Thứ Tư, 12 tháng 2, 2020

Địa chí Hà Nam 9

Địa chí Hà Nam 9
Chương XXXI
- Có Đất - Tổ quốc che chở thì không kẻ thù nào thắng nổi. Rời khỏi Đất - Tổ quốc là nguy hiểm cho tính mạng ngay.
- Vị tướng họ Đoàn, do sơ suất, chỉ để mất đi một chút Đất - Tổ quốc trên thân mình đã đến nỗi hy sinh!
- Nhưng hy sinh rồi, đôi mắt căm thù, cảnh giác, vẫn cứ trừng trừng nhìn
về hướng Bắc. Nhân dân Liễu Đôi, chiều theo ý muốn của vị tướng ấy, đã xây dựng đền thờ ông, cửa chính nhìn về hướng Bắc! Chết rồi, mà ông vẫn luôn luôn muốn nhắn nhủ dân ta phải cảnh giác với quân thù từ hướng ấy. Những lời nhắc  nhủ từ xa xưa thuở trước, ngày nay vẫn có ý nghĩa sâu sắc biết bao!
Hay Truyện ông Mổ bụng lại kể như sau:
- Chỉ một con người có binh thư, binh pháp hay, giỏi, cũng không thể thắng giặc được.
- Phải làm cho binh thư, binh pháp ấy đi vào trăm họ các dân tộc Việt Nam, mới tạo ra được sức mạnh trăm trận trăm thắng.
- Ông đã tự mổ bụng có chứa binh thư, binh pháp của mình, chia chung cho tất cả mọi người. Chia đến cuối cùng, thì ông anh dũng bỏ mình vì đại nghĩa.
Truyện Nàng Trăm sắc đã kể về Nàng Trăm sắc khi bị lũ giặc Ngô, do tranh nhau quyết liệt người con gái đẹp Việt Nam, không đứa nào chịu đứa nào, chúng đã băm nàng ra làm trăm mảnh. Lạ thay từ mỗi mảnh thịt xương “căm thù biến thành sức mạnh ghê gớm” của người con gái đẹp ấy đã hóa thành trăm ngàn chiến sĩ vung gươm diệt thù! Như vậy, khi còn sống, cô là người con gái rất đẹp của đất đồng chiêm. Đến lúc bị giặc băm nát thân thể, thì từng mảnh thịt xương ngọc ngà của cô được gieo xuống đồng nước quê nhà, lại có sức nhiệm màu, biến thành vô vàn chiến sĩ cưỡi sóng đồng chiêm, xông lên dũng mãnh diệt tan tành quân giặc. Truyện này, ngoài môtip “căm thù biến thành sức mạnh”, cũng có người hiểu thêm về “tinh thần xả thân vì quê hương, đất nước”, với sức tưởng tượng văn học thật sinh động, hào hùng, có thể đưa vào thơ, nhạc, múa... cũng rất đắt.
Truyện Nàng Vú Thúng kể lại việc hàng trăm vạn hùng binh của Tổ quốc Việt Nam đều do bà mẹ Việt Nam sinh ra và được dòng sữa trong lành của vú mẹ nuôi clưỡng mau khôn lớn, do vậy mà đất nước ta không bao giờ thiếu anh hùng đánh giặc. Đồng thời với quân đông là nhiều tướng giỏi - anh hùng thì quân sĩ mới chiến đấu được. Câu chuyện thể hiện mối quan hệ tất yếu về bà mẹ, về tướng giỏi, về đội quân anh hùng.
Tựu chung lại, truyện cổ của Hà Nam thể hiện những nội dung cơ bản sau:
1. Truyện cổ thể hiện tinh thần thượng võ của nhân dân Hà Nam được gắn bó với truyền thống anh hùng của dân tộc
Truyện cổ Hà Nam và đặc biệt là truyện cổ vùng Liễu Đôi đã thể hiện sâu sắc tinh thần thượng võ, lòng say mê sới vật, côn, kiếm... của nhân dân nơi này. Vật võ đối với nhân dân như một nhu cầu tinh thần và thể xác, nó hết sức thiêng liêng như phép màu và cũng rất gần gũi như cơm ăn nước uống. Câu chuyện Truyện ông Mổ bụng tiêu biểu cho việc ngợi ca vật võ, thường leo lên cây cao nhìn vào các lò vật để học mót, học lỏm đến nỗi mê mải có lần ngã suýt chết. Chàng đã được thần linh ban cho quyển sách võ ở trong bụng, chàng đau bụng và tự mổ bụng mình ra để lấy quyển sách võ linh thiêng. Nhờ có sách, nhờ chăm chỉ luyện tập, chàng đã trở thành một người thao lược toàn tài, nức tiếng gần xa. Học trò tới học võ của chàng có tới hàng nghìn. Nhờ đó mà khi đất nước lâm nguy, giặc giã xâm phạm bờ cõi, nhân dân trong vùng đã dũng cảm đứng ra chống giặc. Chàng trai đã lại tự mổ bụng mình lấy sách võ truyền sức mạnh cho mọi người và cuối cùng đã hy sinh anh dũng, chàng được nhân dân trong vùng thờ phụng mãi mãi.
Một câu chuyện khác cũng chung một chủ đề như trên, đó là Truyện ông Rút sườn kể về nhân vật Bạch Thổn, một đô vật đã hạ gục nhiều người, có sức mạnh phi thường. Tài vật võ hơn người mà chàng có được cũng chính là do chàng có phép màu rút được sườn ra để lấy hơi quật ngã đối phương và chàng trai đã chia những chiếc xương sườn ấy ra cho mọi người để giúp đỡ họ có thêm sức mạnh để chống giặc cứu nước.
Những câu chuyện có chung một chủ đề ca ngợi tinh thần thượng võ như trên là hết sức phổ biến trong kho tàng truyện cổ Hà Nam. Đó là Truyện đánh giặc bằng ngón tay cái, kể về chàng trai đất Liễu Đôi ham mê vật võ, được tiên ông cho móng tay dài, chàng đã dùng móng tay ấy búng ra lửa sét để diệt giặc cứu nước. Đó còn là Truyện người đơm đó được móng tay vàng, kể vể chàng trai làm nghề đơm đó được thần cho thanh gươm vàng và nhờ tài võ nghệ, chàng đã đem gươm vàng đi đánh tan quân giặc. Hay như Truyện cánh tay thần chỉ gươm mười thước, kể về sự tích vị tướng nhờ có tài thao lược và nhờ được ban cho cánh tay thần là lưỡi gươm mười thước nên có tài luyện binh khiển tướng. Nơi ông trao lưỡi kiếm thần gửi lại cho dân năm thôn đã trở nên nổi tiếng về truyền thống thượng võ, đánh giặc cứu nước... Tinh thần thượng võ đặc biệt thể hiện ở câu chuyện kể về Truyện ông trạng vật “Chàng đóng khố đỏ, mặt vuông cằm rộng, cổ đỏ như cổ gà chọi, bước đi sụt cả đất. Chàng cất tiếng réo gọi ông Địa làm kinh động cả một vùng”. Chàng trai ấy đã diệt hết yêu ma quỷ quái giúp yên thôn làng, rồi lại đem hết sức lực truyền dạy võ nghệ cho mọi người. Hội vật võ mở ra khắp nơi, và chàng là người vô địch, nên được gọi là Trạng Vật. Khi đất nước có giặc ngoại xâm, Trạng Vật mang gươm đi cứu nước. Người Liễu Đôi muôn đời nay đã lập đền thờ Trạng Vật... Tương tự như vậy, những truyện như Truyện đô mười vía, Truyện ông trạng đốt đuốc, truyện ông nhấc bổng, truyện người mài gươm... đều phản ánh tinh thần thượng võ của người dân Hà Nam xưa.
2. Truyện cổ thể hiện tinh thần yêu nước, truyền thống chống giặc ngoại xâm của nhân dân Hà Nam
Kho tàng truyện cổ Hà Nam còn thể hiện một nội dung sâu sắc và cơ bản khác nữa là tinh thần yêu nước nồng nàn và truyền thống chống giặc ngoại xâm quật cường của người dân Hà Nam. Trong số lượng truyện đã được sưu tầm, thì những truyện phản ánh nội dung này đã chiếm một vị trí đáng kể. Có thể nói ở bất kỳ câu chuyện nào được lưu truyền ở vùng này thì vấn đề giữ nước và chống giặc xâm lược cũng luôn là nội dung cơ bản.
Trước hết, đó là những câu chuyện kể về những con người thiết tha bảo vệ cuộc sống bình yên cho dân, cho nước. Họ là những tấm gương anh hùng được người đời luôn luôn ghi nhớ như: Chàng đoạt dao trong Truyện chàng Đoạt dao của ngài Bắc Đẩu, bà Khổng Ôn trong Truyện bà Khổng Ôn, ông Cào gò đống trong Truyện ông Cào gò đống... Bằng chính sức lực của mình, các nhân vật đã hoặc là chiến đấu với Thần Bắc Đẩu để giành tuổi thọ cho con người, hoặc là cứu loài người khỏi nạn đói, nạn lũ lụt. Họ mang tầm vóc và vai trò của những nhân vật thần thoại kỳ vĩ, lớn lao, đồng thời cũng rất gần gũi với con người.
Ngoài ra là rất nhiều câu chuyện mà nội dung, chủ đề chủ yếu tập trung vào vấn đề chống giặc xâm lược, một vấn đề xuyên suốt lịch sử đất nước ta. Đó là Truyện mái tóc biết khóc biết cười, Truyện may áo cho chồng bằng hơi thở ấm, Truyện cái khiên, Truyện chàng trai họ Đoàn, Truyện nàng vú Thúng, Truyện nàng trăm sắc, Truyện nàng nuôi con ở trong bụng ngọc, Truyện nàng hát hay làm quay muôn giáo... Các nhân vật trong truyện, dù là nam hay nữ, đều thể hiện tinh thần chống giặc ngoại xâm quật cường. Nàng Vú Thúng có sức vóc to lớn lạ thường đã rạch ngực mình cho vô số quân binh từ đó nhảy ra để diệt giặc. Nàng Trăm sắc với nhan sắc tuyệt vời đã khiến cho quân giặc chém giết lẫn nhau, còn xác nàng khi bị giặc chém nát thì lại biến thành đội quân hàng nghìn thiếu nữ cầm giáo xông lên giết giặc. Nàng hát hay dùng giọng hát của mình làm mê mệt quân giặc và làm rã rời ý chí của chúng. Nàng Áo the đã đứng lên cùng chị em kéo cờ nghĩa chống giặc, những chiếc áo the của họ đã hóa thành những cái túi thắt chặt để nhốt quân giặc... Còn các chàng trai như Chàng trai họ Đoàn có sức vóc lạ lùng, mình cao bẩy thước, vai rộng, tiếng nói vang như sấm thì đã đem sức mình ra để đánh tan giặc giữ thanh bình cho đất nước. Chàng trai trong truyện Hồ giải yếm lại gá nghĩa cùng cô gái mồ côi có sức mạnh thần kỳ nhờ yếm thần để cùng nhau đi đánh giặc. Chàng Cả Lạn trong Truyện cái khiên đã dùng khiên thần che cho quân sĩ tiến đánh quân giặc, chiến thắng được hàng trăm trận... Hình tượng các chàng trai và cô gái trên đây đã là những hình tượng đặc trưng của truyện cổ Hà Nam.
Chứa đựng những nội dung tư tưởng sâu sắc và lớn lao, những truyện dân gian Hà Nam đa phần có kết cấu truyện ngắn gọn, đơn giản, lời kết mộc mạc, dễ hiểu, dễ nhớ phản ánh rõ nét tính địa phương của những chuyện cổ. Các truyện thường sử dụng những cảnh vật quen thuộc của quê hương, với những sắc thái riêng của xứ Nam Hà lắm đồi núi, nhiều ruộng sâu trũng và nhiều sông ngòi... Truyện cổ đã ghi nhận lịch sử của người Hà Nam ngay từ buổi ban đầu lập nước và đã tiếp tục phản ánh sự tồn tại, phát triển và việc gìn giữ mảnh đất này trước những nạn xâm lăng, lũ lụt, bão tố và nghèo đói. Dấu ấn của những người nông dân lao động quen cày bừa, cấy hái và quen cả cầm gươm giáo để đánh giặc ngoại xâm, nêu cao tinh thần thượng võ và truyền thống yêu nước đã để lại đậm nét trong kho tàng truyện cổ của Hà Nam - cũng như toàn bộ nền văn học dân gian Hà Nam - một vốn quý tinh thần cần được giữ gìn và phát huy.
VĂN HỌC VIẾT
Nằm trong tiến trình phát triển chung của lịch sử văn học dân tộc, văn học viết Hà Nam cũng có thể chia thành hai thời kỳ lớn: thời kỳ văn học Hán - Nôm từ thế kỷ XI đến hết thế kỷ XIX và thời kỳ văn học Quốc ngữ (La-tinh) từ đầu thế kỷ XX đến nay.
Thời kỳ thứ nhất lại có thể chia thành các giai đoạn như:
1- Văn học viết Hà Nam thời Lý - Trần (Thế kỷ XI - XIV).
2- Văn học viết Hà Nam thời Lê - Mạc (Thế kỷ XV - XVIII).
3- Văn học viết Hà Nam thế kỷ XIX.
Thời kỳ thứ hai cũng có thể chia thành:
1- Văn học viết Hà Nam trước 1945.
2- Văn học viết Hà Nam từ 1945 đến nay.
Văn học viết Hà Nam là văn học do người Hà Nam viết và cũng có thể tính đến cả một số lượng văn thơ nhất định viết về Hà Nam.
Mảnh đất Hà Nam nằm gần kề các trung tâm văn hóa, văn học lớn: nằm giữa Sơn Nam xưa, nằm trong Hà Nội một quãng khá dài, rồi lại sáp nhập với thành phố Nam Định, thị xã Ninh Bình, vậy văn học viết Hà Nam đã hiện diện với tư cách là một vùng văn học, căn cứ vào những tiêu chí sau: có một lực lượng sáng tác khá đông đảo, có một số lượng tác phẩm khá phong phú và nhất  là có những sắc thái riêng biệt không giống với bất kỳ một vùng văn học nào khác.
Tác giả văn học viết Hà Nam đầu tiên là nhà sư Đàm Cứu Chỉ, khi ông đến trụ trì chùa Diên Linh trên núi Long Đọi (huyện Duy Tiên) vào quãng niên hiệu Long Thụy Thái Bình nhà Lý (1054 - 1058) và còn để lại bài thơ Tâm Pháp (Tâm và Pháp). Tính từ đấy cho đến nay, văn học viết Hà Nam có cả 1.000 năm, một chiều dài lịch sử đáng kinh ngạc và cũng đáng tự hào. Dưới đây là phác thảo lịch trình của văn học viết Hà Nam trong mạch chảy thời gian lâu dài đó.
A - VĂN HỌC VIẾT HÀ NAM TỪ THẾ KỶ XI ĐếN HẾT THế KỶ XIX
I. VĂN HỌC VIẾT HÀ NAM THỜI LÝ - TRầN (THế KỶ XI - XIV)
Giai đoạn từ thế kỷ XI đến hết thế kỷ XIV là giai đoạn lịch sử của hai triều đại: nhà Lý (1010 - 1225) và nhà Trần (1226 - 1400). Một trong những đặc điểm lớn của thời Lý - Trần là hiện tượng “tam giáo đồng nguyên”, trong đó cả 3 hệ phái tư tưởng Phật - Đạo - Nho đều được xem trọng, đặc biệt Phật giáo thời này được coi như Quốc giáo. Điều ấy có lý do lịch sử. Phật giáo đóng vai trò rất quan trọng trong việc lập quốc của nhà Lý, nhiều vị sư được phong làm Quốc sư bên cạnh triều đình. Phật giáo cũng có vai trò rất quan trọng trong việc “hòa quang đồng trần”, cố kết nhân tâm giúp quân dân nhà Trần 3 lần chiến thắng giặc xâm lược Nguyên - Mông. Sau khi nhường ngôi, các vua Trần thường tu Phật và bản thân mấy vị như Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông đã lập nên Thiền phái Trúc lâm Việt Nam nổi tiếng. Do vậy, việc Phật giáo ảnh hưởng khá sâu sắc đến thời kỳ này là điều hiển nhiên. Nhiều người đã nói đến một dòng “Văn học Phật giáo”, một dòng “Thơ Thiền” của thời đại Lý - Trần.
Nhưng thơ văn thời Lý - Trần, sau chính sách hủy diệt văn hóa Đại Việt của nhà Minh, còn sót lại khá ít ỏi. Văn học viết Hà Nam thời kỳ này cũng còn lại rất ít và cũng đều liên quan rất mật thiết tới Phật giáo.
Như đã nói, Đàm Cứu Chỉ (995 - 1067) là tác giả văn học viết Hà Nam đầu tiên. Ông sinh năm Ất Mùi, niên hiệu Ứng Thiên thứ 2 (995) triều Lê Đại Hành, mất năm Đinh Mùi, niên hiệu Thiên Huống Bảo Tượng thứ 2 (1067) triều Lý Thánh Tông. Thuở nhỏ rất hiếu học, nghiên tầm kỹ cả Khổng - Mặc, Lão - Trang và Phật, nhưng chuyên về giáo lý Phật. Cứu Chỉ là pháp danh tu Phật theo Thiền phái thế hệ thứ 7 dòng Quan Bích, là học trò của Thiền sư Định Hương ở chùa Cảm ứng núi Ba Sơn. Cứu Chỉ vốn quê ở làng Phú Đàm, hương Chu Minh (Bắc Ninh), tu ở chùa Quang Minh núi Tiên Du. Ông sống trải 2 đời vua đầu triều nhà Lý. Trong đó, ông được vua Lý Thái Tông (1028 - 1054) vời đến 3 lần cũng không chịu xuống núi, đến thời Lý Thánh Tông (1054 - 1072), bản thân nhà vua cũng từng nhiều lần thân hành đến thăm ông và bản tự. Khoảng niên hiệu Long Thụy Thái Bình (1054 - 1058), Cứu Chỉ về trụ trì chùa Diên Linh, núi Long Đọi, ngôi chùa do Tể tướng Dương Đạo Gia xây dựng. Ông là tác giả bài thơ Tâm Pháp. Trước bài thơ có một lời dẫn khá dài nói về tâm và pháp, trong đó có đoạn: “Hết thảy mọi pháp môn bắt nguồn từ tính người, hết thảy mọi pháp tính bắt nguồn từ tâm người. Tâm pháp là một, đâu phải là hai. Tội phúc thị phi, tất cả đều ảo; trói buộc phiền não, tất cả đều không. Chẳng cái gì không phải nhân, chẳng cái gì không phải quả. Chớ nên phân biệt nghiệp với báo, chớ nên phân biệt báo với nghiệp. Nếu phân biệt nghiệp, ắt không tự tại. Dù thấy hết mọi pháp cũng là không thấy, dù biết hết mọi pháp cũng là không hay...”. Bài thơ như sau:
Phiên âm:
Giác liễu thân tâm bản ngưng tịch,
Thần thông biến hóa hiện chư tướng.
Hữu vi vô vi tòng thử xuất,
Hà sa thế giới bất khả lượng.
Tuy nhiên biến mãn hư không giới,
Nhất nhất quan lại một hình trạng.
Thiên cổ vạn cổ nan tỉ huống,
Giới giới xứ xứ thường lãng lãng.
Dịch nghĩa:
Hiểu thấu thân tâm vốn lặng lẽ,
Biến hóa thần thông thành mọi hiện tượng.
Hữu vi pháp hay vô vi pháp đều từ đó mà ra,
Thế giới nhiều như cát sông Hằng, chẳng thể đếm hết.
Tuy rằng đầy khắp cõi hư không,
Nhưng xem ra, hết thảy đều không có hình trạng.
Dù muôn đời nghìn thuở cũng không thể so sánh (với nó được), (Thế mà) chốn chốn nơi nơi nó thường sáng tỏ.
Dịch thơ:
Hiểu thấu thân tâm vốn lặng trong,
Thần thông biến hóa hiện vô cùng.
Dù vô dù hữu từ đây cả,
Thế giới hà sa đếm khó xong.
Khắp cõi thái hư đều chật ắp,
Xem ra hình trạng thảy đều không.
Muôn đời vạn kiếp bù sao được,
Chốn chốn nơi nơi sáng lạ lùng.
(Băng Thanh dịch)
Bản dịch theo luật Đường, bát cú, thất ngôn. Nhưng nguyên tác bài thơ lại có một hình thức khá lạ. Cũng là bảy chữ, tám câu nhưng niêm luật thoải mái, không gò bó. Câu nào vần chân cũng là thanh trắc và có đến hai lần chuyển vần, bốn câu đầu một vần, bốn câu sau lại vần khác. Hình thức ấy dễ liên tưởng đến sự khai phóng, vô chấp và một tinh thần tự tại đầy bản lĩnh của Phật giáo Lý - Trần: “Nam nhi tự hữu xung thiên chí; Hưu hướng Như Lai hành xứ hành” (Làm trai lập chí xông trời thẳm; Theo gót Như Lai luống nhọc mình). Sự khác lạ của hình thức bài thơ là để chuyển tải, truyền đạt một chân lý, một lời khẳng định. Lời dẫn thơ thì nói tâm, nói pháp, lại nói pháp cũng là do tâm, và nội dung thơ thì nhấn mạnh đến cái “bản ngưng tịch” (cái gốc lặng lẽ) của tâm. Đấy là những vấn đề hết sức cơ bản của giáo lý nhà Phật.
Cứu Chỉ là một thiền sư danh tiếng, được mấy đời vua Lý trọng vọng. Chùa Diên Linh lại do một vị Tể tướng trực tiếp xây dựng. Ngôi chùa trên núi Long Đọi bấy giờ đã trở thành một trong mấy trung tâm Phật giáo - chính trị lớn. Sau Cứu Chỉ, đích thân vua Lý Nhân Tông lại tiếp tục cho xây tháp Sùng Thiện và một số kiến trúc khác ở Diên Linh và sai Thượng thư Nguyễn Công Bật soạn văn bia: Đại Việt quốc Lý gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi (Bia tháp Sùng Thiện Diên Linh của vua thứ tư nhà Lý), rồi vua tự tay ngự bút lối chữ “phi bạch” trên trán bia. Đó cũng là tác phẩm văn học viết thứ hai của Hà Nam, thật nhân duyên và kỳ lạ, tác phẩm này cũng gắn với Phật giáo, cũng tại non thiêng Long Đội.
Nguyễn Công Bật - tác giả bài văn bia, hiện chưa rõ quê quán, năm sinh, năm mất; chỉ biết ông là một vị quan đảm trách Thượng thư bộ Hình đời vua Lý Nhân Tông (1072 - 1128) và bài văn bia có niên đại ra đời là 1121 - 1122. Trong Kiến văn tiểu lục Nguyễn Công Bật được Lê Quý Đôn ghi là Mai Công Bật, không hiểu sao lại có sự đổi họ như vậy.
Về kết cấu, bài văn bia có thể chia thành 5 đoạn:
1- Giới thuyết về lẽ huyển vi của tạo hóa, về sự xuất   hiện Phật đạo, lai lịch và hình tích Phật Tổ.
2- Trực tiếp nói về vua đương triều Lý Nhân Tông từ khi đầu thai tới lúc trưởng thành, tài năng đức độ, thể chế công tích... của nhà vua.
3- Những triệu tốt, điềm lành của nhà Lý.
4- Duyên do xây dựng, kiến trúc tháp Sùng Thiện.
5- Bài minh văn.
Mặt sau của tấm bia còn chép việc Thái hậu Linh Nhân (mẹ vua Lý Nhân Tông) cúng 72 mẫu ruộng làm hương hỏa cho chùa Diên Linh; rồi bài thơ Lê Thánh Tông đề năm Quang Thuận thứ 8 (1467) và một đoạn văn nói việc tu sửa chùa đời Mạc, năm Hưng Trị thứ 4 (1591). Như thế, tấm bia là “thạch bản” thơ văn của gần 5 thế kỷ. Bài thơ của Lê Thánh Tông viết:
“Dư bái yết sơn lăng, lộ kinh sơn tả, toại đăng lãm yên. Tiếu Lý triều sự đản chi quân thần, ta quốc bộ tằng kinh ư binh tiễn. Lưu nhất luật vu thạch âm vân:
Thiên nhận tằng loan cổ Hóa thành,
Phan duyên thạch dắng khấu thiền quynh.
Lý hoàng quái đản bi không tại,
Minh tặc hung tàn tự dĩ canh.
Lộ thiểu nhân tung dài giáp lục,
Sơn đa xuân vũ thiếu ngân thanh.
Đăng cao nhãn giới vô cùng trứ,
Vạn lý màng mang thảo thụ binh.
(Ta đi bái yết sơn lăng, đường qua bên tả núi này, bèn lên chơi chùa. Cười vua tôi triều Lý tôn sùng điều quái đản; thương đất nước trải nhiều phen binh lửa. Nên có đề một bài thơ dưới đây:
Non ngất nghìn tầm thành Hóa cũ,
Men vin bậc đá viếng Thiền gia.
Hoang đường vua Lý bia còn đó,
Tàn bạo quân Minh tháp khác xưa.
Đường biếc rêu phong, người vắng dấu,
Núi xanh vệt cháy, tiết nhiều mưa.
Lên cao tầm mắt nhìn bao quát,
Muôn dặm cây xanh một giải mờ).
(Đỗ Văn Hỷ dịch)
Ngoài câu thứ 4 nói rõ sự tàn phá của giặc Minh, còn lời đề từ và câu thứ 3 phải chăng có ý phê nhà Lý ưa những chuyện “hoang đường”, bài văn bia có nội dung chính là ca ngợi thánh chúa, hoằng dương Phật giáo, sùng tôn việc thiện và được viết với một lối văn biền ngẫu, hoa lệ, chặt chẽ. Cùng với vài ba bài văn bia khác thời Lý, đây là bài văn có tính cách mở lối, làm mẫu mực cho thể loại về sau.
Văn bia Sùng Thiện Diên Linh đương nhiên là tài sản quốc gia, nhưng trước hết là báu vật của Hà Nam - một tác phẩm văn học viết xuất sắc, một giá trị văn hóa vô giá.
Đến thời Trần, văn học viết về Hà Nam có hai tác phẩm, đều liên quan đến chùa Quế Lâm (huyện Kim Bảng). Trần Nhân Tông viết Quế Lâm vãn cảnh (Cảnh chiều Quế Lâm):
Cổ tự đài phong thu ái ngoại,
Ngư thuyền Hát thủy mộ chung sơ.
Thiên thanh sơn bích phi âu quá.
Phong định vân nhàn dung thụ sơ.
(Chùa cổ rêu phong dưới bóng thu,
Chuông chiều sông Hát chiếc thuyền ngư.
Trời xanh núi biếc chim âu lượn,
Gió lặng mây dừng lá đã thưa).
Trương Hán Siêu có bài Đề Quế Lâm tự (Đề thơ chùa Quế Lâm):
Hồng kiều khóa thủy đoạn nhân huyên,
Vạn khoảnh giang ba giáp tự môn.
Thụ lý điểu thanh quan giác tĩnh,
Vũ sư trúc ảnh địa vô ngân.
Hương hoa điện thượng kim dung xán,
Đăng chúc đường trung pháp tọa tôn.
Tự hận nhi tôn tham bão noãn,
Bất tùy tiên tổ báo quân ân.
(Cầu vồng sắc đỏ vút lên từ nước, xa hẳn sự huyên náo,
Sóng sông vạn khoảnh lan tận cửa chùa.
Tiếng chim trong cây, cảnh thiền lặng lẽ,
Bóng trúc mưa rây, đất chưa ngấn nước.
Trên điện bày hương hoa, tượng vàng rực rỡ,
Trong nhà đèn nến, tòa pháp tôn nghiêm.
Chỉ giận con cháu mải mê danh lợi,
Chẳng theo tiên tổ báo đáp ơn vua).
Cũng là đề tài liên quan đến Phật giáo, nhưng mấy bài thơ thời Trần đã không chỉ còn nói chuyện giáo lý. Trong thơ đã thấy cảnh vật từ trời, nước, sông, núi đến cây cỏ, chim chóc... được mô tả khá hay và khá sinh động.
Tóm lại, văn học viết Hà Nam từ thế kỷ XI đến XIV chỉ còn lại một số tác phẩm, viết bằng chữ Hán; thuộc thể loại thơ và thuộc thể loại bi văn; nhưng đều là những tác phẩm đặc sắc, có giá trị; trong đó bài văn bia bên cạnh ý nghĩa văn học còn mang ý nghĩa như một tượng đài văn hóa, lịch sử bất hủ.
II. VĂN HỌC VIẾT HÀ NAM THỜI LÊ - MẠC (Thế Kỷ XV-XVIII)
Lê - Mạc là để gọi chung cho quãng lịch sử 4 thế kỷ, từ XV đến XVIII (Thực ra còn có gần một chục năm triều Hồ đầu thế kỷ XV và hơn một chục năm triều Tây Sơn cuối thế kỷ XVIII). Văn học viết Hà Nam giai đoạn này xuất hiện nhiều tác giả, tác phẩm. Các tác giả phần lớn là những người đỗ đạt, là vua quan dưới các triều Lê-Mạc và sáng tác của họ về cơ bản xoay quanh mấy cảm hứng chính: Cảm hứng lịch sử, Cảm hứng thế sự và Cảm hứng nhân văn.
1. Cảm hứng lịch sử
Trước hết, là các sáng tác vịnh sử, vịnh các nhân vật lịch sử.  Bài Trưng Vương Đại tướng từ (Đền thờ vị Đại tướng của Trưng Vương) của Trần Bảo  viết về tướng Cần Thiện theo Bà Trưng đánh giặc:
Sinh tại giang tân trạch lệ lâm,
Kế tiền tích thiện thế nhân khâm.
Vũ do phụ giáo thông thao lược,
Văn đắc gia truyền đạt cổ kim.
Thệ phụ Nữ Vương trừ bạo ngược,
Vị lân dân ấp lãnh hung tâm.
(Sinh ra ở ngôi nhà bên bến sông cạnh rừng vải,
Noi theo thiện đức tiên tổ, người đời hâm mộ.
Võ do cha dạy, tinh thông thao lược,
Văn là nghiệp gia truyền, thấu cả cổ kim.
Thề giúp Trưng Vương, trừ hết bạo ngược,
Thương xót dân làng, xóa bỏ đói nghèo...).
Phạm Viết Tuấn và Lý Trần Thản lại cùng viết về một nhân vật nổi danh thời Lý: Lý Thường Kiệt. Bài của Phạm Viết Tuấn: Tự Thiên Kiện hồi quá Lý Thường Kiệt miếu (Từ Thiên Kiện về qua miếu thờ Lý Thường Kiệt) có đoạn:
Anh hùng tích nhật duy tồn phả,
Nhân nghĩa đương thì tịch thảo khư.
Bắc quốc mỗi văn thần sự nghiệp,
Lôi oanh đầu thượng cảm khoa dư?
(Anh hùng thuở trước, nay còn trong phả,
Nhân nghĩa thời ấy là việc khai khẩn mở ấp.
Bọn phương Bắc mỗi khi nghe sự nghiệp của ngài,
Tưởng như sét đánh trên đầu, còn dám ngo ngoe chăng?)
Còn bài thơ của Lý Trần Thản: Lý Thường Kiệt cũng viết:
Sinh vi lương tướng, hóa vi thần,
Lý đại do tồn thạch ký ngân.
Phạt Tống bình Chiêm công dữ quốc,
Khai điền tế khổn đức ư dân.
Trúc sơn thử nhật ca thanh trứ,
Hương ấp đương thì lão thiếu hân...
(Sống là tướng giỏi, hóa đi thành thần,
Từ thời Lý còn chép rõ trên bia đá.
Đánh quân Tống, dẹp Chiêm Thành, có công với nước,
Vỡ đất, tế bần, để đức trong dân.
Núi Trúc ngày ấy vang dậy lời ca,
Bấy giờ già trẻ trong làng đều hân hoan...)
Cũng viết về một nhân vật thời Lý, bài Từ công (Ông Từ Đạo Hạnh) của Tạ Đình Duy lại có một giọng điệu khác:
Quy Phật thùy vong thế tục lan,
Từ công bộ quá nữ thân nan.
Thăng trầm dĩ thức trần gian tạm,
Vĩnh cửu thường tri lạc cảnh an.
Ký dữ Nam thiên gia nhị phái,
Hựu lưu Việt địa đế cư hoan...
(Theo Phật đã ai quên được cõi thế tục,
Ông Từ đã lỡ bước qua thân gái.
Thăng trầm, dẫu biết trần gian chỉ là tạm bợ,
Vĩnh hằng, luôn nhớ đấy là cõi an lạc.
Đã gửi lại hai chi ở dưới trời Nam,
Còn lưu một đời vua sung sướng ở đất Việt...)
Có hai nhân vật đời Trần được nhắc đến là Phạm Ngũ Lão và Trần Nhật Duật. Nguyễn Tông Lan viết Phạm Ngũ Lão ngoại quán (Quê ngoại Phạm Ngũ Lão), Dương Bang Bản (Lê Tung) viết Chiêu Văn Vương Nhật Duật (Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật).
Nguyễn Mạo còn viết về một danh sĩ ngay trên đất Hà Nam là Trình Thuấn Du qua bài thơ Trình công cựu trạch từ (Ngôi đền ở nhà cũ của ông Trình).
Trình Thuấn Du (sự tích xem mục Các nhà khoa bảng Hà Nam, phần Giáo dục) mất năm 1481, còn Nguyễn Mạo sinh năm 1480. Trình Thuấn Du người Đội Sơn (huyện Duy Tiên) còn Nguyễn Mạo người Bất Đoạt (huyện Kim Bảng). Đó là niềm tự hào về một danh nhân của chính quê hương Sơn Nam của mình chăng? Bài thơ viết:
Lê Tổ sơ niên hữu lệnh danh,
Vi quan Hành khiển vị phi khinh.
Trung cần dữ đế triều suy trọng,
Thành tín đồng dân quốc sự thanh.
Kỳ biển vinh quy tồn miếu nội,
Ngôn hành huân nghiệp trí bi minh...
(Năm đầu Lê Thái Tổ đã nổi danh đỗ đạt,
Làm quan đến Hành khiển, chức vị không nhỏ.
Trung thành, siêng năng với vua, triều đình trọng vọng,
Thực thà, giữ tín với dân, việc nước đều sáng tỏ.
Cờ biển lúc vinh quy còn lưu trong miếu,
Lời nói, việc làm, công nghiệp còn chép ở bài minh văn trên bia đá...)
Còn có mảng thơ viết về những nhân vật lịch sử xem ra có vẻ bình thường hơn những tên tuổi vừa kể, những ông Nguyễn, bà Hướng...; chính tích của họ chỉ là việc quyên góp, công đức tài sản hay việc khai khẩn, lập làng... nhưng tên tuổi của họ vẫn được ghi nhận, thậm chí còn được đánh giá, bình xét. Ở bài ông Sơn tự (Chùa Ông Sơn), tác giả Phạm Viết Tuấn viết về một người tên là Nguyễn Duy Châu - người từng có tấm lòng: “Hữu tiền duy vọng tế bần lư”
(Lúc có tiền bạc chỉ mong cứu giúp được kẻ khó) - sau  được dân thờ ở chùa Ông Sơn, rằng:
Cố lai nan mịch hà nhân tự,
Vương bá giai vong tại thảo khư.
(Xưa nay khó tìm được người như thế,
Có là vương bá thì cũng đều bị lãng quên dưới đám cỏ xanh).
Đó là một lời bàn luận sâu sắc dưới hình thức thơ.
Bên cạnh nhân vật lịch sử là các địa danh lịch sử, một đề tài cũng bắt gặp nhiều ở văn học viết Hà Nam thời này.
Trình Thuấn Du có bài Hồi cựu quán (Trở về quê cũ), nhớ về danh lam Long Đọi:
Tam thập dư niên biệt cố hương,
Long Sơn cổ sái tịnh tiên đường...
Tiền Lý tạo thành bi thượng tại,
Hậu Trần cải kiến phả tư chương...
(Hơn ba mươi năm từ biệt cố hương,
Nơi có chùa cổ núi Long Đọi và nhà thờ tiên tổ...
Chùa dựng từ thời Lý còn văn bia ghi chép,
Thời Trần có tu sửa, thấy rõ trong bản phả...)
Phan Tế có bài Dạ túc Bà Đanh tự (Đêm trú ở chùa Bà Đanh) viết về một ngồi chùa nổi tiếng của Hà Nam - chùa Bà Đanh:
Đông nguyệt lương phong nhược thiết châm,
Thuyền trung nan ngọa tại giang tân.
Ngưỡng quan thụ lý sơn biên tự,
Mộ lạc chung thanh thủy bạn trầm.
Dương Liễu bà Đanh cư lập ấp,
Tùng lâm ông Nguyễn chí tu chân...
(Tháng đông gió lạnh buốt như kim châm,
Bên bến sông, khó có thể nằm trên thuyền.
Trông lên trong vòm lá có ngôi chùa bên núi,
Chiều xuống, tiếng chuông chìm lắng mé nước.
Bà họ Đinh ở Dương Liễu đến đây lập ấp,
Tôn ông họ Nguyễn là bậc chân tu trong chùa...)
Đường thi xưa có câu “Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền” (Nửa đêm tiếng chuông chùa đến bên thuyền khách). Có thể nói câu thơ “Mộ lạc chung thanh thủy bạn trầm” ở đây còn có phần thi vị hơn, tiếng chuông không chỉ đến bên mà còn như chìm lắng, nhập nhòa, hòa cùng sông nước.
Vượt khỏi địa giới Hà Nam, Trương Minh Lượng có bài Hoa Lư cố kinh hữu cảm (Cảm tác qua kinh đô cũ Hoa Lư):
Hoa Lư sơ định đế vương đô,
Trúc kế chư sơn tạc ngũ hồ.
Chấp lý chu hoàn thành diệc tiểu,
Nhị vương yểu tử nghiệp nam đồ.
Thiết lâm cung thất kim trầm thổ,
Thạch thế môn tường cổ diệc phô.
Thác lạc chư thôn tồn hoại mộc,
Dụng liên thông lộ bạn lô cù.
(Hoa Lư là nơi mới đầu định đặt kinh đô mở nghiệp đế vương,
Đắp nối các núi, đào thành năm hồ.
Chu vi mấy chục dặm, kinh thành vẫn còn nhỏ,
Hai vua đều chết yểu, cơ nghiệp khó xong.
Nhà cửa, cung điện nay vùi trong đất,
Tường bao, thềm đá vẻ cũ còn phô.
Mấy xóm quanh thành còn (lấy) gỗ lạt chưa mục hẳn,
Dùng làm cầu bắc để tiện đi lại trên đường lau lách).
Bài thơ mang khí vị hoài cổ thật đậm. Âm hưởng buồn bã, cám cảnh, ngậm ngùi. Tiếc nuối cho một cố đô, một thời vàng son, một giá trị lịch sử, văn hóa đã và đang bị hủy hoại.
Không chỉ sáng tác về nhân vật và về địa danh lịch sử, các tác giả văn học Hà Nam còn viết về sự kiện lịch sử và các phong tục văn hóa, lịch sử.
Vũ Hoán viết Lũng Nhai minh hội (Hội thề Lũng Nhai) cũng là để hồi cố về một quá khứ tốt đẹp, hào hùng của nghĩa quân Lam Sơn:
Bính Thân nhị nguyệt Lũng Nhai minh,
Thệ phá Ngô xâm triệu dĩ thành.
Phóng nhãn khả quan nhân quỵ đảo,
Túc biên do nhận nghĩa kỳ linh.
Phong trung ngưỡng vọng anh hùng chí,
Thụ hạ nan tầm áng trại nghênh.
My động như kim hà chí thử,
Mỗi văn cố sự bất thăng tình.
(Tháng hai năm Bính Thân (1416), có hội thề Lũng Nhai,
Thề quyết đánh quân Minh, điềm tốt đã thành.
Phóng tầm mắt, như còn thấy dáng người quỳ lễ,
Ngay bên chân, còn nhận rõ bóng cờ nghĩa thiêng liêng.
Thoảng trong gió vẫn ngưỡng vọng chí khí anh hùng,
Dưới hàng cây khó thấy sự nghênh đón của dân trại
Như áng.
Động My, nay có ai đến đấy,
Mỗi khi nghe lại việc xưa, khôn xiết bùi ngùi).
Vũ Hoán (1524-1607) sống trọn qua cả thời chiến tranh Lê-Mạc, chắc hẳn tác giả có gửi gắm trong bài thơ một ý tưởng, khi nhớ về sự kiện lịch sử đã mở màn cho cuộc chiến đấu chống xâm lược oai hùng.
Về phong tục văn hóa, lịch sử, Trương Minh Lượng có bài Trần gia ngư tế từ (Đền tế cá của nhà Trần):
Sơ do ngư nghiệp tác sinh nhai,
Hải tế hà vô bất khứ lai.
Tàm thực thiết mưu thiên Lý tộ,
Triệu cơ dĩ đức chuyển nhân hoài.
Thủy cư Dương Xá tồn gia ấp,
Ngư tế sinh tiên kính tổ đài...
(Lúc đầu lấy chài lưới làm kế sinh nhai,
Khắp vùng duyên hải không nơi nào không đến.
Dùng mẹo tằm ăn để đổi cơ nghiệp nhà Lý,
Xây nền móng thì lấy đức để lay động nhân tâm.
Trước ở Dương Xá, nay còn gia ấp,
Có lệ tế cá sống kính cẩn trước nơi thờ liệt tổ...)
Bài thơ còn có nguyên chú: lễ ông Kinh dùng cá quả, lễ ông Hấp dùng cá trắm, lễ ông Lý dùng cá chép, lễ ông Thừa dùng cá sưa, lễ Tự Khánh  dùng cá ngạnh, lễ Trần Thị Dung dùng cá ngừ, lễ Trần Liễu dùng cá nheo, lễ Trần Cảnh dùng cá lành canh... Đây là tác phẩm thơ độc đáo, bổ sung hữu ích cho việc tìm hiểu lịch sử nhà Trần và lịch sử phong tục nói chung.
Nguyễn Sư Hựu lại nói về một lệ tục khác: tục cướp lão qua bài Tranh nghinh kỳ lão (Cướp lão), một nét thuần phong đẹp, hồn phác ở vùng Liêm Túc (huyện Thanh Liêm):
Lê minh trúc kiệu dĩ lâm đình,
Thiếu tráng giai tuân bị lực nghinh.
Tứ giáp hương dân tam giáp hữu,
Nhất nhân kỳ lão bách nhân vinh.
Lễ thành gia nội tương hồi nhật,
Kỳ trượng đồ gian tập bão chinh.
Nhược thắng lý trung ban nhị quán,
Bại thời trí tạ hắc trư sinh.
(Mờ sáng kiệu trúc đã dóng sẵn ở sân đình,
Bọn trai tráng khỏe mạnh chuẩn bị sẵn sàng để cướp đón.
Dân làng 4 giáp, thì 3 giáp làm lệ cướp,
Một nhà có lão (80 tuổi) thì trăm người mừng vui.
Xong lễ, kỳ lão lên đường trở về nhà,
Các giáp kia phục sẵn cờ quạt, trượng gậy cướp rước lão vào kiệu mình mà chạy.
Ai thắng được làng cho 2 quan tiền thưởng,
Thua thì phải đem tạ một chú lợn đen).
Chung quy lại, dẫu viết về phong tục hay địa danh, sự kiện hay nhân vật lịch sử thì đó cũng là biểu thị tình cảm tự hào, yêu mến quê hương, đất nước và dân tộc. Thế nên, văn học viết Hà Nam cũng có những vần thơ đanh thép chống xâm lược, chống kẻ ngoại bang. Câu thơ của Lê Thánh Tông “Minh tặc hung tàn tự dĩ canh” (Tàn bạo quân Minh tháp khác xưa) dẫn ở trên đã vạch mặt giặc Minh hủy diệt văn hóa, lịch sử nước ta. Nhưng Lê Thánh Tông nói về Long Đọi, là tiếng nói ở vị thế của người có tầm bao quát chung. Tác giả Bùi Viết Lượng người Hà Nam cũng đả phá thiên triều mãnh liệt. Ông đỗ Tiến sĩ năm 1466, được cử sang sứ nhà Minh. Qua cửa ai, ông có làm bài Ngưỡng Đức đài (Đài Ngưỡng Đức). Phong kiến Trung Quốc xây đài này và đặt tên như thế, tỏ ý rằng người phương Nam khi sang đó phải ngưỡng đội ơn đức của vua họ. Nhưng sứ giả Đại Việt Bùi Viết Lượng khẳng khái viết:
Phân mao hà hữu Bắc, Nam đồng,
Lộ thượng quan quang cố miện trung.
Thủy đạo thiên triều minh đức viễn,
Nan vong kỷ độ hắc tâm công...
(Cỏ rẽ ra hai ngả Nam, Bắc đâu có giống nhau,
Trên đường đi ngoảnh lại xem rõ rệt.
Ai bảo đức sáng của thiên triều thấm đến nơi xa,
Khó quên được mấy lần có dã tâm đánh chiếm...)
Có ý mỉa mai cái gọi là Ngưỡng Đức, tác giả bài thơ đã trực tiếp phê phán thiên triều. Đây là một bài thơ hiếm hoi có giọng điệu, nội dung như thế trong dòng thơ đi sứ.
2. Cảm hứng thế sự
Tự hào, trân trọng quá khứ lịch sử, nhưng các tác giả văn học viết Hà Nam cũng không quên “những điều trông thấy” xảy ra đương thời.
Người cầm bút bao giờ cũng nghĩ đến dân lành. Dân khổ vì gì? Đã có câu ca: “Con ơi nhớ lấy câu này: Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”. Hoàng Mông qua bài Tế Xuyên thủy tổ từ (Đền thờ thủy tổ đất Tế Xuyên) đã nói đến cả “cướp đêm” lẫn “cướp ngày”:
Sơ thành ấp lý quan sai đáo,
Thủy kiến gia cư đạo tặc hồi.
(Vừa dựng làng, quan nha đã đến hạch sách,
Mới đắp nhà, trộm cướp cũng lại rình mò).
Dân còn khổ vì vua quan xa xỉ quá độ, Trần Tông Lỗ viết Cửu trùng đài (Đài chín tầng):
Thăng Long vạn thế đế vương đô,
Bách thốc lâu đài nhất xứ cô.
Nội hữu hoàng thành kim ỷ xán,
Ngoại vi phòng lũy thiết qua phô.
Cửu trùng cao các thần cư mỹ,
Thiên tử bần dân trí cốt khô.
Bảo quốc tòng lai phi dụng thử,
Thăng Long vạn thế đế xương đô.
(Thăng Long vạn đời là kinh đô bậc đế vương,
Lâu đài trăm nóc nhô cao hẳn một vùng.
Trong có hoàng thành, ngai vàng rực rỡ,
Ngoài có thành lũy, giáo mác phô oai.
Toà gác cao chín tầng, nơi vua ở thật mỹ lệ,
Dân cơ cực ngàn xác chết, để (mặc) xương khô.
Giữ nước từ xưa đâu có thế,
Thăng Long vạn đời là kinh đô bậc đế vương)
Dù vẫn biết cái đẹp và cái thiện rất nhiều khi không song hành, bài thơ vẫn thật đau đớn. Biện pháp đối ngẫu dùng rất đắt, nhất là ở hai câu 5 và 6. Lối thơ thủ vĩ ngâm (hai câu đầu và cuối giống nhau) khiến bài thơ như một bài “đồng dao” bằng Hán tự, châm biếm và chỉ trích vừa sâu cay, vừa xót xa.
Nếu như Trần Tông Lỗ biếm trích thế sự thì thơ của một số tác giả khác lại là lời than về thế sự. Nguyễn Diễn viết Thế lộ suy (Đường đời suy biến):
Vị tri thử nhật thị hà thời,
Thuỷ lạo cơ hàn kế loạn lai.
Binh hỏa Thanh dân phân lão thiếu,
Hoang lương Hải ấp mãn tân nhai.
Thăng Long tất hữu trầm long nhật,
Ngoại giáo đương phòng nội giáo quai.
Bất cố tổ tông tiên triệu bạch,
Căn cơ dĩ hoại khởi tồn tai.
(Không hiểu đời nay là cái đời gì,
Mà lụt lội, đói rét kế tiếp đến loạn lạc.
Dân vùng Thanh Hoa chịu binh lửa không kể trẻ già,
Làng xóm Hải Đông cảnh hoang tàn lan khắp bờ bến.
Rồng lên tất có ngày rồng chìm xuống,
Việc giáo phái từ ngày vào làm cho đạo nước nghiêng lệch.
Không đoái đến tổ tông, điềm báo trước đã rõ,
Nền nếp đã băng hoại thì sao có thể tồn tại được?)
Bài thơ không chỉ phản ánh nỗi khổ loạn ly, đói rét người dân phải gánh chịu mà còn nói đến cả chuyện rất thời sự như sự du nhập của đạo Thiên chúa vào Việt Nam. Chi tiết này ít thấy trong thơ văn đương thời.
Nguyễn Diễn mô tả sự khổ ải của dân Thanh Hoa thì Nguyễn Văn Tĩnh cũng viết bài Tam Điệp sơn (Núi Tam Điệp) - một vùng giáp giới xứ Thanh:
Thử phương thái chúc chí chung niên,
Nghiêu tích canh cư sổ mẫu điền.
Nhật xuất hãn y như thử vũ,
Dạ lai phúc lý cố không huyền.
Thuế sai quan sách liên liên nhật,
Chinh phạt ương sinh mãn mãn thiên.
Đế nghiệp nhược thành giang xích huyết,
Thâm lâm bất miễn hoạ tai triền.
(Địa phương này quanh năm chỉ có cháo rau,
Cày cấy chỉ có mấy mẫu ruộng cằn cỗi.
Mặt trời lên mồ hôi đổ đẫm áo như gặp mưa mùa hạ,
Đêm đến bụng thường khi rỗng không.
Quan sai thuế má hạch sách liên miên,
Cảnh chinh phạt tàn sát xảy ra khắp nơi.
Có thành được đế nghiệp thì cũng máu chảy thành sông,
Dẫu trốn vào rừng xanh cũng khó tránh được tai hoạ).
và cảnh tượng cũng chẳng khá hơn chút nào. Đến Lý Trần Thản, nhà thơ này còn viết về cả vùng Bắc Hà - lúc bấy giờ là “nước” của vua Lê - chúa Trịnh:
... Trịnh gia nhất tộc vô tương nhượng,
Loạn thế trường sinh triệu dĩ lai.
Nam phương binh hoả liên thiên sí,
Bắc quốc can qua biến hải nhai.
Bần phạp hựu kiêm đa dịch nhiễu,
Thương khung bất cố tiểu si ngai.
(Cùng họ như nhà Trịnh còn không chịu nhường nhau,
Đời loạn sinh ra mãi, triệu chứng lại đến.
Phương Nam binh lửa ngút tận trời xanh,
Cõi Bắc chiến tranh cũng lan tận nơi góc biển.
Kẻ nghèo hèn lại thêm sai dịch phiền nhiễu,
Trời xanh sao chẳng đoái đến dân đen).
Qua thơ, có thể thấy được thái độ của trí thức đương thời. Họ than thở cuộc thế biến loạn, lên án chiến tranh gieo rắc tai hoạ cho dân lành. Lời than toát lên tâm sự chán chường.
Bày tỏ thái độ trước thời cuộc, có tác giả là quan chức còn thể hiện ý muốn điền viên, ở ẩn. Nguyễn Như Lâm về ở Quang Ốc (nay thuộc xã Bắc Lý, huyện Lý Nhân) viết bài Tự vịnh:
Can qua dĩ định bất tu quan,
Phú quý tòng lai khởi hứa nhàn.
Điểu tận tất nhiên cung tự phế,
Oa cư tầm ẩn nghĩa vô nan.
Thần trà mộ tửu năng vi lạc,
Nhi đáo tôn lâm diệc túc hoan...
(Loạn lạc đã yên, chẳng nên làm quan nữa,
Xưa nay kẻ phú quý sao được nhàn?
Chim hết, tất nhiên cung tên phải bỏ,
Tìm nơi lều tranh thôn dã mà ẩn chắc không khó.
Sớm trà, tối rượu có thể tự an lạc,
Con đến, cháu thăm cũng đủ vui...)
Còn Bùi Viết Lượng viết thẳng về thân phận Vi quan (Làm quan):
Hạnh đắc cô thân ý tử bào,
Thập niên song hạ vạn gian lao.
Công hầu bất miễn nhân âm toán,
Trung trực nan đào hữu ác dao.
Phụ mẫu cơ hàn niên bất phụng,
Thê nhi bần phạp nhật thường sao.
Vi quan như thử hà vi giả?
Giả thụ quy điền nhất vọng cao.
(May ra được riêng mình mặc áo tía,
Phải trải qua cả chục năm bên song muôn phần gian lao.
Công hầu, chẳng trách được người ta ngầm hại,
Trung trực, cũng khó thoát bạn hữu ác tâm rêu rao.
Cha mẹ đói rét suốt năm không phụng dưỡng,
Vợ con nghèo thiếu lúc nào cũng kêu ca.
Làm quan như thế thì làm mà chi?
Rũ áo về vườn là hơn cả!)
Tâm trạng điền viên, quy ẩn, trốn tránh quan trường tuy mỗi người thể hiện một vẻ không giống nhau, nhưng rồi sẽ còn được tiếp tục, ở sáng tác thơ văn giai đoạn sau, hợp thành một phong cách khá rõ của văn học viết Hà Nam: phong cách điền viên ẩn dật.
3. Cảm hứng nhân văn
Nói đến nhân văn là nói đến quan niệm về tình người, về nhân đạo. Bắt đầu bằng bài thơ Quá Dạ Trạch châu (Qua bãi Dạ Trạch) của Nguyễn Khắc Hiếu (1400-1472):
Tam giang tháp mạc dục lô biên,
Thức giả duy tồn thủy dữ thiên.
Như định nhất nam sa nội hiện,
Phi tiền tứ mục hợp trung tiền.
Đồng cư thuyền thượng thành phu phụ,
Bất đãi Vương gia hữu chiếu truyền.
Dĩ ái cường quyền nan trở trệ,
Hà nhân chí thủ bất ngôn tiên.
(Tại ngã ba sông buông màn tắm bên đám lau,
Biết chăng, chỉ có nước cùng trời.
Như định sẵn, một thân trai trong cát hiện ra,
Khác hẳn nếp cũ, bốn mắt nhìn nhau cháy bỏng.
Rồi cùng ở trên thuyền thành chồng vợ,
Chẳng đợi chiếu chỉ Hùng Vương cho phép.
Đã yêu rồi, dẫu cường quyền cũng khó ngăn trở,
Người nào đến đây chẳng nói đó là câu chuyện của người tiên).
Rõ ràng đây là chuyện Tiên Dung- Đổng Tử. Nhưng tác giả chỉ kể bằng 8 câu thơ và kể đoạn hay nhất, đoạn bén tình và nên duyên của đôi trai gái. Cũng khó lòng để nói bài thơ này chỉ đơn thuần là bản “tóm tắt” của câu chuyện. Tác giả ắt hẳn phải ngụ ý điều gì? Câu thứ 4 nói đến “tứ mục”, có lẽ là lần đầu tiên thơ ca Việt Nam nói về 4 mắt trai gái nhìn nhau say đắm, nóng bỏng một tình yêu tự nhiên, rất người. Bài thơ là một bản tình ca, ca ngợi tình yêu trai gái tự do, bước qua lễ giáo. Dẫu tác giả có cố tình “che chắn” bằng sự tiền định hay bằng chuyện của người tiên thì nội dung bài thơ vẫn toát lên, vẫn như khẳng định một điều khác hẳn.
Bài thơ của Nguyễn Khắc Hiếu nói về tình yêu, còn bài Thanh minh (Tiết thanh minh) của Nguyễn Như Lâm lại thể hiện lòng thương người:
Tích nhật hương nhân hà xứ khứ,
Ngã lai kiến thử diệc bồi hồi.
Mộ phần thác lạc điền gian bích,
Tông tộc tha phương ý vị khai.
Nhất chú tâm hương kỳ địa hạ,
Thiên hàng ai lệ sái tuyền quan...
(Người làng ngày xưa giờ bỏ đến nơi nào,
Ta đến trông thấy cảnh mà lòng dạ bùi ngùi.
Lác đác mộ phần cỏ xanh rì trên ruộng,
Họ hàng tha phương chưa ai tìm lại.
Một nén hương lòng cầu khấn cho người dưới đất,
Nước mắt ngàn hàng có thấm được đến chốn cửu tuyền...)
Bài thơ thật xúc động. Tác giả bày tỏ cái tình người không quen biết, lòng trắc ẩn với kẻ xa lạ mà thật sâu sắc. Điều đặc sắc ở đây là từ thế kỷ XV, một tác giả văn học viết Hà Nam đã giãi bày sự trân trọng đối với con người như vậy. Tác giả hy vọng rằng nước mắt và “hương Iòng” của mình phần nào an ủi được kẻ nằm dưới đất mà bị quên lãng trong tiết thanh minh kia.
Hai tác phẩm trên cho thấy một chủ nghĩa nhân đạo manh nha đã xuất hiện khá sớm trong thơ văn Hà Nam. Các tác giả đã nói rất hay về tình yêu trai gái tự do, về tình người. Còn nữa, thơ văn Hà Nam có cả một mảng sáng tác về đề tài người phụ nữ chịu đau khổ, oan khuất. Nhiều tác giả viết về Mị Ê, người thiếu phụ xứ lạ giữ trinh tiết với chồng đã tuẫn tử trên đất Hà Nam. Nhưng có một hình ảnh sâu đậm hơn, đó là người con gái Nam Xương (Vũ Thị Thiết). Câu chuyện về Vũ Nương đã được truyền tụng từ khá lâu, cho đến khi Lê Thánh Tông viết Điếu Vũ Nương:
Nghi ngút đầu ghềnh toả khói hương,
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương.
Ngọn đèn dẫu lận đừng nghe trẻ,
Cung nước chi cho lụy tới nàng.
Chứng quả đã đôi vầng nhật nguyệt,
Giải oan chăng lọ mấy đàn tràn.
Qua đây bàn bạc mà chơi vậy,
Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng thì nhân vật người thiếu phụ ấy đã chính thức bước chân từ truyện tích dân gian vào văn học viết. Hình thức bài thơ vẫn là luật Đường, nhưng ngôn ngữ đã là ngôn ngữ Nôm dân tộc. Tác giả nói “bàn bạc mà chơi”, có vẻ vô tình như một người qua đường. Thực tế, bài thơ bày tỏ lòng cảm thông sâu sắc và bản thân 56 chữ Nôm ấy đã là lời giải oan xác đáng. Hãy để ý đến hai câu 5 và 6. Hai câu này có nhịp ngắt 3/4: “Chứng quả đã / đôi vầng nhật nguyệt; Giải oan chăng / lọ mấy đàn tràng”. Câu trên mạnh mẽ, minh định; câu dưới như có gì đó nghi ngại, có phải tác giả muốn nói rằng đàn tràng giải oan thì còn có ích gì nữa, trên thực tế người ta đã thác oan rồi.
Sang thế kỷ XVI, Nguyễn Dữ viết Truyền kỳ mạn lục và hình ảnh Vũ Nương lại tái hiện ở Truyện người con gái Nam Xương. Đến đây, câu chuyện đã được “thành văn” xong và trọn vẹn. Người con gái Nam Xương trở thành điển hình văn học - điển hình cho những kiếp người oan. Chi tiết truyện hay cái “gút” truyện là “cái bóng người cha” trên vách mỗi khi đêm về cũng trở thành chi tiết truyện, “gút” truyện đặc sắc của lịch sử văn xuôi Việt Nam. Cảm hứng nhân văn đã được đẩy lên thành chủ nghĩa nhân đạo cao cả khi văn học viết lấy nhân vật người phụ nữ oan khuất làm nhân vật trung tâm.
Nhìn chung, văn học viết Hà Nam giai đoạn từ thế kỷ XV đến XVIII có lực lượng sáng tác khá đông đảo; chủ đề khá đa dạng; cảm hứng sáng tác khá phong phú, hòa nhập và có lúc là đỉnh cao của văn học viết nói chung đương thời. Về thể loại, bên cạnh thơ luật có truyện văn xuôi, về ngôn ngữ, bên cạnh chữ Hán đã xuất hiện sáng tác bằng chữ Nôm.
III. VĂN HỌC VIẾT HÀ NAM THẾ KỶ XIX
Thế kỷ XIX gắn với triều Nguyễn (từ 1802). Đến khoảng mươi năm đầu thời Tự Đức (1848-1858), nghĩa là nửa đầu của thế kỷ này thì lịch sử xã hội vẫn thuộc thể chế quân chủ. Sau năm 1858 trở đi, xã hội đã có nhiều biến động. Người Pháp xâm chiếm Việt Nam và đặt dần ách đô hộ. Theo gót thực dân Pháp, văn hoá, văn học phương Tây cũng tràn vào. Tất cả, đã tạo nên sự thay đổi về quan niệm văn học, ngôn ngữ văn học và khuynh hướng văn học so với truyền thống. Văn học viết Hà Nam cũng nằm trong tình trạng chung đó.
Tuy vậy, văn học viết thế kỷ XIX vẫn tiếp nối được văn mạch của thời Lê Mạc. Vẫn thấy khá nhiều thơ vịnh sử. Tương truyền, Hồ Xuân Hương có thơ Nôm về Kẽm Trống ở huyện Thanh Liêm:
Hai bên thì núi giữa thì sông,
Có phải đây là Kẽm Trống không?
Gió giật sườn non khua lắc cắc,
Sóng dồn mặt nước vỗ long bong.
Ở trong hang núi còn hơi hẹp,
Ra khỏi đầu non đã rộng thùng.
Qua cửa mình ơi nên ngắm lại,
Nào ai có biết nỗi lưng bồng.
Bài thơ vịnh cho thấy tính đa nghĩa của ngôn ngữ Nôm đã được khai thác và vận dụng hết mức. Cả sáng tác lẫn tiếp nhận kiểu thơ này đều thuộc phạm trù lịch sử. Cách địa danh Kẽm Trống không xa lắm là làng Bảo Thái, nơi có đền thờ Hoàng đế nhà Lê - cũng thuộc vùng Thanh Liêm. Bạch Đông Ôn viết Quá Lê đế miếu nhân đề (Qua miếu thờ Hoàng đế nhà Lê, đề thơ):
Địa thấp thiên ôn thảo mộc phì,
Xuân sơ vãng thám Thái hương từ.
Giáo đồng cố trạch kim do tại,
Tổ ốc tiên lai cổ vị di.
Bảo quốc anh hùng lưu Bắc sử,
Hộ dân sự nghiệp trí Nam bi...
(Đất ẩm, trời ấm cây cỏ mơn mởn,
Đầu xuân tới viếng ngôi đền làng (Bảo) Thái.
Nền nhà cũ dạy trẻ giờ vẫn còn,
Nơi tổ phụ ở lúc đầu, từ xưa chưa đổi.
Vị anh hùng giữ nước, danh lưu Bắc sử,
Sự nghiệp an dân còn ghi trong bia đá trời Nam...)
Bạch Đông Ôn sinh năm 1811, Lê Hoàn mất   năm 1005, như vậy bài thơ cho thấy di chỉ Lê Hoàn ở Bảo Thái trải đến hơn 8 thế kỷ mà vẫn còn khá nguyên vẹn.
Viết về thời Trần, Đinh Gia Hội vịnh Trần Thương (Đền Trần Thương):
Thủ Độ sinh thời cứ thử phương,
Trúc đệ kiến lũy lập binh thương.
Thiên triều vị yếm Nam xâm nhật,
Hưng Đạo tiên phòng diệc tích lương
Nhân đố Lý thần tàn ác thậm,
Hựu suy Trần tướng võ công dương...
(Thủ Độ lúc sinh thời chiếm cứ nơi này,
Đắp bờ xây lũy lập kho binh lương.
Thiên triều chưa lúc nào từ bỏ ý muốn xâm lấn phương Nam,
Hưng Đạo phải phòng bị trước việc tích chứa lương thảo.
Nhân tâm đã oán ghét kẻ bề tôi nhà Lý tàn ác,
Lại suy tôn vị tướng nhà Trần võ công hiển hách...)
Không chỉ cảm hứng lịch sử được tiếp nối mà cảm hứng thế sự cũng thấy ở rất nhiều sáng tác thơ văn. Có điều, nó đã mang một sắc thái mới. Phạm Văn Nghị khi đi hộ đê đã viết Tri Lý Nhân phủ nhân hành đê ngẫu thuật Thanh Liêm huyện sự trạng (Làm Tri phủ Lý Nhân nhân coi đê thuật lại tình trạng huyện Thanh Liêm):
Khứ niên chi hỏa, kim niên thủy,
Thanh Liêm nhất huyện hà đa sự.
Kỳ vị thiên da ức nhân da,
Hoặc nhiên giả số tất nhiên lý.
(Năm ngoái cháy to, nay lụt liền,
Thanh Liêm một huyện rối bao phen.
Do trời, hay bởi người nên nỗi,
Là số hay là lý tất nhiên?)
Thơ Nguyễn Khuyến cũng miêu tả nhiều cảnh lụt lội, thiên tai. Nhưng đó là cái hiện thực làng quê, lại có cái hiện thực phố. Tú Xương viết ông Cò:
Hà Nam danh giá nhất ông Cò,
Trông thấy ai ai chẳng dám ho.
Hai mái trống toang đành chịu dột,
Tám giờ chuông đánh phải nằm co.
Người quên mất thẻ âu trời cãi,
Chó chạy ra đường có chủ lo.
Ngớ ngẩn đi xia may vớ được,
Chuyến này ắt hẳn kiếm ăn to.
Bài thơ đả kích một nhân vật phản diện ở Hà Nam. Cái thực trạng hài hước ấy là ánh phản của sự va chạm văn hoá. Rõ ràng đời sống cổ truyền đã bị văn minh phương Tây làm cho rạn nứt. Nhà thơ đả kích một kẻ đại diện cho trị an thời Pháp thuộc, ý định ấy là tốt; nhưng cái lề thói “sinh hoạt” bừa bãi thì có nên giữ mãi không?
Tâm sự thời cuộc còn được phản ánh bằng hình thức ngụ ngôn. Vũ Văn Lý viết Gia cẩu (Chó nhà):
Vô học nhi tri thế bất đa,
Hữu lai môn vấn thị thùy da?
Phi nhân cẩm trướng kim sàng ngoạ,
Vi thú chiêm đoàn đạo tịch khoa.
Trung hiếu thành tâm cứ giáo dưỡng,
Thuận tòng nguyện báo hữu thi ca.
Cổ thời khắc thạch tiêu huân nghiệp,
Kim giám thiên thu đối hải hà.
(Không học mà đã biết, đời không có mấy,
Có kẻ đến hỏi, đó là ai vậy?
Chẳng phải người nơi trướng gấm nệm vàng,
Là con thú nằm ổ rơm, chiếu rạ.
Thế mà một niềm trung hiếu với người nuôi nấng,
Hết lòng thuận theo, từng có thơ khen.
Thời xưa khắc vào đá nêu công lao,
Nay là gương sáng nghìn thu với non sông, đất nước),
và Miêu nhi (Con mèo):
Sinh cư sơn lý hạ nhân gian,
Vị luyến bần dân trợ nhất nan.
Diệt thử lương tài thiên cổ trọng,
Cứu hoà duy vọng vạn hương an.
Xã tắc bất đạn trừ nguy hại,
Thảo xá phi vong té vũ hàn.
Đáo lão trung trinh tòng cựu chủ,
Tự tiền mạc chí hậu lai khan.
(Sinh ra từ rừng núi, xuống nhân gian,
Vì thương người nghèo mà giúp việc khó khăn.
Có tài diệt chuột, ngàn xưa trọng vọng,
Cứu lúa chỉ mong làng xóm no ấm.
Nơi đàn xã không ngại trừ nguy hại,
Nơi nhà tranh không quên giúp rét mưa.
Đến già vẫn trung trinh theo chúa cũ,
Sao chẳng ai ghi lại (điều ấy) để kẻ sau xem gương).
Viết về chó, về mèo là để nói về công lao giúp rập, khuông phò và để nói về chữ trung. (Phạm Quý Thích cũng có tác phẩm Bần gia nghĩa khuyển truyện (Truyện con chó nhà nghèo có nghĩa) là để chỉ lòng trung với vua Lê, ám chỉ đả kích kẻ bỏ Lê, theo Nguyễn hồi đầu thế kỷ XIX). Còn ở đây, Vũ Văn Lý cũng nói đến chữ trung, nhưng không phải trung với triều này hay trung với triều kia, mà là trung quân, ái quốc. Có thể thấy lịch sử đã tác động đến tâm lý, nhận thức người cầm bút. Có cái gì đó đang xảy ra và đang có sức lay động khá sâu.
Đinh Gia Hội viết Dị giáo (Giáo phái lạ):
Vị sùng dị giáo chí sinh tai,
Đắc bệnh nan trừ cô bệnh sai.
Lý, Phạm dĩ Lê nhân trạch thiếp,
Bùi, Dương vị thực thiểu sung hoài.
Đông minh ngự bảo thiên dân tử,
Nam hải phòng thành vạn thế mai.
Vị kiến lương du tòng thượng xuất,
Tiên tri loạn thế dĩ trùng khai.
(Vì súng giáo phái lạ nên mới có tai hoạ,
Bệnh mới không trừ, thành cố tật thì khó chữa.
Hai họ Lý, Phạm lấy danh phù Lê thấm ơn nhân đức,
Họ Bùi, họ Dương thì vin lẽ rằng đời sống cực khổ.
Tại miền Đông đồn luỹ phòng ngự chết hàng nghìn dân,
Duyên hải phía Nam việc chống trọi không kết quả.
Chẳng biết triều đình có mưu kế gì hay,
Hẳn là đời loạn lại đã hiện từ đây).
Không khí mà bài thơ miêu tả không có gì khác câu thơ Nguyễn Đình Chiểu “Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây”. Vậy là thời cuộc thay đổi được diễn tả rất rõ ràng trong bài thơ. Và người trí thức lại “ưu thời mẫn thế” trong những vần thơ lo lắng cho vận nước. Không ít lần cụm từ Quốc vận đã ngân lên với niềm khắc khoải. Bùi Dị viết Ngộ Tam Đăng Phạm công Đăng Giảng (Gặp ông Phạm Đăng Giảng quê ở Tam Đăng):
Hương thủy Bình sơn tự cổ như,
Bất tri quốc vận hữu đồng cư.
Tửu trà diên thượng nghi vô túy,
Ngã nhĩ quy hoài diệu hữu tư...
(Nước Hương Giang, núi Ngự Bình từ xưa vẫn thế,
Chẳng biết vận nước có vững được thế chăng?
Rượu chè trên tiệc chớ nên say sưa,
Ta và ông trở về nên cố tìm diệu kế hay...)
Bùi Kỷ viết trong bài Bái Đặng Xá Phật (Lễ Phật chùa Đặng Xá):
Vị tri quốc vận như hà giả?
Duy Vọng gia hương miễn thụ hoàng...
(Chẳng hiểu rồi vận nước sẽ ra sao?
Chỉ mong quê nhà được yên lành)...
Vận nước đang đứng trước thử thách, câu hỏi đánh hay hoà lúc ấy chia sĩ phu thành hai phái. Điều đó cũng ảnh hương tới văn học. Thuộc phái quyết đánh Pháp, Trần Huy Liễn viết Nam lộ chi Sơn Thuỷ tự ngộ Giao Cù Vũ Hữu Lợi công (Trên đường từ phía Nam đến chùa Sơn Thuỷ gặp ông Vũ Hữu Lợi người Giao Cù):
Sóc phong đại khởi giác thân hàn,
Hốt ngộ mao gia tại lộ bàng.
Thủy nhập ẩm trà bôi bán hạc,
Tức phùng Vũ tướng diện tương hoan.
Sinh cư loạn thế thân hà miễn,
Khuyến vị hương dân đảm bất hàng...
(Gió Bắc ù ù thổi, thấy ớn lạnh,
Bỗng gặp ngôi quán tranh bên đường.
Mới vào uống được nửa chén trà,
Gặp ngay họ Vũ, mặt nhìn mặt đều vui.
Sống vào thời loạn, thân mình sao có thể tránh?
Khuyên nhau vì dân mà gánh vác không hàng...)
Tri phủ Nam Xang Hoàng Văn Tuấn nghe tin nhà Nguyễn ký hoà ước bèn bỏ quan về quê kháng Pháp, làm thơ tỏ chí:
Xã tắc đắm chìm dân đau thương,
Chim muông, tôm cá cũng tai ương.
Bao giờ đất nước thu về được,
Ngâm khúc khải hoàn yên bốn phương.
Có người từ quan về sống ẩn dật, bất hợp tác, tỏ lòng trong thi văn. Tiêu biểu là Nguyễn Khuyến. Sống ẩn dật, điền viên vốn là phong cách có từ trong sáng tác giai đoạn trước, đến đây lại được tiếp nối và cũng mang những sắc thái mới.
Vườn Bùi chốn cũ,
Bốn mươi năm lụ khụ lại về đây...
Nguyễn Khuyến đã viết như thế, mở đầu cho thời kỳ quy ẩn. Ông về quê Yên Đổ làm thơ trào phúng đả kích quan lại, đả kích cả triều đình hèn yếu và cười cợt cả sự bất lực, vô tích sự của mình - một kẻ được tiếng là mũ áo. Từ ông, xuất hiện nhân vật con người thừa trong văn chương. Ông làm thơ Nôm vịnh cảnh làng quê và để lại chùm bài thơ mùa thu nổi tiếng. Có người gọi ông là nhà thơ làng cảnh. Có nhà nghiên cứu còn phát hiện ra rằng cái ao nhỏ trong veo tận đáy, bầu trời xanh xanh ngắt đến vô cùng chính là để diễn tả sự trống rỗng của một tâm trạng bi kịch: “Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt; Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe”. Đó là cái bi kịch của người trí thức mất nước, tấm lòng của nhà thơ đối với đất nước, non sông thầm lặng mà sâu sắc. Nguyễn Khuyến sáng tác nhiều cả thơ chữ Hán lẫn chữ Nôm. Ông là tác giả của những vần lục bát tài hoa, giàu cảm xúc:
Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta...
Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua không phải không tiền không mua...
Tuổi già giọt lệ như sương,
Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan...
Nguyễn Khuyến còn là tác giả đầu tiên của loại thơ song ngữ, làm thơ chữ Hán và tự dịch ra Nôm. Cả bài chữ Hán, bài chữ Nôm đều song hành tồn tại, và cùng một chủ thể sáng tạo.
Sự nghiệp thơ văn Nguyễn Khuyến khép lại thế kỷ XIX, khép lại cả thời kỳ văn học Hán Nôm, không chỉ của riêng văn học viết Hà Nam mà là của cả văn học viết dân tộc. Có thể nói ông là một tập đại thành những thành tựu thơ ca Hán-Nôm.
B- VĂN HỌC VIẾT HÀ NAM TỪ ĐẦU thế kỷ XX ĐẾN NAY
Phân chia văn học viết thành hai thời đại văn học lớn, cũng chỉ mang tính ước lệ. Thực ra từ nửa cuối thế kỷ XIX, những yếu tố của một bộ phận văn học mới đã hình thành và phát triển khác với văn học truyền thống bằng Hán Nôm. Cho đến cuối thế kỷ XIX bộ phận văn học mới đó đã lộ diện khá rõ, sang nửa đầu thế kỷ XX thì nó đã tăng tốc và bỏ xa hẳn văn học truyền thống. Đó là văn học quốc ngữ La-tinh. Như vậy có một khoảng thời gian dài gần một thế kỷ, từ thời điểm Pháp sang xâm lược (1858) đến khi Nhật ký trong tù bằng chữ Hán xuất hiện (đầu những năm 40 của thế kỷ XX), văn học Hán-Nôm truyền thống và văn học quốc ngữ đan xen nhau. Quãng cuối thế kỷ XIX văn học truyền thống còn chiếm ưu thế, thì ở mấy chục năm đầu thế kỷ XX, văn học quốc ngữ (La-tinh) đã chiếm ưu thế hơn hẳn. Tinh hình ấy cũng được thể hiện khá rõ ở văn học viết Hà Nam giai đoạn này.
I. VĂN HỌC VIẾT HÀ NAM TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX ĐẾN 1945
Kép Trà là nhà thơ nối tiếp truyền thống trào phúng từ Nguyễn Khuyến, Tú Xương. Nguyễn Khuyến trào phúng mà thâm thúy, hài mà bi. Tú Xương trào phúng sâu cay, còn Kép Trà thì đả kích trực diện, đốp chát, giọng thơ quyết liệt:
Trói thằng đánh dậm lần lưng khố,
Bắt đứa hoang thai liếm đũng quần...
Ông mạt sát, thậm chí chửi rủa bọn tham quan ô lại, chửi thẳng tên, chỉ đích danh:
Tụng tếch, Tuân đi, Tôn đã qua,
Mần răng lại gặp cái bầy choa.
Ba que nó vẫn dòn tay sỏ,
Chín tổng nào ai há miệng ra.
Châm đóm đã mòn chân chó sói,
Soi gương chẳng thẹn mặt dơi già...
Nhưng nhiều khi thơ ông cũng mát mẻ, bóng gió:
Quan lớn về coi Phủ Lý tôi,
Dân nhiều thổ sản khó lòng xơi.
Duy Tiên bún trắng hai chiều chợ,
Kim Bảng sim xanh mấy ngọn đồi.
Bình Lục phì phèo mồi thuốc vặt,
Thanh Liêm bỏm bẻm miếng trầu hôi.
Nam Xang mang tiếng dân cò trắng,
Đồng ruộng, ao sâu lắm ốc nhồi.
(Gửi quan tỉnh Hà Nam mới nhậm chức)
và Cảnh nhà được ông miêu tả, vẫn là hài mà đượm nỗi chua xót:
Ba gian nhà rách tách làm hai,
Gia chủ ngủ trong, khách nợ ngoài.
Mặt đứa tiểu đồng ngay cán thuổng,
Lưng con thị nữ lép bàn mai.
Chó nằm kẽ ngạch nhờ hơi đất,
Lợn đứng bờ ao mút dãi khoai...
Trào phúng cũng là một khía cạnh của văn thơ yêu nước. Trong văn học viết Hà Nam đầu thế kỷ XX còn có một số tác giả trực tiếp thể hiện lòng yêu nước qua thơ văn. Tiêu biểu trong số đó là Phạm Tất Đắc với bài Chiêu hồn nước - những vần thơ ngang trời dọc đất:
Cũng nhà cửa, cũng giang san,
Thế mà nước mất nhà tan hỡi trời.
Nghĩ lắm lúc đang cười hóa khóc,
Muốn ra tay ngang dọc, dọc ngang.
Vạch trời thét một tiếng vang,
Cho thân tan với giang san nước nhà...
Ngoài ra, trong văn học yêu nước Hà Nam còn xuất hiện khá nhiều tên tuổi khác như là Hồ Xanh, Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Duy Huân. Thơ văn của những tác giả này hòa nhập cùng văn học yêu nước của cả dân tộc với những tác giả - chí sĩ như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Huỳnh Thúc Kháng...
Hồ Xanh sáng tác bài thơ Với nhà thi sĩ để thể hiện bằng thơ quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh của mình. Thơ ông còn có những hình ảnh rất chân thực về cuộc sống lam lũ của người dân quê, như hình ảnh một người nông dân đang bừa ruộng.
Anh thợ cày đầu ruộng nặng đưa chân,
Đang bừa xốc, áo quần bùn nước xạm.
... Còng rạp lưng, anh thở hơi hồng hộc,
Luống cày dài anh đè đầu cỏ ngóc.
... Một cây đa im lặn ạ đứng trên đồng,
Nhìn anh tắm dòng mồ hôi hoen ố.
Trước mặt anh đống thịt đứng lù lù,
Đang nghiêng kéo anh đi và lúc lắc.
Đống thịt? Là vợ anh, là con vật,
Ôi! “Con trâu người” phơi dưới vầng ô.
(Đang bừa)
Hay hình ảnh một Bà hàng bánh ngồi bán bánh sau trận lụt lớn:
Dựa gốc đa một bà già lọm khọm,
Ôm mẹt bánh chưng ngồi như sâu róm...
... Bà đợi khách mắt mờ, mồm há hốc,
Trên đầu rối, mối tơ xòa trắng mốc
Có ai qua? bà mời khẽ phều pháo...
Thế rồi:
Từ xa đến, bộ xương người chậm chạp,
Bước uể oải, lồng mắt lia tia xám.
Rồi thò tay, quờ giật bánh chạy liền...
Hóa ra cả người có bánh bán, lẫn người ăn cướp bánh đều là những kẻ đang lâm vào cảnh sắp chết đói. Vậy nên, khi đuổi kịp, bắt được kẻ ăn cướp thì:
... Hai bộ xương mắt nhìn hau háu
Mưa lệ đâu cùng chảy loãng mồ hồi,
Cùng đau thương, cùng sùi sụt giữa trời.
Thơ ca yêu nước Hà Nam đến đây, tuy vẫn có bộ phận nối mạch với trào phúng truyền thống, nhưng ngôn ngữ và đề tài đã mới hẳn. Quan niệm văn học cũng đã có phần nhập lưu với thế giới chứ không chỉ hạn hẹp trong văn học vùng Đông Á nữa.
Đầu thế kỷ XX, văn học viết Hà Nam cũng xuất hiện một loại hình tác giả mới: vừa là nhà thơ, nhà văn vừa là nhà khảo cứu phê bình. Đó là hiện tượng Bùi Kỷ.
Bùi Kỷ sáng tác khá nhiều thơ và điều lạ là ông làm thơ quốc ngữ trước khi làm thơ chữ Hán. Ông làm thơ chữ Hán từ khi đi kháng chiến chống Pháp đến khi mất (1960). Thơ Bùi Kỷ cũng có bài trào phúng, tương tự giọng thơ cười mỉa, biếm trích của Nguyễn Khuyến như bài Phường chèo chẳng hạn:
Áo xiêm lụng thụng cũng ê chề,
Mỗi một trò ra một lũ hề.
Cười khóc mặt kia thường giả dối,
Gian ngay vai ấy mặc khen chê.
Phấn son loang lổ mà nên chuyện,
Trống mõ lung tung cũng đủ nghề...
Bài thơ được chính tác giả chú thích là “viết vào lúc thay đổi /Nội các của triều Huế hồi Nhật chiếm đóng”.
Còn nói chung, thơ ông bàng bạc, hoài cảm, chán quan trường nhưng lại nhiều băn khoăn, ưu lo về lẽ đời, lẽ đạo, về sự hành xử của bản thân. Tác giả Tự thán:
Lờ đờ mặt trắng đời không bạn,
Lận đận đầu xanh tuổi đã già.
Sống nổi không chìm nên mến nước,
Người tan muốn hợp phải lo nhà.
Rạp tuồng vân cẩu còn đông khánh,
Góc túi càn khôn đủ chứa ta...
Hay như tác giá Tâm sự.
Hình hài mặc kệ có hay không,
Chỉ một lòng đây tự biết lòng.
Một khối gan liền như sắt đá,
Chín hồi quấn chặt với non sông.
Đen thay trắng đổi càng tươi thắm,
Nguyền nhạt thề phai vẫn thủy chung.
Lòng tự biết lòng, lòng mới hả,
Hình hài mặc kệ có hay không.
Và Bùi Kỷ còn có Thân thế luận, Văn bia kỷ niệm Tiên Điền Nguyễn tiên sinh, Vân chương và hàng chục bài khảo cứu, giới thiệu, dẫn giải về các tác phẩm văn học cổ, trung đại. Ông là một trong những học giả có công lớn trong việc xây nền, đắp móng cho khoa nghiên cứu văn học cổ nước nhà. Ông còn là dịch giả mấy tác phẩm văn học cổ nổi tiếng như Tam quốc diễn nghĩa (Trung Quốc) và Bình Ngô đại cáo (Việt Nam)...
Một người có đóng góp khảo cứu văn hóa kiểu như Bùi Kỷ, nhưng ở một mảng hẹp hơn là Ngô Vi Liễn, tác giả Địa dư huyện Bình Lục. Mới nghe, thì đây là một cuốn địa chí. Nhưng đi sâu xem xét tác phẩm thì thấy đây là một cuốn địa chí văn hóa. Ngoài những phong tục, tập tục, hội lễ, đền, chùa, đình, quán được miêu tả và ghi chép kỹ lưỡng, còn có hàng loạt các thần tích, thần phả, truyện ký được tái hiện đầy đủ, công phu. Người làm văn học dân gian mà gặp được Địa dư huyện Bình Lục thì coi như đã có trong tay một tập tài liệu vô cùng quý.
Sáng tác văn học Hà Nam quãng cuối những năm 30 của thế kỷ trước, xuất hiện hai tên tuổi: Nam Cao và Bàng Bá Lân. Trong đó, Nam Cao là một nhà văn lớn. Nếu ở văn học Hán-Nôm truyền thống, Hà Nam có thi hào Nguyễn Khuyến, thì ở văn học quốc ngữ hiện đại, Hà Nam có văn hào Nam Cao. Hai tên tuổi lớn đó, đại diện cho hai thời đại văn học, khiến Hà Nam nổi danh là đất văn chương, là niềm tự hào của văn học viết Hà Nam nói riêng và của cả nước nói chung.
Nam Cao trước 1945 là tác giả của rất nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết. Trong đó, đặc biệt phải kể đến Chí Phèo và Sống mòn.
Chí Phèo là hình tượng văn học điển hình của người nông dân bị bần cùng đến mức lưu manh hóa. Đó là ý nghĩa của ngôn bản tác phẩm. Nhưng còn “ý tại ngôn ngoại” của Chí Phèo, có lẽ rộng hơn. Đấy là hình tượng điển hình của con người khi người ta đã bị đẩy đến đường cùng, khi bị tước đoạt hết những gì là thiện, là chân còn sót lại. Chẳng phải là đã xuất hiện khá nhiều những “anh chí” các kiểu, các loại đó sao?
Sống mòn cũng xây dựng được một nhân vật điển hình - giáo Thứ là điển hình cho lớp trí thức nghèo và cũng có phần bị bần cùng hóa. Họ cố giữ cái thiện lương của tâm hồn và cái thiện lương của nghề nghiệp, nhưng rồi nhiều khi vẫn bị đẩy vào những hoàn cảnh phải toan tính một cách ty tiện, đầy tội nghiệp. Giáo Thứ cũng là hình ảnh của những “ông đồ” xưa, tuy thanh sạch nhưng còm cõi và khổ ải. Như ông đồ “ba quan” trong văn Phạm Quý Thích: “Ba quan trò trẹt cày bằng lưỡi; Mấy miệng thê nhi, gắng đủ ăn”; hay “quan đồ” đầy biếm họa trong thơ Tú Xương: “Hỏi ra quan ấy ăn lương vợ”... Và giáo Thứ còn là hình ảnh ám ảnh mãi trong lòng các nhà giáo nghèo suốt một thời khá dài.
Ngoài Chí Phèo và Sống mòn, Nam Cao còn sáng tác những tác phẩm vào loại hay nhất của văn xuôi Việt Nam, như Lão Hạc, Trăng sáng, Đời thừa... Đó còn là những truyện ngắn có thể so sánh với số truyện ngắn hay nhất trên toàn thế giới. Có thể coi Nam Cao là văn hào có tầm mức dân tộc và quốc tế.
Bàng Bá Lân là một nhà thơ. Ông có lẽ là nhà thơ gốc Hà Nam duy nhất được tuyển trong Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh. Hoài Thanh đã so sánh thơ quê Bàng Bá Lân với thơ quê Nguyễn Bính và Anh Thơ. Hoài Thanh cũng nhìn ra cái “thú điền viên” trong thơ Bàng Bá Lân. Phong cách điền viên của mấy cây bút Hà Nam đã bắt mạch suốt từ văn học viết thời Lê, đến Nguyễn Khuyến và đến nhà thơ họ Bàng này. Nguyễn Khuyến - “nhà thơ làng cảnh Việt Nam” miêu tả cảnh trưa hè:
Trâu già gốc bụi phì hơi nắng,
Chó nhỏ bên ao cắn tiếng người.
Ngửa mặt ông kia chơi mới khỏe,
Suốt hôm một sáo thổi lưng trời.
Thì cũng phảng phất như thế, Bàng Bá Lân viết:
Dưới gốc đa già trong vũng bóng
Nằm mát đàn trâu ngẫm nghĩ nhai...
... Quán cũ nằm lười trong sóng nắng,
Bà hàng thưa khách ngả thiu thiu,
Nghe mồ hôi chảy đầm như tắm...
Đứng lặng trong mây một cánh diều.
Thi nhân Việt Nam, được mệnh danh là thơ mới. Đã mới hẳn so với truyền thống - đúng thế! Nhưng nguồn ngọn sáng tạo của nó vẫn có từ truyền thống.
Văn học viết Hà Nam giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đã bước hẳn từ truyền thống sang hiện đại. Bên cạnh thơ, đã xuất hiện các thể loại mới như truyện ngắn (quốc ngữ), tiểu thuyết và khảo cứu phê bình văn học. Đã xuất hiện tác giả lớn, khẳng định vị trí của văn học Hà Nam hiện đại. Văn học Hà Nam với những tác giả, tác phẩm vừa kể đã tạo nên một vùng văn học không thể thiếu và hết sức gắn bó với toàn cảnh văn học viết dân tộc.
II. Văn học viết Hà Nam từ 1945 đến nay
1. Về tổ chức và lực lượng sáng tác
Sau Cách mạng tháng Tám, trong chín năm kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), hơn hai mươi năm chống Mỹ (1954 - 1975) và xây dựng chủ nghĩa xã hội, rồi thời kỳ từ 1976 đến nay văn học viết Hà Nam vẫn tiếp tục phát triển trên truyền thống văn học suốt một nghìn năm.
Những cây bút từ thời kỳ trước 1945 như Bùi Kỷ, Nam Cao, Bàng Bá Lân, Lê Tư Lành vẫn tiếp tục sáng tác, viết nghiên cứu phê bình và có những đóng góp đáng kể. Ở Hà Nội và một số vùng miền khác, xuất hiện một số tác giả làm công việc nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học như Đỗ Văn Hỷ, Bùi Duy Tân, Nguyễn Văn Trung, Trần Thị Băng Thanh, Lại Nguyên Ân, Vũ Văn Sĩ... tập trung ở Viện nghiên cứu Văn học và một số trường đại học.
Lực lượng viết văn, làm thơ tập trung ở Hội Nhà văn Việt Nam và một số Hội Văn học nghệ thuật các tỉnh, thành. Tại Hà Nam, đến 1997 mới có Hội Văn học nghệ thuật riêng, tập trung được khá nhiều văn nghệ sĩ; còn trước 1997 các văn, thi sĩ tỉnh nhà hoạt động trong Hội Văn học nghệ thuật các tỉnh Nam Hà, rồi Hà Nam Ninh, rồi lại Nam Hà. Cũng có một số người viết không vào Hội, hoặc chưa nhập Hội.
Hội Văn học nghệ thuật Hà Nam có tiếng nói là tờ tạp chí Sông Châu, tên tờ tạp chí lấy ý nghĩa biểu tượng là vùng văn hóa sông Châu - núi Đọi, nơi chủ yếu đăng tải các sáng tác thơ văn, các bài nghiên cứu, phê bình...
Bên cạnh số đông các tác giả văn, thơ; có một số nhà nghiên cứu văn học với khá nhiều đóng góp cho việc khai thác, thức nhận các giá trị văn chương như Nguyễn Văn Huyền, Bùi Văn Cường, Nguyễn Tế Nhị...
Lại có một số tác giả gắn bó với loại hình sân khấu, dàn dựng thành công hàng chục vở diễn, trong đó có những vở diễn gây được tiếng vang như Suối tiên, Bài thơ treo dải yếm đào...
2. Một vài nét về đặc điểm nội dung và nghệ thuật thơ văn Hà Nam đương đại
Vốn là “đất học”, là “thang mộc ấp” xưa của triều đại nhà Trần, từ trong nguồn mạch, Hà Nam đã vừa là nơi phát tiết lại vừa là nơi quy tụ những anh tài, góp vào dòng chảy chung của văn học dân tộc những tên tuổi lớn. Vì vậy, một trong những đặc điểm nổi bật của đội ngũ tác giả văn học Hà Nam là, bên cạnh những tác giả vốn sinh trưởng trên mảnh đất này, còn có một lực lượng các cây bút đến từ nhiều miền đất khác nhau, trong cuộc đời mình đã từng dừng lại trong thoáng chốc hoặc chọn nơi này để “an cư”, và đem đến cho văn đàn một sinh lực mới, một cái nhìn mới, qua đó cuộc sống và con người Hà Nam không chỉ được cảm nhận từ bên trong mà còn được soi chiếu từ bên ngoài. Qua thời gian dằng dặc, không gian mênh mông, con người tìm thấy ở đây hồn phách của tiền nhân tụ lại trên núi Đọi, sông Châu, Kẽm Trống, đền thờ Vũ Nương, in dấu trên mỗi con đò, mỗi bến sông, mỗi giếng làng, mỗi “ngõ trúc quanh co” vắng vẻ. Từ Hà Nam ra đi, những cây bút như Hữu Mai, Bão Vũ, Trần Đức Tiến, Trúc Cương, Trúc Thông, Vĩnh Quang Lê, Trương Hữu Lợi, Nguyễn Hoa... đã thành danh. Từ nơi khác tụ về, Lương Hiền, Thi Hoàng, Đỗ Thị Thu Hiền... quả đã tìm được mảnh đất lành cho tài năng của mình cất cánh. Và những “viễn khách” chợt dừng bước phiêu du, như Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Chu Văn, Quang Dũng, Vũ Cao, Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Mậu, Võ Văn Trực, Đỗ Chu... cũng “bắt được” những tứ thơ đẹp, những ý văn hay, khơi nguồn cho cảm hứng sáng tạo nghệ thuật.
2.1. Văn xuôi Hà Nam
2.1.1. Mảng văn xuôi viết về chiến tranh
Chiến tranh là một đề tài mang tính truyền thống của văn học Việt Nam. Viết về chiến tranh là khát vọng, là ao ước, đồng thời cũng là sứ mệnh mà những người cầm bút vươn tới. Các tác giả Hà Nam đã có được một độ lùi cần thiết khi viết về đề tài này. Đó không chỉ là tái hiện cuộc chiến như nó đang xảy ra, sống động, căng thẳng, thử thách lòng dũng cảm và sự hy sinh của mỗi con người trước hòn tên mũi đạn, mà còn là sự chiêm nghiệm của họ khi chiến tranh đã đi qua, một sự chiêm nghiệm sâu sắc, thấm thía, ít nhiều mang tính triết học.
Nhân vật trong mảng văn xuôi viết về chiến tranh không chỉ là những người lính. Họ là những cô gái mở đường dũng cảm hy sinh cho tuyến đường và xe cộ được an toàn (Ráng chiều), là những người phụ nữ can đảm chờ chồng qua hai cuộc chiến tranh (Nàng Tô Thị không hóa đá), là cô du kích gan dạ đối mặt với đòn thù tra tấn và cả cái chết (Thảo trong Cây mai mồ côi của Vũ Tuyến, Mai trong Tóc trắng của Đào Thắng). Họ góp phần hoàn thiện bức tranh hoành tráng về chiến tranh, khiến cho chiến tranh mang thêm một khuôn mặt khác, khốc liệt hơn nhưng cũng trữ tình hơn.
Có thể kể đến Hữu Mai với các tiểu thuyết Cao điểm cuối cùng, Vùng trời, ông cố vấn, và một số truyện ngắn, kịch bản phim. Tác phẩm nào của ông cũng như loạt pháo mở màn cho cuộc tiến công vào những “cứ điểm” mới, những miền đất chưa có ai khai phá, những con người ẩn mình sau ánh hào quang với những chiến công và những hy sinh lặng lẽ.
Tác giả Lương Hiền lại chọn một khía cạnh khác để tiếp cận: chiến tranh đã đi qua nhưng những hậu quả của nó để lại thì vẫn còn gây tổn thất khôn lường. Truyện ngắn Tiếng bom hòa bình của ông (được giải nhất cuộc thi truyện ngắn Tạp chí Văn nghệ quân đội năm 1984) vừa là lời cảnh báo “con người, hãy cẩn thận”, lại vừa là lời ngợi ca phẩm chất tốt đẹp của những người lính trong thời bình như Lư, Nhã, Hảo, Hải quả cảm, không tiếc máu xương, không “tự ngắm mình” một cách cao ngạo. Nhưng bên cạnh đó, Lương Hiền cũng khắc họa những nét tính cách khác nhìn từ góc tối của nhân vật người lính, những người như trung tá Lê Sự sợ trách nhiệm, sợ thất bại làm mất uy tín đã ngoảnh mặt làm ngơ trước một trái bom đang chờ phát nổ, như đại tá Điền hẹp hòi và cơ hội. Một trái bom lộ ra trên công trường xây dựng giữa thời bình đã làm cho xáo đảo, náo loạn tất cả, từ đó, bệnh quan liêu thâm căn cố đế được lột trần. Một vấn đề thú vị được đặt ra: Tại sao trong thời chiến, người ta có thể đối mặt với hàng tấn bom đạn mà không run sợ, không đùn đẩy từ cấp nọ sang cấp kia, mà trong thời bình, chỉ một quả bom cũng làm người ta sợ hãi, bạc nhược đến thế?
Đặc biệt, các nhà văn vốn không phải là người gốc Hà Nam đã góp vào dòng văn xuôi tỉnh nhà những tác phẩm đặc sắc: Sao Mai với truyện ngắn Đi, Đỗ Chu với Ráng đỏ, và Bão Vũ với phóng sự Một kilômet.
2.1.2. Mảng văn xuôi viết về cuộc sống sau chiến tranh
Khi các cuộc chiến tranh kết thúc, khói lửa và bom đạn đã lắng xuống, công cuộc tái thiết đất nước bắt đầu. Từ thị xã nhỏ bé đến các vùng quê xa xôi, ngổn ngang bao nhiêu vấn đề phải giải quyết. Và cũng chính từ cái hiện thực ngổn ngang đó, cuộc sống thời bình hiện ra với những khuôn mặt, những sắc thái riêng. Con người không còn phải đối mặt với sự sống và cái chết, tính cách con người không chỉ là tốt hay xấu, hèn nhát hay dũng cảm, mà đã trở nên phức tạp, khó nắm bắt hơn rất nhiều. Ranh giới giữa sự khôn ngoan và thói cơ hội, giữa sự năng động và những toan tính cá nhân, giữa tốt và xấu trở nên hết sức mong manh, dễ nhoè lẫn. Điều đó đặt ra cho những người cầm bút những thử thách mới, đòi hỏi ở họ không chỉ sự trải nghiệm, quan sát thực tế, mà còn ở sự tinh tế, nhạy cảm, ở khả năng phân tích tính cách và tâm trạng nhân vật. Đỗ Thị Thu Hiền, Nguyễn Khảm, Nguyễn Sơn Hà... đã bám sát hiện thực ở nông thôn, nơi nhịp điệu cuộc sống diễn ra ngỡ như chậm rãi, bình lặng mà kỳ thực quyết liệt, dữ dội ngấm ngầm. Nông thôn Việt Nam sau 1945 nói chung đã trải qua nhiều thăng trầm, từ hình thức hợp tác xã nông nghiệp đến khoán ruộng, từ tổ đổi công đến chia hẳn ruộng đất lâu dài cho người lao động, từ sự hành chính hóa công việc nhà nông đến việc để cho nông dân tự do canh tác trên thửa ruộng riêng của mình... Tất cả những thay đổi ấy đều phải trả giá, đều ít nhiều tác động đến tâm tư, tình cảm, các mối quan hệ làng xóm vốn xưa nay vận hành theo một quy luật khác, một quỹ đạo khác. Các nhân vật của họ, như Kiên (Mảnh đời nơi sơn dã - Đỗ Thị Thu Hiền), Tháy (Thời gian đang đi - Nguyễn Sơn Hà), Chểnh (Làng rừng - Nguyễn Khảm), Ba (Nụ cười làng Tam Tiếu - Đoàn Ngọc Hà)... có thể được xem như tiêu biểu cho một loại người thoát thai từ những cơ chế ấy, méo mó, dị dạng một cách khôn khéo như con tắc kè thay những cái đốm trên thân mình để hoà lẫn với môi trường xung quanh, những con người ấy một khi nắm chức quyền trong tay sẽ trở nên nguy hiểm khôn lường.
Đoàn Ngọc Hà với truyện ngắn được giải Nhất báo Văn Nghệ 1986 Nụ cười làng Tam Tiếu, đã mang đến một tiếng cười phức hợp, nửa từ truyền thống lễ hội mang tính hài hước kiểu carnaval, nửa giễu cợt thâm thuý kiểu Nam Cao, cười đấy mà chua chát đấy. Qua tiếng cười ấy, người ta nhận ra phong cách sống của một thời: sống ào ào mà hời hợt, dễ tin đến thành vô tâm. Đó là mảnh đất để những kẻ cơ hội như nhân vật Tạ Phong Ba lợi dụng, ngoi lên chức vị cao, từ một kẻ ngu dốt trở thành “người hùng”, nói ra điều gì cũng trở thành chân lý. Đặc biệt Đoàn Ngọc Hà còn có tài xây dựng kiểu “nhân vật đám đông”: chính họ bằng sự tung hứng ngớ ngẩn của mình đã góp phần “phong vương” cho cái xấu, cái dốt lên ngôi. Còn Trần Đức Tiến, Bão Vũ, Trần Văn Tuấn lại trầm lắng hơn, lặng lẽ quan sát và lặng lẽ hoá thân, đột nhập vào thế giới tâm trạng của con người, cái thế giới ẩn giấu biết bao điều sâu kín, bí ẩn, đầy bất ngờ. Nhân vật của họ dường như suy tư, ngẫm ngợi nhiều hơn hành động, tự soi chiếu bản thể mình qua nhiều góc nhìn, nhiều mối quan hệ khác nhau, để rồi đến một khoảnh khắc nào đó vụt biến đổi, những nội lực được thoát thai và trở thành sức mạnh. Cái sức mạnh ấy cũng khiến người đọc bất ngờ không kém, bởi nó lại mở ra một thế giới khác, một tính cách khác chưa hề có, cũng không thể lường trước được. Hoàng Giang Phú, bằng một giọng kể ngậm ngùi mộc mạc, đã tái hiện lại thân phận những con người chịu bao bất hạnh, hy sinh tất cả vì những người ruột thịt, có chút gì đó gần với những câu chuyện của Nam Cao. Tác giả biết dồn nén các sự kiện, các chi tiết trong một câu chuyện giản dị, nhịp văn lại chậm rãi, nhẹ nhàng, tạo được sức lôi cuốn từ người đọc.
Thu Loan là một tác giả nữ còn rất trẻ. Các tác phẩm của chị phần lớn gắn với miền đất Tây Nguyên xa xôi, nơi người dân tộc đang sống với tất cả sự hồn nhiên, chân thật như ngọn suối cánh rừng. Sự giao lưu với người Kinh đã tác động đến cuộc sống thường ngày và làm thay đổi thói quen, nếp nghĩ, nếp cảm của họ. Thu Loan đã quan sát quá trình thay đổi đó, một quá trình diễn ra nhẹ nhàng, từ tốn, đôi khi vô thức nhưng không kém phần quyết liệt, mạnh mẽ như chính bản tính gốc của họ. Tác giả có cách dẫn truyện khá sinh động, đặc biệt là cách sử dụng giọng điệu và ngôn ngữ. Cuộc sống, con người, văn hoá Tây Nguyên đã “ngấm” vào chị khá sâu, đã trở thành một phần không thể thiếu trong hành trang cuộc đời để khi trải nó ra trên trang giấy, chị có được sự tự tin của người đã từng trải nghiệm. Trong khi đó, Phạm Trạch lại đi theo một hướng khác. Vốn say mê những không gian đa chiều, những thời gian phi tuyến tính, các tác phẩm văn xuôi của ông đưa người đọc hoặc trở về với quá khứ mang tính huyền thoại xa xưa (Nàng Mỵ Ê, Nữ thần sông Châu), hoặc vươn tới một tương lai xa vời vợi (các tiểu thuyết viễn tưởng: Trầm tích những mùa trăng, Bồi hồi đại dương, Thiên kỷ ba Athêna...). 
Trí tưởng tượng phong phú cùng khát vọng khám phá các chiều thời gian, không gian từ ngòi bút của ông đã truyền vào văn học Hà Nam chất phiêu linh, hư ảo đặc biệt, giúp con người vượt thoát khỏi những áp lực của cuộc sống hiện tại vốn phức tạp, sôi động và đôi khi mệt mỏi. Với Mùa chim phượng bay về, nhà văn kỳ cựu Chu Văn thể hiện một niềm lạc quan mới đối với cuộc sống, khi con người tìm được một nơi chốn yên ổn, một công việc có ích, một tình yêu xứng đáng.
Tuy nhiên, văn xuôi Hà Nam dường như chưa theo kịp và chưa thật sự có tầm vóc xứng đáng với hiện thực ở cả hai mảng đề tài: chiến tranh và xây dựng lại quê hương. Đặc biệt, mảng phóng sự, ký hầu như vắng bóng. Chất hiện thực và tính thời sự của văn xuôi vì thế bị hạn chế nhiều.
2.2. Thơ Hà Nam đương đại
2.2.1. Từ nỗi ám ảnh đồng chiêm...
Có lẽ không nơi đâu như ở Hà Nam. Đất đồng chiêm, mỗi mùa mưa lũ thì “mênh mông bể sở. Làng xóm nổi cheo veo” (Xuân Diệu), còn mùa nắng thì chỉ thấy:
Duy Tiên bún trắng hai chiều chợ
Kim Bảng sim xanh mấy ngọn đồi
Bình Lục phì phèo mồi thuốc vặt
Thanh Liêm bỏm bẻm miếng trầu hôi Nam Xang mang tiếng dân cò trắng Đồng rộng, ao sâu lắm ốc nhồi
(Kép Trà)
Chính cái gương mặt quê hương lam lũ vất vả ấy lại làm nhói lòng người hơn bất cứ hình ảnh nào khác, làm thành nỗi nhớ, nỗi xa xót thật khó nguôi quên. Trong những dòng thơ dành cho quê hương, người ta cảm nhận được vị chua mặn của đồng chiêm, mùi tươi mới của phù sa ùa về trong cơn sóng lụt, tiếng ếch nhái kêu vang trong những đêm lênh láng nước trước sân nhà. Sông rộng, nước dâng, ao làng bì bõm... đã trở thành những mô-tip, những “mẫu gốc” trở đi trở lại không chỉ trong thơ của người Hà Nam mà còn hiện diện cả trong thơ của những “viễn khách”. Xuân Diệu, một lần ghé qua, chợt thốt lên:
Sóng đồng chiêm lạnh lắm
Từ đầu huyện đổ về
Đêm ồ ồ như biển
Đánh vỡ cả đường đi
(Xã Nhân Mỹ làm đường đồng chiêm)
Và Xuân Quỳnh trong nỗi hãi hùng:
Nước đồng chiêm - ôi cái nước đồng chiêm
Đã bao năm gặm mòn da thịt mẹ ...
Sóng đồng chiêm - ôi cái sóng đồng chiêm
Ai bảo sóng đồng không đáng sợ
đã ngậm ngùi xót xa cho những con người sống nơi đồng sâu nước ngập:
Cô gái lấy chồng dù không xa cách núi sông Quê mẹ nhìn về mênh mang nước trắng
Sao xa cách như một hòn đảo vắng
Biết gửi ai cho mẹ bát canh cần
(Bài hát đắp đường)
Cuộc sống bình dị, nhọc nhàn hiện ra qua hồi ức sâu thẳm của những đứa con xa xứ:
Chợ quê đã ngắn dọc hành
Đã gầy quả mướp lại xanh trái đào
Mớ cần cắt vội ngoài ao
Giỏ thưa tép nhảy lào rào giữa phiên
... Chợ quê đã bé múi bòng
Già đanh mớ cải, cỗ lòng ngỡ ôi.
(Dương Thuý Mỹ - Chợ quê)
Ngay cả trong những bài thơ nói về tình yêu, cũng có bóng dáng của một cánh đồng, của những hạt thóc gắn với một miền quê:
Em giữ chặt những hạt thóc nhỏ nhoi
Như ngần ngại cánh đồng kia đòi lại
(Ngân Hoa - Tháng mười)
và cả tiếng sóng vỗ vào mùa nước:
Đất đồng ta vừa gối vụ
Dòng sông oàm oạp nước lên
Người đi... ngập ngừng lúa trỗ
(Trần Tâm - Khuyên em)
Trong nỗi nhớ mẹ có cả nỗi e ngại: - ngại nước lên,
Ta nhớ mẹ già sông Đáy
Mùa này con sông nước đang lưng tròng
(Trần Quốc Thực - Mẹ)
- ngại những cơn dông tràn qua, “Chuối vườn xưa bão xé tướp tơi bời”, và ngại mưa đêm khiến mẹ phải trở dậy, “chiếc chậu sành tí tách giọt mưa rơi” (Châu Hồng Thủy - Tạ lỗi mẹ quê hương). Mảnh đất nhỏ bé ấy cứ “xoay như chong chóng” bởi:
Vừa nghiêng đồng thoát úng
Mưa bão lại tràn về
Cái rốn vùng chiêm trũng
Nuốt chửng cánh đồng quê!
(Phạm Xuân Tuyên - Đất với người)
Trong nỗi ám ánh về một miền quê “chiêm khê mùa thối”, hết sợ “Quai Mễ Thanh Liêm đã vỡ rồi. Làng ta thôi cũng lụt mà thôi” (Nguyễn Khuyến) lại lo “Cấy nhỡ thời vụ rồi. Mùa cắt đâu ra thóc” (Xuân Diệu), chất chứa biết bao niềm thương nhớ và nỗi xót xa. Đó là nỗi xót xa của đứa con thương mẹ nghèo, cả đời vất vả lam lũ chưa một lần được nhàn nhã, thảnh thơi; là niềm nhớ thương nơi đã chắt chiu hạt thóc củ khoai nuôi ta lớn lên thành người.
2.2.2... Đến niềm tự hào sâu lắng
Mạch thơ Nguyễn Khuyến vẫn tiếp tục chảy trong các thế hệ nối tiếp nhau, để làm thành một niềm tự hào sâu lắng. Nguyễn Khuyến đã khơi dậy vẻ đẹp làng quê yên bình, thanh thản rất nên thơ, với “ao thu lạnh lẽo nước trong veo”, với “làn ao lóng lánh bóng trăng loe” và cả một “trời thu xanh ngắt...”. Nhờ có nó, làng quê Hà Nam được tái sinh trong một cái nhìn khác, cái nhìn lưỡng hợp. Và các thi nhân Hà Nam nhớ về mảnh đất đồng chiêm trũng không chỉ là nhớ về sông sâu, nước lụt, ao chuôm lênh láng rong bèo, mà còn nhớ về một miền quê ngọt ngào thơm nức:
Trái chín. Thu sang, vàng trứng cuốc
Hoa thu ngào ngạt, ngát vườn quê
Đã nghe nức nở hương hồng chín
Quyện với hồn thu, cốm mới về
(Trần Đăng Thao - Hồn thu)
Nơi ấy thấm đẫm tình người:
Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm
Tôi thao thức trong hương mật ong của ruộng
Trong hơi ấm hơn nhiều chăn đệm
Của những cọng rơm xơ xác gầy gò
(Nguyễn Duy - Hơi ấm ổ rơm)
Cây rơm chất đầy màu chiêm
Chân tre ao làng cá quẫy
Xóm làng tối lửa tắt đèn
Vắng em rồi buồn biết mấy
(Trần Tâm - Khuyên em)
Đó cũng là nơi giương ngực ra đỡ đạn, cùng chia lửa cho cả nước trong hai cuộc chiến tranh, là nơi người Hà Nam ghi những chiến công vang dội vào trang sử chống Mỹ của toàn dân tộc:
Chín mươi chín ngọn núi đồng chiêm cùng trực chiến
Nóng bỏng con đường số Một xiết qua
Giặc quyết thiêu thị xã thành tro
Những người thợ vẫn giao ca giữa vùng bom huỷ diệt
Tay súng gái Phù Vân bắn rơi phản lực
Công sự chai từng nhớ đất đồng chiêm
(Phạm Như Hà - Thị xã đồng chiêm)
và cũng từng gánh chịu những mất mát lớn lao: Một người nước ngoài đi qua thị xã Phủ Lý hai ngày đầu còn thấy:
Dưới những cây lá tựa lọng xòe
Thì thào những tiếng ẩn trong bóng tối
Tôi nghe như mình thêm máu
Và nỗi nhớ trong người dồn tới
Niềm vui của chính sự sống dâng lên
Hai ngày sau trở lại, bàng hoàng tự hỏi:
Ai đó nói: "Trước đây là Phủ Lý”
Tôi tới trên một hành tinh chết, phải chăng?
Và câu trả lời đến ngay lúc đó:
... máy bay ập xuống, đem tang
Có phải tại máy rađa khám phá
Sức tình yêu căng quá trong không gian?
(Blaga Đimitrôva - Phủ Lý)
Từ trong đổ nát, hoang tàn, Hà Nam lại vươn mình đứng dậy, chống chọi lại đạn bom:
Phủ Lý qua một đêm
Như dồn sức lùi sâu vào dĩ vãng
Đoàn quân đi in dấu chân mật đắng
Ban mai cười ngọt chân răng
(Thi Hoàng - Đêm Phủ Lý)
và chống chọi lại bão lụt:
Những bàn tay chai sạn
Quần nhau với thủy tinh
Những thân hình nắng rám
Chế ngự cả thần linh
(Phạm Xuân Tuyên - Đất với người)
Hình ảnh những con người Hà Nam hiền lành mà dũng cảm cũng hiện lên qua các dòng thơ: từ người gác cầu quân sự trong thơ Vũ Cao, người gác ghi trong thơ Võ Văn Trực, đến người mẹ già đánh Mỹ (thơ Hải Như), những người nông dân nhẫn nại đánh vật với đất, với lúa, với sóng gió đồng chiêm trong thơ Xuân Diệu, Xuân Quỳnh... Tất cả hòa thành một điệu tráng ca, thể hiện khát vọng mãnh liệt được chinh phục và tái sinh.
Nhưng người đọc thơ hôm nay vẫn thấy thiếu vắng chút gì đó, hình như có một nguồn thơ khác đã không được kế thừa và phát triển, nguồn thơ trào phúng vốn gắn với tên tuổi Nguyễn Khuyến, Kép Trà. Thiếu cái nhìn giễu người và tự giễu mình, có lẽ thơ Hà Nam đương đại sẽ thiếu đi cái sức sống mạnh mẽ vốn tiềm ẩn trong dân gian.
Văn học viết Hà Nam từ 1954 đến nay là một thời kỳ văn học còn đang mở. Tất cả các thể loại đã có mặt và còn đang chờ đợi những thành quả mới. Các cây bút Hà Nam hoặc đang sung sức, hoặc đang lắng đọng để thai nghén các tác phẩm văn học ở tầm mức cao hơn, chất lượng tốt hơn.
C- CÁC TÁC GIẢ VĂN HỌC VIẾT HÀ NAM TIÊU BiỂU
1. Bùi Văn Dị (1833 - 1895)
Bùi Văn Dị tự Ân Niên; các tên hiệu: Tốn Am, Do Hiên, Hải Nông, Châu Giang quê xã Châu Cầu, huyện Kim Bảng, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam (sau là phố Châu Cầu, nay thuộc thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam). Họ Bùi ở Châu Cầu này vốn quê gốc ở xã Triều Đông, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín (nay thuộc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây) từ thời Lê Mạt mới chuyển xuống sinh cơ lập nghiệp ở Châu Cầu, đến đời thứ sáu thì phát khoa: Bùi Văn Dị và người em con ông chú ruột là Bùi Văn Quế đều đỗ Phó bảng khoa Ất Sửu năm Tự Đức thứ 18 (1865).
Bùi Văn Dị lần lượt được bổ làm Tri huyện Lang Tài, Việt Yên, Yên Dũng (tỉnh Bắc Ninh), rồi án sát Ninh Bình, sau được sung vào nội các, năm 1876 được cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh. Cuối năm 1878 lại được sung vào nội các, được cử vào duyệt quyển thi Hội, thi Đình, năm 1881 làm đại thần quản lý Nha Thương bạc. Khi quân Pháp mở rộng đánh Bắc Kỳ, ông dâng sớ quyết đánh và được cử làm Khâm sai phó kinh lược sứ Bắc Kỳ. Ông đã trực tiếp chỉ huy trận đánh ngày 13-3-1883 chặn quân Pháp lấn ra ngoại vi Hà Nội. Tiếp đó ông được cử làm Tham tán quân thứ Bắc Ninh. Việc nhà Nguyễn ký hàng ước ngày 25-8-1883 khiến ông suy sụp tinh thần đến phát bệnh; ông từ chối chức Tổng đốc Ninh Thái (gần như cùng lúc Nguyễn Khuyến từ chức Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên) và đi ở ẩn tại Thanh Hoá. Đầu năm 1884, ông lại được triệu về triều làm giảng quan, chuyên giảng sách cho vua Kiến Phúc rồi vua Hàm Nghi. Năm 1885, ông bị ốm phải đi dưỡng bệnh tại Thanh Hoá. Đến cuối 1887 lại được gọi về triều làm Phụ chính đại thần; trong dịp này được truy phục học vị Tiến sĩ khoa Ất Sửu 1865. Năm 1890, ông thôi các chức Thượng thư bộ Lại và Phụ chính đại thần, chỉ giữ chức Phụ đạo đại thần kiêm Phó tổng tài Quốc sử quán. Ông đảm nhận việc tổng duyệt bộ sách gồm 300 bài thơ vịnh sử của vua Tự Đức; công việc biên tập hoàn thành thì Bùi Văn Dị cũng mất ngay khi còn tại chức ở Quốc sử quán. Hai mươi chín năm làm quan (1866-1895) của Bùi Dị trải 7 đời vua: Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hoà, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái.
Thơ văn của ông được tập hợp trong các cuốn: Vạn lý hành ngâm, Du Hiên thi thảo, Tốn Am thi sao, Du Hiên tùng bút, Trĩ chu thù xướng tập, đều là các tập thơ văn chữ Hán.
Chỉ đến những năm cuối thế kỷ XX, thơ văn Bùi Dị mới bước đầu được dịch thuật, đăng tải. Người ta nhận thấy ông có một phần thơ mang nội dung yêu nước chống xâm lược. Những bài thơ làm sau các trận thắng quân Pháp ở Gia Lâm và Cầu Giấy trong năm 1883 bừng lên khí thế quyết thắng. Tuy vậy phần nhiều hơn là tâm trạng lo lắng, đau xót vì thế yếu của ta trước dã tâm và sức mạnh của quân xâm lược.
Sách hay mọt gặm, lưỡi gươm han,
Những giận ngày nào ngỏ cửa quan.
Sống chỉ nhuốm thêm màu tóc bạc,
Mười năm hai lượt khóc giang san.
(Trả lời Tham quân Ngư Đường Phạm Hy Lượng lúc ngồi nói chuyện ở Thành Sơn - bản dịch của Nguyễn Văn Huyền)
Tất nhiên thơ Bùi Dị không chỉ tập trung vào đề tài vận nước như trên. Thơ ông như cây đàn có nhiều cung bậc “Có dáng mây bay, có tiếng suối chảy, có giọng bình văn dịu êm, có tiếng gươm khua hùng tráng. Có tiếng phẫn nộ với kẻ thù, có lời âm thầm tự trách. Có vần thơ tâm sự với non sông, có vần thơ thủ thỉ xót thương với người bạn đời đã khuất...” (nhận xét của nhà thơ Trần Lê Văn, 2003).
2. Nguyễn Khuyến (1835 - 1909)
1. Nguyễn Khuyến là một trong những cây đại thụ của văn học dân tộc. Ông hiệu là Quế Sơn, sinh ngày 15-2-1835 (tức ngày 18 tháng Giêng năm Ất Mùi) ở quê mẹ, thôn Hoàng Xá (huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định). Nhưng ông lại sống chủ yếu ở quê cha, thôn Và (tên chữ là Vị Hạ) (xã Yên Đổ, nay thuộc xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam). Gia đình hai bên nội ngoại đều có truyền thống khoa bảng nhưng đều rất nghèo. Ông nội ông là Nguyễn Tông Tích đỗ nho sinh, cha là Nguyễn Tông Khải đỗ liền ba khoa tú tài. Từ bé Nguyễn Khuyến nổi tiếng là người học giỏi nhưng do nhà nghèo, cha lại mất sớm nên ông phải bỏ học đi dạy thuê kiếm ăn nuôi mẹ. Sau được ông nghè Vũ Văn Lý, người huyện Lý Nhân (Hà Nam) đem về nuôi cho ăn học. Năm Giáp Tý (1864), Nguyễn Khuyến thi hương, đậu Giải nguyên. Năm Tân Mùi (1871), ông thi hội lần thứ hai, đỗ Hội nguyên. Sau đó thi đình, đỗ Đình nguyên. Ông đỗ đầu cả ba kỳ thi, được vua Tự Đức ban cờ biển và hai chữ “Tam nguyên”, tiếng tăm lừng lẫy một thời.
Nguyễn Khuyến được bổ làm quan ở Nội các Huế, rồi làm Đốc học Thanh Hoá và Án sát Nghệ An. Năm 1877, làm Bố chánh Quảng Ngãi. Năm 1879, bị điều về Kinh sung chức Trực học sĩ và Toản tu Quốc sử quán. Tháng 12 năm 1883, Pháp đánh Sơn Tây, Tổng đốc Sơn Tây là Nguyễn Đình Nhuận chạy lên Hưng Hóa, gia nhập nghĩa quân của Nguyễn Quang Bích. Nguyễn Hữu Độ, Kinh lược Bắc kỳ, thân Pháp, định cử Nguyễn Khuyến làm Tổng đốc Sơn Tây, nhưng ông dứt khoát từ chối, lấy cớ đau mắt nặng xin cáo quan về làng. Thực dân Pháp và bọn tay sai còn nhiều lần dụ dỏ Nguyễn Khuyến ra làm quan, nhưng ông kiên quyết không hợp tác với chúng. Tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1909), ông mất tại quê nhà, thọ 74 tuổi. Theo Nguyễn Văn Huyền trong Nguyễn Khuyến tác phẩm (NXB Khoa học xã hội, H. 1984) số lượng tác phẩm của nhà thơ sưu tầm được cho đến nay lên tới trên 800, song mới chỉ giới thiệu được 432 tác phẩm, bao gồm: 86 bài thơ Nôm, 267 bài thơ chữ Hán, 6 bài thơ dịch, 67 câu đối, 6 bài văn, tập hợp lại trong Yên Đổ tiến sĩ thi tập, Quế Sơn thi tập, Quế Sơn Tam nguyên thi tập, Tam nguyên Yên Đổ thi ca...
Nguyễn Khuyến là một trong những đại diện lớn nhất và cuối cùng của văn học Việt Nam trung đại, người tận mắt chứng kiến sự thất bại của Triều đình nhà Nguyễn và các phong trào yêu nước trước một kẻ thù xa lạ và cũng là người nhận thấy một cách đau xót nhất sự sụp đổ của một hệ tư tưởng đã lỗi thời, cũng như sự bất lực đến hài hước của một loại hình trí thức đại diện cho hệ tư tưởng ấy trước thực tế lịch sử.
Ông cũng là đại diện tiêu biểu cho lớp người được xã hội phong kiến đào tạo. Nhưng số người đỗ đạt cao mà tên tuổi lưu truyền hậu thế như ông không phải là nhiều, bởi Nguyễn Khuyến đã thể hiện tài năng của mình ở cả hai phương diện: tài học và tài thơ văn, cả hai đều xuất chúng. Nỗi niềm của ông có điểm gần với Nguyễn Du: đều phải làm những việc miễn cưỡng, đều có những nỗi dằn vặt éo le không tiện nói ra và đều mong hậu thế hiểu cho lòng mình, cho nỗi khó xử của mình. Đó là những nhân cách lớn của lịch sử dân tộc. Họ là những người mang ơn sâu nặng của chế độ đã đào tạo và tôn vinh mình và đến khi đạt đến đỉnh cao của vinh quang cũng là lúc họ chợt nhận ra mặt trái đen tối của xã hội mà mình nguyện đem hết sức ra phụng sự, tôn thờ. Nguyễn Khuyến lớn chính vì ông là một trong rất ít những trí thức thời kỳ ấy sớm nhận ra được sự bất lực của giai cấp mình, của vốn học vấn được đào tạo theo kiểu sách vở của mình trước thực tế lịch sử, đem ra trào phúng, châm biếm thần tượng cao nhất của cả một thể chế xã hội đã tồn tại hàng ngàn năm - ông tiến sĩ, nay đã trở thành thứ đồ chơi con trẻ (Vịnh tiến sĩ giấy). Giá trị phê phán càng trở nên sâu sắc hơn khi bản thân sự phê phán lại chính là sự tự phê phán - tự trào. Bởi trong số những “ông nghè tháng Tám” hết thời ấy có cả bản thân ông Tam nguyên làng Yên Đổ. Có lẽ Nguyễn Khuyến là người trí thức đầu tiên trong thời đại ông có được cái nhìn tỉnh táo như vậy. Ông cay đắng nhận thấy cả một xã hội từ trên xuống dưới là một sân khấu hề mà những diễn viên chính không ý thức được sự lố bịch gây cười của mình (Lời vợ người hát chèo). 
Nhưng điều còn cay đắng hơn là Nguyễn Khuyến nhận ra chính bản thân mình cũng là một “quan chèo vai nhọ”. Tính bi hài của hình tượng văn học nhờ vậy càng trở nên sâu sắc gấp bội. Ông chính là vị tiến sĩ giấy, quan chèo, phỗng đá, ông cũng chính là bậc “ăn dưng”, lão già giả điếc... Có lẽ Nguyễn Khuyến là nhà thơ có những bài thơ tự trào vào loại sâu sắc nhất trong văn học Việt Nam - người giã từ thế kỷ XIX bằng những bài thơ cười ra máu và nước mắt. Bằng linh cảm nhạy bén của một tài năng thơ xuất chúng, ông đã phần nào nhìn thấy những mặt mâu thuẫn, hạn chế của giai cấp và xã hội đã sản sinh ra ông. Những điều ấy phải vài năm sau mới được các nhà Tân thư, các trí sĩ cách mạng làm sáng rõ. Rõ ràng là những vần thơ của Nguyễn Khuyến mang tính tư tưởng rõ rệt. Đó là những báo hiệu cho sự cáo chung của một hệ tư tưởng, sự thừa nhận tư tưởng trung quân đã mất vai trò lịch sử. Điều đó góp phần lý giải cách tiếp cận hiện thực mới mẻ có phần khác với truyền thống trong thơ Nguyễn Khuyến: nó vừa như một sự tiếp tục lại vừa như một sự bứt phá tách lên khỏi truyền thống.
Thơ văn trào phúng Việt Nam phải đến Nguyễn Khuyến và Tú Xương mới trở thành một dòng thật sự. Phải nói rằng, sự thông minh và “tạng” người của Nguyễn Khuyến rất hợp với thơ trào phúng. Ở rất nhiều bài thơ của ông già Yên Đổ chúng ta đều thấy thấp thoáng một nét cười hóm hỉnh ẩn hiện đằng sau những câu chữ. Trong những bài thơ trào phúng của mình, ông thường tóm bắt được ở đối tượng những điểm yếu gây cười hết sức sắc sảo, lột tả được bản chất của hiện tượng cần trào phúng, chú ý phát hiện mâu thuẫn ở đối tượng bằng đối lập của những sự “giống nhau”, “đồng dạng” (kiểu tiến sĩ giấy/tiến sĩ thật...) - những mâu thuẫn có ngay trong đối tượng mà bản thân nó không hề ý thức được. Nhà thơ thiên về lối trào phúng gián tiếp, kín đáo mà thâm thúy, ý tưởng không bộc lộ ở bề mặt từ ngữ mà ẩn đằng sau những phúng dụ, hàm ngôn... Xã hội thực dân nửa phong kiến với những chính sách thực dân ăn cướp “khoét rỗng ruột gan trời đất cả” (Hoài cổ), với những trò bịp kiểu Hội Tây, những tên quan lại tay sai bán nước bóp nặn dân nghèo... đã hiện lên sâu đậm trong thơ trào phúng Nguyễn Khuyến.
Chính màu sắc trữ tình rất đậm đà trong thơ Nguyễn Khuyến đã tạo nên những âm hưởng trào phúng đa dạng. Buồn là âm hưởng rõ nét xuyên suốt đời thơ ông. Thơ ông thời kỳ về ở ẩn hiếm bài có tâm trạng vui. Ngay cả ba bài thơ thu nổi tiếng cũng chứa đựng một nỗi buồn man mác, thấm đượm trong từng chi tiết, từng hình ảnh. Nỗi buồn ấy thể hiện nhân cách và trách nhiệm của một ngòi bút trước tình cảnh đất nước, trước những thăng trầm của cuộc đời, nó cũng làm nên vẻ đẹp riêng của thơ Nguyễn Khuyến.
2. Dằn vặt đau đớn vì mình không làm được người anh hùng nơi hòn tên mũi đạn như bao nghĩa sĩ Cần vương khác, Nguyễn Khuyến hết sức cảm phục hành động xả thân vì nghĩa lớn của các bạn bè đồng liêu và thẹn cho mình còn “dùng dắng” không theo được họ (Đêm xuân thương con thiêu thân), về mặt này nhà thơ là một con người cô độc, ông luôn sợ mọi người không hiểu và coi thường. Nỗi niềm đau đớn cho mình là kẻ “bỏ cuộc”, “chạy làng” luôn dằn vặt ông cho đến tận những ngày cô đơn cuối đời.
Nguyễn Khuyến trở về vườn Bùi. Đó là sự trở về thể hiện sáng rõ một nhân cách, là sự bất hợp tác với kẻ thù dân tộc. Và cao hơn là sự từ bỏ dần dần và không kém phần day dứt với quan niệm trung quân, với một hệ tư tưởng đã trở nên lỗi thời. Trở về với làng quê là tìm về với sự thanh thản, là giữ đến cùng khí tiết, giấu mình trong sự tĩnh lặng sau lũy tre xanh, tưởng chừng để quên đi được những dằn vặt đớn đau của cõi lòng. Đó là bước ngoặt quan trọng nhất của đời ông. Chính ở đây, ông lại có dịp phát hiện hồn văn hóa dân tộc với những truyền thống quý báu và sức sống ngàn đời vẫn còn tiềm tàng sau lũy tre làng. Đó là chỗ dựa tinh thần lớn nhất và cũng là duy nhất cho nhà thơ trong cơn bĩ cực. Cũng chính bắt đầu từ đó những tác phẩm xuất sắc nhất của nhà thơ đã ra đời và còn đọng lại mãi trong lòng bao thế hệ. Vị Tam nguyên “về vườn” ấy nay đã trở về hòa mình cùng người dân nghèo “chân lấm tay bùn”, chân đi đất, mình bận bộ quần áo thôn quê giản dị, vui cùng luống cúc, cái ao tù, mảnh ruộng mới cấy. Nguyễn Khuyến đã bỏ lại sau mình những tầm chương, trích cú, những vay mượn, những vần thơ quý phái tẻ nhạt, đưa văn học về với cội nguồn, với làng quê, với người dân nghèo khó vất vả. Ông dứt áo về là về hẳn, bởi làm quan ở thời buổi ông đồng nghĩa với làm tay sai cho giặc. Vì vậy ông Tam nguyên trở về với dân chúng Yên Đổ mà chịu rất ít sức ép của tư tưởng chính thống. Đó là sự trở về khá triệt để cả trong tư tưởng lẫn trong nghệ thuật. Và cũng nhờ vậy, những phẩm chất vốn tiềm tàng trong con người thơ của ông được phát hiện trở lại và phát huy. Thơ ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn của nhiều phẩm chất thơ ca: dân gian và bác học, trữ tình và trào phúng, hội họa và thi ca, những phẩm chất mỹ học dân tộc và phương Đông... Điều đó khiến cho giọng điệu thơ ông trở nên đa dạng, là sự kết hợp, đan xen, hòa trộn của nhiều màu sắc thẩm mỹ. Nguyễn Khuyến đặc biệt thành công ở những thể loại nhỏ - ở đó tinh hoa của nền thơ ca của dân tộc hầu như được chắt lọc, chưng cất qua từng câu chữ, tạo nên những tác phẩm có sức lực hấp dẫn và gần gũi ngay cả với những người nông dân bình thường. Tam nguyên Yên Đổ cũng là người viết được rất nhiều thể loại: thơ trữ tình, trào phúng, các thể thơ thất ngôn, ngũ ngôn, tứ tuyệt, lục bát, song thất lục bát. Ông còn là nhà kiệt xuất về câu đối - trong văn học Việt Nam chưa có ai vượt được ông, Nguyễn Khuyến còn là người viết hát nói có biệt tài, một dịch giả xuất sắc; thơ Nôm, thơ Hán của ông đều rất hay.
3. Nguyễn Khuyến sống đời sống của người nông dân quê ông và ông viết về cảnh đời của họ. Có lẽ đây là lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc, đời sống nghèo khó của người nông dân với những quang cảnh sinh hoạt bình thường ở thôn quê trở thành đối tượng phản ánh của thơ ca. Điều lạ đó lại là nền thơ ca của một đất nước nông nghiệp và người nông dân là lực lượng chiếm đại đa số trong xã hội.
Phải đến Nguyễn Khuyến, văn học mới thật sự “bước xuống đồng ruộng”, đến với người dân quê nơi thôn dã và từ cuộc sống lam lũ mà không kém phần thơ mộng của làng cảnh Việt Nam, thơ ca mới được tinh kết trở nên chân thực, chi tiết, sinh động đến mức như vậy. Nông dân và đời sống người nông dân trong thơ cổ trước Nguyễn Khuyến đi vào văn học không phải như một đối tượng để nhà thơ phản ánh mà chỉ như một duyên cớ để các tác giả “ngôn chí”, tỏ bày đạo lý. Chỉ đến Nguyễn Khuyến, nhà thơ mới làm được những điều mà thơ ca truyền thống còn chưa làm được (Và ngay cả trong thơ hiện đại có lẽ cũng chưa có được một “nhà thơ nông thôn” nào tầm cỡ như ông). Một nông thôn thật sự đã hiện ra trong thơ Yên Đổ. Đó là một nông thôn từng gắn bó máu thịt với nhà thơ ngay từ thuở lọt lòng. Gia đình Nguyễn Khuyến rất bần hàn nên từ nhỏ ông đã gắn bó với quê hương đồng chiêm trũng nghèo khó, gần gũi và am hiểu đời sống và công việc đồng áng của người nông dân. Vì vậy thật dễ hiểu vì sao khi từ quan, từ bỏ đất Kinh kỳ về lại vườn Bùi, ông lại dễ hòa nhập như thế, sống như một lão nông nơi thôn dã.
Nguyễn Khuyến không chỉ dành những tình cảm hết sức sâu nặng và nồng thắm cho vợ con, bạn bè thân thiết qua những bài thơ viết cho con (Ngày xuân dạy các con, I và II), câu đối khóc vợ, khóc con, bài thơ viếng bạn (Khóc Dương Khuê)... mà vẫn với những tình cảm thân thiết như vậy, ông đã dành cho những người dân nghèo khó quê mình. Ngày ông lên lão cũng là ngày tụ họp bà con làng xóm, kể cả những người nghèo khổ nhất. Trước Nguyễn Khuyến thật khó có một ông quan đại thần nào lại bỏ công làm những câu đối thật hay, thật độc đáo để tặng những Vợ người hoạn lợn khóc chồng, Vợ người hàng thịt khóc chồng con, Cô đầu khóc mẹ, Vợ thợ rèn khóc chồng, Anh hàng gà khóc mẹ...
Nông thôn Việt Nam trong thơ Yên Đổ hiện lên với đầy đủ những âm thanh và màu sắc đặc trưng từ ngàn đời, độc đáo mà gần gũi, thân quen mà đẹp đẽ đến diệu kỳ. Nhà thơ lo cái lo của người dân, sống cuộc sống bần hàn chạy ăn từng bữa, đo đếm cân đong từng xu như họ (Nhà nông than thở), và hiểu đến chân tơ kẽ tóc của nghề nông.
Cách hàng mấy chục năm trước khi Ngô Tất Tố viết Tắt đèn, Nguyễn Công Hoan viết Bước đường cùng, ta đã được biết đến một nông thôn Việt Nam đói nghèo với cảnh mất mùa năm này qua năm khác, cảnh công xá bèo bọt, cảnh thuế má quan lệ thúc đòi “Thuế một vài nguyên dáng vẫn đòi”, canh nợ nần với người cùng khổ “Lãi mẹ, lãi con sinh đẻ mãi”, cảnh “Sâu hạn liên miên úng lụt tràn”... trong thơ Nguyễn Khuyến.
Việc gần gũi với cuộc sống đời thường, sự xa rời phương thức phản ánh cũ nặng về ước lệ, tượng trưng, sự chối bỏ những chủ đề trung quân, ca ngợi “địa linh nhân kiệt” chung chung, việc tiếp cận với những đề tài về cuộc sống của người dân với nỗi lo toan hàng ngày của họ... đã khiến cho thơ văn Nguyễn Khuyến có phần tách rời khỏi truyền thống và trở nên gần gũi với thơ ca hiện đại. Có thể nói rằng đó là những gạch nối đầu tiên giữa văn học trung đại và văn học hiện đại. Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX đến Nguyễn Khuyến đã đi từ việc phản ánh cái cao cả, sử thi (tiêu biểu trong thơ ca của Nguyễn Đình Chiểu... ) sang phản tỉnh hiện thực, phản ánh cái bình thường, hàng ngày, thể hiện bước tiến quan trọng trên con đường hiện đại hóa nội sinh của văn học dân tộc.
Trong những bài thơ hay của Nguyễn Khuyến có thể thấy rõ sự thành công của việc kết hợp nhuần nhuyễn tinh hoa của những thủ pháp nghệ thuật cổ điển với một lối tư duy mới mẻ, của sự thai nghén một phương thức phản ánh mới tiếp cận với cái hiện thực, cụ thể, chi tiết của cuộc sống. Sự thành công của ba bài thơ thu là một ví dụ điển hình. Trong những bài thơ này vừa có thấp thoáng đâu đó lại vừa như không có những đường nét tượng trưng, ước lệ của thơ cổ, bởi những hình ảnh trong thơ dường như được chắt lọc từ hiện thực sống động của đời sống và mang đậm tâm trạng của tác giả, động mà lại tĩnh, tĩnh mà như khắc vào lòng người. Ba bài thơ thu của Tam nguyên Yên Đổ đã đi vào thơ ca cổ điển Việt Nam và trở thành ba hạt minh ngọc vừa quen lại vừa lạ.
Chỉ có thể giải thích sự xuất hiện đột xuất của một tài năng tầm cỡ như vậy bằng những biến đổi căn bản trong tư duy nghệ thuật, trong tư tưởng thẩm mỹ của nhà thơ. Và đằng sau những bài thơ có vẻ như hiền lành của ông luôn chất chứa một nỗi niềm nóng bỏng về vận mệnh của đất nước, về cuộc sống đau khổ của dân lành. Đó là những vần thơ “gọi hồn nước” đượm buồn và rỉ máu, có sức mạnh kêu gọi tranh đấu, sau này sẽ còn gặp lại rất nhiều trong thơ văn của các chí sĩ cách mạng đầu thế kỷ XX, mà Nguyễn Khuyến là một trong những người có công khởi xướng.
3. Kép Trà (1873 - 1928):
Nhà thơ trào phúng. Họ tên thật là Hoàng Thụy Phương; tên thường gọi là Trà; ông đi thi đỗ Tú tài hai khoa nên người ta gọi ông là Kép Trà. Chính quê gốc ở làng Phù Lưu, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, di cư xuống làng Lê Xá, nay thuộc xã Châu Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, tính đến Kép Trà là đời thứ bảy. Ông là con thứ hai của cụ đồ Giác (Hoàng Thụy Giác). Có tài liệu nói Kép Trà mồ côi từ nhỏ, phải sống với chú ruột. Ông học chữ Hán với cụ đồ Tùng, người cùng làng; rồi học cụ đồ Cử, người làng Vũ Lao, tỉnh Nam Định lên dạy học ở Đọi Sơn, gần Lê Xá; rồi học cụ Kép Mai, cụ nghè Thức (Tiến sĩ Bùi Thức, 1859-1915) ở Châu Cầu. Ông dự thi Hương, hai lần đỗ Tú tài: khoa Đinh Dậu 1897 và khoa Kỷ Dậu 1909. Kép Trà cũng chủ yếu sống bằng nghề dạy học chữ Hán; ông dạy học ở nhiều nơi. Cũng có khi ông đi mở đồn điền ở vùng rừng núi gần Thác Bà (Yên Bái) vào năm 1906, nhưng ít kết quả. Cũng có lúc ông vào chùa định đi tu, nhưng rồi lại quay về đời tục. Có vài lần bị chính quyền thực dân bắt vì nghi có dính đến một vài việc chính trị, nhưng không có chứng cớ nên lại được tha.
Phần đặc sắc trong cuộc đời Kép Trà là làm thơ trào phúng, đả kích hàng ngũ quan lại người Việt, châm biếm thói hư tật xấu của nhiều hạng người ở xã hội đương thời. Các thể tài thường dùng là thơ nôm luật Đường, ca trù, câu đối. Mỗi bài thường gắn với một sự việc, con người cụ thể, như một thứ báo chí truyền miệng, đưa tin và bình luận. Đám quan lại người Việt, nhất là các quan lại ở địa phương, thường bị thơ Kép Trà vạch mặt là dốt, tham nhũng, “tàn dân hại nước”; những thói tật bị thơ Kép Trà châm biếm là thói đĩ bợm, tham lam.
Thơ trào phúng Kép Trà gần gũi với sáng tác đương thời của Tú Xương, Nguyễn Thiện Kế, Tú Quỳ, v.v... Cũng gần với các tác giả trên, thơ văn Kép Trà chỉ còn lại dưới dạng truyền miệng nên đã mất mát nhiều.
4. Bùi Kỷ (1888 - 1960):
Nhà giáo, nhà biên khảo ngữ văn.
Bùi Kỷ, tên chữ là Ưu Thiên, tên hiệu là Tử Chương, sinh ngày 5-1-1888 ở xã Châu Cầu (huyện Kim Bảng, phủ Lý Nhân, nay thuộc thị xã Phủ Lý); mất ngày 19-5-1960 tại Hà Nội. Bùi Kỷ sinh trưởng trong gia đình khoa bảng Nho học. Tổ tiên họ Bùi vốn gốc ở xã Triều Đông, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay thuộc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây), khoảng thời cuối triều Lê chuyển đến ở Châu Cầu lập nghiệp, tới đời thứ 6 thì phát khoa: năm 1865 cả hai anh em thúc bá Bùi Văn Dị và Bùi Văn Quế đều đỗ Phó bảng. Con trai ông Quế là Bùi Thức (1859-1915) đỗ Tiến sĩ Nho học (1898), không ra làm quan, ở nhà dạy học và viết sách. Ông Thức có 3 con trai Bùi Kỷ, Bùi Khải, Bùi Lương đều đỗ đạt.
Từ nhỏ Bùi Kỷ được cha dạy về Nho học, ngoài ra còn tìm thầy học chữ quốc ngữ và chữ Pháp. Năm 1909, lần đầu dự thi Hương, Bùi Kỷ đã đỗ Cử nhân, năm sau vào Huế thi Hội và thi Đình, ông đỗ Phó bảng, được bổ đi làm Huấn đạo, nhưng ông từ chối, lấy cớ phải ở nhà phụng dưỡng cha và ông nội đều đang già yếu. Năm 1912, chính quyền bảo hộ chọn cử ông sang Paris (Pháp) học trường thuộc địa (Ecole coloniale). Nhân dịp này ông đi nhiều nơi trong nước Pháp và các nước lân cận; ông cũng có dịp tiếp xúc với một số người Việt yêu nước và cách mạng đang lưu ngụ ở Pháp, trong đó có Phan Chu Trinh. Hai năm sau trở về nước, dù được toà Thống sứ Bắc Kỳ gọi lên bổ dụng nhiều lần, ông đều từ chối. Ông tổ chức cho gia đình mình sản xuất hàng thủ công xuất khẩu (bông vải, tre đan) nhưng ít kết quả.
Sau khi cha và ông nội qua đời, Bùi Kỷ bỏ sang Quảng Châu (Trung Quốc) hai năm. về nước khi đã 30 tuổi, từ năm 1917 ông ra Hà Nội dạy học. Ông dạy tại các trường Cao đẳng sư phạm, Cao đẳng công chính, Cao đẳng pháp chính theo lối ký hợp đồng từng năm chứ không vào biên chế viên chức của “nhà nước bảo hộ”, ngoài ra từ năm 1932, ông còn dạy trường tư cho hai tư thục Văn Lang và Thăng Long; trường Thăng Long do một số trí thức tiến bộ và cách mạng như Phan Thanh, Hoàng Minh Giám, Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp lập ra đã mời Bùi Kỷ cùng trực tiếp giảng dạy.
Ngoài việc dạy học, ông còn là nhà biên khảo, nhà sáng tác, cộng tác với một số báo chí ở Hà Nội như tạp chí Nam phong, tập san của hội Khai Trí Tiến Đức, báo Trung Bắc tân văn... Ông còn hăng hái tham gia những hoạt động văn hoá xã hội của giới trí thức Hà thành như kỷ niệm 105 năm ngày mất thi hào Nguyễn Du (1925), lễ truy điệu chí sĩ Phan Chu Trinh ở Hà Nội (1926), phong trào truyền bá chữ quốc ngữ,...
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Bùi Kỷ là một trong số những nhân sĩ trí thức được chính thể mới trọng vọng. Ông được mời tham gia Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu 3 (LK3), làm Chủ tịch hội Liên Việt LK3, Hội trưởng Hội giúp binh sĩ tị nạn LK3. Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cử Bùi Kỷ làm Phó ban lãnh đạo thanh toán nạn mù chữ, sau làm Trưởng ban Bình dân học vụ toàn quốc, là thành viên của chính phủ.
Ông được chính phủ tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất.
Năm 1954, hòa bình lập lại, ông là Ủy viên Chủ tịch đoàn Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy viên Ủy ban bảo vệ hoà bình thế giới, Hội trưởng Hội hữu nghị Việt-Trung.
Bùi Kỷ sáng tác ở khá nhiều thể loại văn học nhưng ông hoạt động chủ yếu ở lĩnh vực biên khảo.
Các công trình biên khảo của Bùi Kỷ thường gắn với nội dung dạy và học môn ngữ văn Hán-Việt bậc trung học của nhà trường Phổ thông Pháp-Việt ở xứ Đông Dương thuộc Pháp đương thời.
Đó là các cuốn Quốc văn cụ thể (1932), Hán văn trích thái diễn giảng khoá bản (cùng soạn với Trần Văn Giáp, 1942), Việt Nam văn phạm bậc trung học (soạn chung với Trần Trọng Kim, Phạm Duy Khiêm, 1940), Tiểu học Việt Nam văn phạm (soạn cùng Trần Trọng Kim, Nguyễn Quang Oánh, 1945). Nổi bật nhất trong số này là cuốn Quốc văn cụ thể, trình bày về các hình thức, thể tài các loại thơ văn tiếng Việt truyền thống. Với loại sách biên khảo giáo khoa thư này, Bùi Kỷ là một trong số những nhà nghiên cứu người Việt đầu tiên tham dự vào việc hình thành các tri thức về ngữ văn Việt và Hán Việt, các tri thức thi học lịch sử về văn học Việt Nam.
Bùi Kỷ là học giả có nhiều đóng góp vào việc hiệu khảo văn bản một loạt truyện thơ nôm các thế kỷ trước, góp phần giữ gìn và truyền lại cho đời sau. Văn bản Truyện Kiều do Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo, in lần đầu 1925, đã dành được sự tín nhiệm của nhiều thế hệ độc giả. Từ những năm 1930 đến những năm 1950, Bùi Kỷ tiến hành hiệu khảo một loạt truyện nôm khuyết danh: Trê cóc, Trinh thử, Lục súc tranh công, Hoa điểu tranh năng. Ông cũng có sự đóng góp quyết định trong việc khảo cứu di sản thơ chữ Hán của thi hào Nguyễn Du, trong việc xác định giá trị Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, v.v... Các bản dịch tác phẩm chữ Hán của tác gia Việt Nam do Bùi Kỷ thực hiện, nổi bật là Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, bản dịch từng có vị trí đáng kể trong đời sống văn học. Bùi Kỷ còn thử nghiệm việc dịch một số tác phẩm Nôm cổ điển sang chữ Hán như thơ bà huyện Thanh Quan hay Truyện Kiều - một công việc rất có ý nghĩa trên hướng giới thiệu văn học Việt Nam với độc giả Trung Quốc.
Học giả Bùi Kỷ còn là cây bút sáng tác văn học ở khá nhiều thể loại: văn (nghị luận, phú, văn tế, câu đối...), thơ (thơ chữ Hán, thơ tiếng Việt); ở đây tác giả dường như không có ý định vượt ra ngoài phạm vi kiểu văn học Đông Á trung đại. Cũng vẫn như các thế hệ nhà nho trước kia, tác giả dùng văn thơ như nơi để nói chí, tỏ lòng, để thể hiện thế giới tinh thần của mình trong những nét thanh cao với nhiều ưu tư lo đời, thương đời, lại cũng dùng văn thơ như phương thức răn mình răn đời. Phần sáng tác thơ mà Bùi Kỷ tập hợp thành tập ưu Thiên đồ mặc, chưa in thành sách, chỉ đăng báo ít bài, nay hầu như đã thất lạc, có lẽ là nơi thể hiện rõ nhất tâm tình tác giả.
Tác phẩm:
- Truyện Thuý Kiều (Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo), Hà Nội, 1925.
- Việt Nam văn phạm (Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim soạn).
- Quốc văn cụ thể. Hà Nội, Tân Việt Nam thư xã, Trung Bắc Tân văn, 1932.
- Truyện Trê Cóc // Khai trí tập san, số 4, tháng 12-1941.
- Văn chương // Đông Thanh, 1932, số 1,2 và 5.
- Thơ văn Bùi Kỷ (Nguyễn Văn Huyền sưu tầm, giới thiệu), Hà Nội, Nxb.KHXH, 1994 (Thơ tiếng Việt: tr.37-78; Văn tiếng Việt: tr.79-173; Dịch từ Hán sang Việt: tr. 174-199; Dịch từ Việt ra Hán: tr.200-205; Câu đối: tr.206- 208; Thơ chữ Hán: tr.209-256).
5. Ngô Vi Liễn (1894 - 1945)
Viên chức, học giả, nhà khảo cứu văn hóa. Sinh ngày 5-11-1894 ở quê: làng Tả Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay là Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội); mất ngày 14-5-1945 ở Hà Nội.
Xuất thân từ gia đình Nho học. Từng học Trung học thuộc địa Hà Nội (trường Bưởi), trường Thông ngôn; học và tốt nghiệp Cao đẳng luật học Hà Nội. Năm 1923-1928 làm Tham tá Sở Thư viện và Lưu trữ ở Hà Nội; có tham gia hoạt động của hội Trí Tri, dạy chữ quốc ngữ cho các lớp mở vào buổi tối cho những người muốn học thêm. Thời gian này viết và in một số cuốn sách như: Viết Quốc ngữ cho đúng; Nhật dụng thông thư; Địa dư các tỉnh Bắc Kỳ (soạn chung với Đặng Đình Nghiêm và Phạm Văn Thư); Những bức thư viết về chiến tranh của một người An Nam (Lettres de guerre d'un Annamite - dịch tác phẩm của Jean Marquet); Lục Vân Tiên (cùng Đặng Đình Nghiêm dịch ra tiếng pháp, Ứng Hòe đề tựa); Tuyển tập Pháp - Đông Dương (Anthologie franco-indochi- noise - cùng soạn với Nguyễn Văn Tố); Danh mục tên làng xã Bắc Kỳ (Nomenclature des communes clu Tonkin); Hội giáo dục tương tế Bắc Kỳ (La Société d’Enseignement Mutuel du Tonkin).
Từ 1928 đến 1939, ông chuyển đi làm Tri huyện, lần lượt trị nhậm các huyện Cẩm Giàng (Hải Dương), Quỳnh Côi (Thái Bình), Bình Lục (Hà Nam), Võ Giàng (Bắc Ninh); ông chú ý lấy tài liệu và biên soạn sách địa lý về các hạt này. Giữa năm 1939, do có tranh luận với viên Công sứ Bắc Ninh, ông thôi chức Tri huyện, chuyển về làm việc ở Cục Lưu trữ Phủ Thống sứ Bắc Kỳ. Ông bị bệnh liệt từ 1941 đến 1945 thì mất.
Thời gian làm Tri huyện Bình Lục, ông được tiếng thanh liêm; ông cũng thường đi xuống gặp dân các địa phương hỏi và ghi chép về phong tục, danh thắng, cổ tích. Sách Địa dư huyện Bình Lục ông soạn theo lối biên khảo thực chứng, miêu tả một địa phương qua các thông số thống kê cụ thể (diện tích, dân số, trường học, hộ sinh, đường sá, sông ngòi, thương mại, v.v...), cả ở mặt đồng đại lẫn mặt lịch đại (tên gọi qua các thời kỳ), đặc biệt chú ý ghi chép mô tả các đình, chùa, miếu, nhà thờ, các lễ hội, các thần tích, các danh nhân.
Tác phẩm:
- Địa dư các tỉnh Bắc Kỳ (cùng soạn chung Đặng Đình Nghiêm, Phạm Văn Thư soạn). Hà Nội, Nhà in Lê Văn Tân, 1927 (in lại lần thứ tư, tính đến 1935).
- Viết Quốc ngữ cho đúng, Hà Nội, Nhà in Chân Phương, 19...
- Nhật dụng thông thư, Hà Nội, Nhà in Kim Đức Giang,
- Lettres de guerre d'un Annamite (Dịch Sang tiếng Việt tác phẩm của Jean Marquet). Hà Nội, Tạp chí hội Trí Tri, s.4/1924. (Những bức thư viết về chiến tranh của một người An Nam).
- Lục Vân Tiên (cùng Đặng Đình Nghiêm dịch sang tiếng Pháp, ứng Hòe đề tựa, Nguyễn Văn Chi vẽ tranh). Hà Nội, Nhà in Lê Văn Tân.
- Anthologie franco-indochinoise (soạn chung với Nguyễn Văn Tố). Hà Nội, Nhà in Lê Văn Tân. (Tuyển tập Pháp - Đông Dương).
- Nomenclature des communes du Tonkin, classes par cantons pint, huyện ou châu et par provinces, suivies d'une tabte alphabétique détaillée. Hà Nội, Nhà in Lê Văn Tân, 1928.
- Les oeuvres complémentaires l’école en Indochine: La Société d’Enseignememt mutuel du Tonkin. Hà Nội, lmp. Taupin, 1929.
- Địa dư huyện cẩm Giàng. Hà Nội, lmp. Lê Văn Tân, 1931.
- Địa dư huyện Quỳnh Côi. Hà Nội, Imp. Lê Văn Tân, 1933.
- Địa dư huyện Bình Lục. Hà Nội, Imp. Lê Văn Tân, 1935.
6. Hồ Xanh (1901 - 1942):
Nhà giáo, nhà báo, nhà văn. Họ tên thật Nguyễn Văn Nheo, thường dùng họ tên Nguyễn Thượng Cát; làm nghề dạy học nên được gọi là giáo Cát; viết báo ký bút danh Hồ Xanh. Quê thôn Mễ Tràng, xã Liêm Chính (huyện Thanh Liêm, nay thuộc thị xã Phủ Lý).
Hồ Xanh dạy học ở thị xã Phủ Lý, có nhiều đóng góp cho hoạt động đấu tranh hợp pháp của tổ chức Đảng Cộng sản tại địa phương Hà Nam thời kỳ 1936-1939.
Ngoài dạy học, Hồ Xanh còn dịch sách (dịch bộ Tư bản của K. Marx), viết bài cho các báo ở Hà Nội, tham gia các cuộc tranh luận về duy tâm và duy vật, cuộc tranh luận nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh trên báo chí đương thời.
Năm 1940, ông bị chính quyền thực dân dùng lệnh điều động để đẩy lên Hà Giang dạy học. Hồ Xanh lên đó 2 năm, bị sốt rét xin nghỉ về Phủ Lý chữa bệnh, qua đời tại Phủ Lý.
Di sản ngòi bút của Hồ Xanh hiện còn chưa được tập hợp lại. Ông được xem là một trong những tác giả của dòng văn học cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Một số sáng tác thơ của ông thể hiện chủ trương lấy cảm hứng từ đời sống những người lao động:
Nước mắt của anh em vô sản
Là nguồn thơ chảy ra vô hạn     
(Với nhà thi sĩ)
Các bài tham gia tranh luận học thuật của ông tuy không có vai trò quyết định nhưng cũng có đặc sắc riêng.
7. Phạm Tất Đắc (1909 - 1935):
Phạm Tất Đắc sinh ngày 15-5-1909, quê làng Dũng Kim (nay thuộc xã Hợp Lý, huyện Lý Nhân), mất ngày 24-5-1935 ở Hà Nội. Là con một viên thông phán làm việc ở nhà in IDEO (Imprimerie d’Extrône Orient, cũng gọi là Nhà in Viễn Đông) ở Hà Nội. Năm 1923 vào học trường Trung học thuộc địa (trường Bưởi); năm 1926 bị đuổi vì tham gia tổ chức lễ truy điệu Phan Chu Trinh và hô hào bãi khóa. Ít lâu sau, Phạm Tất Đắc làm và in thành sách bài thơ dài Chiêu hồn nước (Nhà in Thanh Niên, Hà Nội, 1927), sách vừa phát hành thì bị cấm. Phạm Tất Đắc bị đưa ra xử tại tòa Trừng Trị ở Hà Nội ngày 15-6-1927. Tòa án thực dân nghiêm khắc kết tội cuốn sách, nhưng vì tác giả mới 17 tuổi (chưa đến tuổi chịu trách nhiệm trước pháp luật) nên tòa quyết định giam vào nhà trừng giới cho đến tuổi trưởng thành. Phạm Tất Đắc bị đưa đi an trí ở nhà trừng giới Tri Cụ (nay thuộc xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang). Ở đây ông tiếp tục tuyên truyền chống Pháp và đứng ra tổ chức đánh giám thị nên lại bị đưa về giam ở nhà pha Hỏa Lò (Hà Nội). Năm 1930 được tha nhưng vì sức yếu, Phạm Tất Đắc mất ít lâu sau đó.
Chiêu hồn nước là bài ca gồm 198 câu song thất lục bát bày tỏ tình cảnh “nước mất nhà tan”, kêu gọi hành động khôi phục giang san nòi giống.
Nghĩ thân thế héo hon tấc dạ
Trông non sông lã chã dòng châu
Một mình cảnh vắng đêm thâu
Muốn đem máu đỏ nhuộm màu giang san.
(Câu 35-38)
Chiêu hồn nước vang vọng âm hưởng thơ văn của phong trào duy tân đầu thế kỷ XX và cũng in dấu tinh thần, tâm trạng của lớp thanh niên học sinh cấp tiến những năm 1920. Chiêu hồn nước là tiếng nói bồng bột của người vị thành niên thiết tha với vận nước.
Tác phẩm:
- Chiêu hồn nước. Hà Nội, Nhà in Thanh Niên, 1927.
8. Lê Tư Lành (1914- 1995)
Nhà giáo, nhà nghiên cứu lịch sử, văn học. Lê Tư Lành sinh ra trong một gia đình nhà nho ở làng Lam Cầu, xã Duy Tân, huyện Duy Tiên; ông nội là Lê Văn Sáng, đỗ Cử nhân Hán học; thân phụ là Lê Tư Kiến, đỗ Cử nhân Hán học.
Tốt nghiệp trường trung học thuộc địa (trường Bưởi) năm 1937, Lê Tư Lành dạy học tại các trường tư thục Nguyễn Văn Tòng, Gia Long, Văn Lang.
Tháng 9-1945 tham gia Ủy ban hành chính huyện Duy Tiên; được huyện Duy Tiên và tỉnh Hà Nam giới thiệu ra ứng cử và đã trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thời đầu kháng chiến, Lê Tư Lành còn giữ các chức vụ ở tỉnh Hà Nam như Ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh, Phó hội trưởng Hội Liên Việt tỉnh, Hội trưởng hội Văn hóa tỉnh, Trưởng ban diệt dốt tỉnh, Trưởng ban địch vận tỉnh.
Đầu kháng chiến chống Pháp, ông còn tham gia dạy học ở trường Vạn Thiệu, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.
Tháng 2-1950, Lê Tư Lành trúng cử Ủy viên Ban Thường vụ Quốc hội khóa I. Các năm 1959-1960, ông là Ủy viên Ban sửa đổi Hiến pháp do Chủ tịch Hồ Chí Minh là trưởng ban.
Các năm 1960-1973 chuyển sang làm chuyên viên của Bộ Văn hóa, công tác ở Vụ Bảo tồn bảo tàng, tham gia giảng dạy ở trường lý luận nghiệp vụ văn hóa, nghiên cứu ở Viện bảo tàng lịch sử, tham gia giảng dạy cho lớp đại học Hán-Nôm đầu tiên dưới chế độ mới (1965-1968). Năm 1973 ông nghỉ hưu.
Lê Tư Lành là người khởi thảo biên soạn lịch sử Quốc hội Việt Nam (bản thảo chưa công bố); là dịch giả một số tác phẩm văn học cổ điển Pháp, nhất là của Voltaire; là tác giả nhiều bài nghiên cứu, khảo luận về lịch sử, địa lý, văn hóa, hiện nằm rải rác ở các báo, tạp chí và bản thảo do con cháu lưu giữ, chưa được tập hợp thành sách.
9. Bàng Bá Lân (1916 - 1989):
Nhà thơ. Sinh tại phố Tân Ninh, phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang; nguyên quán làng Đôn Thư, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Thuở nhỏ học trường Vôi ở phủ Lạng Thương, sau về Hà Nội học trường trung học bảo hộ (trường Bưởi), ra trường trở về Bắc Giang làm chủ đồn điền của gia đình.
Từ 1939 gửi đăng thơ trên các báo xuất bản ở Hà Nội.
Sau 1954 di cư vào Sài Gòn, dạy học tại các trường tư thục, tiếp tục sáng tác văn thơ; có thời gian làm chủ bút kiêm chủ nhiệm nguyệt san Bông lúa (Sài Gòn, 1956).
Tác phẩm đã xuất bản gồm các tập thơ: Tiếng thông reo (1934), Xưa (chung với Anh Thơ, 1941), Tiếng võng đưa (1957), Vào thu (1969); các tập truyện: Người vợ câm (1969), Vực xoáy (1969); ngoài ra còn có các tập: Việt văn bình giảng (1962) và Văn thi sĩ hiện đại (1963).
Xuất hiện trong phong trào “thơ mới” (1932-1945), thơ Bàng Bá Lân nổi bật ở việc khắc họa những hình ảnh và ấn tượng về làng quê Việt Nam.
10. Nam Cao (1917 - 1951)
Nam Cao là một trong số những nhà văn tiêu biểu nhất của văn học Việt Nam thế kỷ XX, có đóng góp quan trọng vào sự phát triển của văn xuôi nghệ thuật tiếng Việt, có một số tác phẩm đạt đến mức cổ điển của văn học hiện đại Việt Nam.
Ông cũng là một trong những người đặt nền móng và là một trong những tác gia đầu tiên của nền văn học mới dưới chính thể Việt Nam dân chủ cộng hòa (từ 1945).
Nam Cao sinh ngày 29-10-1917; họ tên khai sinh là Trần Hữu Tri; sinh trong gia đình theo Công giáo, được đặt tên thánh là Giuse; người làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Xang, phủ Lý Nhân (nay thuộc xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân), tỉnh Hà Nam. Cha là Trần Hữu Huệ (1895-?) thợ mộc, làm thuốc; mẹ là Trần Thị Minh (1897-?) làm vườn, làm ruộng, dệt vải.
Thuở nhỏ, Trần Hữu Tri học một trường tư trong làng; 10 tuổi ra thành phố Nam Định học tiểu học, trung học. Vì thể chất yếu, chưa kịp thi Thành chung đã phải về nhà chữa bệnh. Năm 18 tuổi cưới vợ, vài tháng sau lên tàu hỏa đi Nam Kỳ, vào Sài Gòn, làm thư ký một hiệu may, vừa tự học thêm và tập viết văn. Một vài tác phẩm đầu tiên được đăng báo trong năm 1936. Hơn hai năm sau, Nam Cao trở ra Bắc, tự học lại để thi lấy bằng Thành chung, từ đó kiếm sống bằng dạy học tư và viết văn.
Đất Bắc Kỳ thời ấy chỉ có một trung tâm văn hóa là Hà Nội. Những thanh niên từ các vùng quê, các tỉnh lẻ thường tìm về Hà thành thử tài, thử chí, thử vận may. Với Trần Hữu Tri cũng vậy. Anh tìm được chỗ dạy học ở trường tư thục Công Thanh gần chợ Bưởi, lúc ấy là ngoại thành, và giao dịch với các báo, các nhà xuất bản, với giới viết báo, viết văn Hà thành. Sáng tác của anh, thơ có, văn xuôi có, bắt đầu xuất hiện đều đều trên các tờ Tiểu thuyết thứ bảy, Ích hữu, Hà Nội báo... với những bút danh như là những cái tên ướm thử ngập ngừng: Thúy Rư, Xuân Du, Nguyệt,... Năm 1941, cuốn sách đầu tay ký bút danh Nam Cao nhan đề Đôi lứa xứng đôi ra mắt bạn đọc. Các nhà văn lớp tuổi đàn anh như Vũ Bằng, Lê Văn Trương dường như đã nhìn thấy ở cây bút mới này một văn tài thực sự. Sau tập sách mỏng đầu tay trong đó có truyện Chí Phèo bất hủ, ngòi bút nhà văn Nam Cao tự tin, linh hoạt hẳn lên. Nghề dạy học thì xuống dốc: trường Công Thanh bị quân Nhật trưng dụng, Nam Cao thôi dạy học ở đây, có lúc sang dạy học ở tận trường tư thục Kỳ Giang bên tỉnh Thái Bình, có lúc về quê, nằm nhà. Công việc liên tục, rút lại, chỉ còn ngòi bút với trang giấy. Các năm từ 1941 đến 1944, Nam Cao viết được nhiều nhất. Một thống kê cho thấy, chỉ trên tuần san Tiểu thuyết thứ bảy, trong năm 1942, Nam Cao đăng 10 truyện; trong năm 1943, Nam Cao đăng 24 truyện, phần lớn là những truyện ngắn hay như: Cái mặt không chơi được, Những chuyện không muốn viết, Giăng sáng, Trẻ con không được ăn thịt chó, Mưa nhà, Tư cách mõ, Bài học quét nhà, Từ ngày mẹ chết, Điếu văn, Quên điều độ, Một bữa no, Nước mắt, Đời thừa...
Ngoài ra, còn loạt truyện viết cho độc giả nhỏ tuổi in trong loại sách Hoa Mai, truyện dài Truyện người hàng xóm đăng trên Trung Bắc chủ nhật, 4 cuốn tiểu thuyết bán đứt bản thảo nhưng chưa được in nên mất hẳn (Cái bát, Một đời người, Cái miếu, Ngày lụt); lại còn tiểu thuyết Sống mòn viết xong từ khoảng tháng 10-1944, không nhà xuất bản nào nhận in, đành để đấy...
Thời gian 1941-1944 là thời sáng tác sung mãn và có hiệu quả nhất trong đời viết văn của Nam Cao.
Cố nhiên, ngòi bút viết văn của Nam Cao không đạt kỷ lục nào về số lượng, về độ dài hay độ dày. Cái mà ông đạt tới đỉnh cao là một chất lượng mới: chất lượng ngôn ngữ nghệ thuật, chất lượng tư duy xã hội và tư duy văn học.
Viết sau và đi tiếp dòng văn tả thực xã hội của những Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, chủ nghĩa hiện thực ở Nam Cao đã tỉnh táo đến mức không còn ảo tưởng, không còn sự ve vuốt nào hết. Phần lớn các nhân vật nông dân trong tác phẩm của ông đều đã hoặc đang bị bần cùng hóa, lưu manh hóa, bị suy đồi về nhân tính, nhân cách. Phần lớn đám nhân vật tiểu trí thức ở sáng tác của ông đều đang bị giằng xé giữa việc mưu cầu miếng cơm manh áo và việc bảo vệ phẩm giá con người mình, đều đang day dứt vì thấy đời mình “sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn ra” và mình “sẽ chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống”. Tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa trong văn chương Nam Cao không thuộc kiểu một tình thương mênh mông vỗ về, an ủi, mà là một đòi hỏi nghiêm khắc: ở mức thấp, đó là đòi hỏi con người hiểu biết chính mình và hoàn cảnh sống quanh mình, nhận cho ra tình trạng bị tha hóa, biến dạng biến chất, coi sự tự ý thức này là cơ sở cho việc hành động cải tạo hoàn cảnh sống; ở mức cao hơn, đó là đòi hỏi việc tạo điều kiện để phát triển “tận độ”, hết mức, những năng lực vốn có ở mỗi con người, coi phát triển năng lực con người là tiền đề của sự hoàn thiện nhân cách.
Sáng tác của Nam Cao gắn bó với tiến trình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX vốn thường được hình dung như là quá trình canh tân, hiện đại hóa văn học. Là người tham dự tiến trình ấy, có thể là ở chặng gần cuối, Nam Cao được tiếp nhận và thừa hưởng không ít thành quả của những chặng đầu, ví dụ những thành tựu của các tác gia văn xuôi Tự lực văn đoàn, hoặc thành tựu của các nhà “tả chân” lớp trước; đồng thời, Nam Cao, bằng chính hoạt động sáng tạo của mình, đã thực sự góp phần phát triển và hoàn tất tiến trình ấy, góp phần khép lại giai đoạn quan trọng nhất của việc xây dựng một nền văn xuôi tự sự mới của người Việt trong những điều kiện và tiền đề văn hóa xã hội mới.
Ngòi bút Nam Cao đã đem lại cho văn xuôi tự sự tiếng Việt một chất lượng mới trong khả năng thể hiện tâm lý, phân tích tâm lý. Truyện ngắn Nam Cao là một thành tựu nổi bật, bên cạnh đó, với Sống mòn, Nam Cao đóng góp cho thể tài truyện dài một kiểu kết cấu riêng. Đối với việc xây dựng và phát triển văn xuôi tiếng Việt hiện đại, Nam Cao có đóng góp rõ rệt về ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật, ở văn xuôi Nam Cao, thành phần ngôn ngữ nhân vật không có những phương ngữ hay biệt ngữ thật đột xuất (nếu so với thành phần ngôn ngữ nhân vật trong phóng sự của một số nhà “tả chân” đương thời) nhưng cũng không bị thôn tính bởi ngôn ngữ tác giả như ở các nhà văn xuôi Tự lực văn đoàn. Mặt khác, do quan tâm truyền đạt những dao động, biến thiên của tâm lý, tâm trạng, nên Nam Cao tạo nên được một ngôn ngữ ít nhiều mang tính phức điệu, tổ chức được những mạng lưới phức tạp gồm cả ngôn ngữ bên ngoài và ngôn ngữ bên trong, cả ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ nhân vật, thậm chí cả những sự đan xen và nhòe lẫn vào nhau của hai thành phần ngôn ngữ ấy. Nam Cao là một trong số không nhiều tác gia cùng thời có những tác phẩm mà ngôn ngữ dường như không cũ đi so với thời gian. Nói cách khác, Nam Cao có những tác phẩm đạt đến độ cổ điển của văn xuôi tiếng Việt.
Từ 1943, Nam Cao tham gia phong trào Việt Minh và là một trong số những thành viên đầu tiên của tổ chức Văn hóa Cứu quốc. Tháng Tám 1945, ông tham gia cướp chính quyền ở phủ Lý Nhân, được cử làm Chủ tịch xã đầu tiên của chính quyền mới ở địa phương. Vài tháng sau ông thôi việc chính quyền, ra Hà Nội với giới văn nghệ, làm việc trong tòa soạn tạp chí Tiên phong, cơ quan của Hội Văn hóa Cứu quốc. Đầu năm 1946 ông có chuyến đi ngắn vào Cực Nam Trung Bộ với tư cách phái viên Văn hóa cứu quốc đi mặt trận. Kháng chiến bùng nổ ở Hà Nội, ông về quê rồi tham gia làm báo Giữ nước và báo Cờ chiến thắng của tỉnh Hà Nam. Mùa thu 1947, theo lời mời của Xuân Thủy, chủ nhiệm báo Cứu quốc, Nam Cao lên Việt Bắc, làm phóng viên báo này, cùng phụ trách tạp chí Cứu quốc, thư ký tòa soạn báo Cứu quốc Việt Bắc. Năm 1948, Nam Cao gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương; cuối năm ấy ông đi công tác vùng đồng bằng. Năm 1950 ông chuyển sang làm việc ở Hội Văn nghệ Việt Nam, làm việc trong tòa soạn tạp chí Văn nghệ. Tháng sáu, ông thuyết trình về vấn đề ruộng đất trong hội nghị học tập của văn nghệ sĩ, sau đó ông được cử làm Ủy viên tiểu ban văn nghệ của Trung ương Đảng. Cũng trong năm 1950, Nam Cao đi chiến dịch biên giới. Giữa năm 1951, Nam Cao và Nguyễn Huy Tưởng đi công tác Liên khu III dự hội nghị văn nghệ Liên khu III (23/9/1951), sau đó cả hai ông cùng đi Liên khu IV. Khoảng tháng 10, Nam Cao trở ra Liên khu III, tham gia đoàn công tác thuế nông nghiệp. Trên đường cùng đoàn công tác này thâm nhập vùng địch hậu, Nam Cao bị địch phục kích và đã hy sinh.
Đoạn đời từ Cách mạng tháng Tám 1945, ngòi bút Nam Cao hoạt động với tư cách ngòi bút của một cán bộ làm báo, làm văn. Ông viết tin, làm ca dao, soạn kịch ngắn tuyên truyền, viết hoặc dịch sách phổ thông về địa lý, lịch sử, thời sự. Ông coi đó là “những công việc nhũn nhặn, thầm lặng nhưng có ích”, mặc dù cũng có lúc ông “lo lắng lối viết như vậy có thể làm hỏng lối văn tiểu thuyết đã có ít nhiều người thích” trước đây của ông.
Phần sáng tác văn học của Nam Cao sau 1945 tuy khá ít, nhưng cũng có tác phẩm đạt độ chín về nghệ thuật. Có thể kể chùm truyện ngắn: Mò sâm-banh, Cách mạng, Đôi mắt và một loạt bút ký, ghi chép, nhật ký như: Đường vô Nam, Chuyện biên giới, Ở rừng. Qua những sáng tác này, nhất là qua nhật ký Ở rừng, người ta nhận thấy trong thế giới tinh thần nhà văn đang diễn ra một cuộc đấu tranh tư tưởng gay gắt để vượt qua cái mà Nam Cao gọi là “thằng nghệ sĩ cũ trong người tôi”. Ông cảm thấy có tội vì đã vướng vào duyên nợ với kiểu nghệ sĩ tiểu tư sản trước kia. Ông muốn có đôi mắt mới để nhìn đời, nhìn người. Không bằng lòng với những trang viết đã có mà ông cảm thấy nó nhợt nhạt so với thực tế sống và chiến đấu của công nông, ông chủ trương “sống đã rồi hãy viết”. Chuyến đi cuối cùng mà ông tham dự và hy sinh trên đường công tác, nằm trong chủ định của ông: đi lấy tài liệu cho sáng tác; ông muốn chất sống thực được bộc lộ mạnh mẽ hơn nữa trên trang viết. Sự hy sinh của ông không chỉ là sự hy sinh của một cán bộ kháng chiến, mà còn là sự tử nạn vì nghề nghiệp của một người cầm bút.
Từ sau khi nhà văn hy sinh, ý nghĩa các sáng tác của ông, vị trí của Nam Cao trong văn học Việt Nam thế kỷ XX càng ngày càng rõ dần, lớn dần lên trước các giới sáng tác, nghiên cứu và phê bình văn học.
Năm 1956, tiểu thuyết Sống mòn được xuất bản lần đầu, 5 năm sau khi tác giả qua đời, gây sức thuyết phục lớn vể văn tài tác giả. Ngay sau đó, các truyện ngắn của ông được sưu tầm, tập hợp và xuất bản trong các tập Truyện ngắn Nam Cao, Một đám cưới. Diện mạo di sản của ngòi bút Nam Cao, đặc sắc và tầm cỡ văn nghiệp của ông ngày một rõ rệt trước mắt hậu thế.
Năm 1961 xuất hiện cuốn sách chuyên luận đầu tiên về thân thế và sự nghiệp văn học của Nam Cao; từ đó đến nay có thêm rất nhiều công trình nghiên cứu nhiều hội thảo khoa học về tác gia này.
Năm 1975 bắt đầu xuất hiện Tuyển tập tác phẩm của Nam Cao. Từ đó đến nay có thêm khá nhiều bộ sách tuyển tác phẩm của ông.
Một số tác phẩm văn học của Nam Cao được dịch in ở nước ngoài.
Năm 1996, Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật được trao cho cụm tác phẩm chính của Nam Cao, sáng tác trước và sau 1945.
Càng ngày người ta càng thấy rõ một phần đáng kể trong di sản sáng tác của Nam Cao có khả năng trường tồn, nhập vào nguồn vốn cổ điển của văn học Việt Nam, có khả năng tươi lại, mới lại trong sự cảm thụ của các thế hệ độc giả ngày mai.
Tác phẩm:
- Đôi lứa xứng đôi (Lê Văn Trương đề tựa). Hà Nội. Nxb.Đời Mới, 1941.
- Nửa đêm. Hà Nội. Nxb. Cộng Lực, 1943.
- Truyện người hàng xóm// Trung Bắc chủ nhật. Hà Nội, từ tháng 4 đến tháng 9/1944
- Cười (tập truyện). Hà Nội. Nxb. Minh Đức, 1946.
- Chuyện biên giới (tập ký). Việt Bắc. Nxb. Văn nghệ, 1951.
- Sống mòn (tiểu thuyết). Hà Nội. Nxb. Văn nghệ, 1956.
- Chí Phèo (tập truyện). Hà Nội. Nxb. Văn nghệ, 1957.
- Truyện ngắn Nam Cao (tập truyện). Hà Nội. Nxb. Văn hóa, 1960.
- Một đám cưới (tập truyện). Hà Nội. Nxb. Văn học, 1963.
Có thể hình dung văn học viết Hà Nam qua hai chặng lớn, lấy thời điểm cuối thế kỷ XIX - đầu XX làm dấu mốc. Ở chặng đầu, văn học viết Hà Nam cũng chịu ảnh hưởng từ việc tiếp thu các thê loại ngoại lai như: thơ Đường luật, bi văn, truyện, ký... và chủ yếu sáng tác bằng chữ Hán; nhưng dần dần đã có sáng tác thơ Nôm ngày một nhiều hơn. Đề tài phản ánh của văn thơ Hà Nam khá phong phú, đa dạng và đã xuất hiện một tinh thần nhân văn, nhân đạo từ khá sớm. Quy luật văn bản hóa, văn học hóa văn học dân gian là tương đối đậm nét. Quy luật giao lưu văn học giữa Hà Nam với các tác gia văn học một số vùng văn học khác cũng thấy khá rõ. Có thể kể ra mấy đặc điểm riêng của văn học viết Hà Nam là: Sự kết tinh về mặt thể loại (truyện, thơ Nôm); sự kết tinh về mặt ngôn ngữ; sự kết tinh về mặt giọng điệu, phong cách và có những đề tài phản ánh đặc thù (đề tài nông thôn, làng cảnh). Tất cả những đặc điểm riêng biệt đó đều quy tụ cả ở thiên tài thơ Nguyễn Khuyến - cũng là tác gia lớn nhất của văn học Hà Nam truyền thống. Thêm nữa, cũng phải kể đến sự hình thành văn nghiệp dòng họ, như dòng văn họ Bùi với những tác giả gồm mấy thế hệ kế tiếp nhau. Văn học viết Hà Nam từ truyền thống cũng chuyển nhanh sang hiện đại với đầy đủ các thể loại mới như: thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản sân khấu, v.v... ở chặng thứ hai. Cũng ở chặng này lại ra đời một tác gia lớn khác, khẳng định tầm mức của văn học viết Hà Nam. Tình hình nghiên cứu, phê bình văn học cũng phát triển mạnh; vừa tập hợp, tổng kết các thành tựu văn học, vừa góp phần nhận thức và thúc đẩy sáng tác văn học. Vừa ly tâm, vừa đồng tâm với văn học dân tộc; rõ ràng văn học viết Hà Nam mang bản sắc văn học một vùng - vùng Sơn Nam khá rõ; và chiều hướng phát triển, hội nhập là điều hiển nhiên. Văn học viết Hà Nam đương đại có đầy đủ các yếu tố và điều kiện để vươn tới hình thành một vùng văn học lớn mạnh.
CHƯƠNG XXXII: NGHỆ THUẬT HÀ NAM
A. ÂM NHẠC HÀ NAM
I. ÂM NHẠC DÂN GIAN
Hà Nam là một vùng đất cổ, có nền văn minh sớm, nên âm nhạc ở đây cũng sớm phát triển và trở thành một trong những cái nôi sản sinh ra nền âm nhạc dân gian của đồng bằng Bắc Bộ.
Nói đến tính chất sớm và cao của âm nhạc dân gian Hà Nam là căn cứ trên cơ sở Hà Nam là tỉnh có cội nguồn văn minh lúa nước, có nền văn hóa dân gian khá phong phú. Nền văn hoá, nền âm nhạc dân gian đó được thể hiện qua các làn điệu dân ca của Hà Nam, đặc biệt như các làn điệu dân ca hát Dậm Quyển Sơn (huyện Kim Bảng), hát Lải Lèn (huyện Lý Nhân), hát giao duyên vùng ngã ba sông Móng (giữa các huyện Duy Tiên, Bình Lục)... Ngoài ra là các làn điệu hát Trống quân (đặc biệt là hát Trống quân trên thuyền), hát Cửa đình (Ca trù), hát Chầu văn, hát chèo v.v... Đây cũng là vùng đất có nhiều hội làng truyền thống như hội vật võ Liễu Đôi (huyện Thanh Liêm), hội chùa Đọi (huyện Duy Tiên), hội đền Trần Thương (huyện Lý Nhân), hội bơi chải Võ Giang, hội cướp cầu Lau Chải... Mỗi khi có dịp hội hè, cả làng quê Hà Nam lại sống động bởi các loại nhạc cụ như sênh, phách, nhị, sáo trúc, kèn, trống v.v... Dưới đây là một số làn điệu dân ca tiêu biểu đặc sắc thể hiện độc đáo nét âm nhạc dân gian của Hà Nam.
1.  Hát Dậm Quyển Sơn
Hát Dậm Quyển Sơn đã được giới sưu tầm nghiên cứu văn nghệ dân gian quan tâm tìm hiểu trong hơn 3 thập kỷ qua.
Đây là một hình thức ca múa nhạc riêng biệt của một địa phương, xã Thi Sơn (huyện Kim Bảng) từ thời Lý, thực chất là một hình thức ca múa nhạc dân gian phục vụ lễ hội. Người Thi Sơn ngày nay còn cho biết: Vào năm Kỷ Dậu (1069) Lý Thường Kiệt trên đường hành quân đi đánh giặc Chiêm Thành đã trú quân ở Quyển Sơn; khi chiến thắng trở về, ông đã cho mở hội mừng công. Trong những ngày hội, ngoài các nghi lễ như tế tạ trời đất mở tiệc tùng linh đình còn có trò múa hát của các cô gái thanh tân ca ngợi chiến công đánh giặc giữ nước của vua tôi nhà Lý, của danh tướng Lý Thường Kiệt, để nói lên cuộc sống hoà bình hạnh phúc, an cư lạc nghiệp của nhân dân và hạnh phúc lứa đôi. Trò múa hát này gọi là hát Dậm (miệng hát tay múa quạt, chân dậm theo nhịp điệu của lời ca).
Sau này, cứ vào các ngày từ mùng 1 đến mùng 10 tháng 2 âm lịch hàng năm, nhân dân địa phương nhớ công ơn của Lý Thường Kiệt, lại cùng nhau tổ chức lễ hội. Ngay từ tháng giêng, mọi công việc sau Tết Nguyên đán, cấy cày xong là nhân dân làng thuộc vùng núi Cấm ở Quyển Sơn mở đợt tuyển chọn chừng vài ba chục cô gái thanh tân tuổi từ 13 đến 17, 18, tập trung ở nhà một cụ Trùm trò (sau này gọi là phường Dậm) để tập múa hát theo đúng bài bản của nghi lễ. Khi mọi công việc hoàn tất, các cụ chọn lấy 16 đến 20 cô múa hát hay nhất để đưa vào hát lễ suốt 10 ngày đêm tại đền Trúc là nơi thờ danh tướng Lý Thường Kiệt.
Hát Dậm là một hình thức múa hát liên tục gồm trên dưới 30 điệu khác nhau. Có thể coi là một tổ khúc, một liên ca khúc phục vụ thánh lễ. Mỗi điệu là một bài. Có bài nhiều lời ca, có bài chỉ có lời ca đơn giản về một sự việc, một chủ đề đơn giản (như bài “Cái cong”, ca ngợi cái khung cửi). Có lời hát lấy từ ca dao cổ như bài “Đố ai”:
“Đố ai ngồi võng không đưa. Ru con không hát, đò đưa không chèo. Đố ai ngồi võng không đưa. Ru con không khóc, anh chừa nguyệt hoa”.
Trong bài hát “Đố ai” sau đây, người ta chỉ chọn lấy một vế của lời ca dao để đưa vào bài ca theo “Điệu bỏ bộ”:
Đố ai đố a đố ố ố ai. Đố lả đố ai đố ố ố ai.
Tình bằng ngồi võng a tình bằng ngồi võng a là ta bớ a ru hời ta ư a ru hời ngồi võng khỏi đưa là khỏi i a đưa.
Khi diễn xướng, cụ Trùm (từ xưa đến nay đều là cụ Bà) mặc váy áo vàng hoặc mặc váy áo đỏ đứng giữa trước bàn thờ thánh, quân là những cô gái thanh tân đứng xếp theo hàng dọc ở 2 bên. Mỗi bên có từ 8 đến 10 cô mặc áo dài nâu 5 vạt, hoặc là áo dài mầu xanh lá mạ, váy lĩnh, yếm đào, thắt lưng màu hoa lý, khăn lưng thắt mỏ quạ duyên dáng.
Hát Dậm không có nhạc cụ đệm theo mà người ta dùng đôi sênh tre do cụ Trùm gõ nhịp lúc mau lúc khoan tuỳ theo bài bản. Hát Dậm có những điệu vừa hát vừa múa. Cụ Trùm khi đứng ở giữa, khi đi vòng quanh để điều khiển, khi quân hát và múa thì dùng quạt giấy màu đỏ hoặc trắng làm động tác biểu hiện nội dung và trang trí, lúc không múa thì cài quạt vào thắt lưng. Để tránh nhầm lẫn và sai hội, cụ Trùm thường cất giọng và làm động tác mẫu mực để quân cứ thế mà làm.
Tuy hát Dậm Quyển Sơn là loại múa hát cửa đền, mang tính chất lễ nghi thờ cúng, nhưng lời ca lại đề cập đến những vấn đề trong cuộc sống sinh hoạt đời thường của nhân dân. Ngoài những câu ca ngợi công đức của danh tướng Lý Thường Kiệt và các vị thần thánh khác, nội dung lời ca hát Dậm Quyển Sơn còn nói về công việc đồng áng như cấy cày, hái dâu nuôi tằm, dệt cửi. Một số bài lại nói về đối nhân xử thế, về tình cảm anh em, tình nghĩa vợ chồng, tình yêu lứa đôi...
Hát Dậm có nhiều điệu, nhưng tựu chung có thể xếp thành 3 loại: loại ngâm tự do, loại hát nói như đọc kệ trong chùa, và loại ca khúc (thẻ một đoạn). Giai điệu của hát Dậm được tiến hành trên cơ sở của diệu thức 5 âm (ngũ cung) với bước đi bình ổn do sự kết hợp của các quãng nhỏ trong âm vực một quãng 8 và tiết tấu không có đảo phách, do đó có điệu hát Dậm Quyển Sơn trở nên giản dị, chân thực không cầu kỳ, nó phản ánh cuộc sống thô sơ của nhân dân ta vùng bán sơn địa thế kỷ X - XI. Nhờ cách phổ nhạc cho thơ có sử dụng những chữ, câu đệm, hoặc nhắc lại hay đảo ngược câu văn mà cấu trúc âm nhạc được hoàn chỉnh.
Hát Dậm tuy không phải là thứ dân ca phổ biến cũng không phải là một dòng hát chuyên nghiệp (như xẩm, chầu văn, chèo...) nhưng là một vốn quý của nền văn nghệ dân gian.
Về mặt lịch sử, hát Dậm Quyển Sơn có từ thời Lý Thường Kiệt, song về nội dung luôn luôn chuyển tải một ý thức giáo dục truyền thống về lòng yêu nước, về cuộc sống lao động lành mạnh trong nhân dân. Ở đây cần lưu ý một giả thiết rằng: Vùng Quyển Sơn (xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng) thời Lý là một vùng rừng núi có nhiều đồng bào dân tộc Mường cư trú. Những người Mường chính tông sau chuyển cư vào sâu ở vùng núi Hoà Bình chỉ còn lại người Kinh, người lai Kinh - Mường cho nên mọi phong tục tập quán, ngôn ngữ, nhịp điệu cuộc sống, tiết tấu trong dân ca ở đây còn nhiều dấu vết của người Kinh - Mường Quyển Sơn xưa. Khi nghe những lời hát rồi xem những nhịp điệu hát Dậm, xem xét tiết tấu, đặc biệt là những lời đệm của câu hát, ta thấy rất rõ dấu ấn của dân bản địa là người gốc Mường và lai Kinh thuở xưa. Vì vậy, hát Dậm Quyển Sơn không pha tạp, không phổ biến xuống các vùng phía Nam tỉnh, đến nay nó vẫn chỉ là hiện tượng độc đáo ở địa phương này mà thôi.
Ta hãy nghe lời hát trong một bài hát Dậm ở Quyển Sơn có tựa đề: Cái Cong (tức là cái khung cửi):
“Cái cong cửi vàng: Cái chân cô dày (đạp). Cái tay cô mắc. Thoi đưa thoăn thoắt. Chà nhẹ bằng bông. Cái trục phòng không. Cái duyên cô hỡi. Duyên cô hỡi hời. Hời thư là ta có thư rằng: Hỡi hời thư là ta có thư rằng. Dầu tang tình tang tính, tính tang ta lang a tang tình...”.
Hoặc lời bài ca bài hát dậm Hỡi anh xinh:
“Hỡi anh xinh cho nàng là mấy a mến. Hỡi nàng xinh nàng quyến mấy được anh là hời la lết la lết lê la là ái trời hời la”.
Có thể tìm hiểu thêm một vài làn điệu và lời ca trong hát Dậm Quyển Sơn vì nó mang tính chất đặc thù ở một địa phương.
Khi vào hội, thường thì người ta mở đầu bằng các làn điệu như Vỡ nước ở Chèo rồi đến các làn điệu hát Vãn, Bảy mừng, Nếp mây v.v...
Hát Vãn:
“Nước đã an khang. Từ khi nước đã an khang. Khắp nơi thôn xóm làng ta mở hội. Gió cuốn cờ bay. Ta mừng là vậy. Đón xuân về, mừng xuân về...”.
Đây là một thể hát ru. Nhưng không phải như hát ru của hát giao duyên, hoặc ru con thông thường. Hát ru ở đây là tên những làn điệu hát ru. Cần phân biệt ru với ru con. Ru con nói chung là sáng tác dân gian gồm những giai điệu êm đềm và phải đều đều đến mức độ làm cho trẻ thơ dễ đi vào giấc ngủ, lại có sự đung đưa có tính chất hết sức vật lý cùng với tâm sinh lý của trẻ thơ. Hát ru là thể loại hát dân ca đặc biệt. Nhạc điệu có thể yên ả, du dương, nhưng cũng có thể vui tươi. Hát Dậm cũng có làn điệu gọi là hát ru, nhưng là hát ru trong lễ hội, hát lễ.
Cốm là đổ cúng tiên trong lễ hội. Cốm do gạo nếp mây - một thứ nếp quý do nhân dân lao động làm ra. Khi dâng cốm người ta hát bài Nếp may theo điệu hát ru như sau:
“Nếp là nếp, nếp mây. Tình bằng là rẻo lắm ta bớ ru hời. Ta ru hời rẻo lắm nếp mây. Ru là ru ru con. Tình bằng là khỏi khóc ru con tơ bớ ru hời ta ru hời khỏi khóc ru con. Mây là mây mấy nơi tình bằng là từ tạ. Ta ru hời từ tạ mấy nơi”.
Khi hát lên sẽ là: “Nếp là nếp nếp mây nếp là nếp nếp mây. Tình bằng là rẻo lắm, tình bằng là rẻo lắm ta bớ ru hời ta ru hời rẻo lắm nếp mây là nếp mây. Ru là ru con, ru là ru ru con tình bằng là khỏi khóc, tình bằng là khỏi khóc ta bớ ru hời ta ru hời khỏi khóc ru con là ru con. Mây là mây mấy nơi mây là mây mấy nơi tình bằng là từ tạ tình bằng là từ tạ ta bớ ru hời ta ru hời từ tạ mấy nơi”.
Nhạc nối.
Hoặc bài: “Tết đến giêng hai. Đủng đỉnh chơi xuân. Đi tìm huê nở. Thấy huê mừng rỡ. Chả biết rằng huê nở nơi nao bớ ru hời ru ta bớ ru tang tang tính tình tang tang tình là tình tình tang”.
Nhìn chung, những làn điệu của hát Dậm Quyển Sơn đều có tiếng đệm của những điệu giống nhau. Còn nhạc nối thì bằng chất liệu ở trong nó như “Lấy mỡ cá rán cá” vậy. Khi hát lên sẽ là:
“Tết đến là đến riêng hai đủng đỉnh là đỉnh chơi xuân đi tìm là tìm huê nở thấy huê là huê mừng rỡ chả biết rằng là rằng huê ở ở nơi nao. Bớ hời ru ta bớ ru hời bớ hời ru ta bớ ru hời tang tang tính tang tính tình tang là lang tang tình. Dẫu tang tính tang tính tình tang là hay tang tình là tình tính tang”.
Nếu chỉ nói riêng về tiếng đệm thì chỉ là sự sáng tạo ra những âm phụ để tải nội dung lời ca, nhưng do cấu trúc âm nhạc mà tiết nhạc với tiếng đệm trở thành sự nhí nhảnh vui tươi lạc quan đúng như tựa đề bài Ru xuân hay Tết đến chơi xuân.
Trong dân ca Quan họ (Bắc Ninh) có làn điệu “Mười nhớ” trữ tình thì trong hát Dậm Quyển Sơn có điệu “Bảy mừng” mang nội dung của lời ca từ trong lao động. Nó giống nội dung của điệu hát cách mở đầu cho đêm chèo. Thí dụ như: Trước tiên tôi mừng. Các bậc tiên chỉ tôi. Mừng dân ta, làng ta v.v... Điệu hát “Bảy mừng” ở hát Dậm Quyển Sơn cũng có nội dung như thế.
Mừng các bô lão sống lâu. Mừng cho phong đăng hoà cốc. Mừng cho làm ruộng lúa tốt. Trồng dâu chăn tằm v.v...
Những tiếng đệm như “lê lê la la la ta sẽ" để nối vào câu sau, giống như trong hát “Cò lả” có tiếng đệm nối “Tình tính tang tang tính tình, anh chàng rằng cô nàng ơi” v.v...
Nhưng về âm nhạc thì khác. Phải nói rằng: Đứng về góc độ âm nhạc với những tiếng đệm của hát Dậm Quyển Sơn không hề giống bất cứ dân ca nào ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, mặc dầu Quyển Sơn (huyện Kim Bảng) theo địa dư cũng chỉ là một địa phương nằm trong khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Qua đây càng nhận ra rằng giả thuyết đất Kim Bảng ngày nay một phần là do người Mường Hoà Bình đã sống ở đây khá lâu. Phong tục, tập quán và văn hoá nói chung ở vùng này hiện nay còn dấu vết qua hát Dậm là chứng tích đáng tin cậy. Và, do tính chất dân tộc đặc biệt như vậy nên sau này mặc dù sự giao lưu văn hoá giữa các vùng ngày càng mạnh lên mà hát Dậm Quyển Sơn vẫn không hề bị lẫn với các làn điệu dân ca khác, và không bị mất đi. Sức sống mãnh liệt của một nền văn hoá dân tộc mang tính đặc thù bao giờ cũng tồn tại vĩnh hằng.
2. Múa hát Lải Lèn (Lãi Lê, Lải Lê)
Múa hát Lải Lèn là lễ hội múa hát thờ thần của làng Nội Chuối (xã Bắc Lý, huyện Lý Nhân), một làng nằm trên bờ sông Long Xuyên, nơi có đền thờ Triệu Quang Phục. Ông là người có công đánh đuổi giặc Lương, giành lại quyền tự chủ cho đất nước, lên ngôi xưng là Triệu Việt Vương. Triệu Việt Vương xây dựng lực lượng từ căn cứ đầm Dạ Trạch (vùng Khoái Châu - Hưng Yên và chắc chắn là cả vùng ven sông Hồng trong đó có Bắc Lý, Long Xuyên ngày nay). Nhân dân ở đây, không biết từ đời nào, đã lập đền thờ Triệu Việt Vương. Tục múa hát Lải Lèn (còn có tên gọi là Lãi Lê, Lải Lê) được lưu truyền đời đời trong nghi lễ thờ phụng Triệu Việt Vương.
Cũng như dân ca hát Dậm Quyển Sơn, Lải Lèn là loại hình ca múa nhạc rất cổ, chắc chắn là cổ hơn Dậm Quyển Sơn, vì đến bây giờ, ngay tên gọi Lải Lèn (Lãi Lê, Lải Lê) là gì cũng không ai giải thích được nữa. Nhà văn Bùi Văn Cường (Hà Nam) đã sưu tầm, nghiên cứu tục múa hát Lải Lèn 40 năm nay và đã ghi chép được khoảng 30 khúc điệu của làn điệu này.
Về nguồn gốc của tục múa hát Lải Lèn, truyền thuyết xưa kể lại rằng: Có ba làng cùng thờ chung một thành hoàng. Đó là các làng Yên Trạch, Đọ và Nội Chuối (còn gọi là Nội Duối) vào thời Nguyễn đều cùng tổng Yên Trạch, phủ Nam Xang. Cách đây hơn nghìn năm, nơi này thuộc vùng đất trũng ven sông Hồng, nước ngập mênh mông. Các cư dân trong vùng lúc đó thường tụ tập trên những dẻo đất cao hoặc những doi đất thấp, muốn định cư được phải vượt đất làm thổ.
Vào nửa cuối thế kỷ V, Triệu Quang Phục giúp Lý Bí (vua Lý Nam Đế) đánh đuổi giặc Lương, đã lấy đầm Dạ Trạch (bãi Màn Trù, nay thuộc huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên) làm căn cứ hiểm trở để kháng chiến. Vùng đất thuộc ba làng kể trên cách đầm Dạ Trạch theo đường chim bay qua sông Hồng không xa, nên đi bằng đường thuỷ rất thuận tiện. Có lẽ vì vậy, Triệu Quang Phục đã lấy nơi đây làm vành đai bảo vệ, tiếp tế cho căn cứ kháng chiến của mình.
Sau khi chiến thắng giặc Lương (năm 530), Triệu Quang Phục lên ngôi vua, xưng là Triệu Việt Vương, định đô tại Long Biên.
Khi lên ngôi vua, Triệu Quang Phục đã về thăm vùng đất này. Nhân dân trong vùng đã tổ chức nghi lễ lớn đón mừng, trong đó có múa hát Lải Lèn. Sau khi ông mất, dân ba làng thương tiếc lập đền thờ. Múa hát dâng rượu mừng đón vua trở thành múa hát thờ thần, là lễ thức. Chạy ngựa và bơi chải là những trò diễn tích xưa: Triệu Quang Phục cùng quân sĩ đánh giặc Lương và tích về cuộc nội chiến.
Sau này, vùng đất trên lập thành 3 làng, các làng đều có đình riêng, việc thờ Triệu Quang Phục được đưa từ đền chung (hoặc đình chung) về đình riêng của mỗi làng, và được phân định như “lời phán” trong một huyền tích mà nhân dân trong vùng còn lưu truyền: “Làng Đọ bơi thuyền, Làng Yên chạy ngựa, Làng Nội múa hát Lải Lèn”.
- Làng Đọ bơi thuyền là mô phỏng cuộc hành quân hay vận chuyển lương thực, khí giới bằng đường thuỷ.
- Làng Yên chạy ngựa, đốt pháo là tái hiện cảnh diễn tập và đánh trận (lễ hội làng Yên còn diễn lại tích nghĩa quân làm lương khô trong căn cứ Dạ Trạch; cảnh người ngựa lao xuống nước là phản ánh cuộc nội chiến giữa Triệu Quang Phục và Lý Phật Tử, khi Triệu Quang Phục cùng đường tuẫn tiết)(*).
- Riêng làng Nội múa hát Lải Lèn là diễn cảnh mừng đón và tiễn biệt vua; đồng thời cũng diễn lại cảnh dân làng đưa tiễn nghĩa quân ra trận.
Cũng theo truyền thuyết nhân dân trong vùng còn lưu truyền câu chuyện: vào buổi sáng nọ, dân ba làng thấy trên dòng sông Long Xuyên có một hòm gỗ to trôi từ sông Hồng về. Hòm trôi đến cuối làng Nội thì mới vớt được, dân làng về mở ra xem thì thấy trong hòm có hình nhân 12 cô gái nàng Lải, 8 chàng hầu vua và 3 quyển sách chữ Nho. Sách dạy về múa hát Lải Lèn và chỉ rõ rằng: Làng Đọ bơi thuyền, làng Yên chạy ngựa, làng Nội múa hát Lải Lèn.
Dân ba làng cho rằng đây là những lời thánh chỉ, nên từ đấy học và làm theo.
Huyền thoại trên đã được thêu dệt bởi tấm lòng tôn kính của dân làng đối với thành hoàng làng Triệu Quang Phục, là sự “khôn khéo” thổi cái linh thiêng vào lễ hội của làng. Có lẽ dựa vào việc thờ Triệu Quang Phục có từ bao đời trước, những người có trình độ Nho học đã tập hợp, biên soạn thành 3 quyển sách đó để tiện cho việc lưu truyền. Đời này qua đời khác, họ đã thêm những lớp văn hoá muộn vào thần tích. Ví dụ, trong múa hát Lải Lèn có cả tích truyện “Chiêu quân cống Hổ” bên Trung Quốc. Tích nói về phận người con gái phải chịu khổ nhục kế để làm mỹ nhân kế, mưu việc lớn. Tích này vận dụng nhằm ám chỉ việc Triệu Việt Vương gả Cảo Nương cho Nhã Lang để giữ sự hòa thuận với họ Lý. Thời phong kiến tự chủ, Nho giáo cùng văn hóa Trung Quốc ảnh hưởng rất lớn đối với nước ta. Lấy tích truyện Trung Quốc để dẫn truyện bên ta thường được các nhà Nho sử dụng.
Như vậy, múa hát Lải Lèn ở làng Nội Chuối có nguồn gốc từ thời kỳ Bắc thuộc. Về các triều đại phong kiến tự chủ sau này, những người theo Nho học thêm vào cả các yếu tố Nho giáo. Nhưng trong nội dung của lễ hội này vẫn có lúc lắng sâu, lúc phảng phất đời sống tình cảm, tâm linh của nhân dân, qua đó đã xen lẫn vào nhiều yếu tố văn hoá dân gian.
Múa hát Lải Lèn tái hiện lại cảnh mừng đón vua với những nghi thức cung đình. Lời hát Lải Lèn cho biết điều ấy: “Nào bốn con chim nhạn ở đâu ra đây chầu đức vua đây nữa!” và bốn con chim nhạn (các nàng Lải) xuất hiện trong điệu múa: “là khoa ra múa, mừng cha ta đã về”.
Cha ở đây là vua Triệu Việt Vương. Các nàng Lải là những cô gái làng Nội tuổi độ từ 16, 18 đến đôi mươi, thanh tân, hầu rượu và múa hát cho vua xem:
Nhất tuần len lái
Đã len lải lèn
Nhị tuần len lái
Đã len lải lè
Tam tuần len lái
Đã len lải lèn
Ba ngày hành lễ cũng là 3 tuần rượu các nàng Lải dâng vua.
Các nàng Lải còn múa hát để diễn lại cảnh trận mạc xưa như các điệu Xô Xiết (bắn cung), Quỳ thực quỳ hoa (múa kiếm) và điển hình nhất là điệu Bầy hồ mô phỏng lại cảnh dàn binh bố trận trên sông nước với chiến thuyền quây tròn. Diễn xướng cảnh này, các nàng Lải giương cao cờ lệnh và kiếm rồi lượn theo vòng tròn ngày càng thu nhỏ lại, vừa hát vừa múa: “Bầy hồ là vậy. Tiếng bớ quân bầy”.
Bên cạnh việc diễn tích về chiến trận chống quân Lương của Triệu Quang Phục và nghĩa quân, diễn tích về cuộc nội chiến, múa hát Lải Lèn còn tái hiện cảnh tiễn biệt của trai gái làng giữa thời buổi chiến tranh: “Chàng trảy ra đi. Cho thiếp trảy về. Trảy thuyền ra đi. Kẻ đi non nước. Nước phù sa choi chói. Khói biếc lầm than”. Lồng trong tâm linh tín ngưỡng thờ thần là ước nguyện cầu mong của người dân về một cuộc sống yên lành, sinh sôi nẩy nở: khi Hát giã (hát Tống thần) xong, những nàng Lải thanh tân hát về hình ảnh người vợ, người mẹ tương lai:
Cô nào khéo léo. Như quả mướp trương. Tối đến nằm riêng một giường” để “Sinh ra gái trai. Sinh sinh phá phá...”.
Múa hát thờ thần ở làng Nội là sinh hoạt văn hóa mang màu sắc tín ngưỡng linh thiêng của người dân nơi đây, nên đã bị “khép kín” trong phạm vi làng này. Phần hát là những lời thờ cúng kiêng huý, không được phổ biến rộng, ít mang được sự thăng hoa, phóng túng về tình cảm như trong các sinh hoạt văn hoá dân gian khác (hát đối, hát giao duyên) nên hạn chế nhạc điệu.
3. Hát Trống quân Hà Nam và hát Trống quân trên thuyền vùng Liễu Đôi
Hát Trống quân là loại dân ca đối đáp thử tài đua trí với nội dung trao duyên, trao cả những nhận biết và kinh nghiệm sống giữa nam nữ thanh niên trong xã hội nền văn minh lúa nước, được tổ chức vào dịp Tết Trung Thu hàng năm ở hầu hết các vùng trung châu và đồng bằng Bắc Bộ.
Hát Trống quân thuộc dạng hát nói, hát kể, nương theo niêm luật và thanh điệu từ ngữ của thơ lục bát, song thất lục bát, đôi khi cả một bài thất ngôn bát cú. Nó đòi hỏi người hát phải nhả lời sao cho tròn vành rõ dấu nghe thật tiếng, phát âm theo điệu ở dạng ngũ cung nguyên sơ, với tiết tấu vui dồn, rắn rỏi, dí dỏm qua những nhịp đảo, nghịch, những chấm câu rơi vào âm lửng (tỉ như âm Mi vào lời mang dấu Huyền, âm La vào lời không dấu của gam Son) và tiếng trống đất “thình thùng thình” dứt câu vấn câu đáp, gây nên cảm giác dở dang, gợi thúc đối phương mau sớm đáp lời. Bởi vậy, dù phải hát những câu thương nhớ buồn sầu, nghệ nhân vẫn không bị quyến vào ý tứ, lời chữ; trái lại đã tách ra thoải mái, dường như đứng ngoài, đứng trên câu họ đang hát.
Thính khán giả của hát Trống quân là đông đảo anh em chị em và bà con trong thôn xóm, trong gia tộc gặp ngày Tết nông nhàn thong thả lại có trăng thanh gió mát. Họ đứng ngồi túm năm, tụm ba vây quanh bãi hát, dõi theo hồn nhiên, nhiệt tình tán thưởng những câu vấn ý tứ sâu xa, câu đố lắt léo khó giải, với những câu đáp đón đỡ chí tình, câu giảng văn vẻ, sắc bén cùng những cung cách bẻ câu đố giọng ngọt ngào, những tiếng hát mượt mà vang ấm gợi cảm của mỗi bên một cách khách quan, sảng khoái, chẳng kể của nghệ nhân làng mình hay làng người.
Quả là nhân dân ta rất coi trọng Tết Trung Thu, một lễ hội nông nghiệp chỉ đứng sau Tết Nguyên Đán và lễ Vu Lan trong năm. Họ coi hát Trống quân là đặc sản nghệ thuật của trai gái trong tiết Trung Thu không chỉ để vui chơi tìm duyên thử trí vào lúc mùa màng thư nhàn mà còn để cha ông soi ngắm trăng sao thời tiết đoán định bước tới làm ăn: “Muốn ăn lúa tháng năm” hãy “xem trăng rằm tháng Tám”, “trăng trong thì được lúa mùa, trăng đục mờ mờ ắt được lúa chiêm”. Họ còn sắm sửa đủ thứ đèn cù, đèn sao, đèn cá, đầu sư tử, cùng với bưởi bòng, na chuối bánh trái, tò he, làm cỗ, bày cỗ cho các cháu con dung dăng hát múa dưới trăng, phóng tay hậu hỹ tới mức làm cho chúng tưởng như Tết Trung Thu là Tết chỉ dành riêng cho chúng.
Cả vua chúa các triều đại phong kiến nước ta xưa kia cũng hết sức coi trọng việc tổ chức các Tết Trung Thu hàng năm hoặc vài bốn năm, tùy điều kiện cho phép. Sử chép các triều Lý, Trần, Lê đều mở những hội đèn, hội đua thuyền, đua các trò khéo, trò khoẻ, trò múa rối leo dây kéo dài năm bảy ngày, thu hút đông đảo dân chúng các nơi về Thăng Long dự xem như cố ý phô trương thánh uy đức độ đấng cầm quyền, tự hào bộc lộ những cảnh hưởng lạc chơi bời xa hoa của thời mình. Sử sách bi ký của người xưa cũng chỉ nhắc đến hát múa chung chung, hoặc chi tiết hơn thì mãi thế kỷ XVII mới nói tới những câu hát quê đối đáp mà khó ai dám đoán định đấy là thể loại hát Trống quân.
Hà Nam vốn là cái rốn nước của đồng bằng Bắc Bộ. Người dân Hà Nam đã sống ở trong nước đồng chiêm ngàn đời, “sống nằm giường tre, chết nghe sóng vỗ”.
Do hoàn cảnh sống cùng với nước như trên nên người Hà Nam nói chung và đặc biệt là người Liễu Đôi nói riêng đã có những hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian phản ánh đời sống đồng chiêm nước trũng của họ. Đó chính là sinh hoạt ca hát Trống quân trên cạn và trên thuyền ở các thôn Gừa, Sông, Chảy v.v... của Hà Nam.
Hát Trống quân còn gọi là “hát đúm” mang tính chất đối đáp trong những ngày tháng tám âm lịch. Tục lệ này chủ yếu thuộc ba thôn Gừa, Sông, Chảy xã Liêm Thuận (huyện Thanh Liêm). Có hai hình thức: hát trên cạn và hát dưới thuyền.
- Hát Trống quân trên cạn: Người ta đào một cái lỗ, trên miệng lỗ để một tấm ván gỗ. Giữa tấm ván có đóng một cái cọc để chống dây cho căng, hai đầu dây buộc vào hai cái cọc, vừa hát vừa lấy dùi đánh vào dây để phát ra âm thanh. Dây buộc bằng loại thừng được bện bằng tre, hay làm bằng dây thép. Âm thanh phát ra nghe phừng phừng, gõ theo nhịp 2-3-1... tuỳ độ ngân dài hay ngắn. Mỗi nam hoặc nữ, đôi khi nam cả, ngồi một bên. Khi người bên này hát và gõ nhịp thì người bên kia ngồi nghe, tìm cách đối đáp lại. Có khi người thôn Gừa hát với người thôn Sông, hoặc thôn Chảy (thường là thôn nọ hát đối với thôn kia), ít khi xảy ra việc người trong cùng một thôn hát đối với nhau.
- Hát Trống quân dưới thuyền: Như đã trình bày ở trên, hát Trống quân là một loại hình ca hát độc đáo của vùng đồng bằng Bắc Bộ với các cái nôi nổi tiếng như Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nội v.v... Hát Trống quân thường diễn ra vào mùa Thu mùa trăng sáng và cũng là mùa mưa nhiều nước lắm. Vì thế người Hà Nam đã sáng tạo ra cách hát Trống quân ở trên thuyền trong điều kiện họ không thể đào lỗ trống trên cạn được khi toàn bộ đồng đất quê hương vào mùa nước ngập. Các trai thanh gái lịch của Hà Nam xưa vào những ngày rằm trăng sáng của tháng bẩy, tháng tám mùa thu họ bơi thuyền ra giữa dòng sông, họ đặt Trống quân (hoặc một cái thùng) vào trong lòng thuyền để cho có âm cộng hưởng, rồi họ vỗ trống và hát những lời ca đối đáp giao duyên của những điệu hát Trống quân. Cuộc hát có thể diễn ra suốt đêm hoặc kéo dài từ đêm này sang đêm khác trong các mùa hội hát Trống quân, thuyền nọ hát thuyền kia đối lại, vừa hát vừa bơi thuyền, thuyền nọ nối thuyền kia.
Lối hát Trống quân trên thuyền của Hà Nam thật là độc đáo và chỉ riêng đất Hà Nam mới có mà thôi.
Các thôn Dương Xá và Ứng Liêm của xã Thanh Hà cũng có tục hát Trống quân và hát ống. Hát Trống quân ở đây bắt đầu từ ngày mùng 1 đến hết tháng tám. Tục lễ trao giải có khi là chục bạc (10 đồng) hoặc chiếc khăn tay. Bên nam, bên nữ hát đối nhau. Để hoà nhịp hát, người ta đào lỗ chôn một thùng sắt tây, miệng thùng kín và dùi một lỗ. Từ lỗ đó có hai dây thép kéo ra hai cọc tre đóng cân xứng. Khi hát dùng dùi gỗ gõ vào dây thép ở hai phía làm âm thanh phát ra: “thùng... thùng...”. Hát Trống quân thường được tổ chức ở cửa đình thôn Dương Xá hoặc trước miếu đô vật của thôn Ứng Liêm. Hai thôn này thường tổ chức cuộc hát thi hai bên bờ sông, và đều sử dụng thứ “nhạc cụ” như vừa mô tả. Cuộc hát thi thường dùng lời, làn điệu và hát vào những đêm trăng sáng nhất.
- Hát ống
Tục hát ống ở vùng này không phổ biến lắm. Ở hai thôn Dương Xá và ứng Liêm, nhân dân vẫn còn lưu lại hình thức này. Người ta dùng hai ống sắt tây, một đầu bịt bằng bong bóng lợn, hoặc bằng da trâu, sau đó đem phơi khô và nối giữa hai ống bằng một sợi chỉ được chập làm bốn lần. Dây nối tuỳ theo dài ngắn, thường là khoảng 30 mét. Hình thức hát như Trống quân. Người đầu này hát thì đầu dây kia nghe, cứ thay nhau lần lượt như vậy.
Theo các cụ ở đây cho biết, hát ống là hình thức dân gian mới xuất hiện gần đây. Điều đó cũng có thể xảy ra vì khí cụ dùng để hát là ống sắt tây, dễ có khả năng là “ống sữa bò”.
4. Hát chèo Hà Nam
Ca dao xưa có câu:
Ăn no rồi lại nằm khoèo
Nghe giục trống chèo bế bụng đi xem
Ngày xưa, dịp tết nhất hội hè đình đám ở đồng bằng Bắc Bộ cũng là mùa của hát chèo. Dịp ấy, giàu nghèo, trẻ già, trai gái nông thôn thường kéo nhau ra đình để được vui buồn cười khóc với từng trò diễn trong từng tích chèo đã nhập tâm, nằm trong trí nhớ của bao người, bao thế hệ.
Gánh chèo quê xưa bôn ba đây đó, khắp mọi làng quê với những cỗ hòm nghề vuông vắn, víu hai đầu đòn gánh tre đặt trên vai các nghệ nhân chèo cũng đồng thời là những người nông dân chân lấm tay bùn nhân những ngày nông nhàn mà trở thành những nghệ sĩ của các thôn xóm. Đi tới mỗi làng, gánh chèo dừng bước, gỡ đồ lề ra để chuẩn bị ra trò. Nơi thì họ hát khoán, bao tích mỗi tích mấy quan. Nơi thì họ hát hương, qua đêm tính chân hương, mỗi nén mấy tiền. Nơi sành sỏi thì họ hát thẻ, làn điệu, câu ca, khuôn múa lọt tai lọt mắt, người cầm chầu ra tang trống một tiếng cắc để khen, nghe cắc thì ném một thẻ. Thẻ là vật chứng ghi nhận lời khen, cuối đêm trò sẽ đếm thẻ tính tiền. Người cầm chầu theo dõi tích trò, mảng trò, làn hát, điệu múa, thay mặt dân làng mà giữ nhịp và khi thì khen bằng một tiếng cắc tùng vào tang trống, khi thì chê bằng vài tiếng cắc cắc, để cho đêm vui hát chèo càng thêm rộn rã.
Là một vùng đồng quê thuộc châu thổ sông Hồng, Hà Nam xưa đã có một nguồn âm nhạc dân gian, nguồn dân ca phong phú giàu có với những hát Dậm, hát ví giao duyên, hát múa Lải Lèn, hát ca trù, hát Trống quân, hát ru đồng bằng Bắc Bộ. Bao đời nay, nhân dân Hà Nam giữ gìn lưu truyền nguồn dân ca này và cả các nguồn dân ca khác của các miền quê đất nước. Và chính với những nôi âm nhạc dân gian này Hà Nam đã đóng góp thêm cho nền sân khấu dân tộc một sản phẩm độc đáo, đó là các chiếu chèo, với những làn điệu chèo, những nghệ nhân chèo đặc sắc như nghệ sĩ nhân dân Bạch Trà, Dịu Hương, các nhạc sĩ như Bùi Đình Thảo, Ngô Quốc Tính v.v... Địa phương Hà Nam đã từng nổi tiếng với các chiếu chèo như Xuân Khê, Nhân Đạo, làng Ngò (huyện Lý Nhân); các chiếu chèo Đồng Hóa, Lê Hồ, Quế Sơn (huyện Kim Bảng); các chiếu chèo Tiên Nội, Yên Bắc, Châu Giang (huyện Duy Tiên) và các chiếu chèo Liêm Sơn, Kiện Khê (huyện Thanh Liêm) v.v...
Có thể kể ra đây một chiếu chèo nổi tiếng của Hà Nam, đó là chiếu chèo làng Ngò.
Làng Ngò (thuộc xã Đức Lý, huyện Lý Nhân) còn lưu giữ được nhiều di sản văn hóa vật thể như cụm di tích liên hoàn đình - chùa - phủ và nguồn trữ liệu văn hóa phi vật thể phong phú, trong đó sinh hoạt chiếu chèo sân đình đã trở thành nền nếp văn hóa truyền thống.
Vào các dịp lễ tết, những ngày xuân, sau vụ mùa màng, chiếu chèo làng Ngò lại được tổ chức trình diễn phục vụ dân làng. Xưa kia, chủ yếu diễn lại những vở chèo mang tích cổ; tố cáo chế độ phong kiến, ca ngợi tình yêu như: Chiêu Quân Cống Hồ, Vương Quý Ly, Hương Hương, Lương Xuân Bá - Chúc Anh Đài. Trong những năm miền Bắc xây dựng CNXH, chủ đề các vở diễn đi sâu vào phản ánh công cuộc xây dựng nông thôn mới, lao động sản xuất như vở Cầy Chiu, Câu chuyện quê hương. Gần đây, chiếu chèo làng Ngò còn dàn dựng những vở diễn, những tiết mục phản ánh nhiệm vụ chính trị ở địa phương, điển hình là phong trào làm đường giao thông nông thôn (vở Đường vui), kế hoạch hoá gia đình, xây dựng nếp sống văn hóa - làng văn hóa (vở Trời sinh voi - Trời sinh cỏ), ca ngợi truyền thống uống nước nhớ nguồn (vở Tấm lòng son).
Các diễn viên, nhạc công của làng chủ yếu là người nông dân lao động thuần túy, chăm chỉ công việc nông gia, nhưng với lòng say mê nghệ thuật, họ đã có những giờ phút thăng hoa tinh thần trong cuộc sống. Chính vì vậy chiếu chèo sân đình làng Ngò luôn là nơi hội tụ tình làng, nghĩa xóm, sự đoàn kết nhất trí của các tầng lớp nhân dân trong làng. Mặc dù trang thiết bị biểu diễn hết sức đơn giản, đều do dân tự nguyện đóng góp, với những phương tiện đi diễn chỉ có quang gánh, đôi bồ đựng quần áo và đạo cụ, chiếu chèo làng Ngò đã trải rộng ở một số xã quanh vùng như Đạo Lý, Nhân Nghĩa, Nhân Chính...
Những năm 1970 trở lại đây, với sự giúp đỡ một phần vật chất của UBND xã, được phòng văn hoá của huyện Lý Nhân hướng dẫn về chuyên môn, chiếu chèo làng Ngò đã có những trang thiết bị cần thiết cho vở diễn như loa, đài, phông màn, trang phục. Là đơn vị duy nhất đại diện cho xã tham gia các kỳ hội diễn sân khấu các cấp, chiếu chèo làng Ngò đã thu được những kết quả đáng ghi nhận: Năm 1973 giải nhất, 1974 giải nhất, 1976 được công nhận là lá cờ đầu về hát dân ca và chèo xuất sắc của huyện, 1984 được Sở Văn hoá Hà Nam Ninh tặng thưởng chiếc đàn pianô. Và mới đây tại liên hoan sân khấu các làng văn hoá huyện Lý Nhân, với vở Đường vui, đội đã đạt giải. Trong các chương trình dự thi dân số và phòng chống AIDS, chiếu chèo làng Ngò được huyện cử đi dự hội thi toàn tỉnh và được giải.
Ngày nay, bên cạnh phong trào toàn dân làm đường giao thông nông thôn, tích cực lao động sản suất, áp dụng những tiến bộ về chuyển giao cơ cấu cây trồng vật nuôi, tiếng hát, điệu múa từ chiếu chèo làng Ngò vẫn là một bộ phận không thể tách rời cuộc sống văn hoá tinh thần của người dân nơi đây, hỗ trợ cho phong trào xây dựng làng văn hóa, nếp sống văn minh, góp phần nối tiếp truyền thống văn hiến của quê hương, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.
5. Hát giao duyên vùng ngã ba sông Móng
Dân ca giao duyên vùng ngã ba sông Móng, gần đây được Sở Văn hóa Thông tin Hà Nam sưu tầm, khai thác và giới thiệu qua các chương trình biểu diễn văn nghệ, liên hoan dân ca và chèo trong và ngoài tỉnh. Thực tiễn cho thấy, những làn điệu dân ca này đã thu hút được sự chú ý của đông đảo khán giả, mang đến nhiều giai điệu mới cho những đêm ca nhạc.
Dân ca giao duyên vùng sông Móng mang được âm hưởng chung của nhiều thể loại dân ca trong vùng đồng bằng Bắc Bộ và cả những nét riêng của vùng chiêm trũng Hà Nam.
Ngã ba sông Móng là địa danh nằm trên lưu vực sông Châu, nơi tiếp giáp ba xã thuộc ba huyện trong tỉnh là xã Bình Nghĩa (huyện Bình Lục), xã Văn Lý (huyện Lý Nhân) và phía bên kia sông là địa hạt của xã Tiên Phong, huyện Duy Tiên. Từ xa xưa dân trong vùng đã có câu:
Một vùng sông rẽ ngã ba
Tiếng con gà gáy, nghe ba huyện cùng
Sở dĩ được gọi là ngã ba sông Móng, bởi vì từ xa xưa ở nơi đây đã có những người dân làng Móng (nay thuộc xã Tiên Phong) làm nghề chở đò ngang trên sông, về địa lý, ngã ba sông Móng là vùng đất mang đặc điểm của vùng chiêm trũng, lại nổi trội bởi nền sản xuất nông nghiệp, đánh bắt thuỷ sản và giao thông đường thuỷ, thuận lợi nhất Hà Nam. Là một vùng đất bãi thuộc châu thổ sông Hồng nên ngã ba nơi đây mang đặc trưng của nền văn hoá lúa nước và nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt vải - hai đặc trưng cơ bản của văn minh Đại Việt xưa.
Tuy là nguồn dân ca của chung cho cả ba huyện nhưng lại mang tên riêng của một làng - làng của những người chèo đò. Vì vậy, có thể cho rằng nguồn dân ca này được sinh ra trên mặt nước, mà làng Móng và bến đò Móng là điểm hội tụ những con đò qua lại sông Châu và những chiếc thuyền nan - phương tiện đi lại trong môi trường đồng chiêm trũng.
Căn cứ vào công việc chèo đò của người làng Móng, sinh hoạt trên mặt nước của dân cư vùng chiêm trũng Hà Nam xưa mà phương tiện đi lại chủ yếu bằng thuyền nan thì thấy, không gian mặt nước tạo môi trường cho hát đối. Ở Hà Nam xưa đã có hình thức hát đối trên mặt nước, như hát Trống quân ở huyện Thanh Liêm được tổ chức giữa các thuyền nan, sau này phát triển thành hát giao duyên. Vì vậy, dân ca vùng sông Móng hoàn toàn mang ý nghĩa sinh hoạt tinh thần, giao lưu tình cảm hay cảm hứng thăng hoa trong lao động, lúc đầu hát trên mặt nước, sau chuyển lên bờ, cả hình thức lẫn nội dung ngày càng phong phú hơn.
Chứng minh cho giả thiết trên là lời của nghệ nhân hát giao duyên Nguyễn Thị Vỷ (người làng Ngô Khê, xã Bình Nghĩa, huyện Bình Lục): “Khi tôi đang gánh cỏ thì nghe thấy dân làng Mạc hát một câu có tính thách đố. Tôi hát đối lại. Hát cho đến bao giờ họ không đối lại được nữa thì mới gánh cỏ về...”.
Hát đối vùng ngã ba sông Móng được mở rộng qua các hình thức sinh hoạt khác, ở nhiều môi trường. Nó thuộc loại nhóm dân ca sinh hoạt, gắn liền với các tập quán sinh hoạt gia đình (hát ru) và sinh hoạt xã hội, ngày càng phổ biến, được nhân dân ưa dùng trong sinh hoạt tập thể, trong lao động, vui chơi giải trí, trong các ngày lễ hội dân gian...
Hát giao duyên vùng này, như trên đã nêu, có nguồn gốc từ hát đối, nhưng tính chất đối đáp là thứ yếu, mục đích đối ý về sau mờ nhạt dần, chất trữ tình trội hơn lên. Hát giao duyên sông Móng thuộc thể hát đối ca một giọng, tức là cả hai bên nam, nữ hát chung một bài hát có cùng một làn điệu, ví dụ trong làn điệu Hát mời:
Nữ: Ba quan một chiếc thuyền nan
Có về xóm bãi gái ngoan tầm chồng
Có mấy dậu tình rằng
Anh cả, anh hai này đấy ơi!
Nam: Cô cả, cô hai này đấy ơi!
Chất trữ tình trong các làn điệu dân ca giao duyên ngã ba sông Móng được cảm hứng từ môi trường lao động, sinh hoạt và trữ liệu lịch sử - xã hội. Các chất liệu lấy từ cuộc sống như bến sông, con đò, con thuyền, xóm bãi... là những hình ảnh gần gũi thân thương, gợi cảm được nhắc đi, nhắc lại trong nhiều làn điệu, được nhân lên thành hình tượng của tình yêu. Kết hợp với câu chuyện dã sử, hình tượng này gắn với hình tượng nhân vật người con gái họ Đào có duyên phận lỡ làng như con đò lỡ chuyến, bến sông vắng thuyền.
Hình tượng lấy từ nghề tằm tang, canh cửi có thể thấy rất nhiều trong các làn điệu:
Đêm khuya sương đẫm cành dâu
Anh kéo vạt áo che đầu cho em
(Lời hát ru)
Hay :
Đêm trăng thanh gió mát ta về làng Dâu
(Lời hát ngược)
Trong tâm thức các cư dân trồng dâu nuôi tằm, dệt vải, cũng như trong tâm thức người Việt xưa: nương dâu, con tằm, cái kén, xe tơ, dệt vải có sự liên tưởng tương ứng với nhân duyên như ông tơ bà nguyệt. Môi trường của nghề trồng dâu nuôi tằm là nguồn gợi cảm hứng trữ tình thứ hai (sau nguồn cảm hứng lấy từ chất liệu sông nước) cho những làn điệu hát giao duyên, hát ru của cư dân nơi đây.
Nguồn trữ tình trong hát giao duyên vùng ngã ba sông Móng còn được khai thác từ câu chuyện dã sử. Chuyện kể rằng: Có một viên tướng trẻ của Lê Hoàn (thời Tiền Lê) từ căn cứ Động Cõi đi qua bến sông Thọ Kiều ra trận đánh giặc, vào một ngày nước lũ kéo về. Viên tướng cưỡi ngựa trắng đi qua bến đò sông Móng. Người con gái họ Đào làm nghề lái đò đã chở viên tướng ấy. Không may ra đến giữa dòng, gặp nước xoáy làm tay lái quay tròn, đò đắm. Cô gái quen sông nước, lao xuống dòng xoáy cứu được viên tướng trẻ, nhưng còn con ngựa bạch thì bị dòng nước cuốn đi.
Cứu người nên nghĩa, chuyến đò nên duyên. Cô gái lái đò và chàng tướng trẻ đem lòng yêu nhau, rồi cùng hẹn se duyên chồng vợ.
Thắng giặc, đại quân của Lê Hoàn trở về trong khúc khải hoàn ca, còn viên tướng trẻ đã hy sinh nơi chiến trận, bỏ lại lời ước hẹn với người yêu. Cô gái họ Đào đã toan thề chẳng se duyên cùng ai, nhưng vì gia cảnh khốn khổ, cha mẹ già nua, bởi giữ chọn chữ hiếu, cô đành gác bỏ mối tình xưa, gá duyên với một anh chàng đánh dậm.
Nào ngờ gã đánh dậm vũ phu, nhiều phen anh đập vợ, nhằm xoá đi chuyện tình năm xưa còn in sâu trong trái tim cô gái. Nhiều lần chết đi sống lại, cuối cùng cô gái họ Đào đã bỏ làng, bỏ cả dòng sông và con đò ra đi.
Lấy chuyện trên, các nghệ sĩ dân gian trong vùng đã cảm tác nên một làn điệu hát giao duyên, nghe ai oán mà trữ tình, huyền ảo như một huyền thoại:
Trên trời có đám mây xanh
Có con ngựa bạch chạy quanh gầm trời
Đôi ta muốn lấy nhau chơi
Cái duyên không định ông trời không se
Những nơi chết dấp bờ tre
Cái duyên cứ định trời se em vào
Ba đồng một sợi chỉ đào
Áo gấm không vá, va vào áo tơi
Cực lòng thiếp lắm chàng ơi
Biết rằng lên ngược xuống xuôi cũng đành
(Hát Mụa)
Để tạo nên tính chất huyền ảo, các nghệ sĩ dân gian đã mượn các yếu tố huyền bí, khó lý giải của nhân duyên, số phận. Ví thử như kiếp hồng nhan của cô gái họ Đào năm xưa, giờ ứng với duyên số tiền định của các cô gái họ Đào nói chung, như câu tương truyền trong dân gian:
Con gái họ Đào
Lấy quan quan cách
Lấy khách khách về Tàu
Lấy nhà giầu nhà giầu hết của
Suy rộng ra, chủ đề nhân duyên lỡ làng và oán trách số phận trong hôn nhân, trách cứ tình yêu xuyên suốt các làn điệu hát giao duyên khác trong vùng, như một mô típ.
Về nhân duyên:
Cái quạt có hai chữ hồng
Bác mẹ gả chồng nhưng trái nhân duyên
(Hát vui)
Hay: Cái cây nhà người, cái quả nhà người
Nhìn lên mỏi mắt, với thời mỏi tay
(Hát vọng)
Tìm người yêu nhưng không thấy:
Hẹn anh đến gốc cây đa.
Anh đến không thấy anh ra cây đề
Hẹn anh đến gốc cây đề.
Anh đến không thấy anh về cây mơ...
(Hò đối)
Trách cứ tình duyên:
Trách ai gió cuốn lời thề
Tóc mây chưa bạc tình kia nhạt dần...
(Hát ru)
Hoặc trong lời hát Đèo, mượn tích câu chuyện dân gian Đồng tiền Vạn Lịch ở vùng đồng bằng Bắc Bộ phù hợp với chủ đề này, các nghệ sĩ vùng sông Móng đã thổi làn điệu âm nhạc cho nó, làm tăng thêm sự hấp dẫn của chủ đề.
Tuy nói về chủ đề tình duyên, nhân duyên lỡ làng, lầm lỡ nhưng nội dung tư tưởng các khúc hát giao duyên vùng ngã ba sông Móng không bi lụy; ngược lại nó ca ngợi tình yêu, khát khao sự bền vững trong tình duyên đôi lứa, hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ trong cuộc sống. Và điều cốt yếu là, chất trữ tình mượt mà, vương vấn đáng yêu, chính bởi được sinh ra từ đấy.
Từ hát đối trên sông nước ở ngã ba sông Móng, các làn điệu lại thấm đẫm chất trữ tình trong cuộc sống cư dân lúa nước và trồng dâu nuôi tằm để trở thành những làn điệu hát giao duyên khắp một vùng rộng lớn gồm ba huyện. Âm hưởng ấy được ví như tiếng gà gáy chung vậy!
Vùng ngã ba sông Móng nằm kề ngay núi Đọi Sơn, thuộc trấn Sơn Nam Thượng xưa, chịu nhiều ảnh hưởng của văn minh phố Hiến, là vùng đất mà các vua thời Tiền Lê, Lý, Trần ban nhiều ân huệ. Sự kiện tịch điền của Lê Hoàn còn trầm tích ở lòng đất, lòng dân nơi đây, rồi công trình chùa Đọi của Lý Càn Đức (vua Lý Nhân Tông) với tháp Sùng Thiện Diên Linh, văn bia lưu giữ nghĩa chữ, ý văn bay bổng trữ tình, giàu lòng nhân ái. Nơi đây cũng là quê hương của Nguyệt Nga công chúa, một nữ tướng thời Trưng Vương, vừa lãnh đạo nhân dân đánh giặc, vừa dạy dân cách trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải. Một vùng đất giàu cảnh quan, giầu trầm tích, di tích lịch sử - văn hoá, nên cũng là quê hương của lễ hội, tạo điều kiện thuận lợi để những làn điệu hát giao duyên được bảo lưu và phát triển.
II. ÂM NHẠC HIỆN ĐẠI
Là vùng đất của nhiều làn điệu dân ca truyền thống đặc sắc như hát Dậm, hát Lải Lèn, Hà Nam đã sản sinh ra những con người có tài năng và tâm huyết với hoạt động âm nhạc. Những con người đó đã tiếp nối nguồn mạch âm nhạc truyền thống của quê hương để bằng các sáng tác hoặc bằng hoạt động biểu diễn, nghiên cứu của mình để ca ngợi con người và mảnh đất Hà Nam.
1. Nhạc sĩ
Trong số các nhạc sĩ người Hà Nam, nổi bật lên là tên tuổi của nhạc sĩ Bùi Đình Thảo, nhạc sĩ Trần Kim Hùng và nhạc sĩ Phong Nhã.
Bùi Đình Thảo sinh năm 1931, mất năm 1997. Ông sinh ra ở huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Ông tham gia sáng tác âm nhạc từ thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Khi hòa bình lập lại, ông học tập tại trường Âm nhạc Việt Nam. Sau đó ông tham gia công tác văn hóa nghệ thuật tại Ty Văn hóa Hà Nam, rồi Ty Văn hóa Hà Nam Ninh. Ông là hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Ông đã viết nhiều tác phẩm khí nhạc, nhiều ca khúc, tiêu biểu là ca khúc viết về thiếu nhi: Đi học, Em đi giữa biển vàng...
Nhạc sĩ Trần Kim Hùng quê ở xã Nhật Tựu, huyện Kim Bảng. Cũng như Bùi Đình Thảo, ông tham gia sáng tác âm nhạc từ thời kháng chiến chống Pháp. Sau khi hòa bình lập lại, ông học tập tại trường Âm nhạc Việt Nam. Sau đó, ông công tác tại tỉnh Hà Nam, làm hiệu trưởng trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật tỉnh Nam Hà, Hà Nam Ninh. Ông là hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Ca khúc tiêu biểu của Trần Kim Hùng được nhiều người biết đến là bài Chim ơi nhắn giúp.
Nhạc sĩ Phong Nhã sinh ngày 4 tháng 4 năm 1924. Ông quê ở xã Hoàng Đông, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Ông là một tác giả tiêu biểu về những ca khúc viết cho thiếu nhi, ông sáng tác từ những ngày đầu kháng chiến, cho đến nay ông đã có tới hàng trăm ca khúc, trong đó có nhiều ca khúc nổi tiếng và được nhiều người thuộc nhiều thế hệ yêu thích như: Nhanh bước nhanh nhi đồng, Đội ca, Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng, Hành khúc Đội, Đội ta lớn lên cùng đất nước...
Ngoài ba hội viên của Hội Nhạc sĩ Việt Nam kể trên, Hà Nam còn có một đội ngũ đông đảo các tác giả sáng tác ca khúc của địa phương như Hồng Thái, Hạnh Phúc, Quốc Huy, Đỗ Gấm, Xuân Dục, Văn Hòa, Lương Hiền...
Hà Nam cũng là đề tài trong các ca khúc của các tác giả tỉnh khác, hai tác giả tiêu biểu là nhạc sĩ Nguyễn Tiến và nhạc sĩ Sỹ Thắng. Nguyễn Tiến là hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Ca khúc Hoa cau vườn trầu của ông được rất nhiều người ưa thích. Với Hà Nam, ông sáng tác ca khúc Hà Nam đất mẹ anh hùng nhân dịp thị xã Phủ Lý được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1996. Nhạc sĩ Nguyễn Tiến hiện nay đang công tác tại Đoàn ca múa nhạc Tổng cục chính trị.
Nhạc sĩ Sỹ Thắng sinh ngày 24 tháng 9 năm 1953. Ông quê ở Ba Vì, tỉnh Hà Tây. Sau thời gian phục vụ trong quân ngũ, ông chuyển sang công tác tại ngành văn hóa thông tin. Nhạc sĩ Sỹ Thắng học sáng tác âm nhạc tại Nhạc viện Hà Nội. Ông sáng tác khá nhiều: về khí nhạc, ông có các tác phẩm tiêu biểu như: Tình rừng, Tiếng sáo đồng quê, Dòng sông kể chuyện... Về ca khúc, ông có: Duyên quê, Tình em cô gái đồng chiêm, Hà Nam quê tôi, Mãi mãi là tình yêu trong tôi, Người H’mong ơn Bác... Hiện nay ông là trưởng bộ môn Âm nhạc của Nhà văn hóa trung tâm tỉnh Hà Nam.
Các tác phẩm của các nhạc sĩ trên đều được giới thiệu trên các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương và địa phương.
2. Diễn viên
Hà Nam có một số lượng đông đảo các diễn viên chuyên nghiệp mà tài năng và cống hiến của họ được cả nước biết đến. Trong số họ, nhiều nghệ sĩ đã được Nhà nước phong tặng những danh hiệu cao quý. Đó là: Nghệ sĩ nhân dân Bạch Trà, Nghệ sĩ nhân dân Dịu Hương, Nghệ sĩ ưu tú Duy Cổn, Nghệ sĩ ưu tú Lê Huệ, Nghệ sĩ ưu tú Trần Văn Toàn, Nghệ sĩ ưu tú Lương Duyên, ca sĩ Trọng Hinh...
Các diễn viên không chuyên cũng xuất hiện khá nhiều, hoạt động và tên tuổi của họ cũng dần chiếm được lòng hâm mộ của người Hà Nam. Tiêu biểu trong số họ là: Quốc Huy, Lan Tuyết, Đức Tuân...
3. Hoạt động của bộ môn âm nhạc
Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Hà Nam gồm có 15 hội viên do nhạc sĩ Sỹ Thắng, hội viên Hội âm nhạc Việt Nam làm trưởng bộ môn. Các hội viên của bộ môn Âm nhạc là: Tâm Sơn, Hạnh Phúc, Hồng Thái, Đức Luân, Lan Tuyết, Huyền Trang, Quốc Huy, Văn Hào, Thanh Thủy, Xuân Dục, Đỗ Gấm, Quốc Đạt, Thu Phương, Mai Trinh.
Các hội viên luôn bám sát nhiệm vụ chính trị của Trung ương và địa phương để sáng tác, luôn hưởng ứng các cuộc thi sáng tác do Trung ương và địa phương phát động. Năm 2004, hội đã sáng tác 38 ca khúc và hai tác phẩm khí nhạc, trong đó, tác phẩm Mùa xuân Tây Bắc của nhạc sĩ Sỹ Thắng đạt giải ba cuộc thi sáng tác ca khúc về Điện Biên do Bộ Văn hóa Thông tin phát động (cuộc thi không có giải nhất).
Các hội viên đều tích cực tham gia hoạt động ca múa nhạc quần chúng của địa phương và đạt nhiều thành tích trong các kì hội diễn nghệ thuật quần chúng của Trung ương và địa phương.
4. Hoạt động văn nghệ quần chúng
Phong trào văn nghệ quần chúng của tỉnh được phát động, tổ chức thường xuyên, liên tục trong toàn tỉnh, từ phạm vi các huyện, thị xã tới các nhà văn hóa xã, phường, thị trấn, câu lạc bộ thôn, xóm. Nội dung chương trình và hình thức hoạt động văn nghệ quần chúng được thực hiện bằng các hình thức câu lạc bộ đa dạng: Câu lạc bộ chiếu chèo, Câu lạc bộ dân ca, Câu lạc bộ hát dậm Quyển Sơn, Câu lạc bộ thơ và các câu lạc bộ âm nhạc khác. Hàng năm, các tổ chức văn nghệ quần chúng đều tham gia các cuộc hội diễn nghệ thuật quần chúng, hội thi thông tin cổ động từ tỉnh đến cơ sở do Sở Văn hóa Thông tin tổ chức và các chương trình hội thi, hội diễn do Cục VHTT cơ sở và Bộ Văn hóa Thông tin tổ chức.
B. ĐIÊU KHẮC DÂN GIAN
Đình, đền, chùa là những đơn vị kiến trúc lớn nhất của làng. Trong môi trường nông thôn trước đây, giữa những mái nhà tranh thấp nổi bật lên ngôi đình, ngôi đền, ngôi chùa với quy mô lớn và kiến trúc đẹp như mái đình, tam quan, gác chuông chùa... Vật liệu làm đình, đền, chùa thường là gỗ tứ thiết: (đinh, lim, sến, táu). Đó là loại gỗ tốt để nghệ nhân trổ tài điêu khắc qua các mảng chạm mang tính nghệ thuật cao với rất nhiều đề tài. Phổ biến nhất trên các mảng chạm khắc ở đình, đền, chùa là đề tài tứ quý, tứ linh. Đề tài tứ quý gồm: tùng, trúc, cúc, mai hoặc mai, lan, cúc, trúc gắn với quan niệm của người quân tử, thể hiện sự thanh cao của tâm hồn. Bên cạnh đó, nghệ sĩ điêu khắc dân gian đã thể hiện những đề tài gần gũi với đời sống của người dân như hoa sen, hoa huệ, hoa chanh... Đề tài tứ linh gồm: long, ly, quy, phượng được quan niệm là những đẳng cấp cao của thiên nhiên, biểu trưng cho sự thiêng liêng của đất trời. Bên cạnh đó, những con vật của cuộc sống đời thường như cá chép, ngựa, khỉ, chuột, voi, hươu... cũng được thể hiện trong các mảng chạm khắc. Theo khảo sát của các nhà nghiên cứu, những đề tài cây, con dân dã chỉ xuất hiện cùng với các hoạt cảnh của đời sống trong các bức chạm khắc ở thế kỉ XVI- XVII nhưng vắng bóng dần vào các thế kỉ sau - chỉ còn lại tứ quý, tứ linh và một số cây hoa cao quý mà thôi. Một điều đáng chú ý nữa là mô típ cặp đôi, biểu tượng của triết lý âm dương phổ biến trong chạm khắc đình làng người Việt. Mô típ Tiên - Rồng, Tiên - Phượng, Rồng - Mây, Rồng - Phượng là những mô típ được ưa thích. Hình tượng rồng là mô típ được thể hiện nhiều nhất trong và ngoài ngôi đình làng: từ hình ảnh lưỡng long chầu nquyệt khá phổ biến trên các nóc đình tới đôi rồng ở bậc thềm và nổi bật là các đầu rồng nhiều hình vẻ trên các đầu đao của mái đình. Mái đình làng Bắc Bộ thường lớn, chiếm 2/3 chiều cao ngôi đình nhưng do được thiết kế chéo về 4 góc, tạo các đầu đao có hình rồng cầu kì khiến cho ngôi đình có vẻ đẹp thanh thoát đến mức nó đã trở thành biểu tượng của vẻ đẹp truyền thống của làng người Việt. Trong đình, rồng có mặt ở khắp nơi, được chạm nổi trên các đầu dư, trên các con sơn cánh gà với nhiều tư thế như chầu nhau, đuổi nhau, quấn quýt... Bằng trí tưởng tượng phong phú, bằng bàn tay tài hoa, người nghệ sĩ dân gian đã thể hiện hình tượng rồng với nhiều bộ phận được thể hiện cách điệu như đầu rồng, thân rồng, râu rồng, móng rồng... với nhiều tầng ý nghĩa: có khi là sự thể hiện tín ngưỡng dân gian của cư dân nông nghiệp về thần mưa, có khi là biểu tượng của quyền uy. Tất cả các lớp ý nghĩa đó đã được thể hiện tài tình trong các mảng chạm khắc ở các đình, đền, chùa ở Hà Nam. Giới thiệu sau đây là những trường hợp tiêu biểu.
I. ĐIÊU KHẮC ĐÁ
1. Điêu khắc đá chùa Long Đọi Sơn (xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên)
Chùa Long Đọi Sơn xây dựng xong vào năm 1121, bị quân Minh phá vào đầu thế kỉ XV. Chùa đã được tu sửa vào các năm 1591 (Hưng Trị thứ 4, đời vua thứ 5 nhà Mạc), năm 1860 (Tự Đức thứ 13), năm 1864 (Tự Đức thứ 17), năm 1928 (Bảo Đại thứ 3) và năm 1993. Qua nhiều lần sửa chữa và bị tàn phá, chùa và tháp thời Lý cũng như ngôi chùa 125 gian được xây dựng vào cuối thế kỉ XVI nay không còn nữa, nhưng một số di vật có giá trị mà chùa Đọi còn giữ lại được đã thể hiện một phần tài nghệ điêu khắc của cha ông trên vật liệu bằng đá, bằng đồng, bằng gỗ. Một số di vật điêu khắc bằng đá có giá trị của chùa Long Đọi Sơn.
a. Bia Sùng Thiện Diên Linh
Bia cao 2,50m, rộng 1,65m, dày 0,30m. Bệ bia là một khối đá hình chữ nhật dài 2,40m, rộng 1,80m, cao 0,50m không tạc hình con rùa như các chân bia khác mà tạc hình hai con rồng uốn khúc. Bệ chia làm hai phần, phần nằm tiếp xúc với đất hình chữ nhật, phần phía trên chạm khắc hình sóng nước hai lớp trên cao dưới thấp. Mặt bệ bia chia làm hai nửa, tạc hình hai con rồng, đuôi ở đoạn sau, xoắn thành 4 khúc khép kín. Mỗi con rồng có 4 chân, đầu rồng có bờm nhưng nay chỉ còn cổ, đầu rồng đã bị phá vỡ. Chạy vành ngoài mặt chính của bia là những con rồng được chạm nối tiếp nhau. Trán, diềm và cạnh bia đều lấy hình rồng làm đối tượng trang trí. Ở trán bia có 2 con rồng chầu vào giữa tên bia Đại Việt quốc Lý gia đệ tứ Sùng Thiện Diên Linh tháp bi. Hai mặt cạnh bia mỗi bên có 9 ô quả trám, trong mỗi ô có chạm hình rồng.
b. Tượng Kim Cương
Hiện nay chùa Đọi còn giữ được 6 trong 8 pho tượng Kim Cương; trong số đó, có những pho bị mất đầu hoặc sứt gẫy đã được đắp lại bằng xi măng. Các pho tượng Kim Cương ở chùa Đọi có kích thước xấp xỉ nhau, cao bằng người thực, khoảng 1,60m đứng chống gươm trước bụng. Tượng được tạc bằng đá khối, phục trang theo lối võ quan. Lá chắn che trước ngực, áo giáp ngoài được trang trí tỉ mỉ bằng hình hoa cúc, hình xoắn. Trên toàn thân áo còn rải rác những bông hoa nhỏ nhiều cánh. Cán gươm được trang trí hình hoa cúc dây. Tượng được tạc nổi một phần theo kiểu phù điêu về phía đằng trước, phía sau lưng lẩn luôn vào khối đá. Tượng đứng thẳng, hai chân hơi doãng theo thế đứng vững chãi của người lính gác, hai tay khuỳnh chống gươm trước bụng, đầu đội mũ trùm tai, mặt tròn trặn, nhẹ nhõm.
c. Tượng đầu người mình chim
Tượng đầu người mình chim mang hình tượng nghệ thuật trong thần thoại Ấn Độ, gọi là tượng chim thần Ki-na-ri. Tượng được tạc bằng đá ráp, cao 40cm, tạc một hình người nửa dưới là chim, chân và cánh thể hiện rất rõ, chân có móng, đuôi nhiều lông cao vút. Hình tượng người rất thực. Trên đầu tượng, tóc tết thành hình cầu, vắt ngang trán là một vành khăn rủ xuống ngang vai. Trên hai cánh chim là những đường cong khắc chìm vòng quanh vành ngoài, bên trong có những đường xoáy trôn ốc được cách điệu theo hình hoa lá chạm nổi. Thu hút nhất ở tượng là bộ mặt. Đây là bộ mặt trầm tư, đôi mày thanh tú và dài, cặp mắt hơi xếch, đuôi mắt dài hơn, quặp xuống, làn môi khép lại thoáng như có nụ cười. Mũi dọc thẳng, cao. Bộ tóc phía trên đầu được thắt bằng một dải điểm hoa, tạo thành búi trên đỉnh đầu. Đây là những mô típ trang trí của thế kỷ XI-XII.
2. Bộ khung chịu lực (đình đá Tiên Phong, thôn An Mông, xã Tiên Phong, huyện Duy Tiên)
Đình đá Tiên Phong là một trong số không nhiều ngôi đình được làm bằng đá còn giữ được đến ngày nay. Đình phải sử dụng hàng trăm khối đá vừa to, vừa dày mới có thể tạo thành 5 hàng cột, 6 vì và nhiều xà ngang, xà dọc, chân tảng, mê cốn. Điều đặc biệt là trên các bộ phận bằng đá dễ tạo cảm giác nặng nề đó là các mảng chạm khắc nghệ thuật công phu, tạo cho đình vẻ mềm mại, sự sống động, hấp dẫn. Tòa tiền đường của ngôi đình nổi bật với hệ thống cột đá lớn nhưng được thiết kế theo kiểu búp đòng thật mềm mại. Câu đối trang trí ở riềm hai bên, tại phần trên đầu hoặc dưới chân đều chạm những họa tiết hoa cách điệu, như cảnh sen quy, hoa chanh chữ thọ, phượng múa long mã hoặc những cành đào, chùm lựu rất sinh động. Mỗi câu đối còn chạm nổi hình con dơi, dang rộng đôi cánh như cắn lấy vế câu đối có nội dung tốt đẹp, cầu phúc cho quê hương.
Bốn đại trụ ở hai vì chính giữa được chạm nổi hình rồng cuốn thủy, với những khúc uốn lượn mềm mại, những lườn vây theo nhiều kiểu tự nhiên, cùng với râu tóc, dòng nước bị cuốn trong miệng, hình ảnh con cá chép cong mình như đang bơi theo dòng nước trông thật tự nhiên. Nghệ nhân quả đã khéo léo dung hoà giữa tả chân và cách điệu, lại đục chạm, tỉa từng chi tiết rất công phu. Hai đường cột quân có đường kính 35 cm, được tạo dáng bố cục trang trí những băng lá lật cách điệu rất nghệ thuật.
Hàng cột hiên cũng được làm bằng đá, đường kính 25 cm nhỏ hơn cột quân nhưng gia công theo nhiều đề tài hấp dẫn như cảnh cây trúc, chim trí độc đáo, cảnh mai điểu (cây mai con chim), cảnh tùng lộc (cây tùng và con hươu) và cảnh cúc hóa long. Hệ thống cột cái, cột quân, cột hiên của đình đá có tới 30 chiếc lớn nhỏ, mỗi loại cột, mỗi vị trí cột có cách trang trí khác nhau để phù hợp với cách bố cục phục vụ yêu cầu thưởng thức, nói lên ước vọng của nhân dân.
Câu đầu rất to nằm trên hai đầu cột cũng được tạo gờ, chỉ ở mép được trang trí lá lật cách điệu ở hai bên nên tuy là chất liệu đá nhưng không có cảm giác khô cứng. Dưới hàng câu đầu có hệ thống đầu dư cũng bằng đá. Đầu dư là hình tượng đầu một con rồng vươn ra để gánh lấy câu đầu. Cấu kiện này tuy không đục chạm kênh bong, song việc thể hiện râu, tóc rồng cũng như các chi tiết khác lại rất kỳ công.
Hệ thống mê nách được nhấn tỉa bởi các mảng triện tầu lá dắt hài hoà. Riênh mảng bốn mê ở hai vì gian giữa được trang trí theo đề tài tứ linh, mô tả hoạt động của những con rồng uốn khúc theo nhiều kiểu, những con long mã có dáng oai phong, dữ tợn nhưng vẫn đượm vẻ hài hước nghộ nghĩnh, cảnh con rùa ẩn hiện trong hồ và nét dí dỏm của bầy ly nhỏ bé hoà nhập trong cảnh tứ linh.
Ngoài hệ thống cấu kiện đã nêu, đình đá Tiên Phong còn có hàng kẻ hiên cũng bằng đá, tạo dáng mềm mại bằng những đoạn thân uyển chuyển của con rồng. Hai thành kẻ cũng như các mảng mê ở hiên được đục chạm các mảng lá lật, cảnh mai hoá long, cúc, trúc hoá long rất công phu.
Ngoài các mảng chạm khắc trên hệ thống khung chịu lực bằng đá, đình đá Tiên Phong còn có một số đồ thờ bằng gỗ có giá trị nghệ thuật đáng được lưu ý. Ngai thờ ở hậu cung có kích thước 1m20 x 0m60 x 0m60, được tạo dáng, chạm khắc công phu. Tay ngai với đôi rồng chầu uốn lượn có 6 trụ tròn cắm xuống sập, phía sau là phần lưng được bố trí khá hài hòa. Mỗi trụ tay ngai là một chiếc cột nhỏ, có rồng quấn quanh rất có giá trị thẩm mỹ. Sập ngai được phân chia theo tỷ lệ hợp lý, lại tạo các băng cánh sen, triện tàu, các mảng chạm nhỏ trong khuôn trang trí như cảnh long chầu, hoa chanh rất công phu. Phần thân, đế sập cũng được trang trí các họa tiết hoa, lá, hổ phù, mây tán có sức thuyết phục cao...
3. Bệ đá hoa sen thời Trần
Cho đến nay, không còn các ngôi chùa được xây dựng từ thời Trần trên đất Hà Nam nhưng còn có ba bệ đá được xác định là có niên đại từ thời Trần ở ba huyện Thanh Liêm, Kim Bảng và Duy Tiên.
Bệ đá chùa Long Hoa thuộc thôn Động Tứ (xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm). Bệ đặt trước Phật điện, cao 1,1m, dài 2,96m, rộng 1,03m. Hiện còn lé ra toàn bộ mặt trước, hồi trái và một phần hồi phải, còn mặt sau bệ bị Phật điện xây bằng gạch che kín hoàn toàn. Bệ có minh văn ghi niên đại tạo tác vào tháng 6,   năm Đại Trị thứ 5 (1364). Đây là bệ đá có ghi niên đại kiến trúc sớm nhất của thời Trần. Bệ đá thứ hai ở chùa Lam Sơn, thôn Thụy Sơn (xã Tân Sơn, huyện Kim Bảng). Bệ đặt trước Phật điện, cao 1,1m, dài 1,58m, rộng 1,1m. Bệ thứ 3 ở chùa Phúc Lâm, thôn Trung (xã Tiên Ngoại, huyện Duy Tiên). Hai bệ này không ghi niên đại nhưng có thể nhận ra các đặc điểm điêu khắc của thời Trần tương tự như bệ đá chùa Long Hoa.
Các bệ đá này có hai phần: bệ và đế bệ. Đế bệ được chôn sâu vào lòng đất. Bệ được kết cấu thành 3 phần: mặt bệ, thân bệ và đế bệ. Mặt bệ là nơi đặt tượng Phật, đồ thờ thường được chạm thành hình hoa sen nở, nên thường gọi là bệ hoa sen. Thân bệ là phần eo thắt nhất của bệ, thường là nơi tập trung các đề tài trang trí của bệ thờ. Chân bệ thường được chạm theo kiểu “chân quỳ dạ cá”, phần gốc choãi, phần bụng ưỡn rộng tạo thế vững chãi cho toàn bộ bệ thờ.
Các bệ đá này có nhiều hình chạm khắc phong phú như rồng thời Trần, sư tử, hươu, chim thần, hoa sen, hoa cúc, một số môtip hoa văn lần đầu tiên xuất hiện của nghệ thuật thời Trần như hoa văn chữ Vạn gấp khúc hình thoi, cúc dây dạng tay mướp.
Rồng được chạm khắc trên các bệ đá này, cũng như những con rồng khác thời Trần, vận động uốn khúc hình chữ U bình thường và chữ U úp ngược và kiểu nằm ngang. Kiểu chữ U bình thường ở bệ chùa Phúc Lâm được chạm sắc nét, tỉa tót chính xác, mồm nhả ngọc, bờm dài lượn về phía sau, cổ và đuôi đều vặn chéo vỏ đỗ, đuôi và mào gần chạm vào nhau. Kiểu chữ U úp ngược thể hiện ở bệ chùa Long Hoa. Cặp rồng ở đây rất trau chuốt, toàn thân rồng ẩn kín, vẩy đơn, sừng bờm hai dải, mình rồng điểm kín các tầng mây cuộn, quần sáng và ngọc tròn. Kiểu toàn thân rồng vận động theo phương nằm ngang được thể hiện theo bệ chùa Lam Sơn, cổ rồng vặn chéo, phơi trần bụng ra phía trước, đầu rồng ngoảnh lại phía sau. Ở hai ô bên của mặt trước, hai con rồng to khỏe đang ngoảnh cổ về phía sau, miệng há rộng, nhả ra một viên ngọc tròn với các quầng sáng, phô rõ toàn bộ phần họng được chia thành những khoang nhỏ, đều đặn. Rồng có bộ mào dài, sừng hai nhánh, tai to, mang 6 xoáy, chân 3 móng, thân trên, vây lưng to, thưa, một chân túm bờm kéo xuống.
Sư tử được thể hiện ở bệ chùa Long Hoa và bệ chùa Lam Sơn, hươu xuất hiện ở bệ chùa Lam Sơn, chim thần Garuda được thể hiện ở bệ chùa Lam Sơn và chùa Phúc Lâm, hoa sen được thể hiện ở cả ba bệ, hoa cúc dây, một nét đặc sắc của điêu khắc thời Trần được thể hiện ở bệ đá chùa Long Hoa.
Ba bệ đá này là những hiện vật quý, minh chứng cho trình độ cao của nghệ thuật điêu khắc thời Trần.
4. Cây hương đá cổ chùa Khánh Long
Chùa Khánh Long thuộc thôn Bút Thượng (xã Châu Giang, huyện Duy Tiên) là một ngôi chùa lớn. Chùa là một quần thể kiến trúc nghệ thuật có giá trị, trong đó phải kể đến cây hương đá.
Cây hương đá là cách gọi dân gian của “Thạch trụ hương” hay “Thạch trụ đài” là một biểu tượng của tam bảo Phật giáo. Căn cứ theo bài minh của tấm bia ở chùa thì cây hương đá này được tạo tác vào tháng 7 năm Chính Hòa thứ 21 (1700) đời vua Lê Hy Tông do các hương lão Phạm Hữu Thịnh, Phạm Viết Dương người thôn Thượng, xã Trác Bút, huyện Nam Xang, phủ Lý Nhân cúng tiến cho chùa.
Cây hương được đặt trên bệ tam cấp cao 40cm, phần thân cây hương cao 1,5m, cạnh rộng 25cm, phần lồng đèn và chóp cao 80cm, cạnh rộng 40cm. Chóp cây hương có 4 mái cong, trên cùng là bông sen hé nở. Thân cây hương được chia làm 3 phần rõ rệt, phần trán và chân hơi to hơn phần thân. Bốn mặt của phần trán cây hương chạm nổi họa tiết rồng uốn lượn trong mây, vân ám trong lá đề, bốn góc khắc họa hình hoa cúc và họa tiết triện gấm. Thân cây hương còn được trang trí diềm trên, diềm dưới và diềm hai bên. Bốn mặt của thân thể hiện 4 đề tài khác nhau: Mặt phía tây nổi bật ba chữ “Khánh Long tự”, xung quanh trang trí những cánh sen dẹo, hoa chanh và cặp rồng chầu mập mạp mang phong cách rồng thế kỷ XVII. Mặt phía đông, trên cùng khắc 3 chữ “Thạch hương trụ” được trang trí lưỡng long chầu và hoa lá cách điệu. Hai mặt phía bắc và nam trên cùng khắc hai chữ “Lưu” và “Truyền” trong khuôn hài hòa với các họa tiết triện tàu, hoa cúc dây và hoa lá cách điệu.
Chân trụ cây hương trang trí mô típ lưỡng nghê chầu và rồng bay rất mềm mại. Mặt phía nam, ngoài các họa tiết hoa chanh, hoa cúc, còn khắc họa hình một con khỉ ngồi trong dáng thiền.
Cây hương đá chùa Khánh Long là một trong số không nhiều cây hương đá còn giữ được. Những mảng chạm khắc trên cây hương thể hiện giá trị nghệ thuật độc đáo của nghệ nhân Hà Nam trong lịch sử.
5. Tấm bia chùa Dầu
Đây là tấm bia được phát hiện tại chùa Dầu, thôn Trung (xã Đinh Xá, huyện Bình Lục). Bia cao 0,95 m, rộng 0,58 m, dày 0,12 m. Mặt trước bia trang trí hoa văn tạo thành dải. Trán bia chạm hai con rồng chầu vào thành 4 chữ Hán theo kiểu chữ triện là “Lục tổ thông minh”. Lòng bia chạm khắc hình người đàn ông đầu đội mũ bình thiên, ngồi trên một chiếc ngai. Mặt sau bia không có trang trí. Bài văn khắc trên tấm bia ghi việc một nhà sư hiệu Viên Tịch Đại Sa Môn đã xin Phật Tam thế cho phép mình từ am Đại Long chuyên về ở tiểu am thôn Mai và nhà sư đã mất tại đó vào năm Hưng Long 12 (1305) đời vua Trần Anh Tông. Nhà sư họ Ngô, hiệu Ngộ Không cư sĩ ở bảo am đã an táng nhà sư Viên Tịch Đại Sa Môn. Phần còn lại của tấm bia ghi họ tên người cúng ruộng ao.
Bia được dựng vào khoảng từ năm Bính Ngọ, niên hiệu Đại trị thứ 8 (1366) đời vua Trần Dụ Tông đến trước năm Quang Thái thứ 8 (1395), đời vua Trần Thuận Tông. Hình thức chạm khắc trong lòng bia độc đáo, thể hiện nghệ thuật chạm khắc đời Trần.
II. ĐIÊU KHẮC ĐỒNG
1. Pho tượng Di Lặc bằng đồng (chùa Long Đọi Sơn)
Đây là pho tượng đồng nặng 1 tấn, được đúc vào năm 1864. Toàn bộ pho tượng được đặt vào thế ngồi thoải mái, chân phải chống lên, chân trái xếp vào lòng, mặc áo nhưng chỉ xỏ hai cánh tay, để hở cả ngực và bụng, bụng căng tròn, ngực nở, vai dày dặn. Bộ mặt thể hiện sự no đủ, vui tươi. Tai dài, dầy. Các khối thịt ở cằm, má được chú ý khắc họa. Pho tượng được tạc với tư thế ngồi, đầu hơi ngửa ra sau, chiều ngang được mở rộng ra hai bên, số đo chiều ngang lớn hơn số đo chiều cao. Tất cả các chi tiết đều thể hiện sự thống nhất của một ý đồ nghệ thuật, và qua đó, biểu hiện tư tưởng của tác giả.
2. Điêu khằc đồng Đền Bà Vũ
a. Quả chuông đồng thời Tây Sơn
Tại di tích Đền Bà Vũ hiện còn lưu giữ được quả chuông đồng đúc thời Tây Sơn. Chuông cao 0,80 m không kể quai treo, đường kính đáy 0,42 m, chuông được chế tạo khá đẹp, thân dày và đều.
Quai chuông là một đôi rồng đấu lưng vào nhau. Đầu rồng nhỏ mũi sư tử miệng ngậm hòn ngọc. Mào lửa trên đầu rồng có hình đao mác nhọn đầu uốn lượn về phía sau bám vào thân rồng. Rồng có ba chòm râu: Chòm ở giữa bên xoắn từ dưới cằm xuống đỉnh chuông, hai chòm kia uốn lượn sang hai bên dính vào chân trên, cổ và thân rồng uốn cong ra phía ngoài. Toàn thân con vật phủ một lớp vẩy đơn, bốn chân ở tư thế quỳ khuỳnh ra móng bám vào thân chuông. Trên đầu có sừng gồm hai nhánh nhỏ. Con rồng này tuy còn phảng phất rồng thời Hậu Lê, nhưng đã mang dáng dấp và đặc trưng của rồng thế kỷ XIX.
Thân chuông được chia thành hai phần: ở khoảng cách 1/3 chiều cao tính từ dưới lên có tám ô gồm 4 ở trên và 4 ô ở dưới, ngăn cách nhau bằng những đường chỉ nổi. Tại bốn điểm tiếp giáp của các ô là bốn núm tròn có hình hoa sen xung quanh và đúc lồi ra là chỗ đánh chuông. Văn khắc trên chuông là một bài minh nêu lý do việc đúc chuông và ghi tên những thiện nam tín nữ cúng vào việc đúc chuông. Dòng lạc khoản ở phần cuối cho biết quả chuông được đúc vào năm Cảnh Thịnh thứ 9 (1801). Quả chuông này còn giữ nguyên được niên đại đúc dưới thời Tây Sơn, không phải đúc niên hiệu ở một số cột bia, chuông khắc.
Sự tồn tại của quả chuông này góp phần làm phong phú thêm kho di sản văn hóa thời Tây Sơn, tăng cường khối tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu giai đoạn lịch sử quan trọng này của dân tộc.
b. Chiếc khánh đồng thời Hậu Lê
Tại đền Bà Vũ còn lưu giữ chiếc khánh đồng được đúc vào năm Kỷ Mão niên hiệu Chính Hoà thứ 20 (1699). Mặt chính của khánh được khắc tên những người của bốn xã Vũ Điện, Phú Lư, Hậu Miễu, Hào Châu thuộc huyện Nam Xang (phủ Lý Nhân) đã đóng góp công của vào việc tu sửa di tích của xã.
Chiếc khánh có chiều ngang là 1,15m, chiều cao là 1,55m. Toàn bộ mặt dưới tạo thành một độ cong đều đặn có hình bán nguyệt. Hai đầu cong lên thành một góc nhọn. Ở phía trên tai chính giữa để làm chỗ treo khánh được đúc cao hẳn lên so với hai đầu. Ở giữa khánh có một núm tròn, xung quanh núm là một hàng cánh sen, tất cả được đúc nổi hẳn lên làm chỗ gõ khánh.
Toàn bộ chiếc khánh được bố cục hài hoà, hình dáng đẹp, tỷ lệ cân đối. Tất cả rèm xung quanh được đúc nổi hẳn lên tạo thành một đường gờ, góp phần làm cho mặt khánh có độ sâu nhất định. Loại khánh đúc bằng đồng dưới thời Hậu Lê hiện nay còn lại ở tỉnh Hà Nam không nhiều, về mặt văn tự nó cung cấp nhiều tư liệu quý như về địa danh, ruộng đất, kinh tế... đồng thời cũng góp phần tích cực vào việc nghiên cứu quá trình phát triển của nền mỹ thuật Việt Nam.
c. Pho tượng Bà Vũ
Theo nhân dân địa phương thì đây là pho tượng tạc bà Vũ Thị Thiết. Tượng được đúc bằng đồng cao trên 0,40m. Trước đây tượng có hoa tai và trâm cài bằng vàng, nhưng qua ba lần bị mất cắp rồi lại tìm thấy, hiện nay chỉ giữ lại được pho tượng.
Tượng được đúc theo khối tròn, thể hiện một người phụ nữ ngồi kiểu tĩnh tọa, mang tính chất chân dung với một nét hiện thực sâu sắc. Toàn bộ khối tượng được diễn tả một cách sinh động, có tình cảm, không bị gò bó theo một khuôn thức nhất định. Tượng tạc ở tư thế thiền, chân trái đặt nằm ngang gấp lại, và bàn chân ngửa lên. Tay trái để xuôi đặt trên bắp chân, bàn tay đặt ngửa, hai ngón giữa cong lên, đầu ngón cái và ngón trỏ hướng vào nhau, ngón út duỗi  thẳng tự nhiên. Còn chân phải đầu gối chống thẳng hơi choãi ra phía ngoài. Bàn chân đặt ngay trên sập ngồi, ngón quay về phía đằng trước, cả hai bàn chân đều để trần. Tay phải đặt ngay trên đầu gối ngửa lên và các ngón tay có tư thế như bàn tay trái.
Toàn bộ thân thể của pho tượng ăn nhập với dáng ngồi. Đây là kiểu ngồi bình dị, có thể ngồi được rất lâu mà vẫn vững vàng. Sự sắp xếp bố cục này càng làm tôn được chân dung, thể hiện rõ được tâm hồn, tình cảm, nội tâm của nhân vật, một con người đã phải chịu nhiều dằn vặt nhưng vẫn giữ được phong cách bình thản.
Tượng diễn tả khuôn mặt của một người phụ nữ phúc hậu. Trừ hai tai được kéo dài theo các công thức của những tượng tôn giáo, còn lại là cặp mắt bình thường được diễn tả đầy đủ với các chi tiết, sống mũi hơi tẹt, miệng nhỏ nhắn, tất cả vẻ mặt đều toát ra vẻ mộc mạc, hiền lành của người phụ nữ bình thường ở nông thôn. Pho tượng được bố cục một cách hài hoà về đường nét, thoải mái về dáng điệu, sinh động về tinh thần.
3. Tòa Cửu Long (chùa Bạch Liên)
Tòa Cửu Long bằng đồng của chùa Bạch Liên có chiều cao 1m60, rộng 1m 40 với hơn 50 pho tượng, biểu tượng cho 5 quá trình tu hành của Thế Tôn Mâu Ni (sơ sinh, quá khứ, hiện tại, vị lai đến cõi niết bàn) bao gồm các pho tượng Bồ tát, Kim cương, Thị giả... Các pho tượng đang biểu diễn dàn nhạc sáo, nhị. Mỗi pho một cá tính, nhân cách khác nhau, nhưng dù tượng đứng hay tượng ngồi cũng đều có nghệ thuật tạo dáng, tạo thế rất điêu luyện.
Ngoài ra, các pho tượng như Ngọc Hoàng ngồi trên long ngai cũng tạo được vẻ uy nghi, tượng Thánh tăng có khuôn mặt xương xương, nếp áo, tà áo rất sinh động. Tượng Đức Ông mang vẻ oai vệ, nghiêm khắc song vẫn thể hiện nét từ bi, áo mũ được tô điểm kì công. Hai pho tượng “hộ pháp” cao 2m ngồi trên mình thú rất oai phong, phần diện và trang phục diễn tả thật sinh động. Như vậy, tượng pháp của chùa Bạch Liên ngoài ưu điểm được bảo tồn khá tốt còn có một điều đáng tự hào là đã giữ được ba chủng loại tượng được tạo nên từ ba chất liệu khác nhau, thể hiện trình độ nghệ thuật cao: nghệ thuật đúc tượng đồng, nghệ thuật tạc tượng gỗ, nghệ thuật đắp tượng đất.
Chùa Bạch Liên còn giữ được một bát hương bằng đồng cao 35cm, đường kính 32cm, tuy là dạng bát hương vại. nhưng trang trí tỷ mi, công phu: miệng bát hương có viền gờ nổ, chỉ nổi, chân bát hương đúc theo kiểu chân quỳ dạ cá, nổi bật các hoạ tiết “lưỡng long chầu nguyệt”, dưới là lá lật, sóng nước và hình ảnh con rùa phun nước.
Đặc biệt chùa Bạch Liên có một chiếc khánh bằng đồng cao 1m, rộng 1m25, dày 2cm. Khánh có chữ “Tự Đức thập tứ niên tuế thứ Tân Dậu cửu nhật nguyệt cải trù”, tức là khánh này được đúc lại ngày 9 tháng 9 năm Tân Dậu, niên hiệu Tự Đức thứ 14 (1860). Như vậy là tại chùa Bạch Liên trước kia đã có khánh, không rõ lý do gì mà phải đúc lại. Khánh có bốn chữ lớn: “Tường Lân thôn khánh” nghĩa là khánh của thôn Tường Lân và 4 chữ ở mặt sau ghi: “Bạch Liên tự khánh”, tức là khánh của chùa Bạch Liên. Đây là chiếc khánh đẹp từ dáng dấp uốn cong tới đường viền chạy quanh là hàng triện tàu đến phần dưới thân khánh là lớp lớp sóng gợn. Rốn khánh có mặt nguyệt nổi cao, xung quanh viền hạt cườm đều đặn, lại thêm các làn mây tản như các ngọn lửa thiêng bao bọc, bùng cháy. Phần chính diện còn có họa tiết hổ phù nổi, các hàng chữ tiến cúng. Nếu lấy dùi đánh vào núm khánh, sẽ có tiếng ngân, reo vang xa trong trẻo.
III. ĐIÊU KHẮC GỖ
Điêu khắc gỗ có mặt tại các di tích lịch sử - văn hóa của Hà Nam mang tính chất vùng rõ rệt. Đình, chùa ở đây đại diện cho một lối chạm khắc kiểu cách và súc tích, tiêu biểu như đình Vị Hạ (huyện Bình Lục), đình An Hòa (huyện Thanh Liêm)... Trong nghệ thuật điêu khắc ở đây, “tương quan không gian ít được chú ý hơn, thay vào đó là sự tỉa tót các diềm hoa văn và các mảng hoa lá. Tuy nhiên sự phối hợp giữa các hình thể chạm đục khéo léo đem lại hiệu quả hồn nhiên hư ảo, lạ lẫm như các bức tranh của trường phái ngây thơ nguyên thủy. Đáng chú ý là điêu khắc đình làng Hà Nam thường tô màu như vàng, đen, trắng, nâu xám, đỏ xám... Các hoạt cảnh, hình tượng, đặc biệt như “trai gái vui đùa” luôn được tôn rõ ràng trong nền hoa văn dày đặc như rừng rậm với những đường nét hình học”.(Hà Văn Tấn, trong cuốn Đình Việt Nam. Nhà xuất bản Thế giới, H,1997).
1. Điêu khắc gỗ đình Vị Hạ (thôn Vị Hạ, xã Trung Lương, huyện Bình Lục)
Đình Vị Hạ có nhiều mảng chạm khắc gỗ có tính nghệ thuật cao, thể hiện ở sự phong phú, đa dạng của đề tài, cùng phong cách thể hiện độc đáo. Ngoài những mô típ phổ biến thường gặp ở nhiều di tích như “tứ linh”, "tứ quý”, nghê chầu, hoa chanh, chữ thọ, những đồ thờ tự, câu đối, đại tự..., ở ngôi đình này còn có một số mảng chạm khắc độc đáo.
Ở đầu gian dưới xà nách gian giữa tòa tiền đường có mảng chạm khắc rồng, ly mớm nhau, rồng và sư tử nô đùa, rồng đưa chân lên vuốt râu. Trên xà nách và con rường diễn tả cảnh rồng mẹ tay cầm quả trứng, một chú rồng con đang từ quả trứng chui ra, đầu ngẩng cao mắt to tròn nhìn mẹ. Trên bức chạm ở con rường gian giữa toà tiền đường, có cảnh hai con ly đang lấy chân cạy môi và nghịch răng rồng. Trên con rường và mê cốn gian giữa còn có cảnh người đóng khố, đang trèo cây bắn súng, người thì nắm đuôi con thú lôi lại. Trên con rường gian hồi phía tây có cảnh người cầm dao thiến thú. Con thú to lớn bị buộc chân sau và ghìm chân trước, đành chịu đau đớn, bất lực. Sang gian hồi phía đông lại được chiêm ngưỡng cảnh con thú đang ngoạm nửa thân con cá. Đặc biệt tại đây, trên bức chạm ở mảng mê cốn, nghệ nhân dân gian đã sáng tạo một đề tài rất lạ. Chính giữa bức chạm là hổ phù, mây tản, lá hoả. Bên phai hổ phù chạm cảnh người đóng khố đang cưỡi trên lưng thú. Bên trái là cảnh người phụ nữ tay trái đang ghì con nhỏ vào lòng cho bú, còn tay kia như đang vắt sữa. Con thú vừa mải mê bú, vừa giơ chân trước giữ bầu sữa mẹ.
Tại tòa đệ nhị nổi bật lên là nghệ thuật chạm khắc ở bức thuận cửa cấm: cảnh lưỡng long chầu nguyệt trên mê thượng, phía dưới câu đầu tạo song tiện trong khung chữ nhật. Hai bên là hai bản chạm nhấn các chấm tròn, biểu tượng các vì sao của phương vị bát quái “Hà đồ”, “Lạc thư”. Theo các già làng thì Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến đã gợi ý cho dân làng, đưa các biểu tượng bát quái này vào đình, hàm nghĩa trấn trạch mong dân yên, vật thịnh.
2. Điêu khắc gỗ đình An Hòa (thôn Triền, xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm)
Nét đặc sắc của nghệ thuật điêu khắc đình An Hoà là các mảng chạm trên con rường, hà diệp, xà nách, xà đùi ở hai gian trái đình. Các nghệ nhân đã thể hiện các đề tài tứ linh: cảnh rồng mớm, rồng âu yếm vờn nhau, cảnh rồng mẹ vui với rồng con; ly lớn lấy chân ghìm giữ ly con, ly cắn tai rồng, ly cắn đuôi, cảnh trúc hoá, sen hoá, cảnh đầu người mình chim... cảnh nào cũng được tạo bởi những đường nét chạm hóm hỉnh, bao hàm nhiều ý nghĩa sâu xa.
Nhưng đề tài nổi trội mà ít nơi có được, đó là các mảng chạm khắc dân gian khiêm tốn nép mình ở một số câu kiện trong đình An Hoà. Trên cánh ván bưng có cảnh hai người ôm đôi gà chọi trên tay, mà đôi gà vẫn chõ mỏ vào nhau như đang dở cuộc đấu. Giữa khung cảnh người và vật còn có họa tiết bông hoa làm tăng thêm ý nghĩa trò chơi gà chọi, một môn chơi truyền thống lành mạnh trong những ngày xuân. Trên xà nách gian giữa, ngoài các cảnh tứ linh, các băng lá sòi sen hoá nghệ thuật còn có cảnh tiên cưỡi rồng, cảnh con hổ nhe răng rất dữ tợn, cảnh chim và sóc đang tranh ăn, cảnh ly leo trên cây ăn quả, cảnh ly đeo chuỗi nhạc ngựa và người đang giành giữ nhau, người lấy chân đạp giữ chân ly. Trên trụ non người thợ còn chạm cảnh hai con thú đang ôm giữ bông hoa sen cách điệu. Tại hàng xà nách phía trong, ngoài các đề tài tứ linh sinh động, hoa lá, lá hỏa, vân ám, còn nổi lên cảnh người đóng khố leo cây, một tay hái quả, một tay giữ cành. Đây là cảnh hái dừa. Những con người được cách điệu rất to lớn so với cây cối xung quanh.
Trên hạ diệp còn chạm nổi cảnh hai chiếc thuyền rồng. Một chiếc đang đi với bốn người đóng khố chèo thuyền và một chiếc đã khuất. Dòng nước ở đây còn gợn sóng nổi lên hình cá lượn trên sông. Đây không phải là cảnh bơi chải thường thấy trong lễ hội dân gian, mà là cảnh bơi thuyền rồng. Chắc nghệ nhân muốn đưa hình ảnh này gắn với sự kiện hoàng tử Linh Lang cùng với tướng hành binh trên sông đi chinh phạt giặc ở phương Nam. Ở đây lại còn cảnh con cốc đang nghếch cổ lên, miệng thì ngậm con cá. Tất cả những mảng chạm khắc ở đình An Hoà không chỉ phong phú về nội dung, đa dạng về đề tài mà còn rất có hồn nhờ những tay nghề điêu luyện của các nghệ nhân dân gian, nhờ vậy, đã góp phần nâng cao giá trị cho công trình kiến trúc. Nhiều cơ quan Trung ương và địa phương đã về đây sao chép, phục chế để giới thiệu rộng rãi những tác phẩm nghệ thuật đình An Hòa với nhân dân trong cả nước và thế giới. Đó là niềm tự hào cho địa phương.
Đình An Hòa là một công trình quy mô nên đồ thờ cúng cũng có quy cách lớn và được làm rất kỳ công, có giá trị nghệ thuật.
Trong số bốn cỗ ngai ở đình có hai cỗ tương đối lớn có quy cách 1m40 x 0m80 x 0m70. Đây là hai ngai thờ Linh Lang Đại vương và phò mã bản thổ tôn thần. Ngai được sơn son thếp vàng lộng lẫy, rất kì công trong nghệ thuật tạo dáng và điêu khắc. Tay ngai làm kiểu rồng chầu, sáu trụ chạm sáu rồng leo, đan xen vân ám và các vòng tiện trang trí. Sập ngai là nơi đặt long bài cũng được tạo dáng rất đẹp theo kiểu chân quỳ dạ cá. Từ mặt sập, cổ sập, bệ dưới của sập tất cả đều được gia công nghệ thuật bằng các đường chỉ viền, các băng họa tiết, lá sòi, cánh sen chạy quanh với các ô mảng chạm thông phong, tứ linh hoặc hoa lá rất sinh động.
Chiếc hương án ở chính gian giữa cao 1m50, dài 1m70, rộng 0m75 cũng được làm rất cầu kỳ. Hương án chia làm hai phần có thể tháo rời một cách dễ dàng. Phần trên gồm mặt hương án, được làm to thân dưới, lại trang trí rất hài hoà. Từ bao loan với dáng rồng, ly đến các băng hoa lá viền mép, những khuông chạm tứ linh, hổ phù cũng được nhấn tỉa tài tình. Thân dưới hương án được tạo nhiều ô mảng theo các đề tài long chầu, phượng vũ, long mã đi trên nước, rùa ẩn hiện trong ao sen vừa cách điệu vừa rất hiện thực. Chính giữa thân hương án có cả mảng chạm long cuốn thuỷ, được đục kênh bong vừa đẹp vừa tổng thể, vừa hấp dẫn ở từng chi tiết. Hai bên hương án cũng được trang trí công phu theo nhiều đề tài.
Bức võng cố định rất lớn đã làm tăng vẻ uy nghiêm và vẻ đẹp cho công trình. Hệ thống riềm trên hai bức võng tạo dáng độc đáo được lắp vát nghiêng chếch về phía trước đã tạo thêm độ sâu và rất hài hoà với bố cục. Trên cùng cửa võng có những hoạ nét lượn cong chầu nguyệt, riềm hai bên chạm long chầu, phượng múa, ly và quy. Ở giữa bức võng có bốn chữ Thiên định phúc thần (vị phúc thần do trời đưa xuống). Bức cửa võng được đục chạm trổ tinh xảo, trong một bố cục đăng đối rất hoà nhập với tổng thể mảng chạm khắc của công trình trên.
3. Điêu khắc gỗ đình thôn Châu (thị trấn Kiện Khê, huyện Thanh Liêm)
Đình thôn Châu được thiết kế theo kiểu chữ Tam: tiền đường, đệ nhị và chính tẩm. Cũng như các ngôi đình chùa khác, đình thôn Châu có tòa tiền đường to lớn, được gia công nghệ thuật nhiều hơn cả.
Tòa tiền đường của ngôi đình này đã được tu sửa nhiều lần, lần gần đây nhất là vào niên hiệu Thành Thái thứ 11 (1899). Tuy đã qua nhiều lần tu sửa, nhưng người thợ ở đây đã có ý thức bảo tồn vốn cổ dân tộc, nên còn giữ được một số mảng chạm khắc và dồn vào vì giáp hồi phía bắc cũng như phía nam của ngôi đình. Ở vì phía bắc, trên các con rường đều đục chạm lá lật cách điệu, vân ám, lá hỏa cùng một số hình ảnh ly mẹ, ly con đỡ những hàng mành mới. Hình ảnh rồng mẹ quyến luyến rồng con (mẫu long giáo tử), rồng, ly âu yếm nhau, ly cắn chân rồng được cài xen các đám mây trông rất sinh động. Những mảng chạm khắc trên đây cùng với một số mảng rải rác ở vì treo phía nam đình là sản phẩm thế kỷ XVII, XVIII rất có giá trị nghệ thuật.
Ngoài ra trên các vì khác, đặc biệt là hai vì gian giữa với các đề tài tứ linh, long chầu được chạm khắc theo các kiểu dáng khác nhau như quy ẩn dưới ao sen thật khéo léo. Nghệ nhân dân gian đã diễn tả một cách tài tình tính thẩm mỹ những đôi phượng múa, những tốp ly nghịch ngợm, vô tư chạy nhảy, luồn sau ngó trước hồn nhiên. Các mảng chạm cảnh khóm trúc hoá long, cảnh cúc hóa long rất tài nghệ, cảnh tùng hạc (cây tùng con hạc), cúc điệp (bướm vờn trên hoa cúc) cũng được thể hiện kỳ công.
Trên bẩy tiền ở gian giữa cung, nhiều đề tài được chạm khắc như cảnh rồng bay trong mây, quy ẩn hiện dưới ao sen, cảnh cá hoá rồng, vân ám. Bốn đầu dư đỡ câu đầu hai chân ôm bám vào bông hoa sen như đẩy thân mình ra xa, gánh đỡ cho câu đầu thêm phần vững chắc. Đầu dư được người thợ chạm đục cân bong rất cân đối, hài hoà.
Đình thôn Châu là công trình to lớn tốn hàng trăm khối gỗ lim. Với nhiều bàn tay, khối óc tài giỏi, khéo léo các nghệ nhân đã tạo được bộ khung to, lớn đục chạm được nhiều mảng điêu khắc gỗ rất thành công theo một ý tưởng thẩm mỹ khá độc đáo của thời đại và có giá trị nghệ thuật cao.
Đình thôn Châu có nhiều đồ thờ có giá trị nghệ thuật cao. Hai cỗ ngai có từ thời Hậu Lê được bầy tại chính tẩm là loại đồ thờ cỡ lớn, cao 1m40 được tạo dáng độc đáo. Tay ngai chạm long chầu khoẻ khoắn, sinh động. Sáu trụ đỡ tay ngai với họa tiết rồng leo và đường chỉ, đường viền sắp xếp hợp lý đã tạo nên sự hài hoà, chắc khoẻ mà vẫn nhẹ nhàng thanh thoát. Bộ ngai được bố trí nhiều lớp trang trí như băng cánh hoa sen dẹo, băng lá sòi kép. Những băng trang trí trên được tạo thành những khuôn đục thông suốt hai bên theo các đề tài rồng chầu, rồng bay trong vân ám, cài thêm những đao lá hoa, những bông cúc. Dưới bệ có bốn chân tạo kiểu chân quỳ dạ cá làm cho ngai vừa đẹp vừa chắc, dù đặt ngai tại chỗ hay đặt trên kiệu rước trong ngày hội cũng vững vàng khó nghiêng đổ.
Chiếc hương án với cỡ 1m80 x 1m80 x 0m90 là nghệ thuật tạo dáng và điêu khắc thời Nguyễn. Từ riềm thành mặt án thư với cảnh rồng mặt nguyệt, hai bên là những cảnh hoa sen rất tự nhiên, đến hương án được thu nhỏ lại và trang trí bằng hoa chanh đục rất tài nghệ. Hàng trăm bông hoa với từng cánh hoa, nhị hoa đều đặn, sinh động thể hiện một trình độ nghệ thuật cách điệu cao. Thân án thư cũng được phân thành nhiều khuôn, nhiều những đục chạm cảnh rồng chầu, phượng dang cánh, hổ phù, hoa lá hoá rồng, rồng cuốn thủy rất kỳ công.
Bộ bát biểu đình thôn Châu được thể hiện với trình độ đục chạm cao. Trên biểu, rùi đồng, phủ việt được bố cục lớp lớp hoa lá, cùng với đề tài tứ linh và các hình ảnh bầu rượu, thanh kiếm, cung đàn, sáo trúc, hòm sách, phong thư, lẵng quả đan xen có dải lụa, hoa lá khiến đồ tế tự tưởng chừng đơn điệu, cứng nhắc mà lại trữ tình thơ mộng.
Kiệu bát cống đình Châu dài 4m, đòn dọc, đòn ngang và các đòn thờ nhỏ để khiêng - tất cả đều được tạo dáng như những con rồng oai nghiêm. Trên các tay đòn còn điểm các phù điêu phượng múa, ly chầu, hổ phù rất sinh động. Sập và bành kiệu bố cục trang trí nhiều đề tài tứ linh và hoa lá mang tính nghệ thuật cao. Những đồ thờ có giá trị nghệ thuật kể trên, đều được sơn son thếp vàng. Đây cũng là một nghề sơn thếp độc đáo truyền thống của dân tộc.
4. Điêu khắc gỗ đình Văn Xá (thôn Văn Xá, xã Đức Lý, huyện Lý Nhân)
Đình Văn Xá là ngôi đình được xây dựng sớm của huyện Lý Nhân. Mái đình cong, thấp, được lợp bằng ngói mũi hài (có những viên nặng đến 11 kg), trên mũi ngói trang trí hình lá đề cách điệu.
Từ ngoài vào, hàng cột cái, cột quân, hàng bẩy tiền được tạo dáng đẹp, thanh thoát. Phía trong hàng bẩy là hàng kẻ, là lực đỡ giàn mái và kéo giữ bộ khung thay cho xà nách. Kích thước của hàng kẻ này cũng tương đương với hàng kẻ bẩy, có đường kính tới 46 - 47 cm được chạm hình rồng mang đặc điểm thời Hậu Lê với hình dáng dữ tợn. Những nét nhấn tỉa sắc bén hình đao nhọn trên thân, đầu rồng vuốt về phần đuôi như đang chuyển động. Phía sau là hình con ly đang múa và chuyển động theo rồng. Trên thân kẻ này còn chạm hoả đường soi ống tơ dáng mềm mại gây cảm xúc hài hoà. Các mảng chạm trên thân kẻ rất công phu và mang màu sắc đường nét khá đặc biệt.
Đình Văn Xá là công trình kiến trúc đồ sộ với hai gian chái đình, mái cong cả ba phía, tiếp giáp với gian kế cận, cho nên việc thi công công trình đòi hỏi trình độ kỹ thuật, mỹ thuật cao. Đặc biệt hai chiếc kẻ góc, để nối từ góc đao lên nóc (có nơi gọi là kèo voi, vì kèo cổ ngỗng) đã được các hiệp thợ xưa xử lý rất thành công. Hai chiếc kẻ này một chiếc đã được đục như con rồng thân hình thu nhỏ về phía đuôi. Chiếc kẻ bên cũng được chạm hình rồng, nhưng phần lớn phía trên có hình con vật đang nô đùa chạy dọc xuống phần dưới, hai chiếc kẻ này được đặt trên hai trụ non. Trên cột góc là toàn bộ cấu kiện chịu lực chủ yếu đỡ phần góc mái, giữ độ cong của mái vừa mềm mại vừa duyên dáng. Các mảng chạm khắc trên con rường đều được chạm kênh bong thể hiện nhiều đề tài khác nhau: Cảnh rồng chầu (đặc biệt là ở các góc vì góc nóc này đều chạm nổi mặt   rồng) dáng điệu dữ tợn, hai bên có đôi hạc chầu, ở vì gian giữa có đôi sư tử chầu mặt rồng. Các đề tài khác như vân ám, lá hoả, đao nhọn và chủ yếu là rồng chầu được nghệ nhân thể hiện qua các dạng khác nhau; ở hai vì nách bên phải có cảnh rồng chầu, hai chân nắm hai con vật châu đầu vào nhau, ở vì nách bên trái có cảnh Mẫu long giáo tử (mẹ rồng dạy con), bên cạnh có hình cá chép hóa rồng. Các vì này được đỡ bởi hệ thống câu đầu có đường kính 50cm được bào gọt kỹ càng, phía dưới có chạm hình lá đề cách điệu rất đẹp.
Đình Văn Xá còn giữ được nhiều đồ thờ tự có giá trị nghệ thuật cao. Ở gian giữa toà tiền đường là ngai thờ hai thần rắn. Hương án cổ được làm vào thời Hậu Lê có chiều dài 2m50, rộng 1m70 trên đó chạm nhiều đề tài khác nhau: Cảnh rồng với dáng vẻ nô đùa được chạm sắc nét đến từng chi tiết, những đường thẳng song song, đường viền hoa chanh, trên hương án có hai ngai thờ thuỷ thần kích thước bằng nhau có chiều cao 1m rộng 0,6m trên đó có trang trí hình đầu rồng. Phía trong bài vị chạm đôi rồng chầu. Đế ngai chạm nhiều đề tài như lá sen chéo, rồng chầu, hoa leo, mỗi ngai là một đầu rồng. Trong hậu cung kê một cỗ kiệu dài 4cm, rộng 2cm. Cỗ kiệu này có dáng vẻ độc đáo. Bành kiệu nổi bật phù điêu phượng, đầu phượng, dáng bay với những đao bay được chạm tinh tế. Thân kiệu chạm cảnh cúc hoá long, cảnh phượng múa. Đuôi kiệu chạm hình đuôi phượng dáng đao bay về phía sau. Trên long đình mặt trước và sau hai bức chạm thông phong, một mặt là lưỡng long chầu nguyệt, một mặt là hai con phượng chầu chữ thọ. Kiểu này mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII, XVIII. Trong hậu cung còn có hai sập kê chồng lên nhau. Chiếc trên có chiều dài 3m20, rộng 1m44. Chiếc dưới dài 3m20, rộng 1m78. Cả hai sập đều chạm hoa văn lá hỏa cách điệu. Đặt trên sập là hai ngai thờ ông Cao Văn Phúc và bà Từ Thị Lang. Hai ngai được làm khác nhau gọi là ngai ông, ngai bà. Ngai ông lớn hơn, cao 1m10. Ngai bà được làm khác, bài vị cao hơn tai ngai, trên bài vị chạm rồng chầu và phượng. Phía tai ngai là hai đầu rồng ngước lên phía bài vị, hai bên tai ngai là hệ thống song tiện tròn, phía đề có đường thẳng song song rồng chầu mặt nguyệt đều được làm vào thời Nguyễn.
Trong hậu cung còn có một nhang án nhỏ dài 1m20, cao 0m60, được chạm hoa văn dày đặc: Mặt rồng, rồng chầu, rồng cuốn. Bốn chân nhang án là bốn con rồng cuốn từ trên xuống dưới. Chiếc tráp màu nâu trên có chạm hình cánh sen dẹt, rồng cuốn, được nghệ nhân thể hiện rất tinh tế. Hai hiện vật trên được làm vào thế kỷ XVI, XVII là những cổ vật quý.
5. Điêu khắc gỗ chùa Bà Đanh (thôn Đanh, xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng)
Chùa Bà Đanh ngoảnh mặt theo hướng chính Nam ra phía sông Đáy. Chính giữa hệ thống cửa bức bàn bằng gỗ lim. Tầng dưới tam quan có bức chạm ngũ phúc (5 con dơi ngậm chữ thọ). Qua một cái sân gạch là đến nhà bái đường. Gần như toàn bộ nghệ thuật kiến trúc và nghệ thuật chạm khắc của ngôi chùa tập trung thể hiện ở nhà bái đường - nơi hành lễ thường ngày của các nhà sư và các phật tử. Tài năng chạm khắc của nghệ nhân xưa thể hiện trên sáu cột cái của toà nhà này. Trên vì kèo thứ nhất (tính từ Tây sang Đông) một mặt áp tường, chạm mặt hổ phù, trúc hoá long, hoa hồng, quả đào, quả lựu. Vì kèo thứ hai, ở mặt trước chạm “ngũ phúc”, hoa mai, hoa hồng, đàn tranh, bút lông, quả vả và bầu rượu, ở mặt sau chạm “ngũ long tranh châu”, hoa hồng, hoa lan, mai hoá. Vì kèo thứ ba, ở mặt trước chạm “tứ linh” (long, ly, quy, phượng), “tùng mã” (tùng và ngựa), “mai điểu” (hoa mai và chim); quá giang chạm đàn tranh, đàn nguyệt, phách; mặt sau chạm “tứ linh”, bầu rượu, cuốn thư. Vì kèo thứ tư, ở mặt trước phía trên chạm “lưỡng long chầu nguyệt”, phía dưới chạm “tứ linh”; quá giang chạm hoa hồng, cây tùng, cuốn thư, kim tiền, đàn và sáo. Vì kèo thứ năm, ở mặt trước chạm hổ phù, nghê chầu hai bên, mai hoá; quá giang chạm quả đào, phật thủ, quả lựu, hoa hồng, cuốn thư và con dơi; mặt sau chạm “ngũ phúc”, quả đào, hoa hồng, cuốn thư. Ở vì kèo thứ sáu (một mặt áp tường) chạm mặt hổ phù, thông hoá long, trúc hoá long, trên quá giang chạm quả đào, mai, trúc, nho, lựu, đào mai, quạt vải. Ngoài sáu vì kèo còn có sáu cột cái bằng gỗ lim, đứng giáp ranh giữa nhà bái đường và nhà trung đường. Trên mỗi thân cột đều chạm chìm hình rồng leo chầu vào ban thờ ở giữa gian thứ ba với các nét chạm rất tinh xảo.
Về mặt đề tài, nếu là động vật, thì nghệ nhân đắp nổi hay chạm theo đề tài “tứ long” (long, ly, quy, phượng), “ngũ phúc”, “lưỡng long chầu nguyệt”, “ngũ long tranh châu”, “tứ long chầu mặt nguyệt”; nếu là thực vật, thì có các đề tài “tứ quý” (tùng, cúc, trúc, mai), “bát quả” (đào, nho, lựu, vả, phật thủ); nếu là động thực vật kết hợp, thì có các đề tài “mai điểu”, “tùng mã”, “trúc hoá long”, “thông hoá long”... Ngoài ra, còn có đề tài quen thuộc như đàn tranh, đàn nguyệt, phách, sáo, bút lông, bầu rượu, quạt, quả vả mà dân gian vẫn hiểu là “bát bảo” (tám loại quý). Trong quá trình sáng tạo, nghệ nhân xưa đã kết hợp thể hiện những đề tài ước lệ tượng trưng của nghệ thuật mang tính cung đình (“tứ linh”, “ngũ phúc”, “lưỡng Iong chầu nguyệt”, “ngũ long tranh châu”, “mai điểu”, “tứ quý”, “tùng mã”) với những đề tài thuộc nghệ thuật dân gian như “ngũ quả”, “bát quả”, đàn, sáo, nhị, phách. Lối thể hiện phối hợp khéo léo giữa lối chạm nổi, chạm long với lối chạm chìm. Tất cả đều được cách điệu hoá mà vẫn có hồn, sinh động.
Trong nhà thượng đường của chùa Bà Đanh, có nhiều tượng thờ như tượng Tam thế, tượng Ngọc Hoàng và Thái thượng Lão Quân, tượng Bà Chúa Đanh. Có thể coi pho tượng Bà Đanh là một trung tâm của chùa. Tượng được tạc theo tư thế tọa thiền trên chiếc ngai đen bóng (chứ không phải là toà sen), với khuôn mặt đẹp, hiền từ, đầy nữ tính, gần gũi và thân thiết, chứ không có dáng vẻ siêu thoát, thần bí như các tượng Phật khác. Sự hài hòa giữa pho tượng và chiếc ngai tạo nên vẻ hấp dẫn của nghệ thuật điêu khắc gỗ chùa Bà Đanh.
6. Điêu khắc gỗ chùa Bạch Liên (xã Trác Văn, huyện Duy Tiên)
Chùa Bạch Liên có nghệ thuật chạm khắc mang tính nghệ thuật cao. Trước hết phải kể đến hệ thống cửa võng. Gian chính giữa của toà nhà tiền đường và 4 vì kèo của chùa tam bảo, đều có cửa võng nằm gọn gàng trong khung giữa đại trụ và câu đầu, hoặc đại trụ và xà lòng của công trình.
Từ cửa bước vào cửa tòa tiền đường, ngay hàng cột cứ đầu tiên, đã xuất hiện tòa cửa võng “Cửu long tranh châu” chạm khắc nghệ thuật, tạo không khí uy nghiêm.
Ở tòa võng thứ 2 cũng ở chính diện tòa tiền đường, các nghệ nhân làng Ngò (xã Tiên Nội, huyện Duy Tiên) đã không quản công mang hết khả năng tạo nên mô típ giàn nho sinh động làm đường diềm phía trên, lại đến lớp lớp cánh sen dụ đều đặn đổ về hai phía, chạy theo đường diềm phía dưới. Khuôn cửa võng nằm lọt giữa hai đai trụ, phía trên có xà lòng. Cửa võng uốn lượn nhịp nhàng, cân đối theo dạng vành mai. Chính giữa và cũng là vị trí cao nhất, trang trọng nhất là hình ảnh Phật đường nơi Tây Trúc trang nghiêm cao vời vợi. Hai bên là cảnh thỉnh kinh của thầy trò Đường Tam Tạng, Tôn Ngộ Không, Sa Tăng, Bát Giới với những chặng đường mà nghệ nhân diễn tả cách điệu qua thân cây mai hoặc áng mây khiến người xem hình dung trăm ngàn nỗi gian truân trên đường đi thỉnh kinh, học đạo. Nghệ nhân còn khéo léo tạo hình chẳng hạn như quỷ dữ kỳ quái ác độc, các thần nhân “Kim Cương” oai phong lẫm liệt.
Bức cửa võng thứ 3, ở vị trí vì đầu tiên của toà tam bảo, được bố cục dưới bức đại tự khảm trai với 4 chữ lớn nổi bật “Đàm hoa hiện thụy, nghĩa là trong vườn hoa cửa thiền thấy rõ điều tốt lành, do các tín lão trong ấp tiến cúng. Hai bên cửa võng là đôi câu đối chạm khảm trai uốn lượn hình mai với các áng mây bay, lượn tầng tầng lớp lớp để tạo nền, nâng đỡ các tòa sen mà “tứ vị Bồ Tát” đang yên vị “tĩnh tọa” hoặc tạo thang mây cho “bát vị Kim Cương”, áo mũ cân đai, oai phong trong y phục và đồ khí tượng đứng trấn giữ các phương để bảo vệ cho thế giới Phật. Với đề tài “tứ vị Bồ Tát”, “bát vị Kim Cương”, người thợ truyền thống ở đây đã khéo léo tạo ra cảnh sắc của thế giới tự nhiên, rất hoà nhập với các nhân vật. Cũng tại vì này, hai bên xà nách, đều trang trí hai nửa cuốn thư (bán cuốn thư), là những tác phẩm chạm khắc gỗ tinh vi, tạo dáng tự nhiên mềm mại của nhành mai hóa long trông thật hấp dẫn. Dưới cuốn thư, cài thêm hai bộ cửa võng nhỏ dưới xà, với các họa tiết hoa lá cách điệu, làm tăng sự lộng lẫy hoàn chỉnh của vì chính diện ở tam bảo.
Toà cửa vòng thứ 4, cũng gắn dưới hàng câu đầu, hai bên bám sát đai trụ, vừa có giá trị trang trí, vừa giữ thêm chức năng của giá trị công trình. Nghệ nhân đã khắc họa hai cây tùng hoá long, bên cây tùng có họa tiết dàn nho sinh động nép bóng, điểm thêm bóng hình chim trĩ đang nhảy nhót, nghiêng ngó tìm mồi. Dưới hóng hình đại thụ, người thợ truyền thống làm nghề còn điểm thêm các vòng trang trí như cảnh ao sen có hoa nở rộ, những áng mây nhẹ nhàng lướt bay, ôm ấp mặt nguyệt, vài nhành mai tốt tươi lắm nụ, nhiều hoa núp bóng cây tùng. Nghệ nhân dân gian đã khéo biến từ lòng gỗ làm nảy lên một thế giới tự nhiên như tùng, mai, dàn nho, ao sen, mây tỏa, những con chim... vô cùng sống động. Hai bên xà nách của vì này, cũng được trang trí bằng các bức vẽ: cặp chim phượng đang xòe cánh, vươn đuôi, cảnh ao sen tươi tốt, đang nở hoa xanh lá. Với những đường nét tinh tế, mảng chạm bé nhỏ này như gợi lại cảnh ao sen xưa kia, trước cửa chùa Bạch Liên.
Phần chính diện của cửa võng thứ 5 cũng được gia công nghệ thuật chu đáo. Nghệ nhân đã tỉ mỉ và điêu luyện khắc lên gỗ một bức tranh sinh động như một bức gấm dệt công phu, có điểm cài hoa phù dung, có các nhạc cụ dân tộc như đàn, sáo, nhị... Trên hàng xà nách của vì thứ 5, cũng có các bức vẽ sơn son thếp vàng, với hình ảnh “long cuốn thủy”. Dưới đó là hàng phù điêu sen đẽo chạm bong và lá lật, tạo thành cửa võng phụ, bổ trợ, làm tăng thêm trọng lượng cho mảng nghệ thuật chính diện.
Vì kèo trong cùng, gần giáp đốc nhà tam bảo, không tạo thành cửa võng (vì các bộ thờ được xây dựng theo cấp cao dần, nếu thiết kế cửa võng ở đây sẽ che khuất đi). Nghệ nhân đã khắc họa một mô típ hoa sen, với những đường nét hình dáng mềm mại, với nghệ thuật sơn son thếp vàng, rất hài hòa với tổng thể hệ thống cửa võng, cuốn thư trang trí phía ngoài và rất hợp với nội dung hình thức đại tự phía trên “Đại hùng bảo điện”.
Chùa Bạch Liên còn có bộ y môn, gồm bốn chiếc làm bằng gỗ, sơn son thếp vàng rất đẹp, treo ở mặt tiền tòa tiền đường, giữa những căn xà lòng thượng và hạ của bốn gian phía đông và phía tây. Y môn cùng với đại tự, cửa võng che chắn một phần kiến trúc mái công trình, khiến nội thất tăng thêm vẻ lộng lẫy nguy nga. Hai cặp y môn chùa Bạch Liên cũng có riềm thượng, riềm hạ và các đai phân trang trí... như mọi y môn cổ truyền của dân tộc. Điều đáng lưu ý ở đây là nghệ thuật chạm khắc phong phú, điêu luyện. Cặp y môn phía đông toà tiền đường, với các họa tiết “long cuốn thủy” với long, ly, quy, phượng, thật hấp dẫn. Cấu trúc được tạo dáng thành hình đầu rồng đầy đủ bờm, râu, tóc rất sinh động như đang muốn bay ra ngoài. Nhành mai, cành trúc được chạm uốn lượn như thân con rồng. Ở riềm dưới là các họa tiết phượng múa, ly và quy, bộ đỉnh, bình hoa đặt trên “tam sơn” với các họa tiết cuốn thư, cành hồng, những dây tua, hạt cườm.
Nếu cặp y môn phía đông có trúc, mai hóa long tài tình, thì ở cặp y môn phía tây có tùng, có trúc, có cảnh “tam lân hý cầu” (ba con lân vờn cầu), rồi quy, phượng, bình hoa, đỉnh thờ. Nghệ nhân đã triển khai trên một bố cục linh hoạt, phóng khoáng, các hoa lá trên giải y môn không cứng nhắc, luôn phải đăng đối, các khuôn trang trí cũng không nhất thiết phải hoàn toàn giống nhau nhưng nhìn chung, các mảng chạm khắc ở các bộ phận giữ được tính thống nhất cao trong một tổng thể, rõ nhất là ở nguyên tắc đối xứng sao cho thật hài hòa.
Cả 9 bức đại tự, 8 đôi câu đối ở chùa đều được nghệ nhân thể hiện qua một số riềm trang trí, một số làm nền gấm.
Tượng pháp chùa Bạch Liên được bảo tồn cẩn thận nên giữ được khá đầy đủ. Ba pho tam thế trên cùng, ngồi trên toà sen được khắc họa kì công, thể hiện ba biểu tượng của thế giới phật, ở cuộc đời tu hành từ quá khứ, hiện tại đến sau này. Tượng A di đà đặt ở vị trí thấp hơn, nhưng lại to hơn, bao trùm hơn, cao tới 2m. Nghệ nhân tạo pho này đã tính toán kĩ tính cân đối từ hình khối, y phục đến bộ thờ, toà sen. Các tượng Quan thế âm Bồ Tát, Đại thế chí Bồ Tát, Diệu thiện là những tượng thuộc dạng lớn, cao tới 1m10 (không kể bệ), dù ở tư thế ngồi tĩnh tọa hay “bắt quyết” đều được chạm nhấn rất đẹp, vừa thể hiện nội tâm vừa thể hiện tư thế đường bệ trên toà sen nở rộ, các cánh sen đều rất trau chuốt.
Đồ thờ, tượng pháp chùa Bạch Liên được xếp đặt ở vị trí cân đối, hợp lý. Các bệ thờ được làm cao dần, lại vừa phải, đã góp phần tăng thêm vẻ uy nghi, lộng lẫy, cũng như việc bài trí tượng pháp thể hiện tính thẩm mỹ cao.
7. Điêu khắc gỗ đình Lũng Xuyên (thôn Lũng Xuyên, xã Yên Bắc, huyện Duy Tiên)
Đình Lũng Xuyên có một số mảng chạm khắc đẹp được các nghệ nhân xưa dày công trau chuốt. Trên các bờ bảng, bờ dải, đao góc của đình được đắp hình các con xô, phượng, đầu kìm. Đặc biệt, trên bờ nóc, đắp đôi rồng chầu mặt nhật. Rồng uốn 3 khúc, đầu rồng nhô cao, đao bay về phía sau, thân rồng được tạo vẩy bằng các mảnh sành sứ vỡ. Hai đầu hồi còn đắp hai đầu rồng và có đao cong.
Ở toà tiền đường, trên các vì kèo, xà nách có chạm trổ hình đầu rồng và thân rồng với nhiều dáng vẻ: con thì dữ tợn, con thì hiền từ, râu tóc xoắn theo nhiều kiểu khác nhau. Các vì góc và các con rường cũng đục cách điệu hình lá lật, lá hỏa.
Trên vì nách bên phải phía ngoài gian giữa có nhiều mảng chạm khắc với nhiều đề tài phong phú. Đề tài được thể hiện ở đây là long cuốn thủy: con rồng uốn thành 3 khúc. Phía trên đầu rồng là con phượng xòe cánh như đang bay. Đằng sau rồng là con ly đang cười. Phía dưới rồng là con rùa, cá chép và cua đang vui đùa; đan xen các con vật là hình vân mây sóng nước hoa sen khoe sắc và các lá sen. Dưới nách xà chạm hình con ly đang cầm thẻ bài, trên thẻ có hai chữ Đại Vương bằng chữ Hán.
Đối diện với mảng trên là mảng chạm cảnh long vân tụ hội: con rồng vẻ mặt tươi vui hai chân dang ra hai bên, các ngón bám chặt lấy hai đám mây. Trên cùng là phượng, bên phải là long, mã, bên trái là ly, phía dưới là rùa, cá chép, đan xen các hoa sen, lá sen cùng các hình vân mây sóng nước. Dưới xà nách chạm nổi một con ly đang cười, hai chân đang vẽ nước.
Trên xà nách phía sau gian giữa là mảng chạm cảnh mẫu long giáo chủ: rồng mẹ, rồng con đang vui đùa với nhau, những con rồng con nghịch ngợm cưỡi trên đầu, bám trên thân và vờn dưới chân của rồng mẹ. Phía trên và dưới đều chạm hình con phượng đang xoè cánh như đang vui cùng với rồng. Dưới chân rồng mẹ còn có long, mã và ly đang nhìn vẽ phía rồng con. Dưới cánh này là rùa trên lưng đeo ấn cùng với hoa, lá sen, sóng nước. Ngoài đề tài trên còn có cảnh núi non cây cối và một ngôi miếu nhỏ, bên cạnh ngôi miếu là một dòng sông, sóng nước đang cuồn cuộn.
Mảng đối diện có bố cục trung tâm là cảnh rồng cùng ly, long, mã đang vui đùa. Chân rồng nắm lấy mình con ly, long mã thì đang nhảy, bên trên là hai con phượng đang bay, phía dưới là cảnh ao sen, trong ao sen là rùa, cá chép, tôm, cua đang bơi.
Mặt sau các mảng chạm khắc này đều chạm nổi các cảnh: tùng lộc, mai hóa long, trúc hóa long, cúc hóa long. Ở xà góc của gian bên phải có mảng chạm khắc độc đáo. Hai con rồng lớn đang cuộn mình vào nhau, đao, râu, tóc, bay thẳng về phía sau, xung quanh sóng nước cuồn cuộn. Trước mặt rồng chạm cảnh một cây tùng lá to, trên cây có bốn con chim đang hót, ở giữa thân cây là ba con khỉ đang đánh đu, hái quả và trêu đùa nhau, vắt vẻo trên cành cây. Ở đây chất cung đình và chất dân gian đã kết hợp, hòa quyện vào nhau.
Chạm khắc trên các xà lòng, xà nách tuy đơn giản nhưng có sự gia công tinh tế tạo độ nhấn, soi chỉ, soi ống tơ và tạo hình hoa lá cách điệu. Tổng thể công trình tạo thành một thể thống nhất từ bố cục đến nghệ thuật chạm khắc, giải pháp kỹ thuật. Do đó đình Lũng Xuyên mang đậm phong cách kiến trúc cổ truyền của dân tộc.
Trước đây đình Lũng Xuyên có nhiều đồ thờ tự đẹp. Qua năm tháng, nhiều hiện vật bị mất mát. Hiện nay trong hậu cung chỉ còn cỗ ngai thờ thần hoàng Lý Thường Kiệt là tiêu biểu, ngai cao 1m10 chạm khắc tập trung trên thân và tay ngai. Tay ngai tạo thành hai đầu rồng đao bay về phía sau. Thân ngai bố trí hàng song tiện, ở giữa tạo hình rồng cuốn quanh lấy song. Lưng ngai uốn cong, giữa lưng ngai phía trên là hình mặt trời đang tỏa ánh hào quang, bên dưới chia làm ba ô đục thông phong hình phượng múa, mặt hổ phù long mã, ở hai bên diềm lưng ngai chạm thủng hình rồng lượn. Đế ngai được làm kiểu chân quỳ dạ cá, bốn chân tạo thành bốn đầu rồng. Chính giữa mặt đế trước là mặt hổ phù được chạm tỷ mỷ, miệng ngậm chữ thọ. Phía trên mặt hổ phù là các băng cánh sen dẹo, lá sòi đẹp mắt.
Những hiện vật trên góp phần tạo nên giá trị văn hóa của đình Lũng Xuyên.
8. Điêu khắc gỗ đền Lăng (xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm)
Đền Lăng hiện nay còn tòa tiền đường, cung đệ nhị và cung chính tẩm, trong đó, tòa tiền đường có nhiều mảng chạm khắc công phu nhất. Hệ thống cột cái, hệ thống câu đối ở đây tạo vẻ chắc khỏe và mềm mại cho tòa tiền đường. Ở hai vì gian giữa có lớp lớp các màng phù điêu chạm long, ly, quy rất công phu. Trên trụ non đầu rế còn được tạo thành mâm ngũ quả với đào, lựu sinh động. Một số mảng mè còn chạm rồng chầu, chim phượng và hoa cúc rất tinh tế. Để gánh 4 trụ non, thợ chạm tạo 4 con nghê ghé vai đội trụ khá sinh động, không dập khuôn, không gò bó. Điều đặc biệt là các đề tài dân gian được khắc họa một cách khéo léo. Trên vì phía đông, người thợ khéo thể hiện một con thú bên hồ sen trong tư thế giấu mình, lẩn trốn trong lá sen cách điệu. Còn vì bên kia là cảnh con hổ đang ôm một cái đó lớn, bên cạnh là một con hổ khác đang đeo chiếc giỏ ở cổ.
Tất cả các cột của ba tòa đều được đặt trên chân tảng kích thước 50 cm x 50cm. Chân tảng đục nổi gương tròn theo cấp để định vị chân cột, vừa là trang trí tôn nâng đại trụ làm đẹp cho công trình. Tòa chính diện của tòa đệ nhị còn có bức cửa võng gắn với câu đầu và cột cái. Công trình đục chạm công phu, tạo chương với cảnh lưỡng long chầu nguyệt tinh vi nghệ thuật, tạo diềm trên, diềm hai bên với những băng lá sòi, những mảng long vân, phượng vũ có sức truyền cảm cao. Trung tâm cửa võng nổi bốn chữ “Thánh cung vạn tuế” trong khung tròn rất đẹp. Cửa võng được sơn son thếp vàng màu sắc óng ánh, ấm áp giúp cho công trình thêm hấp dẫn.
Đền Lăng có khá nhiều đồ thờ tự. Các đồ thờ ở đền Lăng đều mới được sơn son thếp vàng theo phương pháp cổ truyền. Do vậy khi tới đây mọi người đều cảm nhận sự lộng lẫy, uy nghi bởi đồ thờ tại các cung chính tẩm, đệ nhị và tiền đường. Trước hết phải kể đến chiếc ngai thờ đời Hậu Lê. Đây là chiếc ngai lớn quy cách 110cm x 70cm x 55cm có dáng khoẻ và chạm nổi, chạm thông phong ở tay ngai, sâp ngai thật cầu kỳ đẹp mắt. Những con rồng uốn lượn theo thế long thăng ở trụ, những hàng rèm sen dẹo, lá sòi hay khắc vạch song song... đều được thể hiện rất tinh tế. Những khung chữ nhật, khung vuông hay đường nét phóng khoáng trên diềm ở lưng ngai đều được chạm thông gió hoặc kênh bong các cảnh tứ linh, lá và hoa thật tài tình.
Bốn chiếc long đình trong có bài vị, long ngai thờ vua Đinh, Lê Đại Hành và Trung Tôn, Ngọa triều đều vào cỡ lớn tới 170cm và được tạo dáng theo tỷ lệ cân xứng, đặc biệt là chạm nổi, chạm thông phong nhiều đề tài hoa, lá, long, ly, quy, phượng rất tinh tế. Những hiện vật thế kỷ XIX này còn phảng phất đường nét Hậu Lê, song dáng cao, các xà đố thanh thoát mang phong cách thời Nguyễn. Đây cũng là hiện vật đặc trưng giai đoạn chuyển hoá giữa hai nền văn hoá Lê - Nguyễn.
Hương án đặt tại cung đệ nhị, quy cách 145cm x 68cm x 165cm, còn tốt, thoáng nhìn thấy lộng lẫy, nhìn kỹ mới thấy hết cái tinh tuý, độc đáo mà tiền nhân để lại cho con cháu đời sau. Đây là loại hương án tạo sự kết hợp kết cấu lồng hai phần trên và phần dưới vào nhau, phần trên gồm bao lan, mặt hương án, cổ, diềm cổ, và phần trên của chân được gia công rất khéo, khi lồng vào rất khớp với phần thân dưới. Điều đặc biệt là bố cục họa tiết rồng chầu mặt trăng cùng với băng cánh sen ở diềm mặt hương án rất ăn ý với mô tip lá chòi uyển chuyển và bố cục long vân, hổ phù ở diềm cổ hương án. Chân hương án làm nổi hẳn ra, chạm chữ thọ cùng họa tiết rồng bay thật tinh xảo, cầu kỳ. Phần thân tạo thành những ô hoặc vuông, hoặc chữ nhật, quy cách khác nhau. Nhiều đề tài điêu khắc tứ linh, hoa lá khác nhau nhưng đề tài nào cũng được thể hiện công phu. Ấn tượng chung về các mảng chạm khắc ở đây là nhiều mà không rậm, không thừa, càng nhìn càng nhận ra sự tinh xảo trong nghệ thuật và kỹ thuật thể hiện.
Chiếc sập thờ ở chính tẩm là hiện vật của thời Nguyễn nhưng cũng là loại đồ thờ quý hiếm. Sập có quy cách 220cm x 180cm x 85cm làm theo kiểu chân quỳ, khoẻ mà không nặng nề. Bao lan ở bốn góc mặt sập tạo ô họa tiết đơn giản nhưng rất đẹp. Cổ sập được chạm nổi, chạm thông gió long hoá, tứ linh. Chân sập được tạo kiểu chân quỳ dạ cá với mây tản, lá lật cách điệu như bay, như cuốn, gây xúc cảm nhẹ nhàng cho người thưởng thức.
Đôi hạc thờ của đền Lăng cao 250cm cũng được tạo dáng sinh động, tư thế đứng chầu nghiêm túc, đôi cánh cụp sát thân, chiếc cổ cất cao chầu mà không cứng nhắc, chứng tỏ nghệ nhân đã kết hợp nhuần nhuyễn thực tế với cách điệu. Đáng lưu tâm hơn là lớp lớp lông cánh như lá hoả lại như cài vào nhau rất tự nhiên. Trang trí trên đầu, bờm, gáy và cả bàn chân bám trên lưng rùa cũng được thể hiện một cách linh hoạt. Ngoài ra, đền Lăng còn giữ được đôi quán tẩy thời Hậu Lê, đôi tượng người nô lệ và một số đồ thờ thời Nguyễn được chạm khắc tinh tế, sơn son thếp vàng lộng lẫy.
Những sản phẩm văn hoá thời Hậu Lê rất quý hiếm cùng với các đồ thờ tự thời Nguyễn của đền Lăng rất cần được giữ gìn cẩn thận.
9. Điêu khắc gỗ đền Trúc (thôn Quyển Sơn, xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng)
Đền Trúc được tu sửa nhiều lần, lần cuối cùng vào những năm đầu của thế kỷ XX. Hiện nay đền còn lại tòa tiền đường và hậu cung. Ở tòa tiền đường, những mảng chạm khắc trong kiến trúc tại những phần chính chỉ là những nét điểm xuyết. Đó là những chiếc lá lật, những cụm mây tỏa trên các kẻ, các con rường; là những chiếc đấu đỡ các trụ được chạm những hình cánh sen bao quanh. Riêng ở hai vì kèo giáp hồi, tại phần chồng rường nằm giữa cột cái và cột quân được chạm khắc toàn bộ với đề tài tứ linh. Bao trùm lên toàn bộ bức chạm là con rồng thân uốn lượn bay trong mây và chiếm tới một nửa diện tích, nằm gần trọn vẹn ở phía trên. Chính giữa là một đầu rồng nhô ra từ trong một đám mây. Với lối diễn tả hai mặt vừa nhìn từ trên xuống đồng thời từ một phía bên trong vào, người xem không chỉ thấy rõ độ lớn của thân mà còn hình dung ra độ dài của con vật linh thiêng. Con rồng như đang bay trên mây và những cụm mây như thế đang bay trên bầu trời. Không gian và sinh vật đều ở trạng thái động. Trong một mảng rất hạn hẹp, bằng những nét chạm phóng khoáng mềm mại cùng với bố cục hợp lý, nghệ nhân dân gian đã tạo nên một khoảng không gian vừa có cả chiều sâu lẫn chiều rộng. Trên một con rường dài nhất nằm dưới cùng là hình ảnh ba con vật còn lại của bộ tứ linh được bố cục từ trái sang phải. Con rùa ở dưới nước, con lân sống trên mặt đất và con phượng đang tung bay. Ba con vật tiêu biểu sống trong ba không gian tiêu biểu: Đất, nước, bầu trời, đó là biểu tượng thiêng của thiên nhiên trong quan niệm dân gian. Hậu cung có khung và hệ thống cửa được làm bằng gỗ lim, phía trên cửa được chạm khắc đề tài tứ quý với những đường nét mềm mại và hài hòa.
10. Đình Tường Thụy (thôn Tường Thụy, xã Trác Văn, huyện Duy Tiên)
Đình Tường Thụy xưa kia làm theo dáng mái cong, đến năm 1896, niên hiệu Thành Thái thứ 8, đình được tu sửa lớn, tuy có cắt bớt phần đao góc nhưng nhìn chung vẫn giữ được dáng dấp thế kỉ XVIII. Đến năm 1927, đình được bàn tay tài hoa của thợ làng Ngò (huyện Duy Tiên) đại tu và tồn tại đến ngày nay.
Đình Tường Thụy là một công trình kiến trúc lớn gồm hai tòa, được thiết kế theo kiểu chữ nhị. Đình được làm theo lối chồng rường, bẩy kẻ với các hàng cột lớn, đường kính tới 60cm. Đình được thiết kế bằng gỗ tứ thiết với nhiều kết cấu uốn lượn, hoặc là hình tròn, hoặc có độ vòng bán nguyệt liên kết với nhau, qua các mộng bẩy kẻ, các lỗ mộng cột quần hay đại trụ với những nhát đục, đường bào thật bén.
Hàng câu đầu quy cách lớn, tương ứng với đầu cột được chạm khắc hoa lá, tạo dáng bông hoa. Hai đầu câu đầu cũng là đầu dư trên đầu cột được chạm trổ đề tài cá hoá long rất công phu. Các con rường và bẩy kẻ đều được chạm khắc các đề tài tứ linh hoặc hoa lá cách điệu rất kỳ công, hoặc còn bảo lưu nguyên vẹn các tác phẩm từ thời Hậu Lê hoặc đã được sửa chữa, phục chế theo phong cách đời Nguyễn. Trên các vì kèo thứ hai, thứ năm ở tiền đường, người thợ trùng tu đã tôn trọng nguyên tắc từ thời Hậu Lê với các tác phẩm điêu khắc lấy đề tài từ đời sống dân dã như người cưỡi voi và người khác cầm đuôi voi kéo lại. Xung quanh bức chạm mang yếu tố dân gian, còn có thêm hình ảnh rồng nghê vui đùa cùng với các hình ảnh mây, lá, hoa được các nghệ nhân kênh bong rất thiện nghệ.
Toà tiền đường là công trình rất được chú ý trong điêu khắc ở đình. Các con rường đỡ hoành ở đình Tường Thụy được thiết kế hình các con ly khoẻ mạnh với các tư thế tự nhiên, sinh động như ghé vai, nghiêng đầu gánh đỡ các đường hoành của giàn mái. Hệ thống cửa võng với các đề tài long chầu, long hoá cũng được chạm khắc với phong cách thời Nguyễn công phu.
Toà chính cung có bộ cửa chính điện gồm 8 cánh được chạm khắc theo tích dáng thời Nguyễn như cảnh “tam lân hí cầu” (3 con lân chơi cầu), “tiêu tượng” (con voi và cây chuối), “mã liễu” (con ngựa và cây liễu). Có nhiều họa tiết rồng được chạm khắc trên các cánh cửa kèm theo các đề tài liên quy (rùa trong ao sen), tùng lộc (cây tùng và con hươu)... Trong đình Tường Thụy còn có các khám thờ thuộc loại khám gian được sơn son thếp vàng lộng lẫy rất công phu.
CHƯƠNG XXXIII
GIÁO DỤC
A- KHÁI LƯỢC VỀ TRUYỀN THỐNG HỌC VÀ DẠY Ở HÀ NAM
Cũng như một số địa phương khác, Hà Nam có tiếng là miền đất hiếu học. Thời mới tự chủ, dưới các triều Ngô - Đinh - Lê, Hà Nam nằm ở vị trí giáp giới phía Bắc của kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình). Khi kinh đô dời chuyển về Thăng Long (Hà Nội) dưới triều Lý Công uẩn thì Hà Nam cũng lại trở thành phên giậu phía Nam của kinh thành. Nhiều năm dưới triều Hậu Lê, Hà Nam là nơi đặt lỵ sở của trấn Sơn Nam; đến thời Nguyễn - tính từ năm 1802, Hà Nam thuộc Hà Nội, nằm ở vị trí quan trọng trên con đường thiên lý Bắc - Nam. Vị thế trung tâm và gần kề các trung tâm văn hóa lớn suốt hơn 1.000 năm như thế, đã trở thành điều kiện khá thuận lợi cho việc học hành, thi cử của người Hà Nam. Nhìn chung, giáo dục Hà Nam tính đến trước năm 1945, có thể nói gọn ở hai điểm chính: một là, việc học theo khoa cử Nho học; hai là, việc học và dạy các nghề nghiệp thủ công, mỹ nghệ khác.
I. HỌC HÀNH THEO KHOA CỬ NHO HỌC
Suốt thời quân chủ, đi học - đi thi - đỗ đạt và làm quan, đó là con đường lý tưởng của kẻ sĩ. Muốn thoát cảnh nghèo hèn, muốn có vị trí trong xã hội thì tưởng như không có lối đi nào khác. Tất nhiên, cũng còn cách “bảo cử” và “tiến triều” - tức là chính sách cầu hiền của triều đình, nhưng con đường khoa cử vẫn đóng vai trò chính yếu nhất. Vấn đề là ở chỗ: Lấy gì để đi học? Học với ai? Học ở đâu? Và học như thế nào?
Như vậy, nói đến việc học thì cơ sở kinh tế vẫn đóng vai trò quyết định, nhà mà quá nghèo cũng khó lòng cho con cái ăn học. Hà Nam nằm gần như ở trọn trong trung thổ Bắc Bộ, giao thông thủy bộ thuận lợi, do vậy xét trong quá khứ lịch sử Hà Nam là vùng đất có kinh tế nông nghiệp khá mạnh. Đó chính là điều kiện để “nuôi thầy, dạy con”. Bằng chứng là có khá nhiều thầy đồ từ các vùng khác đến Hà Nam “ngồi chỗ” dạy học.
Đấy là xét về khách quan. Còn về điều kiện chủ quan thì ngay trong ý thức xã hội, kẻ sĩ đã được coi trọng, thậm chí được coi trọng ở vị trí hàng đầu trong tứ dân: Sĩ - Nông - Công - Thương. Việc này thể hiện trong các hương ước và trong các gia phong.
Hà Nam hiện còn 275 bản hương ước của các làng, một số lượng hương ước khá lớn ở một địa phương chỉ có 1 thị và 5 huyện. Thế mà trong 275 bản hương ước - lệ làng đó, hầu như bản nào cũng nói đến việc “khuyến học”, mà nói khá chi tiết. Thí dụ: bản hương ước của thôn Trần Thương (xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân) lập ngày mùng 4 tháng Chín năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) có đoạn ghi: “Nay bản thôn sau khi được hưởng chút Nho học của các bậc tiền bối, (...) nghĩ sâu xa rằng kẻ sĩ là đứng đầu trong dân, dân mà đối đãi với kẻ sĩ trọng, kẻ sĩ tất sẽ báo đáp. Không được khinh kẻ sĩ thuở gian khổ học hành thì sau này chuẩn mực của xóm làng, cái đức của muôn dân mới được dày, được đủ, khiến nho phong được trấn tác; người mà thông thấu kinh sử thì trong nhà có thứ tự, ngoài xã hội được thăng tiến, được hưởng văn vận, không phụ ý sùng Nho, trọng đạo của bản thôn”. Ngoài ra, bản lệ tục còn nói rõ những hình thức ưu đãi, thưởng phạt đối với kẻ theo nghiệp học. Kẻ đi học sẽ được miễn, giảm sưu dịch, thuế má; còn nếu “du đãng mà không chuyên tâm với việc học” thì không được miễn, giảm nữa.
Xem thế, đủ biết kẻ đi học rất được coi trọng ở các làng, xã Hà Nam. Ở trong từng gia tộc, việc này cũng được đề cao. Đã có không ít các gia đình, dù điều kiện có khó khăn cũng cố sức cho con ăn học “để được bằng người”, “để có cái chữ”, “để hiển thân dương danh”. Lâu dần, trải qua từ đời này đến đời khác, việc học trở thành nếp nhà, thành gia phong. Đã xuất hiện khá nhiều các gia tộc từ ông, cháu đến cha, con rồi anh, em cùng đỗ đại khoa; như các họ Bùi ở Châu Cầu (thị xã Phủ Lý), họ Nguyễn ở An Đổ (huyện Bình Lục), v.v...
Được sự động viên, khuyến khích của làng xã, của gia tộc, bản thân các Nho sinh cũng gắng sức học hành, tỏ ra “có chí”. Dân học Hà Nam vừa cần cù, vừa thông minh; nhưng cần cù, chăm chỉ vẫn là chính. Cái làm nên nghiệp học không chỉ dựa vào thông minh và tài hoa, hai yếu tố này người Hà Nam đều sẵn, nhưng cũng cần ngăn ngừa sự “láu lỉnh” và tự mãn. Chăm chỉ, kiên nhẫn vẫn là hai đức tính tạo nên sự thành công. Như Nguyễn Khuyến chẳng hạn. Con đường học hành thi cử của ông đã thành một tấm gương sáng cho các Nho sinh không chỉ ở riêng Hà Nam. Trước khi thành cụ Tam nguyên - đỗ đầu cả thi Hương, thi Hội, thi Đình, Nguyễn Khuyến đã phải trải qua đến 20 năm vật lộn nơi trường ốc, thi Hương đến 5 lần mới đỗ Cử nhân và thi Hội đến 3 lần mới đỗ Tiến sĩ. Có lẽ đó là một kỷ lục, một huyền thoại có thật về ý chí bền bỉ không ngừng trong khoa cử xưa nay. Nguyễn Khuyến vốn tên là Thắng, sau để tự rèn đúc ý chí, ông cải tên là Khuyến (chữ khuyến trong chữ Hán là có bộ lực ở bên cạnh), ngầm ý rằng phải dồn sức hơn nữa và không được nản chí. Lại nhớ rằng Nguyễn Khuyến đỗ đầu thi Hương ở trường Hà Nội, nhưng ông phải vào Phú Xuân để thi Hội. Trong bia đề danh Tiến sĩ của ông tại Văn miếu Huế, có dòng: “Cử nhân nhập Giám”, nghĩa là sau lần thi Hội trượt năm 1865, Nguyễn Khuyến lại tiếp tục dùi mài kinh sử ở Quốc tử giám Huế nhiều năm nữa. Một nho sĩ từ đất chiêm trũng Bình Lục vào Phú Xuân thi cử, rồi rèn chí học hành trong một thời gian dài như thế là điều không phải ai cũng làm được.
Khoa cử Nho học nghiêm và chặt, đỗ đạt được ví như “cá vượt vũ môn”. Giỏi như Phan Huy Chú, tài hoa như Trần Tế Xương mà thi mấy lần cũng chỉ đỗ Tú tài. Trong gần 5 thế kỷ, người Hà Nam có hơn 50 Tiến sĩ, có những gương học hành nổi tiếng. Tất cả đã tạo nên học phong tốt đẹp, thành truyền thống hiếu học cho cả một vùng đất.
Từ đường Nguyễn Khuyến đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, nhiều năm nay là địa điểm du lịch thu hút du khách.
II. HỌC VÀ DẠY CÁC NGHỀ NGHIỆP KHÁC
Bên cạnh khoa cử, người Hà Nam còn học khá nhiều các nghề nghiệp khác, từ nghề thủ công như làm trống, dệt tơ, nghề rèn đúc, v.v... đến các nghề nghiệp mang tính nghệ thuật như nghề hát Chầu văn, hát Ả đào, hát Dậm, v.v... Mà nghề nào cũng xuất hiện những tổ sư, những ông bà trùm, những nghệ nhân và cũng phát đạt thành làng nghề, thành gia nghệ truyền đời cho đến tận thời hiện tại. Nghề làm trống ở Đọi Tam (xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên) là như vậy. Sư tổ của nghề này là Nguyễn Đức Năng, sinh năm 925, mất năm 990. Ông nổi tiếng đến mức dân gian phong cho là Trạng - Trạng Sấm, ý nói trống do ông làm ra tiếng vang dậy, to như tiếng sấm. Làm trống chỉ cần hai vật liệu cơ bản là gỗ mít và da trâu, vấn đề là lựa gỗ, xẻ uốn gỗ và ngâm thuộc, căng nạo da trâu. Người theo nghề đòi hỏi phải có sức khỏe, sức chịu đựng và sự dẻo dai, khéo léo và phải là nam đinh. Còn đòi hỏi cả một chút tâm linh nữa. Người làm trống cũng phải thổi vào đấy cả phần hồn trong sáng của mình. Có thế bụng trống mới rỗng, tiếng trống mới vang. Truyền rằng trống của tổ Nguyễn Đức Năng được dùng nhân dịp rước đón Lê Hoàn về cày ruộng tịch điền ở Đọi Sơn vào mùa xuân năm 987. Khi đó Nguyễn Đức Năng tuy đã ngoài 60 tuổi, nhưng chắc chắn ông cùng các môn đồ nghề trống đã tự tay hành nghề. Lại truyền rằng khi Lý Công uẩn dời đô về Thăng Long năm 1010 thì trống Đọi Tam cũng được chọn dùng trong đoàn rước chào. Nghe nói nhà vua rất khen ngợi và còn cho người đưa lên kinh làm trống, có lẽ đó là khởi thủy của phố Hàng Trống (Hà Nội). Ở Hàng Trống hiện nay còn ít người làm nghề trống, nhưng nghề trống ở quê gốc Đọi Tam thì vẫn tồn tại suốt 1.000 năm nay. Đã trải bao đời thầy và bao nhiêu môn sinh, nghề trống Đọi Tam vẫn tồn tại. Sau khi nhà nước bỏ lệ đốt pháo vào dịp Tết âm lịch, trống Đọi Tam được thế chỗ gióng lên hào sảng vào lúc giao thừa, và dân làng này cũng đang háo hức chuẩn bị hàng trăm chiếc trống nhân dịp Thăng Long - Hà Nội kỷ niệm 1.000 năm tuổi.
Một nghề nữa cũng được truyền dạy, học hành và phát đạt từ đời Trần đến nay. Đó là nghề dệt lụa ở thôn Nha Xá (xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên). Nghề này tôn vinh Trần Khánh Dư - một tông thất nhà Trần mà tên tuổi cũng đã khá quen thuộc - làm sư tổ. Khánh Dư sau cuộc bình Nguyên - Mông, có công lao, được phong ấp ở vùng Nha Xá. Đầu tiên ở vùng này người dân có nghề vớt cá bột sông Hồng bằng những dụng cụ hết sức thô sơ, làm ăn vất vả. Khánh Dư dạy cho dân cách dệt săm vặn làm vợt và chỉ với một “cải tiến” như thế nghề cá bột Nha Xá trở nên phát đạt, khá giả. Từ dệt săm làm vợt cá phát triển thành dệt lụa, nên ở vùng đã có câu phương ngôn “Lụa Nha Xá, cá Lảnh Giang”. Dệt lụa Nha Xá thành một nghề có tiếng. Trong Dư địa chí, Nguyễn Trãi từ thế kỷ XV đã viết: “The lụa xứ Sơn Nam bền, chắc, đẹp mà nổi tiếng”. Đến thế kỷ XVII, theo tài liệu của Công ty Đông Ấn (Hà Lan) thi trong những năm 1644 -1945, công ty này đã mua ở Đàng Ngoài đến 1565 tạ tơ. Trung tâm thương mại Đàng Ngoài lúc đó là Phố Hiến (“Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến”), mà Phố Hiến lúc đó chỉ cách Nha Xá một khoảng... là chiều ngang của mặt nước sông Hồng. Tuy vậy, người dệt lụa tơ Nha Xá vẫn không ngừng học hỏi. Khoảng những năm 1963 -  1967, dân Nha Xá cử người sang tận Pháp học hỏi, rồi cải tiến mẫu khung, kích thước theo đất dệt Hà Đông, rồi nhập thêm sợi từ Trung Quốc, Nhật Bản, v.v... Nay, Nha Xá có 197 hộ thì đã có 175 khung dệt, hầu như nhà nào cũng làm nghề; hàng năm bình quân Nha Xá dệt từ 300 - 350 nghìn mét lụa.
Hai ví dụ khá điển hình trên đây cho thấy nghề thủ công ở Hà Nam có truyền thống lâu đời, có sự học dạy truyền nối và ngày càng được phát huy. Học nghề đương nhiên không khó bằng học chữ. Nhưng cả hai nghiệp học đó đều đòi hỏi những ông thầy giỏi giang, mẫu mực, vì dân; cũng đều đòi hỏi những lớp học trò thông minh, mẫn cán và nhất là bền chí khổ luyện.
B - CÁC NHÀ KHOA BẢNG HÀ NAM
Một mảnh đất hiếu học, tất nhiên phải kết tinh ở những nhân vật đỗ đạt, mà là phải đỗ đại khoa, tức Tiến sĩ. Chưa có điều kiện để kiểm kê số liệu chính xác về số người đỗ Tiến sĩ đương đại, dưới đây chỉ viết về 53 vị đỗ Tiến sĩ và 3 vị đỗ Tạo sĩ (Tiến sĩ võ), tính từ người đỗ đầu tiên vào năm 1429 - Tiến sĩ Nguyễn Khắc Hiếu đến người đỗ cuối cùng vào năm 1910 - Phó bảng Bùi Kỷ (Thực ra, khoa cử thời quân chủ cũng chấm dứt vào 8 năm sau đó - năm 1918).
1. Nguyễn Khắc Hiếu (1400 - 1472)
Tự là Thuấn Thần. Sinh năm Canh Thìn (1400), mất năm Nhâm Thìn (1472).
Quê ở thôn Thanh Khê, xã Hòa Khê, huyện Bình Lục.
Đỗ đệ nhất giáp Tiến sĩ cùng khoa với Trình Thuấn Du (huyện Duy Tiên), ở khoa Minh kinh năm Kỷ Dậu niên hiệu Thuận Thiên thứ 2 (1429) đời Lê Thái Tổ. Làm quan đến chức Hàn lâm viện trực học sĩ, Nhập thị kinh diên. Từng đi sứ sang nhà Minh.
2. Trình Thuấn Du (1402 - 1481)
Tên thật là Trần Thuấn Du. Sau đổi là Trình Thuấn Du (vì kiêng tên húy mẹ vua Lê Thái Tông). Hiệu là Mật Liệu. Quê quán ở Tân Đội, Duy Tân nay là xã Đội Sơn, huyện Duy Tiên.
Ông đỗ khoa Minh kinh năm Kỷ Dậu niên hiệu Thuận Thiên thứ 2 (1429) đời Lê Thái Tổ.
Năm Quý Sửu (1433) được cử làm Chánh sứ sang nhà Minh. Ông làm quan đến Tuy lực đại phu nhập nội hành khiển, Hàn lâm viện thừa chỉ, Tri tam quán sự, kiêm khu mật viện sự, Nhập thị kinh diên, cùng Nguyễn Trãi tham gia hầu việc giảng dạy cho Thái tử.
3. Nguyễn Bảng (1419 - 1471):
Sinh ngày 12 tháng Sáu năm Kỷ Hợi (1419) tại xã Khang Thái, huyện Phù Vân, phủ Thường Tín, đạo Sơn Nam. Bố là Nguyễn Chiêu, mẹ là Mai Thị Tấn. Năm ông 19 tuổi, vua Lê Thái Tông (1434-1442) mở khoa thi, Nguyễn Bảng đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ (?). Ông được phong làm Thị tòng tham mưu rồi Hàn lâm viện kiêm thị giảng. Sau loạn Nghi Dân, ông cùng các vị đại thần nhà Lê có công đưa Lê Thánh Tông lên ngôi. Vua ban chức Tham tán, lo việc vận chuyển binh lương chinh phạt Chiêm Thành. Sau bình Chiêm, được về cai quản đạo Sơn Nam, hưởng thực ấp ở huyện Lỵ Nhân.
Ông bị bệnh chết năm 52 tuổi, được sắc phong là: “Đông Bảng đại vương”, lại gia tặng là: “Thông minh hùng lược tế trung đẳng thần”. Dân xã Đinh Xá nghênh rước sắc phong, hành lễ, tôn lập thần hiệu cùng thờ với Đông Hải, Đông Xứng (hai vị tướng thời Lý) thành tam vị đại vương tại ngôi đình thôn Đinh, xã Đinh Xá, huyện Bình Lục.
4. Hoàng Mông (1422 - 1506)
Quê xã Bằng Khê, huyện Thanh Liêm nay là thôn Bằng Khê, xã Liêm Chung, thị xã Phủ Lý. Sinh năm Nhâm Ngọ (1422), mất năm Bính Dần (1506).
Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ, xuất thân khoa Mậu Thìn niên hiệu Thái Hòa (1448) đời Lê Nhân Tông.
5. Hoàng Thuần (? - ?)
Quê xã Lạc Tràng, huyện Kim Bảng nay là thôn Lạc Tràng (thị xã Phủ Lý).
Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Quý Dậu niên hiệu Thái Hòa 11 (1453) đời Lê Nhân Tông. Làm quan, chức Tham chính.
6. Bùi Đạt (1433 - 1509)
Sinh năm 1433, người xã Tân Cốc, huyện Duy Tiên, phủ Lỵ Nhân, trấn Sơn Nam (nay là huyện Duy Tiên). Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Quý Dậu, năm Thái Hòa thứ 11 (1453), đời Lê Nhân Tông (1442-1459).
Ông tính cương trực, quyết đoán. Xuất thân hàn vi, nên khi hiển đạt, thường cứu giúp người nghèo, nâng đỡ kẻ sĩ cùng khổ.
Làm Tham chính thời Lê Thánh Tông. Ngoài 50 tuổi về dạy học ở quê, mất năm Kỷ Tỵ (1509).
7. Phạm Phổ (1438 - 1491)
Phạm Phổ (có sách chép là Phạm Lục) sinh năm Mậu Ngọ (1438), tại thôn Mai Động xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, phủ Lỵ Nhân, nay là thôn Mai Động xã Trung Lương, huyện Bình Lục. Bố ông trước là người ở xã Lê Xá (Hải Dương) sang lánh nạn ở thôn Mai Động sau đó lấy vợ và sinh con cái ở đây. Năm Quang Thuận thứ 4 khoa Quý Mùi (1463) đời Lê Thánh Tông, ông thi đỗ Tiến sĩ, sau đó lại thi đỗ khoa Hoành từ (1467), được vua ban chức Thị giảng, chuyên giảng sách cho Thái tử. Sau chuyển sang quan võ làm Chỉ huy sứ. Nhưng rồi bị bãi chức vì muốn đưa con cái vào cung để lo củng cố quyền vị. Ông lấy vợ ở thôn Khả Lôi, xã An Bài, huyện Bình Lục, phủ Lỵ Nhân (nay là thôn An Bài, xã Đồng Du, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam). Vì anh em xung khắc nên ông về sống ở quê vợ. Đến khi bị lụt lội, lại chuyển về Mai Động và mất tại đó năm Tân Hợi (1491).
8. Bùi Viết Lượng (1422 - 1531)
Nguyên quán xã Nham Lạng, huyện Ngự Thiên nay là xã Nham Lạng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
Trú quán xã Dũng Kim, huyện Nam Xương nay thuộc thị trấn Vĩnh Trụ, huyện Lý Nhân.
Đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Bính Tuất niên hiệu Quang Thuận 7 (1466), đời Lê Thánh Tông.
Làm quan đến chức Thượng thư. Năm 1471 được cử đi sứ nhà Minh. Sau về trí sĩ.
9. Nguyễn Tông Lan (1440 - 1512)
Quê xã Quang Thừa, huyện Kim Bảng (nay là thôn Quang Thừa, xã Tượng Lĩnh, huyện Kim Bảng). Sinh năm Canh Thân (1440), mất năm Nhâm Thân (1512).
Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Sửu niên hiệu Quang Thuận 10 (1469), đời Lê Thánh Tông. Làm quan, chức Thừa chính sứ. Ông là cha của Nguyễn Tông Mạo (Tiến sĩ khoa Ất Sửu, 1505).
10. Trần Bảo (1449 - 1529)
Quê xã Trần Xá, huyện Nam Xương nay thuộc huyện Lý Nhân. Tiên tổ vốn gốc ở Trần Xá, Đại An thuộc Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Sau khi sinh ông, do bị mất mùa nên cha mẹ đem ông về xã Mao Bích, Nam Xang, rồi định cư ở đây.
Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Sửu niên hiệu Quang Thuận thứ 10 (1469), đời Lê Thánh Tông.
Làm quan đến chức Công bộ Thượng thư, hàm Thiếu bảo, tước Quận công. Ông là viễn tổ của Tiến sĩ Trần Lương Bật ở Cổ Am, huyện Vĩnh Lại nay là thôn Cổ Am, xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
Khi ông làm quan, mới đem tài lực khai khẩn đất phía Đông xã, lập thành xã Trần Xá (lấy theo tên quê cũ ở Hải Phòng).
11. Dương Bang Bản (Lê Tung) (1451 - ?)
Quê làng An Cừ (nay thuộc xã Liêm Thuận, huyện Thanh Liêm). Ông sinh năm 1451, đỗ Hoàng giáp năm 1484 triều vua Lê Thánh Tông, được ban quốc tính, đổi là Lê Tung.
Đương thời, ông đảm đương nhiều chức vụ ngoại giao quan trọng: năm 1493 làm Phó sứ sang nhà Minh, năm 1499 được cử đi đón sứ bộ Trung Quốc, 1506 lại làm Chánh sứ. Năm 1509 ông phò Lê Tương Dực chống lại Lê Uy Mục thành công, được cử làm Thượng thư bộ Lễ hàm Thiếu bảo, tước Đôn thư bá, Đông các đại học sĩ, kiêm Quốc tử giám tế tửu, tri kinh diên sự. Là tác giả Việt giám thông khảo tổng luận (1514) nổi tiếng.
12. Nguyễn Kiện Hy (1470 - ?)
Quê huyện Duy Tân nay là huyện Duy Tiên.
Năm 27 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Bính Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 27 (1496), đời Lê Thánh Tông. Làm quan Hàn lâm viện thị độc, Phủ doãn Phụng Thiên. Chưa rõ năm mất.
13. Dương Đức Kỳ (1475 - 1564)
Còn có tên gọi là Dương Đức Thụy. Sinh năm Ất Mùi (1475), mất năm Giáp Tí (1564). Quê ở xóm Dĩ Hòa, xã Dĩ An, huyện Duy Tiên.
Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Kỷ Mùi niên hiệu Cảnh Thống thứ 2 (1499) đời Lê Hiến Tông. Làm Phủ doãn phủ Phụng Thiên.
14. Lê Đình Tưởng (1474 - ?)
Quê ở Cao Mật, huyện Kim Bảng nay là thôn Cao Mật, xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng.
Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Tuất niên hiệu Cảnh Thống thứ 5 (1502), đời Lê Hiến Tông.
Làm quan, chức Phó Đô ngự sử.
15. Trần Thì Vũ (1476 - ?)
Quê xã Phú Thứ, huyện Duy Tân nay là thôn Phú Thứ, xã Tiên Hiệp, huyện Duy Tiên.
Năm 26 tuổi, đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Ất Sửu niên hiệu Đoan Khánh thứ nhất (1505), đời Lê Uy Mục. Làm quan, chức Chính đoán sự.
16. Trần Tông Lỗ (1480 - 1570)
Quê xã Mỹ Đê, huyện Kim Bảng, nay là xã Tượng Lĩnh, huyện Kim Bảng. Đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Ất Sửu niên hiệu Đoan Khánh thứ nhất (1505), đời Lê Uy Mục. Làm quan đến Lễ bộ Tả thị lang.
17. Nguyễn Nghĩa Thọ (1480 - 1564)
Quê ở xóm Trại, xã Trinh Nữ, huyện Duy Tân nay là huyện Duy Tiên.
Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Thìn niên hiệu Đoan Khánh thứ 4 (1508) đời Lê Uy Mục. Làm quan, chức Tự khanh.
18. Trần Bích Hoành (1469 - 1550)
Có tài liệu ghi là Trần Hoành Bích, Trần Bích Hoành.
Quê ở xóm Tân Châu, xã Điền Xá, huyện Duy Tân, nay là huyện Duy Tiên.
Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Tân Mùi niên hiệu Hồng Thuận thứ 3 (1511) đời Lê Tương Dực, năm 42 tuổi (có tài liệu chép nhầm là đỗ năm 24 tuổi). Làm quan, chức Giám sát ngự sử.
19. Tạ Đình Huy (1474 - 1542)
Có sách chép là Tạ Đình Duy.
Quê xã Hồng Khê, huyện Duy Tân, nay là xã Yên Nam, huyện Duy Tiên. Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Tân Mùi niên hiệu Hồng Thuận thứ 3 (1511 ), đời Lê Tương Dực, năm 38 tuổi. Làm quan, chức Cấp sự trung.
20. Nguyễn Tông Mạo (1480 - 1551):
Có sách chép là Nguyễn Mạo. Quê xã Bất Đoạt, huyện Kim Bảng nay là thôn Bất Đoạt, xã Châu Sơn, huyện Kim Bảng. Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Tân Mùi niên hiệu Hồng Thuận thứ 3 (1511), đời Lê Tương Dực.
Con trai của Nguyễn Tông Lan (Tiến sĩ khoa Kỷ Sửu, 1469). Nguyễn Tông Mạo là người ưu thời mẫn thế, chán cảnh quan trường, không thiết tha với việc triều chính.
21. Nguyễn Sư Hựu (1500 - 1585)
Quê xã Cát Đàm, huyện Thanh Liêm nay thuộc xã Liêm Thuận, huyện Thanh Liêm. Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Quý Mùi niên hiệu Thống Nguyên thứ 2 (1523) đời Lê Cung Hoàng. Làm quan đến Lễ bộ Thượng thư, Thiếu bảo, Đông các đại học sĩ.
22. An Khí Sử (1506 - 1582)
Có sách chép là Ngô Khí Sử. Quê xã Nễ Độ, huyện Nam Xương, nay là thôn Nga Khê, xã Nguyên Lý, huyện Lý Nhân. Năm 24 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Sửu, niên hiệu Minh Đức thứ 3 (1529) đời Mạc Đăng Dung. Làm quan, chức Tự khanh, sau thăng Thị lang.
23. Phan Tế (1510 - 1575)
Quê xã Nhật Xá, huyện Duy Tân nay thuộc huyện Duy Tiên. Nguyên quán xã Nguyễn Xá, huyện Thạch Thất, Hà Tây (nay thuộc thôn Chàng, xã Thạch Xá cùng huyện). Năm 20 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Sửu niên hiệu Minh Đức thứ 3 (1529) đời Mạc Đăng Dung. Làm quan, chức Thừa chính sứ, tước Nam.
24. Phạm Đãi Đán (1518 - 1590)
Quê xã Lôi Hà, huyện Nam Xương, nay là xã Trác Văn, huyện Duy Tiên. Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Tuất niên hiệu Đại Chính thứ 9 (1538), đời Mạc Đăng Doanh. Làm quan, chức Công khoa đô cấp sự trung.
25. Trần Văn Bảo (1524 - 1586)
Có tài liệu chép Trần Văn Bảo sinh năm 1523, mất năm 1610. Nguyên quê gốc ở xã Cổ Chử, huyện Giao Thuỷ, nay là làng Dứa, xã Đồng Quang, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định; sau dời đến lập ấp ở thôn Phù Tải, xã Yên Đổ (nay thuộc xã Trung Lương), huyện Bình Lục, Hà Nam.
Năm 27 tuổi, đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên), khoa Canh Tuất (1550) niên hiệu Cảnh Lịch thứ 3, đời Mạc Phúc Nguyên. Từng làm Chánh sứ sang Trung quốc. Làm quan đến Thượng thư, tước Nghĩa quận công. Là cha của Tiến sĩ Trần Đình Huyên, em của Tiến sĩ Trần Văn Hòa.
26. Vũ Hoán (1524 - 1607)
Quê xã Hồng Khê, Duy Tân, nay là xã Yên Nam, huyện Duy Tiên. Đỗ Đệ nhị giáp đồng chế khoa xuất thân khoa Giáp Dần, niên hiệu Thuận Bình thứ 6 (1554) đời Lê Trung Tông. Làm quan, chức Tham chính, tước Nam.
27. Bùi Đình Tán (1532 - 1609)
Quê xã Phượng Lâu, huyện Nam Xương, phủ Lỵ Nhân nay thuộc huyện Lý Nhân. Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Bính Thìn, niên hiệu Quang Bảo thứ 2 (1556) đời Mạc Phúc Nguyên. Làm quan Cấp sự bộ Công, Thừa chính sứ.
28. Nguyễn Diễn (1543 - 1606)
Quê xã Văn Thái, Duy Tân nay là thôn Văn Thái, xã Bạch Thượng, huyện Duy Tiên. Năm 35 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Đinh Sửu, niên hiệu Sùng Khang thứ 12 (1577) đời Mạc Mậu Hợp. Làm quan đến chức Binh bộ hữu thị lang, sau theo nhà Lê, giáng xuống Tham chính.
29. Nguyễn Văn Tĩnh (1543 - 1622)
Quê xã Nễ Độ, huyện Nam Xương, nay thuộc huyện Lý Nhân. Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Đinh Sửu, niên hiệu Sùng Khang thứ 12 (1577), đời Mạc Mậu Hợp. Làm quan, chức Đề hình giám sát ngự sử.
30. Trần Ngọc Du (1613 - 1698)
Tự là Khoan Nghi, sinh ngày 23 tháng Mười năm Quý Sửu (1613) tại làng Phù Tải, An Đổ, Bình Lục phủ Lỵ Nhân (nay là thôn Phù Tải, xã Trung Lương, huyện Bình Lục). Bố là Trần Ngọc Lâm, nguyên gốc ở làng cổ Chử, huyện Giao Thủy, trấn Sơn Nam Hạ, nay thuộc Nam Định. Đỗ Tạo sĩ (tức Tiến sĩ võ), rồi được phong chức Thị hậu. Sau được phong tước Vinh Thọ hầu; lại được tặng phong Thượng tướng quân, Bắc quân đô đốc phủ thiêm sự, Sách quận công. Mất ngày 27 tháng Mười năm Mậu Dần (1698) niên hiệu Chính Hòa, được ban thụy là Liêm Cần.
31. Phạm Viết Tuấn (1631 - 1722)
Quê xã Lạc Tràng, huyện Kim Bảng nay là thôn Lạc Tràng, xã Lam Hạ (thị xã Phủ Lý). Năm 40 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Tuất niên hiệu Cảnh Trị thứ 8 (1670), đời Lê Huyền Tông. Làm quan, chức Giám sát ngự sử, vì có nhiều lời nói thẳng, nên bị dèm pha, trở thành đắc tội với triều đình. Sau khi mất, lại được phục chức.
32. Trần Ngọc Khuy (1649 - 1698)
Tự là Cẩn Độ, thụy là Đoan Phúc. Sinh ngày 12 tháng Ba năm Kỷ Sửu (1649), tại thôn Phù Tải, xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, phủ Lỵ Nhân (nay là thôn Phù Tải, xã Trung Lương, huyện Bình Lục). Bố là Trần Ngọc Du, mẹ là Hà Thị Hảo người thôn Vói Cầu, xã An Tập, cùng huyện. Đỗ Tạo sĩ (Tiến sĩ võ). Làm Tiền đô hiệu điểm, tước Gia trạch hầu, phong Đặc tiến phụ quốc, Thượng tướng quân, Tham đốc thần vũ tự vệ quân sự vụ. Mất ngày 29 tháng Hai năm Mậu Dần (1698).
33. Trương Công (1665 - 1728)
Sau đổi là Trương Công Giai (hay Khải). Sinh năm Ất Tị (1665), trú sở Thiên Kiện, nay là xã Thanh Tâm, huyện Thanh Liêm. Năm 21 tuổi đỗ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Ất Sửu (1685) niên hiệu Chính Hòa thứ 6, đời Lê Hy Tông. Năm 1707 được phong Công bộ hữu thị lang. Năm 1711, lại giữ chức Phó đô ngự sử. Năm 1718 Trương Công Giai được cử đi chấm thi, duyệt quyển kỳ thi Hương. Năm 1720 được ban tước Quận công. Năm 1724 đời vua Lê Dụ Tông, bị giáng chức Hình bộ thượng thư xuống làm Lại bộ tả thị lang. Năm Bính Ngọ (1726), lại phục chức Hình bộ thượng thư. Ngày 8 tháng Hai năm Mậu Thân  (1728), Trương Công Giai mất, được truy phong hàm Thiếu bảo.
34. Nguyễn Công Thành (1662 - ?)
Người làng Dưỡng Hòa, huyện Duy Tân (nay là thôn Dưỡng Mông, xã Tiền Phong, huyện Duy Tiên). Đỗ Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn (?) niên hiệu Chính Hòa thứ 13, đời Lê Hy Tông (1692).
35. Trương Minh Lượng (1636 - 1712)
Tên húy là Trường, thụy là Thanh Cần. Sinh năm Bính Tí (1636), mất năm Nhâm Thìn (1712). Quê xã Ngô Xá huyện Duy Tân, nay là thôn Ngô Trung, xã Tiên Nội, huyện Duy Tiên. Năm 35 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Thìn niên hiệu Chính Hòa thứ 21 (1700) đời Lê Hy Tông. Làm quan, chức Tự khanh. Trương Minh Lượng là con rể ông Hoàng Công Trí (Tiến sĩ năm 1670, làm quan đến Lại bộ thượng thư). Vợ ông Lượng là bà Hoàng Thị Huệ, hai ông bà có một người con gái là Trương Thị ích - bà ích là vợ Tiến sĩ Lê Phú Thứ ở Duyên Hà, Thái Bình, sinh ra nhà bác học Lê Quý Đôn. Trương Minh Lượng là ông ngoại của Lê Quý Đôn.
36. Trần Ngọc Cấp (1684 - 1748)
Tự là Trung Tín. Sinh ngày 19 tháng Tư năm Giáp Tí (1684), tại thôn Phù Tải, xã An Đổ, huyện Bình Lục, phủ Lỵ Nhân (nay là thôn Phù Tải, xã Trung Lương, huyện Bình Lục), là hậu duệ của Tiến sĩ Trần Văn Bảo. Bố là Trần Ngọc Khuy, mẹ là Nguyễn Thị Trinh Khiết. Thi đỗ Tạo sĩ (Tiến sĩ võ) thời Hậu Lê. Làm chức Chi thụ chánh đội trưởng. Sau được phong Thủy dụ bá. Mất ngày 17 tháng Mười năm Mậu Thìn (1748).
37. Nguyễn Quốc Hiệu (1696 - 1772)
Quê ở thôn Cái Thửa, xã Phú Thứ, huyện Duy Tân, phủ Nam Xang (nay là thôn Phú Thứ, xã Tiên Hiệp, huyện Duy Tiên). Năm 41 tuổi đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ tam danh (Thám hoa) khoa Bính Thìn niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 2 (1736), đời Lê Ý Tông. Làm quan, chức Hiến sát sứ.
38. Nguyễn Tông Mại (1706 - 1761)
Sinh năm Bính Tuất (1706) tại thôn Vị Hạ, xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, phủ Lý Nhân (nay là thôn Vị Hạ, xã Trung Lương, huyện Bình Lục), là hậu duệ của Quang Lượng Hầu, một võ tướng thời nhà Mạc. Tiến sĩ Nguyễn Tông Mại tên thật là Điều, hiệu là Thận Trực, thụy là Phụng Chính, là tổ phụ thi hào Nguyễn Khuyến. Đời Lê Ý Tông, niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 2 khoa Bính Thìn (1736) ông đỗ Tiến sĩ, được nhận chức Hàn lâm viện đại chế. Rồi làm Tri phủ Khoái Châu (Hưng Yên), được thăng làm Hiến sát sứ Thanh Hoa (Thanh Hóa). Mất ngày 14 tháng Hai năm Tân Tị (1761). Nguyễn Tông Mại là người thanh liêm, chính trực, giỏi thơ văn, có tập Nam chân dật ký còn truyền lại; thi hào Nguyễn Khuyến chịu ảnh hưởng nhiều cốt cách và thơ văn ông.
39. Nguyễn Kỳ (1715 - 1787)
Sinh năm Ất Mùi (1715) (có sách chép sinh năm 1718) tại xã An Lão, tổng Mai Động, huyện Bình Lục, phủ Lý Nhân. Năm 31 tuổi (1745) niên hiệu Cảnh Hưng thứ 5, đỗ thủ khoa thi Hương. Năm 34 tuổi, khoa Mậu Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 9 (1748) đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Được bổ nhiệm làm Án sát Sơn Tây. Vài năm sau, thăng bổ làm Tổng đốc Tuyên Quang. Ngoài 50 tuổi, được phong Đông các điện đại học sĩ kiêm Quốc tử giám tế tửu, tước Mai Phong bá.
40. Lý Trần Thản (1721 - 1776)
Quê ở Lê Xá, xã Châu Sơn, huyện Duy Tiên. Sinh năm Tân Sửu (1721), đỗ Tam trường đời Lê Cảnh Hưng thứ 4. Làm Tri huyện Phú Xuyên 21 năm. Ông là con rể của Bảng nhãn Lê Quý Đôn. Năm Cảnh Hưng thứ 27, được phong tước hầu, chức Hữu thị lang. Năm 48 tuổi Lý Trần Thản đỗ Tiến sĩ. Được phong Tuy viễn hầu, Thượng thư bộ binh.
41. Bạch Đông Ôn (1811 - 1881)
Tự là Hòe Phủ, quê ở xã Lạc Tràng, Kim Bảng cũ, sau thuộc xã Lam Hạ, huyện Duy Tiên (nay thuộc thị xã Phủ Lý). Bạch Đông Ôn đỗ Hoàng giáp năm 25 tuổi, niên hiệu Minh Mạng thứ 16 (1835). Trước sau chỉ giữ một chức quan bậc trung, tính tình cương trực, điềm đạm. Năm 1847, khi đang làm Lang trung bộ Lễ, vì bị ốm, ông dâng sớ xin nghỉ về quê chữa bệnh. Vua Thiệu Trị vốn không ưa, cho rằng ông thoái thác việc triều đình, giáng chức xuống làm Chủ sự, rồi bắt phải về nghỉ khi mới 36 tuổi. Khi Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ, ông cùng một số sĩ phu mưu tính khởi nghĩa, nhưng việc bại lộ, bị giặc bắt. Được tha về, ông chán nản, quay lại cuộc sống ẩn dật. Khi Bạch Đông Ôn mất (1881), vua Tự Đức có viếng bốn chữ: “Thanh bạch vi thủ” (Thanh bạch làm đầu) và truy tặng sắc “Diên thọ quận công”. Bạch Đôn là con trai trưởng Bạch Đông Ôn, đi thi Hương chỉ 2 lần đỗ Tú tài, mở trường dạy học ở phố Hàng Đào. Sau tham gia Đông kinh nghĩa thục, thêu cờ “Trượng nghĩa Bình Tây". Mưu sự chưa thành, bị giặc Pháp bắt. Khi được thả, Bạch Đôn đi các chùa ẩn dật, sống đến năm 72 tuổi. Bạch Đông Ôn có 50 bài thơ in chung với Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Văn Lý trong Danh nhân thi tập. Trong Hòe Phủ thi tập có 70 bài vịnh cảnh, tả người, dạy con cháu... Ngoài thơ, Bạch Đông Ôn còn viết nhiều câu đối và văn xuôi.
42. Vũ Văn Lý (1809 - 1879)
Quê xã Vĩnh Trụ, huyện Nam Xương, tỉnh Hà Nội (nay là thị trấn Vĩnh Trụ, huyện Lý Nhân). Đỗ cử nhân khoa Canh Tý (1840). Năm 33 tuổi đỗ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Tân Sửu, niên hiệu Thiệu Trị thứ nhất (1841). Làm quan, chức Quốc Tử giám tế tửu. Sau cáo quan về quê dạy học. Ông là cha của Phó bảng Vũ Văn Báo và Cử nhân Vũ Văn Nghị, là thầy dạy cua Tam nguyên Nguyễn Khuyến và Tiến sĩ Vũ Hữu Lợi.
43. Đinh Gia Hội (1811 - ?)
Quê xã Ngô Xá, huyện Duy Tiên (nay là thôn Ngô Xá, xã Tiên Nội, huyện Duy Tiên). Đỗ Cử nhân khoa Quý Mão (1843). Năm 38 tuổi đỗ Phó bảng Ân khoa Mậu Thân, niên hiệu Tự Đức thứ nhất (1848). Làm Tri phủ Từ Sơn (Bắc Ninh).
44. Trần Huy Côn (1816 - ?)
Quê xã Thiên Bản, huyện Thiên Bản, tỉnh Nam Định (nay là thôn Vũ Bản, xã Vũ Bản, huyện Bình Lục). Đỗ Cử nhân khoa Bính Ngọ (1846). Năm 34 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Dậu, niên hiệu Tự Đức thứ 2 (1849). Làm quan, chức Thị giảng học sĩ.
45. Vũ Duyên (Vũ Văn Diên) (1830 - 1902)
Quê làng Lạc Tràng, huyện Kim Bảng, sau thuộc xã Lam Hạ, huyện Duy Tiên (nay thuộc thị xã Phủ Lý). Thi đỗ Tiến sĩ năm Nhâm Tí (1852) đời vua Tự Đức khi ông mới 20 tuổi và đã được ban mũ áo, chờ vinh quy. Nhưng trong triều lúc đó có kẻ nịnh thần và trong số sĩ tử có kẻ đố kị với ông, tâu với triều đình, nhà vua đòi nghe lại văn sách. Trong văn sách của ông lại có ý chủ trương đánh Pháp, không chịu giảng hòa nên không hợp ý triều đình. Có một giám khảo người Nghệ lại đọc trọ trẹ câu văn sách của ông là: “Cát tai hoàng khảo” thành ra “Cặt tai hoàng khảo” có nghĩa là “cắt tai vua cha”. Vua cho là lời lẽ mạn thượng nên phạt, lột mũ áo Tiến sĩ, giáng xuống sĩ nhân. Đến khoa Nhâm Tuất (1862) ông đổi tên là Vũ Văn Diên, đi thi Hương lại, trúng ngay Cử nhân, rồi được tuyển bổ chức Huấn đạo huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định. Sau được cử thay Tri huyện. Ông không dám tiếp tục thi Hội, sợ lộ tung tích. Ông sống liêm khiết và thương dân. Làm quan hơn 3 năm thì 2 năm liền huyện bị thiên tai, hết bão đến lụt, dân cơ cực đói rét, ông đã bỏ tiền nhà và vận động dân trong huyện “lá lành đùm lá rách” tổ chức cứu tế giúp dân phần nào đỡ đói khổ. Tiếp đến, thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ, triều đình nhà Nguyễn đầu hàng. Lại nhân dịp cụ cố mất, ông xin từ quan, trở về quê hương cư tang rồi dạy học và nghiên cứu thuốc chữa bệnh. Học trò của ông thành đạt khá nhiều, làm huân đạo, tri huyện, án sát, ngự sử, như ông Phó bảng Vũ Duy Tuân ở Lạc Tràng, cháu gọi ông bằng chú ruột... Ông là bạn học với anh em Tiến sĩ Dương Khuê, Dương Lâm ở Vân Đình, Hà Đông. Ông mất khoảng năm 1902, thọ 72 tuổi. Các môn sinh xa gần đã góp tiền tậu một mẫu đất để làm vườn và xây nhà thờ. Mặt trước nhà thờ có đắp nổi 3 chữ “Song Nhâm Đường” tức là thờ cụ Song Nhâm (ông thi hai khoa Nhâm, khoa đầu Tiến sĩ, khoa sau Cử nhân).
46. Bùi Văn Dị (1833 - 1895)
Hiệu Tốn Am, Hải Nông và Châu Giang; tự là Ân Niên. Quê ở xã Châu Cầu, huyện Kim Bảng, (nay thuộc thị xã Phủ Lý). Sinh ngày 17-5-1833 (tức 28 tháng Ba năm Quý Tị) trong một gia đình nho học (cụ thân sinh là Bùi Văn Hy đỗ Tú tài thời Minh Mạng). Năm 1855 đỗ Cử nhân và sau đó một năm (1856) ông mới vào Huế dự thi Hội, thi Đình và đạt học vị Phó bảng cùng người em họ con ông chú ruột là Bùi Văn Quế. Sau đó lần lượt được bổ làm Tri huyện Lang Tài, Việt Yên, Yên Dũng thuộc tỉnh Bắc Ninh; làm Án sát Ninh Bình, rồi sung vào Nội các. Năm 1876 ông được cử làm Chánh sứ, đi sứ nhà Thanh. Cuối năm 1878, ông lại được sung vào Nội các, lại được cử làm Duyệt quyển thi Hội, thi Đình lần thứ 2. Năm 1881, làm đại thần quản lý Nha thương bạc. Tiếp ngay năm sau, quân Pháp mở rộng xâm lược đánh chiếm Bắc Kỳ, ông đã dâng sớ đề nghị kiên quyết chống đánh và được cử giữ chức Khâm sai phó kinh lược sứ Bắc Kỳ, đã trực tiếp chỉ huy trận đánh ngày 27 và 28-3-1883 chặn quân Pháp lấn ra ngoại vi Hà Nội. Ông được cử làm Tham tán quân thứ Bắc Ninh tức là làm tham mưu cho đạo quân Bắc Ninh. Việc nhà Nguyễn ký hàng ước 25-8-1883 làm cho ông suy sụp tinh thần đến phát bệnh và là cái cớ để không nhận chức Tổng đốc Ninh Thái, cùng lúc với Nguyễn Khuyến cũng từ chối chức Tổng đốc Sơn Tây, ông về ở ẩn tại Thanh Hóa. Song đến đầu năm Kiến Phúc (1884) ông được triệu về làm “Nhật giảng quan”, để giảng sách cho vua Kiến Phúc, rồi vua Hàm Nghi. Sau đó ông bị ốm phải về dưỡng bệnh tại Hải Quật, Yên Định, Thanh Hóa năm 1885. Cuối năm 1887 ông lại được gọi về triều làm Phụ chính đại thần. Trong dịp này ông đã được truy phục học vị Tiến sĩ khoa Ất Sửu (1865). Năm 1890, ông đã từ chức Thượng thư bộ Lại và Phụ chính đại thần, chỉ giữ chức Phụ đạo đại thần kiêm Phó tổng tài Quốc sử quán. Thơ văn của ông được hợp tập trong các tác phẩm: Vạn lý hành ngâm, Du hiên thi thảo, Tốn Am thi sao, Trĩ chu thù xướng tập...
47. Bùi Văn Quế (1837 - 1913)
Bùi Văn Quế là người xã Châu Cầu, huyện Kim Bảng (nay thuộc thị xã Phủ Lý). Ông đỗ Cử nhân khoa Giáp Tí, niên hiệu Tự Đức thứ 17 (1864). Tiếp đó năm Ất Sửu (1865) đỗ Phó bảng, đồng khoa với người anh con bác là Bùi Văn Dị. Năm 1868 nhậm chức Tri huyện Cẩm Giàng, Hải Dương. Năm Nhâm Thân (1872) thăng chức Đồng tri phủ, nhưng vẫn trị nhậm huyện cũ. Năm Ất Hợi (1875) đổi về làm quan trong bộ Hộ. Năm Kỷ Mão (1879) ông được thăng chức Thị lang bộ Hộ. Năm 1880 ông là quan duyệt quyển chấm thi Tiến sĩ. Đầu năm Tân Tị, niên hiệu Tự Đức thứ 34 (1881) được thăng chức Tham tri bộ Hộ, đến tháng 3 năm ấy nhậm chức Tuần phủ Nam - Ngãi - Thuận - Khánh (Quảng Nam, Quang Ngãi, Bình Thuận, Khánh Hòa).
48. Vũ Duy Tuân (1840 -1915)
Sinh năm Canh Tí (1840), quê ở làng Lạc Tràng, huyện Kim Bảng sau là làng Lạc Tràng, xã Lam Hạ, huyện Duy Tiên (nay thuộc thị xã Phủ Lý). Đỗ Cử nhân năm Đinh Mão (1867), đỗ Phó bảng năm Mậu Thìn, niên hiệu Tự Đức thứ 21 (1868). Năm 29 tuổi được bổ làm quan Ngự sử, nên về sau thường gọi là ông Ngự Lạc Tràng. Tính ông quả cảm, cương trực, các quan triều thần đều kính phục, nể vì. Nhân một lần dâng sớ can vua Tự Đức đại ý: Không nên vì quá chăm sóc mẹ già mà quên việc nước đang cấp bách, nhà vua giận quá, châu phê vào bên câu này bốn chữ “Tiến sĩ bất đệ". Bốn chữ có ý nghĩa mỉa họ Vũ: Tiến sĩ cũng không đỗ được còn làm nên trò trống gì mà cứ hay chỉ trích! Ngự sử liền dâng sớ xin nghỉ.
49. Lê Văn Mai (1843 - 1886)
Người làng Vĩ Khánh, xã Liêm Túc, huyện Thanh Liêm. Đỗ Tiến sĩ khoa Mậu Thìn, niên hiệu Tự Đức thứ 21 (1868), được bổ làm quan Ngự sử, nên gọi là Ngự Mai. Ngày 15 tháng 3 năm 1874, triều đình nhà Nguyễn ký “Hiệp ước hòa bình và liên minh”, thực chất là hiệp ước đầu hàng giặc Pháp. Ông tức giận bỏ về quê, chiêu mộ nghĩa binh, rèn đúc vũ khí rồi theo Đinh Công Tráng đánh Pháp. Ông trở thành cánh tay đắc lực của Đinh Công Tráng. Chiến khu rừng Tràng (Thanh Liêm) bị vỡ, ông cùng Đinh Công Tráng vào Ba Đình (Thanh Hóa). Trong một trận chiến đấu ác liệt, cuối năm 1886, ông đã hy sinh anh dũng. Sau đó nghĩa quân đưa thi hài ông về quê an táng.
50. Vũ Văn Báo (1841 - ?)
Quê ở Vĩnh Trụ, huyện Nam Xương tỉnh Hà Nội, nay là thị trấn Vĩnh Trụ, huyện Lý Nhân. Con của Tiến sĩ Vũ Văn Lý. Đỗ Cử nhân khoa Đinh Mão (1867), đỗ Phó bảng khoa Mậu Thìn, niên hiệu Tự Đức thứ 21 (1868). Làm quan trải các chức: Tổng đốc Định - An, Tam Tuyên, Phó sứ sang Pháp, về quê, bị nghĩa quân chống Pháp ở Nam Định giết.
51. Vũ Duy Vĩ (1835 - ?)
Quê xã Bài Nhiễm, huyện Duy Tiên, nay thuộc xã Bạch Thượng, huyện Duy Tiên. Đỗ Cử nhân khoa Giáp Tí (1864). 35 tuổi đỗ Phó bảng khoa Kỷ Tị, niên hiệu Tự Đức thứ 22 (1869). Làm quan án sát Quảng Bình, sung Trường vụ Thừa Thiên. Khi về lỵ sở, không phục mệnh vua nên bị cách, sau phục chức Điển tịch.
52. Nguyễn Khuyến (1835 - 1909)
Nguyên có tên là Nguyễn Văn Thắng, hiệu Quế Sơn, tự Miễn Chi. Sinh ngày 15-2-1835 (tức ngày 18 tháng Giêng năm Ất Mùi). Cụ bốn đời Nguyễn Khuyến là Nguyễn Tông Mại, đỗ Tiến sĩ, làm quan đến Hiến sát sứ Thanh Hóa. Ông thân sinh nhà thơ là Nguyễn Liễn, vẫn theo đòi nho học, đỗ ba khoa Tú tài, chuyên nghề dạy học ở xứ vườn Bùi. Mẹ Nguyễn Khuyến là Trần Thị Thoan, quê làng Văn Khê, tục gọi là làng Ngòi, nay thuộc xã Yên Trung, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Khoa thi 1864 đỗ Cử nhân đầu trường Hà Nội. Tiếp theo ông thi Hội các khoa 1865, 1868 đều bị trượt. Ông ở lại Huế, vào học Quốc tử giám, ân khoa năm 1869 lại trượt. Cho đến khoa năm 1871, mới liên tiếp đỗ đầu thi Hội, thi Đình, khi đã 37 tuổi. Đầu tiên, ông được bổ làm Sử quán trong triều; năm 1873, ra làm Đốc học Thanh Hóa, rồi thăng nhanh lên Án sát tỉnh. Năm 1874, ông phải mang quân chặn quân khởi nghĩa (mà sử cũ gọi là lệ phỉ) phạm vào tỉnh Thanh ở vùng Tĩnh Gia, Nông Cống, đúng lúc ấy bà mẹ ông mất. Ông phải nghỉ ba năm về quê cư tang mẹ. Hết tang, ông vào triều giữ chân Biện lý bộ Hộ. Năm 1877 lại ra làm quan, giữ chức Bố chính Quảng Ngãi. Rồi làm Toản tu ở Sử quán, từ 1879 đến 1883. Năm 1883, quân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai. Rồi Tự Đức chết (19-7-1883), triều Nguyễn phải ký hiệp ước Harmand ngày 25 tháng 8 năm 1883. Nguyễn Khuyến đã được cử làm Phó sứ sang Mãn Thanh.
Ông đã ra Bắc, nhưng chuyến đi sứ ấy bị bãi. Ông lấy cớ đau yếu, xin tạm về quê dưỡng bệnh, thì trung tuần tháng 12 năm 1883, triều Nguyễn cử ông làm Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên, song ông không chịu đến nhận chức, mà chính thức cáo quan về nghỉ khi mới 50 tuổi, ông mất ngày 5-2-1909 (tức 15 tháng Giêng năm Kỷ Dậu). Tác phẩm để lại: Quế Sơn thi tập; Yên Đổ Tam nguyên quốc âm thi tập.
53. Trần Huy Liễn (1834 - ?)
Quê xã Xuân Khê, huyện Nam Xương, tỉnh Hà Nội, nay là thôn Xuân Khê, xã Xuân Khê, huyện Lý Nhân. Đỗ Cử nhân khoa Mậu Dần (1878). Năm 46 tuổi, ông đỗ Phó bảng khoa Kỷ Mão niên hiệu Tự Đức thứ 32 (1879). Làm quan thị giảng, sau cáo quan về quê nghỉ.
54. Nguyễn Hoan (1858 - 1908)
Quê xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, nay là thôn Vị Hạ, xã Trung Lương, huyện Bình Lục. Ông là con của Tam nguyên Nguyễn Khuyến. Mẹ là Trần Thị Xuân, quê làng Phù Tải, xã Yên Đổ, cùng huyện. Đỗ cử nhân khoa Giáp Thân (1884). Năm 32 tuổi đỗ Phó bảng khoa Kỷ Sửu, niên hiệu Thành Thái thứ nhất (1889). Làm quan tri phủ Lỵ Nhân, sau đó làm Đốc học Hải Dương. Mất năm Mậu Thân (1908).
55. Bùi Thức (1859 - 1915)
Hiệu là Chuyên Tôn, tự là Khanh Dật, thụy là Khuê Thần, sinh năm Kỷ Mùi (1859), là con trưởng Phó bảng Bùi Văn Quế. Đỗ cử nhân khoa Bính Tuất (1886), đỗ Tiến sĩ đệ tam giáp khoa Mậu Tuất (1898), niên hiệu Thành Thái thứ 10, lúc 40 tuổi. Theo gương cụ thân sinh, ông không chịu ra làm quan, mở trường dạy học và viết sách. Học trò ông nhiều người thành đạt, có tên tuổi, như Cử nhân Văn Lâm, người Hà Nam; Cử nhân Phan Duy Tiếp, người Sơn Tây. Đặc biệt có người trưởng tràng là Kép Trà Hoàng Thụy Phương, nhà thơ trào phúng nổi tiếng đương thời. Ông có nhiều con trai, con gái, đều được dạy dỗ theo nho học và đều đỗ đạt; 3 con trai: Bùi Kỷ đỗ Phó bảng, Bùi Khải, Bùi Lương đỗ Cử nhân. Một bà con gái lấy ông Trần Trọng Kim (1882 - 1953) là học giả và nhà hoạt động xã hội. Bùi Thức mất ngày 28 tháng Mười một năm Giáp Dần (13-1-1915), thọ 56 tuổi. Bùi Thức còn để lại cuốn Bắc Kỳ giang sơn cổ tích danh thắng bị khảo (Khảo về những danh thắng, cổ tích núi sông ở Bắc Kỳ), hiện còn lưu giữ ở thư viện nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội (ký hiệu VHv.23-72).
56. Bùi Kỷ (1888 - 1960)
Bùi Kỷ (tên chữ là Ưu Thiên, hiệu Tử Chương) là con trưởng Tiến sĩ Bùi Thức, là anh ruột hai Cử nhân: Bùi Khải, Bùi Lương; từ nhỏ được cha dạy chữ Nho; đồng thời ông cũng tìm học ở các thầy tân học về quốc ngữ và Pháp văn. Đi thi lần đầu đã đỗ Cử nhân (1909). Năm sau vào Huế thi Hội và thi Đình, ông đỗ Phó bảng khi mới 24 tuổi nhưng không ra làm quan. Năm1912, Nhà nước bảo hộ Pháp chọn cử Bùi Kỷ sang Pa-ri học trường thuộc địa. Hai năm học ở đây ông có điều kiện tiếp xúc với các nhà cách mạng trong đó có Phan Chu Trinh. Về nước, ông vẫn không chịu ra làm quan, chỉ chuyên dạy học, viết sách.
Từ năm 1917 đến trước Cách mạng tháng Tám 1945, gần 30 năm chuyên dạy hai môn Hán văn và Việt văn bậc trung học, ông dạy theo hình thức hợp đồng với các trường công (trường Bảo hộ) và dạy các trường tư ở Hà Nội như Thăng Long, Văn Lang. Ngoài công việc của nhà giáo, ông còn tham gia những hoạt động văn hóa, xã hội như phong trào truyền bá quốc ngữ, các hoạt động văn hóa cứu quốc trước năm 1945. Tổng khởi nghĩa đến, ông đã hòa mình vào cuộc Cách mạng tháng Tám của toàn dân tộc, lúc ấy ông đã gần 60 tuổi. Sau quá nửa đời người băn khăn, trăn trở vẫn giữ được cốt cách cứng cỏi, thanh bạch, vẫn tìm được cách sống có ích cho văn hóa dân tộc.
Trong kháng chiến chống Pháp, ông là thành viên của chính quyền Hà Nam và Liên khu Ba, là Uỷ viên uỷ ban Kháng chiến Hành chính Liên khu, Chủ tịch Hội Liên Việt tỉnh Hà Nam. Năm 1946 được Hồ Chủ tịch cử làm Phó ban lãnh Thanh toán nạn mù chữ, sau làm Trưởng ban Bình dân học vụ toàn quốc, là thành viên của Chính phủ. Năm 1954, hòa bình lập lại ông là uỷ viên Chủ tịch đoàn ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, uỷ viên Uỷ ban Bảo vệ hòa bình thế giới, Hội trưởng Hội Việt - Trung hữu nghị. về Văn học, ông đã tham gia hiệu đính, giới thiệu biên khảo một loạt các tác phẩm cổ điển Việt Nam như Truyện Kiều, truyện Phan Trần, Trinh Thử, Trê Cóc, Lục súc tranh công, Hoa điểu tranh năng... tham gia dịch thơ chữ Hán của Nguyễn Du, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi... tham gia dịch Tam Quốc chí diễn nghĩa, Hồng Lâu Mộng v.v... Ông đã để lại bài Thân thế luận nổi tiếng.
C- GIÁO DỤC HÀ NAM TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX ĐẾN NAY
I. GIÁO DỤC TRƯỚC NĂM 1945
Đầu thế kỷ XX, các phong trào Cần Vương lắng dần. Người Pháp đã thật sự bắt tay vào công việc cai trị. Các chính sách văn hóa, xã hội có nhiều đổi thay, đảo lộn so với truyền thống quá khứ hàng nghìn năm. Khoa cử Hán học bỏ hẳn, thay vào đó là hệ thống trường học thuộc địa. Ngôn ngữ bây giờ là tiếng Pháp và một chút là tiếng Việt theo mẫu tự La-tinh, chữ Hán kể như không còn được trọng dụng từ sau năm 1918 - thời điểm nhà Nguyễn chính thức bỏ Nho học.
Kẻ sĩ thời này không còn chỉ có một con đường duy nhất là đi học - đi thi -  đỗ đạt và làm quan. Tất nhiên các trường Pháp - Việt cũng có mục đích chính là đào tạo một lớp quan lại, công chức mới, nhưng cạnh đó cũng là đào tạo các nghề để làm việc, để kiếm sống. Người ta có thể học để làm Tri huyện, Đốc học nhưng cũng có thể học để làm ông thông, ông phán, làm nhân viên bưu tá, nhân viên đường sắt, làm đốc tờ (bác sĩ), v.v... Xem qua quá trình học hành của môt số nhân vật có tên tuổi của Hà Nam thời bấy giờ, có thể nhận ngay ra sự “đa dạng” đó.
Cụ Bùi Kỷ đã đỗ Phó bảng năm 1910, như đã thấy ở trên, sau được bổ Huấn đạo, nhưng đã kiên quyết từ chối. Sau đó, Bùi Kỷ tìm học các thầy “tân học” để học thêm Quốc ngữ và Pháp văn. Tân học cũng là xu thế chung của cả nước lúc đó. Năm 1912, Bùi Kỷ lại được chọn sang học trường thuộc địa ở Paris. Ở đây, ông là bạn kết giao với nhà yêu nước Phan Chu Trinh và khi trở về vẫn kiên quyết không ra làm quan, chỉ chuyên viết sách, biên khảo và dịch thuật. Rồi Bùi Kỷ trở thành một thầy giáo chuyên dạy Hán văn, Việt văn tại Cao đẳng sư phạm, Cao đẳng pháp chính, và các trường tư thục Thăng Long, Văn Lang. Như vậy. Bùi Kỷ là hình mẫu khá tiêu biểu của lớp người nửa cũ, nửa mới, nhưng đã kiên quyết theo và thực hành tân học. Cả Hán học và Việt học đã tạo nên Bùi Kỷ - nhà văn, học giả.
Cũng có truyền thống Nho học, nhưng ông Tri huyện Bình Lục Ngô Vi Liễn lại khác. Ngô Vi Liễn (1894 - 1945), học và tốt nghiệp trường Trung học thuộc địa Hà Nội (trường Bưởi), rồi trường Thông ngôn, lại vào Cao đẳng luật học; ra trường lúc đầu làm Tham tá Sở Thư viện và Lưu trữ Hà Nội, sau đó lại xuất chính làm quan.
Phạm Tất Đắc, Lê Tư Lành cũng học trường Bưởi.
Còn Nguyễn Văn Hiếu (1896-1991), người từng gắn bó rất nhiều với ngành giáo dục, được học tại Cao đẳng sư phạm Đông Dương khóa 1917-1920, một ngôi trường danh tiếng lúc đó.
Nhà cách mạng Lương Khánh Thiện (1903-1941) khoảng trước năm 1923 chỉ được học hết lớp nhì trường tiểu học Phủ Lý. Nhà văn Nam Cao học sơ học ở làng, rồi học trường Thành Chung (Nam Định).
Tướng Trần Tử Bình ( 1907-1967), người Tiêu Động, Bình Lục vào khoảng 1924 lại đi học trong một trường dòng - trường đòng Hoàng Nguyên (Hà Đông, nay thuộc Hà Tây).
Ông tổ nghề khảm sừng làng Đô Hai là Nguyễn Văn Tấn, sinh năm 1892, mất 1972, thời gian trước năm 1928 lại theo học nghề khảm sừng ở trường Bách nghệ, rồi về dạy cho dân làng ở xã An Lão, huyện Bình Lục. Nghề này sau phát triển ở nhiều nơi: Hà Nội, Sài Gòn, sản phẩm chủ yếu để xuất khẩu và rất được ưa chuộng.
Rõ ràng, trước 1945 quan niệm giáo dục, cách thức về học và dạy đã thay đổi nhiều so với quá khứ. Người Hà Nam đến đó tưởng như có nhiều cơ hội hơn để học hành. Nhưng thực tế chưa hẳn như vậy. Các trường học rất ít, điều kiện để dạy và học cũng rất khó khăn. Phải thừa nhận ai đã được đào tạo cũng phần lớn thành danh, nên người, học là học thật, nhưng số người được đi học chỉ là số nhỏ. Sau Cách mạng tháng Tám - 1945, số người không biết chữ cả nước là hơn 90%. Là một tỉnh nhỏ, tuy ở gần hai trung tâm “Trường Nam thi lẫn với trường Hà”, Hà Nam chắc không đến mức đó, nhưng phải nói đất này cũng không là ngoại lệ, nghĩa là người đi học, người biết chữ cũng không được nhiều. Chính sách ngu dân ở một xứ quân chủ - nửa thực dân cũng không cho phép người ta biết chữ nhiều làm gì. Từ sau Bùi Kỷ đỗ (năm 1910), đến năm 1945, suốt 35 năm, học phong Hà Nam có thay đổi và biến động, có phần chìm lắng xuống và cũng có sự ấp ủ, thai nghén một lớp người có học mới để đón chào một vận hội mới.
II. GIÁO DỤC TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1996
Trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954), Hà Nam cũng có một số nhân vật có uy tín đóng góp cho sự nghiệp giáo dục ở nhiều vùng miền, nhất là ở chiến khu Việt Bắc, như cụ Nguyễn Văn Hiếu, cụ Lê Tư Lành vừa kể trên. Nguyễn Văn Hiếu từng đảm trách Đổng lý văn phòng Bộ Giáo dục, Giám đốc Sở Giáo dục Liên khu II, Liên khu III rồi Giám đốc Nha trung học Bộ Giáo dục, được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng bằng khen “Cần, kiệm, liêm, chính”, được phong tặng Nhà giáo nhân dân. Lê Tư Lành từng làm Hội trưởng Hội Văn hóa Hà Nam, Trưởng ban diệt dốt Hà Nam. Kháng chiến đi liền với kiến quốc, và kiến quốc đối với sự nghiệp giáo dục chính là “diệt giặc dốt”, là phong trào Bình dân học vụ. Vùng Thanh Tân (Thanh Liêm) còn câu ca dao:
Ai về chợ huyện Thanh Tân,
Hỏi thăm cô Tú đánh vần được chưa.
là sự phản ánh phần nào phong trào này.
Khoảng năm 1953 - 1954, cấp đại học bắt đầu trong rừng kháng chiến. Rồi sau đó, các trường lớn được thành lập như Đại học Sư phạm Hà Nội. Đại học Tổng hợp Hà Nội, v.v... Người Hà Nam tham gia học ở đây từ những khóa đầu tiên và sau đó trở thành những người thầy có uy tín khoa học như: GS. Nguyễn Hồng Phong, GS. Trần Quốc Vượng, PGS. Đỗ Văn Hỷ, PGS. Bùi Duy Tân, PGS.TS. Trần Thị Băng Thanh, v.v... Tiếp nối, các thế hệ thầy, trò ở các trường Đại học, Cao đẳng ngày một nhiều, các “nhà khoa bảng” mới có chức danh, học vị ở nhiều môn khoa, nhiều ngành nghề ngày càng đông.
Từ năm 1954, ở tại Hà Nam, giáo dục dần đi vào quy củ. Đầu tiên, bậc học được chia làm ba: sau lớp vỡ lòng là Cấp I (gồm 4 lớp: Một, Hai, Ba, Bốn); Cấp II (gồm ba lớp: Năm, Sáu, Bảy); Cấp III (gồm ba lớp: Tám, Chín, Mười). Sau đó, cải cách thành hệ 12 lớp: bậc tiểu học (từ lớp Một đến hết lớp Năm); cấp trung học cơ sở (từ lớp Sáu đến lớp Chín); phổ thông trung học (từ lớp Mười đến Mười hai). Các trường giáo dục mầm non, các lớp giáo dục không chính quy (bổ túc văn hóa) cũng được mở. Từ năm 1959 ở Hà Nam đã có trường Sư phạm cấp I.
Điều kiện vật chất lúc đầu vô cùng thiếu thốn. Trường sở toàn tranh tre, nứa, lá. Học sinh đi học thường phải mang theo ghế ngồi, mà bàn học nhiều khi lại là cánh cửa ngả ra, đóng 4 cọc tre và kê lên. Sách vở thiếu, dụng cụ thiếu, giấy bút thiếu. Thầy, trò phải tiết kiệm từng mẩu bút chì, từng mảnh giấy, sách giáo khoa thường phải chung nhau.
Rồi từ năm 1965 đến năm 1972, nhiều trường phải sơ tán tránh bom đạn Mỹ, điều kiện lại càng thiếu thốn. Lớp học dựng ngay bên hầm trú ẩn.
Lúc ấy, mỗi xã chưa có được một trường Cấp II, học trò Liêm Chung (Phủ Lý) thường phải học chung với học trò Thanh Châu (Phủ Lý). Trường Cấp III, cũng mãi sau mỗi huyện mới có một trường. Có người ở Bình Lục phải lên tận Phủ Lý học, phải đi bộ quãng 9 -  10km, thậm chí là 15 - 20km. Nhưng việc vào Đại học lại rất thuận lợi. Đến cuối những năm 60, ai học hết Cấp III, thành phần gia đình tốt là nghiễm nhiên được gọi Đại học. Từ đầu những năm 1970 trở đi, trở lại chế độ tuyển sinh Đại học. Thêm nữa cũng phải kể đến việc giáo dục Hà Nam còn tham gia nuôi dưỡng và dạy dỗ con em nhân dân Quảng Bình, Vĩnh Linh và có cả trường học dành cho học sinh miền Nam (Trường 28 miền Nam đặt tại xã Thanh Sơn, huyện Kim Bảng).
Từ hòa bình lập lại đến năm 1996 là quãng thời gian Hà Nam nhập với Nam Định thành Nam Hà, lại nhập thêm Ninh Bình thành Hà Nam Ninh, sau lại tách Ninh Bình thành Nam Hà, đến năm 1997 thì lại tách khỏi Nam Định trở lại Hà Nam. Đó cũng là quãng thời gian giáo dục Hà Nam trưởng thành vượt bậc. Cả thầy và trò đã vượt qua tất cả những khó khăn, thiếu thốn để dạy tốt và học tốt. Đã xuất hiện không ít những trường, lớp tiêu biểu từ tiểu học đến trung học và cũng đã xuất hiện không ít những tấm gương thầy, cô tận tình, gương mẫu; những tấm gương trò giỏi, con ngoan.
Rất cần có một cuốn sử riêng cho Giáo dục Hà Nam, mới thống kê được đầy đủ thành quả học và dạy của các nhà trường trong tỉnh, ở đây, chỉ nêu được hai ví dụ điển hình: Trường cấp II Bắc Lý (huyện Lý Nhân) và Trường cấp III Biên Hòa (thị xã Phủ Lý).
Trường trung học cơ sở Bắc Lý được thành lập năm 1953. Chỉ sau 8 năm, năm học 1961 - 1962, trường đã được Bộ Giáo dục công nhận là lá cờ đầu của ngành Giáo dục và phát động phong trào: “Tích cực thi đua dạy tốt, học tốt đuổi kịp và vượt Bắc Lý”. Năm 1963, tại Hội nghị tổng kết phong trào thi đua “hai tốt” của ngành Giáo dục: “Học thật tốt, dạy thật tốt”, Hồ Chủ tịch đã ra chỉ thị: “Cần phát triển kiểu dạy, kiểu học của trường Bắc Lý”. Tháng 10-1985, trường được Nhà nước phong tặng Đơn vị Anh hùng Lao động lần thứ nhất. “Tiếng trống Bắc Lý” đã trở thành câu thành ngữ của thời hiện đại. Theo số liệu thống kê, Bắc Lý có tỷ lệ đỗ tốt nghiệp 100%, khá giỏi 61 - 72%; tỷ lệ học sinh lên lớp đạt 99,4% - 100%. Học sinh Bắc Lý hiện tại có 11 Tiến sĩ, 19 cán bộ nghiên cứu khoa học, 45 cán bộ giảng dạy đại học, 13 kỹ sư, 63 bác sĩ và hàng trăm cán bộ xã, huyện, tỉnh; hàng trăm nhà giáo, sĩ quan quân đội, v.v... Năm 1997, trường Bắc Lý được tặng Huân chương Độc lập hạng Ba. Năm 2000, trường lại được phong tặng Đơn vị Anh hùng Lao động lần thứ II. Thật hiếm có nhà trường phổ thông trung học cơ sở nào được như vậy, kể cả về thành tích cùng việc phát huy và giữ vững truyền thống tốt đẹp của trường.
Trường Cấp III Biên Hòa nay là Trường phổ thông trung học chuyên Hà Nam nằm giữa trung tâm thị xã Phủ Lý. Trường thành lập năm 1959. Năm 1999, nhân kỷ niệm 40 năm thành lập, nhà trường đã xuất bản một số chuyên san đặc biệt. Trong đó đã tổng kết khá đầy đủ lịch sử và thành tích của nhà trường như sau:
* Năm học (1959 - 1960): Có 6 lớp, 300 học sinh, 13 giáo viên, 2 đảng viên (năm 1962 có 17 học sinh Lào và nhiều học sinh miền Nam tập kết).
Đến năm học 1999 - 2000: Có 27 lớp, 1.381 học sinh, 81 giáo viên, CNV, 34 đảng viên.
* 40 năm qua đã được Nhà nước tặng thưởng 5 Huân chương:
- Hai Huân chương Lao động hạng Ba (1962-1965)
- Một Huân chương Kháng chiến hạng Hai (1972)
- Một Huân chương Lao động hạng Hai (1987)
- Một Huân chương Lao động hạng Nhất (1995)
* Cờ và Bằng khen:
- 112 Cờ thưởng của các cấp
- 135 Bằng và Giấy khen từ Trung ương đến địa phương
* Đội ngũ giáo viên - cán bộ công nhân viên:
- Đã có 269 GV-CBCNV đã và đang công tác tại trường.
- Ba Nhà giáo ưu tú: Bùi Tiến Xương, Lã Hữu Đạt, Đinh Bá Thảo.
- 6 tổ đã đạt danh hiệu Tổ Lao động giỏi (LĐXHCN).
- Hơn 100 lượt giáo viên được công nhận Chiến sĩ thi đua và Giáo viên giỏi các cấp.
- 35 đồng chí được tặng Huân, Huy chương các hạng.
- 2 giáo viên được Bác Hồ khen.
- 1 giáo viên được nhận Bằng Lao động sáng tạo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
* Học sinh:
- Thi tốt nghiệp luôn đạt từ 90% trở lên.
- Thi Đại học và Trung học chuyên nghiệp: khối lớp chọn và chuyên đạt trên 91%.
- Khối đại trà đạt 40%.
- 178 đội đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi tỉnh với 1.105 giải cá nhân.
- 45 giải trong các kỳ thi học sinh giỏi Quốc gia (từ giải khuyến khích đến giải nhất).
- 125 cựu học sinh có học vị Tiến sĩ, Giáo sư, Phó giáo sư.
- Hơn 1.000 học sinh nhập ngũ, 41 học sinh có quân hàm từ cấp tá đến cấp tướng.
* Lao động sản xuất, hướng nghiệp và dạy nghề:
- Xưởng trường hoạt động có hiệu quả là: mộc, cồn, đúc, may, ganitô.
- Trồng trọt, chăn nuôi: lúa, đậu, sắn dây, cây thuốc, nấm, gia súc.
- Hàng ngàn học sinh được cấp chứng chỉ học nghề.
* Xã hội hóa giáo dục:
- Hưởng ứng và tham gia đầy đủ các hoạt động xã hội, được các cấp lãnh đạo đoàn thể tặng nhiều phần thưởng cao quý.
- Duy trì mối liên hệ thường xuyên giữa nhà trường - gia đình - xã hội tạo nên sức mạnh tổng hợp trong giáo dục.
Từ truyền thống này, thầy trò nhà trường vững bước tiến vào thế kỷ XXI.
III. VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO HÀ NAM TỪ SAU NĂM 1996
Tháng 1 năm 1997 tỉnh Hà Nam được tái lập; là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, xã hội; tỉnh Hà Nam lại có truyền thống cách mạng, văn hiến, hiếu học. Ngành Giáo dục - Đào tạo tỉnh Hà Nam được sự chăm lo của Đảng bộ, nhân dân trong tỉnh. Quán triệt sâu sắc tinh thần Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Kết luận của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XVI, trong những năm qua ngành GD-ĐT tỉnh Hà Nam đã đạt được những thành tích rất đáng phấn khởi:
- Quy mô trường lớp ở các ngành học, bậc học, cấp học tiếp tục phát triển: Toàn tỉnh có 119 trường mầm non, 139 trường tiểu học, 120 trường trung học cơ sở, 22 trường trung học phổ thông (trong đó có 1 trường chuyên, 1 trường bán công, 4 trường dân lập), 1 trường cao đẳng sư phạm, 6 trung tâm giáo dục thường xuyên, 1 trung tâm KTTH-DN, với hơn 22 vạn học sinh, sinh viên, bình quân cứ 100 người dân có khoảng 30 người đang theo học. Số trẻ được huy động vào nhà trẻ đạt 38,86%, mẫu giáo 88,28%, trẻ 6 tuổi vào lớp 1: 99,9%, tuyển sinh vào lớp 6: 99,23%, lớp 10 (chuyên, đại trà, bán công, dân lập) 65,14%; toàn tỉnh có 10.524 học viên học các lớp bổ túc văn hoá từ tiểu học tới trung học. Tỉnh Hà Nam là một trong bốn tỉnh đầu tiên của toàn quốc được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; là một trong 10 tỉnh đầu tiên của cả nước đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào tháng 1 năm 2002, với 100% (116/116) xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở, được Bộ Giáo dục và Đào tạo tặng Cờ.
- Chất lượng giáo dục, hiệu quả đào tạo được nâng lên: toàn tỉnh có 61 trường tiểu học được Bộ Giáo dục - Đào tạo công nhận đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn 1996 - 2000, đạt tỷ lệ 43,88% (61/139 trường). Có 7 trường mầm non đạt chuẩn Quốc gia, đạt tỷ lệ 5,88% (7/119 trường). Có 4 trường trung học cơ sở được công nhận đạt chuẩn Quốc gia, đạt tỷ lệ 3,33% (4/120 trường); đang tập trung chỉ đạo xây dựng trường trung học phổ thông Lý Nhân, trường trung học phổ thông chuyên Hà Nam đạt chuẩn Quốc gia. Toàn tỉnh đã thành lập được 75 trung tâm học tập cộng đồng. Số học sinh khá giỏi, số học sinh đạt trong các kỳ thi quốc gia ngày càng tăng: Kỳ thi chọn học sinh giỏi Quốc gia lớp 12 trung học phổ thông, Hà Nam có 80 học sinh của 10 đội tuyển dự thi; đạt 41 giải, chiếm tỷ lệ 51,25% (41/80), toàn quốc khoảng 48%, vượt so với toàn quốc là 3,25% (51,25%/48,0%), trong đó: 1 giải nhất (trong tổng số 42 giải nhất của toàn quốc), 1 giải nhì, 22 giải ba, 17 giải khuyến khích; năm học thứ hai tỉnh Hà Nam có học sinh đạt giải nhất Quốc gia; so với chỉ tiêu được UBND tỉnh giao vượt 11 giải (41/30 giải); so với năm học 2001-2002 vượt 9 giải (41/32 giải); có 1 học sinh giải nhất môn Vật lý, 1 học sinh đạt giải ba môn Toán được Bộ Giáo dục và Đào tạo triệu tập đi tập huấn chọn đội tuyển thi Quốc tế. Thi giải toán trên máy vi tính CASIO Quốc gia: 15 học sinh dự thi có 4 học sinh đạt giải (gồm 1 giải ba, 3 giải khuyến khích). Thi kể chuyện đạo đức bậc tiểu học Quốc gia: Tiết mục kể chuyện cá nhân đạt giải nhì, hoạt cảnh đạt giải nhì, toàn đoàn đạt giải nhì. Thi học sinh giỏi thể dục thể thao môn bơi lội Quốc gia: có 7/9 học sinh dự thi đạt giải với tổng số 19 huy chương (trong đó có 13 huy chương vàng, 5 huy chương bạc và 1 huy chương đồng). Cùng với việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, cán bộ, giáo viên toàn ngành đã tập trung công sức với quyết tâm nâng cao chất lượng mũi nhọn, chất lượng học sinh giỏi các bộ môn văn hoá ở các ngành học, bậc học, cấp học; góp phần vào việc bồi dưỡng nhân tài cho quê hương, đất nước.
- Hà Nam là quê hương của phong trào thi đua “Hai tốt” có trường Bắc Lý là đơn vị anh hùng; phong trào thi đua hai tốt được nhân rộng, phát triển mạnh mẽ: Những năm qua các đơn vị và cá nhân thuộc ngành giáo dục và đào tạo tỉnh Hà Nam đã được nhận 1 Huân chương độc lập hạng ba, 1 Huân chương lao động hạng nhất, 4 Huân chương lao động hạng nhì, 8 Huân chương lao động hạng ba của Chủ tịch nước tặng; 5 nhà giáo được phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú; 108 đơn vị và cá nhân được nhận bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; 322 đơn vị và cá nhân được nhận bằng khen của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; 479 đơn vị và cá nhân được nhận Bằng khen của UBND tính Hà Nam; 72% số trường học được công nhận là đơn vị tiên tiến và tiên tiến xuất sắc. Ngành học mầm non là đơn vị tiên tiến xuất sắc của cả nước. Toàn ngành quyết tâm giữ vững 11 chỉ tiêu công tác đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo khen thưởng trong năm học 2001 - 2002, phấn đấu để năm học 2002-2003 có 10 chỉ tiêu vượt mức đạt thành tích xuất sắc, có 1 chỉ tiêu dẫn đầu cả nước, được Bộ Giáo dục và Đào tạo khen thưởng, để xứng đáng với sự quan tâm ngày càng sâu sắc và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hà Nam.
- Tỉnh Hà Nam thực hiện có kết quả cuộc vận động xã hội hóa giáo dục, điển hình là huyện Kim Bảng và huyện Bình Lục, với 100% số xã xây dựng được trường cao tầng (nhiều xã có 2 đến 3 trường cao tầng). Huyện Duy Tiên 100% số xã xây dựng trường học cao tầng; thị xã Phủ Lý, huyện Lý Nhân, huyện Thanh Liêm, gần 100% số xã, phường, thị trấn có trường học cao tầng; 100% số trường trung học phổ thông công lập được xây dựng trường cao tầng. Sở Giáo dục - Đào tạo đã tích cực tham mưu với UBND tỉnh đầu tư trên 4 tỷ đồng mua trang thiết bị dạy học đồng bộ cho lớp 1, lớp 6; thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông.
- Công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên được chú trọng đúng mức: xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đồng bộ về chủng loại có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn, có phẩm chất đạo đức tốt, có lòng yêu nghề và năng lực sư phạm, chăm lo bồi dưỡng cán bộ quản lý có đủ phẩm chất và năng lực quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo. Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng trong việc thực hiện chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo của tỉnh; đã có những giải pháp tích cực bồi dưỡng nâng dần tỷ lệ chuẩn hoá đội ngũ trong các ngành học như 70,2% giáo viên mầm non đạt chuẩn (trong đó vượt chuẩn 1,62%); 95% giáo viên tiểu học đạt chuẩn (vượt chuẩn 30,2%); 85% giáo viên trung học cơ sở đạt chuẩn (vượt chuẩn 12%); 99% giáo viên trung học phổ thông đạt chuẩn (vượt chuẩn 1,2%); 35% giáo viên CĐSP đạt trình độ thạc sĩ, 3 cán bộ giáo viên được cử đi nghiên cứu sinh, 8 giáo viên đi học thạc sĩ, tiến sĩ; 6 giáo viên được cử đi học đại học kỹ thuật tin học; 34 giáo viên tiểu học đi học đại học; 145 giáo viên tiểu học được bồi dưỡng cao đẳng sư phạm; 165 giáo viên trung học cơ sở được bồi dưỡng đại học sư phạm tại chức, 69 giáo viên mầm non được bồi dưỡng đại học sư phạm tại chức...; tỷ lệ giáo viên là đảng viên chiếm 27,5%.
* Các đơn vị giáo dục trực thuộc Sở GD & ĐT Hà Nam:
1- Phòng Giáo dục - Đào tạo huyện Duy Tiên
2- Phòng Giáo dục - Đào tạo huyện Thanh Liêm
3- Phòng Giáo dục - Đào tạo huyện Lý Nhân
4- Phòng Giáo dục - Đào tạo huyện Bình Lục
5- Phòng Giáo dục - Đào tạo huyện Kim Bảng
6- Phòng Giáo dục - Đào tạo thị xã Phủ Lý
7- Trường THPT A Duy Tiên
8- Trường THPT B Duy Tiên
9- Trường THPT c Duy Tiên
10- Trường THPT A Kim Bảng
11- Trường THPT B Kim Bảng
12- Trường THPT c Kim Bảng
13- Trường THPT A Thanh Liêm
14- Trường THPT B Thanh Liêm
15- Trường THPT dân lập Thanh Liêm
16- Trường THPT Lý Nhân
17- Trường THPT Bắc Lý
18- Trường THPT Nam Lý
19- Trường THPT dân lập Trần Hưng Đạo - huyện Lý Nhân
20- Trường THPT bán công Nam Cao - huyện Lý Nhân
21- Trường THPT A Bình Lục
22- Trường THPT B Bình Lục
23- Trường THPT c Bình Lục
24- Trường THPT dân lập Bình Lục
25- Trường THPT chuyên Hà Nam
26- Trường THPT A Phủ Lý
27- Trường THPT B Phủ Lý
28- Trường THPT dân lập Lương Thế Vinh - Thị xã Phủ Lý
29- Trường CĐSP Hà Nam
30- Trung tâm GDTX Hà Nam
31- Trung tâm GD Kỹ thuật Tổng hợp, Hướng nghiệp dạy nghề Hà Nam
32- Trung tâm GDTX Bình Lục
33- Trung tâm GDTX Kim Bảng
34- Trung tâm GDTX Duy Tiên
35- Trung tâm GDTX Lý Nhân
36- Trung tâm GDTX Thanh Liêm
* Danh sách Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo ưu tú Hà Nam:
1- Ông Nguyễn Văn Hiếu -  Nhà giáo Nhân dân.
2- Ông Trần Quốc Vượng -  Nhà giáo Nhân dân.
3- Ông Phùng Huy Triện -   Nhà giáo Nhân dân, năm 1994 - Nguyên Phó
hiệu trưởng trường THCS Bắc Lý, huyện Lý Nhân.
4- Ông Vũ Minh Gia - Nhà giáo Ưu tú, năm 1991 - Nguyên Hiệu trưởng trường THCS thị trấn Đồng Văn, huyện Duy Tiên.
5- Bà Ứng Thị Thái - Nhà giáo Ưu tú, năm 1994 - Nguyên chuyên trách Trung tâm GDTX xã Yên Bắc, huyện Duy Tiên.
6- Ông Lã Hữu Đạt - Nhà giáo Ưu tú, năm 1988 - Nguyên Hiệu trưởng trường cấp III Biên Hòa (nay là trường THPT chuyên Hà Nam).
7- Ông Bùi Tiến Xương - Nhà giáo Ưu tú, năm 1988 - Nguyên giáo viên trường cấp III Biên Hoà (nay là trường THPT chuyên Hà Nam).
8- Ông Đinh Đăng Cầm - Nhà giáo Ưu tú, năm 1994 - Nguyên Hiệu trưởng trường Tiểu học Ba Sao, huyện Kim Bảng.
9- Ông Đào Như Văn - Nhà giáo Ưu tú, năm 1998 - Nguyên Hiệu trưởng trường THPT Lý Nhân.
10- Ông Đinh Bá Thảo - Nhà giáo Ưu tú, năm 1998 - Nguyên giáo viên trường THPT chuyên Hà Nam.
11- Bà Trần Thị Ngọc Bích - Nhà giáo Ưu tú, năm 2000 - Hiệu trưởng trường mầm non Hoa Sen, thị xã Phủ Lý.
12- Bà Đinh Thị Mỳ - Nhà giáo Ưu tú, năm 2002 - Giáo viên trường THPT chuyên Hà Nam.
13- Bà Đinh Thị Biểu - Nhà giáo Ưu tú, năm 2002 - Hiệu trưởng trường Tiểu học Thanh Châu, thị xã Phủ Lý.
14- Ông Nguyễn Công Khanh - Nhà giáo Nhân dân.
15- Ông Bùi Hoàng - Nhà giáo ưu tú.
16- Ông Bùi Quốc Việt - Nhà giáo ưu tú.
17- Ông Trịnh Quốc Đạt - Nhà giáo ưu tú.
18- Ông Đặng Hưng Lâm - Nhà giáo ưu tú.
19- Ông Mai Văn Lộ - Nhà giáo ưu tú.
20- Ông Lưu Đức Trì - Nhà giáo Ưu tú.
21- Ông Trần Gia Ái - Nhà giáo Ưu tú.
22- Ông Phan Viết Chính - Nhà giáo Ưu tú.
23- Ông Lê Văn Lộc - Nhà giáo Ưu tú.
24- Ông Trương Đình Nguyên - Nhà giáo Ưu tú.
25- Ông Nguyễn Đình Trí - Nhà giáo Ưu tú.
IV. TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM VÀ HỆ THỐNG CÁC TRƯỜNG TRUNG CẤP, DẠY NGHỀ ở Hà Nam
1. Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nam
Tiền thân của Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nam là Trường Trung cấp Sư phạm Hà Nam được thành lập từ năm 1959. Sau khi tách tỉnh, tháng 7-1998, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định thành lập Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nam với các nhiệm vụ:
- Đào tạo giáo viên trình độ cao đẳng sư phạm, trung học cơ sở các bộ môn: Toán, Lý, Toán tin, Sinh, Hóa, Văn, Sử, Văn - Giáo dục công dân, Văn Địa và Tiểu học.
- Đào tạo giáo viên mầm non trình độ trung học sư phạm.
- Liên kết với Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở trình độ cao đẳng sư phạm lên trình độ đại học.
- Bồi dưỡng giáo viên tiểu học trình độ trung học sư phạm lên cao đẳng sư phạm.
- Bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục mầm non tiểu học.
Hiện nay, 100% cán bộ, giáo viên nhà trường có trình độ đại học, hơn 60% có trình độ trên đại học. Nhà trường đã đào tạo được hàng vạn giáo viên có chất lượng, góp phần vào sự phát triển giáo dục toàn tỉnh. Năm 1994, Trường được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba; 1997 lại được tặng Huân chương Lao động hạng Nhì.
2. Một số trường cao đẳng và trung cấp, dạy nghề khác:
- Trường Công nhân Bưu điện I.
- Trường Cao đẳng Phát thanh - Truyền hình.
- Trường Công nhân kỹ thuật Chế biến gỗ Trung ương.
- Trường Trung cấp Thủy lợi I.
- Trường Trung học Y tế.
- Trường Đào tạo nghề Nông - Công nghiệp và Vận tải.
Các nhà trường đều có lịch sử phát triển, truyền thống dạy và học lâu năm, đào tạo được rất nhiều thế hệ học sinh có tay nghề, có kiến thức chuyên môn cho toàn tỉnh và cho một số tỉnh, thành khác.
Nhìn vào các nhà khoa bảng Hà Nam trong quá khứ, nhìn vào những gì mà giáo dục Hà Nam đạt được trong thời cận, hiện đại (những nhân vật có tiếng, những trường học có tiếng và đông đảo những thầy, cô được phong tặng Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo Ưu tú...), người ta thấy rõ ràng có một học phong Hà Nam. Học phong này được hình thành xoay quanh mấy “lò học” gắn với các vị thầy nổi danh xưa, gắn với các gia tộc có truyền thống nề nếp lâu đời và nay là gắn với các trường học tiên tiến, xuất sắc. Như vậy, nhìn trên đại thể mà nói, học phong Hà Nam là một mạch chảy khá liên tục. Người Hà Nam cần cù, tài hoa, kiên nhẫn, khiêm tốn và hiếu học. Các thế hệ thầy, trò Hà Nam có quyền tự hào, có trách nhiệm phát huy điều đó.
24/12/2019
Theo https://baohanam.com.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Thơ viết cho ai

Thơ viết cho ai? Trước tiên, nhà thơ viết cho chính anh ta. Theo kiểu nói của Đức Phật, tôi là bằng hữu của chính tôi. Trong con người của...