Thứ Tư, 12 tháng 2, 2020

Địa chí Hà Nam 8

Địa chí Hà Nam 8
Chương XXVII
TỤC VÀ LỆ
Phần lớn các làng xã Hà Nam đều có lịch sử hình thành lâu đời. Do vậy, ở làng xã nào cũng hình thành cho mình tục lệ riêng. Tục thực chất là thói quen trong ứng xử được cả cộng đồng chấp nhận, còn lệ là những quy ước được hình thành dần dần trong đời sống, bắt buộc mỗi thành viên phải tuân theo. Sống trong một cộng đồng (dòng họ, xóm, làng...) tục lệ gắn kết các thành viên lại với nhau trong một tính cố kết cộng đồng, ai không tuân theo thì coi như bị cộng đồng gạt bỏ ra ngoài. Những quy định này khi được viết ra thành văn bản thì gọi là hương ước, được coi là căn cứ để các chức sắc trong làng giám sát các thành viên chấp hành các quy định thành lệ của làng. Bên cạnh đó, có những lệ bất thành văn nhưng vẫn rất có hiệu lực đối với cả cộng đồng, song song tồn tại bên cạnh luật pháp của nhà nước. Chính vì vậy mà tục ngữ có câu “Phép vua thua lệ làng”. Như vậy, có thể nói, tục lệ là một môi trường văn hoá gần gũi nhất, tác động thường xuyên nhất và vì thế ăn sâu vào nếp nghĩ, thói quen ứng xử của các thành viên trong cộng đồng. Tục và lệ được hình thành dần dần trong thời gian và có thể thay đổi theo thời gian tuy không dễ dàng. Sau một độ lùi thời gian nhất định, người đời sau có thể chia tục của tiền nhân thành hai loại: hủ tục và mỹ tục và có thể phán xét về các lệ làng thời trước, trên cơ sở đó có những đổi thay cho phù hợp với sự tiến triển chung. Căn cứ vào tục và lệ, có thể tìm hiểu những nét đặc trưng văn hoá làng xã của Hà Nam.
Điều kiện tự nhiên của Hà Nam đã quy định diện mạo cơ bản của làng xã Hà Nam là làng xã của nền kinh tế nông nghiệp. Do vậy, làng xã ở Hà Nam cũng như ở các vùng quê khác của đồng bằng Bắc Bộ đã có một thiết chế tổ chức theo hình thức tiêu biểu như sau:
- Xóm: Là hình thức tập hợp người theo địa vực cư trú hay theo quan hệ láng giềng, là đơn vị chung cư của người nông dân. Trong xóm, người ta quan hệ đối xử với nhau theo tinh thần “Hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau”, hoặc “Bán anh em xa mua láng giềng gần”. Dòng họ: Là hình thức tập hợp người theo quan hệ huyết thống, những người đang sống (hoặc đã chết) có chung một ông tổ. Cho đến ngày nay, các dòng họ ở Hà Nam vẫn luôn luôn tôn trọng và giữ gìn những truyền thống dòng họ của mình, cũng như giữ gìn và khôi phục các gia phả nói về nguồn gốc các dòng họ.
- Giáp hay phái: Là hình thức tập hợp người của nam giới thuộc nhiều dòng họ, nhiều xóm trong làng. Giáp là môi trường cho mỗi người thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi theo tuổi tác đối với làng thông qua những hoạt động của Giáp, ở những mốc quan trọng của đời người như tuổi tiểu ấu (con trai mới sinh), tuổi lên đinh (18 tuổi), tuổi trung nam (19 đến 40 tuổi), tuổi ra lềnh hay trưởng giáp (41 tuổi), tuổi ra lão (42 tuổi)... Giáp là nơi xác nhận và chứng kiến cho mỗi người (nam giới) trước làng xã theo đơn vị giáp mình... Theo cơ cấu của tổ chức làng xã như trên, trong sinh hoạt của người dân Hà Nam trước đây về những việc như cưới xin, ma chay, khao lão, giao hảo... đã có những tục lệ truyền thống lâu đời.
I. TỤC CƯỚI XIN
Về việc cưới xin, tục và lệ ở Hà Nam không có gì khác so với tục cưới của vùng đồng bằng Bắc Bộ nói chung. Trong thời thuộc Pháp, trai gái lấy nhau phải có giấy giá thú do làng xã cấp. Từ những năm 1950, tờ giấy chứng nhận đó được gọi là giấy hôn thú và hiện nay là giấy đăng ký kết hôn.
Ngày xưa, để bảo vệ quyền lợi và danh dự, trai gái phải nộp cheo cho làng coi như là vật chứng để sau này phân xử, nếu họ có chuyện bất hoà, kiện tụng nhau. Lễ cheo chỉ là lễ vật đơn sơ như trầu cau và có khi kèm theo một ít tiền nộp cho lý trưởng. Người trong làng lấy nhau gọi là cheo nội, người ngoài lấy gái làng thường phải nộp nặng hơn, gọi là cheo ngoại. Có nơi không lấy tiền của bên nhà trai mà bắt nộp gạch để lát đường hoặc mâm đồng, bát sứ... để làng sử dụng khi có đình đám. Ca dao xưa có câu
Giúp em quan tám tiền cheo
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau.
là để nói tới tiền cheo này. Lại có câu nói về tầm quan trọng của việc nộp cheo cho làng:
Có cưới mà chẳng có cheo
Nhân duyên trắc trở như kèo đục vênh.
Về lễ nghi, khi người con trai muốn lấy vợ thường phải qua 6 khâu như:
1. Trước hết là lễ nạp thái. Khi người làm mối đã tạo được quan hệ cho đôi bên, nhà trai phải sắm chút lễ mọn đến thưa chuyện với nhà gái để chính thức đặt quan hệ.
2. Thứ đến là lễ vấn danh. Nhà trai nhờ người mối đến nhà gái tìm hiểu ngày sinh tháng đẻ của cô dâu tương lai.
3. Tiếp đến là lễ nạp cát. Đó là khi nhà trai đã biết rõ tuổi cô gái nên đi xem bói và làm lễ trước bàn thờ tổ tiên, báo cáo đôi trẻ hợp nhau.
4. Tiếp theo là lễ thỉnh kỳ. Nhà trai thông báo cho nhà gái về quyết định việc cưới xin, chờ nhà gái chọn ngày lành tháng tốt để tổ chức lễ cưới.
5. Khi nhà gái đồng ý sẽ có lễ nạp tệ, tức nhà trai đưa lễ đến nhà gái.
6. Cuối cùng là lễ thân nghinh tức là lễ rước dâu về nhà chồng.
Về sau, các tục lệ rườm rà dần dần bị bỏ bớt chỉ còn lại lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi và lễ cưới. Các thủ tục ấy còn cho đến ngày nay.
Lễ chạm ngõ
Nhà trai nhờ bà mối (hay ông mối) tìm người con gái phù hợp với gia cảnh của người con trai rồi sau đó “đánh tiếng” với nhà gái. Bà (ông) mối thường là người hiểu gia cảnh của hai bên, giỏi ứng xử, xử lý những tình huống bất trắc xảy ra. Nếu nhà gái chấp nhận thì có thể tiến hành ngay bước chạm ngõ. Nhà trai thông qua bà (ông) mối sửa một cơi trầu gồm khoảng 10 đến 15 quả cau và trầu tươi sang nói chuyện ngỏ ý “cầu hôn” thường diễn đạt bằng câu “xin ông bà cho cháu được làm tôi con ông bà bên này".
Tại cuộc họp mặt này thường có cả chú bác ruột thịt của người cha bên gia đình nhà gái đến ăn trầu, uống nước và cùng nghe ý kiến của bên nhà trai. Sau lễ chạm ngõ, vai trò của bà (ông) mối rất quan trọng, là cầu nối, củng cố mối quan hệ giữa hai bên, thuyết phục nhà gái thuận cho ăn hỏi.
Lễ ăn hỏi
Trước khi làm lễ này, nhà trai phải có cơi trầu xin hỏi, sau đó chọn ngày tốt để làm lễ ăn hỏi (tiểu lễ). Thông thường nhà trai phải mang một buồng cau (cau bông) sai và to quả đều, đẹp (số lượng đủ để nhà gái chia cho trong dòng họ và cả làng, bạn bè mỗi gia đình một quả), dăm lạng chè ngon. Số lễ vật này đặt vào quả cưới, trên phủ vải đỏ và cho nam nữ thanh niên (chưa vợ) đội đi. Bà (ông) mối hoặc đại diện gia đình nhà trai có lời xin phép họ hàng nhà gái cho được bày lễ. Nhà gái nhận lễ đặt lên bàn thờ cúng tổ tiên. Khi hương tàn, nhà trai xin phép ra về. Nhà gái hạ lễ đem buồng cau xuống, bẻ (không cắt) một cành 10-15 quả và ít chè biếu lại nhà trai gọi là lại quả. Sau cuộc này, nhà gái cho người biếu mỗi nhà trong họ một quả và mời bà con chòm xóm đến uống nước ăn trầu cùng chia vui, chứng kiến cô gái đó đã có nơi có chốn, không ai được đặt vấn đề hôn nhân nữa và cũng chính là sự giám sát của cả cộng đồng trong quan hệ của cô gái với các chàng trai khác trong làng.
Sau lễ ăn hỏi, chàng rể tương lai phải “sêu tết” cho bố mẹ vợ, mùa nào thức ấy, ví dụ tháng 5 dưa hấu, đường trắng; tháng 8 cốm, hồng quả...
Từ khi ăn hỏi đến cưới, thời hạn tuỳ theo gia cảnh đôi bên, nhất là bên nhà gái thường từ 1 - 2 năm. Trước khi cưới, người con gái phải nộp cheo cho làng gồm tiền, rượu. Trước đó phải đem trầu đến trình với tiên chỉ. Ngoài ra, nếu người con gái có bố là thành viên hội tư văn còn phải nộp cheo cho hội tại văn chỉ.
Lễ cưới
Lễ cưới thường được tổ chức từ sau rằm tháng 8 đến hết tháng 11 (âm) hàng năm, và trong tháng 2, tháng giêng năm sau, khi tiết trời mát mẻ hoặc ấm áp, không bận bịu với công việc đồng áng.
Sau khi hai gia đình bên trai, bên gái ấn định ngày cưới, nhà trai xin đem lễ dẫn cưới (thường là trước ba ngày). Ngoài gạo nếp, gạo tẻ, cau, rượu, tiền (số lượng cụ thể tuỳ yêu cầu của nhà gái, tuỳ thời điểm), còn có 3 - 4 lễ chín (xôi gà trống thiến hoặc xôi thủ lợn) gọi là cỗ đơm: 1 lễ nhà gái trình lên gia tiên, 1 lễ trình trưởng họ, 1 lễ trình lên về phía gia đình người mẹ cô gái, 1 lễ cho trưởng họ của mẹ cô gái.
Hà Nam cũng như ở nhiều vùng khác trong cả nước, trong cưới xin cũng có tục cưới chạy tang. Khi đó, các nghi thức cưới xin giảm đi phần lớn.
Nói chung, các lễ xung quanh việc cưới xin trước đây đều phải có trầu, cau, rượu, có nơi phải kèm theo cả tiền mặt. Riêng lễ nạp tệ thì có một số tiền nhà trai đưa đến cho nhà gái nên thường xảy ra chuyện thách cưới ở khâu này.
Có nơi gọi thẳng là tiền chợ (tiền để nhà gái lo việc cỗ bàn). Cũng có nhiều nơi nhà gái coi việc thách cưới là để giữ thể diện, danh giá cho con gái mình. Lễ vật như rượu, chè, trầu cau, bánh trái, tiền nong... mà nhà trai đưa đến càng nhiều, cỗ cưới tổ chức càng to thì càng chứng tỏ cô dâu là người cao giá. Chính vì thế, không ít đám cưới đã trở thành đám mua bán, mặc cả giữa đôi bên khiến cho quan hệ hai nhà có khi “bằng mặt mà không bằng lòng”, thậm chí có đám cưới không thành vì sự bất đồng ý kiến của các bậc phụ huynh trong việc tiến hành thủ tục. Ở một số địa phương những thủ tục rườm rà này kéo dài đến tận gần đây.
Trong những năm qua, do mức sống của nhân dân tăng lên, các đám cưới dường như trở lại những phiền toái cũ với việc tổ chức cỗ bàn linh đình. Điều này gây nên một sự mệt mỏi cho đôi vợ chồng trẻ và cho cả người đi dự cưới.
Thực hiện các chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, sau một thời gian thực hiện cuộc vận động, hầu hết các đám cưới ở Hà Nam đều tổ chức theo đời sống mới. Các thủ tục giản tiện, chỉ làm gọn trong hai bước: lễ ăn hỏi và lễ cưới, tiến hành song song với đăng ký kết hôn ở Uỷ ban nhân dân xã, phường. Tất cả diễn ra trong một vài ngày. Việc cỗ bàn ăn uống linh đình đã giảm về cơ bản, chủ yếu chỉ còn tổ chức trong nội tộc.
II. TỤC TANG MA
Ở Hà Nam, việc tổ chức tang lễ cho ngưòi chết không có gì khác biệt lắm so với các nghi lễ chung ở các vùng khác thuộc đồng bằng Bắc Bộ. Sau khi người chết tắt thở, anh em và người thân trong gia đình tắm rửa, thay quần áo mới, nhập quan và lập bàn thờ cho người quá cố. Trên bàn thờ có bài vị, ảnh người quá cố, vải viền băng tang, hương hoa và nến.
Linh cữu quàn và bàn thờ có bài vị đặt ở gian giữa nhà, lúc này mọi nghi lễ của đám tang thực sự bắt đầu. Phường kèn trống được mời đến phục vụ. Tang phục (khăn trắng, áo vải xô, hoặc có cả mũ, gậy) được phát cho con, cháu, người thân. Người phúng viếng đến viếng người quá cố. Họ hàng, thông gia, bạn bè đến viếng đặt lễ viếng lên bàn thờ. Lễ phúng viếng thường không kéo dài. Sau đó là lễ đưa tang.
Ở Hà Nam, việc tổ chức tang lễ thường do hàng xóm, anh em họ hàng đảm nhiệm: Mọi người làm lễ phát tang, tế thành phục, lo đào huyệt và rước linh cữu đưa người quá cố về nơi an nghỉ cuối cùng. Khi công việc chôn cất xong xuôi, tang chủ lo cỗ bàn than để trả nghĩa họ hàng, làng xóm. Ngày nay, hầu như những người đến viếng và chia buồn sau khi đưa đám và thăm hỏi xong gia chủ, thường không ăn cỗ tang, trừ những người là họ hàng thân thích từ xa đến. Do vậy cũng đỡ tốn kém.
Ngày nay, trong tang lễ thường không còn bày đặt việc cúng tế đốt vàng mã, mời thầy cúng như xưa. Tang phục chỉ mặc trong ngày đưa đám, sau đó khăn và áo tang thường được bày trên bàn thờ cúng người đã khuất, những người thân may một miếng vải đen băng tròn đeo ở cánh tay để nhắc nhớ đến người đã khuất.
Sau khi chôn cất, có tục cúng 3 ngày, 49 ngày, 100 ngày, sau đó giỗ đầu và giỗ hết. Theo quan niệm xưa là muốn cho người chết được mát mẻ thì có tục làm chay cúng 3 ngày 3 đêm, có tục đốt vàng mã. Mọi vật dụng như nhà cửa, quần áo, giày dép, tiền vàng... làm bằng giấy mã được đem bày cúng, sau khi cúng xong sẽ đốt đi để gửi cho người chết ở thế giới bên kia. Việc làm này rất tốn kém cho gia đình. Ngày nay, các đám tang đã giảm bớt hủ tục này để chống mê tín dị đoan và lãng phí tiền bạc.
Khi người chết đã được ba năm, gia đình tiến hành việc bốc mộ gọi là sang cát hay cải táng, thường được chọn vào các ngày tốt trong hai tháng cuối năm. Đó là việc bốc mả, nhặt hài cốt của người chết, rửa sạch bằng loại nước sạch đun sẵn gọi là nước vang, sau đó xếp sang tiểu sành, chuyển đi chôn vĩnh viễn ở một nơi khác.
Sau khi sang cát, việc xây cất mộ vĩnh viễn, lập mộ chỉ thường được làm vào những thời gian sau.
Đồng bào theo đạo Thiên Chúa ở Hà Nam cũng như giáo dân trong cả nước, trong tục tang ma có nét khác biệt: Trước đây, khi gia đình có người chết, linh cữu được quàn tại nhà thờ, có cha xứ hoặc linh mục đến cầu kinh rửa tội cho người quá cố. Theo quan niệm của Thiên Chúa giáo, người chết sau khi chết là được vĩnh viễn về cõi vĩnh hằng với Chúa, vì vậy người thân không than khóc. Người chết chỉ chôn một lần, không có tục cải táng.
III. TỤC KHAO VỌNG
Theo tục lệ ở phần lớn các làng quê người Việt ở châu thổ Bắc Bộ thì một người thành đạt, như đỗ đạt về học hành, mua ngôi thứ thăng quan hoặc lên lão đều phải khao làng. Trước đây, như quy định được ghi trong hương ước, người nào đỗ đạt và được phong sắc cấp bằng, được miễn sưu thuế thì phải đến trình tiên chỉ và kỳ mục, chức dịch trong thôn xin nộp khao. Đồ khao gồm thịt lợn, xôi, trầu cau, rượu đem đến đình làm lễ, lễ xong mời đồng dân uống rượu, sau đó người khao mới được ngồi theo ngôi thứ.
Người đi ăn khao cũng phải mừng bằng vật phẩm và tiền bạc. Tục lệ khao xưa thường rất tốn kém, gây lãng phí và cũng là dịp để buôn bán chức tước, khoe của, khoe danh vọng, trả ơn huệ của những người có quyền thế, có tiền của.
Ngày nay, những việc khao chức tước, phẩm hàm đã không còn nữa, nếu có chăng cũng chỉ là việc chúc mừng nhau khi có việc vui mừng trong gia đình, trong công việc, con cái học hành đỗ đạt... Thảng hoặc cũng có những người tổ chức ăn uống linh đình, mời khách khứa quá đông vào những dịp trên, nhưng thường không nhận được dư luận xã hội đồng tình.
Ở Hà Nam cũng như ở nhiều địa phương khác, xưa kia việc khao lão là hình thức phổ biến nhất. Khi xưa, đối với những người nào từ 60 tuổi trở lên thì vào ngày mồng 6 tháng Giêng, làng sẽ sắm trầu, cau đến chúc mừng để tỏ sự coi trọng người già. Mọi người đến chúc mừng chỉ có lời chúc tụng, không được bày cỗ bàn ăn uống. Người thọ từ 90, 100 tuổi trở lên thì làng sẽ cho một người con hoặc một người cháu được miễn trừ các khoản sưu thuế.
Ngày nay, đối với người đến 60 tuổi sẽ làm khao lên lão, tuổi 70, 80 thì khao thượng thọ, tuổi 90 thì khao thượng thượng thọ. Phong tục khao ngày nay thường giản tiện, người lên lão được cấp một giấy chứng nhận của làng và của Hội người cao tuổi và gia đình tổ chức một bữa cỗ để con cháu đến chúc mừng người cao niên. Con cháu thường may áo lụa đỏ để mừng cho ông, bà khi ông bà thọ 90 tuổi hoặc 100 tuổi trở lên.
IV. TỤC GIAO HẢO VÀ KẾT NGHĨA GIỮA CÁC LÀNG
Tục giao hảo, kết nghĩa giữa các làng ở Hà Nam cũng như trong cả nước là một phong tục đẹp, có truyền thống bền lâu từ xa xưa. Tục giao hảo có một ý nghĩa quan trọng vì nó đã liên kết được các làng với nhau và nhằm thực hiện một nhu cầu thiết yếu là xây dựng và bảo vệ cuộc sống tốt đẹp của mỗi làng.
Tùy theo tình hình và yêu cầu cụ thể, các làng có thể kết nghĩa giao hảo với một làng hoặc với nhiều làng. Trong tỉnh Hà Nam từ thời xưa đã có nhiều làng kết nghĩa với nhau. Thí dụ:
- Hai làng Văn Xá, một ở huyện Lý Nhân, một ở huyện Thanh Liêm kết nghĩa giao hảo với nhau.
- Làng Bùi với bốn làng Cát, Nguyễn, Tràng, Thượng thuộc xã Trịnh Xá, huyện Bình Lục kết nghĩa giao hảo, hàng năm tổ chức tế lễ ở đình Bùi.
- Làng Tiên Lý (xã Đồn Xá, huyện Bình Lục) kết nghĩa với làng Dâu (xã An Mỹ, huyện Bình Lục), hàng năm lễ giao hảo diễn ra ở đình Tiên Lý.
- Làng Gừa (xã Liêm Thuận, huyện Thanh Liêm) kết nghĩa với làng Đạo Truyền (xã Đồn Xá, Bình Lục), làng An Xá (xã Thanh Tuyền, huyện Thanh Liêm) kết nghĩa với làng Thịnh Châu Hạ (xã Châu Sơn, thị xã Phủ Lý)...
Hàng năm, giữa các làng kết nghĩa có tổ chức mở hội, tế lễ, để nhớ lại ngày kết nghĩa. Nhân dân các làng có kết nghĩa đối xử với nhau đều hết sức tôn trọng, thương yêu, quý mến nhau, có tinh thần đoàn kết tương trợ nhau. Hai bên thường quy ước qua lại thăm hỏi nhau vào những ngày hội hoặc những ngày lễ tiết lớn. Làng được mời chuẩn bị một đoàn đại diện để sang làng kết nghĩa với số người do hai bên đã quy định. Trang phục của đoàn đại diện phải trang trọng, chỉnh tề. Đoàn gồm những người cao tuổi, có chức sắc, hoặc những người có đông con cháu, sống mẫu mực trong làng... Đúng ngày giờ được mời, đoàn đại diện khăn áo chỉnh tề, mang lễ vật tới làng kết nghĩa. Bên mời cử người ra tận cổng làng để đón rước, cùng ra còn có cả một số trai đinh cầm cờ, lọng, phường âm nhạc... Dân làng phải tránh ra hai bên đường, cúi chào trân trọng. Các vị bô lão và các quan viên của làng đưa rước đoàn khách ra đình lễ thánh, sau đó tiếp khách ở nơi trang trọng, lịch sự nhất làng. Cỗ mời khách kết nghĩa là cỗ ngon, với những món đặc sản của làng hoặc của vùng mình.
Mỗi năm các làng kết nghĩa có các cuộc tiếp đón, đi lại giao hảo là nhằm củng cố tình đoàn kết, ngoài ra giữa các làng còn có những việc làm nghĩa tình, giúp đỡ lẫn nhau mỗi khi các làng gặp khó khăn hoặc có thiên tai địch họa.
Từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay, cơ cấu tổ chức của làng xã đã thay đổi nhiều qua từng thời kỳ. Trong làng đã thành lập ra các hợp tác xã nông nghiệp, các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề truyền thống... Trong làng có các chi bộ Đảng và các chi hội của các đoàn thể quần chúng như: Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi... Trực tiếp điều hành các công việc hành chính trong làng là Trưởng thôn và Phó thôn, dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng. Do vậy, các tục lệ cưới xin, ma chay, khao vọng, giao hảo... đã ngày càng được giản tiện đi rất nhiều, ngày càng phù hợp với sinh hoạt của đời sống hiện nay.
V. CÁC PHONG TỤC KHÁC
Trên đất Hà Nam còn có nhiều tục lệ cổ truyền khác như: tục hội Trương Lê đồng tộc ở Ngô Thượng (xã Tiên Nội, huyện Duy Tiên), lễ Khai độc (đem sắc phong ra đọc đầu năm) ở Đinh Xá (Bình Lục)...
Xin đơn cử một vài tục lệ hết sức đặc sắc của Hà Nam.
- Tục rước oản các già
Tục này hàng năm diễn ra vào hai kỳ: ngày 5/1 âm lịch và ngày 8/4 âm lịch tại làng Thần Nữ nay thuộc xã Bạch Thượng (huyện Duy Tiên).
Làng Thần Nữ, tên nôm gọi là làng Nứa, một làng nằm trong vùng chiêm trũng của huyện Duy Tiên. Cùng với các làng Bùi Xá, Vũ Xá, Văn Xá, Đôn Lương (xã Yên Bắc) và Sa Lao, Đoài, Nhất, Trì (xã Tiên Nội)... làng Thần Nữ là một trong những địa điểm mà khảo cổ học đã phát hiện ra các trống đồng, mộ thuyền... Đây là một làng Việt cổ với đình làng, chùa làng thờ Tứ pháp, miếu cổ thờ thần với cây đa 500 năm tuổi.
Theo tục rước oản các già của làng Thần Nữ, một cụ bà cao tuổi, sống mẫu mực với đề huề con cháu sẽ được chọn bầu làm Gia chủ, kết hợp với việc Ngôi lần xỉ lượt lần trước. Cụ bà Gia chủ sẽ được các già làng và làng làm lễ rước oản từ nhà mình lên chùa, một nghi thức được coi là cực kỳ trọng đại của tục lệ này. Chuẩn bị cho lễ rước oản có đội phụ rước gồm 36 trai thanh, nữ tú mang trang phục màu sắc khác nhau tham gia rước cờ thần, kiếm thần và đội 5 mâm oản, 4 mâm chuối, 3 mâm trầu cau, hương hoa. Ngoài ra còn có một đội tế nữ quan gồm 26 cụ bà và một đội múa lân gồm 16 người. Trang phục của các cụ bà là áo dài nâu...
Đêm trước ngày lễ chính, các cụ bà đến nhà cụ Gia chủ để sửa soạn đồ lễ, chọn nếp cái hoa vàng để thổi xôi, đóng oản, bày các mâm lễ sao cho xong kịp trước khi trời sáng. Vào ngày lễ chính, từ sáng sớm, tất cả các cụ cùng đội phụ rước tập trung ở sân đình. Các đội rước xếp theo thứ tự: Đội múa lân có cờ, trống, kiếm thần, mâm lễ; kế đến là đội tế nữ của các già... sau nữa là dân làng đi dự lễ. Sau khi các đội làm lễ ở đình, đám rước đến nhà Gia chủ tiến hành tế lễ, các mâm lễ được rước lên chùa. Buổi lễ ở chùa gồm tế nữ quan, múa kiếm, đọc kinh Phật cầu nguyện cho gia chủ trường thọ khang ninh, cho các già làng và dân làng sức khoẻ, mùa màng bội thu...
Sau buổi tế lễ làng tổ chức múa kiếm, hát chèo, múa lân, đánh cờ, vật võ và các trò chơi thể thao khác tại sân đình.
Trong khi đó tại nhà Gia chủ, buổi liên hoan mừng thọ được tổ chức để con cháu, họ hàng và các già làng cùng dân làng đến chúc mừng. Sau ngày rước oản, Gia chủ sẽ có trách nhiệm trong việc tang lễ của các già trong làng như báo tang, thu tiền đóng góp lễ tang và các việc khác có liên quan. Công việc này được Gia chủ thực hiện đến kỳ rước oản của người tiếp sau.
Tục rước oản các già là một sự kiện trọng đại mà các già làng ai cũng mong muốn được đến ngôi lần xỉ lượt và được nhận trọng trách Gia chủ. Ai mà chưa được rước oản trước khi chết thì đó là điều bất hạnh, con cháu phải ân hận vì cha mẹ khi sống chưa trả được nghĩa cho làng. Ngôi lần xỉ lượt nghĩa là người cao tuổi được sống lâu và sẽ được đến lượt làm Gia chủ, nếu đủ điều kiện con cái, gia đình, đạo đức để được bầu chọn. Đây là một mỹ tục truyền thống đáng quý trong việc trọng xỉ (trọng tuổi) và trọng đạo đức của Hà Nam xưa.
- Tục ăn tết lại ở Mỹ Thọ
Tục ăn tết lại của thôn Thượng Thọ (xã Mỹ Thọ, huyện Bình Lục) có liên quan tới một sự kiện lịch sử, đó là cuộc hành quân thần tốc của vua Quang Trung ra Thăng Long đại phá quân Thanh mùa xuân năm năm Kỷ Dậu (1789). Ngày 15 tháng 1 năm 1789, tại vùng núi rừng Tam Điệp (Ninh Bình), vua Quang Trung quyết định mở cuộc tấn công lớn tiến ra Thăng Long tiêu diệt toàn bộ quân Thanh, chiếm lại Thăng Long, giải phóng đất nước. Trước khi xuất phát, vua Quang Trung mở tiệc khao quân và tuyên bố: “Nay làm lễ ăn Tết Nguyên Đán trước, đợi đến sang xuân, ngày mùng 7 vào thành Thăng Long sẽ mở tiệc lớn sau. Các ngươi hãy ghi nhớ lời ta xem có đúng thế không?” (Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, quyển 30, trang 33). Nghĩa quân Tây Sơn được chia làm 5 đạo quân tiến ra Thăng Long, trong đó đạo quân thứ 2 do đô đốc Bảo chỉ huy được giao nhiệm vụ tiến ra Đại Áng (huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây) làm nhiệm vụ yểm hộ và phối hợp với đạo quân chủ lực. Trên đường hành quân, ông đã cho dừng chân ở thôn Thượng Thọ nhằm dưỡng sức quân và thu nạp thêm binh sĩ. Thời gian này đã giáp Tết Nguyên đán, nghĩa quân Tây Sơn được nhân dân địa phương đón tiếp rất nồng hậu. Nhiều thanh niên sở tại đã tình nguyện gia nhập đạo quân của đô đốc Bảo. Để động viên và khích lệ tinh thần quân sĩ, đô đốc Bảo đã truyền lại lời quả quyết của vua Quang Trung ở Tam Điệp trước lúc xuất quân và ông còn trồng một cây xanh để ghi lại dấu ấn của mình và khẳng khái tuyên bố trước ba quân: Cành xanh này sẽ sống đón chào đoàn quân chiến thắng trở về vào ngày mùng 8 tháng Giêng. Ngày đó ta sẽ cho ăn Tết lại để khao thưởng quân sĩ và toàn dân (ngày mùng 7 theo lịch sẽ ăn Tết ở Thăng Long). Ngày 5 Tết Kỷ Dậu (ngày 30 tháng 1 năm 1789), nghĩa quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long, quét sạch giặc Mãn Thanh ra khỏi kinh thành. Ngày mùng 8 tháng Giêng, theo lời hẹn, đô đốc Bảo dẫn đoàn quân chiến thắng trở về thôn Thượng Thọ trong sự hân hoan chào đón của nhân dân. Cây xanh hôm nào ông trồng nay vẫn tươi tốt. Đô đốc Bảo mở tiệc lớn khao thưởng quân sĩ, toàn thể dân làng được mời cùng tham dự. Ngày này không khí trong làng thật sôi động nhộn nhịp, cờ quạt đủ màu sắc tươi thắm, chiêng trống vang rền, dân làng vào hội mừng chiến thắng. Sau ngày vui đó, không biết đô đốc Bảo đi đâu mất, dân địa phương dâng sớ tâu lên triều đình. Vua Quang Trung hết sức cảm kích trước tấm lòng trung nghĩa của ông, bèn phong cho ông là Đô đốc Quận Công, cho phép dân làng Thượng Thọ lập đền thờ ông ngay tại nơi ông trồng cây xanh ngày nào, lấy ngày mùng 8 tháng Giêng hàng năm làm ngày ăn Tết lại và cũng là mở lễ hội tưởng nhớ công lao vì dân vì nước của đô đốc Bảo. Từ đó, tục ăn Tết lại của địa phương ra đời và được truyền đến ngày nay. Ngôi đền thờ đô đốc Quận công Bảo ngày nay nằm ven đường số 64, dưới tán cây xanh ngày nào nay đã thành cổ thụ. Dưới gốc cây có bàn thờ trung thiên (ngoài trời). Đây là một di tích minh chứng cho việc một sự kiện lịch sử đi vào tâm thức người dân địa phương và cũng từ đây, một tập tục đẹp đã ra đời.
Hàng năm, sau khi vui Tết cổ truyền dân tộc, nhân dân Thượng Thọ lại tưng bừng chuẩn bị công việc cho ngày ăn Tết lại vào mùng 8 tháng Giêng. Ngày mùng 6, nhân dân rước kiệu quanh làng về đền thờ Quận công Bảo để tế. Ngày mùng 7, các hoạt động vui chơi giải trí, các trò chơi dân gian được tổ chức (thu hút đông người xem nhất là các trò chơi cờ người, đấu vật và bơi thuyền). Sáng mùng 8, làng tế lễ trọng thể. Văn tế tập trung ca ngợi dũng khí của nghĩa quân Tây Sơn và đô đốc Quận công Bảo. Lễ vật dâng tế ngoài hương đăng hoa quả, còn có hai thứ không thể thiếu được đó là bát cá quả nấu ám và một con cá chép nướng to. Theo lời nhân dân địa phương thì đây là những món ăn được ông Bảo dùng trong ngày hội khao thưởng quân sĩ khi xưa. Vào ngày này, dân làng tưng bừng vào hội, từng gia đình đều làm lễ cúng linh đình. Lệ làng trước đây quy định rằng: những chàng rể của làng (lấy vợ là người Thượng Thọ) phải dâng lễ vật (gồm hai con cá quả và một con cá chép còn sống tươi nguyên) và trực tiếp làm cỗ để lễ tổ tiên nhà vợ. Sau đó, vợ chồng hạ cỗ mời ông bà cha mẹ cùng con cháu trong gia đình quây quần ăn uống. Trong mâm cỗ không thể thiếu bát cá quả nấu ám và cá chép nướng. Ngày nay, thủ tục này không còn là quy định bắt buộc mà là sự hiếu thảo, tự nguyện của con cháu đối với cha mẹ, tổ tiên. Điều đặc biệt của tục ăn Tết lại là, mặc dù không khí của ngày Tết Nguyên đán vẫn còn tràn trề khắp xóm làng và trong từng gia đình, nhưng người dân vẫn háo hức chờ đón ngày Tết lại. Bởi đây không chỉ là ăn Tết mà còn là ngày hội làng với rất nhiều sinh hoạt văn hoá truyền thống tưng bừng, nhộn nhịp, trong một tinh thần uống nước nhớ nguồn và lòng thành kính đối với tổ tiên. Đối với những người đi xa, khi không về quê được vào dịp Tết Nguyên đán thì họ đều cố gắng về quê vào dịp ăn Tết lại để được sống trong không khí lễ hội cổ truyền của làng. Tục ăn Tết lại ở làng Thượng Thọ là một mỹ tục của quê hương núi Nguyệt sông Ninh.
Chương XXVIII
LỄ HỘI
Trên mảnh đất đậm đặc di tích như Hà Nam (có gần 1.300 di tích theo thống kê chưa đầy đủ), khái quát về lễ hội không dễ, bởi mỗi di tích (đình, đền, chùa...) đều có một lễ hội biểu hiện khát vọng của con người được giao tiếp với những lực lượng siêu nhiên mà họ hằng tin tưởng là có mối liên hệ mật thiết với cuộc sống của mình. Chính là sự thể hiện khát vọng cao cả đó, lễ hội mang tính triết lý sâu xa, kết tinh sự thăng hoa của con người trong những thời điểm nhất định, cho thấy sự cố kết của những cộng đồng cùng có chung một niềm tin tưởng về vị thần mà họ cùng thờ cúng. Theo thống kê của Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Hà Nam, hiện nay tỉnh có 114 lễ hội, cụ thể là: thị xã Phủ Lý có 6, huyện Thanh Liêm: 18, huyện Bình Lục: 14, huyện Lý Nhân: 20, huyện Duy Tiên: 27, huyện Kim Bảng: 29. Hầu hết các lễ hội ở Hà Nam được tổ chức chủ yếu vào hai kì xuân thu, trong đó, lễ hội mùa xuân là chủ yếu. Trong 114 lễ hội, có một số lễ hội được phân cấp là lễ hội vùng như lễ hội chùa Đọi (xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên), lễ hội làng Quyển Sơn được tổ chức ở đền Trúc, đình Trung thờ Lý Thường Kiệt (xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng), lễ hội đình Công Đồng (thôn An Thái, xã An Mỹ, huyện Bình Lục) thờ 3 vị thành hoàng Hoàng Công, Đô Công, Uy Công, lễ hội đền Trần Thương (thôn Trần Thương, xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân) thờ Trần Hưng Đạo... còn lại là hội làng. Căn cứ vào bản chất của lễ hội, có thể tạm chia lễ hội cổ truyền ở Hà Nam thành mấy loại chính:
- Lễ hội văn hóa
- Lễ hội lịch sử
- Lễ hội nông nghiệp
Dưới đây là một số lễ hội tiêu biểu ở một số địa phương thuộc 6 huyện thị của Hà Nam.
I. LỄ HỘI VĂN HÓA
Lễ hội văn hóa của Hà Nam nói chung phong phú, thể hiện ở ba loại hình: lễ hội chùa, lễ hội đền, lễ hội làng...
1. Lễ hội chùa Đọi (xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên).
Trong số các lễ hội chùa của Hà Nam thì lễ hội chùa Đọi là một lễ hội lớn của huyện Duy Tiên, cũng là một lễ hội thờ Phật có tiếng trong cả nước. Nội dung chủ yếu của lễ hội thể hiện tín ngưỡng văn hoá Phật giáo, đã ăn sâu trong tiềm thức của nhân dân nơi đây.
Hàng năm, cứ đến ngày 21 tháng 3 âm lịch, chùa Đọi Sơn lại mở hội. Nhân dân trong vùng và rất đông khách thập phương đã về đây lễ và vãn cảnh chùa. Từ sáng sớm, đoàn rước kiệu đã hành lễ từ chân núi lên chùa làm lễ, dâng hương tưởng niệm Lý Nhân Tông, người có công mở mang xây dựng chùa. Sau phần lễ dâng hương là các đội tế nam quan, tế nữ quan tạ ơn Trời Phật.
Về phần hội, vào ngày lễ hội chùa Đọi Sơn, có nhiều trò vui được tổ chức như nấu cơm thi, dệt vải thi, bơi thuyền, hát chèo, hát đối, hát giao duyên, hội chọi gà, tổ tôm điếm, múa tứ linh, đấu vật, đánh cờ người.
2. Lễ hội đền Lảnh Giang (thôn Yên Lạc, xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên)
Lễ hội đền Lảnh Giang là một lễ hội tiêu biểu cho loại hình lễ hội đền trong lễ hội văn hóa của Hà Nam.
Đền Lảnh Giang thờ Tam vị Đại vương thời Hùng Duệ Vương có công đánh Thục Phán, và thờ Tiên Dung. Một năm ở đây có hai kỳ lễ hội vào tháng 6 và tháng 8 âm lịch. Kỳ hội tháng 6 diễn ra từ ngày 18 đến ngày 25, kỳ hội tháng 8 được tổ chức vào ngày 20. Ngày 18 tháng 6 âm lịch, nhân dân địa phương tổ chức chồng kiệu, kéo cờ thần trước cửa đền, ngày 21 bắt đầu làm lễ cáo kỵ. Các ngày từ 22 đến 24 tháng 6, là ngày chính tế và rước kiệu thánh xung quanh đền. Ngày 25 tháng 6, tổ chức lễ tạ và hạ cờ, đóng cửa đền. Ngày 25 tháng 8 âm lịch, đền Yên Từ (xã Mộc Bắc, huyện Duy Tiên) thờ Ngọc Hoa công chúa rước kiệu về bái vọng.
Ngoài các nghi lễ như tế lễ và rước thánh còn có phần hội hết sức phong phú như múa rồng, múa lân, chiếu chèo sân đền, hát chầu văn, võ vật, đấu cờ người, tổ tôm điếm, múa sư tử, thổi cơm trên quang gánh, chọi gà, đuổi vịt dưới nước, đi cầu khỉ... Lễ hội vào tháng 6 còn có trò bơi chải trên sông Hồng và lễ rước nước. Nước được lấy từ giữa sông Hồng đem về làm nước cúng và làm lễ tắm tượng của các đền trong khu di tích. Nghi thức lấy nước giữa dòng sông Hồng để thờ cúng và tắm tượng vừa biểu thị nguyện vọng cầu xin mưa thuận gió hòa, vừa thể hiện khát vọng chinh phục thiên nhiên của nhân dân ta. Căn cứ vào tục thờ, căn cứ vào vị trí của đền bên bờ sông, có thể thấy, các vị thần mà đền Lảnh Giang thờ tuy có tên tuổi sự tích nhưng xét về thực chất là những vị thủy thần. Và cũng như ở những nơi thờ cúng thủy thần khác, ở đền Lảnh Giang, tục thờ cúng thủy thần thể hiện hai mặt của đời sống văn hoá tâm linh của nhân dân nơi đây: khát khao được thần thiên nhiên chở che và ước muốn chế ngự được sức mạnh của thiên nhiên hung hãn đó.
Ngày nay, rất đông khách thập phương đến lễ và tham quan đền Lảnh cùng khu di tích ở đây. Có nhiều năm nước ngập, khách thập phương cùng nhân dân địa phương bơi thuyền ra đền dâng lễ và thực hiện các nghi thức đầy đủ để tỏ lòng tôn kính tam vị danh thần và Tiên Dung. Ngoài hai kỳ hội chính, du khách gần xa vẫn tìm về đây cầu tài, cầu lộc. Phương ngôn có câu Trăm cảnh, nghìn cảnh không bằng bến Lảnh đền Mây là để nói đến sức hấp dẫn của một di tích mà vị trí, cảnh quan, sự tích và lễ hội đều đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh của người về hành lễ.
3. Lễ hội vật Liễu Đôi (làng Liễu Đôi, xã Liêm Túc, huyện Thanh Liêm)
Lễ hội vật Liễu Đôi là một lễ hội làng tiêu biểu trong lễ hội văn hóa Hà Nam.
Liễu Đôi là một mảnh đất giàu truyền thống thượng võ. Ở đây có hội vật nổi tiếng, thu hút các đô vật gần xa đến tham dự đua tài. Người dân Liễu Đôi lưu truyền rất nhiều truyền thuyết về nguồn gốc của hội vật, có cả những truyền thuyết liên quan đến vật võ và hội vật võ mà di tích còn in dấu đậm đặc trên mảnh đất này. Truyền thuyết Liễu Đôi kể rằng, ở đây có một chàng trai họ Đoàn có sức mạnh phi thường lại giỏi võ, một mình địch nổi năm trai tráng trên sới vật. Một hôm, ở Nương Cửi, tự nhiên có một ánh sáng xanh chói lòa phát ra, dân làng vô cùng hoảng sợ, chỉ có chàng trai họ Đoàn nọ dám đi tới và nhận thấy ánh sáng ấy phát ra từ một thanh gươm đặt trên một tấm khăn đào. Chàng trai bái tạ thần linh, tay cầm gươm, lưng thắt chiếc khăn đào, múa gươm cho dân làng xem. Khi có giặc phương Bắc kéo tới, chàng trai mang gươm ra trận. Trong đoàn quân của chàng có nữ tướng họ Bùi rất dũng cảm, hai người thề ước với nhau. Nhưng không may, chàng trai bị tử trận, thi hài được mang về quê hương. Giặc tan, nữ tướng họ Bùi đến viếng mộ chàng nhưng quá đau thương nên đã chết trên ngựa khi cách mộ chàng chừng vài trăm bước. Dân Liễu Đôi thương nhớ, lập đền Ông thờ chàng, gọi là Thánh Ông, lập đền Bà thờ nữ tướng, gọi là đền Tiên Bà. Hàng năm làng mở hội vật võ để tưởng niệm, gọi là hội Thánh Tiên (gọi  tắt hai chữ Thánh Ông - Tiên Bà), đó là hội vật võ Liễu Đôi.
Hội vật Liễu Đôi kéo dài từ mùng 5 tháng Giêng cho đến hết ngày mồng 10 tháng Giêng. Trong không khí Tết Nguyên đán, dân Liễu Đôi làm mọi công việc cần thiết cho hội vật võ. Đoạn đường từ đền Ông đến xới vật (tức Nương Cửi) được dọn quang. Trường diễn hay gọi là dóng vật được chọn đặt trên mảnh đất truyền thống, đó là Nương Cửi, nơi chàng trai họ Đoàn nhận được gươm thần thuở trước. Tham dự hội là dân làng Liễu Đôi và các làng có truyền thống vật võ gần xa. Hội vật võ Liễu Đôi cho phép phụ nữ được tham gia, chị em cũng được ra dóng với đao, côn, kiếm, quyền... không thua kém con trai.
Nghi thức tiến hành hội như sau: Đầu tiên là lễ rước Thánh vào dóng. Dóng tức là nơi tổ chức vật, rước thánh vào dóng tức rước kiệu Thánh Ông từ đền vào nơi tổ chức vật. Lễ vật dâng thánh là lễ chay, gồm mấy phẩm oản, vài bẹ chuối, một nậm trà (thay cho rượu). Một cụ già tay cầm gươm đi giật lùi dẫn đầu cuộc rước, khi kiệu Thánh vào dóng thì làm lễ tế. Sau lễ tế Thánh là lễ phát hỏa. Người ta đốt lên một ngọn lửa lớn để tưởng nhớ lại ngọn lửa xanh thần diệu bốc lên từ thanh gươm phát hỏa mà trời ban cho đất Liễu Đôi ở cánh Nương Cửi. Tiếp đó là lễ trao gươm và thắt khăn đào tưởng nhớ việc chàng trai họ Đoàn nhận thanh gươm thần và tấm khăn đào. Ông Trùm là một người cao tuổi có uy tín được cử cầm trống cái cho hội trao chiếc gươm trên kiệu thánh và thắt khăn đào cho một đô vật danh dự được cử ra ngồi dưới cây dải trước rạp. Sau đó là lễ múa cờ tụ nghĩa, điệu múa này còn có tên là “thiên nhân kì trận”. Điệu múa này có hai hoặc bốn người tham gia, mỗi người một lá cờ đỏ hình vuông, tiến từ hai bên kiệu thánh ra giữa dóng, múa theo hiệu trống. Tiếp theo là lễ thanh động. Lễ này bắt đầu bằng tiếng trống cái ở dóng nổi lên liên hồi cùng với tiếng pháo nổ ran, tiếng chiêng, cồng, mõ, thanh la tại khu vật võ và tất cả các đền chùa trong vùng đều nhất tề hưởng ứng hòa với tiếng reo hò cổ vũ sôi nổi.
Sau những nghi thức kể trên thì đến cuộc vật võ. Hội vật võ có nhiều nghi thức bắt buộc. Đầu tiên là nghi thức gọi là năm keo trai rốt. Trai rốt là hai cậu con trai của làng ra đời cuối cùng trong năm qua. Mở đầu cuộc vật, làng gọi tên hai trai rốt ra vật năm keo trình làng, lễ thánh. Tất nhiên trai rốt hãy còn bé chưa vật được nên bố phải ra vật thay. Lệ quy định, hai ông bố chỉ vật biểu diễn, không được vật thật làm đối phương ngã, bởi vì hai ông bố ra vật với mục đích trình làng, trình Thánh chứng giám để hai đứa trẻ tương lai sẽ trở thành hai đô vật võ. Vì vậy nếu để bị ngã thì làng sẽ bắt phạt cả hai. Có khi bố đi vắng thì ông ra vật thay, không được bỏ cuộc. Với lệ này, người dân Liễu Đôi muốn nhắn nhủ con cháu là sinh ra làm anh con trai thì trước hết phải là trai vật võ.
Tiếp theo là nghi thức đô xã làm nền, có nghĩa là đô Liễu Đôi vào dóng trước, giao đấu trước để gây không khí, khuyến khích tinh thần cho đô vật bốn phương. Khi đô vật bốn phương đã hăng say rồi thì đô vật Liễu Đôi rút ra, nhường dóng cho khách, chỉ đứng ngoài cổ vũ động viên là chính.
Vào giải, ai thắng được 5 keo liền thì được vào vòng giải. Ai thắng hết các đô trong vòng giải thì được giải cọc. Giải cọc là giải đặc biệt, tiếp đến là các giải thứ nhất, thứ nhì, thứ ba, cuối cùng là giải cuộc trao cho tất cả những người vào dóng vật. Như vậy, cả người thua cũng có giải. Phần thưởng trao giải là tiền hảo tâm của thập phương công đức, ngoài việc chi vào đèn nhang, còn lại bao nhiêu phải chi hết vào giải, nếu còn chút ít thì cho người nghèo ngay tại chỗ, tuyệt không được chi dùng vào việc gì khác.
Vào dóng, đô vật chỉ được đóng khố, không được mặc quần áo. Các đô vật có tục kiêng cởi áo và xỏ áo tay phải trước, vì tay phải là tay cầm giáo, cầm gươm, tay lợi thế trong đấu vật. Cần cởi áo hoặc xỏ áo, họ dùng tay trái trước, vì thế, tay trái còn gọi là tay áo. Trong dóng, những miếng hiểm độc làm hại đối phương bị cấm ngặt. Ai phạm luật bị xử rất nghiêm khắc. Người phạm luật bị phạt đứng giữa dóng cho một đô vật khỏe hơn bê vứt ra khỏi dóng và năm đời con cháu không được tham gia vật võ.
Liên quan đến hội vật võ Liễu Đôi còn có hội thi món ăn đặc sản trước hôm mở hội, món ăn nào được làng chấm giải mới được đem bán phục vụ khách thập phương trong những ngày hội.
Tinh thần thượng võ của người dân Liễu Đôi còn được thể hiện ở lễ trảm tự, được tiến hành vào đêm 30 Tết tại chùa Ba Chạ. Trảm tự có nghĩa là chém chữ. Tương truyền có một vị tướng đời nhà Trần khi về đây thao binh luyện tướng đến khi ra quân đã trao lại cho 5 làng của xã Liễu Đôi một cuốn binh thư có tên là Võ trận. Người dân Liễu Đôi truyền đời phải học thuộc cuốn binh thư đó. Đêm 30 Tết, các tộc trưởng đeo gươm vào đền thờ Thánh trước mặt là băng giấy ghi chữ đầu trang của tập Võ trận. Đúng giao thừa, đèn nến vụt tắt, mỗi tộc trưởng vung gươm chém một nhát lên băng giấy trước mặt. Chém được đoạn giấy nào thì nhận lấy đoạn giấy ấy. Xong lễ, đèn nến sáng trở lại, từng họ xem các chữ đầu của bằng giấy biết được họ mình năm đó phải học thuộc đoạn nào trong sách. Nhiều năm như thế, các dòng họ có thể thuộc lòng quyển binh thư. Đến thời Pháp thuộc, việc dùng gươm chém bằng giấy đã được thay bằng việc rút thẻ. Ngày nay, cuốn Võ trận không còn nên lễ trảm tự cũng không còn, nhưng ký ức về tục lệ đó đã chứng tỏ tinh thần thượng võ sâu đậm của người dân Liễu Đôi.
II. LỄ HỘI LỊCH SỬ
Cũng như nhiều địa phương khác trên đất Việt Nam, rất nhiều địa phương của Hà Nam thờ các nhân vật lịch sử, phổ biến nhất là ở đình làng. Đình là trung tâm văn hóa tinh thần của làng, nơi giữ gìn các giá trị tinh thần mà cộng đồng làng đã đúc kết từ cuộc sống cộng đồng, trong sự chống chọi với vô vàn thử thách của thiên tai và giặc giã. Trong cuộc đối chọi nhiều khi không cân sức đó, mỗi một cộng đồng nhỏ bé đã tìm thấy cho mình một vị anh hùng, là người có công lao giúp họ vượt qua những thử thách khốc liệt của hoàn cảnh (như mở làng lập ấp, chống thiên tai, đánh giặc, chữa dịch bệnh, dạy nghề...) đã trở thành chỗ dựa về mặt tinh thần của cả cộng đồng, chở che họ trong những phen nguy khốn, trở thành biểu tượng thiêng liêng có thực giữa cuộc sống phàm trần có sức nâng đỡ con người vượt qua sự hữu hạn của chính bản thân họ để hướng tới khát vọng về cái phúc cao cả. Vì vậy, vị thành hoàng mà ngôi đình làng thờ cúng có một uy lực tuyệt đối đối với dân làng. Trong hoàn cảnh Việt Nam, vị thành hoàng ấy, cùng với quá trình sống dài lâu của một làng, thường hiện diện ở bề nổi là những nhân vật lịch sử. Vì vậy, lễ hội đình thường là lễ hội tưởng niệm một nhân vật lịch sử có liên quan với làng.
Ngoài ra, còn có một số nhân vật lịch sử được thờ ở đền. Đó thường là những nhân vật lịch sử mà công lao, vai trò, ý nghĩa của họ vượt khỏi phạm vi của một địa phương cụ thể mà mang tầm quốc gia dân tộc (ví dụ đền Trần Thương thờ vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, đền Trúc thờ danh tướng Lý Thường Kiệt). Việc các địa phương lập đền thờ nhân vật lịch sử đó không phải ngẫu nhiên mà là do vùng đất ấy có những mối quan hệ cụ thể với nhân vật lịch sử được thờ, chẳng hạn có khi là quê hương, có khi là nơi sinh hoặc nơi hóa của vị anh hùng, có khi đó là địa điểm ghi dấu chiến công hoặc những sự kiện có thật mà sinh thời người anh hùng đã in dấu tại địa phương đó... Do chồng chất nhiều tầng văn hóa, trong lễ hội các nhân vật lịch sử có thể tàng ẩn nhiều vỉa tầng văn hóa được chưng cất, được tích tụ nhiều đời thông qua những biểu tượng. Dưới đây, là một số lễ hội tiêu biểu.
1. Lễ hội đình Thọ Chương (xã Đạo Lý, huyện Lý Nhân)
Đình thờ ông Vũ Lang Nữu, quê ở Thọ Chương, là người có công dẹp giặc, nhờ vậy dân Thọ Chương được nhà vua miễn trừ sưu thuế tạp dịch. Đây là một nhân vật mang tính huyền thoại tiêu biểu của vùng đồng bằng nông thôn Bắc Bộ với những chiến công, những kì tích chống thiên tai và chống giặc ngoại xâm.
Đình Thọ Chương là một ngôi đình lớn ở xã Đạo Lý, huyện Lý Nhân (xưa kia là đình thôn Hạ, xã Vũ Xá, tổng Ngu Nhuế, huyện Nam Xang). Hàng năm, vào các ngày 4 đến 6 tháng Giêng, nhân dân Thọ Chương nô nức kỉ niệm ngày ông Vũ Lang Nữu thắng trận trở về quê hương, cũng là ngày xã Vũ Xá xưa được triều đình công bố lệnh miễn trừ sưu thuế, tạp dịch. Nghi lễ diễn ra trang trọng. Các giáp Bến, Đoài, Đông, Hệ, Trúc và Giữa thi làm cỗ cúng thành hoàng. Giáp nào cũng chọn gà to, gà béo làm thịt, gài cánh lên đầu, treo túi tiền vào mỏ mới đặt lên ban thờ. Cúng thành hoàng còn có lệ thi làm bánh dày, thi lợn béo. Ngày 20 tháng 7 âm lịch là ngày ông Vũ Lang Nữu qua đời, dân làng cũng tổ chức tế lễ, đọc văn tế ôn lại tiểu sử, nhắc nhở mọi người nhớ ơn thành hoàng.
Song đông vui nhất là dịp dân làng mở hội từ ngày 8 đến ngày 12 tháng Giêng. Hội làng Thọ Chương cũng như làng Đồng Lâu gần đó ngoài việc tôn vinh thành hoàng còn có ý nghĩa khuyến khích nghề truyền thống quê hương. Trong bài hát của lễ hội có câu:
Vũ Xá đan gầu
Đồng Lâu kéo sợi
Hai bên chờ đợi
Mồng tám, mười hai
Lệ định từ xưa: kiệu được rước từ Đồng Lâu lên Thọ Chương rồi rước quay trở lại. Cả hai đình đều tổ chức tế lễ, ăn giao hảo ngày mồng 8, đến tối, làng Đồng Lâu mới rước kiệu ra về. Ngày 12, Thọ Chương rước sang Đồng Lâu, chiều lại rước về. Những ngày có đám rước, nhân dân địa phương náo nức tham dự. Nhà nhà đón mời khách thưởng thức chén trà ngon, miếng trầu têm khéo.
Các buổi tối trong hội đình Thọ Chương thường tổ chức diễn chèo. Bức đại tự ghi 4 chữ Vũ ấp huyền ca nhắc nhở dân làng nhớ tới tục lệ ca hát trong lễ hội. Hội làng Thọ Chương không chỉ có rước xách tế lễ, ca hát mà còn có nhiều trò vui như đấu cờ tướng, đấu vật, chơi tổ tôm điếm, trong đó đấu vật là trò chơi cuốn hút nhất. Ngoài các đô vật ở làng, còn có các đô vật ở các xã khác như Đồng Lư, Đồng Yên, Mạc Thượng, Mạc Hạ, Phúc Châu về cùng tham dự giải. Các đô vật Thọ Chương thường được giải cao vì tương truyền ở đây xưa kia có người đàn ông rất khỏe, mỗi khi đưa bò ra đồng, ông thường cắp bò ngang hông, do đó, ông được gọi là xã khỏe. Khi vào xới, ông thường giật giải cao về cho làng và để lại truyền thống thượng võ cho dân làng.
Lễ hội đình Thọ Chương cho thấy một điều là, trước khi thờ cúng vị anh hùng của làng, dân làng đã thờ cúng vị tổ nghề. Sự kết nghĩa giao hảo của hai làng Vũ Xá và Đồng Lâu và lễ hội tưng bừng của hai làng càng cho thấy lớp văn hóa sâu xa của việc thờ cúng thành hoàng ở đây. Hai mặt của cuộc sống: làm ăn và đánh giặc luôn đan quyện vào nhau, và ước muốn về một cuộc sống hòa bình an lạc đã được gửi gắm trong niềm tin tưởng về vị thành hoàng mà ý nghĩa mới không làm mờ đi những lớp nghĩa xa xưa.
2. Lễ hội đền Trúc (thôn Quyển Sơn, xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng)
Đền Trúc thờ danh tướng Lý Thường Kiệt. Hàng năm, nhân dân thôn Quyển Sơn mở cửa đền mở hội từ ngày mùng 1 Tết Nguyên đán đến 10 tháng hai âm lịch. Lễ hội được mở vào những ngày nông nhàn nên dân quanh vùng và du khách thập phương nô nức kéo về dự hội. Không gian lễ hội từ xưa mở rộng từ đình Trung đến đền Trúc, chùa Thi và ven núi Cấm.
Từ sáng sớm, đoàn rước kiệu từ đền đã về tới cửa đình làm lễ dâng hương. Sau đó, các đội tế trong trang phục tế đủ màu làm lễ tạ ơn Trời Phật. Sau nghi lễ cáo trời đất, thành hoàng chừng 3 tiếng đồng hồ thì đến các trò chơi như thi kéo co, đấu vật, chọi gà, chơi cờ bỏi... Song nét đặc sắc nhất của lễ hội đền Trúc phải kể đến là múa hát Dậm và đua thuyền.
Múa hát Dậm là lối múa hát tương truyền Lý Thường Kiệt bày cho dân trong vùng khi ông thắng trận trở về dừng lại nghỉ ở đất này. Từ đó, vào dịp hội đền, nhân dân tổ chức múa hát Dậm để tưởng niệm vị anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt. Sáng mùng 1 tháng 2 âm lịch, làng chính thức mở hội rước tượng Phật cùng bài vị thờ Lý Thường Kiệt từ đền về đình làng. Sau phần lễ là phần múa hát thờ thánh. Hát Dậm được biểu diễn liên tục 6 ngày. Đến sáng mùng 7 lại rước tượng Phật cùng bài vị của Lý Thường Kiệt về đền, hát Dậm vẫn tiếp tục trong 3 ngày nữa (gọi là hát yên vị) và đến 10 tháng 2 thì đóng cửa đền, vãn hội.
Múa hát Dậm được tổ chức ngay tại sân đền. Phường hát có từ 16 đến 20 cô gái thanh tân với trang phục mũ đỏ, quần áo dài trắng, dải yếm lụa đỏ đứng làm hai hàng do một cụ trùm, là người nắm vững các động tác, thuộc các làn điệu và lời ca, chỉ đạo múa hát. Trong múa hát Dậm, điệu múa có các động tác mô phỏng các động tác chèo thuyền, lúc đứng hát cũng như khi quỳ lạy (gọi là chèo thuyền và chèo quỳ). Đây được coi là phần lễ gắn bó mật thiết với phần hội là hội đua thuyền trên sông Đáy.
Hội đua thuyền được tổ chức vào ngày mùng 6 tháng 2. Ngược với hát Dậm, chỉ có nam giới mới được tham gia cuộc đua này. Số lượng thuyền đua tùy theo từng năm, thường có 3 thuyền dự thi. Ba đội đua với trang phục có màu sắc khác nhau. Thuyền đua được đóng bằng gỗ, dài khoảng 8m, đầu và thuyền được đóng vuông. Phía trên đầu thuyền có gắn đầu rồng bằng gỗ và cắm một lá cờ hội nhỏ. Đoạn đường đua dài gần 3km trên sông Đáy. Điểm xuất phát từ trước cửa đền Trúc, đua đến chân cầu Quế rồi vòng trở lại. Mỗi thuyền đua gồm 18 người: 1 người lái thuyền, 16 tay chèo, 1 người gõ nhịp chỉ huy. Mỗi nhịp gõ, mỗi câu hò là một nhịp chèo tạo nên sự nhịp nhàng rất cao. Khán giả đến xem cổ vũ rất đông, tiếng hò reo vang dội cả một vùng. Kết thúc cuộc thi, đội thắng cuộc sẽ nhận được phần thưởng. Cuộc đua thuyền trên sông Đáy này mang rất nhiều tầng ý nghĩa. Ngoài ý nghĩa là một cuộc đua mang tính thể thao, nó còn là một nghi lễ tưởng niệm cuộc hành quân của Lý Thường Kiệt trên sông trong lần tiễu phạt quân Chiêm Thành. Và cổ xưa hơn nữa, đây là một hoạt động tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước thể hiện khát vọng thoát khỏi thiên tai lũ lụt, cầu mong mưa thuận gió hòa cho mùa màng tốt tươi. Hơn nữa, không khí sôi nổi và cuốn hút của lễ hội đền Trúc được tạo ra từ màn múa hát thờ do các cô gái thể hiện trong sân đền và cuộc đua thuyền do nam giới tiến hành trên đoạn sông Đáy trước cửa đền chính là sự diễn tả lại không khí khải hoàn ca thắng lợi của cuộc bình Chiêm trong lịch sử dân tộc. Đó là các tầng ý nghĩa văn hóa sâu xa của lễ hội đền Trúc trên mảnh đất giàu truyền thống Quyển Sơn.
3. Lễ hội đình Đinh (thôn Đinh, xã Đinh Xá, huyện Bình Lục)
Đình Đinh thờ Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng cùng con ông là Đông Xứng Đại Vương Đoàn Văn, các trung thần của triều Lý, Đông Bảng Đại Vương triều Lê cùng các vị tiên hiền, các vị có công lập làng. Tương truyền, đình Đinh là nơi mà Đoàn Thượng Đại Vương đến tìm thầy học và cũng là quê vợ của ông. Khi ông mất, con trai ông là Đoàn Văn cùng dân làng Đinh lập đền thờ. Hàng năm, cứ vào ngày sinh của Đông Hải Đại vương Đoàn Thượng (10 tháng Giêng âm lịch), làng Đinh lại tổ chức lễ hội để tưởng nhớ bậc trung thần. Lễ hội được tổ chức từ ngày 9 đến 12 tháng Giêng âm lịch. Ngoài tế lễ, dâng hương, lễ hội đình Đinh còn có lễ rước nước và lễ khai độc.
Cứ 3 năm một lần, làng Đinh và làng Thủy Cơ (xã Châu Sơn, huyện Duy Tiên) lại tổ chức lễ rước nước để tưởng niệm vị Đông Hải Đại Vương và để thể hiện mối giao hảo giữa hai làng. Thủy Cơ là một làng chài chuyên nghề sông nước. Làng Đinh đã dành một khu đất cho làng Thủy Cơ để mộ khi có người qua đời. Do đó, hai làng có mối quan hệ rất thân thiết. Khi vào lễ hội, làng Thủy Cơ cung cấp 5 chiếc thuyền lớn để đi rước nước. Ngày mùng 9, đình Đinh mở cửa, dân hai làng vào lễ thánh, sau đó rước kiệu, cờ, bát biểu, chiêng trống, đội bát âm cùng đội bơi chải xuống thuyền. Trên thuyền có hai chóe sành được mang theo để đựng nước. Đoàn thuyền bơi đến ngã ba sông Móng, bơi rước 3 vòng, sau đó lấy nước đựng vào chóe, dâng lên kiệu rồi bơi thuyền trở về đình. Chóe nước được đưa vào đình để hôm sau tế lễ. Đội hình tế là tế nam, có chủ tế, xướng tế và bồi tế. Khi tế, đội hình tiến từ sân đình qua tiền đường, vào hậu cung. Trong khi tế, ngoài sân đình có múa rồng, sư tử, đánh gậy, thổi cơm thi, bắt chạch, trên sông Châu thì tổ chức bơi chải.
Xưa kia, hàng năm cũng vào dịp lễ hội mùng 10 tháng Giêng, ở đình có tổ chức lễ khai độc (mang sắc phong ra đọc dịp đầu năm mới) do hàng xã chủ trì. Chủ tế là chánh tiên chỉ, các tiên chỉ làng là bồi tế. Trước khi vào ngày lễ, tối mùng 9 có rước sắc từ nhà tiên chỉ ra đình rồi làm lễ khai độc. Ngày mùng 10 tổ chức rước hành ngơi (đi chơi trên đường) có kiệu, có cờ quạt, bát biểu... Ngày 11, sau khi tế tạ xong, rước lô nhang sắc và các sắc phong về nhà tiên chỉ, đóng cửa đình.
4. Lễ hội đền Trần Thương (thôn Trần Thương, xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân)
Cũng như những nơi khác thờ Hưng Đạo Đại Vương, đền Trần Thương tổ chức lễ hội tưởng nhớ vị anh hùng dân tộc này vào ngày 20 tháng 8 âm lịch hàng năm. Dân gian có câu Tháng Tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ là để nói đến hai lễ hội lớn về hai vị thánh: Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo), Đức Thánh Mẫu (Liễu Hạnh). Lễ hội theo quy định được tổ chức 3 ngày nhưng trên thực tế có thể dài hơn, bởi vì số lượng người về lễ đăng kí dự tế khá đông nên cần thêm ngày để bố trí cho các đội tế. Mỗi ngày có 4 đến 5 đám tế, từ rằm tháng 8 đã có đoàn đến tế ở đền.
Vào ngày chính hội, phần lễ có rước kiệu, dâng hương, tế lễ, phần hội có các trò đánh cờ tướng, bơi chải, đi cầu kiều, tổ tôm điếm... Thu hút sự quan tâm của nhiều người nhất vẫn là tục thi đấu cờ tướng. Tục này diễn ra trước các trò hội. Khi tiếng trống nổi lên báo hiệu cuộc chơi thì các đấu thủ cùng dân làng đến sân đền tham dự. Làng chọn các lão làng, các chức sắc có gia phong tốt vào khai cuộc, trong đó người cao tuổi nhất được chọn làm chủ tế. Chủ tế làm lễ cáo yết Đức Thánh Trần rồi rước bàn cờ từ hậu cung quay ra, đến trước hương án nâng bàn cờ lên vái ba vái. Sau đó, cuộc chơi bắt đầu. Hai đấu thủ mang y phục truyền thống của các tướng lĩnh đời Trần mang thanh long đao vào cuộc. Sau một tuần hương, ai thắng, người đó đoạt giải. Vãn cuộc, quân cờ cùng bàn cờ được rửa bằng nước giếng của đền và nước ngũ quả, lau chùi cẩn thận rồi đặt lên hương án. Tục chơi cờ nhằm tưởng nhớ tài thao lược quân sự của Trần Hưng Đạo Đại Vương, rèn luyện trí tuệ, nêu cao truyền thống chống giặc ngoại xâm của cha ông.
Lễ hội đền Trần Thương là một trong 5 lễ hội vùng của tỉnh Hà Nam. Lễ hội này có ý nghĩa là một cuộc hành hương về cội nguồn không chỉ đối với người dân địa phương mà đối với người dân cả nước.
III. LỄ HỘI NÔNG NGHIỆP
1. Lễ hội làng Gừa (xã Liêm Thuận, huyện Thanh Liêm)
Lễ hội làng Gừa nhằm để tưởng niệm một vị tướng thời Đinh, song nội dung diễn ra chủ yếu là những sinh hoạt tế lễ mang tính chất của một lễ hội nông nghiệp.
Đình làng Gừa thờ vị tướng tài của Đinh Bộ Lĩnh tên là Trương Nguyên, người làng Gừa. Thần phả kể rằng sau khi dẹp xong loạn 12 sứ quân, vua Đinh làm lễ thưởng công cho các bậc khanh tướng. Ông Trương được ban quốc tính (họ Đinh) nhưng ông từ chối và dâng biểu xin về quê nuôi dưỡng cha mẹ. Khi ông chết, vua Đinh cho ruộng cấy, cắt đinh phu giao cho vùng Ninh Cơ (làng Gừa ngày nay) lập đình thờ cúng.
Lễ hội làng Gừa ngày nay có tế lễ, rước xách và rất nhiều trò vui thể hiện tinh thần thượng võ như đánh đu, đánh vật, chém mía, cướp cầu. Ban đêm có hát chèo-tuồng, phần nhiều là các tiết mục tự biên, tự diễn. Trống lễ, trống rước, trống hội, trống chèo rậm rịch ngày đêm làm cho khí thế của lễ hội càng thêm náo nhiệt. Nhưng đặc biệt nhất là trò chơi cướp cầu. Tương truyền, khi ông Trương Nguyên từ Hoa Lư về quê có mang theo một quả cầu, một dụng cụ để luyện tập binh sĩ. Khi về làng ông bày trò chơi cho toàn dân. Đến nay, trong lễ hội thờ ông, cướp cầu đã trở thành một nghi lễ không thể thiếu. Quả cầu bằng gỗ, kích thước xấp xỉ như quả bóng chuyền ngày nay, được sơn son thếp vàng và trang trí vẽ mây sóng trên bề mặt. Quả cầu là thánh vật của làng Gừa, đến nay đã bị tróc sơn, các hoa văn họa tiết cũng không còn được rõ nét. Hàng năm chỉ có ngày lễ hội mới được mang cầu ra chơi và bao giờ cũng được tổ chức đầu tiên để khai cuộc. Hội được tổ chức vào ngày mồng 4 tháng Giêng hàng năm. Từ mờ sáng ngày mồng 4, cửa đình đã rộng mở, đèn thắp sáng, khói hương nghi ngút. Trong nổi giục giã dân làng tới đình. Dân làng chọn lão nông hoặc người có chức sắc, gia đình thuận hòa, nền nếp làm chủ tế. Đúng giờ Tỵ, trò cướp cầu bắt đầu. Đội nào thắng sẽ được vào cung hồi trống, tế thánh khai hội và họ tin rằng mọi ước nguyện cũng sẽ linh ứng. Trò cướp cầu này còn có cả trong hội làng An Mông (làng Móng) xã Tiên Phong, huyện Duy Tiên. Tục cướp cầu nơi đây thể hiện sự tôn vinh đối với vị anh hùng của quê hương và tinh thần thượng võ của người dân Duy Tiên.
2. Lễ hội Đình Đá (thôn An Mông, xã Tiên Phong, huyện Duy Tiên)
Đình Đá thờ Nguyệt Nga công chúa, một tướng tài của Hai Bà Trưng. Ngoài ngày sinh (ngày rằm tháng bảy) và ngày hóa (ngày 12 tháng mười) có tổ chức tế lễ, dâng hương, các ngày hội đầu xuân được tổ chức vào ba ngày 6, 7, 8 tháng Giêng. Trong hội có tế lễ, rước kiệu Nguyệt Nga công chúa, song nội dung chủ yếu của lễ hội này mang tính chất một lễ hội nông nghiệp với lễ tế thần nông và các hội thi như vật cầu, đua thuyền.
Trong lễ tế thần nông, sau khi chủ tế và các bồi tế làm xong nghi thức dâng hương, dâng rượu, đọc sớ tấu cầu mong bình yên cho dân làng, cầu mong mùa màng tươi tốt thì tiếp theo là phần rước hương án tế thần ra khu ruộng gần đình đã được cày bừa chuẩn bị sẵn. Đoàn người đi theo hương án tế thần, có cả người gánh vài bó mạ, dăm cây lau, tay cầm cành tre, con dao và bó hom dâu. Khi ra tới ruộng cấy lúa và bãi trồng dâu thì đoàn người đặt hương án trên bờ ruộng, còn dân làng thì đứng vây quanh. Chủ tế và bồi tế là người được phân công thay mặt dân làng lội xuống ruộng cấy ít hàng lúa và trồng ít hom dâu tượng trưng. Dân làng vây quanh hò reo, hòa với tiếng chiêng trống tỏ niềm vui mừng, đón chờ một mùa bội thu sắp tới. Cùng với tiếng hò reo, dân làng còn té nước ruộng vào người cấy, người gánh mạ, người vác hom dâu, người cắm cành tre, cắm cây lau dưới ruộng. Mọi người cầu mong mưa thuận gió hòa cho cây lúa, cây dâu lên khỏe như lau, cứng như tre, vượt qua mọi thời tiết khắc nghiệt để có một vụ mùa lúa, mùa dâu tươi tốt, dân làng có cuộc sống ấm no hạnh phúc.
Trò đua thuyền trên sông Châu được tổ chức tại khu ngã ba sông ở phía đông xã Tiên Phong (hiện nay là đập Quang Trung). Tương truyền, đó là nơi bà Nguyệt Nga tử tiết và là nơi thuyền rồng xuất hiện đón bà xuống thủy cung. Hội thi thường tổ chức hai chiếc thuyền lớn, đầu làm như hình rồng, đuôi tựa đuôi tôm. Mỗi thuyền bố trí một người lái, một người mặc áo đỏ, chít khăn, tay cầm mõ, gõ theo nhịp chèo động viên đội bơi. Mũi thuyền có hai phách cầm chèo hai bên để bắt nhịp cho các mái chèo, mỗi bên mạn thuyền có 12 người chèo. Như vậy, mỗi thuyền bơi thi phải huy động tới 28 người có áo, quần, khăn đồng bộ, tắm gội sạch sẽ, lên đình lễ thánh rồi mới được nhập đội thi. Đường bơi thường tổ chức trên đoạn sông dài hơn một cây số, có thể bơi hai hoặc ba vòng, thuyền của giáp nào về đích giật được cành nêu trước là thắng cuộc. Giáp thắng cuộc sẽ được giải thưởng, đồng thời cùng cả giáp ăn mừng thắng lợi. Năm ấy mọi người tin rằng được thánh phù hộ sẽ gặp may mắn.
Trò vật cầu được tổ chức để tưởng niệm việc luyện quân của bà Nguyệt Nga. Theo truyền thuyết, bà thường tổ chức trò chơi này để tăng cường sức khỏe cho quân lính. Hội vật cầu ở đây cũng có nhiều nét tương tự với hội vật cầu ở làng Gừa (xã Liêm Thuận, huyện Thanh Liêm), nhưng có nét khác biệt là có hội vật cầu lão (cho đàn ông trên 50 tuổi) và hội vật cầu giai (cho đàn ông dưới 50 tuổi). Tính chất lễ và tính chất hội đậm đà của hội thi này làm nên không khí tưng bừng náo nhiệt của ngày hội đầu xuân, thể hiện nhu cầu thăng hoa tinh thần cao cả của người dân trong lễ hội.
3. Hội thi thả diều (thôn Đại Hoàng, xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân)
Thôn Đại Hoàng từ xưa đã có hội thả diều để mừng được mùa và cầu mong an khang thịnh vượng.
Địa điểm tổ chức thi thả diều ở đình nội, đình ngoại và đình trung. Phía trước đình là hồ cá và đầm sen, trước nữa là cánh đồng làng đất cát pha, tháng năm sau vụ gặt rất khô ráo và bằng phẳng. Khu đình, hồ cá, đầm sen, đồng làng đều hướng về phía đông nam. Do vậy, khi đàn diều no gió bay lên cao thì đều theo gió đông nam mà hướng về phía đình thờ thành hoàng, trông giống như đàn chim bay về tổ.
Trước đình làng có một cổng lớn, trên nóc cổng có phù điêu bọc trứng rồng tượng trưng cho cộng đồng tổ tiên nòi giống Việt. Cột cờ là một cây gỗ lim đồ sộ, một người ôm không xuể, được đặt trên một bệ đá lớn. Trên đỉnh cột cờ có hình một con chim lớn, kéo dải cờ đào dài 20 mét bay trên cao.
Cả mười bốn giáp trong thôn đều tham gia thi thả diều, mỗi giáp có một màu riêng để dễ phân biệt. Việc làm diều được chuẩn bị chu đáo từ tháng 11 âm lịch năm trước. Các cụ già thường chọn các cây tre già dài, thẳng, mịn đã rụng hết lá để pha, chẻ, chuốt thành các nẹp làm khung diều, gác lên bếp hong cho khô tới tháng 5 năm sau. Vào tháng 4, các cụ còn lấy nhựa từ trái hồng non làm keo dính dán bồi giấy, dán giấy lên khung diều. Dây diều to được xe bằng tơ tằm, dây diều nhỏ được kết bằng chỉ khâu. Ngoài ra còn phải làm một ống suốt cực lớn, hai đầu có bánh xe để cuộn dây, nhả dây nhanh.
Hình dáng của diều thôn Đại Hoàng đều có hình thoi, phẳng. Khi diều bay trên cao, cánh phẳng, thanh thoát, khi diều hạ cánh, cánh diều lao vút như một mũi kiếm đâm xuyên lòng đất.
Sáng ngày 15-5 âm lịch, dân làng bắt đầu thi diều lớn. Một hồi trống chiêng nổi lên giòn giã. Ban chủ khảo và các đấu thủ đều ăn mặc đẹp, đầu chít khăn, áo dài, quần bó, thắt lưng ngũ sắc. Mỗi đội có 3 người tham gia, một người cầm dây diều, một người điều khiển diều, một người lao diều lên cao. Khi các đấu thủ đã đứng vào vị trí trên cánh đồng làng, ban chủ khảo thắp hương để tính giờ. Một hồi trống nổi lên, loa bắt đầu gọi, diều được đồng loạt lao lên, ăn dây. Người điều khiển phải giật dây, chỉnh cho diều lên thật từ từ. Khi no gió, diều lao vút lên cao, đậu trên tầng không, trông nhỏ dần, nhỏ dần đến khi trông như một chiếc lá. Tiếp đó lại một hồi trống nữa, có tiếng loa truyền: Loa! Loa! Các diều đấu dây vào nhau để bắt đầu chấm giải. Trên cánh đồng, các đấu thủ đi về một điểm. Trong sân đình, ban chủ khảo bàn bạc để chấm giải diều. Tiếp đó, diều được lệnh cho hạ cánh. Cách mặt đất chừng 30 mét, diều được điều khiển sao cho lao xuống như một mũi tên bắn thẳng, cắm đứng trên cánh đồng. Xong xuôi các đấu thủ cùng về sân đình nghe chủ khảo tuyên bố giải.
Chương XXIX
TÔN GIÁO TÍN NGƯỠNG
Tỉnh Hà Nam có 5 huyện và 1 thị xã (gồm 116 xã, phường, thị trấn) với dân số trên 80 vạn người. Bên cạnh một bộ phận dân cư tin tưởng ở tín ngưỡng dân gian, phần còn lại theo 3 tôn giáo là đạo Thiên chúa, đạo Phật và đạo Tin lành. Tất cả 116 xã, phường, thị trấn đều có tôn giáo, trong đó 96/116 xã, phường, thị trấn có người theo đạo Thiên chúa. Trong 116 xã, chỉ có 3 xã có người theo đạo Tin lành. Trong khoảng 16,3 vạn tín đồ của tỉnh (chiếm 20% dân số), có tới 10,1 vạn giáo dân của đạo Thiên Chúa ở 44 xứ đạo, gồm 179 họ đạo. Hà Nam có 10 linh mục, 81 nữ tu thuộc dòng Mến thánh giá ở 9 nhà dòng. Hà Nam có 2 cố Hồng y là Trịnh Văn Căn và Trịnh Như Khuê, có nhiều giám mục và linh mục đang làm mục vụ tôn giáo ở các nơi. Đạo Phật có khoảng 6 vạn phật tử, 230 tăng ni, 40 tiểu ở 187/491 chùa. Hòa thượng Thích Trí Tịnh hiện là Chủ tịch Hội đồng trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trước đây trụ trì tại chùa Cao Đà (huyện Lý Nhân). Đạo Tin lành có 36 hộ, gồm 193 nhân khẩu, 1 truyền đạo, 1 nhà thờ (ở xã Mộc Bắc, huyện Duy Tiên).
I. TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN
1. Tục thờ các vị thần nông nghiệp
Hà Nam nằm ở phía tây nam đồng bằng Bắc Bộ, vừa là vùng đồng bằng, vừa là vùng bán sơn địa với sản xuất nông nghiệp là chính. Các cư dân nông nghiệp Hà Nam cho đến nay vẫn còn lưu giữ trong đời sống văn hóa tinh thần của mình nhiều hình thái tín ngưỡng thờ thần nông nghiệp cổ sơ. Đậm nét nhất, có thể nói, là tín ngưỡng thờ Tứ pháp.
Tín ngưỡng thờ Tứ Pháp là tín ngưỡng thờ 4 vị thần tự nhiên có ảnh hưởng quyết định đến đời sống nông nghiệp đang ở tình trạng lệ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên. Bốn vị thần tự nhiên đó là thần Mưa (Pháp Vũ), thần Mây (Pháp Vân), thần Sấm (Pháp Lôi) và thần Chớp (Pháp Điện). Truyền thuyết về sự xuất hiện tục thờ 4 vị thần này được chép vào sách Lĩnh Nam chích quái (thế kỉ XIV) với tên Truyện Man Nương. Truyện kể rằng ở vùng Thuận Thành (tỉnh Bắc Ninh), có cô gái Man Nương đến chùa Phúc Nghiêm dốc lòng học đạo. Trụ trì chùa này là một nhà sư người Ấn Độ tên là Khâu Đà La. Tinh cờ một hôm, nhà sư vô tình bước chân qua người Man Nương khiến nàng có mang. Nàng xấu hổ bỏ về quê. Đến khi sinh con, nàng mang đứa con gái ấy đến trả nhà sư. Nhà sư mang đứa con đó gửi vào gốc cây và trao cho Man Nương một chiếc gậy và dặn khi nào hạn hán thì lấy gậy chọc vào đất để lấy nước cứu dân. Khi Man Nương 80 tuổi, cây đa cổ thụ trước đây nhà sư đã gửi đứa con của bà bị đổ rồi trôi đến bến sông Dâu. Bao nhiêu người cũng không kéo nổi cây đa đó lên bờ, chỉ có Man Nương động tay vào thì cây di chuyển. Man Nương cho tạc cây thành 4 pho tượng Phật, Khâu Đà La đặt tên là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện, mang vào - chùa thờ tự. Đứa con bà gửi gốc cây nay đã hóa đá, rìu chạm vào bị mẻ hết, khi được rước vào điện Phật để thờ thì tảng đá phát hào quang rực rỡ. Người 4 phương tới đây cầu mưa, không lúc nào là không ứng nghiệm, bèn gọi Man Nương là Phật Mẫu. Ngày mùng 8 tháng 4, Man Nương tự nhiên hóa, nhân dân lấy đó làm ngày sinh của Phật. Hàng năm tới ngày này, người bốn phương đến tụ tập ở chùa để vui chơi, tưởng nhớ đến Phật Mẫu.
Thoạt đầu, Tứ Pháp chỉ được thờ trong các chùa ở vùng Luy Lâu, dần dần, do tính chất linh ứng của nó mà lan dần ra nhiều vùng quê ở châu thổ Bắc Bộ, trong đó có một số vùng quê ven sông Đáy của tỉnh Hà Nam. Tương truyền, các làng quê vùng Hà Nam do nghe tiếng Tứ Pháp ở Bắc Ninh linh ứng đã lên đó xin rước chân nhang để thờ. Từ khi rước Tứ Pháp về thờ thì được mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Các nơi thờ Tứ Pháp ở Hà Nam cụ thể như sau:
Thờ Pháp Vân: chùa Quế Lâm (xã Văn Xá, huyện Kim Bảng), chùa Do Lễ (xã Liên Sơn, huyện Kim Bảng), chùa thôn Bốn (xã Phù Vân, thị xã Phủ Lý), chùa Tiên (xã Thanh Lưu, huyện Thanh Liêm).
Thờ Pháp Vũ: Chùa Bà Đanh (xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng), chùa Trinh Sơn (xã Thanh Hải, huyện Thanh Liêm).
Thờ Pháp Lôi: chùa Đặng Xá (xã Văn Xá, huyện Kim Bảng), chùa Nứa (xã Bạch Thượng, huyện Duy Tiên).
Thờ Pháp Điện: chùa Bà Bầu (thị xã Phủ Lý).
Các chùa khác như chùa Quyển Sơn (xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng), chùa Thanh Nộn, chùa Phú Viên, chùa và đình làng Lạt Sơn (xã Thanh Sơn, huyện Kim Bảng), chùa Chanh Thôn (xã Văn Xá, huyện Kim Bảng) có phối tự thờ Tứ Pháp trong thần điện. Tại Hà Nam, Tứ Pháp đã được gọi bằng những cái tên nôm na thân mật: dân làng Đanh Xá gọi Pháp Vũ là bà Đanh (chùa Bà Đanh), dân làng Quế Lâm gọi Pháp Vân là bà Bến (chùa Quế Lâm), dân thị xã Phủ Lý gọi Pháp Điện là bà Bầu (chùa Bà Bầu)... Hàng năm cứ vào dịp Tết Nguyên đán, rằm tháng Giêng, rằm tháng Bảy, đặc biệt là ngày mùng 8 tháng 4, dân các địa phương gần xa lại đến chùa mở hội, rước kiệu, cầu nguyện tấp nập. Vào những năm hạn hán hay mưa gió thất thường, các chùa Bà Đanh, chùa Bến, chùa Bầu người ra vào cúng lễ rất đông. Từ năm 1990 đến nay, việc thờ cúng Tứ Pháp ở các huyện Kim Bảng, Thanh Liêm và thị xã Phủ Lý bắt đầu có xu hướng gia tăng cả về quy mô lẫn phạm vi lễ thức. Chùa Quế Lâm, chùa Trinh Sơn, chùa Bầu đã được tu bổ tôn tạo lại rất khang trang. Dân địa phương và khách thập phương về cúng lễ cũng ngày một tấp nập hơn.
Xét bản chất sâu xa, tín ngưỡng Tứ Pháp bắt nguồn từ quan niệm vạn vật hữu linh. Đây là một quan niệm tối cổ của con người trong quá trình sống phải đối mặt với muôn vàn câu hỏi mà thiên nhiên đặt ra. Quan niệm vạn vật đều có linh hồn, người nguyên thủy nhìn thấy đằng sau mỗi hiện tượng tự nhiên đều có một vị thần. Vị thần đó quyết định sự vận hành của vũ trụ, trong đó có đời sống con người, đặc biệt, đối với một vùng đất nông nghiệp trồng lúa nước. Quan niệm về thần Mưa, thần Gió hẳn đã ăn sâu vào tâm thức người dân Việt từ xa xưa, trước khi đạo Phật đặt chân tới mảnh đất này. Khi đạo Phật vào Việt Nam, các nhà sư đã nhìn thấy rõ điều đó và nhận thấy nếu đạo Phật muốn bén rễ vào mảnh đất này thì phải có sự dung hòa với tín ngưỡng dân gian. Nhận thức ấy không sai, và đó là nguyên nhân sâu xa của cuộc hôn phối tinh thần giữa một người con gái bản địa (tượng trưng cho tín ngưỡng dân gian) với một vị chân tu thông tuệ (tượng trưng cho một tôn giáo lớn). Kết quả của sự giao thoa văn hóa ấy là hệ thống Tứ Pháp, 4 vị Phật mang đậm tính chất dân gian của người Việt mà có người gọi không sai là Phật giáo dân gian. Người phụ nữ Việt Nam, người có công tái tạo một tôn giáo lớn trong những cơ thể mới mang đậm tính bản địa, rất thiêng liêng, huyền bí mà rất gần gũi với cuộc sống đời thường của người dân, được tôn làm Phật Mẫu. Đó là sự tôn vinh đối với người có công tái tạo sinh thành một hình thức tôn giáo mới, tôn giáo của người dân cầu mong mưa thuận gió hòa, phong, đăng, hòa, cốc; tôn giáo của sự phát hiện ra sự tương tác mật thiết giữa sự huyền bí của vũ trụ với cuộc sống đời thường. Đó là triết lý sâu xa của tín ngưỡng thờ Tứ Pháp trong đời sống tâm linh của người dân Việt.
2. Tục thờ các vị thần sông nước: (Lảnh, Cửa Sông, Lê Chân, Vũ Điện, đình Đá Tiên Phong...).
Xuất phát từ quan niệm vạn vật hữu linh, thờ thủy thần là một tục thờ có sớm và phổ biến ở các vùng địa bàn sông nước. Nghiên cứu truyền thuyết về các vị thần được thờ trong các đình, đền của Hà Nam; về lễ hội, tục thờ các vị thần này thì thấy dấu vết tục thờ thủy thần khá đậm nét. Điểm đầu tiên phải kể đến là đền Cửa Sông (còn gọi là đền Tam Giang, đền Cô Bơ, đền Mẫu Thoải) ở thôn Yên Lạc (xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên). Đền này được dựng ngay trên một gò đất nổi ở ngã ba sông Hồng với sông Lảnh. Sông Lảnh thực ra là một nhánh của sông Hồng, do quá trình phân dòng mà tạo ra một gò nổi ở giữa và một nhánh sông chảy vòng qua gò nổi đó. Chính vì thế mà đền còn có tên là đền Tam Giang. Ngày nay dòng sông Lảnh đã cạn dần, chỉ còn dấu vết là một con lạch nhỏ, sông chảy hiền hòa, nhưng xưa kia chắc chắn nơi đây nước sông chảy xiết, và ở ngã ba sông này có những vòng xoáy nước đe dọa thường xuyên mạng sống của người dân. Vì thế mà ngôi đền trên gò nổi trước đây trở nên linh thiêng, ngày thường có đông người đến lễ. Sau này, do sông đổi dòng, bãi nổi lở dần, đền bị sạt lở, phải chuyển vào trong. Nay đền được xây bên cạnh dòng sông Hồng và dấu tích của dòng Lảnh Giang đang dần cạn. Ngày hội đền trước đây có tục đua thuyền, rước nước là những tục liên quan mật thiết đến việc thờ cúng thủy thần. Vị thần mà ngôi đền này thờ là Mẫu Thoải, vị thần đảm trách miền sông nước trong tín ngưỡng Tứ Phủ.
Liên quan mật thiết đến đền Cửa Sông là đền Lảnh Giang, còn được gọi là đền Chính, đền Quan Lớn Đệ Tam. Đó là đền thờ một trong ba vị đại vương vốn là ba con rắn được sinh ra từ một cái bọc. Tương truyền, vị đại vương này rất có công trong việc chống Thục nên được vua Hùng phong là Nhạc Phủ Ngư thượng đẳng thần, sau được gia phong là Trấn Tây An Tam Kỳ Linh ứng thái thượng đẳng thần. Từ xuất xứ của thần: sinh ra từ sự hoài thai của thủy thần trong hình hài của một con rắn, biểu hiện của nước, đến tên hiệu của vị thần này đều cho thấy rất rõ bản chất của thần là một vị thần sông nước. Đó là lớp nghĩa cổ nhất của vị thần này mà truyền thuyết về một vị tướng của Hùng Vương được thêu dệt sau này cũng không làm mờ lớp nghĩa ban đầu. Đền được xây dựng sát phía ngoài chân đê, là nơi mà dân sông nước qua lại có thể dễ dàng vào cầu nguyện. Hình ảnh của vị thần, một con rắn thần, là hình ảnh phổ biến về các vị thủy thần ở nhiều vùng sông nước. Lễ hội đền Lảnh Giang, cũng như đền Cửa Sông, có lễ rước nước, hội đua thuyền, bơi chải. Đó là những nghi lễ phổ biến của tín ngưỡng thờ thủy thần. Hai ngôi đền thờ thủy thần (đền Lảnh Giang và đền Cửa Sông) nằm trong cùng một cụm di tích, cách nhau chỉ 100m là bằng chứng rất rõ tín ngưỡng thờ thủy thần của người dân địa phương.
Có thể thấy dấu vết của tục thờ thủy thần qua biểu tượng rồng được chạm khắc xung quanh và trên trán bia Sùng Thiện Diên Linh, trên vách tháp cũng chạm khắc nhiều mảng rồng ổ. Rồng biểu tượng cho tín ngưỡng của các cư dân canh tác lúa nước, ẩn dụ sự cầu mong mưa thuận gió hoà để phát triển sản xuất nông nghiệp. Trên trán bia chạm hai con rồng đối xứng, chầu vào hàng chữ: Đại Việt Lý đương gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi (tháp bia Sùng Thiện Diên Linh - nước Đại Việt triều vua Lý thứ tư). Rồng còn làm vật trang trí trên gạch đất nung: thân hình tròn trịa với nhiều khúc uốn lượn, chân dài và nhỏ dần về phía đuôi, vừa có dáng dấp của một con rắn, vừa có hình thù của con cá sấu. Hình rồng còn thô sơ như vậy là do biểu hiện tín ngưỡng của cư dân Việt viễn cổ ở đồng bằng sông nước với tục thờ rắn và cá sấu, lấy các loài thuỷ tộc này làm vật tổ. Huyền thoại họ Hồng Bàng (giải thích nguồn gốc các tộc người Việt cổ) kể rằng, ông Lạc Long Quân (vị tổ của người Việt đồng bằng) là một loài rắn hoá thân mà thành. Rắn + cá sấu theo tín ngưỡng của dân gian được trừu tượng hoá dần, trở thành hình tượng rồng. Và, rồng cũng được các triều đại phong kiến Việt Nam chọn làm biểu tượng của vương quyền, càng về sau vẻ mạo của nó càng thể hiện uy quyền phong kiến.
Truyền thuyết về vị thần đình Văn Xá (thôn Văn Xá, xã Đức Lý, huyện Lý Nhân) cũng cho thấy dấu vết rõ của tục thờ thủy thần. Vị thần thành hoàng của làng thoát thai từ một con rắn, khi con đê vỡ, đã trở lại hình hài rắn, nằm chắn ngang đoạn đê vỡ, căng mình ra để ngăn nước lũ, bảo vệ xóm làng. Vị thần thành hoàng của đình Đá Tiên Phong (thôn An Mông, xã Tiên Phong, huyện Duy Tiên), một nữ tướng của Hai Bà Trưng lúc hóa cũng có rồng mang thuyền vàng đến đón. Đó là những trầm tích văn hóa sâu xa của tín ngưỡng dân gian nhiều khi đã bị chìm đi dưới lớp nổi là các truyện kể về lịch sử được chồng chất sau này. Nhìn vào tục thờ, lễ hội, có thể thấy rõ những biểu hiện của tín ngưỡng này, tục rước nước, tục đua thuyền... phổ biến trong các lễ hội cổ truyền ở Hà Nam.
II. ĐẠO THIÊN CHÚA
Căn cứ các nguồn sử liệu để lại, các nhà nghiên cứu về đạo Thiên Chúa đều thống nhất rằng, năm 1553 là điểm mốc mà các giáo sĩ phương Tây có mặt để truyền giáo trên vùng đất các tỉnh Hà Nam, Nam Định; cũng là điểm khởi đầu của quá trình đạo Thiên Chúa giáo được truyền vào nước ta.
Năm 1553, giáo sĩ dòng Đa Minh (Tây Ban Nha) Ignatis đã đến truyền giáo ở Ninh Cường (huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định) dưới thời vua Lê Trang Tông. Sau đó lan toả ảnh hưởng ra các vùng khác.
Con đường truyền đạo bắt đầu trước hết từ các vùng ven biển, cửa sông. Sau khi cơ sở truyền giáo ở ven sông được xác lập, các giáo sĩ đã đi theo đường thủy tiến sâu dần vào lục địa để truyền giáo. Hà Nam với vị trí thuận tiện giao thông thuỷ bộ nên là điểm có thể cho các giáo sĩ vào truyền giáo và rút lui khi có biến động. Bắt đầu từ các xã ven biển và các vùng cửa sông, xác lập các cơ sở truyền giáo.
Theo các tư liệu cho biết thì đến thế kỷ XVII, Hà Nam đã sớm có những trung tâm truyền đạo như Kiện Khê, Trác Bút, Kẻ Noi... cùng với các trung tâm truyền đạo của Nam Định như Bùi Chu, Hoành Nha, Tương Nam... Các toà thánh (nhà thờ) lần lượt được xây dựng. Đạo Thiên Chúa đã nhanh chóng bám lấy hạ tầng cơ sở kinh tế xã hội của nhà nước phong kiến Việt Nam đó là đơn vị tổng, xã... Mỗi làng, xã đạo hình thành đều được xây dựng nhà thờ họ, nhà thờ xứ... Những nhà thờ này thường được xây dựng ở nơi trung tâm, ven đường giao thông quốc lộ, rất thuận lợi cho việc đi lại (điều này khác hẳn với những ngôi chùa của Phật giáo)... Hầu hết số các nhà thờ của Hà Nam còn cho đến nay đều được xây dựng ở khoảng giữa thế kỷ XIX... khi mà việc truyền giáo đã dần đi vào thế ổn định. Nhìn vào bản đồ của tỉnh Hà Nam, ta thấy sự đậm đặc của các nhà thờ là quá ít, so với số đình, chùa, đền, miếu... song số dân theo đạo Thiên Chúa thì lại là nhiều.
Điểm đáng chú ý của quá trình đạo Thiên Chúa thâm nhập vào Hà Nam - đó là việc xác lập các cơ sở xứ đạo. Đạo Thiên Chúa ở Hà Nam đã xây dựng được cơ sở vật chất khá vững chắc. Đến thế kỷ XVII, đạo Thiên Chúa đã xác lập được cơ sở tại xứ đạo Bút Đông (xã Châu Giang, huyện Duy Tiên). Theo lời các nữ tu ở Trác Bút, Châu Giang thì nhà nguyện xứ Bút Đông đã có từ 300 năm trước. Cũng chính ở xứ đạo này đã có các nữ tu tình nguyện tử vì đạo trong hai đợt cấm đạo thế kỷ XVII. Vì thế có thể nói, Hà Nam đã sớm trở thành một trong những trung tâm truyền đạo của miền Tây Đàng Ngoài, khi đạo Thiên Chúa đã được chính thức công nhận ở Bắc Kỳ. Hà Nam là một trong những xứ đạo có nhiều nhà thờ lớn và có kiến trúc đẹp, được xây dựng trong khoảng nửa cuối thế kỷ XIX như nhà thờ Kiện Khê (1882), nhà thờ hai tháp Bút Đông (1883). Cùng với Bút Đông thì Kẻ Sở và Kẻ Non (huyện Thanh Liêm) là hai trung tâm truyền đạo Thiên Chúa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX của vùng Hà Nam nói riêng, của miền Tây Đàng Ngoài nói chung. Kẻ Sở có nhà thờ Kiện Khê, có Đại chủng viện, có nhà tu kín... Đó là những công trình tôn giáo to lớn và đáng quý.
Số dân theo đạo Thiên Chúa ở Hà Nam chiếm tỷ lệ cao so với dân số toàn tỉnh (25%), cả 5 huyện và một thị xã của Hà Nam đều có giáo dân theo đạo Thiên Chúa. Tuy nhiên, sự phân bố không đều, huyện Duy Tiên có số lượng dân theo đạo cao nhất (40%), sau đến Lý Nhân (26%), Thanh Liêm (24%)... Nhiều làng, xã ở đây là những làng công giáo thực sự với đặc trưng là xứ đạo lâu đời, là những làng công giáo toàn tòng với số người theo đạo Thiên Chúa chiếm từ 60% đến 90% dân số trong làng. Làng Phúc Thành (xã Châu Giang, huyện Duy Tiên) là làng công giáo toàn tòng như vậy.
Trong số các huyện, thị của Hà Nam thì Duy Tiên là vùng đất mà đạo Thiên Chúa được truyền vào sớm nhất. Đặc biệt như làng Bút Đông, đạo Thiên Chúa đã không ngừng phát triển ở đây từ thế kỷ XVII, sang thế kỷ XVIII, XIX và đến đầu thế kỷ XX. Từ chỗ chỉ tập trung ở làng Bút Đông, đạo Thiên Chúa đã hình thành ra 4 thôn công giáo toàn tòng và 7 thôn đan xen vừa lương vừa giáo. Cho đến hiện nay, xã Châu Giang có khoảng 13.000 dân thì 5.200 người là giáo dân, chiếm tỷ lệ 40% tổng dân số của xã. Châu Giang có 14 thôn thì 11 thôn có dân theo đạo Thiên chúa. Thôn có giáo dân nhiều nhất lên đến gần 300 hộ, thôn có giáo dân ít nhất cũng vài ba chục hộ. Các họ đạo ở các thôn theo đạo Thiên chúa toàn tòng như Đông Nội, Phúc Thành, Đầm, Đọ... có từ 100 hộ đến gần 300 hộ giáo dân. Trong số 11 thôn của xã Châu Giang với 12 họ đạo thì có 14 nhà thờ, nhà xứ, đền thờ thánh lớn nhỏ...
Ở những thôn công giáo, sinh hoạt Thiên Chúa giáo chiếm vai trò chủ đạo. Về thiết chế, ngoài tổ chức hành chính và tự trị, ở thôn công giáo còn có tổ chức Ban hành giáo của xứ họ đạo. Ở thôn công giáo, họ đạo là do linh mục chính xứ và có thể có linh mục phó xứ cai quản. Trong xứ, họ đạo có nhà thờ xứ thường là trung tâm đạo Thiên Chúa của địa phương, thu hút đông đảo giáo dân của các địa phương lân cận đến chịu lễ. Có thể kể đến các nhà thờ xứ của Hà Nam như: Châu Giang (huyện Duy Tiên), Châu Sơn (thị xã Phủ Lý), Kiện Khê (huyện Thanh Liêm), Phú Đa (huyện Lý Nhân)... Thị xã Phủ Lý trước đây có một nhà thờ lớn nhưng đã bị bom Mỹ huỷ diệt, hiện chưa khôi phục lại được.
Cũng như các giáo phận khác, giáo dân Hà Nam tuân theo những giáo luật, giáo lý và các quy định thánh lễ nghiêm ngặt của giáo hội Thiên Chúa giáo.
Theo quy định, các tín đồ theo đạo Thiên Chúa được quản lý từ khi 7 tuổi cho đến khi chết. Mọi người hành đạo theo sự quản lý của gia đình, họ đạo và xứ đạo. Việc dự lễ, đọc kinh bổn, nghe giảng giáo lý vừa là bắt buộc vừa phải có sự tự giác của các tín đồ. Không chỉ qua các mùa phụng vụ mà cả thường niên. Theo họ quan niệm chỉ như thế các tín đồ mới đắc đạo và khi chết mới được lên Thiên đàng. Tín đồ đạo Thiên Chúa luôn luôn tâm niệm “Được và cả thế gian nhưng nếu mất linh hồn thì cũng bằng vô nghĩa”.
Như trên đã nói, Hà Nam là tỉnh có một bộ phận dân cư theo đạo Thiên Chúa vào loại sớm nhất, số người theo đạo chiếm tới 25% dân số của tỉnh, với khoảng hơn 10 vạn giáo dân. Hà Nam có nhiều nhà thờ xứ, nhà thờ họ và có nhiều vị là giám mục, linh mục quản lý việc hành đạo ở các xứ và các họ đạo với 5 dòng tu: Đa Minh, Mân Côi, Mến Thánh giá, Thăm viếng và Thánh thê tọa lạc tại hàng chục cơ sở trong tỉnh. Ngày nay, Hà Nam thuộc giáo phận Hà Nội. Nếu so với cả nước hiện nay, số tín đồ theo đạo Thiên Chúa của Hà Nam có tỷ lệ cao hơn hai lần so với tỷ lệ chung của cả nước (theo thống kê của giáo hội Việt Nam thống nhất thì số giáo dân cả nước chiếm khoảng 10% tổng số dân toàn quốc).
Hàng năm, giáo dân Hà Nam tổ chức 6 ngày lễ trọng được giáo hội quy định thống nhất toàn cầu, đó là:
1. Lễ Chúa phục sinh (mùa phục sinh từ cuối tháng 3 đến hết tháng 4 dương lịch)
2. Lễ Chúa lên trời (tháng 5)
3. Lễ Chúa thánh thần hiện xuống (tháng 5)
4. Lễ Đức mẹ lên trời (tháng 8)
5. Lễ các thánh (tháng 11)
6. Lễ Noel (tức lễ Giáng sinh - tháng 12)
Từ năm 1987, giáo hội Việt Nam đã cho các giáo dân thực hiện 11 lễ trọng thường niên là:
1. Lễ Chúa giáng sinh
2. Lễ Chúa hiển linh
3. Lễ thánh Giuse (tháng 3)
4. Lễ Phục sinh
5. Lễ Chúa lên trời
6. Lễ Chúa thánh thần hiện xuống
7. Lễ mình máu thánh chúa Kitô
8. Lễ thánh Phaolô và thánh Phêrô tông đồ (tháng 6)
9. Lễ Đức mẹ lên trời
10. Lễ các thánh
11. Lễ Đức mẹ vô nhiễm.
Như vậy, giáo dân Hà Nam cũng như giáo dân cả nước dành các ngày trong một năm để thực hiện giáo luật trong mùa phụng vụ các ngày lễ thánh thường niên không phải là ít. Đây là chưa kể các ngày lễ để kính nhớ các vị thánh tông đồ, thánh quan thày và các thánh tử vì đạo...
Nhưng không phải lễ trọng nào cũng là ngày hội của giáo dân. Thường thì các ngày lễ như lễ Phục sinh, lễ Giáng sinh, lễ Đức mẹ lên trời là những thánh lễ lớn trong năm của giáo dân.
Một số lễ hội chính của đạo Thiên Chúa được tổ chức ở Hà Nam từ đầu thế kỷ XX cho tới nay là:
1. Lễ hội Chúa phục sinh
Là ngày lễ kỷ niệm sự kiện Đức chúa Giêsu sống lại sau khi bị đóng đinh trên cây thánh giá. Giáo hội coi đây là sự kiện vĩ đại.
Để chuẩn bị cho ngày lễ này, giáo dân dọn mình từ tháng ba mùa chay như kiêng thịt, nghỉ việc xác vào các ngày thứ sáu hàng tuần, xưng tội, cầu kinh, học giáo lý, học thêm kinh, học hát... Sang tháng tư, vào mùa phục sinh kéo dài 7, 8 tuần liên tiếp cho đến tháng 5 là đại lễ chúa Thánh thần hiện xuống.
Về nghi lễ, tất cả các thánh lễ đều diễn ra ở thánh đường do linh mục và các người giúp việc cử hành trọng thể. Thông thường các buổi lễ đều có các mục:
- Linh mục đọc Phúc âm
- Linh mục giảng để chia sẻ lời chúa và các thánh
- Thánh ca
- Giáo dân cầu nguyện, phụng vụ mình Thánh và ca hát
Đêm lễ Phục sinh, tùy điều kiện của từng giáo xứ mà cử hành nhưng phải trang nghiêm và đại lễ Phục sinh bao giờ cũng cử hành vào ban đêm.
2. Lễ hội Chúa giáng sinh (Noel)
Sự kiện Chúa giáng sinh là sự kiện trọng đại của giáo hội toàn cầu. Đó là sự kiện Chúa Giêsu, con của Đức chúa Cha ra đời. Giáo dân coi đêm Chúa giáng sinh là “Đêm Thánh vô cùng”.
Lễ nghi trong đêm Noel được cử hành trọng thể. Người dự lễ rất đông vì đây là lễ buộc phải dự. Lễ cử hành ở nhà thờ, Cha xứ làm lễ thánh Misa, đọc Phúc âm và giảng. Cha chủ tế báo tin Chúa giáng sinh. Giáo dân cầu nguyện và hát. Sau đó là lễ rước thánh thể Chúa hài đồng.
Sau buổi lễ, mọi người ra về. Ở nhà xứ, Cha xứ mở rượu thết mừng các giáo chức, ở mỗi gia đình, người chủ gia đình mở tiệc mừng Chúa giáng sinh. Đêm lễ Chúa giáng sinh, không khí diễn ra trang nghiêm nhưng vui vẻ. Và suốt tuần sau đó người ta tổ chức các trò vui như thi hát, thi đánh trống, thi thổi kèn và có nơi tổ chức các trò vui cho dân phấn khởi.
Hai lễ hội, hai sự kiện màu nhiệm này mang ý nghĩa lịch sử trọng đại trong Thiên chúa giáo. Cho nên tất cả các giáo hữu đi dự rất đông - lễ hội còn cuốn hút cả sự quan tâm xen lẫn với sự tò mò của những người ngoài đạo. Trước lễ Giáng sinh còn có cả mùa vọng để kính nhớ.
Lễ hội công giáo đã thực sự hình thành và trở thành một nhu cầu không thiếu được của các giáo dân.
Ngoài lễ nghi quy định của giáo hội, các tín đồ còn biết sử dụng các hình thức của lễ hội cổ truyền để đưa vào các lễ hội công giáo, làm cho các lễ hội công giáo trở nên trang trọng, hình thức đa dạng và với ý nghĩa là của dân, do dân tạo nên.
Ngoài hai lễ hội trên, giáo hội các xứ đạo còn tổ chức các ngày lễ trọng khác như lễ Đức mẹ lên trời, lễ Chúa ba ngôi, lễ quan thày... giáo dân đi dự lễ hội hoàn toàn tự giác thi hành giáo luật. Đồng thời mỗi người do hoàn cảnh và sở thích, có thể tham gia vào các Hội đoàn tôn giáo như: Hội dâng hoa, Hội hát, Đội trống, kèn, bát âm, Hội các bà không chồng, Hội nghĩa binh, Hội con Đức mẹ, Hội nữ lưu, Hội tung nẻ...
3. Tế giao thừa ở nhà thờ công giáo
Từ năm 1978, Giáo hoàng Giăng Paul II lên trụ trì Giáo hội, ông có chủ trương thích nghi và làm cho công giáo gắn với dân tộc ở các nước, cho các địa phương được thực hiện các phong tục tập quán như thờ cúng tổ tiên, quan hệ giao hảo với các tôn giáo khác trong khối đại đoàn kết dân tộc.
Trên cơ sở quan điểm cởi mở như vậy, vài chục năm gần đây, ở nhiều giáo xứ trong cả nước, trong đó có Hà Nam, các giáo dân đã tiến hành lễ đón giao thừa mừng Tết Nguyên đán tại nhà thờ công giáo. Bởi công giáo theo dương lịch, nhưng giáo dân Việt Nam là cư dân nông nghiệp nên họ cùng cộng đồng từ xa xưa theo âm lịch để tính thời vụ. Thường chỉ có các bà con bên Lương (không theo đạo Thiên Chúa) là cúng tế giao thừa, nhưng giáo dân Việt Nam thì từ trước Cách mạng Tháng Tám cũng đã cúng tế Tết và giao thừa tại nhà thờ và tại nhà mình.
Lễ tế giao thừa được tổ chức trang nghiêm, trọng thể tại nhà thờ xứ đạo. Phần tế này linh mục không tham dự chủ tế mà do chánh trương, trùm trưởng cùng các chức sắc trong xứ đạo đảm nhiệm, vì vậy lễ tế mang tính chất dân gian và là sự hoà nhập với văn hoá cộng đồng.
Đoàn tế gồm một chủ tế, 2 phó tế cùng khoảng 12 đến 16 tế viên. Chủ tế mặc áo thụng đỏ, mũ đỏ có dải, các phó tế, tế viên mặc áo thụng xanh, mũ dải xanh. Đoàn tế vào trước gian thánh của nhà thờ, chia thành 2 đoàn, khởi hành lễ tế nghinh xuân. Chủ tế dâng hương, ban nhạc cử hành, chủ tế đọc các bài vịnh và cùng với mọi người tế lễ, dâng lễ vật. Thời gian lễ kéo dài khoảng một tiếng. Sau đêm tế, mọi người vào nhà xứ chúc mừng năm mới cha xứ và cha xứ cầu chúc mừng năm mới cho các tín hữu.
Quá trình đạo Thiên Chúa vào Việt Nam nói chung và Hà Nam nói riêng là một quá trình lâu dài và phức tạp. Song, cho đến ngày nay, một điều mà mọi người đều nhận thấy là trong những trang đầu của lịch sử giáo hội Việt Nam, xứ đạo Hà Nam đã có rất nhiều người công giáo kính Chúa yêu nước, mở đầu cho truyền thống tốt đẹp của đồng bào công giáo toàn đất nước. Các giáo dân của Hà Nam, tiếp tục truyền thống đó, nhiều năm qua đã kết hợp chặt chẽ giữa tôn giáo và dân tộc, giữa bổn phận người tín hữu trước Thiên chúa và giáo hội, với nghĩa vụ công dân trước Tổ quốc và dân tộc. Người công giáo Hà Nam đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp chung của đất nước. Là vùng đất sớm tiếp nhận đạo Thiên Chúa, nhưng các làng đạo, xứ đạo của Hà Nam đã sống hoà đồng vào cộng đồng dân tộc, giữ vững các giá trị văn hoá truyền thống của địa phương. Người công giáo Hà Nam đã có nhiều người thành đạt (như Đức Hồng Y Trịnh Văn Căn) và nhiều linh mục khác đã giữ những chức phẩm cao trong giáo hội, tích cực góp phần đưa giáo hội Việt Nam thành một giáo hội “Sống Phúc âm trong lòng dân tộc”.
Hiện nay, về tổ chức, đạo Thiên chúa của Hà Nam có 48 xứ, 179 họ đạo và như đã trình bày, thuộc toà giám mục Hà Nội; có 47 trùm xứ, 179 trùm họ với 224 ban hành giáo có 867 người tham gia (trong đó có 9 đảng viên). Hội đoàn công giáo có hướng khôi phục và phát triển các xứ, các họ đạo đều có các hội đoàn nơi nhiều nơi ít, được tổ chức khá chặt chẽ, mua sắm nhiều trang thiết bị hiện đại: đàn oóc gan, kèn, trống, hệ thống âm thanh, ánh sáng hiện đại, may quần áo đồng phục. Toàn tỉnh có 11 loại hội đoàn (trong đó có 6 loại phục vụ lễ nghi tôn giáo) với 747 hội, 21.985 người tham gia, một số hội đoàn có tính tập hợp quần chúng như hội Giu Se, Mân Côi, bà thánh Đê có số người tham gia đông (Hội Mân Côi gồm 87 hội, có 3.981 nguời tham gia; Hội Giu Se gồm 80 hội, có 3.098 người tham gia).
Về cơ sở vật chất, đạo Thiên chúa ở Hà Nam hiện nay có 211 nhà thờ, gồm có 44 nhà thờ xứ, 167 nhà thờ họ, 8 nhà nguyện, 9 nhà dòng, diện tích đất sử dụng là 101,34 ha.
III. ĐẠO PHẬT
Tuy không là nơi phát tích đạo Phật sớm nhất nước như vùng đất Luy Lâu (tỉnh Bắc Ninh), nhưng Hà Nam cũng là một trong những nơi mà đạo Phật được phát triển sớm và có những trung tâm Phật giáo lớn, tiêu biểu như chùa Đọi (xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên), chùa Quỳnh Chân (xã Lam Hạ, thị xã Phủ Lý) và chùa Bà Đanh (xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng),...
Người dân Hà Nam vốn cần cù, chăm chỉ làm ăn, sinh sống lương thiện và đất Hà Nam từ lâu đã trở thành đất chân tu, có rất nhiều vị tu hành đắc đạo, với nhiều tăng ni, phật tử. Số lượng chùa chiền được xây dựng trên đất Hà Nam cũng đạt một con số khá lớn, hầu như địa phương nào cũng có chùa và có nhiều chùa được xây dựng với quy mô lớn. Cho đến nay, số người sùng đạo Phật ở Hà Nam lên đến con số rất đông, nhiều hội chùa lớn được tổ chức hằng năm có hàng chục nghìn người tham gia.
Trung tâm Phật giáo được xây dựng và phát triển sớm nhất của Hà Nam có lẽ phải nói tới là chùa Đọi. Ngôi chùa này được xây dựng trong 4 năm, từ năm niên hiệu Hội Tường Đại Khánh thứ 9 (1118) đến niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ thứ 3 (1121) mới hoàn thành. Đây cũng là một trong những trung tâm Phật giáo lớn của Hà Nam mà khi nói về đạo Phật của Hà Nam, không thể không nhắc tới đầu tiên, bởi vị trí quan trọng của nó trong lịch sử phát triển đạo Phật ở vùng đất này.
Về triều nhà Lý, vua Lý Nhân Tông rất chú ý đến chính sách khuyến nông và coi việc làm ruộng là căn bản, lúa gạo là thu nhập chủ yếu của nhà nước phong kiến. Hàng năm, nhà vua thường thân hành xuống các địa phương đi cày ruộng tịch điền để làm gương cho thiên hạ.
Mùa hạ, tháng 5 niên hiệu Hội Tường Đại Khánh thứ 9 (1118), vua Lý Nhân Tông xuống thuyền từ kinh đô Thăng Long theo dòng Hà Lô (sông Hồng) xuống dòng Duy Tiên, Lý Nhân của Hà Nam ngày nay. Từ sông Hồng, đoàn thuyền theo dòng sông Châu đến bến Long Lĩnh thấy một ngọn núi “tuy thế chênh vênh nhưng đỉnh bằng phẳng”, nhà vua bèn truyền lệnh neo thuyền và xuống chiếu cho các quan hộ giá: “Trẫm muốn dựng một ngôi chùa ở núi này có được không?” Các quan tả hữu tâu rằng: “Chúng tôi nghe các cụ già ở trong làng kể rằng núi này cứ đến đầu xuân thì trời thường mưa để nhuần thấm cho muôn dân. Vậy bệ hạ nên dựng chùa để chóng thành thiện quả”. Vua chuẩn y và đặt tên núi là Long Đội, rồi lệnh xác định phương hướng để xây chùa trên đỉnh núi.
Công việc xây chùa kéo dài trong 4 năm, từ năm 1118 đến năm 1121.
Ngoài trung tâm Phật giáo chùa Đọi ra, các ngôi chùa khác của Hà Nam như chùa Bạch Liên (huyện Duy Tiên), chùa Quỳnh Chân (thị xã Phủ Lý), chùa Bà Đanh (huyện Kim Bảng)... cũng đóng vai trò là các trung tâm Phật giáo của Hà Nam trong quá trình phát triển Phật giáo cùng tín ngưỡng dân gian từ xa xưa tới ngày nay.
Ban Trị sự Hội Phật giáo tỉnh được kiện toàn từ năm 1998 gồm 25 thành viên, có trưởng ban và phó ban, có 5 ban đại diện Phật giáo ở 5 huyện, riêng thị xã Phủ Lý chưa thành lập được. Hà Nam có 230 tăng ni, 45 tiểu ở 187/491 chùa (41 chưa hợp pháp với số tăng ni là 20 và 21 tiểu). Trong những năm qua giáo hội Phật giáo đã mở giới đàn thụ tỷ khiêu và sa di. Một số nơi đã đưa thêm tượng vào chùa, xây miếu, phủ thờ mẫu, thờ cô, thờ Trần Hưng Đạo, đặt tượng Quan thế âm bồ tát...
Đạo Phật ở Hà Nam có 491 chùa với diện tích sử dụng là 140ha. Nhìn chung các cơ sở tôn giáo đều được xây dựng từ lâu, có nơi bị hư hỏng xuống cấp, các địa phương đều cho xúc tiến việc trùng tu xây dựng lại, nâng cấp nơi thờ tự, mua sắm trang thiết bị, đồ thờ.
IV. ĐẠO TIN LÀNH
Đạo Tin Lành xuất hiện ở Hà Nam muộn và số dân theo đạo này chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng số dân trong tỉnh. Hiện nay ở Hà Nam có 3 trong số 116 xã, phường, thị trấn của 6 huyện và thị theo đạo Tin Lành với số tín đồ có khoảng 36 hộ, 193 khẩu.
Số tín đồ theo đạo Tin Lành tập trung ở xã Mộc Bắc và một, hai xã gần kề thuộc huyện Duy Tiên của tỉnh Hà Nam. Thánh đường của đạo Tin Lành được xây dựng ở thôn Hoàn Dương thuộc chi hội thánh Hoàn Dương của xã Mộc Bắc. Trong số người theo đạo Tin Lành ở đây có vị đã giữ chức phận cao, là uỷ viên của tổng hội Tin Lành Hà Nội.
Về tổ chức và cơ sở vật chất của đạo Tin Lành ở Hà Nam hiện nay gồm có 1 chi hội thánh, 1 truyền đạo, 1 ban chấp sự 3 người. Đạo Tin Lành có một nhà thờ diện tích sử dụng là 0,0965ha.
Chương XXX
TRÒ CHƠI DÂN GIAN
Bất kỳ dân tộc nào cũng đều có các thú chơi dân gian. Người lớn có thú chơi của người lớn, trẻ con có thú chơi riêng của thế giới tuổi thơ. Người phong lưu tài tử có thú chơi đòi hỏi tốn nhiều tiền bạc, thời gian. Tầng lớp bình dân bên dưới cũng có những thú vui chơi của tầng lớp này. Họ chơi trong những dịp lễ hội của làng, trong những ngày Tết cổ truyền, trong tiết nông nhàn, trong mùa cấy gặt. Trò chơi dân gian của trẻ con, so với của người lớn, nhiều hơn về số lượng, mang nét hồn nhiên, mộc mạc hơn, do chúng quan sát được từ các hiện tượng xung quanh. Những nét văn hóa đặc trưng của từng vùng, từng khu vực đều được tái hiện một phần dưới hình thức các trò chơi.
Trò chơi là hình thái sinh hoạt ban đầu của trẻ, do tác động của ngoại cảnh mang lại dưới hình thức bắt chước hành động của người lớn, của các hiện tượng tự nhiên xung quanh mà hàng ngày chúng cảm nhận thấy. Khởi đầu của trò chơi là trò, tức là các hoạt động cá nhân diễn ra có ý thức, trước mắt người khác hay chỉ một mình. Sau đó trò được kết nối với chơi thành trò chơi mà theo định nghĩa trong Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, xuất bản năm 1988) thì trò chơi là những hoạt động bày ra để vui chơi, giải trí. Do vậy, trò chơi là hoạt động có sự tham gia của nhiều người, của số đông. Không có một trò chơi nào diễn ra với duy nhất chỉ một người chơi, mà tối thiểu phải từ hai người trở lên. Người tham gia càng đông, tính hấp dẫn của trò chơi càng tăng cao thêm.
Tùy theo tâm sinh lý của từng lứa tuổi mà có trò chơi khác nhau: Tuổi lớn hơn có trò chơi của tuổi lớn. Trẻ nhỏ hơn có trò chơi của trẻ nhỏ hơn. Trẻ con có thể chơi các trò chơi của người lớn, nhưng ngược lại, không ai ở tuổi ba mươi, bốn mươi lại đi nhảy cò, nhảy dây, chơi chuyền... bao giờ. Cho nên, hầu hết các trò chơi dân gian đều thuộc về trẻ con, và những trò chơi này cũng đều do chúng nghĩ ra. Ban đầu, trò chơi có thể ở dạng thô, nhưng qua thời gian, có sự gạn lọc, tham gia thêm bớt của nhiều người mà trò chơi hoàn thiện theo điều kiện văn hóa, phong tục, tập quán của từng vùng.
Điều dễ dàng nhận thấy nhất là những quốc gia, những miền, những nơi có nền kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn thì bao giờ cũng có nhiều trò chơi dân gian hơn, phát triển mạnh hơn. Đây cũng là cơ sở để khẳng định rằng, trò chơi xuất phát từ nông thôn trước khi thâm nhập vào các đô thị, thành phố nhưng cũng chỉ chọn lọc một số ít sao cho phù hợp với điều kiện phố phường chật hẹp, đông đúc người qua lại, bán buôn. Trẻ em thành thị không có đủ các điều kiện để bày ra nhiều trò chơi như trẻ em ở vùng nông thôn.
Ngược lại, ở nông thôn thì trẻ em tương đối có nhiều trò chơi phong phú. Mùa nào có trò chơi đó. Nơi nào cũng có thể diễn ra trò chơi: chơi trong sân nhà, ngoài vườn, ngoài bãi; chơi khi thả trâu ngoài đồng; chơi trong kì nghi hè. Buổi chiều, sau khi phụ giúp việc gia đình, đồng áng hoặc học hành, trẻ em lại tụ tập đâu đó ngoài ngõ để chơi. Những đêm trăng sáng chúng trốn ra gò cao, bãi trống để kéo co, trốn tìm...
Rồi cũng có trò chơi dành riêng cho con gái: nhảy lò cò, nhảy dây, múa... và trò chơi dành riêng cho con trai: đá bóng, đánh khăng, đánh bi... Các trò chơi trẻ con mang nét hồn nhiên của tuổi thơ, đa dạng, phong phú, nhiều vẻ, nhiều màu sắc khác nhau; ngược lại người lớn thường có ít trò chơi hơn, nhưng người lớn có nhiều trò chơi rất tao nhã, được nâng lên thành hội, mang đậm màu sắc dân gian và bản sắc văn hóa dân tộc.
Là vùng đất có nhiều lễ hội đình đám, mỗi hội lại có vài trò chơi riêng nên nhìn chung Hà Nam có khá nhiều số trò chơi truyền thống.
Với người lớn trò chơi đa phần mang tính chất lễ nghi tín ngưỡng, tính chất đua tài thi nghề và tính chất giải trí. Những trò chơi như trò vật cầu, đánh phết ở các làng dọc đôi bờ sông Châu, sông Đáy mà tiêu biểu như ở lễ hội Đình Đá thôn An Mông, hoặc các trò chọi gà, bịt mắt bắt vịt, bịt mắt đập niêu, những trò thi bơi chải, đi cầu thùm, cầu khỉ... ở các hội làng của các huyện Kim Bảng, Duy Tiên, trò đấu vật Liễu Đôi hoặc những trò múa trống, múa hát Lải Lèn ở Nội Rối, (xã Bắc Lý, huyện Lý Nhân), trò múa hát Dậm (vừa múa vừa hát dậm chân theo nhịp sênh phách như chèo thuyền) ở Quyển Sơn (xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng)... Đó là những trò chơi mang nặng tính chất tưởng niệm công trạng của các bậc tiền nhân, các vị anh hùng trong sự nghiệp mở đất và giữ nước của Hà Nam như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Triệu Quang Phục...
Những trò trình diễn bách nghệ như thi đánh cá ở hội đình An Dương (xã Mỹ Thọ, huyện Bình Lục); thi đuổii cuốc ở làng Và (quê hương của Nguyễn Khuyến), trò thi bơi thuyền thúng, bơi chải, đánh vật, chơi đu ở Bình Nghĩa (xã Tiêu Động, huyện Bình Lục) đều là những trò chơi có tính chất thi tài, khuyến khích nghề nghiệp sản xuất.
Các trò chơi có tính chất tưởng niệm, thi tài, đua nghề mỗi năm thường chỉ diễn ra vào các dịp hội lễ, “xuân thu nhị kỳ”. Các trò chơi giải trí, thường chỉ mở ra nhân các việc khao vọng, hiếu hỉ, giỗ chạp. Các trò chơi trẻ em lại diễn ra bất kỳ ngày nào, giờ nào nên các trò chơi của trẻ em chiếm một phần cực kỳ quan trọng trong khối lượng trò chơi ở Hà Nam.
Như trên đã trình bày, cũng giống như các địa phương khác của vùng đồng bằng Bắc Bộ, Hà Nam là quê hương của rất nhiều trò chơi dân gian truyền thống của người Việt. Đấy là những trò chơi đặc sắc đã có từ nhiều đời nay và hiện vẫn còn được lưu hành trong dân gian ở làng quê, hiện vẫn giữ một vai trò đáng kể trong hoạt động vui chơi giải trí của người dân nơi đây. Dưới đây là một vài trò chơi tiêu biểu của Hà Nam.
I. TRÒ CHƠI NGƯỜI LỚN
1. Trò chơi vật cầu
Trò chơi dân gian vật cầu là trò chơi dân gian đặc sắc mang đậm tín ngưỡng văn hóa dân gian. Như đã trình bày, trò chơi dân gian này được tổ chức ở nơi diễn ra lễ hội làng tại Đình Đá thôn An Mông (xã Tiên Phong, huyện Duy Tiên). Lễ hội được tổ chức hằng năm vào ngày 27 tháng giêng âm lịch. Ngoài phần tế lễ ra, phần hội được tổ chức các trò chơi khác nhau như thi chọi gà, thi đấu vật, bịt mắt đập nồi... Nhưng đặc sắc nhất và được nhiều người tham gia hơn cả là trò chơi dân gian vật cầu.
Quả cầu có hình bầu dục, đường kính 15cm, được làm bằng gỗ nhẹ lại có từ lâu đời được dân làng coi là một bảo vật thiêng. Ngày thường quả cầu được phủ khăn hồng cất giữ tại chùa, đến ngày lễ hội làng mới làm lễ rước về đình để lễ Thánh rồi sau đó mới mang ra làm vật chủ của trò hội.
Theo tục lệ, người thủ lễ phải là một người cao tuổi đứng đầu một giáp không có “bụi” (nghĩa là gia đình không có tang trong năm, làm ăn thuận lợi, gia đình hạnh phúc, khỏe mạnh).
Người thủ lễ với trang phục màu hồng hai tay bưng mâm, trên mâm đặt qua cầu phủ khăn hồng, miệng khấn xin nữ thần ban phúc, lộc cho dân làng. Buổi khai lễ diễn ra khoảng hai phút với sự có mặt đông đủ của dân làng và những người tham gia vật cầu. Dứt lời khấn, người chủ lễ tung cầu lên cao cùng với tiếng reo hò của dân làng và hai đội bắt đầu vào cuộc chơi.
Sân chơi là khoảng đất rộng, không quy định kích cỡ, ở 2 phía đầu sân ở mỗi đội chơi được đào một lỗ đường kính khoảng 25cm, sâu chừng 40cm, bên cạnh lỗ cắm một cành tre tươi có một người coi lỗ gọi là thủ môn.
Người tham gia cuộc chơi là nam giới, được chia làm hai đội phân làm hai độ tuổi. Tuổi từ 50 trở lên gọi là vật cầu lão. Tuổi dưới 50 gọi là vật cầu giai. Trang phục của người chơi là quần áo sĩ tốt khác nhau để dễ phân biệt. Hai đội chơi thường là các giáp trong làng tranh tài thi đấu với nhau để phân chia thắng bại, giáp nào thắng thì được phúc lộc nhiều hơn trong năm.
Vật cầu là trò chơi mang ý nghĩa phồn thực:
Quả cầu có hình bầu dục, trơn và nhẵn biểu trưng vật mang tính dương, và là biểu vật thờ thần mặt trời. Lỗ cầu là biểu trưng vật mang tính âm và là biểu vật thờ mẫu. Trong quá trình trò chơi diễn ra, nếu quả cầu được cho vào lỗ nghĩa là thần mặt trời truyền năng lượng vào đất, âm dương hòa hợp. Cành tre xanh cắm bên cạnh lỗ cầu là mong cho mưa thuận gió hòa, cây trái sinh sôi, nẩy nở, mùa màng bội thu.
Vật cầu còn là trò chơi mang ý nghĩa thể thao.
Trò chơi vật cầu về cách thức tổ chức không cầu kỳ, luật chơi đơn giản. Nhưng cái chính ở đây là trò chơi được đan cài yếu tố tâm linh, mọi người tham gia chơi đều hướng tới sự ban phát của thánh mẫu mong được chạm vào quả cầu và đưa quả cầu vào lỗ. Trò chơi được tái hiện lại qua tính rèn luyện sức khỏe, tài khéo léo để nâng cao sức chiến đấu chống quân thù. Ở đấy, ý nghĩa thể thao là hệ quả của lớp văn hóa muộn.
Do hoàn cảnh chiến tranh cũng như nhận thức chưa thật đầy đủ về bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, nên trò chơi vật cầu một thời gian dài bị lãng quên. Nhiều năm đổi mới gần đây, được sự quan tâm của Đảng, chính quyền từ Trung ương đến huyện, ngành Văn hóa Thông tin đã chỉ đạo hướng dẫn tổ chức các lễ hội, trong đó có trò chơi dân gian truyền thống vật cầu đã được khôi phục lại và bảo tồn nguyên giá trị.
2. Trò chơi kéo co
Trò chơi kéo co ngày nay vẫn còn ở một số lễ hội các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Tây, Hải Phòng, Nam Định và Hà Nam... Theo Giáo sư Trần Quốc Vượng (Trong cuốn Theo dòng lịch sử. NXB. Văn hóa - Thông tin, H. 1996) thì trò chơi kéo co gắn liền với nghi lễ cầu mưa, thừng kéo là biểu hiện của loài rắn.
Ở các lễ hội làng, trò chơi kéo co thường được tổ chức vào ban ngày ở ngoài sân đất, bãi cát, bãi cỏ, sân đình với điều kiện thời tiết nắng ráo, đẹp đẽ, không có mưa. Đối tượng chơi là nam nữ thanh niên trong làng, trong vùng, số lượng người chơi không hạn chế, càng đông càng vui (khoảng 20, 21 người trở lên). Vào cuộc chơi, người cầm chịch chia số người chơi ra thành hai phe đều nhau về số lượng, độ tuổi và về sức khỏe.
Hai bên xếp thành hàng dọc, quay mặt vào nhau theo thứ tự, người khỏe nhất đứng đầu, rồi đến người khỏe thứ hai, thứ ba... Nếu kéo co không có dây, người đứng đầu hai tay nắm lấy tay nhau và đều co đối phương về phía mình. Những người đứng sau ôm ngang bụng nhau (người sau ôm lấy bụng người trước, người đứng thứ hai ôm lấy bụng người đứng đầu). Bên nào cũng gắng sức kéo người đứng đầu bên mình về phía mình. Nếu chơi kéo co bằng dây thừng hay dây chão thì cách bố trí đội hình cũng như trên, chỉ có khác là tất cả các thành viên của cuộc chơi thuộc hai bên đều nắm chắc và kéo bằng được khúc dây đó về bên mình.
Kết quả bên nào kéo được đối phương ngả về phía mình, vượt qua vạch cấm đánh dấu ở giữa hai bên thì bên đó sẽ giật giải, tức là bên đó thắng.
Trò kéo co ở hội làng xưa có thể là tổ chức kéo co giữa các giáp, các xóm của làng với nhau. Theo quan niệm của mọi người thì giáp nào, ngõ nào hoặc xóm nào thắng thì năm ấy làm ăn, mùa màng sẽ được an khang thịnh vượng.
3. Trò chơi đánh vật
Trò chơi đánh vật diễn ra vào ban ngày, trên bãi cát, bãi đất tơi xốp, trong những ngày đẹp trời, không có nắng. Đối tượng chơi là các chàng trai. Tuy nhiên, các em trai ở độ tuổi từ 8 - 9 đến 14 - 15 đã bắt đầu luyện tập làm quen với trò chơi này. Trẻ em ở một số làng ở vùng đồng bằng Bắc Bộ từ 9-10 tuổi đã biết sử dụng các miếng đệm, gồng, mói... Số lượng chơi là hai người và những người cổ vũ (càng đông càng tốt).
Lối chơi: Người chơi vật phải biết dùng sức mạnh kết hợp với sự mưu trí, tinh khôn và biết sử dụng hợp lý miếng gồng. Người sử dụng miếng gồng vừa phải nhanh, vừa biết tập trung sức.
Thao tác: Lợi dụng sự sơ hở của đối phương, người sử dụng miếng này dùng tay phải của mình nắm chặt lấy tay phải đối phương, kéo mạnh về phía mình, đồng thời cúi mình xuống, ghé sát phần bụng ngực của đối phương vào lưng mình. Trong khi đó tay trái nhanh chóng nắm chặt cổ chân trụ của đối phương. Ngay một lúc dùng toàn bộ lực của lưng và hai tay quật ngã đối phương, (tay phải giật mạnh tay phải của đối phương, tay trái giật mạnh chân trụ đối phương, lưng hất mạnh toàn bộ trọng lượng cơ thể của đối phương).
Mói: Là miếng vật khá nguy hiểm. Người vật sử dụng miếng thao tác này như sau: Bằng miếng lừa khôn khéo, hai tay bắt lấy hai chân đối phương, rồi đột ngột cúi rạp mình xuống đồng thời kéo mạnh người đối phương về phía mình, rồi ghé sát đầu vào bụng dưới của đối phương, dùng sức mạnh toàn thân hất ngược đối phương về phía sau.
Đệm: Là miếng vật phổ biến, hầu như nó được kết hợp với hầu hết các miếng để hạ đối phương. Cách làm miếng vật này như sau: dùng chân phải hoặc chân trái (tùy người thuận chân nào) đệm vào chân trụ của đối phương, kết hợp với dùng tay và trọng lực cơ thể làm cho đối phương mất thăng bằng và ngã.
Như vậy, cách tính thắng thua: ai bị ngã, nằm ngửa mà đối phương đè lên, lưng chạm đất hoặc bị nhấc bổng lên khỏi mặt đất là thua.
Vật có nhiều miếng. Tùy điều kiện sức khỏe và trọng lượng cơ thể mà nên sử dụng miếng nào cho có hiệu quả.
Vật là môn chơi thể thao tốt nhưng cũng khá nguy hiểm, cần có sân bãi tốt để tránh xây sát. Cũng vì nó nguy hiểm nên tuyệt đối cấm những động tác mạnh vào chỗ hiểm.
Để gỡ thế thua, khi bị ngã ngửa rồi, phải cố gồng lên cho lưng không chạm đất, hoặc vặn mạn để cho toàn thân trong tư thế nằm sấp, rồi tìm cách quật lại đối phương.
Trò vật cổ truyền hầu như đã trở thành môn thể thao phổ biến ở nhiều địa phương trong cả nước, nhưng môn thể thao truyền thống này được phát huy một cách độc đáo ở vùng Liễu Đôi của Hà Nam.
“Ba Chạ trăm đô, An Cồ trăm tướng”. Ba Chạ chính là Liễu Đôi, đất có nhiều đô vật còn An Cồ thuộc xã Liêm Thuận (huyện Thanh Liêm) - nơi sinh ra nhiều danh tướng. Đấy là cái thế tạo nên vùng đất thượng võ nhiều thế kỷ qua.
Môn vật là một trong những sinh hoạt văn hoá không thể thiếu trong các dịp lễ hội, đặc biệt là các dịp hội xuân và mang yếu tố tâm linh trong đời sống cộng đồng của người dân Liễu Đôi. Ngày xuân, người dân Liễu Đôi tham gia hội vật với ý nghĩa “Vật lấy khước, bước lấy lễ” để xuất hành đầu năm và giữ lấy tục lệ tốt đẹp của tổ tiên. Có câu “Vật một keo thành, phúc lành niên vượng” tức là người vật được cuộc một keo, không phạm lỗi coi như đã được Thánh ban phúc, suốt năm bình an, làm ăn phát đạt. Tuy mang ít nhiều màu sắc “tôn giáo” nhưng hội vật võ đầu xuân ở Liễu Đôi được công chúng tham gia sôi nổi. Gái trai, già trẻ ai ai cũng muốn được vào sới vật, cổ vũ cho các đô vật trong không khí náo nức cờ dong trống mở.
Môn vật cổ truyền không chỉ dừng lại ở quan niệm trên mà còn là một môn đua “Trí dũng song toàn”, một trò chơi có bài bản, bất cứ đô vật nào cũng không thể xem thường.
Từ đời này qua đời khác, hết thế hệ này sang thế hệ khác đã kế thừa và đúc kết thành cẩm nang kinh nghiệm. Có hàng trăm câu ca dao, tục ngữ Liễu Đôi nói về môn vật, về đức độ của người dân vùng này: Đô tứ hải, ngãi tứ phương. Ngày xuân và đặc biệt là ngày Hội vật, người dân Liễu Đôi thường được đón tiếp bầu bạn khắp nơi và nhiều đô ở các vùng lân cận. Dù trong hoàn cảnh nào thì người vào sới vật cũng phải nhớ câu “Đất lề quê thói”, phải giữ đúng phép tắc, lễ nghĩa, tức là “Vật có đủ lễ chiềng tài hiền mới ra tứ tổng”. Khi vào cuộc, đô vật phải làm đúng nghi thức, lễ thành bốn lễ, lễ trình nghề. Có làm được thế thì mới xứng đáng là người tài trong thiên hạ.
Còn đi sâu vào “kỹ thuật” của môn vật, nhiều miếng võ đã được ca dao hóa:
Miếng lẳng thì thẳng lưng đồng
Lưng đồng không thẳng tốn công nhọc mình.
Có nghĩa là muốn quật ngã đối phương (lẳng) thì đô vật phải thẳng lưng để tăng thêm lực. Hoặc dùng mẹo “Trước hư trương, sau lấy đường đoạt túc” tức là khoa trương thanh thế để thu hút nhằm đánh lạc hướng rồi bắt nhanh lấy chân đối phương mà quật ngã.
Một khi biết mình yếu thế thì “Tài dụng miếng, miếng dụng cơ”  tương tự
như vậy là “Đương khi hùm cậy sức hùng. Dử mồi cho đến ngã đùng mới thôi”.
Từ xa xưa môn vật võ không những là sinh hoạt văn hoá cộng đồng đặc sắc mà còn được coi là sức mạnh để chống lại kẻ thù. Trong truyện dân gian Liễu Đôi các danh nhân, danh tướng hầu hết đều vừa mưu trí, dũng cảm vừa giỏi võ, có sức mạnh phi thường.
Môn vật cổ truyền Liễu Đôi ngày hội vật đầu xuân được tổ chức hàng năm cho thấy người dân nơi đây đã kế thừa truyền thống tốt đẹp của cha ông trong sự nghiệp đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đây chính là trò vật võ mang bản sắc văn hoá dân tộc cần được giữ gìn và phát huy.
4. Trò đua thuyền trong lễ hội Quyển Sơn
Hàng năm, từ ngày mồng 1 tháng giêng đến ngày mồng 10 tháng 2 âm lịch nhân dân thôn Quyển Sơn (xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng) lại tổ chức lễ hội để tưởng nhớ công lao to lớn của danh tướng Lý Thường Kiệt.
Lễ hội ngoài phần tế lễ, rước xách còn có các trò chơi dân gian như kéo co, đấu vật, chọi gà, chơi cờ bỏi, nhưng nổi bật nhất để làm nên sắc thái riêng của lễ hội Quyển Sơn là múa hát Dậm và đua thuyền.
Quyển Sơn vui thú nhất đời
Dốc lòng trên dậm, dưới bơi ta về.
Đôi bên núi tựa sông kỳ
Ngược xuôi tiện nẻo, lắm nghề làm ăn.
Thời gian tổ chức đua thuyền diễn ra vào ngày mồng 6 tháng 2, cuộc đua chỉ dành cho nam giới. Số lượng thuyền đua tham gia tuỳ theo từng năm, thường có 3 thuyền dự thi. Ba đội đua với các màu sắc trang phục khác nhau. Chẳng hạn, đội thứ nhất đội khăn đỏ, mặc áo trắng, quần sẫm màu, thắt dây lưng đỏ. Đội thứ hai đội khăn màu đỏ, mặc áo xanh, quần sẫm màu, thắt dây lưng xanh. Đội thứ ba cũng đội khăn màu đỏ, mặc áo đỏ, quần sẫm màu, thắt dây lưng màu vàng. Thuyền đua được đóng bằng gỗ, dài khoảng 8m, đầu và thuyền được đóng vuông. Phía trên đầu thuyền có gắn đầu rồng bằng gỗ và cắm một lá cờ hội nhỏ. Đoạn đường đua dài gần 3km trên đoạn sông Đáy. Điểm xuất phát trên sông từ trước cửa đền Trúc, đua đến chân cầu Quế, rồi vòng trở lại. Mỗi thuyền đua gồm 18 người: 1 người lái thuyền, 16 tay chèo, 1 người gõ nhịp chỉ huy. Mỗi nhịp gõ mỗi câu hò là một nhịp chèo tạo nên sự thống nhất, nhịp nhàng và tinh thần tập thể rất cao. Khán giả đến xem và cổ vũ rất đông, tiếng reo hò cổ vũ vang dội cả một vùng quê sông nước. Kết thúc cuộc thi, đội thắng cuộc sẽ nhận được phần thưởng.
Liên quan đến tục đua thuyền còn có dân ca hát Dậm, với điệu múa chèo thuyền trên sân đình mềm mại giống như các động tác của người chèo thuyền trên sông. Rõ nét nhất là điệu múa vãn: quay người nhún nhảy, hai tay cong vắt lên rồi đặt xuống... thêm vào đó là lời hát vãn.
Đua thuyền trong lễ hội Quyển Sơn có hai phần gắn bó mật thiết với nhau mà trọng tâm là cuộc thi bơi chải trên đoạn sông Đáy trước cửa đền.
Lễ hội Quyển Sơn còn có một nét độc đáo nữa là: nếu đua thuyền trên sông Đáy chỉ do nam giới tiến hành thì múa hát chèo thuyền trên sân đền lại chỉ do nữ giới thực hiện
5. Đi cầu thùm, cầu khỉ
Là trò chơi có tính đánh đố và vui nhộn. Cây cầu thùm hay cầu khỉ có độ dài từ 3 đến 4m tính từ con lăn ở bờ đến điểm nối với dây thừng từ độ vì kèo cắm giữa ao. Người thắng cuộc là người có thể đi trên cầu ra giật cờ và quay lại bờ ao mà không bị ngã xuống nước.
6. Bắt vịt dưới nước
Trò chơi bắt vịt dưới nước thể hiện sự khéo léo cũng như khả năng bơi và lặn của thanh niên. Bắt những con vịt khỏe mạnh, vừa có thể bay trên mặt nước, vừa có thể lặn “mất tăm” - đây không phải là một việc dễ dàng. Những người tham gia trò chơi này đứng sẵn ở dưới ao, có một khoảng cách đối với các con vịt. Khi có hiệu lệnh, người cầm vịt thả vịt ra, mọi người cùng lao đến bắt vịt, ai bắt được vịt đầu tiên thì người đó thắng cuộc.
7. Đi cà kheo đập niêu
Thực chất đây là trò “bịt mắt đập niêu” mà người Việt ở làng quê thường vẫn hay chơi. Cái khác hơn ở đây chỉ là chỗ: người đập niêu phải biết đi kheo thành thạo. Khi vào cuộc, người chơi được bịt mắt, đứng cách chỗ treo niêu khoảng 5m. Trên dây niêu, người ta treo các niêu đất đựng phần thưởng, nước hoặc tro, trấu. Người bịt mắt đập vỡ niêu nào thì nhận giải đó.
8. Bịt mắt bắt dê
Người chơi bị “bịt mắt” và tự đoán vị trí cũng như hướng chạy của chú dê để bắt nó trong một vòng tròn đường kính khoảng 8-10m với nhiều hố và những ụ đất nhỏ. Những cú bắt hụt lại bị hụt chân, vấp đất ngã tạo nên sự ngộ nghĩnh và gây cười vui vẻ cho người xem. Luật chơi rất đơn giản, thường thường hai người cùng vào sân chơi một lần, khi có hiệu lệnh, dê được thả ra, lúc đó người chơi mới được vận động. Ai bắt được dê trước, người đó sẽ được giải. Sau đó, đôi khác lại tiếp tục vào chơi.
II. TRÒ CHƠI TRẺ EM
1. Rồng rắn
Rồng rắn là một trò chơi tập thể, đòi hỏi sự nhanh nhẹn, các động tác uốn lượn qua lại thật ăn khớp và nhịp nhàng, đặc biệt là người đứng đầu và đứng cuối cùng.
Tất cả những người chơi đều sắp thành hàng dọc dài, hai tay người đứng sau ôm eo ếch người đứng trước. Người còn lại đứng riêng ra và làm chủ nhà.
Khi rồng rắn bắt đầu di chuyển (hàng người chơi uốn éo như rắn bò) thì cả đám cũng bắt đầu hát:
Rồng rắn lên mây
Có cây lúc lắc
Có nhà hiển vinh
Thầy thuốc có nhà hay không?
Người giả làm thầy thuốc trả lời câu đầu tiên là: “thầy thuốc đi vắng” (hay đi đâu tùy ý). Rồng rắn tiếp tục di chuyển và tiếp tục hát câu trên cho đến khi nào thầy thuốc trả lời “có” thì sẽ có đoạn đối thoại như sau giữa hai người nói qua lại là người đóng giả thầy thuốc và người đứng đầu rồng rắn:
- Rồng rắn đi đâu?
- Đi lấy thuốc
- Lấy thuốc cho ai?
Hỏi và đáp diễn ra dài ngắn tùy ý cho tới khi thầy thuốc nói:
- Cho xin cái đầu.
- Cùng xương cùng xẩu.
- Cho xin khúc giữa.
- Cùng máu cùng mê.
- Cho xin khúc đuôi
- Tha hồ thầy đuổi.
Tới đây thì người đóng giả làm thầy thuốc tìm mọi cách để bắt cho kỳ được người đứng sau cùng. Trong khi đó người đứng ở đầu cố gắng chặn thầy thuốc lại bằng cách giang hai tay ngăn cản không cho thầy thuốc bắt khúc đuôi của mình. Trong quá trình chạy trốn, nếu lỡ đứt khúc nào thì phải nhanh tay nối lại khúc đó để cuộc chơi tiếp tục, không bị gián đoạn. Còn khi nào thầy thuốc bắt được người đứng cuối thì người đó phải đến lượt mình ra giả làm thầy thuốc.
2. Nhảy dây
Nhảy dây thường chỉ dành riêng cho con gái. Vật dụng để chơi là một đoạn dây chuối bện lại hay dây thừng. Trò chơi này có thể chơi dưới hình thức cá nhân hay tập thể.
Nếu chơi theo cá nhân, người chơi tự nắm hai đầu dây trong hai tay và quay dây vòng tròn theo chiều từ trên xuống dưới (đất), từ trước ra sau. Khi dây từ phía trên đầu chuẩn bị chạm đất, tức thì hai chân phải nhảy lên cho qua khỏi dây. Cứ như thế tiếp tục cho tới khi nào chân bị vướng vào dây thì nhường quyền nhảy tiếp cho người khác.
Chơi cá nhân cũng có thể nhảy một chân theo kiểu một chân co, một chân nhắc cò cò. Khi cảm thấy mỏi thì đổi chân, nhưng cũng trong tư thế nhắc cò cò.
Chơi tập thể thì chia nhóm và đoạn dây dài hơn. Hai người của nhóm bên kia cầm đầu dây và quay vòng từ trên xuống, từ trước ra sau. Mỗi lần dây sắp sửa chạm mặt đất là một người của nhóm nhảy qua dây, cứ như vậy liên tục cho tới giáp vòng và tiếp tục cho tới khi có một người trong nhóm bị vướng dây.
Cùng trong một nhóm có thể nhảy cùng chiều, tức mỗi người lần lượt nhảy qua dây. Nhưng cũng có thể nhảy theo kiểu xỏ kim, nghĩa là nhóm chia làm hai đứng đối diện với dây. Khi dây chuẩn bị chạm đất thì đồng thời cả hai người bên phải và bên trái dây cùng nhảy nghịch chiều liên tục cho tới người cuối cùng trong nhóm, rồi trở lại cho tới khi có một thành viên trong nhóm bị vướng dây. Hoặc nhảy cùng lúc hai người qua dây cùng chiều, và hai người nhảy qua dây nghịch chiều (nhảy cùng lúc 4 người). Đây là hình thức chơi đòi hỏi kỹ năng, phải thuần thục, nhuần nhuyễn và nhịp nhàng trong động tác nhảy đơn giản, mà cốt yếu là tránh được dây không bám vào người.
Các em gái trong nhà trường hay chơi trò này trong những giờ ra chơi. Nhiều giáo viên thể dục hay sinh hoạt cuối tuần cũng cho các em chơi trò này nhằm rèn luyện thể lực, kỹ năng.
3. Chim bay, cò bay
Trò chim bay, cò bay thường hay được chơi trong các giờ sinh hoạt tập thể, nhằm rèn luyện cho các em có những phản xạ nhanh, chính xác.
Tất cả đều đứng thành vòng tròn. Người điều khiển (quản trò) đứng giữa. Khi quản trò hô lên tên những con vật có cánh kèm theo từ bay thì tất cả đều nhảy lên, đồng thời đưa hai tay lên cao. Nhưng khi hô tên các con vật không có cánh như: ngựa, dê, cá, rắn, mối, ễnh ương thì tất cả đều đứng nguyên tại chỗ. Ai lỡ đưa tay và nhảy lên sẽ bị phạt làm những động tác hay giả tiếng kêu của con vật đó.
4. Chơi chuyền
Trò chơi này thường được các em tổ chức chơi ở hiên nhà, sân nhà hoặc ngoài gốc cây, rặng tre..., đồng thời trẻ có thể chơi trong lúc chăn trâu ở ngoài đồng, trong lúc nghỉ ra chơi giữa giờ ở lớp học, hoặc trong các buổi trưa hè... Đối tượng chơi thường là các em bé gái.
Đồ chơi gồm có một cỗ chuyền mười que dài khoảng 20 - 25cm, to bằng chiếc đũa, chặt từ tay tre bánh tẻ hoặc vót từ đoạn tre già và một quả chuyền. Quả chuyền là quả bưởi con (độ bằng quả chanh trung bình) hoặc quả găng, quả cà...
Khi chơi, các em ngồi bệt xuống đất, thường là chơi hai người. Sau khi tung cỗ chuyền để xem ai được chơi trước, cuộc chơi bắt đầu. Người chơi dải đều mười que chuyền lên chân trái, rồi tung quả chuyền lên, vừa tung vừa đón và tay phải vừa nhặt từng que chuyền cho đến hết, miệng đọc những câu hát đồng dao ứng với từng bàn chuyền. Có mười bàn chuyền, từ bàn một (Que mốt, que mai, que trai, que hến...) đến bàn mười (Chín lẻ một, một lên mười...). Chuyền đủ mười lần thì hết một hiệp chơi. Cuộc chơi chuyển sang người thứ hai.
Chơi chuyền đòi hỏi sự khéo léo, tinh mắt, nhanh tay, tuân thủ nghiêm ngặt luật chơi thì mới không phạm lỗi. Ai ít phạm lỗi hoặc không phạm lỗi thì được chơi liên tục, ai phạm lỗi thì phải dừng lại chuyển cho người kia chơi. Ai lên bàn mười và bàn chuyền trước, người đó sẽ thắng cuộc.
5. Chơi đánh quay (có nơi gọi là chơi thò lò)
Trẻ em ở Hà Nam và ở khắp các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ đều có chơi trò chơi này. Trò chơi thường diễn ra trên một bãi đất trống, người chơi là các em trai độ chín mười tuổi đến mười bốn, mười lăm tuổi.
Đồ chơi là một con quay làm bằng gỗ, hình cầu, có trục thẳng xuyên qua tâm dài khoảng 10-15cm. Con quay nhỏ hơn hoặc bằng nắm tay. Mỗi con quay lại có một sợi dây đay hoặc dây sợi quấn vào phía trục dưới.
Vào cuộc chơi, mỗi em quấn chặt sợi dây đay hay dây sợi vào con quay của mình, rồi tay phải (hay tay trái) vừa cầm đầu sợi dây, vừa cầm con quay, sau đó thả con quay ra, đồng thời giật mạnh sợi dây. Con quay quay tít. Trong những con quay cùng ném ra, con của ai quay tít hơn, lâu hơn thì người đó sẽ thắng.
Trò chơi này đòi hỏi kĩ thuật, sự khéo léo của người chơi trong việc quấn dây dài hoặc ngắn, chặt hoặc lỏng cùng với việc tung con quay sao cho con quay quay tít hơn và lâu hơn.
6. Chơi đánh bi
Trò chơi đánh bi cũng là một trò chơi dành cho đối tượng chơi là các bé trai tuổi từ chín mười đến mười hai, mười ba tuổi, với số người chơi từ hai trở lên, càng đông người chơi càng vui.
Đồ chơi là những viên bi làm bằng đá xanh hoặc được nặn bằng đất sét phơi khô. Ngày nay các em thường chơi trò chơi đánh bi bằng những viên bi ve làm bằng thuỷ tinh.
Vào cuộc chơi, các em thường chơi ở một bãi đất phẳng hoặc trong sân nhà, hè nhà hoặc ven đường đi, mỗi em có một viên bi để chơi. Các em sẽ vẽ một đường kẻ ngang ngắn trên bãi đất để làm mốc đứng lần lượt bắn bi. Bi sẽ nhằm bắn vào lồ, rồi bắn vào bi của người khác bằng cách búng tay và đo bằng gang tay để tính điểm.
Trò chơi bi rất hấp dẫn người chơi và cũng rất khó chơi bởi những luật chơi của nó.
7. Chơi đánh khăng
Trò chơi đánh khăng cũng thường diễn ra trên các bãi đất trống. Đồ chơi là một bộ quân khăng (mỗi người một bộ). Người chơi là các em nhỏ, thường là em trai từ chín đến mười bốn tuổi.
Bộ quân khăng bao gồm quân cái và quân con làm bằng một đoạn tre đặc, to khoảng ngón tay cái. Quân con thường ngắn khoảng 20 cm, quân cái dài khoảng 35 cm. Trên bãi chơi, một đầu bãi những trẻ tham gia sẽ khoét lồ đế đặt quân khăng, lồ là một hố con hình thuyền dài khoảng 20 cm, sâu 2 - 3cm, được giới hạn bằng một vòng tròn. Khi chơi, các em đặt quân con vào lồ, dùng quân cái gẩy hoặc cầm ngang quân con trên tay, lấy quân cái đánh mạnh để đối phương bắt lấy và sau đó ném trả lại vào lồ sao cho trúng vào quân cái đã được người chơi đặt ngang lồ. Trò chơi cứ diễn ra như thế cho đến khi một bên không ném trúng lồ hoặc không bắt được quân con, bên thua sẽ bị phạt, hình thức phạt thường là cõng bên được chạy vòng quanh bãi chơi...
Đây là một trò chơi đòi hỏi sức mạnh của đôi tay, mức tinh tường của đôi mắt, sự di chuyển khéo léo của người chơi... Vì vậy trò chơi này giúp cho trẻ phát huy cả về thể lực lẫn trí lực.
Thời kỳ cực thịnh của trò chơi dân gian chính là lúc nền kinh tế đất nước còn nghèo nàn, nông nghiệp lạc hậu, xã hội chưa phát triển. Bức tranh sinh hoạt ở nông thôn khi đó quanh năm suốt tháng là “con trâu đi trước, cái cày theo sau”, đời sống luôn gắn bó với ruộng đồng. Mọi sự xê dịch, giao lưu chỉ giới hạn trong phạm vi làng xã, xa hơn chút là tổng, huyện. Hiếm khi người dân được đi xa bởi hệ thống giao thông cản trở, các phương tiện đi lại hiếm hoi. Cho nên, họ tự bày ra những cuộc vui chơi giải trí là điều không thể tránh khỏi. Trong những cuộc vui chơi này, có cuộc vui dành cho người lớn và có cuộc vui dành cho trẻ con. Họ đánh cờ, đá gà, đánh tam cúc... sau khi hoàn tất công việc đồng áng. Trẻ con thì thường xuyên hơn, bất kỳ lúc nào, bất kỳ ở đâu: chúng chơi khi chăn thả trâu bò ngoài gò ruộng, trong sân nhà mỗi đêm trăng sáng, vào giữa trưa ngoài đồng... bằng nhiều trò chơi phù hợp với không gian và thời gian khác nhau, tạo nên sự phong phú và đa dạng cho các trò chơi.
Qua thời gian, các trò chơi dân gian tuy không bị mất đi, nhưng ngày càng ít trẻ con chơi hơn, bởi nhiều lẽ, mà trước hết là do các phương tiện giải trí ngày nay hiện đại và hấp dẫn chúng nhiều hơn.
Một đặc điểm khác dễ nhận thấy là việc sử dụng các trò chơi đối với các em không diễn ra liên tục quanh năm, mà được phân bổ một cách rất thích hợp vào từng thời điểm khác nhau cho từng trò chơi khác nhau. Như mùa hè, các em hay chơi các trò chơi thả diều, đá dế. Buổi tối, những đêm trăng sáng hay chơi các trò trốn tìm, rồng rắn lên mây,... Nửa buổi sáng, xế chiều hay chơi trò nhảy dây, bắn bi, đánh khăng...
Tuy còn ít trò chơi được các em sử dụng để chơi một cách thường xuyên, song ở vùng nông thôn Hà Nam, trò chơi vẫn tồn tại để đáp ứng cho nhu cầu giải trí không thể thiếu đối với lứa tuổi thiếu niên, khi mà các phương tiện giải trí hiện đại khác chưa thâm nhập sâu vào những nơi này.
VĂN HỌC DÂN GIAN
Khái quát về văn học dân gian Hà Nam
Văn học dân gian Hà Nam là một bộ phận cấu thành nền văn hoá Hà Nam, đây là một bộ phận khá đồ sộ với một số lượng tác phẩm văn học dân gian khá lớn bao gồm đủ các thể loại, thể tài khác nhau, phản ánh cuộc sống muôn màu muôn vẻ của nhân dân Hà Nam từ bao đời nay.
Hà Nam là một tỉnh đất không rộng, người không đông, và xét về phương diện lịch sử hành chính, Hà Nam được thành lập từ năm 1890. Song về phương diện văn hoá, nghệ thuật thì mảnh đất Hà Nam có lịch sử dài lâu, là một trong những vùng đất có sự hình thành văn hoá cổ xưa nhất của đất nước ta. Điều này đã được phản ánh qua rất nhiều tư liệu khảo cổ được phát hiện ở nơi đây, cũng như qua các tác phẩm văn học dân gian.
Nhìn chung, văn học dân gian Hà Nam là những tác phẩm mang tính địa phương, mang những nét đặc sắc riêng rất rõ rệt, đồng thời những tác phẩm này cũng vẫn mang cả những nét chung điển hình của văn học dân gian cả nước, đặc biệt là nét chung của văn học dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Văn học dân gian Hà Nam gồm nhiều thể loại. Các thể loại của văn học dân gian như truyền thuyết, tục ngữ phương ngôn, ca dao, dân ca, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười, vè... đều tồn tại và phát triển ở Hà Nam.
Các thể loại tự sự của văn học dân gian Hà Nam, có số lượng khá đa dạng, gồm truyền thuyết (truyền thuyết lịch sử, truyền thuyết địa danh, truyền thuyết về các anh hùng văn hoá); truyện cổ tích (bao gồm truyện cổ tích thần kỳ, truyện cổ tích sinh hoạt), truyện ngụ ngôn, truyện trạng, truyện cười...
Trong các thể loại tự sự dân gian Hà Nam, truyền thuyết phải được coi như một thể loại chủ lực. Số lượng các tác phẩm truyền thuyết của Hà Nam đã được sưu tầm đến nay là khá lớn, khá tiêu biểu với khoảng vài trăm đơn vị truyện. Thí dụ truyền thuyết về Nguyệt Nga công chúa, về Chử Đổng Tử và Tiên Dung ở huyện Duy Tiên, nhóm truyền thuyết về Triệu Quang Phục ở huyện Lý Nhân, nhóm truyền thuyết về các nữ tướng của Hai Bà Trưng trên đất Thanh Liêm, Bình Lục. Đặc biệt Hà Nam lại có vùng văn hoá dân gian tiêu biểu mà cả nước đều biết đến, đó là vùng văn hoá dân gian Liễu Đôi. Số lượng các tác phẩm truyền thuyết của vùng văn hoá dân gian này cũng khá phong phú, điển hình như các truyện Truyện chàng trai họ Đoàn, Truyện bà áo the, Truyện ông gác cổng, Truyện ông Tía, Truyện ông Trạng Vật, Cung Đặng Cung Lường, Nàng Liên Nương... Ngoài ra còn các mảng truyền thuyết của các vùng khác trong Hà Nam như Truyền thuyết về nữ tướng Lê Chân, Truyền thuyết về núi Cấm đền Trúc, Truyền thuyết về Ao Long - Động Thủy, Truyền thuyết về Bát Cảnh Sơn... của Kim Bảng; các truyền thuyết về Nguyệt Nga công chúa, truyền thuyết về Trạng Sấm... của Duy Tiên; truyền thuyết về Mỵ Ê, truyền thuyết về Vũ Thị Thiết (được chép trong Truyền kỳ mạn lục) của Nguyễn Dữ - hai nhân vật liệt nữ nổi tiếng của Hà Nam; và truyền thuyết về nhân vật Vũ Cố của Thanh Liêm...
Bát Cảnh Sơn không chỉ nổi tiếng là danh thắng mà còn nổi tiếng về người Hiền tài. Đây cũng là vùng đất phát tích truyện Trầu Cau.
Có thể khẳng định rằng, đất Hà Nam là đất của truyền thuyết. Hoàn cảnh và điều kiện lịch sử nơi đây đã tạo điều kiện đầy đủ cho thể loại truyền thuyết dân gian nở rộ. Cả về số lượng, chất lượng lẫn tầm vóc, truyền thuyết dân gian Hà Nam có thể so sánh với các vùng truyền thuyết dân gian nổi tiếng khác của cả nước như vùng truyền thuyết Hoa Lư của Ninh Bình, vùng truyền thuyết Lam Sơn của Thanh Hóa, vùng truyền thuyết Luy Lâu - Thuận Thành về Lạc Long Quân - Âu Cơ, về Nhữ Nương, Tứ Pháp của Bắc Ninh, vùng truyền thuyết về Hùng Vương của Phú Thọ, vùng truyền thuyết về Sơn Tinh Thuỷ Tinh của vùng Ba Vì - Hà Tây... Sự góp mặt của truyền thuyết Hà Nam, nhất là các mảng truyền thuyết về Lê Hoàn, Lê Chân, Lý Thường Kiệt, mảng truyền thuyết về hội vật võ Liễu Đôi đã đem đến cho loại hình tự sự dân gian Hà Nam một giá trị tinh thần lớn lao.Việc nghiên cứu, sưu tầm và hệ thống lại mảng truyền thuyết này của Hà Nam sẽ góp phần vẽ lên diện mạo của vùng văn học dân gian Hà Nam.
Tiếp theo thể loại truyền thuyết là thể loại truyện cổ tích của văn học dân gian Hà Nam. So với thể loại truyền thuyết thì thể loại truyện cổ tích Hà Nam không phong phú bằng kể cả về số lượng và thể tài. Truyện cổ tích Hà Nam chủ yếu tập trung ở vùng văn hoá dân gian Liễu Đôi với một số lượng có thể chiếm tới ba phần tư số lượng truyện cổ tích đã được sưu tầm, tập hợp hiện nay trong toàn tỉnh trong đó số lượng truyện thần kỳ chiếm nhiều hơn, có thể kể tới các truyện như Truyện chàng đoạt dao của ngài Bắc Đẩu, Nàng trăm đời ngàn kiếp, Thần túc đúc vàng... (Khảo sát văn hoá truyền thống Liễu Đôi. Nxb VHDT, H, 1995), Truyện trầu cau, Sự tích Thánh Ông, Sự tích núi Cấm và núi Ngùa (Truyện dân gian Kim Bảng. Nxb VHDT, H, 2003). Còn truyện cổ tích sinh hoạt chiếm số lượng rất ít, thí dụ như truyện Vợ chàng Trương kể về người thiếu phụ ở Nam Xương vì chung thủy với chồng con mà bị chết oan, được chuyển hoá từ truyền thuyết về liệt nữ Vũ Thị Thiết... Sự có mặt của thể loại truyện cổ tích đã khiến cho văn học dân gian Hà Nam phong phú và đặc sắc thêm lên, phản ánh được nền văn học dân gian Việt Nam nói chung và văn học dân gian Hà Nam nói riêng.
Trong văn học dân gian Hà Nam, thể loại truyện ngụ ngôn có số lượng tương đối phong phú với vài chục tác phẩm có nội dung đề tài đặc sắc và đều tập trung ở vùng văn hoá Liễu Đôi. Nói chung các câu chuyện ngụ ngôn được lưu truyền ở đây đều ngắn gọn, hấp dẫn, phản ánh được nét đặc trưng của thể loại truyện ngụ ngôn. Những tác phẩm tiêu biểu là các truyện như: Chèo bẻo đánh quạ, Kiến chạy lụt, Nhện tơ phất ngọn cờ đào, Truyện oan của nàng Ngoé Cốm, Đĩ Cua hiếu nghĩa... Nét riêng của truyện ngụ ngôn Hà Nam so với truyện ngụ ngôn các vùng khác là nó được sáng tác hoàn toàn bằng thơ, đặc biệt là thể thơ lục bát, hầu như không có tác phẩm nào được sáng tác bằng văn xuôi. Điều này tạo điều kiện cho ngụ ngôn Hà Nam được dễ nhớ, dễ thuộc, dễ sáng tác và dễ lưu truyền cho đến ngày nay.
Trong văn học dân gian của Hà Nam còn có thể loại truyện Trạng, đó là dạng truyện Trạng Lợn, tương truyền phát tích từ đất Mạnh Chư của huyện Bình Lục. Điều đặc biệt ở đây là truyện Trạng Lợn của Hà Nam mang trong nó sự chuyển hoá giữa truyện cười và truyện trạng. Câu chuyện hoàn toàn diễn tiến và phát triển trên cơ sở những cái may mắn một cách tình cờ, ngẫu nhiên chứ nhân vật chính của truyện không hề có tài cán gì.
Trong văn học dân gian của Hà Nam còn có một thể loại nữa đó là giai thoại dân gian. Mảng giai thoại về cụ Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến là mảng giai thoại phổ biến chủ yếu nhất của Hà Nam, ngoài ra còn có các mảng giai thoại về các nhân vật lịch sử văn hoá, khoa bảng khác của Hà Nam nhưng thực sự không được phổ biến bằng...
Về thể loại tự sự của văn học dân gian Hà Nam, cũng có nhiều truyện kể dân gian không thuộc vào một thể loại nào nhất định, ví như truyện Ông thần đổ, Truyện bà Khổng ôn, Truyện mái tóc biết khóc biết cười, Truyện cái khiên... Đây chính là những tác phẩm truyện kể dân gian mang tính chất giáp ranh giữa hai thể loại truyền thuyết và cổ tích.
Về các thể loại trữ tình của văn học dân gian Hà Nam thì ca dao là thể loại có số lượng khá lớn với hàng trăm câu ca dao có hình thức thơ lục bát, song thất lục bát, lục bát biến thể, phản ánh nhiều khía cạnh hiện thực đời sống và thế giới tinh thần các cư dân nông nghiệp lúa nước của Hà Nam.
Cùng với ca dao và gắn liền với ca dao là dân ca, thể loại này cùng tồn tại và vận động, phát triển, lưu truyền trên cơ sở hình thức thơ lục bát, nhất là trên cơ sở đối đáp ứng tác. Thí dụ như dân ca hát Dậm Quyển Sơn, hát Lải Lèn (thuộc tiểu loại dân ca nghi lễ), hát Trống quân Thanh Liêm (thuộc loại dân ca giao duyên). Xét nhiều mặt, cả hát Dậm Quyển Sơn lẫn hát Trống quân trên thuyền Thanh Liêm đều có những nét đặc thù riêng so với dân ca đồng bằng Bắc Bộ và cả nước.
Về thể loại tục ngữ phương ngôn của Hà Nam thì thể loại này có tới vài trăm câu kết cấu theo kiểu vần điệu hô ứng, đối ngẫu. Trong phương ngôn, các tác giả dân gian thường nêu nhận xét cô đọng về đặc sản ẩm thực, về cảnh quan, về phong tục ở một số địa phương cụ thể. Hiện thực đời sống của người dân Hà Nam hàng ngàn đời nay đã được đúc kết tối đa trong những câu phương ngôn tục ngữ, ngắn, gọn, dễ nhớ, dễ thuộc.
Về thể loại vè của Hà Nam, ở văn học dân gian vùng Liễu Đôi có khá nhiều vè. Đó là các tác phẩm Bách nhân - bách thần, Vè xã Lãi, Hội vật Liễu Đôi, Gái làng Sấu, Chín cô chưa chồng... khoảng trên dưới hai chục tác phẩm. Con số đó có ý nghĩa lớn, và chỉ khi nào trong dân gian xuất hiện nhiều thói hư tật xấu, giai cấp thống trị hết vai trò lịch sử thì vè mới xuất hiện nhiều để phê phán. Nhờ có thể loại vè, văn học dân gian Hà Nam đã đả phá, phê bình kịp thời những mặt xấu, thói hư của xã hội, nhằm để giúp cho cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn theo lý tưởng thẩm mỹ của tác giả dân gian.
Văn học dân gian Hà Nam nhìn chung có một khối lượng lớn các tác phẩm, trong đó bao gồm hầu hết các thể loại từ truyền thuyết, truyện cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, ca dao, dân ca, tục ngữ phương ngôn, vè...
Các thể loại văn học dân gian Hà Nam hầu như đều gắn bó chặt chẽ với lễ hội dân gian của vùng Hà Nam. Đó là lễ hội vật võ Liễu Đôi, lễ hội về Đinh Lê tại Bảo Thái, huyện Thanh Liêm, ở Kim Bảng, đó là lễ hội đền Mẫu cửa rừng Lạt Sơn, lễ hội đền Trúc, lễ hội chùa Bà Đanh, lễ hội chùa Bà Bến. Ở Duy Tiên, đó là lễ hội đền Lảnh, lễ hội đình đá An Mông, lễ hội Đọi Sơn... Các lễ hội với nội dung đề cao tinh thần thượng võ, đề cao chủ nghĩa yêu nước, tự hào dân tộc đã ảnh hưởng đến sự hình thành nội dung các thể loại văn học dân gian Hà Nam. Kết quả là các truyền thuyết lịch sử chiếm số lượng lớn hơn cả, rồi đến cổ tích rất phong phú. Do sức hút của lễ hội, một số truyện vốn có nguồn gốc cổ tích cũng bị truyền thuyết hoá.
Tục ngữ, phương ngôn ca dao, dân ca vốn là các thể loại văn vần của văn học dân gian Hà Nam cũng có một số lượng phong phú, mang đậm tinh thần thượng võ và cảm hứng anh hùng. Trong số các câu phương ngôn, tục ngữ có nhiều câu có nội dung nói về hội vật võ Hà Nam.
Tóm lại, các thể loại của văn học dân gian Hà Nam gồm có: 1. Ca dao, tục ngữ, phương ngôn; 2. Vè; 3. Ngụ ngôn; 4. Truyện cười; 5. Truyện trạng; 6. Truyền thuyết và truyện cổ tích.
Sau đây là một số khảo sát, giới thiệu về một vài thể loại tiêu biểu của văn học dân gian Hà Nam.
I. CA DAO, TỤC NGỮ, PHƯƠNG NGÔN HÀ NAM
Ca dao, tục ngữ, phương ngôn Hà Nam nhìn chung rất phong phú về số lượng và nội dung phản ảnh. Bởi đây là vùng đất lâu đời, dân cư ổn định, phong tục tập quán có truyền thống, nên những nét chung của các chủ đề lớn trong văn học dân gian cả nước cũng tất yếu được phản ánh trong diện mạo nội dung của văn học dân gian Hà Nam, đồng thời cũng được phản ánh trong ca dao, tục ngữ, phương ngôn ở đây cũng có những sắc thái nội dung và nghệ thuật mang những nét riêng (do điều kiện tự nhiên và xã hội nơi đây quy định) và nó sẽ góp phần tô điểm thêm cho những giá trị nội dung, nghệ thuật của văn học dân gian cả nước.
Dưới đây là những nội dung của bộ phận ca dao, tục ngữ, phương ngôn Hà Nam.
1. Ca dao, tục ngữ, phương ngôn phản ánh tình yêu quê hương đất nước
“Hà Nam là mảnh đất nhỏ trong địa bàn Tổ quốc bao la, tục ngữ ca dao Hà Nam có những tính chất chung của toàn dân tộc và lại có màu sắc địa phương. Thiên nhiên, lịch sử và cuộc sống con người nơi đây so với cả nước có những điểm đồng tiểu dị. Đừng tìm trong Hà Nam những gì thật khác biệt, thật độc đáo. Có những câu vay mượn từ trung du đồng bằng khu 4, có tên người, tên đất ở nơi khác, đã sửa đi cho hợp với đất mình, cảnh mình, có những đoạn nối vào một đoạn nào sẵn có, cho hợp cảnh hợp người. Nhưng nhiều nhất vẫn là những câu từ Hà Nam mà ra, đọc lên thấy rõ xuất xứ, đậm đà phong vị, vẽ lên cả khung cảnh rõ rệt, không pha trộn. Có những câu xuất xứ từ Hà Nam, dần dần đã lan sang cả phần lân cận, thành của cải chung và được các vùng khác nhắc nhở, pha phách và biến dạng đi đôi chút” (Ca dao, tục ngữ Nam Hà, Ty văn hoá Hà Nam, 1975).
Chính những câu ca dao, tục ngữ, phương ngôn “đậm đà phong vị, vẽ lên khung cảnh rõ rệt, không pha trộn” của Hà Nam đã nói lên tình yêu quê hương đất nước của người dân nơi đây:
Non xanh nước biếc hữu tình
Lúa đồng bát ngát, rung rinh bốn mùa
Đền Lăng, thờ đức vua Lê
Ngắm nhìn núi Cõi khác chi con rồng
Vờn thêu một dải uốn cong
Kìa con thiên mã đang lồng về Nam
Một dòng nước nhỏ xanh lam
Một ngôi chùa nhỏ nằm ngang lưng trời.
Đây là bài ca dao nói về vùng nửa đồi nửa đồng bằng của hai huyện Thanh Liêm, Kim Bảng của Hà Nam, có nhiều cảnh đẹp. Ở đây có con sông Đáy nước chảy trong xanh, vòng quanh các triền núi đá vôi 99 ngọn, có chùa Bà Đanh (ở xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng), có Kẽm Trống mà bài thơ của bà Hồ Xuân Hương làm cho thêm nổi tiếng, có núi Chanh Chè... Chính con mắt của người Thanh Liêm, Kim Bảng đã nhìn ra đất nước núi sông ấy không chỉ đẹp đẽ và hấp dẫn mà còn rất linh thiêng, oai linh, bởi núi Cõi chính là nơi có đền thờ và lăng Lê Đại Hành (thuộc xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm).
Hoặc như bài ca dao
Núi Đọi ai đắp mà cao
Ngã ba sông Lệnh ai đào mà sâu
Rẽ, Guột ai bắc nên cầu
Con sông Lục Đầu ai chở đò ngang.
đã ca ngợi núi Đọi ở xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, một thắng cảnh của Hà Nam. Ngã ba sông Lệnh là nơi phân lưu của dòng sông Hồng vào sông Châu thuộc địa phận xã Yên Lệnh (nhánh sông này nay đã bị lấp). Rẽ, Guột là hai địa danh chỉ cầu Rẽ và cầu Guột nằm trên đường quốc lộ Hà Nội - Hà Nam.
Địa danh của khắp Hà Nam đều được ca dao ca ngợi:
Quyển Sơn vui thú nhất đời
Dốc lòng trên dậm, dưới bơi ta về
Đôi bên núi tựa sông kề
Ngược xuôi tiện nẻo, lắm nghề làm ăn.
Quyển Sơn thuộc xã Thi Sơn (huyện Kim Bảng). Quyển Sơn nằm trên bờ sông Đáy, tựa lưng vào dãy núi lớn. Cảnh trí đẹp. Nơi đây có tục hát Dậm là một điệu hát múa dân gian rất cổ và tục bơi chải vào dịp đầu xuân.
Hoặc như câu:
- An Đổ xã lớn vô chừng
Bảng vàng bia đá lẫy lừng ngàn thu.
Câu ca dao này đã ngợi ca xã An Đổ, thuộc Bình Lục xưa bao gồm các làng Vị Thượng, Vị Hạ và một phần xã An Đổ ngày nay - Vị Thượng, Vị Hạ nay thuộc xã Trung Lương là quê hương nhà thơ Nguyễn Khuyến (1835 - 1909). Trong bài “Phong thổ Bình Lục'' của Vũ Đăng Tiên cũng có đoạn:
An Đổ xã lớn vô chừng
Bảng vàng bia đá lẫy lừng thơm tho
Thơ lưng túi, rượu lưng hồ
Thuốc viên chào khách, sải đò nên thân.
Nhiều cảnh sắc của Hà Nam cũng được ca dao ca ngợi dưới nhiều dáng vẻ khác nhau:
-Đôn Thư rất tốt ruộng đồng
Ai ai cũng muốn lấy chồng Đôn Thư
Đôn Thư lợp nón khuôn vòng
Ai ai cũng muốn lấy chồng Đôn Thư.
(Đôn Thư nay thuộc xã Trịnh Xá, huyện Bình Lục)
- Hòa Mạc ruộng đất phì nhiêu
Nhiều mía, nhiều đỗ lại nhiều ngô khoai
- Hòa Mạc đất rộng người đông
Có bãi tươi tốt, có đồng bao la
Đất bãi trồng đậu, trồng cà
Đất đồng cày cấy thật là vui thay
(Hòa Mạc nay thuộc thị trấn Hoà Mạc, huyện Duy Tiên)
- Đại Hoàng phong cảnh hữu tình
Của nhiều, đất rộng, gái xinh, trai tài
(Đại Hoàng thuộc xã Nhân Hậu, huyện Lý Nhân)
Những vùng đất phì nhiêu, tươi tốt của quê hương Hà Nam luôn xuất hiện trong ca dao bằng những lời ca ngợi, tự hào, yêu mến:
- Chẳng đẹp cũng cảnh quê nhà
Từ Đài, Yên Mỹ, Lỗ Hà ngoài đê
Tháng tám nước cả đổ về
Ruộng nương đất cát tràn trề phù sa
Trong đê có thôn Quan Phố
Lúa, khoai, ngô, đỗ bốn mùa xanh tươi.
Những địa danh trên là kể về bốn thôn Từ Đài, Yên Mỹ, Lỗ Hà, Quan Phố đều thuộc xã Chuyên Ngoại của huyện Duy Tiên.
Trong kho tàng ca dao Hà Nam, có một khối lượng lớn các câu ca ngợi đặc sản, của địa phương, những làng nghề truyền thống:
Cầu Không thì lắm vịt con
Đại Hoàng chuối ngự ai buôn cũng lời
Cầu Không thuộc xã Chung Lý (huyện Lý Nhân) có nghề ấp vịt con. Xã Đại Hoàng nay thuộc xã Nhân Hậu (huyện Lý Nhân) trồng nhiều chuối ngự (chuối tiến vua) nổi tiếng thơm ngon.
- Văn Quan, Đồng Thủy ngô khoai
Tào Nhai mật mía kém ai bao giờ.
Văn Quan nay thuộc xã Văn Lý (huyện Lý Nhân). Đồng Thủy nay thuộc xã Nhân Thịnh (huyện Lý Nhân) đất trồng mía, có nghề kéo mật mía và có nhiều lò nấu mật. Nhiều câu ca dao đã liệt kê được ra rất nhiều nghề của các địa phương trong tỉnh:
Cao Đài thì đóng cối xay
Dần, sàng, rổ rá về ngay Vạn Đồn
Làng Vọc bánh đúc bánh hòn
Làng Xá bắt ốc đi mòn đôi chân
Làng Nguộn làm bút làm cân
Làng La dệt vải tinh quân mọi nghề.
Hoặc như:
Quan Nha đan thúng đan sàng
Lôi Hà làm bún, làng Chuông đan thuyền.
Quan Nha thuộc xã Yên Bắc, Lôi Hà thuộc xã Trác Văn, làng Chuông thuộc xã Chuyên Nội, Duy Tiên.
Chợ Đầm bán những ngô khoai
Chợ Họ toàn bán những loài rau dưa
Gạo trắng bán chẳng ai mua
Đậu lạc thì thừa ngô thiếu giành nhau.
Các địa phương trên đều thuộc Bình Lục là nơi đất thuần nông nghiệp nên những sản phẩm như rau dưa, đậu, lạc đều hết sức dư thừa.
Trong bộ phận ca dao này của Hà Nam cũng không hiếm những bài mang công thức chung của ca dao đồng bằng Bắc Bộ có nội dung kể về nghề nghiệp cùng với các địa phương nổi tiếng có nghề nghiệp ấy:
Cô kia cắp nón đi đâu
Có về Nội Rối làm dâu thì về
Nội Rối có cây bồ đề
Có ao thả cá, có nghề đan rong.
(Nội Rối thuộc xã Bắc Lý, huyện Lý Nhân)
Nhất cao là ngọn núi Vồng
Nhất rộng làng Quyển, nhất đông chợ Dầu
Nhất đẹp em gái Bù Nâu
Cứng cổ Đanh Xá, cơ cầu Quyển Sơn.
(Núi Vồng ở phía tây thuộc huyện Kim Bảng. Làng Quyển Sơn thuộc xã Thi Sơn, chợ Dầu ở gần Tượng Lĩnh, thôn Bù Nâu tức thôn Mã Não xã Ngọc Sơn, con gái Mã Não đẹp. Đanh Xá thuộc xã Ngọc Sơn, con gái gan góc già dặn. Con gái Quyển Sơn tằn tiện tháo vát).
Ca dao Hà Nam còn kể về những lễ hội lớn của Hà Nam:
Nhất vui là hội Trần Thương
Đủ đình đủ đám thập phương tiếng đồn.
Đây là nói về hội làng Trần Thương thuộc xã Nhân Đạo (huyện Lý Nhân), hàng năm hội mở rất lớn từ ngày 15 tháng 8 đến ngày 21 tháng 8 âm lịch để giỗ Trần Hưng Đạo, ở đây có đền thờ Trần Hưng Đạo, quanh năm khách thập phương đến hương khói.
Phương ngôn Hà Nam cũng nhắc tới địa danh Trần Thương này để ghi nhận công lao của vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo. Địa danh Trần Thương vốn là nơi đặt kho lương của nhà Trần trong giai đoạn chống quân Nguyên Mông, ở đây có mộ Trần Hưng Đạo nhưng chắc là mộ giả hoặc là sinh phần của ông, sau khi mất, nhân dân đắp lên thành mộ để tỏ lòng tưởng niệm, lâu đời người ta tưởng nhầm là ông mất và chôn ở đó.
Cùng với những câu ca ngợi hội đền Trần Thương, ca dao Hà Nam còn nói tới nhiều lễ hội lớn khác của vùng, của địa phương này:
Đông Quan mở hội vui thay
Thi văn thi vẽ lại bày cờ tiên
Sân đình nhạc múa đôi bên
Dưới sông chèo hát lại dìm bóng trâu
Bắt dê, bắt vịt, leo cầu
Leo dây múa rối trò bày
Kẻ hay đáo đĩa, người tài đánh đu...
Làng Đông Quan thuộc xã Nhân Nghĩa (huyện Lý Nhân) cứ ba năm lại mở hội một lần vào trung tuần tháng ba âm lịch, có rất nhiều trò vui được mở ra trong ngày hội lễ.
2. Ca dao, tục ngữ, phương ngôn Hà Nam phản ánh đời sống lao động sản xuất và phản ánh chủ đề tình yêu nam nữ
Trong ca dao Hà Nam, đời sống của người dân được thể hiện ra khá rõ nét. Đó là đời sống của đại đa số người dân nghèo sống chủ yếu về nghề làm ruộng, nghề chài lưới trên sông, nghề chèo thuyền và buôn bán nhỏ.
Giời mưa ướt áo nâu sồng
Em đi cấy lúa quãng đồng đường xa
Mong sao trời giúp cho ta
Mùa này lúa tốt bằng ba mọi mùa.
Hệ thống những bài ca nói về đời sống người dân lao động nông nghiệp Hà Nam là hết sức phong phú, nhằm phản ánh chân thực và hết sức cụ thể cuộc sống lao động thường ngày, những mối quan tâm của con người đối với thiên nhiên, với điều kiện tự nhiên nơi đây:
- Tay mang cái bị cái liềm
Theo anh vác hái ra miền xứ Đông
Lạy giời cho tốt lúa đồng
Để đi làm mướn kiếm công ngày mùa
- Anh trồng chị cấy em van
Mưa hòa gió thuận bội phần tốt tươi
Khai hoa kết quả hẳn hoi
Cả nhà sung túc yên vui tháng ngày
- Ai ơi nhớ lấy câu này
Tằm nuôi ba lứa, ruộng cày quanh năm
Nhờ trời hoà cốc, phong đăng
Cấy lúa lúa tốt, nuôi tằm tằm tươi...
Đặc biệt trong kho tàng ca dao, tục ngữ, phương ngôn Hà Nam, khi nói về đời sống của người dân trong vùng, hình ảnh những chàng trai tài giỏi, những cô gái đảm đang đã hiện lên rất rõ nét, góp phần giúp ta hình dung được cuộc sống của những con người bằng xương bằng thịt ở các làng xóm ở quê hương Hà Nam.
Những chàng trai, cô gái của đất Hà Nam đều là những người có nết tốt, làm ruộng giỏi, làm nghề phụ, buôn bán giỏi:
Gái làng Chủ đủ mọi nghề
Xong nghề cày cấy lại nghề cửi tay
Cất lên giọng hát là hay
Khiến trai thiên hạ phải bay mất hồn.
Ai đi đâu đấy hỡi ai
Ghé qua Ngọc Lũ thăm trai làng này
Anh Khoa cốt cự tay cày
Bảy sào đất ải một ngày ngại chi
Ngọc Lũ lại có anh Thi
Bừa ngày một mẫu ai bì được sao
Ngọc Lũ lại có anh Tào
Hai tay ba bếp nồi nào cũng ngon
Gái làng dù có mấy con
Dù đẹp, dù giòn vẫn muốn lấy ba anh.
Làng Chủ và Ngọc Lũ đều thuộc xã Ngọc Lũ (huyện Bình Lục), cả hai bài ca trên đều nhắc đến những nhân vật được nhân dân yêu mến và ca ngợi vì họ là những người lao động giỏi của thôn mạc ruộng đồng. Quần chúng đã nhắc nhở đến tên tuổi và việc làm của những con người này với một niềm tự hào đặc biệt.
Họ là những cô gái đảm đang chăm chỉ, chịu thương chịu khó, hết lòng vì cha mẹ, chồng con:
Em là con gái xứ Nam
Chăm nghề cày cấy sang làm xứ Đông
Đồn rằng xứ Bắc công cao
Trốn cha, trốn mẹ, trốn chồng mà đi.
Họ là những chàng trai khôn, những cô gái hiền:
Nhất ngon là bánh Ngãi Chiền
Trai thôn Đọ Xá, gái hiền Tất Khê.
Ngãi Chiền (nay là thôn An Hà, xã Thanh Hà và Tất Khê (xã Thanh Bình), cả hai đều thuộc huyện Thanh Liêm của Hà Nam.
Đồng thời họ cũng chính là những người con gái bình thường của bao làng xóm quê hương Hà Nam:
Có lấy con gái làng Đông
Cái ngực thì đẫy cái mông thì tròn
Có lấy con gái làng Non
Chỉ được cái việc đánh con ăn quà
Có lấy con gái làng Nga
Chân tay lam lũ ăn quà quanh năm
Có lấy con gái làng Chằm
Ăn cơm xó bếp lại nằm hè sau
Có lấy con gái làng Lau
Đã giỏi hát đúm lại màu trẻ trung
Có lấy con gái làng Đùng
Trèo lên thì tới tận cùng non xanh
Có lấy con gái làng Chanh
Đã khéo làm lụng lại hiền lành dễ ưa.
Làng Đông ở đây chính là làng Sấu Đống (xã Liêm Túc), làng Non thuộc xã Thanh Lưu; làng Nga, làng Chằm, làng Lau thuộc xã Liêm Thuận; làng Đùng, làng Chanh thuộc xã Liêm Sơn (huyện Thanh Liêm).
Cùng với những bài ca dao về các chàng trai cô gái Hà Nam như trên, khát vọng hạnh phúc của người lao động Hà Nam đã thể hiện khá rõ nét ở rất nhiều bài ca dao khác:
Non cao, cao mấy từng mây
Anh đi bên ấy, bên này em trông
Bao giờ lúa chín vàng bông
Anh về gặt hái gánh gồng cùng em
Rủ nhau bước xuống ruộng vàng
Nơi rộn tiếng hát, nơi vang tiếng cười
Những trông lúa chín mà vui
Bông ngã bông cúi, bông thời gió lay
Lưỡi liềm bán nguyệt cầm tay
Lúa vàng nghìn gốc muôn cây thu về
Bõ khi mưa nắng dãi dề
Bõ công dậy sớm thức khuya bấy chầy
Trồng cây ăn qua có ngày
Đất kia đâu phụ công này mà lo.
Người dân Hà Nam luôn mơ ước về một cuộc sống, một gia đình đầm ấm, đói no có vợ có chồng:
Kể chi trời rét đồng sâu
Có chồng có vợ rủ nhau cày bừa
Bây giờ trời đã hồ trưa
Chồng vác lấy bừa, vợ dắt lấy trâu
Một đoàn chồng trước vợ sau
Trời rét mặc rét, đồng sâu mặc đồng.
Đối với họ thì cuộc sống thiếu thốn về vật chất là không đáng sợ và vợ chồng sẽ cùng nhau vượt qua mọi cảnh cơ cực để có được hạnh phúc gia đình. Đây là một quan niệm đúng và rất đáng ngợi ca:
Rạng ngày vác cuốc ra đồng
Tay cầm mồi lửa tay ròng thừng trâu
Ruộng đồng nước cả bùn sâu
Suốt ngày cùng với con trâu cày bừa
Việc làm chẳng quản nắng mưa
Cơm ăn đắp đổi muối dưa tháng ngày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Biết ơn kẻ cấy người cày với nao.
Có thể nói ca dao phản ánh đời sống lao động và thể hiện chủ đề tình yêu của Hà Nam đã ghi nhận chân thực về con người và thiên nhiên, môi trường lao động sản xuất nơi đây. Ngôn ngữ của những lời ca dao khá chau chuốt, mang tính khuôn mẫu truyền thống của ca dao đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời cũng mang những nét riêng độc đáo của Hà Nam; chứa đựng sức sống, tính cách và khát vọng ước mơ về hạnh phúc, về tình yêu và gia đình của người dân nơi này.
3. Ca dao, tục ngữ, phương ngôn Hà Nam phản ánh tinh thần chống phong kiến
Ca dao, tục ngữ, phương ngôn Hà Nam có nhiều câu ghi lại tinh thần chống phong kiến, tinh thần đấu tranh, phê phán những quan lại địa phương hà hiếp, áp bức dân lành. Trong những câu ca này, chân dung của các tầng lớp quan lại phong kiến nói chung, các đại diện của hệ thống quan lại, cường hào ác bá địa phương nói riêng đều hiện ra rõ rệt với những đường nét tính cách của chúng.
Trước hết, người dân Hà Nam đã nhận thức hết sức đúng đắn về hình ảnh của những vị vua chân chính, có công với nước:
Rồng đen lấy nước thì mưa
Rồng vàng lấy nước thì vua đi cày.
Câu ca dao này lưu truyền ở vùng Hà Nam nhằm ghi nhớ về sự tích vị vua Lê Đại Hành đi cày với nhân dân ở vùng Đọi Sơn của huyện Duy Tiên, sau khi ông cùng quân dân Đại Cồ Việt đánh thắng quân Tống.
Họ ghi nhận những sự kiện lịch sử có ý nghĩa to lớn đối với vận mệnh của đất nước, với tinh thần khẳng định:
Bao giờ vua ngự chùa Đùng
Làng Đồi Ngang mới hết vận anh hùng khúc lươn.
Chùa Đùng ở làng Đùng thuộc xã Liêm Sơn (huyện Thanh Liêm). Vào thời Trần, vua Nghệ Tôn đã vào trú ẩn tại đây, khi Chế Bồng Nga (Chiêm Thành) đem quân đi đánh Thăng Long.
Họ đứng trên quan điểm lịch sử để nhận định, phê phán các hiện tượng của xã hội phong kiến:
Từ ngày Cảnh Trị lên ngôi
Khoai chửa mọc chồi đã nhổ lên ăn.
Câu này, người dân nơi đây nhằm nói về đời Cảnh Trị tức đời Lê Huyền Tông (1663 - 1671) khi mọi quyền hành đều nằm trong tay chúa Trịnh, vua Lê chỉ ngồi làm vì, quan lại thì tham nhũng, đời sống nhân dân rất cơ cực.
Người dân Hà Nam cũng nhằm đả phá vào chính sự rối ren thời Minh Mệnh, Tự Đức qua những câu ca dưới đây:
Trên trời có ông sao tua
Ở dưới hạ giới có vua trị vì
Nghe rằng thất đức thất uy
Cho nên giặc nổi như ri ngoài đồng
Giặc nổi tỉnh Bắc tỉnh Đông
Còn các tỉnh khác cũng không yên rồi
Đồn rằng mấy tỉnh Đằng ngoài
Nó bắt theo đạo rụng rời chân tay.
Qua ca dao, tục ngữ, phương ngôn, người dân Hà Nam đã phê phán xã hội phong kiến với nền chính sự không ổn định, các vị vua không thực hiện được vai trò, quyền uy của mình để xây dựng đất nước. Đồng thời họ cũng vạch mặt chỉ tên những quan tham ô lại của các địa phương, từ quan trên đến các chức dịch trong làng:
Đốc Bắc nổi tiếng thôn nhà
Ba mươi mốt nhật đem quà hiến quan
Về làng lên mặt nghênh ngang
Ai mà chống lại thì tan cửa nhà.
Đốc Bắc chính là một tên cường hào ác bá, người làng Vị Thượng thuộc xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam xưa. Đây chính là bọn đục nước béo cò, biển lận, gian tham, chúng không từ một thủ đoạn bòn rút nào:
Trời ơi có thấu tình chăng
Mấy người đi đẻ mấy thằng ăn no
Ai về tôi gửi cái mo
Lý Nhưng có thiến thì cho nó dùng
Lý Nhưng ơi hỡi Lý Nhưng
Tưởng là ông hoá là thằng ăn dơ.
Lý Nhưng là tên lý trưởng nổi tiếng đục khoét ở thôn Đại Hoàng xưa, nay thuộc xã Nhân Hậu (huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam). Lệ thường, người đến lấy giấy khai sinh cho con phải nộp số tiền giấy mực, Lý Nhưng bắt dân phải nộp số tiền gấp 10 lần số tiền qui định để bỏ túi biển thủ.
Ca dao Hà Nam còn chỉ ra những tên phú hộ, ác bá, bóc lột người làm mướn:
Trời ơi có thấu tình chăng
Tôi đi làm mướn tàn trăng mới về
Bá Bính nó ác mới ghê
Tôi làm vi chẳng có tính công
Mỗi tháng trả được dăm đồng
Không đủ nấu cháo cho chồng con ăn.
Bá Bính là tên địa chủ đại cường hào gian ác ở thôn Đại Hoàng. Bọn chúng không những ác mà còn là một lũ tham lam:
Con sáo nó đậu cành tre
Nó hót như tiếng nước khe rĩ rền
Nó khen cái nết Lý Quyền
Cái tính của cụ Xa Duyên trong làng
Lại còn cả chú hương Chàng
Ba người cùng một tỉnh hoang thế này
Vào hàng khoai luộc xoa tay
Chẳng cần bóc vỏ tống ngay vào mồm
Nhai thì mắt trợn mang phùng
Uống thì ùng ục như tuồng vũ phu.
Mấy tên được kể đến trong bài này đều là bọn cường hào tham ăn tục uống ở làng Liên Minh, huyện Thanh Liêm xưa.
Người dân Hà Nam hết sức bất bình với những quan lại, phú hộ như trên; họ đã thể hiện thái độ phản kháng đối với mọi thói xấu cùng với sự dốt nát, hợm hĩnh của chúng:
Văn phú vào đám đại trà
Quan viên quan lão la đà no say
Lủi thủi chị em ta đây
Vùi lưng bắt ốc cũng say lo gì.
Thôn Văn Phú nay thuộc xã Mỹ Thọ (huyện Bình Lục). Xưa kia bọn quan viên làng Văn Phú dốt nát nhưng thường tán thưởng về cái tên Văn Phú của làng: “Đa văn vi phú” để mà ngông nghênh, ngạo mạn. Nhưng làng Văn Phú xưa nghèo vẫn hoàn nghèo bởi lũ quan viên chỉ quen đục khoét, ăn uống la đà... Người dân Văn Phú sống nhờ đồng ruộng chỉ có “vùi lưng bắt ốc”. Câu ca dao phản ánh thái độ của nhân dân ngược hẳn với lối nghĩ của bọn quan viên.
Ca dao Hà Nam còn tố cáo vạch mặt tên cường hào địa chủ giả nhân giả nghĩa, với thủ đoạn nhận con nuôi để bóc lột sức lao động của những người ở đợ một cách tinh vi:
Ở đây vui thú thế này
Về nhà bác mẹ tính ngày tra công
Một công là ba mươi đồng
Ba công tiền rưỡi, bốn công hai tiền
Về nhà cha đánh mẹ nghiền
Mày đi làm mướn để tiền ở đâu?...
Ngày xưa bọn địa chủ ở Hà Nam, nhất là ở vùng Duy Tiên thường nuôi con nuôi, nhưng thực chất chỉ là nuôi người ở không công cho chúng. Những ngày rỗi việc, chúng cho con nuôi đi làm thuê lấy tiền về nộp cho chúng và chúng thường tính toán chi li, tra hỏi tiền công từng ngày của những người ở đợ này.
Tiêu biểu cho tinh thần chống phong kiến của người dân Hà Nam, trong ca dao, tục ngữ, phương ngôn người Hà Nam luôn tỏ thái độ phê phán hết thảy từ lớn đến bé trong hàng ngũ quan quyền:
Quan xứ Nghệ, lính lệ Điệp Sơn.
Đây là câu phương ngôn ám chỉ tên Lê Hữu Tích người xứ Nghệ, làm tri huyện huyện Duy Tiên, là một tên quan gian ác và khét tiếng tham nhũng. Dưới tay hắn còn có một tên lính lệ người xã Điệp Sơn được hắn tin dùng. Tên lính này ỷ thế chủ nên thường làm nhiều điều càn rỡ, tàn ác khiến nhân dân căm giận.
Ca dao, tục ngữ, phương ngôn Hà Nam còn phản ánh thái độ của nhân dân lên án tệ mua quan bán tước trong chế độ phong kiến xưa kia, đã đẻ ra một tầng lớp những kẻ vô dụng, nhiễu nhương:
Cai xã Hạ như rạ Tứ Trùng.
Chức cai xã được bọn lý dịch trong làng rao bán như là để phân ngôi thứ đình trung chứ không có quyền hành, ai có tiền đều mua được, nên cai xã ở xã Hạ đã nhiều như rạ ở cánh đồng Tứ Trùng - một cánh đồng rất rộng, rất tốt ấy.
Tóm lại, ca dao Hà Nam có một nội dung hết sức phong phú, chứa đựng nhiều mặt tâm tư tình cảm của người dân nơi đây, thể hiện tình yêu quê hương và thái độ tôn trọng những con người của vùng đất này; đồng thời ca dao phản ánh đời sống lao động sản xuất của địa phương, cũng như nói lên một tinh thần phản kháng chế độ phong kiến xưa cùng với những hủ tục, những quan lại, địa chủ hà hiếp bóc lột dân lành. Kho tàng ca dao, phương ngôn, tục ngữ Hà Nam đã nói lên được một cách tương đối trọn vẹn đời sống tinh thần của người dân Hà Nam và là một vốn quý cần được tôn trọng và giữ gìn.
II. VÈ
Trong số các thể loại văn học dân gian của Hà Nam, vè Hà Nam có một số lượng khá phong phú và nội dung đề cập tới nhiều chủ đề của cuộc sống người dân lao động nơi đây.
Ở Hà Nam có những bài vè nói về địa dư, địa lý như vè Địa dư tỉnh Hà Nam, Vè thổ ngơi (vùng Thanh Liêm và phụ cận) và những bài vè nói về các món ăn, các sản vật, các giống chim, cá, đặc sản của địa phương như Vè món ăn, Vè chim, Vè cá, Vè cây, Vè lá... Còn ở vùng văn hóa dân gian Liễu Đôi nổi tiếng của Hà Nam thì lưu truyền những bài vè như Chuyện xưa hội vật vẽ, Chín cô chưa chồng, Bà Bổi, ông Thủ Hãng, Vè Xã Lãi với Xã Lãi hát ví, Xã Lãi bắt tà, Quan Ngự làng Vĩ, Ông Tú Gòn.... Những bài vè này kể chuyện làng, chuyện xóm, kể những chuyện được toàn dân quan tâm. Qua đó ta thấy, tuy những người nông dân ở đây sống nghèo khổ, song họ luôn lạc quan, yêu đời.
Ngoài ra vè Hà Nam cũng đề cập tới các chủ đề đả kích, châm biếm quan lại, lính Tây... như các bài vè Vè Lý lĩnh, Vè lính tập, Bắt phu năm Kỷ Mão (1939), Đề lại Kim Bảng, Đại Hoàng thế sự, Vè Cựu Quảng...
1. Phong tục sinh hoạt vè của Hà Nam
Thể loại vè của Hà Nam, như trên đã nói, thực sự vô cùng phong phú. Bởi ở đây tự ngàn xưa đã lưu truyền tục lệ hát vè. Đối với vùng đất này thì “Quả có mùa, vè đua vô chạp”, nghĩa là thi hát, thi kể vè bất kể mùa vụ thời gian. Chính tục vè nối đêm, vè con cúi, vè vận thừng... đã làm nẩy sinh những bài vè dài, có dung lượng nội dung lớn như Vè bà Nàng, Vè ông cả Nhiễu, Vè ông Tư Biền...
Đã có những lời ca nói về những tục vè này như:
Vè bà Nàng thuộc được mấy thiên?
Chuyện ông cả Nhiễu, chuyện ông Tư Biền
Năm canh đọc chừng mấy tối?...
Đó là những lời ca nói về tục vè nối đêm, vè con cúi:
Con cúi một gang
Vè nàng trăm trượng
Rồi tục vè vận thừng, vừa ca vừa vận thừng, vận chão:
Ba quả nòng hong phải lòng một kiếp.
Nòng hong là quả thừng bằng lạt giang mỏng chắp nối, vặn lại quấn thành qua tròn để người ta vặn thành những dây thừng, dây chão. Trong khi làm ra các sản phẩm phục vụ đời sống, người Hà Nam đã vừa làm vừa sáng tạo ra các tục hát như hát dân ca, tục thi vè để giảm nhẹ lao động, và cho tinh thần thêm sảng khoái, yêu đời.
Ngoài tục vè con cúi, vè vận thừng, còn có tục vè gõ lưới. Vè gõ lưới là tục vè rất cổ của Hà Nam. Mở đầu bài cũng như các tiết đoạn, bao giờ cũng có các điệp khúc:
Gập gà gập gập! Gập thùm gập thùm.
Đó là tiếng gõ xuống sạp thuyền và đập sào xuống nước để đuổi cá vào lưới, vè làm tăng nhịp điệu tiết tấu của công việc lao động. Cùng một lúc, con người Hà Nam đã vừa sáng tạo ra văn nghệ lại vừa đạt được mục đích lao động của mình. Theo điệu vè gõ lưới này, ở vùng Liễu Đôi đã truyền tụng bài vè Chín cô chưa chồng ca ngợi, bình phẩm về 9 cô gái. Bởi đất Liễu Đôi xưa vốn là vùng chiêm trũng, quanh năm bốn bề nước cả, nên nghề chài lưới đã là nghề nghiệp chính của dân trong vùng. Cho nên, những bài vè ở đây tuy đề cập tới nhiều nội dung khác nhau, song những điệu vè thì luôn luôn gắn chặt với nghề nghiệp và phục vụ cho nghề nghiệp đó là nghề chài lưới. Âm điệu và điệp khúc:
Gập gà gập gập! Gập thùm gập thùm!
là nét rất đặc trưng của tục vè gõ lưới của Hà Nam.
2. Nội dung vè Hà Nam
a. Vè địa dư:
Hà Nam có bài vè Địa dư tỉnh Hà Nam là bài vè dài hàng trăm câu. Nét đặc sắc của bài vè là các tác giả dân gian Hà Nam đã sáng tác ra một bài vè nhằm giới thiệu cho mọi người biết tới một Hà Nam với nhiều cảnh đẹp, nhiều nét riêng và nhiều sự kiện lịch sử, nhiều sản vật địa phương vô cùng phong phú:
Hà Nam đích thực tỉnh nhà
Trước là phủ lỵ sau ra tỉnh đường
Phủ lỵ nay về Nam Xang
Đặt nơi cai trị ở làng Nga Khê
Huyện Duy Tiên mới đi về
Đóng ngay chợ Đệp đi về sông Châu...
Trong bài vè này, các cảnh đẹp của Hà Nam đều được giới thiệu ngợi ca kỹ lưỡng đến từng chi tiết. Thí dụ như:
Tam Tinh có đá lạ đời,
Đêm thanh sáng quắc góc trời như sao.
Tam Tinh là chữ Hán, tên nôm là Ba Sao nhằm chỉ một ngọn núi cao ở phía tây bắc xã Ba Sao, vách núi này có ba tảng đá tròn, mỗi tảng to bằng cái nia. Tương truyền xa xưa ba tảng đá này thường phát sáng, ánh sáng của chúng chiếu tới tận thôn Cốc Ngoại. Vùng Ba Sao có huyệt đế vương. Do vậy, tên phù thuỷ Cao Biền xưa đã tìm cách để đốt phá ba ngọn thạch tinh, yểm trừ linh khí nước ta. Hiện nay dưới chân núi có ba ngôi đền gọi là đền Ba Sao.
Bài vè còn giới thiệu cảnh đẹp Bát Cảnh:
Gần đây Bát Cảnh non cao
Mênh mông nước bạc ì ào sóng xô
Bát Cảnh còn có tên là núi Bát Tiên. Núi thuộc đất Tượng Lĩnh, huyện Kim Bảng, tương truyền có 99 ngọn, vòng quanh vài chục dặm. Trên núi có chùa Vân Mộng, cảnh thanh u đẹp đẽ. Chúa Trịnh Doanh cho rằng núi sông nơi này giống với cảnh Tiêu Tương bên Trung Quốc, nên đặt tên cho núi này là núi Tiêu Tương dựng hành cung ở đấy để du lãm, núi này là thắng cảnh của Sơn Nam trấn xưa.
Bài vè giới thiệu cảnh đẹp Quyển Sơn:
Quyển Sơn non nước hữu tình
Có cỏ thi mọc hiển linh lạ thường.
Theo tương truyền, ở Quyển Sơn thuộc xã Thi Sơn (huyện Kim Bảng), xưa có loài cỏ thi, được xem là linh thảo, người ta tìm cỏ này lấy may và làm vật bói toán. Núi Quyển Sơn thời Lý có tên là núi Cấm. Vì Lý Thường Kiệt đã đóng quân tại đây trong cuộc chinh phạt Chiêm Thành.
Có bài vè giới thiệu cảnh đẹp núi Đọi:
Núi Đọi hình thế lạ nhường
Đoàn rồng chiều bão huyện đường Duy Tiên
Tòa chùa sửa đổi bao phen
Bia thơ Hồng Đức còn truyền dấu xưa
Toà chùa ở đây là chỉ chùa Đọi, thời Lý Nhân Tông cho dựng bia chùa Đọi gọi là bia Sùng Thiện Diên Linh, giặc Minh đập đổ mất, sau Lê Thái Tổ lại cho dựng bia, Lê Thánh Tôn (Hồng Đức) lên chơi núi đã có thơ vịnh núi này.
Trong kho tàng vè của Hà Nam có bài Vè thổ ngơi lưu truyền ở vùng Thanh Liêm và phụ cận. Đây cũng là một bài vè địa dư nổi tiếng, thuộc loại vè dài, chưa được sưu tầm hết. Bài vè đã đưa người nghe đi thăm một vòng các làng xã của huyện Thanh Liêm và vùng phụ cận, giới thiệu sơ lược cho mọi người biết một số đặc điểm của vùng này:
Muốn quạt mát thời lên núi Bồ Đề
Muốn vào thung tắm thời về làng Thong
Núi Bồ Đề nằm trong hệ thống núi của huyện Thanh Liêm ở phía tây làng Chanh Thượng xã Liêm Sơn. Theo truyền thuyết thì ông Bồ Đề dùng quạt thần đứng trên núi quạt thành gió bão thổi bay quân giặc xâm lược. Làng Thong thuộc xã Thanh Tâm, làng này ở trong vùng núi đất Thanh Liêm, có nhiều thung lũng, nhiều khe suối nước trong mát.
Trong số những bài vè địa dư có bài vè Bách Thần - Bách Nhân (có người còn gọi là bài vè Bà Nàng) - một bài vè rất có giá trị. Gọi là vè Bà Nàng vì có người giải thích rằng bài vè do một bà tên là Bà Nàng đặt ra. Đây là một bài vè dài một phần kể về các vị thần sông thần núi, hay nói một cách khác thì đây chính là danh mục các câu chuyện cổ của vùng đất Hà Nam này, còn một phần khác của bài vè là kể về các phong tục cổ truyền của Hội vật võ Liễu Đôi:
Đi đâu chẳng tới làng Đông?
Xem gái đánh cồng
Xem trai vật võ...
Theo các cụ ở địa phương, xưa kia, bài vè này, chỉ được đem ra đọc trong những ngày lễ thánh. Khi đọc, người ta phải đốt hương trầm, thắp đèn trên án thờ, người nghe ngồi trang nghiêm, người đọc bước ra cất tiếng đọc như hát, lúc như hát tuồng khi như đọc văn tế.
Nội dung của bài vè chủ yếu kể về sự tích các thần, trăm thần, trăm sự tích và cả bài vè là một câu chuyện dài tóm tắt hàng trăm truyện cổ có giá trị đã ngàn đời nay được lưu truyền trên đất Hà Nam:
Này nàng áo xanh
Này nàng áo tía
Này đê mười vía
Này kiếm năm làng
Này giáo ba thang
Này nàng trăm sắc
Này chàng đánh giặc...
Bài vè Bách Thần - Bách Nhân cùng với các bài vè địa dư khác kể cho người nghe hàng trăm địa danh, địa chỉ nổi tiếng của Hà Nam xưa.
b. Vè sinh hoạt
Đây là một bộ phận vè tương đối phong phú trong thể loại vè của Hà Nam, được đông đảo nhân dân trong vùng ưa thích và lưu truyền, sáng tác tới hàng nghìn câu mà đến nay chưa được sưu tầm hết. Trước hết, đó là những bài vè cây, vè lá kể về các loài cây, loài lá, mỗi loài lại tượng trưng cho một thân phận, một kiếp sống khác nhau, đưa đến cho người nghe, người kể vè những liên tưởng về chính cuộc đời của người dân lao động như các bài vè Tầm gửi, Bòng Bong, Mít, Mái (cây mây), Đa sung, Núc Nác, Bèo... Đó là các bài vè đại loại với những lối mở đầu:
Ve vẻ vè ve
Có ai nghèo ngặt
Như nhà Bòng Bong
Lá xác thân còng
Héo ha héo hắt
Hay như:
Ve vẻ vè ve
Tôi vè tôi kể
Về con nhà Bèo
Cái số đã nghèo
Lại đèo cái khổ
Và với cách kết thúc như:
Trách trời cắc cớ
Sao nỡ sinh chi
Phận bèo khốn khổ
Đó còn là các bài vè chim, vè cá kể về các loài chim, loài cá với nhiều tính cách khác nhau: khôn ngoan, ngu ngốc, anh hùng, hảo hán, tham lam, tàn ác, nịnh bợ... Các bài vè này cũng nhằm nói tới những loại người khác nhau trong xã hội. Ví như các bài vè về loài chim: Chim Le, Chim Trả, Chim Vạc, Cò, Cò Cộc, Chim Dẽ Giun, Cú, Chim Mồi, Quạ, Diều Hâu, Đềnh Đềnh...
Bài vè Chim Sâu:
Nhà chim thứ bậc dưới trên
Trăm loài trăm sự kể nên tình đầu
Trước là kể sự chim Sâu
Làm ăn lấm đầu, lấm mắt, lấm tai...
Hay các bài vè về loài cá: Vè cá Chuối, cá Thiểu.
Với lối kể nhẹ nhàng, ngắn gọn, dễ thuộc, dễ nhớ và với một lối phản ánh, mô tả rất đặc biệt bằng cách liên tưởng, so sánh với các loài chim, loài cá, những bài vè chim, vè cá hay vè cây, vè lá này đã có sức sống lâu bền trong đời sống văn hoá tinh thần người dân Hà Nam qua nhiều thế kỷ.
Như chúng ta đã biết, Hà Nam còn nổi tiếng với vùng văn hoá dân gian Liễu Đôi và trong kho tàng văn học dân gian vùng này, thể loại vè cũng chiếm một số lượng tác phẩm đáng kể. Thí dụ như các bài vè Chuyện xưa hội vật võ, Chín cô chưa chồng, Bà Bổi, Ông Thủ Hãng, Vè xã Lãi với các bài vè Xã Lãi hát ví, Xã Lãi bắt tà, Vè Quan Ngự làng Vĩ, Vè ông Tú Gòn, Vè Ký Lĩnh... Những bài vè này không chỉ lưu truyền ở vùng Liễu Đôi mà đã trở nên nổi tiếng khắp tỉnh Hà Nam. Nội dung các bài vè là sự phản ánh những sự việc, sự kiện đáng ghi nhớ xảy ra trong sinh hoạt đời sống thường ngày của người dân trong vùng.
Bài vè Chuyện xưa hội vật võ đã ghi lại sự kiện xảy ra trong ngày hội vật võ ở giai đoạn kháng chiến chống Nguyên-Mông đời Trần.
Với những dấu mốc thời gian, sự kiện rõ ràng, với lối kể mộc mạc không khoa trương, phóng đại, bài vè đã kể về một chàng trai kỳ lạ:
Nguyên là tướng trận
Vạch trời tức giận
Thất thế tan quân
Về hội tuyển dân
Quyết phen rửa hận
Chàng trai - vị tướng đã thay hình đổi dạng để đi tìm người tài giỏi trong hội vật võ Liễu Đôi để diệt trừ giặc Phạm Nhan.
Tục ngữ ở đất Liễu Đôi còn truyền câu:
Lồi thà lồi thồi như bà Bổi không bằng.
Câu tục ngữ này gắn với bài vè Bà Bổi đã kể về một mẫu người đảm đang, luôn tất tả bận rộn mang những nét tượng trưng cho hình ảnh người phụ nữ nông thôn xưa đảm đang của vùng đất Liễu Đôi nói riêng và Hà Nam nói chung:
Nào gà, nào chó, nào mèo
Bọn chúng nhung nhúc mà trèo lên nhau
Cho ăn xong bà mới lấy gàu
Ra đồng tát nước trắng đầu đồng Ngâu
Tát xong bà lại xoay trần
Vần bờ lớn, vần bờ bé, để lần tìm cua
Qua bài vè Bà Bổi ta bắt gặp người phụ nữ đảm, thì qua bài vè Ông Thủ Hãng ta lại gặp người đàn ông tài giỏi, xứng đáng là người vật võ Liễu Đôi lạc quan, hào hiệp và sẵn sàng trừ gian cứu nạn:
Bây giờ tôi kể lại luôn
Ông Hãng năm ấy vào Đuồn vật chơi
Ông vừa mới tới đến nơi
Xứ Đuồn liền cử ngay người địch nhau
Ông vừa quay trước quay sau
Bê ngay cái phản tám ông bầu ngồi trên...
Đặc biệt cho vùng Liễu Đôi có bài Vè Xã Lãi gồm một loạt các bài vè độc đáo là sáng tác của nhiều người về nhiều mặt sinh hoạt của một nhân vật đặc biệt, đó là ông Xã Lãi. Cho đến nay đã có đến gần 1.000 câu vè về Xã Lãi được sưu tầm. Và theo các cụ ở địa phương thì không thể ghi hết được các câu vè về Xã Lãi, vì “Vè Xã Lãi, rãi tự nhiên”, có nghĩa là vè sinh ra tự trời, rãi ra khắp trời”.
Nhân dân trong vùng rất yêu thích Vè Xã Lãi. Người ta kể Vè Xã Lãi trong các cuộc thi vè nối đêm qua các cuộc hội hè đình đám, lấy Vè Xã Lãi hát giao đấu để gây sức hấp dẫn cho cả đêm chèo và người ta còn lấy Vè Xã Lãi dựng thành tiết mục “hề chèo Xã Lãi”. Tục ngữ, ca dao, dân ca của địa phương có nhiều câu nhắc tới Vè Xã Lãi, chứng tỏ sức lưu truyền và vị trí của nó trong sinh hoạt văn hóa dân gian ở đây:
Ăn cơm đầu hè, nghe vè Xã Lãi
Cười kể Xã Lãi, cãi kể Tam Thiên.
Vè Xã Lãi gồm các phiến đoạn dài ngắn khác nhau như Xã Lãi hát ví, Xã Lãi bắt tà... với các thủ pháp khoa trương, phóng đại nhằm gây cười, mua vui và đặc biệt là để đả kích châm biếm bọn quan lại phong kiến, lên án cái ác, cái xấu xa và ca ngợi những con người lao động...
Vè Hà Nam còn ngợi ca những vị anh hùng của quê hương như bài vè Quan Ngự làng Vĩ, Ông Tú Gòn, Vè Ký Lĩnh...
Bài vè Quan Ngự làng Vĩ kể về viên Ngự sử Lê Văn Mai người làng Vĩ Khách, xã Liêm Túc, đậu tiến sĩ (?) làm quan thời Tự Đức triều Nguyễn. Đây là nhân vật đã đi vào cả tục ngữ, ca dao:
- Thần đồng làng Vĩ, kẻ sĩ làng Mai
- Ai lên Sấu, Vĩ thì lên
Xem ông quan Ngự, tài hiền Đinh Công
- Làng Vĩ có đường Thần Đồng
Có ông quan Ngự nổi cồng đánh Tây.
Bài vè kể rằng: ông Ngự Mai học giỏi lừng danh, thi đỗ và làm quan tại triều khi còn rất trẻ. Tây sang cướp nước ta, triều Nguyễn phải đầu hàng, ông Ngự bỏ quan về quê chiêu mộ quân sĩ, rèn gươm giáo, rồi cùng ông Đinh Công Tráng đánh giặc Tây cứu nước. Khi cuộc khởi nghĩa của Đinh Công Tráng thất bại, có người cho rằng ông Ngự Mai đã đem quân vào vùng núi đá Bồng Lạng tiếp tục đánh Tây và về sau không ai biết ông đi đâu nữa. Nhân dân trong vùng hết sức thương tiếc:
Ông Đinh Công thất cuộc
Ông Ngự Công về làng
Đào đất giấu gươm vàng
Đi vào vùng sơn ngự
Thời Tây, thời tác
Ai ai cũng ngơ ngác
Đinh Công đâu?
Mai Công đâu?
Bài vè ông Tú Gòn kể về Tú tài Lê Văn Tốn người làng Gòn nay là làng Truật, xã Liêm Sơn. Ông là người văn võ toàn tài, từng lừng danh ở Hội vật võ Liễu Đôi. Là người có nghĩa khí và giàu lòng yêu nước, ông Tú Gòn đã tụ tập bè bạn, chiêu mộ nghĩa quân, hưởng ứng phong trào Cần Vương, văn thân Hà Nam - Nam Định và cùng với nghĩa quân của ông Đinh Công Tráng đánh Tây trên cả một vùng rộng lớn từ Bồng Lạng ra Kẻ Non, rồi lên tận Phủ Lý, xuống tới Ý Yên.
Bài vè chủ yếu kể lại những hoạt động chiến đấu, những chiến công diệt Tây của Tú Gòn tại vùng xứ đạo Kẻ Non, (nay là làng Non, xã Thanh Lưu) với những hình ảnh lẫm liệt:
Ông Tú làng Gòn
Cầm cái giáo đỏ...
Thằng Tây đứng bên
Tú Gòn đâm chết
Giáo rút không ra
Tú vùng, Tứ chém
Năm thằng chết ba
Máu đổ oà oà
Như là vò thủng
Ca ngợi khí phách của Tú Gòn, bài vè đồng thời nói về cái chết thương tâm của ông cùng sự tiếc thương của mọi người dân trong vùng đối với vị anh hùng của mình:
Tính năm Tú mất
Tháng Chạp năm Mùi
Tổng mạc bùi ngùi
Đốt hương thờ ông Tú
Cùng một nội dung ca ngợi những vị anh hùng như trên, bài Vè Kỷ Lĩnh kể về ông Thiên Bộ Lĩnh người họ Đoàn ở Liễu Đôi, ông là người cùng thời và cũng là lớp người yêu nước chống Tây cùng với những Đinh Công Tráng, Ngự Mai, Tú Tốn... Bài vè đã miêu tả lại những sự kiện quan trọng trong đời Ký Lĩnh, một người có tài vật võ và đã đem sức khoẻ hơn người đó đi diệt trừ quân bất lương gian ác và tụ nghĩa để đánh Tây:
Ký Lĩnh tụ tập binh cơ
Một phen nổi trống phất cờ đánh Tây.
... Một tay Ký Lĩnh vung gươm
Chém bay cái sọ của thằng quan hai
Tây nào Tây ấy chạy dài...
c. Vè đả kích, tố cáo:
Vè Hà Nam còn lưu truyền những bài vè Vè cố Tây khuyến đạo, Vè lính tập, Vè bắt phu năm Kỷ Mão, Đề lại Kim Bảng, Vè Cựu Quảng... nhằm bày tỏ thái độ phản đối của nhân dân đối với việc truyền đạo của thực dân Pháp, đối với việc bắt phu bắt lính, và đối với tầng lớp đề lại làm tay sai cho Tây ở Hà Nam.
Vè cố Tây khuyến đạo đã vẽ nên hình ảnh những cố đạo Tây:
Cố Tây cao lớn làm sao
Cố Tây đi vào trẻ nhỏ đi ra
Trẻ hãi cố, trẻ tránh xa
Hễ mà cố đến, trẻ pha lối ngoài.
Vè lính tập vẽ nên hình ảnh những người lính Việt do Tây mộ, bắt để bổ sung vào quân đội của chúng:
Quan Tây bắt lính anh phải đi xa
Khi ở Hà Nội, khi ra Hải Phòng
Anh không nói ra thì đau đớn trong lòng
Vợ con có biết vân mòng là đâu...
Vè Bắt phu năm Kỷ Mão (1939) đã nói về cảnh khổ cực của người dân Hà Nam trong nạn bắt phu, bắt lính để phục vụ cho cuộc chiến tranh 1939-1945:
Tù và nó rúc tu tu
Quát hò, giục giã bắt phu nộp cùng
Làng nước nghe chuyện hãi hùng
Công việc bỏ hết, chạy vung chạy quàng.
Vè Đề lại Kim Bảng là một bài vè được lưu truyền hết sức rộng rãi ở Hà Nam cách đây khoảng 90 năm, nhằm đả kích, tố cáo một tay thông lại già là Nguyễn Cự và một tay thày cò tên là Nguyễn Liễu, cả hai tên này thông đồng với nhau để đục khoét dân lành:
Hà Nam Kim Bảng huyện thành
Có tên Nguyễn Cự đáng danh lại già
Thày tớ nó vốn dòng lão lại
Thông với nhau đơn kiện giấy khai
Kẻ trong đã có người ngoài
Bày mưu tính chước hại người lương dân.
Vè Đại Hoàng thế sự đã kể lại đủ mọi việc mà kỳ hào lý mục của một làng xã xưa bày đặt ra để bắt dân lành đóng góp, nhân đó bọn chúng “đục nước béo cò”.
Vè Cựu Quảng cho thấy chính trong cảnh nhiễu nhương của các quan lại làng xã xưa đã sản sinh ra những nhân vật như Cựu Quảng - phó lý làng Đại Hoàng, cùng thòi với những Bá Kiến, Lý Cường (nhân vật của Nam Cao).
... Đại Hoàng có một Cựu ta
Mặt người bụng chó, thói ma
Tên là Cựu Quảng thật là xấu thay.
Vè ở mùa là những lời than thân của người nông dân nghèo trong thân phận kẻ đi ở mùa, ở đợ - tình cảnh phổ biến của người dân Hà Nam khi xưa:
... Bảo nhau ta đến nhà giàu
Trình diện làm mướn theo trâu ở mùa
Hết cày rồi lại sang bừa
Một ngày một bữa cơm trưa ngoài đồng
Thân tôi vất vả hàn vi
Vì chưng tôi đói nên mới đi ở mùa!
Có thể nói, vè trong số các loại văn học dân gian của Hà Nam là một thể loại có số lượng khá lớn và nội dung phong phú. Nó chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân Hà Nam xưa, và ngày nay vè Hà Nam vẫn có một giá trị to lớn, là tài sản tinh thần quý báu của nhân dân toàn tỉnh.
Có một tác phẩm thơ ca lớn của văn học dân gian Hà Nam vẫn được xếp vào thể loại vè, đó là tác phẩm Hoàn vương ca tích. Song xét về mặt nội dung cũng như dung lượng phản ánh của tác phẩm này, có lẽ nên gọi đó là một tác phẩm truyện thơ. Đây là một sản phẩm khá độc đáo chỉ có ở văn học dân gian Hà Nam, là bài ca dài kể về sự tích vua Lê Hoàn với hơn một ngàn câu thơ. Cái quý của tác phẩm là đã miêu tả, kể lại một cách khá chân thực về một thời kỳ lịch sử cách xa chúng ta hơn nghìn năm. Nhiều sự việc, nhiều biến cố của tác phẩm đã lý giải khá minh bạch những vấn đề của lịch sử. Một tác phẩm có giá trị như Hoàn vương ca tích rất cần được xem xét nghiên cứu kỹ thêm trong thời gian tới.
III. NGỤ NGÔN
Truyện ngụ ngôn cũng là một thể loại phát triển của văn học dân gian Hà Nam.
Xét về mặt kết cấu và dung lượng, truyện ngụ ngôn có kết cấu và dung lượng ngắn và gọn hơn so với truyện cổ tích; xét về mặt thể văn, thì truyện cổ tích, truyện cười hay truyền thuyết thường được kể bằng văn xuôi còn ở ngụ ngôn thì có khi truyện được kể bằng văn xuôi, lại có khi được kể bằng văn vần. Truyện ngụ ngôn của Hà Nam, tập trung đậm đặc nhất là ở vùng Liễu Đôi (huyện Thanh Liêm), đa số là những truyện ngụ ngôn dài, đặc biệt hầu như hoàn toàn được kể bằng văn vần. Xét về hệ thống nhân vật ngụ ngôn Hà Nam thường có nhân vật là những con vật. Đó là cả một thế giới loài vật vô cùng sinh động như: Chèo Bẻo, Kiến, Nhện Tơ, Nàng Ngóe Cốm, Đĩ Cua, Diện Trai thục nữ, Thày đồ ếch, vợ chồng Cua Rốc, cái Niễng, cái Chuối, ả Cò... Hệ thống những nhân vật này tượng trưng cho nhiều lớp người khác nhau ở ngoài cuộc đời thực, mang dáng dấp, phong cách, nếp cảm, nếp nghĩ của người dân đồng chiêm nước trũng Hà Nam.
Ý tưởng toát lên từ toàn bộ những câu chuyện ngụ ngôn của Hà Nam là nhằm bộc lộ tư tưởng, truyền bá kinh nghiệm, hoặc răn dạy đạo lý, ca ngợi con người một cách bóng gió, gián tiếp, mượn vật để nói người. Hai tiếng ngụ ngôn: Ngụ nghĩa là gá gửi, ngôn nghĩa là lời nói. Khi “lời nói có ngụ ý” được thay bằng “câu chuyện có ngụ ý” thì ta sẽ có được một câu chuyện ngụ ngôn. Vì vậy có thể khẳng định rằng truyện ngụ ngôn Hà Nam đã là những truyện ngụ ngôn đích thực cả về nghĩa đen và nghĩa bóng.
Truyện ngụ ngôn Hà Nam thể hiện tài năng, trí tuệ, tâm hồn đa dạng, phong phú và sức tưởng tượng khá sắc sảo của người dân lao động vùng đất này.
Câu chuyện Chèo bẻo đánh quạ với ba trăm rưỡi câu thơ viết về thế giới loài chim, viết về cuộc đấu tranh sinh tồn của chúng đã đem đến cho người kể người nghe những suy nghĩ, những nhận xét, những liên tưởng về cuộc đấu tranh trong xã hội loài người. Thế giới loài chim đã được mô tả với những kẻ hung bạo, hiểm ác như Quạ, hèn nhát như Bồ Cu, ích kỷ như Chim Ngói, khiếp nhược như Vạc, trốn tránh trách nhiệm như Lềnh Đềnh. Nhưng trong thế giới ấy cũng lại có những Sáo Sậu, Vàng Anh, Chìa Vôi, Bạc Má tốt bụng, yêu thương, nhân hậu và đoàn kết, lại có cả những tấm gương kiên cường bền bỉ như Chèo Bẻo. Tất cả đã hiệp sức để chống lại kẻ ác, kẻ bất nhân hiểm độc như Quạ.
Truyện ngụ ngôn Hà Nam, như truyện Kiến chạy lụt, cho ta thấy cảnh lụt lội đặc trưng của vùng đồng nước:
Kiến con tha cám đầy đàng
Kiến mẹ lăn lóc lộn quàng lộn xiên
Nước đang ỳ ọp dâng lên
Vỡ đê ì ạch ở miền nào đây?
Cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, giữa tốt và xấu, giữa chính nghĩa và gian tà cũng diễn ra trong truyện Kiến chạy lụt khi họ hàng nhà Kiến đồng lòng chống lại Rết độc ác, lừa lọc:
Trăm họ nhà Kiến rùng rùng
Bâu vào người Rết để cùng nghiến răng
Rết co, Rết quãy, Rết quăng
Họ hàng nhà Kiến hàm răng nghiến đều
Kiến bâu mỗi lúc một nhiều
Vừa giãy vừa chạy Rết liều thoát thân
Hoặc như trong câu chuyện Võ Tầm Sét nhân vật Cá Rô Tầm Sét đã anh dũng chiến đấu đến cùng để chống lại Rái Cá hung ác, bảo vệ cuộc sống cho muôn loài cá dưới nước. Hình ảnh Cá Rô Tầm Sét được khắc họa trong câu chuyện như hình ảnh của một người anh hùng:
Tầm Sét luyện tập chẳng ngơi
Lăn ngang, lách dọc cho người dẻo dang
Với ý chí quật cường, Cá Rô Tầm Sét đã tiêu diệt được Rái Cá, cứu nhân độ thế.
Truyện Nhện Tơ phất ngọn cờ đào mô tả cuộc chiến đấu của Nhện Tơ chống lại tội ác, ngục tù giam hãm của Tò Vò.
Nội dung của những câu chuyện ngụ ngôn trên nói về thế giới loài vật nhưng đồng thời cũng phảng phất hình bóng của những cuộc khởi nghĩa nông dân dưới thời phong kiến suy tàn.
Hình ảnh của Nhện Tơ cũng giống như hình ảnh của Cá Rô Tầm Sét. Trăm ngày nung luyệt đã quen
Nhện Tơ đủ sức đứng lên báo thù
Một ngày địa ngục âm u
Bỗng nhiên nổi gió ù ù ghê thay
Nhện vàng Nhện đỏ một bầy
Nhện Tơ liền mới phất ngay cờ đào
Ngụ ngôn Hà Nam cũng đề cập tới hình ảnh người bình dân bé nhỏ bình thường, phải chịu sự ức hiếp của những kẻ cường quyền thông qua hình ảnh các con vật yếu đuối như Ngoé Cốm trong Truyện oan của nàng Ngoé Cốm. Những lệ làng, hủ tục, những cảnh nhiễu nhương của tầng lớp hào lý, quan lại xưa được diễn tả thật sinh động qua cảnh làng phạt vạ nàng Ngoé Cốm, đánh đập tàn nhẫn và đuổi nàng ra khỏi làng khi Ngoé Cốm vì bị Ếch ộp ức hiếp mà mang thai:
Lôi con Ngoé Côm bụng trương
Đánh cho một trận, rung chiêng gọi làng
Thôi thì Ngoé Cốm tan hoang
Áo quần tơi tả, ruột gan rối bời
Rồi cảnh lý dịch trong làng thật là gớm ghiếc khi thi nhau ăn phạt vạ:
Lão ộp tha thướt áo khăn
Uống rồi lại nhắm lại ăn gan gà
Câu chuyện được tiếp diễn khi kể về việc Ngoé Sọc em trai của Ngoé Cốm phất cờ chiêu binh để trả thù Ếch ộp, giải oan cho chị Ngoé Cốm. Ngoé Sọc hảo hán, nhưng trẻ người non dạ, vì cả tin nên đã bị sa vào cái bẫy nham hiểm lừa lọc của Ếch ộp và Chão Chuộc. Kết cục Ngoé Sọc đã phải lao đầu vào đá tự vẫn. Câu chuyện như là một bài học cảnh báo cho sự mất cảnh giác, một kinh nghiệm thất bại của một cuộc khởi nghĩa nông dân manh nha và tự phát.
Những nhân vật bé nhỏ đó còn là Đĩ Cua trong câu chuyện ngụ ngôn Đĩ Cua hiếu nghĩa. Vì mẹ già bệnh nặng Đĩ Cua phải vượt đường xa lên Đồng Giang xứ Lạng lấy thuốc thần về để cứu mẹ. Trên đường về Đĩ Cua đã gặp bao gian lao, bao kẻ lừa lọc như mụ Ếch, lão Chuột Cống, ả Sít. Rồi mẹ chết, Đĩ Cua bị sa cơ, bị quận công Cua Đá ép duyên. Nhưng Đĩ Cua đã gặp được chàng Cua Gạch, một tay “sức cợ can trường”, và cùng nhau phất cờ chống lại Cua Đá. Trải bao nguy hiểm, khó khăn, cuối cùng giang sơn đã về một mối trong tay Cua Gạch:
Lưỡi gươm chàng mới chém ngang
Cua Đá bắn nảy hai càng hai thân
Quân binh tứ phía rầm rầm
Kiệu chàng Cua Gạch ầm ầm tung hô
Nhiều nhân vật nhỏ bé, nghèo khổ khác cũng được mô tả, ca ngợi... tượng trưng cho những tính cách sống hào hiệp giàu nghĩa khí, sẵn sàng xả thân trừ ác, cứu nạn. Đó là nhân vật Cóc trong truyện ngụ ngôn Cóc cứu nạn, Cóc đã xả thân mình, không ngại hiểm nguy để cứu họ hàng nhà Ngoé trước sự tấn công của Rắn Hổ Mang:
Cóc rằng quyết phải giao phong
Đã vì nghĩa cả, quyết không sợ gì
Hổ Mang phun độc phì phì
Phồng mang trợn mắt uy nghi rung đầu
Cóc kia há miệng nghinh chầu
Phóng vào đợp gọn cái đầu Hổ Mang
Đó còn là nhân vật Cua trong Cầy và Cua đã biết dùng ý chí để đứng lên tự bảo vệ, quyết tâm lấy yếu chống mạnh, lấy nhỏ địch lớn để dạy cho những kẻ quen thói ăn hiếp như loài Cầy một bài học nhớ đời:
Cua rằng: “Cái nghĩa ở đời
Cậy to hiếp nhỏ, tội trời chẳng tha...”
Đấy cũng là gia đình Chuột Chù lương thiện bị oan khổ do nạn “cướp ngày” trong Chuột Chù bị nạn. Câu chuyện là một tiếng nói tố cáo mạnh mẽ và sâu sắc chế độ quan lại thối nát cũ và là lời bênh vực, đồng tình, xót thương cho những số phận dân đen nghèo khổ qua sự mô tả chân thực và cảm động cảnh oan khuất của Chuột Chù do bị Chuột Cống hãm hại.
Truyện ngụ ngôn Hà Nam còn lên tiếng tố cáo mạnh mẽ những nhân vật thuộc tầng lớp quan lại hám danh, hám lợi, tham lam, nham hiểm và độc ác thông qua những hình ảnh điển hình tiêu biểu như ông Cốc quận công trong truyện ông Cốc quận công, vương công Trắm trong Tôm mừng thọ vương công Trắm, Cầy trong Cầy và Cua, Rắn trong Cái Rắn tìm mồi, Quạ trong Võ chị ả Cò. Người dân Hà Nam đã đặt ra những câu chuyện này để tỏ thái độ căm ghét, khinh bỉ bọn quan lại, quý tộc phong kiến tham lam, phê phán bọn người xu phụ, nịnh bợ, chê bai đả kích bọn vô liêm sỉ, thiếu đạo đức, có lối sống thấp hèn, thực dụng...
Ngoài ra, ngụ ngôn Hà Nam còn có một bộ phận lớn các câu chuyện kể ghi lại những phong tục tập quán, những lối sống, cách sinh hoạt truyền thống tốt đẹp của địa phương, đồng thời phê phán những thói xấu, những hủ tục có ảnh hưởng không tốt đến thuần phong mỹ tục của quê hương. Đó là câu chuyện về Diện Trai thục nữ, nàng Diện Trai:
Xuân xanh mười tám, đôi mươi
Tiếng thơm đã nức, nét người thướt tha
nàng đã cho những kẻ trai lơ (như Cò Ca) một bài học:
Nhìn quanh chỉ có một ta
Cò liền mới mổ để mà ghẹo chơi
Không ngờ Trai khép ngay thôi
... Cò Ca cố rút mỏ ra
Càng giãy thì lại càng đà chặt hơn
Và cho cả những kẻ mũ cao áo dài (như quan Quạ) một lời cảnh cáo:
Quan Quạ mũ áo loay hoay
Chết thật! Quan cũng thế này nữa dân?
Quạ giãy đôi cánh ầm ầm
Càng giãy Trai lại càng găm chặt vào.
Nàng Diện Trai đã là một tấm gương sáng:
Tin đồn xa, tin lại đồn gần
Diện Trai thục nữ muôn phần chính chuyên.
Câu chuyện về Vợ chồng Cua Rốc cũng nói lên tình cảm chung thuỷ gắn bó của đôi vợ chồng Cua, sống với nhau có ân nghĩa và giàu tình thương. Đó chính là cách sống, là đạo lý, đạo đức của những đôi vợ chồng mẫu mực, đáng ngợi ca xưa nay.
Câu chuyện về Cá Chuối dạy con cũng hàm ý nói về những nhận thức đúng đắn trong việc nuôi dạy con cái của người dân Hà Nam nói riêng và người Việt Nam nói chung, “dạy con từ thuở còn thơ, dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về”. Hình ảnh cá Chuối mẹ nuôi đàn con tận tụy, không tiếc công tiếc sức, nuông chiều chăm bẵm con cũng là hình ảnh của bao bà mẹ nông thôn xưa. Song vì quá nuông chiều con mà đàn con đã trở nên vô tình và bất hiếu, người mẹ Chuối phải chịu hậu quả. Câu chuyện thật cảm động và cũng xót xa, giúp người nghe, người kể rút ra được bài học sâu sắc.
Những cảnh Thầy đồ Ếch, Đám cưới Chuột, Chuyện cái Niễng làm thuê... rất đặc trưng cho xã hội xưa đã được ngụ ngôn Hà Nam đặc tả thật là sinh động. Truyện vừa nhằm kể lại, vừa nhằm phê phán những người, những cảnh còn lạc hậu, những hủ tục còn đè nặng lên thân phận người dân. Đồng thời truyện hướng tới những suy nghĩ tích cực, vươn tới những cảnh sống mới, những ước mơ hạnh phúc chung cho tất cả mọi người.
Ngụ ngôn Hà Nam xứng đáng là một mảng di sản quý giá trong kho tàng văn học dân gian Hà Nam.
Truyện ngụ ngôn Hà Nam thể hiện tài năng, trí tuệ tâm hồn văn học khá sắc sảo của người dân lao động vùng đất này. Qua từng câu chuyện, cả thế giới đã hiện ra sinh động với những nhân vật cua, cò, trai, cá, ong, kiến, ốc, cóc, ngóe... Đó cũng chính là con người, là tình đời, là cuộc sống thực. Đó có thể là những cảnh kể về “niềm vui cưới xin, trong Đám cưới chuột; là niềm vui sinh nở, qua đám mừng vợ Chèo Bẻo ở cữ, trong truyện Chèo Bẻo đánh Quạ; hay là nỗi đau mất con trong truyện Cái Rắn tìm mồi, là nỗi buồn héo hắt vì bệnh tật của mẹ Cua trong truyện Đĩ Cua hiếu nghĩa...” (Khảo sát văn hóa truyền thống Liễu Đôi).
Những con cóc, con cua, con rô, con cá... trong hàng loạt truyện ngụ ngôn của đất Hà Nam đều tượng trưng cho những người bình dân, đời sống vất vả quanh năm, nhưng lại chính là những con người rất giàu nhân nghĩa, biết xả thân vì nghĩa lớn, biết bênh vực kẻ yếu và những người nghèo khó. Điều này phản ánh truyền thống đạo đức của nhân dân ta “lá lành đùm lá rách”, phản ánh tình làng nghĩa xóm lâu đời của nông thôn Việt Nam xưa. Những câu chuyện ngụ ngôn này của Hà Nam, chắc chắn cũng tuân theo quy luật phát sinh, phát triển chung của thể loại truyện ngụ ngôn Việt Nam ra đời chủ yếu vào thời kỳ phong kiến suy tàn, thời kỳ mà xã hội đầy rẫy bất công cùng những điều oan ức và sự xuống cấp của đạo đức xã hội. Ngụ ngôn của Hà Nam đã thể hiện một cách rõ nét nhất tinh thần phê phán, tinh thần tố cáo, phản đối cái ác, cái xấu, cái bất công của xã hội đương thời.
IV. TRUYỆN CỔ HÀ NAM
Trong kho tàng văn học dân gian Hà Nam, thể loại truyện cổ (truyền thuyết, truyện cổ tích) có tới hàng trăm bản kể với những truyện khá độc đáo, có tính hình tượng nghệ thuật cao, chất trữ tình sâu đậm và có nội dung ca ngợi, khắc họa tính cách, đặc trưng của nhân dân Hà Nam.
Có những truyện cổ dân gian của Hà Nam thuộc dạng những truyền thuyết giải thích sự ra đời của những hội lễ, những phong tục đặc sắc của địa phương. Đó là các truyện như: Pho tượng trôi, Sự tích Thánh Tiên, Truyện chàng trai họ Đoàn... Truyện Pho tượng trôi có nội dung tóm tắt như sau:
“Truyện rằng xa xưa trẻ chăn trâu vùng Liễu Đôi, Thanh Liêm vớt được trên cánh đồng chiêm trũng quê hương pho tượng có dáng hình một đô vật sắp vào “tay tư”. Thấy hay hay, lũ trẻ xúm vào vật nhau với pho tượng. Nhưng tượng chỉ có một ông, nên chúng xoay ra vật nhau cho ông tượng xem. Vật rồi thì sức khỏe được tăng lên gấp bội. Người lớn nghe truyện, thử vật xem sao, quả nhiên thấy ứng nghiệm. Dân Liễu Đôi bèn thờ ông tượng này và hàng năm mở hội vật võ. Hội bắt đầu từ đấy”.
Câu chuyện trên nhằm giải thích Hội vật võ Liễu Đôi không phải là một hội đua tài đoạt giải như những hội hè thường thấy, mà đây chính là một hội truyền thống mà điểm xuất phát của nó  là từ lịch sử dựng nước và giữ nước oanh liệt. Truyện đề cao Hội vật võ Liễu Đôi là một tục lệ tiêu biểu, là trường rèn luyện sức khỏe, ý chí kiên cường, mạnh mẽ cho mọi thế hệ, cũng nhằm gây nuôi, bảo tồn một truyền thống văn hóa cao đẹp của quê hương.
Truyện Sự tích Thánh Tiên có hai dị bản như sau:
Truyện thứ nhất:
“Ngài Thánh Tiên được trời cho gươm báu, Ngài vốn rất mê võ vật nên hàng năm cứ mỗi mùa xuân đến Ngài lại mang gươm báu ra múa cho lửa bốc ngút trời, báo hiệu cho bốn phương về Liễu Đôi vui vật võ. Đất nước có giặc ngoại xâm từ phương Bắc kéo tới, Ngài dựng cờ cùng trăm họ mang gươm đi đánh giặc. Giặc tan, đất nước thanh bình, Ngài xuất trần. Cũng đêm Ngài xuất trần, ở cánh Nương Cửi (thuộc đất Liễu Đôi, nay là nơi đóng dóng của Hội vật võ) có một ngọn lửa lạ bốc ngút trời. Người ta ra đó xem thì thấy một thanh gươm đang phát hỏa. Biết là gươm Ngài gửi lại cho con cháu sau này đánh giặc, dân Liễu Đôi rước về thờ, và hàng năm mở Hội vật võ kỷ niệm Ngài gọi là Hội Thánh Tiên”.
Truyện thứ hai:
“Ở cánh Nương Cửi, một hôm bỗng có ngọn lửa lạ bốc ngút trời. Người ta ra đó xem thì thấy có một thanh gươm báu đang phát hỏa. Lửa tắt, trai tài gái giỏi cả vùng không ai nhấc nổi gươm. Bấy giờ ở Liễu Đôi có chàng trai họ Đoàn (có người nói là họ Đào) và cô gái họ Bùi là hai người có tài vật võ nhấc bổng gươm lên được.
Hai người kết thành lứa đôi. Giặc Tàu kéo sang xâm lăng đất nước ta. Hai người cùng ra quân đánh giặc, và đánh thắng nhiều trận. Nhưng rồi trong một trận, chàng bị tàn hồn quân xâm lược hóa thành “con quỷ đỏ mỏ” bay che trước mặt nên bị trúng giáo giặc mà ngã ngựa hy sinh. Nữ tướng họ Bùi cũng uất lên mà chết. Dân nhớ ơn tôn chàng là Thánh và nàng là Tiên, hàng năm mở hội vật võ kỷ niệm, gọi là Hội Thánh Tiên”.
Nội dung hai truyện tuy có khác nhau chút ít, nhưng đều xoay quanh câu chuyện về gươm báu và ngọn lửa thiêng ở đất Nương Cửi, nói về Thánh Tiên và nữ tướng họ Bùi đánh giặc ngoại xâm, việc Thánh Tiên thoát trần và hy sinh nhằm giải thích về nguyên nhân sinh ra Hội vật võ truyền thống Liễu Đôi.
Truyện Chàng trai họ Đoàn kể về nhân vật là chàng trai Liễu Đôi đầy chí khí, khát khao có được vũ khí để giết giặc bảo vệ đất nước, ở truyện Chàng trai họ Đoàn thanh gươm với ngọn lửa thiêng, lại thêm cả tấm khăn đào xuất hiện rực rỡ và đúng vào lúc có giặc phương Bắc. Và cũng ở truyện này, khu Nương Cửi đã trở thành khu đất Thánh, vì gươm thiêng, lửa lạ xuất hiện ở đấy và còn vì nó là mảnh đất màu nhiệm, khi lấy đất ấy xoa lên người thì vết thương liền miệng, máu ngừng chảy, gươm giáo của giặc không sao chạm được vào người.
Hình tượng chàng trai họ Đoàn trong truyện là hết sức bi hùng đượm màu sắc trữ tình sinh động. Nhân dân ở đây vốn yêu cái đẹp, hướng về cái đẹp nên toàn bộ nội dung câu chuyện Chàng trai họ Đoàn là nhằm gửi gắm tình cảm yêu quý cùng lòng tự tôn, tự hào của nhân dân Hà Nam về quê hương, về những người con trai, con gái của quê hương mình. Với óc sáng tạo tuyệt vời, dân gian đã tô điểm nên những hình tượng thật là lung linh, đẹp đẽ.
Trong kho tàng truyện cổ dân gian Hà Nam còn có nhiều câu chuyện hấp dẫn và lý thú khác. Đó là các truyện Truyện nàng Vú Thúng, Nàng Trăm sắc, Nàng hát làm quay muôn giáo, Truyện đống Giải (Hay là Sự tích đống chải đầu), Truyện Hồ Giải Yếm, Truyện Bà Áo the, Truyện ông Mổ bụng, Truyện ông Rút sườn, Truyện đánh giặc bằng cái móng tay, Truyện người đơm đó được gươm vàng, Truyện cánh tay thần chỉ gươm mười thước, Truyện ông thần Đổ, Truyện mái tóc biết khóc biết cười, Truyện may áo cho chồng bằng hơi thở ấm, Truyện cái khiên, Truyện ông Trạng Vật, Truyện ông gác cổng, Truyện ông Tía, Truyện cầu làng Sủi, Truyện ông Đô mười vía, Truyện ông đốt đuốc, Truyện người mài gươm, Truyện ông Nhấc bổng, Truyện cái đấu, Truyện ông Cào gò đống, Truyện bà Khổng Ôn, Truyện chàng đoạt dao của ngài Bắc Đẩu, Truyện Điểu Ma Vương... Những câu chuyện này đã tôn thêm giá trị cho văn học dân gian Hà Nam với những nội dung yêu nước, anh hùng. Nhiều nhân vật của những câu chuyện này như nàng Vú Thúng, nàng Trăm sắc, bà Áo The, bà chúa Binh, ông Thở gió, ông Mổ bụng, ông Rút sườn, ông Đốt đuốc, ông Nhấc bổng... đều là những con người yêu nước quật cường, vì đất nước đứng lên và trở thành những nhân vật anh hùng, nữ kiệt.
26/11/2019
Theo https://baohanam.com.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Thơ viết cho ai

Thơ viết cho ai? Trước tiên, nhà thơ viết cho chính anh ta. Theo kiểu nói của Đức Phật, tôi là bằng hữu của chính tôi. Trong con người của...