Các lý thuyết lớn như phê bình văn
hóa - lịch sử, phê bình phân tâm học, phê bình Macxit, cấu trúc luận, thi
pháp học đều đã được vận dụng để phân tích Nguyễn Du và Truyện Kiều. Trong giới
phê bình văn học Việt Nam có một định niệm bất thành văn như sau: anh sẽ chưa
được thừa nhận là nhà phê bình hạng nhất nếu chưa chứng tỏ khả năng trong phê
bình Truyện Kiều.
Tiếp nhận lý luận văn học phương
Tây ở Việt Nam là một đề tài rộng lớn, cần nhiều cuộc trao đổi, nhiều công
trình khảo sát, nghiên cứu. Bài viết này của tôi giới hạn sự xem xét ở câu
chuyện các nhà phê bình, nghiên cứu văn học của chúng ta đã tiếp thu, vận dụng
các lý thuyết và phương pháp phê bình, nghiên cứu (từ đây sẽ gọi chung là phê
bình) văn học tiếp nhận từ phương Tây để tìm hiểu Truyện Kiều của Nguyễn Du
như thế nào.
Vấn đề khá hẹp, nhưng tôi nghĩ nó
là then chốt, phản ánh tập trung thực tế tiếp nhận, lý luận, phê bình văn học
phương Tây ở Việt Nam. Lí do là vì Truyện Kiều, tác phẩm ưu tú nhất của văn học
Việt Nam, cho đến hiện nay vẫn là “bãi thử” của những phương pháp phê bình mới,
là “bộ máy” để “kiểm tra sức khỏe” những vị - khách - lý - thuyết đến từ
phương Tây.
Các lý thuyết lớn như phê bình văn
hóa - lịch sử, phê bình phân tâm học, phê bình Macxit, cấu trúc luận, thi
pháp học đều đã được vận dụng để phân tích Nguyễn Du và Truyện Kiều. Trong giới
phê bình văn học Việt Nam có một định niệm bất thành văn như sau: anh sẽ chưa
được thừa nhận là nhà phê bình hạng nhất nếu chưa chứng tỏ khả năng trong phê
bình Truyện Kiều.
Xin đi vào nội dung chính:
Phê bình văn học hiện đại Việt Nam
mới có cách nay khoảng một thế kỷ, các bài khảo cứu về thể loại văn học trên
tạp chí Nam Phong (1917-1934) ghi nhận một thời điểm chắc chắn sự có mặt của
lý luận phê bình hiện đại. Có thể nói, phê bình văn học Việt Nam ra đời cùng
với việc đọc văn học theo lối phương Tây, là sự tiếp cận văn chương theo các
lý thuyết văn học của châu Âu thế kỷ XIX. Những cái tên như G. Lanson,
H.Taine, S.Beuve, Plekhanov... không xa lạ gì với các nhà phê bình văn học Việt
Nam ở đầu thế kỷ XX. Lối viết lịch sử văn học kiểu G.Lanson được các trí thức
tây học biết rõ ngay từ trong nhà trường, phê bình tiểu sử của S.Beuve rất được
ưa chuộng và được thực hành qua các công trình của Lê Thước, Trần Thanh Mại...
Trong số những nhà phê bình vận dụng các lý thuyết phương Tây để phê bình văn
học ở giai đoạn trước 1945 đáng chú ý hơn cả là Nguyễn Bách Khoa vì ở ông thể
hiện sự hào hứng, mới mẻ, cả sự thô sơ của “thuở ban đầu”. Mỗi cuốn sách
chuyên khảo của ông là sự vận dụng một (hay một vài) lý thuyết phê bình
phương Tây để phân tích văn học dân tộc: Nguyễn Du và Truyện Kiều dùng phân
tâm học của Freud và phê bình văn hóa - lịch sử của H.Taine, Kinh thi Việt
Nam được ông phân tích theo quan điểm tâm lý cộng đồng, Tâm lý tư tưởng Nguyễn
Công Trứ theo quan điểm Macxit và H.Taine...

Nguyễn Bách Khoa đọc rất nhiều các
nhà khoa học phương Tây và vận dụng nhiều lý thuyết vào việc phê bình, không
chỉ các lý thuyết văn học mà cả những lý thuyết khoa học khác: tâm lý học, thần
kinh học, xã hội học... Đôi lúc số lượng trích dẫn lời của các nhà khoa học
“kinh điển” có vẻ như quá mức. Ông định danh cho lối phê bình của mình là
“phê bình khoa học” và giải thích rõ: Đó là cách phê bình trước khi tiếp cận
đối tượng đã “có sẵn một hệ thống ý tưởng” (tức một lý thuyết). Khi nghiên cứu
Nguyễn Du cũng như khi “nghiên cứu bất kỳ một sự trạng văn học nào” cũng vậy.
Lối phê bình theo lý thuyết này đối lập với lối phê bình truyền thống: hoặc
thiên về cảm thụ chủ quan, hoặc thiên về “phê bình phù phiếm”, như cách nói của
ông, tức mô tả tỉ mỉ cái khéo trong việc đặt câu dùng chữ, tả người. Trong số
các lý thuyết thì ba lý thuyết sau đây để lại dấu ấn đậm nét hơn cả trong các
công trình của Nguyễn Bách Khoa: Thuyết chủng tộc - địa lý của H.Taine, phân
tâm học của S.Freud và học thuyết của K.Marx về phân chia giai cấp và văn học
phản ánh xã hội. Học thuyết của K.Marx được vận dụng triệt để trong
Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ (1943), hai lý thuyết trên chủ yếu được vận
dụng trong công trình Nguyễn Du và Truyện Kiều (1941). Lý giải Truyện Kiều
theo phân tâm học Freud, Nguyễn Bách Khoa cho rằng sinh lực, lòng ham sống và
khí phách cá nhân của Nguyễn Du do di truyền huyết thống và địa phương tính tạo
nên, bị ý thức hệ nho giáo của đẳng cấp nho sĩ mà ông là một thành viên dồn
ép vào tiềm thức. Vì vậy, giữa ý thức hệ và tiềm thức luôn xung đột nhau và
làm nên “tấn bi kịch của tâm hồn” cũng tức là tâm sự sâu thẳm của Nguyễn Du.
Phê bình Truyện Kiều là chỉ ra những biểu hiện của tâm sự sâu thẳm này trong
tác phẩm.
Nguyễn Bách Khoa còn lý giải Nguyễn
Du và văn chương Truyện Kiều theo quan điểm của nhà phê bình văn học Pháp
H.Taine. Trong cuốn La Fontaine và thơ ngụ ngôn của ông (La Fontaine et ses
fables), H.Taine cho rằng có thể qua ba yếu tố nòi giống, hoàn cảnh địa lí và
thời điểm lịch sử nhà văn sống để lý giải mọi sự bí ẩn của văn chương. Học tập
Taine, Nguyễn Bách khoa lý giải rằng chất thơ hào hùng và trữ tình say đắm
trong Truyện Kiều có được là do cá tính Nguyễn Du được cấu tạo nên bởi hai yếu
tố thuộc huyết thống là chí cương cường của người Nghệ Tĩnh (từ người cha) và
tinh thần mẫu hệ của văn hóa Bắc Ninh (từ người mẹ).
Phê bình khoa học của Nguyễn Bách
Khoa bị phản ứng dữ dội từ các nhà phê bình theo lối truyền thống, và phê
bình ấn tượng, nhất là Hoài Thanh. Bị phê phán mạnh nhất là quan điểm của
Nguyễn Bách Khoa cho rằng “Nguyễn Du là một con bệnh thần kinh”, một hội chứng
trầm cảm và ảo giác (hysterie). Trong phê bình văn học, Nguyễn Bách Khoa có
những phát hiện mới, có ảnh hưởng rộng, nhưng cũng dễ chỉ ra các sai lầm của
ông, những sai lầm này có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là ở việc ông sử dụng
lý thuyết phương Tây một cách cứng nhắc, như một bộ công cụ, bộ đồ nghề để
làm việc với các hiện tượng văn học Việt Nam, không thấy những giới hạn của mỗi
lý thuyết phê bình. Ngoài ra, có lẽ cũng còn do tư tưởng “duy khoa học” quá mức
và cảm quan thuộc địa trong phê bình văn học của ông.
Ở thời kỳ thứ hai của lịch sử phê
bình hiện đại Việt Nam (1945-1980) tôi muốn lưu ý đến nhà phê bình Lê Đình Kỵ
với công trình Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du (1970). Thời
kỳ này ở Miền Bắc, rồi sau 1975 là cả nước, tinh thần chung là chống các “lý
thuyết tư sản”, phê bình hoàn toàn theo lý luận mỹ học Macxit được tiếp thu từ
Liên xô, đặc biệt là phê bình các phương pháp nghệ thuật: Phương pháp nghệ
thuật cổ điển chủ nghĩa, phương pháp nghệ thuật lãng mạn chủ nghĩa, phương
pháp hiện thực chủ nghĩa, phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa... Theo quan
điểm ấy, mỗi tác phẩm được sáng tác theo một phương pháp nghệ thuật nhất định.
Truyện Kiều, theo Lê Đình Kỵ, cơ bản là tác phẩm hiện thực chủ nghĩa
(realism).
Trong thập kỷ sáu mươi, Lê Đình Kỵ
là một hiện tượng trong đời sống lý luận phê bình văn học, người truyền bá
tích cực nhất lý thuyết về các phương pháp nghệ thuật. Ông tham gia dịch nhiều
sách lý thuyết văn học bằng tiếng Nga, là tác giả của Tập IV, Các phương pháp
nghệ thuật, thuộc bộ giáo trình Những nguyên lý lý luận văn học. Năm 1970 Lê
Đình Kỵ cho ra mắt chuyên khảo nổi tiếng Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của
Nguyễn Du, đỉnh cao nhất trong sự nghiệp phê bình văn học của ông. Là một nhà
lý luận văn học, một giáo sư chuyên giảng các khóa trình về phương pháp nghệ thuật,
Lê Đình Kỵ còn (mà có khi trước hết) là một nhà phê bình rất nhạy cảm đối với
cái đẹp văn chương và có lối văn uyển chuyển lôi cuốn. Về phương diện này,
nhiều chỗ cây bút phê bình Lê Đình Kỵ có thể sánh ngang với Hoài Thanh. Trước
một câu thơ tưởng như rất “bình thường”, ông vẫn gọi ra được một ý nghĩa bất
ngờ, thú vị. Trong câu thơ của Nguyễn Du nói về việc Thúy Kiều thoát khỏi lầu
xanh Tú Bà để về ở với Thúc Sinh: Gót tiên thoắt đã thoát vòng trần ai, nhà
phê bình nghe thấy “tiếng reo mừng” của “con người được giải phóng”: Câu thơ
tả đêm động phòng hoa chúc của Kim-Kiều trong “màn tái hồi”: Động phòng dìu dặt
chén mồi/ Bâng khuâng duyên mới ngậm ngùi tình xưa, ông thấy “một không khí
chua chát bao trùm”, “một cái gì đổ vỡ không phương cứu chữa”.
Những cảm nhận cực tinh tế như vậy
về tâm ý nhân vật, về các thủ pháp nghệ thuật của Nguyễn Du ta có thể gặp khắp
nơi trong công trình này. Chúng đã cứu được cuốn sách khỏi sự tầm thường và
lãng quên như bao công trình phê bình phương pháp sáng tác thời ấy. Bởi vì lấy
cái sơ đồ lý thuyết về văn học hiện thực chủ nghĩa thế kỷ XIX ở phương Tây áp
dụng vào một tác phẩm thời trung đại như cách làm của ông ở đây là không
thích hợp. Trong công trình vẫn thấy những nguyên tắc đánh giá của chủ nghĩa
hiện thực như: miêu tả bức tranh xã hội của thời đại, chi tiết chân thực,
hoàn cảnh điển hình và nhân vật điển hình..., cái khung lý thuyết chung thì vẫn
thế, nhưng luôn có tình trạng “vượt khung”, vượt khung vì ông say mê cái đẹp
nghệ thuật, coi trọng thực tế tác phẩm, ngưỡng mộ thiên tài Nguyễn Du. Lê
Đình Kỵ áp dụng lý thuyết nhưng không hoàn toàn lấy tác phẩm làm sự minh họa
cho lý thuyết, “không vì lý thuyết mà quên mất thực tiễn” (tác phẩm).

Nếu có
sự không tương ứng giữa lý thuyết và tác phẩm, không phải bao giờ ông cũng dễ
dàng lựa chọn lý thuyết. Vấn đề Truyện Kiều có phải được sáng tác theo phương
pháp nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa không đã khiến ông đắn đo rất nhiều. Ông
viết hẳn một chương sách rất hay về cái gọi là “Những ràng buộc của mỹ học
đương thời” nhằm chỉ ra những “khiếm khuyết” của phương pháp hiện thực chủ
nghĩa trong Truyện Kiều. Ở đây những phát hiện về lối nhìn và các nguyên tắc
nghệ thuật của văn học cổ điển rất có giá trị. Theo nhà phê bình Huỳnh Như
Phương thì về cuối đời ông muốn đổi tên cuốn sách là Truyện Kiều - đỉnh cao
nghệ thuật. Điều ấy cho thấy ông muốn từ bỏ cái gọi là “chủ nghĩa hiện thực
trong Truyện Kiều”.
Từ thập kỷ 80 đến nay, cùng với việc
“mở cửa”, với phong trào “Đổi mới”, các lý thuyết văn học phương Tây được giới
thiệu ở Việt Nam ngày càng nhiều. Một số xu hướng nổi bật: Phê bình ngôn ngữ
học, Phê bình sự đọc, phê bình tâm lý học, phê bình thi pháp học. Trong việc
tìm hiểu Truyện Kiều lối tiếp cận Ngôn ngữ học và Thi pháp học được vận dụng
thành công hơn cả. Đó đều là lối tiếp cận những nguyên tắc tổ chức tác phẩm/văn
bản. Văn học phương Đông giàu tính quy phạm và tượng trưng nên là đối tượng
thích hợp cho các nghiên cứu theo những hướng lí thuyết này.
Trước hết nói về công trình của
Phan Ngọc: Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Phan Ngọc là một
nhà bách khoa (hình như là nhà bách khoa cuối cùng của chúng ta) kiểu như Đào
Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn... Ông vừa là nhà ngôn ngữ học, nhà phê bình văn học,
nhà sử học, nhà văn hóa học, nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng, dịch giả nổi tiếng
thông hiểu nhiều ngôn ngữ và văn học cả phương Đông lẫn phương Tây. Cuốn
chuyên khảo về Truyện Kiều được ông viết trên nền tảng một kiến thức tổng hợp,
liên ngành, nhưng cốt lõi là lí thuyết cấu trúc. Là một nhà ngôn ngữ học nổi
tiếng, các lý thuyết ngôn ngữ làm nền tảng cho phê bình văn học thế kỉ XX của
các nhà ngôn ngữ học phương Tây như F.de Saussure, R.Jakovson,
N.Troubetskoy... không xa lạ gì với ông, hơn nữa ông còn tiếp nhận rất chủ động,
có đánh giá. Ông coi các lý thuyết chỉ là những kiến thức như các kiến thức
khác cần được đánh giá, nhào nặn lại để hình thành nên một phương pháp riêng
thích hợp cho việc nghiên cứu một đối tượng cụ thể. Cuốn chuyên khảo về Truyện
Kiều của ông không giống với bất kỳ cuốn chuyên khảo nào trên thế giới. Tuy vậy
về cốt lõi nó chịu nhiều ảnh hưởng của thuyết cấu trúc. Mục tiêu của nhà phê
bình ở đây là tìm hiểu đặc trưng nghệ thuật riêng biệt mà ông gọi là “phong
cách Nguyễn Du”. Phan Ngọc viết “Đặc trưng ấy là tính thống nhất hữu cơ của
các bộ phận trong một chỉnh thể, hay nói khác đi, tính cấu trúc của nó. Tính
cấu trúc của phong cách biểu lộ ở chỗ chỉ nhìn một bộ phận ta đoán biết được
toàn thể... chỉ cái gì mang tính cấu trúc chặt chẽ đến như vậy thì cái đó mới
có phong cách”. Những lời như thế hiển nhiên là rất quen thuộc với nhà cấu
trúc luận ở bất kỳ đâu trên thế giới. Phan Ngọc cũng phân tích Truyện Kiều
theo hai trục đồng đại (synchronie) và lịch đại (diachronie), cũng coi ngôn
ngữ như một hệ tín hiệu gồm hai mặt là hình ảnh âm thanh và khái niệm
(nghĩa).

Từ đó ông không tách tác phẩm ra thành hai phần là nội dung và hình
thức để xem xét như cách làm của các nhà phê bình Việt Nam cho tới lúc đó, mà
“khi nói đến nội dung thì nói luôn cả cách hình thức hóa nội dung, và ngược lại
khi nói đến hình thức thì nói luôn hình thức này có tác dụng gì trong việc thể
hiện nội dung đã chọn”. Như vậy, nội dung là nội dung được xây dựng theo một
hình thức nào đấy, hình thức là hình thức riêng của một nội dung nhất định. Với
lý thuyết mà Phan Ngọc gọi là phong cách học này, ông đã có nhiều phát kiến về
nghệ thuật Truyện Kiều như: cách tự sự của Nguyễn Du, Truyện Kiều - một tiểu
thuyết tâm lý, bố cục theo lối của nghệ thuật kịch... Các nhà phê bình theo cấu
trúc luận thường bị phê phán là chỉ bó hẹp vào việc phân tích văn bản, tách
văn bản khỏi môi trường mà nó tồn tại, coi văn bản có ý nghĩa tự nó. Phan Ngọc
trong công trình này không mắc nhược điểm ấy. Khi phân tích Truyện Kiều, ông
luôn đặt văn bản trong cấu trúc văn hóa của thời đại. Nguyễn Du, không cắt đứt
văn bản khỏi tiến trình văn học Việt Nam và Đông Á cho đến lúc ấy. Phương
pháp cấu trúc và phương pháp lịch sử bổ trợ nhau. Công trình không phải là
không có thiếu sót, nhưng tôi vẫn xem đây là một kiểu mẫu của cách vận dụng
các lý thuyết phương Tây vào phê bình văn học Việt Nam.
Công trình tiêu biểu thứ hai là cuốn
Thi pháp Truyện Kiều của nhà lý luận, nhà thi pháp học Trần Đình Sử. Năm 1981
bài viết Thời gian nghệ thuật trong Truyện Kiều và cảm quan nghệ thuật của
Nguyễn Du của Trần Đình Sử đăng trên Tạp chí văn học (số 5) được giới nghiên
cứu văn học chú ý và đánh giá cao cách tiếp cận mới mẻ đối với tác phẩm văn học.
Đó là tiếp cận thi pháp học hiện đại. Trần Đình Sử có một thời gian khá dài
làm Nghiên cứu sinh ở Liên Xô. Ở thời kỳ đó nghiên cứu và lý thuyết thi pháp
học đang được giới ngữ văn học Liên Xô triển khai rộng rãi. Các công trình
thi pháp học của M.Bakhtin, M.Likhachev, Meletinski…chắc là có ảnh hưởng đối
với quan điểm nghiên cứu của ông: thời gian và không gian nghệ thuật, quan niệm
nghệ thuật về con người, thế giới nghệ thuật của tác phẩm…, các phạm trù đó
đã khá phổ biến trong sách nghiên cứu văn học ở Liên Xô những năm 60, 70. Trần
Đình Sử đã vận dụng sáng tạo, hiệu quả vào việc diễn giải văn học Việt Nam
trung đại và hiện đại, nổi bật nhất là công trình phân tích thi pháp Truyện
Kiều. Trần Đình Sử phát hiện ra “thời gian gấp gáp trong Truyện Kiều”, “cách
kể chuyện của Nguyễn Du”, “mô hình tự sự” của tác phẩm. Công trình soi sáng
nhiều phương diện của tác phẩm/ văn bản này, phần nào cả các phương thức tồn tại
và ảnh hưởng của nó trong văn hóa, văn học dân tộc.

Cũng như ở công trình của
Phan Ngọc, trong công trình của Trần Đình Sử khi phân tích các phương thức tổ
chức văn bản nghệ thuật, nhà nghiên cứu cũng xem xét văn bản trong ngữ cảnh
(context) văn hóa mà nó sinh thành, tồn tại.
Để kết thúc bài viết này, từ câu
chuyện tiếp cận Truyện Kiều bằng các phương pháp phê bình văn học được tiếp
thu từ phương Tây, tôi xin đưa ra hai khuyến cáo sau đây:
1/ Cần thấy giới hạn của các lý thuyết phê bình văn học, nghệ thuật: cho đến nay, mỗi lý thuyết đều nhằm nhấn
mạnh vào một yếu tố nào đấy của văn học: hoặc nhà văn (phê bình tiểu sử), hoặc
văn bản (cấu trúc luận, phê bình Mới...), hoặc người đọc (lý thuyết tiếp nhận),
hoặc vào môi trường ngoài văn bản (lý luận của Taine, lý luận Macxit...). Mỗi
lý thuyết có một thế mạnh nhất định, song cũng có giới hạn, còn “một phương
pháp tổng hợp còn chưa được tìm ra”, như cách nói của nhà hình thức luận Nga
Yu. Tynianov. Chúng ta nên nắm được nhiều lý thuyết để tùy từng trường hợp cụ
thể, theo những yêu cầu nhất định mà ta sử dụng phương pháp phê bình này hay
khác.
2/ Không nên tiếp thu nguyên xi một
mô hình lý thuyết nào đấy, rồi sử dụng các nguyên tắc của nó như một bộ công
cụ có sẵn để phê bình văn học dân tộc. Cần coi các lý thuyết như các kiến thức,
như các mách bảo cho nhận thức, kết hợp với các kiến thức khác và kinh nghiệm
để tự thiết lập nên một phương pháp phù hợp nhất với đối tượng và những mục
tiêu đặt ra.
1/2/2020
Trịnh Bá Đĩnh
Nguồn: Văn nghệ số 40/2019
Theo https://trieuxuan.info/
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét