, tại Lũng Nhai, một địa điểm gần Lam Sơn, Lê Lợi cùng với 18 nghĩa sĩ, tổ chức Hội thề kết nghĩa anh em, đồng tâm nhất trí dựng cờ khởi nghĩa chống giặc Minh (3).
Dưới sự lãnh đạo tài tình, có uy tín cao của Lê Lợi, cộng thêm bộ tham mưu sáng suốt, tài trí và được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã vượt qua những khó khăn khắc nghiệt của buổi ban đầu. Nghĩa quân vừa đánh giặc vừa xây dựng lực lượng, cuộc khởi nghĩa từng bước phát triển và trưởng thành vững chắc. Địa bàn hoạt động và ảnh hưởng của khởi nghĩa Lam Sơn dần dần lan rộng ra nhiều vùng miền địa phương trên toàn quốc.
Cũng như nhân dân các nơi, những người con ưu tú của Hà Nam hồ hởi tham gia khởi nghĩa với một trái tim nhiệt thành cho công cuộc giải phóng dân tộc. Đó là Vũ Cố ở Vũ Xá (xã Thanh Thuỷ, huyện Thanh Liêm). Từ lúc 9 tuổi Vũ Cố bị nhà Minh đưa về Trung Quốc, nhằm đào tạo trở thành tay sai cho bọn chúng. Khi về nước, ông từ bỏ hàng ngũ giặc, trở lại làng quê tổ chức hương binh chống Minh. Sau đó, ông đưa đội quân vào Lam Sơn tụ nghĩa, được Lê Lợi giao cho nhiệm vụ phụ trách việc tuyển binh và huấn luyện quân đội. Năm 1426, Lê Lợi mang đại quân ra Bắc, Vũ Cố dẫn đường đánh tan giặc tại Lỵ Nhân (Phủ Lý), tạo điều kiện thuận lợi cho quân ta tiến lên bao vây Đông Đô. Hiện nay tại các làng Vũ Giang, Ô Cách, Trung Thứ (huyện Thanh Liêm) vẫn còn đền thờ Vũ Cố. Thần tích, thần sắc cùng những câu chuyện truyền thuyết về Vũ Cố vẫn được lưu giữ trong dân gian (1). Hoặc chuyện về ba chị em Ả Đào quê Hà Nam đã dùng tiếng hát mê người của mình để làm vũ khí giết giặc. Đó còn là công tích của những người dân làng võ cổ truyền Liễu Đôi, tương truyền khi trên đường tiến đánh giặc Minh, đoàn quân khởi nghĩa của Lê Lợi có hành quân qua Liễu Đôi (huyện Thanh Liêm). Dân làng đã đi theo quân khởi nghĩa và lập công giết giặc bằng những miếng võ cổ truyền. Tại Liễu Đôi ngày nay vẫn còn một số ngôi mộ cổ của giặc xâm lược các đời nằm trên những cánh đồng, những quả đồi. Thành được gọi là thành giặc Ngô hoặc Quan thành còn những dấu tích trên cánh đồng thành, giữa hai xã Liêm Túc và Liêm Sơn (huyện Thanh Liêm), cách thành Cổ Lộng - nơi diễn ra trận đánh thắng quân Minh nổi tiếng - không đầy 6km. Tên gọi giặc Ngô cùng dấu tích, vị trí của thành có thể là một sự ghi nhớ về chiến công chống giặc Minh năm xưa của dân làng Liễu Đôi.
Khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo chống giặc Minh tàn bạo đã giành được thắng lợi, đất nước sạch bóng quân thù, non sông Đại Việt lại thanh bình yên vui. Trong chiến công chung giành lại độc lập dân tộc, nhân dân Hà Nam đã tham gia góp sức cùng với quân dân trong cả nước tạo thành một sức mạnh tổng hợp đánh tan giặc Minh.
2. Nhân dân Hà Nam phát huy truyền thống xây dựng quê hương trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục
Các vương triều từ Lý, Trần, Lê sơ đều rất quan tâm đến phát triển sản xuất nông nghiệp. Vương triều Lý ngay sau khi được thành lập, đã chú ý tăng cường sức lao động cho nông nghiệp. Năm 1010, Lý Công Uẩn đã hạ chiếu cho tất cả những người đào vong, phiêu bạt trở về nguyên quán (1). Vương triều Lý thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông”, cho sáu quân về làm ruộng. Chính sách này vừa bảo đảm được yêu cầu của quốc phòng, vừa duy trì được lực lượng sản xuất nông nghiệp. Các vua triều Lý với nhiều chính sách và biện pháp cụ thể được thực thi như: bảo vệ sức kéo, đắp đê, tăng cường hệ thống thuỷ lợi... đã góp phần không nhỏ vào việc phát triển lực lượng sản xuất cũng như tăng thêm sản lượng thu hoạch của nhân dân thời kỳ này.
Sử sách từng chép về những mùa màng bội thu vào năm 1016 dưới triều vua Lý Thái Tổ, năm 1030, 1041 dưới triều vua Lý Thái Tông, các năm 1079, 1092, 1120... dưới triều vua Lý Nhân Tông. Có những năm được thu hoạch lớn, các vua Lý ra lệnh tha thuế hoặc xá thuế cho dân, như năm 1016, Lý Thái Tổ xá thuế 3 năm trong cả nước, năm 1044 vua Lý Thái Tông xuống chiếu “xá cho thiên hạ một nửa tiền thuế năm nay, để yên ủi sự khó nhọc” (2).
Các vua Lý thường xuyên chú ý tới vùng đất Hà Nam - một trong những nơi cung cấp lương thực trực tiếp cho triều đình. Triều Lý đã từng cho lập hành cung ở phủ Lỵ Nhân, cả trên núi Đọi (Long Đội sơn) (3) để đôn đốc việc cày cấy. Thông qua tìm hiểu ghi chép của thư tịch cổ, kết hợp với việc điều tra điền dã tại địa phương, các nhà nghiên cứu đoán định hành cung Lợi Nhân xưa có thể chính là nơi dựng đình Ba Thôn thuộc thôn Lý Nhân (xã Phú Phúc, huyện Lý Nhân) hiện nay (1). Các vua triều Lý luôn luôn quan tâm đến sản xuất nông nghiệp của toàn quốc cũng như của riêng Hà Nam. Bất kỳ vào thời gian nào, vào đầu xuân, mùa hè hay thậm chí những ngày đông giá rét, các vua Lý cũng đều trực tiếp xuống thị sát công việc đồng áng của Hà Nam. Sử từng chép: Tháng 10, mùa đông năm 1137, vua Lý Thần Tông đi Lợi Nhân, xem xét dân gặt lúa... Mùa xuân năm 1148, nhà vua Lý Anh Tông xem xét dân cày ruộng...
Vùng Hà Nam khi đó cũng được các vua Lý chọn làm nơi tiến hành nghi lễ tịch điền tiếp nối hình thức tôn trọng nông nghiệp của triều Tiền Lê tại Núi Đọi. Tháng 2 mùa xuân năm 1148, vua Lý Anh Tông thân chinh đi cày ruộng tịch điền tại Lợi Nhân. Thời Lý đã xuất hiện điền trang của các tôn thất, vương phi, công chúa, song số lượng không nhiều, mặt khác diện tích của các điền trang này, có lẽ cũng không lớn lắm. Làng Vọc tên gọi của làng Quắc Hương, thái ấp của Trần Thủ Độ, vốn là khu vực cai quản cũ của một công chúa nhà Lý là một thí dụ về điền trang nhà Lý được khẩn hoang, xây dựng trên vùng đất Hà Nam (2).
Ngay từ khi thay nhà Lý quản lý đất nước, vương triều Trần đã bắt tay vào công cuộc khôi phục kinh tế của Đại Việt. Nhà Trần tiến hành điều tra dân số, lập sổ đinh phân chia, ruộng đất và định mức tô thuế hàng năm. Dưới thời Trần đất ruộng bỏ hoang còn nhiều, do vậy nhằm phát triển, mở rộng diện tích đất canh tác, triều Trần chủ trương khai hoang các vùng ven sông, ven biển.
Thời Trần với chính sách phong cấp thái ấp cho các vương hầu, quý tộc đã tạo cho nhiều vùng trong đó có Hà Nam có sự đổi mới lớn về kinh tế (3).
Hà Nam đời Trần có các thái ấp của các quý tộc cao cấp như thái ấp Quắc Hương (thôn Thành Thị, xã Vũ Bản, huyện Bình Lục) của Thái sư Trần Thủ Độ, thái ấp Dưỡng Hòa (xã Duy Hải, huyện Duy Tiên) của Trần Khánh Dư. Chính những thái ấp, đã tạo cơ sở cho nông nghiệp trong vùng phát triển mạnh mẽ. Lúc này trên nguyên tắc, chủ thái ấp có quyền thu thuế trong thái ấp của mình, song để khuyến khích người lao động tích cực sản xuất, mức thuế thường được giảm nhiều so với mức thuế của nhà nước. Quy mô của các thái ấp tương đối rộng, như thái ấp của Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư tại làng Dưỡng Hòa (xã Duy Hải, huyện Duy Tiên), toàn bộ diện tích là 307 mẫu, ruộng đất chiếm 1.250 mẫu, trong đó có 10 mẫu ruộng tế tự. Hiện còn các địa danh mang tên “thôn phố” trại Ngựa, chợ Ngọc, trại Voi, trại lính... (1). Có thể nhận thấy, thái ấp, điền trang thời Trần đã trở thành một đơn vị kinh tế độc lập. Người chủ thái ấp, điền trang tạo điều kiện thuận lợi cho các gia nô, những người lao động trong đó được hưởng cuộc sống dễ chịu. Thần tích Trần Nhật Hạo do Nguyễn Bính soạn năm 1572, chép: “Tướng quốc thu thuế nhẹ... nhân dân đều cảm phục biết ơn”(2).
Chính do những chính sách khuyến nông, khai hoang, cải tạo hệ thống thuỷ lợi, đào sông, lấn biển, bảo vệ sản xuất của nhà nước Trần, mà cả một vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã, sông Cả rộng lớn đã trở thành nơi sản xuất nhiều lúa gạo. Sứ giả nhà Nguyên là Trần Phu, khi sang nước ta, trong bài thơ An Nam tức sự cũng đã phản ánh tình hình mùa màng của Đại Việt như sau: “Lúa mỗi năm chín bốn lần, tuy vào giữa mùa đông mà mạ vẫn mườn mượt ”(3).
Chính sách đô hộ về chính trị, bóc lột về kinh tế của triều Minh và cuộc kháng chiến chống xâm lược đã tàn phá nghiêm trọng nền kinh tế Đại Việt vốn đã rệu rã trong thời kỳ cuối Trần. Các vị vua triều Lê sơ đã chú trọng phục hồi và phát triển kinh tế đất nước. Ngay từ những năm vừa giành độc lập, vua Lê Thái Tổ đã cho 25 vạn binh lính về làm ruộng, đồng thời kêu gọi nhân dân phiêu tán trở về quê cũ, cùng nhau khôi phục lại sản xuất, xây dựng lại xóm làng.
Đặc biệt, vương triều Lê đã quan tâm đến việc bảo vệ và khuyến khích phát triển nông nghiệp. Ruộng đất được chia làm 3 bộ phận chính, gồm ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước, ruộng đất công làng xã, ruộng đất tư hữu. Trong đó ruộng đất của quân Minh và tay sai và những điền trang thái ấp của các quý tộc Trần ở các nơi như Quắc Hương, Dưỡng Hoà thuộc Hà Nam đều được chính quyền triều Lê thu lại và phân một phần cho công thần hay quan lại. Đầu thời Lê, nhà nước đã đặt vấn đề phân chia ruộng công làng xã vốn có nguồn gốc từ xa xưa cho người nghèo, binh lính không có ruộng. Để thống nhất việc phân chia ruộng công trong toàn quốc, vua Lê Thánh Tông thực hiện chế độ quân điền. Theo phép quân điền, cứ 6 năm ruộng công làng xã được chia lại một lần cho các thành viên trong xã. Ruộng đất tư hữu phát triển từ các thế kỷ trước. Đến thế kỷ XV, ruộng đất tư hữu của giai cấp địa chủ càng lớn, lấn át ruộng đất công. Vương triều Lê còn chú ý việc mở rộng diện tích canh tác như khuyến khích khai khẩn đất bồi ven biển, quai đê lấn biển...
Trong thời kỳ nhà Lê, hàng loạt các làng mới được thành lập, nhất là tại các vùng ven biển của Sơn Nam, Thanh Hóa, Nghệ An... Hệ thống thuỷ lợi trong toàn quốc được chú ý phát triển, có cả một tuyến đê biển dài mang tên đê Hồng Đức. Việc thực hiện hàng loạt các chính sách trọng nông, khuyến khích nông nghiệp như vậy, đã khiến cho sản lượng nông nghiệp tăng nhanh. Sản xuất nông nghiệp cũng như kinh tế của Hà Nam dưới triều Lê cũng được phát triển. Lê Thánh Tông, một vị vua tài giỏi, thường xuyên quan tâm tới đời sống dân chúng, đã nhiều lần đi kinh lý, thị sát thực tế của nhân dân Hà Nam. Những vần thơ Lê Thánh Tông viết về Hà Nam phần nào đã phản ánh thực tế đời sống và cảnh đẹp của sông núi cùng con người Hà Nam trong thời kỳ nhà Lê. Trong bài “Lỵ Nhân nữ sĩ”, Thánh Tông viết (dịch nghĩa):
Con trai, con gái ở Lỵ Nhân
Trên đê cao, mùa xuân tới gần, vẫn gió mưa lạnh lẽo,
Con gái ở đây đẹp như con gái nước Tần, nước Yên cười nói chuyện trò vui vẻ.
Trước cảnh muôn hồng ngàn tía, toả mùi thơm ấm áp bên bờ suối ấy,
Thế mà bọn con trai, vẫn như đàn ong bay đi chơi, vô tình chẳng hề để ý tới.
Từ thế kỷ XI đến XV, bên cạnh việc phát triển nông nghiệp, các ngành tiểu thủ công nghiệp của Hà Nam cũng được chú ý đẩy mạnh. Đặc biệt vào thời Lý nghề chạm đá, xây dựng và kiến trúc phát triển mạnh nhất. Hàng loạt ngôi chùa, tháp, bia đá xuất hiện tại các địa phương Hà Nam. Tiêu biểu nhất là chùa tháp Sùng Thiện Diên Linh đã bị giặc Minh phá huỷ, chỉ còn tấm bia với tiêu đề: Đại Việt quốc Lý gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi, thường được gọi tắt là Bia Sùng Thiện Diên Linh, hiện còn đặt tại nhà bia trước chùa Long Đọi, thuộc xã Đọi Sơn (huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam). Nội dung bia cho biết: khi vua Lý Nhân Tông về thăm núi Đọi năm 1118, đích thân nhà vua xem xét địa thế, thấy hợp, vua cho mời thầy địa lý, thợ mộc, thợ đo vẽ, thợ đẽo đá, thợ đúc chuông và thợ tạc tượng làm trong 4 năm (1118 - 1121) mới hoàn thành ngôi chùa tháp này. Tháp xây cao 13 tầng, tầng trên đặt hộp xá lỵ, tầng dưới chia tám tướng khôi ngô... Đây là một công trình kiến trúc Phật giáo lớn rất có giá trị mà vương triều Lý, cùng với sự đóng góp không nhỏ của thợ thủ công các ngành nghề Hà Nam trong thế kỷ XII, tạo dựng nên.
Đến thời Trần, các ngành thủ công của Hà Nam được phát triển mạnh mẽ. Nghề dệt của vùng Nha Xá (huyện Duy Tiên) vẫn được duy trì. Nghề làm gốm tại khu thái ấp Quắc Hương của Trần Thú Độ cũng tiếp tục được nâng cao hơn đời Lý. Hàng loạt loại bát đĩa chất liệu thô, trang trí hoa văn giản đơn, men không bóng đã được phát hiện, chứng tỏ đồ gốm thời Trần đã được đưa vào phục vụ rộng rãi đời sống xã hội của Hà Nam. Các nghề thủ công khác như chạm đá, khắc bia, nghề mộc cũng được quan tâm và có tiến bộ. Sang thời Lê thủ công nghiệp được phát triển toàn diện hơn. Hệ thống chợ được chú trọng đặc biệt, đã mở rộng hơn trước nhiều, đáp ứng nhu cầu trao đổi hàng hoá, tiêu dùng sản phẩm thủ công nghiệp của xã hội ngày một cao.
Do chính sách khuyến khích mở chợ ở nông thôn thời kỳ Lê Thánh Tông, số lượng chợ khắp châu thổ Bắc Kỳ được gia tăng. Theo thống kê của các nhà nghiên cứu, “Vào đầu thế kỷ XV đã có 38 chợ ở trung tâm châu thổ xứ Bắc Kỳ và 50 chợ khác ở các miền đất khác Năm 1477, triều Lê đã có quy định lệ lập chợ mới: “Các huyện, châu, xã, ở các xứ trong nước, nhân dân ngày một nhiều, nơi nào muốn chia mở chợ mới để tiện mua bán thì quan phủ, huyện, châu khám xét quả thực tiện lợi cho dân thì làm bản tâu lên, cho theo tiện lợi mà lập chợ” (2).
Vùng Hà Nam là một trong những vùng có nhiều làng xã, có nhu cầu giao lưu hàng hoá thường xuyên nên số lượng chợ cũng do vậy mà được phát triển. Một số mặt hàng thủ công của Hà Nam thông qua việc giao lưu đã trở thành những sản phẩm được các nơi ưa chuộng. The tại huyện Kim Bảng thời Lê là một mặt hàng nổi tiếng vùng Hà Nam và các địa phương quanh vùng. Nguyễn Trãi đã từng viết trong tác phẩm Dư địa chí từ thế kỷ XV: “The lụa xứ Sơn Nam bền, chắc, đẹp mà nổi tiếng ”(1). Nghề chạm đá, chạm khắc kim khí như đồng, kiến trúc... cũng để lại dấu ấn trên những hiện vật, như quyển sách đồng có niên đại tuyệt đối 1471, phát hiện tại thôn Văn An (xã Bắc Lý, huyện Lý Nhân), hay nhang án bằng đá khối tại chùa Đặng Xá (xã Văn Xá, huyện Kim Bảng), cây hương đá chùa Khánh Long (xã Châu Giang, huyện Duy Tiên)...
Giáo dục thi cử ở Hà Nam được phát triển từ thế kỷ XI - XV. Đặc biệt vào thời vua Lê Thánh Tông, giáo dục khoa cử rất thịnh đạt với những quy định khuyến khích học phong và nêu cao vai trò của kẻ sĩ - trí thức. Chỉ tính riêng dưới thời vua Lê Thánh Tông (1460-1497), cũng đã mở được 12 khoa thi Hội, lấy đỗ 501 Tiến sĩ, trong đó có 9 Trạng nguyên. Với chính sách mở cửa trong học tập, thi cử của triều Lê mà Hà Nam đã xuất hiện nhiều người đỗ đạt cao và ra làm quan, có điều kiện mang sở học của mình ra phụng sự quốc gia. Theo thống kê từ các sách khoa bảng (có thể chưa chi chép đầy đủ), đã có 11 Tiến sĩ (trong đó có 2 Hoàng giáp) người Hà Nam vinh quy trong thế kỷ XV. Nguyễn Khắc Hiếu người huyện Bình Lục, Trần Thuấn Du người huyện Duy Tiên, cả hai đều đỗ Tiến sĩ khoa Minh kinh, kỳ thi đầu tiên được tổ chức dưới thời Lê Thái Tổ. Nguyễn Khắc Hiếu làm quan tới chức Hàn Lâm viện Trực Học sĩ. Trần Thuấn Du (sau đổi họ thành Trình Thuấn Du), từng giữ chức Hàn Lâm viện Thừa chỉ, làm Chánh sứ trong đoàn sứ bộ sang Trung Quốc, đã cùng Nguyễn Trãi tham gia giảng dạy cho Thái tử....
Bên cạnh việc giáo dục khoa cử theo mô hình Nho giáo được chú ý đẩy mạnh, thì giáo dục làng xã với các hình thức hương sư, gia sư cũng bắt đầu được phát triển. Dòng văn học chữ Nôm cũng đã phát triển bước đầu cùng với dòng văn học chữ Hán mà đại biểu là vua Lê Thánh Tông. Ông để lại nhiều tác phẩm bàng chữ Hán và cả chữ Nôm về các di tích, danh thắng của Hà Nam, nơi ông từng đi qua. Khi qua miếu thờ người thiếu phụ Nam Xương, hay lúc vãn cảnh núi Nam Công huyện Thanh Liêm, Lê Thánh Tông đều xúc cảm để lại những bài thơ Nôm với những áng thơ lời hay ý đẹp (1).
Các sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng thế kỷ XI - XV ở Hà Nam cũng có những bước hưng khởi. Phật giáo thế kỷ XI - XII được chú ý. Chùa Đọi (Long Đọi Sơn tự) đã trở thành một trong những trung tâm Phật giáo lớn của Đại Việt. Bảo tháp Sùng Thiện Diên Linh tại chùa Đọi được hoàn thành năm 1122. Vua Lý Nhân Tông đã cho tổ chức lễ hội để chào mừng việc khánh thành tháp. Sách Đại Việt sử kỷ toàn thư chép: “Tháng 3, ngày Mậu Dần (1122), mở hội khánh thành Bảo tháp Sùng Thiện Diên Linh ở núi Đọi” (1). Nhiều người dân Hà Nam đã trở thành những đệ tử sùng tín đạo Phật, như việc ông bà Lê Sĩ Tiến, người thôn Giáp Nhị, cúng 5 sào ruộng vào chùa được ghi trên bia chùa Đọi.
Dấu ấn Phật giáo đời Trần được in đậm trên những công trình kiến trúc tại Hà Nam, hiện còn lưu lại một số ít di vật có liên quan tới các ngôi chùa thời Trần. Đó là tấm bia họ Ngô có niên hiệu Đại Trị (1358 - 1369) thời vua Trần Dụ Tông (1341 - 1369). Nội dung tấm bia cho biết có ông Ngô Lãm, được vua ban hiệu “Ngộ không cư sĩ”, năm Hưng Long thứ 12 (1304), họ Ngô đưa hài cốt của viên Đại sa môn đến táng ở khu núi đất. Cuối cùng là họ tên những người cung tiến ruộng, tiền của vào chùa, trong đó có nhiều người của các địa phương Hà Nam như bà Lê Thị Đám, Đông điện thư hoả dũng thủ Phan Cương và vợ là bà Phạm Thị An (người xã Đinh Xá), Dương Thị Nương (xã Ngô Xá); xã Chân Ninh có Trưởng họ chức Man Dực đô Phạm [Văn] Mã, Nguyễn Cán... Đặc biệt mặt trước bia có chạm hình người đàn ông đội mũ bình thiên, ngồi trên một chiếc ngai(2). Tại làng Trì Xá (xã Châu Giang, huyện Duy Tiên), còn lưu lại hai mảng chạm đầu chim Garuđa bằng đá trước bệ thờ của Phật điện. Điều này chứng tỏ kiến trúc Phật giáo của chùa Trì Xá sớm nhất cũng đã có từ thời Trần. Những ghi chép của thư tịch cùng những di vật hiện còn, cho phép chúng ta khẳng định: Ảnh hưởng của Phật giáo ở Hà Nam thời Trần tương đối sâu đậm. Nho giáo vào thế kỷ XV, được nâng lên địa vị thống trị làm nền tảng của tư tưởng xã hội. Mô hình quản lý xã hội v.v... vào trong các làng xã Hà Nam. Truyền thống làng xã và quy định về luân thường đạo lý của Nho giáo được kết hợp có chọn lọc, trên một mức độ nhất định đã phát huy được hiệu quả.
IV. HÀ NAM TỪ THẾ KỶ XVI ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XIX
1. Nhân dân Hà Nam với các cuộc khởi nghĩa nông dân trong thời kỳ XVI - XIX
Sau gần một thế kỷ phát triển tương đối thịnh trị, đến đầu thế kỷ XVI, nhất là từ sau khi Lê Túc Tông mất (1504), xã hội Đại Việt lâm vào tình trạng khủng hoảng, kinh tế sa sút, đời sống nhân dân cực khổ, các thế lực phong kiến nổi lên tranh giành quyền lực. Lợi dụng tình hình hỗn loạn, xung đột bè phái trong triều, bằng tài năng cùng thủ đoạn chính trị, Mạc Đăng Dung đoạt được ngôi vị từ triều Lê, lập nên vương triều Mạc vào năm 1527. Dưới triều Mạc, vùng đất Hà Nam thuộc Sơn Nam thượng. Trong thời gian nhà Mạc trị vì tại Thăng Long (1527-1592), nhiều quan lại cũ của triều Lê đã phản ứng quyết liệt, hàng chục cuộc bạo động chống triều Mạc đã nổ ra.
Trận chiến đầu tiên giữa hai tập đoàn phong kiến Mạc và Trịnh diễn ra ở Hà Nam vào đầu năm 1531. Lúc này, Nguyễn Kim đang mượn danh nghĩa vua Lê để tập hợp lực lượng chống Mạc, đưa quân từ Thanh Hóa ra chiếm đất vùng Gia Viễn (tỉnh Ninh Bình). Đến tháng 8 năm đó, lợi dụng nước các sông Bôi, sông Hoàng Long dâng cao nhà Mạc dùng thuyền bao vây và tiêu diệt các cứ điểm đóng quân của Nguyễn Kim. Bị quân Mạc đánh cho tan tác, Nguyễn Kim phải chạy sang Lào lánh nạn một thời gian (1). Năm 1546, Nguyễn Kim dựng lên một triều đình mới tại Thanh Hóa, thường gọi là Nam triều. Triều Mạc chiếm giữ vùng Thăng Long đến hết đất Ninh Bình, gọi là Bắc triều. Hà Nam khi đó vẫn là khu vực do Bắc triều quản lý.
Loạn phân tranh hay chiến tranh Nam Bắc triều kéo dài tới gần nửa thế kỷ (1546 - 1592), gần 40 cuộc hỗn chiến tương tàn xảy ra, gây nhiều tổn thất, hy sinh cho nhân dân nhiều vùng, trong đó Hà Nam là một địa phương hứng chịu nhiều thiệt hại. Liên tiếp trong những năm 1552, 1557, 1569, các chúa Trịnh nhiều lần đưa hàng vạn quân ra đánh chiếm vùng Lỵ Nhân (Hà Nam), Thiên Trường (Nam Định), Trường Yên (Ninh Bình), biến cả vùng này trở thành bãi chiến trường đẫm máu. Không ít con em người dân Hà Nam phải phơi thây trên chính mảnh đất đã nuôi sống mình từ thuở ấu thơ. Sau nhiều lần Nam triều bị thua, nội bộ lục đục, thì Bắc triều lại tiến đánh Nam triều. Chỉ tính riêng hơn 10 năm từ 1570 - 1583, triều Mạc đem quân đánh vào vùng Thanh - Nghệ trở vào tới 13 lần, tính trung bình cứ một năm lại có một trận đánh, biến vùng bờ biển từ Thanh Hoá đến Thuận Hoá thành chiến trường. Cuộc sống dân tình khổ cực, có những lúc già trẻ của vùng này phải bồng bế nhau chạy tan tác, cảnh người chết đói rất nhiều. Năm 1592, cuộc nội chiến Nam - Bắc triều kết thúc bằng việc triều Lê - Trịnh chiếm lại được Thăng Long, triều Mạc chạy về Dương Kinh (Hải Dương), sau chạy lên Cao Bằng ẩn náu, kéo dài được hơn 70 năm nữa.
Tình trạng nội chiến Nam - Bắc triều chấm dứt chưa được bao lâu thì lại nổ ra sự phân chia Đàng Trong và Đàng Ngoài với cuộc chiến tranh ác liệt giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn. Cuộc sống của nhân dân Hà Nam vốn đã nghèo khổ, túng đói trong thời kỳ chiến tranh Trịnh - Mạc thì nay lại phải chịu đựng thêm gánh nặng của cuộc tranh giành quyền lực của Trịnh - Nguyễn. Các làng xã nông thôn Hà Nam chịu chung cảnh tiêu điều, nông dân bỏ làng, đồng ruộng, tha hương nơi đất khách quê người. Theo thống kê, năm 1730 Đàng Ngoài có 527 làng xã cư dân bị phiêu tán gần hết. Năm 1741, con số này lên tới 3.691. Đến cuối thế kỷ XVIII, trong tổng số 11.767 làng xã thuộc các trấn ở vùng đồng bằng (bao gồm cả Hà Nam) và Thanh - Nghệ, vẫn còn 1.488 làng xã bị phiêu tán(1).
Cùng với nhân dân các địa phương trong cả nước, nhân dân đạo (hay lộ) Sơn Nam đều đồng lòng nổi dậy theo ngọn cờ tụ nghĩa của các thủ lĩnh trong vùng chống lại ách áp bức của chính quyền phong kiến Lê - Trịnh. Năm Bính Thân, niên hiệu Quang Hưng thứ 19 của vua Lê Thế Tông (1596), cuộc khởi nghĩa nông dân đầu tiên do Phạm Hàng lãnh đạo nổ ra tại Sơn Nam. Sử cũ chép: “Tháng 11, mùa đông năm 1596, Phạm Hàng ở Sơn Nam nổi loạn”. Phạm Hàng vốn là người huyện Đại An (nay là huyện Nghĩa Hưng), xứ Sơn Nam, tập hợp lực lượng khởi nghĩa quanh vùng. Sau đó, Phạm Hàng đem quân chiếm núi Đam Khê, nay thuộc xã Ninh Vân (huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình) xây dựng căn cứ địa. Phạm Hàng tự xưng là Thiên Nam chiêu thảo Đô nguyên soái, chỉ trong thời gian hơn một tháng hoạt động, đã thu hút được hàng vạn người tham gia khởi nghĩa, trong số đó có nhiều người của phủ Lỵ Nhân. Sử cũ phải công nhận thanh thế lớn và ảnh hưởng sâu rộng của cuộc khởi nghĩa lớn và có ảnh hưởng sâu rộng trong vùng Sơn Nam: “...Trong vòng hơn một tháng, được số quân kể hàng vạn người. Các phủ Trường Yên và Lỵ Nhân trộm giặc nổi lên hàng đàn để hưởng ứng với Phạm Hàng” (1). Với lực lượng đông đảo nhân dân ủng hộ, nghĩa quân đã tiến hành nhiều trận công kích vào các cứ điểm của tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh đóng rải rác tại các vùng trong lộ Sơn Nam. Triều đình hoảng sợ, chúa Trịnh Tùng phải sai Mĩ Quận công Bùi Văn Khuê cùng Lương Quận công Nguyễn Thể kết hợp với viên thổ quan huyện Yên Mô mang theo một lực lượng quân đội lớn mới dẹp yên được. Tuy cuộc khởi nghĩa của Phạm Hàng bị thất bại nhanh chóng, nhưng nó để lại một ảnh hưởng vang dội trong vùng.
Đây là cuộc khởi nghĩa nông dân đầu tiên nổ ra tại vùng hạ lưu châu thổ sông Hồng, thu hút được đông đảo nông dân nghèo khổ tham gia, bước đầu làm rung động hệ thống chính quyền phong kiến cấp cơ sở khiến chính quyền Trung ương Lê -Trịnh phải ra tay ngăn dẹp. Nhưng cuộc khởi nghĩa này có ý nghĩa quan trọng hơn ở chỗ: Nó báo hiệu về cơn bão táp của phong trào nông dân cả nước nói chung và của vùng Sơn Nam nói riêng sẽ diễn ra quyết liệt trong những thế kỷ XVII-XVIII.
Vào những năm 40 và 50 của thế kỷ XVIII, hàng loạt cuộc khởi nghĩa lớn bùng lên ở nhiều nơi, tập trung nhất ở vùng Hải Dương, Sơn Nam... đều được sự ủng hộ nhiệt thành của nhân dân vùng Sơn Nam. Sử chép: “Lúc ấy, về mặt Hải Dương có bọn Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ ở Ninh Xá, Vũ Trác Oánh ở Mộ Trạch; về mặt Sơn Nam có Hoàng Công Chất... hết chỗ này đến chỗ khác thúc giục nhau phiến động, chỗ nào cũng tự dấy quân... Dân ở vùng đông vùng nam, người đeo bừa, người vác gậy đi theo, chỗ nhiều có đến hơn vạn... vây đánh các ấp thành, triều đình không ngăn nổi” (2).
Nhiều trận đánh quyết liệt giữa triều đình Lê - Trịnh và nghĩa quân của Lê Duy Mật, Đoàn Danh Chấn, Nguyễn Hữu Cầu, Hoàng Công Chất diễn ra trên vùng đất phủ Lỵ Nhân. Đặc biệt vào năm 1751, lực lượng quân sự kết hợp giữa Nguyễn Hữu Cầu với Hoàng Công Chất tập trung đánh nhiều trận tiêu diệt quân triều đình tại sông Mã Não (huyện Kim Bảng), sông Hương Nhi (huyện Bình Lục). Rất nhiều con em vùng đất Bình Lục, phủ Lỵ Nhân đã tích cực tham gia với vai trò là những nghĩa binh thông thạo đường đi lối lại. Nhân dân các làng xã Hà Nam khi đó cung cấp lương thực, thực phẩm và các phương tiện vật dụng khác cho nghĩa quân chống lại quan quân triều đình.
Phong trào khởi nghĩa nông dân bùng lên tại Đàng Ngoài trong các thế kỷ XVII-XVIII, đã kéo dài liên tục hàng chục năm, lôi cuốn được hàng chục vạn nông dân ở khắp các nơi từ rừng núi đến ven biển và toàn bộ đồng bằng Bắc Bộ tham gia. Tuy cuối cùng các cuộc khởi nghĩa đều không giành được thắng lợi, “nhưng đã là hồi chuông báo động cuộc khủng hoảng của chế độ phong kiến Đàng Ngoài... cùng với sự đổ vỡ nghiêm trọng của nhà nước Lê - Trịnh, nó chuẩn bị mảnh đất thuận lợi cho thắng lợi to lớn của phong trào nông dân Tây Sơn sau này” (1).
Năm 1771, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ cùng nhau khởi xướng cuộc khởi nghĩa tại vùng đất Tây Sơn (huyện Phù Ly, phủ Quy Nhơn thuộc dinh Quảng Nam). Trong một thời gian ngắn, với nhiều hình thức vận động, được sự ủng hộ và hưởng ứng của các tầng lớp nhân dân, lực lượng nghĩa quân đã tăng lên đáng kể. Dưới sự lãnh đạo khôn khéo, tài tình của ba anh em họ Nguyễn, nghĩa quân đã tiến đánh nhiều cứ điểm quân sự của chúa Nguyễn và thu được thắng lợi. Vào những năm 1782, 1783, quân Nguyễn Ánh bị thất bại nặng nề phải chạy sang Xiêm (Thái Lan) lẩn tránh và cầu viện ngoại bang. Sau chiến thắng quân Xiêm năm 1785, tại Rạch Gầm - Xoài Mút, Nguyễn Huệ tiếp tục hạ thành Phú Xuân và chuẩn bị đến năm sau kéo quân ra Bắc. Ngày 21-7-1786, đại quân của Nguyễn Huệ tiến vào Thăng Long, chính quyền họ Trịnh bị lật đổ. Cuối năm 1787, Nguyễn Huệ cử Ngô Văn Sở, Vũ Văn Nhậm đưa quân ra Bắc để tiêu diệt phản loạn Nguyễn Hữu Chỉnh. Sau đó Nguyễn Huệ lại ra Bắc để bắt giết Vũ Văn Nhậm về sự lộng quyền và thu nhận, trọng dụng một số quan lại, trí thức tiến bộ Bắc Hà như Ngô Thời Nhậm, Phan Huy ích...
Vua tôi Lê Chiêu Thống trốn thoát khỏi sự truy lùng của nghĩa quân, chạy sang Quảng Tây cầu cứu nhà Thanh. Tháng 11 năm 1788, Tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị kéo 29 vạn quân Thanh, chia làm 4 đạo tiến binh vào nước ta. Quân ta tạm thời rút lui về đóng giữ tại Tam Điệp - Biện Sơn (tỉnh Ninh Bình). Cùng với nghĩa quân Tây Sơn, nhân dân các vùng xung quanh Tam Điệp - Biện Sơn tích cực tham gia vào việc xây dựng một chiến tuyến vững chắc ngăn chặn quân thù tiến vào Nam, đồng thời để chuẩn bị địa bàn tập kết và căn cứ xuất phát cho cuộc phản công sau này.
Nhân dân Hà Nam cùng phấn khởi với niềm vui chung được đóng góp công sức vào công việc chuẩn bị, đã tự nguyện mang thóc gạo, cùng những nguyên vật liệu có trong nhà như tre, gỗ... để xây dựng phòng tuyến. Đặc biệt trai tráng ở các làng xã phủ huyện Hà Nam không quản ngại ngày đêm, vượt sông, suối gia nhập quân ngũ. Dân chúng sống trong phủ Lỵ Nhân còn thông báo lực lượng quân đội, cách bố phòng, quy luật đi lại của quân địch đóng tại đồn Lỵ Nhân cho quân tình báo của Viễn Mưu hầu Đinh Huy Đạo và Trần Đức Vi (hay Huy). Nhờ vậy, nghĩa quân Tây Sơn nắm rất chắc mọi động tĩnh của quân địch trong đồn và có những đối phó kịp thời(1).
Ngày 17 tháng 12 năm 1788, dưới sự dẫn đường và nội ứng của tàn quân Lê Chiêu Thống, Tôn Sĩ Nghị đã chiếm đóng Thăng Long. Để phòng thủ Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị cho nhiều đạo quân đóng chốt tại những nơi quan trọng, như đạo quân của Sầm Nghi Đống đóng giữ tại Khương Thượng (nay thuộc địa phận của quận Đống Đa, Hà Nội), Ô Đại Kinh đóng tại Sơn Tây, còn đạo quân của chính Tôn Sĩ Nghị lại đóng đại bản doanh tại cung Tây Long (bên bờ sông Hồng)(2). Tôn Sĩ Nghị còn lo phòng thủ quân Tây Sơn tiến theo con đường thiên lý Bắc Nam sẽ qua Tam Điệp, Ninh Bình, Hà Nam, vào Thăng Long. Do vậy y cho lập nhiều đồn lũy liên tiếp ở Ngọc Hồi (Thường Tín, Hà Tây), Nhật Tảo (Duy Tiên, Hà Nam), bờ Bắc sông Nguyệt Quyết (Thanh Liêm, Hà Nam) (3).
Nhân dân Hà Nam vốn đã căm giận trước hành động tập đoàn phong kiến Lê Chiêu Thống nhẫn tâm “rước voi về giày mả tổ”, gây bao cảnh đau khổ cho dân chúng, nay lại chứng kiến những đồn lũy của kẻ thù dựng ngay trên đất quê hương, chà đạp lên cuộc sống thanh bình của mình. Cho nên, toàn thể nhân dân các huyện phủ Lỵ Nhân đã háo hức, khát khao mong chờ nghĩa quân Tây Sơn tiến ra để giải phóng khỏi ách xâm lược. Truyền thuyết vùng Thanh Liêm, Kim Bảng, Duy Tiên cho biết: Khi được tin quân Tây Sơn tiến ra Thăng Long diệt giặc Thanh, nhân dân chuẩn bị cơm rượu, quà bánh để uý lạo quân sĩ. Tết đến nhiều gia đình không đốt pháo để giữ bí mật và để dành mừng ngày chiến thắng.
Ngày 22 tháng 12 năm 1788 (tức 25 tháng 11 năm Mậu Thân), Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế tại núi Ngự Bình (Huế), lấy niên hiệu là Quang Trung, rồi lập tức xuất quân. Ngày 15 tháng 1 năm 1789 (20 tháng chạp năm Mậu Thân), đại quân đã tập kết tại Phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn. Sau khi nghe báo cáo của Ngô Văn Sở về tình hình chuẩn bị chiến dịch của quân ta và tình hình quân địch, tham khảo thêm ý kiến của mưu sĩ Ngô Thời Nhậm, Quang Trung quyết định chia thành 5 cánh quân chuẩn bị cuộc tổng tiến công. Quang Trung thân chinh dẫn một đạo quân tiến công vào cụm đồn Gián Khẩu, đồn Ninh Quyết, một căn cứ tiền tiêu quan trọng trong hệ thống phòng thủ Thăng Long từ xa của quân Thanh. Quân Tây Sơn bằng lực lượng quân đội tinh nhuệ, lại được sự hợp lực tích cực của quân dân các địa phương trong đó có Hà Nam, cả trên bộ lẫn dưới nước, chẳng bao lâu quân giặc đóng giữ trong đồn bị tiêu diệt hết. Đoàn quân Tây Sơn phát huy khí thế chiến thắng, tiếp tục cùng nhân dân các vùng Hà Nam tiêu diệt nốt những cứ điểm phòng ngự đóng tại Hoàng Đan (nay thuộc huyện Thanh Liêm) và đồn Nhật Tảo ở huyện Duy Tiên. Tàn quân của địch cùng toán quân do thám ở phủ Lỵ Nhân, Thiên Trường thấy vậy, sợ hãi vội vàng bỏ chạy, đến Phú Xuyên (Hà Tây) thì bị quân ta bắt hết. Trong những trận chiến đấu này, một số người con ưu tú, dũng cảm của quê hương Hà Nam đã hy sinh anh dũng, góp phần làm nên chiến thắng oanh liệt đánh tan quân Thanh xâm lược. Nhân dân Hà Nam hoàn toàn có quyền tự hào đã cùng với quân dân các vùng miền khác của cả nước viết lên trang sử vẻ vang trong mùa xuân Kỷ Dậu 1789 (1).
Ngày nay ở làng Gừa (huyện Thanh Liêm) và một số thôn xóm lân cận, vào dịp Tết cổ truyền dân tộc, lại tràn ngập không khí của những ngày xuân Kỷ Dậu đánh quân Thanh năm xưa. Ở làng Gừa có tục cấm chiêng trống từ đêm 30 tháng chạp âm lịch đến hết ngày mồng 3 Tết. Sáng mồng 4 mới có lệnh phát hoả, ai vi phạm sẽ bị làng phạt vạ (2), ở làng Sái (nay một phần là thôn An Thái, xã An Mỹ thuộc thị trấn Bình Mỹ) và thôn Thương Thọ (nay một phần là thôn Thượng Thọ thuộc xã Mỹ Thọ) huyện Bình Lục hiện vẫn còn lưu truyền tục “ăn tết lại” vào ngày 8 và 10 tháng giêng âm lịch. Tục này nhằm ghi nhớ chiến công Tết Kỷ Dậu 1789, đánh Thanh của Quang Trung - Nguyễn Huệ (do xuất quân sớm nên một số trai đinh của nhiều vùng và cả Hà Nam không kịp ăn Tết đã theo đoàn quân của Quang Trung - Nguyễn Huệ tiến về giải phóng Thăng Long).
Vào thời Nguyễn, nạn tham nhũng lan rộng trong tầng lớp quan lại của chính quyền trung ương và các địa phương. Cộng vào đó là những thiên tai liên tiếp giáng xuống, vì thế đời sống của nhân dân lao động nhất là nông dân bị bần cùng hoá. Người dân Hà Nam đã tự đứng lên để chống đối chính quyền phản động nhà Nguyễn, giành lại cuộc sống ấm no cho mình. Liên tiếp trong nửa đầu thế kỷ XIX, bắt đầu từ thời Gia Long (1802-1820), nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân ở Hà Nam đã nổ ra và huy động được nông dân các vùng tham gia đông đảo. Đáng chú ý là cuộc khởi nghĩa của Lê Đàm ở thôn Lạt Sơn (nay thuộc xã Thanh Sơn, huyện Kim Bảng) nổ ra vào tháng 2-1814, khởi nghĩa Cao Bá Quát (tháng 9 năm 1854 - 1855) có thời gian hoạt động trong vùng Kim Bảng.
2. Kinh tế, văn hóa, giáo dục Hà Nam thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX
Vào đầu thế kỷ XVI, triều Mục được thành lập (1527) đã cố gắng hạn chế sự sa sút về kinh tế vì sự phá sản của chính sách quân điền, sự thu hẹp ruộng đất công làng xã, sự suy sụp trong nông nghiệp do các ông vua cuối cùng của triều Lê bất lực không thể quản lý được đất nước. Triều Mạc đã thực hiện những chính sách khuyến khích và bảo vệ nông nghiệp, trong đó có những việc như khai thông hệ thống thuỷ lợi tưới tiêu. Những cố gắng của vương triều Mạc đã thu được hiệu quả nhất định. Tại các địa phương vùng Đàng Ngoài, trong đó có Hà Nam, đời sống nhân dân có phần được cải thiện.
Song, do cuộc chiến tranh liên miên với họ Trịnh, nên cảnh tượng thái bình mà triều Mạc đã tạo dựng cũng không kéo dài được bao lâu. Các biện pháp khuyến nông bị bê trễ, nạn hạn hán, mất mùa lại liên tục diễn ra trên đất Hà Nam cũng như nhiều địa phương khác. “Tháng 4 năm 1548, các phủ Lỵ Nhân, Trường Yên mưa đá đổ xuống sầm sập, có hạt mưa to bằng hòn đạn, có hạt mưa to bằng quả trứng gà... làm hư hại lúa má ngoài đồng, cây cối trong vườn, người và súc vật bị thương rất nhiều”. Tháng 7 năm 1574, mưa bão dữ dội “cây cối bốc rễ, lúa ngả rạp, nhà đổ, thuyền đắm, người chết rất nhiều” (1). Nạn lụt lội liên miên từ thế kỷ XVI - XVIII, đã gây ra nhiều thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp. Từ năm 1594 - 1598, lụt lội xảy ra ở nhiều nơi làm phần lớn đồng lúa ở Lỵ Nhân, Thiên Quan, Trường Yên bị thiệt hại nặng. Từ những năm 30 của thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XVIII, năm nào ở Hà Nam cùng các vùng xung quanh cũng đều bị ngập lụt. Đặc biệt vào năm 1713, nạn hồng thủy đã tràn ngập toàn bộ các huyện của Hà Nam “làm cho hơn một vạn nóc nhà bị xiêu giạt, tan tác, dân bị đói khổ” (1). Sản xuất nông nghiệp trong giai đoạn này lâm vào cảnh đình đốn, trì trệ.
Cuộc nội chiến liên miên giữa hai tập đoàn Nam - Bắc triều và sau là Trịnh Nguyễn, đã làm cho đất nước điêu linh, dân tình khốn khổ. Nhân dân vùng Hà Nam cũng không tránh khỏi tình trạng khổ cực. Vùng đất Hà Nam nằm trong vùng đệm của hai tập đoàn phong kiến, thường xuyên phải gánh vác những chi phí cho chiến tranh. Trai tráng của Hà Nam phải ra trận và hy sinh, dân chúng ở lại phải gánh chịu nộp tô, thuế nặng nề, thường xuyên phải phu phen tạp dịch. Triều đình luôn luôn đốc thúc thu thuế, ngay cả những khi phong trào nông dân nổ ra mạnh nhất, triều đình cũng tìm đủ mọi cách để tận thu: Tháng 5, năm Tân Mùi, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 12 vua Lê Hiển Tông (1751), đặt ra hai hiệu Bình Đông (gồm Sơn Nam và Hải Dương) và Bình Tây (gồm Sơn Tây và Kinh Bắc) ở Kinh sư (Thăng Long), cho dân tự tiện đến nộp thuế (2).
Lợi dụng tình hình nhiễu nhương, bọn địa chủ, cường hào, lý trưởng (xã trưởng) dùng sức ép về kinh tế và các thủ đoạn gian manh khác cướp ruộng đất của nông dân. Tại thôn Lê Xá (nay thuộc xã Châu Sơn, huyện Duy Tiên), địa chủ lợi dụng chức quyền, cướp dần ruộng đất công trong làng làm ruộng tư. Số ruộng công bị chúng chiếm lên tới 100 mẫu trong tổng số 250 mẫu ruộng của làng. Tại xã Phú Thứ (nay thuộc xã Tiên Hiệp, huyện Duy Tiên), bọn địa chủ ở đây đã dùng nhiều phương thức cướp ruộng đất cày cấy của nông dân như: phát canh thu tô thường chiếm hai phần ba sản phẩm mỗi mẫu, từng bước đẩy họ vào con đường tha hương cầu thực. Cảnh người nông dân đi ăn xin, đi làm thuê cho địa chủ ngày càng xuất hiện ở nhiều nơi (3). Sản xuất nông nghiệp bị suy thoái, đình đốn, ruộng đồng tuy thiếu song nhiều khi lại bị bỏ hoang, không ai cấy trồng. Sản lượng thu nhập của nông nghiệp lại thấp. Cuộc sống của nông dân Hà Nam vốn đã cơ hàn, bước vào những thế kỷ XVI - XVIII, lại càng sa vào tình cảnh túng quẫn hơn.
Trong khoảng thời gian từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, mặc dù gặp khó khăn do thiên tai, địch họa..., nghề thủ công cổ truyền vẫn được nhân dân các làng xã Hà Nam cố gắng duy trì và phát triển, trong đó đáng chú ý là: nghề dệt lụa ở Nha Xá (xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên), nghề trồng dâu nuôi tằm ở Dưỡng Mông (xã Tiên Phong, huyện Duy Tiên). Nghề trồng dâu nuôi tằm tại Dưỡng Mông có một lịch sử rất lâu đời và đã nổi tiếng từ thế kỷ I. Hiện tại xã Tiên Phong còn ngôi đình đá 5 gian thờ bà Tổ nghề(1). Tất cả những hiện vật còn được lưu giữ tại đình như sắc phong, câu đối, thần phả có nội dung đều phù hợp với truyền thuyết trong dân gian. Theo thần phả viết vào đời Hồng Phúc nguyên niên (1572), bà tên là Nguyệt Nga con ông Nguyễn Văn Bình và bà Mai Thị Sáng quê ở xã Dưỡng Mông. Thời gian làm quan bà thường về quê khuyên bảo nhân dân chăm chỉ nghề nông và dạy dân nghề chăn tằm.
Tơ tằm đem bán cho Nha Xá - cách Dưỡng Mông 15km về phía Bắc, nơi có nghề dệt lụa nổi tiếng trong vùng. Lúc bấy giờ trong làng Nha Xá có khoảng năm, sáu chục khung dệt. Sản phẩm ở đây là những vuông vải dệt khổ nhỏ rộng 2 phân. Hình ảnh vợ ở nhà ươm tơ, dệt vải, chồng gói vải vào một bọc nặng khoảng năm, sáu cân khoác vào vai rồi đi bán nhiều nơi ở Đàng Ngoài, thường là lên Kẻ Chợ (Thăng Long) bán lại cho các nhà buôn, đã trở thành cảnh thường thấy tại Nha Xá. Nghề mộc tiếp tục được phát huy, dưới bàn tay khéo léo của người thợ Hà Nam đã xuất hiện những sản phẩm đồ gỗ đầy sức quyến rũ. Cư dân Hà Nam còn học thêm một số nghề mới như nghề điêu khắc, nghề sơn mài, nghề đan... Trong đó đáng kể nhất là nghề sơn mài ở thôn Trung (xã Châu Sơn, huyện Duy Tiên). Nghề này xuất hiện ở đây, vào khoảng đầu thế kỷ XVIII, phát triển mạnh nhất vào cuối thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX, sau đó tàn lụi dần và mất hẳn vào đầu thế kỷ XX.
Nền thương nghiệp của Hà Nam trong những thế kỷ XVI - XVIII, cũng bước đầu được chú ý phát triển. Mạng lưới thương nghiệp nhỏ và một số điểm buôn bán đã hình thành. Vào thế kỷ XVI - XVIII, vùng đất phủ Lỵ Nhân thuộc thị xã Phủ Lý ngày nay đã trở thành trung tâm chính trị, quân sự và giao lưu thương nghiệp khá sầm uất. Đương thời hai chợ khá lớn là Chợ Bầu và chợ Trấn, hầu như ngày nào cũng họp, người trong phủ đến mua bán tấp nập. Một vài dãy phố như phố Bờ Sông đã xuất hiện, tạo thành một điểm dân cư, nhộn nhịp nhất vùng:
Dù ai buôn đâu, bán đâu,
Cũng không tránh khỏi Cầu Châu, Vân Sàng.
(Cầu Châu là cây cầu bắc qua sông Châu, Vân Sàng nay thuộc thị xã Ninh Bình (1).
Hệ thống chợ phát triển không chỉ ở các trung tâm chính của tỉnh, mà tại các làng quê, việc giao lưu hàng hóa vốn là nhu cầu thiết yếu trong sinh hoạt hàng ngày của người dân cũng được đẩy mạnh. Nhiều dãy phố nhỏ với những chợ, quán sơ sài dọc theo các trục đường chính hàng huyện, hàng xã được lập từ trước như chợ Dâu (nay thuộc xã Tiên Phong, huyện Duy Tiên), chợ Phú Thứ, hoặc những chợ khác dựng lên bên cạnh bến sông nhỏ như chợ Bút Thượng (xã Châu Giang, huyện Duy Tiên) họp tại sông Thiên Mạc. Chợ Bút đã được tu sửa, nâng cấp để phù hợp với những nhu cầu trong giai đoạn mới. Tấm bia “Trùng tu thị bi” (Bia ghi chép việc tu sửa lại chợ) được soạn, khắc và dựng năm 1713 đã nói rõ điều này (2). Hàng hóa đưa ra buôn bán ở các chợ và phố phường chủ yếu là nông sản, thóc gạo, gia súc, gia cầm, các loại thực phẩm... Các loại lâm sản như hương liệu, mật ong, luồng gỗ...; các mặt hàng thủy, hải sản như tôm cá, nước mắm, muối...; ngoài ra còn có cả các sản phẩm thủ công truyền thống như vải dệt thô, the, lụa, đồ gốm, đồ gỗ, đồ đan lát... Phần lớn những hàng hoá đó là sản phẩm tự nhiên, một phần là do người nông dân gia công, sản xuất trong lúc nông nhàn. Vào thời kỳ này, ở Hà Nam xuất hiện một số thương nhân chuyên nghiệp, nhiều nơi đã hình thành những phường buôn với số lượng người tham gia không nhỏ. Họ hoạt động không chỉ hạn hẹp tại các địa phương trong vùng Hà Nam mà còn vươn xa tới các nơi khác trong phạm vi Bắc Hà. Thôn Câu Tử (nay thuộc xã Châu Sơn, huyện Duy Tiên) hồi bấy giờ đã có phường buôn thường xuyên lên Hòa Bình, vào Thanh Hóa thu mua luồng, gỗ các loại đem về vùng xuôi tiêu thụ (3).
Nhìn chung nền kinh tế nông nghiệp của cả nước nói chung và Hà Nam nói riêng bị sa sút, thủ công nghiệp và buôn bán nhỏ tuy có phần phát triển hơn so với các thế kỷ trước, song vẫn chưa đáp ứng nổi nhu cầu cuộc sống bình thường của người dân đương thời.
Vào cuối thế kỷ XVIII, sau chiến thắng quân Thanh, vương triều Tây Sơn khẩn trương khôi phục và xây dựng lại đất nước. Năm 1789, Quang Trung cho công bố “Chiếu khuyến nông” để giải quyết nạn dân phiêu tán và tình trạng ruộng đất hoang hoá. Đồng quê Hà Nam cũng như các nơi khác nếu trước đây chỉ là một cảnh tượng hoang tàn, ruộng đồng nứt nẻ, không người cày cấy, thì sau vài năm dưới triều Tây Sơn đã lại trở thành một vùng tương đối trù phú, dân cư khá phồn thịnh, thanh bình. Có một số binh lính của triều Tây Sơn quê gốc ở Quy Nhơn, sau khi tham gia quân ngũ đã lưu lại Hà Nam sinh sống và lập nghiệp. Đường Quy Lưu tại thị xã Phủ Lý là một chứng cứ sinh động cho sự hiện diện của binh lính Quy Nhơn. Theo quy định của triều Tây Sơn ở những nơi khai hoang, phục hoá sau ba năm canh tác, thu hoạch, nông dân mới phải nộp thuế. Mức thuế của người dân nộp cho nhà nước bằng tiền hay hiện vật, có loại thấp hơn thời Lê Trung hưng tới hai phần ba"(1).
Trên đất Hà Nam, hệ thống giao thông và thủy lợi được khôi phục và phát triển. Các con sông được nạo vét, nhiều con mương mới dẫn nước tưới tiêu được đào mới. Đặc biệt, đoạn đê sông Hồng chạy từ Tuần Vường xuống đến Giao Thủy, tỉnh Nam Định, được nhân dân phủ Lỵ Nhân đắp to và rộng hơn, nhằm hưởng ứng công việc trị thủy “đại khởi công đắp đê Nhị Hà” do triều Tây Sơn phát động (2). Do vậy, nạn hạn hán, lũ lụt, ngập úng, dẫn đến mất mùa được giảm thiểu đáng kể. Sản xuất nông nghiệp được phục hồi và phát triển. Năm 1791, sử cũ cho hay: “Mùa màng trở lại phong đăng, năm phần mười trong nước khôi phục được cảnh thái bình” (3).
Công thương nghiệp dưới thời vua Quang Trung đã được quan tâm và phục hồi sau những năm bị đình trệ. Vua Quang Trung chủ trương phát triển nền thương nghiệp trong nước và phát triển buôn bán với nước ngoài. Ngoài ra để kích thích buôn bán, vua Quang Trung còn cho thi hành một chế độ thuế khoá đơn giản, giảm nhẹ hoặc miễn thuế hoàn toàn đối với một số loại thuế như thuế đinh, thuế thổ sản. Có thể thấy, với những chính sách ban đầu tương đối rộng mở của vương triều Tây Sơn, nền kinh tế đất nước dần được phục hồi và phát triển. Nhưng thật đáng tiếc, vị vua áo vải Quang Trung đã sớm từ trần, mang theo bao dự định tốt đẹp, và cũng làm cho nền kinh tế vừa được phục hồi lại có nguy cơ lâm vào suy thoái.
Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy niên hiệu Gia Long, xác định quyền thống trị trên cả nước. Sau nhiều năm loạn lạc kéo dài, vấn đề ổn định xã hội, phục hồi kinh tế đã trở thành một yêu cầu bức thiết, buộc các vua triều Nguyễn phải lưu tâm. Vua Gia Long đã thực thi nhiều chính sách nhằm ổn định trật tự xã hội, củng cố nền quân chủ chuyên chế, ban hành bộ “Luật Gia Long” (1807), chia đặt lại các đơn vị hành chính cho phù hợp thực tế của các địa phương. Về kinh tế, Gia Long khuyến khích khai hoang, phục hoá ruộng đất, năm 1804 ban hành phép quân điền, định lệ chia ruộng đất công cho nông dân, hạn chế nạn phiêu tán. Dưới thời Minh Mệnh, công cuộc cải cách hành chính các cấp thu được những hiệu quả khá quan. Nhiều biện pháp nhằm tăng cường phát triển kinh tế được áp dụng: hệ thống đồn điền được thiết lập ở nhiều nơi, hình thức khai hoang doanh điền do Nguyễn Công Trứ khởi xướng ra đời và nhiều làng mới được lập ra tại các vùng ven biển Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình.
Công tác trị thủy, thủy lợi được tiến hành thường xuyên dưới triều Nguyễn. Song tất cả những cố gắng của triều Nguyễn vẫn không cứu được nhân dân lao động khỏi cảnh thiên tai, hạn hán, lụt lội liên tiếp diễn ra hằng năm. Từ năm 1802 đến 1858, cả nước phải chịu 38 lần mưa bão lụt lội, trong đó có 16 lần vỡ đê. Đặc biệt dưới thời Tự Đức, công cuộc trị thủy đã không mấy hiệu quả, triều đình tỏ ra bất lực. Vào năm 1840, vỡ đê ở tỉnh Nam Định, ở huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam, lụt ở tỉnh Ninh Bình; năm 1847 vỡ đê ở các huyện Thanh Liêm, Duy Tiên...; năm 1857 vỡ đê ở các tỉnh Nam Định và Hà Nội. Tháng 8 năm Tân Tỵ 1864, đê Châu Giang vỡ, tàn phá nặng nề nhiều làng xã của tổng Lam Cầu, Đọi Sơn (huyện Duy Tiên) gây thiệt hại lớn về người và của. Ở thôn Câu Tử (nay thuộc xã Châu Sơn, huyện Duy Tiên), khoảng giữa thế kỷ XIX, nông dân phải bỏ làng ra đi tới quá một nửa lên sinh sống tại các tỉnh Hòa Bình, Tuyên Quang, Hà Giang và Việt Trì (2). Nhà thơ Nguyễn Khuyến đã có nhiều bài thơ về thực trạng vỡ đê, ngập lụt của vùng Bình Lục quê ông và của cả Hà Nam trong giai đoạn những năm giữa thế kỷ XIX, tiêu biểu là những câu:
Quai Mễ Thanh Liêm đã vỡ rồi
Vùng ta thôi cũng lụt mà thôi.
(Bài Hà Nam nước lụt)
Ai lên nhắn hỏi bác Châu Cầu,
Lụt lội năm nay bác ở đâu?
(Bài Lụt hỏi thăm bạn) (1).
Cuộc sống bấp bênh, luôn bị phụ thuộc vào thiên nhiên đã khiến người nông dân Hà Nam dưới thời Nguyễn lâm vào cảnh “bước đường cùng”. Nhiều làng xác xơ, chỉ còn lại ít người sống vật vờ, “sống dở chết dở”. “Tại thôn Thượng xã Châu Sơn, huyện Duy Tiên dưới thời Gia Long, nhân dân đói khổ, bệnh tật, trẻ con, người lớn chết nhiều, cả làng chỉ sót lại hơn chục người, nhưng cũng trong cảnh sống dở, chết dở. Những người sống sót lôi người chết ra cánh đồng phía Bắc làng chôn qua loa cho xong. Nhiều người khiêng xác người chết ra đồng không đủ sức chôn nữa, đành bỏ đó rồi bò về” (2).
Nền kinh tế mà chủ yếu là sản xuất nông nghiệp của cả nước nói chung và Hà Nam nói riêng trong thời Nguyễn lâm vào cảnh đình đốn, tô thuế nặng nề làm cho đời sống người nông dân Hà Nam càng thêm khổ cực. Phan Huy Chú cho biết, vào triều Nguyễn, hầu như huyện nào trong phủ Lý Nhân cũng đều có “các sở tuần đánh thuế”, trong đó “bến tuần Châu Cầu là chính, còn các bến khác như Dưỡng Mông huyện Duy Tiên), Hào Châu (huyện Nam Xang), Châu Xá (huyện Kim Bảng) là chi nhánh ” (3).
Tiếp theo sự phát triển của kinh tế thương nghiệp qua các thế kỷ trước, hệ thống chợ vào thế kỷ XIX, nhất là vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đã được mở rộng. Tại các vùng thuộc đồng bằng châu thổ Bắc Bộ hầu như các làng lớn đều có chợ. Huyện Bình Lục (tỉnh Hà Nam) có 22 chợ, ở mỗi huyện tính trung bình từ 4 đến 7 làng lại có 1 chợ chung, họp theo định kỳ mỗi tháng 6 phiên và mỗi phiên nửa ngày (1). Nhiều vùng Hà Nam chợ quê họp hằng ngày, hầu hết sản phẩm giao lưu tại chợ là các loại nông sản, lương thực, thực phẩm, công cụ lao động, đồ dùng sinh hoạt hằng ngày. Hà Nam vốn nổi tiếng là một vùng ngập lụt; vào tháng 7 hoặc tháng 8 âm lịch, nước trắng cả đồng, có người lấy nghề chài lưới kiếm con tôm, con cá qua ngày. Cũng có một số người tìm cách kiếm sống bằng nghề buôn đơn giản như hàng xay hàng xáo, kiếm một chút tiền tiêu và ít lương thực như cám, tấm để ăn và chăn nuôi lợn, gà. Cảnh tượng những trai đinh lực điền vùng đất Nam Xang chạy ngược chạy xuôi làm hàng xáo kiếm miếng ăn trong những ngày nước lớn được phản ảnh trong thơ ca:
Anh là con trai Nam Xang,
Nước lớn ngang đàng, vác đấu đi đong,
Anh đong tỉnh Bắc, tỉnh Đông,
Trở về, anh lại sang đong tỉnh Đoài.
Cùng với nghề nông rơi vào tình trạng bế tắc, thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng không có đường phát triển. Nhiều thợ giỏi của các nghề sơn son thiếp vàng ở thôn Trung (xã Châu Sơn, huyện Duy Tiên), nghề làm mộc ở thôn Mạc (nay thuộc xã Tiên Tân, huyện Duy Tiên), làng gốm Đanh Xá (xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng) đã bị bắt đưa vào kinh đô Huế để phục vụ xây dựng những công trình kiến trúc như lăng tẩm, cung điện... cho vương triều Nguyễn. Chính sách “ức thương” cùng việc đánh thuế nặng nề đã khiến cho nhiều thương nhân phải bỏ nghề đi tìm công việc khác mưu sinh, đó là trường hợp xảy ra cho các phường buôn gỗ tại Câu Tử (xã Châu Sơn, huyện Duy Tiên), phường buôn thuyền, buôn gạo ở Lạc Tràng (huyện Kim Bảng - nay thuộc thị xã Phủ Lý). Nghề dệt truyền thống tại Nha Xá (xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên) cũng chỉ sản xuất cầm chừng, không được mở mang như các thời kỳ trước.
Dù trong bối cảnh chung của xã hội từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX, có nhiều khó khăn do các cuộc chiến tranh xảy ra, đất nước hầu như không lúc nào yên bình, nhưng truyền thống hiếu học, việc giáo dục thi cử vẫn được tiếp tục tại Hà Nam. Từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XIX, có nhiều người dân Hà Nam thi đỗ Tiến sĩ, Tạo sĩ và Phó bảng. Trong số đó không ít người đã giữ những trọng trách của các vương triều Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn.
Đáng chú ý nhất là Lê Tung (1452-1514), tên thật là Dương Bang Bản, người xã An (Yên) Cừ (nay thuộc xã Liêm Thuận, huyện Thanh Liêm). Ông đỗ Hoàng giáp, khoa thi Hồng Đức năm thứ 15 triều vua Lê Thánh Tông (1484). Do có nhiều công lao với triều Lê (phụng sự 5 triều vua, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Lê Túc Tông, Lê Tương Dực và Lê Uy Mục), ông được ban quốc tính (họ Lê) và đổi tên thành Tung. Lê Tung từng giữ nhiều chức vụ quan trọng như: Thượng thư bộ Lại, Thượng thư bộ Lễ, Quốc Tử giám Tế tửu... Người đời thường nhắc đến ông với tư cách một sử gia. Năm 1514, vua Lê Tương Dực sai Lê Tung dựa vào Đại Việt thông giám thông khảo để soạn Đại Việt thông giám tổng luận. Sau đó toàn bộ Đại Việt thông giám tổng luận được các soạn giả Đại Việt sử ký toàn thư đưa vào phần đầu của bộ quốc sử với tiêu đề Việt giám thông khảo tổng luận. Tuy Lê Tung không tham gia soạn quốc sử, nhưng qua bài Tổng luận với những quan điểm tiến bộ của mình, Lê Tung nhận được sự đánh giá cao của giới sử học (1).
Từ xưa Hà Nam vốn nổi tiếng là vùng văn học, thế kỷ XVI-XIX, văn học Hà Nam vẫn luôn phát triển. Thời kỳ này Hà Nam đã sản sinh ra những tên tuổi nổi tiếng trên thi đàn, văn đàn cả nước. Nhà thơ Nguyễn Khuyến (1835-1909) đã lớn lên và trưởng thành nơi vùng quê nghèo khó, ngập lụt và đạt tới vinh quang trong sự nghiệp văn thơ vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Ngoài ra, những tư liệu thành văn còn được lưu giữ như địa chí, văn bia, gia phả cùng những tập thơ... bằng chữ Hán và chữ Nôm đã chứng tỏ sự phát triển của văn học Hà Nam thế kỷ XVI đến giữa XIX. Nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, đạt được thành quả rực rỡ. Hàng trăm hiện vật như bia đá, khánh đá, tháp đá, chuông đồng, ván in kinh... cùng các ngôi chùa, ngôi đình, mang đậm dấu ấn các thời Mạc, Lê, Nguyễn được phát hiện và lưu giữ tại các địa phương và nhà Bảo tàng tỉnh Hà Nam đã minh chứng cho sự phát triển của nghề điêu khắc, kiến trúc và văn hoá, trên đất Hà Nam từ thế kỷ XVI-XIX. Có thể những tác phẩm tiêu biểu như: Bia Sùng Khánh tự bi (Bia chùa Sùng Khánh) tại thôn Đông Vũ (xã Thọ Ích, huyện Nam Xương - nay thuộc huyện Lý Nhân) soạn năm Minh Đức thứ nhất (1527) niên hiệu nhà Mạc; tháp chuông chùa Khánh Long, xã Châu Giang (huyện Duy Tiên), đình đá thôn Dưỡng Mông (xã Tiên Phong, huyện Duy Tiên)... bia “Phật Pháp Tăng”, tại chùa thôn An Trạch (nay thuộc xã Bắc Lý, huyện Lý Nhân), bia tháp Linh Ứng tại thôn An Trạch; khánh đá chùa thôn An Trạch; tại chùa Tế Xuyên (nay thuộc xã Đức Lý, huyện Lý Nhân) hiện còn tới 1.700 ván in kinh...
Những ngôi đình mái cong uyển chuyển mang phong cách thế kỷ XVII- XVIll, vẫn còn hiện diện tại hầu hết các làng xã Hà Nam như đình Văn Xá, đình Thọ Chương, đình Mạc Hạ (huyện Lý Nhân); đình An Hòa, đình Hòa Ngãi, đình Chảy (huyện Thanh Liêm), đình Vị Hạ, đình Đồng Du (huyện Bình Lục) (1). Thông qua những hiện vật trên cùng nội dung được lưu giữ qua các tài liệu Hán, Nôm, những trang trí hoa văn, đồ thờ tự... cho phép tìm hiểu nhiều điều về tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán... của làng xã Hà Nam trong các thế kỷ XVI - XIX.
Vào các thế kỷ XVI-XIX, Nho giáo vẫn được các chính quyền phong kiến dùng làm nền tảng tư tưởng cho giai cấp thống trị. Mặc dù trong giai đoạn này Nho giáo vẫn giữ vai trò chi phối, nhưng đã suy giảm nhiều. Nho giáo phải dựa vào Phật giáo và Đạo giáo trong thuyết Tam giáo đồng tôn. Tấm bia “Phật Pháp Tăng” chùa thôn An Trạch (xã Bắc Lý, huyện Lý Nhân) có niên đại 1537, đã phần nào minh chứng cho vị trí không còn “độc tôn” của Nho giáo giai đoạn này tại vùng Hà Nam. Phật giáo trong các thế kỷ XVI-XVIII, được phát triển tại Hà Nam. Nhiều ngôi chùa cũ được tu sửa, nhiều ngôi chùa mới được dựng, như Chùa Cả (xã Châu Giang, huyện Duy Tiên). Hồi đó làng nào cũng có người theo Phật giáo, có các vị sư trụ trì (2).
Hà Nam là một trong sáu tỉnh còn giữ lại nhiều di tích Đạo giáo nhất. Các huyện Bình Lục, Duy Tiên, Kim Bảng, Thanh Liêm và phủ Lý Nhân đều có nhiều nơi thờ cúng các vị thần của Đạo giáo (3). Đạo Thiên chúa đã được truyền bá vào nước ta từ những năm 30 của thế kỷ XVI. Sử sách còn ghi lại: Năm 1533, niên hiệu Nguyên Hòa đời vua Lê Trang Tông, giáo sĩ phương Tây tên là Y-nê- khu (Ignatio) đã đến truyền đạo tại các vùng ven nghèo khó của các tỉnh Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Thái Bình... Khi đến các vùng này, giáo sĩ Ignatio đều mang thuốc và tiền phát cho dân chúng, không ngoài mục đích truyền đạo.
Nhưng vào thế kỷ XVI, đạo Thiên Chúa vẫn chưa đặt được nền móng cho việc truyền đạo tại Hà Nam và các nơi khác. Đến thế kỷ XVII, đặc biệt từ giữa thế kỷ XVIII trở đi, đạo Thiên Chúa đã tạo dựng được một cơ sở khá vững với một đội ngũ giáo sĩ, linh mục (phương Tây và bản xứ) thông thạo phong tục tập quán và tình hình chính trị xã hội Việt Nam. Các giáo sĩ đã cố gắng tìm mọi cách truyền đạo vào Việt Nam, họ vận dụng cả chữ Hán, Nho giáo và học tiếng Việt để thâm nhập đời sống xã hội, tranh thủ tuyên truyền, mở rộng giáo phận. Một số giáo sĩ phương Tây thậm chí còn lợi dụng hoạt động truyền giáo để thăm dò, tìm hiểu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quân Pháp xâm lược Việt Nam sau này (1).
Do Hà Nam từ thế kỷ XVI-XIX, trở thành một địa bàn để các giáo sĩ phương Tây chú trọng phát triển đạo Thiên Chúa, nên số lượng giáo dân tăng lên, nhiều nhà thờ đã được xây dựng trên địa phận Hà Nam. Hiện tại còn hai trung tâm của đạo Thiên Chúa giáo là vùng Kẻ Non và Kẻ Sở (cả hai đều thuộc huyện Thanh Liêm), ở Hà Nam còn những nhà thờ Thiên chúa giáo, với những đường nét kiến trúc gô-tích phương Tây kết hợp với phong cách kiến trúc truyền thống Việt Nam. Tiêu biểu là nhà thờ hai tháp Xứ Bút Đông (xã Châu Giang, Duy Tiên), nơi được coi là làng đạo gốc ở đồng bằng Bắc Bộ đã sản sinh ra nhiều vị linh mục, trong đó có cả Hồng Y Giáo chủ.
Tính từ những ngày đầu cư dân Việt cổ định cư tại vùng đất trũng Hà Nam, cho đến khi thực dân Pháp nổ phát súng đầu tiên tấn công vào Việt Nam, cư dân Hà Nam đã trải qua một chặng đường dài mấy nghìn năm cùng dân tộc dựng nước và giữ nước của cả dân tộc. Những hiện vật Đông Sơn, đặc biệt trống đồng (như trống đồng Ngọc Lũ), nhiều mộ thuyền đã được phát hiện tại Yên Bắc, Mộc Bắc, Đọi Sơn... đều mang sắc thái bản địa, độc lập của cư dân Lạc Việt, cư dân Hà Nam. Hầu như văn hóa Hán, dấu ấn Hán chưa có ảnh hưởng.
Năm 111 trước Công nguyên, khi nhà Hán xâm chiếm nước Nam Việt của Triệu Đà, đất đai Âu Lạc (bao gồm cả Hà Nam) bị chuyển vào tay chính quyền Hán. Gần mười thế kỷ tiếp theo không đơn thuần chỉ là công cuộc tiến hành Hán hoá của thống trị phương Bắc mà quá trình tiếp thu văn hóa Hán và chống sự đồng hóa Hán quyết liệt của dân tộc Việt, trong đó có nhân dân Hà Nam, để vào những năm đầu Công nguyên, khởi nghĩa Hai Bà Trưng nổ ra năm 40, chứng tỏ sức quật khởi của nhân dân Lạc Việt đối với ách thống trị của nhà Hán. Các địa phương trong cả nước đương thời đều ủng hộ mạnh mẽ cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Hà Nam là một trong những vùng có nhiều nhân vật tham gia khởi nghĩa: Nguyệt Nga ở Dưỡng Mông (huyện Duy Tiên); Cao Thị Liên, Lê Hoàng Nghị ở Thạch Tổ (huyện Thanh Liêm); Nguyễn Thiện ở Phù Khê (huyện Kim Bảng); Lê Chân tại Lạt Sơn (huyện Kim Bảng)... Cuộc khởi nghĩa bị thất bại, nhiều người con Hà Nam đã hy sinh, trở thành những tấm gương tiêu biểu cho muôn đời sau ngưỡng mộ, cảm phục. Tiếp theo vào năm 543, Lý Bí nổi lên đánh đuổi quân Lương, rồi khởi nghĩa Triệu Quang Phục, nhân dân Hà Nam cầm vũ khí đứng lên bảo vệ xóm làng, giữ độc lập cho dân tộc với những Đinh Lôi, Nguyễn Khôi... đã lưu lại nhiều dấu tích chiến công cho tới tận ngày nay.
Mở đầu cho thế kỷ X, một kỷ nguyên độc lập dân tộc, là ba cha con họ Khúc, họ đã chứng tỏ tài năng quản lý quốc gia tự chủ của người Việt. Năm 938, chiến thắng trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền, đã chính thức chấm dứt hơn nghìn năm đô hộ của thống trị phương Bắc, mở ra một thời đại mới - độc lập, tự chủ, phục hưng dân tộc. Nạn cát cứ với loạn 12 sứ quân diễn ra làm cho sự thống nhất tập trung bị chao đảo. Người anh hùng Đinh Bộ Lĩnh với tài năng của mình cùng sự phò tá tích cực của nhiều tướng sĩ, trong đó có không ít người tài ba quê Hà Nam đã không quản ngại hiểm nguy, mang theo quân bản bộ cùng họ Đinh dẹp yên nạn cát cứ.
Lê Hoàn, người kế tục xứng đáng sự nghiệp thống nhất đất nước của Đinh Bộ Lĩnh. Ông vua bình dân, đi chân đất, bắt cá trước mặt sứ thần ngoại bang lại chính là vị tướng dũng mãnh phá giặc Tống, bình giặc Chiêm. Sứ thần đời sau phải ca ngợi “đánh giặc dễ như trở bàn tay, khiến cho ngoại bang phải nể vì”. Đó là vua Lê Đại Hành, vị vua đầu tiên trong lịch sử Đại Việt thực hiện việc cày tịch điền ngay trên vùng quê chiêm trũng của Hà Nam. Cũng chính vua Lê Đại Hành đã làm cho nền kinh tế của nước Việt Nam thời Tiền Lê có bước chuyển biến mới.
Đầu thế kỷ XI, Lý Thái Tổ đã thực hiện một cuộc dời đô mang tính lịch sử quyết định cả công cuộc kiến thiết đất nước và kinh đô cho nhiều đời sau này. Trong công cuộc chuyển đô ra Thăng Long, nhân dân Hà Nam bằng sức lực cùng kinh nghiệm sông nước của mình đã góp phần không nhỏ đảm bảo an toàn cho đoàn thuyền ngự dọc theo tuyến thủy Hoàng Long - sông Đáy - sông Châu - sông Hồng đến thành Đại La (sau đổi là Thăng Long).
Chiến công Nam chinh năm 1069, của Lý Thánh Tông đánh thắng quân Chiêm Thành hung hãn, có sự góp sức không nhỏ của nhân dân Hà Nam. Điệu múa Dậm tại Quyển Sơn (xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng) mãi là một kỷ niệm sâu sắc cho quan hệ giữa quân lính triều Lý với nhân dân Hà Nam trong thế kỷ XII. Triều Lý với hơn hai thế kỷ tồn tại, để lại nhiều công trình kiến trúc, mà Tháp Sùng Thiện Diên Linh với tấm bia nổi tiếng trên chùa Đọi (huyện Duy Tiên) hiện vẫn còn, là một trong những minh chứng.
Kế tục sự nghiệp của triều Lý, triều Trần với gần hai thế kỷ trị vì, đã làm cho nước Đại Việt hùng cường trên nhiều lĩnh vực.
Ba lần chiến thắng giặc ngoại xâm Mông - Nguyên đã là một minh chứng đầy sức thuyết phục cho nhận định về nguyên nhân thắng lợi của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn: trên dưới đồng lòng, anh em hoà thuận, cả nước góp sức. Trong chiến công chung của dân tộc hồi thế kỷ XIII, có sự đóng góp quan trọng của nhân dân Hà Nam. Với vị trí chiến lược, công thủ thuận tiện, châu Lợi Nhân (Hà Nam đời Trần) đã được các vua Trần sử dụng như một hậu cứ an toàn, lại là một tiền tiêu vững chắc chống quân thù. Vùng đất Hà Nam đời Trần đã phát huy hết thế mạnh của mình, với các căn cứ quân sự, kinh tế đặt trên ngã ba của những dòng sông Thiên Mạc, sông Châu, sông Đáy... cùng những con người Hà Nam như Trần Bình Trọng... đã mãi mãi đi vào lịch sử và là niềm tự hào xứng đáng của người dân Hà Nam.
Thế kỷ XV, với sự xuất hiện của Lê Lợi, vị minh chủ của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, một trang mới đã mở ra trong lịch sử dân tộc. Cùng với nhân dân cả nước hưởng ứng lời kêu gọi đứng lên chống ách bạo tàn của giặc Minh giành lại độc lập cho dân tộc, người dân Hà Nam quyết không đứng ngoài cuộc chiến đấu gian khổ, nhưng vinh quang này. Nhiều con em của Hà Nam đã tích cực tham gia vào cuộc khởi nghĩa quét sạch giặc Minh ra khỏi bờ cõi Đại Việt. Các ông vua đầu triều Lê, đặc biệt là vua Lê Thánh Tông đã tập trung sức lực xây dựng quốc gia Đại Việt phát triển toàn diện cả về kinh tế lẫn văn hóa. Kinh tế Hà Nam, đặc biệt nông nghiệp cũng như nhiều vùng trong cả nước, có bước chuyển biến hơn trước nhiều. Các nghề thủ công truyền thống của các địa phương Hà Nam như dệt lụa Nha Xá (huyện Duy Tiên), dệt the ở Kim Bảng mà Nguyễn Trãi nhắc đến trong Dư địa chí... vẫn được duy trì và phát triển.
Văn hoá, giáo dục khoa cử dưới thời Lê Thánh Tông đạt tới giai đoạn thịnh trị, nhiều chính sách khuyến khích học tập được thi hành. Trong số những Tiến sĩ người Hà Nam đỗ dưới triều Lê, phải kể tới vị Tiến sĩ khoa Minh Kinh năm 1429, Trình Thuấn Du, người xã Đọi Sơn (huyện Duy Tiên), từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều Lê, nổi tiếng uyên bác, được người đời sánh ngang Lý Tử Tấn của Trung Quốc. Đặc biệt là Lê Tung, Tiến sĩ tiêu biểu của Hà Nam trong thời kỳ Lê Thánh Tông, người đời đánh giá là một sử gia nổi tiếng với bài tựa tổng quan viết cho bộ sử Đại Việt sử ký toàn thư.
Bước sang các thế kỷ XVI - XVIII, đất nước ta phải trải qua những cuộc chiến tranh nội chiến giữa những tập đoàn phong kiến. Hà Nam cũng như nhiều vùng khác phải chịu bao cảnh đau khổ, chết chóc tang thương. Người dân Hà Nam trong gian khổ, luôn tích cực tham gia các phong trào khởi nghĩa nổ ra trong các thế kỷ XVI - XVIII. Đặc biệt, trong khởi nghĩa Tây Sơn do anh em Nguyễn Huệ lãnh đạo, nhân dân Hà Nam đã hưởng ứng, đóng góp của cải, sức người cho cuộc khởi nghĩa. Trên đường tiến quân ra Bắc giải phóng Thăng Long vào Tết Kỷ Dậu 1789, nghĩa quân Tây Sơn đã được nhân dân Hà Nam đón tiếp chu đáo, động viên cả về tinh thần lẫn vật chất. Những trận đánh chiếm các đồn Hoàng Đan (thuộc địa phận huyện Thanh Liêm); Nhật Tảo (ở huyện Duy Tiên) của giặc Thanh có sự góp sức tích cực của những nghĩa quân bản bộ Hà Nam. Vua Quang Trung lên nắm quyền, bước đầu thực thi một số chính sách đã làm cho kinh tế, văn hóa, giáo dục của các vùng trong cả nước, trong đó có Hà Nam, được dần hồi phục và có đà phát triển. Song triều đại Tây Sơn quá ngắn, triều Nguyễn tiếp tục thừa hưởng thành quả thống nhất của Quang Trung để lại.
Các vua đầu triều Nguyễn đã cố gắng đưa ra những chính sách nhằm đẩy mạnh nền kinh tế cùng các lĩnh vực văn hóa, giáo dục. Nhưng, thiên tai, hạn hán, mất mùa liên tiếp diễn ra, lại thêm tệ tham nhũng quan liêu đang tràn lan trong các cấp của vương triều Nguyễn, khiến cho nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân các vùng nổ ra liên tục. Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Phan Bá Vành năm 1826, mà nhân dân các vùng thuộc phủ Lỵ Nhân cũng tích cực tham gia. Năm 1858, thực dân Pháp ngang nhiên tấn công vào cửa biển Đà Nẵng, triều đình Nguyễn bạc nhược, không kiên quyết kêu gọi toàn dân đánh Pháp mà lại bàn hòa. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho đất nước lại lâm vào cảnh thuộc địa. Nhân dân Hà Nam cùng nhân dân cả nước bước vào giai đoạn mới, giai đoạn chống ách thống trị của chủ nghĩa thực dân Pháp ở nước ta.





























Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét