TRẦN ĐÌNH HIẾN
- Họ và tên khai sinh: Trần Đình Hiến
- Sinh năm: 1933
- Bút danh: Thiên Lý
- Quê quán: Xã Đình Chu, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc
- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 2003)
- Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội, Ủy viên Hội đồng Văn học dịch
của Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Nhà văn Hà Nội.
- Tác phẩm chính đã xuất bản:
* Lão Xá (Tuyển tập Kịch, 1961)
* Gieo hạt tình yêu (Từ Hoài Trung, 1962)
* Khát vọng (Trịnh Vạn Long, 1995)
* Cây hợp hoan (Trương Hiền Lượng, 2001)
* Chùm 6 tiểu thuyết của Mạc Ngôn:
- Báu vật của đời (2001)
- Đàn hương hình (2003)
- Cây tỏi nổi giận (2003)
- Rừng xanh lá đỏ (2004)
- Tửu quốc (2004)
- 41 chuyện tầm phào (2005)
* Chùm 2 tiểu thuyết của Lý Nhuệ:
- Cây không gió (2006)
- Ngân thành cố sự (2007)
* Một tiểu thuyết về văn hóa du mục của Khương
Nhung: Tôtem sói (2007).
- Giải thưởng văn học:
* Giải Nhất cho bản dịch Báu vật của đời của Hội Nhà văn
Hà Nội (2001)
* Giải B (không có giải A) cho bản dịch Đàn hương
hình của Hội Nhà văn Việt Nam (2003).
- Suy nghĩ về nghề văn:
Văn học nghệ thuật không bao giờ xa rời chính trị. Nhà
văn là loại công dân phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân bằng văn học. Nói cách
khác, nhà văn làm chính trị bằng văn học. Bằng tác phẩm của mình, nhà văn đóng
góp tích cực vào công cuộc bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ núi sông biển đảo, bảo vệ độc
lập dân tộc, bảo vệ cuộc sống của nhân dân. Vì vậy, Nhà văn đích thực phải
là công dân ưu tú của đất nước,phục vụ đất nước bằng văn chương. Không làm được
như trên, dù xuất bản hàng trăm tác phẩm cũng chỉ là người viết văn, không
phải NHÀ VĂN đúng nghĩa.
Nhất là trong hoàn cảnh đất nước hiện nay (2016)!.
A- TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ
A- TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ
ĐÔI ĐIỀU VỀ NGƯỜI NHẬN CHỮ "ĐẠT"
Phạm Quang Đẩu
Năm 2013 nhà văn, dịch giả Trần Đình Hiến tròn 80 tuổi.
Các trò cũ muốn tặng chữ thầy, không biết ý thầy thích chữ gì trong lễ
thượng thọ? Khi được hỏi, nhà văn suy nghĩ giây lát, bảo: Tặng tôi chữ “đạt”. Tại
sao không phải những chữ như “nhân”, “tâm”, “dũng”, “nhẫn”…thường thấy? “Đạt”
trong chữ Hán đa nghĩa, là hiểu thấu, thông suốt… Các trò đều cho rằng thầy Trần
Đình Hiến đúng nhất với nghĩa “hiểu thấu”, vừa cho thấy bản chất khiêm nhường
cùng sự uyên thâm về văn hóa hai nước Việt Trung. Thầy thuộc lớp người “đạt sĩ
thông nhân”.
Năm 2001 thị trường sách nước ta lên “cơn sốt” cuốn Báu
vật của đời của Mạc Ngôn do Trần Đình Hiến dịch. Tác phẩm này được
xuất bản bằng tiếng Hoa lần đầu vào tháng 9-1995 (với tựa là Phong nhũ phì đồn - Vú to mông nẩy) và ngay trong năm ấy được trao giải thưởng cao nhất về truyện
và nhanh chóng trở thành “hiện tượng” ở Trung Quốc. Báu vật của đời khái quát cả
một giai đoạn lịch sử đầy bi tráng của đất nước Trung Hoa thông qua số phận các
thế hệ trong gia đình Thượng Quan. Từ những số phận khác nhau, lịch sử được tiếp
cận với nhiều góc độ tạo nên sức sống, sức thuyết phục nghệ thuật của tác phẩm.
Trước đấy, nhà văn Mạc Ngôn đã được thế giới biết đến qua tác phẩm Cao
lương đỏ, và được đạo diễn tài ba Trương Nghệ Mưu chuyển thành phim,
giành Cành cọ vàng tại liên hoan phim Canne, Pháp năm 1994. Sau hàng
loạt những tác phẩm đỉnh cao, nhà văn sinh năm 1955 này hàng năm chưa có tên
trong danh sách đề cử giải Nobel văn học, phải tới năm 2012 điều ấy mới trở
thành hiện thực. Mạc Ngôn quả là may mắn khi có được người chuyển ngữ tuyệt
vời như Trần Đình Hiến, làm cho ông được chú ý và ưa chuộng nhất trong số các
nhà văn Trung Quốc đương đại ở Việt Nam,. Báu vật của đời đã được
dịch ra 18 thứ tiếng trên thế giới, người ta đã so sánh 18 “phiên bản” và xếp hạng
chúng về chất lượng chuyển ngữ. Đã sớm có câu trả lời. Trong lần tái bản vào
vào năm 2003 của NXB Công Nhân, Bắc Kinh, ở bìa 4 cuốn sách in hình 3 bản dịch
được chọn là xuất sắc nhất, có Báu vật của đời tiếng Việt, còn 2 cuốn
kia thuộc về tiếng Nhật và tiếng Italia, mà tựa đều lấy theo nguyên tác. Riêng
việc chọn một tựa mới cho bản tiếng Việt cũng cho thấy dịch giả đã rất nhậy cảm
để tác phẩm thích ứng hơn, phù hợp hơn với văn hóa Việt. Cũng năm ấy, dịch giả
Trần Đình Hiến được nhận giải thưởng cao của Hội Nhà văn Việt Nam cho
bản dịch cuốn tiểu thuyết tiếp theo của Mạc Ngôn là Đàn Hương hình. Đó là
chuyện xảy ra vào những năm 1900 - buổi hoàng hôn của vương triều Mãn Thanh: Triều
đình thối nát, Thái hậu Từ Hy tác yêu tác quái, đại thần Viên Thế Khải bán nước
cầu vinh, tri huyện Tiền Đinh văn võ song toàn nhưng bất tài bất lực, quần
chúng nổi dậy nhưng bị đàn áp bằng hình phạt đàn hương thảm khốc. Đàn
hương hình vừa là tiểu thuyết lịch sử, đông thời là tác phẩm văn học
đúng nghĩa. Đến nay Mạc Ngôn có tới 300 đầu sách, gồm truyện ngắn, truyện vừa,
truyện dài và tạp văn các loại, xuất bản bằng tiếng Hoa, tha hồ cho các dịch giả
lựa chọn. Sau Báu vật của đời, Trần Đình Hiến trong vòng 4 năm chọn dịch
tiếp 5 tác phẩm nữa mà ông cho là tiêu biểu nhất của Mạc Ngôn, đó là: Đàn
Hương hình (dân trí thấp), Cây tỏi nổi giận (thái độ vô trách nhiệm với
cuộc sống của nhà cầm quyền), Rừng xanh lá đỏ (tác đông hai mặt của kinh tế thị
trường), Tửu quốc (Rượu chè be bét là ăn hết phần của con cháu) và 41
chuyện tầm phào (sự tha hóa về nhân cách nếu không được kiểm soát trong nền
kinh tế thị trường). Những năm qua, không ít tác giả cũng lao vào dịch tác phẩm
của tác giả ăn khách Mạc Ngôn, nhưng do họ không chọn được tác phẩm “đỉnh”, hoặc
là khả năng chuyển ngữ bị hạn chế, mà độc giả Việt Nam đã có thói quen nói đến
Mạc Ngôn là nghĩ ngay đến dịch giả Trần Đình Hiến, như một “cặp đôi hoàn hảo”.
Cũng có điều kiện dễ so sánh khi nhiều tác giả cùng dịch một cuốn, như trường hợp 41
chuyện tầm phào Trần Đình Hiến dịch, một nữ dịch giả đã thay tựa là Cậu
bé hay nói dối, một dịch giả khác thì đổi thành Những chuyện không có thật.
Chỉ riêng chuyện đặt tít ở trên, người đọc có dịp so sánh đều thấy sự uyên bác
trong chuyển ngữ của dịch giả họ Trần, bởi “pháo” còn là tiếng lóng trong tiếng
Hoa, có nghĩa là chuyện tếu táo, chuyện tầm phào không quan trọng. 41 chuyện
tầm phào là 41 chuyện lừa đảo trí trá, gọi là tầm phào nhưng chẳng tầm
phào chút nào! Chất humua của nhà văn Mạc ngôn là ở chỗ này. Nhà văn Trần Đình
Hiến cho biết, Mạc Ngôn tiêu biểu cho dòng văn học đổi mới trong khoảng
30 năm gần đây của Trung Hoa đại lục, là người đầu tiên xỏa bỏ “lễ trị”
trong sáng tác văn học. Ngoài Mạc Ngôn, ông còn dịch tác phẩm của một vài tác
giả khác đương thời mang dáng dấp tiểu thuyết định đề. Đó là Lý Nhuệ với Cây
không gió (sự phá sản của thuyết đấu tranh giai cấp) và Ngân thành cố
sự (bi kịch gia đình khi anh em ruột vô tình đứng trên hai chiến tuyến đội
lập trong cách mạng), Trương Hiền Lượng với Cây hợp hoan (Về
cuộc sống và cảm nghĩ của người tù không án), Khương Nhung vời Tô
tem sói. Đặc biệt cuốn Tô tem sói của Khương Nhung khi được dịch sang
tiếng Việt rất được độc giả tìm đọc, bởi đây là cuốn sách độc đáo. Ngoài giá trị
thẩm mỹ, độc giả còn thâu nhận qua tác phẩm hàng loạt kiến thức bổ ích về văn
hóa và văn minh du mục. Riêng với ông Hiến, ông nói ông dịch Tô tem sói (tháng
3/2007) để cảnh báo những hành động của Trung Quốc sẽ xảy ra trên biển Đông. Và
quả nhiên điều đó đã xảy ra.
Trần Đình Hiến nghiên cứu sâu về nội trị Trung Quốc. Ông am
hiểu văn hóa truyền thống Trung Hoa đến mức có thể gọi ông là nhà Trung Quốc học... Trước khi là dịch giả văn học, ông đã từng công tác ở Bộ Giáo dục, là Nghiên cứu
sinh Hán ngữ cổ đại tại Đại học Tổng Hợp Bắc Kinh, là cán bộ nghiên cứu Bộ Ngoại
giao, cán bộ Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh… Mối quan hệ giữa ông
với nhà văn Mạc Ngôn cũng rất lạ lùng: Chưa hề gặp nhau, chưa hề gửi thư cho
nhau, nhưng hiểu nhau cặn kẽ. Ông nói đó là ông làm theo tuyên bố của Mạc Ngôn
tại Câu lạc bộ các nhà văn trẻ Giang Tô, rằng tác giả và độc giả không cần gặp
nhau, chỉ cần hiểu nhau qua tác phẩm.Ông hiểu Mạc Ngôn qua tác phẩm tiêu biểu Phong
nhũ phì đồn. Mạc Ngôn hiểu ông qua bản dịch Báu vật của đời. Do đó mới
có chuyện công nhận bản dịch tiếng Việt Báu vật của đời là một trong
3 bản dịch thành công nhất như Nhà xuất bản Công nhân đã công bố. Nói vậy
thôi. Ông tìm hiểu cặn kẽ cuộc đời Mạc Ngôn năm 11 tuổi đã thất học, 10 năm
chăn dê ngoài đồng, đói hoa mắt, cô đơn đến nỗi biến tất cả những vật vô tri vô
giác để trò chuyện… Ông theo dõi Mạc Ngôn từ tác phẩm đầu tay Củ cải đỏ
trong suốt (1976) của nhà văn này, qua hàng trăm tác phẩm, đến Phong
nhũ phì đồn (1995) thì quyết định giới thiệu Mạc Ngôn vào Việt Nam với bản
tiếng Việt: Báu vật của đời. Tuy không ước hẹn gì, nhưng ông
nói ông còn nợ Mạc Ngôn một chuyện: Đó là dịch lại Phong nhũ phì đồn ẩn
bản tháng 9 năm 2003 sau khi Mạc Ngôn bỏ hẳn một năm (2002) chỉnh sửa, lược bỏ
những yếu tố rườm rà và nâng cấp bản 1995 để Mạc Ngôn có thể tuyên bố: Tôi
viết nhiều, nhưng để hiểu tôi, chỉ đọc Phong nhũ phì đồn là đủ. Và Mạc
Ngôn gọi bản năm 2003 là bản thứ nhất (chứ không phải ấn bản năm 1995).
Ngày nay Trần Đình Hiến đã trở thành một dịch giả gạo cội về
tiếng Trung, ông luôn tâm đắc câu của A.Kaida nhà lý luận dịch thuật hàng đầu của
Mỹ: “Dịch văn học thực chất là cuộc giao lưu giữa hai nền văn hóa. Một dịch phẩm
thành công nhiều khi yếu tố văn hóa quan trọng hơn yếu tố ngôn ngữ”. Vai trò
quan trọng của “bà đỡ mát tay” Trần Đình Hiến khi chuyển sang Việt ngữ, đã khẳng
định được giá trị đích thực của các tác phẩm của Mạc Ngôn, điều này càng được
khẳng định khi Mạc Ngôn trở thành nhà văn của Trung Hoa đại lục đầu tiên được
nhận giải Nobel văn học năm 2012.
Trở lại chữ “đạt” mà nhà văn, dịch giả nhận cho mình. “Hiểu
thấu” cả hai nền văn hóa Việt Trung để dịch những tác phẩm văn học đáng dịch, để
hiểu cho bằng được “bản lai diện mục” (bộ mặt thật) nền văn hóa Trung Hoa, một
nền văn hóa mà Lỗ Tấn đã phải kêu: Giữa các hàng chữ, chỗ nào cũng thấy ăn
thịt người! Đó là công việc của cả đời người mà nhà văn Trần Đình Hiến đã
dấn thân và cống hiến. Hôm nay nhà văn ở tuổi 83, còn khỏe và minh mẫn. Hàng
ngày ông vẫn đọc và ghi chép. Chữ “đạt” còn có nghĩa nữa là “thành tựu”. Xin
chúc ông sẽ còn nhiều thành tựu hơn nữa trong nghiên cứu và dịch thuật!.
P.Q.Đ
Cuối tháng 7-2016
TRẦN HỮU SƠN
- Họ và tên khai sinh: Trần Hữu Sơn
- Sinh năm: 1956
- Quê quán: Phường Tích Sơn, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc
- Những tác phẩm chính đã xuất bản:
* Văn hóa H, Mông (NXB Văn hóa dân tộc, 1996)
* Văn hóa dân gian Lào Cai (NXB Văn hóa dân tộc,
1997)
* Lịch sử bưu điện Lào Cai (NXB Văn hóa dân tộc,
1997)
* Tục ngữ câu đố dân tộc Dao (NXB Văn hóa dân tộc,
1998)
* Vấn đề xây dựng đời sống văn hóa ở vùng cao (NXB
Văn hóa dân tộc, 2004)
* Đám cưới người Dao Tuyển (NXB Văn hóa dân tộc,
2011).
- Giải thưởng văn học:
* Giải B của Ủy ban Trung ương Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật
Việt Nam năm 1997 với tác phẩm “Văn hóa dân gian Lào Cai”.
* Giải Ba của Hội văn nghệ dân gian Việt Nam năm 1997 với
tác phẩm “Lễ hội ở Lào Cai” (Chủ biên).
* Giải Ba A của Hội văn nghệ dân gian Việt Nam với
tác phẩm “Lễ cười người Dao Tuyển” - năm 2000.
* Giải thưởng Phan Xi Păng (Giải thưởng cao nhất) của Ủy
ban nhân dân tỉnh Lào Cai trao lần thứ nhất năm 2002 với tác phẩm “Văn hóa H
Mông”.
* Giải Nhì của Hội văn nghệ dân gian Việt Nam với
tác phẩm “Thơ ca dân gian Dao Tuyển” (Chủ biên) năm 2004.
* Giải Nhì của hội thi Lao động sáng tạo kỹ thuật tỉnh lào
Cai lần thứ 2 năm 2011 với Đề tài: “Phát huy các giá trị di sản văn hóa tạo sản
phẩm phục vụ du lịch”.
* Giải Nhất Hội thi Lao động sáng tạo tỉnh Lào Cai lần
thứ ba năm 2013 với Đề tài: “Đổi mới liên kết phát triển du lịch vùng Tây Bắc”.
MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU:
ĐẶC ĐIỂM CÁC MÓN ĂN TRONG NGÀY LỄ HỘI
Các món ăn trong ngày lễ hội là di sản văn hóa của cộng đồng
tộc người. Món ăn lễ hội còn như một loại tín hiệu phản ánh truyền thống và đặc
trưng tộc người. Nghiên cứu về ẩm thực người Kinh có nhiều tác giả như Vương
Xuân Tình, Trần Quốc Vượng, Nguyễn Thị Bảy. Trong bài báo này, tập trung nghiên
cứu ở vùng dân tộc Tây Bắc. Vì vậy, nghiên cứu các món ăn trong lễ hội không chỉ
nhằm tìm hiểu đặc điểm các món ăn mà còn thông qua các món ăn tìm hiểu tín ngưỡng,
văn hóa và những nét truyền thống văn hóa của một số tộc người Tây Bắc.
1. Các lễ hội được tổ chức nhằm giúp con người bày
tỏ niềm tin tới một lực lượng siêu nhiên nào đó. Niềm tin đó xuất phát từ quan
niệm: Mọi công việc làm ăn sinh sống của cộng đồng đều có sự chi phối của thế
giới thần linh, tổ tiên. Thế giới đó luôn hiện diện ngay cạnh thế giới hiện tại,
luôn chứng kiến cách sống của con cháu, của mọi người ở thế giới thực tại. Thế
giới thần linh và quá khứ luôn có mặt trong hiện tại. Con người tổ chức và tiến
hành lễ hội chính là nhằm đáp ứng quyền lợi của họ. Họ cầu cúng, dâng lễ vật
cho thần linh tổ tiên trước hết là nhằm mong thần linh phù hộ giúp đỡ họ trong
cuộc sống đồng thời cũng vì niềm tin tôn kính tổ tiên theo truyền thống “Uống
nước nhó nguồn”. Chính niềm tin vào thế giới thần linh đã tạo ra tính chất
thiêng liêng của lễ hội. Và như vậy, các món ăn dân cúng trong ngày lễ, tết, hội
không chỉ là món ăn bình thường mà trở thành món ăn thiêng. Với quan niệm các
món ăn trong lễ, tết, hội là món ăn dân cúng cho tổ tiên, thần linh nên các món
ăn cũng phải khác với ngày thường, thiêng hóa món ăn. Đồng thời các
món ăn này sau khi dân cúng, sau khi được thần linh sử dụng (sự linh thiêng
càng tăng) liền được “ngả cỗ”, ban phát cho con cháu. Do đó các món ăn khi đã
được đặt lên bàn thờ, chất thiêng liêng càng tăng lên. Và mọi người trong cộng
đồng cùng ăn - tức là cả cộng đồng cùng hưởng thụ năng lượng thiêng ở món ăn
(hưởng lộc). Tính chất thiêng của các món ăn trong ngày lễ được phản ánh đậm
nét ở các khâu tìm nguyên liệu, cách chế biến đến nghi lễ dâng cúng, cách ăn uống…
a. Nguyên liệu dùng chế biến các món ăn
trong ngày lễ, tết, hội phải mang tính chất khác thường. Nước dùng làm bánh dày
trong hội Roóng poọc của người Giáy, hội xuống đồng của người
Tày phải lấy ở mỏ nước, nơi có mạch phun chứ không lấy nước suối bình thường.
Vào đêm giao thừa, đồng bào Tày huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai còn tổ chức nghi lễ
rước nước về nấu xôi do thầy mo (hoặc trưởng bản dẫn đầu), có cả dàn nhạc
chiêng, kèn pí lè tham gia. Khi gà gáy canh một, người Giáy thắp hương vàng cắm
vào thùng hứng nước máng để lấy nước mới về đun nước pha trà, thổi xôi cúng tổ
tiên. Lợn là con vật được nhiều dân tộc dùng làm vật hiến tế nên con lợn này suốt
gần một năm phải được nuôi riêng. Trước khi mổ lợn vài ngày, con lợn kiêng ăn
món ăn tạp thông thường mà phải ăn những món ăn của người: com, bã rượu…
Người Dao ở vùng trồng quế trước khi mổ cúng một ngày phải tắm
cho lợn bằng nước đun lá quế, lá thơm nhằm tẩy rửa hết chất uế tạp của lợn.
Người Phù Lá trước khi nấu cơm mới cúng tổ tiên phải tổ chức
một số nghi lễ phức tạp liên quan đến việc hái lúa, phơi lúa. Chỉ có người nhiều
tuổi nhất trong gia đình mới được dùng hái nhắt cắt lúa. Họ phải cắt cụm lúa từ
phía mặt trời lặn sang phía mặt trời mọc. Trong khi cắt phải nhìn thẳng vào
lúa, nín thở, không nói; khi phơi phải cắm ta leo, vừa phơi nắng vừa sấy gác bếp.
Khi nấu cơm phải chọn ngày tốt.
Không chỉ các nguyên liệu món ăn bắt nguồn từ vật nuôi, cây
trồng được lựa chọn một cách khác thường, tạo ra sự linh thiêng mà ngay những
cây rau, măng quen thuộc hàng ngày cũng được lựa chọn đặc biệt. Trong món ăn của
người Thái món rau dớn là món ăn quen thuộc. Nhưng rau dớn được dâng cúng trong
ngày tết phải là loại mọc hướng về phía đông - phía mặt trời mọc. Măng vầu
trong mâm cúng ngày hội Roóng poọc của người Giáy là loại măng còn nằm
kín ở dưới đất chưa nhô lên đón ánh mặt trời.
b. Cách chế biến các món ăn trong ngày lễ, tết, hội
vừa công phu vừa mang tính chất linh thiêng. Trong các ngày lễ hội của cộng
đồng, cách chế biến các món ăn cũng khác thường. Các con vật dùng trong hiến tế
khi giết thịt thường phải có các nghi lễ kèm theo. Ở vùng người Thái, trong các
lễ hội, cộng đồng Mường phải mổ trâu. Nghi lễ mổ trâu diễn ra dưới nhiều
hình thức khác nhau. Hội xên mường của người Thái, mổ trâu tiến hành
theo nghi lễ “Háp Quái” (nộp trâu). Trước khi giết trâu, bà mo (ủ mo) dẫn
tạo và các cụ già cầm đuốc đi quanh con trâu ba vòng, tỏ ý đồng lòng dâng trâu.
Trong lễ cúng ma bò nhu đăng của người Hmông,
khi giết bò cũng phải múa khèn, đánh trống. Khi pha thịt, miếng ức bò chỉ có
người cậu mới có quyền cắt để dâng cúng. Trong lễ hội tì me meo của
người La Chí, con bò dùng hiến tế buộc ở phía mặt trời mọc. Ngay việc giết gà
cúng tổ tiên trong đêm giao thừa của đồng bào các dân tộc cũng có những nghi lễ
đặc biệt kèm theo. Người Hmông cắt tiết gà và thả gà xem khi chết gà quay về hướng
nào để đoán định việc làm ăn. Người Dao Họ mổ gà cúng tiết gà phải cắt đĩa tiết
theo hình chữ thập,… Các nghi lễ giết gia súc, chế biến món ăn đều gắn với những
tín ngưỡng nhất định, đều được lý giải bằng những hèm, kiêng kỵ… Vì thế các món
ăn trong ngày lễ, tết, hội đều có sự khác thường, được thăng hoa, linh thiêng
hóa. Sự linh thiêng này càng thể hiện khi ăn. Ăn các món ăn trong ngày lễ, tết,
hội không chỉ có giá trị tiếp thêm dinh dưỡng bình thường mà đây còn là một
hành động tiếp nhận năng lượng thiêng.
Đồ ăn khi đã bày lên bàn thờ - có nghĩa là có năng lượng
thiêng liêng ở thế giới thần linh tổ tiên. Do đó ăn và hưởng lộc thánh, là tiếp
nhận cái may mắn, cái nguyện vọng ước cầu. Trong lễ hội xuống đồng, khi
ông mo tung nắm ngô rang, bỏng rang cúng thần ra xung quanh, mọi người tranh
nhau nhặt và ăn, nhặt đem phần về cho người thân với ý niệm như vậy năm đó sẽ
được mùa. Hoặc phần thịt trâu trong lễ hội xên mường của người Thái
cũng phải chia đều cho các dòng họ, các gia đình. Thịt bò trong lễ tì me
meo của người La Chí được chia cho người già với quan niệm người già ăn sẽ
ít ốm đau, trẻ nhỏ ăn thịt bò ở đây sẽ được khỏe mạnh… Nước canh luộc lợn sữa cúng
ma buồng của người Hmông được chia đều cho trẻ nhỏ uống với niềm tin trẻ không
những khỏe mạnh mà còn sáng mắt. Ở vùng người Mường, miếng xôi dẻo cúng tổ tiên
xong thường được dán vào tai xanh, tai ninh đồng. Các chàng trai thường tranh
nhau bóc xôi dán phía ngoài tai xanh ăn để đi săn sẽ gặp may. Các cô gái lại
tranh nhau bóc xôi dán ở tai xanh phía trong để ăn, cầu mong hái được nhiều
măng.
Tai ngoài may moong (thú)
Tai trong may mu (măng)
Điều đáng chú ý, cấp độ linh thiêng của các món ăn phụ thuộc vào
cấp độ của lễ hội. Trong các nghi lễ của gia đình, dòng họ, các món ăn có tính
chất thiêng chỉ bó hẹp trong phạm vi gia đình, dòng họ. Nhưng ở các nghi lễ của
cộng đồng làng, tính chất thiêng liêng bao trùm mọi thành viên trong làng. Đặc
biệt, đối với các lễ hội có qui mô lớn của toàn vùng như lễ xên mường của
người Thái, hội gầu tào của người Hmông, tính chất thiêng liêng càng
tăng và bao trùm toàn vùng. Tính linh thiêng của các món ăn cũng phức tạp và phổ
biến rộng khắp toàn vùng.
2. Các món ăn trong lễ hội mang đậm tính biểu tượng.
Các món ăn trong lễ hội không chỉ là món ăn bình thường với những đặc điểm vốn
có (về màu sắc, mùi vị…) mà còn chứa đựng những giá trị văn hóa của cả một cộng
đồng. Các món ăn như tín hiệu phản ánh những giá trị lịch sử, thẩm mỹ. Món ăn lễ
hội không đơn thuần là đồ ăn mà ẩn chứa những mã hiệu trao truyền cho thế hệ về
truyền thống văn hóa. Vì vậy, tìm hiểu món ăn trong lễ hội là tìm hiểu những
giá trị ẩn tàng dưới vỏ vật chất của món ăn.
a. Trong mâm cúng lễ hội Roóng poọc của
người Giáy, có món bánh dày xếp chồng từ bốn đến sáu chiếc ở hai bên mâm. Điều
đặc biệt, các bánh dày này đều làm theo hình núm vú, đồng bào gọi là núm vú
trâu trắng.
Người Giáy là một tộc người thuộc nhóm Tày Thái nằm ở ngành
Táy Khao. Người Giáy cũng như người Tày trắng Táy Khao đều nhận bà tổ sinh ra
là bà Trâu Trắng (Dà Vài Khao). Người Giáy có nhiều truyền thuyết liên quan đến
vật tổ - bà Trâu Trắng như trâu trắng cứu người, trâu trắng tìm nguồn nước… Do
đó, trong lễ hội Roóng poọc, người Giáy làm bánh dày - biểu tượng của núm
vú bà Trâu Trắng.
Trong mâm cúng lễ hội xuống đồng của người Tày ở Văn Bàn Lào
Cai, người Tày ở làng Làn đều cắm các hình chim én, hình các con cá chép bằng
giấy bản, giấy màu rất đẹp, chim én làm bằng giấy màu đỏ, cá chép làm bằng giấy
màu trắng. Và trên mâm cúng của ông mo đều phải có gà luộc xòe cánh nằm cạnh
con cá chếp to nướng vàng. Trong tập sách chữ Thái Páo Khuôn ghi nhận
“hồn dương vật là loài chim én”. Loài chim ở cạn (chim én) là vật tổ của nhóm
Thái trắng. Và ngược lại cũng trong cuốn sách trên ghi “hồn âm vật là loài rồng
nước”. Nhóm Thái đen là con cháu loài rồng ở nước.
Con rồng là loài vật huyền thoại. Tiền thân của rồng theo
quan niệm người Thái đen ở Mường Lò - chính là cá chép. Truyền thuyết này tương
tự sự tích cá chép hóa rồng của người Việt. Như vậy, chim én là biểu tượng của
thế giới dương, bên trên, biểu tượng của lửa, của mặt trời. Do đó hình chim én
trong mâm cúng thường nhuộm màu đỏ. Cá chép là biểu tượng của thế giới âm, bên
dưới, biểu tượng nước. Do đó, hình cá chép có màu trắng ngà của nước. Nhưng biểu
tượng chim én là vật tổ của ngành Thái trắng, và cá chép (rồng) là vật tổ của
ngành Thái đen. Qua cặp biểu tượng chim én - cá chép ta thấy yếu tố tượng trưng
còn được sử dụng như một bội số (có nhiều ý nghĩa - lồng vào nhau), vừa là vật
tổ vừa là âm dương.
Các món ăn mang biểu tượng vật tổ còn tìm thấy khá phổ biến ở
các lễ cúng tổ tiên của người Khơ Mú dòng họ “Tvạ” (rau dớn): Lấy ba ngọn rau dớn
cuốn với cá vùi vào bếp nướng làm món ăn dâng lên tổ tiên trong lễ cúng tổ
tiên. Như vậy, ở người Khơ Mú, biểu tượng của món ăn cũng là biểu tượng của vật
tổ. Biểu tượng này liên quan đến tàn dư “tô tem”.
b. Hầu hết lễ hội các dân tộc ít người ở phía Bắc
là lễ hội nông nghiệp. Các biểu tượng liên quan đến nông nghiệp không chỉ xuất
hiện ở nghi lễ, trò diễn mà còn có mặt ngay cả các món ăn. Tìm hiểu các món ăn
trong lễ hội thấy rõ các biểu tượng phản ánh kinh tế tiền nông nghiệp. Lễ xuống
đồng của người Tày có quả đao (cây báng lấy bột) là món ăn dâng cúng. Và
bài khấn của ông mo cũng là hạt lúa to như quả đao. Vì cây đao là cây lương thực
chính của người dân Đông Nam Á trước khi tìm ra bầu, khoai, lúa, nước. Quả đao
là biểu tượng món ăn thời hái lượm. Trong lễ Grợ của người Khơ Mú, mâm cúng phải
có bí xanh, bí đỏ, khoai sọ luộc. Khi phần lễ kết thúc, mọi người tranh nhau cướp
bí, khoai bôi khắp mặt nhau. Họ còn vê xôi với khoai, bí ném nhau. Khoai, bí
xôi bôi khắp mặt, dính đầy đầu tóc của mọi người dự hội. Và ai cũng muốn được
bôi nhiều bí, khoai, xôi. Tên lễ hội là “Grợ” có nghĩa là lễ củ. Như ta đã biết,
văn hóa khoai sọ, bầu bí sinh ra trước văn hóa lúa. Khoai sọ, bầu bí trong lễ hội
Grợ (lễ củ) là biểu tượng của văn hóa bầu bí, của văn hóa tiền nông nghiệp trồng
lúa. Điều đặc biệt là người dân véo xôi trộn lẫn bầu bí, khoai sọ với ý niệm bầu
bí, khoai sẽ tiếp thêm tinh lực cho lúa.
Và tục đi săn đầu năm mới với mâm cúng thần rừng chỉ gồm thịt
chim thú săn được đem nướng, các loại rau rừng hái được đêm luộc gợi nhớ thời
người Xá Phó sống chủ yếu bằng hái lượm, săn bắn. Măng nướng, măng luộc, củ mài
luộc của người Xá Phó ở Văn Bàn cũng phản ánh kinh tế hái lượm.
Trong kinh tế nông nghiệp lúa nước, yếu tố nước là yếu tố quyết
định được mùa trong sản xuất. Vì vậy, dấu vết cầu mưa, cầu nước in đậm trong
mâm cúng hội. Các hội xuống đồng của người Tày dọc sông Chảy có tục rước nước
thiêng ở nguồn về cúng. Nước thiêng được đặt trang trọng trong quả bầu trên mâm
cúng ông mo. Sau lễ cúng, ông mo niệm thần chú rồi dốc nước ở quả bầu vẩy ra khắp
xung quanh, mọi người tranh nhau hứng nước cúng. Đó là biểu tượng mô phỏng cầu
mưa, mong mưa tưới khắp trần gian, ruộng nhà ai cũng đủ nước cấy.
Cũng như nước, mặt trời là yếu tố cực kỳ quan trọng, đảm bảo
cho lúa nước được mùa. Do đó, biểu tượng mặt trời cũng phản ánh trong đồ dâng
cúng của người Tày Lào Cai. Bàn đựng mâm cúng của ông mo là hướng đông – hướng
mặt trời mọc. Mâm cúng của ông mo và các gia đình đều có hai đĩa xôi: Xôi đỏ tượng
trưng cho mặt trời, xôi vàng tượng trưng cho mặt trăng. Mâm cúng còn có hai
chim én bằng giấy đỏ (cũng là biểu tượng của lửa, của mặt trời). Đặc biệt, mâm
cúng của ông mo đặt trên nền giấy đỏ và phía sau mâm là nền xanh của lá đao rừng.
Sắc đỏ nổi trên mâm cúng, mâm cúng lại nằm ở phía đông, lá đao rừng làm nền
xanh, khiến mọi người không khỏi liên tưởng đến biểu tượng của mặt trời. Trong
nông nghiệp nhất là nông nghiệp nương rẫy ở vùng cao, biểu tượng phòng chống
sâu bệnh cũng là biểu tượng quan trọng in dấu ấn trong món ăn một số dân tộc.
Trong lễ cơm mới của người Hà Nhì Cồ Chồ, mâm cúng còn có bánh giầy
làm bằng bột gạo giã cùng một con châu chấu. Món bánh này là biểu tượng mong mỏi
tổ tiên bảo vệ nương lúa khỏi bị nạn châu chấu.
Tương tự như vậy, trong lễ cơm mới, người Phù Lá phải đặt
ba mâm cúng dâng lên bàn thờ mẹ: Mâm thứ nhất gồm hoa chuối (biểu tượng cầu
mong lúa tốt tươi), củ gừng, khoai sọ (tinh linh hỗ trợ cho lúa) và thịt chuột
(biểu tượng cầu mong chuột không phá hoại nương rẫy). Mâm thứ hai là mâm gạo
cũ, mâm thứ ba là mâm gạo mới.
Hiện nay, một số dân tộc du nhập các loại cây lương thực mới
như ngô, lúa. Nhưng qua các món ăn trong ngày lễ mừng năm mới có thể nhận thấy
các món ăn bắt nguồn từ lương thực cổ truyền của họ. Người Dao ở Lào Cai hiện
nay ăn lúa nước nhưng trong mâm cúng giao thừa họ phải làm bánh giầy bằng hạt
kê mạch (mỗi nhà chỉ trồng một ít để làm bánh giầy cúng tổ tiên). Và người
Hmông ở Than Uyên hiện ăn gạo nương là chính nhưng trong lễ tang, lễ hội cúng
ma làng bản, làm “nhu đa”, đồng bào đều có món bánh giầy bằng ngô nướng.
Như vậy, các món ăn trong ngày lễ hội là biểu tượng phản ánh,
ghi nhận từng chặng đường phát triển của sản xuất từ kinh tế hái lượm, săn bắn
đến trồng bầu bí, khoai và cuối cùng mới là trồng lúa, ngô. Món ăn trong ngày lễ
hội như những tín hiệu nhắc nhở mỗi thành viên ý thức về cội nguồn, ý thức về
truyền thống.
3. Trong xã hội nông nghiệp cổ truyền, quan hệ xã
hội chủ yếu là quan hệ cộng đồng. Nhu cầu giao lưu, cố kết cộng đồng trở thành
nhu cầu thường xuyên. Tính cộng đồng chi phối mọi yếu tố của lễ hội, đặc trưng
của lễ hội là cộng đồng. Do vậy, một đặc điểm nổi bật trong ăn uống ở lễ hội là
ăn uống cộng cảm. Ăn uống trong ngày thường của mỗi gia đình thì yêu cầu trọng
thực (đảm bảo nhu cầu no là đầu). Nhưng ăn uống trong lễ hội nhu cầu cộng
cảm là yêu cầu hàng đầu. Tính cộng đồng thể hiện ở khâu chuẩn bị món ăn,
chế biến và đặc trưng các món ăn đến cả cách ăn.
a. Tham gia chuẩn bị các món ăn trong ngày lễ
hội là niềm vui, là nghĩa vụ, quyền lợi của mỗi thành viên trong cộng đồng (gia
đình, dòng họ, làng). Do đó, công việc chuẩn bị bữa ăn là công việc chung của mọi
thành viên, du già, trẻ, gái, trai đều có đủ “việc làm” trong khâu chuẩn bị món
ăn. Điển hình là hội Khô già già của người Hà Nhì ở Bát Xát - Lào
Cai: nam giới mổ trâu, lột da, pha chế thịt; nữ giới làm bánh giầy, hái lá
thơm, nấu nướng. Người già làm dàn cúng, sắm mâm cúng; trẻ nhỏ nhặt rau thơm,
múc nước, lấy củi đun… Cả làng ồn ào, náo nhiệt phấn khởi chuẩn bị món ăn.
Trong hội cá của người Kháng ở ven dòng Nâm Mu hoặc người Mường càng phản ánh
tính cộng đồng. Cả làng lội xuống nước bắt cá tập thể, trai tráng giăng lưới,
dàn hàng bắt cá, phụ nữ trẻ nhỏ đập nước vang động khắp suối, khua cho cá hoảng
sợ chui vào lưới. Khi kéo lưới lên, người già chọn cá to nhất, tươi nhất dâng
lên cúng thần, nam giới chọn cá nhỏ, lóc cá; nữ giới băm xương nấu nước chấm gỏi
cá. Trẻ nhỏ kiếm lá ngải lau cá, kiếm lá thơm ăn với gỏi cá.
Trong lễ hội cúng thần rừng của người Hmông, người Dao đều phải
tổ chức lễ săn thú tập thể, cả làng đều tham gia săn bắn. Cả làng chia làm hai
bộ phận: Bộ phận vây dồn và bộ phận đón long diệt thú. Bộ phận vây dồn gồm đông
đảo già, trẻ, gái, trai, trẻ con. Họ dùng chiêng, trống, thanh la, tù và, chó
săn hò reo để dồn con thú vào khu vực đón lõng. Bộ phận đón lõng ở hẻm núi gồm
những trai tráng, thợ săn lão luyện. Họ dùng cạm bẫy, hầm hố phối hợp với vũ
khí để diệt thú. Con thú săn đều được làng mổ thịt dâng cúng thần rừng. Việc
làm thịt thú, nấu nướng các món ăn cũng là việc chung của cả làng.
Những vùng không còn nhiều rừng và thú hoang, lễ cúng thần rừng
chỉ dùng vật hiến sinh là lợn, dê. Vật hiến sinh luân phiên mỗi năm phân công một
gia đình nuôi dưỡng. Nhưng khi làm thịt cúng tế, chế biến các món ăn đều là việc
chung của cộng đồng. Mọi thành viên trong làng đều tham gia. Ở một số lễ hội,
chỉ có các con vật hiến sinh được chế biến thành các món ăn do tập thể đảm nhiệm,
còn lương thực (cơm, ngô, xôi, bánh…) đều do từng gia đình chuẩn bị trước. Như
vậy, dù cả cộng đồng chuẩn bị toàn bộ các món ăn hoặc chỉ chuẩn bị vật hiến
sinh thì tính cộng đồng vẫn thể hiện đậm nét trong các khâu chuẩn bị món ăn lễ
hội.
b. Tính chất cộng đồng còn chi phối cả đặc tính của
món ăn. Do yêu cầu các món ăn phải làm cho nhiều người ăn nên món ăn lễ hội
cũng mang tính đại trà, dễ chế biến. Những món ăn chế biến cầu kỳ thường chỉ ở
mâm cúng của thầy cúng, một vài chức dịch hoặc mâm cúng mang tính chất đại diện
cho từng gia đình (trong lễ hội xuống đồng) chỉ dùng ăn uống trong gia
đình.
Ở vùng người Hmông, Dao món thức ăn phổ biến là “thắng cố”.
Toàn bộ các bộ phận của vật hiến sinh đều cho vào chảo nấu thành canh. Cả cộng
đồng ăn chung chảo canh, và ở mỗi mâm bát canh thịt là món ăn chính. Do vậy,
“thắng cố” được dịch đúng nghĩa là “canh nấu ở chảo”. Ở người Thái, các món ăn
được phổ biến trong lễ hội là thịt luộc chấm nậm pịa, thịt nướng, canh rau
thịt. Thịt lợn luộc nộm với các món lá thơm có vị cay, nóng. Các miếng thịt ba
chỉ được xát rau mùi, rau thơm, củ sả, húng chó, hạt tiêu, gừng với độ muối vừa
tầm nhạt đem nướng vàng. Đặc biệt là món canh được nấu bởi nước luộc thịt với
các loại rau cũng trở thành món phổ biến với số lượng nhiều. Nhưng món ăn được
ưa dùng nhất, mang tính “cộng cảm” nhất lại là món nước chấm “nậm pịa”. Món nước
chấm này lấy từ lòng non của các con vật ăn cỏ nhai như trâu, bò, dê, nai trong
đó ngon nhất là hoẵng. “Nậm pịa” dùng để chấm thịt luộc, thịt nướng. Còn chấm
xôi, lương thực chính của người Thái lại là món “chéo” gồm có muối, ớt hòa tan
với các gia vị khác. Ở vùng người Mường, món ăn không thể thiếu trong tiệc,
đám, lễ hội là món “loọng”. Nguyên liệu chỉ có hai thức chính là xương trâu,
bò, lợn nấu với lõi mềm màu trắng bên trong thân cây chuối. Tóm lại, vì đáp ứng
nhu cầu cộng cảm nên các món ăn tập thể thường phải là món “đại trà”, dễ làm,
nhiều, có thể phục vụ nhiều người ăn cùng một lúc.
Tính cộng đồng bình đẳng thể hiện cả trong các nghi thức bày
cỗ cúng. Người Hmông quan niệm: Trong một lễ cúng mời thần linh tổ tiên khác
nhau phải bày nhiều bát cúng đựng thức ăn. Số lượng bát cúng tùy theo từng cộng
đồng dòng họ. Trong lễ nhu đa (ma bò), dòng họ bày 33 bát cúng (được bày
thành ba hàng). Hàng thứ nhất để mời ba bố mẹ đã khuất, hàng bát thứ hai mời những
người cùng thế hệ với bố mẹ đã khuất, hàng bát thứ ba mời những người cùng thế
hệ với người cúng đã khuất. Các bát cúng đều phải chia các bộ phận thịt bò như
sau: có thịt đầu bò, miếng xương ngực, miếng thịt chân, miếng tim, gan, lòng,
phổi, dạ dày, lưỡi. Chia đều từng miếng thịt ở từng bộ phận của con bò với ý niệm
người chết được hưởng cả con bò. Và các bát đều có số miếng thịt giống nhau, bằng
nhau. Như vậy, thức ăn trong lễ hội không chỉ được chia đều cho người sống mà
trước hết là phải chia đều cho người đã chết, chia đều cho các thần linh. Quan
niệm đó còn được lặp lại, được phản ánh cả trong cách chia phần cho mỗi gia
đình sau khi ăn hội. Sau lễ cúng ma rừng gắn liền với hội săn tập thể
của người Hmông, chủ nhà đều chia một phần thịt thú săn được cho người ốm đau,
trẻ nhỏ ở nhà không đến dự lễ hội. Thậm chí chó săn cũng được chia một miếng thịt
thú rừng. Trong lễ hội nào xồng của người Hmông, lễ cúng thần rừng của
người Nùng, thành phần dự lễ chỉ là một người chủ gia đình. Nhưng sau bữa ăn mỗi
người còn được chia một phần thịt, xôi, cơm, ngô đem về cho người ở nhà. Số thức
ăn chia bình quân theo số hộ gia đình trong làng. Như phần trên đã trình bày,
chia phần còn phản ánh quan niệm chia “chất thiêng” (lộc thánh) cho mọi thành
viên của cộng đồng.
c. Tính cộng đồng chi phối cả cách ăn và uống
trong lễ hội. Ăn hội là ăn cộng cảm vui tươi nên không có sự phân biệt món ăn
theo từng mâm. Hầu hết các lễ hội, các mâm đều có các món ăn giống nhau. Tuy
nhiên, việc bố trí người ngồi ăn có khác nhau. Thông thường các mâm được sắp xếp
theo lứa tuổi và giới tính. Có mâm của các giá làng, trưởng họ, trưởng làng
riêng. Có mâm của các chủ hộ gia đình, có mâm của thanh niên, phụ nữ và mâm trẻ
con. Một số tộc người có sự phân hóa rõ nét các tầng lớp trong xã hội thì việc
bố trí mâm ăn cũng phản ánh mối quan hệ xã hội. Ở vùng người Thái, việc bố trí
mâm ăn là điển hình phản ánh quan hệ xã hội. Trong lễ hội, tiệc đám, người
Thái không ấn định rõ số người trong một mâm. Nếu ở vùng người Việt, cỗ thường
đóng sáu hoặc bốn người một mâm thì ở vùng người Thái số người xếp quanh mâm
không qui định: Có mâm sáu người, có mâm tám người… chạy dài suốt lòng nhà sàn
(hoặc bãi bằng mở hội). Ở ngoài trời, vị trí ngồi ăn phân chia ở gần hoặc xa
nơi sàn cúng. Gần sàn cúng là các già bản, chức dịch, thầy mo; tiếp đến là chủ
gia đình, phụ nữ trẻ con. Trường hợp ăn uống ở trong nhà, vị trí ngồi ăn được
qui định khá chặt chẽ. Vị trí ngồi của người ăn phân chia theo chiều dọc thành
hai nửa của ngôi nhà. Một nửa, các già bản, chức dịch ngồi ở “hàng phía trên”
(năng táng nưa) là dãy chạy sát vách. Một nửa ngồi “hàng phía dưới” (năng táng
tản) là dãy chạy dọc theo các gian giữa nhà dành cho các chủ gia đình, những
người có nhiệm vụ rót rượu mời hàng phía trên. Riêng phần tiếp giáp bếp (táng
chan) dành cho các bà, cô, bác. Phần tiếp giáp với gian thờ (táng quản) chỉ
dành cho đàn ông… Như phần trên đã trình bày, tuy mâm cỗ có sự phân chia vị trí
ngồi theo từng mâm nhưng không có sự phân chia về số lượng thức ăn. Điều đó
cũng khẳng định bữa ăn ngày hội là bữa ăn cộng cảm, ăn cốt để vui, hợp theo từng
lứa tuổi giới tính mới vui, ăn không phải để no nên không phân biệt thức ăn.
Tính cộng đồng phản ánh đậm nét ở cách thức, luật tục uống rượu.
Ở vùng Hmông Lào Cai, nghi thức uống rượu mở đầu là mang tính chất bình quân.
Chỉ có một bình rượu và một cái bát hoặc chén, lần lượt mỗi người trong mâm đều
uống lưng bát rượu (hoặc chén rượu). Ở vùng người Thái, người Kháng, La Ha, các
lễ hội đều có chum rượu cần. Mọi thành viên đến dự đều được uống. Tốp người uống
tiếp đến là thanh niên. Uống chung một vò rượu cần, uống chung một bát rượu đều
biểu hiện ý thức bình đẳng, đề cao sự cố kết cộng đồng.
Lễ hội các dân tộc là hệ thống các tín hiệu phản ánh kinh tế
- xã hội - văn hóa truyền thống. Món ăn (cũng như cung cách ăn uống) trong lễ hội
đều là một bộ phận của các tín hiệu đó. Đặc biệt khác với các món ăn (cung cách
ăn) ngày thường, món ăn và cách ăn uống trong lễ hội còn có những đặc điểm nổi
trội như món ăn mang tính chất linh thiêng, món ăn mang tính biểu tượng, món ăn
đáp ứng nhu cầu cộng cảm của cộng đồng như bài viết đã trình bày. Tuy nhiên,
món ăn, cung cách ăn trong ngày hội các dân tộc miền núi phía Bắc còn một số đặc
điểm khác về tính tinh chế, tính phồn thực…
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Từ Chi (1996), Góp phần
nghiên cứu văn hóa tộc người, Nxb Văn hóa Thông tin.
2. Nguyễn Văn Huy (1985), Văn hóa
và nếp sống Hà Nhì - LôLô, Nxb Văn hóa Dân tộc.
3. Nguyễn Văn Huy (1990), Văn hóa
truyền thống người La Chí, NxbVă hóa Dân tộc, Hà Nội.
4. Tô Ngọc Thanh (1994), “Niềm tin và
lễ hội” trong cuốn Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại, Nxb
Khoa học xã hội, tr. 267.
5. Vương Xuân Tình (1996), Ứng xử
xã hội trong ăn uống…, Tạp chí Dân tộc học, số 4.
7. Đặng Nghiêm Vạn, Nguyễn Trúc Bình,
Nguyễn Văn Huy (1972), Những nhóm dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Á ở Tây Bắc Việt
Nam, Nxb KHXH.
TRẦN THỊ NGỌC ANH
- Họ và tên khai sinh: Trần Thị Việt Anh
- Bút danh: Vân Anh
- Sinh năm: 1936
- Quê quán: Quế Trạo, Đồng Quế, Lập Thạch, Vĩnh Phúc
- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 1957)
- Tác phẩm chính đã xuất bản:
* Ba lần gặp Bác Hồ (Truyện ký, 1969)
* Nắng thu vàng (Thơ, 1993)
Và thơ in chung trong một số tập từ 1970 đến 1985.
TRƯƠNG VĨNH TUẤN
- Họ và tên khai sinh: Trương Vĩnh Tuấn
- Sinh năm: 1946
- Quê quán: Nam Viêm, Mê Linh, Vĩnh Phúc
- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 1993)
- Tác phẩm chính đã xuất bản:
* Bắt hổ (Tập truyện, 1982)
* Sen lên (Thơ, 1984)
* Niềm vui của bé (Tập truyện, 1985)
* Đám ma dế (Tập truyện, 1986)
* Tín hiệu lạ (Tiểu thuyết, 1988)
* Chỉ tại ngọn gió (Thơ, 1992)
* Rừng, lính và thơ (Thơ, 1995)
* Khoảng trống (Tập truyện, 1996)
* Ru em ru tôi (Thơ, 2002)
* Đồng đội ơi (2004)
* Tựa vào tuổi thơ (Truyện thiếu nhi, 2006)
* Thơ - Tác phẩm và dư luận (2006).
A- TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ:
TRƯƠNG VĨNH TUẤN - NỖI ĐAU ĐỜI
CỦA THI SĨ
(Nhân đọc “Ru em ru tôi”
Thơ Trương Vĩnh Tuấn, NXB Hội nhà văn - 2003)
Thơ Trương Vĩnh Tuấn, NXB Hội nhà văn - 2003)
Đinh Nam Khương
Có một nhà thơ nổi danh thi sĩ, làm “quan” khá to ở báo Văn nghệ. Nhưng chẳng
bao giờ thấy ông vỗ ngực, ngạo mạn nói lời: “ta là quan đây” mà ông luôn dân
giã tự gọi mình là hắn, xưng hô với bạn bè là mày tao: “... Hình như hắn
là nhà quê/ Hình như hắn từ quê ra”.
Vâng! “Hắn nhà quê” ấy chính là thi sĩ Trương Vĩnh Tuấn, mà
trong bài viết này tôi cứ thích gọi ông là Tiên sinh.
Đọc “ru em ru tôi” thấy tiên sinh Trương Vĩnh Tuấn đêm đêm
thường trằn trọc thao thức với sao khuê! ông thức để làm thơ, thức để “ru em”,
ru người tình. Thức để mở to mắt nhìn những trò đời bắng nhắng... rồi mỉm cười
một mình vu vơ trong đêm tối!... Song, trên tất cả những điều ấy là thức với
“thiên hạ”, thức với “chúng sinh”. Thức để ru mọi người
tỉnh ngủ vì cuộc đời vẫn còn nhiều gian tham độc ác:
“Một đêm thức với chúng sinh
Thì ra thiên hạ thái bình từ lâu
Nỏ thần chước quỷ, mưu sâu
Nỏ cần tất tả buôn trầu bán vôi
Vẫn là gạo đấy mà thôi
Vẫn là em, vẫn là tôi rối lòng…”
(Ru em ru tôi)
Không biết quê hương bản quán của tiên sinh ở đâu ta? mà tiên
sinh lại nói hai lần “nỏ cần” ở đầu câu hay thế! Nói như vặt thịt, nói như
trong người muốn văng ra một cái gì đó... Đoạn thơ trên, cũng đủ cho ta thấy
khí phách của tiên sinh như thế nào. Một người tự xếp mình ngang hàng với “gạo
quê” có nghĩa là chỉ cao hơn mặt đất bằng ba con kiến. Tuy có bé nhỏ, nhưng mà
là “gạo quê” thứ thiệt. Không phải là gạo nhái, nên không cần đọc kỹ hướng dẫn
trước khi dùng!.. Đã là “gạo quê” cho mọi người thì cần gì phải “chước quỷ
mưu sâu” cần gì phải “buôn trầu, bán vôi”... Đó chính là
tuyên ngôn về thơ, về cuộc đời của tiên sinh!... Nhìn trong thiên hạ này, có ít
người nói năng quê mùa và ngang tàng như vậy!...
Bài thơ “trở về” là bài thơ khắc họa khá rõ nét về nhân cách ngòi bút của tiên sinh Trương Vĩnh Tuấn. Trước cửa chùa, người đời thường cầu xin nhiều thứ... Còn ông, không cầu xin cho mình giàu sang, lắm bạc, nhiều vàng, bởi: “... tiền chi cho lắm khổ đau vì tiền...”. Muốn cầu xin cho mình ngăn được “... những vòng xoay ngân hà...”. Nhưng buồn thay “... phận mình cũng phận heo may...” nên không thể đảo ngược được thiện ác ở cõi phàm tục này, cuối cùng thì đành phải:
Bài thơ “trở về” là bài thơ khắc họa khá rõ nét về nhân cách ngòi bút của tiên sinh Trương Vĩnh Tuấn. Trước cửa chùa, người đời thường cầu xin nhiều thứ... Còn ông, không cầu xin cho mình giàu sang, lắm bạc, nhiều vàng, bởi: “... tiền chi cho lắm khổ đau vì tiền...”. Muốn cầu xin cho mình ngăn được “... những vòng xoay ngân hà...”. Nhưng buồn thay “... phận mình cũng phận heo may...” nên không thể đảo ngược được thiện ác ở cõi phàm tục này, cuối cùng thì đành phải:
“… Bâng khuâng đứng trước cửa thiền
Cầm bằng lấy sự bình yên trở về…”
(Trở về)
Để rồi:
“… Ngày mai đến gốc bồ đề
Nhặt dăm cái lá đem về ầu ơ!...”
(Vào
chùa)
Chỉ có những người hiểu đời, hiểu phật sâu sắc, mới viết đựơc
những câu thơ như thế, Những câu thơ bâng khuâng mà đau xót! Cái đau xót của một
người có tâm mà không có lực, muốn sống tốt với đời, với người... Mà đời và người
lại không cho mình làm được việc ấy!... Đó là nỗi đau nhân bản muôn đời của thi
nhân, khắc khoải, buồn chán, muốn tan ra cùng trời đất!...
Cũng với tâm trạng ấy, tiên sinh Trương Vĩnh Tuấn viết về những
con khỉ ở rừng trường sơn, trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Những con khỉ không biết nói tiếng người, nhưng lại ném cho tiên sinh những
chùm quả ngọt ngào khi mà tiên sinh đang đói, mách cho tiên sinh biết nguồn nước
sạch khi mà tiên sinh đang khát, chỉ cho tiên sinh những lá cây để tiên sinh rịt
vết thương!...Và trong cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ, ác liệt ấy, tiên
sinh và con khỉ gắn bó sống chết bên nhau: “... Ta - chúng ta như những người
bạn thân...” Để rồi bài thơ đóng lại với 3 câu kết thật bất ngờ làm
lòng ta se thắt lại, nghĩ ngợi mung lung, xót đau không phải trước khỉ mà xót
đau trước con người:
“… Cho đến một hôm
Chợt thấy chúng mày trong cũi sắt
Ta se lòng như một kẻ vô ơn!...”
(Trong vườn bách thú)
Những câu thơ giản dị
như một lời nói thường, nhưng lại như dao sắt cứa vào lòng nhân nghĩa, như tiếng
đàn của Thạch Sanh cứ tích tịch tình tang nói về nàng công chúa, như ngôi sao
khuya lấp lánh về một tình bạn thủy chung không vô ơn bạc nghĩa... Thế mà đã làm
bao kẻ phải giật mình!...
Sau phút bàng hoàng vì cú sốc làm chấn động mạnh về tinh thần, tiên sinh Trương Vĩnh Tuấn như chợt bừng tỉnh trước cuộc đời, ông nghĩ lại tất cả, muốn cân lại tất cả giá trị cuộc đời trên cán cân lương tâm nhậy cảm của riêng mình!... Rồi khao khát một thế giới tự do, ở trái tim đau đời của ông được thảnh thơi yên nghỉ:
Sau phút bàng hoàng vì cú sốc làm chấn động mạnh về tinh thần, tiên sinh Trương Vĩnh Tuấn như chợt bừng tỉnh trước cuộc đời, ông nghĩ lại tất cả, muốn cân lại tất cả giá trị cuộc đời trên cán cân lương tâm nhậy cảm của riêng mình!... Rồi khao khát một thế giới tự do, ở trái tim đau đời của ông được thảnh thơi yên nghỉ:
“… Bỗng tất cả đều trở thành vô nghĩa
Cái trong tay trở thành cái vô cùng
Ước có một nấm mồ xanh cỏ
Để chiều chiều khao khát một dòng sông!...”
(Không đề)
Buồn thay! khi mà ước mơ của tiên
sinh lại ở phía bên kia thế giới, nơi mà ta vẫn gọi là cõi vĩnh hằng. Cỏ xanh
là thứ thuốc màu nhiệm sẽ rịt đi tất cả những vết thương đau, thù hận cho con
người và mang lại sự bình yên thanh thản cho những trái tim khổ đau đang ngày
đêm rỉ máu!... Tôi chợt nhận ra và lý giải được vì sao tiên sinh Trương Vĩnh Tuấn
đang làm quan ở nơi thành phố đèn hoa tráng lệ, lắm bạc, nhiều vàng, trăm ngàn
“mỹ nữ cung tần” đêm ngày đấm bóp... Mà cứ khao khát được “trở về rừng”, giống
như đã phải lòng ma và bị ma ám:
“… Sẽ đến một ngày, rất gần thôi có thể
Anh xa em trở lại với rừng
Gửi nơi này một chút nhớ nhung
Một ít khổ đau, một phần trách móc…”
(Trở lại)
Ông nói lời lâng lâng nhẹ
nhàng mà lòng ông lại trĩu nặng! Cái trĩu nặng của một con người sắp sửa từ giã
cõi đời để đi xa. Nhưng chết không phải là ra đi mà là trở về, trở về với đồng
đội đã yên nghỉ ngàn thu trong các cánh rừng Trường Sơn đầy mưa rơi gió thổi. Về
với những con khỉ không biết nói tiếng người nhưng đã một thời cưu mang nhau vượt
qua đạn bom, vượt qua cái chết!... Con người trước lúc đi xa bao giờ cũng cất
lên những lời nói thật!... Lời nói thật vô cùng thương mến ông đã dành cho em
trước tiên: “... anh xa em trở lại với rừng...” câu thơ không có nước mắt
nhưng sao lòng ta cứ thấy nghẹn ngào
rưng rưng muốn khóc!
Tưởng “em” là trên hết: “cảm ơn em
ân nghĩa của đời anh/ Dẫu có chết cũng là mãn nguyện...” (không đề). Nhưng
không! Trong trái tim của tiên sinh Trương Vĩnh Tuấn còn có một tình cảm cao
hơn thế, sâu nặng hơn thế, lúc nào cũng canh cánh bên lòng!... Đó là tình đồng
đội, tình bè bạn... Chiến tranh đã lùi xa rồi, những hố bom đã được bụi thời
gian hàn kín miệng, “... cỏ đã bao phen phải làm lại từ đầu...” (Hữu
Thỉnh). Thế mà lúc nào ông cũng nghĩ, cũng tự hỏi
Mình hỏi em:
“... Anh
chôn bạn dưới cánh rừng vắng lặng
Không biết cỏ xanh rờn đã lấp lối lâu chưa...”
(Viết riêng cho em)
Câu hỏi day dứt tâm can ấy, không chỉ vang lên đối với đồng đội đã hy sinh mà vẫn thường vang lên đối với bạn bè đang sống!... Người có phúc lớn là người luôn đặt bạn bè lên trên mình và hết lòng yêu quý họ!... Với cương vị phó tổng biên tập báo văn nghệ, công việc hàng ngày rất bận rộn, nhưng mỗi khi rảnh rỗi là ông lại nhớ tới bạn bè, nỗi nhớ của tiên sinh Trương Vĩnh Tuấn luôn là nỗi nhớ mặc áo thường dân:
Không biết cỏ xanh rờn đã lấp lối lâu chưa...”
(Viết riêng cho em)
Câu hỏi day dứt tâm can ấy, không chỉ vang lên đối với đồng đội đã hy sinh mà vẫn thường vang lên đối với bạn bè đang sống!... Người có phúc lớn là người luôn đặt bạn bè lên trên mình và hết lòng yêu quý họ!... Với cương vị phó tổng biên tập báo văn nghệ, công việc hàng ngày rất bận rộn, nhưng mỗi khi rảnh rỗi là ông lại nhớ tới bạn bè, nỗi nhớ của tiên sinh Trương Vĩnh Tuấn luôn là nỗi nhớ mặc áo thường dân:
“… Lâu rồi chẳng uống bia hơi
Chẳng ăn thịt chó chẳng ngồi lê la
Lâu rồi, lâu chẳng nghĩ ra
Bạn bè ta? Bạn bè ta thế nào?...”
(Lâu rồi)
Hình như càng viết, tiên sinh Trương
Vĩnh Tuấn càng cô đơn và xót xa hơn! Một đêm khuya, gió lạnh đột ngột tràn về
làm tiên sinh tỉnh giấc, mang rượu ra ngồi uống một mình, nói một cách chính
xác hơn là uống rượu với trời đêm, uống nỗi cô đơn, uống buồn
thê thảm:
“… Có cơn gió lạnh vô tình
Xui ta uống rượu một mình vu vơ
Cớ sao lại rối tơ vò
Có sao giận, có sao ngờ, đâu đâu?...”
(Vu
vơ)
Ba lần trong đêm tối ông đã hỏi “cớ
sao” nhưng cả ba lần đều không có lời đáp, mày ông chau lại như những vị La Hán
ở chùa Tây Phương, thân hình ông khô tóp như những nhà sư khổ hạnh!... Biết hỏi
ai đây? Khi mà thật giả, vàng thau, đều đảo lộn như trò
chơi oản tù tì của con trẻ:
“… Cái đùa cứ như thật
Chuyện thật lại như đùa
Điều không bán lại mua
Điều không mua lại bán…”
(Kể cho bạn nghe)
Cuộc đời, nhiều khi như một trận
đồ bát quái, đã vào rồi không tìm thấy đường ra, bởi 8 cửa đều giống nhau, như
đùa như thật, như có như không... Những lúc ấy tiên sinh Trương Vĩnh Tuấn cảm
thấy mình lạc lõng nhỏ bé và yếu ớt như một loài hoa dại, nở ra một bông buồn,
chưa kịp hái, hoa đã trôi về dĩ vãng...Tưởng sẽ kiếm chác ở đời này được cái gì
đó. Nhưng không, đời đã lấy đi của ông tất cả, chỉ để lại cho ông sự nuối tiếc
mỏng manh trong gió chiều ào
ạt!… Ông chỉ biết than thở cùng em:
“… Ở trong anh có bông hoa không tên
Chưa kịp hái đã trôi về dĩ vãng!...”
(Hoa không tên)
Không biết vì sao hai câu thơ “cỏ dại”
buồn thương ấy lại cứ ngân vang mãi trong lòng tôi, đem đến cho tôi rất nhiều
lý thú và khoái cảm! Tôi thực sự cúi đầu kính phục tài thơ của tiên sinh Trương
Vĩnh Tuấn trước những câu thơ mảnh mai như thế - những câu thơ có sức mạnh quật
ngã cả non cao sừng sững - Dù thơ đó có nhãn hiệu “cỏ may” nhỏ bé!
Hình như tiên sinh Trương Vĩnh Tuấn đã học hỏi được rất nhiều, chắt lọc được rất nhiều tinh hoa của kho tàng ca dao dân ca tục ngữ Việt Nam “... làm trai cứ nước hai mà nói...”, “... Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho người dại nửa mừng nửa lo!...” Nên thơ ông luôn dừng lại ở sự vu vơ lấp lửng, không rành mạch bao giờ. Làm cho người đọc phải suy nghĩ rất nhiều, và tự rút ra những kết luận cho riêng mình! Đó là bút pháp của ông, là tài hoa của ông, mà bài lục
Hình như tiên sinh Trương Vĩnh Tuấn đã học hỏi được rất nhiều, chắt lọc được rất nhiều tinh hoa của kho tàng ca dao dân ca tục ngữ Việt Nam “... làm trai cứ nước hai mà nói...”, “... Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho người dại nửa mừng nửa lo!...” Nên thơ ông luôn dừng lại ở sự vu vơ lấp lửng, không rành mạch bao giờ. Làm cho người đọc phải suy nghĩ rất nhiều, và tự rút ra những kết luận cho riêng mình! Đó là bút pháp của ông, là tài hoa của ông, mà bài lục
bát “Giá như” là một ví dụ tiêu biểu:
“… Giá như cây vẫn còn xanh
Giá như đất vẫn ngọt lành như xưa
Giá như trời hết gió mưa
Giá như, ừ nhỉ, giá như, giá mà…
Giá như mình chẳng biết ta
Thì thôi, thôi thế, âu là… giá như…”
(Giá như)
Thơ lục bát của tiên sinh
Trương Vĩnh Tuấn, cứ đỏng đảnh như người đưa võng, nằm trên võng là cô gái 17
tuổi đang muốn lấy chồng. Như con cá giếc cứ nhảy thách lên trên mặt nước ao
thu trong buổi chiều đầy gió thổi!... Lạ lắm, không thể tưởng tượng nổi!...
Thôi! Mong tiên sinh Trương Vĩnh Tuấn đừng có “giá như” nữa, vì nếu có “giá như” của ông thì cuộc đời vẫn quay tít mù như chiếc đèn kéo quân, không ai có thể làm nó dừng lại! Làm sao ông có thể biết được ngọn gió xưa “Bây giờ đang ở đâu” vì đường đi của gió là vô tận, luôn đổi thay và biến hoá khôn lường!... Dù thế cũng xin ông đừng buồn, vì những câu thơ nao lòng của ông, những lời ru khắc khoải của ông, như cánh chim, như tăm cá, như những chiếc lá vàng mà ông đã “thả” nó bay về muôn nơi. Người đời đã đón nhận nó như đón nhận tâm tình của một người bạn thân. Tôi vinh hạnh cũng được sự trôi dạt ấy, như chiếc ván cứu sinh giữa mùa nước lũ!...Thưa tiên sinh! Khi nào ông trút bỏ áo văn nghệ già trút bỏ áo văn nghệ trẻ, từ biệt em, từ biệt bạn bè, từ biệt thơ, từ biệt cuộc đời sướng vui và đau khổ này, để “trở về với rừng” - Điều mà lúc sống ông vẫn hằng khao khát - Xin gia quyến của ông, xin Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam, đứng đầu là nhà thơ Hữu Thỉnh, đừng có chôn tiên sinh Trương Vĩnh Tuấn yêu quý của chúng tôi ở nghĩa trang Văn Điển, vì ở đó đông đúc quá, bởi khi sống ông là người không thích bon chen!... Hãy đưa ông về nghĩa trang Trường Sơn lộng gió, để ông được nằm đúng đội hình “thẳng hàng ngang, thẳng hàng dọc” cùng đồng chí, đồng đội của ông đã anh dũng hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nơi mà ông đã nhiều lần đến thắp hương cúi đầu tưởng niệm, nơi mà tình yêu tổ quốc trong ông đã nhân lên gấp bội!...
Không biết khi đã “trở về rừng” nằm dưới nấm mồ cỏ xanh, phía trước là dòng sông chiều lững lờ chảy qua, tiên sinh Trương Vĩnh Tuấn có còn nhớ đến những con khỉ ở vườn Bách Thú nữa không? Câu hỏi này, từ khi đọc thơ ông cho đến nay, đêm đêm cứ làm tôi thao thức!... Quái lạ! Sao ông lại “ru” đời như thế nhỉ???...
Thôi! Mong tiên sinh Trương Vĩnh Tuấn đừng có “giá như” nữa, vì nếu có “giá như” của ông thì cuộc đời vẫn quay tít mù như chiếc đèn kéo quân, không ai có thể làm nó dừng lại! Làm sao ông có thể biết được ngọn gió xưa “Bây giờ đang ở đâu” vì đường đi của gió là vô tận, luôn đổi thay và biến hoá khôn lường!... Dù thế cũng xin ông đừng buồn, vì những câu thơ nao lòng của ông, những lời ru khắc khoải của ông, như cánh chim, như tăm cá, như những chiếc lá vàng mà ông đã “thả” nó bay về muôn nơi. Người đời đã đón nhận nó như đón nhận tâm tình của một người bạn thân. Tôi vinh hạnh cũng được sự trôi dạt ấy, như chiếc ván cứu sinh giữa mùa nước lũ!...Thưa tiên sinh! Khi nào ông trút bỏ áo văn nghệ già trút bỏ áo văn nghệ trẻ, từ biệt em, từ biệt bạn bè, từ biệt thơ, từ biệt cuộc đời sướng vui và đau khổ này, để “trở về với rừng” - Điều mà lúc sống ông vẫn hằng khao khát - Xin gia quyến của ông, xin Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam, đứng đầu là nhà thơ Hữu Thỉnh, đừng có chôn tiên sinh Trương Vĩnh Tuấn yêu quý của chúng tôi ở nghĩa trang Văn Điển, vì ở đó đông đúc quá, bởi khi sống ông là người không thích bon chen!... Hãy đưa ông về nghĩa trang Trường Sơn lộng gió, để ông được nằm đúng đội hình “thẳng hàng ngang, thẳng hàng dọc” cùng đồng chí, đồng đội của ông đã anh dũng hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nơi mà ông đã nhiều lần đến thắp hương cúi đầu tưởng niệm, nơi mà tình yêu tổ quốc trong ông đã nhân lên gấp bội!...
Không biết khi đã “trở về rừng” nằm dưới nấm mồ cỏ xanh, phía trước là dòng sông chiều lững lờ chảy qua, tiên sinh Trương Vĩnh Tuấn có còn nhớ đến những con khỉ ở vườn Bách Thú nữa không? Câu hỏi này, từ khi đọc thơ ông cho đến nay, đêm đêm cứ làm tôi thao thức!... Quái lạ! Sao ông lại “ru” đời như thế nhỉ???...
Đ.N.K
ĐA ĐOAN NẶNG NỢ VỚI ĐỜI
VỚI NGƯỜI
(Đọc tập thơ “Tôi ấy mà” của Trương Vĩnh Tuấn
NXB, Hội Nhà văn - 2008)
Nguyễn Đức Thiện
Đêm
ấy khuya rồi bỗng nghe tiếng hát. Tiếng hát cứ miết vào tâm trạng tôi khiến tôi
nghe không sót lấy một lời. Một nghĩa trang vắng những ngôi mộ trắng xếp ngay
ngắn từng hàng. Không thấy sự chết chóc mà chỉ thấy sự trang nghiêm tôn kính
kèm một nỗi nhớ nhung da diết. Đó là những ngôi mộ liệt sĩ những người đã là đồng
đội của tôi của anh của tất cả những người một thời gọi chung là
lính. Là đồng đội của nhà thơ có lời trong bài hát Trương Vĩnh Tuấn và của nhạc
sỹ phổ nhạc có cái tên Nguyễn Giang cũng là một người lính năm xưa. Ngay đêm ấy
tôi nhắn tin cho Trương Vĩnh Tuấn như muốn cùng Tuấn gọi hương hồn anh em mình
về cùng nghe hát. Trương Vĩnh Tuấn nhắn tin bảo tôi: “khuya rồi để đồng đội
mình ngủ giấc ngàn thu tĩnh lặng”. Sâu sắc và xúc động mỗi lần Trương Vĩnh
Tuấn viết về những người lính không còn quay trở về được sau chiến tranh.
Thế mà hôm nay trong tay tôi là một tập thơ mới của Trương
Vĩnh Tuấn. Cái gì thế này: TÔI ẤY MÀ sao lại thờ ơ sao lại phớt đời sao lại
lạnh lùng đến thế. Tôi biết không một nhà thơ nào lại không muốn có cho mình một
tập thơ có cái tên thật kêu thật hấp dẫn. Thế mà Trương Vĩnh Tuấn lại chỉ là:
TÔI ẤY MÀ…
Rồi những bài thơ hiện dần ra trước mắt tôi. Không phải
Trương Vĩnh Tuấn không thơ ơ không lạnh lùng một chút nào. Nhưng là cái gì
thì đến hôm nay khi viết những dòng chữ này tôi mới thật sự hiểu rằng Trương
Vĩnh Tuấn không chỉ nỗi niềm mà còn có cả sự đa đoan trong thơ của mình. Cái kiếp
người nặng gánh tràn ra trong thơ của anh.
Này hãy nghe nhà thơ bộc bạch: rất nghèo chẳng có gì
đâu/ trái tim háo hức cái đầu si mê/ cái hồn cốt của nhà quê/ cái lo của lính vụng
về của dân/ vốn quen với những nợ nần/ vẫn ngong ngóng đợi bước chân em về/
không tin vào những câu thề/ vác dao chém đá để về với em (TỰ THÁN). Có
bao nhiêu tâm sự của đời mình Trương Vĩnh Tuân dãi bày ra cả đấy nên đừng trách
tôi dẫn nguyên một bài thơ của anh ra đây. Bỏ câu nào cũng không được.
Này nhé là hồn cốt nhà quê.
Ai cũng có một quê hương. Quê hương với người làm thơ nó gần
như là chốn để mà trở về. Nhưng cách trở về mỗi người mỗi khác. Có người thì lấy
thương nhớ làm trọng. Mỗi lần thương nhớ là cây đa bến nước bờ tre ruộng lúa… lại
hiển hiện trong thơ. Thường mỗi lần như thế hoặc là những câu thơ hứng khởi về
sự đổi mới quê mình hoặc là những câu thơ thương cho miền quê còn gian nan vất
vả túng thiếu và nghèo đói. Trương Vĩnh Tuấn không như vậy. Hình như trong đời
mỗi khi gặp trắc trở là anh nhớ đến chốn quê. Chốn quê với anh như một chỗ dựa
tâm linh. Anh về đó để có thể là một nơi ẩn nấp cũng có thể là một nơi để anh
xám hối và cũng có thể là nơi để giải thoát cho tâm trạng đang bấn búi của
mình. Nhà thơ tâm sự rằng có một lần anh về quê để thăm chút gốc đa gặp em đi hội
làng gặp chiếu chèo ngày xưa. Chao ôi thân phận nghèo cái nghèo bán chẳng ai
mua để có vài đồng chinh mua bông gạo đỏ để gửi theo hội làng.
Theo hội làng còn không được thì làm sao theo em. Thân phận con người lúc đó mới chua xót làm sao: “góp gom được có bấy nhiêu/ xòe tay toàn thấy những điều trớ trêu”. Tức là người thơ đã trải mấy can qua rồi đi khắp cùng thiên hạ rồi mong chỉ có chút ít vốn liếng thôi về tìm lại ngày xưa của quê nhà song cũng không có. Vốn liếng ấy không tính bằng tiền mà bằng cái nhớ cái thương về làng xưa quê xưa. Nhưng ngẫm cho cùng chính sự trăm trở đó lại là vốn liêng của nhà thơ. Anh có “Thì em là của mọi nhà” “chiếu chèo” “hoa gạo đỏ” “đò chiều” tức là anh giàu lằm rồi khá giả lắm rồi còn hơn là kẻ vô tình rời quê là quên hết thẩy hoặc có nhắc đến thì chê ỏng chê eo. Cái tình của người thơ với chốn quê làm người thơ sống sênh sang với cõi đời “toàn những trớ trêu”. Ở một bài thơ khác Trương Vĩnh Tuấn còn nặng lòng hơn. Làng có một cây gạo. Cây gạo ấy là chỗ vui chơi của trẻ con là nơi cho người lớn nghỉ ngơi là huyền thoại của một thời làng đánh giặc. Ấy thế mà một lần bom B52 dội xuống thiếu gỗ làm quan tài chôn người chết vì bom làng xin cây gạo vài cành sáng hôm sau lá gạo rụng vàng mặt đất nhựa cây tràn ra mặt đất giống như một dải khăn tang. Đau lắm buốn lắm cho cây gạo làng buồn lắm cho đất làng. Cây gạo chết làng như có một khoảng trống khôn cùng. Chưa đâu: “Bây giờ làng tôi thành thị xã/ nhà cao nên đất cứ hẹp dần/ lũ chúng tôi như người lẩn thẩn/ Cây gạo làng/ cây gạo làng tôi”. Xót xa chưa làng ơi. Nhà thơ đau đáu vì nỗi xót xa ấy mới thành nhà thơ. Cây gạo thôi là xót tới đáy lòng như đưa đám một kỷ niệm đẹp của hồn quê. Sau nước mắt tiễn đưa là sự ngẩn ngơ đến tê tái lòng.
Theo hội làng còn không được thì làm sao theo em. Thân phận con người lúc đó mới chua xót làm sao: “góp gom được có bấy nhiêu/ xòe tay toàn thấy những điều trớ trêu”. Tức là người thơ đã trải mấy can qua rồi đi khắp cùng thiên hạ rồi mong chỉ có chút ít vốn liếng thôi về tìm lại ngày xưa của quê nhà song cũng không có. Vốn liếng ấy không tính bằng tiền mà bằng cái nhớ cái thương về làng xưa quê xưa. Nhưng ngẫm cho cùng chính sự trăm trở đó lại là vốn liêng của nhà thơ. Anh có “Thì em là của mọi nhà” “chiếu chèo” “hoa gạo đỏ” “đò chiều” tức là anh giàu lằm rồi khá giả lắm rồi còn hơn là kẻ vô tình rời quê là quên hết thẩy hoặc có nhắc đến thì chê ỏng chê eo. Cái tình của người thơ với chốn quê làm người thơ sống sênh sang với cõi đời “toàn những trớ trêu”. Ở một bài thơ khác Trương Vĩnh Tuấn còn nặng lòng hơn. Làng có một cây gạo. Cây gạo ấy là chỗ vui chơi của trẻ con là nơi cho người lớn nghỉ ngơi là huyền thoại của một thời làng đánh giặc. Ấy thế mà một lần bom B52 dội xuống thiếu gỗ làm quan tài chôn người chết vì bom làng xin cây gạo vài cành sáng hôm sau lá gạo rụng vàng mặt đất nhựa cây tràn ra mặt đất giống như một dải khăn tang. Đau lắm buốn lắm cho cây gạo làng buồn lắm cho đất làng. Cây gạo chết làng như có một khoảng trống khôn cùng. Chưa đâu: “Bây giờ làng tôi thành thị xã/ nhà cao nên đất cứ hẹp dần/ lũ chúng tôi như người lẩn thẩn/ Cây gạo làng/ cây gạo làng tôi”. Xót xa chưa làng ơi. Nhà thơ đau đáu vì nỗi xót xa ấy mới thành nhà thơ. Cây gạo thôi là xót tới đáy lòng như đưa đám một kỷ niệm đẹp của hồn quê. Sau nước mắt tiễn đưa là sự ngẩn ngơ đến tê tái lòng.
Nhưng có lẽ hồn quê được Trương Vĩnh Tuấn thể hiện sâu sắc
hơn cả trong bài VIẾT SAU NGÀY NHẬP NGŨ. Tôi đọc đi đọc lại bài thơ. Ban đầu
tôi chỉ cho rằng đây là một câu chuyện của một gia đình. Nhưng càng
đọc càng thấy lẩn khuất sau đó một nỗi niềm sâu kín. Người ta thấy nỗi đau khi
mẹ đi lấy chồng để con thơ bơ vơ nức nở. Thấy khắc khoải tiếng ông tìm cháu
chìa chiếc lưng còng cho cháu làm giường ngủ trong cô đơn tuyệt vọng thấy nỗi
oan trái của ông trong cuộc cải cách ruộng đất ngày nào. Thấy gánh củi oằn vai
cậu thay mẹ nuôi cháu mồ côi. Thấy ngày ông được minh oan… Nhưng ngày ấy đứa
con đưa cháu vẫn khao khát nhớ về mẹ mà người mẹ “ không dám về thăm/ vì
nhà mình là địa chủ”. Rồi những ngày thơ ấu gian nan vẫn gào lên trong tâm
thức hai tiếng mẹ ơi. Mẹ ơi cả khi lấy máu viết đơn tình nguyện nhập ngũ khi đất
nước có chiến tranh. Từ biệt ông ngoại khi mộ đã xanh cỏ. Từ biệt cậu từ biết mọi
người trong hớn hở ngày ra đi nhưng trong lòng tự thú với một người thôi: “Con giấu đi những giọt nước mắt/ con biết sợ rồi mẹ ơi”. Đến thế dã là day
dứt lắm rồi. Đoạn kết như tiếng gào tiếng thét: “Đoàn tàu lầm lũi đưa con
vào phía Nam/ Sóng ở đâu mà cứ gầm lên/ bão từ nơi nào xô về xối xả/ tự trái
tim con kêu lên khe khẽ/ mẹ ơi con thương mẹ/ nhưng tàu trôi nhanh qua/ cuốn lời
con trôi theo”. Đọc mà muốn rơi nước mắt. Cuối cùng vẫn là mẹ thôi. Và hồn
quê chính là hồn mẹ. Dù có ở đâu lúc nào thì bao giờ mẹ cũng ở trong con. Đừng
gán cho Trương Vĩnh Tuấn cái ý: khêu gợi một thời đất nước có chiến tranh thanh
niên lớp lớp lên đường mà nên nói rằng: trước lúc vào trận sinh tử (mà lính
thì trận nào chẳng là trận sinh tử) người mà người lính nhớ đến trước
hết là mẹ. Đọc đoạn đầu thấy hình như là một lời trách móc mẹ bỏ con đi lấy chồng.
Nhưng càng đọc càng thấy nỗi yêu thương vô bờ bến với mẹ. Và nơi mẹ
sinh ra ta bao giờ cũng là nơi được ta gọi là quê là nơi suốt đời ta nhớ suốt đời
đau đáu nhìn về. Người thường đã vậy người thơ càng sâu sắc hơn.
Thế đấy hồn quê cứ vương vấn hoài trong thơ Trương Vĩnh Tuấn. Rồi
chính từ hồn quê mà Trương vĩnh Tuấn trở thành người trong cuộc giữa cuộc sống
đời thường mà ở đó có anh có mọi người mà ta có thể gọi chung là nhân dân. Tôi
nói thế vì tất cả những gì Trương Vĩnh Tuấn nói ra trong thơ nó rất gần gũi với
chúng ta. Đó là những nỗi lo. Không hiểu sao tôi cứ bị ám ảnh bởi mấy bài thơ
khi Trương Vĩnh Tuấn phải đi nằm bệnh viện. Trong đó có bài NHÂN DÂN mà có lúc
tôi đã có lời bình. Đến nay khi TÔI ẤY MÀ ra mắt bạn đọc mới thấy nỗi lo của
nhân dần hằn sâu trong thơ Trương Vĩnh Tuấn. Hãy đến với bài thơ có cái tên rất
gọn nhưng đọc đến tên bài thơ ai ai cũng giật mình: GIÁ. Cũng với
cách trình bày trực diện Trương Vĩnh Tuấn cho ta thấy hiện thực của một xã hội
đang được chuyển đông thao quy luật của cơ chế thị trường. Cái thời giá trị thặng
dư tha hồ lũy tiến biển chỉ bằng cái bàn tay; trời chẳng cao đất chẳng dày. Cái
mà bây giờ người ta thường nói ra cửa miệng là xã hội hóa đến cả trường học nhà
thương cũng xã hội hóa. Xã hội hóa đã làm nhiều “nhân dân” lo lắng
không nguôi. Lo bệnh tật lo con em đến trường… Rồi hàng loạt những thứ đóng góp
khác đến mức báo chí truyền hình có lúc phải lên tiếng giúp “nhân dân”. Nói
thực lòng tôi chẳng thấy vui chút nào khi thấy một đại gia bỏ ra vài chục tỷ để
mua một thứ không đáng giá như thế hoặc một số sim điện thoai cả mấy trăm triệu
đồng để gọi là làm từ thiện để được gọi là mạnh thường quân. Nó chỉ thể hiện sự
phân hóa giàu nghèo quá sâu sắc trong khi đó ở những vùng quê người nông dân
tháng tháng phải bỏ vào quỹ này quỹ nọ hai ba ngàn hoặc hai ba chục ngàn. Ít lắm
chẳng đáng với các đại gia nhưng nó lại vô cùng quý giá với những người nghèo.
Họ chẳng được tôn vinh như các đại gia giàu có. Trong lúc “tết năm nay mẹ
Việt Nam anh hùng được một trăm hai/ các chiến sĩ Trường Sa bình quân trăm rưởi”. Còn
ở vỉa hè (mà chuyện vỉa hè của đất nước mình nó có sác xuất chính xác ghê lắm)
người ta biết thu nhập của những vị này vị kia là bao nhiêu. Chỉ có điều có làm
cuộc kê khai thu nhập cá nhân thì họ cũng chỉ tương đương với công chức bậc
trung thôi. Nhân dân biết nhưng nói với ai đây: “dân nhún vai vì dân đang
vội/ mua bó hoa (cho Tết) sợ lát nữa không đủ tiền”. Trương Vĩnh Tuấn hô vang: nhân
dân muôn năm! Nhân dân muôn năm. Nhân dân chịu đựng quen rồi. Chịu đựng giá cứ
leo thang mà thu nhập dậm chân tại chỗ. Nhân dân quen rồi chịu đựng những thiệt
thòi Nhân dân cũng quen rồi “một sự nhịn là chín sự lành”. Vì thế
mà Trương Vĩnh Tuấn thốt lên: “mai sau trở lại kiếp người? có oan cũng chẳng
nửa lời kêu oan” (VÔ ĐỀ III). Câu thơ này đâu có dành cho Thị Kính càng
không dành cho Thị Mầu mà dành cho ai đó từng chịu đựng không chỉ nỗi oan mà
cho cả nỗi cực nhọc thiệt thòi. GIÁ không chỉ là cái giá trong mua bán mà còn
là cái giá phải trả cho sự mất mát hôm nay trong đó có cả sự mất mát lòng tin.
Cùng với bài NHÂN DÂN Trương Vĩnh Tuấn đã vào cuộc. Nhà báo chống tham nhũng đã
đành họ đấu tranh trực diện. Thế thì nhà thơ cũng phải vào trận thôi. Và Trương
Vĩnh Tuấn đã vào trận. Những câu thơ giản dị bên cạnh sự bóng gió mỉa mai là những
câu thơ chỉ thẳng vào những bất công hiển hiện bây giờ. “ kẻ ăn không hết
người lần không ra”. Kẻ ăn không hết là ai để thiên hạ phán xét. Còn người
lần không ra thì.. thôi không nên nói ra. Vì nói ra nhà thơ của chúng ta thêm
chạnh lòng. Cùng với bài NHÂN DÂN Trương Vĩnh Tuấn đã thể hiện rõ thái độ của
mình là đứng về phía nhân dân. Vì thế mà “ nhân dân muôn năm”. Ngay
cả trong những bài thơ tình bóng dáng nhân dân lâu lại hiện ra. Hiện ra trong
câu tự tình với người yêu khi bàn giao nhà cho con khi ngẫm ngợi một mình khi
tâm tình với những người bạn lính đã hy sinh. Nhân dân cũng chính là
một sự đa đoan trong thơ Trương Vĩnh Tuấn.
TÔI ẤY MÀ của Trương Vĩnh Tuấn còn một điều nữa không thể
không nhắc đến đó là tình cảm chan chứa mà anh dành cho bạn bè. Nếu tính thời
gian vật chất tôi và Trương Vĩnhh Tuấn gần nhau chắc được vài giờ đồng hồ. Còn
sau đó là điện thoại. Mà cước điện thoại bây giờ với cái túi của một
nhà văn như tôi chẳng dám gọi nhiều. Tối đa chừng ba phút là phải cúp máy cho
nhanh kẻo bội chi thì gay. Thế mà đọc thơ Trương Vĩnh Tuấn tôi tin mình có một
người bạn đáng tin cậy. Này là Trịnh Thanh Sơn: “thế gian chật/ bạn ít
người dưng nhiều/ đừng đi Sơn ơi lại sắp đến mùa hoa sữa… đừng khóc Sơn ơi/ tao
không chịu được nước mắt/ nào nắm tay tao thật chặt/ đừng đi Sơn ơi” (SƠN
ƠI). Ấy là ngày Trịnh Thanh Sơn sắp ra đi vĩnh viễn. Vẫn Trịnh Thanh
Sơn: “năm nay bạn thành người thiên cổ/ nâng chén rượu lên chẳng thấy
xuân” (NHỚ TRỊNH THANH SƠN). Mất một người bạn mà đến mức mất một mùa
xuân thì nỗi nhớ dằng dai đến mức nào. Có một lần qua điện thoại Trương Vĩnh Tuấn
đọc cho tôi nghe nguyên một bài thơ sau câu nói: Nhớ Trịnh Thanh Sơn qúa Thiện
ơi: “… một ly rượu một vần thơ/ đêm đêm tôi thức tôi chờ bạn
qua/ thế rồi bạn tới cười xòa/ bạn vui như thể trẻ ra mấy lần”. Thương thật
chắc là nhiều đêm chờ bạn bây giờ biết chờ bạn cũng không tới được nữa mới òa
ra được những câu thơ đầy nhớ nhung như thế. Với Trần Quốc Thực sự xót thương
có khác hơn. Cả mấy khổ thơ là mấy câu hỏi: “dấn thân làm thi sĩ. Để làm
gì Thực ơi… sao cũng là kiếp người/ mà bạn tôi khổ thế/ rượu hay là nước lã/ chẳng
giúp gì bạn tôi’. Với Nguyễn Bùi Vợi Trương Vĩnh Tuấn có điều day dứt: “bài học làm người thầy dạy em còn nguyên/ nhưng tóc em đã bạc/ em muốn truyền
cho con em mà em không biết cách/ sao điều này thày không dạy em/ sao điều này
thày không dạy em”. Dạy làm sao được Tuấn ơi. Để có thể làm người có biết
bao nhiêu cách thầy dạy Tuấn làm người thơ mà người thơ thì mấy ai học mà
thành. Hỏi thày làm gì mà tội nghiệp. Còn thơ cho Nguyễn Bá Thắng còn thơ cho Đặng
Hồng Thiệp còn thơ cho những người bạn cùng thời thơ cho bạn từng đứng trong
hàng ngũ quân đội nhân dân và thơ cho những người bạn chiến đấu đến nay chẳng
thể về.
Bây
giờ xin trở lại với bài thơ mang tên cho cả tập TÔI ẤY MÀ. Tôi tin một
điều rằng: không phải vô tình hay ai xúi khôn xui dại mà Trương Vĩnh Tuấn lấy
tên tập thơ của mình đơn giản và khô khan như vậy. Bởi cả bài thơ là một lời tự
thú. Mà mấy ai ở đời này dám tự thú như anh. Những cuộc tình làm say lả lướt giống
như uống rượu say mèm đến hôm nay mới nhận ra rằng lắm đắng nhiều cay. Rồi
trong cuộc tranh chấp để tồn tại tưởng mình khôn lắm ai dè mình là thứ dại dột
dại dột suốt một đời người. Đành buông một câu kiểu AQ: “ khôn một mình biết
để dại cho ai”.
Lại càng AQ hơn: “ bao tội lỗi là do tôi tất cả/ cao thượng sáng trong là của các người/ tôi ấy mà lại về với cỏ”. Chỉ có điều AQ của ông Lỗ Tấn chỉ muốn hơn người còn AQ của Trương Vĩnh Tuấn lại chịu thua thiệt trước tất cả. Thôi thì tôi dừng lại phía sau để các người đi lên phía trước. Tôi xin bó gối tôi xin đầu hàng.
Lại càng AQ hơn: “ bao tội lỗi là do tôi tất cả/ cao thượng sáng trong là của các người/ tôi ấy mà lại về với cỏ”. Chỉ có điều AQ của ông Lỗ Tấn chỉ muốn hơn người còn AQ của Trương Vĩnh Tuấn lại chịu thua thiệt trước tất cả. Thôi thì tôi dừng lại phía sau để các người đi lên phía trước. Tôi xin bó gối tôi xin đầu hàng.
Không
làm gì có chuyện ấy. Thơ anh còn nghĩ về quê hương bằng cả một tình cảm
chân thành còn sống với bạn bè hết mình và đặc biệt thấy hết trách
nhiệm của nhà thơ với nhân dân thì chẳng thấy anh dừng lại
lúc nào. Nhiều nợ nần nhiều đa đoan lắm. nợ nần đa đoan với đời với người với
xóm quê với người tình và với cả chính mình. Anh chưa thoát tục làm sao mà THIỀN
làm sao mà NAM MÔ A DI ĐÀ được.
Tao
vẫn thế tóc có phần hơi bạc
Vẫn
ngây ngô cho tới bến dại khờ
Kẻ
phản trắc đã đôi lần sờ gót
Vẫn
yêu và làm thơ
Có thế chứ. Có thế mới là Trương Vĩnh Tuấn - Nhà thơ.
N.Đ.T
B- MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU:
NHÂN DÂN
Hãy đi viện một lần
Để hiểu thế nào là nhân dân
Hãy đưa con đến trường
Để biết thế nào là chữ
Hãy ra chợ để thương những người vợ
Cầm đồng lương chúng ta mang về
Khi lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
Người lấy dân làm gốc
Người hằng mơ ước
Được chăm lo cho dân
Muốn hiểu dân
Hãy một lần đến bệnh viện
Muốn biết trăm năm trồng người
Hãy đi mua chữ cho con
Nhân Dân
Người bảo vệ chế độ cộng hoà
"Thóc không thiếu một cân
Quân không thiếu một người"
Khi giặc đến "còn cái lai quần cũng đánh"
Nhân Dân
Tiễn con ra mặt trận
Để rồi đời này truyền đời khác
Mong tìm được mộ thân nhân
Nhân Dân
Thu hẹp phần đất tổ tiên
Cho cuộc hồi sinh Tổ quốc
Bỏ qua những điều thua được
Sợ thò tay bóp nát trái tim mình
Hãy đến bệnh viện một lần
Hãy đưa con đến trường
Nhân dân đang đứng đó
Bài ca "Vì nhân dân quên mình"
Ai sẽ còn hát nữa
Để hiểu thế nào là nhân dân
Hãy đưa con đến trường
Để biết thế nào là chữ
Hãy ra chợ để thương những người vợ
Cầm đồng lương chúng ta mang về
Khi lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
Người lấy dân làm gốc
Người hằng mơ ước
Được chăm lo cho dân
Muốn hiểu dân
Hãy một lần đến bệnh viện
Muốn biết trăm năm trồng người
Hãy đi mua chữ cho con
Nhân Dân
Người bảo vệ chế độ cộng hoà
"Thóc không thiếu một cân
Quân không thiếu một người"
Khi giặc đến "còn cái lai quần cũng đánh"
Nhân Dân
Tiễn con ra mặt trận
Để rồi đời này truyền đời khác
Mong tìm được mộ thân nhân
Nhân Dân
Thu hẹp phần đất tổ tiên
Cho cuộc hồi sinh Tổ quốc
Bỏ qua những điều thua được
Sợ thò tay bóp nát trái tim mình
Hãy đến bệnh viện một lần
Hãy đưa con đến trường
Nhân dân đang đứng đó
Bài ca "Vì nhân dân quên mình"
Ai sẽ còn hát nữa
KHÔNG GIỜ
Lúc này là không giờ
Tôi biết lá còn đang thức
Nói chuyện với nhau được không
Chúng mình biết nhau từ trước
Khi tôi chào đời
Mẹ gom lá khô làm ổ
Tôi lớn lên trong màu xanh lá lúa
Và lời ru lá bưởi lá bòng
Khi lá xanh kết thành chùm
Lá đậu trên ba lô
Trên nóc hầm
Tôi yêu màu xanh của lá
Khi đồng đội tôi ngã xuống
Tôi che mặt nó bằng chùm lá xanh
Tôi nhả đạn vào quân thù
Tôi thấy chùm lá xanh cũng vẫy
Hỏi lá một câu thôi. Cớ sao mà xanh vậy
Mà cuộc đời cứ bạc trắng như vôi
Hỏi lá một câu thôi xanh cho ai vậy
Xanh vô biên vô lý ở trên đời
Tôi biết lá còn đang thức
Nói chuyện với nhau được không
Chúng mình biết nhau từ trước
Khi tôi chào đời
Mẹ gom lá khô làm ổ
Tôi lớn lên trong màu xanh lá lúa
Và lời ru lá bưởi lá bòng
Khi lá xanh kết thành chùm
Lá đậu trên ba lô
Trên nóc hầm
Tôi yêu màu xanh của lá
Khi đồng đội tôi ngã xuống
Tôi che mặt nó bằng chùm lá xanh
Tôi nhả đạn vào quân thù
Tôi thấy chùm lá xanh cũng vẫy
Hỏi lá một câu thôi. Cớ sao mà xanh vậy
Mà cuộc đời cứ bạc trắng như vôi
Hỏi lá một câu thôi xanh cho ai vậy
Xanh vô biên vô lý ở trên đời
GIÁ NHƯ
Giá như cái lưỡi không buông lời độc địa
Giá như loài người không còn tị hiềm
Giá như nền văn minh cứ tự nhiên như trời và đất
Thì chúng mình sẽ có với nhau một đứa con
Con gái phải không em
Hình dáng của em sẽ được lưu truyền mãi mãi
Cho hận thù sẽ tan thành bọt nước
Cho nhỏ nhen lột xác làm người
Giá như loài người không còn tị hiềm
Giá như nền văn minh cứ tự nhiên như trời và đất
Thì chúng mình sẽ có với nhau một đứa con
Con gái phải không em
Hình dáng của em sẽ được lưu truyền mãi mãi
Cho hận thù sẽ tan thành bọt nước
Cho nhỏ nhen lột xác làm người
Con gái phải không em
Cho đôi mắt đen tròn sẽ trở thành báu vật
Cho chiến tranh không bao giờ xảy ra
Cho đau khổ lặn vào nước mắt
Chúng ta chơi vơi giữa hai dòng được mất
Muốn trắng tay để được sống hết mình
Nhưng sợi dây đạo lý luân thường
Lôi cổ chúng ta trở về thực tại
Không thể có con với nhau được đâu anh ơi
Lời thị phi em không chịu nổi
Tình yêu vụng dại
Chúng mình dành cho nhau trong mênh mông kiếp người
Ngày mai, chúng ta sẽ để lại cho con gái của chúng ta bài ca dao
Em thấy không ở về phía mặt trời
Con gái của chúng ta khuôn mặt sáng ngời
Ngày mai em biết không con gái của chúng ta sẽ đặt bó hoa tigôn trên mộ của mẹ cha
Và một lời nguyện cầu hỡi nền văn minh loài người hãy giải phóng tình yêu
Biển bất lực gào, bão giông gào, loài người lạnh lùng duy trì những vết hằn đạo lý
Vì thế nên con gái của chúng ta chưa ra đời
Nhưng chúng ta đã có với nhau một đứa con gái
Cho đôi mắt đen tròn sẽ trở thành báu vật
Cho chiến tranh không bao giờ xảy ra
Cho đau khổ lặn vào nước mắt
Chúng ta chơi vơi giữa hai dòng được mất
Muốn trắng tay để được sống hết mình
Nhưng sợi dây đạo lý luân thường
Lôi cổ chúng ta trở về thực tại
Không thể có con với nhau được đâu anh ơi
Lời thị phi em không chịu nổi
Tình yêu vụng dại
Chúng mình dành cho nhau trong mênh mông kiếp người
Ngày mai, chúng ta sẽ để lại cho con gái của chúng ta bài ca dao
Em thấy không ở về phía mặt trời
Con gái của chúng ta khuôn mặt sáng ngời
Ngày mai em biết không con gái của chúng ta sẽ đặt bó hoa tigôn trên mộ của mẹ cha
Và một lời nguyện cầu hỡi nền văn minh loài người hãy giải phóng tình yêu
Biển bất lực gào, bão giông gào, loài người lạnh lùng duy trì những vết hằn đạo lý
Vì thế nên con gái của chúng ta chưa ra đời
Nhưng chúng ta đã có với nhau một đứa con gái
CÂY CHANH
Hôm qua mưa gió bão bùng
Cây chanh nhỏ gãy ngang chừng còn đâu...
Mong chi lấy quả gội đầu
Nụ tầm xuân chẳng gửi vào làm chi
Chanh cho cái lá xanh rì
Cho hương thơm cũng bởi vì lá chanh
Ba năm chanh chẳng có cành
Trách chi chanh, hãy trách mình bên chanh
Cây chanh nhỏ gãy ngang chừng còn đâu...
Mong chi lấy quả gội đầu
Nụ tầm xuân chẳng gửi vào làm chi
Chanh cho cái lá xanh rì
Cho hương thơm cũng bởi vì lá chanh
Ba năm chanh chẳng có cành
Trách chi chanh, hãy trách mình bên chanh
ĐẾN BIỂN NHỚ RỪNG
Ở với rừng tôi hiểu biển là bao
Nếu đêm nay không thức cùng sóng vỗ
Lòng đã quen gió cả
Thẫn thờ trước mênh mông
Chưa kịp đưa tay nâng quầng bọt mặn
Sóng đã vô tình kéo lui rất xa
Không phải rừng đâu biển mặn đấy mà
Tôi chợt tỉnh khi con thuyền chao động
Nếu đêm nay không thức cùng sóng vỗ
Lòng đã quen gió cả
Thẫn thờ trước mênh mông
Chưa kịp đưa tay nâng quầng bọt mặn
Sóng đã vô tình kéo lui rất xa
Không phải rừng đâu biển mặn đấy mà
Tôi chợt tỉnh khi con thuyền chao động
NGỌN GIÓ NHƯ LÀ
Cứ như một ngọn gió lành
Thổi vào anh, thổi vào anh ngỡ ngàng
Làm rơi những chiếc lá vàng
Rơi luôn chùm nắng xiên ngang trời chiều
Gió không nâng nổi cánh diều
Cho con sông với cây cầu bâng khuâng
ơ kìa ngọn cỏ đẫm sương
Phải chăng gió tự muôn phương tụ về
Như là, ngọn gió như là
Vừa xanh mà lại vừa xa vừa gần
Phải rồi gió mới dừng chân
Cứ trông đồng lúa tần ngần xôn xao
Bây giờ gió đã lên cao
Mà xem có đám mây nào nhởn nhơ
Ngồi buông viết một vần thơ
Hỏi thăm ngọn gió bây giờ ở đâu
Thổi vào anh, thổi vào anh ngỡ ngàng
Làm rơi những chiếc lá vàng
Rơi luôn chùm nắng xiên ngang trời chiều
Gió không nâng nổi cánh diều
Cho con sông với cây cầu bâng khuâng
ơ kìa ngọn cỏ đẫm sương
Phải chăng gió tự muôn phương tụ về
Như là, ngọn gió như là
Vừa xanh mà lại vừa xa vừa gần
Phải rồi gió mới dừng chân
Cứ trông đồng lúa tần ngần xôn xao
Bây giờ gió đã lên cao
Mà xem có đám mây nào nhởn nhơ
Ngồi buông viết một vần thơ
Hỏi thăm ngọn gió bây giờ ở đâu
ĐỢI EM
Không ai đi với em
Mưa đêm nay sậm hạt
Ngọn cỏ mềm ngơ ngác
Con dế mèn râm ran
Không ai đi đón em
Cây rầm rì phố vắng
Ngọn đèn đường chao động
Bánh xe tròn lang thang
Anh xô đợt bão rừng
Thương em nhiều lắm đấy
Đợi em hoài không thấy
Trăng lưỡi liềm mỏng tang
Như lòng anh bâng khuâng
Tự hỏi thầm với gió
Bao giờ, bao giờ nhỉ
Hoa sữa thơm bên đường
Kể từ khi có anh
Em vẫn về lặng lẽ
Kể từ khi có anh
Cuộc đời em vẫn thế
Mưa đêm nay sậm hạt
Ngọn cỏ mềm ngơ ngác
Con dế mèn râm ran
Không ai đi đón em
Cây rầm rì phố vắng
Ngọn đèn đường chao động
Bánh xe tròn lang thang
Anh xô đợt bão rừng
Thương em nhiều lắm đấy
Đợi em hoài không thấy
Trăng lưỡi liềm mỏng tang
Như lòng anh bâng khuâng
Tự hỏi thầm với gió
Bao giờ, bao giờ nhỉ
Hoa sữa thơm bên đường
Kể từ khi có anh
Em vẫn về lặng lẽ
Kể từ khi có anh
Cuộc đời em vẫn thế
Em đi trong tư lự
Trong cái guồng xe quay
Giận ông trời đêm nay
Sao lại buông nặng hạt
Gần nhau trong gang tấc
Thương nhau từng tấc gang
Cái giọt mưa lang thang
Sẻ cùng em không được
Đêm nay mưa chưa dứt
Đêm mai mưa có về
Anh đón em ở nhà
Đợi em trong thăm thẳm
Yêu em nhiều, yêu lắm
Nên nỗi đợi dài ra
Trong giấc ngủ đêm hè
Anh xin làm ngọn gió
Để xua đi tư lự
Để xua đi nhọc nhằn
Và anh biết rằng anh
Phải tự mình làm gió
Trong cái guồng xe quay
Giận ông trời đêm nay
Sao lại buông nặng hạt
Gần nhau trong gang tấc
Thương nhau từng tấc gang
Cái giọt mưa lang thang
Sẻ cùng em không được
Đêm nay mưa chưa dứt
Đêm mai mưa có về
Anh đón em ở nhà
Đợi em trong thăm thẳm
Yêu em nhiều, yêu lắm
Nên nỗi đợi dài ra
Trong giấc ngủ đêm hè
Anh xin làm ngọn gió
Để xua đi tư lự
Để xua đi nhọc nhằn
Và anh biết rằng anh
Phải tự mình làm gió
HỎI
Hỏi rừng sao cứ mãi xanh
Hỏi sông sao cứ lượn quanh bãi bờ
Hỏi trăng khi tỏ khi mờ
Hôm qua biển động vật vờ sóng xô
Mải vui quên cả hẹn hò
Quá buồn chẳng nhớ câu thơ thuở nào
Trách rằng đất thấp trời cao
Bao nhiêu hờn giận trút vào thinh không
Người ta trồng cải lấy ngồng
Tôi về dựng cái cầu vồng đón mưa
Ở sao cho thế gian vừa
Thinh không gõ mõ vào chùa tu thân.
Hỏi sông sao cứ lượn quanh bãi bờ
Hỏi trăng khi tỏ khi mờ
Hôm qua biển động vật vờ sóng xô
Mải vui quên cả hẹn hò
Quá buồn chẳng nhớ câu thơ thuở nào
Trách rằng đất thấp trời cao
Bao nhiêu hờn giận trút vào thinh không
Người ta trồng cải lấy ngồng
Tôi về dựng cái cầu vồng đón mưa
Ở sao cho thế gian vừa
Thinh không gõ mõ vào chùa tu thân.
BIẾT RỒI
Biết rồi chẳng nói ra đâu
Để cho hoa thắm để trầu còn cay
Biết rồi thả gió cho bay
Thả sông cho chảy thả ngày vào đêm
Biết rồi chẳng muốn biết thêm
Cởi ra cái sợi chỉ mềm buộc tay
Biết rồi uống rượu cho say
Thế là không biết là bay nỗi buồn
Để cho hoa thắm để trầu còn cay
Biết rồi thả gió cho bay
Thả sông cho chảy thả ngày vào đêm
Biết rồi chẳng muốn biết thêm
Cởi ra cái sợi chỉ mềm buộc tay
Biết rồi uống rượu cho say
Thế là không biết là bay nỗi buồn
VŨ ĐÌNH MINH
- Họ và tên khai sinh: Vũ Đình Minh
- Sinh năm: 1944
- Quê quán: Xã Tráng Việt, Mê Linh, Hà Nội
- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 1984)
- Tác phẩm chính đã xuất bản:
* Lời từ đất (Thơ in chung, 1973)
* Gió đồng (Thơ, 1978)
* Mưa trước cửa nhà (Thơ, 1982)
* Trong mưa (Thơ in chung, 1987)
* Mưa tiếp ở thượng nguồn (Tập truyện ngắn, 1985)
* Mùa cạn (Tiểu thuyết, 1988)
* Trả giá cuối cùng (Tiểu thuyết, 1990)
* Cánh diều nằm trên cỏ (Truyện thiếu nhi, 1987)
* Một giờ làm quan (Tập truyện, 2006)
- Giải thưởng văn học:
* Giải thưởng 5 năm văn học của Hội văn nghệ Hà Nội(1981-1985)
và (1985-1990)
* Giải ba cuộc thi truyện ngắn Tạp chí VNQĐ, 1982
* Giải ba cuộc thi truyện ngắn Báo Văn Nghệ, 1984
- Suy nghĩ về nghề văn:
Tôi chán ghét những người sống
tẻ nhạt, không có một niềm say mê gì. Bởi thế, từ nhỏ, tôi đã chọn cho mình một
niềm say mê, đó là văn học. Bản tính luôn cảm thấy mình cô đơn, nên văn học đã
giúp tôi bộc lộ những cảm xúc của mình với bè bạn, đồng loại và đỡ thấy đơn
côi. Tôi chỉ có một tham vọng là được sống hòa nhập với mọi người, được mọi người
hiểu mình trong một khoảng thời gian ngắn ngủi cùng tồn tại với nhau trên trái
đất. Tham vọng đó, văn học dễ giúp tôi thể hiện hơn cả.
A- TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ
DUNG DỊ VŨ ĐÌNH MINH
Chu Nhạc
Tôi biết đến Vũ Đình Minh, trước hết là con người, chứ không
phải văn thơ, mặc dù anh là hội viên của cả hai hội danh giá, Hội Nhà văn Hà Nội
và Hội Nhà văn Việt Nam. CHIA SẺ TIN BÀI KHÁC Mong muốn 'Hò khoan Lệ Thuỷ'
thành di sản thế giới Ấp Hà Đông trên Đà Lạt, đất của con trăn có sừng Khánh
Hòa xin tổ chức Hoa hậu Hoàn Vũ 2017 tại Nha Trang 'Thời cuộc không cho phép
chúng ta ỷ lại, vô cảm nữa!' Đặc vụ Trung Quốc bí mật vào Mỹ săn lùng những kẻ
trốn chạy Xem thêm Vượng Cốt Đan - Giảm, ngừa thái hóa khớp khoixuongkhop.com Hỗ
trợ điều trị các bệnh xương khớp,hiệu quả hơn, an toàn hơn. Mua ngay! Tiếng Anh123
giúp học sinh giỏi tiếng Anhwww.TiengAnh123.com Tiếng Anh Online cho học sinh
phổ thông - Ôn tập kiến thức - Học 4 kỹ năng - Hiệu quả Tôi biết đến Vũ Đình
Minh, trước hết là con người, chứ không phải văn thơ, mặc dù anh là hội viên của
cả hai hội danh giá, Hội Nhà văn Hà Nội và Hội Nhà văn Việt Nam. Với anh, gọi
là nhà văn, nhà thơ đều được. Hơn thế nữa, những năm trước khi nghỉ hưu, anh
còn khá thành công với tư cách là tác giả kịch bản - đạo diễn của xê-ri phim về
chân dung văn học nghệ thuật các tác gia tên tuổi của Việt Nam, được chiếu định
kỳ trên HTV và trên VTV3. Nhà văn, nhà thơ Vũ Đình Minh Về khía cạnh nào đó,
anh vừa là người anh, người bạn vong niên, vừa là người thày truyền nghề, người
bạn đồng nghiệp của tôi... Trước khi về Hà Nội làm báo chuyên nghiệp, tôi có gần
bảy năm hành nghề kỹ sư canh nông tại miền Tây Nam bộ.Vừa làm nghề, vừa
tập tọng viết báo nghiệp dư. Thêm nữa, sẵn có chút máu văn chương trong người từ
nhỏ, được thổi bùng bởi Trần Đăng Khoa nổi tiếng, khi cùng đội tuyển của Hải
Hưng với nhau, tham dự kỳ thi học sinh giỏi văn lớp 10/10 toàn miền Bắc niên
khóa 1974 - 1975, nên tôi còn túc tắc làm thơ, viết truyện ngắn. Hàng năm, mỗi
kỳ nghỉ phép ra Bắc, tôi hay đi theo người bạn thân là Trịnh Bá Ninh, khi đó là
phóng viên của Báo Nông nghiệp Việt Nam, thăm nom, giao du với một số nhà văn,
nhà thơ thuộc Nhóm Ong, trong đó có Vũ Đình Minh. Ngày đó, Vũ Đình Minh công
tác ở Ban Văn nghệ, Đài Phát thanh Hà Nội. Anh sống một mình tại nhà riêng, căn
nhà cấp 4 ọp ẹp có chút sân vườn, ẩn sâu trong ngõ làng nơi chân dốc phố Lò Đúc
phía ô Đông Mác. Căn nhà ấy, trước thuộc đất làng, sau này thành ngõ phố, gia
đình anh gom góp bỏ tiền ra mua khi anh chuyển công tác từ Mê Linh về Đài phát
thanh Hà Nội. Vũ Đình Minh sinh năm 1944, tuổi Giáp Thân, quê xã Tráng Việt,
huyện Mê Linh, vùng đất xưa từng là kinh đô của Hai Bà Trưng, sau này thuộc đất
Vĩnh Phúc, rồi chuyển thành huyện ngoại ô của Hà Nội. Anh tốt nghiệp khoa văn Đại
học Sư phạm Hà Nội, làm thày giáo dạy văn nhiều năm ở vùng núi Cao Bằng, rồi về
dạy cấp 3 Đoan Hùng (Vĩnh Phú). Anh bén duyên thơ văn khi còn làm thày giáo dạy
văn, có thơ văn đăng báo nhiều, nên sau chuyển sang hẳn Hội Văn học nghệ thuật
tỉnh Vĩnh Phú một thời gian, rồi theo lời mời về công tác tại Đài Phát thanh Hà
Nội. Sống một mình ở phố, anh phải bươn chải nuôi mình và vợ con ở quê. Có được
căn nhà như vậy, khi đó đã là niềm hạnh phúc và ao ước của bao người nhập cư về
Hà Nội. Đầu năm 1987, tôi xin nghỉ không lương, ra Bắc tìm việc mới. Thời gian
đó, Trịnh Bá Ninh bận việc làm báo, tôi rảnh rỗi hơn, lang thang đây đó nên hay
đến nhà anh, kể cả sau này, ngôi nhà ấy có thêm vợ chồng người em trai ruột ở
cùng. Tôi nhớ, từ cuối phố Lò Đúc, đường xuống ngõ vào nhà anh phải qua một dốc
cầu thang dài gạch xây cũ kỹ, hai bên mép có lối để dắt xe. Mỗi lần đến, nếu
anh có nhà, hình ảnh tôi thường gặp là căn nhà lợp ngói xềnh xoàng lờ mờ trong
ánh sáng điện vàng ệch, nơi chiếc bàn thấp chân kê giữa phòng khách đặt chiếc
máy chữ cũ mèm đang đánh dở và bên cạnh là chén rượu quốc lủi và đĩa nhỏ lạc
rang. Vũ Đình Minh đang sáng tác. Anh có lối viết trực tiếp, không dùng bút viết
thảo nháp trên giấy nữa, mà gõ thẳng máy chữ, cậm cạnh nhẫn nại gõ, vừa sáng
tác vừa nhấp rượu với lạc rang. Sau này, tôi học ở anh cách làm việc này.Thấy
tôi, anh tạm dừng việc, tiếp khách. Thường là tôi mang đến một vài sáng tác văn
xuôi của mình, nhờ anh đọc, góp ý, và nếu được thì anh xếp vào chương trình đọc
chuyện của Đài Hà Nội. Hôm nào, thấy anh đang say việc và có vẻ viết được, tôi
biết ý không chơi lâu. Có hôm, viết bí, lại tâm trạng chi đó muốn giãi bày, anh
giữ tôi lại, rót rượu mời uống, chuyện nọ dọ chuyện kia. Và những lúc như thế,
tôi biết thêm về hoàn cảnh gia đình anh, về đường đời, sự nghiệp và quan niệm
sáng tác của anh.
Nhà bên quê Mê Linh, nông thôn nghèo với những hủ tục, định kiến xưa cũ, gia đình mà anh là ông chủ, nào mẹ già, nào chị gái, các em, vợ và con, ai cũng yêu thương cả, song không phải lúc nào cũng cơm lành canh ngọt. Còn nghiệp cầm bút ư? Trước tiên, đã là việc làm công ăn lương rồi, sau mới đến nghệ thuật, và nữa, là để có nhuận bút, thêm thắt, đặng giúp vợ nuôi con. Cuối năm 1987, tôi chuyển hẳn ra Bắc, về đầu quân tại Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), trở thành đồng nghiệp làm báo phát thanh với Vũ Đình Minh. Khi ấy, anh em gặp nhau thường xuyên hơn. Tuy bận việc chính làm báo ở VOV, song tôi cộng tác thường xuyên với Ban Văn nghệ Đài Hà Nội do anh phụ trách. Những lúc bù khú, có hơi men, anh tủm tỉm cười đùa tôi: "Chú mày bây giờ oách hơn anh đấy nhé. Chú ở đài trung ương, còn ta, dù là Hà Nội thủ đô đi chăng nữa thì cũng chỉ là đài địa phương thôi". Vũ Đình Minh hóm hỉnh nheo nheo đôi mắt cười, làm khuôn mặt sớm héo khô của anh rạng rõ ra: “Anh phát bài của chú, chú thì có thêm chút thu nhập dù nhuận bút đài anh bèo bọt... Với lại, cũng là để có cái cớ anh em mình gặp nhau, nâng lên đặt xuống thế này... còn lấy cảm hứng mà viết chứ...”. Có lần, cả tôi, anh và Trịnh Bá Ninh đều ngà ngà, Vũ Đình Minh chỉ tay vào tôi, bỗ bã: “Này thằng Ninh, thằng Nhạc có người yêu chưa? Nếu có rồi thì thôi... còn như chưa thì để tao làm mối... Chỗ tao, có mấy cháu gái được lắm, xinh gái, ngoan ngoãn, con nhà tử tế...". Về công tác ở Đài TNVN, tôi ổn định được công việc, lại là việc yêu thích, song đời sống thì khó khăn gấp bội. Cơ chế xóa bao cấp, khởi đầu bằng việc bỏ sổ gạo, mở cho người ta bung ra làm ăn, song là với ai đó, chứ đâu với mình, lương còm, nhà cửa chưa có, nằm bàn cơ quan, tất tần tật đều trông vào đồng lương, thì quả là khó khăn. Tôi lao vào viết văn, viết báo vặt, thôi thì đủ thể loại, miễn có bài cộng tác với tất thảy tờ báo, tạp chí ngành nào có thể được. Vũ Đình Minh bày vẽ, bài trước tiên dùng ở mục văn nghệ đài anh, sau tiếp phát văn nghệ đài tôi, rồi đến gửi cho một báo nào đó. “Nhuận bút các nơi đều còm cõi cả, nhưng gom góp lại thì cũng tàm tạm. Gọi là phần nào đỡ thiệt thòi cho công sức lao động nhà văn... Làm thế, vạn bất đắc dĩ, có biết thì cũng chẳng ai người ta nỡ trách mình đâu, chú em ạ", anh phảy tay cười xòa, nháy mắt tinh quái, bảo tôi vậy. Tôi chỉ còn biết cười buồn, mà lòng đượm sự biết ơn. Ngay đến cái sự tinh ranh thì anh cũng rất đỗi chân thành. Về văn chương, Vũ Đình Minh không chủ trương chọn lựa thể loại nào. Anh viết đủ loại, văn xuôi thì truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện ký, bút ký, kịch truyền thanh, truyện phim, và thơ. Để viết được như vậy, trước hết phải thừa nhận, anh là người đa tài; thứ nữa, có lẽ là do tâm lý kiếm sống của thời bao cấp khó khăn, nên báo đài nào đặt hàng gì, thấy mình có khả năng đáp ứng được, là anh nhận lời viết ngay. Vừa có bài đăng phát, có thêm chút nhuận bút nuôi gia đình, lâu ngày đủ vốn liếng thì tập hợp lại in thành sách. Nhất cử lưỡng tiện. Mà đâu riêng mình anh, điểm lại, nhiều nhà văn ở ta thời bao cấp đều làm vậy. Song các tác phẩm của anh, cả bạn đọc và giới cầm bút đều thấy, Vũ Đình Minh thực sự thể hiện được thế mạnh của mình qua thơ và truyện ký, bút ký. Về thơ, Vũ Đình Minh là tác giả của mấy tập thơ, song người ta biết đến anh chủ yếu qua tập thơ “Mưa trước cửa nhà" được xuất bản từ mấy chục năm trước. Tập này, anh tập hợp sáng tác từ thời còn dạy học ở miền núi Cao Bằng và khi về Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Vĩnh Phú. Văn là người, chí ít đúng với Vũ Đình Minh qua thơ. Thơ anh dung dị, tình cảm, đôn hậu, gần với ca dao, không có đột phá gì mới. Ở mỗi bài, mỗi câu, bạn đọc có thể thấy được tình cảm của anh gửi gắm trên từng con chữ. Giờ đây, hễ nhắc đến Vũ Đình Minh, người ta nhớ mấy bài: “Kỷ niệm ngày mưa”, “Mưa trước cửa nhà”, “Hội Lim” và “Bây giờ là mùa thu"... Với riêng tôi, những câu thơ của anh, mỗi đọc mỗi nao lòng: “Sẽ đến ngày tóc mình ngả vào thu/ Hoa bèo tím chẳng mỏng manh như trước/ Chim nhạn sẽ bay về thưa thớt/ Cay đắng phai dần thành những bâng khuâng..." (Bây giờ là mùa thu). Thơ anh nặng những nỗi niềm người, đồng cảm, sẻ chia, an ủi: “Hát đắm say cho đứt ruột gan người/ Hát như thể cuộc đời toàn nhàn hạ/ Chỉ để yêu, để nhớ, để thương thôi/ Xin gió lạnh đừng lật nghiêng vành nón/ Kẻo tôi nhìn thấy nước mắt em rơi..." (Hội Lim). Và nặng nỗi niềm ta: “Tuổi của mình trầm tĩnh trước mưa êm/ Để mưa thấm vào lòng bao ký ức/ Mưa làm cũ bao nhiêu ngày rét mướt/ Tất cả như là mới sinh ra…/ Giá tóc mẹ cũng thể xanh lên được/ Mưa ơi mưa, mưa rơi trước sân nhà” (Mưa trước cửa nhà)... Về văn xuôi, Vũ Đình Minh có “Mùa cạn" (tiểu thuyết), “Trả giá cuối cùng” (tiểu thuyết), “Ông già ngồi dưới vòm cây gạo" (tập truyện ngắn), "Một giờ làm quan" (tập truyện ngắn), “Đi qua bão tố" (truyện ký), “Chiếc diều nằm trên cỏ" (tập truyện thiếu nhi)... Song quả thật, cứ nói đến văn xuôi Vũ Đình Minh, là tôi nhớ đến truyện ngắn “Ông già ngồi dưới vòm cây gạo" của anh, Sau này, anh đặc biệt thành công, được mọi người ghi nhận và yêu thích là xê-ri phóng sự truyền hình chân dung các nhà văn, nhà thơ, nhà hoạt động nghệ thuật thế hệ tiền bối của Việt Nam. Có lẽ, không riêng gia đình các nghệ sĩ được Vũ Đình Minh và đồng nghiệp ở Đài Phát thanh & truyền hình Hà Nội ghi hình, khắc họa, mà cả Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam biết ơn anh về điều đó, bởi giờ đây, họ và chính tác giả Vũ Đình Minh, đã là “người muôn năm cũ”...
Nhà bên quê Mê Linh, nông thôn nghèo với những hủ tục, định kiến xưa cũ, gia đình mà anh là ông chủ, nào mẹ già, nào chị gái, các em, vợ và con, ai cũng yêu thương cả, song không phải lúc nào cũng cơm lành canh ngọt. Còn nghiệp cầm bút ư? Trước tiên, đã là việc làm công ăn lương rồi, sau mới đến nghệ thuật, và nữa, là để có nhuận bút, thêm thắt, đặng giúp vợ nuôi con. Cuối năm 1987, tôi chuyển hẳn ra Bắc, về đầu quân tại Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), trở thành đồng nghiệp làm báo phát thanh với Vũ Đình Minh. Khi ấy, anh em gặp nhau thường xuyên hơn. Tuy bận việc chính làm báo ở VOV, song tôi cộng tác thường xuyên với Ban Văn nghệ Đài Hà Nội do anh phụ trách. Những lúc bù khú, có hơi men, anh tủm tỉm cười đùa tôi: "Chú mày bây giờ oách hơn anh đấy nhé. Chú ở đài trung ương, còn ta, dù là Hà Nội thủ đô đi chăng nữa thì cũng chỉ là đài địa phương thôi". Vũ Đình Minh hóm hỉnh nheo nheo đôi mắt cười, làm khuôn mặt sớm héo khô của anh rạng rõ ra: “Anh phát bài của chú, chú thì có thêm chút thu nhập dù nhuận bút đài anh bèo bọt... Với lại, cũng là để có cái cớ anh em mình gặp nhau, nâng lên đặt xuống thế này... còn lấy cảm hứng mà viết chứ...”. Có lần, cả tôi, anh và Trịnh Bá Ninh đều ngà ngà, Vũ Đình Minh chỉ tay vào tôi, bỗ bã: “Này thằng Ninh, thằng Nhạc có người yêu chưa? Nếu có rồi thì thôi... còn như chưa thì để tao làm mối... Chỗ tao, có mấy cháu gái được lắm, xinh gái, ngoan ngoãn, con nhà tử tế...". Về công tác ở Đài TNVN, tôi ổn định được công việc, lại là việc yêu thích, song đời sống thì khó khăn gấp bội. Cơ chế xóa bao cấp, khởi đầu bằng việc bỏ sổ gạo, mở cho người ta bung ra làm ăn, song là với ai đó, chứ đâu với mình, lương còm, nhà cửa chưa có, nằm bàn cơ quan, tất tần tật đều trông vào đồng lương, thì quả là khó khăn. Tôi lao vào viết văn, viết báo vặt, thôi thì đủ thể loại, miễn có bài cộng tác với tất thảy tờ báo, tạp chí ngành nào có thể được. Vũ Đình Minh bày vẽ, bài trước tiên dùng ở mục văn nghệ đài anh, sau tiếp phát văn nghệ đài tôi, rồi đến gửi cho một báo nào đó. “Nhuận bút các nơi đều còm cõi cả, nhưng gom góp lại thì cũng tàm tạm. Gọi là phần nào đỡ thiệt thòi cho công sức lao động nhà văn... Làm thế, vạn bất đắc dĩ, có biết thì cũng chẳng ai người ta nỡ trách mình đâu, chú em ạ", anh phảy tay cười xòa, nháy mắt tinh quái, bảo tôi vậy. Tôi chỉ còn biết cười buồn, mà lòng đượm sự biết ơn. Ngay đến cái sự tinh ranh thì anh cũng rất đỗi chân thành. Về văn chương, Vũ Đình Minh không chủ trương chọn lựa thể loại nào. Anh viết đủ loại, văn xuôi thì truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện ký, bút ký, kịch truyền thanh, truyện phim, và thơ. Để viết được như vậy, trước hết phải thừa nhận, anh là người đa tài; thứ nữa, có lẽ là do tâm lý kiếm sống của thời bao cấp khó khăn, nên báo đài nào đặt hàng gì, thấy mình có khả năng đáp ứng được, là anh nhận lời viết ngay. Vừa có bài đăng phát, có thêm chút nhuận bút nuôi gia đình, lâu ngày đủ vốn liếng thì tập hợp lại in thành sách. Nhất cử lưỡng tiện. Mà đâu riêng mình anh, điểm lại, nhiều nhà văn ở ta thời bao cấp đều làm vậy. Song các tác phẩm của anh, cả bạn đọc và giới cầm bút đều thấy, Vũ Đình Minh thực sự thể hiện được thế mạnh của mình qua thơ và truyện ký, bút ký. Về thơ, Vũ Đình Minh là tác giả của mấy tập thơ, song người ta biết đến anh chủ yếu qua tập thơ “Mưa trước cửa nhà" được xuất bản từ mấy chục năm trước. Tập này, anh tập hợp sáng tác từ thời còn dạy học ở miền núi Cao Bằng và khi về Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Vĩnh Phú. Văn là người, chí ít đúng với Vũ Đình Minh qua thơ. Thơ anh dung dị, tình cảm, đôn hậu, gần với ca dao, không có đột phá gì mới. Ở mỗi bài, mỗi câu, bạn đọc có thể thấy được tình cảm của anh gửi gắm trên từng con chữ. Giờ đây, hễ nhắc đến Vũ Đình Minh, người ta nhớ mấy bài: “Kỷ niệm ngày mưa”, “Mưa trước cửa nhà”, “Hội Lim” và “Bây giờ là mùa thu"... Với riêng tôi, những câu thơ của anh, mỗi đọc mỗi nao lòng: “Sẽ đến ngày tóc mình ngả vào thu/ Hoa bèo tím chẳng mỏng manh như trước/ Chim nhạn sẽ bay về thưa thớt/ Cay đắng phai dần thành những bâng khuâng..." (Bây giờ là mùa thu). Thơ anh nặng những nỗi niềm người, đồng cảm, sẻ chia, an ủi: “Hát đắm say cho đứt ruột gan người/ Hát như thể cuộc đời toàn nhàn hạ/ Chỉ để yêu, để nhớ, để thương thôi/ Xin gió lạnh đừng lật nghiêng vành nón/ Kẻo tôi nhìn thấy nước mắt em rơi..." (Hội Lim). Và nặng nỗi niềm ta: “Tuổi của mình trầm tĩnh trước mưa êm/ Để mưa thấm vào lòng bao ký ức/ Mưa làm cũ bao nhiêu ngày rét mướt/ Tất cả như là mới sinh ra…/ Giá tóc mẹ cũng thể xanh lên được/ Mưa ơi mưa, mưa rơi trước sân nhà” (Mưa trước cửa nhà)... Về văn xuôi, Vũ Đình Minh có “Mùa cạn" (tiểu thuyết), “Trả giá cuối cùng” (tiểu thuyết), “Ông già ngồi dưới vòm cây gạo" (tập truyện ngắn), "Một giờ làm quan" (tập truyện ngắn), “Đi qua bão tố" (truyện ký), “Chiếc diều nằm trên cỏ" (tập truyện thiếu nhi)... Song quả thật, cứ nói đến văn xuôi Vũ Đình Minh, là tôi nhớ đến truyện ngắn “Ông già ngồi dưới vòm cây gạo" của anh, Sau này, anh đặc biệt thành công, được mọi người ghi nhận và yêu thích là xê-ri phóng sự truyền hình chân dung các nhà văn, nhà thơ, nhà hoạt động nghệ thuật thế hệ tiền bối của Việt Nam. Có lẽ, không riêng gia đình các nghệ sĩ được Vũ Đình Minh và đồng nghiệp ở Đài Phát thanh & truyền hình Hà Nội ghi hình, khắc họa, mà cả Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam biết ơn anh về điều đó, bởi giờ đây, họ và chính tác giả Vũ Đình Minh, đã là “người muôn năm cũ”...
C.N
NHÀ THƠ VŨ ĐÌNH MINH VỚI HỘI LIM
Vũ Bình Lục
“Hội Lim” cô đọng và giản dị ở lời, ở câu. Cấu tứ chặt và tình thơ chân thật, gợi
nhiều cảm xúc. Hai nhân vật trữ tình chủ thể, gần mặt mà cách lời. Nhưng có những
lời ở ngoài lời, những ý ở ngoài ý, thẳm sâu, khiến người ta phải chạnh lòng
nghĩ ngợi.
HỘI LIM
Tôi trót biết đời riêng em trắc trở
Nên hội này xem hát chẳng vô tư
Nón thúng quai thao em thẹn thò che má
Hát đắm say cho đứt ruột gan người
Hát như thể cuộc đời toàn nhàn hạ
Chỉ để yêu, để nhớ, để thương thôi
Xin gió lạnh đừng lật nghiêng vành nón
Kẻo tôi nhìn thấy nước mắt em rơi…
Vũ
Đình Minh
Hội Lim Kinh Bắc, một lễ hội dân gian truyền thống nổi tiếng
từ lâu đời. Nó đã thành quen thuộc như một địa chỉ văn hóa, mà là văn hóa cội
nguồn, vô cùng hấp dẫn. Ở hội Lim thì “đặc sản” là hát Quan Họ. Và quan họ cũng
đã trở thành nguồn thơ vô tận cho muôn đời thi sĩ. Vũ Đình Minh viết về quan họ
ở một góc nhìn riêng, một cách cảm cũng rất “riêng”:
“Tôi trót biết đời riêng em trắc trở
Nên hội này xem hát chẳng vô tư”
Đó là một góc nhìn mà dường như chỉ có tác giả bài thơ
này được biết, mà dường như điều này cũng chỉ có hai người biết với nhau... Lễ hội,
nhất là Hội Lim thì không bao giờ là không đông người cả. Đủ thứ vui chơi. Xem
hát, nghe hát Quan Họ, cũng là một thứ chơi thượng thặng, sang, mà dân dã. Tác
giả chỉ chuyên chú vào một thứ chơi là xem hát và nghe hát quan họ. Nhưng “tôi
trót biết đời riêng em trắc trở”… thì câu chuyện nghe hát đã nẩy sinh vấn đề, một
vấn đề riêng tư, chỉ “em” biết, và “tôi” cũng “trót” biết. Đó chính là duyên cớ
để khơi lên cảm xúc, bởi thế “nên hội này xem hát chẳng vô tư”!
Nhân vật trữ tình “em”, là một diễn viên chuyên nghiệp
của “Đoàn Quan Họ Hà Bắc” chăng? Có lẽ cũng không hẳn là như thế! Cũng có thể
“Em” là một thôn nữ ở một làng Quan Họ nào đó bên sông Cầu lơ thơ nước chảy
chăng? Cũng chưa hẳn là như thế! Nhưng “em” đã là một hình ảnh cụ thể, thành một
“định tính”, ít nhất là trong con mắt và trong sự cảm thông chia sẻ của người
“xem hát”, nên người xem hát hôm nay chẳng thể nào mà “vô tư” cho được.
Bốn câu thơ tiếp theo là hình ảnh “em” hát cho người ta nghe, trong đó, có cả “anh” nghe nữa, dẫu rằng có thể là anh đang lẫn vào đâu đó trong đám đông nghe hát và xem hát, mà em cũng vô tình không biết, không hay! Tác giả viết:
Bốn câu thơ tiếp theo là hình ảnh “em” hát cho người ta nghe, trong đó, có cả “anh” nghe nữa, dẫu rằng có thể là anh đang lẫn vào đâu đó trong đám đông nghe hát và xem hát, mà em cũng vô tình không biết, không hay! Tác giả viết:
“Nón thúng quai thao em thẹn thò che má
Hát đắm say cho đứt ruột gan người”…
Thì “em” cũng nón thúng quai thao như những cô gái Quan Họ
khác đấy thôi. Và hát đắm đuối, hát mê say, hát cho chòng chành lúng liếng
nghiêng ngả mắt ai, hát cho “đứt ruột gan người”! Quả là một giọng hát có hồn,
quyến rũ vô biên. Câu “hát đắm say cho đứt ruột gan người” là một câu thơ hay,
đặc tả giọng hát. Một thủ pháp khoa trương không mới, nhưng mà hợp lý, tôn vinh
sự mê hoặc của giọng hát đến tột đỉnh. Tịnh không có sầu có oán gì cả, chỉ rặt
những nhàn tản đong đưa rười rượi những nhớ những thương, những yêu chết mệt
gió mây liền anh liền chị… Nhưng mà sao “nón thúng quai thao em thẹn thò che
má”? Sao không phải là “thẹn thùng” làm duyên?Hoá ra là vì “đời tư em trắc trở”
rồi. Em có một cuộc đời riêng ngoài quan họ, ngoài câu hát “nhàn tản” hôm nay,
nên mới cảm thấy “thẹn thò”. Chỉ có thể dùng từ “thẹn thò”, mới gợi đúng được
tâm trạng nhân vật trữ tình, đầy trắc ẩn, sâu kín, “người ngoài cười nụ, người
trong khóc thầm” (Nguyễn Du)…
Hai câu cuối, tả nỗi niềm người xem hát:
“Xin gió lạnh đừng lật nghiêng vành nón
Kẻo tôi nhìn thấy nước mắt em rơi”!...
Cuối cùng thì thi nhân đa tình đa cảm cũng không thể nào kìm
nén được cảm xúc riêng tư. Anh cầu xin cơn gió lạnh vô tình kia “đừng lật
nghiêng vành nón”, cái “nón thúng quai thao” vốn để làm duyên làm dáng, mà với
em bây giờ đồng thời là vật dụng che chắn, để em có thể che đi, dấu đi cái sự
thẹn thò, cái nỗi đau âm thầm chỉ em biết, và anh cũng vô tình “trót” biết. Hiểu
sâu và cảm sâu đến như vậy, nếu không phải là kẻ giàu lòng thương người, sao có
được những rung động chân thành, xót xa đến thế!
“Hội Lim” cô đọng và giản dị ở lời, ở câu. Cấu tứ chặt
và tình thơ chân thật, gợi nhiều cảm xúc. Hai nhân vật trữ tình chủ thể, gần mặt
mà cách lời. Nhưng có những lời ở ngoài lời, những ý ở ngoài ý, thẳm sâu, khiến
người ta phải chạnh lòng nghĩ ngợi.
Vũ Đình Minh sinh năm 1944 tại Vĩnh Phúc, xuất thân là một thầy
giáo dạy văn. Anh từng là sinh viên khoa Văn ĐHSP Hà Nội, cùng thời với Nguyễn
Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật, Ma Văn Kháng, Tô Nhuận Vỹ, Nghiêm Đa Văn, Nguyễn
Đình Ảnh… Dạy văn, rồi thành nhà văn nhà thơ, như một sự chuyển hoá tự nhiên,
không có gì lạ. Chỉ có một điều không lạ, ấy chính là một chút “thiên lương”
(Nguyễn Tuân), là tấm lòng “biệt nhỡn liên tài”, trong sáng và thánh thiện vô
cùng! Đó cũng chính là vẻ đẹp của hồn thơ Vũ Đình Minh, ở “Hội Lim”, và ở thơ
anh nói chung!
MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU:
TRƯỚC MÙA XUÂN BÃI SÔNG
Mưa thưa hơn và đêm đã bớt dài.
Bãi thoáng rộng, mặt sông thôi phà khói.
Lá ngô chạy, lá ngô non vẫy
Ai hát lên trên mặt buồm phồng
Nắng mơ hồ như có, như không
Chỉ lấp lánh phớt vàng trên mặt lá
Mây mỏng mảnh như là không có
Chỉ dập dềnh bãi mật, dập dềnh sông.
Mùa ngỡ xanh, xanh nhuộm vào lòng
Tim náo động trước cây buồm xa tím.
Bạn bè ơi, mùa xuân vừa mở bến
Sau chặng này rồi ta sẽ buông neo...
Suốt một chiều tôi và gió đuổi theo
Vẫn không kịp lá ngô non vẫy
Lá có gì mà lá xanh đến vậy
Tôi không tin mình lại có ngày già.
Bạn bè ơi, dẫu bao cuộc đi xa.
Dẫu nhiều mùa đông mưa nhàu, nhiều mùa hè nắng cháy.
Vẫn có một mùa xuân chờ ta ngày trở lại
Một màu xanh nhuộm thắm lòng nhau.
Tháng
8/1978.
Ý NGHĨ NGÀY MƯA
Bản các em ở bên kia đèo
Ngày hai bận các em leo dốc
Bài học đổi bằng vô chừng khó nhọc
Trang vở dày theo những nắng mưa.
Thấm lòng tôi những gương mặt trẻ thơ
Mỗi sớm dậy, mưa nhòa đèo Khau Cút
Các em tôi đang bước lầy bước trượt
Tôi ra vào như người thừa chân tay.
Chỉ có một quãng đường chim bay
Mà năm cây số đi về trên đỉnh đèo chất ngất
Học trò lớp tôi quen đi chân đất
Đường rêu trơn mòn móng bấm lên.
Có những chiều tôi đến với các em
Gà gáy dậy, tính đường em đến lớp
Các em đến với từng trang bài học
Chỉ có mỗi con đường này thôi
Ở núi rừng những ngày mưa rất dai
Hạt mưa đập mái tranh nghe bứt dứt
Tôi tựa cửa đếm từng em một
Đang xuống đèo thấp thoáng khoảng rừng thưa.
Trống đánh bảy giờ vào lớp lúc đang mưa
Tôi lên lớp áo em nào cũng ướt
Mái tóc lấm, giở từng trang vở học
Tôi biết tôi không thể nói những lời thừa.
CỔNG LÀNG
Hết lùm tre ra đồng
Một vòn trời chợt mở
Suốt mùa hè hút gió
Ngan ngát mùi lúa thơm
Lòng ta trong sạch hơn
Trước cổng làng hóng mát
Gió mơn man trong ngực
Tầm mắt nhìn thả sức
Cánh đồng ta vãi gieo...
Cổng làng như tình yêu
Không ra là thấy nhớ
Ở ngoài kia là lúa
Sậm sình như trẻ con
Huơ huơ tay lá non
Nước đầy hay nước cạn?
Đang thấp tho ngoi đòng
Nhãng một ngày sâu cắn
Mai rạc như ruộng rơm
Ngày không ra với đồng
Nắng chừng không tắt được.
Cổng làng như hò hẹn
Của bao nhiêu ngõ sâu
Đêm phải lòng mặt nhau
Sáng ra đây là gặp
Sóng chạy dài tít tắp
Xanh ngợp màu lúa xanh
Đường em đến cùng anh
Trên bờ hai vụ lúa...
Cổng làng như khung cửa
Mùa nối mùa vào ra
Gặp kỳ mưa bão xô
Dấu chân in chậm chuội
Đất nẻ mùa nắng lụi
Bụi quẩn chân người đi
Mùa gặt bội thu về
Cọng rơm vương vàng óng
Trăng vào theo lối cổng
Vàng tươi trên sân rơm.
Người về đến cổng làng
Tin đã vào cuối ngõ
Chén mừng ngày gặp gỡ
Chợt thương bạn không về
Cổng làng như mắt mở
Dãi dầu vầng trăng khuya.
Làng nối với làng quê
Thành rộng dài đất nước
Sáng sáng ra cổng làng
Tầm mắt nhìn thả sức
Gió rân rân trong ngực
Diết da mùi lúa thơm.
Tháng
7/1978
SANG NĂM CON LÊN BẢY
Cho Thắng
Sang năm con lên bảy
Cha sẽ đưa tới trường
Giờ con đang lon ton
Khắp sân vườn chạy nhảy
Con chuồn chuồn bay mãi
Dưới vòm trời lá xanh...
Mở sách chỉ xem tranh
Chuyện cha không đủ kể
Góc vườn mùa hoa khế
Chờ đại bàng về ăn
Cây thị ở đầu sân
Quả sẽ rơi vào bị
Con chim khuyên bé tí
Biết nói lên tiếng người
Cây giữa bạn bè cây
Buồn vui như người đấy
Chỉ mình con nghe thấy
Tiếng muôn loài với con...
Mai rồi con lớn khôn
Chim chẳng còn biết nói
Gió chỉ còn biết thổi
Cây chỉ còn là cây
Đại bàng chẳng về đây
Đậu trên cành khế nữa
Chuyện ngày xưa, ngày xửa
Chỉ là chuyện ngày xưa...
Đi qua thời ấu thơ
Bao điều bay đi mất
Chỉ còn trong đời thật
Tiếng người nói với con
Hạnh phúc khó khăn hơn
Mọi điều con đã thấy
Nhưng là con giành lấy
Từ hai bàn tay con...
Sang năm con lên bảy
Cha sẽ đưa tới trường.
Tôi trót biết đời riêng em trắc trở
Nên hội này xem hát chẳng vô tư
Nón thúng quai thao em thẹn thò che má
Hát đắm say cho đứt ruột gan người
Hát như thể cuộc đời toàn nhàn hạ
Chỉ để yêu, để nhớ, để thương thôi
Xin gió lạnh đừng lật nghiêng vành nón
Kẻo tôi nhìn thấy nước mắt em rơi.
1988
BÂY GIỜ MÙA THU
Gió tháng tám vu vơ rồi sẽ thổi về
Cánh bãi sẽ ngô mềm vai áo
Lá sẽ mượt sau những ngày giông bão
Nhịp tim mình rồi mạch lạc như xưa...
Sẽ đến ngày tóc mình ngả vào thu
Hoa bèo tím chẳng mong manh như trước
Chim nhạn sẽ bay về thưa thớt
Cay đắng phai dần thành những bâng khuâng
Cây phượng dãi dầu lại trổ lộc vào xuân
Búp xanh nõn nhắc hồi làm mầm biếc
Thời nông nổi sẽ qua, dẫu có những nuối tiếc
Dễ gì quên như mọi chuyện cũ càng.
Giá được nguôi quên sau bao nỗi giận hờn
Thì đêm sẽ chẳng kéo dài đến thế
Sợi tóc mềm kéo qua thời trẻ
Sẽ phai màu sau mưa nắng, đấy em.
Bây giờ đã vào thu, nhịp tim đập bình yên
Anh lại nhớ mùa hè nông nổi ấy
Hoa bèo tím mỏng manh lắm đấy
Nhưng điều này chẳng nói với hai ta...
Cánh bãi sẽ ngô mềm vai áo
Lá sẽ mượt sau những ngày giông bão
Nhịp tim mình rồi mạch lạc như xưa...
Sẽ đến ngày tóc mình ngả vào thu
Hoa bèo tím chẳng mong manh như trước
Chim nhạn sẽ bay về thưa thớt
Cay đắng phai dần thành những bâng khuâng
Cây phượng dãi dầu lại trổ lộc vào xuân
Búp xanh nõn nhắc hồi làm mầm biếc
Thời nông nổi sẽ qua, dẫu có những nuối tiếc
Dễ gì quên như mọi chuyện cũ càng.
Giá được nguôi quên sau bao nỗi giận hờn
Thì đêm sẽ chẳng kéo dài đến thế
Sợi tóc mềm kéo qua thời trẻ
Sẽ phai màu sau mưa nắng, đấy em.
Bây giờ đã vào thu, nhịp tim đập bình yên
Anh lại nhớ mùa hè nông nổi ấy
Hoa bèo tím mỏng manh lắm đấy
Nhưng điều này chẳng nói với hai ta...
MƯA TRƯỚC CỬA NHÀ
Đêm nghe mưa, biết cây đã nhú chồi
Sáng mở cửa, hoa vườn nhà nở đỏ
Nhìn mà thương, cây mỡ màng gân lá
Cành xoan gầy đã lảnh lót tiếng chim
Cây hồng gãy đã xanh thêm đọt trổ
Mưa dịu dàng, mưa độ lượng như em.
Tuổi của mình trầm tĩnh trước mưa êm
Để mưa thấm vào lòng bao kí ức
Mưa làm cũ bao nhiêu ngày rét mướt
Tất cả như là mới sinh ra…
Giá tóc mẹ cũng thể xanh lên được
Mưa ơi mưa, mưa rơi trước sân nhà.
Mùa xuân này em ở biên giới xa
Mâm cơm trống một khoảng nhìn của mẹ
Cha chẳng còn để ngồi nghe anh kể
Những dặm đường từng rét mướt mùa đông
Chị tần tảo, bàn tay thêm chai nẻ
Ngói đỏ hồng, gian bếp mới xây xong.
Nồi bánh thơm mùi khói lá dong
Mẹ ngồi giữa bi bô đàn cháu nhỏ
Mẹ lặng lẽ như bếp than mỏng mềm như ngọn lửa
Có thể nấu chín cơm, có thể đốt cháy rừng
Nụ cười mẹ bao nếp nhăn vất vả
Làm làn mưa tươi tốt cả chúng con…
Hoa đào đỏ như tờ lịch mới
Ý nghĩ lên tươi tốt một đầu ngày
Mưa xanh biếc, giăng mềm như sợi khói
Ấm như tay và mát như tay
Muốn làm cây để được mưa tắm gội
Muốn làm mưa xanh tốt những mầm cây.
Sáng mở cửa, hoa vườn nhà nở đỏ
Nhìn mà thương, cây mỡ màng gân lá
Cành xoan gầy đã lảnh lót tiếng chim
Cây hồng gãy đã xanh thêm đọt trổ
Mưa dịu dàng, mưa độ lượng như em.
Tuổi của mình trầm tĩnh trước mưa êm
Để mưa thấm vào lòng bao kí ức
Mưa làm cũ bao nhiêu ngày rét mướt
Tất cả như là mới sinh ra…
Giá tóc mẹ cũng thể xanh lên được
Mưa ơi mưa, mưa rơi trước sân nhà.
Mùa xuân này em ở biên giới xa
Mâm cơm trống một khoảng nhìn của mẹ
Cha chẳng còn để ngồi nghe anh kể
Những dặm đường từng rét mướt mùa đông
Chị tần tảo, bàn tay thêm chai nẻ
Ngói đỏ hồng, gian bếp mới xây xong.
Nồi bánh thơm mùi khói lá dong
Mẹ ngồi giữa bi bô đàn cháu nhỏ
Mẹ lặng lẽ như bếp than mỏng mềm như ngọn lửa
Có thể nấu chín cơm, có thể đốt cháy rừng
Nụ cười mẹ bao nếp nhăn vất vả
Làm làn mưa tươi tốt cả chúng con…
Hoa đào đỏ như tờ lịch mới
Ý nghĩ lên tươi tốt một đầu ngày
Mưa xanh biếc, giăng mềm như sợi khói
Ấm như tay và mát như tay
Muốn làm cây để được mưa tắm gội
Muốn làm mưa xanh tốt những mầm cây.
Xuân 1981
VỀ THĂM TRƯỜNG CŨ
Tặng trường THPT Yên Lạc
Không phải là thợ xây để thăm lại ngôi nhà
Biết độ bền vữa vôi mười năm trước
Tôi trở lại nơi xưa từng dạy học
Bâng khuâng nhiều biến đổi của thời gian.
Cây tôi trồng đã rợp một góc sân
Mái tranh cũ đã thay bằng mái ngói
Khu tập thể nhiều thầy cô giáo mới
Bạn bè xưa chỉ còn lại đôi người.
Không thể tìm chút dấu vết của tôi
Rằng nơi đã rất nhiều đêm tôi mất ngủ
Nơi tôi đã tốn rất nhiều mực đỏ
Rất nhiều lời, nhiều phấn trắng ở đây.
Tôi đã thành người lạ của trường xây
Người lạ của các em đang đến lớp
Có sao đâu học trò mười năm trước
Đã mang đi thương nhớ của tôi rồi.
Tôi ngồi tựa vào cây, cây mát chỗ tôi ngồi
Nhẩm bài hát của các em ngày cũ
Biết không thể tìm mình trong quá khứ
Tôi nghĩ về nơi các em đến hôm nay.
Cây đã lên chồi biếc của cây
Các em đến với điều em vẫn ước
Lời tôi nói với em mười năm trước
Có lặn vào công việc của các em?
Thời gian ơi, nếu tôi có thể tin
Lời tôi nói, đã thành em một chút
Tôi sẽ xin được nhiều đêm thao thức
Để gặp mình trong những tháng năm sau.
Tam Hồng 1984
NHẮN NHỦ
Anh đừng nói gì thêm nhé,
Để em tự biết thì hơn
Em sợ những điều hoa mỹ
Mà đời thì lại giản đơn.
Mùa xuân có nói gì đâu,
Mà lá mà chồi cứ biếc
Mà hoa cứ tươi thắm thiết
Mà trời cứ thăm thẳm xanh.
Đừng nói gì thêm nhé anh,
Chúng mình bên nhau tin cậy
Tình yêu như mùa xuân ấy
Lặng thầm tươi tốt cho nhau.
Để em tự biết thì hơn
Em sợ những điều hoa mỹ
Mà đời thì lại giản đơn.
Mùa xuân có nói gì đâu,
Mà lá mà chồi cứ biếc
Mà hoa cứ tươi thắm thiết
Mà trời cứ thăm thẳm xanh.
Đừng nói gì thêm nhé anh,
Chúng mình bên nhau tin cậy
Tình yêu như mùa xuân ấy
Lặng thầm tươi tốt cho nhau.
CÁNH ĐỒNG CHIỀU MÙA GẶT
Cọng rơm vương rối bận vụ mùa
Nắng đã tắt trên đồng, chiều xuống vội
Giờ là lúc đất duỗi dài thư thái
Gốc rạ vàng phả tím khói sương lam.
Vầng trăng non trên ngọn muỗm suộm vàng
Tôi chợt thấy lúc vô tình bắt gặp
Em nhìn tôi thoáng thôi rồi biến mất
Để cho chiều dìu dịu ngấm lòng tôi.
Xe lúa khuất xa còn vọng lại tiếng cười.
Hương mùa gặt chừng thơm hơn dạo trước
Đàn ri đá rập rình bay mải mốt
Hát đi cây chiều tím cả đồng rồi.
Chiều có gì tha thiết thế, chiều ơi
Chiều như những buổi chiều tôi đã gặp
Bếp lửa bập bùng, đêm Trường Sơn rét mướt.
Bạn bè ngồi ôm súng vẫn hằng mơ.
Và tôi tin ở một sự bất ngờ
Đồng đội đã lại cùng tôi sóng bước
Trên cánh đồng trăng gần như hái được
Giẫm lên từng gốc rạ nhuốm sương lam.
Tháng
5/ 1977
MẸ
Buổi trưa đi làm về
Mẹ áp con vào ngực
Tim mẹ đập rõ nhất
Ở nơi giành nuôi con.
Nắng mưa manh áo sờn
Nón mẹ che trước ngực
Nơi áo ít bạc nhất
Cho dòng sữa không chua.
Bàn tay nhỏ con xoa
Khô mồ hôi trán mẹ
Hai bàn chân bé tí
Đạp mềm lớp chai tay
Con là dòng mương mát
Giữa hai bờ nắng ong
Giữa sáng chiều áo ướt
Con là bếp nửa hồng
Lúc ôm con vào lòng
Ý nghĩ đi xa nhất
Mọi gian lao tất bật
Lại nhẹ nhàng như không.
Tháng 3/ 1974
ĐÊM THỨC VỚI CON
Em bồng con, thức suốt canh thâu
Trời trở gió, con không chịu ngủ
Đêm dài quá, em ngồi cho con bú
Bóng em ru lay động cánh màn
Ai cũng khen anh biết chăm con
Nhìn em bồng con, anh biết mình hời hợt thế
Lúc khoe con mau lớn với bạn bè.
Đất nước ru con, gió vỗ cành tre
Con sông xa tiếng trong và mát.
Đêm yên tĩnh không còn bom giặc
Đên dành cho giấc ngủ con ngoan…
Thức trong chiều sâu sắc của thời gian
Anh lại thấy mình còn hời hợt
Khi anh khen lúa đồng chắc hạt
Có nghĩ đâu lưng mẹ sớm còng.
Thay phiên em anh ngồi bồng con
Giọng khe khẽ chiều con vòi quấy
Lời ru ngắn mà đêm sao dài vậy
Bao bài hát ru cho đủ một đêm này?
Mai sau, mai sau… ngỡ thể một vươn vai
Con sẽ lớn phổng phao dáng vóc
Lời ru lặn vào trong veo ánh mắt
Lại hiện vào vầng trán mẹ nếp nhăn.
ÔNG GIÀ NGỒI DƯỚI VÒM CÂY GẠO
Cổng làng tôi mở ra phía đê. Con đường làng nối ra đê trông
như một khúc cây chống cho mặt đê cao sừng sững. Mùa khô con đường đắp trắng
bụi phù sa. Hai hàng cây xoan khẳng khiu không còn một mẩu lá, nửa thân
dưới cong sứt vẹo vì lũ trẻ ham chơi hay buộc trâu lại, rồi bỏ đi đánh đáo. Mùa
mưa, đường lồi lõm vết chân trâu, vết bánh xe bò, ngồi trên xe đạp xóc tấy vào
gan ruột. Hàng xoan trở lá xanh biếc trên thân cây cằn trông như những cây cảnh.Chỉ
có một cây gạo to cao, vạm vỡ, bốn mùa xum xuê lá.Vào tháng ba đi xa hàng cây số
đã thấy vòm cây đỏ ối màu hoa.
Hầu như chiều thứ bảy nào về, tôi cũng thấy ông lão ngồi dưới
gốc cây gạo với đống nan rổ đang đan dở. Ông thả trâu, tranh thủ lúc trâu ăn,
đan ít rổ rá bán lấy tiền uống rượu. Ông vẫn mua rượu của bà lão ở quán đầu
làng. Với bạn già, ông gọi cái thứ nước cay cay ấy là “thuốc lú”… uống cho lú lẫn,
bọn trẻ chăn trâu rất thích ông. Chúng trông hộ ông con trâu cà béo mập. Bù vào
ông đan cho chúng những cái giỏ cá nom thật vững chắc và xinh xẻo.
Ông già trông quắc thước, cao lớn, cặp lông với mày rậm với
đôi mắt hấp háy nom thông minh đến tinh quái. Ông biết tinh vi mọi chuyện của
làng. Chiều nào về, tôi cũng thích tạt vào chỗ ông ngồi hút thuốc. Cái điếu cày
của ông rõ kêu. Với gia đình tôi ông là chỗ thân cận. Lúc ít tuổi, ông là học trò
của bố tôi, rồi sau lại đến lượt các con ông. Con một ông giáo, tôi cũng dễ được
nể trọng và đối xử hậu hĩnh. Có bánh thuốc lào ngon, ông hay dành phần tôi.
Nhìn tôi rít một hơi dài, thả làn khói trắng đục đặc sách, mắt lờ đờ say, ông
cười một cách thích thú. Ông kể cho tôi những ai đi công tác xa vừa về, những
ai ăn nên làm ra, còn cái ngữ nào thì đáng về đuổi gà cho vợ từ lâu rồi…
Người làng tôi nổi tiếng có hoa tay, đi làm ăn thiên hạ cũng
nhiều. Vào những ngày vãn việc đồng áng, các bác thợ mộc, thợ nề, phó cối… thi
nhau gồng gánh dao bay, cưa đục đi nghề. Và khi lúa đã sẫm hạt, hoặc áp tết trở
về, vừa chợt xuống đầu dốc thế nào cũng được ông lão níu lấy hỏi “Thế nào, khá
đấy chứ”? Các bác thợ tòng teng gánh đồ nghề, có đèo thêm ít món ăn được mua
làm quà đón tay cho vợ con, nét mặt hân hoan nhưng giọng nói lại quá ư khiêm tốn:
“Cám ơn ông hỏi thăm, cũng kiếm được cho cháu vài cân gạo xấu…” Ông lão nheo mắt
nhìn theo, cái miệng cười, sứt hai chiếc răng cửa non rõ hóm hỉnh. Còn các cô cậu
học sinh, sinh viên mới ra trường, ăn mặc rõ oách về làng, đi ngang qua chào
ông lão, sẽ được hỏi “Chào cậu cả! Nào, thử xem cậu đã bêu xấu làng mình đến
đâu rồi”? Hỏi thế, nhưng cụ cười thì lại hết mực hồ hởi, bao dung.
Quanh năm ông già thả trâu, ngồi đấy, như cái trạm thường trực
của làng.
Có lần, chính tôi thấy ông lão túm tay anh chủ nhiệm trẻ, mắt
hấp háy hỏi hết sức thân mật:
- Thế nào, dạo này các chú mày đã chuyển chỗ ăn uống đến
những nhà nào rồi? Anh chủ nhiệm mặt ngay thuỗn, đứng như trời trời trồng, giọng
ú ớ:
- Bác bảo chuyển cái gì cơ?
Ông lão cười
- Tớ còn lạ gì! Trước, các chú mày chè chén với nhau suốt
ở nhà kho.Giờ, sợ mang tiếng, chuyển hết nhà này đến nhà khác để che mắt thiên
hạ, chứ gì? Chà, miếng ăn…
Ông lão buông lửng giữa câu, thở dài, lắc đầu bỏ đi, hờ hững
như quên phắt anh chủ nhiệm đang mặt đỏ tía tai, miệng ấp úng như ngậm hạt thị.
Lại một lần nữa ông túm tay cậu kế toán trưởng:
- Vụ phân đạm vừa rồi, chú mày được chia mấy tạ?
Chột dạ, cậu kế toán sẵng giọng
- Bác bảo phân đạm nào?
- Thì đơn vị bộ đội họ đổi phân đạm lấy hai cân
tư ngô, thế mà cậu lại thông báo cho xã viên những hai cân sáu ấy.
- Ai bảo bác thế? Bác đừng hồ đồ... Bác không có quyền.
Nếu cần bác cứ xem, tất cả đều có chứng từ hóa đơn, hợp đồng....
Ông lão đã nóng bừng mặt, nhưng vẫn cười cười:
- Chú mày đừng to tiếng, người ta xúm đến chả lợi gì cho chú
cả. Vứt mẹ nó cái hợp đồng ấy đi. Một chữ ký, ai ký mà chả được? Cái khó là ở
cái bụng dạ mình đây này!.
- Xem ra, vì thế mà một số vị thường nhập nhèm trong ban quản
trị không thú ông lão lắm. Nhưng bọn trẻ con và các ông già thì lại thích
ông. Ông biết bao nhiêu là sự tích của làng. Từ tên các vị thánh thờ ở
các đền đình làng, đến mực nước cao nhất từ thời thượng cổ. Rồi chuyện
cái bãi non bây giờ xưa là bạt ngàn lau sậy ra sao. Trong bãi sậy ấy có những
chim gì, rắn gì, ếch gì... Chỉ cần một con dao, một cái bật lửa, là có thể yên
chí sống ở cái bãi sậy đó hàng năm, không chết đói. Vào lúc lúa đồng đã gặt,
đàn trâu tha hồ ăn rông, bọn trẻ xúm quanh ông lão, hóng chuyện. Ông kể cho
chúng nghe về những người lừng lẫy trong làng, có vị là trung tá, đại tá, những
thần đồng học giỏi giờ là tiến sĩ, bác học...
Với danh sách những người hiếm hoi ông hay kể đến, tôi
thấy họ thật vinh dự, như được xếp vào cuốn biên niên sử của làng, cuốn
biên niên sử ghi bằng... miệng!
Có điều, bọn trẻ không biết rằng chính ông cũng đã từng
có một thời là anh hùng, lừng lẫy trong làng.Nhưng các cụ già thì biết.Có khi
các cụ thích ông cũng vì thế.
Đúng ra người ta phải gọi tên ông là ông Nhu - theo tên
người con trai cả của ông. Nhưng khắp làng ai cũng vẫn gọi ông là ông lão Cần,
tên cúng cơm của ông. Ở nông thôn, khi có con, người ta hay gọi thay bằng
tên con. Như thế nghĩa là cha mẹ đã trút tất cả cho con những gì mình có rồi: Của
cải, tâm lực, rồi đến cả cái tên mình nữa. Nhưng những người nổi tiếng trong
làng, thì dù đã già cả, người ta vẫn gọi bằng cái tên cúng cơm, chứ không gọi
tên con. Như thế cũng lại tức là của nả, tâm sức thì có thể trút hết cho con,
nhưng cái anh hùng tài ba lừng lẫy thì các con phải tự làm lấy, không cha mẹ
nào làm hộ được. Thế mới biết, cái văn minh thôn dã cũng hết sức công bằng,
sòng phẳng.
Hồi chống Pháp mới thành công, tụi nhóc chúng tôi nghịch như
quỷ sứ, đứa nào cũng đen nhẻm, tóc cháy nắng há hốc miệng để nghe những sự tích
kỳ lạ về anh Cần. Bây giờ, chúng tôi đã đứng tuổi, có người thành anh
hùng, có người thành bác học, không ai biết rõ trong máu mình có pha với tỷ
lệ bao nhiêu những câu chuyện kể về anh Cần, nhưng ai cũng thấy là có.
Hồi ấy, làng tôi là làng tề, có bốt Tây, bốt hương dõng,
nhưng cả cái bãi sậy bạt ngàn bấy giờ là khu căn cứ du kích. Bọn Tây, bọn tề ngụy
trong làng đều khiếp vía khi nghe tên Lê Cần. Đó là cái tên hay ký dưới các bản
cảnh cáo chữ viết nghuệch ngoạc nhưng lời lẽ đanh thép bỏ vào túi áo treo ở tận
đầu giường bất kỳ tên tề ngụy gian ác nào. Và sau khi có bản cảnh cáo đó một thời
gian, thỉnh thoảng lại có tên bị mất tích, như bị ma bắt, bị trùng mang. Lê Cần
có tài xuất quỷ nhập thần, không biết đâu mà lần. Bọn giặc điên lên quyết bắt sống
anh. Một lần chúng đi tuần, thoáng thấy anh trong bãi ngô, chúng vây xiết lại,
thì Lê Cần như có tài thăng thiên độn thổ, biết mất tăm tích. Chỉ thấy những
người đàn bà khênh vào tận buồng mới giở ra và... Lê Cần chui lên, đầu tóc đầy
râu ngô, cười tít mắt với hai cô gái mồ hôi mồ kê nhễ nhại. Một trong hai cô gái
ấy sau này là bà Cần.
Thế rồi, cuối cùng chúng cũng bắt được anh. Chúng lôi anh ra
sân đình tập trung cả làng lại. Gậy tre tươi xếp đống và chúng quật anh tới tấp.
Trước anh còn kêu la, nhưng sau chỉ nghiến răng, trợn mắt lăn lộn trong trận
mưa đòn, không một lời khai. Thằng Tây lắc đầu, quát lính thúc Lê Cần ra bờ
sông. Mặt mũi sưng vù thâm tím, miệng tứa máu, anh khấp khiễng bước. Đến bờ
sông, nơi có vực xoáy, chúng hô đứng lại. Đoàng! Gần như cùng với tiếng nổ, Lê
Cần đổ nhào xuống sông. Bọn lính chạy tới bờ sông xem, chỉ thấy nước xiết ngầu đỏ,
yên trí quay về.
Hai hôm sau, khi chị Cần sắp mâm cúng ba ngày cho chồng, thì
Lê Cần lại lù lù về. Chị rủn cả người, ngỡ là ma hiện hình, ú ớ định kêu, nhưng
Lê Cần đã kịp bịt miệng chị lại. Thì ra anh đã nhanh hơn bọn nổ súng một tích tắc.
Lặn một hơi ra giữa dòng chảy, một hơi nữa, anh cập bờ bãi sậy.
Chỉ ít ngày sau đấy, bọn tề ngụy lại thấy xuất hiện những
bản cảnh cáo, nét chữ nguệch ngoạc ký tên Lê Cần. Chúng cho là làng tôi có ma
quỷ. Có thằng Tây đòi quan trên xin đổi đi bốt khác. Có tên tề ngụy đã trốn biệt,
mãi ngót ba mươi năm sau, miền Nam được giải phóng, mới biết tin nó
đã vào bán hàng phở tận trong Sài Gòn!.
Con người lừng danh ấy, bây giờ tóc bạc trắng xóa, đang ngồi
tỉ mẩn, chuốt từng chiếc nan rổ dưới gốc gạo. Nhiều lúc, tôi cứ nghĩ, lý
ra ông phải làm công việc gì danh giá trong xã mới đáng. Có lần tôi bảo ông:
- Ông có nhiều công lao thế, mà sao cũng chả được...
Ông già tỏ vẻ không hài lòng với nhận xét của tôi:
- Được chứ! Được độc lập. Được huân chương. Được ruộng đất,
vườn tược...
- Là cháu bảo đáng lẽ xã phải xếp cho ông một công việc
gì đáng kể từ lúc ông còn trẻ cơ...
Mắt ông già hơi đỏ lên vì men rượu, bỗng nhiên mơ màng một
cách ngây thơ:
- À, có đấy! Sau hòa bình lập lại 1954, các anh ấy bố
trí tôi làm xã đội trưởng. Nhưng chỉ được một năm tôi thấy họp hành toét
cả mắt, lại công văn giấy tờ toàn chữ đánh máy rối mù cả lên, thế là tôi xin chịu!
Tôi hợp với cái vó bè, với con dao đan lát hơn.
Ông già cười thành thực. Mái tóc trắng ánh lên dưới vòm hoa gạo
đỏ rực mùa tháng ba, làm khuôn mặt ông trở nên hồng hào, thanh cao đến kỳ lạ.
Một chiều thứ bảy về, tôi không thấy ông lão ngồi đan lát dưới
gốc gạo. Bóng cây gạo thành trơ trọi, hoang trống, như cổng ngõ nhà mình tuềnh
toàng, không ai đóng khép vậy. Đúng vào hôm giỗ bố tôi, tôi muốn mời ông
lão đến. Tôi bồn chồn hỏi lũ trẻ chăn trâu, chúng bảo ông lão đi chơi nhà bạn
già, xưa cũng là du kích ở làng bên đã mấy hôm nay. Sau tôi mới biết là ông lão
bỏ đi vì giận con ăn ở tệ bạc. Ông có những ba con trai. Hai người con thứ thấy
rõ việc phụng dưỡng bố già không phải là việc của mình mà là việc của ông anh cả.
Vì ông anh cả đã được hưởng vườn tược của bố để lại. Cả Nhu cũng giàu có, nhưng
khốn nỗi mọi việc lại ở nơi cái chị vợ. Chị vợ giỏi giang quá, thao lược quá, lấn
át chồng. Nhà ngói sân gạch đề huề do tay chị ta gây dựng. Anh Nhu chỉ cung cúc
cùng con đóng vai làm công điểm, còn chị ta thì giang hồ chợ búa. Đi thì thôi,
hễ về đến nhà là chị ta quát tháo, sai phái rối mù cả lên. Cả nhà ai cũng là “đồ
ăn hại”, dĩ nhiên là cả ông bố chồng! Anh Nhu đánh bài nín thinh. Anh vốn có
máu sợ vợ. Giàu có, nhưng chị Nhu tính đếm cò kè. Chỉ thích mua sắm, nhà lỉnh kỉnh
những tủ chè, tủ lệch, giường tây, đồng hồ... mà bữa ăn lại rau dưa, quá nghèo.
Chị lê la sang nhà xóm thẽ thọt: “Ông em ấy mà, già thế mà bữa bốn bát cơm, hết
veo, lại mấy củ khoai tráng miệng nữa, mới lửng diều”. Kể ra cái sự ăn uống,
người kể xấu nhiều, chứ ông có gì mà xấu hổ? Nhưng nghĩ nó cực. Đã đến tuổi nhờ
cậy con, mà miếng ăn nó cũng đếm từng bát... Có lúc nghĩ thương số phận trớ
trêu ông ông lão, tôi hỏi:
- Xã lâu nay họ có chú ý đến ông không?
- Chú ý thế nào cơ?
- Những ngày hăm bảy tháng bảy chẳng hạn...
Nét mặt ông lão khi ấy dãn ra hệt như lúc nhìn tôi hút thử một
điếu thuốc lào ngon ông vê cho:
- Thế giả thử chú là chủ tịch xã thì chú sẽ chú ý đến
tôi thế nào nào?
Tôi thừ người, ngẫm nghĩ, rồi cũng ớ ra. Ừ, mà thật. Ông không
phải thương binh, những đòn tra khảo của giặc hồi ấy chẳng để lại dấu vết gì lắm
trên thân thể cường tráng của ông. Dĩ nhiên, ông cũng không phải là liệt sĩ, vì
ông đã kịp nhào xuống sông một tích tắc trước khi đạn giặc nổ.Còn như trợ cấp
khó khăn, gia đình ông lại được tiếng khá giả, trợ cấp nỗi gì? Chuyện con dâu
hư đốn lại là chuyện riêng. Có pháp luật nào bắt con cái phải nuôi bố mẹ cho lễ
độ, cho no đủ?
Thấy tôi đần mặt ra, ông đắc ý:
- Chú mày đã chịu chưa nào? Cái gì cũng để cho xã, thì
xã có là cái đầu tầu hỏa cũng không kéo nổi! Con mình có hư dại, mình chịu, kêu
vào đâu?
Thế đấy, kỳ này ông lão bỏ đi chơi chắc là chị Nhu
lại riếc móc gì ông lão nữa đây. Có lần, ông đã mắng con dâu, chị ta liền cãi lại
to tiếng hơn. Mắng nữa, chị bù lu bù loa ầm ĩ, kể công, kể của. Cái thứ đàn bà
mà đã đành hanh, đanh đá thì có mà giời bảo! Miệng cứ như cái còi tàu cực tốt,
hơi tí là đã hét vang lên rồi.Đất chả chịu giời thì giời chịu đất vậy. Chẳng lẽ
ai lại xui con bỏ vợ bỏ chồng? Thế là giận quá, uất quá, ông lão chỉ tìm cách
đi chơi cho khuây khỏa...
Khổ thân ông lão. Không mấy người hết lòng vun đắp cho con
như ông. Vợ mất, ông ở vậy nuôi con. Suốt sáng chí tối, quanh năm
quanh tháng lặn lội với chiếc vó bè, với con thuyền nan, kiếm cá. Cũng có lần
người ta đồn ông sắp lấy vợ kế. Bà Nụ lúc cũng chỉ xấp xỉ bốn mươi. Bà góa chồng.
Tuổi bốn mươi nhưng trông bà vẫn còn xuân sắc lắm, người đậm đà, môi ăn trầu cắn
chỉ, lông mày lá dăm, mắt ướt như chưa hết thời con gái. Bà hay ra mua cá ngoài
bè vó của ông lão, mua rõ sớm rồi lên chợ bán. Mua đã đắt rồi, thế mà có hôm về
còn trả thêm tiền. Sau ông lão mới ớ ra biết là bà chỉ cốt đi bán hộ, chứ lời
lãi gì? Ông không chịu. Nhưng bà làm mặt giận, mắt như có nước. Lý lẽ của bà như
thế này: “Ông chả biết gì cả! Chả lẽ tôi lại ăn bớt ăn xén của các cháu ư?” Ông
lão cũng quý bà lắm. Có hôm ông đánh thuyền đưa bà Nụ ra tít tận vó bè lấy cá.
Họ ngồi với nhau rất lâu. Chỉ thấy lúc bà Nụ lên bờ, mắt đỏ hoe, ông lão nhìn
theo hút bóng bà đi, thở dài. Cái sự là ông không thể đi thêm bước nữa được,
con cái nó khổ ra... Mãi sau này, ngồi hút thuốc lào vặt với ông ở gốc gạo,
tôi thấy khi bà Nụ, đã là một bà già, đi qua, ông vẫn hỏi han chu đáo lắm, ánh
mắt nhìn trẻ trung như thời xuân còn đọng lại, thoáng chút nhớ nhung hối tiếc.
Bà Nụ thì nhìn ông như trách móc...
Ông cố lòng cho con ăn học. Ông nói rằng đời ông, ăn học đã đứt
gánh vì nghèo cực đã đành, giờ phải cố cho con. Không mấy người hiếu học như
ông. Tết nào ông cũng mang phong chè lam bọc trong giấy hồng điều đến lễ tết thầy
giáo. Cho đến những Tết gần đây, bố tôi đã mất, ông không quên mang thẻ hương đến
cúng cụ.Với bố tôi, ông thưa gửi lễ phép, đúng phận học trò. Ông nhờ bố tôi hết
lòng dạy dỗ con ông. Nhưng khốn nỗi ông suốt ngày bận với cái vó bè ngoài sông,
có ngó ngàng gì đến con cái được? Thành thử, người dạy gắng mấy mà người học biếng
nhác cũng đành chịu. Các con ông đã mang tiếng ù lì ở các lớp học. Chúng bỏ học
dần. Thế là việc học hành của các con ông cũng đành dở dang, đứt gánh nốt. Con
dại, cái mang. Lúc còn trẻ thì không lo, giờ, đến tuổi già rồi nó mới đổ đốn ra
hết lượt, thật khổ. Thế mới biết dao sắc không gọt được chôi, là vậy...
Giá biết thế này ông lão cứ lấy quách bà Nụ hồi xưa thì lại
xong.Tuổi già có bầu có bạn, nương tựa vào nhau mà sống. Nhưng con người ta hạnh
phúc nhiều khi cũng chỉ dám hưởng dè xẻn. Cái gánh việc đời nó nặng quá, sâu
quá, chả mở mắt ra được mà nghĩ đến mình...
Đang ngồi nghĩ lẩn thẩn, về ông lão, thì đùng một cái, đã thấy
ông lão lù lù giữa sân, bước vào nhà, tay cầm chai rượu, tay cầm thẻ hương, ăn
mặc rõ chỉnh tề. Tôi mừng quá, luýnh quýnh cả lên:
- Cháu tưởng ông còn đang bận đi chơi xa...
- Ông lão cười, hàm răng hở ra nom đến phúc hậu:
- Ấy, cũng định đi chơi vài ngày cho khuây khỏa. Nhưng lại sực
nhớ hôm nay là ngày giỗ cụ, về thắp hương cho phải phép con cháu...
- Tôi ứa nước mắt đỡ chai rượu từ tay ông lão, đặt lên mâm
cúng bàn thờ, rút ba thẻ hương thắp để ông sửa lễ. Cảm động vì tấm lòng thủy
chung của ông một phần, thương nhớ bố một phần, lại quý trọng đời một phần nữa...
Tàn hương, tôi hạ cỗ mời ông lão uống rượu. Ông lão ép vợ tôi
cùng ngồi, nhưng cô ấy chỉ xin được đứng để hầu rượu ông, nghĩa là tìm thêm những
món gì dễ nhai để ông gắp, hay vài lá rau thơm, quá ớt, ít nước mắm. Tôi nhìn vợ
tôi, tỏ sự biết ơn và đồng tình. Ông lão có vẻ hả lắm, lại cảm động nữa. Uống cạn
chén thứ nhất, nét buồn hiện lên làm gương mặt ông tối lại:
- Cụ nhà ta quy tiên thật mát mẻ. Đời mình đã trọn vẹn rồi,
mà con cái cũng nên người nhân nghĩa...Còn tôi
Ông lão buông lửng giữa câu. Tôi nhìn nét mặt thoáng vẻ
bất lực của ông già, lòng cay đắng, xót xa. Tôi rót thêm vào đầy chén của ông. Uống
cạn chén thứ hai, ông khà một cái, giọng nói trở nên giãi bày, tiêu dao:
- Cái thời loạn, trai anh hùng là phải đi đánh giặc,
đã đành rồi. Nhưng bây giờ, trai anh hùng lại phải như chú, như
cô đây. Có với cô cũng làm ông giáo, bà giáo cả, cố mà rèn rũa cho học
trò, cho con cái nên người. Cái khổ cái nghèo thì mình còn chịu được, còn cố sức
mà làm ăn, mà vượt lên, chứ cái luân thường đạo lý mà hỏng, nó hành mình, thì
còn khổ gấp trăm lần, khể đến đời con cháu mình. Quy ra, cũng chỉ là ở sự lòng
tham. Con cái tôi hỏng cũng vì tham gia. Con cái tôi hỏng cũng vì tham quá. Tôi
mang tiếng lắm điều, hay nói mấy chú ở Ban quản trị đây ăn uống, bớt xén của bà
con, cũng vì lo cái lòng tham ấy nó hành, nó làm cho người ta mất cái tình người,
mất luân thường đạo lý đi. Chứ chú bảo, các chú ấy ăn uống, bớt xén thì cũng có
phải chỉ vì thế mà bà con nghèo đâu? Đã ăn cắp, đã tham lam, nó còn sinh trăm sự
khác...
Ánh mắt ông lão trở nên xa xăm u uẩn. Con người như thế, buồn
vui, sướng khổ, thượng vàng hạ cám đã trả rồi... Bởi vậy, nỗi buồn lo của
ông thật thấm thía.
Chiều hôm sau, trên đường sang trường, tôi lại thấy ông lão
ngồi dưới gốc cây gạo, lũ trẻ bâu quanh ông, tròn mắt nghe ông kể chuyện. Chắc ông
lại đang kể về cái bãi sậy, hay là những người lừng lẫy trong làng, có vị là tướng
tá, có những thần đồng học giỏi giờ là tiến sĩ, bác học... Vị nào cũng có một
thời trẻ con như chúng với những chi tiết hài hước, hóm hỉnh. Nhưng cái
quan trọng là cậu nào cũng là những đứa bé có chí khí, cư xử ăn lời cha mẹ. Một
tốp các ông thợ gồng gánh đi qua, ông lão ngẩn lên nói một câu gì đó, cười hở hết
cả hàm răng thiếu hụt. Vòm hoa gạo ánh lên trên gương mặt thâm trầm tôi đã thấy
chiều qua. Ánh mắt long lanh, tinh quái...
Không hiểu sao, cứ thấy ông lão ngồi ở đấy, là tôi lại
thấy ấm cúng, yên tâm. Như cái cổng ngõ nhà mình đã có người khép mở. Như cái
làng mình có một nơi thường trực đáng tin cậy để hỏi han tâm sự....
VŨ DUY THÔNG
- Họ và tên khai sinh: Vũ Duy Thông
- Sinh năm: 1944
- Bút danh: Thi Vũ, Duy Vũ
- Quê quán: Thôn Yên Bài, xã Tự Lập, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh
Phúc (nay là ngoại thành Hà Nội)
- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 1982)
- Tác phẩm chính đã xuất bản:
* Nắng trung du (Thơ, 1997)
* Những đám lá đổi màu (Thơ, 1982)
* Tình yêu người thợ (Thơ, 1987)
* Gió đàn (Thơ, 1989)
* Trái đất không chỉ có một người (Thơ, 1991)
* Chối từ cô đơn (Thơ, 1998)
* Một trăm bài thơ (Thơ, 1999)
* Và cuộc đời sẽ cứu rỗi (Thơ, 2003)
* Cái đẹp trong thơ kháng chiến Việt Nam 1945-1975
(Nghiên cứu văn học)
* Ai là bạn tốt (Truyện thiếu nhi, 1978)
* Cây bưởi ngây thơ và con bướm sặc sỡ (Truyện thiếu nhi,
1980)
* Chú tôm gõ mõ (Truyện thiếu nhi, 1981)
* Về thăm bà nội (Truyện thiếu nhi, 1989, 1993)
* Thỏ rừng hóa hổ (Truyện thiếu nhi, 1988)
* Chiếc kẹo tàng hình (Truyện thiếu nhi, 1987)
* Mèo con và cáo đỏ đuôi (Truyện thiếu nhi, 1983)
* Cuộc phiêu lưu của ong vàng…
- Giải thưởng văn học:
* Năm 1969, được giải trong cuộc thi thơ lần đầu của báo Văn
Nghệ.
* Hai lần được giải thưởng của Nhà xuất bản Kim Đồng về truyện
ngắn dành cho thiếu nhi, 4 lần được giải thưởng kịch bản phim hoạt hình tại
Liên hoan phim Việt Nam, Liên hoan truyền hình Việt Nam.
- Suy nghĩ về nghề văn: Thơ là gì và nói rộng
ra văn học là gì? Câu hỏi đã có từ nghìn năm trước và nghìn năm sau nữa
người ta vẫn hỏi nhau câu đó vì không có câu trả lời nào thỏa mãn được tất
cả mọi người. Nhưng thơ, nói đúng hơn là thơ hay vẫn đang tồn tại không nhờ những
định nghĩa. Thơ như không khí… như nắng trời, như hạnh phúc và nỗi đau khổ, như
tình yêu và lòng căm giận… rất khó nắm bắt nhưng lại rất dễ biết có nó hoặc
không có nó.
Vậy đừng mất công đi tìm những khuôn phép cũ hay mới cho thơ,
càng không nên vì thơ mà lo lắng số người viết, số người đọc nhiều hay ít. Sự cần
thiết với nhà thơ và người đọc là tìm đến những bài thơ hay. Những bài thờ hay
có mặt ở nơi mà nhờ nó con người khao khát sống hơn, tin người khác hơn và yêu
mình hơn.
MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU:
MÙA TRE ĐỔI LÁ
Mùa tre đổi lá
Tia nắng vàng mơ
Sóng truồi cát mịn
Bến sông sương mờ
Chim sáo gọi người trong vườn quả
Mùa tre đổi lá
Tôi đi từ đấy đến đây
Lá vàng trong gió xoay xoay
Đến chóng mặt những vui buồn tuổi nhỏ
Con cò trắng bay đi từ đó
Để lại mắt em trong như nước mưa
Gió lang thang dọc luống bừa
Tiếng sấm đầu mùa mưa lắc thắc
Dạo ấy đất nước đầy bóng giặc
Buổi chia tay em trao gửi, dặn dò
Tre lào xào như mưa
Yên lòng người hăm hở
Theo tôi giục giã đường xa
Có bóng mẹ nhẹ tênh trên lúa
Mẹ cứ tin nhìn mãi vào ngọn lửa
Sẽ một lần gặp lời con nhắn nhe
Mùa tre đổi lá, tháng ba
Tấm lịch mùa màng thì lúa trổ
Nhịp đập xóm làng trong ngực tôi nhắc nhở
Ôi sâu xa nỗi nhớ mùa cày
Nỗi nhớ cánh đồng, nỗi nhớ đất đai
Như nõn xanh có bao giờ xưa cũ
Tháng ba rồi
Lá tre bay trong gió
Bếp lửa cười, mẹ để cửa chờ con
1974
MƯA TRUNG DU
Mạ mập mạp ngạnh trê
Rễ trắng ngần ngó nhú
Gió se mặt bùn non
Đồng nặng nề mang chửa
Tre rì rào nghiêng ngả vòm lá xa xôi
Mưa loãng như sương
Cỏ túa ngòi
Con châu chấu gảy càng tí tách
Tôi đằm mình trong hơi mưa trong sạch
Mây trung du tưởng chừng hớp được
Hương ải dịu dàng thấm làn da
Mảnh đất ông bà
Áo quần nhuộm nước nâu già
Thoảng cay mùi trấu bếp
Tiếng thậm thịch trục đá lăn mùa gặt
Tiếng mỏng tang cọ gõ trống mưa rào
Giọt bùi giọt mặn cần lao
Nuôi tôi lớn không
Dạy tôi đánh giặc
Nắm mạ tung giữa chiều mưa nhẹ vắt
Gieo lòng tôi bao chồi biếc trung du.
Vĩnh
Yên, 1976
NÓI VỚI CON TRAI
Cha đưa con ra vườn
Xum vầy cùng bạn quen
Trưa vàng hanh tiếng chim
Lá xòe tay bắt nắng
Cái sân rêu đất ẩm
Chum nước mưa đầu hồi
Mỗi lần con ngon giấc
Hoa lại thù thì rơi
Cha bồng con trên tay
Như cây bế bồng chồi
Như cành đìu ríu quả
Con áp má vào cây
Nghe nhựa đất lên mầm
Lòng sẽ nên giàu có
Con đặt tay lên lá
Tim trọn đời tươi non
Đặt môi lên hoa thơm
Con sẽ yêu trong sạch
Rồi mai gốc ổi già
Khom như ông đánh dậm
Kể chuyện ngày sơ tán
Quả chín rụng ngõ sau
Đầu hồi hai gốc cau
Chuyện con hay đòi võng
Cây hồng trứng quả mọng
Chuyện bà hay nuông chiều
Chuyện cây cột, cây kèo
Kể đời ông vất vả
Bờ giếng kể chuyện mẹ
Ngồi giặt tã đến khuya
Vạt áo mẹ so le
Lo miếng cơm thìa sữa
Hai cây ngâu trước ngõ
Chuyện mẹ cha thương nhau
Cha bồng con lên cao
Hoa thơm tay con hái
Quả ngon tay con với
Thơm ngọt dành cho con
Rồi mai đây lớn khôn
Con sẽ nghĩ xa hơn
Những điều cha từng nghĩ
Con sẽ đi xa hơn
Niềm mong chờ của mẹ
Sẽ đến ngày lặng lẽ
Cha dừng lại dọc đường
Thì mái tranh, cây vườn
Sẽ thành nơi mong nhớ
Thành quê hương, xứ sở
Theo bước con trọn đời.
MÙA THU
Bỗng dưng đàn sếu bay ngang
Thu về sao quá khẽ khàng, hỡi thu
Chuỗi cườm đứt nối trong mù
Tiếng kêu gió thổi mơ hồ bãi xa
Con ve khô vỏ vườn già
Đầm sen gắng nở nụ hoa cuối cùng
Thu về thăm thẳm nhớ mong
Trời cao rộng mải đợi trông cánh diều
Con đường đến với người yêu
Giật mình chợt thấy quá nhiều ngã ba
Tôi không buồn nữa đâu mà
Trước điều chẳng thể đường xa đèo bòng
Trước điều dẫu có cũng không
Trước điều chẳng thể chờ mong một đời
Trước điều như chiếc cốc rơi
Nhặt vun sẽ đứt tay người nhặt vun
Mai sau trên những bãi cồn
Đừng tìm tôi dưới cỏ non xanh dày
Bởi tôi dẫu thoáng phút giây
Từng theo bầy sếu xoải bay trong mù.
1978
LẠI NÓI VỚI CON
Giờ các con lớn khôn
Trai ria đen lún phún
Gái lảnh lót như chim
Vui, con vui chuyện riêng
Buồn, con buồn cách khác
Bè bạn cứ nhiều dần
Suốt ngày đi biền biệt
Thiếu con chè đắng ngắt
Cha thẩn thơ quanh nhà
Xưa cháo con ăn thừa
Phần cháy cha ngồi cạo
Tã mỗi ngày một chậu
Chăn chiếu giặt đen thâm
Con vọc đất ngoài sân
Con vào bếp nghịch lửa
Đêm sốt con đòi bế
Mẹ ngủ đứng trong màn
Cô Tấm chăm cá bống
Anh Sọ Dừa lăn lăn
Chuyện cò con xa mẹ
Bón theo thìa cơm ăn
Giờ con học tiếng Anh
Văn, đọc Giăng Pôn xác
Nhạc, mê nhóm Bít tơn
Tranh, săn tìm Van gốc
Tranh cãi ầm cả nhà
Cha ngồi nghe ngơ ngác
Vừa mừng vừa muốn khóc
Thấy mình thành thừa ra
Mở vở con ngày xưa
Gặp lại con cò bé
Cha ngồi ru khe khẽ
Sợ ai nghe tiếng mình.
1990
MƯA Ở MAXCƠVA
Mưa phùn ứa từ không gian
Hàng cây im lặng khóc
Chơi vơi muôn hạt cô đơn
Cỏ bên đường bạc tóc
Đã qua thời trai trẻ
Bạn bè xưa giờ khác lắm rồi
Chỉ may ra, sau kính mờ cửa sổ
Đôi mắt nào còn lặng lẽ nhìn tôi
Mái nhà rêu xám, khói uể oải bay
Đàn chim trên đường lông ướt bẩn
Vội vã nhặt trong ánh ngày quá ngắn
Những hạt thóc mầm rơi dọc lối đi
Đừng bỏ sót chim ơi, một hạt nữa kìa
Cả mùa đông đang rình ta đó
Và người hỡi, hãy rời cửa sổ
Ra với mặt trời đâu đó sau mưa.
TUYẾT
Trắng tơ trời
Trắng bột đá
Trắng như…
Mây bong ra lả tả rơi về đất
Cành thông nặng khoảng trời khuya khoắt
Đất trắng ngần, đất không thật đâu em
Anh vạch một lối đi nguệch ngoạc về em
Xóa đi triệu dấu chân, in dâu chân duy nhất
Tuyết đa cảm
Và anh nhàu nát
Trên nẻo đường chới với tới bình yên
Chạm gốc cây dưới lớp tuyết mềm
Người giá lạnh thương về nơi giá lạnh
Anh hiểu vì sao mỗi bông tuyết mảnh
Lại mang một mặt trời nhỏ xíu lúc hừng đông.
ĐI CHỢ HOA
Thong thả chiều nay đi chơi tết
Chợ hoa Hàng Lược nối Hàng Gà
Người ta đi sắm, mình đi ngắm
Mắt thỏa thuê nhìn hoa với hoa
Hoa cúc điệu đàng, hoa dơn bụ
Hoa đào chúm chím nụ môi tươi
Em ạ, ngày xưa anh cũng trẻ
Cũng lắm người yêu như em thôi
Có đâu mua hết xinh tươi được
Đã người thưa chú, kẻ chào anh
Lòng vui nghiêng nghé vào mặt nước
Gạt cánh hoa tươi gặp lại mình
Yêu hoa ai cũng thành thi sĩ
Đâu chỉ lo âu với nhọc nhằn
Đời như cây ấy, qua đông héo
Vẫn chiu chít nụ đợi ngày xanh
Đi ngắm thành ra đi say đắm
Ai cũng cao sang, cũng dễ gần
Tôi xin được cối như đào gốc
Để làm bạn cũ của mùa xuân.
CÔ VÀ CHÁU
Cô ước một lần ra Hà Nội
Lặn lội cháu về đón tận quê
Mẹ cha khuất núi, còn cô ruột
Cô nữa là thôi, hết chốn về
Vui được một hôm, cô đã thở dài
Giò chả không quen, nệm bông khó ngủ
Ăn miếng trầu khó nơi nhả bã
Thảm len êm rón rén tựa rằm gai
Đàn cháu ở nhà chắc khóc hết hơi
Trẻ vắng bà như chim mất tổ
Con lợn lang kỳ này trở dạ
Mẹt đỗ xanh ai nhớ mà phơi
Tôi dỗ dành, làm mặt giận cô tôi
Nể bụng cháu, cô cười ra nước mắt
Ừ đã thế ở bao lâu cũng được
Nhưng nửa đêm, cô khóc ở ngoài thềm
Thôi cũng đành, biết nói gì thêm
Ngày về cô xin một đùm chai lọ
Cái này đựng tương, cái kia đựng mỡ
Còn ống bơ cho trẻ con chơi
Đường mịt mờ mang theo cả cô tôi
Tôi về thắp hương thương cha nhớ mẹ.
ĐÀ LẠT
Tôi đến đây và nghe đến sững sờ
Bè bạn bảo
Nơi này không sống được
Tôi là kẻ bị rừng thông huyễn hoặc
Bị nước xanh dẫn dắt đến dại khờ
Bị đánh bẫy sau những làn sương mỏng
Tôi yếu mềm cùng đọt non tơ
Trăng đấy ư, rồi buổi sớm đấy ư
Nắng dịu nhẹ chừng không thật nữa
Nước thành mây và mây thành nước rỏ
Rặng tầm xuân chống chếnh cả đôi mùa
Con sóc bay trong thung lũng vô tư
Ở đây được quên, ở đây được nhớ
Thật có lỗi nếu không ghìm hơi thở
Im ắng tột cùng đến thoáng lạnh trên da
Phong lữ thảo trước thềm, cúc ngõ lại hoa
Hoa hào phóng nở như không trong cỏ
Ngoài quê dạo này rét gió
Thèm chút hoa bèo đỡ tối đường ao
Tôi chẳng đi tìm yên tĩnh đó sao
Lại năm năm Thái Nguyên xóc nảy người bụi đỏ
Ngần ấy năm tất bật, lo toan
Sao ở đây tôi không thề ngủ yên
Không đợi nổi mùa anh đào rộ nở
Xa em rồi anh sống nhọc nhằn hơn
Nhưng từ biệt, chúng mình từ biệt nhé
Anh lại xếp hàng trước một cân cá bể
Lại thức trắng đêm bên ánh lửa lò
Lại gà gật trên chuyến tàu chật chội
Lại nghẹn lòng trước màu lúa ấm no
Anh lai về với những chiều, những sớm vui lo
Làm lụng và chờ đợi
Anh bặm bụi quen hơn, anh bặm bụi
Để còn em nguyên vẹn, tốt lành
Đà Lạt trong tôi
Đà Lạt tôi mong mỏi
Suốt đời tìm, suốt đời ở kề bên.
1978
RƯỢU CẦN
Khèn treo lên vách, chiêng cũng ngủ rồi
Ché rượu khiêng ra nếp lèn lá ủ
Âm âm thác đổ nai tác núi xa
Nước hóa rượu lạnh, em ngả nghiêng hoa
Rượu thành mạch dâng reo trong trúc ngà
Uống tiếng chim khuya uống cơn gió lạc
Uống hương cà phê đồi trăng bát ngát
Uống ánh mắt ướt tan tành hồn tôi
Tượng mồ bìa rừng đang cho con bú
Hồ âm núi dương êm đềm nhịp thở
Nhà rông tám cột, cột nào đổ nghiêng
Đêm nay uống cạn suối ngàn Tây Nguyên
Cho bạn thành mình, mình tan trong bạn
Mai thả lá tre thay người về xuôi
Giờ hãy vít cong hai đầu cần dẻo
Qua biển men đầy môi tìm gặp môi.
KHAU VAI
Biết khó còn dip lên đây nữa
Thôi cũng một lần biết Khau Vai
Rượu ngô lướt khướt bên lều chợ
Người tỉnh chắc gì hơn người say
Chung thuỷ chắc gì đã tử tế
Chợ họp suốt đêm lại suốt ngày
Ai bảo chợ họp là có chợ
Mình ta lủi thủi biết tìm ai
Nên đêm qua rồi sáng nay nữa
Ta ngồi uống rượu với trời mây
Tuổi già hay tưởng mình còn trẻ
Bát rượu vừa vơi đã rót đầy
Uống cho người ấy không yên được
Dẫu đã chồng con, đã vẹn bề
Uống cho trăng lặn bên kia núi
Bật khóc thương người trong cơn mê
Uống cho Khau Vai xa thăm thẳm
Thẳm thẳm trời xa thăm thẳm buồn
Mai người xuống núi người ở lại
Cầm chắc chân trời mưa gió tuôn.
8-12-2010
UỐNG RƯỢU Ở XỨ NGƯỜI
Chiều nay vắt vẻo Phương Đình quán
Mây bay khuất nẻo rượu nghìn bình
Nghìn đôi mắt rắn ngâm trong rượu
Lặng lẽ nhìn người qua thủy tinh
Xưa nghe Tây Thục lắm rắn rết
Khe núi hổ mang đêm gầm rít
Mồ hoang rải rác đường lên trời
Nọc độc nghìn năm chưa tan hết
Xưa nghe xà tinh hiển hiện người
Dan díu duyên trần thân lạnh toát
Bao tình yêu rắn bị trời hành
Thân xác tan tành con côi cút
Nay hâm rượu nóng ngồi đọc thơ
Ngỡ mình thành vua miền cực lạc
Giữa nhà mồ rắn rượu rót tràn
Trong say, cách trời ba bốn bước
Nửa đêm tỉnh giấc chợt rùng mình
Mừng lưỡi còn chưa phun nọc độc
Cay đắng cũng xin làm kiếp người
Mảnh tình phương Nam xa xôi ơi!
Đất Thục, 1999
HOA VÀNG
Những bông hoa vàng không tên
Nở dọc con đường thiên lý
Thảo nguyên vào thu lặng lẽ
Hoa vàng không biết có tôi
Hoa vàng trước đêm tuyết rơi
Tươi rói nụ cười sắp tắt
Lá phong lưng trời rụng hết
Hoa vàng từ đất vàng lên
Có đấy mà không, như em
Vụt đến vụt đi hối hả
Trái tim đến là kỳ lạ
Đeo đẳng màu hoa không đâu
Tóc tôi rồi sẽ đổi màu
Hoa vàng cứ hoa vàng mãi
Đến tên còn chưa kịp hỏi
Liệu mai nhớ gì hoa ơi!
12-2001
TRƯỚC CHẤM PHẠT ĐỀN
Con ơi, đời chúng ta
Nhiều lúc, như thủ môn bóng đá
Đứng trước chấm phạt đền
Bằng vôi hay bằng sơn
Trên mặt đất, trên thảm xanh
Cái chấm tròn khắc nghiệt
Nơi đó đối phương không dấu mặt
Không đàm phán
Không thỏa hiệp
Nơi đó được thua tính bằng gang tấc
Nơi chỉ mình ta
Giữa khung thành rộng hoác
Sau lưng là tấm lưới trống trơn
Sẵn sang rung lên
Và bên cạnh ta
Đến đồng đội cũng thành ngoài cuộc
Con ơi, người ta từng khuyên
Chạy trốn là cách khôn ngoan nhất
Nhưng làm sao trốn được
Như người lính trốn khỏi chiến hào
Như bè bạn hoạn nạn bỏ nhau
Như gã đàn ông run rẩy trong thử thách
Để chiến thắng
Hoặc thua đau đớn nhất
Để phơi ra trước ngàn cặp mắt
Tài năng thực của mình
Không kẻ đỡ đần
Không nơi ẩn nấp
Chúng ta không phải thủ môn
Và mọi trận cầu đều sẽ rơi vào quên lãng
Nhưng trong cuộc đời
Còn rất nhiều khung thành bỏ trống
Cha mong thấy con luôn nhìn thẳng chấm phạt đền
Với sự kiên cường câm lặng.
1-2000
EM BÌNH YÊN CHẢI TÓC
Em cứ bình yên chải tóc
Ngoài kia gió chải tóc cho cỏ
Nắng chải tóc bạch đàn
Trái đất chẳng yên ổn hơn chẳng loạn ly hơn
Máu vẫn đổ và hoa hồng vẫn nở
Chúng ta chẳng buồn hơn cũng chẳng vui hơn
Chưa phải tình yêu nếu chưa đau khổ
Lịch vừa mở đã thành tờ giấy cũ
Có thể bình minh là một ngày hé mở
Có thể bình minh là thêm một ngày tàn
Yêu là điều không chút dễ dàng
Anh đã để rơi những chiếc gương không có bóng em
Những chiếc giường không em về ngủ
Nơi em dứng chờ anh bến đỗ
Con thuyền đi cùng sóng gió chòng chành
Giữa mắt bão là khoảng trời yên ả
Cuộc đồng hành định mệnh của trời xanh
Anh đã yêu đến xơ xác đời mình
Mảnh thuyền vỡ trăm bờ lăn lóc
Nhưng em cớ bình yên chải tóc
Ngoài kia gió chải tóc cho cỏ
Nắng chải tóc bạch đàn.
TUỔI NÀY…
Tuổi này xin chớ có buồn
Một đời chớp bể mưa nguồn mấy mươi
Em xem, gió giật sóng dồi
Mấy cây củi mục rong chơi tưng bừng
Tuổi này xin nhớ lưng lưng
Xin đau nhè nhẹ, xin mừng hơi hơi
Trái tim đập đến rã rời
Mang sao được cả một trời nhớ thương
Tuổi này ngùi ngẫm cuối đường
Xót chiều nắng lụi, thương sương đầu cành
Cũng liều bám lấy mong manh
Kiếp sau đâu chắc chúng mình còn nhau
Tuổi này vời vợi đêm sâu
Thức cùng cầu Thước, sông Ngâu nghìn trùng.
TẬP TẦM VÔNG
Tập tầm vông
Có có không không
Cợt đùa số phận
Sau hai tay nắm
Cuộc đời hỏi ta
Có gì
Có gì
Có gì?
Đường đời nhiêu khê
Bước đời hú họa
Đói nghèo giàu có
Toại nguyện lỡ lầm
Em quay tròn trước tôi nắm tay bé nhỏ
Một lần thôi tha hồ chọn lựa
Hoặc có
Hoặc không
Một lần thôi, tôi đã chọn nhầm
Bàn tay dấu hòn sỏi nhỏ
Em đứng lên cười mà muốn khóc
Em nào có muốn thắng tôi
Đường đời chia đôi
Em bỏ làng đi không trở lại
Đến bạc đầu tôi không quên hòn sỏi
Có có không không
Lăn lóc kiếp người.



















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét