NGUYỄN TRƯỜNG THANH
- Họ và tên khai sinh: Nguyễn Trường Thanh
- Sinh năm 1934
- Mất năm 2015
- Bút danh: Nguyễn Hoàng Đạt, Trường Thanh
- Quê quán: Làng Lỗ Giao, huyện Đông Anh (Vĩnh Phúc cũ),
nay là thành phố Hà Nội
- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 1997)
Nguyên Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Lạng Sơn.
- Tác phẩm chính đã xuất bản:
* Hoa trong bão (1994 )
* Tướng không phong hàm (1998)
* Nữ điệp báo Lạng Thành (1999)
* Một thời biên ải (Tập 1, 2001 - tập 2, 2006)
* Ngôi nhà cua cha (2007)
* Hương ngàn (2008)
* Hoa bất tử (2009)
* Dặm dài ải Bắc (2012)
- Giải thưởng văn học:
* Giải A - Giải thưởng Hoàng Văn Thụ lần thứ nhất (1995) cho
tiểu thuyết Kỳ tích Chi Lăng.
* Giải A - Giải thưởng Hoàng Văn Thụ lần thứ nhất, giải thưởng
của Đoàn Chủ tịch ủy ban Trung ương Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật Việt
Nam (1995) cho tiểu thuyết Hoa trong bão.
* Giải B - Giải thưởng Hoàng Văn Thụ lần thứ nhất cho các kịch
bản điện ảnh Ở xứ hoa đào, Ngọn lửa Bắc Sơn và Hoa đưa
hương nơi đất anh nằm,
* Giải thưởng Văn học về đề tài Biên phòng của Hội Nhà văn Việt
Nam và Bộ Tư lệnh Biên phòng năm 1999 cho chùm truyện Ma hang Cắn.
* Giải C - Giải thưởng văn học Hội Văn học nghệ thuật các dân
tộc thiểu số Việt Nam (1998), Giải B - Giải thưởng Hoàng Văn Thụ lần thứ hai
(1999) cho tiểu thuyết Tướng không phong hàm.
* Giải khuyến khích - Giải thưởng văn học Hội Văn học nghệ
thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam (2001) cho tiểu thuyết 2 tập Một thời
biên ải.
* Giải C - Giải thưởng Hoàng Văn Thụ lần thứ ba (2009)
cho tiểu thuyết Hoa bất tử.
TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ:
TÌNH YÊU LỚN NHÀ VĂN NGUYỄN TRƯỜNG THANH
DÀNH CHO XỨ LẠNG QUÊ HƯƠNG
Đỗ Lâm Hà
Nhà giáo, nhà văn Nguyễn Trường Thanh với bút danh Nguyễn
Hoàng Đạt; Trường Thanh, là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 1997) - Sinh ngày
2-5-1934 tại làng Lỗ Giao xã Việt Hùng huyện Đông Anh (Vĩnh Phúc cũ), nay là
thành phố Hà Nội. Ông nguyên là chủ tịch Hội VHNT tỉnh Lạng Sơn (1991-1997), đã
xuất bản 20 đầu sách gồm nhiều thể loại: Thơ, Ký, Truyện ngắn, Tiểu luận phê
bình, Kịch bản phim, Tiểu thuyết, trong đó có 9 tiểu thuyết với đề tài lịch sử
và đã nhận 6 giải thưởng văn học chính thức của trung ương và địa phương.
Tôi được quen biết, được đọc tác phẩm của ông từ năm 2000 qua
một đồng nghiệp kỹ sư ngành Giao thông Lạng Sơn gọi ông bằng Cậu. Ông xuất thân
từ một gia đình nông dân lương thiện, lăn lộn kiếm sống để có điều kiện đi học.
Trước khi về định cư ở Lạng Sơn để trở thành nhà Văn, ông đã đi dạy học, có lúc
làm thợ sửa đồng hồ ở Móng Cái, mỏ than Cẩm Phả rồi lên tận gang thép Thái
Nguyên, mỏ apatis Lào Cai… lao động kiếm sống. Từ năm 1964 ông được Bộ Giáo dục
cử lên Lạng Sơn dạy học và đã từng là giáo viên dạy sử, hiệu trưởng trường PTCS
Đồng Mỏ, làm báo, viết văn tại Xứ Lạng biên cương cho đến ngày nay. Ông là người
dễ tiếp xúc, tin cậy, luôn tự tại, lịch sự với trang phục chính khách một nhà
văn.
1. Nhà văn Nguyễn Trường Thanh (Trường Thanh) đã dồn gần trọn
đời mình để khai thác về đề tài lịch sử - Lịch sử chiến tranh cách mạng dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh. Trường
Thanh là một nhà văn khá đặc biệt trong làng văn đương đại nước ta, gần như trọn
đời, ông viết đến 9 tiểu thuyết lịch sử chỉ khai thác trên vùng đất Lạng Sơn
biên cương Tổ quốc, là quê hương thứ hai của nhà văn. Ai muốn hiểu cặn kẽ lịch
sử mảnh đất con người ở xứ đất linh này thì hãy tìm đọc Trường Thanh. Một nhà
giáo dạy sử với kiến văn rộng, nhiều vốn sống, từng trải, yêu nghề ông có lối
hành văn điềm đạm, tự tin tạo được lực hút xoáy với bạn đọc. Cách hành văn ấy
đã tiến một bước dài trong khai thác diễn biến các sự kiện cách mạng, tình huống
cách mạng trong thời kỳ lich sử, khai thác diễn tiến tâm lý và tính tự sự hay
triết luận của nhân vật. Các tiểu thuyết lịch sử tiêu biểu trong chuỗi dài tác
phẩm của nhà văn như: Hoa trong bão (1994) viết về cuộc khởi nghĩa Bắc
Sơn, đã được dựng thành phim; Tường không phong hàm (1998) là người chiến
sĩ cách mạng Lương Văn Tri, chỉ huy đội du kích Bắc Sơn; Nữ điệp báo Lạng
thành (1999) là nữ chiến sĩ tình báo Ngô Thị Mão dân tộc Tày trong thời kỳ
chống Pháp. Một thời biên ải tập I và II (2000-2008) viết về phong
trào cách mạng ở Lạng Sơn giai đoạn trước và sau Cách mạng Tháng Tám năm
1945; Ngôi nhà của cha (2007) viết về cuộc đời hoạt động cách mạng của
kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh; Hương ngàn (2008) viết về cuộc đời hoạt
động cách mạng của đồng chí Hoàng Đình Giong; Hoa bất tử (2009) viết
về cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Hoàng Văn Thụ; Phò mã Động
Giáp (2010) viết về chính sách Nhu viễn thân dân của triều Nhà
Lý làm phên dậu phía Bắc của Tổ quốc; Dặm dài ải Bắc (2012) viết về cuộc đời
hoạt động cách mạng của chiến sĩ Công an Đào Đình Bảng - Xây dựng thế trận lòng
dân để biên phòng giữ gìn cương vực vững chắc bền lâu. Trong lúc viết bài này
(20-4-2014) tôi nhận được điện thoại của ông từ bệnh viện Hữu nghị Việt Xô Hà Nội
là ông sắp hoàn thành tiểu thuyết thứ 10 sẽ xuất bản vào năm nay ông tròn 80 tuổi
(1934-2014).
2. Tâm huyết cây bút Trường Thanh đã thấm vào từng tấc đất
biên cương Tổ quốc. Từ sau năm 1975 dòng văn chương nước nhà đang ở động thái
chuyển mình mạnh mẽ cùng với sự chuyển biến cách mạng đất nước. Như một mạch ngầm
lặng lẽ, một mình đi về dòng văn chương riêng của ông. Đó là viết tiểu thuyết về
đề tài lịch sử - Lịch sử chiến tranh cách mạng ngay trên mảnh đất biên cương
phía Bắc của Tổ quốc. Tiêu điểm là miền đất Lạng Sơn, tấm phên dậu để giữ nước
của cả dân tộc. Năm 30 tuổi (1964) ông chính thức về Lạng Sơn dạy học, làm báo,
viết văn đến nay đã gần nửa thế kỷ. Năm 1981 ông viết tiểu thuyết lịch sử đầu
tay và viết cuốn tiểu thuyết lịch sử thứ 9 là Dặm dài ải Bắc vào năm
2012, lúc ông tròn 78 tuổi. Xuất phát hành trình văn chương của ông là tình yêu
tha thiết mảnh đất và con người ở xứ Hoa đào này - Ấy chính là tình yêu Tổ quốc.
Ông muốn đem ngòi bút văn chương của mình góp phần bảo vệ và xây dựng từng tấc
đất biên cương, giữ gìn độc lập chủ quyền toàn vẹn cho đất nước. Đây là tư tưởng
nghệ thuật, sợi chỉ đỏ xuyên suốt từng trang tiểu thuyết lịch sử của nhà văn
Trường Thanh. Lạng Sơn có vị trí chiến lược vệ quốc rất trọng yếu đã chứng kiến
một lịch sử lặp đi lặp lại mấy mươi lần quân bành trướng phia Bắc sang xâm lược
nước ta phần lớn đều qua cửa ngõ biên cương này. Gần như các triều đại phong kiến
Trung Hoa: Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, quân bành trướng đương đại…đã
nhiều lần đem đại quân sang xâm lược nước ta, có lần đô hộ đến nghìn năm! Khi
chúng thua chạy hoặc đầu hàng rút quân đều qua miền đất biên viễn thiêng liêng
, anh dũng và nhân ái này. Có thể nói cả chín tiểu thuyết lịch sử của nhà văn
Trường Thanh đều dành nhiều trang nhấn về vị trí chiến lược, tinh thần ái quốc
anh dũng chiến đấu chống ngoại xâm của đồng bào các dân tộc, chủ yếu là dân tộc
Tày, Nùng, Dao…Quê hương Lạng Sơn, nơi mà từng tấc đất, từng tên núi, tên
sông…đều gắn chặt với lịch sử hào hùng chống giặc, thắng giặc ngoại xâm về mọi
mặt quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao của dân tộc. Với tầm nhìn lịch sử,
xuất phát từ tình yêu miền biên viễn đất linh, mang nặng ơn tình Xứ Lạng, nhà
văn Trường Thanh đã quyết tâm niệm dùng ngòi bút của mình viết về truyền thống
lịch sử hào hùng chống ngoại xâm của ông cha, tổ tông, dân tộc ở miền đất biên
viễn này. Bộ tiểu thuyết lịch sử của ông đã toát lên những bài học lịch sử
xương máu rút ra từ nghìn năm, trong đó có mô hình xây dựng Thế trận lòng
dân nơi biên phòng thiết yếu của đất nước. Đây là sự thành công xuất sắc của
nhà văn Trường Thanh trên văn đàn Xứ Lạng hôm nay, góp phần vào nền văn học
đương đại nước nhà. Khép lại trang cuối của bộ tiểu thuyết nhiều quyển, tôi cảm
thấy: Tâm huyết cây bút Trương Thanh như đã thấm vào từng tấc đất biên
cương của Tổ quốc.
3. Đọc qua 20 đầu sách đã xuất bản của ông mà chủ yếu là 9 tiểu
thuyết lịch sử - lịch sử chiến tranh cách mạng chứng tỏ nhà văn Trường Thanh về
mặt tư tưởng nghệ thuật rất thông tỏ và thực hiện đúng theo tinh thần Đề
cương văn hoá Việt Nam năm1943 và nghị quyết 23 Bộ Chính trị khóa X về văn
hóa của Đảng. Không những bản thân thực hiện đúng khi nhà văn cầm bút mà còn vận
động nhiều văn nghệ sĩ làm theo khi ông ở cương vị quản lý Hội VHNT của tỉnh.
Cũng chính từ việc nhận thức đúng về đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng mà nhà
văn Trường Thanh có lúc vấp ngã trên đường đời nhưng ông đã dồn nghị lực tự đứng
dậy chính bằng những trang tiểu thuyết hàn lâm, bổ ích của mình. Những tiểu
thuyết ông viết sau lần vấp ngã lại càng ngồn ngộn chữ nghĩa lại làm sáng thêm
trang đời, trang văn của ông. Sau khi hoàn thành tiểu thuyết “Phò mã Động Giáp”
kịp chào mừng kỷ niệm Nghìn năm Thăng Long báo Người cao tuổi đã
trân trọng đăng kín một trang báo ca ngợi ông là một nhà văn tuổi cao gương
sáng nơi Xứ lạng biên cương. Tác phẩm của ông còn có giá trị cao về mặt văn học.
Nhiều sinh viên và học viên trường đại học Thái Nguyên… thường lấy tiểu thuyết
của ông để viết luận án cử nhân và thạc sĩ.
Có thể thấy cả cuộc đời, kể cả tuổi thanh xuân sung mãn đẹp dẽ
nhất của nhà văn Trường Thanh đã gắn bó với miền đất linh Xứ Lạng thân yêu. Nhà
văn Trường Thanh là một tác giả tiêu biểu, xuất sắc đóng góp nhiều cho nền văn
chương, văn học Xứ Lạng suốt gần nửa thế kỷ qua. Tên tuổi ông đã được bạn đọc cả
nước biết đến với một tình cảm trân trọng, yêu mến.
Nhà văn Trường Thanh đã dành một tình yêu lớn cho Xứ Lạng quê
hương.
Đ.L.H
NGUYỄN NGỌC THIỆN
- Họ và tên khai sinh: Nguyễn Ngọc Thiện
- Sinh ngày 6 tháng 3 năm 1947
- Bút danh: Nguyễn Ngọc Thiện, Thiên Năng, Thi Yên, Thế Uẩn,
Nguyễn Thiện
- Quê quán: Phù Ninh, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh cũ (nay là
Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội). Sinh ra và lớn lên, học phổ thông ở Thị xã
Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc.
- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 1997)
- Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội (1997); Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam (1999);
Hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam (1996); Hội viên Hội
Ngôn ngữ học Việt Nam (1997).
- Tác phẩm chính đã xuất bản:
* In riêng: - Văn chương và tác giả (Nxb.
Thanh niên, 1995)
- Tài năng và bản lĩnh nghệ sĩ (Nxb. Hội Nhà văn,
2000)
- Phong cách và Đời văn (Nxb. Khoa học xã hội,
2005)
- Lý luận, phê bình và đời sống văn chương (Nxb. Hội
Nhà văn, 2010)
- Văn chương nghệ thuật và Thẩm mỹ tiếp nhận (Nxb.
Hội Nhà văn, 2015)
- Nghệ thuật vị nghệ thuật hay Nghệ thuật vị nhân
sinh (Nxb. Khoa học xã hội, 2004)
* Chủ biên: - Vũ Trọng Phụng - Về tác gia, tác phẩm (Nxb.
Giáo dục, 2000)
- Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX, 2 tập (Nxb. Lao động,
2003)
- Lý luận, Phê bình Văn học Việt Nam từ đầu thế
kỷ XX đến 1945 chuyên luận), Nxb. Khoa học xã hội, 2005.
- Văn học Việt Nam thế kỷ XX. Quyển V: Lý
luận, phê bình nửa đầu thế kỷ XX (tuyển), 5 tập, Nxb. Văn học, 2004-2005.
- Văn học Việt Nam thế kỷ XX. Quyển
V: Lý luận, phê bình 1945-1975 (tuyển), 5 tập, Nxb. Văn học, 2009-2010.
- Văn học Việt Nam thế kỷ XX. Quyển
V: Lý luận, phê bình 1975-2000 (tuyển), 3 tập, Nxb. Văn học, 2010.
- Giải thưởng văn học:
* Giải thưởng Học sinh lớp 10 giỏi Văn tỉnh Vĩnh Phúc, khi học
tại trường cấp III Trần Phú, thị xã Vĩnh Yên, năm học 1962-1963.
* Tặng thưởng của Hội đồng Lý luận phê bình Văn học nghệ thuật
trung ương năm 2013, 2016.
* Giải thưởng của Hội xuất bản Sách Việt Nam năm
2016.
- Suy nghĩ về nghề văn:
Phê bình văn học tuyệt nhiên không phải là một cuộc rong ruổi
phiêu lưu trên bề mặt văn bản chữ nghĩa với những giây phút thăng hoa, hứng thú
đột khởi. Mà cao hơn thế, phê bình là một hành động của nhận thức, một sự tự ý
thức có chủ đích, đòi hỏi tập trung làm sáng tỏ những vấn đề văn học có ý nghĩa
xã hội, nhân sinh và nghề nghiệp đặt ra từ nơi tác phẩm. Bài phê bình sâu sắc,
có sức thuyết phục cao, vừa cho thấy “con mắt xanh”, tức điểm nhìn và tầm nghĩ
đặc sắc của nhà phê bình khi phóng chiếu vào tác phẩm, vừa khiến người đọc kinh
ngạc về bút lực sung mãn, tinh tế, tài hoa của người viết.
Trong hành trình đầy đam mê và sáng tạo, nhà phê bình không
thể không “rút ruột”, huy động tối đa nội lực tiềm ẩn trong con người vừa là
nhà khoa học vừa là nghệ sĩ của mình, để xuyên qua vỏ ngôn ngữ của văn bản,
thâm nhập vào thần thái của tác phẩm, chỉ ra rằng những dụng ý nghệ thuật của tác
giả có được thẩm thấu vào từng thành tố của tác phẩm hay không; tác phẩm quả là
có những đóng góp mới mẻ cần được khẳng định, ghi nhận hay không; hay giờ đây
nó chỉ là sự chững lại của một tư duy nghệ thuật quen thuộc, một bút pháp trơn
tay đến nhàm lặp?.
A- TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ:
PGS.TS NGUYỄN NGỌC THIỆN - NGƯỜI PHU CHỮ CẦN MẪN
Thùy Dung
Nguyễn Tự Lập gọi ông là “người Thầy có tâm, có tầm, có đức”; Hồ Sĩ Vịnh ví ông là “người bơi giữa hai dòng chảy”; Nguyễn Đình Lâm nhắc
tới ông như “người tiếp lửa cho nghề viết”; học trò trân kính ông như cha; giới
đồng nghiệp đặt cho ông cái tên rất dí dỏm - con số 7 may mắn… Ấy là nhà văn,
nhà báo, PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện - một trong những cây bút phê bình xuất sắc
trong giới phê bình văn học Việt Nam.
Người con của đất làng Nành, con
rể làng Gốm, sinh tại Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc.
Nhắc đến làng Nành (Nay là Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội) người
ta nghĩ ngay đến vùng đất lắm “trai tài, gái sắc”. Bởi nơi đây chính là quê
hương của nhiều vị quan tài ba, cũng là nơi được mệnh danh là “hậu cung của triều
đình”, với công chúa Ngọc Hân, hoàng hậu Nguyễn Thị Huyền và vô số các cung tần
mỹ nữ khác. Đó là mảnh đất thuộc xứ Đông Ngàn, Kinh Bắc - nơi dòng sông Đuống
quanh năm lững lờ trôi chảy, lưu giữ nhiều nét đẹp văn hóa truyền thống với con
người thuần hậu, đơn sơ. Nguyễn Ngọc Thiện may mắn là một trong số những người
con của vùng đất gìn giữ nhiều nét văn hiến ấy.
Nguyễn Ngọc Thiện sinh năm 1947 tại thị xã Vĩnh Yên, tỉnh
Vĩnh Phúc. Anh xuất thân trong một gia đình trung lưu, cơ chỉ làm ăn. Ông nội
anh là người tính tình khí khái, trọng chữ nghĩa. Ông ngoại anh là thầy đồ dạy
chữ Nho còn bà ngoại là người con gái nết na, có nhan sắc trong làng. Hồi thiếu
nữ, bà được bầu chọn là Tướng Bà trong dịp Hội Đại cuối cùng của tổng Nành (cuối
XIX).
Từ nhỏ, anh và các anh chị em đều được thầy mẹ chăm sóc, cho
ăn học chu đáo. Tiếp thu truyền thống đạo học của gia đình và lời khuyên của
ông cha: gìn giữ gia phong, tu nhân tích đức, lập thân tự học hành để là người
có chữ, có chí… Năm 1963, chàng thanh niên Nguyễn Ngọc Thiện sau khi tốt nghiệp
Trường Phổ thông cấp 3 Trần Phú (thị xã Vĩnh Yên) thi đỗ vào khoa Văn, trường Đại
học Tổng hợp Hà Nội. Sau bốn năm học tập, ra trường, anh về nhận công tác tại
Viện Văn học thuộc Viện Khoa học- Xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học
Xã hội Việt Nam). Nguyễn Ngọc Thiện bước chân vào làng nghiên cứu từ đó.
Kể lại khoảng thời gian mới đầu chập chững bước vào nghề, anh
chia sẻ: “Khi ấy, mình là cán bộ trẻ nhất cơ quan, rụt rè, bẽn lẽn lắm. Đi theo
các bậc đàn anh, trưởng thượng như Hoài Thanh, Nam Mộc, Hoàng Trinh, Vũ Đức
Phúc… dự các cuộc họp, các buổi gặp gỡ; mà nhiều người cứ ngỡ mình là con, em
đi tháp tùng các vị cho vui. Chứ không ai nghĩ mình lại là người trong nghề cả…”
Chưa hết thời gian tập sự một năm, anh được gọi đi nghĩa vụ
quân sự. Lúc đầu là lính chiến bộ binh ở Bộ Tư lệnh Thủ đô. Sau quân lực thấy
anh có bằng đại học, lại vốn làm nghề với chữ nghĩa, bèn chuyển anh về Trường sĩ quan hậu cần. Tại đây, anh đảm nhận các công việc từ giảng viên dạy văn trong
khoa cơ bản, sĩ quan trợ lý chính trị Ban Tuyên huấn, chủ nhiệm thư viện nhà
trường cho tới biên tập viên, phát thanh viên của Đài truyền thanh nhà trường…
Được hơn 5 năm, sau Hiệp định Paris năm 1973, anh được chuyển ngành trở về công
tác tại Viện Văn học, tiếp tục sinh hoạt chuyên môn trong Ban Lý luận rồi được
kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1975, anh lấy vợ, nguyên là bạn đồng
môn với anh tại trường cấp 2 Tô Hiệu, thị xã Vĩnh Yên. Chị là Trần Thị Bình An,
quê xã Sơn Đông (Kẻ Gốm), huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Anh trở thành con rể
làng Gốm từ đây. Một thời gian sau đó, anh được điều động lên vùng biên giới
phía Bắc làm cán bộ tăng cường của Đảng. Đến năm 1983, anh được cử đi du học
bên Cộng hòa dân chủ Đức, tiến hành nghiên cứu và tốt nghiệp Tiến sĩ chuyên
ngành lý luận văn học tại trường Đại học Karl-Marx (Leipzig). Sau 4 năm miệt
mài, Nguyễn Ngọc Thiện hoàn thành xuất sắc khóa học nghiên cứu sinh. Trở về Việt
Nam, anh được kết nạp là hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam (1997) và tiếp tục
trở lại với lĩnh vực nghiên cứu, phê bình trong vai trò Trưởng Ban lý luận tại
Viện nghiên cứu Văn học.
Nguyễn Ngọc Thiện bắt đầu nghiệp “phu chữ” bằng những bài tiểu
luận, phê bình trên một số báo chí ở Trung ương và tham luận ở các cuộc hội thảo
khoa học. Sau 50 năm cần mẫn như con tằm se kén, kéo tơ, đến nay, ông đã sở hữu
một khối lượng công trình nghiên cứu không hề nhỏ. Đặc biệt, phải kể đến: Văn
chương và tác giả (Tiểu luận, phê bình) 1995, Tài năng và bản lĩnh
nghệ sĩ (Nghiên cứu và phê bình) 2000, Phong cách và đời văn (Tiểu luận,
phê bình) 2005, Lý luận phê bình và đời sống văn chương (Tiểu luận phê
bình) 2010, Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh (Chuyên
luận) 2004, Văn chương nghệ thuật và thẩm mỹ tiếp nhận 2015. Bên cạnh đó,
ông cũng là chủ biên của nhiều cuốn sách: Tuyển tập phê bình, nghiên cứu văn học
Việt Nam 1900-1945, 5 tập; Hoài Thanh - Bình luận văn chương; Tranh luận văn nghệ
thế kỷ XX, 2 tập; Vũ Trọng Phụng - Về tác giả tác phẩm; Lý luận phê bình Văn học
Việt Nam thế kỷ XX - 13 tập… cùng nhiều tác phẩm lý luận, phê bình văn học
khác…
Nghiên cứu một hiện tượng văn học, ông luôn trung thành với
nguyên tắc “Một cái nhìn mang tính biện chứng lịch sử và hướng tới sự phát triển
của bản thân, luôn luôn là một yêu cầu thống nhất hữu cơ, không thể chỉ nhấn mạnh
phiến diện một phía nào”.
Theo Nguyễn Ngọc Thiện, văn học nghệ thuật là một hình thái
nghệ thuật đặc thù bằng ngôn từ, chứa đựng tài năng, tâm huyết của người
nghệ sĩ, được ấp ủ, thai nghén và sinh thành, tồn tại trong nhiều mối quan hệ
đan cài nhau, nhằm thể hiện khát vọng của con người trong sự tìm kiếm, vươn tới
và sáng tạo theo quy luật của cái đẹp, cái chân, cái thiện. Vì vậy, để phê bình
được thì phải nhìn mọi thứ dựa trên tổng thể, bao quát, không thể chỉ thấy điểm
mà không thấy diện; phải vừa biết kế thừa, chọn lọc, vừa nâng cao, bổ sung…
Những bài viết của ông có sức đằm sâu, gợi ra nhiều vấn đề để
suy nghĩ, bàn luận. Ông phê bình trên cơ sở hiểu sâu con người nhà văn và khảo
sát tác phẩm một cách đầy đủ, có hệ thống, không bị sa vào nhận định chung
chung. Ngòi bút phê bình Nguyễn Ngọc Thiện có chất văn, đặc biệt là khi phê
bình tiểu thuyết, nhiều trang viết đầy cảm hứng, lôi cuốn. Ngoài việc cung cấp
những tư liệu mới, Nguyễn Ngọc Thiện còn đóng góp vào đời sống văn học những kiến
giải mới của mình.
“Lội ngược dòng” để đi tìm chân thiện mỹ
Say mê đào sâu nghiên cứu di sản văn học dân tộc, từ đó tìm
ra điểm hay, cái hợp lý để kế thừa và nâng cao. Có lẽ ai cũng thừa nhận đây là
cách đi đúng hướng, có điều phải công phu, nhất là ở khâu đi tìm tài liệu gốc.
Làm lý luận văn học, nghệ thuật nhất là chủ biên công trình đối với Nguyễn Ngọc
Thiện không phải dùng danh xưng của mình, tập hợp một số tư liệu, bài viết,
thành con số cộng hay khi có tài liệu “tam sao thất bản”, vẫn được sự hỗ trợ
kinh phí nhà nước, in thành những tập sách dày cộp nhưng thiếu ý tưởng…; mà là
lối bơi ngược dòng, tìm tòi, khảo sát, chỉnh lý mới tìm ra được văn bản gốc,
tương đối chính xác, tổ chức thành hệ thống với cách nhìn khả biến và quan điểm
biện chứng. Tiêu biểu là chuyên luận Nhìn lại cuộc tranh luận nghệ thuật
1935-1939 - Công trình tổng kết cuộc tranh luận văn nghệ lớn nhất
và quan trọng nhất đầu thế kỷ XX, được giới khoa học đánh giá cao năng lực khái
quát, phương pháp tổ chức tư liệu nhờ sự chỉ đạo của phương pháp luận mácxít…
Với Nguyễn Ngọc Thiện, chủ biên trong vai trò người chủ xướng
một đề tài lớn phải thực sự là người lao động có trí tuệ năng động, có phương
pháp tư duy thực chứng, lại tập hợp được đội ngũ nghiên cứu tâm huyết đáp ứng
được xã hội có nhu cầu, đòi hỏi của xã hội... Điều này từ thế kỷ XVII, R. Decartes
gọi là duy lý thực tiễn, tức là muốn làm một công trình khoa học, thì phải có tầm
nhìn khái quát qua ba công đoạn: nhu cầu (besoin), năng lực (capacité), và hành
động (action). Về mặt này ông giống như một nhà tư liệu học khả kính đáng tin cậy.
Là học trò của cố nhà phê bình văn học Hoài Thanh, ông luôn
tâm niệm “Phải tận dụng thời gian, hết lòng làm việc cho cái chuyên môn mà
mình theo đuổi, để khi sức tàn lực kiệt, có thể mãn nguyện là mình đã làm
được chút gì có ích cho cuộc đời chung”. Với ông, để nghiên cứu được văn
chương, phải chịu khó tìm tòi, tự mình tìm đọc các văn bản, tác phẩm, đọc đi đọc
lại nhiều lần, để thẩm thấu được cái hồn, cái thần của nó. Khi đọc phải tĩnh
tâm, thành thực với mình, với người, an nhiên, tự tại. Bên cạnh khả năng thiên
bẩm thì việc trui rèn, luyện tập cũng vô cùng quan trọng. Mình phải lao động dựa
trên câu chữ của người ta, nghiên cứu kỹ lưỡng từng câu, từng dòng, từ cách diễn
đạt đến tư tưởng, tình cảm của người viết… Từ đó mà tìm ra những điều sâu xa ẩn
chứa mà tác giả tâm huyết gửi gắm trong câu chữ.
Ngoài cương vị của một nhà khoa học, nhà văn, nhà phê bình
văn học; PGS.TS. Nguyễn Ngọc Thiện còn được mọi người biết đến là một nhà giáo
ưu tú với kinh nghiệm giảng dạy phong phú hiếm có. Trong ngót 30 năm làm “nghề
giáo” của mình ông đã giảng dạy và hướng dẫn nhiều nghiên cứu sinh, nhiều học
viên cao học, chuyên tâm học tập để có học vị tiến sĩ, thạc sĩ văn
chương,… cho ra đời nhiều luận văn, luận án có giá trị nghệ thuật và chuẩn
mực khoa học được đông đảo giới chuyên môn tán thưởng và công nhận.
Không chỉ tập trung nghiên cứu, giảng dạy, ông còn cần mẫn
chuyển mình cả trong lĩnh vực báo chí. Tham gia công tác báo chí từ cách đây đã
10 năm, hiện PGS. TS Nguyễn Ngọc Thiện đang đảm nhiệm vị trí Tổng biên tập Tạp
chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam - một trong những tạp chí
văn nghệ tổng hợp hàng đầu của giới văn nghệ cả nước. Tạp chí từ thời ông lãnh
đạo đã từng bước đổi mới ngày một chuyên nghiệp về nội dung, chỉn chu về hình
thức, xứng tầm một tạp chí văn nghệ đầu ngành mang tính chất mẫu mực. Về hình
thức, từ mục lục đến trang bìa, từ chú thích đến tên chuyên mục được đặt đầu
trang bìa được trình bày rất chuyên nghiệp và khoa học đạt chuẩn trong nước và
quốc tế. Vì tổng biên tập là một nhà khoa học nên uy tín của Diễn đàn Văn
nghệ Việt Nam ngày càng được coi trọng. Các bài đăng trên tạp chí đều
được tính điểm cộng cho các công trình khoa học…
Nếu phải dành một từ để nói về Nguyễn Ngọc Thiện, có lẽ đó
chính là “người phu chữ”, hàng ngày cần mẫn lĩnh hội, thẩm thấu, góp nhặt, chắt
lọc từng chút kiến thức để rồi đúc kết chúng trong từng câu chữ một cách cô đọng
và sâu sắc nhất, lưu lại giá trị mãi cho đời.
T.D
GÓP NHẶT TRÊN TỪNG TRANG SÁCH,
VIẾT LÊN NHỮNG TRANG ĐỜI
VIẾT LÊN NHỮNG TRANG ĐỜI
(Một vài suy nghĩ khi đọc Văn chương, Nghệ thuật
và Thẩm mỹ tiếp nhận của PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện)
Nguyễn Thị Bình
Tỉ mỉ, chắc chắn, uyên bác, tài hoa là cảm nhận của tôi khi đọc
tác phẩm Văn chương, Nghệ thuật và Thẩm mỹ tiếp nhận (Tiểu luận
- Phê bình Văn học) của PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện, NXB Hội Nhà văn Việt Nam, năm
2015. Có lẽ không chỉ riêng tôi, mà những ai có hân hạnh được đọc tác phẩm này,
hẳn sẽ đều có chung cảm nhận như vậy! Và hơn thế, cuốn sách thuyết phục người đọc
không chỉ bởi sự công phu, khoa học và minh triết của một nhà Lý luận Phê bình
văn học chuyên nghiệp, mà bởi sự tinh tế trong năng lực cảm thụ thẩm mỹ của tác
giả - Một người cẩn thận, chỉn chu trong cuộc sống cũng như trong khoa học.
Là nhà nghiên cứu, phê bình gắn bó với thực tiễn, có sự
từng trải về vốn sống, với kiến văn rộng rãi, uyên thâm, cho đến thời điểm này,
PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện đã in riêng 6 cuốn và chủ biên hơn 20 đầu sách về Lý
luận Phê bình văn học (Chưa kể 36 đầu sách in chung). Nhìn vào “gia tài” lao động
nghệ thuật đồ sộ của ông quả là đáng nể phục. Đọc Văn chương, Nghệ
thuật và Thẩm mỹ tiếp nhận của ông, tôi đi từ khâm phục này đến khâm phục
khác và chợt ngộ ra rằng: công việc của người làm công tác Lý luận Phê bình Văn
học, Nghệ thuật ngoài kiến văn sâu rộng, còn đòi hỏi sự tỉ mỉ, kỹ càng, công
phu, uyên bác; đòi hỏi tư duy khoa học mạch lạc, lịch lãm, nhân văn. Đó là lý
do vì sao mỗi trang sách của ông lại cuốn hút độc giả đến vậy!
Tác phẩm Văn chương, Nghệ thuật và Thẩm mỹ tiếp nhận của
PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện là một công trình khoa học công phu, giầu tính thẩm mỹ,
dầy trên 400 trang, tập hợp những thành quả mà ông đã dụng công nghiên cứu
trong 05 năm qua (2010-2015), đã được công bố tại các hội thảo khoa học quốc
gia và công bố trên các sách, báo, tạp chí Trung ương. Sách chia ba phần:
Phần I: Tuyển chọn các bài Tiểu luận Phê bình Văn học về các
tác giả, tác phẩm văn chương Việt Nam hiện đại, nhìn dưới góc độ của sự đọc
chuyên nghiệp và thẩm mỹ tiếp nhận.
Phần II: Tập hợp các bài phỏng vấn, nghiên cứu phê bình
từ trước đến nay về tác gia văn xuôi Ma văn Kháng - Một cây bút “lực lưỡng” của
văn học hiện đại việt Nam.
Phần III: Gồm những bài tiểu luận phê bình về nâng cao chất
lượng, tính chuyên nghiệp và hiệu quả của báo chí văn nghệ Việt Nam đương
đại.
Ba phần của cuốn sách là ba mảng tưởng như riêng rẽ mà nhất
quán được hình thành bởi tư duy khoa học của một người toàn tâm, toàn ý cho sự
nghiệp Lý luận Phê bình Văn học, Nghệ thuật. Đọc sách của PGS.TS Nguyễn Ngọc
Thiện, tôi hiểu, là một người của khoa học cho nên trước hết, ông rất tâm huyết
sẻ chia với lao động nghệ thuật, lao động khoa học của những bậc chân tài. Ông
học hỏi, kế thừa, tiếp thu kiến thức, kinh nghiệm từ những đấng, bậc tôn kính
đi trước (Hoàng Xuân Nhị, Hoàng Trinh, Hà Minh Đức, Đinh Gia Khánh…). Ông trân
trọng, nâng niu từng chút tốt đẹp trên từng trang sách của những bậc tài danh,
đi sâu khám phá, bình giải những giá trị nội dung, nghệ thuật, giúp người đọc
thấu hiểu hiểu hơn về tác phẩm, mở rộng, nâng cao tri thức và thị hiếu thẩm mỹ.
Cũng vì vậy, đối với người đọc - bạn đồng hành, đồng sáng tạo của nhà văn, ông
đòi hỏi ở họ sự hoàn thiện thẩm mỹ trong tiếp nhận tác phẩm văn chương nghệ thuật.
Ông hiểu sâu sắc công việc của người sáng tác, nên luôn xem xét tác phẩm trong
mối quan hệ với chỉnh thể nghệ thuật một cách uyển chuyển, thực chứng, không cứng
nhắc, áp đặt. Những bài của ông, dù viết về lĩnh vực nào cũng đều đem đến cho
người đọc một cảm quan thẩm mĩ, một tư duy khoa học nhất quán, thuyết phục.
Ở phần I, ông dành quá nửa số trang của cuốn sách luận bàn
xoay quanh những vấn đề về lĩnh vực Lý luận Phê bình Việt Nam. Từ việc nhìn
nhận, đánh giá và hệ thống hóa các thành tựu Lý luận Phê bình văn học Việt Nam
từ đầu thế kỷ XX đến nay, đến việc việc hướng dẫn người học Văn chọn đề
tài Khóa luận, Luận văn, Luận án; Từ việc nghiên cứu về một tác giả tiêu biểu,
đến những bài viết đi sâu tìm hiểu giá trị nội dung, nghệ thuật của một tác phẩm…
đề tài nào cũng được ông tiếp cận và tự biện một cách thấu đáo, khoa học theo
kiểu “Nói có sách, mách có chứng”. Ở trang đầu mỗi bài đều có chỉ dẫn xuất xứ,
cuối mỗi trang có chú thích cụ thể, tường minh. Làm như vậy, một mặt đem lại độ
tin cậy cho độc giả, mặt khác, kích thích, khơi gợi trí tò mò, lòng say mê khoa
học đối với những ai muốn tìm hiểu nghiên cứu kĩ vấn đề.
Thông thường, tác phẩm Lý luận Phê bình rất kén độc giả, hay
nói cách khác là đọc rất khó vào. Nhưng đọc sách của PGS.TS Nguyễn Ngọc
Thiện, người đọc sẽ cảm thấy thích thú, đọc rồi cứ muốn đọc lại, đọc mãi bởi
cái cách dẫn dắt khoa học vừa lôgic, lại rất có duyên của ông. Rõ nhất là
cách ông đặt và giải quyết vấn đề rất chặt chẽ, khéo léo, sát đối tượng. Vì vậy,
những vấn đề nêu ra, đều được giải quyết triệt để, có lý, có tình. Ở nhiều bài,
sau khi đánh giá những mặt được và chưa được, bao giờ ông cũng đưa ra kiến nghị
hoặc đề xuất những giải pháp hữu hiệu, thuyết phục. Hệ thống luận điểm, luận cứ
ở từng bài rất logic, nhất quán. Tất cả được soi sáng bởi những thực chứng rõ
ràng, hợp lý, luôn làm hài lòng độc giả. Trên tinh thần thực sự cầu thị, ông
tôn trọng sự đối thoại văn hóa, dân chủ và không hề né tránh phản biện, tranh
luận, nhằm bảo vệ ý kiến đúng đắn của mình, và cái chính để đạt tới sự trung thực,
khách quan, minh bạch trong khoa học. Bài Về các tiểu luận cho là của
Lê Tràng Kiều trong Văn chương và hành động (Trao đổi ý kiến với Anh Chi),
hoặc bài Từ một công trình ngụy khoa học (Về luận văn Thạc sĩ của Đỗ
Thị Thoan)… là những minh chứng cho cái tâm, cái tầm và tài năng của một nhà
khoa học chân chính.
Là người tâm huyết, chí thú với nghề nghiệp mà mình theo đuổi,
lại có bản lĩnh khoa học vững vàng, độc lập, những trang viết của PGS.TS Nguyễn
Ngọc Thiện đã cho độc giả thấy rõ quan niệm, nguyên tắc, ý nghĩa xem xét tác phẩm,
tác giả trong tính toàn vẹn của chỉnh thể nghệ thuật. Từ đó hướng độc giả tới sự
hoàn thiện thẩm mỹ trong tiếp nhận tác phẩm. Với tư duy sáng tạo và bản
lĩnh nghề nghiệp, ông luôn biết chọn cho mình cách thể hiện phù hợp với đối tượng,
khám phá những giá trị đích thực và đề cao cái đẹp của tác phẩm từ nội dung đến
hình thức. Đọc sách của ông, độc giả còn đọc được yêu cầu và mong muốn của ông
về thẩm mỹ tiếp nhận. Và một trong những yếu tố làm nên thành công của cuốn
sách là: ông biết cách thu hút người đọc bằng lối viết riêng biệt, dồi dào bản
lĩnh, vừa khúc chiết, khoa học vừa đậm đà chất văn.
Phần II của sách, tác giả dành nhiều tâm huyết, khám phá, cảm
nhận, nâng niu chăm chút đời văn, đời người của cây bút văn xuôi nổi tiếng Ma
Văn Kháng - Người vinh dự được tặng Giải thưởng Văn học Nhà nước (2001), Giải
thưởng Văn học Đông Nam Á (1998), Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
(2012) và cũng là người bạn vong niên ông hằng kính trọng. Đọc những trang viết
về Ma Văn Kháng của ông, ta càng hiểu và trân trọng tấm lòng, tình cảm của ông
với một bậc văn tài. Đặc biệt, bằng cái nhìn tinh tế và trái tim nhạy cảm, ông
giúp người đọc định hình một cách rõ nét con người và sự nghiệp của một tác gia
văn học “lực lưỡng” tiêu biểu; thẩm thấu những giá trị tinh thần mà nhà văn đã
cống hiến hết mình cho nền văn học, nghệ thuật nước nhà. Theo đánh giá của
PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện, Ma Văn Kháng đã tạo dựng phong cách riêng của một
cây bút hiện thực - cảm thương, từng trải, tinh tế mà gan ruột, đằm thắm. Văn
chương ông sống động, truyền đạt xác thực nhân cách và bản sắc dân tộc đa dạng
trong cái nhìn, nếp cảm, lối nghĩ, vừa cá biệt, vừa tiêu biểu cho chân dung của
nhiều hạng người Việt Nam từ miền ngược đến miền xuôi… Viết về Ma Văn Kháng, ông
đã trút tất cả tâm hồn tình cảm của mình lên trang viết. Dường như ông thấu hiểu
không chỉ nội dung, nghệ thuật của từng tác phẩm mà còn hiểu cặn kẽ tất cả những
yếu tố làm nên giá trị tác phẩm. Ông lật xới cả những vỉa tầng ý nghĩa ẩn chứa
đằng sau câu chữ, để tìm cho ra giá trị đích thực của tác phẩm. Đọc truyện ngắn
“Người giúp việc” ông thật sắc sảo khi nhận ra Cái sâu sắc, thâm trầm của
truyện là ở chỗ khác, khá bất ngờ: phải chăng nhà văn nhắc nhở rằng vị tha là
lòng tốt, song cần có như một sự đi đôi với nó là lòng tự trọng. Một khi thiếu
đi vế sau, thì nhân danh lòng vị tha, con người có thể có nguy cơ trở thành đồng
hành với thói tự ty, nô lệ, tự đánh mất mình mong vừa lòng người khác mà chưa
chắc đã được tiếp nhận.
Tìm hiểu cuộc đời, sự nghiệp của Ma Văn Kháng, khẳng
định vị trí, tài năng của nhà văn trong đời sống xã hội hôm nay và mai sau,
PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện đã góp phần định vị một chân dung văn học “lực lưỡng”
trong dòng chảy văn học Việt Nam hiện đại. Những nhận xét, đánh giá xác đáng của
ông về tác giả tài danh này có tác dụng khơi gợi, dẫn dắt, định hướng thẩm mỹ cho độc giả. Qua đó, ta cũng thấy được tầm vóc và bản lĩnh học thuật của ông
khi nhận ra chân giá trị trong mỗi tác phẩm của nhà văn. Bởi vậy, theo thiển ý
của tôi, khó ai có sự thấu hiểu, đồng cảm, sẻ chia với nhà văn Ma Văn Kháng đến
tận chân tơ, kẽ tóc như PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện.
Trong phần III của cuốn sách, ông dành chia sẻ những kinh
nghiệm và những băn khoăn, trăn trở của mình, nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp
của báo chí Văn nghệ Việt Nam. Với lập luận sắc bén, cập nhật, hiện đại,
hai mảng đề tài mà ông tập trung phản ánh: Về tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt
Nam và Thực trạng và mấy vấn đề về báo chí văn học đã đem lại
cho độc giả một cái nhìn bao quát về thực trạng chất lượng báo chí văn nghệ
trong thời gian qua. Trên cơ sở đó, ông đặt ra những yêu cầu bắt buộc đối với
báo chí, tất cả vì một sự nghiệp văn nghệ, báo chí chất lượng cao: Hay và đẹp,
là hàng hiệu, là sản phẩm cao cấp… Càng yêu cầu cao đối với báo chí, ông càng
không bằng lòng với sự cẩu thả, kém cỏi, làng nhàng, “không sạch nước cản”
trong sáng tạo nghệ thuật. Đối với ông, báo chí văn nghệ đòi hỏi phải có sự tao
nhã, thăng hoa, vừa có tính chuyên nghiệp vừa có tính thẩm mỹ. Có thể nói, những
kiến thức, kinh nghiệm ông đúc rút được trong quá trình tác nghiệp là những bài
học quý cho những người làm công tác báo chí, khoa học. Những quan điểm, kiến
nghị, giải pháp ông đưa ra rất tâm huyết, nhất quán, xác thực, giàu sức
thuyết phục, giúp người đọc có một cái nhìn toàn cảnh, xuyên suốt và tin cậy về
những vấn đề báo chí và văn nghệ được đề cập.
Những ai từng tiếp xúc với PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện đều có
chung cảm nhận: trong cuộc sống đời thường, ông rất chân tình cởi mở, sống tận
tâm hết lòng vì mọi người. Nhưng trong công việc, nhất là những việc liên quan
đến khoa học, ông rất nghiêm khắc, không chấp nhận bất cứ một sự cẩu thả, hời hợt
nào, dù nhỏ.
Là người bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Ngữ văn tại Đức, lại
có thâm niên gắn bó với Báo chí, Văn nghệ, mười năm làm Tổng biên tập Tạp chí
Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, là ủy viên Hội đồng Lý luận, Phê bình văn học Trung
ương và tham gia công tác đào tạo Thạc sĩ, Tiến sĩ ngành Ngữ văn, trước hết,
ông tự đặt cho mình những yêu cầu nghiêm ngặt trong khoa học. Sau nữa, ông cũng
muốn các thế hệ học trò của ông, kể cả độc giả cần phải tuân thủ những yêu cầu
đó. Vậy nên được học ông, được tiếp xúc và được đọc sách của ông, người ta sẽ cảm
thấy “lớn” lên rất nhiều.
Văn chương, Nghệ thuật và Thẩm mỹ tiếp nhận bao
quát nhiều vấn đề lớn, nhỏ trong lĩnh vực Lý luận, Phê bình. Với lý lẽ sắc sảo,
bằng cái nhìn trầm tư, sâu lắng, pha chút hỏm hỉnh, mỗi trang viết của PGS.TS
Nguyễn Ngọc Thiện được chắt lọc từ bề dầy kiến thức, chiều sâu kinh nghiệm,
chiều dài của sự từng trải, nên hội tụ cảm xúc, đậm đà chất văn và mang tính thẩm
mỹ cao. Đặc biệt, ở nhiều bài còn có hệ thống ảnh minh họa đẹp và trang nhã.
Bìa 1 của sách là bức ảnh ông chụp trong chuyến khảo sát ở Nga năm 2014, càng
cho thấy sự tinh tế trong năng lực thẩm mỹ của ông.
Là người tâm huyết, chí thú, say mê khoa học và đã đạt được
những thành quả nhất định trong lao động nghệ thuật, PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện vẫn
ngày ngày miệt mài, góp nhặt trên từng trang sách, viết lên những trang đời. Tập
tiểu luận phê bình Văn chương, Nghệ thuật và Thẩm mỹ tiếp nhận của
ông chắc chắn sẽ có sức sống lâu bền trong lòng độc giả. Mong ông dồi dào sức
khỏe và thành công trên chặng đường Lý luận Phê bình mà ông suốt đời thủy chung
gắn bó!.
N.T.B
B- MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU:
VẤN ĐỀ NGƯỜI ĐỌC - TIẾP NHẬN TRONG
LÝ LUẬN TIỂU THUYẾT Ở VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỶ
XX CHO ĐẾN NAY
I/
Cùng với việc xác định định nghĩa tiểu thuyết với những khả
năng và đặc trưng loại biệt về thể loại, phân loại tiểu thuyết dưới nhiều góc độ,
đi sâu vào những phương diện thuộc nội dung và nghệ thuật tiểu thuyết - tức những
mối quan hệ giữa tiểu thuyết và hiện thực đời sống, tiểu thuyết và tác giả; cấu
trúc bên trong của tiểu thuyết- thì một phương diện khác của lý luận về tiểu
thuyết cũng được xem xét đến. Ấy là những vấn đề xung quanh việc tiếp nhận tiểu
thuyết - thuộc quan hệ giữa tiểu thuyết và người đọc.
Trong giai đoạn đầu của lý luận tiểu thuyết ở Việt Nam,
người đọc đã được quan tâm đề cập, nhưng được xem như là đối tượng tiếp nhận thụ
động văn bản tác phẩm do tác giả sáng tạo và đưa tới. Đọc tiểu thuyết là tìm đến
sự giải trí, tiêu khiển, bồi dưỡng và nâng cao những tình cảm đạo đức hướng thiện,
lành mạnh trong khuôn khổ đạo lý truyền thống của dân tộc.
Sang thế kỷ XX, trong hai thập niên đầu, quan niệm được khai
mở từ Nguyễn Trọng Quản vẫn được tiếp tục duy trì và khẳng định.
Tòa soạn báo Nông cổ mín đàm khi ban hành thể lệ cuộc
thi tiểu thuyết năm 1906, đã lưu ý truyện viết phải căn cứ vào nhân vật, phong
tục xã hội hiện thời, cho người đọc cảm thấy dường như là truyện có thật vậy,
nêu cao cang thường, luân lý, nhân duyên thiện ác, cha con vợ chồng hòa hợp, ân
báo ân, oán báo oán rành mạch, không hoang đường, dị đoan.
Trương Duy Toản, trong Lời tựa tiểu thuyết Phan
Yên ngoại sử, tiết phụ gian truân (1910) quan niệm tiểu thuyết phải giúp
người đọc thoát khỏi những ám ảnh mộng mị, dị đoan, hoang tưởng, phải phân minh
trong lập trường chính tà, báo ứng trong khi sắp bày những truyện chí mới, tức
những chuyện nhãn tiền đương thời.
Trần Thiên Trung, khi viết Hoàng Tố Oanh hàm oan (1916)
cũng khẳng định truyện của ông “nói về việc trong xứ mình, dùng tiếng tầm thường
cho mọi người dễ hiểu”, tuy ít nhiều “đồ thuyết” - tức như cách nói ngày nay là
hư cấu, tưởng tượng- nhưng không phải là dị đoan, phóng đãng, vu khoát.
Và lần đầu tiên, Trần Thiên Trung đề cao vai trò tích cực của
người đọc, không một chiều bị cuốn theo tác giả trong tác phẩm, mà cần có ý kiến
độc lập, phản biện. Ông thực lòng đề nghị người đọc khi đọc tác phẩm tiểu thuyết
này của ông “chỗ nào có sơ siểng xin chư quí vị khán quan dung túng”.
Phạm Quỳnh, cây bút dịch thuật, biên khảo lý luận về tiểu
thuyết dành nhiều sự quan tâm đến người đọc. Ông cho rằng sự tả chân, tả thực
trong văn chương phương Tây mà ta cần học tập, dùng vào việc viết tiểu thuyết
ngày nay là rất đắc địa. Nếu văn chương ta ngày trước ít dùng lối tả thực, xem
đó là tầm thường, mà thiên về sự “mập mờ phảng phất, phiến diện, huyền diệu” -
thì ngày nay muốn hấp dẫn và làm cảm động người đọc phải “lấy sự tả chân làm cốt”.
Phạm Quỳnh khen ngợi đoản thiên tiểu thuyết của Phạm Duy Tốn đã đi theo lối văn
đó, các truyện của tác gia này “như một tấm ảnh phản chiếu các chân tướng như hệt”,
chứ không phải viết “lối phá bút”.
Phạm Quỳnh nhận ra đặc sắc của văn chương tả thực Phạm Duy Tốn
là ở chỗ tác giả không xuất hiện hoặc can thiệp. Trong khi kể lại câu chuyện,
“không cần phải nghị luận xa xôi”, mà để sự thật trong truyện nói với người đọc
và người đọc từ đó cũng bị cuốn theo và có sự biểu lộ tự thân. “Phàm văn chương
đã tả hết các cảnh thực là tự khắc có cái sức cảm động vô cùng” - họ Phạm khẳng
định từ thực tiễn sáng tác của Phạm Duy Tốn. Ông khen ngợi đoản thiên tiểu thuyết
của Phạm Duy Tốn là những bài tả thực tuyệt khéo và đã tôn trọng sự tiếp nhận độc
lập, chủ quan từ nơi người đọc. Tác phẩm của Phạm Duy Tốn khi trình bày “đối
hai cảnh trái ngược nhau như bằng hai bức tranh trước mắt người ta” thì người
ta sẽ “tự khắc xảy ra một cảm giác tức giận, cái tư tưởng thống mạ kẻ “chễm chệ”
này không biết thương lúc “lấm láp” kia.
Chuyên luận Khảo về tiểu thuyết của Phạm Quỳnh đăng
trên Nam Phong 1921 là một công trình nghiên cứu công phu, minh triết.
Lần đầu tiên ông làm rõ khái niệm về “người đọc”. Ngay trong định nghĩa về tiểu
thuyết do ông đưa ra cũng bao hàm phạm vi cần phải quan tâm khi viết tiểu thuyết
là phải “đủ làm cho người đọc có hứng thú”. Tiếp đó, khi diễn giải các phương
diện kết cấu, phô diễn, phân loại tiểu thuyết ông đều không quên đứng về phía
người đọc mà yêu cầu. Ví dụ:
Về kết cấu: “Truyện kết cấu ra, nghĩa là có sự sửa sang xếp đặt
cho có ý nghĩa, có hứng thú hơn, nhưng dẫu không phải là việc thực mà phải khiến
cho người đọc có cái cảm giác rằng những việc ấy có thể xảy ra như thế được,
không có gì là hoang đường, kỳ dị, không có gì là trái ngược với lẽ thường vậy”.
Về phô diễn: “Phô diễn tức là hành văn. Văn tiểu thuyết chú
trọng nhất là lối tự sự, mà cũng có tham dụng những lối tả cảnh, tả tình, vấn
đáp… dù dùng lối nào cũng phải cốt lấy được tự nhiên, cho có linh động, khiến
cho người đọc có cái cảm giác như trông thấy, nghe thấy người thực, việc thực vậy”.
Về phân loại: Sau khi Phạm Quỳnh chia tiểu thuyết làm ba loại
lớn: ngôn tình, tả thực và truyền kỳ, ông giả định rằng loại tiểu thuyết truyền
kỳ có thể thích hợp với người đọc ở ta hiện nay hơn cả, nên chăng chú trọng
phát triển loại tiểu thuyết này hơn so với hai loại kia. Ông viết: “trong ba loại
tiểu thuyết kể trên, có lẽ loại truyền kỳ là người mình có thể luyện tập, có thể
bắt chước dễ hơn cả, một là vì loại này gần giống với các tiểu thuyết Đông
phương ta hay ưa những việc kỳ quái, khác thường, hai là loại này không trọng
văn chương lắm, vừa thích hợp với trình độ một lối văn còn non nớt như văn ta,
thử ngoại lại còn được cái hay, cái lợi là có thể gián tiếp giúp cho sự phổ
thông giáo dục. Dám khuyên các nhà làm tiểu thuyết ta nên chú ý vậy.
Kết luận chuyên khảo về tiểu thuyết rất có giá trị nói trên,
Phạm Quỳnh dành ít dòng bàn về triết lý của tiểu thuyết và ảnh hưởng của tiểu
thuyết đối với người đọc, với xã hội.
Dựa vào tư tưởng triết học của nhà triết học Anh Ba-con về ý
hướng của con người từ bao đời nay là không bằng lòng với thực tại, luôn khát
khao mơ ước, tưởng tượng về một cuộc đời đẹp đẽ, thú vị hơn, Phạm Quỳnh khẳng định
một nguyên lý căn bản của tiểu thuyết mà ông gọi là triết lý sâu xa của tiểu
thuyết, xét về phía người đọc. Ấy là tiểu thuyết chú trọng tạo dựng nên một cuộc
sống khác để người đọc khi đọc nó, nhập vào, sống với thế giới đó, vươn tới những
cái cao thượng, tốt đẹp. Tiểu thuyết giúp cho người đọc phát triển hoàn nguyên,
hoàn thiện bản tính người của mình. Đọc tiểu thuyết là sống với thế giới và con
người do tiểu thuyết tạo dựng, chia sẻ, đồng cảm và phán xét thế giới ấy, tự
nhân lên chiều kích sống đích thực nhân bản nơi mỗi một người đọc; biến tiểu
thuyết từ chỗ là “vật tự nó” thành “vật cho ta”. Mỗi người đọc tìm thấy trong
tiểu thuyết ý nghĩa riêng, sâu xa, thú vị đối với mình. Văn bản tiểu thuyết
phát huy nghĩa tiềm năng qua sự đọc tích cực: “Tiểu thuyết dẫu thuộc về lối tả
thực đi nữa, cũng là đặt ra một truyện khác với việc thường của mọi người, khiến
cho người ta trong khoảng thời gian hoặc dài hoặc ngắn cầm quyển truyện trên
tay đọc, thoát ly được ra ngoài cái đời mình mà cùng với người trong truyện hoặc
vui hoặc buồn, hoặc sướng hoặc khổ, hoặc đi viễn du những nơi xa đất lạ, hoặc
ngồi hồi tưởng những việc cũ, việc xưa. Tiểu thuyết hay thời người đọc trong
lúc đọc tưởng như không phải là mình nữa, mà tưởng là một người trong truyện vậy.
Tiểu thuyết phải đến với người đọc, được người ta tìm đọc vì
thấy nó hay, thú vị, hấp dẫn. Đọc tiểu thuyết, người đọc sống một lần nữa với
thế giới và nhân vật của tiểu thuyết bằng tất cả kinh nghiệm sống, tâm hồn, trí
tuệ của mình. Họ nhập vào đó và thấy mình như cùng được can dự vào bởi đó cũng
là cuộc sống của họ, là truyện với những vấn đề của họ, khiến họ phải quan tâm
và bày tỏ thái độ.
Phạm Quỳnh vừa thấy các phương diện của tiểu thuyết hay tác động
tích cực vào người đọc cá nhân: tiêu khiển giải trí, mở mang việc học, suy xét
việc đời. Tuy nhiên không chỉ xét về phía một cá nhân người đọc khi đến với tiểu
thuyết, Phạm Quỳnh đồng thời lưu ý đến người đọc số đông, người đọc của toàn xã
hội. Ông không tán thành loại truyện dở, làm cho người ta hoàn toàn thoát ly,
quay lưng với cuộc sống, băng hoại phong tục tập quán xã hội. Tiểu thuyết hay
là phải gắn bó với cuộc đời, với mỗi người và với toàn xã hội “có cái
trách nhiệm duy trì cho xã hội, dìu dắt cho quốc dân”. Nếu không vậy, dù
văn chương có hay đến đâu, tiểu thuyết sẽ gây ảnh hưởng xấu cho đất nước và xã
hội, “có tội với quốc gia, với danh giá vậy”.
Có thể thấy rằng với Khảo về tiểu thuyết, lần đầu
tiên trong lý luận về tiểu thuyết, Phạm Quỳnh đã đề cập đến vấn đề người đọc
tiểu thuyết và tác dụng xã hội của tiểu thuyết một cách sâu sắc, tường minh đến
nay vẫn phát huy được giá trị.
Vào giữa những năm 30 của thế kỷ XX, trên văn đàn nước ta nổ
ra cuộc tranh luận về quan điểm nghệ thuật giữa hai phái mà ta quen gọi là “nghệ
thuật vị nghệ thuật” hay “nghệ thuật vị nhân sinh”. Trong quá trình tranh luận,
bút chiến, đại biểu của hai phái có đề cập đến vấn đề tiểu thuyết và người đọc
khi bàn về mối quan hệ giữa văn chương và đời sống xã hội, với người đương thời.
Thiếu Sơn, một cây bút được liệt vào phái “nghệ thuật vị nghệ
thuật”, bác bỏ quan niệm thi ca và tiểu thuyết là loại “văn chương chơi”, khẳng
định những thể văn này có vị trí xứng đáng trên văn đàn và các nhà tiểu
thuyết có vị trí vẻ vang của họ. Theo ông, “nhà viết tiểu thuyết chính là những
người đứng giữa đời nói chuyện đời cho người đời nghe”. “Tiểu thuyết là một thể
văn phổ thông hơn hết”, “được nhiều người ham đọc, đọc để mong được gặp cái tâm
sự của mình, cảm động cho cái tâm sự của người, để hưởng một giấc chiêm bao êm
đẹp, hay để thấy một cái hoài bão của mình có người đeo đuổi và thực hành”.
Tuy nhiên, theo ông văn chương phải “lấy nghệ thuật làm gốc”,
nhà văn phải chăm chút ở “sự trau dồi cái đẹp”, từ đó truyền mỹ cảm cho người đọc
các loại trong xã hội.
Hoài Thanh cũng vậy. Ông cho rằng “người ta vẫn có thể đứng
về phương diện xã hội phê bình một văn phẩm cũng như người ta có thể phê bình về
phương diện triết lý, tôn giáo, đạo đức… Nhưng có một điều không nên quên là
các phương diện ấy đều là phương diện phụ… Điều chắc chắn là trong khi thưởng
thức một tác phẩm nghệ thuật, lẽ cố nhiên phải để nghệ thuật lên trên, lẽ cố
nhiên phải chú ý đến cái đẹp trước khi chú ý đến những tính cách phụ, những
hình thức tạm thời của nó. “Tùy theo sở thích của mình, nhà văn muốn lấy tài liệu
ở đâu cũng được, miễn làm thế nào tạo nên cái đẹp, trao mỹ cảm cho người xem,
thì thôi”.
Đề cao tác dụng giải trí làm đẹp cho đời, ví văn chương như một
bông hoa giúp cho người đọc tận thưởng thức cái đẹp của hương vị, màu sắc xinh
tươi của nó, “quên những nỗi nhọc nhằn mà trong chốc lát hưởng những phút say
sưa”, Hoài Thanh cho như vậy đã là đủ. Hà tất cứ phải “bắt người ta nghe hoài
bài học về luân lý xã hội” từ một tác phẩm văn nghệ, với mong muốn rằng “một
tác phẩm văn nghệ có thể ảnh hưởng đến chính trị, tôn giáo, đạo đức”?
Ngược lại với phái “nghệ thuật vị nghệ thuật”, phái “nghệ thuật
vị nhân sinh” đặc biệt chú trọng đến loại người đọc là người lao động, cho rằng
văn chương nói chung, tiểu thuyết nói riêng, trước hết phải hướng về những người
đọc ấy - quần chúng đông đảo trong xã hội mà đương thời gọi là bình dân.
Về cuối cuộc tranh luận, phái “nghệ thuật vị nhân sinh”, qua
ý kiến của Hải Triều, đã đi đến một quan niệm có sức thuyết phục. Trong
bài “Đi tới chủ nghĩa tả thực trong văn chương: những khuynh hướng trong tiểu
thuyết” (Tao Đàn, 1939), ông nhấn mạnh không có thứ “văn chương độc lập” chỉ
thiên về nghệ thuật. Trong văn chương tiểu thuyết “không có thứ văn chương gì
mà không có xu hướng”. Bởi vậy “viết một cuốn tiểu thuyết bao giờ nhà văn cũng
có một chủ ý trình bày cùng độc giả một chủ nghĩa gì, một triết lý gì, hay
không nữa thì cũng ghi lấy một ý nghĩ gì thoáng qua nhưng nó thiết tha, cảm động
hay ngộ nghĩnh, khôi hài”.
Nhưng Hải Triều cho rằng khuynh hướng tư tưởng của tác phẩm
phải được trình bày một cách nghệ thuật chứ không thể bộc lộ một cách vô duyên,
non nớt, ngớ ngẩn chỉ làm mất thì giờ của người đọc, làm cho họ buồn phiền vì
đã phí công với những tác phẩm vô bổ ấy. Hải Triều viết: “Một tác phẩm hay (tôi
dùng chữ hay trong vòng tương đối) không những vì nó đã đi đúng với cái thị hiếu
đương thời của độc giả, mà còn hay ở nơi xếp cảnh, xếp tình của tác giả nhẹ
nhàng, kín đáo đẹp đẽ… Tôi nghĩ một thiên tiểu thuyết hay cũng giống như cái điệu
đàn đã thoát tiếng tơ, mà nhà văn sĩ biết trọng nghệ thuật chắc không bao giờ lại
đi bắt chước thằng cha nhắc tuồng, vọt ra ngồi chồm ngỗm giữa sân khấu”.
Qua bài viết xuất sắc này, Hải Triều đã đáp trả đích đáng sự
ngộ nhận của phái “nghệ thuật vị nghệ thuật” rằng phái các ông đã quan niệm thô
thiển về văn chương, không hiểu biết về tính nghệ thuật của văn phẩm, chụp mũ
người khác là trưởng giả, chỉ xem mình là biết quan tâm đến bình dân… Với Hải
Triều, đã thấy rõ lập trường macxit về văn học nghệ thuật không hề có sự phân
biệt đối tượng độc giả mà yêu cầu tác phẩm nghệ thuật phải đạt tới cái hay chỉnh
thể cả nội dung lẫn hình thức nghệ thuật một cách nhuần nhuyễn, như “điệu đàn
đã thoát tiếng tơ chỉ còn bung ra giữa không trung những âm điệu nhẹ nhàng, êm
ái hay mãnh liệt, hùng hồn”.
Cuối những năm 30 đầu những năm 40 của thế XX, Thạch Lam,
một nhà văn trong Tự lực văn đoàn, cùng với việc viết truyện ngắn và tiểu
thuyết, ông đã có những ý kiến sâu sắc về tiểu thuyết và độc giả của nó. Trước
hết ông phân loại thành hai hạng người đọc tiểu thuyết: Họ đều đọc sách để giải
trí, nhưng nhiều hơn là hạng tìm đến cách giải trí thông thường, để mua vui, thỏa
mãn với cốt truyện ly kỳ, rắc rối, không xem trọng tư tưởng hay nghệ thuật văn
chương của tác phẩm. Họ đọc tiểu thuyết mà như người ăn cơm cốt lấy no, đọc hết
quyển này đến quyển khác, không phân biệt được hay dở, chỉ say mê với cốt truyện.
Bởi vậy văn chương lãng mạn thoát ly, tiểu thuyết phiêu lưu mạo hiểm, trinh
thám, kiếm hiệp, du ký… được họ ưa chuộng.
Loại độc giả thứ hai, tuy ít hơn, nhưng được Thạch Lam xem trọng,
bởi họ ưa suy nghĩ tìm cách giải trí lý thú bằng hoạt động trí óc trong sự đọc.
Họ thờ phụng và theo dõi cái đẹp, cái hoàn toàn. Đọc sách đối với họ là cách
luyện mình để cho tâm hồn phong phú dồi dào hơn lên. Họ chú trọng đến nghệ thuật
miêu tả thế giới bên trong của nhân vật, tư tưởng và tâm hồn của nhân vật, chứ
không phải là sự sắp đặt bố trí câu chuyện làm thành cốt truyện.
Thạch Lam xem loại độc giả thứ hai này là bạn tri kỷ của nhà
văn và văn chương tiểu thuyết. Họ là thước đo trình độ của một nền văn chương,
góp vào việc duy trì những tác phẩm để đời, “không phải mai một trong quên
lãng”.
Cũng ở giai đoạn này Thạch Lam lý giải về trường hợp Tố
Tâm vì sao lúc xuất hiện được hâm mộ nồng nhiệt, nhưng chỉ vài ba năm sau
khi sách tái bản, người đọc không còn vồ vập như trước nữa. Theo ông, vì tiểu
thuyết Tố Tâm là tiểu thuyết “ chỉ có cái sôi nổi một thời mà không
có gì lâu bền sâu sắc”. Nghệ thuật của tác phẩm không vững bền, chỉ dừng lại
phân tích cái tâm lý hời hợt bên ngoài, một cái thái độ của tâm hồn mà thôi,
không đi tới được cái sâu sắc của tâm hồn người, vật. Cho nên chỉ sau một thời
gian ngắn, không ai nhắc đến tiểu thuyết này nữa.
Đối với ông tác phẩm phải đạt tới sự vững bền, ngoài cái phần
cấu tạo vì thời thế còn có những cái bất diệt, đời đời trong các nhân vật. Như
vậy mới có thể nói là tác phẩm có nghệ thuật chắc chắn, “trong đó nhà văn biết
đi qua những phong trào nhất thời, để suy xét đến những tính tình bất diệt của
loài người”. Thạch Lam khẳng định: “Viết văn về vấn đề gì thì viết, nhà văn cốt
nhất phải đi sâu vào tâm hồn mình, tìm những tính tình và cảm giác thành thực:
tìm thấy tâm hồn mọi người qua tâm hồn của chính mình, đi đến chỗ bất tử mà
không tự biết”.
Thạch Lam nhắc nhở nhà văn ta về chỗ yếu của phần lớn nhà tiểu
thuyết đương thời ở ta là đã đi nhầm đường, chưa thành thực và can đảm mình dám
là mình, trong cái nhìn và giọng điệu nghệ thuật, chưa biết chú mục vào chỗ mạnh
của tiểu thuyết là đi sâu vào thế giới bên trong của con người- một thế giới
phi vật thể, vi mô, huyền diệu. “Họ mang trong người một cái của quý vô hạn mà
cứ đi tìm những đâu đâu như người vác gói bạc trên vai mà không biết, lại ngửa
tay đi ăn xin. Của quý ấy là tâm hồn của họ. Đáng lẽ đi theo những khuôn sáo sẵn,
họ trở về trong lòng, suy nghĩ và phân tích những sự thay đổi của tâm hồn mình,
thì hay biết bao nhiêu”.
Chính vì vậy, cuối cùng, Thạch Lam yêu cầu nhà văn khi viết cần
biết kính trọng mình, kính trọng tác phẩm, cũng tức là kính trọng người đọc.
Không được “viết ra một cách vội vàng, một cách cẩu thả, một cách khinh rẻ vô
cùng”. Nếu thiếu đi đức tính kính trọng ấy sẽ “không bao giờ có công cuộc giá
trị và lâu bền”.
Kể cả những độc giả như trẻ em và đàn bà cũng phải được kính
trọng. Viết cho trẻ em không phải là việc dễ, viết thế nào cũng được. Muốn
thành công khi viết cho trẻ em phải yêu mến câu chuyện mình viết và kính trọng
độc giả ít tuổi của mình. Phải nhập vào thế giới của trẻ em, nhìn đời và xét
đoán theo tâm lý của trẻ. “Viết cho trẻ đọc, trước hết là đứng thay vào chỗ của
trẻ, là tự mình trẻ lại, tìm lại được cái trí tò mò tỉ mỉ, cái lý luận thẳng thắn,
và nhất là cái độc lập, tự do lạ lùng của trí não trẻ con”. Khi ấy, những văn
phẩm được viết ra vừa thích hợp cho trẻ em lại vừa thích hợp cho người lớn.
Viết cho đàn bà cũng vậy. Không thể xem thường và qua quýt được,
phải am hiểu tâm lý phụ nữ, đọc được những ý nghĩ và những tâm sự kín đáo, uyển
chuyển của những bà mẹ, bà vợ, người thiếu nữ và coi trọng lời văn nghệ thuật.
Chỉ như vậy mới hy vọng tác phẩm đến được với phụ nữ , được họ đọc và sống với
họ.
Sau Thạch Lam vài năm, trong chuyên luận Khảo về tiểu
thuyết (đăng trên báo Trung Bắc Chủ nhật những năm 1941-1942,
mãi sau 1955 mới xuất bản thành sách), nhà văn - nhà tiểu thuyết Vũ Bằng đã
dành nhiều trang bàn về nghệ thuật viết tiểu thuyết. Đặc biệt ở phần cuối và
chương Kết luận, ông đã đề cập đến vấn đề cái vinh và cái nhục của nhà tiểu
thuyết trong quan hệ với người đọc và sự đọc.
Cái vinh của nhà tiểu thuyết chuyên nghiệp là sáng tạo ra cuốn
sách tâm đắc, trong đó nói ra được những điều mình ấp ủ trong lòng, hợp với cái
tạng và sở trường bút pháp của mình. Đồng thời tác phẩm đó được người đọc say
sưa đón nhận ngay lúc đồng thời cũng như lâu dài về sau. Tác phẩm như vậy góp
vào việc xây dựng lâu đài văn học cho đất nước.
Còn cái nhục của nhà tiểu thuyết lại là ở chỗ sau khi kỳ khu,
vất vả lao tâm khổ tứ dốc lòng và hết mình cho cuốn tiểu thuyết với bao hy vọng
về sự thành công, thì ngược lại bị người đọc, nhà phê bình chê bai là hỏng.
Vì thế, theo Vũ Bằng, sự thành công của tiểu thuyết không chỉ
là do cố gắng của người viết - tác giả, mà còn có phần góp sức, cộng hưởng của
người đọc yêu mến và ham đọc. “Tiểu thuyết sở dĩ gây nên được những ảnh hưởng
to, tiểu thuyết đã tạo những bóng mây, hơi nước khả dĩ nuôi được tâm hồn đất nước,
công đó không phải là toàn của những nhà tiểu thuyết đâu, nhưng còn là công của
những người đọc tiểu thuyết và những người yêu tiểu thuyết nữa”.
Giữa nhà tiểu thuyết và độc giả có mối quan hệ gắn bó thân
thiết, song phương, dù lúc đầu không quen biết.Viết tiểu thuyết là để cho người
khác. Ngay trong khi đặt bút viết tiểu thuyết, tác giả đã phải nghĩ đến người đọc,
hướng về người đọc, chọn cách thể hiện sao cho khi đọc văn bản tiểu thuyết, người
đọc hiểu và thích thú với những điều nhà văn giãi bày trong sách. Vũ Bằng đưa
ra một hình ảnh để so sánh về quan hệ thân thiết, gắn bó hết mình trong trao gửi
giữa tác giả và người đọc như là giữa người yêu và người yêu vậy. “Một nhà tiểu
thuyết đem mình phơi bày ra trong truyện; hạnh phúc của nhà tiểu thuyết là làm
cho mọi người đọc trông thấy lý tưởng của mình, gửi tấm lòng mình cho độc giả
và bày cho độc giả tất cả cái kết tinh trong hồn mình, nói tóm lại, nhà tiểu
thuyết tin độc giả, dâng tất cả những gì cao quí nhất cho độc giả, cũng như một
xử nữ dâng cái trinh tiết cho người yêu vậy”.
Đó là một yêu thương trong sạch, một sự đồng tâm, không gì có
thể chia cắt, trên đời không có cái gì so sánh được với cái tình đó.
Cần có một lớp độc giả thông minh ở mỗi thời đại, mỗi quốc
gia, mỗi thời đại văn chương. Người đọc, qua việc đọc và bình giá văn chương
chính là góp vào việc thúc đẩy sự sáng tác ngày một phát triển hoàn thiện hơn.
Và, “một nước có nhiều người có học giúp công vào trong công cuộc sáng tạo của
văn nhân bằng cách định giá, bằng cách xét đoán, bằng cách tiếp đón niềm nở những
tác phẩm văn chương hay”.
Nói như cách nói của lý thuyết tiếp nhận ngày nay là người đọc
cũng là một lực lượng không thể thiếu được của quá trình văn học, họ tiếp nhận
văn bản tác phẩm, mở ra cho các văn bản tiềm ẩn ý được biểu đạt kia một trường
ý nghĩa hiện thực vừa giới hạn vừa không cùng.
“Mai sau, sức tiến triển của nó (tức tiểu thuyết - N.N.T) ví
được mạnh hơn bây giờ, cũng là nhờ ở các nghệ sĩ làm việc cho nó, và một phần lớn
nhờ ở độc giả thông minh và có thiện ý chịu tìm hiểu những thú vui tinh thần
thiết thực, thanh lịch và cao thượng”.
Tóm lại, trong lý luận về tiểu thuyết nửa đầu thế kỷ XX, vấn
đề người đọc đã được đề cập đến. Mặc dầu còn sơ giản, nhưng vấn đề người đọc được
xem là một phương diện quan trọng không thể thiếu, góp vào sự thành công và
phát triển của thể loại tiểu thuyết. Nhà văn trong và sau khi hoàn thành văn bản
tiểu thuyết cần luôn nghĩ đến người đọc sẽ tiếp nhận văn bản tác phẩm của mình.
Họ là người bạn đồng hành, đồng sáng tạo, tiếp nối công việc của nhà văn, vì chỉ
với họ ý nghĩa tiềm năng của văn bản tiểu thuyết mới được mở ra và phát huy tận
độ. Người đọc là người bạn tâm đắc, người tình tri kỷ của nhà văn viết tiểu
thuyết. Tác phẩm tiểu thuyết giúp họ nâng cao sự hiểu biết về đời sống và con
người, đặc biệt là thế giới tâm hồn, tình cảm, tư tưởng của con người, nâng cao
trình độ thẩm mỹ hướng về Cái Đẹp trong cuộc sống. Mặt khác người đọc qua nhận
xét, đánh giá, phê bình tác phẩm tiểu thuyết sẽ thúc đẩy hoạt động sáng tác tiểu
thuyết của từng nhà văn cũng như đối với việc phát triển , hoàn thiện, làm
phong phú nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Người đọc có nhiều hạng, họ bình đẳng
khi đến với sáng tác tiểu thuyết. Song ý kiến vô tư, khách quan, chân thành và
hiểu biết của người đọc về lao động viết văn và đặc trưng tác phẩm văn chương
tiểu thuyết luôn là nguồn khích lệ quí báu đối với nhà văn trên hành trình sáng
tạo tiểu thuyết.
II/
1. Viết và đọc tiểu thuyết của Nhất Linh được
ấp ủ và hoàn thành sau gần chục năm từ 1952 đến 1960, tuy ngắn gọn, nhưng là sự
quan sát, rút kinh nghiệm, tổng kết của một tác giả tiểu thuyết Tự lực văn
đoàn, xung quanh quá trình từ viết đến đọc tiểu thuyết.
Trong Lời nói đầu, xác định mục đích viết cuốn sách này,
Nhất Linh nhằm vào hai đối tượng: nhà văn viết tiểu thuyết và độc giả đọc tiểu
thuyết. Đối với độc giả, tác giả hy vọng cuốn sách sẽ giúp họ “có thêm nhiều thứ
thanh cao mà trước kia không được hưởng vì không biết đến”, một khi họ được
nâng cao trình độ, thêm sáng suốt và có quan niệm đúng về nghệ thuật. Ông đã
dành hẳn một phần của sách, tuy không dài bàn về việc đọc tiểu thuyết.
Theo ông, trong vấn đề đọc sách, phải tôn trọng sở thích cá
nhân, ai thích đọc loại văn nào thì đọc loại ấy, đọc để tìm trong sách những điều
bổ ích, đem lại sự thích thú, thỏa mãn cao nhất, trước hết là cho mình.
Theo nhận xét của Nhất Linh, đọc sách cũng có hai kiểu đọc: đọc
thầm lặng, vừa đọc vừa suy nghĩ và đọc thành tiếng, hay nghe người khác đọc.
Trong hai cách ấy, ông thiên về cách đọc lặng lẽ vì có như vậy mới có dịp bình
tâm “thưởng thức được hết những cái hay, ý nhị, sâu sắc và để hồn phiêu diêu
vào một thế giới thanh tao, hoặc để tâm suy nghĩ về những điều đương đọc”.
Ông nhấn mạnh: Đọc tiểu thuyết là nhằm đi tìm cái thú thanh
tao - tức được “thanh lọc”, như chữ dùng của Arixtot trước đây - là được thỏa
mãn về tinh thần, hướng về những điều cao đẹp, cao thượng của một con người có
văn hóa, có nhân cách, văn minh chứ không phải là kẻ phàm phu tục tử, lúc nào
cũng say mê truy tìm những thú vui vật chất tầm thường. “Đọc truyện nào tùy sở
thích riêng, nhưng phải luôn luôn cố gắng tìm cái hay của những truyện hay, họ
sẽ được hưởng những thú thanh tao, tâm hồn họ sẽ đẹp hơn và họ sẽ là những người
văn minh hơn”.
Nhất Linh thừa nhận có sự phân hóa do địa vị xuất thân, về lứa
tuổi, về sở thích cá nhân của người đọc khi xem tiểu thuyết. Với ông, độc giả
là một khối không thuần nhất, tức khả năng tiếp nhận của mỗi người đọc
tuy khác nhau, nhưng cái chung là họ đều cần phải tìm đến những cái hay trong
truyện để nâng mình lên, làm cho con người mình thanh cao hơn, sống có ý nghĩa,
đẹp hơn. Chính loại người đọc này là đối tượng lý tưởng nhất mà nhà văn tâm huyết
cần hướng tới. Đồng thời họ cũng thúc đẩy sự phát triển của văn học vì họ luôn
luôn đòi hỏi nhà văn nâng cao trình độ nghệ thuật không ngừng.
Quan sát đời sống văn học đương thời, Nhất Linh nhận thấy,
trong khi nhà văn Việt Nam không thiếu gì bậc tài năng có thể sánh ngang với
các nhà văn ở các nước khác trên thế giới, thì ngược lại, về phía độc giả của
ta, nhìn chung trình độ của họ còn thấp kém. Do đó, nhiều khi nhà văn phải hạ
thấp tiêu chuẩn, chiều theo trình độ và thị hiếu đó để sách có thể bán đến tay
họ được.
Sách đến được với độc giả nhiều khi phải trải qua bao nỗi
thăng trầm. Nhà văn cũng không nên vội chán nản khi sách của họ xuất bản ra,
nhưng người đọc đương thời không vồ vập tìm đọc. Nếu sách quả là có giá trị thật,
thì biết đâu vài ba năm sau, những cái hay, cái đáng quí của nó được phát lộ
“như kim cương trong bóng tối lan mọc trong hang đá” đến ngày tỏa rạng ánh sáng
long lanh và hương thơm ngào ngạt. Nhất Linh kết luận: “Văn hóa của một nước
cao hay thấp không phải ở chính các nhà văn mà chính là ở độc giả”. Nói như vậy
không phải là hạ thấp vai trò của chủ thể sáng tạo văn bản tác phẩm; phải chăng
ở đây Nhất Linh chỉ có ý đề cao thêm vai trò người đọc, xem họ chứ không phải
ai khác là nhân tố quyết định trong việc nhận chân ý nghĩa và giá trị đích thực
của văn bản tác phẩm. Người đọc ở đây đóng vai trò là kẻ đồng sáng tạo, tiếp
sau sự sáng tạo văn bản mang tiềm năng ý nghĩa của nhà văn, biến văn bản đó trở
thành một tác phẩm sống động bởi các tầng vỉa ý nghĩa ẩn dụ nơi tác phẩm như những
trầm tích, nay được khám phá, biểu lộ dưới nhiều góc độ tiếp cận với cái nhìn
nghệ thuật tinh tường, đa chiều.
2. Cùng khoảng thời gian xuất hiện của Viết và đọc
tiểu thuyết của Nhất Linh ở miền Nam, trên miền Bắc, Nguyễn Đình
Thi - cũng là một tác giả tiểu thuyết đã trình bày mấy ý kiến sắc sảo xoay
quanh các vấn đề nội dung và nghệ thuật đặc thù của thể tài văn xuôi có vị trí
đặc biệt này.
Ông xuất phát từ quan niệm “Cái gốc của tiểu thuyết là ở việc
kể chuyện bằng miệng”, tức là trong tiểu thuyết phải xem xét đồng thời cả hai
phía người kể chuyện, người viết và người nghe, người đọc. Tiểu thuyết giúp vào
việc thực thi giao tiếp giữa con người với con người bằng nghệ thuật kể chuyện
được sáng tạo. “Kể chuyện là từ cái đã biết rồi mà làm cho nhận biết thêm những
cái chưa biết, những sự vật mới, những tình cảm mới... Bằng cách kể chuyện, con
người truyền kinh nghiệm cho nhau, và tìm cách cùng xúc động hòa hợp với nhau một
tình cảm chung”.
Cái cốt yếu của nghệ thuật tiểu thuyết, theo Nguyễn Đình Thi,
là nhà văn bằng tưởng tượng và ngôn ngữ nghệ thuật sáng tạo nên một thế giới mới
làm cho người đọc bị cuốn hút, “như đang chính mình được sống thực với những sự
việc con người trong truyện”, “lay động cả trí tuệ và tình cảm của người nghe”.
Tuy nhiên, Nguyễn Đình Thi nhấn mạnh và cho rằng “Có lẽ
cái tác động vào tình cảm ấy là cái chỗ sâu nhất của tiểu thuyết cũng như của
các nghệ thuật khác”. Đó là một sứ mệnh hết sức quan trọng của nghệ thuật, nó
“nuôi sống tình cảm, và làm cho tình cảm con người luôn luôn mới mẻ, như một
bông hoa lúc nào cũng vừa mới nở ra xong, không bao giờ héo” .
Như trên đã nói, nghệ thuật tiểu thuyết là nghệ thuật hai
phía, tay đôi. Hai phía ấy không chỉ giữa nhà văn và người đọc, mà còn là ở
trong chính nhà văn nữa. Có người đọc vô hình và người đọc thực tế. Nhà văn
trong khi viết tiểu thuyết đồng thời cũng là người đọc thực tế - người đọc đầu
tiên tác phẩm của anh ta, đọc nhiều lần nữa. “Ngay khi ta lẩm bẩm kể chuyện một
mình với ta, thì đó cũng là một công việc tay đôi giữa ta với ta”.
Còn người đọc khác, song song với người đọc - nhà văn, không
phải đợi khi sáng tác được viết xong mới xuất hiện, mà đã xuất hiện ngay trong
quá trình sáng tác rồi. Đó là người đọc vô hình, như Nguyễn Đình Thi xác
nhận. Họ luôn ám ảnh tâm tư nhà văn, cảnh tỉnh nhà văn, gợi ý nhà văn điều này
điều nọ để tác phẩm được xuôi chèo mát mái. Giữa họ và nhà văn là một tình bạn
thân thiết, tôn trọng nhau, tin cậy nhau. Nhà văn không thể coi thường, bất chấp
người đọc vô hình này, cũng như không thể vì sợ sệt mà lấy lòng, mơn trớn họ.
Tóm lại, nhà văn phải giữ được bản lĩnh thực của mình, nhưng phải coi trọng cái
mà ngày nay chúng ta gọi là “sự phản biện” của người đọc vô hình, tìm tòi
mọi cách để tác phẩm đi đúng theo ý đồ nghệ thuật đặt ra.
Như vậy trong quá trình viết tiểu thuyết, từ lúc bắt đầu đến
khi viết xong, bao giờ cũng xuất hiện hai loại người đọc là người đọc thực tế đầu
tiên là chính nhà văn và người đọc vô hình do nhà văn tưởng tượng ra. Họ chi phối
quá trình viết khiến nhà văn hào hứng, phấn chấn, tay bút trơn tru, hoặc đắn
đo, cân nhắc, chăm chút sửa sang bản thảo để được vừa ý.
Nguyễn Đình Thi viết: “Người kể chuyện và người nghe luôn
luôn dính líu chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau. Người viết tiểu thuyết
cũng vậy, lúc viết trên trang giấy là kỳ thực đang nói chuyện với bạn đọc của
mình. Trước mặt nhà văn luôn luôn có người bạn đọc vô hình, một người bạn tin cậy
nhất, thân thiết nhất, hết sức thông minh và đòi hỏi vô cùng nghiêm khắc, nhưng
cũng lại biết thông cảm với mình. Có cảm thấy như vậy ngòi bút nhà văn mới viết
được với trình độ cao nhất của mình. Nhà văn nào coi thường người đọc vô hình ấy,
thấy như người đó là người ở thấp hơn mình, dốt hơn, dại hơn mình, nhà văn nào
như vậy thì không thể viết ra được những ý nghĩ và tình cảm chân thật, quí báu
nhất mà đáng lẽ mình có thể có. Ngược trở lại, nhà văn nào sợ sệt người bạn đọc
vô hình của mình, dùng ngòi bút để chiều nịnh, mơn trớn người bạn đọc ấy, thì
cũng đồng thời đã tự xóa bỏ mất những cái tốt đẹp mà đáng lẽ mình có thể đạt tới
được”.
Còn sau khi cuốn tiểu thuyết được hoàn thành, đi vào đời sống
xã hội, lúc bấy giờ xuất hiện nhiều hơn những người đọc thực tế, cụ thể, mà ta
quen gọi chung là người đọc. Người đọc thực tế ngày hôm nay là đông đảo các tầng
lớp nhân dân trong xã hội. Họ là những người hàng ngày sống trong thực tế và có
trình độ văn hóa, từng trải, có nhận thức nhất định nên đòi hỏi văn học nói
chung, tiểu thuyết nói riêng phải “vừa rất thực, vừa có những lý tưởng, những
tình cảm lớn”, “có chiều sâu về tư tưởng”, đưa ra “một cách nhìn sâu sắc vào cuộc
sống cách mạng mà người ta đã trải qua và đang sống”.
Người đọc tiểu thuyết hôm nay không mong mỏi nhiều ở các nhà
viết tiểu thuyết chỉ viết về họ và ca tụng họ một cách dễ dãi, hoặc viết
theo kiểu tô điểm vẽ vời , sơ lược, công thức mà không thực, xây dựng nhân vật
lý lẽ nhiều, giảng giải nhiều, như thể lên lớp. Họ cũng xa lạ với lối viết theo
kiểu câu khách, giật gân, kích thích những thị hiếu tầm thường, thấp kém...
Bao trùm lên trong các ý kiến về người đọc của Nguyễn Đình
Thi là ông rất coi trọng người đọc. Theo ông cả người đọc vô hình lẫn người đọc
thực tế đều tham gia vào quá trình sáng tạo tiểu thuyết một cách tích cực:
trong khi viết cũng như sau khi viết trở thành một ấn phẩm lưu hành trong đời sống
xã hội. Chính họ là lực lượng thúc đẩy tiểu thuyết của văn học cách mạng khắc
phục sự yếu kém về chất lượng và các căn bệnh thường gặp, để trở nên phong phú
hơn, đem lại những giá trị lâu bền và sâu sắc trong lòng người.
3. Ngoài Nhất Linh, ở miền Nam Việt Nam, trong thời kỳ
1954-1975 còn có hai tác giả là nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề người đọc
nói chung, người đọc tiểu thuyết nói riêng, đó là Nguyễn Hiến Lê và Nguyễn Văn
Trung.
Trong cuốn Nghề viết văn, tác giả tự xuất bản năm 1956 tại
Sài Gòn, Nguyễn Hiến Lê đã dành hẳn chương VI để khảo luận về Tâm
lý độc giả và chương V về Lời phê bình của độc giả. ở các đô thị miền
Nam do chính quyền Sài Gòn kiểm soát, nền kinh tế phát triển theo con đường tư
bản chủ nghĩa chịu sự tác động nghiệt ngã của quy luật thị trường, tự do cạnh
tranh. Đương thời, đặc sắc của ý kiến Nguyễn Hiến Lê là ông nhìn thấy ở sách
cũng như tiểu thuyết, chúng là một loại hàng hóa đặc biệt, bị chi phối bởi thị
trường.
Người đọc tìm đến sách, tiểu thuyết đã đành là do sở thích cá
nhân, trình độ của họ khác nhau nên thị hiếu đọc sách cũng khác nhau, không thể
san bằng theo một kiểu được. Vì thế nhà văn, nhà tiểu thuyết, phải nắm được
trình độ và sở thích của từng hạng độc giả để sáng tác của mình có thể đến được
với họ.
“Mỗi tác phẩm khi đã bày ở trên sách là tìm những độc giả
thích hợp với nó: chẳng hạn loại tiểu thuyết là loại tìm độc giả bình dân; khảo
cứu tìm hạng trang lứa có học. Nếu chính những độc giả đó phải chê là viết thiếu
nghệ thuật hoặc khó hiểu quá thì nhà văn không còn tự bào chữa gì được nữa”.
Theo Nguyễn Hiến Lê, trình độ của độc giả chi phối cách viết
của nhà văn, nhưng nhà văn cũng phải chủ động nâng cao trình độ của độc giả lên
từng bước, từ phổ thông bình dị mà lên dần trên con đường học vấn cao.
Nguyễn Hiến Lê chủ trương lối viết rõ ràng, minh bạch là điều
cần chú ý đầu tiên, vì đại đa số trình độ người đọc còn thấp, nếu viết cao xa
quá họ đọc mà không hiểu rồi tránh xa, thì viết để làm gì!
Song Nguyễn Hiến Lê cũng đã cho thấy kinh tế thị trường chi
phối sách, tiểu thuyết một cách nghiệt ngã như thế nào. Không thể chỉ tính đến
việc viết hay, hấp dẫn mà còn phải tính đến giá thành của sách hợp với túi tiền
của người mua, việc phát hành phải thuận tiện cho người đọc nữa. Bởi khi đến hiệu
sách, mấy ai đã biết ngay được giá trị của nó, mà, chẳng hạn sách lại nêu giá đắt
quá, thì người ta khó có can đảm rút tiền trong hầu bao để mua.
Vậy phải làm thế nào trong tình hình đó?
Nguyễn Hiến Lê khẳng định chỉ có một cách duy nhất là nhà văn
phải chủ động đến với độc giả, tìm được loại độc giả của riêng mình, không thể
tham vọng đáp ứng được mọi loại độc giả. Loại độc giả đó được Nguyễn Hiến Lê gọi
là nhóm độc giả trung thành và thông minh. Ông viết: “Được một nhóm độc
giả trung thành và thông minh, có lẽ là phần thưởng quí nhất của nhà văn... Nếu
nhóm độc giả đó là thanh niên thì trách nhiệm nhà văn khá nặng, phải hướng dẫn
cả một thế hệ, nhưng cái vui cũng cao hơn mà công việc cũng dễ kết quả hơn vì bạn
trẻ vốn nhiều nhiệt huyết”.
Trong việc tìm đến độc giả, nhà văn cần một nhân tố trung
gian là nhà xuất bản, nhà sách. Họ sẽ bỏ vốn để in sách và phát hành sách trên
cơ sở đã tìm hiểu kỹ nhu cầu của độc giả, xác định số lượng in, thực hiện quảng
cáo về sách, để độc giả tuy chưa xem, song đã được biết qua về nội dung sách, từ
đó dễ bề lựa chọn và quyết định khi mua.
Nhìn chung, Nguyễn Hiến Lê xem xét sách, tiểu thuyết trong mối
quan hệ của nền kinh tế thị trường, tự do cạnh tranh. Nhà văn và sách phải tìm
đến người đọc, hấp dẫn họ, đem đến cho họ niềm tin về ấn phẩm. Giá cả phải
chăng, phát hành thuận tiện đến tay độc giả... Và một khi đã tạo thành mối quan
hệ gắn bó thân thuộc rồi thì nhà văn sẽ tìm cách nâng cao trình độ của người đọc
lên từng bước. Cứ thế, nhà văn và độc giả, sách và người đọc luôn gắn bó với
nhau, đồng hành cùng tồn tại trong mối giao tiếp thẩm mĩ hướng tới sự
phát triển của tiền đồ văn học đất nước, xây đắp nền tảng tinh thần cao đẹp
trong đời sống con người.
Ở chương VI của sách, Nguyễn Hiến Lê còn bàn đến loại độc giả
đặc biệt là nhà phê bình chuyên nghiệp. Nhà phê bình có vị trí quan trọng đối với
tác phẩm bởi sự đánh giá của anh ta. So sánh một cách hình ảnh, Nguyễn Hiến Lê
ví lời khen của nhà phê bình có thể ví như ngọn gió làm căng cánh buồm của văn
nhân, cũng có khi lại là ngọn sóng đánh úp chiếc thuyền ấy.
Vậy nhà phê bình phải như thế nào để công việc của anh ta “có
tính chất kiến thiết và ích lợi cho văn học”?
Nguyễn Hiến Lê cho rằng nhà phê bình phải kết hợp hai tư
cách: vừa là ngự sử trên văn đàn, vừa là nghệ sĩ học rộng, có công tâm và không
thành kiến. Tuy số lượng nhà phê bình như trên thời nào cũng hiếm, nhưng đó
luôn là cái đích phấn đấu của những người làm phê bình chân chính.
Nguyễn Hiến Lê phê phán loại phê bình thiếu khách quan, nặng
về cảm tính cá nhân, vì tiền, vì lợi ích vật chất mà thiên vị trong khen chê hoặc
bày đặt những trò ma giáo, diễn trò để đánh lừa dư luận.
Phê bình chuyên nghiệp có quan hệ đến nhà văn như thế, có ảnh
hưởng không nhỏ đến sinh mệnh của tác phẩm sau khi nó ra đời, có tác động đến
người đọc rộng rãi. Vậy thái độ của nhà văn phải như thế nào?
Nguyễn Hiến Lê cho thấy nếu sáng tác nhằm vào người đọc, thì
phê bình do nhằm vào tác phẩm mà hướng cả về người sáng tác lẫn người đọc. Phê
bình làm cầu nối giữa nhà sáng tác và người đọc. Người sáng tác phải có bản
lĩnh cao, phục thiện mà cũng biết khoan hồng trước sự phê bình. Nếu mình có lỗi
thì nhận và sửa chữa, nếu không thì cần biết bảo vệ, bênh vực mình và tác phẩm
của mình một cách hòa nhã, bình tĩnh, không vì sự ngộ nhận, thiên kiến của nhà
phê bình mà phản ứng, nổi đóa lên với những lời lẽ cử chỉ thiếu văn hóa, thiếu
lịch sự. Và cái chính là phải biết bình thản, an nhiên tự tại làm việc, giữ được
lòng yêu mến của người đọc một cách lâu dài; không vì được khen mà vội mừng, bị
chê mà sớm buồn rầu! Thời gian và sự công tâm của công chúng rộng rãi, sẽ là
người đánh giá chân xác giá trị tác phẩm của nhà văn, nhà tiểu thuyết. Họ sẽ
xóa đi những sự bất công không rõ vì nguyên cớ gì mà nhà văn phải cam hứng chịu
một thời gian dài.
Nguyễn Hiến Lê kết luận: “Khi lựa chọn nghề viết văn, bạn đã
mặc nhiên ký giao kèo với xã hội, chịu nhận trước mọi sự bất công rồi, không được
ân hận gì cả”. Vì vậy, hãy bằng tài năng đích thực thể hiện qua sáng tác, và với
bản lĩnh nghệ thuật kiên định của mình lại gây dựng được một lớp người đọc
trung thành, gắn bó, thì tương lai và tiền đồ của nhà văn nhất định sẽ được bảo
đảm.
4. Cũng trong thời gian này, Nguyễn Văn Trung trong
công trình Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết (Nam Sơn xuất bản tại Sài
Gòn, lần thứ nhất, 1962, lần thứ 2, 1965) cho rằng người đọc, nhà phê bình phải
nhìn nhận tác phẩm văn chương, tác phẩm tiểu thuyết là loại công trình xây dựng
bằng chất liệu đặc thù là ngôn ngữ văn tự, chữ viết. Nếu không nhìn nhận được
như vậy thì nhà phê bình, người đọc chỉ có thể đứng ở bên ngoài tác phẩm mà
thôi, không thể đi vào lãnh hội trọn vẹn tác phẩm với tư cách là tác phẩm văn
chương được.
Vậy ngôn ngữ, chữ viết đóng vai trò như thế nào trong sáng
tác văn chương? Nguyễn Văn Trung viết: “Nhà văn, đã đành chủ đích là nhằm nói
lên những hình ảnh cuộc đời nhưng bởi vì những hình ảnh đó là cái gì gắn liền với
cái khả xúc (le sensible), và ngôn ngữ gồm những khả năng đặc biệt để gợi cảm,
rung động, cho nên cũng có thể nói chủ đích của nhà văn là làm văn. Nói
cách khác, ngôn ngữ, chữ viết đóng vai trò quan trọng trong văn chương vì nó xuất
hiện ở đây không phải chỉ như một phương tiện diễn tả mà là yếu tố cấu tạo của
tác phẩm văn chương. Thế giới của văn chương không phải gồm những sự thực, những
chân lý chính xác của suy tưởng hay khoa học, nhưng là thế giới của hình ảnh, của
tưởng tượng. Mà ngôn ngữ chính là khả năng đặc biệt để thể hiện lên thế giới
đó. Do đó, có thể nói: ngôn ngữ, chữ viết là thế giới của nhà văn. Ông tựa như
nhà phù thủy chú ý xếp đặt các chữ thế nào để chúng có thể, thể hiện lên những
hình ảnh”.
Về bản chất ngôn ngữ văn chương là chất liệu phi vật thể,
nhưng lại có khả năng tạo hình trong tưởng tượng và khả xúc, gợi cảm nơi người
đọc. Mà tưởng tượng lại là yếu tính của tác phẩm nghệ thuật, như Nguyễn Văn
Trung diễn giải: “Yếu tính của tác phẩm nghệ thuật là cái tưởng tượng cái phi
thực, cái phi thực không phải là cái thực vì nó xuất hiện như một phủ định cái
thực trong tác động tưởng tưởng, nhưng cũng không phải là cái không thực (non-réel)
hư vô tuyệt đối”.
Nghệ thuật, nói cách khác là thế giới của cái hình như, dường
như.
Tiểu thuyết là một nghệ thuật, cốt yếu để đọc. Người đọc khi
đọc tiểu thuyết qua những con chữ trong văn bản, không thể nhìn thấy, nghe thấy,
cảm thấy trực tiếp bằng các giác quan như khi xem tranh, nghe nhạc, chiêm ngưỡng
một công trình của kiến trúc nghệ thuật, xem biểu diễn sân khấu… Người đọc văn
chương, tiểu thuyết phải nhìn bám vào các con chữ trong tác phẩm mà tưởng tượng
về cảnh, người, vật được nói đến trong câu chuyện và cảm nghĩ, lãnh hội về nội
dung cùng những điều tác giả gửi gắm trong thiên truyện. Đọc truyện phải tuân
thủ nguyên tắc về trật tự thời gian của sự miêu tả tuyến tính, trước sau mà nhà
văn thực hiện, chứ không phải như khi xem trên sân khấu, cùng một lúc người xem
có thể lãnh hội tất cả những gì hiện diện trong tầm mắt. “Trên sân khấu, mắt có
thể thấy trong một giây những cái phải đọc trong nhiều phút, nhiều giờ”.
Nguyễn Văn Trung cũng lưu ý người đọc tiểu thuyết là không
nên ngộ nhận tiểu thuyết với cái thực của đời sống hoặc đòi hỏi sự cầu toàn đối
với tác giả. “Tác phẩm không nói lên hết được những điều muốn nói, vì nó cũng
là một sáng tạo của ngôn ngữ, của văn tự. Do đó không thể coi tác phẩm chỉ là
phản ánh hoàn toàn cả một cuộc đời, một xã hội, một lịch sử hay của bất cứ cái
gì là có thực trong thực tế… Cho nên những hàng chữ kia chỉ như là những dấu hiệu,
những vết tích của một thực tại đã biến mất, của một hiện diện đã trở
nên vắng mặt, như thể là vết tích còn để lại của một người đã ra đi…”.
Và với cảm quan của triết học hiện sinh, Nguyễn Văn Trung nói
về sự cô đơn của tác giả, của người đọc, về vết tích và sự hiện diện,
về cái giới hạn của con người, sự vật.
Nhà văn luôn cảm thấy cô đơn và sự bất mãn thường xuyên về
tác phẩm của mình, bởi trong thế giới tưởng tượng của tiểu thuyết, nhà văn
không hoàn toàn làm chủ mà bao giờ cũng có một quãng cách giữa cái thực sự nhà
văn muốn nói và hình ảnh chỉ thị nó trong tác phẩm. “Một tác phẩm không bao giờ
nói lên hết toàn thể một cuộc đời hay mặc khải toàn vẹn một kinh nghiệm sống thực
phong phú luôn luôn còn tiếp diễn”.
Người đọc cũng vậy, “khi đi vào tác phẩm, cũng tìm thấy một
cô đơn tương tự. Đi vào tác phẩm, không phải là bắt gặp được tác giả trong một
thông cảm tuyệt hảo, cũng không phải là bắt gặp được kinh nghiệm về cuộc đời thực
toàn vẹn, nhưng chỉ là bắt gặp những vết tích làm cho tưởng nhớ tới một hiện diện
không còn nữa” (35).
Tiểu thuyết như vậy chỉ là một mảnh vỡ của cuộc đời toàn vẹn
được tái hiện lại như một dấu ấn góp vào sự hồi nhớ của độc giả chút ít mà
thôi. Mảnh đời để lại qua cảm thụ và sáng tạo của tác giả như một vết tích ấy
là có giới hạn trong khuôn khổ của thế giới văn chương, thế giới của tưởng tượng
giữa thực tại đời sống không cùng, vô hạn: “tác phẩm văn học cũng chỉ là vết
tích của tác giả. Người đọc có thể tự do giải thích tìm hiểu, nhưng vẫn đinh
ninh rằng không thể nào lĩnh hội được thực tại của những vết tích, vì vết tích
chính là giới hạn của một thế giới, là thế giới văn chương, mà bản chất
của giới hạn là không bao giờ vượt khỏi được”.
Nhìn chung, ý kiến của Nguyễn Văn Trung đã lưu ý một hướng tiếp
cận tác phẩm văn chương, tiểu thuyết từ những đặc trưng riêng của chất liệu biểu
hiện và tư duy nghệ thuật tạo hình bằng ngôn ngữ chữ viết; phân biệt đọc tiểu
thuyết khác với cảm nhận các tác phẩm của các loại hình nghệ thuật bằng chất liệu
vật thể. Hình tượng nghệ thuật mà tác phẩm văn học và tiểu thuyết tạo nên là những
hình tượng phi vật thể, khơi dậy sự tưởng tượng mạnh mẽ để cảm nhận của người đọc.
Thế giới văn chương của tiểu thuyết là cái phi thực có giới hạn, là một mảnh, một
vết tích mà nhà văn để lại giúp cho người đọc có thêm một góc độ cảm nhận lãnh
hội về đời sống thực tại vô biên, vô lượng mà thôi.
5. Từ đầu những năm 60 của thế kỷ trước cho đến những
năm đầu thế kỷ XXI, ở nước ta đã từng bước hình thành và đặt được những cơ sở
lý thuyết chung nền tảng cho một vấn đề bao trùm là vấn đề đọc văn học, hay còn
gọi là lý thuyết tiếp nhận, do các nhà lý luận Việt Nam tiếp thu thành quả của
lý thuyết hiện đại này từ phương Tây.
Có lẽ người đầu tiên đặt nền tảng của lý thuyết này ở ta
là Nguyễn Văn Trung (ở miền Nam) trong cuốn sách biên soạn
cho sinh viên Văn khoa Đại học ở Sài Gòn. Đó là cuốn Lược khảo văn học tập
I, Nam Sơn xuất bản, 1963. Ở chương VI của sách, nhan đề Viết cho ai?,
Nguyễn Văn Trung viết: “Tác phẩm như con quay… Nó chỉ thực sự là tác phẩm,
trong lúc nó được đọc, được xây dựng lại trong trí óc của độc giả, cũng như con
quay chỉ là con quay thực sự trong lúc nó quay. Tác phẩm văn chương thiết yếu
đòi hỏi có sự tham dự của độc giả… Độc giả là một yếu tố cấu tạo của tác phẩm,
vì nếu không có độc giả, thì không thể có tác phẩm được. Tác giả, tác phẩm, độc
giả là một, hay nói cách khác là những yếu tố cấu tạo vũ trụ văn chương”.
Tiếp sau đó là các nhà lý luận khác: Hoàng Trinh (Ký
hiệu nghĩa và phê bình văn học, Nxb. Văn học, 1980); Lê Ngọc Trà (Lý
luận văn học, Nxb. Trẻ, 1990); Huỳnh Như Phương (Lý luận văn học
vấn đề và suy nghĩ, cùng viết với Nguyễn Văn Hạnh, Nxb. Giáo dục, 1995; Lý
luận văn học (nhập môn), Nxb. ĐHQG TP Hồ Chí Minh, 2010), Đỗ Đức Hiểu (Đổi
mới phê bình văn học, Nxb. Khoa học xã hội, 1993), Nguyễn Thanh Hùng (Văn
học - Tầm nhìn - Biến đổi, Nxb. Văn học, 1996; Đọc - Hiểu tác phẩm văn
chương trong nhà trường, Nxb. GD, 2008); Trương Đăng Dung (Tác
phẩm văn học như là một quá trình, Nxb. Khoa học xã hội, 2004; Từ văn bản
đến tác phẩm văn học, Nxb. Khoa học xã hội, 1998); Phương Lựu (Lý luận
văn học - chủ biên, Tập I, Nxb. ĐHSP, 2002; Giáo trình Tiếp nhận văn học,
Nxb. Đà Nẵng, 2004); Trần Đình Sử (Giáo trình Lý luận văn học -
chủ biên, Tập I, II, Nxb. ĐHSP, 2004-2006; Lý luận văn học - chủ
biên, Tập II, Nxb. ĐHSP, 2008)…
Đó là những tiểu luận, chuyên luận, giáo trình lý luận văn học
bậc Đại học. Mỗi người ở những góc độ tiếp cận và sự dẫn giải rộng hẹp, nông
sâu khác nhau đã gắn việc đọc, sự đọc của người đọc với quan niệm mới về văn bản
tác phẩm văn học do nhà văn sáng tạo, dưới góc nhìn của chủ nghĩa cấu
trúc và ký hiệu học. Chung quy lại, được nhấn mạnh các luận điểm như sau:
* “Xét tác phẩm văn học ở phương diện ký hiệu học với tư cách
là một sáng tạo có tính ký hiệu, một phương tiện giao tiếp thì tác phẩm có hai
mặt: Cái biểu đạt và Cái được biểu đạt, văn bản và ý
nghĩa. Nội dung tác phẩm được mã hóa vào các phương tiện biểu đạt là văn bản
ngôn từ và hình tượng văn học, làm thành ý nghĩa của chúng. Người đọc giải mã
văn bản ngôn từ và hình tượng để nắm bắt ý nghĩa của tác phẩm. Do đó nội dung
tác phẩm được thực hiện và mở ra qua ý nghĩa mà người đọc phát hiện, nội dung
tác phẩm chính là tổng hòa mọi ý nghĩa của tác phẩm do hoạt động đọc mở ra.”
- “Trong tiếp nhận, tác phẩm văn học được đọc và cảm nhận
theo nhiều hướng khác nhau, có nhầm, có sai, có đúng và phải lựa chọn cách hiểu
đúng, tránh ngộ nhận. Văn bản nói chung không thay đổi, nhưng tác phẩm lại
thay đổi theo lịch sử, do điều kiện xã hội, văn hóa, tư tưởng khác nhau, tác phẩm
được khám phá ở các bình diện khác nhau, tạo thành quá trình của tác phẩm, tạo
thành số phận của bản thân tác phẩm. Đối với các tác phẩm có giá trị văn học lớn,
ý nghĩa của nó là vô tận.”.
Những ý kiến khái quát lý luận nêu trên về sự đọc và người đọc
rộng rãi đối với tác phẩm nói chung, cũng có thể xem là thích hợp với việc đọc
tiểu thuyết và người đọc tiểu thuyết nói riêng.
6. Bên cạnh các nhà lý luận đưa ra các quan điểm học thuật,
có tính hệ thống và khái quát được tập hợp nói trên, các nhà văn sáng tác tiểu
thuyết của ta vào đầu thế kỷ XXI, khi tham gia cuộc hội thảo về “Đổi mới
tư duy tiểu thuyết” do Hội Nhà văn Việt Nam (tổ chức XI-2002), cũng có những
ý kiến tập trung, sâu sắc, xuất phát từ kinh nghiệm sáng tác và sự trải nghiệm
viết tiểu thuyết của mỗi người.
Nhà thơ Hữu Thỉnh, Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam chủ trì Hội
thảo. Hội nghị đã nghe 12 bản tham luận và 6 ý kiến phát biểu của các nhà văn
viết tiểu thuyết và nhà lý luận phê bình, nhà quản lý sự nghiệp văn học. Dưới
đây là những ý kiến tham luận và phát biểu có khía cạnh bàn về vấn đề đọc
và người đọc tiểu thuyết.
Trong Báo cáo đề dẫn Hội thảo, nhà tiểu thuyết Ma
Văn Kháng trình bày quan niệm về tiểu thuyết trên thế giới và ở ta hiện
nay, tình trạng sáng tác tiểu thuyết những năm gần đây của Việt Nam “còn ở
trình độ non yếu và trung bình, thiếu độ kết tinh, còn yếu về tính toàn mỹ, thiếu
sức hấp dẫn của chất đời và men say của khát vọng”. Theo ông, tiểu thuyết nếu
chưa là bạn đồng hành được với bạn đọc thì ít ra cũng phải ngang tầm với họ. Muốn
vậy phải tránh đi theo những con đường mòn, dễ dãi, sơ lược trong khi viết; phải
tìm tòi “có một cái gì mới lạ, vượt lên, mới mong hấp dẫn được người đọc”.
Người đọc hôm nay có xu hướng không thật mặn mà với sáng tác
dựa trên hư cấu đơn thuần như trước đây. Thị hiếu họ đã thay đổi, khát khao được
qua đọc tiểu thuyết, tiếp cận tối đa sát sạt với cuộc đời ở dạng nguyên khởi,
chất phác, mộc mạc, không trau chuốt, trang trí, tô điểm. Họ tìm đến “tiểu thuyết
hướng nội” đi vào khám phá thế giới bên trong phức tạp với những ẩn ức, vô thức
không dễ nắm bắt của con người thân phận.
Nhà văn không thể chỉ dừng lại kể lể, săn đón sự kiện mà cần
thể hiện mạnh mẽ vai trò của chủ thể sáng tạo, lý giải đời sống từ cái nhìn nghệ
thuật riêng độc đáo của mình, cho thấy sự công phu trong lao động nghệ thuật, một
tài năng đặc biệt, dấn thân tìm đường riêng, không để mình lẫn vào những người
đi trước, mà phải làm khác, thậm chí vượt qua được họ.
Ma Văn Kháng đã đặt ra các yêu cầu mà nhà viết tiểu thuyết cần
phải nỗ lực vận động vượt lên, đổi mới tư duy nghệ thuật, thủ pháp kỹ thuật viết,
do phía đòi hỏi người đọc ngày nay đã khác trước. Họ đã có điều kiện đọc nhiều
tiểu thuyết ưu tú của nước ngoài được dịch ra tiếng Việt hoặc đọc từ bản gốc của
ngôn ngữ nước ngoài, họ so sánh và đòi hỏi tiểu thuyết ta phải vươn lên phong
phú hơn, hay hơn, nếu không muốn bị tụt hậu, nghèo nàn.
Nhà văn Đỗ Chu lo ngại tiểu thuyết viết ra nằm im
trên các quầy sách bị người đọc thờ ơ, không đủ dũng khí để đọc, vì biết rằng
đó chỉ là những cuốn sách dớ dẩn mạo danh là tiểu thuyết. Tiểu thuyết hay, có
giá trị thật sự khiến cho người đọc phải reo lên vì thích thú - đó là ao ước của
ông. Theo ông, nhà văn viết tiểu thuyết phải biết xấu hổ, sượng sùng nếu như
mình bất lực, lười biếng, tự ru mình, lừa phỉnh mình về sự lạc lõng, buồn tẻ của
ngòi bút mình đã không vượt qua được những thách thức để đáp ứng những đòi hỏi
mới, chính đáng của người đọc.
Tác giả tiểu thuyết Chu Lai nhấn mạnh qua tiểu thuyết,
nhà văn phải thể hiện sự nhập thế của văn chương nghệ thuật - đó là yêu cầu
chính yếu từ phía người đọc. Họ không mấy để ý “anh đang tuân thủ theo thủ pháp
sáng tạo nào đâu”, anh viết thế nào cũng được, “miễn là anh truyền được nỗi niềm
xúc động của cõi nhân tình thế thái càng nhiều càng tốt”, để “khi gập sách lại
buồn một mình, vui một chút, thậm chí giật mình, tủi phận, lo sợ, rùng mình một
chút nhưng sau đó là cái dư vị ngọt ngào của sự tin yêu cuộc đời, yêu tin con
người hơn lặng lẽ nhen lên”. Có nghĩa là tiểu thuyết cần phải rốt ráo đáp ứng
nhu cầu tinh thần của con người để con người sống có ý nghĩa, sâu sắc hơn, đúng
với bản chất nhân văn, bản chất người của nó trong một thế giới còn bao điều bất
như ý, hiểm nguy rình rập.
Hoàng Quốc Hải, cây bút tiểu thuyết lịch sử, thấy rằng tư duy
của con người hiện đại đã thay đổi nhiều trên cơ sở cấu trúc xã hội đã đổi
thay. Viết tiểu thuyết là đụng đến con người - con người được miêu tả và thể hiện
trong tác phẩm; con người là các tầng lớp người đọc. Vì vậy để đáp ứng sự
thay đổi của con người - đối tượng và con người - độc giả nói trên, “nhà văn phải
đổi mới tư duy của chính nhà văn chứ không phải đổi mới tư duy của tiểu thuyết”.
Nói cách khác, theo ông, điều chính yếu là đổi mới tư duy sáng tạo hoặc đọc tiểu
thuyết, chứ không nên dừng lại loay hoay tranh cãi để độc tôn hay phê phán một
kiểu loại tiểu thuyết nào. Nhà viết tiểu thuyết cần có bản lĩnh, tự tin, tự
chủ về ngòi bút của mình.
“Vậy đổi mới tư duy tiểu thuyết là nhà văn hãy cứ viết, viết
và viết, không lệ thuộc vào hình thức thể hiện, cũng như không lệ thuộc vào sự
cho phép hay không cho phép của bất kỳ ai, nếu như ta lấy phương châm Tổ quốc,
Dân tộc và Nhà văn làm kim chỉ nam cho ngòi bút”.
Ông báo động về sự xuống cấp của văn hóa đọc ở ta, so với các
nước ở thế giới, ở Châu Âu chẳng hạn. Trong khi ở nước ngoài mỗi đầu sách, kể cả
tiểu thuyết, thường được in ít nhất 3000 bản, còn ở ta mỗi đầu sách tương tự chỉ
được in khoảng 500-700 đến 1000 bản. Việc phát hành cũng buông lỏng, sách mới
in đầu năm, cuối năm đã bán xôn- trách nhiệm này có phần chủ yếu thuộc về sự quản
lý của nhà nước. Ông cho rằng một khi văn hóa đọc, trong đó có đọc tiểu thuyết,
văn chương bị suy giảm, thị phần sách văn chương bị co hẹp lại so với phương tiện
truyền thông đại chúng khác, sẽ ảnh hưởng đến việc xây dựng nền tảng tinh thần,
nền tảng văn hóa tốt đẹp của xã hội văn minh, “nếu không muốn nói, đó sẽ là thảm
họa tiềm ẩn”.
Là người làm công tác biên tập ở một nhà xuất bản ở Thủ đô,
nhà thơ Phạm Đức trong tham luận ngắn, nhấn mạnh vế thứ hai của Hội
thảo cần được làm rõ là vấn đề “đổi mới tư duy tiếp nhận tiểu thuyết”. Những
người làm công tác biên tập xuất bản thuộc vào hàng những người đọc tiểu thuyết
từ khi nó còn đang ở dạng bản thảo, chưa được in. Họ có nhiệm vụ thẩm định
giá trị và chất lượng của tập bản thảo tiểu thuyết kia. “Đầu đi đuôi lọt”-
trách nhiệm thật nặng nề. Phạm Đức bày tỏ lòng kính trọng các nhà văn viết tiểu
thuyết phải lao tâm khổ tứ, tâm huyết nhọc lòng vì nó, qua mỗi trang viết. Vì
thế những người biên tập cũng cần đổi mới tư duy xem xét thẩm định tiểu thuyết ở
dạng bản thảo, để là những bà đỡ, giúp các tiểu thuyết- con đẻ tinh thần của
nhà văn - đến được với công chúng rộng rãi, mở rộng chân trời cho sự tiếp nhận
nó, bình giá nó.
Nhà văn Nguyễn Đỗ Phú nhắc nhở các nhà văn cần nhận
ra sự phân hóa rõ rệt trong các tầng lớp độc giả . Bên cạnh những độc giả tìm đến
những tiểu thuyết hay về nội dung cũng như nghệ thuật, thì rất đáng tiếc vẫn
còn không ít những độc giả dễ dãi. Họ tìm đến những cuốn truyện giải trí tầm
phào, viết về những mối tình tay ba, tay tư “lê thê dài dòng đến phát ngán”. Thế
mà các sách loại đó vẫn bán chạy, nhiều người đọc, trong khi những sách của những
cây bút tiểu thuyết có tiếng thì ít người mua, ít người đọc”.
Vấn đề ở đây là: sách bán chạy, được nhiều người đọc chưa chắc
đã là những sách có giá trị đích thực. Đơn giản loại sách đó phù hợp với thị hiếu
của loại người đọc với trình độ và tâm lý, kiến văn như vậy. Thừa nhận sự phân
hóa người đọc trong xã hội hiện đại, thị hiếu đa dạng; sự ăn khách của loại tiểu
thuyết tầm tầm. Nhưng mặt khác cần hướng tới loại người đọc lý tưởng của tiểu
thuyết. Ở họ có một trình độ thẩm mỹ cao, sự am hiểu về các đòi hỏi thuộc chất
lượng tác phẩm và sự công phu trong lao động viết văn, một sự kinh lịch và từng
trải về cuộc đời. Họ sẽ là bạn tri âm tri kỷ của dòng tiểu thuyết đang vươn tới
những đỉnh cao của văn học dân tộc, đáp ứng kỳ vọng của người viết tiểu thuyết
có tài năng, hết lòng với nghề nghiệp.
Trong kết luận Hội thảo, nhà thơ Hữu Thỉnh khẳng định
tiểu thuyết ở ta đang ở trong thời điểm vận động để đổi mới với sứ mệnh là một
thể loại không thể thay thế trong đời sống văn học hiện đại. Mặc dầu đã có nhiều
cố gắng, những thành tựu đã đạt được là cần được ghi nhận, nhưng ta không thể bằng
lòng mà cần nỗ lực vươn tới những đỉnh cao với những đổi mới về tư duy nghệ thuật,
cách tân về phương thức biểu hiện, hình thức thể loại.
Thuyết phục và làm cho người đọc thích thú khi đọc tiểu thuyết,
điều đó là tốt, nhưng chưa đủ. Hữu Thỉnh cho rằng tiểu thuyết phải chinh phục
và làm bàng hoàng người đọc. Đó phải là những “tác phẩm hay, có khả năng thay đổi
trạng thái tâm lý của người đọc; công phu mà lại làm cho người ta quên công
phu, khó nhọc mà lại làm người ta quên khó nhọc, để, chỉ cảm thấy cái lồng lộng
của tài năng, cái choáng ngợp trước một kỳ quan”.
Ông nhận ra tâm lý người đọc bây giờ đã khác trước, nhịp điệu
cuộc sống đã khác trước. Không thể dềnh dàng, phục phịch, đặc quá, tận ngôn “bao
cấp” mọi liên tưởng, nghĩ ngợi của người đọc. Phải tạo được những khoảng trống,
“đó là đất trống tiếp theo của người tiếp nhận văn chương”. Và phải đa dạng
“ngày nay, người đọc muốn tiếp nhận nhiều kênh thông tin, trong cùng một văn bản”.
Phải chăng, không chỉ là thông tin thẩm mỹ, mà còn có thể còn là những thông
tin có vẻ vặt vãnh, đời thường nhưng lại quan thiết đến con người, góp
vào sự tồn tại và tiến triển của nó. Và phải chăng trong sự thông tin, còn bao
hàm tính đa phương, đa chiều, không áp đặt mà mở ra sự dân chủ đối thoại, phản
biện, thừa nhận quyền sở hữu tư duy?
Văn học cũng như tiểu thuyết không thể đánh mất mình bằng sự
dễ dãi với mình, cũng tức là đánh mất người đọc. Nói tóm lại, tiểu thuyết chỉ cần
một chữ hay, và vươn tới trở thành những cơ thể sống với vẻ đẹp và sức mạnh
thiên phú để người đọc chiêm ngưỡng, khâm phục, nể trọng và chia sẻ.
Cuộc hội thảo “Đổi mới tư duy tiểu thuyết” diễn ra vào đầu thế
kỷ XXI ở ta đã tiếp tục xới lên và đào sâu vào những vấn đề bức xúc của thể loại
tiểu thuyết đương đại ở ta cũng như trên thế giới. Những ý kiến tham luận và
phát biểu của các nhà sáng tác tiểu thuyết, lý luận phê bình và quản lý đã cho
thấy sự nhạy cảm của nhà văn chúng ta để đáp ứng yêu cầu mới của người đọc
trong thời bình, giữa một thế giới mà các quốc gia muốn tồn tại và phát triển,
một mặt phải độc lập, giữ gìn bản sắc riêng của dân tộc mình, lại phải hội nhập
vào thế giới chung của loài người. Nói như nhà tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu:
“Con người vừa dễ hiểu vừa đầy bí ẩn. Chúng ta đào bằng ngòi bút cho đến cùng
đáy cái thật chứa đầy bí ẩn, đầy nỗi niềm nguồn cơn của con người đất nước mình
thì sẽ gặp con người nhân loại, con người Việt Nam sẽ giao hoà với nhân loại.”
III/
Tiểu thuyết viết theo lối hiện đại kiểu phương Tây hình thành
muộn ở nước ta, nhưng những ý kiến, nghĩ, bàn và lập thuyết về nó đã manh nha đồng
thời xuất hiện song hành cùng quá trình thử nghiệm sáng tác tiểu thuyết bằng chữ
quốc ngữ đi từ hình thức ngắn (đoản thiên tiểu thuyết) đến dài (trường thiên tiểu
thuyết). Tiến trình lịch sử tư duy lý luận về tiểu thuyết, nếu tính từ Nguyễn
Trọng Quản với Lời tựa cho đoản thiên tiểu thuyết đầu tiên bằng chữ
quốc ngữ xuất bản ở ta năm 1887, tính đến nay đã hơn một thế kỷ. Còn nếu chặt
chẽ hơn, thực sự kể từ Phạm Quỳnh với chuyên luận Bàn về tiểu thuyết (Nam
Phong, 1921), thì lý luận tiểu thuyết Việt Nam mới trải non một thế kỷ.
Chọn thời điểm ra đời của những ý kiến, bài viết, công trình
tiêu biểu, có ý nghĩa đã khởi trình quan điểm lý luận xung quanh thể loại văn
xuôi mới này để cắm mốc, có thể thấy ở Việt nam tư duy lý luận về tiểu thuyết
đã trải qua ba giai đoạn:
- Giai đoạn mở đầu, từ 1887-1945
- Giai đoạn kế tiếp, từ 1945- 1975
- Giai đoạn thứ ba, từ 1975 đến nay.
Ở giai đoạn đầu, trong 20 năm đầu, tư duy lý luận về tiểu
thuyết manh nha hình thành, do những cây bút đi tiên phong vừa thử nghiệm sáng
tác tiểu thuyết (bao gồm cả truyện ngắn và truyện dài), vừa phát biểu về công
việc tự phát của mình. Thường là, qua những Lời nói đầu khi xuất bản
các tiểu thuyết ấy, họ giãi bày quan niệm sơ giản trong buổi đầu làm quen viết
về thể loại này.
Ở những năm tiếp theo, khi vốn liếng tiểu thuyết sáng tác đã
được kha khá, gom được ít nhiều kinh nghiệm và khái niệm tiểu thuyết được thu hẹp
để chỉ phạm vi truyện dài thì các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp hoặc các cây bút
viết tiểu thuyết Tây học đã có thể trình bày hệ thống, sâu hơn trên văn đàn rộng
rãi, những sêri bài viết đầu tiên trên báo chí sau tập hợp thành sách. Đó là những
công trình của Phạm Quỳnh, Thạch Lam, Vũ Bằng, Vũ Ngọc Phan phác ra các vấn đề
khung của lý luận tiểu thuyết, về: định nghĩa thể loại, tiêu chí phân loại các
thể tài trong thể loại này, nguồn gốc ra đời và điều kiện phát triển, những đặc
điểm chủ yếu về nội dung tư tưởng, nội dung hiện thực và thể hiện bút pháp,
phong cách nghệ thuật của tác phẩm qua sáng tạo của tác giả; sự quan tâm đến
người đọc tiểu thuyết. Trong giai đoạn nay, có thể nói, lý luận tiểu thuyết hiện
đại ở Việt Nam đã đạt được những nền tảng chắc chắn, cho dù chưa tránh được sơ
lược, phiến diện.
Còn ở hai giai đoạn sau (từ 1945-1985 và từ 1986 - nay), trong
vòng hơn 50 năm, lý luận tiểu thuyết ở ta đã được nâng lên một trình độ mới cao
hơn, mở ra nhiều hướng, trân trọng những cách tân, tìm tòi tâm huyết của người
viết, nhận rõ vai trò thiết yếu của người đọc. Với sự tham gia góp bàn năng nổ
của các nhà lý luận phê bình chuyên nghiệp, các nhà nghiên cứu, giảng dạy ở các
trường Đại học và cơ quan nghiên cứu, xuất bản trung ương, lý luận về tiểu thuyết
đã được bổ sung hướng tiếp cận từ nhiều góc độ, phương pháp mới của thi pháp học,
tự sự học, ký hiệu học, phân tâm học, mỹ học tiếp nhận... Trong các công trình,
bài viết của họ, các phương diện đặc thù, yếu tính của tiểu thuyết - một loại
nghệ thuật tự sự lấy ngôn từ, chữ viết làm phương tiện biểu đạt và giao tiếp thẩm
mỹ; một loại hàng hóa đặc biệt đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người hiện đại
trong xã hội văn minh với nền kinh tế thị trường cạnh tranh nghiệt ngã - đã đước
triển khai xem xét trên một hệ vấn đề gắn bó, tương quan và chi phối lẫn nhau
giữa chủ thể sáng tạo (người kể chuyện với các điểm nhìn và giọng điệu,
diễn ngôn nghệ thuật) - cấu trúc văn bản truyện (thế giới nghệ thuật, thời gian
và không gian nghệ thuật) - vai trò và hiệu quả của sự đọc, tiếp nhận tiểu thuyết
trong các tầng lớp người đọc qua biến thiên của đời sống xã hội và lịch sử. Lý
luận tiểu thuyết gần đây vẫn lấy việc xem xét văn bản của tác phẩm làm trung
tâm, nhưng đã đi từ góc độ mỹ học sáng tạo (đề cao vai trò của tác giả) kết hợp
với mỹ học tiếp nhận (khẳng định vai trò đồng sáng tạo, khám phá ý nghĩa trong
văn bản tác phẩm). Tác phẩm tiểu thuyết giờ đây được xem xét như một quá trình
sáng tạo “kép”, đi từ nhà văn đến người đọc tiếp nhận, từ văn bản tiềm ẩn nghĩa
đến tác phẩm mở ra sự khám phá khôn cùng về nghĩa.
Bước vào thời kỳ đổi mới, các nhà viết tiểu thuyết chuyên
nghiệp, trong bối cảnh giao lưu quốc tế được mở rộng, đã xới lật, mở rộng đối
thoại trong khi trình bày những ý kiến riêng về tiểu thuyết dưới góc độ nhìn nhận,
tham chiếu của mình. Họ quan tâm nhiều hơn đến cách viết để hấp dẫn, thu hút
người đọc các loại trong bối cảnh cơ chế thị trường và sự tương tác, chi phối, ảnh
hưởng lẫn nhau giữa các loại hình nghệ thuật và phương tiện truyền thông đại
chúng, giao tiếp thẩm mỹ: internet với văn học trên mạng; văn hóa đọc bị
thu hẹp thị phần; sự phát triển, hấp dẫn, thu hút công chúng đông đảo của nghệ
thuật nghe nhìn (điện ảnh, truyền hình); nghệ thuật biểu diễn (âm nhạc, sân khấu);
nghệ thuật tạo hình vật thể (kiến trúc, hội họa, nhiếp ảnh, múa)... Có thể nói,
bám sát thực tiễn sáng tác tiểu thuyết ở Việt Nam, nhận rõ yêu cầu mới và trình
độ cao - thấp của các loại công chúng - người đọc, mở rộng học hỏi thành tựu
sáng tác và lý luận về tiểu thuyết của thế giới (chủ yếu dựa vào các tác phẩm
và công trình được dịch ra tiếng Việt), các ý kiến lý luận bàn về tiểu thuyết của
các nhà lý luận, nghiên cứu và sáng tác tiểu thuyết ở ta ngày một thêm sâu sắc,
cho thấy hiệu quả sự hội nhập về tư duy sáng tác và tư duy lý luận của ta vào
tiến trình nghệ thuật toàn nhân loại. Vừa hướng vào tác giả, vừa đòi hỏi và hướng
vào người đọc, lý luận về tiểu thuyết bày tỏ khát vọng vươn tới những thành tựu
chất lượng cao trong sáng tác và kỳ vọng vào một thế hệ với những lớp người đọc
lý tưởng và thực tế: họ có trình độ hiểu biết phong phú, năng lực thẩm mỹ cao,
có thể đối thoại và chia sẻ với những tìm tòi sáng tạo tâm huyết của nhà văn
trong cái nhìn nghệ thuật độc đáo về cuộc đời và con người; trong bút pháp và
phong cách riêng của một bản lĩnh nghệ thuật chuyên nghiệp vươn tới những đỉnh
cao và sự thăng hoa.
Lý luận và sáng tác nỗ lực hướng vào việc xây đắp một nền tiểu
thuyết dân tộc - hiện đại, phát huy tinh hoa, truyền thống văn học dân tộc, tiếp
thu thành tựu của thế giới, đóng góp những tác phẩm có giá trị làm phong phú
kho tàng văn học nhân loại.
Bước sang thế kỷ XXI, tiểu thuyết trên thế giới và ở ta vẫn
đang ở trong tiến trình vận động về bản chất thẩm mỹ của thể loại, với tư cách
là một loại hình nghệ thuật tự sự năng động, tổng hợp bằng ngôn ngữ tạo hình
phi vật thể, tiếp xúc với hiện thực ở thời hiện tại đang tiến triển, đáp ứng
yêu cầu nhiều mặt của các loại người đọc thuộc về các dân tộc, quốc gia,
khu vực khác nhau. Và lý luận về tiểu thuyết cũng đang mở ra nhiều chiều kích,
nhiều góc độ tiếp cận, lý giải... để nhận chân thực tiễn sáng tác, tư vấn, đối
thoại với cả người sáng tác cũng như độc giả một cách dân chủ và cởi mở.
Trong giới hạn của tài liệu nghiên cứu và trình độ, công
trình của chúng tôi mặc dầu đã hết sức cố gắng, song chắc chắn không tránh khỏi
thiếu sót, bất cập. Rất mong các nhà nghiên cứu, đồng nghiệp tận tình cho ý kiến
bổ khuyết, giúp chúng tôi hoàn thiện công trình của mình.
Hà Nội, tháng 3 năm 2011
Nhiều tác giả - Tiếp nhận văn học nghệ thuật (chuyên luận)
Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, H.,2013.
NGUYỄN NGỌC TUNG
- Họ và tên khai sinh: Nguyễn Ngọc Tung
- Sinh năm 1950
- Bút danh: Nguyễn Ngọc Tung, Ngọc Tung, Nguyễn Ngọc
- Quê quán: Xã Tân Cương, huyện Vĩnh tường,tỉnh Vĩnh Phúc
- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 2012)
- Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, hội viên Hội Kiến trúc
sư Việt Nam, hội viên Tổng hội Xây dựng Việt Nam
- Tác phẩm chính đã xuất bản:
* Ô cửa trăng lên (Tập thơ, NXB Hội
Nhà văn, 2003)
* Cánh diều tuổi thơ (Tập thơ thiếu
nhi, NXB Hội Nhà văn, 2009)
* Những câu thơ từ đất (Tập thơ, NXB Hội
Nhà văn, 2011)
* Khúc hát đôi bờ (Tập thơ, NXB Hội
Nhà văn, 2006)
* Thắp chữ (Tập thơ, NXB Hội Nhà văn,
2015).
- Giải thưởng văn học:
* Giải Ba (không có giải nhất), cuộc thi thơ về gửi tiền tiết
kiệm tỉnh Vĩnh Phú - 1970.
* Giải Khuyến khích, Giải thưởng Văn học nghệ thuật 5 năm lần
thứ II tỉnh Vĩnh Phúc, tập thơ “Ô cửa trăng lên”.
* Giải B, Giải thưởng Văn học nghệ thuật 5 năm lần thứ III, tập
thơ “Khúc hát đôi bờ”.
* Giải B, Giải thưởng Văn học nghệ thuật 5 năm lần thứ IV tỉnh
Vĩnh Phúc, tập thơ “Những câu thơ từ đất”.
* Giải C, Giải thưởng VHNT của UBTQ Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam -
2011, tập thơ “Những câu thơ từ đất”.
* Giải Ba (không có giải nhất) cuộc thi thơ Hải Phòng 2011;
* Giải Ba cuộc thi thơ Phụ nữ Vĩnh Phúc, 2016.
- Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp VHNT Việt Nam”.
A- TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ:
"GÓC RUỘNG NHÂN GIAN" CỦA NGUYỄN NGỌC TUNG
Trần
Quang Quý
Một nhà thơ thành công, không chỉ tạo ra thi pháp, dấu ấn phong
cách mà còn tỏa ra từ trường thơ của mình, tạo ra một vùng văn hóa đặc trưng
cho mỹ cảm văn học. Chẳng hạn khi nhắc đến Quang Dũng, người ta nhớ mây trắng
xứ Đoài, nhớ Sơn Tây, nhớ “Sông Đáy chầm mình qua Phú Quốc”… Có vẻ Nguyễn
Ngọc Tung đã bắt đầu cảm ra, hay có thể là lẽ tự nhiên, những câu thơ từ máu thịt,
những điều thường ngày đau đáu mà thốt ra, để có được “Những câu thơ từ đất” (NXB
HNV, 2011) - Một chuyển động thấy rõ, cả về cấu tứ, nhịp điệu, hệ thống thi ảnh, cảm hứng
nội tâm sau những nỗ lực vươn lên so với chính anh trước đó. Đất là nguồn cội, là
trữ năng sống muôn thuở, là ngũ hành vũ trụ, sinh sôi và phát triển, và cõi “về”. Không
nhà thơ nào từ khởi thủy lời, từ thẳm sâu thi tứ lại không có thơ về đất. Và ở
đây, trong cái mênh mông đất ấy, Nguyễn Ngọc Tung đã chọn cho mình một miền đất
thân thuộc, đất quê làng trung du, nơi ký ức luôn trở về, nơi có biết bao thân phận, người
thân lầm lũi mồ hôi, cả một đời lặn ngụp “bì bõm” mưu sinh, thấp thỏm âu lo từng
mùa sây bông, từng mùa lép hạt… trên “góc ruộng nhân gian. Đất quê ấy, những
góc ruộng ấy là nơi ký thác hồn thơ, nơi quyết định gieo trồng những hạt giống
tâm hồn cho những mùa màng hy vọng, cũng là tâm niệm lao động thi ca của Nguyễn
Ngọc Tung. “Bòn trong góc ruộng nhân gian/ Câu thơ lấm đất ta mang gieo
mùa” (Lục bát hai dòng).
Hãy bắt đầu từ cái cổng làng, cánh cổng mở ra thế giới, nơi thời
gian luân chuyển, nơi nhịp điệu sống của cộng đồng cư dân nông nghiệp đi
qua. “Bước chân nào xuôi ngược/ Ai ở cuối trời/ Ai góc bể chân mây/ Có nghe
sóng đất vỗ chân người?” (Cổng làng). Cổng làng là nhân chứng của biết bao sự kiện, nỗi
niềm chia ly tái hợp, vui buồn,yêu thương… bước qua lằn ranh giới của những chiều
không gian khác nhau. Ở đó có thể thấy bao thước phim cuộc sống cuốn đi, mà người
nghệ sĩ có thể ghi hình; “Những chiếc nón nhấp nhô lặn ngụp/ Liềm ai gặt
trăng non/ Lúa đầy ắp thuyền vàng ngấn nước/ Kéo trăng về bì bõm hoàng hôn.” (Hoàng
hôn). Quả là một bức tranh quê lồng lộng thiên nhiên, lam lũ và ngồn ngộn mùa
màng, con thuyền lãng mạn đã kéo cả ánh trăng về trong hoàng hôn của chiều tà
trung du, đẹp một cách lộng lẫy và thơ mộng.
Nguyễn Ngọc Tung thực là một nghệ sĩ của những khoảnh khắc chớp
sáng, bằng sự nhạy cảm của tâm hồn, tay máy đặc tả khắc hoạ nên bức tranh quê, với
bao cảnh sắc, vẻ đẹp con người, kể cả góc nôi tâm, những nhọc nhằn, lam lũ. Anh
coi mình như người đi săn ảnh: “Tôi theo mặt trời đi săn ảnh/ Săn hơi thở
cánh đồng đang chín/ Cánh đồng đang non/ Săn biêng biếc tiếng chim/ Roi rói nụ cười
mùa rơm mới” (Theo mặt trời săn ảnh). Anh săn được những gì? Có khi là một phụ nữ
đơn chiếc, như “Vỏ trấu rống sinh lực/ Xác xơ chiếc thuyền sau lần vượt cạn…/ Chị
một bóng một đèn/ Giấu mặt đêm/ Bóng chị in lên cánh đồng/ Lấp lánh những mầm
trăng.” (Mầm trăng). Hay nét khắc về những người đàn bà đánh dậm, những phụ nữ tảo
tần mò cua bắt tép mà nuôi lớn bao lớp người làng. “Những người đàn bà bì bõm
chân trời/ Bàn chân lùa con tép con tôm/ Bì bõm nắng bì bõm mưa, bì bõm/ Mảnh nhọn
rập rình nhức hoàng hôn”. Sau những tảo tần, cả những hiểm nguy của những mảnh
nhọn bất kỳ, họ trở về trong yên bình của làng quê nguyên thủy. “Những người
đàn bà ru con bằng ca dao/ Ru cánh cò ngủ cùng cây gạo còng cổ tích/ Đêm thôn dã
dậm phơi trăng xanh biếc/ Cả đời quen bì bõm phía chân trời” (Những người
đàn bà đánh dậm). Không chỉ là nét tượng hình ròng ròng màu sắc, cả cái nét tượng
thanh “Bì bõm” nghe mà thương thế, những chân trời sinh kế!
Trong cộng đồng làng, anh viết về mẹ cha qua hình ảnh cái đấu, nó
không chỉ là cái đấu được làm bằng gỗ nứa, gắn nhựa sơn quê đồi, nó là cái đấu vẹn
tròn của tình cha mẹ, sự tròn trặn của đất trời và vầng trăng lãng mạn tình yêu;
và vì vậy nó trở thành huyền thoại trong ký ức của người thơ: “Mẹ đi
xa/ Cái đấu cũ mòn/ Có hạt thóc vàng ở lại/ Như tuổi thơ con trong nôi mẹ hời
ru” và những ngày cha đi mặt trận: “Đêm đêm mẹ thức/ Cái đấu nghiêng về
phương cha đánh giặc/ Đổ đầy trăng sao thương nhớ lên trời” (Huyền thoại cái đấu
của mẹ). “Đổ đầy trăng sao thương nhớ lên trời”, câu thơ trở nên mới mẻ, kỳ
vỹ trên cái nền truyền thống thi hứng lãng mạn.
Ở một mảng đời sống quê làng bình dị khác, ký ức Nguyễn Ngọc
Tung dẫn ta về bến xe xưa, nơi có người phụ nữ ngồi nướng ngô trên những mảnh đá
lấy từ lòng khe,con suối trung du: “Lúp xúp nón/ Lửa hắt lên khuôn mặt xanh
gầy/ Bến xe thơm mùi ngô nướng…/ Bà mua vài bắp làm quà/ Ông ngồi vẽ từng hạt như
người già rụng từng cái răng” (Chị bán ngô). Người nướng ngô giờ không còn
thấy, “ Mùi ngô thơm theo hồn đá đến phương nào!”. Cái bùi ngùi thiếu vắng
luôn hiện hữu trong cảm thức trở về với những ký ức quê làng nguồn cội, dưới
cái nhìn tinh tế, khơi gợi cõi thẳm của những ai đã từng có nguồn gốc thôn quê.
Một bài thơ khác, ”Lời chị” là một bài lục bát hay nói về cái bùi ngùi, chông
chênh của hai chị em gái, ngày em chưa lấy chồng, làm gì cũng có đôi, giờ thì: “Ngày
mai em đi lấy chồng/ Đôi quang ở lại gánh gồng nắng mưa/ Ngày mai em lên xe
hoa/ Gàu giai đây gác chị qua gàu sòng/ Ngày mai em về nhà chồng/ Gối đôi chị tặng
tơ hồng chị thêu…” Mừng cho em, nhưng giờ khắc ấy trong lòng người chị cũng bao
nhiêu “bão bùng”. Với niềm thấp thỏm tự vấn treo lơ lửng: “Ngày nao chị về nhà
chồng/ Ngày nao duyên đến hay không… ngày nào?”.
Không chỉ chị bán ngô, những người chị tần tảo, lam lũ hiện khá
nhiều trong thơ Nguyễn Ngọc Tung, như chị bán cà muối, mà “Tôi cầm túi cà muối mặn/
Xót cả mười đầu ngón tay”. Rồi chị bán ốc đêm, bà bán trầu chợ quê,… đến người đào
giếng, em bé đánh giày, anh hàng xóm làm nghề xe ôm thường đi sớm về hôm, bởi vợ
anh vỡ hụi bỏ trốn, đánh một bề gà trống nuôi con. Có cái gì đó thật bất an đã
xâm thực tận làng quê trong trẻo. Và kia bác nông dân dắt trâu gặm cỏ: “Con trâu chăm chỉ ăn nắng vàng/ Ăn cạn cuộc đời bác nông dân” (Trên cánh đồng). Một
thế giới làng quê sống động. Những kiếp người bám vào bùn đất quê hương, thức ngủ
trên cánh đồng mùa vụ. Đến giờ vẫn chủ yếu là con trâu, cọng cỏ, cũng chính con
trâu cơ nghiệp đang gặm mòn thân phận của người nông dân lao động cơ bắp. Nhưng
những công cụ, nguồn tư liệu làm ăn đời này đời nọ của họ đang biến động, đang bị
xâm lấn một cách chóng mặt khi các dự án và đô thị mới mọc lên. Người nông dân
cả đời bám ruộng ấy, chỉ còn biết dắt trâu “Lẽo đẽo lùi sau đường cao tốc” mà
thôi. Hiện thực xót xa len lén, đối nghịch về cảnh ngộ, sự giàu nghèo, sang hèn,
như một cơn lốc tràn về, ẩn chứa nhiều âu lo, không chỉ ở một vùng quê.
Nguyễn Ngọc Tung đan xen truyền thống và hiện đại, nhưng chủ yếu
là thi pháp truyền thống. Có những bài thơ có giọng mới, câu mới, thi thoảng gặp
thi ảnh lạ, gây ấn tượng, tuy còn gồ ghề, cần độ nhuyễn, độ nén, cần đẩy hết công lực
của thi tứ. Những bài thơ tiêu biểu cho xu hướng ấy là: Nụ mồ hôi, Mầm trăng, Huyền
toại cái đấu của mẹ, Trên cánh đồng, Những người đàn bà đánh dậm… Anh lại có nhiều
bài thơ hoàn toàn trên cấu trúc và cảm hứng truyền thống, cả thơ năm chữ, thơ tứ
tuyệt, lục bát. Tứ tuyệt Nguyễn Ngọc Tung cũng long lanh huyền ảo lắm: “Khói
chiều bịn rịn bờ tre/ Đàn trâu đủng đỉnh đi về ngõ sen/ Cốm thơm đầy cả trăng liềm/ Chiều
se se lạnh buông rèm vào thu” (Vào thu).
Phần cuối tập thơ là Lục bát hai dòng, với 18 câu lục
bát. Những câu thơ thật đặc biệt, nó chỉ nói về chữ nghĩa, về nghiệp thơ bằng chất
liệu thiên nhiên đồng quê, công cụ nhà nông như một thứ đặc sản của riêng anh. Thế
mà nhuyễn mà duyên, mà bảng lảng, mà tinh nghịch, mà thích… Có thể gọi ra một loạt
câu để nhấm nháp cái sự chơi nghề của anh: “Em thì hái lá nuôi tơ/ Còn tôi đéo gọt
câu thơ làm cày; Cho anh mượn cái gàu sòng/ Tát câu lục bát ra đồng cho xanh; Ngửa
yếm mà hứng trăng vàng/ Về phơi ra chiếu cho chàng làm thơ; Em mang cái đấu ra
đong/ Câu thơ mưa nắng uằn cong tháng ngày; Ai ngồi bỏ muối vào dưa/ Câu thơ vừa
mặn vừa chua chát lòng; Dệt tơ nối sợi cho dài/ Dòng thơ ta thả ra ngoài gió
sương; Heo may héo giọng hát rong/ Trời bao sương gió thơ đong sao đầy; Ai đem hun
khói câu thơ/ Để con mọt sách ngậm bồ hóng cay.”…
Không chỉ viết về quê làng, anh viết nhiều mảng đời sống khác:
những người thợ xây (anh vốn là một kỹ sư xây dựng, nhà quản lý xây dựng), viết
về phố, về thiên nhiên, bạn bè hoặc tình yêu… “Vẫn là bên lở bên bồi/ Mà đi
quá nửa đời người chưa sang/ Vẫn là thúng mủng dần sàng/ Mà chưa đổi được vầng
trăng đem về/ Đường đời còn có nẻo quê/ Để cho ta thả chiều về với em.” (Thả
chiều). Dù viết về gì, rõ ràng cảm hứng và hồn quê kiểng vẫn là dòng mạch chính
lúc len lỏi, lúc dào dạt trong thơ Nguyễn Ngọc Tung. Ấy là thế mạnh, là những quan
sát tinh tế, là sự chiêm nghiệm, qua chất liệu đất đai, cỏ cây mùa vụ, con đê, cổng
làng, giếng làng, dưa muối, trầu cau, cánh đồng, ánh trăng, sương khói… Những thứ
mà anh “Bòn trong góc ruộng nhân gian” để gieo vào mùa vụ những câu thơ lấm
đất, câu thơ đẫm vị quê của mình.
“Bến trong ai vục mặt trời/ Gánh dòng sông tưới ngời ngời bình
minh” (Bình minh). Tôi tin, với niềm tin trong trẻo, sự mẫn cảm và mê đắm ấy, góc ruộng
nhân gian của Nguyễn Ngọc Tung sẽ thơm tỏa những mùa màng “đặc sản”.
T.Q.Q
THƠ NGUYỄN NGỌC TUNG, ĐÔI ĐIỀU CẢM NHẬN
Nguyễn Hoàng Đức
Giữa cuộc đời hiện đại đang tất bật, bon chen, bề bộn; không
ngờ lại gặp một tâm hồn thơ thuần phác đến vậy. Một nhà thơ thuần phác đến độ,
dường như ở đâu anh cũng đưa cặp mắt của mình mở to, chớp được những cái đẹp của
cuộc sống. Anh có vẻ giống như một họa sĩ nhìn đâu cũng thấy màu để đưa vào
tranh. Anh còn giống một nhạc sĩ nghe đâu cũng thấy âm thanh đang chuyển động
vào âm nhạc. Chưa đủ, anh còn giống một thợ gốm thấy cả bụi đất đang tự nhào nặn
mình để hóa thành nét đẹp rực rỡ của sành sứ… Tóm lại, nguyên liệu thơ, đề tài
thơ, đa mê thơ và cả kiến trúc thơ của Nguyễn ngọc Tung rất dồi dào, bình dị,
mênh mang ở khắp nơi. Chúng ta thử lắng nghe cái dần, cái sàng trong bếp quê
nhà, tác giả cũng bắt nhịp cho chúng cất tiếng hát bi bô như trẻ nhỏ: “Trời nắng
chang chang/ Cái nia cái nong/ Phơi ngô phơi đỗ/ Tròn tựa vầng trăng/ Cái thúng đựng
lúa/ Cái mủng đựng gạo/ Ngày mùa đầy ắp/ Như đầy trăng sao…” bài “Bé kể chuyện
quê” tập “Cánh diều tuổi thơ”. Tài thơ của tác giả không đơn giản tả cái nong
cái nia, mà tu từ của anh đã nâng cao nhưng rất nhẹ nhàng cất cánh vào nghệ thuật
với tính biểu tượng cao “Ngày mùa đầy ắp/ Như đầy trăng sao”. Nguyễn Ngọc Tung
không xuất hiện ngẫu nhiên như một tác giả thơ được chăng hay chớ, mà ngắm toàn
bộ quá trình sáng tác thơ của tác giả, ta thấy anh đã vật lộn, chắt lọc và tinh
chế rất sáng tạo cho nghệ thuật thơ. Trong tay tôi là năm tập thơ của anh. Tập đầu
là “Ô cửa trăng lên” (NXB HNV-2003), tập thứ hai là “Khúc hát đôi bờ” (NXB HNV-2006), tập thứ ba là “Cánh diểu tuổi thơ” (NXB HNV-2009), tập thứ tư là “Những
câu thơ từ đất” (NXB HNV-2011), tập thứ năm đang dàn trang để ra mắt. Tên các tập
thơ của Nguyễn Ngọc Tung thấy rất rõ con người yêu thiên nhiên, làng quê và nghề
nghiệp của anh. Đặc biệt với tập thơ “Những câu thơ từ đất” thấy như tác giả
đang lột tả tâm can, cội nguồn; những bài thơ chắt ra từ đất mẹ quê hương. Đi
trên cánh đồng làng, tác giả như nhìn thấy tất cả từ bờ tre, lối mòn, gốc rơm rạ
đều đang hóa thơ. Nhìn người nông dân dắt trâu gặm cỏ, tác giả cảm thấy con
trâu đang gặm cả mặt trời, gặm cả cuộc đời nghèo khó của người nông dân có liên
đới mật thiết với nó: “Con trâu chăm chỉ/ Gặm cỏ non/ Ăn nắng vàng/ Ăn cạn cuộc đời
bác nông dân/ Sợi thừng buộc bác với con trâu và cùi cũi cánh đồng/ Bông
lúa cong vành trăng/ Bao dấu hỏi tủa trên mặt ruộng!” (Trên cánh đồng - Tập thơ “Những
câu thơ từ đất”). “Sợi thừng buộc bác với con trâu và cùi cũi cánh đồng”cái nhìn
của Nguyễn Ngọc Tung thêm một lần nữa không chỉ đơn giản nhìn thấy vẻ đẹp của đồng
quê yên bình, thẳng cánh cò bay, mà tác giả đã nhìn thấy chiều cạnh vất vả,lam
lũ của làng quê. Trong thời đại công nghiệp đang tiến lên như vũ bão mà người
nông dân vẫn chậm rãi cầm cái thừng đi trước con trâu gặm cỏ. Tác giả đặt bao
câu hỏi như bông lúa cong trên mặt ruộng. Phải chăng cách làm ăn nhỏ, manh mún
của nông dân đang bị chính con trâu gặm nhấm.
Thơ của anh có cả nỗi lo thấp thỏm cho việc thất bát, mất
mùa, hay rủi ro không thể lường trước của nghề nông. Nhìn cảnh chợ quê, tác giả
trăn trở cảnh đói kém vất vả đeo đẳng người nông dân: “Xưa liềm cắt trấu chợ
quê/ Tháng ba ngày tám gặt về lúa non./… Chợ quê thúng mẹt lồng bồng/ Mẹ ngồi bán
gió lại đong nắng về./…Bây giờ thúng thiếu gạo thừa/ Sắc hoa sắc áo ngẩn ngơ lối
về”… (Chợ quê ngày ấy… bây giờ)
Hai câu thơ “Chợ quê thúng mẹt lồng bồng/ Mẹ ngồi bán gió
lại đong nắng về.” thể hiện rất rõ tính nhảy vọt tâm hồn thi sĩ trong nhà
thơ. “Chợ quê thúng mẹt lồng bồng”, rõ ràng chỉ tả một hiện thực bình dị, nhưng
trong đó ẩn chứa cái quan sát tinh tế và ngôn ngữ chính xác của nhà thơ. Cụm từ
“lồng bồng” thể hiện những thúng mẹt nhẹ tênh, sản vật bán chẳng có gì nhiều nhặn,
đáng kể. Nhưng từ cái hiện thực nhỏ bé đó đã bắn pháo thăng thiên lên câu thứ
hai quả là tài tình và nó vừa chắt lọc vừa thăng hoa cho đôi cánh của hồn thơ “Mẹ
ngồi bán gió lại đong nắng về”. Ở đây, nghĩa là mẹ chẳng bán được gì, nỗi lo cơm
áo chẳng thu về được một đồng trinh, cắc bạc nào. Như vậy là nỗi buồn, khổ ải đến
mưu sinh. Nhưng tác giả vẫn nhìn thấy cái đẹp, cái lãng mạn của sự cam chịu, nhọc
nhằn mưu sinh đó. Nhà thơ đã hóa giải nỗi ưu tư, lo sầu của cuộc mưu sinh bằng
phương thuốc của cái đẹp “Bán gió lại đong nắng về”. Chiêm nghiệm cái bình
dị trong đời sống, thông cảm rồi nhìn ra vẻ đẹp lao động tần tảo, miệt mài, chăm
chỉ, hay lam lũ là đặc trưng của thơ nguyễn Ngọc Tung; thậm chí hơn cả vẻ đẹp ấy,
tác giả luôn nhìn ra số phận của mỗi con người, cho đến mỗi đồ vật. Trong tập “Ô
cửa trăng lên” và “Những câu thơ từ đất” tác giả viết về các số phận con người
như: “Bà bán trầu chợ quê”, ”Chị bán ốc đêm”, “Duyên phận và vé số”, “Chị bán
bánh cuốn sáng”, “Ở hiệu cắt tóc”, ”Chị bán cà muối”, ”Em bé bán tăm”, “Ông xẩm
hát rong”, ”Người đào giếng”, ”Anh hàng xóm”, “Em bé đánh giày”, “những người đàn
bà đánh dậm”… và các đồ vật gắn với cuộc sống, gắn với thân phận con người như: “Cái cối xay”, “Huyền thoại cái đấu đời mẹ”. “Hòn đá nén dưa”,… Nhưng mở đầu
khúc thăng trầm của cuộc đời với những số phận hay đồ vật bình dị, thấm đẫm
trong tim tác giả luôn là tình yêu, tình thương của người với người. Tác giả đã
sáng tác bày tỏ nguồn gốc khởi nguồn đó trong cả tập thơ “Những câu thơ từ đất”. Ngay
ở những bài thơ đầu tiên, nhà thơ đã trải lòng thương yêu, nhớ nhung, biết ơn quê
hương qua những kỷ niệm thời ấu thơ.
Nhà thơ sung sướng biết bao mỗi lần trở về cội nguồn nghe giọng quê mình: “Về quê nghe giọng quê/ Trong như là nước giếng/ Ấm như tiếng trống làng/ Thanh cao như ngọn tre” (Giọng quê). Bởi cái nhìn luôn tha thiết, trìu mến với quê hương mà tác giả đã chắt lọc để vắt ra những vần thơ đẹp đến mức lộng lẫy “Ánh ngày khẽ vén sương mai/ Gánh hai bến nước với hai triền đồi/ Bến trong ai vục mặt trời/ Gánh dòng sông tưới ngời ngời bình minh”. Bài “Bình minh” trong tập “Những câu thơ từ đất”. Câu thơ 3 và 4 thật là đẹp, rực rỡ và hoành tráng “Bến trong ai vục mặt trời” còn làm cho vũ trụ vĩ đại có được một vẻ đẹp thật gần gũi. Mặt trời chói sáng, chói lòa rực rỡ khiến người ta nóng bức, nheo mắt, nhăn mặt khi ngắm. Nhưng ở đây một bến nước trong đã vục được mặt trời, tác giả làm chúng ta cảm nghiệm từ trong máu, mặt trời là nguồn ánh sáng đem lại sự sống rất gần gũi. Tác giả không chỉ nhìn thấy quê hương trong bình minh rực rỡ và lộng lẫy, anh còn nhìn thấy vẻ đẹp trong sự lam lũ, tất tưởi, bê bết bùn đất sau cơn mưa, cũng như dấu vết của lao động nhọc nhằn: “Sau cơn mưa ngọt ngào/ Những đoàn xe ra vào tất tả/ Sắt thép, xi măng, gạch đá/ Lặc lè ổ gà ngả nghiêng/ Mặt đất ngoằn ngoèo hằn những nếp nhăn/ Sóng bùn, sóng trăng loang loáng.” Bài “Sau cơn mưa” tập “Ô cửa trăng lên”.
Nhà thơ sung sướng biết bao mỗi lần trở về cội nguồn nghe giọng quê mình: “Về quê nghe giọng quê/ Trong như là nước giếng/ Ấm như tiếng trống làng/ Thanh cao như ngọn tre” (Giọng quê). Bởi cái nhìn luôn tha thiết, trìu mến với quê hương mà tác giả đã chắt lọc để vắt ra những vần thơ đẹp đến mức lộng lẫy “Ánh ngày khẽ vén sương mai/ Gánh hai bến nước với hai triền đồi/ Bến trong ai vục mặt trời/ Gánh dòng sông tưới ngời ngời bình minh”. Bài “Bình minh” trong tập “Những câu thơ từ đất”. Câu thơ 3 và 4 thật là đẹp, rực rỡ và hoành tráng “Bến trong ai vục mặt trời” còn làm cho vũ trụ vĩ đại có được một vẻ đẹp thật gần gũi. Mặt trời chói sáng, chói lòa rực rỡ khiến người ta nóng bức, nheo mắt, nhăn mặt khi ngắm. Nhưng ở đây một bến nước trong đã vục được mặt trời, tác giả làm chúng ta cảm nghiệm từ trong máu, mặt trời là nguồn ánh sáng đem lại sự sống rất gần gũi. Tác giả không chỉ nhìn thấy quê hương trong bình minh rực rỡ và lộng lẫy, anh còn nhìn thấy vẻ đẹp trong sự lam lũ, tất tưởi, bê bết bùn đất sau cơn mưa, cũng như dấu vết của lao động nhọc nhằn: “Sau cơn mưa ngọt ngào/ Những đoàn xe ra vào tất tả/ Sắt thép, xi măng, gạch đá/ Lặc lè ổ gà ngả nghiêng/ Mặt đất ngoằn ngoèo hằn những nếp nhăn/ Sóng bùn, sóng trăng loang loáng.” Bài “Sau cơn mưa” tập “Ô cửa trăng lên”.
Nguyễn Ngọc Tung là một trí thức, một kỹ sư, một cán bộ quản
lý ngành xây dựng. Vậy mà anh vẫn yêu tha thiết cái nguồn gốc đất đai, cái chân
quê của mình là điều đáng quý. Nhưng tình yêu quê hương của anh không hề hời hợt,
mà anh yêu bằng con mắt của một kiến trúc sư lắp đặt các công trình. Yêu như một
trí thức không bao giờ quên cội nguồn, quê hương còn nghèo khó, lam lũ. Yêu như
người lao động biết trân trọng mồ hôi và thành quả của mình. Anh làm thơ bằng cảm
xúc và bằng lý trí, học vấn và văn hóa luôn muốn vươn lên tìm tầng cao mới. Tác
giả suy tôn chữ nghĩa như một vị thánh thiêng liêng trong bài “Ngọn đèn thắp chữ”:
“Một bóng một đèn thức với sao khuya/ Vầng trăng học bên đồi sương bạc/ Chữ là
đường cày cha sôi nước mắt/ Chữ là cánh đồng mẹ đổ mồ hôi/ Cây bút nhỏ đêm đêm
miệt mài/ Lật con chữ như cha cày mẹ cấy/ Mồ hôi đổ trên đồng không nắng cháy/
Không gió mưa mà dữ dội vô cùng/ Đèn thắp chữ tự mình vượt dốc/ Qua chông gai để
đến chân trời”. Thật rõ ràng và mạch lạc, Nguyễn ngọc Tung vừa tôn vinh con đường
chữ nghĩa, vừa đặt chữ nghĩa thành thách thức gian lao cho mình. Đó cũng chính
là anh cho rằng lao động nghệ thuật là cách vượt dốc chông gai để nhằm về chân
trời lý tưởng tươi sáng. Ở đây cũng phản ánh khát vọng của tác giả muốn đạt tới
mục đích nghệ thuật. Anh không phải là người ảo tưởng thơ phú bằng vài chữ lèo
tèo, mà tự mình xác định đó là một quá trình lao động khổ luyện, gạn chắt tinh
hoa, như hoa trái mọc lên từ đất cằn đá sỏi: “Chữ là đường cày cha sôi nước mắt/ Chữ
là cánh đồng mẹ đổ mồ hôi”. Vì tôn trọng chữ nghĩa, nên thơ Nguyễn ngọc Tung dày
đặc hình ảnh cuả tri thức tiến bộ, đan xen cùng cảnh vật hồn hậu của làng quê. Thơ
anh không chỉ có chất trữ tình, yêu thiên nhiên mềm mại, mà đôi khi xộc vào mắt
độc giả những tư duy đầy chất lý trí, cũng như hiện thực gắt bỏng: “Tôi
theo mặt trời săn ảnh/ Săn hơi thở cánh đồng đang chín/ Cánh đồng đang non/ Săn
biêng biếc tiếng chim/ Roi rói nụ cười mùa rơm mới/ Mồ hôi treo nắng núi/ Vai gầy
gánh phố đang hoa.” (Theo mặt trời săn ánh - “Những câu thơ từ đất”). Săn ảnh tức
là chụp bắt hình ảnh của hiện thực, có tính chất lấy thông tin tư liệu, nhiều
khi cứng nhắc. Vậy mà “săn ảnh” cũng nhẹ nhàng lách mình qua ống kính thơ của
tác giả để biến thành vẻ đẹp của nghệ thuật “Mồ hôi treo nắng núi/ Vai gầy
gánh phố đang hoa.” Rồi chỉ một sự kiện mua sách cũ, nhà thơ cũng có ngay
một tứ thơ. Tứ thơ này lại là sự bắt mạch suy lý về chữ nghĩa và cuộc đời. Và
chúng ta hiểu Nguyễn Ngọc Tung nhất quán trong việc kiên trì theo đuổi vẻ đẹp của
nàng thơ phải bằng tri thức: “Những quyển sách cũ mèm/ Bạc màu theo tháng
năm/ Lì lẫm giữa nhân gian/ Tôi trả tiền/ Sách cũ - Tri thức không bao giờ cũ”.
Chỉ có người trí thức hiểu biết thâm sâu mới nói không chút do dự “Tri thức
không bao giờ cũ”. Đó có thể coi là mạch lý trí chảy phía sau cảm xúc của
nhà thơ. Vì lẽ đó, nhà thơ thấy cảnh vật đẹp, cả lúc nắng lộng lẫy bình minh, cả
khi lấm bùn đất bê bết sau trận mưa rào. Cái đẹp thăng hoa ngay trong mồ hôi
lao động. Có thể xem như đặc trưng của tác giả mà ít nhà thơ có được: “Tôi gặp
em nơi nắng cháy trời/ Hối hả xe chở đầy gió bụi/ Cánh tay thép nâng mặt trời lên
núi/ Mồ hôi quánh hoàng hôn/ Tôi gặp nụ cười/ Gieo từ nụ mồ hôi.” (Nụ mồ
hôi - Tập Những câu thơ từ đất). Nhà thơ rất nghiêm túc, trăn trở và đầu tư rất nhiều
cho việc tìm câu, tìm tứ, bởi thế tác giả có rất nhiều câu hay vào loại xuất thần.
Hay nhưng lại tự nhiên: “Bước chân nào xuôi ngược/ Ai ở cuối trời/ Ai góc bể chân
mây/ Có nghe sóng đất vỗ chân người”. “Sóng đất vỗ chân người” đây là một
phát hiện táo bạo,có lẽ tác giả lấy từ ý “đất bằng nổi sóng” chăng? Nhưng dù vậy,cái
ý tưởng đó thật sáng tạo và tinh tế. Thơ Nguyễn Ngọc Tung có thể nói đã vượt lên
chính mình. Đó không phải là nhận xét vô đoán vu vơ, mà đọc kỹ thơ anh luôn thấy
nổi lên những đặc điểm “gấp đôi” như: Cái đẹp thiên nhiên hùng vĩ đi kèm vẻ đẹp
của con người lao động. Cái đẹp thiên tạo hoành tráng đi đôi với sự kiến thiết
nhân tạo của con người. Cảm xúc đẹp lóng lánh sóng đôi cùng lý trí suy tư về
nhân quả. Tình yêu thiên nhiên kiến trúc cùng học vấn.
Chính vì có tri thức song hành với thơ mà Nguyễn Ngọc Tung
luôn hướng về sự phát triển và tiến bộ. Trong thơ anh hầu như không thấy tâm cảm
giành cho sự ca thán những miền quê bị cày xối, phá bỏ, hay đô thị hóa… mà từ đó
anh luôn nhìn thấy cái đẹp của cuộc sống thay da đổi thịt: “Đâu rồi những lũy
tre xanh/ Nhớ dậu mồng tơi ngày ấy/ Lũy tre bờ ao ve gọi/ Cơn mưa dắt nắng qua cầu” (Về
làng). “Cơn mưa dắt nắng qua cầu” đúng là một câu thơ hay xuất thần,
nhưng chuyển mình rất nhẹ nhàng. Như một kiến trúc sư hiểu rõ từng viên gạch hay
mối hàn gắn kết nhau xây nên tầng cao công trình. Hồn thơ Nguyễn Ngọc Tung luôn
say sưa cùng gió thời đại, chiêm ngưỡng thành quả của những công trình chạm đỉnh
vào mây: “Nắng gió cài tóc em/ Tầng cao muôn ánh đèn/ Vầng trăng treo đỉnh
tháp/ Giọt mồ hôi thắp lên” (Nắng gió thợ xây). Trồng cây nào hái cây nấy. Chúc mừng
bằng tình yêu thơ nồng nàn, cảm xúc thơ tinh tế dồi dào và trí tuệ, thơ chuẩn bị
cao viễn mênh mông mà tác giả đã gặt hái. Năm tập thơ của Nguyễn Ngọc Tung có
nhiều tứ, nhiều vần, nhiều câu xuất thần và hay không dễ quên.
N.H.Đ
B- MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU
LÀNG TÔI KẺ BỎI
Làng tôi xưa có tên Kẻ Bỏi
Đất trầu không tất tưởi ngược xuôi
Vườn Đò bên lở bên bồi
Hỏi ai còn nhớ bánh trôi chợ Đường?
Có phải cha ông trồng cổ thụ
Neo chòm sao Bắc Đẩu giữa làng
Để cháu con xa quê mà nhớ
Trông sao hướng đất cội nguồn.
Tôi lớn lên bằng ca dao cổ tích
Giếng làng trong tắm mát bao ngày
Mái đình bưng vòm trời mơ ước
Lối đi về vẫn dấu cỏ may.
Lớp học thành hầm một thời bom đạn
Làng dẫu nghèo vẫn tiến sĩ, nhà thơ
Giọng Kẻ Bỏi đường Trường Sơn vang dội
Người về quê người nằm lại đến giờ!
Ta đưa nhau về chợ Đường làng Bỏi
Phiên chợ xuân ửng sắc hoa đào
Câu thơ đọng môi trầu ai đỏ thắm
Mái đê làng nghiêng nắng xôn xao.
CỔNG LÀNG
Nứt nẻ gió mưa
Tổ tò vò chết khô mạng nhện
Khe nứt tia sét
Thạch thùng đẻ cái sinh con
Rễ si xuyên tường
Rêu già mấy lớp
Sừng sững hồn làng.
Năm tháng đi qua
Con chữ lon ton chạy về nhà
Hạt thóc kĩu kịt chảy về sân
Đám rước dâu cười như pháo tết
Đám đưa ma kèn trống khóc như mưa
Khói bom và nước mắt
Mẹ ngóng con chân trời dằng dặc...
Bước chân nào xuôi ngược
Ai ở cuối trời
Ai góc bể chân mây
Có nghe sóng đất vỗ chân người?!
HUYỂN THOẠI CÁI ĐẤU CỦA MẸ
Mẹ đi xa
Cái đấu cũ mòn
Có hạt thóc vàng ở lại
Như tuổi thơ con trong nôi mẹ hời ru.
Chiến trường cha xông pha
Mẹ lam lũ nắng mưa cày cấy
Cơn gió bấc làm bông lúa lép
Nắng đốt cháy trời, khát mạ non
Trận bão lốc đè nát lúa ngậm đòng
Mùa trắng tay
Hạt cơm cõng củ sắn củ khoai
Cái đấu mẹ đong
Đói no, nghèo khó đầy vơi.
Đêm đêm mẹ thức
Cái đấu nghiêng về phương cha đánh giặc
Đổ đầy trăng sao thương nhớ lên trời
Con thương mẹ tóc thêm bạc.
Cái đấu cũ mòn
Cả đời mẹ đong
Chẳng hết mồ hôi
Chẳng vơi nước mắt
Con bưng lên nắng ấm đong đầy
Rưng rưng bóng mẹ…
LỜI CHỊ
Ngày mai em đi lấy chồng
Đôi quang ở lại gánh gồng nắng mưa
Ngày mai em lên xe hoa
Gàu giai đây gác chị qua gàu sòng.
Ngày mai em về nhà chồng
Gối đôi chị tặng tơ lòng chị thêu
Niềm vui hoa thắm chỉ điều
Mà sao lòng chị bao nhiêu bão bùng.
Ngày nao chị có lấy chồng
Ngày nao duyên đến hay không… ngày nào?!
LỤC BÁT HAI DÒNG
Đào thơ tận đáy cõi người
Đục trong gạn chắt lấy lời ruột gan.
Bòn trong góc ruộng nhân gian
Câu thơ lấm đất ta mang gieo mùa.
Em thì hái lá nuôi tơ
Còn tôi đẽo gọt câu thơ làm cày.
Mang thơ ra cối mà xay
Chữ thì ra gạo trấu bay ra vườn.
Người đi đãi cát tìm vàng
Tôi đi mót chữ cho nàng dệt thơ.
Nhớ thơ mà chẳng có đò
Lục bát em mượn cánh cò sang sông.
Câu thơ úp mặt ngoài đồng
Chữ thơm hương đất chữ nồng sắc hoa.
Ai ngồi bỏ muối vào dưa
Câu thơ vừa mặn vừa chua chát lòng.
Cho anh mượn cái gàu sòng
Tát câu lục bát ra đồng cho xanh.
Về mang đòn sóc cho anh
Quảy câu lục bát ra đình phơi trăng.
Em mang cái đấu ra đong
Câu thơ mưa nắng oằn cong tháng ngày.
Dệt tơ nối sợi cho dài
Dong thơ ta thả ra ngoài gió sương.
Heo may héo giọng hát rong
Trời bao sương gió thơ đong sao đầy.
Câu thơ gói tiếng đàn bầu
Tình trong nét chữ đã nhàu gió sương.
Ngày, thơ bì bõm ruộng sâu
Đêm lại vục đầu cày cuốc gió trăng.
Ngửa yếm mà hứng trăng vàng
Về phơi ra chiếu cho chàng làm thơ.
Nón mê xấp ngửa đồng xu
Mưa rơi hốc chữ buốt nhừ con tim.
Ai đem hun khói câu thơ
Để con mọt sách ngậm bồ hóng cay.
NHỊP XUÂN
Anh thợ đồng hồ đầu phố
Một mắt đeo kính lúp
Một mắt đeo hố bom.
Đêm tiến công
Pháo dội lửa, đường đạn căng tia chớp
Anh bắn xe tăng địch
Bằng cả con ngươi
Một mặt trời đã lặn vào đáy mắt.
Hý hoáy trong thế giới bánh xe bé nhỏ
Cho chiếc kim lại quay
Tim thời gian lại đập
Cô giáo đúng giờ lên lớp
Người thợ thay ca…
Phút giao thừa
Anh thương binh không ở phố
Những chiếc đồng hồ
Đếm nhịp xuân…
Hòn đá gan gà
Ngâm trong muối mặn
Dưa quả sung, dưa cải dưa cần
Bữa cơm canh cua cà pháo
Ngày mùa, mẹ vơi nỗi nhọc nhằn.
Giặc dội bom xuống làng
Nhà cháy
Con theo mẹ vượt sông sơ tán
Hòn đá ở lại giữ quê.
Dân công bộ đội về
Vại dưa của mẹ vơi đầy năm tháng
Các anh ra trận vẫn nhớ dưa rau sắn
Nhớ dưa hành tết hành quân.
Hòn đá hiền lành
Nén tháng năm…
TRÊN CÁNH ĐỒNG
Bác nông dân dắt trâu gặm cỏ
Con trâu chăm chỉ ăn nắng vàng
Ăn cạn cuộc đời bác nông dân.
Sợi thừng buộc bác với con trâu
và cùi cũi cánh đồng
Những bông lúa cong vành trăng
Bao dấu hỏi tủa trên mặt ruộng.
Cánh đồng thay tưng bừng ánh điện
Tiếng máy rộn ngày đêm
Những dự án mọc lên
Chóng mặt.
Bác nông dân dắt trâu gặm cỏ
Lẽo đẽo lùi sau đường cao tốc.
MẦM TRĂNG
Chị ủ mặt trời vào đêm
Bật thức mầm trăng
Mầm trăng ngơ ngác.
Mầm trăng khóc
Chỉ thấy gió ru lời cánh đồng
Mơ mùa sây bông.
Vỏ trấu rỗng sinh lực
Xác xơ chiếc thuyền vượt cạn
Chị thầm nước mắt
Nghĩ về những đứa con.
Chị một bóng một đèn
Giấu mặt đêm
Bóng chị in lên cánh đồng
Lấp lánh những mầm trăng.
LÀNG MỘC
Làng mộc có tự bao đời
Nét phượng bay, nét rồng uốn gió
Cuốn theo ta trong nhà, ngoài ngõ
Hương gỗ thơm rưng rức quê.
Làng trên, bến dưới bè gỗ đi về
Vợ chồng choãi chân kéo cưa, lừa xẻ
Kéo bao chân trời, lùa bao góc bể
Cưa đục long đong đẽo gọt phương người.
Cái mộng, cái mẹo ngón nghề truyền đời
Nét khắc, nét chạm buồn vui mặt gỗ
Nét ẩn nét hiện bên hoa lồng nụ
Lắng hồn quê ngàn năm.
Tóc bạc một đời nghệ nhân
Đục đã chai tay, tràng vung mòn thiên hạ
Người làng mộc thật như lõi gỗ
Chỉ bếp là giàu đầu mẩu cám cưa.
Làng mộc bao đời, thời cuộc cũng khác xưa
Sớm chiều vào ra dập dìu chợ gỗ
Nào ai biết vòng quay thế sự
Vẫn những cuộc đời lừa xẻ, kéo cưa…
CHỢ QUÊ NGÀY ẤY, BÂY GIỜ
Xưa liềm cắt chấu chợ quê
Tháng ba ngày tám gặt về lúa non
Đến như cọng muống cũng còm
Đem ra chợ bán mà buồn chẳng vơi.
Cái nghèo giẫm nát bùn tươi
Một thời thiếu thóc, một thời thừa nong
Chợ quê thúng mẹt lồng bồng
Mẹ ngồi bán gió lại đong nắng về.
Chợ nay buôn bán trăm nghề
Xe xuôi hàng ngược, bộn bề sớm trưa
Thúng thì thiếu, gạo thì thừa
Sắc hoa sắc áo ngẩn ngơ lối về.
Đường làng mặt phố... chợ quê
Ai như mẹ quẩy xuân về cuối thôn.
DƯỚI BÓNG CỔ THỤ LÀNG
Lồng lộng xanh, xanh lên từ đất mẹ
Cây đội bão giông, cây đội nắng trời
Sừng sững giữa làng như núi đứng
Cổ thụ cây, cổ thụ tình người.
Cây chép sử từng vòng theo thớ gỗ
Bao buồn vui nhân tình thế sự
Lá xanh nuôi trời, lá vàng nuôi đất
Đời cây đời người, vạn kiếp đi qua.
Sông lở bồi nên Đồng Chĩnh, Vườn Đò
Chợ Đường, trầu không làng Kẻ Bỏi
Bến nước sân đình lồng hồn cây nghìn tuổi
Thành ca dao, cổ tích nuôi đời.
Tôi lớn lên, mái cổ thụ che nôi
Tiếng tắc kè chẵn mưa, thừa nắng
Giọng xẩm ngày nào nghẹn nỗi đời cay đắng
Một thời cổ thụ giấu bí mật tình thư
Bao triều đại đi qua,cây chứng nhân lịch sử
Nơi em tiễn anh,con đường ngập gió
Điểm hẹn còn rung trên mỗi lá cành…
CHÂN ĐẤT
Tưởng nhớ cha, mẹ tôi
Mẹ, cha chân đất quanh mùa
Mùa cày chân cha rỗ tổ ong
Mùa cấy bùn chua mòn tay mẹ
Nắng mưa tất bật tháng năm.
Nắng nứt ruộng, trán cha thêm nếp nhăn
Bão nát đòng đòng, tóc mẹ thêm sợi bạc
Dõi trăng quầng, mẹ làm luống tra hạt
Nhìn trăng tán, cha lo chống bão mưa.
Thương con học vất vả đường xa
Mẹ nhịn cơm, phần con ngày giáp hạt
Cha đói lả vẫn cuốc cày tối mặt
Vun cây mong quả tới ngày.
Mẹ về trời lẻ bóng gàu giai
Cha cùi cũi, căn nhà trống trải
Cơi trầu trống nỗi buồn ăn rỗng đáy
Dấu chân cha nhiều hơn gốc rạ trên đồng.
Đường đời là mấy bước chân
Ngày tiễn cha chúng con đi chân đất
Mưa chảy hai hàng rưng rức
Hoa rơi trắng cả tháng ba!
4/2012
KHÚC RU CHIỀU
Chiều ru cái nắng bồng bông
Hái dâng mẹ lá trầu không xanh giòn
Ngọt bùi mẹ để phần con
Đắng cay mẹ ngậm, mỏi mòn mẹ trông
Con đi mấy chục mùa mong
Nắng mưa mẹ gánh lưng còng tóc mây
Rưng rưng từng đốt trầu gầy
Con về bên mẹ rụng đầy gió đông.
MẸ TÔI
Mẹ ngồi bán lá mùa đông
Trời bao nhiêu gió mẹ đong sao đầy.
Mẹ ngồi bán cạn heo may
Tóc xanh bạc nắng theo mây về trời.
Mẹ ngồi bán trọn kiếp người
Vẫn không mua được thảnh thơi một ngày!
BÀ BÁN BÁNH ĐẤT
Bà đào đất làm bánh đất bán
Không phải đất nào cũng làm được bánh.
Đất từ đáy hồ sâu, lặn ngụp rét buốt
Đất từ trên núi cao, lội suối trèo dốc
Chọn đất làm bánh như chọn gạo làm bánh
Nhọc nhằn nhào nặn.
Bà địu cơm vào rừng
Mặc gió bấc mưa phùn
Tìm lá sim về hun.
Bánh đất như lát khoai lát sắn trên nong
Ngọt ngọt, bùi bùi, thơm thơm…
Người làng gọi tên bánh đất
Cùng cái tên yêu quý của bà
Khách mua người quen người lạ
Chị ăn dở mang thai
Người ăn sau ngày sinh nở...
Bà bán bánh đất giữa thời hiện đại
Như bước ra từ chuyện cổ tích làng tôi.
NGƯỜI ĐÀO GIẾNG
Anh đào giếng
Như con dúi rừng đào đất
Trần lưng bỏng rát
Tay cuộn bắp
Lấy chính mình làm tâm giếng thơi.
Quê tôi
Thác dội mòn lưng núi
Suối chảy rạch đá thành khe
Đất gầy trơ trơ đá
Lưỡi thuổng tóe lửa
Nhói đau.
Đáy giếng sâu
Có hơi đất ấm
Gặp lại mồ hôi cha
Bóng giếng tròn gặp nón che đời mẹ
Anh thuộc từng thớ đất
Biết mạch nào nông sâu.
Đất thương anh
Anh thương làng khát
Gạn chắt tháng năm gọi nước về.
VỀ LÀNG
Đường về thênh thênh triền đê
Râm ran chuyện cày chuyện cấy
Ngoài đồng giòn tiếng máy
Ở đâu những cây rơm vàng?
Bến sông chợ cá tuềnh toàng
Giọng quê bán mua thương lắm
Gặp nụ cười nép sau vành nón
Cho tôi vơi chút thị thành.
Nhớ giậu mùng tơi ngày ấy
Đâu rồi bờ ao cuốc gọi
Cơn mưa dắt nắng qua cầu.
Về làng ta đi tìm nhau
Nhà ai nay thành mặt phố
Bâng khuâng mái đình cổ thụ
Nghe cây vừa chợt lá buồn…
Ô CỬA MÂY BAY
Tôi đã quen cái nhoẻn cười của những đám mây
tiếng những đàn chim thiên di chiều ngọn tháp
gió có biết mồ hôi chúng tôi trộn vào sỏi cát
và cái nóng bê tông bỏng rát tầng cao?
Ngày ấy chúng tôi ở lán tạm giấy dầu
quen những chợ “cóc”,chợ “vồ” thời bao cấp
cơm ca ba, cái bánh bao quên mệt nhọc
bánh xà phòng phân phối lại nhường nhau.
Chúng tôi đổ bê tông, bom Mỹ réo trên đầu
xẻ núi ngăn sông làm dòng điện sáng
hạt gạo cắn đôi, nửa ra tiền tuyến
sắt thép xi măng là máu công trình.
Tôi vật vã ghép mảnh vỡ bình minh
em nhễ nhãi gánh vui buồn nắng gió
thanh sắt vai bò uốn cong chiều nhớ
sỏi đá nhọc nhằn xây ước mơ.
Những mảnh áo nhàu bạc nắng mưa
cây giữa trời tự làm nên bóng mát
bao mảnh nhọn chẳng thể ngăn gió ngược
Sau cơn mưa, bờ móng trổ nhành hoa.
Bụi mù trời, suối tóc em đỏ hoe
đêm đợi trăng rịn hương bồ kết
em mơ căn nhà và tiếng trẻ bên khung trời biếc
chiều chiều ô cửa mây bay…
VỀ MIỀN KHÓI TRẮNG
Tìm về miền khói trắng
Quen lắm tiếng còi tầm
Em gội mưa đội nắng
Vào ca cùng tháng năm…
Thành phố màu công nhân
Bao vui buồn thương nhớ
Mùa đi, cây vẫn gió
Nắng xanh màu áo xanh.
Theo dấu chân thân quen
Anh tìm về xa vắng
Chiều nhuộm đầy quá vãng
Mắt trẻ cười trong veo.
Mây ngả bóng sang chiều
Vẫn thương đời khói trắng
Lỗi tại cơn mưa rào
Ướp một chiều xa thẳm.
Có gì như hơi ấm
Trong tiếng còi vang ngân
Sông mãi trôi biền biệt
Mây đã về trăm năm
NGUYỄN NHUẬN HỒNG PHƯƠNG
- Họ và tên khai sinh: Nguyễn Nhuận Hồng Phương
- Sinh năm 1947
- Bút danh: Hồng Phương, Nguyễn Nhuận Hồng Phương
- Quê quán: Lệ Mật, Việt Hưng, Gia Lâm, Hà Nội. Hiện thường
trú tại số nhà 35, đường Trần Hưng Đạo, phường Hùng Vương, thị xã Phúc Yên, tỉnh
Vĩnh Phúc
- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 2006)
- Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Phúc.
- Tác phẩm chính đã xuất bản:
* Khúc hát Mệ Linh (Trường ca NXB Thanh Niên, 2003 )
* Trong rác không có rác (Tập truyện ngắn NXB Lao Động,
2004)
* Đồng vọng ngược chiều (Tiểu thuyết NXB Lao Động,
2005)
* Phá sản (Tiểu thuyết NXB Lao Động, 2005)
* Vận may (Tiểu thuyết NXB HNV, 2005)
* Kịch bản phim truyền hình “Vận May” 17 tập (Hãng
phim truyện Việt Nam, 2006)
* Khi người ta ngủ (Tập truyện ngắn NXB HNV, 2007)
* Phố thị (Tiểu thuyết NXB CAND, 2009)
* Ngoài vòng tay của Chúa (Tiểu thuyết NXB CAND 2010)
* Bách hoa tửu (Tập truyện ngắn NXB HNV, 2011).
- Giải thưởng văn học:
* Tiểu thuyết “Đồng vọng ngược chiểu” - Giải thưởng Liên hiệp
Văn học - Nghệ thuật Việt Nam 2006
* Cụm “Văn xuôi Nguyễn Nhuận Hồng Phương” - Giải
thưởng Văn học - Nghệ thuật tỉnh Vĩnh Phúc 5 năm 2001- 2005
* Tiểu thuyết “Phố thị” - Giải thưởng Văn học - Nghệ thuật tỉnh
Vĩnh Phúc 5 năm 2005 - 2010
* Tập truyện ngắn và ký “ Bách hoa tửu” Giải thưởng Văn
học - Nghệ thuật tỉnh Vĩnh Phúc 5 năm 2011- 2015
- Suy nghĩ về nghề văn:
Khi đã thực hiện được ước muốn: “Mang nén tâm nhang đến thắp
ở Ngôi đền Văn chương của nhân loại.” - tôi nhận được niềm tự
hào đó là đã tạo riêng cho mình một thể sắc văn hóa. Đức tin ấy bắt nguồn
từ công sinh thành và dưỡng dục của Cha Mẹ; của linh khí Trời, Đất ban tặng;
lòng kính trọng với các bậc tiền nhân; và không thể không
nói đến những tình cảm yêu thương chân thành của những con người
mà tôi hằng yêu quý…
Trên hết thảy: Đó là sự nếm trải các dư vị
chua, cay, mặn, chát, ngọt, bùi… của cuộc đời
mà tôi đã từng sống; và vượt qua bằng Nghị lực, Niềm
tin với lòng Dũng cảm của Một Con Người mang bút danh: Nguyễn Nhuận Hồng
Phương.
A- TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ:
NGUYỄN NHUẬN HỒNG PHƯƠNG VÀ
HIỆN THỰC ĐỜI SỐNG Ở MỘT VÙNG QUÊ
Anh Chi
1. NHỮNG CÚ QUĂNG QUẬT TRONG ĐỜI
Thân phụ anh người thôn Lệ Mật, một làng nghề bắt rắn nổi tiếng
thiên hạ của phủ Bắc Ninh xưa, nay thuộc quận Long Biên, Hà Nội, sau chuyển cư lên
Phúc Yên, Vĩnh Phúc làm nghề thu mua các loại rắn, ba ba, tắc kè, ếch, lươn…
bán cho Hoa kiều hoặc đưa sang Ma Cao, Hồng Kông, và còn mở xưởng chế tạo xe
kéo tay. Anh sinh ra đúng vào tháng nhuận năm Đinh Hợi 1947, nên tên
hồi bé cha mẹ đặt cho là Nguyễn Văn Nhuận. Khi biết đọc Nhuận đã bắt đầu ham đọc
sách, từ các chuyện dã sử, chuyện nghĩa hiệp, cho đến Dế mèn phiêu lưu ký, Lá
cờ thêu sáu chữ vàng, sau nữa là các tác phẩm cổ điển như Tam quốc diễn
nghĩa, Thuỷ hử… Ngay từ thuở học trò, Nhuận luôn được thầy giáo phân công
làm báo tường, và trên các số báo đó thường có những bài thơ của Nhuận. Không
ít những bạn học thuở thiếu thời ở thị xã Phúc Yên đã cho rằng, Nhuận sẽ trở
thành một nhà thơ.
Tuy nhiên, đời như một dòng sông cuồn cuộn, không chấp nhận sự
mơ mộng dễ dàng nào. Sau năm cải tạo Công - Thương nghiệp, gia đình Nhuận bị
thu hết tài sản, không được cấp sổ lương thực, người mẹ mất năm 1959, không gượng
nổi, năm 1963 người cha qua đời. Thành một trẻ mồ côi, Nhuận phải thôi học,
khai tăng tuổi, xin đi làm để kiếm sống với cái tên Nguyễn Trường Phương và được
nhận làm công nhân trên tỉnh Lào Cai. Đó là cú quăng quật đầu tiên trong đời
Phương. Đấy là những năm đầy bão táp trên quê hương Việt Nam ta. Năm
1968, có lệnh Tổng động viên đi chống Mỹ, Phương ra mặt trận, làm công binh, rồi
lái xe binh đoàn 559… Hết chiến tranh, rời Trường Sơn, Phương về lái xe ở Hoàng
Liên Sơn. Rồi lại qua cuộc chiến tranh Biên giới nữa, Phương cùng vợ làm lụng
nuôi ba con nhỏ. Mấy chục năm trường, bao khổ nhọc, đắng cay, hy vọng ở đời đã
thấm vào Phương, ngoài năm mươi tuổi, anh lại muốn thực hiện mộng ước nuôi từ
thời thơ ấu, viết! Nhưng đột ngột, chị Hồng, vợ anh bị tai nạn, qua đời! Đây là
cú quăng quật thứ hai trong cuộc đời Phương. Cú quăng quật này đã dúi người đàn
ông dạn dày vào bàn viết, câm lặng một mình, thay cho khóc, anh viết những bài
thơ về nỗi khổ đau: Có một bông hồng rơi xuống đất/ Lá vẫn còn xanh nhụy
chưa phai/ Sắc còn thắm đỏ hương còn ngát/ Để lại nỗi buồn giữa trần ai…
Suốt 49 ngày đêm tang tóc, anh viết liên tục, những bài thơ
đau đớn ấy thành một tệp dày trên bàn. Trong đó có bài thơ 49 ngày gồm
49 đoạn thắt ruột, bài 100 ngày một trăm chữ nhói lòng… Đấy là tác phẩm
đầu tay của anh, tập thơ Vĩnh biệt hoa hồng. Và, anh đi đến quyết định,
đem cái tên Nhuận hồi bé, tên Phương khi bắt đầu vào đời kiếm sống và tên vợ
anh, ghép lại thành bút danh của mình, là Nguyễn Nhuận Hồng Phương, ký dưới tên
tác phẩm của mình.
2. DUYÊN MAY LÀ ĐƯỢC GẶP NHỮNG BẠN VĂN ĐI TRƯỚC
Sau Vĩnh biệt hoa Hồng, vừa làm lụng nuôi ba con ăn học,
Nguyễn Nhuận Hồng Phương có thời gian rỗi là chuyên chú vào thơ. Trong anh, một
khát khao bừng dậy, muốn viết bù cho những năm vì dồn sức cho mưu sinh mà không
thể viết. Năm 2002, duyên may đầu tiên đến với anh, là gặp và được sự quan tâm
của nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi, anh bắt tay vào viết thiên trường ca Khúc hát
Mê Linh. Thật may mắn, Khúc hát Mê Linh đã được Nhà xuất bản
Thanh Niên ấn hành năm 2003, vậy là cuộc sống lại có thêm một tác giả văn
chương.
Nhưng rồi, chính nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi lại là người khuyên
Nguyễn Nhuận Hồng Phương nên viết văn xuôi. Đúng là anh đã nghe lời thầy của
mình, viết văn. Ngồi vào bàn, hơn nửa năm trời, anh viết liền một mạch 18 truyện
ngắn, rồi đem gửi Tạp chí Văn nghệ công nhân và Nhà xuất bản Lao Động. Thêm một
duyên may nữa, nhà văn Phạm Ngọc Chiểu phụ trách Tạp chí Văn nghệ Công nhân và
nhà văn Trần Dũng, Tổng biên tập Nhà xuất bản Lao Động đã như những bạn văn rất
nhiệt thành đóng góp nhiều ý kiến về kỹ năng văn chương cho anh. Tạp chí Văn
nghệ Công nhân cho đăng một số truyện ngắn của anh, lập tức được bạn đọc và một
số bạn văn chú ý. Và, cuối năm 2004, Nhà xuất bản Lao Động đã ấn hành tập truyện Trong
rác không có rác của Nguyễn Nhuận Hồng Phương. Mười bảy truyện ngắn, dù cấu
trúc còn đơn sơ, nhưng dồi dào chi tiết sống và ngôn ngữ văn chương khá hiện đại,
tiêu biểu là các truyện Người đàn ông hai đời vợ, Chiếc xe tang, Lật tẩy,
Chuyện nhỏ trong thị trấn, Trong rác không có rác… là những câu chuyện về những
thân phận sống trong một thị xã miền trung du, thật nhiều mồ hôi nước mắt, nhiều
khi bụi bặm nữa, nhưng đã ánh lên những vẻ đẹp Người!
Đúng là khát khao viết bù lại cái thời vì mưu sinh mà không
được viết, chính trong những ngày tập truyện Trong rác không có rác đang
nằm trong nhà in, Nguyễn Nhuận Hồng Phương ngồi miết vào bàn, viết thiên tiểu
thuyết Đồng vọng ngược chiều. Khi Trong rác không có rác đến với
bạn đọc thì, anh lại ôm tập bản thảo tiểu thuyết Đồng vọng ngược chiều,
dày hơn 400 trang, đến gửi gắm Trần Dũng và Phạm Ngọc Chiểu. Tôi biết, khi đọc
và duyệt in Đồng vọng ngược chiều, Trần Dũng có nói với Phạm Ngọc Chiểu, “Thằng
chú (thằng em) này đến với văn chương có thể nói là hơi muộn, nhưng
vì chịu đọc, chịu học, lại biết rút kinh nghiệm để vượt qua những non yếu về
nghề của các bậc đi trước và tiếp cận ngay được với văn học hiện đại”. Và, năm
2005, thiên tiểu thuyết đầu tiên của Nguyễn Nhuận Hồng Phương đã được NXB Lao Động
cho ra mắt bạn đọc.
Qua câu chuyện tình giữa nhà báo Nguyễn Thừa và kỹ thuật viên
nông học kiêm nghệ sĩ nhiếp ảnh không chuyên Hải Linh, Đồng vọng ngược chiều chuyển
tải một dung lượng đời sống dài nửa thế kỷ trên vùng quê trung du rộng lớn, bắt
đầu từ ngày tiền khởi nghĩa cho đến cuối thế kỷ XX. Về tầm mức, nó là một pho sử
thi của vùng quê Phúc An (Yên), nơi nhà văn sinh ra và trưởng thành. Nhưng có lẽ
do sự dè chừng khi viết thiên tiểu thuyết đầu tay, Nguyễn Nhuận Hồng Phương
không đầu tư công sức cho một tiểu thuyết sử thi, anh chỉ dừng ở mức một tiểu
thuyết tả thực với ngôn ngữ thật giàu xúc cảm trữ tình. Tuy vậy, đọc xong hơn
400 trang sách, ta thấy Đồng vọng ngược chiều thực sự có được chỗ đứng
trong đời sống văn chương đương đại. Chúng tôi nghĩ, đạt được thành công ấy
chính là do đời sống của vùng quê Phúc An nhiều năm trường chất chứa trong tâm
can trí não nhà văn, anh đem dồn cả vào ngọn bút, khi viết tác phẩm. Đời sống
đó, có người nữ cán bộ Việt Minh với biệt danh Người đàn bà mặt đẹp lại
được người đời gọi theo chức phận là Maria, Bà lang, Mụ đỡ; có người Bí
thư tỉnh ủy với bề dày kinh nghiệm lãnh đạo cùng nỗi niềm riêng - chung đầy trắc
ẩn; có hai người đàn bà có biệt tài nuôi rắn, bắt rắn, buôn bán rắn; có cơn lũ
kinh người khiến ba đứa trẻ bấu víu vào chiếc bè trong dòng nước cuốn cuộn, xác
lý trưởng trương phềnh cũng dính díu vào bên mép bè mà tay vẫn giữ chặt chiếc
túi đựng con triện... Có thể nói, đó là một dòng sự sống dữ dội, chảy suốt mấy
chục năm trời trên vùng quê Phúc An, từ ngày đất nước làm cuộc giành độc lập,
qua kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cho đến thời kỳ người ta có thể dốc sức
để mưu cầu hạnh phúc, tiêu biểu là hai nhân vật Nguyễn Thừa và Hải Linh. Mọi diễn
tiến cuộc sống ấy, như những tiếng vọng từ quá khứ vẫn không ngừng dội vào
đương đại, được nhà văn trình bày qua những chuyện của Nguyễn Thừa và Hải Linh
kể về cuộc đời mình, về những người ruột thịt trong gia đình... Bởi thế, thiên
tiểu thuyết ái tình với biết bao buồn vui, sướng khổ của đôi tình nhân Nguyễn
Thừa và Hải Linh, đã phản ánh được thật nhiều những sướng khổ, buồn vui của cả
vùng quê Phúc An, từ ngày xưa đến bây giờ. Có thể nói, cấu trúc tác phẩm như vậy
là một thành công trong nghệ thuật viết tiểu thuyết của Nguyễn Nhuận Hồng
Phương. Dù ngoài năm mươi tuổi mới bắt đầu cầm bút, nhưng anh đã “… tiếp cận
ngay được với văn học hiện đại”, đúng như nhà văn Trần Dũng nhận định.
3. TỰ SỰ - TRỮ TÌNH GIỮA BỀ BỘN CUỘC SỐNG…
Khi Nguyễn Nhuận Hồng Phương bắt đầu làm cái việc của một nhà
văn thì, sau hơn một trăm năm phát triển, nền văn chương Việt Nam hiện đại đã
thực sự đạt đến tầm trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng. Ngoài những nhà văn có
thành tựu lớn như Ma Văn Kháng thời kháng chiến chống Mỹ, hoặc nhà văn tiêu biểu
thời hội nhập như Hồ Anh Thái, còn có nhà văn viết rất bạo, theo lối “hiện thực
huyền ảo” để văn mình được mới lạ, và có nhà văn, viết còn bạo hơn, theo lối
“hiện sinh”, đến mức có phần nặng về tính dục để văn mình thêm hấp dẫn… Với
Nguyễn Nhuận Hồng Phương, tôi nghĩ, chính thân phận anh cùng đời sống của vùng
quê Phúc An đã khiến anh phải làm nhà văn để viết về nó. Tác phẩm văn chương,
suy cho cùng, là bản tự sự của nhà văn về cái tôi trữ tình của mình cùng muôn mối
sự đời tạo nên. Đồng vọng ngược chiều là bản tự sự quan trọng về
chính cuộc đời Hồng Phương, gá gửi qua nhân vật Nguyễn Thừa cùng câu chuyện
tình ái với Hải Linh; và, nó trở nên có ích với đời, bởi qua bản tự sự đó người
đọc hiểu được lịch sử khổ đau, cực nhọc và đẹp đẽ của mấy thế hệ con người sống
tại vùng quê trung du có tên là Phúc An!
Đồng vọng ngược chiều đã được Liên hiệp các hội Văn học
- nghệ thuật Viết Nam trao giải thưởng năm 2006. Cũng năm này, Hội
Nhà văn Việt Nam, Nhà xuất bản Lao Động cùng Hội Văn nghệ Vĩnh Phúc mở cuộc hội
thảo về tác phẩm đó, tại thị xã Vĩnh Yên. Và năm này, Nguyễn Nhuận Hồng Phương
đã sáng tác được hai tiểu thuyết nữa: Phá sản, do NXB Lao Động ấn hành,
và Vận may, được xuất bản bởi NXB Hội Nhà Văn. Hai năm, cho ra đời ba tiểu
thuyết, cho thấy bút lực Nguyễn Nhuận Hồng Phương dồi dào đến ngần nào! Khác với Đồng
vọng ngược chiều đã đề cập tới đời sống Phúc An từ năm 1945 đến cuối thế kỷ
XX, trong Phá sản và Vận may là đời sống con người ở vùng
quê này những năm cuối thời bao cấp, chuyển sang thời kỳ mở cửa, đổi mới. Hai
thiên tiểu thuyết này chuyển tải một dung lượng khá sâu rộng về những chuyện đời
và những phận người ở Phúc An nhiều cực thân, nhọc lòng, lắm những mưu đồ tư lợi
thấp hèn, và cũng nhiều khao khát vươn tới hạnh phúc thực sự.
Phá sản đích thị là một tiểu thuyết tả thực, cấu trúc gọn
nhẹ, nhưng vấn đề nó đặt ra không phải là nhẹ. Đây là câu chuyện về cuộc hồi phục
Công ty xây dựng số I, công ty hàng đầu về xây dựng của vùng đất đầy tiềm năng
khi bước vào sự nghiệp đổi mới. Giám đóc Công ty là Trần Búp, được đào tạo từ
thời bao cấp, lấy vợ cũng theo bố mẹ tính toán cho sao có lợi, nghiễm nhiên trở
thành một nhân vật sáng giá khi bước vào cuộc hồi phục công ty. Nhân vật nữ
chính, là Duyên, xuất thân là phu hồ “mười sáu tuổi, tuổi trăng tròn, ngây thơ,
trong trắng như nụ hoa chanh nơi thôn dã…
Thế mà vào tuổi ấy, cô đã phải leo tít tắp lên giàn dáo cao ngất, mặt mũi nhem nhuốc nước xi măng”. Chưa đủ, trong một đêm mưa gió ở công trường, “nụ hoa chanh” ấy đã bị tay đội trưởng Khạp cưỡng hiếp một cách bỉ ổi. Duyên đã cắn răng nuốt nỗi tủi hận của đời con gái, bấm bụng giấu đi nỗi tủi hổ của người vợ không còn tròn vẹn khi sống với người chồng mà mình yêu thương. Duyên quyết vươn lên tạo dựng hạnh phúc thực cho mình bằng cách học những đồng nghiệp giỏi, học những người tốt và học qua sách vở. Khi Duyên trở thành Phó giám đốc Công ty xây dựng số I cũng là lúc chị phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thử thách. Từ cảnh lam lũ nghề vôi vữa mồ hôi trên dính mồ hôi dưới của công nhân, các trò rút ruột công trình để kiếm lợi của những cá nhân nắm quyền, cho đến những bi kịch cá nhân, đặc biệt là bi kịch của Giám đốc công ty, kẻ tiêu pha vô tội vạ ngân sách nhà nước… tất thảy đều được nhà văn miêu tả thật sinh động. Kết cục, cuộc phá sản của Giám đốc Trần Búp là tất yếu, và người đọc hiểu, đó không chỉ là sự phá sản của một công ty hàng đầu, mà là sự phá sản về con người - nhân sự không thể đáp ứng được với sự nghiệp đổi mới!
Thế mà vào tuổi ấy, cô đã phải leo tít tắp lên giàn dáo cao ngất, mặt mũi nhem nhuốc nước xi măng”. Chưa đủ, trong một đêm mưa gió ở công trường, “nụ hoa chanh” ấy đã bị tay đội trưởng Khạp cưỡng hiếp một cách bỉ ổi. Duyên đã cắn răng nuốt nỗi tủi hận của đời con gái, bấm bụng giấu đi nỗi tủi hổ của người vợ không còn tròn vẹn khi sống với người chồng mà mình yêu thương. Duyên quyết vươn lên tạo dựng hạnh phúc thực cho mình bằng cách học những đồng nghiệp giỏi, học những người tốt và học qua sách vở. Khi Duyên trở thành Phó giám đốc Công ty xây dựng số I cũng là lúc chị phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thử thách. Từ cảnh lam lũ nghề vôi vữa mồ hôi trên dính mồ hôi dưới của công nhân, các trò rút ruột công trình để kiếm lợi của những cá nhân nắm quyền, cho đến những bi kịch cá nhân, đặc biệt là bi kịch của Giám đốc công ty, kẻ tiêu pha vô tội vạ ngân sách nhà nước… tất thảy đều được nhà văn miêu tả thật sinh động. Kết cục, cuộc phá sản của Giám đốc Trần Búp là tất yếu, và người đọc hiểu, đó không chỉ là sự phá sản của một công ty hàng đầu, mà là sự phá sản về con người - nhân sự không thể đáp ứng được với sự nghiệp đổi mới!
Phá sản là bản tự sự - trữ tình về Duyên, người phụ nữ từng
bị chà đạp, nhưng thông minh và giàu nghị lực; về Trần Búp tham lam, nhiều mưu
cơ, nhưng sống thấp hèn. Và, cũng là bản tự sự về cuộc sống bề bộn với biết bao
con người biết tự vươn lên bằng cách dấn thân vào sự nghiệp đổi mới đích thực!
4.… VÀ TỰ SỰ - TRỮ TÌNH GIỮA NGỔN NGANG SỰ ĐỜI
Đến tiểu thuyết Vận may, nhà văn Nguyễn Nhuận Hồng
Phương đã tỏ rõ môt bản lĩnh văn chương vững vàng. Anh đã sáng tạo nên nhân vật
có cá tính rõ nét, có số phận đặc biệt, và có thể nói, anh đã mạnh bạo khi viết
về những phận người dưới đáy của xã hội.
Nhân vật chính của Vận may có tên là Nó (sau
đó, được gọi là vua đập hộp bởi rất tài trong nghề trộm cắp, rồi được
kêu là 303 lúc ở trong nhà tù, sau nữa thì thành tôn ông hay quý
ông khi đã ra tù, trở thành nhà kinh doanh địa ốc). Cốt tuyện rất cuốn
hút, khiến người đọc có thể liên tưởng đến Năm Sài Gòn của Nguyên Hồng trong tiểu
thuyết Bỉ vỏ; lại khiến người ta thấy hay hay và nghĩ tới tay bịp bợm
luôn ăn may Xuân Tóc Đỏ trong Số đỏ của nhà văn Vũ Trọng Phụng. Nhưng
thực sự không phải vậy. Nó sinh sau Xuân Tóc Đỏ và Năm Sài-gòn hơn nửa
thế kỷ, và là sản phẩm của xã hội ta thời bao cấp chứ không phải thời Tây. Từ
tính cách đến thân phận và hoàn cảnh sống của Nó mà Nguyễn Nhuận Hồng
Phương miêu tả cụ thể và khá sắc nét, cho biết rõ như vậy.
Sớm mồ côi cha, Nó chi có mẹ già lam lũ với gánh
hàng rong, không họ hàng thân thích. Bạn gái đầu tiên của Nó là Con
bé phe tem phiếu mười ba tuổi mà Nó gặp trong lần xếp hàng mua
chân giò về làm giỗ bố. Sự đời đầu tiên mà nhà văn đưa ra trong Vận may là
cuộc xếp hàng mua thực phẩm bằng tem phiếu thời bao cấp. Có thể nói, nhà văn rất
tài khi tả thực cảnh xếp hàng, chen lấn, xô đẩy, cướp chỗ của nhau cùng lời ăn
tiếng nói của các thứ hạng người tiêu chuẩn thấp cố dướn tới cái phản thịt mậu
dịch. Đối với các thứ hạng tiêu chuẩn thấp, “mậu dịch viên” là bậc oai vệ, quyền
thế, còn Nó thì thầm rủa là “mụ bán thịt”. Trong cuộc xếp hàng chen lấn
nhễ nhại mồ hôi, có lúc Con bé cọ cái bộ ngực mới nhú vào ngực Nó,
khiến hôm sau Nó cất công đi tìm Con bé, và đã có được “bạn
gái”. Con bé ước mơ được ăn ngon, mặc đẹp. Nó thì mơ ước có
nhiều tiền để Con bé sẽ là của Nó. Nhưng phận nghèo, Nó bỏ
học, đi ăn cắp. Và rồi, với tuổi mười bốn, dòng đời bạo liệt đã cuốn cuộn Nó vào
thế giới xã hội đen.
Qua Vận may, người đọc thấy tác giả thực sự am hiểu thế
giới xã hội đen trong xã hội ta nửa cuối thế kỷ XX. Ngôn ngữ của giới trộm cắp
thời Bỉ vỏ của Nguyên Hồng còn có màu sắc lãng tử, kiểu như “Anh
đây quân tử không vòm (không nơi ở)/ Ngày mai kện rập (bị bắt) biết
mòm (trông nhờ) vào đâu”. Ngôn ngữ của thế giới xã hội đen
trong Vận may cộc lốc hơn, dữ dằn hơn, nói về các tác nghiệp thì nào
là mõi, đập vòm, làm thịt, đè, thoóng, nhảy tàu, lượn ngày ăn đêm; gọi
danh các nhân sự cũng hiện đại hơn, như sư trưởng, mặt chuột kẹp, thằng thợ
khoá, mụ tiêu thụ, rồi gã kiểm lâm, hạt trưởng, lại cả má mì - nữ
trại viên, nữ quản giáo... Ngoài am tường thứ ngôn ngữ “đặc thù” ấy, Nguyễn Nhuận
Hồng Phương phải hiểu biết thật nhiều về giới xã hội đen mới có thể miêu tả những
nhân vật của anh sống động, cuốn hút người đọc đến thế. Vốn sống phong phú về
xã hội đen và sự dồi dào về chi tiết đời sống của giới lưu manh, là hai trong
những phẩm chất làm nên tài năng của tác giả Vận may. Bởi thế, nhân vật Nó đã
thực sự khiến người đọc chăm chú theo dõi từ đầu đến cuối tác phẩm.
Giới xã hội đen, hay như người ta gọi là giới maphia, hoặc giới
lưu manh, cũng chỉ là một “giới người” trong xã hội, nó được sinh ra, tồn tại
và tiến triển trong lòng xã hội. Viết về một “giới” như vậy, thì phải có
vốn sống và tri thức về cả xã hội đang bao chứa nó. Sự đời đầu tiên, cảnh xếp
hàng mua thịt mậu dịch, Nguyễn Nhuận Hồng Phương đã thực sự thành công bởi anh
có vốn sống thật dày và hiểu biết sâu về xã hội thời bao cấp. Sự đời tiếp theo,
nhân vật Nó bị rơi vào một tổ chức lưu manh do sư trưởng cầm
đầu, nhà văn cũng tỏ ra thấu hiểu bối cảnh xã hội còn có cơ hội cho sư trưởng làm
mưa làm gió. Rồi những sự đời tiếp theo diễn ra trong các hoạt động xã hội đen,
nhà văn tỏ ra rất hiểu, giới lưu manh có đất hoạt động trong xã hội, nên cuộc đời
nảy sinh mụ tiêu thụ, thằng thợ khoá. Và nữa, những sự đời trên vùng
rừng núi Tây Bắc, nhà văn có sự hiểu biết thật thấu đáo. Không những hiểu cơ cấu
xã hội có cơ hội để nảy nòi những gã kiểm lâm, thằng Vện, hạt trưởng,
chúng vừa moi tài nguyên đất nước vừa sát phạt nhau tàn khốc, mà Nguyễn Nhuận Hồng
Phương còn có tri thức thật rộng về tài nguyên rừng Tây Bắc. Những đoạn anh viết
về gỗ đặc sản của rừng Việt Nam, như gỗ lát với những lát chun, lát hoa, lát da
đồng vân mây ngũ sắc, lát mặt quỷ; và, anh viết về mỏ gỗ pơmu vô cùng lớn và
quý giá có giá trị ngang với gỗ ngọc am huyền thoại của Trung Quốc… thực sự có
sức truyền cảm và truyền những vẻ đẹp về văn hoá cho người đọc. Có thể nói, đó
là những trang văn phong tục thật hay. Và thêm nữa, đến những sự đời ở trong
nhà tù, tác giả cũng có vốn hiểu biết khá tốt về môi trường này để có thể viết
về hai nhân vật má mì - trại viên nữ cùng nữ quản
giáo. Sau bao năm giang hồ, bị bắt vào tù, thành trại viên 303, nhưng
trong trường tình Nó đã dễ dàng bị má mì sỏ mũi, chiếm Nó làm
chồng. Và, thông qua má mì, nữ quản giáo đã bày cho Nó cách
làm tiền thành công nhất là buôn bán nhà đất. Đó là bài học lớn nhất, cũng là vận
may quan trọng nhất đời, khiến khi mãn hạn tù Nó cùng má mì thành
ông, bà Giám đốc một Công ty bất động sản bề thế. Nó trở thành quý
ông, nhưng người mẹ lam lũ đã qua đời khi nó còn ở trong tù, và, Con
bé phe tem phiếu xưa đã là một thiếu phụ với một gia cảnh bình dị và yên ấm…
Khúc cuối của Vận may, tưởng như nhân vật chính đã là
người thành đạt trong đời, vậy mà Nó lại vô cùng buồn bã, cô
đơn. Còn tôi thì nghĩ rằng, tiểu thuyết Vận may chính là một bản tự sự
- trữ tình về ngổn ngang biết mấy sự đời trên vùng quê trung du mà Nguyễn Nhuận
Hồng Phương sinh ra và gắn bó máu thịt suốt bao năm trời!
5. ĐÔI ĐIỀU MUỐN NÓI THÊM
Mỗi nhà văn đều có điểm xuất phát riêng để đến với văn
chương, và có kho vốn sống riêng cũng như một một giọng văn riêng để, khi viết
tác phẩm, là cất lên bản tự sự - trữ tình của cá nhân mình. Nguyễn Nhuận Hồng
Phương cũng vậy. Văn của anh khai thác sâu vào cái vỉa sự sống của miền quê
trung du anh được sinh ra và lớn lên từng đốt qua những cú quăng quật của cuộc
đời. Bị quăng quật, không có gì thiệt cả đối với một thân phận sẽ phải làm nhà
văn. Thế mới trở thành người có một nỗi lòng nặng trĩu những ý nghĩ về nhân
sinh. Mồ hôi nước măt đổ ra trong cuộc mưu sinh, thì mới thành người chất chứa
trong tâm can những điều lẽ về nhân bản. Đến khi làm phận sự nhà văn, (như Nguyễn
Nhuận Hồng Phương là khi đã ngoài năm mươi tuổi), tất cả những điều lẽ đó thức
dậy, người ấy (và Phương cũng vậy) sẽ được “lộc” của đời đấy, “lộc” ấy nẩy nở
thành văn chương, nghĩ cho cùng, cũng chính là đời cho mà thôi…
Không lan man nữa, tôi đang viết về văn chương của Nguyễn Nhuận
Hồng Phương, thì xin nêu ý cụ thể là, điểm xuất phát của riêng anh là vùng quê
Phúc An. Cái kho vốn sống riêng của anh là cuộc sống ba chìm bảy nổi dội vào
anh khiến anh nhớ đời và phải viết thành văn. Cái giọng văn riêng của anh, là
do những thân phận lam lũ, đôi khi bụi bặm nữa, nhưng vẫn ánh lên vẻ đẹp Người,
và những đêm đêm thổn thức không thể ngủ được, chính họ đã thầm thì bên tai
anh, tức là cho anh cái giọng văn ấy đấy. Nghĩ cùng kỳ chi lý, phẩm chất văn
chương của anh, là do thực tiễn đời sống của vùng trung du Phúc An cho anh mà
thôi!
Sau tiểu thuyết Vận may, Nguyễn Nhuận Hồng Phương đã có
tiểu thuyết Phố thị (NXB Công an Nhân Dân, 2009), vẫn là những chuyện
biết mấy sự đời ở Phúc An. Và nữa, sau Phố thị, anh lại có tiểu thuyết Ngoài
vòng tay của chúa (NXB Công an Nhân Dân 2011), ngoài ra còn viết được nhiều
truyện ngắn. Anh vẫn đang đi trên con đường số phận mình… Tôi thì muốn nói thêm
với Nguyễn Nhuận Hồng Phương rằng, bao năm trường anh đổ mồ hôi sôi nước mắt
trên mảnh đất Phúc An, nhưng Phúc An cũng cho cái người làm nhà văn là anh nhiều
vô cùng. Đó là vinh dự, cũng là món nợ, anh hãy tiếp tục viết để trả món nợ to
lớn ấy nhé!
A.C
CÂY BÚT TIỂU THUYẾT
NGUYỄN NHUẬN HỒNG PHƯƠNG
Phạm
Ngọc Chiểu
Đến thời điểm diễn ra hội thảo “Văn xuôi Vĩnh Phúc từ năm
1975 đến nay” tổ chức tháng 11 năm 2012, Nguyễn Nhuật Hồng Phương đã viết và ra
các tiểu thuyết “Đồng vọng ngược chiều”, “Vận may”, ”Phá sản”, “Phố thị” và “Ngoài vòng tay của chúa”. Từ tiểu thuyết đầu tay “Đồng vọng ngược chiều” ấn
hàng năm 2005 đến tiểu thuyết mới nhất vừa ra mắt bạn đọc ngay sát trước hội thảo,
mang tên “Ngoài vòng tay của chúa” (tháng 10 năm 2012), tính ra, trong
vòng 7 năm, nhà văn sinh ra từ làng Lệ Mật nổi tiếng với nghề nuôi bắt và kinh
doanh rắn, nhưng sau nhiều năm lặn lội trường đời đã dừng lại, đứng chân trên đất
cổ Mê Linh để theo nghiệp văn chương, đã gửi đến bạn đọc gần xa hơn ngàn rưởi
trang trong năm cuối tiểu thuyết của mình. Một hiệu quả lao động nghệ thuật
không nhiều ngòi bút tiểu thuyết có đạt được. Ấy là chưa nói, liền trong
hai năm trước khi đưa in tiểu thuyết đầu tay, Nguyễn Nhuận Hồng Phương
còn hiện diệ trên văn đàn bằng hai đầu sách thuộc hai thể loại văn học khác:
“Khúc Hát Mê Linh” - Trường ca, NXB Thanh Niên, 2003 và “Trong rác không có
rác” - Tập truyện ngắn, NXB Lao Động, 2004.
Do duyên nghiệp văn chương sao đỏ, tôi là người được
can dự vào việc ấn hàng một nửa số đầu sách Văn xuôi của Nguyễn Nhuận Hồng
Phương. Cụ thể là, tôi đã đọc thẩm định, Ký in, thậm chí làm cả việc sủa mo
rác, viết Lời Tựa cho tập truyện ngắn và hai cuốn tiểu thuyết đầu tiên - chùm
tác phẩm xác lập Văn nghiệp của nhà văn học Nguyễn vùng đất cổ trung du nổi tiếng
này.
Còn nhớ hồi đó, liền trong hai năm 2004 và 2005, Nguyễn Nhuận
Hồng Phương đến với chúng tôi, tạo nên sự kiện về sự hiện diện của một tác giả
mới rất có ấn tượng. Nói “Chúng tôi” là nói đến người làm tạp chí “văn nghệ
công nhân” và NXB Lao động, trong đó tôi và nhà văn Trần Dũng là những người
đúng mũi chịu sào. Tôi chịu trách nhiệm gồng gánh tờ Tạp chí Văn nghệ mới của Tổng
Liên Đoàn Lao Động Việt Nam mang tên “Văn nghệ công nhân” còn Trần Dũng,
với chúc danh Phó Giám đốc - Tổng biên tập, chịu trách nhiệm về toàn bộ nội
dung các ấn phẩm của NXB Lao Động, đồng thời nhận đỡ tôi tuyển chọn những truyện
ngắn để giới thiệu trên tờ Tạp chí do tôi phụ trách.
Là nhà văn trưởng thành lên từ những năm tuổi trẻ còn cầm vô
lăng lái máy cày, máy kéo, ô tô, chuyển qua nghề biên tập, bước từng bước vững
chắc từ một Biên tập viên lên đến vị trí Tổng biên tập của một Nhà xuất bản có
bề dầy lịch sử đứng hàng đầu hàng thứ nhất trong ngành Xuất bản của đất nước,
nhà văn Trần Dũng có tên trong việc phát hiện, chăm chút những cây bút mới xuất
hiện từ cơ sở. Chính Ông đã hồ hởi khoe và đề nghị tôi ký in những
truyện ngắn đầu tay của Nguyễn Nhuận Hồng Phương trên Tạp chí “Văn nghệ công
nhân”, để rồi sau đó, như vừa nhắc lại trên kia, liền trong hai năm 2004
và 2005, đến lượt tôi đề nghị Trần Dũng ký in tập truyện ngắn “Trong rác
không có rác” và tiểu thuyết “Đồng Vọng Ngược Chiều” hai tác phẩm đưa Nguyễn
Nhuận Hồng Phương chính thức ra nhập Hội Nhà Văn Việt Nam.
Nhớ lại chuyện 7 năm trước, tôi không chỉ nhớ gương mặt và giọng
nói hồ hởi của nhà văn Trần Dũng khi phát hiện ngòi bút Nguyễn Nhuận Hồng
Phương, mà tôi còn nhớ như in ước đoán của ông về cây bút mới này khi ông ký
duyệt in tiểu thuyết “Đồng Vọng Ngược Chiều”: Cuấn sách này khá quá.
không chừng sẽ ăn giải to. Thằng chú mày đến với văn chương có thể nói là hơi
muộn, nhưng vì chịu học, chịu đọc, lại biết rút kinh nghiệm để vượt qua những
non yếu về nghề nghiệp của các bậc đi trước và tiếp cận ngay được với những tác
gia, tác phẩm hiện tại, thành ra nó trưởng thành rất nhanh qua từng truyện và qua
mỗi cuấn sách trình làng. “Những gì nói đến Nguyễn Nhuận Hồng Phương sau này chứng
minh đoán định của Trần Dũng là đúng. Bằng chứng là, với những tác phẩm đã xuất
bản, Nguyễn Nhuận Hồng Phương không chỉ là một nhà văn chính danh mà Ông còn
được hai giải thưởng về tiểu thuyết: “Đồng Vọng Ngược Chiều” được Liên hiệp các
Hội Văn học - Nghệ thuật Việt Nam tặng giải năm 2006, và “Ngoài Vòng tay của
Chúa” được bộ Công an và Hội Nhà Văn Việt Nam tặng giải năm 2011 nhân cuộc thi
viết truyện, ký và tiểu thuyết về đề tài “Vì an ninh tổ quốc và bình yên cuộc
sống”. Không chỉ thế “Đồng Vọng Ngược Chiều” còn được UBND tỉnh Vĩnh Phúc tặng
giải thưởng về Văn học - Nghệ thuật 5 năm lần thứ hai (2000 - 2005), và
tiểu thuyết “ Phố thị” được giải thưởng về Văn học - Nghệ thuật 5 năm làn
thứ 3 (2006 - 2010). Bốn giải thưởng liên tiếp cho năm đầu sách tiểu thuyết xuất
bản trong vòng 7 năm đã mang yếu tố khẳng định tính chuyên nghiệp và sự trưởng
thành của một nhà văn vùng đất tổ Trung du!
Vậy tiểu thuyết của Nguyễn Nhuận Hồng Phương đã mang những
dấu ấn gì về nội dung, về bút pháp?
Tiểu thuyết là thể loại văn học chứng tỏ tầm mức sức vóc sáng
tạo nghệ thuật của một nhà văn. Cái tầm mức sức vóc dáng ấy được biểu hiện ra ở
cả hai phương diện: Nội dung tác phẩm và Nghệ thuật xây dựng tác phẩm. Về
nội dung, tiểu thuyết đòi hỏi một cốt truyện dài hơi, đa tuyến, nhiều tầng ý
nghĩa, đặc biệt là ý nghĩa xã hội được phản ánh qua các số phận nhân vật. Tầm mức
cảu tác phẩm tiểu thuyết, bởi nội dung là một cốt truyện dài hơi, đa tầng nên
đòi hỏi nhà văn phải có một bố cục tác phẩm, chặt chẽ, sinh động mới có sức lôi
kéo người đọc. Phải xây dựng những nhân vật có số phận, có cá tính mang dấu ấn
vừa của riêng cá thể đó vừa của xã hội nhân vật đó sống. Điều rất quan trọng
trong nghệ thuật tiểu thuyết là chọn những thủ pháp thể hiện thích hợp và những
thủ pháp đó tạo nên bút pháp mang tính sáng tạo của nhà văn. Cuối cùng, là yếu
tố văn chương. Một tác phẩm văn học, nhất là của một tiểu thuyết, phải - có -
văn. Văn làm nên sức cuốn hút người đọc, văn cũng làm nên tên tuổi của nhà văn
.
Quy chiếu những yêu cầu mang tính lý luận vừa là đòi hỏi
không thể khác về giá trị của tiểu thuyết trên đây vào những tiểu thuyết của
Nguyễn Nhuận Hồng Phương , ta thấy gì?
Tôi đã đọc, đọc kỹ bốn trên năm tiểu thuyết đã xuất bản
Nguyễn Nhuận Hồng Phương (tiểu thuyết “Ngoài Vòng Tay Của Chúa” vừa
in xong, tôi chưa có sách đọc). Điều dễ nhận ra, là cả 4 tiểu thuyết đều lấy bốn
cảnh thị xã miền trung du có tên là Phúc An làm lền, và những con người sinh ra
và lớn lên ở thị xã nhỏ này là nhân vật của các tiểu thuyết. Các tiểu thuyết của
Nguyễn Nhuận Hồng Phương đều có cốt truyện không đơn giản, trải trên bình diện
không gian thật rộng và thời gian khá dài. Chuyện của “Đồng Vọng Ngược Chiều”
diễn ra xuốt mấy chúc năm, từ cách mạng tháng 8 năm 1945 đến khi đất nước tiến
hành đổi mới; Từ lúc nhân vật chính lọt lòng mẹ đến lúc thành một nhà báo có
tên tuổi trong thị trấn. Gọn nhẹ đến là tiểu thuyết “Phá sản” thì câu chuyện
cũng sảy ra trong hồi phục của Công ty xây dựng, nhưng thời gian và không gian
của nhân vật thì dài rộng ra nhiều lần trước bối cảnh đó. Nhìn chung, Nguyễn
Nhuận Hồng Phương thật sự chú tâm xây dựng cốt truyện đa tuyến, và tự cốt truyện
đã có sự hấp dẫn người đọc. Đó là những cốt truyện có thể kể được khi nương
theo câu chuyện của nhân vật chính. Riêng “Đồng Vọng Ngược Chiều” có cốt truyện
khó kể, thậm chí không kể lại một cách ngọn ngành, nhưng vẫn hấp dẫn... Đây là
trường hợp có tính đột biến Nguyễn Nhuận Hồng Phương, gợi một hướng xây dựng
cốt truyện mới với chính ông. Một điều nữa cũng đáng chú ý: các tiểu thuyết của
ông đều mang đậm dấu ấn lịch sử xã hội. Dễ dàng nhận ra câu chuyện ông viết sảy
ra ở đâu, thuộc giai đoạn nào của lịch sử đất nước.
Về xây dựng nhân vật, Nguyễn Nhuận Hồng Phương tỏ ra an tường
tầng lớp tiểu thị dân, và ông xây dựng khá thành công những nhân vật xuất thân
từ tầng lớp này. Xin dẫn ra đây một số nhân vật đó. Trong tiểu thuyết “Đồng Vọng
Ngược Chiều” người đọc nhớ Nguyễn Thừa và Hải Linh. Ở “Phá sản” là duyên. Ở “Vận may” là một nhân vật không có tên, chỉ có biệt danh là “Nó”, là “Vua đập hộp”,
là “303”… Còn, trong “Phố thị” người đọc nhớ nhân vật bà mẹ (vợ một người đánh
xe bò) và ba con trai của bà, không chỉ bởi mấy mẹ con bà có tính cách, có số
phận, mà còn vì từ chuyện của gia đình này người ta nhìn thấy sự phân hóa xã hội
đang diễn ra trong thời kỳ đất nước bước vào thời kinh tế thị trường. Nhưng gây
ấn tượng hơn cả là nhân vật Hải Âu của tiểu thuyết này, và một nhân vật khác nữa:
chị Quỳ người đàn bà bán thịt, một cựu thanh niên xung phong chống Mỹ, sau được
tín nhiệm bầu làm trưởng khu dân cư. Những nhân vật vừa kể ra, tuy chưa đạt đến
tên tuổi Chí Phèo, giao Thứ, nhưng đọc xong hơn ngàn trang sách của Nguyễn Nhuận
Hồng Phương, người đọc vẫn nhớ và đặt ra được từng ấy nhân vật, thiết nghĩ đó
là một thành công đáng ghi nhận về nghệ thuật xây dựng nhân vật của ông.
Nhân nói về những nhân vật tiểu thị dân của Nguyễn Nhuận Hồng
Phương cần nói thêm rằng, do quá thông thuộc tầng lớp xã hội này, nhà văn đã có
được những trang miêu tả, những chi tiết, lời ăn tiếng nói, thật sống động,
thật khác biệt. Người đọc như bị thôi miên khi Nguyễn Nhuận Hồng Phương dẫn vào
chứng kiến các cuộc sát phạt đỏ đen, nghe những đối đáp của dân anh chị. Đấy
là những trang sách thật có ma lực.
Về bút pháp, cùng với việc sử dụng chắc tay bút pháp Tự sự,
trữ tình truyền thống, Nguyễn Nhuận Hồng Phương cũng tỏ ra linh hoạt
trong việc áp dụng các thủ pháp viết truyện hìn sự. Đặc biệt trong “Đồng Vọng
Ngược Chiều” ông đã rất thành công khi cùng lúc sử dụng thủ pháp Đồng hiện và
thủ pháp Hiện thực huyền ảo, nhờ vậy đã dẫn người đọc “đi” hết hơn 400 trang in
của tiểu thuyết, qua chặng thời gian dài máy chục năm lịch sử của đất nước và một
không gian rộng lớn với một cốt truyện đọc xong khó kể lại được. Thiên truyện
được dẫn dắt bởi lối song hành kể chuyện của cặp nhân vật chính rất sinh động,
biến hóa… thành công đến mức bạn đọc say mê đọc, còn bạn nghề thì vừa mừng vừa
ngạc nhiên.
Đọc hết cả chùm 4 tiểu thuyết của Nguyễn Nhuận Hồng Phương,
để chút thời gian nghẫm lại, thấy rõ nhất sự thiếu vắng này: Tính Dự báo. Dự
báo về tương lai của nhân vật thì có, nhưng tương lai của cả tầng lớp người mà
nhân vật đó đại diện, à cao hơn - dự báo về hướng đi tới của xã hội, của lịch
sử thì chưa, nếu không muốn nói là không có, mà đây lại chính là sức nặng của
tiểu thuyết, là cái tầm của vũ khí hạng nặng trong văn học này. Cũng cần góp
thêm với Nguyễn Nhuận Hồng Phương lời này nữa: Ông thông thuộc tầng lớp tiểu thị
dân và miêu tả khá thành công các nhân vật xuất thân từ tầng lớp này, nhưng qua
4 tiểu thuyết đã xuất bản, người tinh ý đã nhận ra sự giông giống, na ná nhau
của các nhân vật Trại viên nữ (sau thành vợ của vua đập hộp) trong “Vận may”,
thêm nhân vật vợ Quách Lâm Hùng (cùng trong “Phố thị”) gần như giống nhau về gốc
gác, về sự sắc sảo, về cách thức vươn lên, giống cả cách nói và hành xử. Mới
hay, cái sự quá thông thuộc một tầng lớp người, một mảng đời sống xã hội đối với
người viết là quý, là cần, nhưng khi cầm bút cũng phải cảnh giác, tự nhắc như
mình để tránh sự giông giống, na ná. Đời viết văn của một nhà văn là
dài, 7 năm đầu chỉ là sự khởi nghiệp, mấy lời góp cùng Nguyễn Nhuận Hồng
Phương trên đây là mong muốn chặng dài văn nghiệp đi tiếp ông sẽ gạt bỏ dần những
tỳ vết trong sáng tạo để cho ra đời những viên ngọc tiểu thuyết toàn bích hơn.
Với những gì đã làm được trong 7 năm khởi nghiệp, qua 5 tiểu
thuyết ông đem đến cho bạn đọc, Nguyễn Nhuận Hồng Phương không chỉ là cây bút
tiểu thuyết tiêu biểu của riêng Quê hương Vĩnh Phúc, và đó là cơ sở cho niềm
tin ông sẽ đáp ứng được mong muốn của người đọc vừa nêu.
P.N.C
THẾ MẠNH NGÔN NGỮ TIỂU THUYẾT
CỦA NGUYỄN NHUẬN HỒNG PHƯƠNG
Dương Kim Thoa
1. Hành trình làm giàu ngôn ngữ tiểu thuyết
Lao động nhọc nhằn nhưng cũng nhiều tưởng thưởng với nhà văn,
đặc biệt người viết tiểu thuyết, là lao động ngôn ngữ. Dĩ nhiên, như người ta
vẫn nói, văn học là nghệ thuật của ngôn từ, nhưng cụ thể hóa điều đó trong
sáng tác văn chương như thế nào thì lại là điều cần được nhìn nhận theo cách
căn cứ vào năng lực riêng của từng cá nhân người viết. Với tác giả Nguyễn Nhuận
Hồng Phương, nỗ lực và quyết tâm làm mới mình ở từng đề tài khác nhau trong 5
cuốn tiểu thuyết là minh chứng cho sức lao động ngôn ngữ bền bỉ và đầy nghị lực.
Và trong rất nhiều phương diện để đánh giá về một cây bút viết tiểu thuyết,
tham luận này sẽ chỉ tập trung bàn về thế mạnh ngôn ngữ trong các tiểu thuyết
của nhà văn Nguyễn Nhuận Hồng Phương.
a. Sự đa dạng về đề tài
Có thể thấy rất rõ lao động ngôn ngữ của Nguyễn Nhuận Hồng
Phương qua từng trang viết. Anh đa dạng trong đề tài, lối viết và cách xử lý
ngôn ngữ kể, ngôn ngữ nhân vật. Điểm qua mấy cuốn tiểu thuyết đã ra mắt của
anh, người đọc thấy anh không hề lặp lại mình.
Đồng vọng ngược chiều (2005) là ký ức của 2 con người
thuộc 2 thế hệ khác nhau gắn với thời đại và những biến cải thăng trầm trong cuộc
đời của mỗi số phận. Qua đó, người đọc nhận ra sự thấm thía trong từng sự biến
cuộc đời dành cho ta, để biết sống tử tế, lương thiện hơn. Người ta dễ nhận thấy
hiện tượng liên tục chuyển đổi không gian, thời gian và ngôi trần thuật trong
tiểu thuyết này của Nguyễn Nhuận Hồng Phương. Đó là về mặt hình thức. Nhưng làm
như vậy để đạt mục đích gì, tôi cho rằng điều này không hẳn đã dễ lý giải. Trước
hết, đó là nỗ lực làm mới lối kể, vượt qua những trật tự thời gian tuyến tính
truyền thống, vượt qua những giới hạn về không gian, thời gian bình thường để
mạch ký ức giữa 2 nhân vật được nối kết liền mạch, để bạn đọc buộc phải mở rộng
không gian mường tượng về bối cảnh tồn tại của nhân vật. Đó cũng là cách
người viết tự tạo cho mình một cơ sở để chuyển đổi không gian truyện, chuyển
đổi ngôi trần thuật, chuyển đổi cảnh huống truyện sang một lối khác hoàn toàn
tự nhiên trong lựa chọn của tác giả ở một cốt truyện có quá nhiều sự kiện,
nhiều nhân vật và nhiều chặng thời gian khác nhau. Nhưng theo tôi, chúng ta
ghi nhận nỗ lực này ở sự “dám đổi mới” của nó, song cũng phải thừa nhận, nỗ lực
đó chưa thực sự thành công khi nó không đạt được tốt nhất hiệu quả nghệ thuật
mong muốn của người viết. Người đọc không thấy mối liên hệ nhuần nhuyễn và
có sự tương tác, thúc đẩy nội dung cốt truyện giữa các tuyến nhân vật như Nguyễn
Thừa - Hải Linh với người đàn bà mặt đẹp - bà lang - người cán bộ Việt Minh.
Phố thị (2008) là những xô lệch, đổi thay trong đời sống
cũng như đạo đức của xã hội thời kinh tế thị trường được thể hiện thông qua một
gia đình có 3 cậu con trai và một cô con gái. Ở không gian phố thị, một thị trấn
đang trong giai đoạn chuyển mình đi lên về kinh tế, người viết đã nhận ra
những nét nham nhở trong các gương mặt, số phận con người. Nhưng có thể thấy,
phần lớn hơn, tác giả đã nhìn ra ở tận sâu trong từng con người tưởng như đã
“vứt đi” về mặt nhân cách, vẫn có thể gạn lọc được phần nào phẩm chất tốt đẹp
của tinh thần hướng thiện và nhân bản. Có thể thấy điều này qua cách tác giả
xây dựng những nhân vật như Hải Âu, Quách Lâm Hùng và vợ của y. Mỗi nhân vật
đều có đời sống riêng, hướng phát triển riêng, nhưng dễ thấy, cái làm họ chao đảo
và nảy sinh nhiều mâu thuẫn, đấu tranh nhất vẫn là vấn đề tiền bạc, kinh tế. Đồng
tiền trở thành yếu tố có tính quyết định và ảnh hưởng quan trọng. Trong cơn
xoáy lốc của đồng tiền ấy, nó gạn lọc ra những phẩm cách giữ được phần thiên
lương, và cuốn vào vòng xoáy đầy ma lực của nó những kẻ chỉ biết dùng tiền làm
thước đo giá trị. Do đó, cơn lốc tiền bạc vừa dữ dội, lại cũng vừa cần thiết,
nó như thứ lửa thử vàng, như yếu tố cần thiết để phân chất chất vàng mười và đồng
thau giữa cuộc đời.
Vận may (2006) là hành trình cuộc đời của một gã lưu
manh vật vã trở thành người lương thiện. Ở cuốn tiểu thuyết này, tác giả đã kể
lại toàn bộ cuộc đời của một nhân vật không có tên, xuyên suốt các chặng đường
đời là “nó”, riêng lúc vào tù là “303”. Trải qua nhiều chặng đời bấp bênh chìm
nổi, “nó” đã từ giã con đường của một kẻ lưu manh để trở về con đường chính đạo.
Thực chất, người đọc có thể đoán được con đường đó khi rải rác trong suốt quá
trình lưu manh hóa của nhân vật, người viết đã “lén” gài vào truyện những chi
tiết hé lộ một cội gốc bền chặt của tính thiện trong con người này.
Phá sản (2006) lại là câu chuyện của giới xây dựng với
những mánh mung, chiêu trò rút ruột công trình, kiếm lợi của một bộ phận cá
nhân nắm quyền lực trong tay. Qua đó, tác giả hướng người đọc vào một góc tiếp
cận với nội tình nhiều phức tạp của một trong những lĩnh vực tiêu tốn nhiều
ngân sách nhà nước nhất.
Còn với Ngoài vòng tay của Chúa (2010), anh dựng
nên chân dung người phụ nữ tên Hoa kiên cường, quyết đoán, giàu lòng nhân ái.
Quyết tâm xây dựng một trang trại nấm Linh Chi, Hoa vừa muốn tri ân với những
người đồng đội vào sinh ra tử trong chiến tranh cùng mình, vừa muốn tạo một
cơ sở vật chất để chăm sóc và nuôi dưỡng những đứa trẻ tật nguyền, không cha
không mẹ chị nhận nuôi.
Vài nét phác qua như thế để ta thấy vốn sống phong phú và sức
làm việc rất bền bỉ của tác giả Nguyễn Nhuận Hồng Phương. Trong vòng 8 năm, từ
2003 đến 2010, anh cho ra 8 tác phẩm, trong đó có 5 tiểu thuyết, bên cạnh đó là
2 tập truyện ngắn và 1 tập trường ca. Người ta sẽ chỉ dựng nên được một cái đỉnh
cao trên một nền tảng thật rộng rãi và vững chắc. Nhiều người có thể cho rằng,
số lượng chưa nói lên được nhiều điều, song sự thực, nếu không có một vốn sống
đủ lớn, đủ vững và một tinh thần lao động say mê, miệt mài, chắc chắn, Nguyễn
Nhuận Hồng Phương không thể cho ra mắt độc giả chừng ấy trang sách trong thời
gian không hề dài đó.
Lao động của người viết tiểu thuyết quả là thứ lao động cực
nhọc hơn cả trong các loại hình lao động sáng tạo văn học nghệ thuật. Người làm
thơ có thể không cần có quá nhiều vốn sống, không cần một lý trí vô cùng mạch lạc
và tỉnh táo, nhưng người viết văn, nhất thiết phải có những phẩm chất ấy trong
tư duy. Lẽ dĩ nhiên, về phương diện ngôn ngữ, ta không thể so sánh giữa người
làm thơ và người viết văn, nhưng công bằng mà nói, sự dụng công về câu chữ với
người viết văn lắm khi trở nên nhọc nhằn và thách thức chính ở dung lượng đồ sộ
của thể loại. Với tiểu thuyết, trên một trận đồ hàng nghìn, hàng vạn chữ, viết
thế nào để không lặp lại mình, viết thế nào để cái ngôn ngữ nhân vật mình nói
ra không giống với kiểu nói của nhân vật trong những tác phẩm khác, viết thế
nào để độc giả thấy, đó mới đúng là ngôn ngữ của kiểu người ấy, trong hoàn cảnh
ấy, v.v…, đó là thử thách không đơn giản.
Tôi cho rằng, Nguyễn Nhuận Hồng Phương đã vượt qua được rào cản khó khăn này chính bởi ý thức trau dồi ngôn ngữ rất rõ rệt của anh qua từng chặng đường sáng tác. Xin được minh chứng thế này. Nếu ở cuốn Đồng vọng ngược chiều, cuốn tiểu thuyết đầu tay, ngoài ấn tượng về sự tìm tòi trong lối kể đồng hiện, người ta chưa thực sự chú ý tới văn phong của anh. Nhưng tới những cuốn sau đó, đặc biệt là Vận may và Phố thị, người ta thấy anh hoàn toàn thay đổi, năng lực làm chủ đội quân chữ nghĩa đã ngày càng được nâng lên. Hãy đọc lại khoảng 3 trang đầu tiên của cuốn tiểu thuyết Vận may, bạn sẽ thấy cách miêu tả chân dung một nhân vật với đầy đủ những nét tính cách được bộc lộ qua cách chọn chi tiết miêu tả của người viết kỹ lưỡng như thế nào. Nhân đây cũng phải nói ngay, nếu muốn thử thách bút lực của một người viết về mảng đề tài nào đó để xem mức độ am hiểu của họ, hãy nhờ họ viết ra khoảng hai đến ba trang viết đề cập về vấn đề đó. Chỉ cần phép thử này, bạn sẽ rõ ngay mức độ dày, mỏng, nông, sâu của người viết khi chạm tới một mảng đề tài cụ thể.
Tôi cho rằng, Nguyễn Nhuận Hồng Phương đã vượt qua được rào cản khó khăn này chính bởi ý thức trau dồi ngôn ngữ rất rõ rệt của anh qua từng chặng đường sáng tác. Xin được minh chứng thế này. Nếu ở cuốn Đồng vọng ngược chiều, cuốn tiểu thuyết đầu tay, ngoài ấn tượng về sự tìm tòi trong lối kể đồng hiện, người ta chưa thực sự chú ý tới văn phong của anh. Nhưng tới những cuốn sau đó, đặc biệt là Vận may và Phố thị, người ta thấy anh hoàn toàn thay đổi, năng lực làm chủ đội quân chữ nghĩa đã ngày càng được nâng lên. Hãy đọc lại khoảng 3 trang đầu tiên của cuốn tiểu thuyết Vận may, bạn sẽ thấy cách miêu tả chân dung một nhân vật với đầy đủ những nét tính cách được bộc lộ qua cách chọn chi tiết miêu tả của người viết kỹ lưỡng như thế nào. Nhân đây cũng phải nói ngay, nếu muốn thử thách bút lực của một người viết về mảng đề tài nào đó để xem mức độ am hiểu của họ, hãy nhờ họ viết ra khoảng hai đến ba trang viết đề cập về vấn đề đó. Chỉ cần phép thử này, bạn sẽ rõ ngay mức độ dày, mỏng, nông, sâu của người viết khi chạm tới một mảng đề tài cụ thể.
b. Tính phong phú của ngôn ngữ
Tôi muốn nhấn mạnh nhiều hơn tới vỉa ngôn ngữ đã được Nguyễn
Nhuận Hồng Phương học hỏi và vận dụng thật nhuần nhuyễn trong những mảng đề
tài gai góc của cuộc sống hôm nay: thế giới phù hoa, mưu mô của những kẻ lắm
tiền nhiều của nhưng làm ăn phi pháp, những mánh khóe lọc lừa cướp giật của
nhóm người thuộc xã hội đen, v.v… Nếu để ý, bạn sẽ thấy, trong số khá nhiều tiểu
thuyết được xuất bản thời gian qua, số những tiểu thuyết chạm tới mảng đời sống
hiện đại một cách trực diện và sâu sắc không nhiều. Không phải nhà văn nào
cũng có điều kiện tiếp xúc và sẵn sàng tìm hiểu, giải mã những hiện tượng phức
tạp của cuộc sống hiện đại. Do đó, có thể nói, thoạt tiên, phải nói rằng,
Nguyễn Nhuận Hồng Phương đã dám đi vào những đề tài “gai góc”, đó là mảng đời sống
hiện tại với những phức tạp và nham nhở của thói tục. Sự dày dặn từng trải của
người viết không chỉ thể hiện qua vốn tri thức về đời sống rất thú vị mà chúng
tôi sẽ đi vào điểm qua một số điểm nổi bật trong các tác phẩm cụ thể ngay sau
đây.
Trước hết, nếu xét về khía cạnh ngôn ngữ, theo cá nhân
tôi, Vận may là cuốn thành công hơn cả của tác giả Nguyễn Nhuận Hồng
Phương. Ở tác phẩm này, người viết thể hiện sự từng trải và vốn kiến thức
phong phú, tinh tế về thực trạng xã hội giai đoạn này nên có nhiều trang viết
hóm, gây ấn tượng. Nhiều người sẽ rất nhớ tới chi tiết người viết nói rằng,
thời bao cấp, những gì có vần “ương” đều sướng cả, chẳng hạn như lương thực, thương nghiệp, thương mại,
ngoại thương, công thương rồi đến cả như… thương binh
nữa!
Qua Vận may, người đọc được tiếp cận thế giới xã hội đen
với đủ hạng người và các mánh lới lừa gạt, tráo trở. Theo đó, độc giả thấy thú
vị với kiểu ngôn ngữ của một thế giới riêng tự tạo với nhau, một cách ngầm thừa
nhận vị trí của những kẻ sử dụng thứ ngôn ngữ này trong thế giới riêng của
chúng. Những từ ngữ kiểu như “đập”, “hộp”, “đập vòm”, “nhảy tàu”, “vuốt”, “đè”,
“mõi”, v.v… tạo nên sức sống cho trang văn Nguyễn Nhuận Hồng Phương, dù có thể,
nó gợi người ta nhớ về những trang viết trong Bỉ vỏ của Nguyên Hồng. Người
ta chỉ có thể kỹ về chi tiết khi mạnh về quan sát và giàu có vốn liếng ngôn từ. Đọc
Nguyễn Nhuận Hồng Phương, độc giả sẽ có cảm giác thú vị khi được trải qua những
kinh nghiệm sống không còn quen thuộc hoặc bắt đầu trở nên xa lạ với đời sống
thường nhật. Đó là những trang miêu tả cách chọn bò của người đàn bà trong tiểu
thuyết Phố thị. Là những trang miêu tả các loại gỗ và những kiểu làm nhà,
những trang nói về thú chơi và sự am hiểu về thạch sùng của nhân vật “nó”
trong tiểu thuyết Vận may, v.v…
Trở lại với những trang viết của Nguyễn Nhuận Hồng Phương để
ghi nhận thêm nỗ lực lao động về ngôn ngữ của tác giả, người ta thấy sự dụng
công và tinh thần học hỏi nghiêm túc của anh ở những lúc cần phải bỏ công sức
để trau dồi và bồi đắp thêm về chữ nghĩa cho trang viết. Với Phá sản, tôi
dám chắc, anh phải có một thời gian tìm hiểu khá kỹ về những mánh lới, thủ đoạn
và cả phương thức làm việc, quy trình hành động của các chuyên gia trong lĩnh vực
xây dựng. Với Vận may, ngoài những trang viết khai thác rất mạnh mảng
ngôn ngữ của thế giới ngầm, Nguyễn Nhuận Hồng Phương còn rất trau chuốt ở các
trang nói về những kiểu kiến trúc nhà và cách chọn các loại gỗ khác nhau, trau
chuốt với những trang miêu tả diện mạo nhân vật để qua đó bộc lộ tính cách.
Cũng phải bổ sung thêm ở đây, để có được những trang viết theo kiểu đó, chắc
chắn người viết lại phải tự trang bị thêm cho mình kiến thức về nhân tướng học,
nhân trắc học. Rồi nữa, để có những đoạn văn miêu tả cách chọn bò của người
đàn bà trong tiểu thuyết Phố thị, tôi đồ rằng anh cũng đã phải hỏi chuyện
không ít những người sành sỏi trong lĩnh vực buôn bán trâu bò ở thôn quê. Và
những trang viết về chiến tranh trong tiểu thuyết Ngoài vòng tay của Chúa rõ
ràng đã tạo được không khí rất riêng và không hề giả tạo trong cảm giác
người đọc.
2. Cắt nghĩa thế mạnh ngôn ngữ của Nguyễn Nhuận Hồng Phương
a. Trải nghiệm sống
Trước khi trụ lại khá lâu với nghề thợ hàn, Nguyễn Nhuận Hồng
Phương từng bôn ba trong khá nhiều công việc như nấu ăn, lái xe tải, lái xe
khách, lái tàu thủy. Nghe qua có thể thấy, đó toàn là những công việc sẽ phải
tiếp xúc và phục vụ với quảng đại quần chúng trong một không gian rộng và nhiều
thay đổi. Chắc chắn, môi trường của những công việc đã kinh qua đó đã là những
“trường dạy ngôn ngữ” vô cùng phong phú cho Nguyễn Nhuận Hồng Phương.
Nhà thơ Nguyễn Duy từng chia sẻ quan điểm của ông về việc có
người bảo rằng, nhà thơ là người sáng tạo ra ngôn ngữ. Tác giả của Tre Việt
Nam khẳng định, chẳng nhà thơ nào sáng tạo ra ngôn ngữ cả, họ chỉ làm một
việc khổ công hơn những người bình thường khác là đi lượm lặt, gom nhặt những
ngôn ngữ trong đời sống hàng ngày, từ đó chắt lọc, trau chuốt và chọn lựa sử dụng
sao cho phù hợp. Với trường hợp của Nguyễn Nhuận Hồng Phương, việc tích lũy và
trau chuốt vốn ngôn từ có lẽ cũng đến từ những năm tháng anh lăn lộn kiếm sống,
tiếp xúc với đủ hạng người ở mọi giai tầng xã hội.
b. Đọc sách
Lẽ dĩ nhiên, người viết nào muốn đi dài, đi xa cũng phải trải
qua công đoạn đọc tác phẩm của những người đi trước. Nguyễn Nhuận Hồng Phương
là người chịu học, chịu đọc, anh sẽ không viết khi chưa thực sự nắm rõ về một vấn
đề gì, ngay cả chỉ là những trang miêu tả cách chọn bò của người nông dân.
c. Viết liên tục như một sự rèn luyện ngôn ngữ
Nhìn vào thời điểm bắt đầu bước vào làng văn của Nguyễn Nhuận
Hồng Phương, những điểm mốc đáng chú ý như giải thưởng của Liên hiệp các Hội
VHNT Việt Nam, giải thưởng của Hội VHNT tỉnh Vĩnh Phúc, giải thưởng của ngành
công an, trở thành hội viên hội nhà văn Việt Nam, v.v… không thể không ghi nhận
nỗ lực lao động và sáng tạo không ngừng của cây bút này. Tôi cho rằng, việc
liên tục viết, liên tục có những sáng tác mới đòi hỏi phải vận hành những cốt
truyện khác, những diễn tiến không giống nhau của đời sống các nhân vật
trong từng bối cảnh sống khác nhau đã buộc Nguyễn Nhuận Hồng Phương phải lao động
nhọc nhằn trên cánh đồng chữ nghĩa. Và dĩ nhiên, dao có mài có sắc, việc sáng tạo
thường xuyên này đã buộc anh phải mài giũa năng lực sử dụng ngôn ngữ của mình.
d. Không chịu lặp lại mình
Khi nhà văn đã có thể viết tới 5 cuốn tiểu thuyết mà không thấy
có sự lặp lại của chính họ trong 5 tác phẩm ấy thì ta có thể khẳng định một
cách tin tưởng, nhà văn ấy sẽ đủ nghị lực và trữ lượng vốn sống để tiếp tục làm
mới mình trong các cuốn sách khác. Việc lặp lại mình, dù chỉ là vô ý, vẫn là
hấp lực khá mạnh với những cây bút thiếu thốn trải nghiệm và vốn sống, thiếu một
bề dày ngôn ngữ cần thiết. Chúng tôi cho rằng, ngay từ ý thức không chịu lặp lại
này, Nguyễn Nhuận Hồng Phương đã xác lập cho mình những cái đích cần phải vượt
qua để trong mỗi tác phẩm, anh lại thách thức mình bằng một trường ngôn ngữ mới
liên quan tới bối cảnh sống và hoạt động của các nhân vật chính. Do đó, nếu
nói một cách tổng quát, 5 cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Nhuận Hồng Phương đều đề
cập tới những vấn đề đang diễn ra của đời sống hôm nay. Nhưng nếu chẻ nhỏ hơn
ra, mỗi cuốn sách lại là những lát cắt riêng và trọn vẹn về một mảng hiện thực
được quan sát khá cận cảnh và kỹ lưỡng.
3. Một vài ý kiến bổ sung
Ngôn ngữ phong phú, sinh động là ưu điểm nổi bật khi độc giả
tiếp cận với tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Nhuận Hồng Phương. Nhưng đôi khi,
sự chông chênh giữa ngôn ngữ văn chương và ngôn ngữ báo chí là điều còn khiến
độc giả ngần ngại. Ranh giới ở đây rất mỏng và mờ. Chúng tôi cho rằng, đã có
lúc, người đọc nhận ra sự sa đà, thiếu chăm chút về mặt chất văn trong ngôn ngữ
của Nguyễn Nhuận Hồng Phương. Có phải vì lẽ ấy mà đã có những độc giả cho rằng,
Nguyễn Nhuận Hồng Phương viết tiểu thuyết có nhiều chất báo chí. Trên thực tế,
đã từng có khá nhiều trường hợp tác giả đã tỏ ra chông chênh trên ranh giới
ngôn ngữ mà chúng tôi đề cập. Xin chỉ ra một vài ví dụ, đó là Nguyễn Bắc Sơn,
là Đỗ Ngọc Yên, là Tô Đức Chiêu, là Phạm Ngọc Chiểu, là Phùng Kim Trọng, v.v…
Đôi khi mong muốn viết nhanh, viết nhiều cũng sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ tới sự
kỳ công của người viết trong quá trình lựa chọn ngôn từ. Ở một số trang viết của
nhà văn Nguyễn Nhuận Hồng Phương, chúng tôi thiết nghĩ, nên cảnh báo anh về điều
đó.
D.K.T
B- MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU
PHÁ SẢN
(Trích Tiểu thuyết)
24.
Hành động mang tài sản cá nhân thế chấp vào ngân hàng để lấy
tiền lo công việc của Công ty được coi là sự hy sinh cao cả. Nhớ hôm họp bàn
tìm cách tháo gỡ khó khăn, khi nghe Duyên và Trần Búp phát biểu, ông Bí thư
suýt khóc, nước mắt nhòe nhoẹt làm ông không nhìn rõ những khuôn mặt ngồi quanh
bàn. Ông cảm tưởng như ngày mình còn trong quân ngũ, khi đứng trước các chiến
sĩ lái xe tuyên thệ vượt ngầm thời chiến tranh ở rừng núi Trường Sơn.
Mặc dù mặt trận kinh tế không có bom đạn hay chết choc, nhưng
giải pháp của hai người giữa lúc Công ty đang lâm vào thế bí cùng đường làm Bí
thư xúc động. Thế có nghĩa là tự cứu lấy mình! Ông nhủ vậy. CHuyển nghị quyết
thành hành động cụ thể là thể hiện sự đoàn kết nhất trí cao và tinh thần trách
nhiệm của người đảng viên lãnh đạo trong công ty.
Trưa nay, Bí thư ngồi nán lại rà soát tất cả kế hoạch chuẩn bị
cho buổi lễ. Bí thư mở ngăn kéo, lấy chiếc hộp đựng Huân chương và tấm Bằng
công nhận ra: Mặt kính lấp lóe, Bí thư có cảm tưởng những lá cờ đang bay phất
phới, hàng trăm tia sáng phát hào quang rực rỡ, chói lọi. Nâng tấm Huân chương
trên tay, nước mắt Bí thư rưng rưng. Đây là công lao của toàn thể an hem công
nhân lao động trong Công ty. Thành tích vẫn phải ghi nhận, phải ăn mừng… Còn một
tồn tại? Đó là quy luật muôn đời trong sự vận động của xã hội. Và, Bí thư tin.
Tin vào trách nhiệm của những con người xung quanh mình…
Chợt có tiếng hỏi:
- Anh vẫn còn ở đây à?
Bí thư giật mình, suýt đánh rơi tấm Huân chương, ông ngẩng
lên:
- Anh Búp đấy à? Tôi đang xem lại công việc một chút!
Trần Búp đẩy cửa vào, ngồi xuống ghế. Bí thư cất Bằng và tấm
Huân chương vào ngăn kéo rồi lấy ấm đổ bã chè. Trần Búp ngăn lại:
Anh cho tôi xin cốc nước sôi để nguội, uống nhiều nước chè
căng thẳng lắm!
Bí thư rót nước mời Trần Búp:
- Anh uống nước! - Rồi hỏi - Dạo này anh sinh hoạt ra sao?
Trần Búp nhấp một ngụm:
- Thì cứ nhì nhằng, sáng ăn phở, trưa ở lại thì ra quán cơm bụi,
chiều về nhà, sớm thì nấu, muộn thì mì ăn liền
- Anh sinh hoạt thế mãi sao được? - Bí thư ái ngại - Thôi, vợ
chồng chín bỏ làm mười. Anh xem thế nào, chứ dạo này tôi trông anh sút quá! Nhà
thiếu đàn bà, vất lắm!
Trần Búp nói:
- Nhà tôi khó bảo lắm! cô ấy không về đâu. Còn đang đòi chuyển
khẩu về Hà Nội.
- Thế còn các cháu?
- Một đứa chuẩn bị cuối năm nay thi đại học, một đứa lớp mười.
- Trần Búp trả lời. - Dạo này bận học nên chúng cũng ít về.
- Hay là để tôi xuống gặp chị? Đằng nào hôm này vẫn phải xuống
mời chị về cơ quan dự lễ đón Huân chương kia mà! Xuống đấy tôi sẽ lựa…
- Thôi thôi thôi… - Trần Búp ngắn lời - Cảm ơn anh, để xem thế
nào hẵng! Tôi đang lo không biết cô ấy có đồng ý cho tôi mang nhà ra thế chấp
không? Sợ về Công ty lại làm ầm ĩ lên thì dở hết việc.
- Chết! Thế ra anh chưa nói cho chị nhà biết à? Thế sao được!
Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn. Nếu không có chữ ký của chị, làm
sao ngân hàng cho lấy tiền?
- Thì lúc cô Duyên đề xuất ý kiến ấy ra, tôi cũng bột phát
nói. Xong, nghĩ lại mới thất rầy rà. Ý thì đúng, nhưng bây giờ làm thế nào bảo
cô ấy ký vào tờ khế ước thế chấp mới là quan trọng.
Bí thư đuỗi mặt, không ngờ từ lời nói đến việc thực hiện lại
gặp muôn ngàn cách trở. Nếu không lấy được chữ ký của Lài có nghĩa là không có
tiền. Ông rất tiếc mình không có gì đáng giá để mang ra thế chấp. Gia đình ông
sống ven bãi song Hồng, lo ăn, lo mặc quanh năm. Mọi chi tiêu nhìn vào đồng
lương chức vụ. Nhưng để mang ra thế chấp, cái đáng giá nhất tài sản cá nhân của
ông có, đó là cái xe Bletta tính ra không được nổi triệu bạc. Ông buông tiếng
thở dài.
Trần Búp phá tan sự im lặng:
- Thôi, hôm nay anh ở lại đi ăn cơm bụi với tôi
Không từ chối, Bí thư đứng dậy xếp sắp giấy tờ trên bàn rồi
khóa cửa lại. Ông biết Giám đốc đang có tâm sự. Rất ít khi ông thấy Trần Búp tỏ
ra là người yếu mềm. Từ lâu, ông coi Trần Búp là mẫu người của công việc - mạnh
mẽ, quyết đoán và chủ động. Lối lãnh đạo có tác phong gần giống với người sĩ
quan chỉ huy trong quân đội làm ông cảm phục.
Hai người đến một quan cơm gần cơ quan. Chủ quán là một người
đàn bà to béo, mắt trông như người bị mắc bệnh sụp mi, long mày xăm đen đậm,
cong hình cánh cung, mí mầu nâu, khi nói, mắt chớp chớp y như bà mối trong lớp
diễn của các vở tuồng cổ. Thấy hai người vào, bà đon đả:
- Hôm nay lại có cả Bí thư đến thăm hàng em. Thế này thì mai
có nhẽ em phải thuê thêm đầu bếp?
- Cho chúng tôi ăn trên gác! - Trần Búp đề nghị.
Thấy nét mặt khó đăm đăm của Trần Búp, bà im bặt, hất hàm ra
hiệu cho con bé trạc tuổi mười ba đứng cạnh. Đứa bé làm thuê nhanh nhảu:
- Các ông theo cháu!
Nói rồi nó dẫn hai người lên thang gác. Căn gác xép hẹp, tường
trần đen như sơn hắc ín, bồ hóng bám vào lưới nhện dăng, dủ xuống gần chạm mặt.
Lên đến nơi, đứa bé hỏi:
- Hai ông ăn bàn hay ăn chiếu?
Bí thư bật cười vì câu hỏi thiếu bổ ngữ của nó:
- Cháu phải hỏi: - Các bác ngồi ăn ở bàn hay ngồi ăn ở chiếu
để cháu chuẩn bị, chứ sao lại hỏi vậy? - Ông bảo đứa bé - Cho hai bác ngồi chiếu!
Con bé xấu hổ đỏ mặt, kéo chiếc chiếu vắt trên mắc xuống trải.
Bà chủ quán ló đầu lên:
- Vẫn ăn như mọi khi chứ Bác Búp?
- Ăn thì để sau, chặt cái gì cho chúng tôi uống rượu trước.
- Bia hơi vừa mới đem về đấy! Các bác uống bảo em! - Bà chủ
quán vừa đi xuống thang gác vừa nói.
- Lấy rượu cho bác! - Trần Búp bảo đứa bé.
Thấy Trần Búp chỉ uống không gắp thức ăn, Bí thư khuyên:
- Anh vừa ăn vừa uống! Uống thế hại dạ dày lắm. - Ông gắp
thưc ăn vào bát của Trần Búp.
- Cảm ơn anh. Tôi không thấy đói! Mà cũng chẳng hiểu tại sao
dại này tôi ăn không thấy ngon?
- Anh có tâm sự gì cứ nói với tôi. Tôi chả có năng lực kinh
doanh nhưng biết đâu trong cuộc sống tôi có thể góp ý được đôi điều.
Từ ngày thành lập Công ty, người Trần Búp tin nhất là Bí thư.
Nhưng tin là một chuyện còn làm kinh tế lại là chuyện khác. Trong kinh doanh,
không có chỗ cho lòng tốt đứng. Lòng tốt chỉ có thể làm công việc từ thiện,
lòng tốt mang sự sáng láng của tính nhân đạo; cho người ta tin vào một lý tưởng
cao cả, thuần khiết. Nhưng, để thực hiện lý tưởng, người ta không đem nhân đạo
để làm công việc kinh doanh. Kinh doanh là phạm trù độc lập, khô cứng và chai
lì. Những người thực hành kinh doanh thường là những kẻ có máu lạnh. Trần Búp
là người có máu lạnh 100%. Ông dựa vào Bí thư để giảm “nồng độ” lạnh cho trái
tim mình. Bí thư là người nhân đạo. Ông không có óc kinh doanh, không biết đọc
hàm số; đồ thị; ma trận hay không biết một tí tị tì tị nào những thuật ngữ như:
tỷ giá; tìa khoản; giá trị thặng dư hay thừa đoái, hối đoái gì. Nhưng ông có một
quả tim nhân đạo nóng hổi, nhiệt tình, năng nổ. Ông làm vượt khả năng một con
người Cộng sản. Bí thư có cái “thừa” mà Trần Búp thiếu; ngược lại, Bí thư “thiếu”
cái mà Trần Búp có thừa.
Nhưng, điều nghịch lý xảy ra khi sử dụng và hỗ trợ nhau trong
sự “thiếu - thùa” đó! Trần Búp không mang kiến thức và “phép màu” trong công việc
của mình để biến cải cái “thiếu” của Bí thư, lại có thể nhận vào mình hoặc dùng
cái “thừa” của Bí thư để làm chỗ dựa cho công việc kinh doanh và lãnh đạo của
mình.
Trần Búp nói:
- Tôi và anh công tác với nhau gần chục năm rồi, tính tình của
tôi thế nào chắc anh hiểu! Cho tới hôm nay, không nói anh cũng rõ: Công ty ta
đang đứng trước nguy cơ bị phá sản. Nếu không có công trình, không giải quyết được
công ăn việc làm cho an hem, tình trạng này kéo dào thêm ít ngày nữa, tôi e khó
mà trụ vững được. Tôi đang tìm cách tháo gỡ. Nhưng muốn được việc thì phải có
tiền. Cái khó của tôi lại nằm ở tròn tay vợ mình. Giá mà cô ấy hiểu và cảm
thông thì khác, đằng này, từ ngày cô ấy về Hà Nội càng tệ hại hơn.
- Anh xuống cũng vậy thôi! - Trần Búp nói - Tôi biết tính nhà
tôi: đã dốt nát lại bảo thủ. Thích làm khổ chồng khổ con.
- Nếu khó quá thì thôi vậy! Ta sẽ tìm cách khác. - Bí thư
nói.
Trần Búp tựa lưng vào tường, chân duỗi dài, mắt ngước nhìn
con nhện đang kéo tơ trên trần nhà. Lạ thế nhỉ. Khoảng trần hẹp tí teo mà có
hàng chục con nhện đang thi nhau dệt lưới. Ở sát góc, giữa mảng tơ căng chéo, một
chú ruồi bị sa lưới, đang cố sức giãy giụa, con nhện màu vàng óng chạy loanh
quanh, từ đít nó, sợi to mảnh mai tuồn ra. Con ruồi giãy, đạp, sợi tơ rách; con
nhện ra sức đan, vá cho sợi tơ trùm lên con mồi. Quy luật sinh tồn! Trần Búp chặc
lưỡi, bâng khuâng không hiểu mình đang đứng ở hoàn cảnh con nhện hay con ruồi?
- Anh bảo tôi có cách gì làm khác? - Trần Búp nói - Không có
cách gì khác hơn bây giờ là phải có tiền. Có tiền tôi sẽ lật ngược thế cờ. Tôi
sẽ tìm được lối đi cho mình. Tôi không muốn người cười vào mũi tôi, bảo tôi là
thằng hèn, là kẻ nhổ rồi lại liếm! Tôi có thể hạ mình, nhưng tôi không chịu nhục
được.
- Trong công tác, anh có điều gì phiền trách tôi không? - Bí
thư hỏi.
- Không! Trong cuộc sống, về tuổi đời, tôi luôn coi anh là
người anh; trong công việc, tôi coi anh là người anh tinh thần. Khi quyết đáp
công việc cơ quan, tôi có anh bên cạnh, khích lệ, đông viên. Nhưng… - Trần Búp
ngập ngừng.
Bí thư giục:
- Anh cứ mạnh dạn nói ra đi!
- Vâng! Tôi sẽ nói! Những ngày gần đây tôi nghĩ nhiều. Khi mà
những người trước đây luôn quanh quẩn bên tôi, nay họ xa rời tôi. Thậm chí có kẻ
còn nói xấu tôi. Tôi không trách họ. Khi tôi có, họ đến xin là chuyện bình thường.
Nay, tôi hết, họ xa lánh tôi, âu đó cũng là chuyện đương nhiên. Họ không thể
bám vào một vị Giám đốc đang đứng trên bờ vực thẳm. Họ phải tìm con đường riêng
cho mình. Ngay cả những đứa em của tôi cũng vậy! Tôi đưa chúng về, giao công
giao việc. Nhưng khi thấy tôi thế này, chúng cũng lảng ra. Vợ đi đàng vợ, con
đi đàng con. Biết mà cứ như gà mắc tóc, như ruồi sa lưới nhện - Trần Búp ngước
nhìn lên góc nhà - Nhân tình thế thái mà anh! Cũng may tôi còn có anh bên cạnh
- Giọng Trần Búp trầm hẳn xuống - Nhưng anh chỉ có tinh thần. Mà tinh thần chỉ
là sự cổ động, sự cổ động cho những hành động chứ không ngăn ngừa sự thái quá của
những hành vi… - Trần Búp chợt dừng lời, ông chăm chú nhìn: Trên mạng lưới, con
ruồi vẫn còn giãy giụa, nhưng sức nó yếu dầu; con nhện bò lại, chăng thêm những
sợi tơ lên người con ruồi cho chắc chắn.
Bí thư hiểu Trần Búp muốn nói gì. Ông không thanh minh. Những
điều bức xức trong lòng Trần Búp là sự tự ái của một con người đang có quyền lực
nay bị thất thế. Ông nói:
- Anh nói vậy, tôi cũng mạnh dạn đưa ra ý kiến của mình. Nói
với anh điều này, anh đừng cho tôi là thanh minh. Tôi tự xét thấy năng lực chuyện
môn mình không có. Nhiều khi tôi ân hận, biết thế ngay từ hồi mới về, anh cho
tôi đi học một lớp nghiệp vụ ngắn hạn thì có lẽ tôi giúp được anh nhiều hơn.
Nhưng bây giờ có nói thì cũng muộn rồi. Cái gì đã qua thì đã qua! Hôm nay, Công
ty gặp khó khăn, có thể còn đổ vỡ! Ngoài điều kiện khách quan ra, tôi thấy mình
cũng có trách nhiệm một phần. Tôi là người lãnh đạo chủ trương, đường lối, dựa
vào các nghị quyết, dựa vào các chỉ thị. Nhưng đối với tôi, nhiều khi nó rối rắm,
như một mớ bòng bong, không cụ thể, không chi tiết. Nói anh thông cảm: Tất cả
chỉ là phương hướng, thiếu cụ thể hóa. Tôi là người chỉ tay, hướng mọi người
xông lên. Khi còn trong quân đội. tôi chỉ tay về phía tọa độ cần vượt qua, tôi
có đích! Tôi hô: “Các đồng chí! Tiến lên!”, những chiến sĩ của tôi dũng mãnh cưỡi
lên bom đạn mà xốc tới. Nhưng ở nơi chiến trường không tiếng sung này, tôi thấy
mình như bị ngợp. Tôi chỉ biết lấy tinh thần và lòng nhiệt tình của mình mang
ra. Nếu anh có trách, tôi cũng đành chịu.
- Tôi đâu có trách, mà tôi đang muốn giãi bầy tâm sự của mình
với anh. - Trần Búp thanh minh.
- Đúng! Anh không trách tôi, nhưng tôi muốn nói để chúng ta cảm
thông với nhau. Anh Búp ạ! Bình thường ra, khi cuộc sống thuận chiều mát mái,
không ai nghĩ đến sự thất bại. Không ai nghĩ, chỉ cách đây gần mười năm, sự sôi
động của Công ty này như thủy triều dâng, như con diều gặp gió chao liệng trên
không. Lãnh đạo hoan hỷ, công nhân hồ hởi. Tấc cả như các chiến sĩ trên mặt trận.
Luồng gió mới thổi vào tâm hồn họ lồng lộng. Họ biết họ làm trước hết cho chính
họ. Họ muốn bứt khỏi sự ràng buộc của rách rưới, bần hàn. Họ muốn được hưởng gì
do công sức họ bỏ ra và khả năng của họ làm được. Nhưng giờ đây, tất cả như
chưa có. Hàng ngày, quanh quẩn tôi và anh, nhân viên nhìn thấy thủ trưởng chào
lấy lệ. Xe, máy nằm im như những vật vô dụng. Cán bộ công nhân viên nghỉ không
lương để tự đi tìm công việc. Tôi đã gặp những chiến sĩ thi đua, những cá nhân
tiên tiến, những người lao động bình thường của Công ty ra chợ, ngồi đầu đường
buôn thúng bán mẹt; Gặp tôi, mọi người hỏi: “Bao giờ Công ty mình có việc hả
bác?”. Tôi không biết trả lời sao? Và, bao giờ thì chúng ta có thể trả lời cho
họ? Thế thì tại sao lại thế hả anh Búp? - Đột nhiên Bí thư cao giọng - Tôi thấy
mình là kẻ có tội. Một kẻ chỉ biết nói thao thao bất tuyệt, lấy lý thuyết, đường
lối làm bút chì mầu tô đậm bức tranh siêu thực. Nhiều khi tôi muốn chạy trốn khỏi
tội lỗi ấy. Nhưng tôi không làm được! Tôi không muốn làm kẻ phản bội. Nếu giữa
lúc này tôi xin nghỉ chế độ, long tôi sẽ bị day dứt, bị dày vò cho tới khi chết.
Nhưng nếu cứ tiếp tục ở lại…
Bì thư dừng lại không nói nữa. Ông nhấc chén rượu nhấp một ngụm,
mặt nhăn lại như uống phải vị chát đắng. Trần Búp biết rõ Bí thư đang xúc động
mạnh. Nhổm lên, ngồi ngay ngắn lại, ông nói:
- Anh chưa về được! Tôi còn làm Giám đốc ở cái Công ty này
thì anh phải ở! Tôi chưa bao giờ biết đầu hàng ai cả. Nhưng thôi, chúng ta hãy
quay về thực tế: Bây giờ cái khó nhất của tôi là làm sao cho vợ tôi lý vào giấy
tờ thế chấp.
- Hay là anh đưa giấy tờ cho tôi xuống?
- Anh xuống không được! - Trần Búp lắc đầu. Hiện tại, chỉ có
một người có thể bảo được với nhà tôi nghe thôi. Nhưng, nếu vậy, chẳng hóa tôi
là thằng hèn đến thế sao?
- Đấy là ai? - Bí thư hỏi.
- Cậu Mã!
- Sao? - Bí thư sửng sốt - Cậu Mã đội trưởng ấy à?
- Đúng! Giờ đây, chỉ có cậu ta có thể làm cho vợ tôi ký vào
giấy tờ tôi đang cần mà thôi.
- Tại sao lại thế hả anh Búp?
- Đối với vợ tôi, đã từ lâu, cô ta coi cậu Mã là người duy nhất
đúng! Mọi việc nhất nhất cô ấy đều nghe theo. Tôi không hiểu sao lại vậy?
- Liệu trong đó…
- Không! - Trần Búp gạt phắt - Không thể có chuyện thế được!
Hai người cách nhau gần hai chục tuổi. Tôi cho rằng: vì sợ tôi giải tán đội xây
dựng của cậu ta nên cậu ta muốn nhờ vợ tôi ép tôi phải nhượng bộ.
- Chính vì thế nên cô Duyên không đồng ý việc anh chấp nhận
cho đội cậu ta kéo dài nợ? - Bí thư hỏi.
- Đấy cũng là tình thế bắt buộc. Vợ tôi dọa tôi, nếu không đồng
ý sẽ về làm ầm ĩ ở Công ty.
- Thế bây giờ anh định sao?
- Tôi muốn anh gặp riêng cậu ta, anh khuyên cậu ta bảo với vợ
tôi ký giấy thế chấp.
- Liệu thế có được không? - Bí thư băn khoăn.
- Được! Nếu Mã đồng ý, chắc hắn sẽ đưa ra những điều kiện của
hắn. Anh nhận lời hứa về xem xét rồi trả lời sau.
- Sao lại đến nông nỗi ấy hả anh Búp? - Bí thư nói, giọng lạc
hẳn.
Trần Búp ngửa cổ dốc nốt chén rượu:
- Phải vậy mà anh.
Trên tấm lưới nhện ở góc tường. Con ruồi đã bị tơ bao kín.
Con nhện nằm duỗi dài chân bất động. Nó nghỉ giải lao chào cái thay chín nục
trước khi thưởng thức.
25.
Hoạt cứ ca cẩm mãi với Duyên vì mấy cha địa chính xã nì nèo
đòi thêm hai chục triệu nữa. Hoạt nói:
- Cái thẹo “chó ỉa” ấy, vợ chồng cái Duyên nó “kết”, chứ nếu
là tôi, tôi có thèm vào. Đổ bao nhiêu xe đất mới đầy? Đóng bao nhiêu cọc bê
tông mới xong chân móng?
Nhưng ai ngờ, thẻo đất “chó ỉa”, “toàn hồ, những ao”, Hoạt
không hiểu tại sao Duyên cố kết thuê lấy bằng được bây giờ lại có giá. Đang
trên đường đi, nhận được điện, Duyên bảo người lái xe:
- Anh cho em về văn phòng anh Quân.
- Người lái cho xe vòng lại. Khi qua chỗ có mảnh đất vừa thuê,
Duyên chột dạ vì nhìn thấy mấy người Đài Loan và mấy cán bộ ở huyện Phúc Hòa đứng
đấy, tay chỉ chỉ trỏ trỏ. Người lái xe nói với Duyên:
- Hôm qua tôi nghe cậu lái xe cho Chủ tịch huyện nói: phía
Đài Loan gửi thông báo không đồng ý cho ai thuê mảnh đất này.
- Anh có biết họ nói vì sao không?
- Thấy bảo vì lý do an ninh cho nhà máy của họ.
- Lạ thật đấy! Thế họ lấy quyền gì mà áp đặt như vậy? Thảo
nào, Quân điện cho tôi phải về ngay.
- Nếu bận, ngày mai anh lên cũng được. Việc này tôi giao toàn
bộ cho anh… Vâng! Giấy tờ anh Hoạt vừa bàn giao cho tôi chiều hôm qua… Vâng,
mang tên chồng tôi; hợp đồng bốn mươi chín năm. Thủ tục xong rồi… Nhưng tôi muốn
anh xe lại cho chắc… Thôi, thế này nhé! Đột nhiên Duyên thay đổi ý định, lật
tay xem đồng hồ 0 Anh cứ chờ ở nhà, khoảng hơn tiếng nữa tôi và anh Quân đem
toàn bộ giấy tờ xuống cho anh xem - Duyên tắt máy, quay lại nói với chồng Đi
Hà Nội với em.
- Có cần vội thế không? - Quân hỏi.
- Cần chứ anh! Bỏ bao nhiêu tiền ra chứ có phải xin không
đâu. - Duyên quay sang bảo lái xe - Anh cho vợ chồng em xuống nhà Luật sư.
Khi xe đi qua chỗ đất, Duyên và mọi người vẫn thấy mọi người
đứng ở đấy. Duyên thoáng thấy Hoạt đứng đó, cô cau mày, nỗi bức xúc trở thành
tiếng:
- Tại sao anh Hoạt lại có mặt ở đấy nhỉ?
Quân nhìn vợ:
- Chỉ được cái đa nghi! Lúc nãy em chưa về, anh bảo anh ấy xuống
xã xem binh tình thế nào đấy.
Duyên hiểu ra, cười bẽn lẽn:
- Thế sao anh không nói với em trước. Thời buổi cơ chế thị
trường, vì tiền lòng người dễ đổi thay lắm. Để em gọi điện cho anh Hoạt xem sự
thể thế nào? - Nói rồi, Duyên bấm máy - A lô… Anh Hoạt à? Tình hình thế nào?...
Rồi… Rồi… Rồi… Có gì anh nhớ điện cho em, bây giờ em và Quân xuống chỗ Luật sư
đây. Được! Em sẽ nói với anh Quân… Vần, cứ thế nhé! Em chào anh! - Duyên tắt
mát quay sang Quân - Tối nay về, anh chuyển cho anh Hoạt thêm ba chục triệu nữa
cho em.
- Sao mà chuyển lắm thế? - Quân hỏi.
- Cái giá mà phía nước ngoài trả còn cao hơn giá mình trả nhiều.
Nhưng cái quan trọng là giấy tờ đã mang tên mình rồi. Nếu họ muốn mảnh đất ấy, ắt
phải đến gặp mình.
Xuống tới nhà, Luật sư xem giấy tờ, cười ha hả:
- Vợ chồng ông bà ăn khoa được rồi. Tôi vừa điện cho anh bạn ở
đoàn Luật sư tỉnh. Tụi Đài Loan ngỡ dân Việt Nam ngu. Bọn họ nghĩ nơi
ấy ao sâu hồ rộng, những hủm là hủm, người Việt sợ mất nhiều công, không dám nhẩy
vào đấy. Định ép thấp để thuê, nhưng khi biết tin tình báo kinh tế thì mảnh đất
đã trong tay ông bà rồi. Xin chúc mừng! Nhanh hơn nhau có đúng một ngày.
- Đâu! Hoạt nó mới đưa giấy tờ cho tôi chiều qua.
- Đúng hai mươi bốn giờ! - Luật sư cười - Tin của tôi chính
xác. Phải nói là cậu Hoạt nhanh trí. Nếu chần chừ đến hôm nay chắc ông Quân sẽ
nhận được quyết định hủy bỏ hợp đồng của tỉnh và có giấy mời lên nhận lại tiền.
Duyên nhìn người Luật sư, hỏi:
- Mình chắc không bị lật chứ anh?
- Bây giờ tùy thuộc vào ông bà. Phía bên nước ngoài chắc chắn
sẽ ép tỉnh yêu sách bắt phải giải quyết. Nếu vì công việc làm ăn và quan hệ lâu
dài thì ông bà trả. Nhưng tôi nói trước: Phải có giá! Còn nếu không, dẫu tài
thánh cũng không ai lấy được. Nếu phải hầu tòa, tôi xin bảo đảm.
- Không hiểu đất thuê lắm thế rồi mà sao chúng nó vẫn còn
tham? - Quân hỏi.
Luật sư cười, cái cười pha chút diễu cợt;
- Mình ở địa vị họ mình còn tham bằng mấy ấy chứ! Thế sao ông
bà có bao nhiêu đất rồi còn muốn thuê thêm?
Duyên đỡ lời cho chồng:
- Có gì thì anh giúp chúng em. Thôi, mấy khi an hem mình có dịp
gặp nhau thế này. Vợ chồng em muốn khao anh.
- Xin cảm ơn! Xin cảm ơn! Hôm nay tôi bận. Xin hẹn để khi
khác.
- Thế mai anh có lên không? - Quân hỏi.
- Lê chứ! Hợp đồng giao kèo ký với ông Quân viết thế nào tôi
thực hiện đúng vậy! Nghề luật dư trước hết phải biết làm đúng luật! Nhưng bài học
tôi giao, ông thuộc chưa?
Quân đỏ mặt như chú bé học sinh bị thầy giáo truy bài. Thấy vậy,
Duyên nói:
- Hôm nọ còn giải thích cho em về luật thuế doanh nghiệp đấy
anh ạ!
- Phải học! Đành rằng nhiều người không học vẫn làm được.
Thâm chí họ còn được nắm những cương bị trọng trách trong xã hội. Nhưng có học
vẫn có hơn - Sắc mặt Luật sư trở nên nghiêm trang - Tôi được nghe Hoạt hết lời
xa ngời về các bạn! Vợ chồng các bạn có chí tiến thủ, giờ đây lại có điều kiện
để phát triển. Chẳng lẽ chúng ta cứ thụt lùi mãi ư? Đất nước này đâu phải của họ.
Tại sao người nước ngoài làm được mà mình không làm được? Lòng tự tôn, tự trọng
của dân tộc đâu rồi? Tôi maong được làm cố vấn luật cho những doanh nhân, những
Giám đốc có tài, có đức. Nhận tiền công của các bạn mà không phải hổ thẹn với
lương tâm mình…
Cho tới khi Duyên đưa Quân và người lá xe vào ngồi ăn ở một
nhà hàng mà lời nói của người Luật sư vẫn luẩn quẩn trong tâm trí anh. Quân như
bừng tỉnh. Người Luật sư không nói điều cao sang, khó hiểu, Câu nói giản dị đầy
khích lệ. Đúng! Nếu con người không có lòng tự trọng sẽ không làm chủ được
chính mình. Và, nếu có nhiều người như vậy tức là làm chủ đất nước. Vai trò cá
nhân không tách rời vai trò lịch sử đất nước. Nếu không, trước đây anh cầm sung
đi chiến đấu với mục đích gì. Nếu không phải vì ngày hôm nay? Bài học giản dơn
vậy mà đến gây giờ Quân mới hiểu. Duyên nhìn chồng lạ lung:
- Anh Quân không uống à? Anh sao vậy?
Quân cười, nụ cười rạng rỡ. Đã lâu, Duyên mới lại tìm thấy
cái lúm đồng điền trên má chồng mình. Nếu không có người lái xe ngồi đấy, thể
nào cô cũng sẽ áp đôi môi nóng hổi của mình lên đó, rồi dùng răng cắn một cái
thật nhẹ.. Quân nâng cốc:
- Giáo sư giảng trăm bài không bằng một câu hiền triết dạy!
Em có biết không? Kỳ này về, anh sẽ học vi tính. - Nói xong Quân bảo Duyên - Em
cho anh mượn máy di động.
- Thế máy của anh đâu? - Duyên hỏi.
- Anh đưa cho con rồi.
- Anh chiều nó quá đấy! - Duyên trách.
Quân như không để ý tới lời nói của vợ, anh bấm máy:
- A lô… Con đấy à?... Ù! Bố đi cùng mẹ… đang ở Hà Nội… Sao?
Quà hả?... Được, chốc nữa bố sẽ mua cho. Lớn tướng, sắp lấy vợ rồi còn nhõng nhẽo…
Ăn cơm xong phải đi ngủ nghe chưa?... Được rồi, bố sẽ nói lại với mẹ.
Nghe hai bố con nói chuyện, Duyên thấy mắt mình cay cay. Cô
giấu bớt sự xúc động, thầm cảm ơn đời đã cho mình một người chồng hiền haayuj.
Giá như anh ấy có thể cho mình một đứa con nữa? Duyên không hiểu nếu Quân có
con, liệu anh có hắt hủi đứa bé đầy hoài nghe kia không? Nhưng cố vẫn muốn vậy.
Thà như thế cô vừa thấy đỡ tủi cho anh, đỡ thiệt thòi cho tình yêu và sự bao
dung độ lượng của anh. Cô mường tượng anh giấu điều anh biết đứa bé này không
phải con anh. Nhưng anh chấp nhận nó như đời anh chấp nhận bệnh tật anh đang
mang trong cơ thể.
Hồi đứa bé được chục tuổi, Duyên muốn có với Quân một đứa
con, nhưng mãi không được. Duyên đưa Quân đến gặp một người bạn làm bác sĩ ở bệnh
viện tỉnh kiểm tra. Sau khi xét nghiệm, bác sĩ gọi riêng Duyên ra bảo:
- Anh ấy không có khả năng sinh con. Qua xét nghiệm, chúng
tôi xác định anh Quân bị nhiễm chất độc mầu da cam. Tỷ lệ tinh dịch còn 0,5%
nhưng khi ra tới âm đạo là bị chết.
Duyên giấu không nói cho Quân biết ý kiến của bác sĩ, cô sợ tằng
vì vậy Quân sẽ buồn và sinh ra tiêu cực. Cô nói với anh:
- Tại em béo quá nên lấp mất mề, để lâu quên đẻ,
Quân trả lại máy cho Duyên;
- Thằng bé dặn mua cho nó cái Hécphôn và mấy đĩa ca nhạc hải
ngoại.
Duyên tiếp vào bát anh một cái vây cá:
- Cái gì anh cũng chiều nó. Nó mà hư thì không phải “con hư tại
mẹ” đâu nhé!
Người lái xe tham gia:
- Nói vậy, chứ tôi thấy thằng bé cho anh chị ngoan thật. Con
nhà giàu mà lễ phép, khiêm tốn. Chẳng như con mấy vị quan huyện, nứt mắt ra đã
mắc vào vòng xì ke, ma túy.
- Cháu được như vậy là do anh Quân, chứ tôi đi làm bận suốt
ngày. – Duyên nói.
- Sạo hai người không đẻ thêm đứa nữ cho có anh có em?
- Vâng! - Duyên thở dài - Chúng em cũng muốn lắm, nhưng chưa
được.
- Tôi nghe ở Chùa Bộc có thuốc hay lắm. Lúc nào anh chị đến đấy
xem sao.
Quân gạt phắt:
- Thuốc thang gì, tốn tiền! Chỉ cần một đứa thế thôi, Nếu được,
rôi đã có lâu rồi.
Nghe Quân nói, Duyên giả vờ cúi xuống bát, cô gắp miếng sườn
chua ngọt đưa lên miệng, hàm răng cắn chẹch, bập vào lưỡi đau nhói. Duyên ứa nước
mắt không hiểu vì câu nói của chồng vừa thốt ra hay tại răng tự cắn vào lưỡi?
26.
Họ hẹn gặp nhau để nói chuyện. Đầu tiên, ông không đồng ý để
Mã áp nơi gặp. Nhưng hắn nì nèo và bởi công việc đang thúc ép cần có tiền để
chi nên ông đành nhượng bộ:
- Được, nhưng ở đâu?
Bên kia đầu dây, Mã cười:
- Sếp cứ ở nhà, em sẽ đến đón sếp. Mấy khi được theo hầu Bí
thư.
Ông định chỉnh cho Mã một trận, nhưng hắn đã sập máu. Mã đến
văn phòng lúc ấy khoảng mười rưỡi. Khi đi qua phòng Giám đốc, cửa khép hờ, thấy
Trần Búp đang chúi mũi vào đống giấy tờ, hắn định vào, nhưng nghĩ thế nào lại
thôi. Nhưng khi cùng Bí thư đi qua, Mã bảo với Bí thư:
- Hay là mời cả Giám đốc đi cho đủ bộ? Nhân tiện tôi chuyển lời
nhắn của bà Lài bảo sếp Búp chuẩn bị tiền cho bà ấy chung vốn bán hàng?
Bí thư gàn:
- Việc tôi gặp cậu là do tôi chứ không dính gì tới anh Búp.
Mã đưa Bí thư lên quán cá bờ song Ngọc. Trước cổng, hình nhân
bê đĩa cá, nhe nhởn cười nịnh khách vẫn đứng nguyên tại chỗ. Con cá vẫn há hai
hàm răng trắng nhởn, mắt trợn tròn nửa dọa, nửa chèo kéo khách. Trải qua mưa
gió, nắng bụi, trông thằng hình nhân và con cá có vẻ cũ và già đi. Hàm răng của
hình nhân và hàm răng con cá không biết ai bôi đen sỉn mỗi hàm răng một cái,
nên trông cả hai như bị sún.
Buổi trưa, vắng khách. Nắng xiên qua tán lá nhãn trổ thành
hoa trên mặt sân. Một nhân viên nữ ngồi ngáp vặt cạnh quầy bán cốc tai, nghe tiếng
xe máy đi vào, uể oải đứng dậy chờ. Mã hất hàm:
- Cho một khoang giữa dòng. Hôm nay đãi khách sộp, cho tớ một
con sộp hấp, kèm vài chú trê nướng đậm giềng mẻ, rượu ngâm bọ cạp.
Nhân viên nữ ngáp nốt chỗ dở, rồi chõ mặt vào nhà gọi:
- Anh Ba bò ơi, bảo đầu bếp: có khách.
-Khách nào mà bắt cá chết sớm thế nhỉ? - Khi nhận ra người
quen, hắn cười - Hôm nay đi với dê đực già à? Con dê cái mọi khi đâu rồi?
Mã nổi cáu:
- Mày ăn nói, bỡn cợt kiểu gì đấy? Bí thư của Công ty tao đấy!
Mày hỗn để tao bảo với thằng chủ mày cho nghỉ luôn?
Ba bò chừng như sợ, im lặng xốc lại quần, kéo khóa
phécmơtuya:
- Mời các đại ca xuống bến, lên “tầu”.
“Tầu” mà hắn nói là con thuyền đúc bằng xi măng, xám mốc, vết
rạn vằn như mai rùa, dài chừng bốn rưỡi đến năm mét; hai đầu thuyền, mỗi mũi
treo một cái lốp xe ô tô cũ để chống vỡ. Con thuyền đủ chỗ cho ba người ngồi cả
lái. Ba bò nhẩy xuống lấy gáo múc nước trong lòng thuyền bị ngấm đổ ra, mầu nước
xanh lét và bốc mùi tanh lợm xộc lên mũi Bí thư, ông nói với Mã:
- Hay ta ở trên này cũng được?
- Ấy, đâu được. Phải ngồi giữa dòng mới đã, mới kín chuyện.
Em biết có chuyện quan trọng lắm sếp mới cho gọi…
- Được rồi đấy, xin mời - Ba bò chổng mông, tay bám chặt vào
cọc sắt neo thuyền, gò mũi thuyền đứng im để hai người xuống, bờ gáy hắn cộm thịt
thành hai miếng, béo phồng, mồ hôi đùn ra bóng nhẫy ánh mặt trời.
Mã nhường cho Bí thư xuống trước. Mặc dù Ba bò đã ghìm lốp ô
tô ở mũi thuyền vào bờ xi măng bậc bước xuống, con thuyền vẫn bị bập bềnh, Bí
thư bước đi như người đảo đồng, dang tay tóm chặt hai bên be. Mã nhìn vậy, cười,
ung dung bước xuống như người đi trên cạn. Chờ hai người yên vị, Ba bò tóm vào
sợi dây thép nối với dây neo giữ khoang nhà nổi neo đậu giữa dòng, kéo thuyền
ra. Vừa cập vào mạn, Mã nhanh nhẹn nhẩy phắt lên, làm cho con thuyền chòng
chành, Bí thư lập cập mãi mới bước lên được. Ba bò hỏi:
- Các vị có “đóng kép” không ạ?
- Cần sẽ gọi! Bảo chúng nó làm món nhanh lên!
-Đóng kép là món ăn gì? - Bí thư hỏi.
- Thịt tươi sống, biết nói, cười và chuốc rượu - Mã nháy mắt
với Ba bò, mồm mời Bí thư - Sếp có dùng để em gọi?
- Thôi thôi thôi… - Bí thư xua tay - Đừng đừng đừng… Phần cuối
Bí thư không biết sử dụng từ gì cho hợp, ông cúi xuống tụt giầy, khôm người bước
vào trong khoang.
Nhà nổi cũng là một con thuyền làm bằng xi măng; khác ở chỗ:
hai ben mạn kẹp mỗi bên bốn chiếc phi rỗng sơn đỏ, thay phao để giữ thăng bằng,
trông xa như tầu chiến kẹp ngư lôi; trên mặt thuyền lót sàn kín, dựng lều kiểu
lên chăn vịt, mái lợp lá cọ; xung quanh quay bằng tre cật đan dầy, quanh dầu
bóng; sạp ngồi đóng gỗ tạp, lâu ngày co lại hở huếch hở hoác. Trên mặt song có
ba, bốn cái như vậy. Ba bò lôi chiếc mành cuộn tròn cạnh đấy ra trải, một làn bụi
mỏng bay lên và giữa mành văng ra một cái túi cao su lọt xuống khe hở, mất dạng
dưới đáy con thuyền. Bí thư nhân jra nhưng giả vờ như không nhìn thấy, ông ghê
tởm nôn nao. Mã lầu bầu:
- Mẹ cha nó, chốc nữa ăn xong ông đ… giả tiền cho biết mặt. Bẩn
như chuồng lợn.
Bí thư chun mũi lại vì mùi hôi:
- Cầu kỳ quá! Ngồi đâu chả được? Làm sao phải xuống tận đây?
- Ấy chết! Mạn đàm là phải kín đáo, ăn uống phải
lịch sự.
lịch sự.
Mã tụt giầy, hất vào góc lều.
Trong đầu Bí thư vẫn bị chiếc túi cao su ám ảnh; thấy như
mình bị hạ nhục, ông muốn đấm thèm vào ngồi ở đây và quát vào mặt Mã mà nói:
- Tao không cần nữa! Cho tao lên bờ! Còn tiền? Chúng tao sẽ
tìm cách khác. Tao sẽ…
Nhưng hình ảnh Giám đốc Trần Búp hiện lên, khuông mặt xạm vì
mất ngủ, đôi quầng mắt khuyên một vòng thành cặp kính xăm trên da thịt. Đôi mắt
ấy níu kéo sự phấn khích của Bí thư lại: “Xin anh đừng…” - Bí thư nhìn thấy
hình ảnh Trần Búp van nài, cầu khẩn: “Đừng vì cái “tôi” mà hỏng hết việc! Tất cả
thành bại trong xuộc nói chuyện này. Ngày xưa, vua hiền chọn tôi hiền đi sứ; giờ
đây, anh là sứ giả của tôi, là đại sứ đặc mệnh toàn quyền của tôi. Không! Là Đại
sứ đặc mệnh toàn quyền của cả Công ty xây dựng số I này chứ! Anh nhớ nhé!” Bí
thư cố nuốt quả tao nơi cổ họng chạy lên tụt xuống, cục cục, giật giật. Đành phải
kiên nhẫn thôi. Dung hòa vốn là sở trường tự luyện của Bí thư. Nhưng, đôi khi bản
thể không chức tước của ông lại bùng phát, hoàn nguyên bản chất chân phương từ
lúc cha mẹ sinh thành. Ông đã phải khổ luyện, khắc phục, kìm chế, mất bao nhiêu
thời gian mới vũ trang cho mình thành một chính trị gia. Đã là chính trị gia
thì không được phép hiện nguyên hình. Phải biết tự kìm chế - Bộ mặt thật của cuộc
đời ẩn tích sau bộ mặt của cuộc sống xã hội.
Từ trong bờ, Ba bò kéo dây thép, lôi con thuyền xa măng chở đồ
ăn ra. Giữa long thuyền, một nữ tiếp viên bôi son phấn như diễn viên
không chuyên hóa trang, đồng phục áo trắng, nơ mầu tiết dê, điểm hoa trăng, váy
ngắn xanh tím than, tất mầu đen trở mắt cáo, chân dận hải sảo kiểu Trung Hoa;
hai dải áo khoanh trên cổ kéo dài thành chữ V trông nửa yếm nửa ve, chun, xéo nếp
như hoa xúc xích trẻ con gấp bằng giấy; dọc theo hoa xúc xích có ba đường viền
vải mầu hồng làm nên tôn ngấn cổ và khoang ngực thoa kem nửa kín nửa hở như muốn
khoe phía trong đó là một thứ mà đàn ông nào cũng muốn khám phá xem sự thể nó
ra sao. Tay phải cô đỡ đít khay để đò ăn, mép khay bên kia đặt lên
vai, phần nhom cằm của cô tỳ xuống; tay trái thi thoảng bám vào khay rồi lại
buông ra để lấy thăng bằng. Cả thân người nghiêng như gãy khúc, lúc tĩnh trông
như bức tranh cô gái Khơ Me đang lễ lên chùa, lúc động trông như hình nhân thế
mạng phết bằng giấy trang kim ở hàng bán đồ mã.
Hình ảnh lạ lùng làm Bí thư quên bẵng chiếc túi cao su vừa ám
ảnh tâm trí ông.
Thêm nữa, thuyền chưa tới, nhưng mùi cá nướng theo giớ từ hạ
lưu thổi đến, toản thêm nức mũi, át hẳn mùi nước tanh tưởi bốc hơi từ dưới lòng
thuyền lên. Mặc dù đến đây không phải để thưởng ngoại cảnh trí hay không hào hứng
vì ẩm thực, nhưng ngửi phải mùi cá nướng, nước dãi từ lưỡi nhều ra, Bí thư quay
đi nuốt vội vào, sợ Mã phát hiện ra sự phản ứng có điều kiện của mình.
Nữ tiếp viên dâng khay cho Mã đón. Mã cầm khay, chưa nhấc
lên, mắt dừng lại trên khoảng hẹp hớ hênh giữa ngực và cổ áo của cô nhân viên.
Cô giãy nảy:
- Em buông ra bây giờ đây này, ứ thế đâu!
Mã cười, nhấc khay đồ ăn lên:
- Hôm nay anh bận tiếp đại khách. Hẹn cưng lần sau. Chính chủ!
Ba bò chuyển cái làn dựng đồ phụ lên cho mã. Mã hỏi:
- Còn gì không?
- Còn cá sống.
- Mình không biết ăn gỏi đâu! - Bí thư nói vội.
Câu trả lời của Bí thư làm hai thằng cười sằng sặc, điểm nhịp
là tiếng he hé như dê kêu của con bé nhân viên. Thấy vậy, Bí thư ớ ra chợt hiểu,
ông lườm Mã:
- Thế còn há miệng ra mà cười?
- Con thuyền vào đến bờ mà ông vẫn còn nghe tiếng cười ằng ặc
của Ba bò và tiếng he hé của con bé nhân viên.
Mã nghiêng chiếc nậm rượu mầu da lươn rót vào hai chén đầy rồi
trịnh trọng nâng một chén lên:
- Em có lệ: Chén đầu cạn.
Bí thư chối:
- Mình không uống được vậy. Cậu cứ tự nhiên, mặc tớ!
- Em lạ gì tửu lượng của anh? Xin anh cạn.
Bất đắc dĩ, Bí thư dốc cạn. Thành cổ họng tưởng như bốc lửa,
Bí thư vội ngậm miệng lại như người gặp phải thức ăn nóng. Nhưng, ngậm miệng lại
càng thấy bỏng hơn, miệng đành há to hít hà cho đỡ rát:
- Rượu gì mà nặng thế?
- Bọ cạp Châu Phi! - Mã cầm con cá trê nướng dưa cho ông - Mời
sếp, cho cái này vào là hạ độ ngay!
- Đây là lần đầu tớ được đến đây. - Bí thư thật thà - Cá trê ở
nhà, vợ tớ làm độc có món kho giềng. Ăn nước thế này cũng là lần đầu.
- Em tưởng sếp theo sếp Búp thì thiếu gì?
- Thôi, cậu đừng giở giọng móc máy nữa
- Thế thì uống vậy. - Nói rồi Mã nâng cốc - Đủ “tam bôi” em sẽ
hầu chuyện sếp.
Trưa, tĩnh lặng, hai bên bờ sông mùa này cây cối xanh mướt,
gió từ hạ lưu hây hẩy. Bên kia bờ là bãi, những cây ngô bồng con thơ đứng xếp
hàng khoe tà áo xanh mởn. Đôi ba con bướm bay nhảng qua ô cửa tò vò lấp loáng
trong nắng. Trên trời, khoảng trời xanh ngắt như chưa bao giờ xanh vậy; và, những
đụn mây trắng bay ngang qua như chưa bao giờ trắng ý nhường sân đấu cho đối
phương chơi trước. Hắn biết thóp ý đồ của các vị lãnh đạo nên hắn trùng trình
buông câu. Hắn thích làm kẻ đi câu hơn phải làm cá rỉa mồi.
Nhớ hôm hát karaoke với Lài, khi bàn tới việc ký hay không
ký, Mã bảo Lài:
- Ký trong điều kiện mình ra điều kiện.
Mã bổ sung kiến thức và ghi từng khoản ra giấy cho Lài học
thuộc, nếu Trần Búp đặt vấn đề yêu cầu Lài ký. Nhưng không ngờ, Trần Búp lại
yêu cầu Bí thư gặp hắn. Như thế có khác chỉ các nước lớn khi khó đối mặt với
nhau, cần các nước thuộc phe trung gian để đàm phán tìm giải pháp? Nhờ vậy, các
nước chư hầu được viện trợ không hoàn lại.
- Mình hết rồi nhé! Thôi, tớ không uống được nữa, cậu tha
cho.
- Không uống được thì ăn - Mã dùng dĩa róc một mảnh lườn con
cá gắp vào bát cho Bí thư ; lấy tay nhấc đầu con cá cho lên mồm húp xoàm xoạp.
Hắn cũng cần tỉnh táo để xem điều kiện của đối phương.
Bí thư dùng đũa gợt cọng hành vương trên thành bát, nói:
- Chắc cậu cũng biết Công ty ta hiện đang gặp khó khăn? Mà việc
đóc rước Huân chương không thể đừng được.
- Thế việc ấy có gì liên quan tới tôi? Công ty quy định mỗi đội
hỗ trợ công ty bao nhiêu có trong băn bản rồi. Đội tôi hiện chưa có tiền nộp
thì nợ lại, khi nào nhận được công trình làm có tiền sẽ trả sau.
- Mình không nói tới chuyện ấy! Chẳng qua phải làm vậy để đề
cao ý thức trách nhiệm của các đội với Công ty, tránh vi phạm quy định của Nhà
nước ban hành. Việc mình gặp cậu hôm nay, có liên quan tới chuyện của vợ chồng
anh Búp lâu nay cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt. Điều này chắc cậu rõ hơn tôi?
- Thế ý giám đốc muốn tôi phải làm gì?
- Không phải là ý riêng của anh Búp. - Bí thư nói đỡ cho người
không có mặt - Đây cũng là ý của mình và là tinh thần cuộc họp của lãnh đạo
Công ty căn cứ vào sáng kiến của cô Duyên. Hiện tại, vợ chồng anh Búp chấp nhau
như vậy ngồi nói với nhau thế nào được. Mình muốn cậu giúp mình nói làm sao để
chị Lài ký vào hồ sơ thế chấp.
- À… - Mã vờ như vỡ lẽ - Thế tức là các anh muốn tôi làm môi
giới?
- Đâu có! Làm trung gian thì đúng hơn - Bí thư cải chính.
- Ối dào! Môi giới hay trung gian thế nào chẳng vậy? Nhưng
sao anh không gặp thẳng bà Lài?
- Nếu gặp mà được việc thì tôi làm sao phải nhờ cậu?
- Thôi, thế này nhé! - mã dùng lại suy nghĩ một lát rồi nói -
Tôi cũng chưa chắc bà Lài có đồng ý không? Nhưng nếu được, các anh đừng quên
công của tôi.
- Có nguyện vọng gì cậu cứ mạnh dạn đề xuất, Công ty sẽ
đáp ứng nếu những yêu cầu cậu đưa ra là chính đáng.
- Sao lại không chính đáng? - Đột nhiên Mã hằn học - Ông về
ông hỏi ông Búp xem. Đã bao nhiêu lần muốn có việc tôi phải chờ đợi, van nài?
Chỉ còn thiếu lễ phủ phục liếm gót chân ông ta để có việc làm? Muốn qua cửa, mỗi
lần vào phải mất bao nhiêu? Chia cắt công trình ra như cắt bánh chưng, chia cho
ai người ấy được! Nói thật nhé! - Mã nhấc chén rượu đổ ực vào miệng rồi nói tiếp
- Công ty này không vớ được cái Duyên về, có chết yểu từ lâu rồi. Giám đốc như
ông Búp ấy à… - Chợt như thấy mình lỡ lời, Mã mím chặt môi, nuốt đánh “ực” những
ức chế sắp tuôn ra. Dù sao, Mã nghĩ - Trần Búp vẫn đang yên vị là Giám đốc, và,
người ngồi trước mắt là sứ giả của ông ta. Nếu chẳng may lỡ lời, sau khi có tiền,
lo xong việc, thế lực của Trần Búp lại mạnh như hồi đầu Công ty mới thành lập
thì vỡ mặt - Đấy là tôi nói ngày xưa, thời kỳ quá độ - Mã hạ giọng, lời nói lại
êm ru - Còn bây giờ, điều khoản của tôi trong hợp đồng môi giới này đơn giản
thôi.
Mặt Bí thư nóng ran. Đường đường là Bí thư mà để cho một đội
trưởng cò kè mặc cả như hai thằng lưu manh thỏa thuận với nhau thì còn gì là thể
diện nữa? Cái gốc con người của ông lại trỗi dậy, bùng phát - Nhưng, hình ảnh
những thiết bị công trình nằm im ắng trân bãi và những chiếc xe đặc chủng phục
vụ cho xây dựng nằm bất động trong gar a hiện lên, nhắc ông nhiệm vụ hôm nay
làm thuyết khách. Bí thư lại nuốt cái cục táo ở cổ xuống:
- Thì cậu nói ra đi!
- Thế này nhé! - Mã xọc đoi đũa vào chỗ xương, nơi giáp sọ
con cá – Nếu tôi thuyết phục được bà Lài ký, tôi sẽ được nhận toàn bộ phần làm
đường và vỉa hè trong tất cả các công trình mà công ty được trúng thầu. Còn những
điều khoản mà bà Lài đưa ra với ông Búp, tôi sẽ thực hiện đúng tinh thần trung
gian. Giải quyết thế nào với bà Lài, đó là việc của các vị.
- Được! Tôi ghi nhận ý kiến của cậu - Bí thư nhớ lời dặn của
giám đốc: “Nếu Mã đồng ý, chắc chắn hắn sẽ đưa ra những điều kiện của hắn. Anh
đừng đồng ý vội và hứa sẽ xem xét” - Nếu chỉ có thế, chắc sẽ được thôi.
Mã ấn mạnh đũa, đầu con cá quả rời khỏi thân. Giữa chỗ giáp
nhau, một chút máu ứa ra loang rộng trên mảnh thịt lầy nhầy chưa chín kỹ.
27.
Ngay chiều hôm đó, Bí thư gặp giám đốc tường thuật lại công
chuyện thuyết khách của mình và truyền đạt yêu cầu của Mã. Nghe xong Trần Búp
nói:
- Anh có biết trong gói thầu xây dựng, bóc tách ra thì hạng mục
thi công đường xá lãi suất cao nhất không? Ăn gấp ba, bốn lần công xây dựng. Thằng
này cáo cạnh mà lanh thật. - Nhưng rồi cuối cùng Trần Búp đành phải bảo Bí thư
- Anh điện cho đội trưởng Mã là tôi đồng ý, nhưng chỉ ở phạm vi gói thầu đầu
tiên Công ty tham gia giành được thôi!
Sau một ngày, kể từ lúc Bí thư trả lời, Mã đem thư của Lài về.
Bí thư mang sang văn phòng cho Giám đốc. Bóc phong bì, xem những điều khoản
trong thư Lài yêu cầu, Trần Búp nóng ran mặt, dằn mặt tờ giấy xuống mặt bàn:
- Đồ… thiếu văn hóa! - Giám đốc cố kìm câu chửi đổng, quẳng
tờ đơn sang cho Bí thư - Anh xem, xử sự ngang ngược như vậy thì ai mà chịu nổi?
Bí thư cầm lên xem, Trong giấy, Lài ghi những điều khoản yêu
cầu như sau:
GIẤY GIAO KÈO
Kính gửi: Các cơ quan luật pháp
Tên tôi là Phan Thị Lài, vợ ông Trần Búp - Giám đốc Công ty
xây dựng số I. Tôi đồng ý cùng chồng ký vào giấy thế chấp tài sản với những yêu
cầu sau:
1. Sau khi lấy được tiền thế chấp căn nhà ở phố… khu… huyện
Phúc Hòa, ông Trần Búp phải chuyển cho tôi cơ số tiền là: 500.000.000 đồng (Năm
trăm triệu đồng chẵn) để tôi lấy tiền góp vốn mở cửa hàng buôn bán.
2. Ngoài ra, hàng tháng ông Búp phải chu cấp cho hai con đang
ăn học tại Hà Nội số tiền là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
3. Trường hợp nhà cửa và tài sản bị ngân hàng phát mại, bà
Phan Thị Lài sẽ được hường ½ số tài sản trên, quy ra tiền Việt Nam tính theo thời
giá lúc đó và xử luật theo quy định.
4. Nếu xảy ra chuyện kiện tụng hoặc tranh chấp tài sản thì Giấy
giao kèo này có giá trị nhờ đến pháp luật để xử lý.
5. Nếu ông Trần Búp đồng ý các điều khoản trên, yêu cầu ký
vào giấy này để làm bằng chứng, rồi chuyển hồ sơ xuống cho tôi ký xác nhận.
Phúc Hòa, ngày tháng năm 199
Người viết giấy
Phan Thị Lài
Nếu căn cứ vào quy định của ngân hàng, ngôi nhà chỉ được tính
bằng 1/3 giá trị so với thực tế. Nghĩa là tiền ngân hàng cho thế chấp ngôi nhà
được trên một tỉ đồng. Vậy mà, trong giấy tờ Lài bắt Trần Búp phải chấp nhận
như vậy, hỏi làm sao Trần Búp không bực? Và, khốn nạn hơn nữa là nội dung viết
trong giấy giao kèo. Qua giọng điệu, Bí thư biết ngay đây là do Mã chấp bút.
Nhìn Giám đốc ngồi như hóa đá, Bí thư không biết dung lời lẽ gì để an ủi. Bí
thư cũng chỉ là người làm công việc trung gian. Và, ông đã cố gắng hết mức.
Sáng, lúc Mã đến chuyển thư của Lài cho Bí thư, giọng mã du đẩy,
kẽo kẹt:
- Đấy! Em phải giở “hết võ” bà Lài mới đồng ý. Lẽ ra, công
lao của em trong chuyện này còn hơn. Vài km đường xá bõ bèn gì? Nhưng thôi, còn
để phần cho an hem khác! - Rồi Mã lưu lại lời đe dọa sặc giọng điệu xã hội đen
- Mọi chuyện các sếp hứa, em đã cản thận ghi âm vào băng hết cả rồi. Sợ biết
đâu nhiều việc, các sếp quên?
- Thằng chó! Thủ đoạn đến thế là cùng - Bí thư nhìn theo Mã rủa
thầm.
- Tổng chi phí cho buổi lễ, anh dự toán hết bao nhiêu? - chợt
tiếng của Trần Búp hỏi vang lên.
- Hai trăm năm mươi triệu!
Một con tính nhẩm chạy nhanh trong đầu giám đốc. Như vậy, tiền
lãi thế chấp mỗi tháng phải trả cho ngân hàng khoảng mười triệu. Giám đốc nhìn
bí thư hỏi:\
- Không biết cô Duyên đã chuyển tiền chưa?
- Thấy tài vụ báo cô ấy gọi điện tới, hẹn sáng mai sẽ đem tiền
đến.
Trần Búp cầm tờ giấy của vợ lên xem lại. Rồi dứt khoát rút
bút ở túi ngực cúi xuống viết, ký, xong đẩy tờ giấy về phía Bí thư:
- Anh điện cho thằng chó đểu Mã tới lấy hồ sơ đem xuống cho
con mụ khốn nạn ấy! - Nói xong, Trần Búp đứng dậy, đi vội vào phòng trong, gieo
người xuống giường mặc Bí thư ngồi đấy một mình.
Bí thư ngạc nhiên vì sự mất bình tĩnh và ngôn từ thoát ra từ
cửa miệng giám đốc. Đây là lần đầu tiên ông thấy Trần Búp cực đoan. Câu tục tĩu
ở giai tầng lao động giản đơn văng ra, nghe thấy thường thường. Nhưng ở những
người như Trần Búp, nghe vừa chối tai vừa lạ lẫm, vừa hiếm hoi. Thế mới biết,
hoàn cảnh dễ làm con người ta thay đổi.
Cửa mở, một cái đầu ngó vào:
- Thưa Bí thư, bác có khách!
Bí thư đứng dậy:
- Cậu pha nước giúp mình - Bí thư cầm bộ hồ sơ đứng dậy, nói
vọng vào - Việc có thế thôi anh Búp nhỉ?
- Đóng cửa lại, đừng cho ai quấy rầy tôi.
Bí thư đi ra, cửa đóng lại. Trong phòng, Trần Búp vùng dậy, lấy
tay gạt mạnh tấm mành trúc treo trước cửa. Tiếng va chạm của các ống trúc lắc cắc,
loạt xoạt, bức hình Chùa Một Cột méo vẹo, đu đưa, lắc lư một lúc rồi mới hoàn
nguyên lại như cũ. Trần Búp ra tủ đựng rượu, giật phắt cánh tủ, không chọn, lôi
ra một chai rượu còn nguyên, trong vắt như chai không, xé tem, bật nút, ngửa cổ
dốc vào họng. Bọt khí chui vào chai nấc từng nấc, ọc ọc rên từng hồi, thành chuỗi
nối đuôi nhau như tràng hoa, kết thành một dãy dài từ to đến nhỏ; rượu chạy
nhanh vào huyết quản; nước thì rơi tự do vào dạ dày, còn hơi men thì xuông ngược
lên lục phủ ngũ tạng len lỏi, chui luồn đến tận các ngõ, ngách sâu kín trên cơ
thể. Hơi men làm nhiệm vụ xoa dịu thần kinh, cho lãng quên nỗi đớn đau, ê chề,
nhục nhã. Hơi men kích thích niềm hy vọng, khơi dậy niềm đam mê… Cứ thế, trộn lẫn,
hòa tan… vo viên quá khứ, hiện tại, tương lai thành một cục, thành một hòn. Chó
đến khi, lưỡi không còn cảm giác đắng, cay, nồng, nóng; cổ họng tê dại, hôi hổi,
lạnh ngắt. Rơi vào khoảng không trọng lượng; hơi thở dồn dập, hầm hập, vết nhăn
trên vầng trán giãn, đôi mắt cận lòi căng, ngác ngơ như mắt trẻ thơ, ngồ ngộ
như bê con lạc mẹ, da mặt hồng hào bừng sáng; cả gian phòng bung nở toàn hoa cà
hoa cải, ánh nắng xiên qua cửa kính cũng nở thành hoa, muôn vàn những hạt bụi
khúc xạ nhảy múa cùng toàn hoa.
Người uống bỗng ngưng lại, tràng hoa khí đang nở héo rũ, nước
trong chai đang sủi tăm, réo ùng ục lắng xuống, vát nghiêng, uốn éo, vẩn vơ, lượn
lờ như giễu cợt. Chợt nhận thấy mình dùng cả chai mà uống là bất lịch sự, không
đúng với tư cách của Giám đốc, không phải là phong thái của bậc chính nhân quân
tử. Người uống rượu lịch lãm lấy chiếc ly treo trên giá, ngiêng chai rót vào, rồi
nhẹ nhàng bê ly đến đặt trên mặt bàn uống nước, rồi ngả người xuống đệm ghế
xalông. Hẳng là người uống rượu muốn uống cùng với ngàn hoa đang quay quay tít
mù xung quanh? Hẳn là người uống rượu đã tự khai sinh rồi hóa thân cho mình trở
thành người rượu?
Hà hà hà… Người rượu khùng khục, ngửa mặt ngắm giang sơn:
Trên tường, bức tranh ngựa của danh họa Từ Bi Hồng sao hôm nay lại có tới hàng
mấy trăm con? Hay cha nào nịnh nên tặng thêm những bức tranh khác? Chẳng lẽ Từ
Bi Hồng mới vẽ? Họa sĩ sống lại từ bao giờ vậy? Hay đây là kiệ tác vừa tìm thấy?
Không có lẽ? Và, còn kia nữa: bức sơn mài khu nhà làm việc huyện Phúc Hòa, kiệt
tác xây dựng đầu tiên của làn gió mới do ta thực hiện, sao lại bị đứa nào vặn
chổng ngược? Hay là nó phải vậy? Không! Rõ rang sau khi khánh thành bàn giao
xong, ta đã thấy đích danh trưởng phòng kỹ thuật bắc thang treo tranh lên cơ
mà? Đằng sau nó còn bao nhiêu kẻ đứng ngắm để chỉnh, để tán dương? Sao lại thế
nhỉ? Dám lật ngược bức tranh 180 để lừa ta? Chắc nó cậy có Bằng kiến trúc sư? Hầy!
Mi lầm rồi kiến trức sư ạ! Mi có là bố triến trúc sư của ngành Xây dựng thì
cũng chỉ là môn đệ cho ta thôi. Ta đây đã từng học qua trường quản lý kinh tế.
Một trường chuyên môn đào tạo ra những con người biết quản lý và sử dụng đồng
tiền của Nhà nước. Ta hạch toán, ta nắm hầu bao. Còn mi? Mi chỉ biết thiết kế rồi
giao cho tụi thợ thi công. Tất cả tụi bay đều là kẻ làm công ăn lương cho ta, vậy
mà sao dám treo ngược tranh của ta? Hà… hà hà hà.
Hà… hà hà hà… Người Rượu bật dậy, lắc chuông gọi nhân viên
hành chính:
- Triệu tập họp!
Từ ngoài cửa, cán bộ các phòng ban lục tục kéo vào, lần lượt
quay quanh chiếc bàn hình bầu dục. Tiếng bôm bốp, bành bạch, nhỏ, to khác nhau
từ những cặp mông ngồi xuống ghế khẳng định vị thế, phân biệt ngồi thứ, nghe
như tiếng vỗ tay tán thưởng. Người Rượu quát:
- Các vị vỗ ray hay vỗ đít phủi bụi? Vào tới đây phải biết giữ
đúng khuôn phép chứ?
Một bản mặt nửa gái, nửa trai; bên mầu trắng, bên mầu đen hiện
lên, đôi môi bũi ra nói như chém chả:
- Có phải tuyên bố thành lập công ty đâu mà phải giữ lịch sự?
Người Rượu trừng mắt nhìn xem kẻ nào dám ngạo mạn vậy? Bản mặt
nửa gái, nửa trái, bên mầu trắng, bên mầu dên câng câng nhìn lại. Người Rượu cố
nhớ xem đó là ai? Là bạn hay là thù? Nhưng không nhận được, Người Rượu quát:
- Mi là ai mà dám vào đây ngạo mạn?
Bản mặt kép nhe răng cười:
- Không nhận ra vợ hay sao hỡi người chồng yêu quý?
- Không nhận ra người trung gian hay sao hỡi ngài Giám đốc?
Sau câu nói, bản mặt hiện nguyên hình: Nửa mặt trắng là Lài,
nửa mặt đen là Mã. Ô! Ta đã chí cho mụ số tiền theo giấy geo kèo rồi cơ mà? Ô!
Ta đã đành cho ngươi toàn bộ công trình giao thông, cầu, cống trong gói thầu đã
trúng cơ mà? Sao các người còn đến đây phá quấy? Người Rượu hô to:
- Bảo vệ đâu? Đuổi cổ chúng ra khỏi Công ty!
Nhưng, bỗng Người Rượu nhìn thấy toàn bộ cán bộ, công nhân
viên trong công ty đứng chật ních ở hội trường. Trên đầu họ, dưới chân họ toàn
hoa. Có những lẵng hoa mừng; lẫn cả những vòng hoa tang. Họ mừng ai? Chờ ai?
Ta? Hay lũ kia? Họ đưa đám ai? Ta? Hay lũ kia? Người Rượu quay lại, định hỏi,
xung quanh bàn họp vắng tanh, vắng ngắt. Tất cả đã biến mất. Có tiếng nói từ
loa phóng thanh vang lên:
-Xin mời Giám đốc Công ty xây dựng số I ra hội trường.
Người Rượu lảo đảo đứng dậy. Có cái gì đằng sau níu lại? Khó
chịu, Người Rượu vằng mạnh tay… Khối nặng vô tình vuột mất. Quá đà, Người Rượu
mất thăng bằng, nặng nề lao về phía trước, rơi tõm xuống nền nhà lát gạch hoa.
Nhưng hơi men lại đưa Người Rượu bay lên lơ lửng, trôi bềnh bồng. Khắp xung
quanh, trên, dưới, lớp lớp ngập tràn hoa…
28
Điều Luật sư dự kiến đã xảy ra. Phía Đài Loan ra sức ép với tỉnh
để buộc doanh nghiệp của Quân nhường lại khu đất. Giấy mời Quân lên Ủy ban tỉnh
để giải quyết. Trước khi đi, Duyên dặn chồng:
- Anh cố gắng mềm mỏng, cứ để xem họ nói thế nào đã. Có gì đã
có Luật sư.
Luật sư cười, nói:
- Nuôi quân ba năm, dùng quân một giờ đây.
Người Thư ký Ủy ban tỉnh dẫn hai người lên căn phòng trên tầng
hai. Trong phòng bái trí sơ sài, quyền Chủ tịch tỉnh đang ngồi làm việc. Khi
hai người vào, ông đứng dậy, chủ động tiến tới bắt tay:
- Vị nào là chủ sở hữu mảnh đất ấy?
Luật sư chỉ tay sang phía Quân:
- Báo cáo anh, đây là anh Quân - Giám đốc. Còn tôi là Luật
sư, tư vấn.
Quyền Chủ tịch đi đến bàn uống nước:
- Mời các vị ngồi. Cảm thông cho Ủy ban, đây là nơi làm việc
tạm thời. - Ông quay lại nói với thư ký vừa pha nước xong - Tôi sẽ làm việc với
các vị đây một giờ.
Người thư ký đi ra, khép cửa lại. Quyền Chủ tịch tỉnh nói:
- Tôi cũng rất ít thời gian, vì vậy xin được nói thẳng vào
công chuyện. Như các vị thấy đấy, để mãi chẳng ai nhòm ngó tới, nhưng khi có
người động vào lại sinh chuyện. Trong thông báo gửi, Ủy ban đã nói rõ, bây giờ
toi cần nghe trực tiếp ý của các vị?
Quân nhìn Luật sư, Luật sư nháy mắt như thầy giáo khích lệ học
trò. Quân vuốt vuốt mép chiếc cà vạt:
- Chúng tôi làm đầy đủ mọi thủ tục mới được Ủy ban phê duyệt.
Bây giờ đùng một cái các anh yêu cầu như vậy, tôi hỏi lý do gì?
- Vấn đề đối ngoại bây giờ là vấn đề cực kỳ tế nhị. Chúng ta
đang thực hiện chính sách mở cửa, mời các doanh nghiệp nước ngoài vào. Họ đang
là nhân tố được ưu tiên. Nếu để họ mất lòng, e sẽ ảnh hưởng tới toàn bộ kế hoạch
mở rộng khu kinh tế của ta. Cũng nói để hai vị biết: Không chỉ có tỉnh ta mời họ.
Các tỉnh như Hải Dương, Hải Phòng cũng đã trực tiếp liên hệ muốn lôi kéo họ đến.
- Thưa đồng chí - Người Luật sư tham gia - Thế bây giờ ý của Ủy
ban sẽ giải quyết việc này thế nào?
- Tôi đã trực tiếp làm việc với phía họ. Họ đồng ý mua lại và
nhờ Ủy ban làm trung gian…
- Nhưng nếu doanh nghiệp chúng tôi không đồng ý? - Quân nói cắt
ngang.
- Xét về lý, doanh nghiệp các vị đúng. Nhưng đứng về tình, liệu
có nên không? Tôi mong các vị xem xét lại. Cái gì lợi nên làm. Còn như các
vị đã thấy: Luật lệ đã in thành văn bản còn có thể sửa lại; nghị quyết ban
hành chưa đúng còn có thể thay đổi, bổ sung nữa là… - Quyền chủ tịch tỉnh chuyển
ánh mắt từ phía Quân sang người luật sư bỏ lửng câu nói.
Không khí chùng hẳn. Luật sư đưa mắt ra hiệu cho Quân trả lời.
Quân nói:
- Chúng tôi xin lĩnh ý của Ủy ban để về bàn bạc, và sẽ trả lời
bằng văn bản.
Quyền Chủ tịch tỉnh nhìn Quân bật cười, tiếng cười nghe thật
thoải mái:
- Còn phải về hỏi quân sư Duyên chứ gì? Thôi, lật con bài của
mình ra. Tôi không muốn lấy thế tỉnh ép các vị. Hãy vì công cuộc cải tổ chung
mà làm. Còn tỉnh sẽ không đẻ cho các vị thiệt thòi đâu mà ngại. Tôi hứa vậy.
Sau tiếng cười và câu nói của quyền Chủ tịch tỉnh, không khí
trong phòng dịu lại.
Ra tới xe mà Quân vẫn thắc mắc không hiểu sao quyền Chủ tịch
tỉnh biết Duyên? Luật sư cười:
- Bây giờ muốn hoạt động chính trị, trước hết cần phải biết
làm tình báo kinh tế. Cha này mà “cắt cu”, được bổ nhiệm chính thức thì đừng có
đùa!
Sauk hi nghe kể lại, Duyên nói:
- Như vậy tỉnh có ý lấy bằng được mảnh đất ấy. Theo em, ta
chuyển mục đích này sang kinh tế. Thỏa thuận với cả hai. Phía Ủy ban ta yêu cầu
được mảnh đất mới. Bên phía nước ngoài, mình đặt giá cao, cộng cả những phụ phí
không trong giấy tờ…
- Cả khối lượng đất mình đã đổ vào đấy nữa chứ!
- Quân chen lời.
- Tất nhiên. Luật sư đưa ra ý kiến của mình. Ta sẽ lựa, đừng
vội trả lời. Nhưng cũng đừng già néo đứt dây.
Tuy vậy, Duyên cảm thấy có gì chưa ổn. Những yêu cầu đưa ra
không có gì ghê gớm. Đất đai vùng này còn rất nhiều, một mảnh đất vài nghìn mét
vuông không khó! Còn phía nước ngoài, để đạt được mục đích, vài chục nghìn đô
la không làm nghèo đi cái túi kếch xù của họ. Và như vậy, chỉ là sự đổi chác, một
vụ làm ăn “trúng mánh” không hơn không kém. Sauk hi xong việc, sẽ chẳng còn gì
ràng buộc mình với họ? Nhất là đối với tỉnh? Nghe ra song phẳng quá!
- Ta có thể làm cách khác được không? - Chợt Duyên hỏi.
- Cách gì?- Cả Quân và người Luật sư cùng đồng thanh nói.
- Cách gì thì em cũng chưa nghĩ ra. Nhưng em nghĩ sẽ có những
cách khác còn khả thi hơn.
- Mình vừa được đất lại còn lãi vài chục nghìn đô còn gì nữa
mà phải nghĩ? Buôn gì cho lại? - Quân nói.
- Vâng, đã đành là vậy, nhưng… - Chợt Duyên quay sang hỏi Luật
sư - Anh còn nhớ dự án công trình khu liên hợp thể thao không?
- Nhớ! Nhưng có cái gì liên quan tới việc của mình?
- Luật sư hỏi:
- Vậy chúng ta thành lập Doanh nghiệp Hoàng Quân ra để làm
gì? Chẳng lẽ những kiến thức anh dạy cho anh Quân trong thời gian qua chỉ để lấy
có mấy chục nghìn đô?
Luật sư nhìn Duyên, và mường tượng ra những ý nghĩ đng nhảy
múa trong đầu cô. Luật sư hỏi:
- Liệu tham vọng ấy có quá sức mình không? Tôi nghe dự án ấy
chưa duyệt mà đã có hàng trăm đơn vị muốn nhảy vào.
- Nhưng nếu không thử sức thì làm sao biết mình ở nấc nào? Mà
bao giờ mới dám làm? Các anh nên nhớ đây là công trình trọng điểm cấp Nhà nước,
tiền tươi thóc thật. Nói thực với các anh, em rất muốn có gói thầu công trình ấy
trong tay.
- Nhưng em định làm thế nào? - Quân hỏi.
- Để em nghĩ thêm cho thật chín. Có lẽ… - Vẻ đắn đo, cô ngập
ngừng rồi đi ra phía cửa nhìn ra khoảng trời rộng phía sau nhà. Đó là nơi thường
khi gặp những điều cần suy tính Duyên hay ra đấy suy tư. Hai người đàn ông im lặng,
tôn trọng, chờ đợi… Một lát, Duyên quay lại nói tiếp:
- Anh giúp em tư vấn cho anh Quân về nguyên tắc bỏ thầu, và
những gì liên quan bảo đảm cho Doanh nghiệp Hoàng Quân đủ tư cách pháp nhân
tham gia. Còn em, chiều nay sẽ gặp anh Hoạt bàn chuẩn bị lực lượng. Khi đấu thầu,
cần phải có một số “quân xanh” hỗ trợ. Nếu kế hoạch có khẳ năng thực thi, em sẽ
thân chinh gặp quyền Chủ tịch tỉnh.
29.
Trần Búp thức dậy trong trạng thái lơ mơ, cổ họng khô khốc, đầu
váng vất nhức như búa bổ, thái dương giật nhịp thình thịch, thình thịch; ổ bụng
nôn nao, cồn cào, quặn thắt. Mùi chua loét từ dạ dày thốc ngược, xộc lên mũi
lên miệng. Ông nhăn mặt ghê tởm, muốn nôn ra mà không nôn được, ợ hơi liền mấy
cái, mồm há to ngáp. Những giọt nước mắt từ khóe mắt rơi xuống gò má, lăn lên
môi, vị mặt chát. Ừ, sao nước mắt lại không ngọt nhỉ? Những lúc con người ta
vui sướng nước mắt có ngọt không? Cũng có thể! Những lúc vui sướng có khóc đâu
mà biết vị của nước mắt thế nào! Vậy nước mắt chỉ dành cho đau khổ, tủi hổ, tuyệt
vọng, chán chường? Chắc thế nên vị nước mắt mới mặn, mới chát? Tự nhiên, như đồng
hóa nỗi niềm, nước mắt trào thành dòng xối xả. Giám đốc bưng mặt, nước mắt chảy
tràn trề như suối, ngấm qua tay, luồn qua kẽ rơi xuống đệm ghế, lúc ồ ồ, lúc
thánh thót khoan nhặt… Ông cố kìm, nước mắt càng tuôn ra. Lẫn trong dòng nước mắt
mặn chát là tiếng nấc nghẹn ngào, uất ức, dằn vặt. Vật vã, thổn thức không nén
nổi, tiếng khóc vỡ òa lên nức nở.
Cứ tưởng khóc như vậy nào có nín lại được? Ai ngờ, tiếng khóc
bỗng im bặt. Nỗi niềm bi lụy ai oán đã vào giai đoạn cuối, nước mắt đã cạn, đã
làm xong sự trung hòa đau khổ. Giám đốc không khóc nữa, từ trong miệng phì ra nỗi
chua xót thành tiếng cười. Đầu tiên là tiếng cười gằn, tiếp đến là tiếng cười đỏng
đảnh, nhạt thếch như ánh trăng suông đêm hạ tuần, rồi ré lên lanh lảnh chát
chúa vang trong đêm. Nghe man rợ, rùng rợn và ai oán. Không có vị mặt chát,
nhưng âm thanh tiếng cười thốt ra từ miệng người đau khổ còn ghê rợn hơn cả tiếng
mèo gào trong đêm hoang; thắc thỏm, não nuột như tiếng cú rúc gọi tử thần. Cứ vậy,
như kẻ điên, như người loạn trí, lẫn dại, lẫn khôn, cho tới khi không còn đủ sức
nữa, tiếng cười lịm dần, rồi ư ử… ư ử, rên rẩm như chó mắc bệnh hen xuyễn. Lát
sau, đầu ông ngoẹo về một bên, bọt rãi phè, đùn ra hai ria mép trắng như rớt
chó dại, hơi thở khò khè, khò khè rồi đều dần, đều dần như người làm việc nặng
lịm thiếp vào giấc ngủ nặng nề.
Gần sáng, Giám đốc bừng tỉnh. Ông chống tay, lật nghiêng người,
cố nhổm dậy. Trong phòng vẫn tối mò, ánh sáng ngoài trời lọt qua khuôn cửa kính
mờ cửa số. Không biết mấy giờ rồi? Hai điểm dạ quang trên mặt đồng hồ đeo tay
cho ông biết đã gần năm giờ sáng. Thi thoảng, tiếng ô tô chạy trên đường quốc lộ
ào vào chợt xa, chợt gần. Giám đốc đứng dậy bật điện, đi vào toa lét, cởi quần
áo, mở vòi sen xuối nước lên người. Hơi lạnh đột ngột làm ông rùng mình nhưng rồi
cảm giác ấy tan nhanh. Dòng nước mát trả cho ông sự tỉnh táo. Ông cảm thấy như
quên hết chuyện khóc, cười vừa qua.
Tắm xong, thấy đói bụng, ông mở ngăn kéo lấy ra một gói mì ăn
liền. Không có bát, ông bóc cho vào ca uống nước. Hơi nhỏ, nhưng cũng được! Ăn
khô một chút đã sao. Ông lấy phích rót nước, nước hơi nguội. Không sao, ngâm
lâu một lúc là được. Ông nhấc tập tài liệu đậy lên miếng ca. Từ trong tập giấy,
một chiếc bìa nhỏ rơi xuống nền nhà. Ông cúi xuống cầm lên, nhân ra đấy là chiếc
các-vi-dit của tay nhà báo. Một ý nghĩ rất nhanh chạy trong đầu, tựa như vệt
sáng lóe lên ở phía cuối đường hầm trong đêm tối. Tay nắm chặt tấm
“các”, mắt Giám đốc đăm đăm nhìn vào hàng số điện thoại duy nhất ghi trong đó.
Bộ mặt và lời nói của tay nhà báo hiện lên:
- Nếu anh cần gì, anh phôn cho tôi. Kể cả những vị tai to mặt
lớn, muốn tiếp cận ai, tôi bật đèn xanh cho.
Cũng có thể? Tại sao ta không thử chứ? Những kẻ làm nô lệ cho
đồng tiền thường được việc. Hãy coi đó là việc mua bán sòng phẳng. Điều kiện và
hoàn cảnh của tay nhà báo biết đâu có thể tìm cho ông điểm nhấn. Không một chút
do dự, Giám đốc nhấc điện thoại, bấm dãy số di động trong các. Liên tiếp những
tiếng huýt sáo dài, sau đó là tiếng càu nhàu:
- Gì mà sớm vậy, ai đấy?
- Giám đốc Công ty xây dựng số I đây. Có nhận ra nhau không?
- Rồi! Chào sếp! Có gì mà sếp gọi em sớm thế?
- Chúng ta gặp nhau một lúc được không? Điện thoại không tiện.
- Được chứ? Nhưng gặp ở đâu? - Tay nhà báo hỏi.
- Anh biết nhà riêng của tôi chứ?
- Biết! Mấy giờ?
- Tầm tám giờ sáng nay được không?
- Ô kê! - Tay nhà báo cúp máy.
Trước khi rời cơ quan, ông viết mấy chữ gửi lại cho bí thư:
“Công việc tôi nhờ, anh khẩn trương tiến hành giúp. Sáng nay
tôi bận, có gì chiều gặp”.
Về đến cửa nhà, Trần Búp đã thấy tay nhà báo chực sẵn. Y xởi
lởi:
- Nhận được điện của sếp, em biết ngay có chuyện quan trọng.
Trần Búp đưa tay nhà báo lên phòng khách. Trong khi Trần Búp
lấy ấm điện cắm nước, tay nhà báo đến chỗ để bức phù điêu sờ mó xuýt xoa:
- Đẹp và thế đứng yêng hung quá! Em chưa bao giờ nhìn thấy bức
phù điêu nào đẹp như thế này.
- Công việc công ty nhờ các anh tiến hành đến đâu rồi? - Trần
Búp nói khi hai người ngồi đối diện.
- Tôi thông báo rồi! Chỉ chờ công ty quyết định thời gian tiến
hành là xong. Cánh phóng viên nhà báo tụi em lúc nào chả khát tin.
- Đầu tháng sau - Giám đốc trả lời rồi nói tiếp - Hôm nọ tôi
nghe anh nói anh có nhiều mối quan hệ trên tỉnh?
- Sếp cần gặp ai? - Tay nhà báo hỏi lại.
- Tôi muốn gặp Trưởng ban dự án xây dựng công trình khu liên
hợp thể thao.
- Công ty muốn đấu thầu à?
- Không! Tôi muốn trúng thầu! - Giọng giám đốc sắc lẹm.
- Sao? Trưởng ban là to nhất rồi còn ai hơn nữa?
- Giám đốc ngạc nhiên.
Nhà báo nhìn giám đốc cười ngất:
- Tưởng sếp dành chuyện này lắm, hóa ra “ếch” thế không biết!
Muốn nhẩy vào tham gia đấu thầu hãy gặp Trưởng ban, còn muốn trúng thầu phải gặp
người khác! Không trưởng nhưng lại “nặng ký” hơn.
- Ai? - Giám đốc hỏi.
- Không lộ được, sếp thông cảm. Nếu sếp muốn có công trình ấy,
tôi xin đứng giữa dàn sếp giúp.
- Có chắc không?
- Tùy vào “đạn bắn”. “Đạn” nhiều làm “quân đỏ”, “đạn” ít làm
“quân xanh”.
- Tôi không làm quân xanh. Quân xanh phải do tôi
chỉ định.
chỉ định.
- Nghĩa là sếp không muốn chia chác với người khác?
- Đúng vậy?
- Bao giờ sếp cần trả lời?
- Càng sớm càng tốt!
- bây giờ sang phần giá cả, sếp định thế nào?
- Tôi chưa quen việc này, anh cứ đặt giá. Có điều, mong anh
tuyệt đối giữ kín hộ.
Tay nhà báo cười khẩy, ra vẻ như lời nói của giám đốc Trần
Búp là thừa.
- Có hai cách tình: “Một là “mua đứt bán đoạn”; hai là “chung
cổ phần”. Theo như ý sếp nói, sếp muốn “mua đứt bán đoạn” có đúng không?
- Đúng vậy!
- Chiều mai tôi trả lời. Riêng phần tôi, tỉ lệ 10% tổng giá
trị. Nếu thỏa thuận được, xin dếp ứng trước cho một số tiền đặt cọc. Số còn lại,
thanh toán sau khi trúng thầu!
- Nhưng sao giá cao thế? - Trần Búp kêu thảng thốt.
- Có phải mình tôi đâu sếp? thời buổi này ăn mảnh nuốt không
trôi.
- Anh tính, lại còn bao thầu nữa.
- Cái đó có luật rồi, tỷ lệ thế nào chắc sếp thuộc hơn tôi?
30.
Rất tế nhị, quyền Chủ tịch tỉnh sau khi nhận điện xin tiếp kiến
của Duyên, ông cho cô địa chỉ nơi ông thường đến nghỉ vào ngày cuối tuần. Đó là
khu an dưỡng dành cho các bậc lão thành cách mạng.
Khi Duyên đến, đã thấy xe ô tô chờ quyền Chủ tịch tỉnh đỗ ở sân.
Người thường trực báo với cô, ông đang chờ cô trong phòng khách.
Cửa không đóng. Duyên bước vào, chào:
- Em chào Thủ trưởng!
Quyền chủ tịch tỉnh buông tờ báo Nhân dân xuống mặt bàn, nói:
- Ngồi đi Duyên - ông rót nước rồi đẩy chén về phía cô - Ta vừa
uống nước vừa làm việc nhỉ!
Duyên đưa tay đón chén nước:
- Dạ em xin, mời Thủ trưởng uống nước.
Không để Duyên trình bày, quyền Chủ tịch tỉnh nói luôn, và tỏ
ra là người rất thực tế:
- Tôi được nghe báo cáo, Duyên là người bỏ phiếu chống lại việc
tổ chức lễ đón nhận Huân chương lao động của công ty?
- Em… em… - Duyên lúng túng vì không ngờ quyền Chủ tịch tỉnh
đề cập tới vẫn đề này.
Ông nói tiếp:
- Công ra công, tội ra tội. Cái nào đi cái nấy! Việc tổ chức
đón, rước Huân chương là việc cần làm. Đó không những là nhiệm vụ chính trị, mà
còn là quyền lợi chung nhằm biểu dương, đánh giá thành tích cống hiến bao nhiêu
năm của tập thể cán bộ, công nhân viên công ty. Nếu chỉ vì lý do thiếu tiền mà
không làm sẽ bị mang tiếng. Tủy ban tỉnh sau khi nghe báo cáo rất ủng hộ.
- Nhưng…
- Thôi – Quyền chủ tịch tỉnh ngắt lời cô - Việc đó coi như đã
xong. Bây giờ tôi muốn nghe chính kiến của Duyên về tương lai của Công ty xây dựng
số I.
Duyên bối rối tránh ánh mắt của ông. Cô cảm thấy đôi mắt kia
đang đọc những ý nghĩ trong đầu mình. Cô cố trấn tĩnh tìm câu trả lời:
- Cái đó do tỉnh quyết định chứ làm sao em biết được.
- Tôi cần nghe ý kiến cá nhân của Duyên, chứ không muốn nhận
sự tránh né. Trong buổi nói chuyện hôm nay, tôi mong Duyên thật thoải mái. Có
thế chúng ta mới chóng đi tới đích.
- Dạ, thế thao ý kiến của thủ trưởng thế nào?
- Duyên hỏi lại, và ngước đôi mắt có hàng mi cong nhìn lại.
“Một đôi mắt không chê vào đâu được” ông thầm nhận xét, và chấp
nhận cuộc đấu mắt trong giây lát, rồi nói:
- Tôi không muốn Công ty xây dựng số I bị tuyên bố phá sản.
- Thưa thủ trưởng…
- Em có thể bỏ hai chữ thủ trưởng và thói thưa bẩm đi được
không? Chẳng lẽ chức vụ làm cho khuôn mặt tôi biến dạng, để đến nỗi cho em xưng
hô đến thế sao?
Dạ… không phải thế. Mặt Duyên đỏ bừng, lời nói ấp úng, bởi
câu nói hài hước của người đối thoại. Cô cúi mặt xuống, vặn vèo đôi tay… Rồi cô
lấy lại bình tĩnh trả lời: - Thưa anh, dẫu không muốn anh cũng biết, thực chất
hiện nay công ty đang sống dở, chết dở, tồn tại trên danh nghĩa…
- Cắt một ngón tay để tránh bị hoại tử cả cánh tay là điều phải
làm. Nhưng cắt đi lúc nào là điều cần phải bàn. Chẳng lẽ không tìm ra biện pháp
nào hay hơn ư?
- Thưa anh, nếu không muốn công ty bị phá sản, chỉ có thể nhờ
tỉnh can thiệp bằng cách tạo điều kiện cho công ty có được công trình.
- Cả hai cách đều không được. Tôi muốn nó tự teo đi mà không
phải động đến dao kéo. Và bây giờ không phải chỉ có một công ty xây dựng số I.
Mà tất cả các đơn vị kinh tế trong tỉnh cần phải được thanh lọc.
- Nhưng còn số phận những người lao động?
- Duyên hỏi:
- Hồi mới tách tỉnh, lúc tôi còn đang làm Giám đốc Sở xây dựng,
tôi đã từng hy vọng vào sự chuyển mình. Tôi đã cố níu kéo lại những gì thuộc về
quá khứ. Người hiểu được cho đó là trách nhiệm của lương tâm. Kẻ không hiểu cho
đó là những thí điểm để tạo ra một thế đứng. Kể ra, nói thế nào cũng đúng. Sự
nghiệp mà chúng ta đang theo đuổi, không thể chỉ là tôi hay bất cứ một ai khác
đã làm được. Là người lãnh đạo, tôi cố lo cho những số phận đã hết lòng với nhà
nước. Họ đã không hề tiếc cả tuổi xuân, sức lực và trí tuệ để xây dựng chế độ
này. Chính vì những gì rớt lại của thời kỳ bao cấp mà tôi không dám mạnh tay.
Khi tôi quyết định xây dựng những mô hình như Công ty xây dựng số I, là nhằm giải
quyết những tồn tại, như một người mắc nợ với quá khứ phải trả. Song, cái đáng
buồn nhất, đó là việc tôi đã đặt lòng tin không đúng chỗ. Quyền chủ tịch tỉnh đắn
đo một chút rồi nói tiếp - Tôi hy vọng vào tài năng lãnh đạo và trình độ quản
lý chuyên môn của Trần Búp bao nhiêu, thì chính tôi lại nhận ra mình sai lầm.
Như Duyên đã biết. Để vực Công ty xây dựng số I lên, từ ban đầu, tôi đã tạo ra
cho cỗ máy ấy hàng chục công trình với vốn liếng hàng trăm tỉ đồng để lấy đà.
Nhưng tổng kết thời gian hơn sáu năm trôi qua, tỉnh đã được gì và cũng phải hỏi
Trần Búp được gì? Tất nhiên, trong quan điểm của tôi, người ta làm được việc
thì người ta có quyền được hưởng thụ. Tôi không ghen tị với ngôi nhà bốn tầng ở
Phúc Hòa hay tòa biệt thự nguy nga nằm giữa Thủ đô của anh ta. Tôi cũng không lấy
quyền lãnh đạo để hỏi xem anh ta đi xe ô tô đời nào. Nhưng là lãnh đạo, tôi có
quyền nhìn vào sự phát triển của Công ty do anh ta phụ trách. Chính phủ có đầy
đủ những văn bản nhằm tạo cho các doanh nghiệp Nhà nước vận dụng. Nhưng chỉ
không đầy hai năm sau khi tôi được điều lên tỉnh, công ty xây dựng số I nằm
trong cơ hội bị đổ bể. Tại ai? Phải chăng đó là sự bất tài, dựa vào thời cơ để
trục lợi riêng cho mình? Tôi còn biết hiện nay anh ta còn nợ công tay hàng tỉ đồng
cho việc làm nhà và mua nhà ở Hà Nội. Chẳng lẽ giờ đây tôi lại tạo điều kiện
cho anh ta kiếm tiền ở các công trình để trả nợ hay sao?
Quá xúc cảm, ông dừng lời đột ngột, ngả người vào đệm nghế,
ngửa mặt nhìn lên trần. Duyên đứng dậy, đi tới bình nước lọc để cạnh tường, lấy
cốc nước mát mang đến trước đặt trước mặt ông:
- Anh uống nước.
Quyền Chủ tịch tỉnh lặng lẽ cầm cốc nước lên nhâm nhi từng ngụm
một. Đợi ông đặt cốc xuống, Duyên hỏi:
- Thế bây giờ ý anh thế nào?
Quyền chủ tịch nhìn xói vào mặt cô, đáp:
- Tôi có ý định xóa sổ công ty xây dựng số I mà không phải
công ty khác? - Duyên hỏi:
- Không thể cùng một lúc làm hàng loạt được.
- Quyền chủ tịch tỉnh đáp:
- Tại sao?
- Bởi trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy còn có ý kiến chưa nhất
trí. Vả lại, tiềm năng của những công ty khác không có.
- Thế anh định làm bằng cách nào? - Duyên hỏi.
- Bằng cách nào ư? - Quyền chủ tịch tỉnh nhìn Duyên - Bằng
cách Doanh nghiệp Hoàng Quân đứng ra mua 51% các thiết bị và tài sản của Công
ty xây dựng số I trên danh nghĩa cổ phần hóa.
Duyên trân trân nhìn quyền Chủ tịch tỉnh. Vì sao mà ông ta hiểu
được khả năng tài chính của cô. Cô nói:
- Đúng! Không đương nổi, nếu thiếu Duyên và tôi. Còn tôi sẽ đảm
đương nổi nếu Duyên và tôi đứng phía sau làm hậu thuẫn.
- Anh đánh giá em cao như vậy có chủ quan quá không?
Không để ý tới câu nói của Duyên, quyền Chủ tịch tỉnh tiếp tục:
- Như mọi người đã biết, từ ngày tôi được bổ nhiệm quyền chủ
tịch tỉnh, nhiều kẻ lấy sự thất bại của những đơn vị xây dựng được thành lập
sau khi tách tỉnh, mà điển hình là công ty xây dựng số I làm mũi dùi kích bác
nhằm hạ thấp uy tín của tôi với cấp trên. Chính vì vậy, cáp trên còn đang xem
xét, cân nhắc giữa tôi và một vài đơn vị khác. Không nói chắc Duyên đã hiểu.
Tôi cần một quyết đáp mạnh nhằm gây ấn tượng. Nếu giái quyết được món lùng
nhùng đó, không những giải quyết được khó khăn của ngành xây dựng trong tỉnh
nói chung và công ty xây dựng số I nói riêng, mà đấy còn là điểm sáng, điểm nhấn
điển hình trong việc thực hành nhiệm vụ cổ phần hóa của tỉnh, phù hợp với yêu cầu
mà trung ương đã đề ra. Từ đấy, ta sẽ lấy đó để nhân rộng sang các đơn vị kinh
tế khác, không chỉ riêng ngành Xây dựng. Trong cuộc họp vừa qua, khi nghe tôi
trình phương án chuyển công ty xây dựng số I sang cổ phần hóa, đa số Thường vụ
Tỉnh ủy tán thành…
“Và dọn được đống rác cũ sang chỗ mới”. Duyên thầm nghĩ, rồi
hỏi:
- Anh có ần em trả lời ngay không?
- Không! - Quyền Chủ tịch tỉnh đáp - Duyên cứ suy nghĩ cho kỹ.
Nhưng trong khi chờ câu trả lời, tôi muốn khuyên Duyên một điều: đừng để lỡ thời
cơ.
- Cảm ơn anh. Với em, việc hôm nay đã đưa ra quá đột ngột. Em
cần có sự bàn bạc với mọi người trong gia đình. Nhưng… giả dụ - Duyên láy lại
câu nói.
- Đay là em chỉ giả dụ thôi, nếu em chấp nhận thì Doanh nghiệp
Hoàng Quân được gì?
- Câu trả lời ấy thuộc về Duyên chứ không thuộc về tôi. Nhưng
có thể khẳng định: Chỉ được chứ không mất!
- Thôi thì em cứ biết thế đã! - Duyên mở cặp lấy ra tập hồ sơ
- Còn đây là những yêu cầu của doanh nghiệp Hoàng Quân về vấn đề trả lại đất
cho doanh nghiệp Đài Loan. Em xin gửi anh. Anh xem rồi cho ý kiến.
- Những điều kiện cụ thể phải không? - Ông đón tập hồ sơ, rồi
hỏi.
- Vâng. - Duyên trả lời - Có gì thì anh cứ điện. Em chờ.
Có tiếng gõ cửa, người quản lý khu an dưỡng xuất hiện:
- Mời thủ trưởng và chị sang phòng ăn.
Duyên định khước từ, nhưng quyền Chủ tịch tỉnh đã nói.
- Có tôi và Duyên thôi mà! - Rồi ông quay sang nói với người
quản lý – Một lá nữa chúng tôi sẽ xuống.
Thấy vậy, Duyên không tiện từ chối, chờ cho người quản lý đi
ra, cô lấy trong túi ra một chiếc máy di động, đặt lên mặt bàn, đẩy về phía người
đối thoại:
- Trước lúc đi, nhà em có gửi biếu anh chút quà.
Trán quyền Chủ tịch tỉnh nhíu lại, nhưng khi nhìn thấy món
quà, ông cười rất tươi:
- cái này thì nhận được! - Ông cầm lên - Mô đen bao nhiêu
đây? Có chụp ảnh được không?
- Dạ - Duyên đáp - Thấy Quân bảo em, đây là đời mới nhất.
CHƯƠNG KẾT
31.
Có một sự trùng lặp ngoài ý muốn. Ấy là vào ngày tổ chức đón,
rước Huân chương lao động hạng Ba của công ty xây dựng số I cũng là ngày tỉnh mở
gói thầu xây dựng khu Liên hiệp thể thao quốc gia.
Giám đốc Trần Búp mời Bí thư đảng ủy và Phó giám đốc Duyên
lên hội ý:
- Cô Duyên ở nhà cùng với đồng chí Bí thư làm công tác tổ chức.
Hôm ấy tôi phải lên xem kết quả cụ thể thế nào. - Rồi ông bàn giao lại tập báo
cáo thành tích cho Duyên - Cô đọc lại, có gì cần bổ sung thì thêm vào.
Đã lâu mới giáp mặt, Duyên không ngờ ông xuống mã nhanh quá.
Mái tóc vốn dày dặn bóng mượt, nay xác xơ, bạc phếch. Vầng trán, đuôi mắt, gò
má, những nếp nhăn của tuổi đời chồng chéo, gấp nếp, đè lên lớp nhăn trách nhiệm,
làm cho khuôn mặt ông nhìn xọm hẳn.
Mấy hôm trước, Duyên được nghe Hoạt kể lại chuyện Giám đốc Trần
Búp nhờ tay nhà báo “chạy thầu” giúp; rồi chuyện Mã Thòng Lài, ép Trần Búp…
Duyên biết, trong cuộc chạy đua này, Trần Búp đã quyết định ném ra chiếu bạc lá
bài và những đồng tiền cuối cùng.
Có một chút băn khoăn gờn gợn trong trái tim mẫn cảm của
Duyên. Nhưng rồi nó thoảng qua như chính vòng quay của số phận. Cuộc sống
thương trường vốn vậy. Đã chấp nhận bước vào sân chơi của giới kinh doanh, là
chấp nhận sự thắng, thua, thành, bài. Bảo vì danh dự cũng đúng! Bảo tại lòng
tham cũng đúng! Ai đó rao giảng “cạnh tranh lành mạnh”, tưởng đó là sự phi lý
trong vô vàn những luận điểm sáo mòn, cũ rich, kiểu đạo đức giả, vừa đấm vừa
xoa. Không có! Hoặc có thể có. Nhưng từ trước đến nay và bây giờ chưa có. Nó gần
với sự không tưởng nhiều hơn. Cô nghĩ vậy.
Và thực trớ trêu, chính doanh nghiệp Hoàng Quân của chồng cô
lại là đối thủ tranh thầu của công ty xây dựng số I.
Vả, cũng với tin của Hoạt mang tới, Duyên còn nhận được điện
của quyền Chủ tịch tỉnh bảo với cô:
Đã có văn bản bổ nhiệm chính thức ông vào ghế Chủ tịch tỉnh.
Như vậy kế hoạch nắm cương vị lớn nhất tỉnh của ông đã xong. Nhưng Duyên biết,
đó chưa phải là nấc thang cuối cùng của ông. Nó chỉ là sự hoàn thiện cho cái bắt
đầu cảu một cuộc chạy đua sắp tới.
Quả thật, ước mơ và khát vọng của con người là vô cùng tận.
Và Duyên cũng chỉ là một trong số vô vàn những con người trong cái guồng quay bạo
liệt, tàn khốc ấy.
32.
Buổi mở gói thầu Khu liên hiệp thể thao Quốc gia được đặt
trong Hội trường lớn của tỉnh. Khi giám đốc Trần Búp đến, các nhà thầu đã đông
đủ. Ông đưa mắt tìm, và thấy ngay nhà báo vai đep máy ảnh, tay cầm ghi âm, chân
lăng xăng chạy hết chỗ này đến chỗ khác.
Nhìn thấy ông, tay nhà báo giơ tay vẫy vẫy. Trần Búp gập đầu
đáp trả, nhưng khi đi về phía ấy, mà bước về hàng ghế bên trái, sát khán phòng,
gần bục chủ tọa. Nhìn vẻ mặt tươi cười, hớn hở của tay nhà báo, giám đốc Trần
Búp thở phào an tâm. Nhưng vừa đặt đít xuống, anh chàng mã đã như từ dưới đất mọc
lên, tay xoa, miệng loe nhoẻn:
- Thế nào? Chắc thắng chứ sếp? - Rồi ngồi luôn xuống ghế cạnh.
Giám đốc Trần Búp nhăn mặt như ngửi phải mùi phân. Không trả
lời, ông quay sang bên kia nhìn bao quát. Ông nhận ra Hoạt và một số người trước
đây ở công ty, nay đã tách ra thành lập doanh nghiệp riêng. Họ ngồi với nhau
thành dãy. Cách một hàng ghế nữa, giám đốc Hoàng Quân và người luật sư đang thì
thầm to nhỏ. Trần Búp biết, mặc dù Hoạt và mấy người đó trên danh nghĩa là những
đơn vị tham gia thầu, nhưng thực tế đó là “quân xanh” của Quân.
Cùng lúc, Quân ngẩng mặt nhìn về phía ông. Hai luồng mắt giao
nhau rồi quay vội đi. Với Quân, đây là cuộc tham gia đấu thầu đầu tiên trong đời.
Và cũng là lần đầu tiên trong đời anh tập làm mặt lạnh, ngơ đi trước người
quen. Nghe ra cứ xót xa làm sao ấy. Quân thấy mình như đang trốn chạy khỏi
chính mình. Anh không muốn thế, nhưng sự đời buộc anh phải làm vậy.
Nhớ tới hôm nhận giấy báo lên dự mở thầu. Quân hỏi vợ:
- Thế thủ tục như thế nào rồi?
Duyên cười:
- Đã có luật sư đi cùng. Anh lơ gì!
Thế mà trước đây Quân cứ ngỡ cuộc đấu thầu đều giống như mọi
cuộc đấu giá trên phim ảnh. Đầy tính gay cấn và hồi hộp. Người chủ tọa giơ cao
chiếc búa lệnh, phát mức giá khỏi điểm. Những cánh tay giơ cao, những kẻ tham
gia thầu đưa giá của mình ra đề chèn nhau…
- Không phải thế. Trên phim ảnh là đấu giá. Người nào trả cao
là được! Còn đây là thầu công trình, mà xét theo kiểu xã hội chủ nghĩa! Rồi luật
sư giảng giải cho Quân về phương pháp đấu thầu.
Như vậy trong cuộc mở thầu này không biết ai sẽ chiến thắng!
Giống như tất cả những người đã đến đây, tham gia vào cuộc chơi này. Không ai
biết tiềm năng của ai. Mọi bí mật nằm trong hồ sơ. Như kẻ chơi bạc úp cây tẩy của
mình xuống chiếu. Ai cũng hy vọng lá bài của mình khi lật sẽ thắng. Tất cả đều
chờ đợi, tất cả đều mong mỏi… tất cả đều tù mù.
Đã tới giờ khai mạc. Sau những thủ tục thông lệ, người chủ tọa
thay mặt Hội đồng tư vấn đấu thầu trịnh trọng tuyên bố mở thầu, và giải thích
danh sách các đơn vị tham gia thầu sẽ được xếp đặt và công bố theo vần ABC.
“Như vậy Công ty xây dựng số I sẽ nằm ngay tốp đầu”. Vừa
nghĩ, giám đốc Trần Búp vừa hồi hộp trong lồng ngực, quả tim của ông đập như loạn
nhịp. Hội trường lắp điều hòa mát vậy mà từ sống lưng ông, mồi hôi toát chảy
thành dòng.
Ngồi bên cạnh, chàng mã cũng nôn nao không kém! Hai tay nắm
chặt, người nhướn về phía trước. Tất cả sự hy vọng cho cuộc đổi đời nằm trong
đó. Bóc tách khối lượng đường sá, vỉa hè, cống rãnh cũng đã tính tới tiền tỉ rồi…
Đấy là chưa nói tới Lài còn hứa, nếu Công ty trúng thầu, Lài sẽ bắt chồng dành
thêm cho Mã một phần xây dựng nữa. Mã vừa nhẩm vừa mơ… Chỉ một cú này thôi, Mã
sẽ trả hết nợ. Không chừng sẽ còn dư tiền xây nhà, mua ô tô nữa…
Trong lúc Mã ước, Mã mơ thì trên kia, người chủ tọa bóc niêm
phong từng cặp hồ sơ, rồi dõng dạc đọc mức tham gia thầu của từng đơn vị:
- Doanh nghiệp xây dựng Anh Thái - quận Ba Đình - Hà Nội; hai
mươi tư tỉ, năm trăm năm mười triệu đồng.
- Doanh nghiệp xây dựng Bình Đà - Hà Tây: Hai mươi tư tỉ, sáu
trăm triệu năm trăm nghìn đồng.
- Hợp tác xã xây dựng Chung Thủy - Nam Định: Hai mươi ba tỉ,
bảy trăm bốn mươi triệu năm trăm nghìn đồng.
Liền sau đó, giám đốc Trần Búp nghe rõ tiếng người chủ tọa xướng
tên công ty mình:
- Công ty xây dựng số I - Khu vực phía Bắc: Hai mươi mốt tỉ,
hai trăm ba mươi lăm triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng.
Tất cả mọi người ngồi trong hội trường đều ồ lên vì mức giá
đưa ra thấp hẳn với giá của các đơn vị khác.
Những tiếng ngạc nhiên như khẳng định mức giá ấy khó có người
theo kịp. Có tiếng người khẽ kêu:
- Lại còn đèo thêm năm mươi nghìn nứa!
- Thì đã sao! Đã là tranh thầu thì chỉ cẩn hơn nhau một đồng
là thắng! - Một tiếng khác cãi lại:
Tiếng ai đó văng ra cộc lốc:
- Nhận thấp thé thì ăn đéo gì?
Giám đốc Trần Búp cười mỉm, nghĩ thầm: “Nhận thế nào là quyền
người ta, sao không hạ thấp xuống mà thầu?”.
Tiếng người chủ tọa nhắc nhở:
- Đề nghị các vị yên lặng cho! Rồi đọc tiếp - Công ty xây dựng
Hà Nội: Hai mươi bốn tỉ, hai trăm năm mươi triệu đồng.
- Thầu cao thế! Vứt! - một tiếng đế vào
- Cứ chờ xem! Hồ sơ còn nhiều!
Đúng như vậy, trên bàn còn rất nhiều hồ sơn. Giám đốc Trần
Búp vẻ căng thẳng. Chồng hồ sơ để trên bàn vợi đi bao nhiêu, lòng ông bớt lo lắng
ngần ấy. Ông ngẩng mặt tìm tay nhà báo. Tay nhà báo nhìn lại ông, giơ cao cánh
tay nắm chặt, ngón tay cái chìa ra rung từng nhịp ra hiệu chắc thắng. Hành động
ấy cho ông an tâm và tự tin.
- Doanh nghiệp xây dựng Đồng Tâm: Hai mươi bốn tỉ, tám trăm
triệu đồng. - Tiếng người chủ tọa.
Lại một tiếng tục tĩu đế sau:
- Ăn cứt! Giá nhà thầu đưa ra có hai mươi nhăm tỉ rưỡi. Đặt mức
cao thế bao giờ với tới được!
Thêm một loạt danh sách nữa, nhưng so sánh với giá mời thầu,
tất cả đều suýt soát. Bỗng giám đốc Trần Búp gần như đứng tim, ngừng thở vì
nghe thấy:
- Doanh nghiệp xây dựng Hoạt Linh: Hai mươi mốt tỉ, năm trăm
bảy mươi hai triệu đồng.
Chàng Mã quay lại phía ông:
Của nó suýt soát, những vẫn còn cao hơn mình.
Tự dưng, giám đốc Trần Búp thấy lo lo. Nỗi lo lắng mơ hồ. Ông
cảm thấy có gì bất bình thường khi giá thầu trong tốp “quân xanh” của Quân đều
chờn vờn quanh khung giá của ông đưa ra. Chẳng lẽ tụi nó cũng chạy thầu? Không
có lẽ! Nhớ hôm tay Nhà báo đến lấy tiền đặt cọc, ông hỏi:
- Này, có chắc không đấy?
- 100% sếp an tâm! Cứ là đinh đóng cột!
Ông lo vậy thôi, chắc không có chuyện gì đâu! Ông tự an ủi
mình. Tuy trấn an vậy, nhưng cứ mỗi lần người chủ tọa xướng tên con số hai mươi
mốt là Trần Búp lại nín thở. Ông ngoảnh sang nhìn tụi Hoạt và các đối thủ. Dưới
hàng ghế sau, Quân và tay luật sư có vẻ rất căng thẳng. Cả hai tì tay lên thành
ghế trước, nghển cổ chờ đợi. Vừa lúc Giám đốc Trần Búp chợt nhạn ra chính Quân
mới là đối thủ, thì tiếng xướng của người chủ tọa như vang ta và rõ nét hơn:
- Cuối cùng là đơn thầu của doanh nghiệp xây dựng và kinh
doanh vật liệu Hoàng Quân: Hai mươi mốt tỉ, hai trăm ba mươi lăm triệu, năm
trăm bốn mươi nghìn đồng.
- Thôi chết sếp ơi! - tiếng mã kêu như reo: - Mình bị chúng
nó đánh úp rồi! Giá của thằng Quân thấp hơn đúng mười nghìn.
Nghe, giám đốc công ty xây dựng số I bang hoàng. Ông ngỡ
ngàng như chưa tin vào tai mình. Mắt ngơ ngác nhìn xung quanh như định tìm…
nhưng tay nhà báo đã chuồn đi đâu không thấy.
… Ông bước ra khỏi hội trường lúc nào không biết nữa. Đầu óc
cứ lang mang, luẩn quẩn. Câu hỏi “tại sao chỉ chênh nhau có mười nghìn tôi?” cứ
loay hoay trong đầu ông. Rồi tự nhiên, ông cảm thấy đầu mình choáng váng, người
lâng lâng như mất trọng lượng, chân hẫng hụt bước về phía xe ô tô. Người lái
nhìn thấy ông, vội chạy ra mở cửa xe, giục:
- Khẩn trương lên thủ trưởng. Về cho kịp dự tiệc liên hoan mừng
đón Huân chương!.
Phúc Yên tháng 3/2006
































Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét