NGUYỄN HUY TƯỞNG
- Họ và tên khai sinh: Nguyễn Huy Tưởng
- Sinh năm 1912
- Mất năm 1960
- Bút danh: Thao Trường
- Quê quán: Làng Dục Tú, Từ Sơn, Bắc Ninh nay thuộc huyện
Đông Anh, Hà Nội
- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 1957)
- Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam.
- Tác phẩm chính đã xuất bản:
* Đêm hội Long Trì (Tiểu thuyết, 1942)
* Vũ Như Tô (Kịch, 1943)
* Anh Tư (Tiểu thuyết, 1944)
* Bắc Sơn (Kịch, 1946)
* Những người ở lại (Kịch, 1948)
* Anh Sơ đầu quân (Tập kịch, 1949)
* Ký sự Cao Lạng (1951)
* Truyện Anh Lục (Tiểu thuyết, 1955)
* Bốn năm sau (Tiểu thuyết, 1959)
* Lũy Hoa (Truyện phim, 1960)
* Sống mãi với thủ đô (Tiểu thuyết, 1961)
Và nhiều truyện viết cho thiếu nhi.
- Giải thưởng văn học:
* Giải B truyện và ký sự giải thưởng Văn nghệ
1951-1952 của Hội Văn nghệ.
* Giải Nhì tiểu thuyết, Giải thưởng Văn học của
Hội Văn nghệ Việt Nam 1954-1955.
* Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật đợt I (1966).
- Suy nghĩ về nghề văn:
“Một nghề nghiệp cao
quí biết bao là nghề viết văn. Đưa lại cho đời một bó đuốc, không to thì nhỏ.
Biểu hiện những tư tưởng cao thượng, làm cho con người thương nhau, hiểu nhau,
tới với nhau… Đẹp vô cùng. Và phấn khởi vô cùng.
Nghề gì cũng
đẹp, miễn đấy là một nghề. Nhưng có cái nghề nào thú vị hơn nghề văn, nó lấy
nguyên liệu chính là con người, một cái gì đẹp nhất, toàn diện nhất, kỳ diệu nhất
của sự sáng tao?
Đừng viết cái
gì sai với sự thực của con người, dù là dưới hình thức phục vụ. Người là thật.
Phải thật với người.”
A- TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ:
NGUYỄN HUY TƯỞNG - MỘT NGƯỜI THẦY,
MỘT NGƯỜI BẠN, MỘT NGƯỜI ANH...
MỘT NGƯỜI BẠN, MỘT NGƯỜI ANH...
Đoàn Giỏi
Những ngày cuối tháng tư, Thành phố Hồ Chí Minh chiều nào mưa
cũng ào qua một trận (1). Đường phố nóng nung, ồn ào, khói bụi, sau mưa lại hiện
ra quang quẻ, mát rợi như mới tinh khôi. Mượt mà những tán lá me non xanh biếc,
còn đậu lấp lánh những giọt nước trời đong đưa, loe lóe chiếu như ngọc giát.
Tôi sang đất Gia Định cũ, vào quận Bình Thạnh tìm anh Nguyễn
Huy Tưởng. Xăm xăm qua khỏi Trường Cao đẳng Mỹ thuật một quãng khá xa, tôi dần
dần chậm bước, bồi hồi đứng lặng nhìn lên tấm biển xanh chỗ góc con đường rẽ phải,
vừa mới mang tên anh.
“Anh Tưởng ơi! Bây giờ thì anh em ta đã vào cả đây rồi!” Tôi
thầm kêu lên, thở dài nhè nhẹ và đưa mắt ngóng nhìn quanh quất. Tưởng như anh
đang đứng trước mặt tôi, tưởng như anh từ một ngôi nhà nào đó, của những
dãy biệt thự nhỏ nhắn, yên tĩnh, mát rợp bóng cây cảnh và cây ăn quả vừa trông
thấy tôi, anh vội mở cổng bước ra, cười hà hà.
Một cảm giác lạ lùng như mộng ảo vừa đột ngột xâm chiếm cả
tâm hồn tôi. Tôi đang đi tìm lại anh một mình, hay đang sóng bước cạnh anh, như
tự những ngày đầu bỡ ngỡ, giữa “náo nhiệt kinh kỳ” lăng lắc thuở nào?
- Bao giờ giải phóng miền Nam, tôi sẽ rước anh về quê
tôi chơi. Có mắm ăn mắm, có muối ăn muối, chúng tôi sẽ đưa anh đi cùng khắp! -
Nhiều lần, trong các câu chuyện vui, hào hứng tán về miền Nam, tôi đã hứa
với anh như thế. Anh cười hà hà. Nụ cười nở rộng, khoáng đạt hiền lành, hết sức
cởi mở:
- Lo gì! Ăn chợ ngủ đình càng hay. Nhất định mình sẽ vào mà.
Nam Bộ là miền đất cực kỳ hấp dẫn, đất của những con người vũ dũng, kiểu Cô-dắc
sông Cửu Long... Đất của tiểu thuyết mà!
Sau này, cùng với Hoàng Trung Thông ngồi nghe Nguyễn Quang
Sáng đọc bản thảo tiểu thuyết Đất lửa mới viết lần đầu, anh đã kêu
lên: “Đất của tiểu thuyết! Cuộc sống ngồn ngộn, roi rói, đầy sẵn... Chỉ cần có
những tay nghề vững nữa thôi! Mình sẽ theo các cậu vào mà!”.
Định mệnh khắc nghiệt và tàn nhẫn đã khiến cho mộng ước của
anh và lời hứa của anh em viết trẻ Nam Bộ bất thành. Nguyễn Huy Tưởng đã mất
ngày 25 tháng 7 năm 1960, chưa tròn bốn mươi tám tuổi! Chưa bao giờ tôi thấy
câu: “Giai nhân tự cổ như danh tướng - Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu” sao mà
vô duyên, vô nghĩa như lúc ràn rụa nước mắt, đỡ một đầu quan tài anh lần xuống
bậc thang gác của ngôi nhà 51 Trần Hưng Đạo!
Ngẫu nhiên nào đã xui tôi lần đến quán “Thuỷ hử” - ngõ Ngô Sĩ
Liên - gặp hoạ sĩ Nguyễn Sáng, trước khi rời Hà Nội. Từ khi anh Tưởng mất, hoạ
hoằn tôi mới đến đây. Có lẽ là do quán tính xưa, cũng có thể là để “cốt mua lấy
một chỗ ngồi trong khi tắc khách” nói như kiểu Lỗ Tấn trong câu chuyện Trên
lầu tiệm rượu.
- Ủa, ông đến bao giờ? - Nguyễn Sáng vừa từ phòng triển
lãm tranh của anh ở viện Bảo tàng Mỹ thuật gần đấy, cuốc bộ vào, ngạc nhiên kêu
lên.
- Ngồi khoảng nửa tiếng...
- Nghe đồn như ông tính “hồi hương” hả?
Tôi cười cười, im lặng, chẳng biết nên đáp thế nào cho phải.
Nguyễn Sáng vụt cười lớn, móc ví ra mấy tờ giấy đánh máy, bên dưới đỏ nhoè dấu
son:
- Mình có quyết định hưu mấy tháng nay đây. Và giấy giới thiệu
về Sài Gòn đây. Nhưng mình cũng còn cứ phân vân. Đành rằng trước sau gì rồi
cũng về! Huỳnh Văn Gấm đã về rồi...
Vẫn là cái không khí bình dân cố hữu, với cút rượu, vài ba
món nhắm hết sức khiêm tốn như ba mươi năm về trước, cho dù bây giờ ngôi quán lụp
xụp đã lên tường sáng sủa và lát bóng gạch men hoa. Quán “Thủy hử” chỉ còn lại
cái tên, trong ký ức một số lớp người cũ như bọn tôi. Vì sao gọi là quán “Thủy hử”? Có lẽ phải nói qua chỗ này một tý. Xưa, đây là khu chợ giời, có trại tế bần
nằm đây, nơi tập trung dân cư tứ chiếng, phu xích lô, phu bốc vác ga Hàng Cỏ... dân
đánh Tây quanh khu vực đều chạy về đây. Tây say lảng vảng mò vào đây đều ăn
đòn. Cụ cả Vạch chủ quán là người “chứa chấp” đám này, mật thám đều nói vậy, và
cụ cũng đã vài ba lần bị điệu về bót tra khảo. Anh em phe ta hoạt động nội
thành rải truyền đơn, cắm cờ trên nóc bốt cảnh sát địch cũng trà trộn ở đây, chẳng
hạn như Lưu Toét là khách thường xuyên có mặt. Khi ta về tiếp quản thủ đô, quán
vẫn nhộn nhịp như xưa. Nói lều thì đúng hơn, ba bề trống hoác, ngoài lá trong lợp
tôn. Nền đất cũng như ngõ đất - bấy giờ còn gọi là ngõ Sinh Từ - góc che vách bếp
đều trát đất. Khách mới, có thêm một số anh em văn nghệ sĩ từ các chiến khu về.
Quán chỉ bán từ sáu giờ chiều, gần như sáng đêm, hầu như giờ nào cũng lai rai
có khách bởi các chuyến tàu đi về. Một cút rượu một hào, tô cháo gà năm xu, hai
xu đĩa lạc, ba xu đĩa đậu rán... Chỉ đôi ba hào, có thể mời bạn bữa rượu tươm
tươm. Lần đầu tiên, anh Nguyễn Huy Tưởng đưa tôi đến đây vào một buổi chiều mưa
rét, cuối năm 1955.
- Chỗ nào ta cũng phải biết. Khắp chốn, đủ mọi lớp người! -
Anh động viên tôi rồi bước vào cười với ông chủ quán: “Giới thiệu cụ, một khách
mới. Anh bạn tôi đây, người Sài Gòn!”.
Cụ cả Vạch người cao to, đậm đạp, trông dữ tướng (vốn là tay
giỏi võ) nhưng lại có đôi mắt và nụ cười mỉm mỉm rất hiền:
- Rước hai ông vào! Mưa gió thế này...
Anh Tưởng vui vẻ đỡ lời:
- Thì càng thêm ấm cúng chứ sao, cụ!
Chúng tôi vừa mắc áo mưa bên cột xong, quay lại đã thấy mấy
ông khách ở bàn giữa dồn lại, lấy chỗ cho chúng tôi ngồi và người nào cũng khẽ
gật đầu chào anh Tưởng. Sau tôi mới biết, anh cũng chẳng rõ họ là ai, có thể
quen mặt ở quán, có thể họ biết anh qua cụ Cả cũng nên.
Anh Nguyễn Tuân thỉnh thoảng cũng đến đây. Hầu như gần khắp mặt
“danh sĩ Bắc Hà”, từ Nguyên Hồng, Tô Hoài, Văn Cao, Đỗ Nhuận, Nguyễn Xuân
Khoát, Bùi Xuân Phái, Hoàng Trung Thông, Như Phong, Huyền Kiêu, Thanh Châu, Mai
Văn Hiến...
Quán “Thủy hử” là do hoạ sĩ Nguyễn Sáng đặt. Anh em quen gọi,
lâu ngày thành tên. Chẳng biết do ai xướng xuất, mặc nhiên Nguyễn Huy Tưởng được
suy tôn thành một Tống Giang.
Khi anh Tưởng mất rồi, có lần cụ cả Vạch bùi ngùi bảo tôi:
- Con người hiền lành, đức độ, ai cũng mến cũng quý. Vậy mà
Trời chỉ cho ăn có bao nhiêu lộc đó. Tạo hoá thật là bất công. Chẳng biết ngày
xưa ông Tống Giang trong truyện Tàu mẹo thu phục hào kiệt thế nào, chứ tôi thấy
ông Tưởng đúng là bậc hiền giả, tự cái đức nó chinh phục mọi nhân tâm, mà ông
còn hơn Tống Giang về mặt tài hoa, trí lự...
Phải nói, ai tiếp xúc với anh cũng đều có cảm tình ngay. Nguyễn
Huy Tưởng là người được nhiều giới trong văn học nghệ thuật yêu bằng tình bạn,
tình thầy trò và kính nể, không như đối với người có chức quyền.
Ngày anh mất, giới sân khấu cải lương: Sỹ Tiến, Sỹ Hùng, Tuấn
Sửu, Ngọc Dư, Kim Xuân, Lệ Thanh v.v. tác giả diễn viên đều đi đưa đám anh. Trần
Văn Cẩn, Nguyễn Văn Tỵ, Trần Đình Thọ, Huỳnh Văn Thuận, Sỹ Ngọc, Phan Kế An,
Dương Bích Liên, Nguyễn Tư Nghiêm... nói chung anh em hoạ sĩ đều rất quý anh.
Kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện thì càng thân tình, rất quý mến anh. Việt Dung viết Chiếc
vai cày được anh hết sức nâng đỡ, xây dựng lúc còn ở Việt Bắc (Tuyên
Quang). Một nhà văn như Nguyễn Huy Tưởng gặp Việt Dung bấy giờ là người viết mới,
trong tình thầy trò còn thắm thiết một tình bạn. Cho đến bây giờ, Việt Dung vẫn
thường tâm sự với anh em: “Tôi rất muốn dựng được một vở kịch, hay chuyển thể một
vở kịch, một tiểu thuyết của anh Tưởng ra cải lương, ra chèo để diễn ở thủ đô.
Như Sống mãi với Thủ đô chẳng hạn. Nhưng còn ngại sức mình, mãi chưa
dám làm. Giá được người trình độ như anh Tưởng đứng ra làm, tôi sẽ theo, góp
thêm chút nào đó của phần mình. Điều tôi vẫn hằng nghĩ và áy náy, nhiều lúc đến
xốn xang...”.
Anh em văn nghệ quân đội danh rạng ngày nay như Hồ Phương, Hữu
Mai, Hoài An, Từ Bích Hoàng v.v. đều quý anh, ơn anh. Lớp bộ đội 308 mở ở Phúc
Trìu, Hồ Phương viết Thư nhà, Siêu Hải viết Voi đi... đã được
anh hết sức động viên, khuyến khích. Đường lối văn nghệ của Đảng, kinh nghiệm,
kiến thức của anh có bao nhiêu, anh mang hết ra truyền lại, hướng dẫn cho lớp
trẻ. Trước tiếp quản thủ đô, anh chỉn chu lo mở lớp cho đoàn văn nghệ sĩ từ
trong thành ra vùng tự do học tập (trong đó có nhiều anh chị em sân khấu cải
lương). Về lại thủ đô ít lâu, anh đôn đốc, đứng ra mở ngay một lớp ở Khương Thượng
- vừa là lớp hướng dẫn, vừa là trại viết - cho Chu Văn, Ngô Ngọc Bội, Châu
Diên, Vũ Thị Thường, Văn An... giờ đều thuộc hàng những cây bút tên tuổi của cả
nước.
Tết 1955, tôi viết Đèn tôi bay về Lục Hồ Chí Minh và
sau đó viết thêm bài ký Cây đước Cà Mau, anh đến chơi, tươi cười bảo
tôi: “Thấy vảy thấy cựa, có mã rồi đấy. Đứng được trường chọi, cậu còn phải nỗ
lực cố gắng, mất nhiều “tử công phu” đấy!”.
Khi thì anh gọi tôi bằng cậu như em út, lúc thì gọi tôi bằng
ông “tớ tớ ông ông” như trang bằng vai phải lứa, chẳng kể tuổi đời tuổi nghề,
chẳng hề phân biệt chiếu dưới chiếu trên. Điều anh luôn nhắc nhở tôi là “chú trọng
sắc thái địa phương nhưng đừng có abuser (2) ngôn ngữ” và luôn dặn dò
tôi phải chịu khó ghi chép hằng ngày (như Tô Hoài) và “khiêm tốn học tập”. Nói
chuyện công việc nghề nghiệp, anh phân tích kỹ thế nào là cá tính và tính cách
nhân vật, thế nào là đột phát, xếp intrigue (3) là thế nào, để làm
gì... Xem cách làm việc nghiêm túc của anh, tôi không ngờ anh thận trọng, chu
đáo, tỷ mỷ đến vậy. Nhân vật của anh đều có từng bản lý lịch riêng. Nhân vật phải
có nghề nghiệp, anh nhấn mạnh - thậm chí địa bàn hoạt động của họ ngay trong một
huyện, xã, chỗ nào nhà ở, đình chùa, sông núi cũng vẽ thành bản đồ - tất nhiên
là tất cả đều do anh tạo nên, chưa nói tính chính xác của giai đoạn lịch sử thời
kỳ đó phải được bảo đảm hết sức tôn trọng.
Sau đợt đấu tranh chống “Nhân văn Giai phẩm”, đã xác định, củng
cố lập trường tư tưởng, Đảng chủ trương tất cả anh chị em văn nghệ sĩ miền Bắc
cần thiết phải có đợt thâm nhập thực tế mới, do tuỳ thích tự chọn. Ai cũng gọn
ghẽ ba lô, hăm hở lên đường. Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân, Văn Cao về nông trường
Điện Biên. Ba tháng, từ nông trường quân đội của sư đoàn miền núi xa xôi này,
ba lần anh viết thư về cho tôi kể nhiều chuyện lý thú, và lần nào cũng khuyên
tôi chú trọng giữ gìn sức khỏe, động viên tôi cố gắng “làm được một cái gì”. (Bấy
giờ tôi đang ở huyện Kỳ Sơn, Hoà Bình, Bùi Đức Ái, Nguyễn Quang Sáng... thì ở cảng
Hải Phòng). Anh Nguyễn Tuân còn gửi kèm cho tôi một chiếc lá ban xanh - mà anh
bảo nó là con bướm xanh hay một vó câu xanh - và gạch thêm: L’enfantement
de l’oeuvre commence toujours dans la douleur et se prolonge dans la joie
du prochain...(4) Và nói, “Ông đừng tìm tòi, tưởng câu này là của nhà văn
nước nào. Nó là của mình. Mình và Tưởng viết thư cho ông, đang hứng thì nó bậy
bạ buột ra tiếng Tây như vậy đó thôi!” (Thư ngày 26 tháng 10 năm 1958). Trở về
Hà Nội ít lâu, anh Tưởng viết xong tiểu thuyết Bốn năm sau nói về những
con người trồng cam của một nông trường quân đội, dựa trên thực tế chuyến đi.
Nguyễn Tuân cũng viết xong một truyện, một scénario, làm được một bài
thơ khá hay, chưa kể thu nhiều ghi chép.
Từ những năm mới về thủ đô cho đến khi anh lâm bệnh, qua đời,
Nguyễn Huy Tưởng vẫn hay rủ tôi đi ăn, đi chơi. Có khi tình cờ gặp nhau
ngoài phố, có khi nhân việc gì đó tôi đến anh, mà thường là anh chủ động tìm đến,
rủ tôi. Anh hay bảo anh Tuân: “Ta phải dắt thằng cu này - trỏ tôi - đi chơi,
cho nó thấy qua Hà Nội, kẻo nay mai, nó về mà chưa kịp hiểu biết gì!”. Lệ thường
ai rủ phải bao. Anh Tưởng giống Nguyễn Tuân chỗ hay rủ. Hôm nào, lâu không có
nhuận bút, túi không xủng xoảng thì Nguyễn Huy Tưởng cười tuyên bố luôn: “Bữa
nay KAMA đấy nhé!” (KAMA là không ai mời ai, là cùng góp vào, tiếng
lóng các anh quen dùng hồi ở chiến khu).
Từ Đại lầu đến Hoan lạc viên của người Tàu, đến bà bún thang
đeo chuỗi ngọc xanh trong chợ Đồng Xuân, bà nem chua giò chả ở chợ Hàng Da, ông
kính cận canh giò sấu phố Hàng Buồm, ông Văn Phú ếch tẩm bột rán phố Ga, ông
Sinh thịt chó chợ hoa Cống Chéo, bà cụ chả cá phố Hàng Lược... từ ông quán cởi
trần mặc quần đùi, đến ông quán mặc Tây đeo cà vạt, đến bà quán tóc trần cuốn
làn khăn nhung, mặc the tứ thân nâu, trịnh trọng đưa cơi trầu ra mời khách quen
xưa (Tưởng - Tuân) giọng chậm rãi, đặc người Hà Nội cũ: “Ối dào! Các ông đã về.
Thật là quý hoá quá. Chẳng hay quý ông nhậm chức đây hay rồi còn phải đổi đi
đâu...”. Nói chung, hầu khắp kiểu người, kiểu quán tiệm Hà Nội còn rớt lại khi
ta mới về, anh đều lần lượt đưa tôi đi khắp. Tất nhiên các khu lao động, nhà
máy, bến phà, các làng hoa, thắng cảnh ngoại thành ven Hồ Tây là những nơi anh
đưa tôi đến trước tiên. Đêm trung thu, anh dắt tay tôi đi Hàng Ngang - Hàng Đào
- Hàng Mã - Hàng Đường xem các nhà còn giữ tục bày cỗ... Và từng chập anh dừng
lại, bảo quãng này hồi toàn quốc kháng chiến, tự vệ thủ đô đã đục tường xuyên
suốt cả dãy để tử thủ chiến đấu, chỗ kia đồng bào thủ đô đã lôi cả bàn ghế giường
tủ ra làm vật chướng ngại, chỗ nào “Sao vuông” ôm bom ba càng đâm vào tăng địch,
giữ khu chợ Đồng Xuân, v.v... Tết Nguyên đán, chiều ba mươi nào anh cũng đến thăm
anh em viết miền Nam, thăm Đinh Quang Nhã, Hồ Thiện Ngôn, Hoàng Tố Nguyên...
đem biếu bánh chưng, chuyện chơi cho anh em đỡ nhớ nhà. Anh thường ca ngợi Xích
Liên (tức sư Thiện Chiếu) về sự uyên thâm, thán phục Trần Văn Giàu về tài hùng
biện, từng “thách thức bọn Quốc dân đảng tranh luận trong cuộc mít tinh trước
Nhà hát Lớn, mà chúng nó chịu im như thóc”...
Hè năm 1983, Marian Tkachev (5) sang Hà Nội, đêm uống rượu
tại buồng tôi (có Nguyễn Văn Bổng, Nguyễn Quang Sáng) anh cứ nhắc mãi Nguyễn
Huy Tưởng:
- Mùa đông năm 1959, lần đầu tiên từ Liên Xô sang Việt Nam,
tôi cũng ngồi tại buồng này với ông, ông Tưởng, ông Tuân. Hôm đó, ông Tưởng còn
mang tới thêm món tái dê... - Rồi anh thở dài, mặt buồn buồn. Trong
các buổi trò chuyện về sân khấu, Marian Tkachev hay nhắc anh Tưởng, tiếc người
“tài hoa mệnh bạc”, hay nhắc “Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài” và anh cho đó là “vở
kịch hay nhất của ông Tưởng, hơn cả Bắc Sơn, Luỹ hoa và Những
người ở lại...
Những ngày ốm nặng, trước cái chết đến từng ngày, Nguyễn Huy
Tưởng vẫn bình tĩnh, can đảm, thản nhiên như không. Anh em cho là anh không biết
bệnh. Không đâu. Anh rất biết, nhưng vẫn làm ra vui vẻ. Kim Lân xót quá, đề nghị
Hội Nhà văn cho được vào bệnh viện ở liền với anh, một phần cũng lo chị Uyên (vợ
anh) yếu về tinh thần, các cháu đều còn nhỏ (bấy giờ Huy Hiền là con gái lớn
đang học ở Đức). Nhiều lúc bệnh chuyển nguy, trông anh mệt mỏi rã rời, mà
Nguyên Hồng vào thì anh tỉnh táo hẳn, ngồi dậy, chuyện trò hoạt bát. Nguyên Hồng
lòng đau như cắt, vẫn cố pha trò, kiếm chuyện nói ba lơn cho anh vui. Và anh
vui thật, cứ cười luôn.
Sổ tay tôi còn ghi tóm tắt vài dòng, hồi mới biết anh:
“Nguyễn Huy Tưởng
Trí thức - Đôn hậu - Hàng danh sĩ quốc gia. Người quê Dục Tú
(Bắc Ninh) xưa là công chức ở Hải Phòng, Hà Nội - Hoạt động truyền bá quốc ngữ
trước Cách mạng tháng Tám. Đảng viên. Kháng chiến ở Việt Bắc”.
Ngày đó, tôi chỉ mới biết có vậy!
Hôm gặp Nguyễn Sáng ở quán “Thuỷ hử”, anh vui lắm, mặt mày đỏ
lơ đỏ lưởng như gà chọi, hất hàm hỏi tôi:
- Hôm mình khai mạc triển lãm, ông đi đâu?
- Ở đây... Nhưng mình quên mất. Đầu óc mụ mị thế nào ấy!
- Trời, có mặt đông đủ bạn bè. Chỉ thiếu ông Tưởng! Mình nhớ
nhất Tưởng!
- Ông thấy anh Tưởng thế nào... Tôi vừa kịp nghĩ sao mình lại
lẩm cẩm hỏi Sáng một câu vô duyên thế, nhưng chưa kịp biết nên nói thế nào để gỡ
lại, thì Sáng đã điểm điểm ngón tay lên bàn, cười xác định:
- Artiste et écrivain émérite - Chevaleresque
et bon papa!(6)
- Sao dạo này ông sính nói tiếng Tây thế?
- À, mình đang hứng, đang vui, mà Tưởng lúc vui lúc hứng cũng
thường hay chêm tiếng Tây! Mà sao trông ông có vẻ buồn vậy?
- Không vui mà cũng không buồn. Nó cứ bâng khuâng thế nào ấy!
- Vậy là ông tính xa anh em chứ gì? Về gửi xương tàn ở đất
quê à?
Tôi uống cạn cốc rượu để nén một tiếng thở dài:
- Ở Hà Nội thì mình nhớ Sài Gòn, về Sài Gòn thì mình lại nhớ
Hà Nội! Đâu là quê? Cũng chẳng biết. Ba mươi năm vui buồn sống chết với thủ đô.
Một nửa đời người...
- Ngồi đây, nhiều lúc mình cứ nhớ ông Tưởng.
- Có lẽ chính vì thế mà tôi mò đến đây.
- Để từ biệt một kỷ niệm?
Tôi cầm cốc rượn đã cạn lên, nhìn giọt rượu lăn lăn trong
lòng đáy, gượng cười với anh:
- Thì ông chẳng đã vừa bảo tôi, trước sau gì rồi cũng phải về
mà! Nhẽ đành phải vậy!
Chiều phương Nam, giữa Thành phố Hồ Chí Minh, tôi se thắt
đi tìm lại hình bóng một con người mà định mệnh trớ trêu khiến anh chưa kịp đặt
bước tới đây.
Hoa ngọc lan vườn ai xao xuyến sau mưa, đằm hương đến vậy!
Thôi thì cứ xem như Nguyễn Huy Tưởng đã có mặt ở đây, mà còn ở
lại với đồng bào Sài Gòn và anh em chúng tôi mãi mãi rồi. Cứ nghĩ thế cho nó ấm
lòng “kẻ dương gian, người âm cảnh”.
Đ.G
17 tháng 5 năm 1985
(Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 26-7-1985)
(Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 26-7-1985)
B- MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU:
TÚP NHÀ TÀN PHÁ
Tôi từ biệt anh dân quân. Đấy là đoạn cuối con đường rừng
rẽ vào làng. Cách đây một tuần lễ, theo lời anh, giặc gồm một phần lớn Tây đen,
Việt gian và vài chục Pháp đã qua đây. Bốn tên Tây trắng vượt lên trước, bò tới
chỗ này dò xét. Men ruộng khô bên kia, một toán nữa cũng tiến song song.
Tôi theo con đường giặc vào làng, lo ngại cho một số tài liệu
chúng tôi còn gửi tại đó. Buổi chiều hôm nay lạnh. Mưa phùn làm bóng những bụi
dại và những đám cỏ ven chân. Xa xa, dựa bên rừng, làng N. ẩn sau những hoa lau
và hoa chó đẻ rất nhiều ở vùng Tam Dương này. Không có vết tàn phá. Vì còn có
hình bóng nhà. Bờ ao đầu làng, vẫn như hôm chúng tôi mới đến đây, một đàn vịt
đang yên tĩnh bơi hụp, nghe như tiếng suối vàng chảy buồn buồn.
Nếp cổng tre dựng trên một cây khô không lấp như dạo trước.
Im lặng. Vọng gác trống không. Bặt bóng những tự vệ ít lời, ngồi so ro sưởi bên
những đống củi to cháy rực. Lòng tôi se lại không biết những nét mặt lầm lì kia
đã biến đâu. Họ đã chạy hay là đi công tác.
Tại làng này, chúng tôi ở nhà một ông cụ lằm lằm, bà vợ cũng
lì lì, người con dâu thì lê bụng chửa và bẩn thỉu. Người thứ tư trong gia đình
này là cháu đích tôn ông cụ, tuổi trên dưới mười sáu, gầy guộc và xấc láo. Tôi
không biết họ còn có người nào nữa không. Nhưng trong nhà chỉ có thế. Thấy họ
chẳng buồn nói, lúc nào đối với những người mới đến ở cũng như giận dữ tôi chẳng
muốn hỏi thêm về gia đình gia cảnh họ làm gì. Cả đến tên ông cụ tôi cũng chẳng
muốn biết. Mỗi khi đi đâu có việc trở về, tự vệ hỏi thì tôi nói là ở cái nhà có
ngần ấy người, có một ông cụ mắt kém, không râu và đầu trọc. Thế là họ hiểu.
Nhiều lúc chúng tôi mời ông cụ ngồi nói chuyện cụ cũng đến, nhưng để chúng tôi
nói một thôi một hồi cụ bỏ đi chẳng nói chẳng rằng, mà cũng chẳng lộ vẻ vui buồn,
lo sợ, tin tưởng gì cả. Bà cụ thì hết sức là xấu nói, một hôm chúng tôi thấy
cây khế ở đầu nhà nhiều quả, hỏi mua. Bà cụ đang đứng giữa sân, dắt trâu cho nó
đạp lúa, cau mặt gắt:
- Ra mà trảy, ai bán mà mua!
Rồi lại lầm lì. Nhưng cái nó làm cho chúng tôi khó chịu nhất
là việc mất cả một nửa bánh thuốc lào. Rồi thấy anh cháu đích tôn hút sòng sọc
suốt ngày dưới bếp. Chúng tôi không tiện nói ra. Tôi càng bị anh em công kích
và thầm oán những người trong nhà này. Họ đã làm giảm trong lòng tôi, lòng tin
ngay chính họ.
Buổi chiều hôm ấy, giặc tấn công dữ, tiếng liên thanh tặc tặc
gần. Chúng tôi đến nhờ ông chủ tịch giấu tài liệu hộ, ông ta bảo:
- Được, các ông cứ để chỗ ông cụ ấy, rồi tôi xin thu xếp.
Chúng tôi chỉ còn kịp đem theo những tài liệu quan trọng còn
những thứ cồng kềnh thì đành để lại ở nhà cái người mà chúng tôi đã mệnh danh
là ông già khó chịu kia...
Và hôm nay tôi lần về lấy nốt.
Vọng canh không có người. Đường làng không có người. Tôi qua
cái giếng, trước kia vẫn tấp nập người đến lấy nước. Đây là giếng độc nhất của
cái làng nhỏ bé, lơ thơ vài nóc nhà này, một cái xóm con thì đúng hơn, một mùi
khét ngai ngái bốc lên. Một cành cây cháy bắc ngang trên mặt giếng. Lá xém ngổn
ngang chung quanh bờ, phủ kín những đá ong. Bên cạnh, một nếp tường trơ trọi,
ám khói, cố chống đỡ những rui mè đổ sập xuống, và một mớ rơm của mái nhà xưa.
Tôi lẻn qua nách tường. Vào nhà ông cụ. Bếp đã cháy nhẵn. Chỉ còn thấy một đống
gio, ghếch lên đó là một cái mâm gỗ đã thành than một nửa, chuồng trâu còn lại
mấy cái cột lửa chưa đốt hết. Tôi đứng ngẩn người trước chỗ dựng mấy căn nhà
trên, nơi chúng tôi ở cũ, duy còn sót lại một cái thềm thấp toàn gio than lổn
nhổn. Nước mưa dầm thấm vào đen nhánh. Một vòng tròn nham nhở trước sân ghi dấu
đống rơm ngày nọ. Cây khế của bà cụ ủ rũ dưới những cành khô lá héo và rơm rác.
Tôi bước lên thềm, gượng nhẹ như đi trên xương máu.
Tôi đứng dậy. Dưới trời mưa. Không có nhà cản trở nên gió thổi
càng thêm lạnh. Có lẽ lạnh hơn ngoài đồng. Lạnh quá, lạnh nhất là không có một
bóng người, dù chỉ là một người bâng quơ nào để mình an ủi.
- Không biết ông cụ ở đâu! - Tôi tự hỏi như thế rất nhiều lần.
Và tôi cười cười không ra tiếng, cười không thành hình trên nét mặt: văn minh
Pháp đã qua đây!
Nhìn qua đầu đường, tôi không thấy một nóc nhà nào nguyên vẹn.
Giặc Pháp đã qua đây! Cảnh vật đến tan tác!
Tôi không biết đứng lại hay đi ra. Tôi tiếc những tài liệu.
Và tôi thấy thương thương pha lẫn một cái gì như hối hận. Tôi cố đưa mắt mờ vì
mưa, mờ cả vì tâm trạng mình lúc ấy, cố tìm lấy một người, hay ít ra cố tìm lấy
một vật. Không có lẽ nào giặc đã qua mà người ta không trở lại. Đến tôi mới ở
đây vài hôm, không vui thích tị nào, mà còn lưu luyến với những cái gì không có
hơi ấm của mình ở đấy, huống chi là dân làng. Họ đã gắn vào những nếp nhà tàn
phá này bằng bao nhiêu vui buồn, bao nhiêu nước mắt mồ hôi của bao nhiêu thế hệ.
Tôi giật mình. Qua một lỗ tường, cái gì lay láy như một đôi mắt
mở thao láo nhìn tôi. Tôi định thần nhìn lại. Mắt sợ hãi như mắt thỏ. Rồi từ sợ
hãi sang hoảng hốt, mắt thỏ thụt xuống, biến đi. Tôi chạy theo. Một bóng người
len lỏi qua đống cột kèo thui đen. Tôi gọi to:
- Ông ơi cho tôi hỏi một tí.
Sợ hãi trùm lên bóng người ấy. Tôi đuổi kịp.
- Tôi trước ở nhà ông cụ này đây mà. Người quen cả. Cho tôi hỏi
này.
- Tôi không biết.
Hắn nhìn tôi lấm lét, rồi lại định đi. Ấy là một người dân
quê đã đứng tuổi bé nhỏ ngu độn, râu tóc bơ phờ, run lẩy bẩy trong chiếc áo
rách gần hết và cụt tay.
Tôi ôn tồn, gạn gùng chuyện con người duy nhất còn trộn lẫn
trong cảnh tàn phá. Tôi tưởng không bao giờ ra khỏi những câu trả lời lúng
túng, giấu quanh.
Cuối cùng, hắn nói:
- Nếu mục đích là ông ở cái nhà mọ ấy thì mọ ấy đi rồi.
- Đi đâu?
- Lên lán xa lắm. Trong rừng.
- Ông chỉ cho tôi đi. Chóng rồi tôi đãi cái này.
- Tôi chịu thôi.
Lại im lặng. Mãi mãi, khi thấy rõ tôi không phải là ma quỷ hiện
hình ở đây, cũng không phải là Việt gian, mà chỉ là một người cùng nói những lời
đau thương như hắn, hắn mới chịu ngồi bên tôi nói chuyện. Chúng tôi ngồi nép dưới
một mái chuồng trâu chưa cháy hết, thân mật kề vai nhau.
Giặc qua đây đốt phá không còn để một thứ gì. Chúng đốt nhà,
chúng đốt rơm, chúng gánh hàng chục gánh thóc cho ngựa ăn, rồi chúng lại đốt,
cái gì không đốt được thì chúng bắn: chúng bắn lợn, chúng bắn trâu, chúng bắn
bò, chúng bắn cả gà vịt, chúng đập hết trứng vịt. Trứng gà thì ăn rồi đem đi.
- Biết bao nhiêu là của! - Hắn thở dài nói tiếp. - Làng con
nguyên trước đã thiếu trâu cày, đồng dân chỉ có mười sáu con vừa trâu vừa bò.
Nó bắn mất chín, quá nửa.
- Anh có bị con nào không?
- Con may còn chạy được. Nhưng cái mọ nhà ông ở thì không chạy
được. Nó bắn mất con trâu mới tậu, cày hay quá. Ngày còn bà mọ ấy...
Tôi vội ngắt lời:
- Bà mọ nào?
- Bà mọ ấy chứ bà mọ nào! Mấy hôm nọ, ông ở đây, bà mọ suốt
ngày ở nhà, ông không biết ư?
- Tôi có biết. Thế bây giờ làm sao?
- Bây giờ gì? Nó bắn ngay từ hôm nó tiến vào. Lúc nó đi, thì
đã chết cứng dưới gốc khế kia kìa.
Hắn vừa nói vừa chỉ cây khế đứng rủ bên kia tường. Tôi thấy
nhói trong tim. Tôi theo tay hắn nhìn cây khế. Người bạn tôi lúc này nói như một
người được cởi mở tấm lòng:
- Khốn nạn! Được tin hai con hôm trước thì hôm sau mẹ chết.
- Tôi có thấy hai ông bà cụ ấy nói chuyện đến con cháu bao giờ
đâu. Tin gì hả anh? - Tôi sửng sốt hỏi.
- Biết ông là ai mà người ta nói. Ông mọ bà mọ ấy có hai con
trai. Người con nhớn đi Vệ quốc, mới có tin đưa về là chết trận ở cầu Bâm. Ông
có thấy thằng con trai anh ta không?
Tôi gật đầu. Hắn lại nói:
- Đấy là con trai anh ta. Còn chị vợ thì đi theo nhân ngãi từ
ngày thằng bé ấy chưa đầy tuổi tôi. Anh ta chỉ có một mình nó. Thì ra cái trùng
nhà này dữ quá. Bố chết con cũng chết theo.
- Chết theo, bao giờ? Vừa mới hôm nọ...
- Chứ còn hôm nào nữa. Cái hôm Tây đánh tứ tung thì nó đi
giao thông sang S. Thế nào lại hỏi đường ngay một thằng Việt gian, nó giả vờ dẫn
thằng bé vào vị trí Tây rồi nó lấy bay don nét nó đâm chết.
Tôi nhăn mặt. Người dân quê lặng thinh. Tôi cũng lặng thinh.
Hình dung người cháu đích tôn xấc láo với nửa bánh thuốc lào, có lẽ vẫn còn
trong người nó lúc chết. Thân thể nát nhừ của nó như bày ra trước mắt tôi,
ngoài kia, dưới trời mưa. Tôi còn nghe rõ tiếng hút thuốc sòng sọc dưới bếp. Bất
giác, tôi thở dài. Sao tôi lại có thể ghét được nó vì nửa bánh thuốc lào.
- Tôi muốn tìm ông cụ ngay. Anh dẫn tôi đi...
Tôi cầm lấy tay lạnh buốt của người ngồi bên cạnh. Cử chỉ của
tôi mạnh đến nỗi hắn suýt ngã sang một bên. Hắn đứng dậy.
Tôi sửa soạn những lời an ủi, nó sẽ cảm động như tôi lúc ấy.
Tôi nhẩm định một số tiền để biếu ông cụ. Tôi sẽ xin lỗi ông cụ về thái độ của
tôi đối với ông cụ, đối với những người đã khuất. Tôi sẽ ôm lấy ông cụ, và nghĩ
như thế, nước mắt tôi bỗng rưng rưng.
- Ta đi đi, anh ạ. - Tôi khẩn khoản. Tôi kéo mạnh tay hắn.
Hắn ngần ngại, làm tôi bực tức. Hắn nói:
- Hoài của. Hôm qua, hôm kia mọ ấy lăng xăng ở đây, chạy hết
lán này đến lán nọ gọi dân về ủng hộ bộ đội đóng ở đây. Giá ông đến những lúc ấy
có phải là gặp ngay không. Bây giờ lên lán, xa mà khó đi quá. Hay là con chỉ đường
để ông đi... Kìa mọ ấy đây kia chứ đâu... vừa đúng.
Tôi tưởng hắn nói bừa. Và tôi tưởng là một cơn mê. Tôi quay
ra thì ông cụ vừa vào. Tôi cố nhận xem ở cụ có sự gì thay đổi không, sau bao
nhiêu đau khổ và tang tóc. Nhưng không. Vẫn là ông lão khó chịu, lầm lì mấy bữa
trước. Đầu vẫn trọc, mắt vẫn kém, cằm vẫn không râu. Tôi rất cảm động, nhưng giữa
cụ và tôi vẫn không có sự gì tự nhiên. Tôi không ôm lấy ông già. Rung rung tiếng,
tôi nói:
- Chào cụ ạ.
- Ừ. - Cụ nheo mắt và nhận ra tôi.
Thấy người bạn tôi ngồi đấy cụ nói:
- Ra mà nhận lá.
- Lá gì? - Người dân quê hỏi.
- Lợp nhà chứ lá gì?
- Ở đâu đấy mọ. Thật ư?
- Huyện Lập Thạch quyên đem đến phát.
Cụ bước nặng về phía nhà cụ. Tôi lặng lẽ bước theo.
Người kia vui mừng lộ ra nét mặt, hỏi với:
- Nhận ở đâu hả mọ?
- Ngoài điếm ấy. Có cả các anh ấy cũng đến lợp nhà giúp.
Chỉ còn có cụ và tôi đứng trong sân. Tôi nói rất nhiều. Ông cụ
chìm đắm trong im lặng, nhìn hết chỗ này đến góc nọ. Hình như ông lão không nhận
thấy mưa rơi và gió lạnh. Trời đã sâm sẩm tối. Chợt cụ hỏi tôi:
- Ông đến lấy những cái ấy phải không?
- Vâng. Và để chia buồn cùng cụ.
Cụ quay ra. Tôi bước theo. Chúng tôi đi ngót hai cây số đường
ruộng trơn. Tôi không nói nữa vì ông cụ không trả lời. Tối mịt vẫn như khuya,
tôi tới lán làm trong rừng. Lán nhỏ như một chuồng lợn con. Một nhà tang không
có màu tang. Bên đống lửa chập chờn, người con dâu thứ, vẫn bẩn thỉu, đang gục
đầu khóc, tiếng khóc nghe ảo não từ xa:
- Anh ơi! Anh bỏ vợ bỏ con anh đi đâu. Con anh còn trong bụng
đây, nó đã tội tình gì, mà nó trông cậy vào ai cho đành, anh ơi là anh ơi.
Và chị ta hừng hực khóc hết cơn này sang cơn khác.
- Đừng khóc nữa.
Ông cụ bảo con dâu. Tôi không biết đó là một lời gắt hay là một
lời âu yếm. Tiếng nức nở im, rồi lại tuôn ra những lời kể lể. Tôi không khóc,
nhưng lòng nức nở. Tôi đã đoán ra nguyên nhân, người con thứ hai cũng mất rồi
nhưng không biết vì sao và bao giờ. Tôi chưa kịp hỏi thì ông cụ đã bò qua ổ
rơm, vào một xó lán, lấy ra đống tài liệu đưa tôi. Tôi nắm lấy tay cụ cám ơn. Cụ
nhìn tôi như một đứa trẻ nhìn. Cụ quay ra phía lửa. Lặng thinh. Hạt mưa rơi lộp
bộp trên mái lán. Gió lùa vào, lạnh ngắt. Người con dâu thút thít rồi lại òa
khóc. Ông cụ bỗng móc túi lấy ra một phong bì đưa tôi, nói hình như có vẻ lễ
phép:
- Giùm ông đọc hộ cho cháu nghe.
Đấy là giấy của Ủy ban kháng chiến Vĩnh Yên khen người con thứ
hai của ông cụ, du kích tỉnh, đã ném lựu đạn nổ ở phố M. giết được hai Pháp, vì
thế giặc không tiến nữa và cả một vùng thuộc huyện L. được yên. Người con bị
thương nặng, phải đưa vào quân y viện và vừa mất ở đấy.
Chưa bao giờ tôi nhận thấy rõ như buổi ấy sự bất lực của lời
nói và lòng người trước những đau đớn lớn lao. Đáp lại những tiếng tôi đọc lên,
người đàn bà càng nức nở. Ông cụ trầm ngâm, chất thêm củi cho lửa cháy, rồi dọn
ổ cho tôi nằm. Tôi cố ép cụ ngủ chung chăn, vì thấy cụ ngủ không chăn chiếu.
Nhưng cụ không chịu. Cụ nằm bên đống lửa. Có lẽ chỉ những lúc trằn trọc luôn
luôn của con người già cỗi ấy mới tỏ rõ được sự đau khổ ngấm ngầm trong lòng.
Tôi tỉnh giấc giữa tiếng trẻ khóc. Hai người đàn bà có tuổi
chắc ở lán gần đấy xúm quanh ổ rơm người con dâu. Không có tiếng khóc ai oán nữa.
Đứa trẻ khóc xua đuổi không khí tang tóc và lạnh lẽo. Tôi ngồi dậy. Một người
đàn bà vui vẻ khen sản phụ đẻ mau. Ngồi mép ổ rơm, ông cụ ôm cháu trong lòng.
Em bé được bọc trong một cái tã nâu mỏng và rách. Cụ nhìn tôi, nét mặt tươi hẳn,
chìa cháu tôi xem.
- Cháu giống cháu bố quá.
Và nói với cháu:
- Lớn lên cày khỏe cho ông, bố mày! Rồi lại đi lính.
Tôi đưa tặng chiếc áo sơ mi đem theo trong bọc:
- Để mừng cậu bé. Cụ nhận cho nhé.
Tôi giúi chiếc áo vào tay cụ. Một người đàn bà đến đón đứa trẻ.
Ông cụ không nói gì. Ngoài vẫn mưa. Người sản phụ thỉnh thoảng cựa và thở dài.
Tôi ngồi bên cạnh ông cụ già, trông cho lửa cháy đều và to. Chúng tôi thay
phiên nhau rít điếu cày. Tiếng trẻ khóc vui vui. Một giờ sau thì sáng rõ.
Theo bản in trong cuốn Một ngày chủ nhật, Nhà xuất bản Hà Nội.
NGUYỄN HỮU HÀ
- Họ và tên khai sinh: Nguyễn Hữu
- Sinh năm 1946
- Quê quán: Xã Cao Đại, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc
- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 2003)
- Tác phẩm chính đã xuất bản
* Khảng lặng (Tập thơ, 1999)
* Khúc giao mùa (Tập thơ, 2001)
* Chiều không yên (Tập thơ, 2004)
* Dòng sông đời tôi (Tập thơ, 2006)
* Tản mạn cho người (Tập thơ, 2008)
- Suy nghĩ về nghề văn:
Tôi thường ngẫm ngợi về
thân phận làm người. Và thơ là phương tiện tôi chọn để giãi bày và gửi gấm quan
niệm sống.
Tôi hằng mong thơ là thứ vũ khí
gìn giữ và bảo vệ cái đẹp và sự lương thiện ở đời.
Mai sau, có thể chẳng mấy ai yêu thơ, nhưng tấm lòng và phẩm
hạnh của người viết ẩn phía sau những con chữ sẽ còn lại mãi.
A- TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ:
ĐỌC THƠ NGUYỄN HỮU HÀ, NGHĨ VỀ THƠ
VÀ SỰ CHIẾM LĨNH
VÀ SỰ CHIẾM LĨNH
Nguyễn
Bùi Vợi
Một buổi sáng mùa thu năm 1968, chiếc xe Volga đen chở Chủ tịch
Quốc hội Trường Chinh (nhà thơ Sóng Hồng) cùng ông Kim Ngọc - Bí thư tỉnh ủy Vĩnh
Phú - đi ngược Việt Trì qua đoạn đường giáp Bạch Hạc, hai bên đường lúa xanh mướt
đang thì con gái, nhà thơ Sóng Hồng buột miệng thốt lên: “Trăm năm ông Phủ Vĩnh
Tường ơi!” Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phúc chưa hiểu nhà lãnh đạo cao cấp của mình đọc
câu thơ ấy với ý gì thì ông Trường Chính đã thân mật vỗ vai ông Kim Ngọc:
- Huyện Vĩnh Tường của các anh không phải là huyện lúa mười tấn,
cũng không có thành tích gì đặc biệt xuất sắc, nhưng ai đã qua đây đều nhớ câu
thơ nổi tiếng của nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Thì ra văn chương có sức ghim vào lòng
người những vùng đất, những cuộc đời không bao giờ quên được. Còn bây giờ huyện
Vĩnh Tường có nhà thơ nào không?
Ông Kim Ngọc từ tốn:
- Thưa anh, tỉnh tôi cũng có vài ba nhà thơ ở Trung ương,
nhưng Vĩnh Tường thì chưa có ai cả.
Cả hai ông đều không ngờ hai mươi năm sau, trên thi đàn Việt
Nam xuất hiện một nhà thơ sinh ra cùng Cách mạng Tháng Tám tại xã Cao Đại, huyện
Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc: đó là nhà thơ Nguyễn Hữu Hà, với các tập thơ đã
công bố: Khoảng lặng (1988), Khúc giao mùa (2001), Chiều không yên (2004) và
Dòng sông đời tôi (2006). Ngoài bốn tập thơ trên, anh có thơ in trong các tuyển
tập, các tập thơ nhiều tác giả và hàng chục tờ báo lớn trong nước. Thời niên
thiếu, Nguyễn Hữu Hà thích học văn, mê đọc sách, nhưng học hết cấp 3 anh lại nộp
đơn thi vào Đại học Bách Khoa Hà Nội. Những năm tháng ở nhà ký túc xá dột, giường
tầng, mỗi bữa ăn chỉ có một cái bánh “nắp hầm” (bột mì mốc trộn muối nắm thành
nắm, bóp dẹt, luộc lên), các em sinh viên vẫn say mê nghe giảng, vẫn lạc quan
làm thơ, có cả thơ tự giễu ngôi trường có cái cổng Parabol của mình là “Đại nhọc
Bách khổ!”.
Tháng 2/1969, Nguyễn Hữu Hà tốt nghiệp, chưa kịp nhận bằng kỹ
sư anh đã nhận giấy báo nhập ngũ cùng chiếc balô với hai bộ quân phục xanh cỏ
úa, hăm hở bước vào cuộc đời quân ngũ. Nâng đỡ anh suốt những năm tháng gian
lao ấy là hình ảnh mẹ hiền từ đang từng ngày, từng đêm ở quê nhà mòn mỏi ngóng
tin con:
Có một lần như không thể vượt qua
Súng đã nổ bốn bề không chỗ nấp
Tuổi mươi chín lần đầu đánh giặc
Sợ mẹ buồn lại bạc tóc vì ta
(Không đề)
Trên những nẻo đường thời chiến thuở ấy, ở mỗi vùng quê anh
đã sống qua, hình ảnh người mẹ Vĩnh Tường không lúc nào nguôi ngoai trong lòng.
Trong bài “Bến sông ngày vắng mẹ”, anh có những câu thơ thật bồi hồi:
Những cánh buồm nâu thuyền dong ngược
Ta đứng chồn chân ngóng mẹ về
Nước lạnh sông thưa từ mẹ khuất
Bàn chân lạc bước dọc triền đê
Mẹ mất rồi, quê hương thành xa lạ biết nhường nào, cho nên:
Tôi về thăm làng tôi
Biết không người mong đợi
Rùng mình nghe gió thổi
Từ phía mộ ông bà
Và đau xót làm sao, đứa con yêu quê bỗng thấy mình lạc lõng
ngay giữa làng mình:
Tôi như kẻ mộng du
Cánh cổng làng vẫn mở
Tôi hóa thành người dưng
(Về làng)
Chiến tranh như một cơn bão dữ quật lên những cuộc đời những
số phận, ở đấy sự sống và cái chết chỉ cách nhau một đốt ngón tay, phẩm chất
anh hùng và sự hèn nhát chỉ cách nhau một tầng thép gai. Gần một phần tư thế kỷ
mặc áo lính, anh sinh viên quê lúa đã được tôi luyện dày dạn hơn, gan góc hơn.
Là một con người đa cảm, Nguyễn Hữu Hà không để cho tâm hồn bị
chai lì trước những khổ ải, đau thương. Ngược lại, anh luôn rung động, nghĩ ngợi,
nhận thức cuộc sống để bồi đắp cho tình cảm và lòng yêu thương của mình. Những
kỷ niệm chiến tranh không nguôi ám ảnh anh, dằn vặt, thao thức trong anh.
Gần hai mươi năm sau chiến tranh anh trở lại thành cổ Quảng
Trị, lòng chưa hết ngậm ngùi:
Lính trăm vùng đã nằm xuống đây
Tôi may mắn sống phần đời còn lại
Thành cổ như là sân doanh trại
Tôi bồi hồi đứng đợi điểm danh
(Trưa thành cổ)
Tình thương và trách nhiệm của người lính trở về sau cuộc chiến
với những người đã khuất làm chúng ta cảm động (Ôi! Trong cuộc đời xô bồ này,
không phải người lính sống sót nào, người sĩ quan thăng tiến hết cấp này đến cấp
khác nào cũng còn nhớ đến những người lính đã che đạn đỡ bom cho mình). Anh đã
làm thơ bằng tất cả tấm lòng nhớ thương và biết ơn đồng đội không được may mắn
như mình:
Cái hôm nổ súng đánh Sài Gòn
Thao thức đợi dưới chiến hào Xuân Lộc
Đạn pháo quăng ta lên mặt đất
Bạn thân tàn ma dại đến giờ
Người bạn lính tâm thần ấy “mua bán hay nhầm, tàu xe hay lẫn”
nhưng “đồng đội xưa nhớ không sót một ai” nửa đêm đã tìm đến với anh vì:
Mình ít chữ đành cam phận nghèo
Bạn nhờ tôi viết đôi dòng xác nhận
(Khách quê)
Nhà thơ đã có đêm “Mất ngủ ở Sa Thầy” vì:
Thoảng nghe lao xao tiếng ai hỏi đường
Lối nào Kom Tum lối nào Tân Cảnh
Chân quen cắt rừng vai quen vác đạn
Ánh đèn phố thị sao mà xa xôi!
Anh đỏ mắt đến thắp hương trên những nấm mồ của bạn mà đau thắt
ruột gan:
Hồn thiêng ở lại thôi mình xa nhau!
Máu chảy một thời đất còn đỏ mãi
Cây đứng xếp hàng chờ mưa tắm gội
Tôi đứng trong này đợi lúc tàn canh
Đến đường Chín - Quảng Trị, hình ảnh các nữ thanh niên xung
phong trước đây chặn xe bộ đội đòi thư, nay là:
Ba ngôi mộ xếp đội hình hàng dọc
Tán cây che chưa kín chỗ em nằm
Và đau đớn làm sao:
Vẫn biết chỉ là những nấm đất không
Chúng anh đắp vội vàng sau trận bom tọa độ
Anh ngồi lặng giữa ba nấm cỏ
Gọi thế nào để gửi chút khói hương?
(Tưởng niệm)
Có thể nói, hình ảnh quê hương và đồng đội đã trở thành gia
tài tinh thần của nhà thơ. Sau chiến tranh, cuộc đời binh nghiệp lại đưa anh đến
những thành phố, hải cảng bên kia trời Tây, khi ở Đức, lúc lại ở Tiệp. Những
bài thơ anh viết thời ấy vẫn nguyên vẹn sự đằm thắm, chân thành.
Sự cảm hóa là sức mạnh tiềm ẩn trong thơ Nguyễn Hữu Hà. Lòng
chân thành đã đem lại cho bạn đọc sự tin cậy. Có thể anh còn câu thơ này câu
thơ khác vụng về, chưa hay nhưng không có câu thơ nào viết bằng “xảo ngôn, xảo
thuật”. Những bài khá trong tập đều là những bài thơ động lòng như: Dì tôi, về
quê ngày giỗ mẹ, Tô thị áo hoa… Người đọc tinh có thể nhận ra một điều là, qua
chặng đường thơ hơn hai mươi năm, với bốn tập thơ của Nguyễn Hữu Hà, hồn thơ,
tình thơ là nhất quán. Duy có điều đã thấp thoáng sự quen tay. Đó là sự hành
nghề mà nhà thơ nào có quá trình cũng rất khó tránh. Nếu người viết thấy được
điều ấy thì có thể khắc phục bằng cách viết ít hơn, chắt lọc hơn để giữ mãi được
sự trong trẻo, rưng rưng, hồn nhiên của cái thời non tơ. Ở chặng đường mai sau,
thơ anh chắc phải mở ra những bình diện mới, không thể lặp lại mãi những thành
công khi viết về những ký ức chiến tranh, những kỷ niệm quê hương.
Trong thời buổi người ta đua nhau cách tân hình thức câu thơ
thì Nguyễn Hữu Hà vẫn chấp nhận làm người cũ, vẫn viết được nhiều câu lục bát
hay, những bài thơ với hình thức ổn định, vì anh tin thơ như là tình yêu, điều
cốt tủy là phải chân thành. Bởi có chân thành mới động lòng người đọc. Thơ cũng
như bóng đá. Mục đích cuối cùng của bóng đá là sút thủng lưới đối phương, còn mục
đích cuối cùng của thơ là chiếm lĩnh trái tim người đọc.
N.B.V
ĐỌC THƠ NGUYỄN HỮU HÀ
Anh Chi
Nguyễn Hữu Hà làm thơ từ ba mươi năm trước, nhưng dăm
năm trở lại đây, thơ anh xuất hiện nhiều trên các báo chí. Anh được bạn đọc
quan tâm bởi một giọng thơ chân thành với những bài thơ chứa đựng nhiều bài học
cuộc sống. Thơ Nguyễn Hữu Hà mang nhiều phong vị vùng quê trung du Vĩnh Phúc,
những đồi núi, những bến bãi, làng mạc, và dòng sông Hồng… vừa rộng lớn vừa đa
cảm. Năm 1999, anh xuất bản tập thơ Khoảng lặng. Năm 2001, anh cho in tập Khúc
giao mùa. Và năm 2002, Nguyễn Hữu Hà lại có tập thơ mới: Chiều không yên.
Một nhà thơ có uy tín đã từng nhận xét về Nguyễn Hữu Hà: “Đó là một người có
trái tim không yên ổn…”. Vâng, bởi một trái tim không yên ổn, không thể yên ổn
trước cuộc sống, người ta mới viết những câu thơ thế này:
Giá mà gom được lo âu
Quanh năm đổ xuống sông sâu, vẫn thừa!
(Tự vịnh)
Buồn đâu vô cớ rỗng không cả trời
(Đò chiều)
Có đêm ta về lại cánh đồng
Trăng lạnh buốt những nấm mồ bát úp
(Những giấc mơ)
Và, không yên ổn tới mức phấp phỏng lơ sợ, như bài Sợ, một tứ
tuyệt khá sâu sắc:
Sợ khi thức dậy vườn vắng tiếng chim
Sợ buổi ra sông côi cút bóng thuyền
Sợ viếng người thân mà khô nước mắt
Sợ lúc bỏ đi chẳng có ai tìm…
Chúng tôi muốn nhận xét cho đủ đầy hơn về Nguyễn Hữu Hà rằng,
bởi có một trái tim không yên ổn, nên sống giữa cuộc đời này, anh cứ phải tìm
kiếm chốn nương tựa. Và những gì anh luôn tìm tới, là hình ảnh về người mẹ, là
tuổi thơ trong trẻo, là đồng đất sông nước quê hương, là đời trai nhiều say đắm,
là những ngày chiến đấu nhiều thương đau và kiêu hãnh, là những người từng sẻ
chia bao buồn vui, sướng khổ, là cả sự mất mát lẫn khát vọng sống có ý nghĩa… Tất
cả, đều không xa xôi, mà ở ngay trong lòng anh, trong cái cõi ký ức của bản
thân anh.
Ký ức, có khoảng thật êm sâu thật đắng đót:
Cái thời ngọt bưởi chua chanh
Bởi nhiều đắm đuối nên đành trắng tay
(Thăm Vĩnh Yên)
Ký ức, có khi là thời điểm tâm hồn bỗng trở nên hoang vu, cô
quạnh, như một lần về quê không kịp ngày giỗ mẹ:
Tôi hóa thành côi cút giữa làng
Đồng khói trắng hoa lau phơ phất trắng
(Về quê ngày giỗ mẹ)
Trong ký ức, có một khối đau đớn mà thời gian không thể làm
tiêu tan, như một hôm anh bị mất người đồng đội. Hôm đó, "sắp sửa thay
phiên gác/ Quả pháo vu vơ cướp trắng Tuân đi". Hôm đó, Tuân chưa ăn bữa
chiều. Vậy nên mấy chục năm sau, thơ còn tức tưởi:
Tuân mất đi để lại suất cơm chiều
Ngần ấy năm cơn đói có còn theo?
(Ám ảnh)
Ký ức là nơi lắng đọng rất nhiều kinh nghiệm trường đời, khi
cần, lục lọi ở đó những bài học thật quý:
Sống chết cách nhau một vạt cỏ xanh
Vinh nhục cách nhau tường rào dây thép
No đói cách nhau một lần khói bếp
Người xa cách người bởi chính người thôi!
Nguyễn Hữu Hà có con đường đi đến với thơ khá giống phần lớn
các nhà văn, nhà thơ cùng lứa tuổi. Thời thơ ấu được học hành dưới mái trường
xã hội chủ nghĩa và ôm những giấc mộng lý tưởng tươi sáng. Khi vừa trưởng thành
thì cả nước dồn sức cho cuộc chiến tranh giữ nước, tất cả lao vào chiến đấu và
lao động. Sau đó mới là việc viết văn, làm thơ. Nguyễn Hữu Hà vào bộ đội. Sau
chiến tranh, anh bắt đầu viết những bài thơ của mình. Bài Qua Sibêri, bài Mùa
hè đầu tiên, bài Gửi Vêra, và bài Nón bài thơ… Đó là tâm trạng của người vừa bị
bứt khỏi xứ sở quê hương, luôn ngoái lại ngóng vọng. Những câu thơ dịu êm, xao
xuyến. Đã thức dậy trong Nguyễn Hữu Hà con người thi sĩ, mặc dù anh sang Đông
Âu để tu nghiệp về khoa học. Anh đã viết một số bài thơ trong những năm sống tại
Đông Âu, nhưng đến bài Trước nền tượng đài Julius Fixích, cái tôi thi sĩ của
anh mới cứng cáp:
Một phần đời tôi phiêu dạt quê ông
Con người nhất những con người Tiệp Khắc…
Đó là năm 1989, ở Thủ đô Praha:
Gió hun hút những ngày phản bội
Tôi dẫm lên những tờ rơi bang bổ
Những vụn cờ như thể những máu loang…
Lời thơ tự sự, lại như trò chuyện, khiến se thắt lòng, bởi:
Nơi ông đứng ngày xưa
Chỉ còn lại một nền đá trắng
Bài thơ có kết cấu gọn, chắc, ý tưởng nội dung và tình cảm hòa
quyện, tạo được rung cảm cho người đọc. Hai câu kết ưu tư và trầm tĩnh, sâu xa
hơn những lời an ủi thường tình:
Đặt bông hồng yếu mềm trên tuyết trắng
Xin được sẻ chia ấm lạnh cùng người.
Những năm cuối thập kỷ 80 và thập kỷ 90, thế kỷ XX, cuộc sống
trên đất nước ta cũng đứng trước những thử thách rất lớn. Để sống được, mỗi
con người phải vật lộn với gian khổ và đói rét thực sự. Để vươn tới hạnh phúc,
con người phải nhận biết thêm rất nhiều những giá trị xã hội, và phải rất can đảm
mới vượt lên nổi. Nguyễn Hữu Hà viết nhiều hơn hẳn thời kỳ trước kia. Có thể
nói, ý thức công dân trong thi sĩ Nguyễn Hữu Hà trỗi lên mạnh mẽ với cái nhìn
thẳng thắn vào cuộc sống hàng ngày. Các bài thơ Trong bệnh viện, khách quê, với
em bé bán than, nhọc nhằn… là những day dứt khôn khuây trước những thân phận
con người trong cuộc sống nhiều va đập, xáo trộn. Những tứ thơ đanh rắn lại, ý
thơ có phần trần trụi, những câu thơ khắc khổ, nhọc nhằn. Nhưng ẩn sau tất cả,
ta thấy một nỗi lòng thương đời, thương người:
Em bé bán than mê mẩm đếm tiền
Cất vào đâu cũng lem luốc mấy tờ bạc lẻ
(Em bé bán than)
Còn người nữ công nhân làm đường trong buổi chiều:
Nắng nung chín con đường
Em giấu mặt vào vuông khăn
Dáng xiêu vẹo làm sao giấu được
(Nhọc nhằn)
Về thăm lại bạn chiến đấu cũ, anh không kìm được nỗi bức bí
trong lòng:
Mấy mươi năm quê bạn vẫn nghèo
Đơn xin việc chỉ biết nghề đánh giặc
Dai dẳng bám theo cơn sốt rét…
(Thăm bạn)
Cuộc đời càng ngổn ngang trăm mối, trái tim càng không yên.
Đôi khi nhà thơ thở dài:
Những cánh buồm nâu thuyền dong ngược
Ta đứng chồn chân ngóng mẹ về
(Bến sông ngày vắng mẹ)
Nguyễn Hữu Hà ưu tư rất nhiều, lắm khi phải "Đốt thuốc
ngồi đợi sáng"; có lúc tự trách cứ mình, "Đến bạc đầu vẫn còn nông nổi…"
Thơ Nguyễn Hữu Hà giai đoạn này thật nhiều day dứt trước thực tế đời sống đang
phân hóa, nhiều tầng, nhiều vẻ. Có lẽ, nỗi day dứt đến khắc khoải trong anh là
khi nghĩ về những người bạn chiến đấu đã không còn được sống nữa. Thường nhật,
nó ẩn khuất dưới đáy lòng, cứ gặp dịp là dâng trào. Một dịp như vậy là buổi
trưa ở Quảng Trị, khi:
Lũ lượt người vào Hội thánh La Vang
Tôi một mình ngược ra Thành cổ...
Nơi đây, gió Lào và cỏ dại xác xơ trên những nấm mộ:
Những lá dừa như gươm múa quanh năm
Và:
Lính trăm vùng đã nằm xuống đây
Tôi may mắn sống phần đời còn lại
May mắn được sống, và ý thức rõ mình nợ nần những người bạn
lính không trở về. Vậy nên hay mất ngủ. Mất ngủ nhiều đêm mới viết thế này:
Mất ngủ
Thêm vài sợ bạc trên đầu
Thêm một ngày sống đời nhân nghĩa
(Đêm mất ngủ)
Thấy rất rõ Nguyễn Hữu Hà là nhà thơ tả thực. Những năm gần
đây, trong đời sống thơ ca nước ta, không ít nhà thơ có thiên hướng săn tìm
hình thức mới cho thơ. Nguyễn Hữu Hà không chuộng hình thức, mà muốn tìm tới bản
chất của nội dung thơ. Anh là người đọc nhiều, lại được sống ở châu Âu khá lâu,
có điều kiện tiếp cận thơ ca của những nền văn hóa lớn. Anh chủ động chọn hình
thức truyền thống, bình dị cho thơ mình. Cuộc sống xã hội được anh nhìn nhận thẳng
thắn và đưa vào thơ một cách chân thực và tự nhiên. Thường là những cảnh huống
đời sống với nhiều gian khổ, thậm chí còn cay cực, nhưng được anh nâng niu,
trân trọng và viết thành thơ. Anh là người thật lòng gắn bó với đời sống, cái đời
sống có lúc anh đã "Tìm không ra một chỗ thảnh thơi"… Nhưng, nếu gắn
lòng với nó, vẫn tìm thấy chốn nương tựa:
Ta hoang mang giữa đất và trời
Đành trở lại cánh đồng xưa của mẹ
Lúa vẫn hồn nhiên xanh ngút thế
Chiếc vó bè thủng thẳng kéo trăng lên.
(Tản mạn đêm không ngủ)
Chúng tôi đọc thơ Nguyễn Hữu hà, từ những bài thời kỳ anh mới
sáng tác cho đến những bài mới viết gần đây, và hình dung anh trong cuộc đi mải
miết tới thơ. Một người hay tư lự, và hay buồn một mình. Trên con đường thơ ấy,
chính anh cũng biết là rất dài xa, càng đi, anh càng nặng lòng với đời hơn. Đây
là bài thơ Trúc Phật Bà:
Tôi trồng trước cổng khóm trúc Phật Bà
Lấy chốn bình tâm đi về sớm tối
Ban ngày từng đốt nhích lên gắng gỏi
Ban đêm chở che trai gái hẹn hò.
Mai sau thành đôi mai sau dang dở
Lá trúc sẽ ghi không sót một ai
Yêu thương bấy nhiêu vẫn còn chưa đủ
Phận mình thì mỏng phân cây thì dài…
Tứ thơ có sức khái quát, những câu thơ mang hơi hướng cổ điển.
Tình thơ thấm thía, lời thơ nhiều thương mến. Ý tưởng bài thơ là mong ước về
cõi đời này của nhà thơ, và của chúng ta nữa. Qua bài thơ trên, và một số bài
khác nữa, thấy Nguyễn Hữu Hà có sức tưởng tượng phong phú và biên độ xúc cảm của
anh khá rộng. Như chúng tôi đã nói ở trên, Nguyễn Hữu Hà là một nhà thơ tả thực,
nhưng không có nghĩa là anh không có những câu thơ cất cánh. Anh có khá nhiều
những câu thơ bay bổng, lung linh. Ngày mùa thu trở lại sông Cầu, Nguyễn Hữu Hà
viết:
Sương mỏng quá người không dám nói
Sợ chim vườn đang hót rủ nhau đi
Một buổi chiều vào Văn Miếu, bỗng nghĩ về một người con gái:
Anh hồi hộp nhặt viên sỏi nhẵn
Em đánh rơi trong cỏ tự bao giờ
Và, trời xanh bên trên mộ người bạn thiệt phận thì:
Trời xanh nguyên sắc cũ
Phận bạc phải cam lòng.
Đêm ở Đồng Đăng được mô tả tinh tế và đa cảm:
Hương hồi bay thản nhiên trong gió
Tiếng thở dài đôi bím tóc đi qua
Những câu thơ sau đây trong bài Chiều đông, anh viết ở Paris:
Nắng bỗng dưng hiu hắt cả trời
Gió cũng khác màu mây cũng khác
Lá rụng tơi bời con đường đá lát
Khải Hoàn Môn đâu phải cổng làng ta!
Xét về bản chất, các nhà thơ hiện thực viết những câu bay bổng
cũng để nói về những sự sống nơi mặt đất, những chuyện hạnh phúc hay khổ đau họ
nếm trải trên đường đời họ đi qua. Nguyễn Hữu Hà cũng vậy, anh đi trên con đường
của đời mình, nhận thức về nó và thổ lộ bằng những bài thơ của riêng anh. Một
nhà thơ danh tiếng của nước Pháp và cũng là của thế giới là Valéry, có nói đến
những phương pháp nhận thức của thi sĩ, trong đó có phương pháp nhận thức bằng
mơ. Dùng mơ để tiếp cận cõi thực. Không biết Nguyễn Hữu Hà có quan tâm đến luận
điểm đó của Valéry không? Mà anh biết hay không, có lẽ chả quan trọng. Bài thơ
Những giấc mơ, anh đã viết thế này:
Có đêm ta về lại cánh đồng
Trăng lạnh buốt những nấm mồ bát úp
Nội ngoại nằm đây mà không gặp
Chỉ trong mơ mới có thể như vậy. Tổ tiên đâu đó trong những nấm
mồ bát úp dưới trăng lạnh buốt. Chẳng nhắn được gì, thật là thương cảm. Khổ thơ
thứ hai là một cảnh khác trong cơn mơ:
Có đêm ta về lại rừng già,
Mặc áo lính khi mười chín tuổi
Sau trận bom cá phơi trắng suối
Đói thắt lòng nhắm mắt lội qua.
Đây chính là cái quãng đời chiến trận, khi mười chín tuổi, bước
qua máu lửa, thương đau. Hai khổ thơ tiếp theo:
Có hôm ta được ghé thăm nhà
Mẹ lập cập vấp vào bậu cửa
Rạ thì ướt không cách chi nhóm lửa
Bưng bát cơm khê khét nghẹn lòng.
Có đêm ta về lại dòng sông
Đen đặc những người mê man là củi
Ta lặn ngụp trong lũ nguồn dữ dội
Có đen tròn đôi mắt dõi nhìn theo.
Quê hương đấy, là gốc rễ đời ta đấy. Mẹ mong ngóng rất nhiều,
nên ta về là mừng lập cập vấp cả vào bậu cửa. Rơm rạ thì ướt, nên cơm mới khê
khét.
Là mơ, nhưng sông Hồng là con sông thực của đời. Mùa lũ, nước
cuốn về cơ man là củi, và đen đặc cả người. Anh cũng trong đám người đó, khác một
chút là có đôi mắt đen tròn dõi theo… Khổ thơ tiếp theo viết về trạng thái tỉnh,
từ thực tại nhìn nhận cơn mơ:
Những cơn mơ quanh quẩn bấy nhiêu
Như chiếc đèn kéo quân đêm đêm vòng lại
Quá khứ đeo đẳng thế, đêm đêm là quay trở lại. Cơn mơ vòng lại
với nhà thơ. Hồn anh thì vòng lại quá khứ. Đấy là những cuộc tiếp cận chính
hành trình của đời mình. Cuộc hành trình từ cội nguồn, qua nghèo đói gian
truân, qua máu lửa hy sinh. Con đường một đời người trong đời sống quê hương đất
nước. Câu thơ kết bình dị như một lời nói thường ngày:
Ta từng ngày mắc nợ những cơn mơ
Sức nặng của kinh nghiệm sống, khả năng truyền cảm không chỉ
nằm trong câu, chữ, mà ở trong cấu trúc chỉnh thể của bài thơ. Dường như Nguyễn
Hữu Hà đã đem những cảnh huống tiêu biểu trong trường đời mình để tạo dựng bài
thơ, nên nó có sức khái quát thật tự nhiên. Một đời thi sĩ, có thể có nhiều bài
thơ tâm đắc, nhưng những bài như thế này hẳn không có nhiều.
Như ở trên chúng tôi đã nhận xét, Nguyễn Hữu Hà là một người
có trái tim không yên ổn và đã luôn luôn phải tìm kiếm trong cõi ký ức mình, đặng
tìm thấy chốn nương tựa. Đó chính là cuộc tìm kiếm những ý nghĩa cuộc đời, và
cũng là ý nghĩa của thơ anh. Cõi ký ức người ta, chính là tâm can trí não, nơi
chất chứa mọi hạnh phúc, khổ đau, nơi ghi giữ những bài học trường đời. Vậy
nên, nếu là thơ tìm được từ đó, sẽ là những bài thơ cần thiết cho đời, chí ít
cũng là những bài thơ không xa lạ với mỗi chúng ta.
A.C
DÒNG TÂM CẢM CỦA ĐỜI THƠ
Trần Quang Quý
Có người làm thơ, lang bang cả một đời, khi ngồi kiểm lại
gia tài thơ thấy thứ gì cũng có một tý, vui mắt, nhưng chẳng cái gì thành hình
hài vóc dáng, thành tấm thành món, thật khó bắt mạch gọi tên, thế thì cũng lấy
làm tiếc. Có người làm thơ bút pháp đa dạng, thi lực mạnh mẽ, thi ảnh và cách
nhập cuộc phong phú mà vẫn thấy hiện lên cuồn cuộn những dòng chảy tâm thế, những
ký thác tâm hồn, cái tài ấy không phải nhiều. Lại có người làm thơ chầm chậm tới
mình (chữ của Trúc Thông), không ồn ào tốc lực, không sa đà hái hoa bắt bướm,
thơ đến như một lẽ tự nhiên, như một niềm day trở máu thịt buộc phải thốt ra,
trên dòng chảy mà mình đã thuộc, đã bơi ở đó từ thuở thiếu thời, từ thẳm sâu lý
ức, nó ám ảnh suốt đời, tâm thế thơ đủ để thiên hạ thấy được mạch nguồn, gọi được
tên, và thế cũng đã là hạnh phúc của một đời thi sĩ. Tôi thấy được Nguyễn Hữu
Hà trong nguồn mạch như thế, qua các tập thơ trước đây, và đến tập thơ thứ 5
này nữa, Tản mạn cho người, tập mới nhất của anh.
Nói chầm chậm bởi lẽ, so với những người làm thơ, viết văn đồng
hương đã nổi danh cùng thế hệ, cùng cái nôi phổ thông cấp III Trần Phú, Vĩnh
Phúc những năm đầu thập niên 60 thế kỷ trước như: Ngô Văn Phú, Hữu Thỉnh, Vũ
Duy Thông, Vũ ĐÌnh Minh, Hà Đình Cẩn, Ngân Vịnh… Nguyễn Hữu Hà xuất hiện muộn
hơn. Anh làm thơ đã lâu nhưng mãi đến năm 1999, khi đã ngoại tứ tuần, mới in tập
thơ đầu, Khoảng lặng. Có lẽ tên sách muốn nhắc tới cái khoảng lặng dài nửa
cuộc đời trước của anh. Tất nhiên thơ có lặng không lại là chuyện khác.
Cuộc sống của một kỹ sư quân khí trong những ngày tháng chiến
tranh ác liệt, sau đó là mười mấy năm tu nghiệp ở Đông Âu, trở về làm cán bộ kỹ
thuật quân sự mới là nghiệp chính, chứ anh không sớm rẽ sang nghề báo, nghề văn
một cách chuyện nghiệp như những người bạn cùng thế hệ.
Chỉ trong vòng 10 năm kể từ khi in Khoảng lặng, Nguyễn Hưu Hà
viết khỏe, in đều 5 tập sách, và lại đang chuẩn bị cho tập mới. Như sức nén
trong những khoảng lặng giờ mới là lúc bung ra, trên dòng chảy đồng hiện từ ký ức
chiến tranh, kỷ niệm quê hương, những thức thỏm tinh thần, những trải nghiệm
vui buồn của nhân tình thế thái, những lo âu về sự mai một của những giá trị là
tài sản phi vật thể được nâng niu, trân trọng một thời trong tâm hồn người thơ
Nguyễn Hữu Hà vốn trong sáng một cách bình dị: “Ngày xưa tôi ở rừng già/ Vẫn
say đắm vẫn thật thà thế thôi/ Học bài lụy ánh trăng soi/ Đói cơm hạt gắm, quả
doi cầm lòng (Sông Kỳ Cùng, ngày xưa). Thì ra, tưởng đã nhịn được thơ,
nhưng cái duyên nghiệp, tấm lòng đa mang tâm sự cuộc đời, cuối cùng bóng câu hồn
chữ lại là nơi ký thác của tâm hồn.”
Đã có nhiều người viết về các tập thơ trước của Nguyễn Hữu Hà
(Vũ Duy Thông, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Bùi Vợ, Trịnh Thanh Sơn, Anh Chi, Đỗ
Trung Lai…). Có một sự “thẩm” anh khá thống nhất về những thành công, về thi
pháp. Điều đó chứng tỏ Nguyễn Hữu Hà đã định hình danh phận. Như người ta định
dạng được ngôi nhà trong nhấp nhô mái ngói, cây vườn ở làng quê mênh mông vậy.
Đã định dạng được thì không lạc lối, không cần phải hỏi thăm nữa. Ở Tản mạn
cho người, Nguyễn Hữu Hà vẫn tiếp mạch dài, và là mạch thơ đáng chú ý, thành
công nhất, ấy là khi viết về quê hương và những người thân. Điều ấy thì rõ rồi.
Nhưng tôi hay nhắc gợi về dòng chảy, nguồn mạch chính là điều khá đặc biệt này,
dòng sông. Bóng dáng dòng sông luôn trở đi trở lại trong thơ Nguyễn Hữu Hà. Và
người mẹ (cũng là nguồn) chính là hình ảnh sâu đậm, luôn ẩn hiện nhớ
thương, luôn thắc thỏm, đeo đẳng trong tâm hồn thi sĩ, dù sau rất nhiều năm mẹ
đã yên nghỉ: “Mẹ đi mười bảy năm rồi/ một mình nằm giữa dốc đồi trung du/ trần
gian vùi dập nắng mưa/ nỗi con thương mẹ vẫn chưa khác gì/ từ hoàng hôn ấy biệt
ly/ chưa thôi hoảng hốt mỗi khi chiều về" (Chiều tảo mộ). Và cái dòng
sông kỳ ức thân thuộc, sâu lắng mà lúc nào nhắc đến nó cũng là những hình ảnh mộc
mạc, tươi rói: “Sông Cái đỏ ngầu/ vốc nước lên đục lờ máu cá/ chiều giáp tết mẹ
đi đãi đỗ/ đêm trăng suông củi rều sấp ngửa/ vạn chài gõ mạn chênh chao/ thơm
phức mùi cá nước" (Lại viết về sông). Những ám ảnh ấy đã cuốn tôi vào
dòng chảy thao thiết con sông và tình mẹ của Nguyễn Hữu Hà, như bắt đầu một cuộc
khám phá về nguồn trong thơ anh.
Như đã nói, trường độ thơ Nguyễn Hữu Hà khá rộng nhưng hồn
thơ chủ đạo của anh là quê hương và người thân. Nó cũng là những điều máu thịt
nhất của đời người. Thực ra hai chủ thể cảm xúc thức ấy là thống nhất. Cũng như
dòng sông của anh luôn gắn với bóng hình mẹ và em. Đó là miền quê trung du với
hệ thống hình ảnh thân thuộc: ruộng đồng, đồi nương, cây gạo, bầy sao mỏ vàng,
dòng sông, những cây cầu, củi rều mùa lũ… mà người thơ đã không ít lần bột
phát: “Nỗi nhớ nào bằng nỗi nhớ trung du". Dòng sông, nơi ký thác tâm
trạng nhà thơ, có sức hút mạnh mẽ nhất, sau tất thảy những ai oán nghiệt ngã,
ngày mà người cha phải gói tấm huân chương chói chang sắc đỏ để trốn một cuộc đấu
tố, còn mãi ám ảnh những ngọt đắng lội qua bao lâu nữa. Có thể là dòng sông
trong một lần” Đò sang quê ngoại, với quan sát tinh tế: “Con sang quê ngoại
một mình/ thuyền nan ván gỗ chòng chành ngày xưa/ phù sa lóp ngóp đôi bờ/ ngô
non ngậm sữa trổ cờ bồng con.” Chỉ những người thuộc về dòng sông và bãi bồi mới
cảm được những bước chân lóp ngóp trên phù sa dẻo quánh, ngai ngái mỡ mẩu tươi
non, mới hiểu được: “Nghiêng ngả cánh buồm/ mệt ngoài sóng vỗ/ là cách
tương tư muôn thuở nước thuyền” (Lẽ đời).
Dòng sông và hình bóng người mẹ luôn song hành, khi ẩn khi hiện
trong thơ Nguyễn Hữu Hà. Con sông Hồng, mà anh gọi là sông Cái, bên ngôi làng
trung du ấy, như một hình tượng xuyên suốt trong sáng tác, tôi ngờ rằng nó
không chỉ là vô thức từ ký ức sâu nặng, thân thuộc nhất của anh, mà nó là biểu
tượng chủ ý của tác giả về những quan niệm, về đời sống mà anh đã cất giữ, về
dòng chảy của thơ, thi pháp của riêng anh. Sông đã chảy nhiều ở các tập trước
và bây giờ dòng sông vẫn luôn ám ảnh thi sỹ với các cung bậc tâm trạng khác
nhau: “Sẽ trôi đi ấm lạnh kiếp người/ phố thị ồn ào/ bãi bờ hoang vắng/ lòng muốn
hát về dòng sông hy vọng/ lại chạnh buồn côi cút cánh buồm nâu” (Vì người đổ nhớ
cho sông). Thêm một lần tái khẳng định về quan niệm sống, cái tình cảm cố hữu
thủy chung với quê hương, tình mẫu tử, không dễ mấy ai biết nhớ trong đời, huống
hồ là người luôn vân vi, day trở bở ký ức như Nguyễn Hữu Hà: “Sâu nông còn có kẻ
dò/ dài rộng mấy sẽ đo bằng bờ bãi/ chỉ trắc ẩn của ta nước không mang nổi/ cứ
từng ngày neo lại đáy sông” (Lại viết về dòng sông).
Khi nhắc về mẹ, hay nhắc về góc làng trung du bên con sông
Cái, nhịp thơ, trạng thái thơ Nguyễn Hữu Hà bỗng trầm lắng, kinh giác, dìu dịu
thấm tháp vào ta như tiếng khóc thầm: “Đồi trung du/ người và cây không ngủ/
chân nhẹ bước lỡ đau từng nhánh cỏ/ nghe thì thào trong đất tiếng mẹ ta” (Chiều
nghĩa trang). Cảm giác như mỗi khi chiều xuống, trong hoàng hồn chập choạng,
bóng mẹ từ cao xanh lại hiện về: “Cõi người lẫn với cõi mê/ chẳng mấy đêm/ mẹ
không về với con” (Chiều tảo mộ). Thực ra, cảm giác liêu trai ấy chính là vì mẹ
vẫn sống, một đời sống khác trong tâm trí, trong máu thịt của đứa con thi sĩ thảng
thốt ra. Nguyễn Hữu Hà giỏi gợi hình, gợi trạng huống ở những khoảng lặng, khoảng
mờ của thời gian, không gian mà ẩn chứa niềm đau đáu của tâm trạng. Đặc biệt là
những câu thơ mong manh giữa thực và mơ, giữa tối và sáng, giữa đường dây vô
hình của cõi linh, hay cõi nào đó mà "đom đóm bay đi còn vòng lại/ đậu
trên vai như nhắc bảo điều gì". Và khi anh nói về đồng quê, thì những thửa
ruộng kia vẫn còn như có mẹ đang gieo hạt: “Mạ xanh ngút cho trời nắng dịu/ gió
sông lên thổi rỗng cả chiều" sao mẹ không về với con được nữa "ruộng
nhà mình qua tay bao chủ/ đất nâu sồng còn in bóng mẹ ta” (Qua ruộng nhà mình).
Vẫn là cái gió của dòng sông, cái gió thổi rỗng chiều tâm trạng, cái chiều ấy mới
hoang vu, trống vắng, bẫng lẫng, ám ảnh và cũng thi sĩ làm sao!
Bây giờ, mới thực là một người mẹ hiện hữu/ hay người vợ/ hay
người có tên là Em/ hay cũng chính là bóng dáng quê hương khác của Nguyễn Hữu
Hà. Người ấy trong anh ra sao nhỉ? Anh viết khi xa nhau: “Lần xa nhau nào cũng
thể đầu tiên/ rã rượi chiều cam chịu/ bao ngờ vực trong nỗi buồn êm dịu/ tiếng
thở dài theo gió dạt vào đây” (Xa vắng). Lúc đầu tôi hơi nghi ngờ về một mối
tình đã bạc tóc, đã nên ông nên bà cả rồi mà lần xa nhau nào cũng thể đầu tiên
như thuở yêu ban đầu thề non hẹn biển? Nói thực, nó hơi hiếm trong đời sống.
Nhưng càng đọc anh tôi càng tin lời thổ lộ kia là thành thực. Chả là ông chuyên
viên Ban quản lý khu kinh tế Dung Quất kiêm thi sĩ này thỉnh thoảng lại vi hành
vào Quảng Ngãi, nên mới có xa cách, có cái tiếng thở dài theo gió dạt vào đây
lãng mạn, cổ điển như vậy.
Ở khoảnh khắc khác, ta thấy cái nhân tình ấy thế này: “Nhớ
em/ cơn đau thắt ngực/ sông cứ chảy một sắc xanh sốt ruột/ những cánh buồm
không chịu xếp vào khoang” (Thơ viết ở làng).
Con sông đa mang. Con sông biểu tượng. Mẹ như là con sông Cái
của dòng chảy thi sĩ Nguyễn Hữu Hà. Thơ anh hiện ra tự nhiên như thế chứ không
phải nói lấy được. Khi anh chạm vào cõi thuộc nhất, thơ bỗng linh hoạt, hay lên
hẳn, nhiều câu thơ bảng lảng cõi thế. Đó là trong Xây nhà cho mẹ, Chiều tảo
mộ. Lời từ biệt mùa đông, Xa vắng, Nhớ tre làng, Lại viết về sông, Thơ viết ở
làng, Chiều nghĩa trang, Đò sang quê ngoại… Cũng vì yêu quê, tâm hồn thuộc về quê
với cái nhìn trong trẻo, thủy chung như lần xa nào cũng thể đầu tiên mà tâm hồn
ấy cũng thành thực ăn năn bởi những khi mải miết rong chơi, bởi trót đánh đổi
thời gian, tiền bạc/ lấy tiệc tùng/ lấy nâng cấp lên đời tiện nghi chóng mặt/
làm thước đo sang trọng con người, đến nỗi hay động lòng bi cảm, len lén thân
phận quê làng cả những lúc nghe mưa: “Đêm bất chợt rưng rưng mưa gọi/ hình như
mưa bay từ phía quê nghèo” (Tạp cảm). Rồi băn khoăn, rồi dày vò: “Lắm màu áo/
thiếu màu thương nhớ/ nhiều giọng nói/ thiếu lời quyến rũ/ muôn nụ cười/ thiếu
ngả nghiêng say” (Thơ viết ở làng). Đứa con của làng quê, của dòng sông Cái đa
cảm ấy thật khó tránh khỏi mặc cảm thị dân và lối sống đâu đó từng ngày tha
hóa: “Đôi khi lòng chợt tỉnh/ giữa thị thành bon chen/ thừa rất nhiều
nghi lễ/ thiếu mặt người để tin/ cái giả được tôn vinh/ thật thà hay khuất lấp”
(Đi giữa tháng ngày). Ta hiểu và cảm thông cho những mặc cảm của lòng trắc ẩn
phận làng đôi lúc trào lên không kìm giữ.
Người của mảnh vườn xưa, của khói bếp tim ra tôi Nguyễn Hữu
Hà là thế. Đấy là thế mạnh, cũng là hạn hữu của anh, nếu ai đó mong ở anh cái mới
của giọng điệu, của các giải pháp tu từ, của những khám phá, bùng nổ về chữ… Bởi
anh đã neo mình vào dòng chảy tự sự trữ tình, đằm thắm của con sông quê truyền
thống rồi. Đọc anh, không đọc bằng sự dóng diết câu chữ, không lực xoáy của âm
điệu, không ồn ào lý sự hoặc bí hiếm, lòng vòng ngữ nghĩa mà đọc bằng sự điềm
tĩnh, trải nghiệm mới thấm hết sự chân thành, dung dị của hiện thực truyền thống,
rồi cứ thế những câu thơ níu giữ, lan tỏa, khơi gợi từng vỉa lấp lánh tâm hồn.
Cái đẹp của gái quê yếm thắm, với cái hiện đại của những nàng chân gày quần trễ
phô phang rốn bụng, chưa biết ai ăn đứt ai. Cứ nhìn kia, sao bây giờ lắm nhân
viên nhà hàng lấy áo bà ba, yếm đào làm y phục; lấy tre trúc, nơm giỏ làm tiểu
cảnh kiến trúc? Sao có lúc ta thèm thế bát canh rau ngót, món cà bung, nồi rau
sắn chua nấu cá mộc mạc của trung du, những ốc ếch quê mùa ngày nào bỗng lên đời
đặc sản? Thế thì có gì mà phải sốt ruột. Có chăng, cái mà ta mong ở mỗi đời người
viết, là khả năng luôn đi đến tận cùng nội lực và cảm xúc của mình, tận cùng cá
tính sáng tạo, gọi nôm na là cái tạng của mỗi người. Lúc ấy ta sẽ chạm được vào
cái hay trong cõi chính là ta nhất.
Thật lý thú, khi sắp viết xong những cảm nhận này, tình cờ
tôi đọc được bài "Thêm một dòng sông chảy từ Vĩnh Phúc" của nhà
thơ Pham Tiến Duật (Toàn tập Phạm Tiến Duật), mới hay, cả gia đình Nguyễn Hữu
Hà cùng có tên là dòng sông (Hà): Người lần xa nào cũng thể đầu tiên là Khánh
Hà (giảng viên Đại học Bách Khoa), hai con gái anh là Thúy Hà và Phương Hà, cậu
con trai đang làm cho một công ty tin học ở nước ngoài là Nguyễn Việt Hà. Tôi
càng thấy rõ và yên tâm hơn khi lựa chọn đi theo những suy tư sâu lắng nhất của
Nguyễn Hữu Hà. Đó là dòng sông, dòng tâm cảm chân thành chưa thôi dào dạt và
hăm hở chảy dọc đời thơ anh.
T.Q.Q
B- MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU:
DÌ TÔI
Quê mùa mộc mạc thế thôi
Dì về đám cưới con tôi lấy chồng
Không đi thì chẳng đành lòng
Đi mà vẫn ngại nâu sồng khó coi
Liêu xiêu tải gạo bên người
Vẫn là dáng của mẹ tôi ngày nào
Thảm êm bước thấp bước cao
Bàn chân mới khỏa nước ao lên bờ
Vuông khăn tần tảo từ xưa
Hết bà đến mẹ bây giờ dì mang
Ban thờ run rẩy khói nhang
Hình như tiếng mẹ sẽ sàng gọi tôi
Xin đừng buồn thế, dì ơi!
Ngày vui sao nước mắt rơi đắng lòng.
Hà Nội, 1999
MỘT CHIỀU BẠCH HẠC
Chiều Bạch Hạc ồn ào sông nước
Không đàn hạc trắng xoãi cánh về trời
Sông Lô trong xanh thuyền lững lờ trôi
Sông Thao ngầu đục nhập về gá bạn
Tìm về chợ phiên những măng cùng trám
Cá nướng khói thuyền tíu tít vạn chài
Đôi bờ nhìn nhau đắm đuối một thời
Dốc dựng nước sâu thôi đành để lỡ
Cúi mặt bước qua có người tựa cửa
Sao trời đang xanh mây trắng không về
Sao mặt sông lặng nỡ cắm sào tre
Bỏ sợi tương tư cho chiều Bạch Hạc.
ĐÊM MẤT NGỦ
Mất ngủ
là chẳng mất gì
Chút hương lạ lọt qua cửa sổ
Giọng nói lạ thầm thào trong gió
Đêm dịu dàng đủ để yêu nhau
Mất ngủ
Thêm vài sợi bạc trên đầu
Thêm một ngày sống đời nhân nghĩa
Điều có thể mà sao không thể
Người với người mùng - một - Tết với nhau
Đã qua giải yếm làm cầu
Đã chết hụt sau chùm bom thối
Đêm mất ngủ vẫn bồn chồn câu hỏi
Ta có là người của hôm nay?
TỰ CẢM
Cốm đã vàng
cau ngập ngừng buồn quả
tàu lá héo
không gắng hơn được nữa
giữa chiều suông
trời nổi heo may
Đã từng xanh rút ruột từ cây
đã từng hát du dương với gió
lá đã già
không gắng hơn được nữa
thu sắp sang
phấp phỏng cả khu vườn
Phải rơi thôi
mắt lá rưng rưng
về đất ấm
lá không đơn độc
Phải rơi thôi
không thể nào khác được
TƯỞNG NIỆM
Anh qua cây số mười lăm
Không còn ai chặn xe đòi thư như ngày trước
Ba ngôi mộ xếp đội hình hàng dọc
Tán cây che chưa kín chỗ em nằm
Vẫn biết chỉ là những nấm đất không
Chúng anh đắp vội vàng sau trận bom tọa độ
Cả cánh rừng bị cày lên nham nhở
Hồn các em không mách bảo được gì
Như có tiếng chân khỏa nước dưới khe
Như có tiếng hát thì thào trong gió
Anh ngồi lặng giữa ba nấm cỏ
Gọi thế nào để gửi chút khói hương?
Đường 9, Quảng Trị, 1998
NHỮNG GIẤC MƠ
Có đêm ta về lại cánh đồng
Trăng lạnh buốt những nấm mồ bát úp
Nội ngoại nằm đây mà không gặp
Khói nhang lên chẳng nhắn được gì
Có đêm ta về lại rừng già
Mặc áo lính năm mười chín tuổi
Sau trận bom cá phơi trắng suối
Đói thắt lòng, nhắm mắt lội qua
Có đêm ta được ghé thăm nhà
Mẹ lập cập vấp vào bậu cửa
Rạ thì ướt không cách chi nhóm lửa
Bưng bát cơm khê khét nghẹn lòng
Có đêm ta về lại dòng sông
Đen đặc những người, mê man là củi
Ta lặn ngụp trong lũ nguồn dữ dội
Thoáng đen tròn đôi mắt ngóng theo
Những giấc ngủ mê quanh quẩn bấy nhiêu
Như chiếc đèn kéo quân đêm đêm vòng lại
Ta sống sót sau rất nhiều may rủi
Nên từng ngày mắc nợ những giấc mơ.
TẢN MẠN CUỐI NĂM
Tờ lịch cuối cùng lặng lẽ bỏ ta đi
lời từ biệt phũ phàng làm sao níu giữ
không khác được khi xuân còn quá trẻ
ta như cây thay lá kiệt cùng
Run rảy đầu cành giọt sương cuối đông
tinh khiết như chắt từ nước mắt
sương viên mãn sương tìm về đất
người đa tình. Người cứ việc hoang mang
Khóm hồng sau bão sót lại một bông
vẫn gắng gỏi thơm qua khe cửa
thôi, chẳng bận tâm vàng hay đỏ
hoa nhắc ta gan góc giữa đời!
Sáng 30 tết Giáp Thân, 2004
NGẪU CẢM HỘI AN
Chùa Cầu mấy sải thời gian oằn vai
rêu phong gạch đá lặng nhìn nước trôi
anh dắt tay em đi tìm bến đỗ
gỗ ván chênh vênh người chen chúc người
em ngước nhìn lên chi chít đèn lồng
gió tự sông Hoài bung biêng quả phúc
cho anh rùng mình cho em rối tóc
bất chợt trăng chiều rụng xuống đáy sông
con đường mấp mô chân người thong dong
giận đấy rồi thương hết mưa lại nắng
lát ớt đỏ cay tô mì xứ Quảng
môi hồng mắt ướt ta ngồi ngắm nhau
dùng dằng phố cổ chẳng nỡ về đâu
chờ đèn cánh sen tay ai sắp thả
chờ cánh diều biếc nối dài trời cao
lòng anh mở hội rủ rê em vào.
CHA TÔI
Trời cho tuổi chín mươi
Trời cũng bắt nếm nhiều cay cực
Thất bại đi qua lũ lượt
Cha tôi không khóc bao giờ
Ngày mẹ mất
Tóc cha rủ trắng nắp quan tài
Người ngồi vuốt ngực thở dài
Nước mắt lặn vào ướt trái tim khô
Dọn hết vòng hoa, trướng đỏ
Gió bay lời ai điếu não nề
Chúng tôi ra đi mỗi người mỗi ngả
Cha vịn vào cánh cửa
Đứng khóc một mình.
KIẾM TÌM
Tôi đi tìm tôi bốn mươi năm trước
Bím tóc mười lăm đung đưa rặng thông
Bóng người đã xa còn loang mắt ướt
Khấp khởi lòng trai toan theo đến cùng
Tôi đi tìm tôi xóm nghèo lặn lội
Phố thị quay cuồng lấn chiếm cỏ xanh
Còm cõi đá ong, oằn lưng mái ngói
Hồ lấp thành ao chân đi không đành
Tôi đi tìm tôi thấy toàn đầu bạc
Áo mũ xênh xang, ồn ã nói cười
Thương bạn đam mê đã thành kẻ khác
Thương mình một bóng chênh vênh đường đời.
Vĩnh Yên, 8/2002
ĐỢI THU
Chẳng mấy nữa sẽ heo may về ngõ
ta nhớ em nên bảo đã thu rồi
mây trắng quá
bàng xanh nguyên sắc lá
cốm ra sàng
chỉ đợi lá sen thôi
chẳng mấy nữa sẽ mùa hôn lễ
cây bên người
người say đắm bên nhau
môi cứ thắm
mắt cứ nhìn thiêu đốt
ta cứ yêu
quên nỗi bạc đầu.
CHỢ RƯNG
Hăm tám tháng Chạp chợ Rưng
một câu cửa miệng mà thương suốt đời
góc nào mẹ vẫn đến ngồi
khách nào đon đả chào mời ngày xưa
Nhọc nhằn cái thuở bán mua
trầu cau hỏi chuyện cau khô đỡ lời
người đi thì đã đi rồi
người còn ai đến những nơi chợ chiều
mưa phùn lều quán liêu xiêu
mẹ giờ cắp rổ lần theo ngả nào
mồ xanh mấy đận đắp cao
vì mong gặp mẹ ta vào chợ Rưng.
Vĩnh Tường, 16/1/2005
VỀ QUÊ NGÀY GIỖ MẸ
Tôi về quê ngày không còn mẹ
Giữa nhà mình lại hóa khách thăm
Hoa cau đầy vườn trưa nắng tãi
Tôi tựa vào cây để khóc thầm
Tường hoa mái ngói rêu phong cả
Đàn sẻ vân vi đến não lòng
Ban thờ bụi phủ hương khói lạnh
Giường cũ kê chân tràng kỷ long
Xa quê đời mẹ thành lận đận
Nửa bước theo chồng nửa bước con
Nước mắt ứa thay cho lời dặn
Tóc bạc ưu phiền những sớm hôm
Tôi đã thành côi cút giữa làng
Đồng khói trắng hoa lau phơ phất trắng
Mẹ ở lại với đất gò cỏ đắng
Khói nhang bay trong gió tạ từ.
6/1998
TRÚC PHẬT BÀ
Tôi trồng trước cổng khóm trúc Phật Bà
Lấy chốn bình tâm đi về sớm tối
Ban ngày từng đốt nhích lên gắng gỏi
Ban đêm chở che trai gái hẹn hò
Mai sau thành đôi mai sau dang dở
Lá trúc còn ghi không sót một ai
Yêu thương bấy nhiên hãy còn chưa đủ
Phận mình thì mỏng phận trúc thì dài
Tôi trồng khóm trúc thay cho lời dặn
Xin đừng nỡ phụ một vuông đất cằn
Bỏ lại cho đời tìm về với trúc
Ồn ào kẻ chợ nợ nần trần gian.
“Ruồi vàng, bọ
chó, gió Than Uyên”
Than Uyên
gò lưng vượt dốc
suối Mường Hoa cạn kiệt
ngựa chùn vách đá, cá trơ vây
Than Uyên
em gái Thái lưng thon cõng củi
nhấp nhô đồi núi
rung rinh khuy bạc áo tròn căng
Than Uyên
chiều Nậm U thao thiết vầng trăng
ngột ngạt khói rừng đang cháy
những vạt đất mang hình da báo
một khoảng trời bỏng rãy không mây
Dưới tán Pơ Mu tay trong tay
cái nục nạc của cây tưởng không cần nói gì thêm nữa
gió bức bối mà người say đắm lạ
chỉ gió thôi đã xúi bẩy nhau rồi!
Than Uyên, 5/2005
PHÁC THẢO VỀ MÌNH
Con sông đời tôi trong đục thất thường
cứ thấp thỏm tiếng gọi đò mỗi tối
khi vật vã xô bờ nghìn câu hỏi
lúc âm thầm tự hát đợi trăng lên
Con sông đời tôi chưa chịu lặng im
cứ lầm lũi chảy qua bao đắng ngọt
đợi mòn mỏi một người về rửa mặt
dẫu lông mày làm chết cá sông tôi!
MÙA THU Ở BẮC NINH
Hò hẹn mãi rồi cũng về Kinh Bắc
Chưa sông Thương đã muốn thương nhau
Em ý tứ giấu cái nhìn sau nón
Lúm đồng tiền biết cất vào đâu?
Nắng nhẹ trời buông mành tơ mỏng
Sương như khăn lụa khoác hờ vai
Đi đón mùa thu đường phơi lá
Không được heo may lại gặp người
Bao nhiêu say đắm thôi gửi lại
Ta về chăm chút mảnh hồn riêng
Đường đất từ mai thành xa cách
Lòng còn líu ríu nỗi em em.
XÂY NHÀ CHO MẸ
Hai mươi tuổi làm dâu họ Nguyễn
tháng tám ra đồng tháng giêng chạy chợ
được tiếng họ bên chồng bề thế
vẫn hai tay vun vén dựng nhà
ba mươi tuổi bỏ làng tản cư
rừng Lập Thạch* phên tre mái nứa
đêm hổ gầm ra sân đốt lửa
ôm con đợi sáng nước mắt rơi
bốn mươi tuổi nhà sang tay người
tuổi năm mươi lại bỏ quê chạy giặc
một đời tảo tần
một đời chắt bóp
chưa ngày yên ổn chốn nương thân
cỏ hoang vu đồi sỏi mẹ nằm
lòng rớm máu ngày về cải mộ
chỉ lần xây nhà này
không có nỗi lo toan của mẹ
con đứng đâu gió lạnh cũng tràn về.
Vĩnh Yên, mùa đông 2006
Chú thích:
* Huyện Lập Thạch (Vĩnh
Phúc).
Vùng tự do trong kháng chiến chống Pháp
Vùng tự do trong kháng chiến chống Pháp
NGUYỄN MẠNH TUẤN
- Họ và tên khai sinh: Nguyễn Mạnh Tuấn
- Tác phẩm chính đã xuất bản:
1. Tiểu thuyết:
* Những khoảng cách còn lại (NXB Văn nghệ Thành phố HCM,
1980)
* Đứng trước biển ((NXB Văn nghệ Thành phố HCM, 1982)
* Cù lao tràm (NXB Văn nghệ Thành phố HCM, 1985)
* Yêu như là sống (NXB Hải Phòng, 1988)
* Ngoại tình ((NXB Quảng Ninh, 1989)
* Nền móng (1990)
* Bốn bàn tay trắng (1991)
* Đời hát rong (1992)
* Phần hồn (NXB Thanh niên, 1994)
2. Các tập truyện ngắn:
* Người bạn tôi yêu (NXB Lao động, 1976)
* Tôi vẫn về nhà máy cũ (NXB Thanh niên, 1978)
* Năm hòa bình đầu tiên (1978)
* Người đứng gác ngã tư đường phố (1982)
* Hành khúc ngày và đêm (1984)
* Giữa bình thường (1985)
* Tất cả đàn ông đều thế (1994)
* Khỏa thân (2007)
Và nhiều tác phẩm kịch bản điện ảnh, phim truyện nhựa đã và
đang được dàn dựng.
A- TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ:
NGƯỜI KỂ CHUYỆN BỀN BỈ
Huỳnh Như Phương
Trước khi nổi tiếng với ba cuốn tiểu thuyết Những khoảng
cách còn lại, Đứng trước biển, Cù lao Tràm vào đầu những năm 1980, Nguyễn
Mạnh Tuấn đã khẳng định chỗ đứng của mình trong nghề văn bằng những tập truyện
ngắn.
Từ ấy đến nay ông là một trong số ít người kể chuyện dài hơi
và bền bỉ nhất trong văn học ta.
Nhưng tập truyện mới nhất của ông - Nỗi sợ hãi mầu
nhiệm - không phải truyện ngắn về những khoảnh khắc đời người, cũng không
phải tiểu thuyết bốn, năm trăm trang; mà là truyện vừa, mỗi truyện độ năm, bảy
chục trang in, dài lắm cũng không tới trăm trang.
Mỗi truyện là một điểm nhìn, một tấn thảm kịch đạo đức, diễn
ra trong một quá khứ tưởng người trong cuộc đã lãng quên nhưng lại hiện về khuấy
động nhân tâm. Quá khứ xa xôi, dưới ngòi bút nhà văn, trở thành gần gũi và chua
xót.
Sự thay đổi của người thầy giáo mẫu mực, từng chỉ biết sống
theo khuôn mẫu, trọng nghĩa khinh tài, đâu phải là điều khó lý giải, nhưng lòng
nhân hậu của con người vẫn muốn giữ lại một cái gì tốt đẹp từ quá khứ để không
làm suy suyển hình ảnh thần tượng được tôn thờ (Đường đi của hoa). Kẻ ăn cắp
hai cái bánh rán ngày xưa, nhờ được người thầy bao dung và liên tài che chở, đã
trả món nợ ân nghĩa với đời (Sự dối trá vĩ đại).
Vẫn là ngòi bút sắc sảo hơn 30 năm trước của Nguyễn Mạnh Tuấn,
nhưng bây giờ cái xấu của con người được phán xét điềm tĩnh hơn, khoan hòa hơn
và nhân bản hơn.
Thiên truyện dài nhất và có sức nặng nhất trong cuốn sách
mang tên của chính nhân vật: Thằng Đấu. Đấu là một mẫu nhân vật của thời đại
bão táp, vừa là anh hùng, vừa là nạn nhân của thời đại đó, hiện thân của một ý
thức đấu tranh, tìm lẽ sống trong sự truy quét những gì không hợp với niềm tin
bất di bất dịch của mình.
So với những nhân vật phản diện trước đây của cùng tác giả, Đấu
là một chất lượng mới của loại nhân vật mà tính cách mang mầm mống của sự hủy
diệt nhân danh những điều cao cả. Xã hội đã đẻ ra Đấu và từng cần đến những thằng
Đấu để tồn tại, chính xã hội sẽ khổ lâu dài vì những thằng Đấu ấy.
Năm truyện ngắn độc lập khi đặt cạnh nhau trong một tập sách
trở nên một bộ tranh liên hoàn, nối kết và bổ sung cho nhau. Một bối cảnh
chung: quan hệ thầy trò ở Trường Chu Văn An đầu những năm 1960 và lứa thanh
niên Hà Nội xung phong xây dựng kinh tế ngay trước khi diễn ra chiến tranh phá
hoại của Mỹ. Một nhân vật xưng tôi, đồng thời là người chứng kiến và trần thuật
từ đầu câu chuyện: Tuấn - Nguyễn Mạnh Tuấn.
Dù nhà văn có khẳng định đây là tự truyện hay không thì nhân
vật đó hẳn nhiên cũng không đồng nhất với tác giả. Người mang tên Tuấn đó thật
ra đóng ba vai cùng lúc: một đang sống trong câu chuyện với thế giới của mình,
một đang kể lại câu chuyện với những gì còn hằn sâu trong ký ức, và một trong đời
thực đang lưỡng lự, băn khoăn về câu chuyện có khả năng “gây tổn thương” đó.
Đã thành phong cách Nguyễn Mạnh Tuấn, văn xuôi của ông không
nhiều trang miêu tả và phân tích. Chất bình luận thời tiểu thuyết luận đề cũng
đã phai.
Sức hấp dẫn của các thiên truyện là ở lời kể và giọng kể, kể
bình thản, để sự việc tự nó lên tiếng, không tô vẽ, uốn lượn, không ngậm ngùi
thương xót, như món ăn không cần gia vị vì đã thấm đủ đắng cay.
Nhịp điệu kể từ tốn mà không rề rà, tình tiết đưa đầy đủ để
cuốn người đọc vào câu chuyện trước khi kết thúc mà không buông rời cuốn sách.
Hẳn nhiên tính chân thực nghệ thuật của tác phẩm sẽ cao hơn nữa
nếu tác giả kiềm chế những chi tiết hơi phô diễn, ví như cái rừng hoa học trò
cũ tặng thầy giáo cũ nhân ngày tái ngộ hay những bữa ăn chiêu đãi học sinh
nghèo của cậu học trò nay đã công thành danh toại...
Trong lúc xuất hiện ngày càng nhiều tác phẩm phi hư cấu góp
vào dòng văn học “vết thương” nhìn lại và phán xét thời quá vãng, Nguyễn Mạnh
Tuấn hẳn đã cân nhắc khi chọn hình thức thể hiện là sự kết hợp giữa chất liệu tự
truyện và văn xuôi hư cấu.
Sự kết hợp này vừa tăng sức thuyết phục của sự thật, vừa thêm
tính hấp dẫn của cách kể chuyện khi người trong cuộc cũng là người chứng kiến
và trần thuật, không phải từ chỗ đứng của kẻ ở bên lề đời sống, mà là từ thân
phận của một người rất đỗi bình thường đang loay hoay tìm chỗ cho mình trong một
tình huống mà lòng sợ hãi đã thành phương thuốc để tự cứu chữa.
Hồi Đứng trước biển mới xuất hiện, Nguyễn Khắc Viện
có viết rằng về sau nếu ai muốn hiểu lại cái thời đã qua, hãy tìm đọc tác giả
tuổi đời chưa đến 40 này.
Nay sắp bước sang tuổi 70, ngòi bút nhạy bén của Nguyễn Mạnh
Tuấn chưa hề có dấu hiệu xuống sức, chắc sẽ còn tiếp tục kể những câu chuyện đời
đang biến hóa thiên hình vạn trạng thời nay.
H.N.P
B- MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU:
NỖI SỢ HÃI MÀU NHIỆM
Chuông điện thoại réo vang.
Tôi miễn cưỡng nhấc máy lên nghe: A lô!
Một giọng đàn ông lớn tuổi dè dặt: Xin lỗi! Có phải máy
của ông Tuấn?
Thưa, đúng!
Ồ! May quá. Xin chào. Tôi là Thân từ Pháp về. Chúng ta là xa
lạ, nhưng tôi xin phép đưa đến ông một người, với ông là chỗ quen biết, ông có
thể thu xếp thời giờ đón tiếp?
Người đó là ai ạ?
Ông gặp, chắc sẽ nhận ra.
Tôi rất khó chịu. Khi đang bận làm việc, tôi hết sức tránh tiếp
khách. Nhưng rồi cũng nhận gặp.
Hóa ra họ là cặp vợ chồng. Tôi không sao nhận ra nét quen nào
ở người phụ nữ ngồi trước mặt. Họ đều khoảng sáu chục. Có lẽ do ở trời tây nhiều
năm, với đời sống phù hợp, nên phong thái họ thanh cảnh, có vẻ trẻ hơn tuổi. Cả
hai người với đầy đủ họ tên, nói ra, nhiều người trong giới truyền thông và
khoa học đều biết.
Xin lỗi! Chúng ta đã quen nhau trong dịp nào?
Người phụ nữ nói:
Ông thử nhớ kỹ coi?
Cuối cùng, người chồng cười nhẹ:
Năm 1969, ông đã từng đến khu nhà tập thể ngành giáo dục ở đường
Kim Mã, gặp một người…?
69, 79, 89… Bây giờ đã 2007…, những 38 năm. Liệu bà có
nhầm? Tôi hỏi.
Người đàn bà nheo mắt hóm hỉnh:
Nếu ông vẫn không nhớ thì tôi về vậy.
Cái nheo mắt ấy dường như tôi đã gặp ở đâu? Đôi mắt đen âm
thầm với hai quầng mắt sâu…
Tôi bắt đầu ngờ ngợ rồi giật bắn người như chạm phải điện.
Dòng điện của một quá khứ vô cùng nhạy cảm.
Tháng 8 năm 1963, hơn tám nghìn thanh niên học sinh lớp
7 và lớp 10, vừa tốt nghiệp cấp 2 và cấp 3, thuộc Đoàn Thanh niên xung phong
Tháng Tám Thủ Đô, rời Hà Nội đi khắp các vùng rừng núi Đông Bắc, Tây Bắc,
khu 4, bề ngoài là đi xây dựng kinh tế và văn hóa miền núi, góp phần làm giàu đất
nước... Tôi ở trong đoàn mười lăm người, được chọn đến xưởng cơ khí sửa
chữa ô tô, sơ tán trong rừng Hoành Bồ, thuộc Ty Lâm nghiệp Quảng Ninh, học
nghề rồi làm thợ. Nhưng Mười bốn người lần lượt trở về Hà Nội
bằng nhiều con đường khác nhau: Được cử đi học đại học, chạy chọt để về, hoặc bất mãn bỏ về bị coi đào ngũ… Sự thuận lợi hay khó khăn trong việc trở về
thủ đô không phụ thuộc vào năng lực, sự tích cực trong phấn đấu, mà dựa theo bản
lý lịch gia đình. Tôi là thằng bị sót lại cuối cùng khi bước sang năm thứ bảy...
Dù vậy, tôi cũng không nản chí. Đời thợ nghĩ cho cùng,
chẳng có gì là xấu. Ở suốt đời trên rừng núi, thiên hạ ở được mình cũng ở được.
Nhưng từ đáy lòng, tôi vẫn luôn khát vọng và ý thức mình nhất định phải làm những
công việc cao xa hơn đời thợ, mà hàng ngày và quanh năm tẻ nhạt tháo ra, lắp
vào mấy cỗ máy ô tô, chưa kể đời thợ là do tôi bị chỉ định bởi sự kỳ thị thành
phần gia đình, chứ không hề do tôi lựa chọn. Tôi nhất quyết phải thoát khỏi số
phận để ngẩng cao đầu.
Nhưng rồi một sự cố bất ngờ xảy ra. Một lần, rồi nhiều lần
đang ngủ, tôi buộc phải thức giấc khi thấy ướt lạnh nơi đũng quần. Rồi cả lúc
ngủ trưa cũng bị. Vài lần đầu, tôi nghĩ do làm việc mệt hoặc trong ngày uống
nhiều nước, sau ngay cả ngày nghỉ và những ngày kiên quyết không uống giọt nước
nào, vẫn bị. Chết rồi. Tôi phát hoảng. Chắc chắn mình mắc bệnh đái dầm! Từ khi
mắc bệnh này, khi làm việc trong xưởng, rồi khi đi ăn ở nhà ăn tập thể, thấy
ai, nhất là đám thợ nữ và nữ nhân viên phòng hành chính, tôi cũng tránh nhìn,
chỉ sợ họ đọc thấy căn bệnh nhạy cảm nơi mình. Và tôi bắt đầu có ý tránh nơi tụ
hội.
Cách xưởng khoảng ba cây số, ở xã Sơn Dương,
cũng nằm sâu trong rừng, có thư viện huyện sơ tán từ thị trấn Trới vào. Các
ngày chủ nhật nghỉ việc, anh em thợ gốc quê Đông Triều, Chí Linh, Yên
Hưng, cách xưởng vài chục cây số, hay tranh thủ đạp xe về nhà; số quê ở
xa thì ra thị xã Hòn Gai chơi; ai không đi chơi thì ở nhà tăng gia trồng khoai,
sắn, rau xanh ở mấy vạt rừng ven suối; riêng đám học sinh Hà Nội luôn dành ngày
chủ nhật sang Sơn Dương mượn sách. Mượn về cũng được. Đọc cả ngày, ngay tại
chỗ cũng được. Thư viện chỉ có hai nhân viên. Nam là Sử còn nữ là
Thoa. Khi đám học sinh Hà Nội trở về “sống mãi với thủ đô”, chỉ còn một
mình, tôi vẫn không bỏ thói quen đến thư viện vào ngày nghỉ. Tôi thuộc lòng
ngày trực của Thoa và Sử. Chỉ những ngày Thoa trực, tôi mới đạp xe sang trả
sách cũ, mượn sách mới, trò chuyện trên trời, dưới bể, có khi cả ngày. Khát thì
được Thoa mời uống nước chè xanh, đói thì được Thoa luộc sắn hoặc khoai lang,
khoai sọ. Thoa là dân gốc Hòn Gai, tốt nghiệp trung cấp thư viện, nhỏ người,
không xinh lắm, nhưng có duyên, tính tình cởi mở, hồn nhiên. Cô rất mê đọc tiểu
thuyết và thơ, nên khoảng cách giữa tôi, một thằng trai Hà Nội với cô gái tỉnh
lẻ cũng gần gũi và trong sáng. Nếu có chút gì vẩn đục, thì ở chỗ đôi khi
ngồi bên nhau, hay nằm ở nhà đọc sách, vẩn vơ về Thoa, tôi thoáng băn
khoăn: Tại sao Thoa người nhỏ mà ngực lại to một cách khác thường? Chỉ thoáng
thôi chứ không nghĩ xa hơn.
Từ khi mắc bệnh đái dầm, tôi chỉ sang thư viện vào ngày Sử trực.
Tôi sợ Thoa đọc thấy bệnh của mình, nhưng cái chính là Thoa rất kỹ trong việc
cho mượn sách, còn Sử thoải mái cho tôi lục lọi các giá sách, lấy ra cuốn vừa ý, chỉ cần nói miệng là mang về, chẳng cần ghi sổ sách. Nhờ vậy mà
tôi lặng lẽ tìm được mấy cuốn sách đông y và cuốn Cây thuốc và vị thuốc Việt
Nam của chính cậu ruột tôi: Giáo sư, tiến sĩ Đỗ Tất Lợi, có nói đến bệnh đái dầm,
mang về xưởng, đọc ngấu nghiến. Cuốn nào cũng nói chữa bệnh đái dầm bằng nướng
nhện đến cháy đen, rồi ăn trong một tháng là khỏi.
Bình thường, ngày nào, đi đâu, cũng thấy nhện,
nhưng mỗi ngày phải có một con để nướng ăn, thì tìm khắp nơi chẳng thấy. Tự đi
lùng sục sẽ chẳng khác nào, lạy ông tôi ở bụi này, tự tố căn bệnh đáng xấu
hổ của mình. Một lần, đang rình bắt con nhện bám trên mạng bên bờ suối,
bất ngờ một con bói cá trên cành cây cao xà xuống lướt qua, con nhện lập tức biến
theo cái mỏ nhọn của con bói cá. Vừa căm thù bói cá, vừa tiếc ngẩn ngơ, nhưng lập
tức trong tôi nảy sáng kiến mà mãi sau này, mới ngẫm thấy có lẽ là năng
khiếu nhà văn. Chờ đến phiên chợ Sơn Dương, nơi những người Dao hay từ các vùng
núi kéo về bán lâm thổ sản, các loài chim, thú rừng, mà có lần tôi thấy họ
bán cả chim bói cá, mua bằng được một đôi.
Từ khi có lồng nuôi đôi bói cá, treo ở đầu hồi dãy nhà
tranh trên núi, dành cho tổ thợ, tôi công khai săn lùng lũ nhện. Hết nhện quanh
khu vực xưởng, tôi sang khu nhà tập thể của lâm trường ở gần, rồi sục vào nhà
các gia đình sơn tràng người Hoa, người Dao. Tôi nói tìm nhện về nuôi chim bói
cá. Nhiều người nói: Cho nó ăn tôm tép cũng tốt, việc gì phải cho ăn nhện? Tôi
bảo: Người Dao họ nói cho ăn nhện nó mới nhanh đẻ trứng.
Mấy cô gái con nhà sơn tràng người Hoa nhiệt tình bắt
nhện mang vào tận xưởng cho tôi nuôi bói cá.
Ăn nhện nướng đâu dễ. Phần thân và chân bị nướng cháy
ăn bùi và thơm không khác gì châu chấu hay dế nướng, nhưng phần bụng vẫn mọng
nguyên nước, nhìn thấy ghê, nhắm mắt cắn một miếng, nước nhờn và hôi phọt đầy
miệng, phát ói. Để hết bệnh, ói cũng phải ăn. Ăn rồi, mỗi khi nghĩ lại, gai cả
người. Cuối cùng năng khiếu nhà văn lại phát tiết, tôi lấy một tờ lịch,
cuốn con nhện, hít hà nhắm mắt, cho vào miệng, uống theo một ngụm rượu lớn,
khi chú nhện trôi vào bụng, trong miệng chỉ còn vị rượu, sau nhiều lần, tự
nhiên thấy có vẻ nghiện… nhện.
Ăn nhện nướng suốt hai tháng, bệnh vẫn hoàn bệnh.
Trong sách, cậu tôi nói: Để bệnh đái dầm kéo dài sẽ dẫn đến suy thận cấp, không
chữa trị kịp thời bệnh sẽ biến chứng, chạy vào tim, gây đột quỵ, có thể tử
vong. Tôi hết hồn.
Nếu là bệnh khác, chắc chắn tôi sẽ dễ dàng đến bệnh viện,
nhưng với bệnh nhạy cảm này, đường đến với thày thuốc còn khó khăn, xa vời hơn
đường phấn đấu để được thi đại học... Chưa bao giờ tôi bi quan như lúc đó. Người
vẫn khỏe mạnh, hàng ngày vẫn đi làm bình thường, nhưng nỗi lo âu canh cánh cứ
ngày một tăng, đến ăn không ngon, ngủ không yên, còn uống? Tôi sợ uống đến
mức chỉ nhìn thấy nước đã hết cả khá.
Đúng lúc đó, tôi nhận được thư của thằng Na. Khi còn ở Hà Nội,
tôi có hai thằng bạn thân: Đoán và Nam, thuộc loại không giấu nhau điều
gì. Ba đứa học cùng từ lớp 8E đến 10E ở trường Chu Văn An 3A, cùng
ham mê đá “phủi” ở các sân Long Biên, Ba Đình, Quán Thánh. Khi tôi ra Quảng
Ninh, thì Đoán vào Thể Công Trẻ rồi sang đội Phòng không - Không quân, còn Nam,
một năm sau, cũng nhập ngũ, thuộc binh chủng công binh.
Nam báo tin bị thương trong chiến trường, được đưa ra Bắc điều
trị, nay đã khỏi, đang ở nhà nghỉ ngơi đến hết hạn nằm viện, rồi mới trở
về đơn vị. Nam nói: Hoặc tao sẽ ra chỗ mày, hoặc mày về Hà Nội. Chúng mình nên
tranh thủ gặp nhau được lần nào hay lần đó, nếu không tao vào chiến trường,
không biết ông trời có còn cho tao sống trở về gặp mày?
Thế là tôi xin nghỉ nửa phép về Hà Nội với Nam. Hồi đó, hai
đường quốc lộ từ Quảng Ninh về Hà Nội theo lối Hải Phòng qua đường 5 và lối Phả
Lại, Bắc Ninh, qua đường 18 đều bị máy bay Mỹ bắn phá, các thành phố, thị xã
trên đường đều tan hoang, phần lớn các cầu lớn đều bị đánh sập, thay bằng cầu
phao, đi bằng xe ca đều phải tránh giờ cao điểm và rất không an toàn. Tôi quyết
định đạp xe trên 150 cây số theo đường 18 qua Uông Bí, Đông Triều, Phả Lại, Bắc
Ninh về Hà Nội. Bây giờ nghĩ lại, không hiểu nổi tại sao, những năm đó, đạp xe
đạp một trăm, thậm chí, vài trăm cây số trên đường đầy bom đạn lại là chuyện
thường.
Hai anh em gặp nhau tay bắt mặt mừng. Nhà Nam trong con hẻm ở
đường Thụy Khuê, xuyên thẳng ra Hồ Tây. Nhà chỉ có mình Nam vì bà mẹ từ lâu đã
sang ở nhà chị Đông của Nam. Tôi ăn ngủ ở nhà Nam ba ngày. Có chuyện vui buồn
gì suốt ngày đêm, hai thằng đều trút vào tai nhau.
Đắn đo mãi, đến ngày thứ ba, lúc sắp chia tay, tôi mới
lộ cho Nam bệnh đái dầm của mình:
Mày chết ở chiến trường còn vinh quang, chứ tao mà chết vì bệnh
đái dầm thì quá ô nhục.
Nam nói:
Không thể có chuyện chết vì bệnh đái dầm được.
Tôi bảo:
Sách đã viết như thế.
Đừng có tin vào sách. Nam nói: Nếu sách viết
đúng thì trẻ con trên trái đất không đứa nào sống sót, vì đứa nào cũng đái dầm
từ lúc lọt lòng đến lúc 4,5 tuổi. Mày bị lâu chưa?
Mấy tháng rồi.
Sao mày không nói từ hôm đầu, để tao đưa mày đến gặp chị
Đông?
Tôi sượng sùng:
Sao lại chị Đông?
Tao quên chưa nói với mày, chị ấy đang là cửa hàng trưởng cửa
hàng thuốc Đông y, chuyên cung cấp thuốc cho nhiều thầy thuốc Đông y trong
thành phố. Chắc chắn chị ấy biết ông thày nào có thể chữa hết bệnh cho
mày.
Tôi băn khoăn:
Lộ bệnh này với chị mày, tao thấy không nên.
Nam nói:
Mày đừng có sĩ hão. Khi tao bị mảnh đạn găm vào bụng và đùi,
mày có tin là tao và tám thương binh cùng trần truồng trên xe tải suốt từ Quảng
Trị ra đến Thanh Hóa, cùng trên xe toàn nữ y, bác sĩ và thanh niên xung
phong.
Chị Đông hơn chúng tôi cỡ chục tuổi. Hồi cùng học với Nam,
tôi đến nhà ít khi gặp chị, vì chị ở bên nhà chồng, song nguyên nhân sâu
xa chị ít về nhà, tôi nghe phong thanh, do chị mắc tội, ngày nay được ca ngợi
là nhiều tính người, nhưng hồi đó bị coi là lẳng lơ. Năm còn học lớp 10, chị đã
yêu ông thày dạy thể dục. Bị bố mẹ phản đối kịch liệt, tưởng hai người chia
tay, vậy mà vào năm thứ hai khoa văn, đại học Tổng Hợp Hà Nội, chị mang
thai với ông thày này, khiến trường phải buộc thôi học. Hai người vẫn lấy nhau, nên bố mẹ tuyên bố từ chị. Thời gian này, Nam cũng lạnh nhạt và ít nói về chị
mình.
Để tăng độ tin cậy về chị Đông với tôi, Nam kể:
Bà ấy đẻ hai đứa con, rồi lại thi đại họ, nhưng lần này thi
vào đại học Y Dược. Bà ấy muốn thành bác sĩ. Với những điểm đen trong lý lịch:
Yêu sớm, lấy chồng sớm, đẻ con sớm, một lần bị đuổi học, lẽ
ra bị đánh trượt, nhưng nhờ điểm thi cao, ưu tiên phụ nữ, gia đình
thành phần cơ bản, nên được cho đậu, nhưng khiếm khuyết đạo đức nặng như vậy
cho học ngành dược Đông y đã là quá ưu tiên, nhờ thế, bây giờ, bà ấy thành cửa
hàng trưởng của hàng thuốc Đông y.
Nam nói tiếp:
Tao về đơn vị trễ một ngày, chắc chắn bị kiểm điểm, không chừng
mất cơ hội được tuyên dương anh hùng, nhưng không đưa mày gặp chị Đông,
nhỡ mày bị làm sao, tao hối suốt đời.
Tôi băn khoăn:
Tao vẫn cứ ngại lộ chuyện này với phụ nữ.
Mày an tâm. Chỉ có mình mới ngượng chứ giới y, dược, họ nói
chuyện b… l… tự nhiên như người Hà Nội.
Sáng hôm sau, thay vì ra tàu ở ga Hàng Cỏ, lên đường vào
đơn vị ở Quảng Bình, Nam đưa tôi đến cửa hàng thuốc Đông y của chị Đông ở trên
đường Hoàng Hoa Thám. Thành phố đang thời kỳ sơ tán triệt để, nên cả cửa hàng lẫn
đường phố đều vắng người. Phần chính của cửa hàng sơ tán ra ngoại thành, nên ở
cửa hàng, ngoài chị Đông, chỉ có thêm một nữ nhân viên trẻ.
Chị nhận ra tôi ngay.
Tôi đỏ mặt bừng bừng, lưỡi như bị cứng lại.
Nam bảo:
Chuyện này tao dễ nói, cứ để tao nói thẳng cho nhanh.
Tôi nhẹ hẳn người.
Nam kéo chị Đông tách xa tôi chừng vài mét, thì thà thì thầm,
rồi hai người cùng phì cười.
Chị Đông vui vẻ đi lại chỗ tôi:
Đái dầm là bệnh dễ chữa nhất trên đời. Chị chỉ cần cắt cho em
ba thang là hết bệnh, nhưng để chắc chắn đúng bệnh, chị đưa em đến ông lang
Quát ở Hàng Than.
Tôi lúng túng:
Có cần thiết không chị?
Chị Đông:
Chị cắt thuốc theo kinh nghiệm qua lời khai của bệnh nhân,
không thể bằng thày lang Quát trực tiếp bắt mạnh...
Nam vun vào:
Nếu vậy thì đi luôn. Có phải lúc nào mày cũng từ Quảng Ninh
về đây đâu. Đi từ đây đến Hàng Than mà chắc chắn hết bệnh, còn hơn ra ngoài đó,
bệnh vẫn hoàn bệnh.
Chị Đông đi một xe đạp, còn Nam đi một xe, chở tôi đến nhà
ông lang Quát. Nhà ông ở gian mặt tiền, nhỏ chật. Chiếc tủ gỗ đánh vecni màu gụ,
có các hộc đựng thuốc, cao đến tận trần, chiếm kín một mặt tường. Bàn tiếp
khách của ông nằm giữa quầy giao thuốc và chiếc tủ. Đang thời kỳ sơ tán triệt để
mà bệnh nhân chờ được ông bắt mạch, cắt thuốc đến gần ba chục người đủ lứa tuổi
già trẻ, đàn ông, đàn bà.
Nhờ chỗ quen biết của chị Đông mà tôi được ông ưu tiên bắt mạch
ngay từ khi bước chân vào nhà. Người tôi không sốt mà nóng bừng bừng, chân tay
cứng ngắc, khi việc bắt mạch diễn ra trước mấy chục bệnh nhân.
Ngón tay trỏ và giữa của ông chỉ chạm vào mạch ở cổ tay tôi
chừng vài giây, rồi ông hỏi:
Ai nói anh mắc bệnh đái dầm?
Tôi lúng búng:
Thưa! Tự cháu thấy ạ.
Mỗi lần bị, mùi nó khai hay tanh?
Thưa! Hồi đầu, cháu không để ý, sau thấy lúc khô thì có mùi
tanh, nên cháu nghĩ mình bị rất nặng, cháu rất sợ.
Thày lang Quát đưa mắt cho chị Đông, rồi cười, lắc đầu với
tôi:
Anh không bị đái dầm mà bị di tinh.
Tôi thắc mắc:
Di tinh là gì ạ?
Đang nhiều bệnh nhân chờ, nên không phải lúc giảng giải về bệnh
cho anh. Giờ tôi cho anh một đơn thuốc, muốn cắt ở đây cũng được mà về cửa hàng
chị Đông cắt cũng được. Chịu khó về sắc uống một tháng là khỏi.
Trở về cửa hàng, chị Đông đưa đơn cho cô nhân viên dưới quyền
cắt thuốc, còn chị ra ngồi bàn nước với tôi và Nam.
Nam hỏi:
Di tinh là bệnh gì?
Tôi thầm biết ơn Nam đã hỏi thay câu lẽ ra tôi phải hỏi. Hóa
ra một thằng lăn lộn nơi bom đạn chiến trường cũng không thông thái hơn thằng
biền biệt chốn núi rừng.
Chị Đông giải thích bằng giọng thản nhiên:
Đó là hiện tượng sinh lý bình thường của nam giới ở tuổi
thành niên, có người bị một thời gian rồi hết, nhưng cũng có người bị nhiều và
kéo dài, nếu không quan tâm chữa trị sẽ thành bệnh, dẫn đến suy nhược cơ thể rồi
biến chứng tiêu cực sang các bộ phận khác trong cơ thể.
Nam hỏi:
Sao em không bị?
Em thích bị lắm hả?
Nam ngượng nghịu làm thinh.
Còn tôi chột dạ hiểu ra, so với đái dầm, di tinh bị
lộ ra sẽ kinh khủng hơn nhiều. Một thằng học sinh tiểu tư sản Hà Nội bệnh hoạn
mới bị di tinh... Tôi sợ hãi bảo chị Đông:
Vì không phải lúc nào cũng về được Hà Nội, chị cắt thuốc cho
em hẳn ba tháng để phòng xa.
Chị Đông:
Phải tin thày thuốc chứ. Ra Quảng Ninh, em cứ sắc uống đủ một
tháng, tình hình thế nào, em thư về cho chị, nếu bệnh không hết, chị sẽ gửi thuốc
cho em theo đường bưu điện.
Đang trai trẻ khỏe mạnh, làm việc cả năm, không nghỉ ốm một
ngày, chơi thể thao như điên, nay đột nhiên mang cả núi thuốc về sắc như người
bệnh nặng? Chưa kể những năm đầu giải phóng miền Bắc, thuốc nam kèm theo chiếc ấm
đất để sắc, còn bị kỳ thị, bị coi là thuốc lang băm. Tôi đột nhiên lo sợ. Để đạt
được hệ số “an toàn” cao nhất, tôi nhờ chị Đông viết vào đơn thuốc: “Bệnh áp
huyết cao”, một tên bệnh có vẻ sang trọng ít nhạy cảm về đạo đức, để về xưởng,
có sắc thuốc cả năm cũng không ai nghi ngờ phẩm giá.
Chị Đông phì cười:
Em đúng là gà tồ.
Sáng hôm sau, tôi tiễn Nam ra ga Hàng Cỏ.
Trước khi lên tàu, Nam bùi ngùi:
Tao vào chiến trường không biết thế nào, nhưng mày chắc chắn
sống rồi. Chúc mày sớm hết cái bệnh “kim tinh” quái quỷ.
Nam nhớ sai tên bệnh, nhưng tôi cũng không đính chính:
Chúc mày chiến thắng trở về.
Trên đường từ Hà Nội ra Quảng Ninh, chiếc xe đạp Liên Xô
Sputnic của tôi chở thêm chiếc túi du lịch giả da căng phồng, cố ý không kéo
khóa phermeture, để mở miệng, lộ ra những cuốn sách mới mua: Chiến Tranh và Hòa
Bình, Đỏ và Đen, Những Người Khốn Khổ, dày cộp, đồ sộ, với những tên
tác giả chỉ nghe đã thấy nể người đọc, dùng để che bên dưới là những
thang thuốc chữa bệnh di tinh, dùng cho một tháng.
Đến Phả Lại đúng lúc Mỹ ném bom nhà máy điện và bến phà. Ai
nấy đều quăng xe, chạy dạt ra hai bên đường, có hầm trú ẩn thì
trú, bằng không, nấp đại xuống bờ ruộng. Nhà máy điện trúng bom, khói lửa mù mịt,
nhưng con phà đang qua sông an toàn, bến phà thêm vài hố bom… Tôi chạy vội đi
tìm chiếc xe. Sợ mất xe thì ít, sợ mất thuốc thì nhiều. Rõ ràng chiếc xe của
mình để ở đây… Tôi ngơ ngác giữa mấy chục người đã từ những chỗ nấp trở lại đường
lấy xe và hành lý bỏ trên đường.
Một con phà cập bến. Trong những ô tô rời phà lên bờ có chiếc
xe ca chở khách đường Hòn Gai - Hà Nội.
Tôi buộc phải đi xe khách trở lại Hà Nội gặp chị Đông để lấy
thuốc. Không có thuốc là có thể tuyệt đường con cái, hết đường lấy vợ.
Tôi đã ngồi trên xe, chiếc xe chuẩn bị chuyển bánh thì
dưới đường, có người kêu:
Chiếc xe này của ai? Xe này của ai đây?
Nhìn xuống đường, tôi thấy hai người đàn ông, mỗi người dắt một
chiếc xe cuốc Liên Xô, trong đó có một chiếc, trên giá đèo hàng buộc chiếc túi
du lịch của tôi.
Tôi vội rời xe khách, cần thận nhìn tấm biển đăng ký, biết chắc
xe của mình, tôi chộp lấy ghi đông xe:
Sao ông lấy xe của tôi?
Người đàn ông:
Tôi xin lỗi. Hai cha con tôi cũng đi xe Liên Xô. Lúc hết báo
động, thằng con tôi lên trước lấy trước, tôi lên sau, thấy mỗi cái này, tưởng
là của mình.
Tôi làu bàu:
Xe bác, hai người chở nhau, còn xe tôi có chiếc túi du lịch tổ
bố, làm sao có thể nhầm?
Người đàn ông khổ sở:
Tôi xin lỗi. Bom vừa ném xong, thần hồn còn nát thần tính…
Tiên sư bố thằng Mỹ, với lại xe Liên Xô cái nào cũng như cái nào.
Cuối cùng, tôi cũng đạp xe về đến xưởng sơ tán trong Thác
Cát, Hoành Bồ.
Cần phải rẽ vào phòng Tổ chức ở ngôi nhà ngói ba gian, gặp
ông Bấc để báo đã đi hết phép, và sang trọng hóa những thang thuốc, nhưng phải
đi đường nào không qua dãy phòng hành chính và các nhà xưởng bên đường, để
tránh những con mắt tò mò của đám thợ thuyền về một thằng mắc bệnh di tinh từ
Hà Nội lên.
Tôi cố làm một bộ thản nhiên bước vào phòng ông Bấc. Thật
không đúng lúc khi trong phòng đang có em Luyến thợ điện.
Anh Tuấn mang quà gì Hà Nội lên mà nặng thế? Luyến cười
hỏi.
Tôi đỏ mặt:
Toàn sách ấy mà.
Anh đọc xong nhớ cho em mượn nhé.
Ông Bấc bảo Luyến:
Việc xong rồi, cô về xưởng làm việc đi. Sách dân Hà Nội
đọc toàn chuyện yêu đương lãng mạn, cô không đọc được đâu.
Luyến ra khỏi phòng, chính ông Bấc lại lúng túng, nói như
thanh minh với tôi:
Phụ nữ đến tuổi, yêu rồi lấy chồng, chúng tôi luôn khuyến
khích, nhưng cô này thành phần cơ bản lại đi yêu và sắp cưới một anh cùng quê
con nhà địa chủ, nên tôi phải gặp riêng, làm công tác tư tưởng.
Tôi nói:
Thưa! Tôi vừa hết phép.
Ông Bấc gật gật đầu:
Thế à! Thày mẹ anh có khỏe không?
Thưa! Bố tôi không ở Hà Nội, còn mẹ tôi mất từ năm tôi 3 tuổi.
Ờ, tôi quên. Thế thì anh đi phép đột xuất về Hà Nội làm gì?
Khi xin phép nghỉ, tôi đã báo với anh, thằng bạn tôi bị
thương ở chiến trường được về Hà Nội điều trị.
Ờ! Tôi nhớ rồi. Có gặp được bạn không?
Thưa! Có gặp.
Thế thì tốt. Còn gì nữa không?
Thưa! Tiện đây, tôi cũng báo với anh. Lần này về, tôi
có mang lên thang thuốc chữa… bệnh… huyết áp cao.
Chữa cho ai?
Thưa! Cho tôi.
Ông Bấc nhìn tôi nghi ngờ:
Anh khỏe như voi, sao lại có thứ bệnh chỉ bọn thành phần bóc
lột mới mắc?
Thực ra, những ngày đi làm, thỉnh thoảng tôi vẫn thấy người mệt
mỏi … Lần này, về Hà Nội, có lẽ do đạp xe đường dài, gặp mưa nắng thất thường,
nên mấy lần bị ngất xỉu, phải đi khám thày thuốc.
Có giấy của bệnh viện không?
Tôi hú hồn vì đã phòng xa, đưa tờ đơn thuốc của chị Đông, phần
căn bệnh có ghi Bệnh áp huyết cao. Phía dưới có đóng dấu: Trung tâm Đông y dược
Tuệ Tĩnh.
Tuệ Tĩnh là ai?
Thưa là tên của trung tâm đông y, đồng thời cũng là tên một
danh y. Danh y trời cũng là tư nhân, là lang băm. Anh là
công nhân Nhà nước, không đến bệnh viện Nhà nước mà lại lấy đơn thuốc
của một lang băm, nhỡ uống vào chết người thì sao?
Lúc bị ngất, người nhà đưa đến đâu thì tôi cũng theo đấy.
Nhưng lúc cắt thuốc, anh phải tỉnh chứ?
Ông lang Quát cắt thuốc cho tôi là thày thuốc hàng đầu Việt
Nam, đã từng chữa bệnh, cắt thuốc cho cả thủ tướng, bí thư Trung ương Đảng.
Ông Bấc hạ giọng:
Theo đúng nguyên tắc, anh phải lấy giấy giới thiệu của xưởng, ra bệnh viện huyện khám, rồi điều trị theo đơn bác sĩ, nhưng thôi, lần này,
tôi thông cảm… Thuốc này sẽ không được thanh toán đâu nhé. Thế anh phải
nghỉ bao nhiêu ngày để uống thuốc?
Thưa! Không phải nghỉ ngày nào, vì sáng ra cho thuốc vào ấm xắc,
tối về, nước bốn, cạn ba, mới uống.
Ông Bấc:
Sao anh không nói ngay từ đầu? Nếu không phải nghỉ ngày nào
thì việc quái gì phải báo cáo với phòng Tổ chức?
Tôi kín đáo thở phào nhẹ nhõm.
Rời phòng ông Bấc, thay vì đi qua dãy nhà xưởng và ga ra dọc
đường chính, rồi theo lối bậc thang lên khu nhà tập thể dành cho công nhân trên
đỉnh núi, tôi theo con đường mòn đi tắt, để không ai thấy mình.
Khu sơ tán của xưởng sửa chữa ô tô chúng tôi cách ngã ba Đồng
Đăng trên trục Quốc lộ 18, bảy cây số vào sâu trong rừng bằng đường nội bộ của
ngành lâm nghiệp, loại đường trải cấp phối đỏ này phần lớn dọc theo các bờ suối
từ rừng và khe núi chảy về Cửa Lục rồi ra biển. Sau này, hiểu rõ về bom
đạn Mỹ trút xuống từ đủ loại máy bay, thì địa điểm sơ tán là quá an toàn,
nhưng giám đốc xưởng, kỹ sư Lý Văn Voòng, và trưởng phòng tổ chức kiêm bí thư
chi bộ Đảng Hoàng Văn Bấc, quá phòng xa, sợ xưởng ở ngay bên đường, cạnh dòng
suối sẽ làm mồi cho bom Mỹ, nên chỉ những phân xưởng máy móc nhẹ, dễ sơ tán
như: Nguội, hàn, ga ra ô tô mới ở cạnh đường, trong những hầm bán lộ
thiên. Các máy công cụ nặng như máy tiện, máy khoan, rinh hết lên các các
nhà hầm lưng núi. Con người là vốn quý nhất, hầu hết công nhân các phân
xưởng trong đó có tôi, bị đẩy lên ở các dãy nhà tranh dựng san sát trên đỉnh
núi, dưới mái rừng lim.
Suốt thời kỳ Mỹ ném bom, đến tận cuối năm 1972, chỉ có một
trận bom gần nhất ném xuống cầu Thác Cát cách nơi sơ tán 200 mét và hai trận xuống
cầu Đồng Ho, cách xưởng hai cây số, bom đều trượt mục tiêu, rơi xuống
các sườn và đỉnh núi, khiến ai cũng tỉnh ngộ: may mà chúng không chọn xưởng
chúng tôi, vì nếu “vinh dự” được chọn, chắc chắn bom sẽ rơi xuống sườn và đỉnh
núi, hầu hết cán bộ, công nhân viên và tài sản giá trị nhất của xưởng sẽ tan
thành mây khói.
Nhưng nhờ khu nhà ở tập thể của công nhân ở trên đỉnh núi mà
việc sắc thuốc chữa bệnh di tinh của tôi, chẳng mấy ai biết, không thành
chuyện bàn tán, tiếng nhỏ, tiếng to, trong đám thợ thuyền.
Tôi vừa kê xong ba hòn đá ở chỗ khuất ngoài đầu hồi dãy
nhà tập thể, đang ngồi ngắm chiếc ấm đất vừa đặt lên, thì Chử Văn Long, phụ
trách kỹ thuật của xưởng, tay ôm một chồng sách mấy chục quyển, thở hổn hển từ
dưới chân núi lên.
Mày làm cái gì thế?
Tao tao… tao…
Nghe cái Luyến thợ điện nói mày về, tao lên phòng tổ chức thì
Mũi Khoằm nói mày lên đây rồi. Làm sao có chuyện mày bị áp huyết được?
Tao nói dối, chứ thực ra đây là thuốc bổ. Vì hồi này ăn uống
kham khổ nên tao nhờ cắt thuốc để bồi dưỡng.
Chử Văn Long tin ngay:
Mày đi vắng, cái Thoa ở thư viện bên Sơn Dương sang đây tìm
mày hai lần.
Tôi chột dạ:
Để làm gì?
Nó nói mấy tháng nay, mày cố ý tránh mặt nó để dùi mài kinh sử
chuẩn bị thi đại học.
Làm gì có chuyện đó?
Vậy mày có sang thư viện gặp thằng Sử, mượn các loại sách cây
thuốc?
Có, nhưng tao ghi tên sách khác mà?
Cái Thoa phát hiện ra, nên thằng Sử phải khai hết, thế là nó
đoán năm nay mày định thi vào khoa dược trường y dược, nên nó ra tận thư viện tỉnh,
lục tìm đủ loại sách thuốc sang cho mày.
Tôi nhìn chồng sách đến ba chục cuốn Chử Văn Long để trên giường,
vừa cảm động vừa ngượng chín cả người.
Mày biết thừa, ông Bấc và phòng Tổ chức ty năm nay đã gạt đơn
xin đi thi đại học của tao.
Long nói:
Vấn đề ở đây, chuyện đi học đại học giờ không quan trọng bằng
việc nó yêu mày.
Cái gì?
Thấy nó quá nhiệt tình với mày. Thư viện tỉnh sơ tán tận
Quang Hanh, Cẩm Phả, bom đạn Mỹ ném thường quyên, nó vẫn sẵn sàng hy sinh tính
mạng lùng bằng được sách cho mày, không thể có chuyện nhiệt tình suông, nên tao
tỉ tê hỏi han, kết quả, nó tự thú là đã để ý và yêu mày từ lâu.
Được Thoa yêu là quá bất ngờ, cũng rất cảm động, song hoàn
toàn là điều tôi không mong muốn. Tôi nói với Long:
Mày biết thừa tao đang bằng mọi giá đi học đại học, để thoát
khỏi đời thợ, nên không quan tâm đến chuyện yêu đương...
Sao mày ngu thế? Yêu đương thì ảnh hưởng gì đến chuyện đi học
đại học?
Không ảnh hưởng, tao cũng không thể yêu cái Thoa...
Nó xinh như thế, lại rất gần chúng mình ở chỗ ham mê đọc
sách, mày chê nó ở điểm nào?
Tôi làm thinh.
Nói thật đi, mày không thích nó ở điểm nào?
Tôi dè dặt và hơi nóng mặt:
Mày có thấy ngực nó quá to?
Trời! Ngực to thì sao?
Sác nói, đàn bà ngực to thì đa dâm.
Sách nào? Sách nào nói bậy bạ?
Tôi nói:
Cuốn Nhân Tướng Học dịch của tác giả Trình Hạo, Trung Quốc,
do nhà xuất bản Phổ Thông xuất bản, trang 15, nói rõ: Đàn bà lông mày rậm, mắt
to đen, miệng rộng, vú to, mông cong, chân dài, nách và chỗ đó rậm lông là tướng
đa dâm.
Sao mày ngu thế? Đó là loại sách xem tướng gái lầu xanh, còn
gái nhà lành những đặc điểm đó đều được coi là đẹp. Tại sao vú to lại là dâm được.
Vú của tất cả các loại giống cái đều dành cho con. Vú to là biểu hiện người mẹ
khỏe mạnh, sữa nhiều, con cái tha hồ bú, không phải lo đến bệnh viện xếp hàng,
xin bác sĩ khám, để được phiếu cung cấp sữa hộp, nhục hết chỗ nói.
Không lẽ sách viết sai?
Không tin, mày thử nhầm chức năng, sờ vào đấy xem chúng
nó có tát vỡ mặt?
Tôi lắc đầu, vẻ chưa tâm phục khẩu phục.
Long hùng hồn nói thêm:
Những thằng nhìn vào đâu của đàn bà cũng tưởng tượng ra chuyện
bậy bạ, mới chính là bọn đa dâm. Mày cẩn thận không chính mày mắc bệnh ấy.
Tôi giật thót như bị Long bắt quả tang tội nhạy cảm.
Chử Văn Long sinh năm 1942, hơn tôi ba tuổi, cũng dân Hà Nội,
nhưng ra Quảng Ninh không cùng lứa Thanh niên xung phong tháng Tám Thủ
Đô mà được Tổng cục Lâm nghiệp điều ra làm cán bộ kỹ thuật của xưởng, sau khi
tốt nghiệp trường trung cao cơ điện. Tuy còn ở tuổi hai mươi, nhưng Long
đã có bốn con, lý do đơn giản chỉ là do gia đình cho Long đi học trung cấp, ở
nhà không có người lao động trên đồng ruộng hợp tác xã, sẽ thiệt công, nên bố mẹ,
ép anh phải lấy vợ vào năm mười bẩy tuổi, trước khi đi học. Một
thằng có vợ, bốn con, lại thỉnh thoảng có thơ tình in trên báo Văn Nghệ, chắc
chắn phải hiểu đàn bà hơn thằng chưa có mảnh tình vắt vai, là tôi, nhưng
điều quan trọng là Long đã vô tình điểm trúng yếu huyệt của tôi, nên tôi chỉ
còn cách chết lặng.
Thế nào! Long hối thúc: Nếu đồng ý thì tao sẽ vun
vào. Tao mát tay vụ làm mối lắm.
Tôi gật đầu như một sự đầu hàng vô điều kiện:
Tao đồng ý.
Sáng nào, dù sương đêm còn ngập mờ mịt trong phòng, trời rét
như cắt thịt, tôi cũng dậy sớm trước giờ anh em dậy tập thể dục, ra đầu hồi, hì
hụi cho thang thuốc vào ấm, vun củi thành than cho lửa cháy âm ỉ, để chiều tối,
hết giờ làm việc, anh em xuống nhà ăn bên bờ suối ăn chiều, thì tôi vọt lên
núi, chắt thuốc ra bát, nhanh như chớp, uống cạn để không ai nhìn thấy. Một
tháng trôi qua, bệnh không còn xảy ra trong giấc ngủ trưa, ban đêm thay vì một
tuần hai lần thì giảm xuống một lần, nhưng tâm lý khủng hoảng gấp trăm lần, vì
bệnh di tinh, ngay cả ông lang Quát cũng nói có thể dẫn đến tuyệt đường con
cái, song ở góc độ đạo đức, bị coi là một thứ bệnh hoạn
nên suốt một tháng trời, ăn không ngon, ngủ không yên, tôi từ 64 cân tụt xuống
còn 58, từ chưa bao giờ bị ốm, nay thành ốm thật. Sợ bị mất danh hiệu Lao động
tiên tiến và Chiến sĩ thi đua, đồng nghĩa với việc mất điểm khi ông Bấc xét cho
đi thi đại học, tôi gắng gượng đi làm nhưng không sao tập trung vào công việc,
cứ làm một ngày lại nghỉ hai, ba ngày.
Ông Bấc nhìn tôi lắc đầu:
Hôm anh mang thuốc về, tôi nói cái trung tâm danh y Tuệ Tĩnh
tư nhân chỉ là của lũ lang băm, nay anh thấy tôi nói đúng không?
Bù lại với tai họa trên, tôi lại không chỉ một mà những
hai em đến chăm sóc. Em thứ nhất đương nhiên là Thoa, vừa được Chử Văn Long vun
vào, vừa dường như em cũng thích tôi bị bệnh để có cơ hội chăm sóc, gần như chiều
nào, sau giờ làm việc, em cũng đạp xe từ Sơn Dương sang xưởng. Em thứ hai là
Ly, giáo viên trường cấp 2, tận ngoài thị trấn Trới, do Ngân, người
yêu của Phạm Gia Bình giới thiệu. Tôi thích Ly hơn Thoa, vì luôn ôm mộng nếu lấy
vợ, nhất định phải lấy một em to con, như Ly là phù hợp, nhưng Ly có lẽ do nhiều
người săn đón, nên cô với tôi vẫn còn khoảng cách xa hơn với Thoa. Song chính
tôi cũng không muốn gần hơn với cả hai em. Quan hệ giữa tôi với hai em là mối
quan hệ đầy mâu thuẫn. Vài ngày không thấy hai em đến xưởng chơi thì nhớ, thì
mong. Nhưng thấy hai em, trong tôi chỉ toàn những ý nghĩ vẩn đục… Từ khi bị bệnh,
không hiểu sao gặp hai em, mắt tôi luôn tránh nhìn…, chỉ sợ các em đọc được
căn bệnh và những điều tội lỗi mình đang nghĩ. Cả hai cùng tìn tôi bị áp huyết
cao. Thoa thì đi lùng đủ cách sách về bệnh áp huyết cho tôi đọc, còn Ly đưa hẳn
người anh họ là bác sĩ quân y đến khám.
Anh này sau khi khám kỹ, quả quyết:
Anh bị áp huyết thấp, chứ không phải cao.
Một ngày chủ nhật, nhân ca trực của Sử, tôi sang thư viện huyện
ở Sơn Dương quyết lùng cho được cuốn sách về bệnh di tinh Kết quả, suốt một
ngày ròng, tôi và Sử tra hết danh mục 132.176 cuốn sách đủ các loại của thư viện:
Khoa học, Triết học, Chính trị, Văn học, Y học, Giáo khoa, Thiếu nhi, vân
vân…, không có một cuốn nào nói về bệnh di tinh. Lúc chán nản ra về, tình cờ thấy
trên bàn của Sử có cuốn sách chừng 200 trang, cũ kỹ, rách nát: Nam Nữ Cần Biết,
tôi cầm lên nhác qua. Trời ơi là trời. Trang 15 có mục in chữ đậm: Bệnh di
tinh. Đúng là mình ở hiền gặp lành.
Sử nói:
Cuốn này em đang đọc. Toàn dạy yêu…
Tôi bảo:
Không thể tin được cả một núi sách mà chỉ có một cuốn dạy yêu. Cậu cho tôi mượn cuốn này.
Tôi mang cuốn Nam Nữ Cần Biết về đọc ngấu nghiến. Mục Di tinh
chỉ có đúng nửa trang, chủ yếu là dọa không chữa kịp thời và đúng phương pháp sẽ
tuyệt đường con cái, suy thận cấp, chạy vào tim, có thể gây tai biến mạch máu
não, dẫn đến tử vong.
Tôi hoảng sợ viết thư về cho chị Đông: Em đã uống hết
thuốc hơn tháng nay, thoạt đầu, “áp huyết” có giảm, nhưng sau lại trở lại như
cũ, nhưng em sợ nhất là bị xuống sáu cân, sức khỏe rất kém.
Hai tuần sau, tôi nhận được thư chị Đông: Chị đã trao
đổi với thầy lang Quát. Thày bảo, nếu thu xếp được, em nên về Hà Nội để thày
khám lại.
Vừa nghỉ phép hai tháng trước, nay đi nữa làm sao ông Bấc
chấp nhận? Tôi bảo chị đánh cho tôi bức điện.
Mấy ngày sau, tôi có bức điện: Bố ốm nặng, về
ngay.
Ông Bấc nghi ngờ:
Hôm rồi, anh nói bố đi vắng kia mà?
Tôi nói:
Bố tôi bệnh ở quê.
Thế là tôi được đi nốt nửa phép.
Đạp xe về đến Gia Lâm gặp trận bom dội xuống nhà máy xe lửa
Gia Lâm. Tôi bị một vết rạch ở cánh tay do kính vỡ văng phải, nên đến nhà chị
Đông ở Thụy Khuê với cánh tay bị băng. Chị gỡ băng, rửa lại vết thương và băng
lại cho tôi.
Đến nhà chị, tôi mới biết rõ hoàn cảnh. Chồng chị, người
từng là thày dạy thể dục khi chị học cấp ba, là sĩ quan cấp tá, vào chiến trường
miền Nam từ năm 1963. Do Nam cũng ở trong chiến trường, nên chị phải nuôi cả mẹ
mình lẫn mẹ chồng. Hai đứa con trai, đứa cuối cấp hai, đứa đầu cấp ba, một đứa
trường sơ tán ở Đông Anh, đứa kia trường sơ tán ở Phúc Yên, hễ có ngày nghỉ, chị
phải đạp xe khắp nơi để lo lắng chăm sóc cho hai mẹ và hai con. Khi tôi đến,
hai bà mẹ đều từ nơi sơn tán về với chị. Nhìn người phụ nữ tần tảo này, tôi cứ
phân vân: Liệu hồi trước, gia đình và nhà trường có quá khắt khe khi coi chị là
hạng lẳng lơ, hư đốn?
Chị bảo:
Ngày mai, thầy Quát hỏi gì, em phải khai thật hết. Thầy ấy
không tin mình bắt mạch sai và cắt thuốc không đúng.
Sáng hôm sau, tôi đến nhà thầy lang Quát thì chị Đông đã đợi
sẵn. Trong đầu tôi chuẩn bị sẵn lời khai làm sao không nói dối, nhưng cũng ít
nhơ nhuốc nhất.
Nhưng thầy không nói, không hỏi gì. Ông lặng lẽ cầm
tay tôi bắt mạch đến cả phút, rồi nói: Từ nay, anh không phải thêm thuốc
thang gì hết. Nếu về lấy vợ ngay thì anh sẽ khỏi ngay, bằng không thì đến tuổi
ba mươi anh sẽ hết.
Thưa! Từ nay đến ba mươi, em vẫn bị thì…
Anh không còn bệnh lý mà mắc vấn đề tâm lý. Nếu coi cái vụ đầy
thì tràn là chuyện tự nhiên thì dần dần sẽ hết.
Tôi chưa kịp nói thêm, ông đã quay ra nói với người giúp việc
vốn là con gái ông:
Đến người khác.
Tôi cùng chị Đông ra về.
Tôi nói:
Em bị bệnh rõ ràng nhưng ông ấy lại nói là tâm lý.
Chị bảo:
Thày không nói sai đâu. Có điều tâm lý nhiều khi khó
chữa hơn bệnh lý. Im một lúc, chị nói tiếp: Em cứ bình tĩnh về
nghỉ ngơi, chiều đến cửa hàng, chị sẽ bàn thêm. Chị còn ở lại gặp thày để hỏi kỹ
thêm.
Đầu giờ chiều, tôi đến cửa hàng thuốc. Chị Đông đang
cùng cô nhân viên bận bốc thuốc từ các hốc tủ ra những tấm giấy bản trải
trên mặt quầy, rồi gói, cho những người khách xếp hàng trước quầy.
Thấy tôi đến, chị ra mời tôi đến bàn nước:
Thày Quát quả quyết, sau khi uống thuốc, vấn đề về thận gây
nên di tinh không còn, nhưng do sinh lực của em quá mạnh, và ám ảnh tâm lý quá
nặng, nên chuyện đó vẫn tiếp tục. Thầy khuyên em sớm lấy vợ là trên cơ sở
giải quyết cả hai lý do trên.
Tôi nói:
Về tâm lý, em sẽ cố, nhưng chuyện lấy vợ ngay thì quả là khó.
Em đã có người yêu chưa ? Với chị, em cứ nói thật.
Em có hai bạn gái, một cô nhân viên thư viện thì yêu em, còn
cô giáo viên cấp 2, em có cảm tình, nhưng chưa thể tiến tới tình yêu cũng như
hôn nhân, nếu chuyện học đại học chưa đâu vào đâu.
Chị Đông đột ngột hỏi:
Chị vẫn nghe nói “Gái lâm trường, giường bệnh xá“, sự thật
thì thế nào?
Tôi nói:
Làm nghề sửa xe lâm nghiệp, em đi nhiều lâm trường, công trường,
thấy nơi nào cũng có chuyện trai, gái buông thả, nhưng thực tế rất ít,
không như mồm thiên hạ đồn thổi. Tại sao tự nhiên, chị hỏi vậy?
Tiện miệng, chị hỏi thôi. Bây giờ, chị nói thẳng, em đang phải
chữa bệnh, mà là bệnh nghiêm trọng. Em cũng biết thừa, nếu không thoát được
tâm lý, từ nay đến năm 30 tuổi, em tiếp tục suy nhược và xuống cân thì tình
hình sẽ rất xấu.
Em biết và cũng rất lo. Nếu không hết, bệnh sẽ từ thận biến
chứng sang tim, dẫn đến đột quỵ, vô sinh, có khi đột tử…
Chị Đông bật cười:
Lại sách dạy phải không? Im một lúc, rồi chị nói: Chị
khuyên điều này, nhưng em đừng nghĩ chị xúi em làm bậy.
Nếu hết bệnh, chị bảo làm gì, em cũng làm.
Nếu không thể lấy vợ ngay, em phải tìm cách sinh hoạt với phụ
nữ. Chỉ có cách chủ động xuất tinh với phụ nữ, để âm dương trung hòa, thì bệnh
em sẽ hết.
Tôi giãy nảy:
Không được đâu, chị ơi.
Chị biết tại sao em lại sợ và chính chị cũng sợ, khi quyết định
khuyên em, nhưng đây là chuyện chữa bệnh.
Tôi ngồi im và phát run.
Chị Đông nói tiếp:
Đây là chuyện chỉ thày thuốc và bệnh nhân biết với nhau, nên
những chuyện pháp luật và đạo đức phải gạt ra ngoài và đảm bảo an toàn tuyệt
đối.
Tôi vẫn ngồi chết dí.
Chị có một chị bệnh nhân, cũng vì mất cân bằng âm dương lâu
ngày mà chuyển sang bệnh tim, thỉnh thoảng lại bị bất tỉnh, phải
đưa đến bệnh viện cấp cứu.
Tôi nói:
Ở lâm trường cũng có các cô gái bị như thế.
Khi mấy cô đó có người yêu hoặc lấy chồng là hết, đúng không?
Đúng.
Thế là em hiểu ra vấn đề rồi. Nhưng có phải ai cũng có thể có
người yêu hay lấy chồng, cũng như em không thể yêu và lấy vợ nếu như đường sự
nghiệp chưa thành, trong khi các thày thuốc hoàn toàn có thể cắt cho bệnh nhân
thang thuốc diệt dục hoàn toàn để hết bệnh, nhưng họ không làm vì như vậy là tội
ác.
Tôi ngồi im.
Cô này, chồng đi công tác vắng cả chục năm ở nước ngoài, mấy
năm nay, thày Quát vẫn cắt thuốc cho cô ấy, nhưng cuối cùng vẫn phải khuyên
cách tốt nhất là vợ chồng phải gặp nhau… Nhưng em biết thừa, những người biền
biệt nơi xa nhiều khi là nhiệm vụ của Đảng, bắt buộc phải hy sinh lợi ích cá
nhân.
Em hiểu.
Cô ấy ở nhà một mình. Địa chỉ ở tờ giấy này. Em đến vào 9 giờ
sáng mai thì cô ấy chờ.
Người tôi bủn rủn. Khó khăn lắm, tôi mở được miệng:
Cô ấy bao nhiêu tuổi?. Làm nghề gì?
Cô ấy đẹp gái, hơn em hai, ba tuổi gì đó, chỉ ở nhà nội trợ
thôi.
Tôi nói:
Thú thật, em rất sợ. Em chưa từng quan hệ với ai.
Em muốn khỏi bệnh. Cô ấy cũng muốn vậy. Cứ nghĩ đây là chuyện
hết bệnh, em sẽ hết sợ. Chỉ lần đầu thôi. Lần sau, quen nhau rồi, có khi mỗi
tháng, em lại đạp xe về Hà Nội gặp cô ta một lần cũng nên.
Vì có chuyện “chữa bệnh” theo ý chị Đông mà lần về Hà
Nội ấy, tôi không khác gì hoạt động tình báo. Sợ bất cứ người quen nào thấy
mình cũng nhìn ra vụ hẹn hò, tôi không dám về nhà, mà ra bến xe Long Biên, ngủ ở nhà trọ, chung chạ với hàng chục khách chờ xe, kèm theo đủ thứ cồng kềnh trong
gian phòng dơ dáy, hôi hám. Nhưng đó lại là đêm, trong tôi hỗn độn đủ thứ háo hức
khó tả. Về hành vi, giải thích cách nào cũng là tội lỗi, nhưng tội lỗi được đủ
thứ ngụy biện, lại thấy háo hức, ham muốn. Chỉ ngày mai, lần đầu tiên mình sẽ
được biết mùi đàn bà, một sự hiểu biết, thụ hưởng và khám phá vô điều kiện,
trong khi những năm tháng ở núi rừng Quảng Ninh, chỉ nghĩ trộm đến bộ ngực quá
lớn của em Thoa cũng thấy mình thiếu giáo dục. Rồi với những hiểu biết nghèo
nàn cùng trí tưởng tưởng không mấy phong phú, tôi hình dung mình sẽ gặp người
đó, sẽ nói với chị ta, mà có cần phải nói không nhỉ? Chị Đông đã thu xếp
rồi, có khi chẳng cần nói, cần bắt đầu ngay từ trên giường… Đêm mệt, ngủ thiếp
đi chẳng biết gì, sáng ra thấy lạnh ở đũng quần, mới biết lại di tinh… Lại
lo sợ. Rõ ràng mình không thể không chữa.
Nhà người đó ở tầng hai khu tập thể bốn tầng bên đường Kim
Mã. Để đến và đi không ai để ý, tôi gửi xe đạp ở nhà trọ, đội chiếc mũ cối bộ
đội sụp xuống tận trán, đeo kính râm đen, gọng lớn, xuống Hàng Giấy, đi xe điện
đến ga Bờ Hồ Hoàn Kiếm, rồi chuyển sang xe điện tuyến Bờ Hồ - Cầu Giấy. Hà Nội
thời kỳ sơ tán, bom Mỹ vẫn bất thần ném khắp nơi, nhưng các chuyến xe điện lúc
nào cũng đông, chẳng ai để ý đến ai, sao tôi có cảm giác ai cũng đang chằm chằm
vào mình. Mỗi lần xe điện sắp đến bến dừng, tiếng chuông leng leng cất lên báo
hiệu, tôi đều thoáng chột dạ như thể tiếng chuông dành riêng cho mình. Đứng
chen chúc ở lối lên xuống cửa xe, lòng dạ tôi tối sầm, hồi hộp nhìn các dãy
phố cũ kỹ, mốc meo hai bên đường Nguyễn Thái Học lướt qua ào ào theo tiếng rền
của các bánh sắt xe điện lăn trên đường ray.
Xe chạy đến khu các dãy nhà tập thể bốn tầng Kim Mã, không cần
đợi đến bến, tôi đã nhảy xuống đường. Hồi còn đi học, tôi quá quen với khu vực
này. Đây là khu tập thể nằm ở dãy phố mới xây dựng, đối diện với hồ Thủ Lệ
bên kia đường, nên mật độ nhà cửa chưa cao, vừa do hoàn cảnh sơ tán, vừa đang
giờ làm việc, nên trong sân vắng vẻ. Tôi vừa mừng thầm trong bụng, đã vội
giật thót người hoảng sợ khi sực nhớ, gia đình Kim Uyên, bạn cùng lớp 10 E với
tôi ở một căn hộ trong khu tập thể này. Đã vài lần tôi từng đến đây học nhóm,
nhưng chính xác tòa nhà nào, tôi không nhớ. Nhỡ Kim Uyên bắt gặp thì sao?
Tôi muốn bật ngược trở ra, thì bà bán nước chè chén ở lề hè
ngay lối vào khu tập thể, tỏ ra quan tâm:
Em định tìm ai?
Tôi lúng túng:
Có người ở Quảng Ninh gửi quà cho một chị ở tầng
hai nhà A1.
Bà bán nước:
À! Nhà cô giáo Hoài. Khu ấy theo trường đi sơ tán hế, không biết cô ấy có nhà không, em cứ lên thử xem.
Cảm ơn bác. Đã đi vài bước, tôi lại quay lại hỏi Hồi
trước ở đây có Kim Uyên, học cùng với cháu hồi cấp 3, không rõ bạn ấy có còn…?
Kim Uyên ở A4, dạy đại học Sư Phạm, vẫn ở, nhưng
cũng theo trường đi sơ tán, thứ 7, chủ nhật mới về.
Tôi nhẹ người đi thẳng đến dãy nhà A1, nhưng mười phần
háo hức giờ chỉ còn năm, sáu.
Vừa rẽ vào chân cầu thang thì một người đàn ông trung
niên vác chiếc xe đạp Thống Nhất cũ kỹ, từ tầng trên đi xuống. Ông
ta nhìn tôi chăm chăm.
Tôi gật đầu chào:
Bác ạ!
Ông ta nói:
Anh phải tránh ra cho tôi đi chứ.
Tôi giật mình vội nép sang một bên.
Liệu sự vô ý của mình có làm ông ta nghi ngờ? Nhìn ông
ta khuất hẳn ngoài cổng, tôi mới dám bước lên cầu thang. Niềm háo hức năm,
sáu, chỉ còn ba, bốn. Cái bụng đang nóng cứng đến mức đi không hết bước chân,
lưng phải lom khom, bỗng mềm xìu.
Cuối cùng tôi cũng đứng trước phòng số 2 ở cuối tầng
hai, bỏ mũ, gỡ kính, hít hà vuốt lại áo quần, mặt nóng bừng bừng, dè dặt gõ cửa.
Cánh cửa phòng lập tức được mở ngay khi tiếng gõ vừa dứt.
Trước mặt tôi đứng bên trong cửa là một phụ nữ quãng
tuổi ba mươi, gương mặt đẹp, mắt đen thẳm, với hai quầng sâu thâm,
buồn tối, mặc váy phin trắng, rộng cổ, hở nửa đùi trở xuống.
Mời vào. Chị vừa nheo mắt đánh giá khách, vừa
nói khô khan.
Tôi vừa bước vào phòng, chị đã đóng cửa, cài chốt, sau
đó, kéo cả rèm cửa ra vào lẫn rèm cửa sổ, khiến căn phòng đang sáng trở nên tối
mờ, nhưng tôi vẫn nghĩ cần phải tối hơn.
Căn hộ chỉ chừng ba chục mét vuông, bên trong là
phòng ngủ ngăn với phòng khách bên ngoài là một giá sách lớn, có chừa khoảng trống
để hai phòng thông nhau. Những cuốn sách xếp chật trên giá và bày trên bàn khiến
tôi chột dạ. Chị ta không phải nội trợ như chị Đông nói.
Chị đưa tôi vào thẳng chiếc giường đôi bên trong giá sách:
Vào đi.
Tôi bần thần ngồi xuống chiếc ghế đẩu bên bàn nước:
Tôi ngồi đây được rồi.
Chị nhìn kỹ tôi lần nữa, và hỏi:
Đã sẵn sàng chưa?
Tôi nói nhỏ:
Chị Đông đã nói rồi.
Chị khẽ lắc đầu:
Tôi pha ấm chè nóng nhé?. Hay là uống chút rượu.
Uống chè cũng được.
Chị mang chiếc ấm và chiếc phích vào kệ bếp bên trong để pha
chè vào ấm. Ánh sáng từ ô cửa sổ hình vuông trong bếp hắt ngược vào chị.
Chỉ lúc này tôi mới nhận ra bên trong chị cố ý không mặc đồ
lót, khiến các đường cong cơ thể lồ lộ và thả lỏng. Người chị gầy nhưng lẳn…
Sự rạo rực biến mất trong tôi bỗng hồi sinh. Tôi nhìn
vào chiếc giường, hối tiếc, giá mình ngồi luôn vào chiếc giường theo ý chị…
Bên ngoài bỗng vọng vào tiếng chuyển động rầm rầm trên đường
ray, rồi tiếng chuông leng keng của chuyến xe điện không rõ từ Cầu Giấy lên hay
từ Bờ Hồ xuống. Một phản xạ lo sợ tự nhiên khiến tôi đứng phắt dậy, nhìn qua cửa
sổ ra đường Kim Mã.
Chị đặt lên bàn ấm chè vừa pha, rồi hỏi: Có chuyện gì thế?
Tôi lúng túng: Xe điện ồn quá.
Ở đây quen rồi, với lại nó ở tít ngoài đường. Chị run tay rót
nước ra tách: Uống nước đi.
Sau tiếng ồn của xe điện, tôi bỗng dưng lo xa: Liệu gã vác xe
đạp có bất thần quay lại? Rồi chuyện chắc chắn không bao giờ xảy ra, tôi vẫn cứ
lo: Biết đâu Kim Uyên từ một chỗ nào đó trong khu tập thể tình cờ nhìn thấy
mình? Nhìn giá sách đầy kín sách các loại sách trên giá, tôi tin chắc chủ nhân
là một trí thức… Tự nhiên tôi sợ hãi. Chuyện này bị lộ, bị bắt quả tang,
thì thật ô nhục. Rồi bao nhiêu công phấn đấu, bao nhiêu ước mơ tan thành mây
khói.
Chị vào giường ngồi, làm như không để ý đến tôi, nhưng lại bất
ngờ hỏi bằng giọng khàn khàn:
Đây là lần đầu phải không?
Tôi lúng búng:
Tại ở đây sáng quá.
Sự háo hức trong lòng tôi, bốn năm xuống chỉ còn số không. Bụng
dạ mềm nhũn. Tôi chỉ muốn bỏ cuộc.
Chị nói:
Không sao đâu. Nếu chưa sẵn sàng, để hôm khác cũng được.
Nói xong, chị rời giường ra mở chốt cửa.
Tôi nhẹ cả người, uống cạn hết tách chè, đứng dậy, mặt nóng bừng,
lúng búng:
Tôi xin lỗi.
Ra khỏi phòng, cảm giác về sự nhục nhã nhất trong đời mới
bùng bùng như lửa cháy kèm theo sự nuối tiếc cồn cào vì để vuột mất cơ hội
mà tôi biết chắc sẽ chẳng bao giờ có nữa. Lúc xuống cầu thang, sự mềm nhũn tự
nhiên biến mất thay bằng xúc động căng cứng, khiến lúc ra cổng khu tập thể, tôi
buộc phải cúi khom lưng và đi không hết bước. Sự bức xúc dâng trào và như muốn
ngay lập tức vọt khỏi cơ thể…
Quá hoảng sợ, tôi nhìn quanh tìm lối thoát, rồi quyết định
băng qua đường, lao qua bãi cỏ công viên, ùa xuống hồ Thủ Lệ. Nước ngập đến
ngực. Mọi bức xúc trong tôi được lấp khuất trong nước cứ thế trào ra,
trào ra…
Bỗng từ trên bờ có tiếng còi huýt lảnh lói.
Tôi giật mình nhìn lên.
Ngay bên bờ là gương mặt tức giận của gã nhân viên bảo vệ
công viên. Gã hét:
Lên ngay.
Tôi hụt hẫng chậm rãi đi vào bờ, nước chảy ròng ròng trên bộ
áo quần ướt sũng.
Gã bảo vệ sừng sộ:
Định bắt trộm cá hả?
Tôi gầm gừ:
Tao bắt trộm cá đấy, mày muốn làm gì?
Gã nhận ra ở tôi điều gì đó khác thường nên chỉ nói:
Đồ điên.
Rồi gã bỏ đi.
Sáng hôm sau, trước khi ra lại Quảng Ninh, tôi đến cửa
hàng của chị Đông. Tôi nói:
Hôm qua, em đã đến chỗ đó.
Chị biết rồi. Chị Đông bình thản: Không sao
đâu. Chuyện đó không thành có khi lại tốt hơn là thành, vì hết bệnh này
có khi lại sang bệnh khác. Chị lại đưa tôi một bọc các thang thuốc đã để sẵn
trong một túi du lịch giả da cũ: Đây vẫn là thang thuốc trước, nhưng liều
nặng hơn một chút. Thày Quát bảo em về tiếp tục uống thêm tháng nữa, tình hình
thế nào thì thư về cho chị.
Tôi trở lại xưởng trong rừng Thác Cát, Hoành Bồ. Vụ thất
bại thảm hại trước người đàn bà nọ ám ảnh tôi rất lâu. Bất cứ lúc nào trong
ngày, khi làm việc, khi ăn, khi ngủ hình ảnh người đàn bà đó lại hiện ra từng
đường nét thân thể, từng lời nói, nét mặt… kèm theo sự xấu hổ và tiếc rẻ tội lỗi,
đến nỗi người tôi lúc nào cũng thẫn thờ, chán ngán không thiết cả sắc thuốc. Bệnh
thì chết là cùng chứ gì. Sau này, càng ngẫm, tôi càng thấy, trong tất cả
các thất bại trên đường công danh, sự nghiệp, đời sống, thì thất bại trong cuộc
chinh phục đàn bà là ê chề hơn cả.
Nhưng thật kỳ lạ. Một tháng, hai tháng, rồi sáu
tháng trôi qua, hiện tượng di tinh đáng sợ không xảy ra lần nào. Nhiều lúc tôi
mong nó xảy ra để kiểm chứng về sự thay đổi, tìm cho ra lý do vì sao, nó cũng
không tái phát. Tôi đâm lo. Hay mình tuyệt đường con cái thật?
Tôi quyết định đạp xe về Hà Nội. Chị Đông lên các tỉnh
Tây Bắc mua thuốc cho cửa hàng. Tôi đành một mình đến nhà thầy lang Quát ở Hàng
Than.
Thầy lang Quát nhận ra tôi ngay.
Đưa tay đây. Vừa cầm tay xem mạch, thầy vừa hỏi: Uống hết thuốc đợt sau, anh thấy thế nào ?
Tôi lúng túng:
Thưa! Cháu không uống.
Thầy buông tay tôi ra, rồi lắc đầu:
Tôi thành thật kể cho thầy lang Quát nghe
phương pháp chữa bệnh của chị Đông.
Thầy Quát nói:
Như vậy chỉ có thể giải thích anh hết bệnh là do
quá sợ hãi.
Nhà nữ khoa học nổi tiếng ngồi trước mặt tôi nói:
Lần đó cũng vì sợ hãi mà tôi hết hoàn toàn bệnh “động
kinh”.
Tôi hỏi:
Chị sợ những gì?
Đầu tiên là sợ chết vào cái tuổi còn bao nhiêu khát vọng, mơ
ước chưa đâu vào đâu, mà quyết định nghe lời chị Đông. Lúc chưa gặp
anh, tôi cũng dũng mãnh lắm, nhưng khi anh vào nhà thì bao nhiêu nỗi sợ hãi
trong tôi nổi lên: Rõ ràng mình đã không còn chung thủy với chồng đang ở trong
chiến trường…
Tôi ngạc nhiên:
Tôi tưởng anh công tác ở nước ngoài?
Chi tiết chồng tôi công tác ở nước ngoài, còn tôi là nội trợ
đều do chị Đông tạo dựng để an toàn cho tôi và an tâm cho anh. Thực ra, năm đó,
tôi đang là nghiên cứu sinh về sinh học trường đại học Tổng hợp Hà Nội, chồng
tôi dạy khoa lý, cùng trường, vào chiến trường từ năm 1963.
Tôi hỏi:
Chị có sợ bị lộ?
Bị lộ thì không. Khi quyết định chữa bệnh bằng tội lỗi, tôi
đã đấu tranh tư tưởng rất nhiều và cũng tính toán kỹ, để vượt qua được hết trở
ngại. Căn hộ tôi hẹn anh đến là của cô Hòa, bạn thân của tôi, đang đi làm
nghiên cứu sinh ở Nga, giao chìa khóa cho tôi quản lý giùm, nên tha hồ tự do.
Tôi cũng chẳng sợ chuyện lộ ra mình sẽ bị thị phi điều tiếng, hay bị nhà trường
kiểm điểm, kỷ luật… Lúc đó, trong tôi bỗng nhiên lại dội lên ý nghĩ mà trước
đó mình đã gạt đi: Mình đang là một nhà giáo, đang là người trong sạch, và chồng
mình luôn tin tưởng ở mình…
Tôi nói:
Lúc đó, tôi là thợ nên sợ khác chị.
Và điều cuối cùng tôi sợ… Người khách nói
tiếp: Nhìn điệu bộ lóng ngóng của anh lúc đó, tôi sợ mình sẽ làm hỏng một
thanh niên còn trong sáng.
Tôi bật cười:
Cảm ơn chị. Có lẽ nhờ vậy mà tôi thành nhà văn.
Nhà văn chẳng phải ai cũng trong sáng. Lúc đó, tôi chẳng biết
tên, cũng chẳng cần biết anh làm gì, nhưng một người bình thường cũng cần phải
sạch sẽ. Chị mở chiếc túi da rất thời trang vẫn mang theo bên mình, lấy
ra một cuốn sổ tay bìa bọc ni lông, khổ 13X19, loại sổ lịch, mặt bìa vẫn còn
dòng chữ in màu nhũ đã bạc: Báo Quân Đội Nhân Dân 1967, đưa cho tôi: Từ
ngày anh ấy vào chiến trường, tôi bắt đầu viết nhật ký. Đây là cuốn tôi viết từ
khi bị bệnh đến khi hết bệnh, kéo dài hai năm bốn tháng, sau khi được sự đồng ý
của chồng tôi, tôi quyết định để anh đọc.
Tại sao chị lại trao cho tôi?
Thật ra câu chuyện này với thứ bệnh kèm theo, nên
vĩnh viễn chôn vùi, nhưng những năm qua, tôi xem phim rồi đọc tiểu thuyết chiến
tranh mô tả về người phụ nữ có chồng đi chiến trường, người thì nửa đêm phải ra
sông giặt đồ, người thì ra đầu hồi cho thóc vào cối giã, người thậm chí, dắt
trâu ra ruộng cày suốt đêm. Toàn là phụ nữ nông thôn. Trong khi người phụ nữ
thành phố có chồng đi chiến trường, thì kinh khủng hơn nhiều, không thấy ai nói
đến.
Người chồng bảo tôi:
Anh cần phải đọc để biết và hy vọng trong tác phẩm của anh sẽ
có hình ảnh nàng chinh phụ thủ đô.
Rất cảm ơn anh chị. Nhất định tôi sẽ đọc.
Chị chuyển sang chuyện khác:
Hồi này, anh có gặp chị Đông?
Tôi ngượng nghịu:
Sau khi Nam hy sinh ở chiến trường Quảng Trị, năm 1970, tôi cũng rời Quảng Ninh chuyển về công ty
ô tô lâm sản Hà Nội, theo các đoàn xe chuyên dụng hoạt động ở các tỉnh rừng
núi miền trung, nên từ đó đến nay không liên hệ với chị.
Chị nói:
Nhưng rõ ràng đó là một người đáng nhớ. Nhân dịp về nước, vợ
chồng tôi sẽ ra Hà Nội thăm chị, anh có đi không?
Chị Đông đã ngoài bảy mươi, vẫn ở địa chỉ cũ trong con
hẻm xuyên từ phố Thụy Khuê ra bờ Hồ Tây, nhưng xây mới thành nhà ba tầng khá
khang trang. Chị vẫn nhớ ra tôi và người bệnh “nội trợ". Trên bàn thờ là tấm
hình người đàn ông mặc quân phục mang quân hàm đại tá.
Chị kể:
Anh ấy mất tháng 2 năm 1975 ở mặt trận Phước Long. Khi nhận
tin báo tử, đau đớn quá, tôi phát bệnh, nằm liệt giường hai tháng liền, sau đó,
tôi quyết định xin nghỉ hưu non, bởi không còn thiết làm việc gì nữa. Em chết,
chồng chết thì còn tinh thần đâu mà nghĩ đến việc khác, nhất là chỉ đến cuối
tháng 4 là miền Nam hoàn toàn giải phóng.
Chúng tôi xin phép thắp nhang cho anh.
Chị kể tiếp:
Nhưng đau buồn mãi cũng chẳng để làm gì. Sang năm
1976, do có nhiều bệnh nhân quen tìm đến, tôi quyết định mở phòng mạch
khám bệnh, cắt thuốc tại nhà, nhờ trời thương và anh ấy phù hộ, nên cũng đông
khách, nên có tiền, xây lại cái nhà này, rồi cho hai con học hành đến
nơi đến chốn. Một đứa đã lấy chồng ra ở riêng, còn thằng con trai đang du học ở
Nhật.
Cùng là người già, chẳng có gì phải giữ tôi hỏi vui:
Như vậy, chị chờ anh từ năm 1963, đến năm 1975. Chị cũng là
người yêu mạnh mẽ, lại là người khuyên bệnh nhân phạm tội để chữa bệnh…
Ý chú muốn hỏi có lúc nào tôi cũng định phạm tội để tự chữa bệnh cho mình chứ gì? Chị cười: Người chứ không phải là đá đây. Nhưng là
thầy thuốc, tôi luôn có ý thức phòng bệnh hơn chữa bệnh. Mẹ tôi và mẹ chồng đều
có người nuôi tốt hơn tôi, hai con tôi vì chiến tranh, cũng đều có thể gửi các
bác, các chú nuôi tốt hơn là cảnh để mẹ nuôi hai đứa hai nơi sơ tá, nhưng tôi
phải ôm đủ thứ vất vả vào mình để trong nhà lúc nào cũng có bốn lính gác, và
người lính gác thứ năm ở tận chiến trường lúc nào cũng ở trong lòng mình, nên
ngay lúc động lòng nhất, sợ bị bắt quả tang, đến nghĩ cũng không dám.
Chúng tôi cùng bật cười.
Như vậy, sự trong sạch cũng nguồn gốc từ sự hãi.
Chị Đông nói:
Sự trong sạch nào cũng phải đấu tranh mới có. Không biết sợ
hãi chưa chắc đã thành anh hùng, mà biết sợ hãi chẳng hẳn đã là hèn kém.
12/2/2014
12/2/2014


















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét