Ngày ấy, Hoàng Trung Thủy là Lớp
phó của Lớp bồi dưỡng những người viết văn trẻ khóa 6 (1973-1974) tại Quảng
Bá, Hà Nội, do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức.
Lớp học chưa đến ba chục người,
nhưng giáo trình giảng dạy và tinh thần học tập rất nền nếp, quy củ. Ấy nhưng
với anh em viết, thì cái trò chức tước lớp trưởng lớp phó cũng chả có gì quan
trọng cả. Tuy nhiên, chúng tôi rất quý nhau, tôn trọng nhau. Hoàng Trung Thủy
được cả lớp quý mến.
Anh người cao dong dỏng, toát vẻ
hào hoa phong nhã, mái tóc bồng bềnh sương khói. Đặc biệt là anh hay cười. Hễ
nói đến thơ ca, anh lại say như điếu đổ.
Vốn là anh giáo làng ở Nam Định, vừa
dạy học, vừa ham viết thơ, rồi cùng người em rể là nhà thơ Vũ Ngọc Phác về học
ở Quảng Bá. Cặp anh em này có mang theo chiếc xe đạp Phượng Hoàng nam màu
cánh chả. Lớp học hễ có buổi trống tiết, hai người lại kèo kẽo đèo nhau vào
phố phường Hà Nội. Hồi ấy, Hoàng Trung Thủy mê thơ Lưu Quang Vũ và Bằng Việt
lắm.
Hoàng Trung Thủy có trí nhớ thơ bạn
bè đến mức kỳ lạ. Bốc lên, anh cứ nhắm mắt mà đọc. Cái đầu lắc lắc, mái tóc cứ
bồng lên bồng xuống. Ngày ấy nghiệp chữ nghĩa cuốn người ta như lên đồng.
Ngày vào học, Hoàng Trung Thủy chưa phải là người nổi tiếng, nhưng thấp
thoáng các bài thơ anh in trên báo đã làm tôi thú vị. Ấy là giọng thơ hồn hậu,
nồng nhiệt, đắm đuối của chàng trai tỉnh Nam. Những câu thơ thật thà:
Khi anh biết yêu em đồng lúa cũng
chín vàng
Mùa bận rộn tình anh bận rộn.
Hoặc:
Em đi không thấu vùng hương ấy
Bổ dứa chờ anh phấp phỏng chiều.
Khi viết về quê hương, về gia đình,
anh có những câu thơ đọc lên nhói lòng:
Nén hương con thắp ngày ra phép
Viếng mẹ năm nào cháy hết chưa?
Lớp học Quảng Bá kết thúc chẳng bao
lâu thì đất nước thống nhất. Trong không khí tưng bừng miền Nam giải phóng,
Hoàng Trung Thủy làm đơn xin vào dạy học trong đấy. Tôi biết, ngoài phần đem
ánh sáng văn hóa cho vùng đất vừa giải phóng, anh còn có ham muốn mở rộng
vùng đất sáng tác của anh. Mấy năm dạy học, đã lên chức hiệu trưởng trường
huyện, ấy rồi anh giã từ để chuyển về Hội Văn nghệ Vũng Tàu.
Cố Nhà thơ Hoàng Trung Thủy.
Nghiệp văn chương kéo anh đi. Tập
thơ "Tình muộn" của anh được Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm
1990, có hơn chục bài thơ anh viết về Vũng Tàu, quê hương thứ hai của anh. Những
bài thơ có cái tên bài rất thật thà "Chợ tết Vũng Tàu", "Giảng
Truyện Kiều ở Vũng Tàu", "Về những cơn giông ở Vũng Tàu"... đều
chứa chan cảm xúc. Đọc, vẫn thấy rõ một Hoàng Trung Thủy thuở nào. Nồng nhiệt,
hồn hậu, đắm đuối, tuôn chảy. Năm 1997, anh cho ra mắt trường ca "Hoa bằng
lăng" viết hưởng ứng kỷ niệm 50 năm Ngày Thương binh - Liệt sỹ. Trang đầu
sách, anh có in câu thơ "Thi sỹ nên anh sống rất tình".
Từ một anh giáo làng Thành Nam, trở
thành ông giáo đất phương Nam, rồi anh thành nhà thơ, vượt lên nỗi lo đời thường
cơm áo gạo tiền, anh dốc sức cho từng trang viết. Thành phố biển phương Nam đẹp,
thoáng rộng "Mặt trời trắng phập phồng theo biển thở", song tâm trí
anh vẫn thường trực về quê hương xứ Bắc.
Con người có thể di chuyển sinh sống
nhiều miền đất khác nhau, nhưng tâm trí thì như vẫn hướng về quê quán. Vẫn con
người yêu đời, yêu thơ thuở nào. Qua một người bạn văn ra Hà Nội, anh gửi
sách thơ tặng bạn bè và tôi; vẫn hàng chữ anh viết "Rất yêu mến tặng...".
Sau này, qua bạn bè kể lại, tôi biết
anh có thời sống rất khó khăn. Nhà túng, con cái ăn học tốn kém. Ở cái thành
phố du lịch mơ mộng ấy, đêm đêm anh vẫn cùng người vợ cần mẫn đi bê rải từng
chiếc ghế vải bố dọc bãi biển, mong có người tới ngồi nghỉ, lấy đồng tiền
công dịch vụ còm nuôi con, nuôi thơ. Tôi hình dung người bạn học cùng khóa
thuở nào, dáng cao, mái tóc bồng lặng lẽ ngồi góc biển chờ khách đến ngồi ghế
bố của mình. Và tâm hồn anh đang chộn rộn chờ những tứ thơ vụt lóe.
Dịch vụ bưng bê ghế cho khách ngồi
ngắm biển cũng chẳng cải thiện đời sống gia đình anh được mấy chút. Nhà thơ lại
nghĩ ra việc đi chụp ảnh thuê dọc bãi biển vào các ngày chủ nhật và lễ tết.
Anh dồn tiền mua được cái máy ảnh loại tầm tầm, rồi đi gạ khách, mời khách chụp
ảnh kỷ niệm.
Ngày ngày, bãi biển thơ mộng Vũng
Tàu cũng chẳng làm anh thơ thới tâm hồn chút nào. Anh chầm vập mời chào toán
khách này, toán khách kia. Cái máy ảnh anh cầm mỏi trên tay, ngày cũng chỉ loạch
xoạch chụp được dăm bảy kiểu ảnh.
Mỗi khi chụp xong, anh lại hộc tốc
đạp xe vào một mi-li-láp nào đó để tráng phim, in ảnh. Khuôn mặt trai gái
trong ảnh nào như cũng cười tươi hết cỡ bên biển xanh, mà tâm hồn anh vẫn vật
vó, quặn thắt. Anh xác định rõ công việc mưu sinh cho anh và gia đình. Hoàng
Trung Thủy chỉ mỉm cười sung sướng khi đêm đêm, anh chong đèn chợt viết được
câu thơ nào mà anh tâm đắc.
Khuôn mặt vợ con ngủ ngon sau tấm
màn, như an ủi anh sau một ngày công việc căng thẳng. Anh mơ màng, đời sống rồi
bớt khó khăn, những câu thơ sẽ được viết đắm say và thật lòng mình hơn!...
Thế mà cơn bệnh hiểm nghèo ập đến,
cướp đi sự sống của anh. Hoàng Trung Thủy vừa được bạn bè văn chương Vũng Tàu
quý mến suy tôn làm Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh, ấy rồi anh ra đi đột
ngột. Thêm một sự nghiệp văn chương dở dang.
Bạn bè văn chương ở Vũng Tàu vẫn
còn nhắc nhiều về ngôi nhà đơn sơ số 169, đường Lê Hồng Phong của anh ngày ấy.
Anh em thường nói vui, đấy là trụ sở thứ hai của Hội. Tuy nhà nghèo, nhưng chủ
nhà luôn có tấm lòng rộng mở, nồng nhiệt chào đón các cây bút đến giao lưu, gặp
gỡ. Hội Văn học nghệ thuật Vũng Tàu - Côn Đảo khi mới thành lập bao khó khăn.
Khi tờ báo Văn nghệ địa phương ra những số báo đầu tiên, bạn đọc chưa biết,
chưa quen thuộc, Hoàng Trung Thủy liền biến ngôi nhà mình thành quầy bán báo.
Cái sạp báo có chăng dây treo tờ báo "Văn nghệ Vũng Tàu - Côn Đảo"
như một nhen nhóm sự quảng cáo đầy tự tin. Ấy rồi sạp báo, sạp sách có biển
hiệu "Văn thư Tình quán" của nhà thơ cũng chả tồn tại được bao lâu,
khi cơn sốt kinh tế rùng rùng chuyển động, lấn lướt cả văn thơ nhạc họa. Quán
sách báo "Văn thư Tình quán" đành phải dẹp, nhường chỗ cửa hàng bán
vật liệu xây dựng thuê, lấy tiền nuôi con cái và thơ.
Mấy năm trước, tôi hay có dịp về
Thành Nam. Kỳ nào về cũng ghé thăm Vũ Ngọc Phác, em rể của nhà thơ Hoàng
Trung Thủy. Nói chuyện thơ, Vũ Ngọc Phác lại say như điếu đổ. Cho dù, nay anh
không còn viết thơ, quay ra chơi cây cảnh, sưu tập cổ vật. Hễ nói về Hoàng
Trung Thủy, chúng tôi đều thốt lên, ấy là con người say thơ đến mức lạ kỳ.
Chúng tôi cùng tiếc quá, Hoàng Trung Thủy ra đi quá sớm. Sinh năm 1945, mất
năm 1998, hưởng dương 54 tuổi ta.
Một nhà thơ từng chiếm giải Thơ
trong cuộc thi thơ đình đám của báo Văn nghệ năm 1979. Bây giờ còn mấy ai nhớ
tới? Thời gian vốn nghiệt ngã. Nhưng tôi tin, những người bạn viết cùng thời
với anh, còn nhớ về anh, một nhà thơ giàu phẩm chất thi sĩ. Hãy đọc lại một
bài thơ "Không đề" của anh:
Em ạ, mùa hè đang đến đây
Đầm đìa hai mắt sắc xanh cây
Hồn xuân như vẫn còn vương vấn
Trong cánh ong buồn ngơ ngẩn bay
Hoa ở bàn ta héo lúc nào
Đường về năm trước nắng lao xao
Chao ôi giá được qua vườn cũ
Anh lại yêu em đến nghẹn ngào
Vẫn biết rồi thu sẽ nhuốm vàng
Mà sao cứ mỗi độ hè sang
Lòng anh thêm một lần đau đớn
Khi thấy mùa xuân lặng lẽ tàn.
Con người say thơ, tâm hồn tưởng yếu
mềm, ấy nhưng trước cái sai, cái chưa đúng, anh có thái độ cả quyết, dứt
khoát. Anh em ở Hội còn kể, khi đương chức Chủ tịch Hội, có lần nhận được
công văn của Tỉnh ủy gửi đến. Thấy văn bản quá nhiều lỗi chính tả, sai ngữ
pháp, Hoàng Trung Thủy liền lấy bút bi đỏ gạch chi chít và gửi lại Văn phòng
Tỉnh ủy.
Với tinh thần của một nhà giáo,
không cho phép anh thỏa hiệp, đồng lõa với cách làm ăn cẩu thả của một lớp
người văn phòng như vậy. Nghe nói, Văn phòng Tỉnh ủy phải gửi lại công văn đã
sửa với lời xin lỗi.
Một con người biết vượt lên cảnh ngộ,
lặng lẽ nuôi một niềm khao khát. Đấy là niềm khao khát trong sáng, đắm say,
có chút gì khờ khạo của lớp người cầm bút đầu giai đoạn chống Mỹ. Có thể những
con chữ viết ra còn thật thà, hoặc lý tưởng quá. Nhưng đó là nỗi niềm hừng hực
của niềm tin yêu tự trái tim mình. Thời trẻ, từng sống ở Nam Định.
Mảnh đất nhiều ông nghè, ông cử,
nhiều nhà văn nhà thơ đã khởi hướng niềm khao khát văn chương đắm say cho
anh. Anh từ giã mảnh đất thành Nam, rồi chấp nhận định mệnh ngặt nghèo tại miền
đất hứa của chính mình, khi tuổi đời còn đang trẻ.
Văn chương là gì? Nó là đôi cánh mơ
hồ kéo con người bay là là trên mặt đất. Và vượt trên mặt đất. Vượt trên cơm
áo gạo tiền. Vượt lên chức quyền. Vượt trên mọi nỗi nhọc nhằn của kiếp người.
Nhớ về anh, cho tôi thêm niềm tin
thẳm sâu như thế.
8-3-2019
Vũ Từ Trang
Nguồn: vnca.cand.com
Theo https://trieuxuan.info/
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét