XUÂN MAI
- Họ và tên khai sinh: Lê Xuân Mai
- Sinh năm 1945
- Bút danh: Mai Văn Vân
- Quê quán: Làng Ao Gỗ, xã Tam Sơn, huyện Lập Thạch, tỉnh
Vĩnh Phúc
- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 1997)
- Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, Hội viên Hội văn nghệ
dân gian Việt Nam.
- Tác phẩm chính đã xuất bản:
* Trận địa đồi sim (1987)
* Một buổi đi săn ( 1992)
* Giếng làng ( 1997)
* Những người đang đi ở cuối hàng (2003)
* Nơi gặp gỡ hai con sông (2006)
* Vĩnh Phúc - Đất thắng tích và lễ hội (2008)
* Điều nó dối đáng yêu (2010)
* Người về chốn cũ (2014)
- Giải thưởng văn học:
* Giải A, Giải B, Giải C, Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Vĩnh
Phúc 5 năm lần I, II, III
* Giải thưởng Văn học thiếu nhi lần thứ II của Nhà xuất bản
trẻ và nhiều giải thưởng Văn học Nghệ thuật khác.
- Suy nghĩ về nghề văn:
Giá như không được sinh ra, lớn lên ở một vùng quê trung du,
tuy nghèo nhưng lại giàu về bản sắc văn hóa; giá như không trải qua những năm
tháng chống Mỹ, cứu nước hào hùng của dân tộc... thì có thể tôi chỉ là một người
yêu văn chương chứ không trở thành một nhà văn.
Mọi sáng tác của tôi đều hướng về những người nông dân ở làng
quê mình, hướng về những đồng đội trong chiến tranh với mình…Nghĩ ngợi nhiều,
mong ước nhiều mà nhìn lại sự “viết lách” của mình chưa được bao nhiêu nên nỗi
niềm đau đáu kia càng day dứt mãi trong tôi, mãi còn thôi thúc tôi cầm bút.
A- TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ
MẤY GHI NHẬN TRONG SÁNG TÁC VĂN XUÔI CHO THIẾU NHI
CỦA NHÀ VĂN XUÂN MAI
Thanh Vĩnh
Trong khoảng thời gian từ năm 1975 đến nay, văn chương Vĩnh
Phúc có thêm những bước phát triển mới. Đông hơn về số tác giả. Nhiều
truyện ngắn và rồi tiểu thuyết - thể loại được xem là “cỗ trọng
pháo” của văn học đã xuất hiện. Tuy nhiên, những sáng tác cho thiếu
nhi thì vẫn không nhiều. Số tác giả viết cho thiếu nhi cũng chỉ “đếm
trên đầu ngón tay”: Hoàng Tá (đã mất), với Nguyễn Công Dương và Trần
Thịnh. Khoảng mươi năm lại đây, đội ngũ viết cho thiếu nhi ở Vĩnh Phúc
tuy có được “tăng cường”, nhưng vẫn rất khiêm tốn: Nguyễn Ngọc Tung (Cánh
diều tuổi thơ), Bùi Xuân Dũng, Phùng Quang Ngọc (Trăng đầu tiên) và Chu
Thanh Trung. Các tác giả này đều thuộc chuyên ngành thơ. Bởi thế, mảng
văn xuôi cho thiếu nhi ở Vĩnh Phúc, nhiều năm nay, vẫn là vắng vẻ. May thay,
còn có một người, luôn cặm cụi dồn tâm huyết trên từng trang viết dành cho các
em. Người đó, là nhà văn Xuân Mai!
Một mình một ngựa*, Xuân Mai độc hành trên con đường
sáng tạo văn chương vì trẻ em, cho trẻ em. Ông viết trong niềm đam mê
làng, trong khát vọng lưu giữ hình ảnh, chân dung làng: nơi ông luôn coi
là cội nguồn của yêu thương. 7 đầu sách của ông viết cho thiếu nhi,
gồm các tập truyện ngắn Trận địa đồi sim - Nhà xuất bản Kim Đồng
1988; Một buổi đi săn - Nhà xuất bản Kim Đồng 1993; Cỏ
hoang - Nhà xuất bản Kim Đồng 1997; Giếng làng - Nhà xuất bản Trẻ
1997(tập truyện Giếng làng đoạt Giải khuyến khích sáng tác văn
học thiếu nhi - Vì tương lai đất nước lần thứ II do Hội Nhà văn thành
phố Hồ Chí Minh và Nhà xuất bản Trẻ phối hợp tổ chức vào 1/6/1997(cuộc
thi này có 174 tác phẩm tham dự trên phạm vi cả nước, và chỉ có 11
tác phẩm được trao giải).Tiếp đến là tập truyện Con trai người đi
xa - Nhà xuất bản Kim Đồng 2001; Chuyện cổ tích về bà - Nhà xuất
bản Kim Đồng 2003; “Quà của dòng sông” (Hội VHNT Vĩnh Phúc - 2005)
Người lớn và trẻ em đều là đối tượng để nhà văn
Xuân Mai hướng tới qua trang viết của chính ông. Ở lĩnh vực nào, Xuân
Mai cũng đã gặt hái thành công, nhưng bạn viết và bạn đọc đều nhận
thấy: sáng tác của ông viết cho tuổi thơ có “sức nặng” hơn hẳn. Mặc
dù, ai cũng biết, viết cho thiếu nhi không hề dễ dàng. Không giàu vốn
sống, cảm xúc, không yêu trẻ, không có cho mình một “con mắt trẻ thơ”
nhìn cuộc sống thật trong trẻo, hồn nhiên… sẽ khó mà viết cho thiếu
nhi thành công. Nếu có cố, cũng chỉ là những “sáng tác người
lớn”, “mang danh” viết cho các em mà thôi.
Chân dung làng
Bảy đầu sách, với hơn 40 truyện ngắn (in trong 6 tập) và
một truyện vừa (Con trai người đi xa) của Xuân Mai; có cái là truyện
ngắn hoàn chỉnh, có cái mang dáng dấp một tản văn, có cái như một
đoản khúc, một hoài niệm, một hồi ức… tất cả đều tâp trung xây dựng,
hoàn chỉnh một chân dung làng. Hầu hết các tác phẩm viết cho tuổi thơ
của Xuân Mai đều dẫn dắt người đọc trở về làng - cội nguồn thân thương của
bao thế hệ người Việt Nam. Cội nguồn ấy luôn gắn bó với những tên đất tên
người ruột thịt, với bao kỷ niệm buồn vui, cả ngọt ngào hay đắng đót của những
tuổi thơ ở làng… dù lấm láp lam lũ nhưng thật bình yên. Cội nguồn ấy còn gắn với
bao số phận, với những kiếp người quê nhọc nhằn vất vả; nhưng nồng ấm tình người
mộc mạc, chất phác. Cội nguồn ấy, trong trang viết của nhà văn Xuân Mai, là
một làng quê rất cụ thể có tên: làng Ao Gỗ (còn gọi là làng Bình
Lạc, làng Mộc Cụm) nay là tổ dân phố Bình Lạc, TT Tam Sơn, huyện Sông
Lô.
Chân dung làng được phác thảo những nét đầu tiên bởi
tâm thức nhân vật, hay cũng chính là tâm thức nhà văn “Ao Gỗ là tên gọi
của làng tôi” - (như lời kể của nhân vật, khi mở đầu truyện ngắn)
Làng Ao Gỗ - quê hương nhà văn là một ngôi làng cổ. Làng có tự bao giờ,
người cao tuổi ở làng cũng không thể biết. Làng không lớn. Nhưng bởi
đất lành, nên “người dân nhiều nơi mới rủ nhau về, đánh gốc, bốc
chà, phát nương, làm rẫy, sinh cơ, lập nghiệp…” để “từ đó mà thành
bản, thành làng!”. Sự tích về làng còn gắn với một câu chuyện bi
thương thủa xửa xưa (Sự tích núi Hình Nhân). Ngay cái tên làng cũng
là một câu chuyện thú vị: thủa trước, làng dựng đình. Đình to lắm,
mấy năm mới làm xong. Gỗ ngâm để làm đình chật đầy cái ao to nơi cửa
đình. Ao ngâm gỗ nên gọi là Ao Gỗ, gọi mãi mà thành tên làng! Làng
Ao Gỗ nằm gần chân núi Sáng, không có bến nước, không có cây đa. Bù
lại, làng có một cây gạo “to hơn tất cả các loại cây có trong làng”.
Đó là “cái mốc” để “người đi xa, mỗi lần về quê, ai cũng nhận ngay
ra làng mình đầu tiên là nhờ cây gạo ấy”.
Ngôi làng nhỏ, nhưng qua trang viết của nhà văn, bạn
đọc được tiếp cận cả một thế giới những câu chuyện muôn đời về
làng quê. Những câu chuyện bình dị, luôn gợi nỗi thân thương khôn nguôi
về làng. Nơi ấy có “Đình làng”; “Chợ Then”; “phố nhỏ bên sông”; “Rừng cò
Chằm Sai”; ao làng, rồi còn cả một “dòng sông Cửa Ngòi”… Dòng sông mà
trong mắt những đứa trẻ của làng luôn ăm ắp những điều huyền diệu.
Sông tuy nhỏ, nhưng chỉ cần nhìn màu nước sông, người ta đã nhận ra những sắc
màu của bốn mùa thiên nhiên luan chuyển với những êm đềm ngọt ngào hay sục
sôi dữ dội… Riêng với Giếng làng, nhà văn cho bạn đọc thấy đó còn
là một cổ tích, khiến người làng mãi tự hào, rằng: Giếng làng là
do ông tổ, cũng là ông vua đầu tiên của nước ta: Vua Hùng - trong một
lần đi săn tới làng, đã nghỉ chân, cắm trại, và cho người đào nên.
Giếng cho dân làng nguồn nước trong lành mát ngọt, giếng là nơi dân
làng gặp gỡ, thăm hỏi nhau trong lúc gánh nước ăn hay giặt giũ đêm
trăng; giếng là chốn trai gái làng hẹn hò; đặc biệt, cũng tại giếng
này, thời kháng chiến chống thực dân Pháp, đã có anh bộ đội anh
dũng chiến đấu, rồi hy sinh để bảo vệ kháng chiến, bảo vệ dân làng…
Theo chân người viết, bạn đọc sẽ được tham dự những
đêm soi ếch, những buổi đặt nắn, đánh lờ cá rô, những mùa
tát cá đẫm mùi bùn, mùi cá tép, cái mùi mà “không phải tuổi thơ ai cũng
có”. Rồi ta sẽ được thưởng thức Tết cơm mới, biết đến Hương cây
rơm; đến vị rau má gắn liền với những ký ức để đời của cái thời “đói
quay đói quắt”; biết đến nỗi cực nhọc “đi núi nằm” sơn tràng bòn kiếm
cái ăn cầm hơi qua ngày vào buổi “ngoài đồng vàng mơ, trong nhà mờ mắt” …
của bao vùng quê nghèo Việt Nam hôm qua.
Chân dung làng còn hiện hữu sắc nét qua những ký ức
êm đềm của tuổi thơ: một buổi đi săn, tắm mưa, quê ngoại, tháng
Mười, một mùa phá đỗ gợi nhớ câu ca “trâu bò được
buổi phá đỗ…”, một trận đánh trận giả, một buổi bắt ốc nơi đồng
chằm, một buổi gặt đầu tiên của một cô bé. Cô được theo mẹ
ra đồng, vụng về đưa liềm tập cắt những bông lúa chín đầu tiên trong
đời. Nhẹ nhàng, thủ thỉ, Xuân Mai giúp tuổi thơ Việt, giúp chính mỗi
người lớn chúng ta cảm – nhận quê hương.
Chân dung làng trong sáng tác cho thiếu nhi của Xuân Mai
còn được lưu giữ bởi rất nhiều mùi hương vị và âm thanh: hương đồng
hăng hoải buổi gặt chiêm, cấy mùa, hương cây rơm, vị rau má; là tiếng
cò tao tác rừng chiều khi bị con người phá tổ, là tiếng ếch như chỉ
còn vẳng lên từ ký ức bởi sự hủy diệt thiên nhiên của con người.
Nhiều địa danh trong truyện ngắn viết cho tuổi thơ của
Xuân Mai đều là địa danh có thật ngoài đời, chân thật, gần gụi như
máu thịt.
Yêu quê, nên nhà văn dường như đã đưa nguyên vẹn
hình dáng, tên gọi làng quê vào trang viết. Hay đó cũng là cách ông
lưu giữ lại cùng mai sau về những gì đã hiện hữu nơi làng quê mình?
Nhất là khi một cuộc sống với guồng quay gấp gáp, dữ dội như hôm nay
chúng ta đang sống luôn sục sôi, cuộn chảy, kéo theo, sẵn sàng cuốn đi
tất cả. Nhanh tới mức nhiều khi con người dường như bị nó lôi tuột
đi, hút xoáy vào, xoáy vào mà không thể tự dừng lại, tự thoát ra…
Có một sự thực đang hiển hiện: Những tên xóm tên thôn
tên làng mộc mạc, xưa xa như cổ tích của làng Việt dần bị mai một,
bị đánh mất, xóa mất, thay vào là những khu hành chính, tổ dân phố
được đánh số khô khốc, cụt lủn theo thứ tự; như ai đó ví là “trại
lính”… Thế thì, chả mấy nỗi mà không còn những cái tên của một
thưở một thời. Trong khi, đó chính là một phần hồn vía dân tộc. Làm
cách nào để giữ lại cho mai sau? Nhà văn Xuân Mai làm theo cách của
ông: ấy là, đưa chúng vào trang viết, cho ai? Cho tuổi thơ, để mai sau,
các em còn biết được, nơi em và gia đình đang sống, tự thời cụ kỵ
ông bà… có tên là gì, sự tích thế nào, đã ra đời, tồn tại ra sao,
có những thăng trầm buồn vui hay dở gì… Những điều ấy, cần lắm chứ.
Bởi, ít nhất, cũng giúp con người biết về nơi gọi là nguồn cội, là
quê hương của mình mà biết sống sao cho xứng đáng. Để rồi bạn đọc,
hẳn cũng đồng ý với triết lý của nhân vật trong truyện Làng quê
thương nhớ, rằng “Chỉ nơi nào có mộ những người ruột thịt của mình
thì đó mới là quê hương con ạ. Ở đời thật buồn cho ai vì lý do nào
đó mà quên mất quê hương, hay không có một vùng quê để mà thương nhớ”
“Làng Ao Gỗ” của Xuân Mai giờ là một tổ dân phố của
thị trấn huyện lỵ Sông Lô. Làng lên phố. Ít nhiều đồng chằm
ruộng dộc, nơi mồ hôi người làng bao đời đầm đầm đổ xuống những
buổi gặt chiêm, buổi cấy mùa… giờ đang lùi vào quá khứ, nhưỡng chỗ
cho công sở, phố xá. nhưng cái giếng làng huyền thoại ấy giờ cũng
đã không còn. Những cánh đồng cầu Giát, cầu Dài, Đề Lương…nơi bao
thế hệ người làng Ao Gỗ vẫn lặn lội cấy gặt, vẫn be bờ tát
vét kiếm con cá con tép…đang dần bị san lấp để xây công sở, cơ quan,
bến xe bus… Vẫn biết, trong vũ trụ này, đâu có điều gì là tồn tại
mãi mãi, mà sao mỗi cuộc đổi dời như vậy, cứ thấy lòng hẫng hụt
mất mát vô cùng. Như cảm giác của nhân vật trong truyện mỗi lần về
quê, đi qua cánh đồng Cầu Giát, nhớ về buổi tát vét thời thơ dại hôm
nao, vẫn thấy vẹn nguyên cảm giác nhói buốt nơi ngón tay bị
ngạnh con cá trê đánh trúng hôm nào, giờ bỗng tấy nhức, tận tâm can.
Bằng nhạy cảm đặc biệt của một người cầm bút, nhà
văn Xuân Mai đã sớm nhận thấy những mất mát không thể tìm lại đó.
Nên từ cách nay nhiều năm, ông đã đưa làng vào trang viết, bằng cả
tình yêu, sự nâng niu, trìu mến đặc biệt!
Thân phận con người
Trong những tác phẩm của Xuân Mai, làng Ao Gỗ hiện lên thật
sinh động còn bởi nhà văn đã dành tình cảm yêu thương máu thịt của mình để viết
về con người. Phần lớn các nhân vật của truyện ngắn Xuân Mai viết cho
các em đều có nguyên mẫu ngoài đời. Họ không hề xa lạ với chúng ta. Họ
là người làng của những ai sinh ra lớn lên từ làng. Họ, những
người nông dân cả cuộc đời lam lũ, quanh năm suốt tháng có lẽ chẳng đi đâu ra
khỏi làng. Nhưng họ chính là cuộc sống này, và thân phận của họ, qua sáng
tạo của nhà văn Xuân Mai, đã làm nên tác phẩm, làm nên những trang viết gây
xúc động lòng người. Đọc truyện của Xuân Mai, bạn đọc gặp một ông Thủ Lộ
có tài làm diều, thả diều mê hoặc lòng người, rồi cô hàng xén mau mắn; ông
lão nặn tò he nơi cổng chợ Then, rồi bố tôi, mẹ tôi, bà nội, ông nội,
bà vãi, ông vãi, bác tôi bá tôi, chị tôi, em tôi, những thằng bạn
trong “hội tát vét” tóc cháy nắng dãi dầu… cho đến cả những con vật thân
quen: con Miu, chú ngựa đá trên gò Ngọc Nhớ, con gà mái hoa mơ…
Có những nhân vật được miêu tả cụ thể, kỹ lưỡng từ ngoại hình,
tính cách đến số phận, cả cái chết của họ… Lại có những nhân vật,
được nhà văn “điểm nhanh” bằng một câu viết mà vẫn hiển hiện rõ nét
thân phận: Ông Chấn hay đi cúng nên gọi là Đồng Chấn, Bà cụ Đức
chuyên bán thuốc cam nên được gọi là bà Lang Đức.
Bao nhiêu thân phận là bấy nhiêu những trang đời rất bình dị.
Trước vô cùng vô tận của không gian và thời gian, sự bình dị ấy âm thầm
góp phần làm nên những giá trị của cuộc sống.
Văn hóa làng Việt
Trong những sáng tác cho thiếu nhi, nhà văn Xuân Mai còn
giúp bạn đọc thêm hiểu, thêm yêu hơn một văn hoá làng Việt Nam mộc mạc, đặc sắc
qua những tục lệ rất đặc trưng của một làng quê trung du, cũng là
nét quen gặp ở nhiều làng quê trung du Bắc Bộ. Ấy là tết cơm
mới, tết giết sâu bọ, tục khảo cây mít, lệ nấu chè kho
cúng thành hoàng làng. Nhân vật trong Tết cơm mới kể: Mẹ
tôi là người rất chăm lo đến ngày lễ, tết. Tháng ba cụ làm bánh trôi, bánh
chay. Tháng năm cụ bắt chúng tôi nhuộm móng tay, móng chân. Sáng ngủ dậy phải
ăn hoa quả để giết sâu bọ và không ngồi ở bậu cửa để tránh mọc mụn nhọt.
Một cách khéo léo, nhà văn chỉ cho trẻ em biết về
những tục lệ truyền thống của cha ông, qua đó, biết yêu kính, biết
ơn, tri ân tổ tiên ông bà cha mẹ đã sinh ra ta, đã lam làm tạo dựng cho
ta cuộc sống: Tháng bảy cụ mua vàng mã đốt gửi người thân đã mất . Tháng
tám cụ mua bưởi, hồng và giục anh em tôi làm đèn kéo quân, đèn ông sao cho
các em. Cái gì cũng thế, từ quả na, quả chuối trong vườn chín bói đến đồng quà
tấm bánh ai đó biếu bao giờ cụ cũng đặt lên bàn thờ giục cụ ông thắp hương xong
các con mới được ăn. Với Tết cơm mới, mẹ tôi lo, chuẩn bị còn cẩn thận, chu đáo
hơn. Và sự chu đáo, thành tâm của bà mẹ đã được Xuân Mai mô tả thật tỉ mỉ,
từ việc mẹ nuôi, chăm chút đặc biệt một chú gà trống có cái mào đỏ
màu cờ, đôi chân vàng như màu hạt ngô già, mới tập gáy nhưng chưa áp
mái, hằng ngày chú gà này được ăn ngô, thóc, được uống nước mưa chứa trong một
cái chum đặt dưới gốc cây cau. Tiếp đến, mẹ xay, giã một cối gạo nếp cái hoa
vàng, một cối gạo tẻ tám thơm, hai thứ gạo mà chỉ mới là gạo thôi đã có mùi
thơm lan toả ra tận ngoài ngõ… Không hiểu sao, đọc những trang viết trong “Tết
cơm mới”, đến phần Xuân Mai mô tả cảnh người cha trịnh trọng làm lễ khấn tổ
tiên, và cái cách ông đưa gần như nguyên vẹn bài khấn cúng tổ tiên
vào trang viết, tôi bỗng thấy lòng mình rưng rưng một cảm giác thật khó tả: Cỗ
bàn, trầu, nước… được bày biện đầy đủ lên ban thờ; bố tôi mới ra
chum múc nước rửa mặt. Ông cụ lại thay quần áo mới, ăn mặc rất
chỉnh tề rồi mới đi đến bên bàn thờ, thắp hương, ra rượu. Nhìn bố
quỳ trên phản, hai tay chắp vào nhau, giơ ngang trán, miệng lẩm nhẩm
khấn, tôi cảm thấy có một cái gì đó rất thành kính, rất thiêng
liêng. Đọc đoạn văn, thấy điều gì như vừa trỗi dậy, tha thiết nhắn nhủ… Điều
gì vậy, hay đó chính là những tiếng gọi nơi thẳm sâu cội nguồn vang vọng?
Khiến ta thấy như được sống lại tuổi thơ, đang cùng mẹ cha anh em quây quần
bên mâm cơm mới dù đạm bạc mà đầm ấm thủa nào. Điều đơn giản vậy, sao bây
giờ như là cổ tích khiến tim ta xa xót.
Tính giáo dục, tính thời sự, tính dự báo của người
cầm bút
Đọc xong, gấp lại trang cuối mỗi tập truyện của Xuân
Mai viết cho các em, đều nhận thấy một điều: Ông viết Trận địa
đồi sim; Quà của dòng sông; Con trai người đi xa, Giếng làng; Quê ngoại,
Tháng Mười, Điều day dứt… đâu chỉ dành tặng riêng con trẻ. Bằng giọng văn
hiền lành, nhẹ nhàng, thủ thỉ, trang viết cho thiếu nhi của Xuân Mai
đang nói với tất cả chúng ta - những ai đang là người lớn nhiều điều về lẽ sống
ở đời, về những gì rất đỗi bình dị mà cũng vô cùng quý giá, như bối cảnh
thanh bình mà truyện ngắn Buổi tối bình thường, Ông cháu Mít -
su… Phú… đã mô tả.
Qua trang viết, nhà văn muốn gửi đến các em nhiều
thông điệp: về tình yêu thương, lòng khoan dung giữa con người với nhau,
với cả môi trường xung quanh (Một mình, Rừng cò ở Chằm Sai, Cái chết
của con Miu), riêng với Chuyện về loài kiến, bạn đọc nhỏ tuổi
sẽ có được một “bài học” lý thú từ loài kiến về tình thân ái,
biết đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau để cùng sinh tồn; biết yêu lao động
và trân quý thành quả lao động (Buổi gặt đầu tiên)
Xen kẽ với những hồi ức đẹp về quê hương thời thơ ấu, những
truyện ngắn viết cho thiếu nhi của Xuân Mai còn gửi đến bạn đọc những day
dứt. Ấy là việc vì sao một người sống hiền lành như ông Thủ Lộ cũng bị người
khác ghen ghét tư thù? Tại sao ông già nặn tò he khéo tay thế, tốt bụng thế
mà ông trời lại bắt phải chết khổ? Quyền được học hành, được chăm sóc,
yêu thương, được vui chơi, phát triển, vv… là những quyền cơ bản của
trẻ em - thế hệ tương lai của dân tộc, đất nước, nhân loại, vậy nhưng
có bao nhiêu em nhỏ như bé Khoa trong truyện ngắn Đi học, Khoa ơi! phải
bỏ học, không được đi học, thậm chí bị lạm dụng, lợi dụng, bức hại
hằng ngày? Xã hội hôm nay từng nhiều lần bất bình đến căm phẫn khi
chỗ này chỗ kia, những thân phân trẻ em bị bạc đãi, bị vứt bỏ, đánh
đập, hành hạ, mua bán, lạm dụng… nhằm phục vụ cho mục đích xấu xa
của kẻ ác. Bé Khoa trong truyện ngắn đã được đi học, nhưng vẫn còn
bao trẻ em khác ngoài đời đang chịu những cay cực, nhọc nhằn mưu sinh,
không được đến trường, không được yêu thương chăm sóc? Viết về vấn đề
này, nhà văn Xuân Mai đã góp thêm một tiếng chuông cảnh tỉnh: vì tương
lai, hãy thiết thực quan tâm, yêu thương, chăm sóc trẻ em.
Dự cảm về môi trường sống của con người đang bị
chính con người huỷ hoại, khi ngắm dãy núi Sáng “sau bao nhiêu năm bị con
người tàn phá, khai thác giờ nhìn trọc lốc như đầu ông sư và tiếng chim hót thì
thưa vắng đi rất nhiều. Riêng tiếng “bắt tép cho ta” của chim ca ca thì hầu như
không còn nữa” nhân vật trong câu chuyện của Xuân Mai đã tự hỏi
mình: Liệu có phải buổi đi bẫy ca ca đầy vẻ thích thú của bố con tôi từ mấy
chục năm trước đây đã góp phần làm vắng bóng ca ca? Tôi bâng khuâng hỏi
thế. Và, câu hỏi ấy dần thành điều day dứt mãi trong tôi”. Câu hỏi ấy, không
chỉ dành cho trẻ em, mà cho tất cả chúng ta. Vấn đề môi trường, hơn
bao giờ hết, đang là vấn đề nóng khiến toàn cầu lo âu. Những hậu
hoạ từ biến đổi khí hậu đang khiến con người phải trả giá. Vậy thì
sự linh cảm của nhân vật trong truyện ngắn viết cho các em của Xuân
Mai có phải là thông điệp cảnh báo con người từ cách nay cả chục năm
trời? Đến lúc này, điều dự cảm ấy vẫn đang vẹn nguyên tính thời
sự?
Tính giáo dục, tính thời sự, chức năng dự báo, nếu
có, của văn học, chính là đã được bắt đầu từ những trang viết giản
dị, trong trẻo mà trĩu nặng suy tư như thế của Xuân Mai.
Để cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn, có biết bao nhiêu điều
còn khiến mỗi người chúng ta phải day dứt suy nghĩ và tìm hướng hành động. Hy vọng,
những trang viết dành cho các em của nhà văn Xuân Mai sẽ là hành trang
đi cùng tuổi thơ, đi cùng thời gian để lưu giữ lâu dài trong lòng dân
tộc thêm những hình ảnh đẹp về làng quê của chúng ta.
T.V
MỘT NỖI ĐAU TRUYỀN ĐỜI
Phạm Ngọc Chiểu
Đó là nỗi đau, truyền qua mấy chục thế hệ con cháu suốt 585
năm qua, kể từ ngày 26 tháng 2 năm Kỷ Dậu (1429), ngày vị tướng quân tài ba họ
Trần là Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn cùng đoàn gia thần nội thủ và đồng chí hướng
nhất loạt trầm mình, lấy cái chết để tỏ tấm lòng và khỏi phải chết bởi tay Thái
tổ Cao hoàng đế Lê Lợi. Câu hỏi lớn của Tả tướng quốc khi ông ngửa mặt hỏi trời
cao, trước khi cùng mọi người lao xuống ghềnh Đông Hồ tự chết, còn vang động đến
hôm nay:
- Tôi với Hoàng thượng cùng mưu cứu nước cứu dân. Nay nghiệp
lớn đã thành, Hoàng thượng nghe lời dèm pha mà hại tôi,Hoàng thiên có biết
không?
Sự kiện động trời này, lạ thay, trong bộ Đại Việt sử ký
toàn thư, tập 2 trang 374, NXB Khoa học Xã hội, 2009 (in theo Quyển 10, bộ cổ,
phần Kỷ Nhà Lê Thái Tổ Cao hoàng đế (1418 - 1433), Thuận thiên năm thứ 3, Kỷ Dậu),
chỉ ghi vẻn vẹn có một dòng chú thích như sau: “Tháng 2 này còn có việc bắt giết
Trần Nguyên Hãn”, với lời dặn: xem Cương mục chính biên, Quyển 15, tờ 20A. Đang
đi tìm sách đọc theo lời dặn nhưng chưa tìm được thì may sao lại nhận được tiểu
thuyết “Người về chốn cũ” của nhà văn Xuân Mai gửi cho, mà, ngay trang đầu cuốn
sách ông đã trân trọng ghi lại: “Sử làng Sơn Đông viết về Tả tướng quốc Trần
Nguyên Hãn: “Thập đại kinh luân mao ức lý, nhân trạch từ miếu” (Sau mười năm đi
chinh chiến, về ở lại nơi nhà cũ).
Từ một câu chú thích trong sách Sử và thêm một tờ 20A ở Cương
mục chính biên, với sự giúp đỡ của nhà nghiên cứu lịch sử Lê Kim Thuyên và bà
Trần Thị Phú mà nhà văn trân trọng cảm ơn ngay ở “Lời đầu sách”, ông đã viết
nên quyển tiểu thuyết lịch sử đầy đặn ba trăm trang in, đủ thấy công sức nhà
văn dành cho vị Tả tướng quốc đầu tiên của triều vua Lê Lợi đến mức nào.
Câu chuyện bắt đầu từ việc dân thôn Đa Cai, trang Sơn Đông một
ngày nọ bỗng thấy một cặp vợ chồng trẻ đến ngụ cư ở bên khoảng rừng cuối làng,
ngày ngày phát nương trồng lúa, trồng ngô, lại biết làm ra thứ dầu từ quả dọc
đem bán. Hỏi mới biết chồng là Trần Nguyên Án, con quan Tư đồ Trần Nguyên Đán,
dòng dõi đời thứ bảy của Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải, vì lánh nạn tìm
diệt dòng dõi nhà Trần của Hồ Quý Ly mà cùng vợ là Lê Thị Hoàn phải dạt lên Đa
lai, chờ thời. Rồi họ sinh được cậu con trai kháu khỉnh, hơn tháng tuổi mà dài
rộng như con nhà người ta ba bốn tháng, tóc xanh ngần, miệng rộng, tai to, mắt
sáng và xếch. Ba mươi tám năm sau, cậu bé có dung mạo khác thường ấy đã là vị
quan đầu triều, với tước phong Tả tướng quốc khi Lê Lợi lên làm vua, xưng hiệu
là Thái tổ Cao hoàng đế. Đó chính là Trần Nguyên Hãn, một vị tướng hữu học thức,
tinh binh pháp, lập những chiến công lẫy lừng, lên đến tột đỉnh chức quan nhưng
rồi phải trầm mình tự vẫn vì sự đố kỵ, nhỏ nhen của bọn gian thần và của chính
người ông từng tôn là minh chủ. Lịch sử các bậc quân vương nước nhà, Lê Lợi là
con người thật đặc biệt. Công lao của ông đối với non sông đất nước rất to lớn,
đánh đuổi được giặc Minh, dựng lên nhà hậu Lê dài 354 năm, riêng thời Lê Sơ thực
quyền của ông và con cháu đã 99 năm. Nhưng, cũng chính vị vua xuất thân hào trưởng
này đã nghe bọn gian nịnh mà giết hại các bậc khai quốc công thần từng nằm gai
nếm mật, vào sinh ra tử giúp ông lên tột đỉnh vinh quang, trong đó tiêu biểu là
Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn, Lê Lai, Phạm Văn Xảo… Sau này, con ông giết tiếp
bậc Đại quân sư Nguyễn Trãi, để lại những nỗi đau trong lịch sử. Về cái chết của
Nguyên Trãi thì Văn học - Nghệ thuật đã có nhiều tác phẩm nổi tiếng, nhưng nỗi
đau về vị quan võ đầu triều Trần Nguyên Hãn, thì “Người về chốn cũ” của nhà văn
Xuân Mai, như tôi biết, đây là cuốn sách đầu tiên - một tiểu thuyết dã sử viết
công phu và khá thành công.
“Người về chốn cũ” là tiểu thuyết dã sử viết theo lối cổ
điển, gợi ta nhớ về bộ tiểu thuyết nổi tiếng “Pi e Đại đế” của văn hào A lêc
xây Tôn-stôi. Nhân vật chính của tiểu thuyết là một nhân vật có thật trong lịch
sử, được nhà văn chăm chút tái hiện từ lúc sinh ra cho đến tận cuối đời. Việc
này thật không dễ. Vốn liếng “thực tế” chỉ là một ít trang sách và mấy câu chuyện
dã sử lưu truyền trong dan gian, trong khi nhà văn phải giới thiệu với người đọc
cả cuộc đời của nhân vật, với đầy đủ dung mạo, tính tình, mối quan hệ xã hội, rồi
những biến cố lịch sử nhân vật trải qua cách nay ngót sáu trăm năm.
Thật mừng là nhà văn Xuân Mai đã hoàn thành rất tốt các ý tưởng
của mình khi viết cuốn tiểu thuyết dã sử này. Một Trần Nguyên Hãn hiện lên trước
mắt người đọc khá sống động, từ lúc còn là cậu bé con, đến lúc là trang nam nhi
tuấn tú luôn ấp ủ thù nhà nợ nước, biết yêu và lấy vợ, sinh con, cho đến khi là
tướng võ nghệ cao cường, tinh thông binh pháp, đánh đâu thắng đó. Những trận Trần
Nguyên Hãn cùng Thượng tướng Doãn Nỗ dẫn quân vào đánh chiếm hai xứ Tân Bình,
Thuận Hoá, sau đánh thành Xương Giang trên xứ bắc chỉ vẻn vẹn trong có hai giờ
lấy được thành, cho đến những trận đánh viện binh của Liễu Thăng khi cùng Lê
Sát, lúc cùng Lê Lý… được ngòi bút Xuân Mai tái hiện thật sinh động. Đọc những
trang sách này của nhà văn Xuân Mai gợi ta nhớ những trận đánh thời Tam Quốc
bên Tàu được La Quán Trung viết lại vậy.
Một thành công nữa rất đáng ghi nhận là trong “Người về chốn cũ”
Xuân Mai đã kết hợp đưa vào mạch truyện chính rất nhiều truyện dân gian, những
phong tục tập quán, những lễ hội, những trò chơi dân gian. Người đọc sẽ khó
quên món “kẹo đất”, còn gọi là “bánh ngói” của dân Sơn Đông dành cho đàn bà có
mang ăn “rở”; trò thi tài nấu cơm nồi đồng điếu; trò chơi đánh “phết” trong hội
xuân, đến lễ hội Thánh Gióng ở Cổ Loa… Cả lối triết tự cắt nghĩa các chữ Hán,
những câu thơ cổ,những lời Khổng Tử,những bài khấn… cũng được nhà văn đưa vào
truyện đúng cảnh đúng dịp. Có thể thấy nhà văn Xuân Mai có một vốn liếng văn học
dân gian dày dặn, phong phú và ông có ý thức dân gian hoá lịch sử nên đã chọn lọc,
đưa vào “Người về chốn cũ” những chuyện dân gian khá đắc địa, giúp
cho tiểu thuyết có không khí xã hội sinh động để nhân vật chính có đất sống và
hoạt động “như thật”, không bị khô cứng.
Tôi rất ấn tượng với trang miêu tả về cái chết đầy bi tráng của
Trần Nguyên Hãn và đoàn người đi theo ông khi họ nhất loạt gác chèo để thuyền
lao xuống ghềnh Đông Hồ. Câu hỏi lớn của Trần Nguyên Hãn khi ông ngửa mặt hỏi
trời cao trước khi chết thật có sức lay động người đọc - một thành công trong
sáng tạo của Xuân Mai khi khép lại câu chuyện về bậc danh tướng.
“Người về chốn cũ” đã đến tay người đọc. Mừng cho nhà
văn Xuân Mai, bước vào đúng tuổi “xưa nay hiếm” lại có sách mới tặng bạn Văn, bạn
đọc một tiểu thuyết dã sử viết công phu, sinh động, rất đáng được ghi nhận.
P.N.C
B- MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU
GIẾNG LÀNG
Nhờ sự giúp đỡ của y tế, nhà tôi khoan được cái giếng nước sạch
ngày hôm trước thì ngày hôm sau là đến Tết Đoan Ngọ. Nhìn những xô, những chậu
nước mới được bơm lên trong suốt, bà tôi cứ ao ước: ‘Giá như ngày xưa làng ta
có nước trong thế này mà nấu chè kho thì quý hóa quá”. Tôi hỏi bà: “Sao nấu chè
kho lại cần đến nước thật trong hả bà?” - “Vì đó là chè nấu để cúng cháu ạ.
Cúng ông Thành hoàng làng thì nước phải thật tinh khiết. Cháu còn bé chưa biết
chứ ngày xưa…”.
Như rất nhiều lần, lần này tôi lại đụng đến cái ngày xưa của
bà. Dường như bà chỉ còn có chuyện ngày xưa nữa thôi. Bà rủ rỉ kể rằng: Ở làng
ta ngày xưa mỗi năm đến Tết Đoan Ngọ (tức là Tết vào ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch)
được ăn to chỉ kém Tết Nguyên Đán. Ngày bà còn bé, năm nào cũng vậy, hễ đến Tết
Đoan Ngọ là từ sáng sớm trẻ con nhà nào cũng được bố mẹ cho ăn hoa quả, rượu nếp,
trứng luộc, bôi hồng hoàng vào thóp đầu, vào ngực, vào rốn để giết sâu bọ. Còn
người lớn thì giết sâu bọ bằng cách uống rượu hòa với tam tần đơn, hoặc ăn rượu
nếp. Trẻ con “giết sâu bọ” xong thì rửa mặt mũi, chân tay thật sạch rồi nhuộm
móng tay, móng chân, đeo chỉ ngũ sắc… Buổi sáng hôm ấy không đứa nào được ngồi ở
bậu cửa, bởi ngồi ở đấy sau này rất dễ mọc mụn nhọt. Riêng bà, bà rất hay được
bố của bà bắt trèo lên cây mít. Theo lời dặn của bố, mỗi lần bố đánh một roi
vào cây mít và hỏi: “Mít, sang năm mày có ra nhiều quả không?” Bà lại phải giả
vờ làm vẻ đau đớn và nói: “Thưa ông, có ạ!” Quả nhiên năm sau cây mít có nhiều
quả hơn năm trước thật. Làm xong cái công việc linh thiêng, huyền bí ấy bà mới
được đi tắm. Mà là tắm nước giếng làng do mẹ bà giánh về từ sáng tinh mơ. Ai được
tắm loại nước ấy đến mùa hạ sẽ không có rôm sảy! Tắm gội sạch sẽ xong, mặc váy
áo mới, bà theo bố đem chè kho ra đình cúng Thành hoàng làng.
Bà cũng không biết tại sao Tết Đoan Ngọ là ngày giỗ ông Khuất
Nguyên - (Ông này ở mãi bên Trung Quốc, thờ vua Sở Hoài Vương. Vì ngăn cản vua
không được, bực mình ông ôm đá nhảy xuống sông Mịch La mà chết. Hôm đó là ngày
mùng 5 tháng 5). Vì thương tiếc một người con trung nghĩa nên hàng năm đến ngày
ấy nhân dân lại làm bánh ngọt, quấn chỉ ngũ sắc, rồi đua nhau bơi thuyền ra giữa
dòng sông ném bánh xuống để cúng ông, làng ta lại có lệ nấu chè kho cúng Thành
hoàng làng? Bà chỉ nhớ là, nước nấu chè kho phải thật trong, thật sạch. Bởi vậy
năm nào làng cũng phải tát giếng làng từ đêm hôm mùng 4. Tát thật cạn, vét hết
bùn, rác… Những gàu nước đầu tiên sẽ được đem đi nấu chè và giành cho trẻ con tắm.
Chả hiểu có phải do được tắm nước tinh khiết ấy của giếng làng hay không mà trẻ
con làng ta da dẻ đứa nào cũng nhẵn nhụi như hạt mít.
Câu chuyện của bà đã kích thích trí tò mò của tôi. Tôi không
thể làm ngơ trước cái “ngày xưa” nữa:
- Bà ơi, thế giếng làng ở chỗ nào hả bà?
- Ở đâu ư? Ở phía đầu làng, gần nhà cụ Tùng. Chỗ có cây đa ấy
cháu ạ.
Từ lúc nãy bố tôi vẫn đang mải mê với công việc xây lát nền
giếng, giờ nghe bà bảo thế, vội nói:
- Là bà bảo giếng từ ngày xưa chứ hàng chục năm nay làng ta
làm gì còn giếng làng nữa.
- Thế giếng làng bị lấp mất rồi hả bố thằng Hùng?
- Vâng! Lấp rồi. Bây giờ ở đấy chỉ còn mỗi cây đa già.
Nghe bố tôi nói vậy, bà tôi thở dài. Tôi có cảm giác như bà vừa
đánh mất một cái gì đó quý lắm. Cái gì đó rất quý của bà thì tôi chưa thể hiểu
được nhưng công việc đầu tiên của tôi là phải tìm ra nơi có cái giếng làng của
làng tôi. Bụng bảo dạ như thế, tôi chạy phóng sang nhà thằng Dũng.
Thằng Dũng là cháu đích tôn của cụ Tùng. Nó bằng tuổi tôi, học
cùng lớp với tôi. Tôi thân với nó bởi hai thằng khoái chơi những trò mạo hiểm.
Đặc biệt là rất thích tìm hiểu những cái gì mà mình chưa biết. Keo này tôi với
thằng Dũng sẽ tìm xem cái giếng của làng mình ngày xưa nằm ở đâu?
Nghe tiếng huýt sáo hiệu của tôi, thằng Dũng đang cùng ông nó
lau lá giúp mẹ nó làm bánh rợm, bánh gai cũng phải đứng dậy chạy ra cổng. Tôi
ghé tai nó, hỏi với giọng đầy vẻ quan trọng:
- Mày có biết hôm nay là ngày gì không?
Chắc cho tôi đã hỏi một câu ngớ ngẩn, thằng Dũng nhe răng ra
cười thay cho câu trả lời. Tôi lại hỏi:
- Thế mày có biết ngày xưa các cụ phải lấy nước giếng làng để
nấu chè kho cúng Thành hoàng làng vào ngày hôm nay không, hả?
Đến lúc này tôi biết thằng Dũng mới thật chú ý tới điều tôi gợi
ra. Thấy nó lắc đầu, tôi liền “sì” một cái, đoạn với giọng kẻ cả, tôi bĩu môi:
- Vậy mà cũng đòi là nhà thám hiểm. Này, mày có biết ngày xưa
làng mình có một cái giếng làng không?
Thằng Dũng lại lắc đầu. Tôi thật sự lấy làm buồn cho cái thằng
bạn chí cốt của mình:
- Bà tao bảo, ngày xưa làng mình có cái giếng làng. Giếng ở gần
nhà mày thế mà mày lại không biết!
- Giếng ở gần nhà tao?
- Là bà tao nói thế.
- Ồ, nếu vậy thì vào hỏi ông tao xem có đúng không? Đi! Nhanh
lên!
Ông thằng Dũng năm nay đã hơn 80 tuổi. Râu tóc ông trắng như
cước. Da dẻ ông đỏ đắn, hồng hào nhìn đẹp như ông tiên trong truyện cổ tích.
Ông là người vui tính, rất yêu chúng tôi. Ông hay kể chuyện cho chúng tôi nghe
lắm. Nhiều lúc tôi cứ nghĩ, trong đầu ông có chứa đến hàng ngàn pho sách. Ông
hiểu biết nhiều thế thì chuyện về cái giếng làng làm gì ông không biết cơ chứ!
Quả đúng như tôi dự đoán, sau khi nghe tôi với thằng Dũng hỏi,
không lau lá nữa, ông đứng dậy đi súc ấm, pha trà. Nhấm nháp gần hết chén trà
đoạn ông mới chậm rãi nói:
- Các cháu có hỏi thì ông mới nhớ. Phải, ngày xưa cả làng ta
chỉ có mỗi một cái giếng nên mới gọi là giếng làng. Xung quanh cái giếng này
cũng có nhiều chuyện vui, buồn đấy các cháu ạ. Hai đứa có biết không, ngày xưa…
Ông thằng Dũng kể là, ngày xưa, nghĩa là từ lâu lắm rồi, khi
lớn bằng chúng tôi, ông đã thấy làng có cái giếng ấy. Đó là một cái giếng tròn,
to bằng ba cái nong. Tang giếng cao chừng 1 mét, nền giếng lá gạch nghiêng. Từ
đáy đến tang giếng được chồng toàn bằng đá. Mùa hạ cũng như mùa đông, giếng lúc
nào cũng đầy nước. Nước trong, ngọt và rất mát. Tương truyền rằng, từ ngày xửa
ngày xưa có một lần Vua Hùng (tức là ông vua dựng nước Việt Nam ta
ngày nay) đi săn tới đây thì dừng chân nghỉ. Người cho lính cắm trại, rồi đào
giếng lấy nước nấu ăn. Người đi để lại cho dân làng cái giếng. Thấy nước giếng
trong mát hơn nước ao hồ bà con mới bảo nhau đào rộng ra, sâu hơn. Tỏ lòng biết
ơn vua cha đã cho mình cái giếng, dân làng lại xây một cái miếu thờ dưới gốc
cây đa gần đó. Thời gian trôi đi, cây đa lớn lên, cái giếng vẫn còn, riêng cái
miếu thì bị đổ nát chỉ còn lại mỗi móng với mấy chục viên gạch vỡ.
Vì cả làng mới có một cái giếng nên hầu như lúc nào ở ngoài
giếng cũng có người. Sáng sáng các bà, các chị ra giếng gánh nước; chiều chiều
người lớn, trẻ con ra giếng tắm giặt. Vô hình chung giếng là nơi tụ tập của dân
làng, đông và vui lắm. Không những thế, giếng còn là nơi hò hẹn thề thốt của những
đôi trai gái mới yêu nhau, khi phải xa nhau. Cụ Tùng bảo, chính cụ đã bắt gặp
bà nội tôi hồi còn trẻ đứng khóc bên một anh Vệ quốc quân ở bên giếng làng vào
một đêm trăng sáng. Anh ấy đóng quân ở làng tôi, yêu bà tôi. Khi phải chuyển
quân ra mặt trận, hai người phải chia tay nhau, kẻ đi người ở… Nghe tới đây tôi
chợt hiểu tại sao lúc nãy tôi lại có cảm nghĩ như bà tôi vừa đánh mất một cái
gì quý lắm.
Ông thằng Dũng đang kể thì dừng lại đột ngột. Cụ thong thả
rót nước ra chén. Sau một ngụm trà và lập bập rít mấy hơi thuốc lào thở khói trắng
mù trước mặt, với một giọng ngàn ngạt, cụ kể tiếp:
- Nhân nói với các cháu về cái giếng làng, có chuyện này ông
thấy cần phải kể để các cháu biết, nếu không nay mai ông chết, ông đem nó xuống
hố thì coi như ông có tội với anh ấy…
Cả hai đứa chúng tôi tròn mắt, kinh ngạc hỏi:
- Chuyện gì hả ông? Ông kể cho chúng cháu nghe đi!
- Phải, ông sẽ kể để các cháu nghe. Đấy là chuyện về một người
chiến sĩ hoạt động bí mật từ thời đánh Pháp. Các cháu không biết đâu, làng trước
kia là vùng địch tạm chiếm. Cái lô cốt ở đầu làng, nơi mà các cháu hay chơi trận
giả ấy là của thằng Pháp xây để giữ không cho bộ đội mình về làng. Một đêm,
cũng vào dịp Tết Đoan Ngọ như hôm nay, giữa lúc mọi người đang lịch kịch giã bột
làm bánh thì bỗng thấy có tiếng súng nổ rộ lên ở ngoài đầu làng. Tiếp đó là tiếng
chó sủa, tiếng hô đuổi bắt ai đó cứ ầm ĩ, huyên náo khắp nơi… Sáng ra dân làng
mới biết chuyện, đêm qua có một anh bộ đội từ vùng tự do bí mật về bắt liên lạc
với du kích trong làng để chuẩn bị phối hợp lực lượng phá đồn, diệt bốt, giải
phóng làng. Nhưng không may bị lộ, anh ấy bị chúng nó săn đuổi. Bí quá, anh liền
nhảy xuống giếng làng ẩn náu. Đã dìm mình xuống nước chỉ còn hở hai lỗ mũi
nhưng bởi nước giếng trong quá nên dẫu là đêm tối, chúng nó bấm đèn pin soi vẫn
tìm nhận ra anh. Chúng nó bắt anh lên, trói anh vào gốc đa suốt một đêm, đợi đến
sáng bắt mọi người đến xem chúng hành tội anh.
Anh bộ đội ấy còn trẻ lắm. Ông đoán anh chỉ ngoài tuổi hai
mươi nhưng nom thật rắn rỏi. Trước mặt dân làng chúng đánh đập tra khảo anh rất
dã man nhưng anh lì lợm không hé răng khai lời nào. Cuối cùng chúng trói giật
cánh khuỷu anh lại, kéo bùng biêng trên một cành đa, rồi thi nhau xả đạn
vào anh. Dây đứt, chúng nó xúm lại túm lấy xác anh quẳng xuống giếng, và cấm
không ai được vớt lên chôn cất. Tuy dân làng không ai được chôn cất anh nhưng
ông cũng không rõ bằng cách nào, anh chị em du kích vẫn vớt được xác anh ấy, bí
mật chuyển ra vùng tự do cho đơn vị của anh. Bà con mình chỉ ân hận một điều,
anh ấy đã chết vì làng mà cả làng đều không ai biết được tên anh ấy là gì? Quê
quán ở đâu? Mộ chôn ở chỗ nào? Phần thương anh, phần không thể bỏ được cái giếng
làng, bà con bảo nhau tát giếng để lại có nước ăn…
Tôi thầm hiểu quá khứ buồn đau đang hiện về trong tâm trí cụ
Tùng khiến cụ ngậm ngùi, nếu tiếp tục nói nữa khéo cụ bật khóc. Vì thế cụ lặng
đi, mắt cụ chơm chớp và hai tay thì run run vê điếu thuốc lào mà nhét mãi vẫn
không đúng nõ. Thấy vậy tôi vội vàng giúp cụ nhồi thuốc còn thằng Dũng giúp ông
nó châm lửa. Hút xong điếu thuốc, không chờ chúng tôi hỏi tiếp, cụ vừa nhìn ra
sân vừa bâng khuâng nói:
- Không biết có phải là từ ngày xưa năm nào dân làng mình
cũng lấy nước sạch từ giếng làng đem về nấu chè kho cúng Thành hoàng làng nên
được Ngài phù hộ, hay là nhờ linh hồn anh bộ đội vô danh phù hộ độ trì mà tuy
làng ta nhỏ bằng cái bàn tay, có mấy chục nóc nhà nằm chen chúc trong lũy tre
nhưng lại có vô khối người học hành cao, thi cử đỗ đạt. Như hai cháu thấy đấy,
người làm cán bộ tỉnh có, làm cán bộ huyện có, bác sĩ, kỹ sư có. Có hai ông làm
hiệu trưởng trường cấp ba, lại còn có cả hai ông làm nhà văn, nhà báo tầm cỡ
trung ương hẳn hoi… Hôm nọ họp Hội những người cao tuổi, các cụ bảo nhau tới
đây phải tu bổ lại cái đình làng. Rồi bàn với Hội cựu chiến binh xây lại cái miếu
thờ ở dưới gốc cây đa kia kìa…
Chà, đấy là những công việc hệ trọng của các cụ, chúng tôi trẻ
con đâu dám tham gia! Nghĩ vậy, chúng tôi chào ông và theo hướng tay ông thằng
Dũng chỉ, tôi kéo nó chạy về phía có cây đa.
Giếng làng xưa không còn nữa! Từ khi mỗi nhà có một cái giếng,
người ta đã lấp giếng làng rồi! Tôi và thằng Dũng đứng tần ngần cố hình dung ra
cái giếng làng theo lời cụ Tùng kể. Nhưng chịu, không thể biết nó nằm chính xác
ở chỗ nào. Hiện giờ ở đây chỉ còn cây đa thôi. Cây đa cũng đã già lụ khụ, rất
ít lá, chỉ thấy khẳng khiu, lòng khòng những cành, những rễ. Không rõ là bọn địch
đã treo anh bộ đội trên cành đa nào? Đang thầm hỏi thế bỗng chúng tôi giật mình
vì có mấy anh thanh niên vác đồ nghề khoan giếng đi qua. Có một anh lớn tiếng hỏi:
- Ê! Hai chú nhóc! Có đi khoan giếng với bọn anh không?
- Không! – Tôi trả lời – Chúng em đang tìm lại giếng làng
đây.
Anh ngửa cổ cười, vẻ nhạo báng:
- Giếng làng à? Thời buổi này làm gì còn giếng làng. Xưa rồi
chú mình ơi!
Ừ nhì? Giếng làng xưa, quá xưa rồi thật. Dẫu biết vậy mà sao
tôi vẫn thấy tiêng tiếc, vẫn ước ao giá như làng tôi còn một cái giếng làng để
có nước tắm cho chúng tôi không bị rôm sảy vào những ngày Tết Đoan Ngọ như ngày
xưa các cụ đã từng được tắm.
ỐC QUÊ
Ăn cơm tối xong, đang ngồi uống nước chè xanh bên bàn bỗng
ông bảo:
- Đã sang tháng mười rồi. Mùa này ốc đang béo. Sáng mai chủ
nhật đi bắt lấy ít ốc Phúc ạ.
Đang hí húi vót nan đan rổ ở ngoài hiên, cu Phúc hỏi lại:
- Bắt ở đâu hả ông?
- Ở dưới đồng Chằm Giàng. Chỗ năm ngoái hai ông cháu mình đi
soi chém được con cá quả to bằng bắp chân ấy. Cháu còn nhớ không?
Ồ tưởng đâu xa chứ ở đồng Chằm Giàng thì Phúc nhớ. Phúc
nhớ vì hàng ngày, những lúc không phải ngồi học, làm bài nó vẫn hay ra đó quăng
câu và đánh lờ cá rô. Đấy là một cánh đồng sâu mỗi năm chỉ cấy được một vụ, còn
một vụ bỏ trắng. Vụ không cày cấy ấy cỏ lác và cây hoa mặt mâm tha hồ mọc. Đây
chính là môi trường lý tưởng cho các loài tôm, cá, ốc, cua… sinh sôi, phát triển.
Ngày mai ra đó chắc là nó sẽ bắt được nhiều ốc lắm. Nghĩ thế, cu Phúc hào hứng
hẳn lên:
- Tối mai ăn bữa ốc luộc hả ông?
- Ông cũng định thế. Nhưng muốn bắt được ốc thì cháu phải đi
thật sớm, nếu không, nắng lên ốc lặn hết, khó mò lắm cháu ạ.
Nghe lời ông dặn, Phúc bảo mẹ gọi dậy từ lúc gà mới ra chuồng.
Tuy bóng đêm còn vương đầy trên mặt đất nhưng nó đã vội vàng úp cái nón mê lên
đầu, buộc cái giỏ ngang hông, rồi con cón chạy ra cổng.
Thời tiết đã sang thu. Trời se se lạnh. Một màn sương mỏng nhẹ,
giăng mờ như khói phủ lãng đãng bên các sườn đồi và trên các dộc ruộng bậc
thang. Cu Phúc chạy một mạch qua con đường đất đỏ vắt mình trên đồi cọ là đến
cánh đồng Chằm Giàng.
Ở nhà cứ tưởng mình dậy sớm nhất, với lại chỉ có mình đi bắt ốc.
Có ra đến đồng mới biết khối đứa còn dậy sớm hơn cu Phúc và chúng nó đang đằm
mình mò ốc từ lúc nào.
Dường như sợ bạn bè bắt hết, cu Phúc vội tụt quần áo, vo tròn
lại, nhét vào bụi cây, đoạn mình trần như nhộng nó nhảy tùm xuống nước. Nó vừa
lội, vừa bì bõm bơi. Chiếc giỏ như cái phao bập bềnh sau lưng nó. Có đứa nào đó
lớn hơn cu Phúc thấy thế liền nhắc nó: “Đừng làm động nước, ốc lặn mất”. Cu
Phúc chợt nhớ đến lời ông bảo: “Mùa này đi bắt ốc, nếu đứa nào tinh mắt, nhanh
tay thì sẽ không phải mò”. Phúc liền dừng lại. Nó giương mắt nhìn xoáy xuống nước.
Trong làn nước trong veo, nó nhìn thấy những con ốc nhồi to bằng những quả ổi,
có màu xanh đen bám trên những chiếc lá hoa mặt mâm và thân cây lác… đang từ từ
khép miêng, lẹ làng lảng dần, lảng dần xuống đáy nước. Đó là những chú ốc đêm
qua nổi lên ăn sương giờ thấy động chúng vội vàng lặn trốn. Nhưng đã muộn! Cu
Phúc đưa cả hai bàn tay ra tóm lấy từng con và nhét luôn vào giỏ… Bằng cách
rình bắt ấy, đến khi mặt trời nhô lên khỏi dãy núi Tam Đảo, tỏa ánh nắng vàng
hoe trên cánh đồng thì cu Phúc có một giỏ ốc đầy. Chúng nó gọi rủ nhau lên bờ,
mặc quần áo (có đứa chỉ mặc quần còn áo vắt vai) đoạn rồng rắn kéo nhau về.
Cu Phúc vừa về đến cổng, mẹ đã hỏi: “Được nhiều không con?”
Ông từ trong nhà đi ra nhìn qua giỏ ốc rồi bảo: “Đem ngâm với nước vo gạo cho
nó nhả hết bùn để đến tối luộc ăn mới không bị sạn, mẹ cu Phúc ạ”.
Trong lúc chờ mẹ đun lửa luộc ốc thì ở ngoài sân cu Phúc đang
cùng với ông hí húi pha nước chấm. Vừa làm ông vừa nói cho cu Phúc biết có khá
nhiều cách ăn ốc: Từ con ốc ta có thể chế biến thành nhiều món ăn khác nhau
như: Ốc nướng, ốc xào chuối xanh, ốc nấu canh sắn… riêng món ốc nhồi thịt hấp
lá gừng, “anh” đặc sản này phải là khách sang mới được ăn. Tối nay, ông cháu cu
Phúc sẽ ăn món ốc luộc là cách ăn thông dụng nhất mà ngon cũng không kém các
cách ăn khác đâu! Có điều ăn ốc luộc thì phải có nước chấm ngon. Mà xem ra ngon
nhất là món nước chấm đấy nhá. Vì thế ông pha món nước chấm cầu kỳ, công phu lắm.
Này nhé, ngoài nước mắm ngon còn phải có dấm này, mì chính này, gừng này, quất
này, ớt nữa này… Chà thơm quá! Hấp dẫn quá! Thoáng ngửi thấy mùi, chân răng cu
Phúc đã tứa đầy nước miếng.
Ông cháu cu Phúc pha nước chấm xong cũng vừa lúc mẹ nó luộc ốc
chín. Ông bảo mẹ nó bê cả nồi ra sân và sai nó vào nhà lấy chiếu trải trên cái
sân lát gạch. Sau đó ông lại bảo nó mở tủ lấy ra cho ông chai rượu trắng với
cái chén con để ông nhắm rượu với ốc.
Khi ba ông con đã ngồi quây quần bên nồi ốc, mẹ cu Phúc mới mở
vung ra. Một mùi thơm quyến rũ của lá bưởi, lá chanh cùng mùi mẻ, mùi ốc phả
lên thơm đến… nhức mũi. Mẹ định múc ốc bày ra đĩa nhưng ông bảo cứ để cả trong
nồi ăn cho nóng, ăn con nào nhúp con ấy như thế mới thật ngon.
Sau một lát nhấm nháp vài ba con, ông khề khà tợp vài ngụm rượu,
ông ngồi lặng nhìn hai mẹ con cu Phúc hí hoáy nhể ốc và liên tục phải sịt soạt,
hít hà vì vị thơm cay của nước chấm. Hình như ông có chuyện gì sắp nói? Cu Phúc
đoán thế bởi lần nào cũng vậy, hễ uống rượu là ông lại nói chuyện. Quả nhiên một
lúc sau, với một giọng trầm buồn, ông chậm rãi kể:
- Ngày xưa, nhà mình nghèo lắm. Bố mẹ vẫn phải đi mò
cua, bắt ốc, đem bán lấy tiền đong gạo nuôi con. Hồi còn sống, bà thằng Phúc mò
ốc tài lắm. Nhờ thế mới có đủ tiền nuôi bố nó lên tỉnh học. Bây giờ làm cán bộ
nhà nước, được đi đây đi đó, được ăn những sơn hào hải vị, chẳng biết bố nó có
còn nhớ đến món ốc luộc của quê mình nữa hay không?
Ông hỏi vậy rồi lại nâng chén rượu lên tợp một ngụm nhỏ. Bỗng
cu Phúc ngừng tay nhể ốc, nó nắm lấy cánh tay ông, lắc mạnh:
- Ông ơi! Đợi hôm nào bố cháu về, ông cháu mình sẽ chiêu
đãi một bữa ốc luộc như hôm nay xem bố cháu có khen ngon không, ông nhá?
ÔNG CHÁU MÍT-SU… PHÚ
Ông nội của Phú làm nghề dạy học. Từ ngày nghỉ hưu ông nó
chuyên ở nhà làm vườn. Ông nó thường bảo: Tuổi già có hai cái thú. Một là, uống
trà vào buổi sáng. Hai là, vạch lá bắt sâu và tưới tắm cho vườn cây.
Về chuyện uống trà của ông cu Phú cũng nhiều điều kỳ thú lắm.
Thường thì ông thức dậy từ lúc gà mới ra chuồng. Ông lịch kịch nhóm lửa, đun nước
sôi, cho vào phích. Nước pha trà của ông là nước mưa chứa trong cái bể. Trà ông
uống là loại trà móc câu, trắng mốc do tự tay ông hái từ lúc trà mới một tôm
hai cá, tự tay ông sao, rồi tự tay ông súc ấm, cho trà vào ấm… Ông ngồi uống nhấm
nháp từng ngụm nhỏ kiểu như người ta thưởng thức một thứ đặc sản gì quý hiếm.
Có một sáng ông mời mấy ông hàng xóm, cũng nghỉ hưu như ông, sang chơi uống
trà. Đợi mỗi người uống cạn một chén trà ông mới hỏi mọi người rằng trà có
hương vị hoa gì? Kỳ lạ thay là nước trà đều được rót ra từ một chiếc ấm nhưng mỗi
ông lại trả lời một khác. Ông này bảo có hương hoa nhài, ông kia bảo có hương
hoa hồng, ông khác lại cam đoan có hương hoa ngâu… Sao có chuyện thần tình thế?
Thì ra từ tối hôm qua ông đã cọ tách chén thật sạch. Sau khi lau khô ông đặt
vào lòng mỗi chiếc tách một bông hoa khác nhau, rồi úp chén lại. Hương hoa đã
vương đầy trong lòng chén, thế thì làm gì các cụ chả có nhận xét khác nhau. Biết
chuyện các cụ cười rung cả râu. Ai cũng tấm tắc khen ông nội cu Phú là người vừa
sành uống trà, vừa biết bày vẽ những trò vui thú thanh tao.
Không biết uống trà nên cu Phú cũng không hiểu được cái ngon,
cái thú của ông nó ra làm sao. Nhưng cái thú làm vườn với trồng cây của ông thì
nó biết. Ông mới nghỉ hưu có vài ba năm mà mảnh vườn mấy chục mét vuông ngay
trước sân nhà cu Phú đã xum xuê lá quả. Đấy là những cây cam Bố Hạ, những cây
táo Thiện Phiến, những cây bưởi Đoan Hùng, những cây hồng Hạc Trì, những cây vải
thiều Thanh Hà… Những cây giống này, có cây bố nó đem từ Trung tâm khuyến nông
về, có cây do người ta biếu, có cây ông tìm mua.
Hầu như sáng nào cũng vậy, uống cạn một ấm trà, không cần ăn
thứ gì khác nữa, ông vác cuốc xẻng đi làm vườn. Khi thì ông lóc cỏ đắp gốc cho
cây. Khi thì ông san lấp mặt bằng. Ông cặm cụi, ông mải mê với công việc tưởng
như không biết mệt, không thấy chán. Chiều xuống, ông lại xách nước từ dưới ao
lên tưới đều cho các cây. Tưới xong, ông vạch lá bắt sâu. Mắt ông đeo kính, ông
chăm chú nhìn. Hai bàn tay ông nâng niu từng cái lá và lần tìm từng con sâu,
con nhện. Cứ thế, ông lặng lẽ làm cho tới khi tối nhọ mặt người mới nghỉ.
Có lẽ được ông chăm sóc như mẹ chăm con nên cây nào ông trồng
cũng sống, cũng lớn nhanh như có phép lạ. Nhìn vào vườn cây của ông ai cũng tấm
tắc khen. Ông chăm sóc cây đã khéo, ông chiết ghép cây còn khéo hơn, tài tình
hơn. Ví như ông ghép cây chanh với cây cam, cây táo ta với cây táo Thiện Phiến,
cây bưởi chua.. . rồi cho ra một giống cây mới. Lòng ham mê làm vườn của ông đã
lây sang cu Phú từ bao giờ. Một hôm nó đang đứng xem ông chiết cây thì được ông
hỏi:
- Cháu Phú có biết ông Mít-su-rin là ai không nhỉ?
Phú ta đứng ngẩn tò te suy nghĩ một lúc mà vẫn không biết ông
Mít-su-rin là ông nào? Cả làng này có mấy ông già nhưng không có cụ nào có cái
tên nghe lạ tai như thế cả. Nó đành lắc đầu, cười:
- Ông ấy là ai thế hả ông?
Ông ngừng tay nhìn Phú như chợt hiểu:
- À, năm nay cháu mới học lớp năm nên chưa biết ông ấy là phải.
Ông này ở mãi bên nước Nga, là người đầu tiên tìm ra cách chiết ghép cây như
ông đang làm đây này. Thế cháu có muốn trở thành ông Mít-su-rin không nào?
Cu Phú cười ỏn ẻn như con gái:
- Có ạ! Nhưng ông ơi, cháu chưa biết cách ghép cây.
- Thì phải học. Học sẽ biết hết. Nếu cháu muốn, ông sẽ dạy.
- Thế ông dạy cháu thật nhá?
Ông cốc khẽ vào đầu cu Phú một cái và mắng yêu:
- Thằng bố mày. Ông không dạy thật thì dạy đùa sao? Nào lại
đây ông bày cách cho mà làm.
Thế là buổi học đầu tiên về phương pháp chiết ghép cây của cu
Phú bắt đầu. Hóa ra người ta chiết ghép cây là để có một loại cây mới có quả
nhiều hơn, lại ngon hơn. Mà muốn chiết ghép thành công thì trước hết phải biết
chọn những cành cây giống không bị sâu, đang có sức phát triển tốt và những mắt
cây phải lành lặn. Sau nữa, phải thật cẩn thận, tỉ mỉ và kiên nhẫn. Những đức
tính này không thể thiếu đối với người làm vườn. Bởi những cây lá, hoa quả nó
giống như trẻ con chỉ thích được chăm sóc chu đáo và thích được vuốt ve chiều
chuộng.
Ông “lên lớp” một lúc lâu đoạn đưa dao kéo đồ nghề cho Phú thực
hành ngay. Ông bảo Phú hãy chiết táo cho ông xem có làm được không. Sau giây
lát lóng ngóng với dao kéo, Phú tách vỏ cây, trích lấy mắt cây đoạn đem ghép lại.
Mọi động tác Phú làm đều khéo léo, in ắn y như một người thợ lành nghề. Ông đứng
ngoài theo dõi luôn mồn khen: “Tốt! Tốt!”. Đợi Phú bó buộc xong, ông xoa đầu
Phú nói:
- Cháu có thể trở thành học trò của ông Mít-su-rin được đấy.
Từ hôm nay ông giao cho cháu cây này. Cây táo này là của cháu. Cháu phải trông
nom, chăm sóc đến ngày nó ra hoa, kết quả. Liệu Phú có làm được không cháu?
Cu Phú mừng rơn chỉ còn thiếu ôm chầm lấy cổ ông mà nhận: “Có
ạ!”.
Từ hôm ấy trừ những lúc phải đi học, ngồi học, làm bài và đi
chăn trâu… thời gian còn lại nó quẩn quanh ở ngoài vườn cây với ông. Thay cho
những lần trốn ông, trốn mẹ đi chơi bời lêu lổng với bọn trẻ con hàng xóm trước
kia, bây giờ nó ở nhà cùng ông xới vườn, lóc cỏ, tưới cây. Càng làm nó càng hiểu
ra rằng để có một bông hoa thơm, một quả cây chín ngọt, thật không đơn giản một
chút nào. Người làm vườn phải tìm hiểu, phải rút kinh nghiệm để hiểu tính nết của
từng loại cây. Có như thế mới biết cách mà vun trồng, chăm bón. Riêng với cành
táo do chính tay Phú chiết ghép, nhờ được ngày nào nó cũng để mắt tới nên lớn
nhanh trông thấy. Chẳng bao lâu từ một mầm táo đã thành cành táo, rồi thành cây
táo. Cây táo vươn cành nở lá, xòe tán phủ kín một khoảnh đất rộng bằng cái
nong. Rồi cây táo ra hoa. Cây táo kết quả. Chớm đông, táo bắt đầu chín. Những
quả táo mòng mọng, sai trĩu cành cứ vàng rộm lên trong nắng. Đúng vào dịp này
thì Hội làm vườn của các cụ ở làng Phú được thành lập. Ông của Phú được các cụ
bầu làm Hội trưởng. Buổi sinh hoạt đầu tiên của Hội họp ngay tại nhà Phú.
Sau khi các cụ uống xong một tuần trà do chính Phú giúp ông
súc ấm, pha trà, chế nước, ông mới bảo Phú ra vườn hái táo – cây táo mà nó tự
chiết ghép và vun trồng ấy – để mời các cụ ăn nếm. Phú chọn hái một mủng con những
quả chín nhất, mọng nhất đem vào đưa ông. Ông lại còn bảo nó bày táo ra một cái
đĩa men, đoạn ông trịnh trọng đặt lên bàn thờ. Ông thắp hương và lầm rầm khấn
vái. Khấn xong, ông quay ra nói với các cụ:
- Đây là những quả táo đầu do thằng cháu Phú nhà tôi làm ra.
Tôi đã thắp hương mời tổ tiên thụ hưởng, giờ đến lượt anh em mình, mời các cụ
ăn nếm xem có ngon không ạ.
Dứt lời, ông cầm táo đưa cho mỗi cụ hai quả. Các cụ vừa ăn một
cách nhâm nhi, vừa bình luận rất sôi nổi. Có cụ khen táo ngọt, giòn, có cụ khen
táo hạt nhỏ, thịt nhiều, hơn đứt anh “Thiện Phiến”… Có cụ nói với ông cu Phú:
- Đúng là giỏ nhà ai, quai nhà ấy thật. Cháu Phú khá lắm. Nay
mai lớn lên cho nó đi học Đại học Nông nghiệp, học làm kỹ sư trồng trọt được đấy
các cụ ạ.
Không giấu nổi niềm vui đang tràn ngập trong lòng, ông cu Phú
cười khà khà và khoe luôn:
- Cháu nó đang mơ ước trở thành Mít-su-rin đấy ạ!
Một cụ khác nói:
- Ông Mít-su-rin ở tận đẩu tận đâu tôi không biết, từ nay
chúng tôi sẽ gọi ông cháu nhà cụ là ông cháu Mít-su … Phú. Được không?
Các cụ cùng cười rộ lên tỏ ý tán đồng. Riêng cu Phú lại
đứng im, mặt nghệt ra. Nó có ý chờ xem các cụ trong Hội làm vườn họp bàn về vấn
đề gì? Nếu có thể, nó cũng sẽ xin ông cho gia nhập Hội. Liệu đã nên chưa nhỉ?
Liệu có được không nhỉ?
NGƯỜI VỀ CHỐN CŨ
(Trích tiểu thuyết)
26
Đúng như thầy Nguyễn Thái An hình dung: Từ mấy tháng nay, “
Phủ đệ” của Trần Nguyên Hãn , bà con vẫn quen mồm gọi thế, cứ rộn ràng, tấp nập
suốt ngày, suốt đêm. Đấy là những “ gia thần nội chủ” đến giúp Trần Nguyên Hãn
làm sống dậy nghề ép dầu dọc gia truyền. Từ quả dọc thành dầu dọc phải qua mấy
những mấy công đoạn: Người ta chia nhau tản về mấy vùng quê lân cận tìm hái quả
dọc đem về, là công đoạn thứ nhất. Phơi khô, bóc lấy hạt, là công đoạn thứ hai.
Gĩa hạt dọc nhỏ như bột ngô, là công đoạn thứ ba. Đun sôi bột dọc lên đoạn trộn
với rơm khô, đóng thành từng bánh, là công đoạn thứ tư. Cuối cùng là ép từng “
bánh” bột ấy ra dầu. Có dầu rồi lại phải gánh đi bán tại các chợ quanh vùng. Dầu
bán được mới ra đồng tiền... Từng ấy công việc cũng đủ thu hút trên dưới hai chục
người làm mỗi ngày. Song hành với lực lượng làm dầu dọc ở trong “ phủ đệ”, tại
đồn sở được thiết lập để “ ứng Minh chi hậu” trên Rừng Thần, là các môn sinh
thuộc trang Sơn Đông tìm về học võ, tập đua ngựa, nghe giảng Binh thư, Tứ thư,
Ngũ kinh do Trần Nguyên Hãn truyền giáo, cũng có khi chàng mời cả thầy Nguyên
Thái An đến trợ giảng. Khi các môn sinh đến, khi các môn sinh về, nhất là những
lúc các môn sinh múa võ, cưỡi ngựa, thôi thì tiếng hô, tiếng hét cứ rậm rịch,
vang dậy một vùng rừng núi. Bên cạnh đó, Trần Nguyên Hãn còn thuê một tốp thợ tới
đóng thuyền, đóng trải tại nhà. Cánh thợ mộc này cũng góp một phần làm náo động
không gian. Họ xẻ gỗ xoèn xoẹt, họ gõ đục chí chát suốt ngày. Để có trải cho
các trai tráng luyện tập kịp thi bơi trải trên sông Lô vào mùa xuân tới, họ phải
làm từ lúc rạng sáng đến tối mịt.
Đâu chỉ quan tâm đến công việc của nhà mình, thực hiện dự định
như đã nói với thầy Nguyễn Thái An hôm nào, Trần Nguyên Hãn tổ chức họp bàn với
các bô lão Đa Cai vận động bà con làm sống lại nghề đan thuyền, nghề làm gốm và
tập trung phát triển trồng trọt, chăn nuôi. Nhờ vậy, Đa Cai như cô gái đến tuổi
dậy thì, mỗi ngày một khởi sắc, một thay da đổi thịt. Thôn làng như béo đẫy ra
trong mùa thu hoạch. Khi rơm lên cây, thóc vào bồ, cũng là những ngày heo may từ
phương Bắc tràn về. Vừa mới mùa đông đấy, loanh quanh vỗ con lợn chưa kịp béo
thì Tết đã xồng xộc đến sau lưng. Nếu tính từ ngày giặc Minh cuốn cờ về nước, Tết
này là năm thứ hai nhân dân Đại Việt nói chung, bà con Đa Cai nói riêng, đón Tết,
mừng Xuân trong không khí tưng bừng của người dân có được Độc Lập, Tự Do. Đó là
mùa Xuân Kỷ Dậu, năm 1429!
Ăn Tết xong đến ra giêng là vào mùa lễ hội mùa xuân. Trong rất
nhiều trò chơi, trò diễn của những ngày hội, Trần Nguyên Hãn chọn người tham
gia thi bơi trải trên sông Lô.
Gọi là bơi chải trên sông Lô nhưng thực ra đó là thi bơi chải
Bạch Hạc. Ngã ba Hạc nằm trên vùng đất hợp lưu của sông Hồng, sông Đà, sông Lô.
Nơi đây, từ lâu đã nổi tiếng là vùng sông nước hữu tình, sơn thanh thủy tú.
Theo truyền thuyết, tại ngã ba sông Bạch Hạc này, Hai Bà Trưng đã lấy bãi Hạc
và bến Tam Giang làm nơi đóng thuyền và huấn luyện quân sĩ. Đến đời nhà Trần,
có Trần Nhật Duật là con thứ 6 của vua Trần Thái Tông được giao trấn
thành Bạch Hạc. Ông cũng lấy bãi sông Bạch Hạc làm nơi luyện thủy quân, đóng
chiến thuyền. Tại đền Tam Giang, năm 1285 Trần Nhật Duật đã tổ chức Hội thề “
Giết giặc Thát, báo đền nợ nước, ơn vua”. Ông là một vị tướng kiệt xuất trong
các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông của dân tộc. Nhằm ghi nhớ
công ơn của các tướng lĩnh, lễ hội bơi chải ra đời để ghi lại những chiến công
thủy chiến lẫy lừng trên sông Hạc. Lễ hội thực sự là một chỗ dựa tinh thần của
cư dân vùng sông nước, là dịp để nhân dân nêu cao tinh thần thượng võ dân tộc,
luyện tay nghề, bản lĩnh của nghề sông nước, tăng cường rèn luyện thể chất và
lòng dũng cảm, đồng thời gửi gắm những khát vọng của cuộc sống.
Lễ hội bơi chải truyền thống hầu như năm nào cũng được tổ chức nhưng từ ngày giặc Minh xâm chiếm Đại Việt, xây thành Tam Giang, cách Bạch Hạc không xa, lễ hội vì thế mà không còn nữa. Năm nay, mừng đất nước hòa bình, các bô lão làng Bạch Hạc bàn với dân làng khôi phục lại hội thi bơi chải cho các giáp quanh vùng tham gia thi thố tài năng trên sông nước. Nhờ vậy Trần Nguyên Hãn mới có cơ hội đưa chải của mình từ Đa Cai bên sông Lô về ngã ba Hạc tham dự.
Lễ hội bơi chải truyền thống hầu như năm nào cũng được tổ chức nhưng từ ngày giặc Minh xâm chiếm Đại Việt, xây thành Tam Giang, cách Bạch Hạc không xa, lễ hội vì thế mà không còn nữa. Năm nay, mừng đất nước hòa bình, các bô lão làng Bạch Hạc bàn với dân làng khôi phục lại hội thi bơi chải cho các giáp quanh vùng tham gia thi thố tài năng trên sông nước. Nhờ vậy Trần Nguyên Hãn mới có cơ hội đưa chải của mình từ Đa Cai bên sông Lô về ngã ba Hạc tham dự.
Ngay từ trong năm, Trần Nguyên Hãn đã thuê thợ đến đóng trải.
Trải được đóng bằng gỗ trò, sơn đỏ. Chuôi giầm cũng sơn đỏ. Mái giầm sơn trắng.
Đầu trải hình chim phượng. Thân trải thót dần hình đuôi tôm, cong ngược. Trải
dài khoảng 20, 5 mét, lòng trải chia thành nhiều khoang, chỗ rộng nhất chừng 1,
5 mét. Có trải rồi Trần Nguyên Hãn lại tuyển chọn lấy 36 tay giầm là những trai
tráng khỏe mạnh trong làng. Vào cuộc thi, 36 tay giầm này được chia thành 18 cặp,
ngồi quỳ một chân xuống mạn trải theo một tư thế thống nhất, tay cầm giầm đúng
chiều. Khi bơi, miệng thì phụ họa theo tiếng hò và tay thì phải bơi đúng nhịp
hò của người hò mõ! Những hôm Trần Nguyên Hãn mới cho anh em luyện lập ngoài bến
Đông Hồ thôi nhưng không khí đã rộn ràng, náo nức lắm! Bà con kéo ra xem
đứng đông chật cứng trên bờ. Tiếng vỗ tay, tiếng hò hét cổ vũ, động viên của mọi
người cứ rộ lên từng đợt như sấm dậy.
Theo lễ tục, lễ hội bơi chải Bạch Hạc mùa xuân này mới chỉ có
4 chải. Mỗi chải sơn một màu trải khác nhau. Chải Tiên Hạc màu xanh; Chải Đông
Nam màu trắng; Chải Thần Chúc màu vàng; Chải Đa Cai của Trần Nguyên Hãn màu đỏ.
Lễ hội được diễn ra trong 3 ngày: Ngày đầu bơi dạo để kiểm tra trải. Ngày thứ
hai các trải đưa kiệu xuống trải bơi ra sông Hồng để đón Thần về. Ngày thứ ba
là ngày bơi chính để đọ sức giữa các trải với nhau. Đường bơi bắt đầu từ cửa bến
Đình về làng Đức Bác, rồi quay lại đền Tiên Cát. Đến đền Tiên Cát thì các chải
ném thẻ chải xuống. Nhận thẻ chải mới, các chải lại khẩn trương bơi về bến
Đình. Đương nhiên chải nào đến đích trước tiên là chải ấy giật giải nhất! Quy định
chung là vậy còn trên đường đua các đô thuyền phải kết hợp thật ăn ý mới tạo
nên một sức mạnh tổng hợp để giành chiến thắng.
Trong tiếng trống thúc giục liên hồi và tiếng hò reo ầm ĩ của
hàng ngàn người xem đứng trên bờ sông, Trần Nguyên Hãn giữ vai người hò mõ của
chải Đa Cai đang gõ từng nhịp mõ dứt khoát và cất giọng hô vang vang để cổ vũ
khích lệ sự hăng hái của các tay bơi. Trên dòng sông trong xanh, theo nhịp bơi
ào ạt, các chải vun vút lao lên phía trước để lại phía sau những luồng nước sục
sôi, cuồn cuộn. Trời trong xanh. Nắng lấp lóa. Bọt nước tung lên trắng xóa. Trần
Nguyên Hãn có cảm giác như mình đang sống lại trong trận vây thành Đông Quan
trên sông Nhị năm xưa! Mồ hôi vã ra chảy đầm đìa trên khuôn mặt bừng đỏ của
Hãn. Không thấy mệt, chàng chỉ thấy tâm hồn mình phơi phới như đang hòa nhập với
không khí vô cùng sôi động, như đang bay lên cùng với thiên nhiên vô cùng trong
sáng, vô cùng tươi đẹp ở bến sông này.
Đúng hôm Trần Nguyên Hãn thay mặt cho chải Đa Cai bước lên bục
nhận phần thưởng của hội bơi chải Bạch Hạc thì ở kinh thành Đông Kinh bọn gian
thần lại thậm thụt mò tới cung điện tấu trình với vua Lê Thái Tổ những tin tức
mới nhất về chàng.
Số là, trong những ngày Trần Nguyên Hãn về chốn cũ với
ngôi nhà cũ, rồi chàng bị cuốn hút, bận rộn với những công việc nào tổ chức Lễ
cầu siêu, nào đi nhận ruộng, nào xây “ phủ đệ”, nào ép dầu dọc, nào dạy võ, nào
đóng thuyền bè, luyện thi bơi chải. Cuộc sống nơi thôn dã làm chàng dường như
quên đi mọi nỗi buồn về nhân tình thế thái. Thực sự là chàng đang sống an vui
cùng sơn khê, cùng mọi người chung tay tìm cách cứu dân thoát khỏi cảnh bần
hàn, xây đời no ấm. Thế nhưng cũng trong thời gian ấy, ở Đông Kinh, trước sự bối
rối của Lê Thái Tổ vì sau khi chiến thắng giặc Minh nhưng thế lực chưa đủ
mạnh để giữ ngôi Hoàng đế của mình nên đã tiềm ẩn nhiều vấn đề chính trị xã hội
phức tạp, nay trở thành mâu thuẫn. Mà mâu thuẫn chủ yếu là sự kèn cựa về địa vị.
Sự kèn cựa ấy lại có liên quan đến Trần Nguyên Hãn. Dù bóng dáng chàng không
còn ở triều đình thế mà nỗi lo lắng về Tả tướng quốc - một con người hữu học thức,
tinh binh pháp - vẫn ám ảnh khôn nguôi trong tâm trí Lê Thái Tổ, đặc biệt
là những lúc nhà vua nghĩ về người kế vị mình trong tương lai. Đón bắt được ý
vua, những kẻ vô danh tiểu tốt trong chiến tranh chẳng có công trạng gì giờ được
dịp nhảy vào thời cuộc, lợi dụng “ đục nước béo cò” ra sức tâng công, dèm pha,
dâng sớ tấu trình mưu cầu lợi ích cho phe cánh. Đứng đầu bọn cơ hội này là Đinh
Bang Bản, một thân cận của đại công thần Lê Sát và Lê Quốc Khí, cháu gọi Lê
Thái Tổ bằng bác.
Dạo này, Lê Thái Tổ luôn thấy trong người không được khỏe.
Trên mười năm trận mạc, trải qua không biết bao nhiêu là khó khăn gian khổ, sức
lực của một hào trưởng đã bị tàn phá một cách nhanh chóng. Mới 44 tuổi mà nhà
Vua hay ca thán, tuổi già lắm bệnh! Từ khi lên ngôi báu, những lúc ngồi trong
cung điện Lê Thái Tổ thường bày tỏ hơi thái quá với những quần thần thân tín về
bản thân mình rằng: “ Ta tuy làm chủ tướng nhưng xét lại mình, ta một là, già ốm
lại bất tài; Hai là, sức học nông cạn; Ba là, gánh nặng khó nổi… Cho nên ta phải
nhún mình, lấy lòng thành mà khuyên các hào kiệt cùng nhau hết sức cứu giúp
muôn dân”. Tự biết mình là vậy nên tuy nhà Lê mới thành lập nhưng Lê Thái Tổ đã
sớm lo chọn người kế nghiệp. Ngay từ dạo Trần Nguyên Hãn chưa “ khuất quy hưu”
trong triều đình đã hình thành phe cánh xung quanh việc Thái tử Lê Tư Tề và Lê
Nguyên Long, ai sẽ kế vị Lê Thái Tổ?
Khi ấy, Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo lên tiếng ủng hộ Lê
Tư Tề. Với cái lý, Thái tử này là con cả, vợ cả của Lê Lợi. Hơn thế, Lê Tư Tề từng
theo cha đi đánh giặc Minh. Tư Tề là con người dũng cảm, ham giết đối phương.
Trước Hội thề Đông Quan, chấp nhận yêu cầu của Vương Thông, Lê Lợi đã sai Lê Tư
Tề cùng tướng Lưu Nhân Chú vào thành Đông Quan làm con tin. Vương Thông rút về
nước, Lê Tư Tề mới được trả về. Lê Lợi lên ngôi, Lê Tư Tề được phong làm Hữu tướng
quốc. Ganh ghét và đố kỵ với Tả tướng quốc về tài năng quân sự từ trong chiến
tranh, Lê Sát âm mưu làm ngược lại với Trần Nguyên Hãn bằng cách ủng hộ Thái tử
Lê Nguyên Long. Cho dù Lê Nguyên Long còn nhỏ, dù là con thứ, dù là con vợ thứ
của nhà vua, Lê Sát vẫn quyết tâm ủng hộ.
Trần Nguyên Hãn “ khuất quy hưu” bỏ lại chính sự của vương
triều phía sau lưng để tránh đi một mâu thuẫn đang tồn tại không có lợi cho
mình và nhà vua. Trong cung đình chỉ còn lại Lê Sát, do ảnh hưởng của phe Lê
Sát, Lê Thái Tổ đành phải, một mặt dùng Lê Tư Tề làm quốc công coi việc nước
nhưng không phải là thái tử để thừa kế. Mặt khác, lại lập Lê Nguyên Long, mới
10 tuổi lên làm thái tử, người sẽ kế vị. Muốn triệt tận gốc những ai đối lập với
mình, Lê Sát cùng bọn gian thần liên tiếp bày đặt vu cho đối phương những chuyện
nọ, chuyện kia làm nhà vua rất khó kiểm chứng. Thực hiện âm mưu này, thấy cơ hội
đến, Lê Sát bày cho Đinh Bang Bản, Lê Quốc Khí xin gặp Lê Thái Tổ ...
Sáng nay không thiết triều, nhà vua ngồi trong lầu lục giác
nghe Đinh Bang Bản và Lê Quốc Khí bẩm báo những chuyện về Trần Nguyên Hãn.
Đinh Bang Bản thuộc diện đầu thì đầu giơi, mặt thì mặt chuột,
mắt thì ti hí mắt lươn. Hắn cúi gập người trước mặt vua Lê Thái Tổ và ngóc đầu
lên nói:
- Muôn tâu bệ hạ. Theo nhiều nguồn tin mà hạ thần nhận được
cho thấy rằng: Cách nay hơn một năm, sở dĩ đất nước vừa mới giành độc lập, lợi
quyền, danh vọng chưa hưởng được bao nhiêu, tuổi tác cũng đang còn trẻ khỏe mà
Hãn đã vội xin nhà vua được “ khuất quy hưu” chính là vì, sau thắng lợi oai
hùng của dân tộc thì Trần Nguyên Hãn không muốn gắn kết với bệ hạ nữa! Hãn đã
nói với người thân của Hãn là “ Nhà vua có tướng như Việt vương Câu Tiễn, cho
nên ta không thể yên hưởng vui sướng được”.
- Người thân của Han là ai vậy?
- Tâu đức vua là Nguyễn Trãi ạ.
- Tại sao thần biết?
- Tâu bệ ạ! Tối hôm ấy thần đi qua điện giảng Võ, tình cờ tai
thần nghe được Trần Nguyên Hãn nói với Nguyễn Trãi câu ấy ạ.
- Tướng như Việt vương Câu Tiễn là sao?
- Tâu đức vua! Người có cổ dài, mép quạ, tức là tướng chim đấy
ạ.
Nuốt giận vào lòng, nhà vua bình thản hỏi:
- Hãn coi tướng ta và dám bảo ta giống như Câu Tiễn bên
Trung Hoa sao?
Lê Quốc Khí, vị quan thấp lùn, mặt trắng, mũi hếch, ỷ thế
là con cháu nhà vua, từng khuất tất làm nhiều điều xằng bậy, khoanh tay trước
ngực, nhanh nhảu đỡ lời Đinh Bang Bản:
- Thưa bệ hạ! Hãn không chỉ xem tướng, nói không tốt về nhà
vua mà hiện nay tại trang Sơn Đông Hãn còn xây phủ đệ với nhiều nhà cửa, kiến
trúc kiểu như biệt thự, biệt cung. Thế chưa đủ, Hãn còn mua binh khí, tậu ngựa,
tậu voi, đóng thuyền, đóng trải, luyện võ, luyện quân, cứ rầm rập suốt ngày. Những
việc làm này của Hãn há chẳng phải ra cái dáng là một sứ quân, nghênh ngang một
cõi thì là gì, thưa đức vua?
- Muôn tâu bệ hạ! - Đinh Bang Bản phù họa thêm - Theo thiển
nghĩ của thần, đâu chỉ làm ra dáng một sứ quân, nghênh ngang một cõi mà làm vậy
là rõ ràng Hãn có ý thoán nghịch, phản lại triều đình.
Vua Lê Thái Tổ gật đầu nhưng vẫn thận trọng hỏi thêm:
- Đấy mới là những tin đồn, các thần có bằng chứng gì không?
- Thưa bệ hạ. Bằng chứng đây ạ.
- Thứ gì vậy?
- Thưa, đây là bộ sắc phục Tả tướng quốc mà khi về đến quê Trần
Nguyên Hãn đã cởi bỏ rồi quẳng xuống sông Lô.
- Làm sao thần có bộ sắc phục này?
- Tâu bệ hạ! Một người làm nghề cất vó bè, tên là Sóng, ở bến
đò Phú Hậu vớt được, sau đó giao lại cho Phạm Toán là người cùng quê với Trần
Nguyên Hãn. Thưa bệ hạ. Phạm Toán chính là người viết sớ tố cáo Hãn xây phủ đệ
khang trang, đóng thuyền bè, tuyển tráng binh, tích trữ khí giới, biến ao Son,
sông Lô trước cửa nhà Hãn, thành nơi luyện tập thủy quân để phục vụ cho ý đồ
làm phản của Hãn và giao nộp triều đình bộ sắc phục này đấy ạ.
Sắc mặt Lê Thái Tổ nghiêm lại. Nhà vua như chợt hiểu, nói:
- Thì ra Trần Nguyên Hãn không giữ gìn hình tích, cũng không
thèm về kinh đô chầu vua như ta đã hẹn mỗi năm phải hai lần là vì vậy ư?
Câu nói nhỏ như chỉ đủ cho một mình nghe ấy của Lê Thái Tổ,
cũng lọt được vào tai Đinh Bang Bản. Hắn “ vồ” ngay lấy và vội vàng “ tham
mưu”:
- Muôn tâu bệ hạ! Thần nghĩ, tất cả những điều ấy đã là đủ chứng
cớ. Xin nhà vua xem xét mà trừ khử sớm đi để tránh mọi tai họa về sau này.
Sau lời đề xuất của Bản, không khí trong lầu lục giác bỗng lặng
như tờ. Lê Quốc Khí với Đinh Bang Bản thì ngồi im, nín thở chờ sự phán quyết của
nhà vua, còn Lê Thái Tổ thì trầm ngâm suy nghĩ: Đứng trước một thực tế, gần đây
không hiểu vì sao Thái tử Lê Tư Tề sinh ra mắc chứng điên khùng, giết bừa các tỳ
thiếp; Còn Thái tử Lê Nguyên Long lại quá trẻ thơ, trong khi đó Trần Nguyên Hãn
và Phạm Văn Xảo đều là những người có công giúp nước, lại đang rất được người
đương thời trọng vọng. Đối trọng này buộc lòng nhà vua phải băn khuăn, lo lắng.
Bây giờ hay tin Trần Nguyên Hãn ở quê đang có những việc làm phục vụ cho ý đồ
phản nghịch của mình. trong lòng Lê Thái Tổ càng trở nên oán hờn, tức giận Hãn!
Thế thì, đúng là Trần Nguyên Hãn có chí khác thật rồi! Vì sự tồn tại của nhà
Lê, thôi thì, theo lời các thần đây, ta sẽ tuyên cáo Trần Nguyên Hãn có ý làm
phản và ban chiếu bắt Tả tướng quốc về triều đình để khảo vấn xem sao. Là Lê
Thái Tổ mới dự định thế chứ sau một hồi lặng im, nhà vua chỉ bảo:
- Hai thần cứ về đi. Việc này để ta sẽ suy xét, quyết định
sau.
Đinh Bang Bản và Lê Quốc Khí cùng cúi gập người sát đất, đồng
thanh nói lớn:
- Bệ hạ sáng suốt!
Lê Thái Tổ nhỏ nhẹ nhắc nhở thêm:
- Hai thần nhớ theo dõi thêm Nguyễn Trãi và Phạm Văn Xảo.
27
Phải công nhận là, từ trước đến nay Trần Nguyên Hãn không có
gây thù oán gì, thậm trí cũng không có trêu ghẹo gì đối với Phạm Toán, vậy mà
Toán vẫn không ưa Hãn. Toán không ưa Hãn ngay từ thời tóc hai đứa còn để chỏm
và cùng theo học thầy Nguyễn Thái An. Ngày ấy, thấy Hãn học giỏi hơn mình, Toán
đã ghét. Chơi trận giả hay đánh khăng, đánh đáo, Hãn toàn giành phần thắng,Toán
đã tức lộn ruột. Lớn lên, Toán mê Tuyển, định cưới Lê Thị Tuyển làm vợ thì Hãn
lại nẫng tay trên mất. Mười năm Hãn đi đánh giặc Minh, Toán những tưởng Hãn sẽ
phơi thây ngoài chiến trường như bao người khác. Nào ngờ, danh tiếng Hãn càng nổi
như cồn với biết bao chiến tích. Là Tả tướng quốc, Hãn về trí sĩ, cả trang Sơn
Đông này ai cũng nể trọng Hãn, yêu mến Hãn. So với Trần Nguyễn Hãn sao mà Phạm
Toán thua kém nhiều bề. Cùng là môn sinh với nhau mà nay Hãn như người bay trên
trời, còn Toán lại rơi xuống vực. Không thể lúc nào mình cũng chịu thua kém
Hãn. Phải cho Hãn nếm mùi thất bại, ít nhất là một lần. Mang nặng lòng ganh
ghét, ích kỷ, đố kỵ, hẹp hòi ấy, Phạm Toán luôn kiếm cớ gây sự với Trần Nguyên
Hãn. Nhân có lão già làm nghề chài lưới vớt được bộ sắc phục Tả tướng quốc do
Hãn ném xuống sông đưa cho Toán, lại tận mắt thấy, tai nghe những việc Hãn làm
từ khi về quê, Phạm Toán liền tìm cách mật báo cho triều đình biết. Tin là phen
này thế nào Trần Nguyên Hãn cũng sẽ nhận được một bài học cay đắng về cái thói
hiếu thắng! Cũng chỉ hy vọng đến thế thôi, Phạm Toán đâu có nghĩ đến việc, chỉ
dựa vào cái sớ tấu trình vớ vẩn của Toán, đích thân vua Thái Tổ lại ra chiếu bắt
Trần Nguyên Hãn. Phạm Toán biết thông tin này trước khi có chiếu vua ban là nhờ
thông qua mồm Lê Quốc Khí. Thế này là to chuyện rồi. Với tâm trạng thắc thỏm nửa
mừng, nửa lo, Phạm Toán tìm đến gặp Trần Nguyên Hãn tại phủ đệ.
Buổi trưa, cánh “ gia thần nội thủ” trong nhà Hãn đều nghỉ việc.
Trần Nguyên Hãn đang ăn trưa cùng con Trần Trung Khoản dưới nhà bếp. Phía cuối
sân, dưới bóng cây hải đường nở hoa đỏ rực, Lê Thị Tuyển đang bận ru rín bé Trần
Đăng Huy - cậu con trai thứ hai, nàng mới sinh được vài tháng. Tiếng trẻ khóc
oa oa và tiếng ru à ơi của mẹ vang lên trong buổi trưa mùa xuân yên tĩnh, nghe
sao mà ấm áp, thanh bình.
Phạm Toán cất tiếng chào Tuyển. Sau giây phút ngỡ ngàng trước
sự có mặt của Phạm Toán, Lê Thị Tuyển nói:
- Gớm chưa? Hôm nay rồng lại đến nhà tôm kia đấy! Chàng đến
có việc gì vậy?
- Cứ gì phải có việc. Ta đến chơi không được sao? Nàng không
mời ta vào nhà ư? Trần Nguyên Hãn có nhà không?
Trần Nguyên Hãn rời bàn ăn ra đón Toán. Hai người đi vào
phòng khách mà ánh mắt Phạm Toán vẫn “ nhìn quặt lại đằng sau” vì nhan sắc của
Lê Thị Tuyển như dân gian vẫn nói.
Uống chưa cạn chén trà, thực hiện ý định của kẻ ném đá giấu
tay, Phạm Toán làm ra vẻ lo lắng thay cho Trần Nguyên Hãn, hắn hỏi:
- Huynh đã biết tin gì chưa?
Nhận ra thái độ là lạ của Phạm Toán, Trần Nguyên Hãn hỏi lại:
- Đệ hỏi vậy là sao? Tin gì nhỉ? Huynh chưa hay biết gì cả.
Nhìn vào mặt Trần Nguyên Hãn để thăm dò thái độ của Hãn, Phạm
Toán thì thào:
- Người ta đang đồn rằng, nhà vua ban chiếu triệu huynh về
triều đình mà huynh vẫn chưa biết gì thật ư?
- Lê Thái Tổ triệu ta về Đông Kinh? Về việc gì vậy?
- Việc gì thì làm sao đệ biết được. Hình như có kẻ xấu ở
trang Sơn Đông muốn tâng công với nhà vua hắn đã gièm pha, thêu dệt những điều
không hay vể huynh, rồi vu cho huynh có mưu toan phản nghịch thì phải. Mà đệ
nghe nói, tướng Phạm Văn Xảo, người cùng phe cánh với huynh ở triều đình cũng bị
nhà vua bắt rồi! - Nửa kín, nửa hở, đưa hai cái tin Toán nghĩ, như sét đánh
ngang tai với Hãn xong, nhận thấy sắc mặt Trần Nguyên Hãn hơi bị tái đi, tuy
trong bụng mừng thầm nhưng Phạm Toán vẫn cứ nói - Chỗ người cùng làng, lại là bạn
đồng môn với huynh nên đệ mới nhanh mồm nhanh miệng báo cho huynh biết. Huynh
nên sớm có phương án chống lại nhà vua, hoặc là bỏ trốn đi. Nếu không, sẽ liên
lụy đến Lê Thị Tuyển và hai cháu.
Chưa thể tin vào miệng lưỡi của Toán nhưng cũng không thể
bình chân như vại trước thông tin Phạm Toán vừa nói, Trần Nguyên Hãn nhanh
chóng lấy lại bình tĩnh, chàng bảo:
- Huynh tạ ơn đệ vì đã báo tin trước. Tuy nhiên huynh sẽ
không bỏ trốn đi đâu cả. Huynh ở đây đợi chiếu của nhà vua và rất muốn biết ai
là kẻ xấu ở cái trang Sơn Đông này.
Phạm Toán xoa xoa tay, hềnh hệch cười:
- Đệ còn nhớ, thầy Nguyễn Thái An của chúng ta hay nói, sống
trong thời buổi nhiễu nhương, nhiều khi lòng tốt lại bị nghi ngờ. Tin là trong
trường hợp này huynh không hiểu lầm về việc làm có thiện chí của đệ chứ?
- Đấy là đệ nghĩ thế chứ huynh đã nói gì đâu!
Làm xong cái công việc của kẻ “ khẩu Phật, tâm xà”, Phạm Toán
ra về yên tâm là sẽ không có ai nghĩ xấu về mình. Còn Trần Nguyễn Hãn thì bàn với
Lê Thị Tuyển, nếu sự việc như Phạm Toán nói xảy ra, nàng phải đưa hai con trốn
đi. Hơn ai hết, chàng hiểu từ khi lên ngôi, Lê Thái Tổ đã làm được nhiều việc
như quy định về thuế khóa, chia ruộng đất, ban hành luật lệnh, mở khoa thi, tổ
chức quân cấm vệ, cắt đặt quan chức, tưởng lục công thần, dựng trường học quy
mô sáng nghiệp có thể là rộng lớn, nhưng nhà vua lại là người hay nghi kỵ và đa
sát. Mà mối nghi ngại lớn nhất của Lê Thái Tổ là với triều đại cũ! Không thế, tại
sao nhà vua lại hãm hại Trần Cảo - một người tự nhận là tôn thất nhà Trần, từng
được đưa lên nắm ngôi Hoàng đế bù nhìn? Không thế, sao ép Cung từ hoàng thái hậu
Phạm Thị Ngọc Trần, mẹ của thái tử Lê Nguyên Long - một người có họ Trần phải đổi
sang họ Trình để kiêng húy? Những việc xử sự ấy của Lê Thái Tổ chỉ muốn làm cho
thiên hạ quên hẳn nhà Trần đi! Với Trần Nguyên Hãn, là con cháu của hai danh thần
có nhiều danh vị của triều Trần cũ thì nhà vua càng khó mà tránh khỏi nghi ngờ
và phòng tránh.
Hôm sau, giữa lúc Trần Nguyên Hãn đang ngồi giảng về Binh thư
cho các trò nghe ở tại đồn sở trên Rừng Thần thì có quan Khâm sai do nhà vua
phái đi làm nhiệm vụ đặc biệt, đem chiếu chỉ đến cho chàng. Chiếu chỉ do đích
thân Lê Thái Tổ viết trên tấm lụa với ấn chỉ đỏ chót của nhà vua đóng ngay bên
cạnh. Lĩnh hội đầy đủ nội dung ghi trong chiếu chỉ, Trần Nguyên Hãn nói với
quan Khâm sai: “ Ta tuân chỉ!”
Theo trù tính từ trước, Trần Nguyên Hãn bí mật bố trí cho Lê
Thị Tuyển đem hai con chạy trốn sang làng Kẻ Nú, bên phủ Tam Đới. Trước lúc
chia ly, Trần Nguyên Hãn động viên vợ: “ Đang ở vương triều ta xin về chốn cũ
là muốn được sống yên ổn, hạnh phúc mãi bên nàng và các con. Nào ngờ cái mong ước
giản dị đó của ta cũng không thành. Nay ta phải xa nàng và hai con là ở cái thế
không thể khác. Chuyện riêng của ta, hiện nàng chưa hiểu được đâu. Thôi, nàng
đưa con đi đi!”. Nói xong, Hãn ứa nước mắt nhìn vợ con khuất dần sau đồi cây.
Hãn nghĩ đây là cuộc chia tay cuối cùng, bởi chàng biết, mình không chết vì kẻ
thù bạo ngược nhưng có thể sẽ chết vì sự nghi kỵ của nhà vua trong lúc thái
bình.
Tin vua Lê Thái Tổ hạ lệnh triệu hồi Trần Nguyên Hãn về thành
Đông Kinh để khảo vấn giống như một vết dầu loang, loang rất nhanh khắp trang
Sơn Đông. Lập tức thầy Nguyễn Thái An, ông Nguyễn Văn Bụi, nàng “ chúa Lối”,
già lão chân chậm, mắt mờ như bà cụ Mến cũng chống gậy cùng bà con thân tín đến
tận “ phủ đệ” hỏi han, chia buồn với vợ chồng chàng. ở lại phủ chỉ còn Trần
Nguyên Hãn. Các “ gia thần nội thủ”, các võ sinh đều tỏ ra tức tối trước chiếu
chỉ của nhà vua. Có người nói với Trần Nguyên Hãn:
- Thưa ông! Chúng ta vừa đông,vừa có nhiều người có võ nghệ
cao cường. Ông không nên “ tuân chỉ” chỉ dễ dàng như thế được.
- Ý mọi người là sao?
- Phải chống lại lệnh của nhà vua! Ông có làm gì sai trái mà
vua sai người về bắt chứ?
Trần Nguyên Hãn lắc đầu không nghe. Chàng nói:
- Cho dù ta biết trước là ta không thể sống được với nhà vua
nên ta mới xin khất quy hưu nhưng nay nếu ta ra mặt chống lại, viện vào cái cớ
này, nhà vua sẽ tàn sát, sẽ giết hại hết con cháu, dòng dõi nhà Trần mất. Tốt
hơn hết là chỉ để một mình ta chịu chết thôi!.
Thầy Nguyễn Thái An, ông Nguyễn Văn Bụi, bà cụ Mến ngậm ngùi
bảo nhau, “số” Hãn thế còn biết làm gì được! Riêng nàng “ chúa Lối” tỏ ra rất
hiểu Hãn lại nói, một người từng tâm đắc hai câu thơ Tế suy vật lí tu hành
lạc - Hà dụng phù danh bạn thử thân của Đỗ Phủ như Trần
Nguyên Hãn thì xử sự của chàng sẽ không thể khác được. Ai nấy lặng lẽ gạt nước
mắt vì thương Hãn.
Trần Nguyên Hãn xin quan Khâm sai cho mình làm lễ cáo trời đất
trước khi về kinh thành.
Vẫn biết, xưa nay các bậc đế vương coi mình là thiên tử, con
trời, mà Trời là đấng chí tôn giữ gìn vận mệnh và ban phát hạnh phúc cho muôn
dân nên hằng năm họ đều tổ chức long trọng lễ tế Trời Đất. Vì là con Trời, thay
Trời trị dân nên đích thân nhà vua phải đứng làm chủ tế để chứng tỏ lòng hiếu
nghĩa của một người làm con. Với tấm lòng thành của cả vua quan cùng dân chúng
dâng lên Trời Đất và các bậc thần linh nhà vua cầu mong cho mưa thuận gió hòa,
quốc thái dân an, thiên hạ thái bình.Nhưng không hiểu sao vào lúc này, tự đáy
lòng mình, Trần Nguyên Hãn lại muốn làm lễ cáo với Trời Đất về một đại họa sắp
xảy ra với mình.
Lễ được tổ chức ngay trong sân “ phủ đệ”. Lễ vật thật giản
đơn chỉ có một bát hương, trà nước, rượu, đèn nến và hoa quả. Trong làn khói
hương nghi ngút, Trần Nguyên Hãn chắp hai tay trước ngực, lầm rầm cầu khấn. Khấn
hết bài, chàng ngửa mặt lên Trời mà dõng dạc nói:
- Tôi với Hoàng thượng cùng mưu cứu nước, cứu dân. Nay sự
nghiệp lớn đã thành. Hoàng thượng nghe lời dèm pha mà hại tôi. Hoàng thiên có
biết không?
Đáp lại câu hỏi nhức nhối của Trần Nguyên Hãn chỉ có bốn bề
im lặng. Bầu trời cuối mùa xuân ngổn ngang mây đen, mây trắng mịt mù dường như
thấu hiểu nỗi lòng của Hãn nhưng lại không thể lên tiếng.
Trần Nguyên Hãn đi vào nhà, châm mấy nén hương thắp lên bàn
thờ tổ tiên, cha mẹ. Chàng chắp tay, lầm rầm khấn vái một lúc lâu rồi quay ra,
vẫy tay chào mọi người.
Với thái độ bình thản, ung dung, Trần Nguyên Hãn đi nhanh về
nơi có chiếc thuyền to đang chờ sẵn ngoài bến sông, ngay phía trước mặt “ phủ đệ”
nhìn ra. Theo sau Trần Nguyên Hãn có quan Khâm sai và gần bốn mươi người vốn là
“ gia thần nội thủ”, những bạn bè, đồng chí từ thủa hàn vi cùng chàng tập võ,
mài gươm. Những người này, mặc Hãn can ngăn, họ vẫn quyết xuống thuyền theo
chàng, nếu phải chết, họ tình nguyện chết theo chàng!
Dòng sông Lô vào dịp cuối mùa xuân nước vẫn trong xanh, phẳng
lì như một tấm gương, sáng lấp lóa dưới ánh nắng vàng tươi rực rỡ. Từ Cống Khẩu
nước vẫn lững lờ trôi xuôi miên man chỉ khi đến ghềnh Đông Hồ dòng sông mới bất
ngờ hẹp lại. Tại đây, gặp những tảng đá đứng, đá ngồi giữa lòng sông chặn lại,
nước bỗng lồng lên, réo sôi, tung bọt trắng xóa. Cư dân sống trên sông nước gọi
đây là “ cửa tử”. Người lái thuyền bè phải giỏi giang lắm, khéo léo lắm mới
không bị mắc nạn. Vượt qua “ cửa tử” lòng sông lại rộng ra thênh thang, dòng nước
lại mệt mỏi lừ đừ chảy thật êm đềm.
Thuyền đưa Trần Nguyên Hãn về kinh thành gần đến ghềnh Đông Hồ.
Ngồi gần người cầm lái, chàng đưa mắt đắm đuối nhìn xóm làng
nằm súm xít hai bên bờ sông và ngẫm ngợi mung lung. Càng ngẫm ngợi, Trần
Nguyên Hãn càng thấy chiếu chỉ của nhà vua là một hành vi xúc phạm ghê gớm đến
thanh danh một danh tướng. Nhận chiếu chỉ, chàng biết ngay rằng, mình sẽ không
có cơ hội để tự minh oan. Chàng cảm thấy uất ức và xấu hổ quá! Hỡi ôi! Vì thiếu
chút bình tâm mà nhà vua tin lời xúi bẩy, ra lệnh bắt ta. Bởi vậy, dẫu ta có trở
thành anh hùng cũng vẫn không là một công thần trọn vẹn của triều Lê. Việc đã đến
nông nỗi này, ta còn sống làm gì nữa? Ta tự chết là để nhà vua khỏi mang tội lớn
giết một công thần khai quốc, giết một tướng tài đã cùng mình làm nên sự nghiệp
nhà Lê đó!
Thuyền sắp đến Đông Hồ.
Đã nghe thấy tiếng thác ghềnh réo sôi ầm ầm ngay bên tai. Trần
Nguyên Hãn đứng bật dậy, chàng ngửa mặt lên trời, một lần nữa, hỏi lớn:
- Tôi với Hoàng thượng cùng mưu cứu nước, cứu dân. Nay nghiệp
lớn đã thành, Hoàng thượng nghe lời dèm pha mà hại tôi. Hoàng thiên có biết
không?
Tiếng của Trần Nguyên Hãn tan ra, chìm đi trong tiếng thác nước.
Chàng cúi xuống nói lời cuối cùng với những “ gia thần nội thủ” và đồng chí hướng:
- Các huynh, các đệ ơi! Ai một lòng một dạ theo ta thì hãy
nhìn xuống nước. Nếu ai còn vì cha mẹ già, con dại thì hãy ngửa mặt lên trời.
Thuyền đã đến sát ghềnh Đông Hồ.
Không có ai ngửa mặt nhìn lên trời cả. Thế có nghĩa là, tất cả
đều tự nguyện làm theo ý chàng. Trần Nguyên Hãn hô: “Gác dầm lên!” Như là có sự
chuẩn bị trước, thống nhất trước, người cầm lái gác mái dầm lên. Không có
lái, nhanh như chớp, con thuyền quay ngang, lao đánh “ rầm” xuống ghềnh.
Thuyền vỡ! Sóng nước chồm tới ào ạt cuốn những cánh tay chới với, những mái đầu
nhấp nhô vào lòng, rồi mất hút!
Hôm ấy là ngày 26 tháng 2 năm Kỷ Dậu (1429). Tả tướng quốc
Trần Nguyên Hãn mới 39 tuổi!.









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét