NGUYỄN UYỂN
- Họ và tên khai sinh: Nguyễn Văn Uyển
- Sinh năm 1942
- Bút danh: Vĩnh Hà
- Quê quán: Quân Khê, Hạ Hòa, Phú Thọ; sinh sống và lập nghiệp
ở Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc
- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 2002)
- Tác phẩm chính đã xuất bản:
* Mùa cày (tập truyện ngắn, 1984)
* Đất lọc hạt (Tập thơ, NXB Hội Nhà văn, 2006)
* Những ngày chưa xa (Tập truyện ngắn, 1997; tái bản,
1998)
* Làng có chuyện (Tập ký, 1997; tái bản,1998)
* Người phán quyết (Tập truyện vừa, 1998)
* Trời hành (Tập truyện ngắn, 2001)
* Lẽ đời (Tập truyện ngắn, 2003)
* Báo chí nghề nghiệt ngã (Tiểu luận - 1998; tái bản
1999)
* Xử lý thông tin - Việc của nhà báo (Tập truyện
ngắn, 1984)
* Báo chí - Mấy thể loại thông dụng (Tiểu luận
- 2004; nối bản 2005)
* Nguyễn Uyển tuyển truyện, 2006
* Cuối đất đỉnh trời (Tập ký - 2008)
* Dòng chảy đất đai (Tiểu thuyết - 2010, tái bản
2011)
* Tình người Điện Biên (Tập ký, 2010)
* Cháy mãi một tình yêu (Tập ký, 2010)
* Lên với đỉnh giời (Tập ký, 2012)
* Làm theo lời Bác (Tập ký tuyển chọn, 2012)
* Sáng mãi niềm tin yêu (Tiểu thuyết - 2010, tái bản
2011)
* Giữa đất trời Âu (Tập ký, 2014)
* Mưa rây trong nắng (Tập truyện ngắn, 2015)
* Những trang viết nhỏ (Tập ký, Tiểu luận, Tản văn,
2015)
Cùng các tác phẩm do một số NXB tuyển chọn (in
chung)...
- Giải thưởng văn học:
* Giải Khuyến khích, Giải thưởng Văn học Hùng Vương (Tập
ký Đất Lọc Hạt).
* Giải thưởng Bút ký văn học Cuộc thi do Báo Văn Nghệ &
Đài TNVN tổ chức năm 1986.
* Giải thưởng cuộc thi Bút ký về đồi rừng do Hội VHNT Vĩnh
Phú tổ chức với tác phẩm “Lạc Trung Xanh”
* Giải ba cuộc thi viết về học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Chủ tịch Hồ Chí Minh do Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức (Hội Nhà Văn VN
xét duyệt) với ấn phẩm “Làm theo lời Bác”.
- Suy nghĩ về nghề văn:
“Nghề văn - Nhà văn nhọc nhằn, sáng tạo. Không khi nào
chịu làm nô lệ cho những thị hiếu thấp hèn”!.
A- TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ:
NGUYỄN UYỂN - VĂN LÀ NGHIỆP, BÁO LÀ NGHỀ
Nguyễn Văn Toại
Không phải nhà báo nào cũng đồng thời là nhà văn nhưng đã là
nhà văn thì không mấy ai không viết báo, thậm chí có người còn là một nhà báo
chính hiệu, ăn lương ngạch báo chí và nghỉ hưu từ một đơn vị báo chí nào đó.
Tôi nghĩ, Nguyễn Uyển thuộc trường hợp thứ hai. Anh cầm trên tay tấm Thẻ
nhà báo từ rất sớm và đến nay, tính ra, anh đã có tới 50 năm tuổi nghề tân
văn, còn Thẻ nhà văn thì anh mới chỉ nhận từ năm 2002!.
Để trở thành nhà báo với đúng nghĩa của từ ấy đâu phải đơn giản
nhưng để được nhập hộ khẩu làng văn cũng không hề dễ dàng. Nguyễn Uyển đã học
viết văn ngay từ khi còn ngồi trên ghế trường Sư phạm của Bộ Giáo dục đặt ở tỉnh
Bắc Ninh (cùng lớp với Nguyễn Phan Hách, Kim Dũng, sau này đều trở thành hội
viên Hội Nhà văn Việt Nam). Trong thời làm giáo viên ở Vĩnh Phúc, anh chập
chững đến với nghề văn bằng những bài thơ, bút ký, phóng sự phát trên Đài Tiếng
nói Việt Nam, in ở một số báo địa phương và Trung ương. Từ năm 1966, anh
làm ở báo Vĩnh Phúc, sau là Vĩnh Phú, rồi được đi học Đại học báo chí
(1969-1973) cùng nhà văn Nguyễn Đức Thiện. Mặc dù chưa qua một trường lớp viết
văn chính quy nào nhưng những thành tựu văn chương anh gặt hái được đều bằng
con đường tự nguyện, tự làm, tự rút kinh nghiệm. Những lý thuyết về báo chí
cách mạng mà nhà báo Nguyễn Uyển tiếp thu được trên giảng đường cũng là kim chỉ
nam cho nhà văn Nguyễn Uyển cầm bút. Ngồi trên ghế nhà trường, anh viết Sau mùa
lũ, truyện ngắn đầu tay được trao giải (1972). Cả một chặng dài hành trình làm
phóng viên, làm quản lý (Tổng biên tập báo Vĩnh Phú suốt mười năm) và gần hai
chục năm lăn lộn với công tác Hội, trên cương vị Trưởng ban (Vụ trưởng), anh đã
viết nhiều trăm bài bút ký, phóng sự, một thể loại đòi hỏi trước hết ở tính cập
nhật, nếu quy nó về địa hạt báo chí cũng đúng và coi đó là "sân chơi"
của nghề văn cũng không sai. Thế nên, khi Làng có chuyện, tập ký, tái bản
năm 1977, Cuối đất - Đỉnh trời, tập ký, xuất bản năm 2008, ai cũng hiểu đó
là những sản phẩm văn học mà nhà văn Nguyễn Uyển đã hoàn thành trong suốt quá
trình làm báo.
Tôi không có ý hướng suy nghĩ của bạn đọc nghiêng về phía
Nguyễn Uyển - nhà văn hơn là Nguyễn Uyển - nhà báo, bởi như thế sẽ là bất
công đối với nghề báo, một nghề mà anh được đào tạo một cách bài bản và anh đã
thủy chung với nó trọn vẹn cả một đời cán bộ. Nếu quan niệm nghề báo là cái cầu
dẫn anh đến với nghiệp văn thì e là chưa thỏa đáng. Làm báo với anh là một nghề,
nghề làm ăn, kiếm sống, còn văn là cái nghiệp tiền định rồi. Nghề hay nghiệp
thì cũng có mặt mạnh, mặt yếu vốn dĩ, cả hai bổ sung cho nhau, làm phong phú
cho nhau. Làm báo thì phải đi nhiều, viết nhanh, lấy ngắn nuôi dài; làm văn tuy
chậm nhưng sống lâu, nó là "khối tình con" thứ hai. Nhà văn Nguyễn Uyển
hoàn toàn có thể tự hào với chức danh phóng viên và thâm niên làm báo của mình.
Nếu như trong văn của Nguyễn Uyển khó tránh khỏi dấu ấn của thể loại tân văn và
trong báo của anh lại chuyển tải được nhiều chất văn chương, không gì khác là
cái tạng của nghề và nghiệp. Nếu sự nghiệt ngã của nghề báo đã khiến nhà văn
Nguyễn Uyển có phần dè dặt trong hư cấu trong nghệ thuật thì đó lại là lý do
thôi thúc anh mạnh dạn đứng tên là tác giả ba công trình tiểu luận khiêm tốn về
nghề: Báo chí - Nghề nghiệt ngã (1998); Xử lý thông tin - Việc của nhà
báo (2001) và Báo chí - Mấy thể loại thông dụng (2004).
Cho đến nay, ngoài hàng chục tập bút ký, truyện ký, truyện ngắn,
Nguyễn Uyển đã trình làng tập truyện vừa: Người phán quyết (1998) và tiểu thuyết Dòng
chảy đất đai (2010). Ngày về in trong tập những truyện vừa hay cùng với
Nguyễn Kiên, Nguyễn Thị Ngọc Tú... Nhiều truyện ngắn khác của anh cũng đã
được chọn in trong những tập truyện ngắn hay của một số nhà xuất bản có tên tuổi...
Anh không thuộc tạng nhà văn ưa chiêm nghiệm về nhân tình thế thái cũng như nặng
lòng với quá khứ. Theo anh, phẩm chất của người cầm bút thời nay là thông tin
và không khoan nhượng với mọi tiêu cực. Tư tưởng chỉ đạo này chính là cái đòn bẩy
đưa nhà văn Nguyễn Uyển sớm gắn bó với cuộc sống nông thôn, với nông nghiệp và
nông dân, bây giờ ta gọi là "tam nông", rồi từ đó mà ra đời cả ngàn
trang viết về một vùng "đặc khu" không phải nhà văn nào cũng may mắn
gây dựng được. Đề tài anh chọn không phải là "nông thôn muôn thuở" mà
là nông thôn trung du, miền núi thời hội nhập đang bị phân hóa với biết bao vấn
đề bức xúc đặt ra, âu cũng là cái "tật" của nhà báo. Anh đã có lần bộc
bạch: Nghề văn - nghề nhọc nhằn, nghề báo - nghề nghiệt ngã. Không khi nào là
thư nhàn". Người làm sao, bào hao làm vậy - câu này càng đúng với Nguyễn
Uyển. Anh còn nói thêm: "Chẳng khi nào chịu làm nô lệ cho những thị hiếu tầm
thường". Anh đã viết và trước hết là sống nghiêm túc trong đời cũng như
trong nghề. Đây là chỗ tôi và anh gặp nhau và tình bạn giữa hai chúng tôi, vì vậy
mà trở nên lâu bền. Nghiền ngẫm những trang lý thuyết thấu tình đạt lý của anh
về nghề báo, đương nhiên cũng là của nghiệp văn, bạn đọc sẽ rút được nhiều bài
học sâu sắc về tư tưởng, vai trò chiến sĩ, về bổn phận công dân của người cầm
bút trước những biến động khôn lường của thực tiễn. Anh khắc cốt ghi tâm quan
điểm về tự do sáng tác của văn hào Nga M. Xôlôkhốp: Nhà văn có quyền viết theo
chỉ thị của trái tim nhưng trái tim họ phải thuộc về Đảng và nhân dân thân yêu.
"Ngòi bút gọi" là cụm từ tâm đắc anh đã neo vào nghiệp văn của mình với
điều tự răn: Mọi lý do của người cầm bút bao giờ cũng phải trong sáng, bao giờ
cũng phải đi theo tiếng gọi của lương tâm, phải vì chân lý, vì cách mạng để mà
viết mà kể.
Câu châm ngôn của người xưa: Đời dù sướng hay khổ cũng vẫn đẹp,
hãy chờ đón nó! đã giúp Nguyễn Uyển có được cái nhìn tươi rói, thấm đẫm tình
người ngay cả khi anh đụng chạm đến những mảng bi kịch đời thường hoặc phê phán
gay gắt tệ tham nhũng, đục khoét của công, những thói hư, tật xấu trong mỗi con
người. Đó là lý do khiến nhiều trang truyện của anh từ lâu vẫn tìm được chỗ đứng
trong tình cảm của bạn đọc. Thật khó có thể nói được nhiều về những thành công
của anh trong việc miêu tả đến từng chi tiết tính cách những con người và khung
cảnh làng quê trung du "đồi tròn thì ít, eo ẻ, một triền thì nhiều".
Những bất trắc xảy ra với các truyện ngắn Sau mùa lũ,
và Ngày ấyThầy vẫn thương tôi, và bài báo Hương Nộn bỏ ruộng hoang trên
đất huyện Tam Nông chẳng phải là những bài học nhớ đời đối với anh sao? Những
nhân vật được nhắc đến trong các truyện ngắn trên đã ngộ nhận mà đâm đơn kiện
tác giả, thậm chí số báo có bài viết của anh bị đồng chí bí thư huyện ủy Tam
Thanh lúc ấy cấm lưu hành ở địa phương chỉ vì nghĩ rằng anh đã lợi dụng phương
tiện thông tin đại chúng để nói xấu họ (!)
Nhưng tấm lòng trung thực và sự thiện chí của tác giả đã vượt lên trên những đố kỵ. Quý nhân phù trợ cho anh là đồng chí P. Chủ tịch tỉnh Quốc Phi và Bí thư tỉnh ủy Hoàng Quy. Nguyễn Uyển tâm sự: Chuyện buồn quanh Sau mùa lũ là cái cớ để anh tác thành tập truyện Những ngày chưa xa, từ Hương Nộn bỏ ruộng hoang mà anh có thêm một số bài phê phán những biểu hiện tiêu cực trong các lĩnh vực của cuộc sống dưới nhiều bút danh khác nhau, trong đó có bài viết gần như là để tri ân: Đất giữa vùng sơn đã để chúng tôi thanh thản. Đã bước sang tuổi cổ lai hy, lại thêm chứng thấp khớp hành hạ, nhà văn Nguyễn Uyển vẫn còn ham đi và ham viết lắm. Một thân một mình với cái máy ảnh cầm tay đáp ô tô khách đường trường lên tận tỉnh Điện Biên, Lai Châu tìm đến với những chiến sĩ Biên phòng ở Ka Lăng, Tây Trang, A Pa Chải; những bản làng người dân tộc ở nơi hẻo lánh, trên những đỉnh núi cao ngất ở Mường Ảng, Mường Nhé, Điện Biên Đông... Anh nói, phải đến những vùng xa xôi ấy mới có cái đáng để mà viết và gắng viết sao cho người đời phải nhớ. Quả thật, những trang viết nóng bỏng của anh sau chuyến đi khổ công này đã khiến các đồng nghiệp địa phương tâm phục khẩu phục và chủ yếu là nó đã tác động mạnh đến lương tri bạn đọc xa gần về hiện trạng của đồng bào vùng cao và kéo theo đó là các nguồn hàng từ thiện ùn ùn đổ về giúp đỡ tỉnh Điện Biên. Nhưng điều vinh dự nhất cho nhà văn Nguyễn Uyển là anh đã được ghi công bằng câu nói cửa miệng: "Ở Điện Biên người ta luôn nhắc đến nhà văn - nhà báo Nguyễn Uyển!"
Nhưng tấm lòng trung thực và sự thiện chí của tác giả đã vượt lên trên những đố kỵ. Quý nhân phù trợ cho anh là đồng chí P. Chủ tịch tỉnh Quốc Phi và Bí thư tỉnh ủy Hoàng Quy. Nguyễn Uyển tâm sự: Chuyện buồn quanh Sau mùa lũ là cái cớ để anh tác thành tập truyện Những ngày chưa xa, từ Hương Nộn bỏ ruộng hoang mà anh có thêm một số bài phê phán những biểu hiện tiêu cực trong các lĩnh vực của cuộc sống dưới nhiều bút danh khác nhau, trong đó có bài viết gần như là để tri ân: Đất giữa vùng sơn đã để chúng tôi thanh thản. Đã bước sang tuổi cổ lai hy, lại thêm chứng thấp khớp hành hạ, nhà văn Nguyễn Uyển vẫn còn ham đi và ham viết lắm. Một thân một mình với cái máy ảnh cầm tay đáp ô tô khách đường trường lên tận tỉnh Điện Biên, Lai Châu tìm đến với những chiến sĩ Biên phòng ở Ka Lăng, Tây Trang, A Pa Chải; những bản làng người dân tộc ở nơi hẻo lánh, trên những đỉnh núi cao ngất ở Mường Ảng, Mường Nhé, Điện Biên Đông... Anh nói, phải đến những vùng xa xôi ấy mới có cái đáng để mà viết và gắng viết sao cho người đời phải nhớ. Quả thật, những trang viết nóng bỏng của anh sau chuyến đi khổ công này đã khiến các đồng nghiệp địa phương tâm phục khẩu phục và chủ yếu là nó đã tác động mạnh đến lương tri bạn đọc xa gần về hiện trạng của đồng bào vùng cao và kéo theo đó là các nguồn hàng từ thiện ùn ùn đổ về giúp đỡ tỉnh Điện Biên. Nhưng điều vinh dự nhất cho nhà văn Nguyễn Uyển là anh đã được ghi công bằng câu nói cửa miệng: "Ở Điện Biên người ta luôn nhắc đến nhà văn - nhà báo Nguyễn Uyển!"
Thoắt thôi, anh đã lại có mặt ở miền biển Vũng Tầu nắng gió
cùng với các nhà văn Tạ Duy Anh, Sương Nguyệt Minh, Kim Chuông viết chân dung
những người đi tìm lửa cho ngành dầu khí, một đề tài hoàn toàn xa lạ nhưng với
anh lại thêm một chuyến thâm nhập thực tế dày cộm những kỷ niệm.
Sinh ra ở làng Quân Khê, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, miền đất
hứa về ngành nghề và về tiềm năng du lịch. Anh là người sống có trách nhiệm với
gia đình, vợ con, với bạn bè, đồng nghiêp. Tính tình quảng giao và cởi mở; ai
đã quan hệ với anh và đọc anh đều tìm thấy ở anh cảm giác bình yên và tin cậy.
Tôi nuôi hai đứa con mà nếm đủ mùi. Anh phải đi bước nữa, vì bà vợ đầu của anh
không may lâm bệnh trọng qua đời sớm. Đông con (anh có sáu con cả thảy), nhiều
cháu thì vui nhưng vất lắm. Đã quen khó nhọc từ nhỏ, khi là nhân viên thường
cũng như khi làm quản lý, anh coi việc dầm mình dưới ao sâu cùng vợ con mò rong
nuôi lợn, thả lờ, chăng lưới bắt cá là chuyện bình thường. Làm bất cứ việc gì,
miễn là có thêm thu nhập cho gia đình. Ấy là chưa kể hầu như tháng nào anh cũng
phải ngược ô tô (có khi đi xe máy) về Quân Khê, gần giáp Yên Bái, chăm sóc mẹ đẻ
ngoại tuổi chín mươi. Quyền huynh thế phụ, anh thay mặt người cha quá cố điều
hành cái gia đình chung theo chiều yên ả, công minh và chính cái môi trường nhỏ
bé và ấm cúng ấy đã đi vào các văn phẩm của anh một cách tự nhiên và nhuần nhuyễn.
Hãy đọc các truyện ngắn được in trong tập Làng có chuyện, đọc Được
mất của làng, Vệt làng thời "cao tốc" và đặc biệt mới đây là Dòng
chảy đất đai. Ý đồ viết cuốn tiểu thuyết này nảy sinh khi anh tình cờ đọc được
một bài báo trên báo Đảng nói mạnh về vấn đề "tam nông", nhưng cái
chính là thực tiễn sôi động ở làng Quân Khê của anh đã mời gọi đến mức thúc
bách anh phải cầm bút. Và, thế là với kinh nghiệm lịch lãm và tác phong nhanh
nhạy của một nhà báo, nhà văn đã ngồi vào bàn viết liền một mạch trong vòng hai
tháng gần ba trăm trang sách - tác phẩm có tính dự báo về vận hội mới của nông
thôn, nông nghiệp và nông dân.
Tôi nghĩ, trong đội ngũ
những nhà văn viết về nông thôn ở nước ta hiện nay không thể không nhắc tên
Nguyễn Uyển. Hôm tôi cùng anh về quê hương Quân Khê, anh dẫn tôi ra mảnh đất kề
bên đường cao tốc trước nhà mình đang được san lấp và nói mấy lời tự đáy lòng:
"Tôi sẽ xây dựng ở đây một trang trại nhỏ để mai mốt về di dưỡng đoản khúc
cuối của tuổi già và tiếp tục nghiệp văn".
N.V.T
B- MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU:
MƯA RÂY TRONG NẮNG
Từ thị trấn xa xôi mới nhô đầu lên ngôi thành phố, rất có thể
người ta chẳng biết gì về cuộc sống của chúng tôi, nhưng dám chắc dễ gì ai hơn
tôi. Ấy là tôi nghĩ, và bạn bè trang lứa đều một giọng như thế. Chồng tôi, một
kiến trúc sư xây dựng thành danh, dốc hết tâm lực để tạo nên những tác phẩm bắt
mắt nhất cho thành phố thời hội nhập. Mỗi khi tôi ngỏ lời sẻ chia, anh lại nhỏ
nhẹ: - Kìa em - Em chính là tác phẩm hoàn mỹ nhất của đời anh. Gắng sức với
công việc cũng còn vì em vì con cái sau này! Bởi thế tôi yêu anh, thương anh
như yêu thương chính cuộc đời mình. Nửa ngày vắng anh tôi thấy hụt hẫng. Một
ngày thiếu anh tôi thấy đời trống vắng. Tôi nơm nớp chỉ sợ anh đi đâu đó qua tuần.
Vậy mà, anh nhạt nhòa, tàn phai rất nhanh sau những tháng ngày tôi bị Hoàng hút
hồn. Ấy là cách nói lấy phần được về tôi. Thực ra, tôi đã “hút” được Hoàng!…
Ngày ấy như vẫn đâu đây… Trong chuyến bay từ Nội Bài trở lại
thành phố quê nhà, tình cờ tôi gặp Hoàng, một chàng trai đàng hoàng, chững chạc,
lịch lãm từ dáng đi đến lời ăn tiếng nói. Ngồi bên anh, chúng tôi cùng ghé mắt
qua cửa sổ, mây như bông bồng bềnh, khiến chuyên cơ như du thuyền lảng bảng
trong cõi mộng mơ… Cốt làm quen, tôi mạnh dạn:
- Anh về đâu?
Ánh mắt thẳm xanh, giọng đầm ấm, anh bảo:
- Mình về thị xã… à xin lỗi, về thành phố quê em!...
Nào ngờ, lời khơi chuyện ấy đã khiến chúng tôi hiểu về nhau.
Quê anh ở miền chân sóng, nhưng sinh sống ở Hà nội với vợ và hai con (một trai,
một gái). Được trên “bổ nhiệm”, anh về làm thủ trưởng cơ quan truyền thông của
tỉnh này mới vài năm nay. Vậy là cảm nhận của tôi khi chợt gặp anh là chính
xác: Phong độ, tài trí, đức độ, quyết đoán… Máy bay chuẩn bị hạ độ cao, tôi luống
cuống:
- Với anh, điều kiện của hạnh phúc là gì?
Anh cười hồn hậu:
- Hắc nhỉ. Nhưng mà hay. Rất hay. Riêng anh thì, mãi mãi tâm
đắc lời tự bạch của đại văn hào Pháp - Banzac: “Được sống, được yêu,
được viết”!...
Rời máy bay, chúng tôi trao danh thiếp. Anh níu tôi lên xe,
đưa về tận ngõ phố tôi ở… Ngỏ ý mời anh vào nhà. Anh cười, chừng mực, đĩnh đạc,
nhưng vẫn hóm hỉnh lôi cuốn:
- Cám ơn nhiều. Em đẹp thế, anh phải phòng thân!...
Tôi hiểu. Anh giữ cho tôi. Và giữ cho anh!...
Chỉ là thế. Gặp không hẹn. Chuyện không đầu không cuối. Nhiều
lúc ngồi vẩn vơ nghĩ lại tôi bật cười một mình... Lòng nôn nao say sóng.
Bẵng một thời gian, những cơm áo gạo tiền, mưu sinh cuộc sống
cuốn phăng đi những giây phút mộng mơ, mọi chuyện dường như đã rơi vào vô thức,
bởi cuộc đời vô vàn là những chuyến đi... Cuộc đời đâu phải là công thức toán học
để định lượng trước hay đi tìm giới hạn cho lim, lẽ đó nên tôi và anh duyên nợ
thế nào gặp lại nhau trong hội thảo, cả hai mắt tròn xoe...
Kết thúc 3 ngày, chúng tôi bận rộn những tin nhắn. Trước còn
thưa, sau dập dồn. Trời đất là cái sân trơn, đi còn chả vững nữa là vội vã...
Có những lúc tôi định thần lại, thấy xấu hổ trước chồng. Tôi
hoảng hốt với mình, tự lên án, xỉ vả chính mình. Nhưng công bằng mà nói ở
tuổi yêu, tôi chưa hề xi mê người trai nào như thế, kể cả chồng tôi bây giờ.
Tôi yêu anh không vì vẻ hào hoa, nói năng văn vẻ, bởi tôi rất dị ứng với những
người đàn ông như vậy, quan trọng nhất là nhân cách và bản lĩnh đàn ông...
Đêm đêm, cứ chập chờn thấy Hoàng cùng những lời rủ rỉ khiến
trái tim tôi chao đảo… Lúc nhìn chồng ngủ, lại vẩn vơ ngẫm ngợi: Sao người của
mình không có mái tóc xanh, nụ cười xanh, đôi mắt thẳm xanh như người ấy? Sao
những khi chuyện trò, người nhà mình hay vòng vo Tam quốc, hay khen, hay lựa
cho mình yên lòng. Đằng này, chủ đề trò chuyện của người ta luôn vui vẻ, đa dạng,
ngắn gọn, đơn giản hóa vấn đề mà ngồn ngộn thông tin như của nả trời cho! Tự
dưng tôi giật mình thon thót. Có nhẽ mình đã lao dốc. Đứng núi nọ đọ núi kia là
thói xấu của người ít học. Nhưng rồi lý trí lại quả quyết, sự so sánh của tôi
chính là ý chí vươn tới. Người đời đã từng khuyên nhau: Cuộc đời luôn là sự so
sánh ngẫm suy. Trong bóng tối mới tìm ra kẽ sáng. Nghỉ ngơi mới ngấm khi nhọc
nhằn. Bình tĩnh nguôi ngoai mới biết cả giận mất khôn! Chẳng nhẽ trời cho làm
thân con gái, nên ngốc nghếch chỉ coi chồng - người luôn làm mình vui lòng là thần
tượng của cuộc đời?. Tự dưng tôi thấy mình sắt lại, cứng cỏi hẳn lên, mạnh mẽ hẳn
lên, quyết liệt hẳn lên. Tôi vẫn lặng lẽ bên anh, bụng nhủ dạ: Mình đúng. Rất
đúng. Yêu và tin yêu là quyền tối thượng của phụ nữ. Chính nó là sợi dây nối kết
thấm đẫm tâm linh đương nhiên của con người với nhau. Bất kể người ấy là ai, ở
đẳng cấp nào. Chần chừ, e thẹn, ngại ngùng sẽ lỡ làng, vĩnh viễn không có được
vị ngọt của tình yêu, suốt đời ôm hận, nuối tiếc, khổ đau…
Vậy là hai chúng tôi vẫn yêu và hứa sẽ chia sẻ cho nhau trong
cuộc đời này và điều quan trọng là phải làm tốt nhiệm vụ và bổn phận của mỗi
người. Càng yêu nhau chúng tôi càng hiểu, kể cả những điều không thốt lên thành
tiếng. Yêu để sống tốt và làm tốt mọi việc thì có gì là xấu? Cuộc sống đâu có
gì là bất biến?
Tôi hết mình đu cao. Ao ước đứa con do mình sinh ra sẽ là bản
sao của anh không hơn không kém. Nếu kết quả, tôi sẽ lựa cơm, không để chồng nhận
ra phận kẻ “tát nước theo mưa”… Càng say, càng yêu, càng dâng hiến tôi càng để
tâm, để mắt săm soi từng cử chỉ lời ăn tiếng nói của Hoàng. Tôi sợ mất anh, mỗi
khi anh chụm đầu bàn việc hoặc chuyện trò vui thú với lũ con gái đó đây. Tôi đầy
ứ ruột gan, mắt mũi sầm sì mỗi khi thấy anh sánh bước với cô này, gái nọ trong
cơ quan. Những lúc ấy, tôi không còn thấy vẻ cao sang, lịch lãm, đàng hoàng của
anh đâu nữa mà hiện lên tất cả, phơi bầy tất cả chỉ là một gã lãng tử không hơn
không kém. Thấy tôi tức tối, khó chịu, Hoàng nhẹ lời:
- Em à. Phải biết kìm nén. Chúng ta ai có phận của người ấy rồi.
Đến với nhau lương tâm đã dằn vặt khổ sở, em đừng làm rối chuyện!
Lời gan ruột ấy anh xả ra trước lúc rời tôi lên máy bay ra Hà
Nội với vợ con. Tôi thắt gan thắt ruột!…
Cay đắng dồn ứ chiều ấy, đêm ấy. Nếu biết viết lách như các
nhà văn, nhà thơ, hẳn tôi sẽ gọi đích danh đêm ấy là Đêm đắng .
Thơ ai đó tôi đọc từ hồi nảo hồi nao bỗng nỉ non: “Nếu có anh chiều nay em
đâu phải/ Để tâm hồn như xác lá mùa thu…”. Đêm sang canh. Hoàng ơi. Giờ này chắc
anh đang ngủ rất sâu, rất ngon bên vợ và các con. Chỉ mình em, một mình em cô
đơn trong trống vắng. Chỉ mình em nghe rõ từng nhip, từng nhịp đồng hồ đếm bước
cô quạnh, não nề.Trăng muộn soi qua chỗ tôi nằm. Trăng cũng cô đơn lạc lõng như
tôi. Hiu hắt. Tái tê...
Chút gió lạc loài luồn qua song cửa làm tôi rùng mình, nước mắt
trào ra. Chẳng hiểu sao tôi lại ra nông nỗi này. Quắp chiếc gối ôm vào lòng,
tôi lần tìm dư vị nồng nàn, lời nói ngọt ngào, vòng tay êm ái… Tôi mơ thấy mình
gục mặt vào Hoàng, mái tóc xõa tỏa, làn môi nhẹ nhàng hôn lên ngực anh với niềm
hạnh phúc chứa chan, nước mắt thấm đẫm. Tôi rên lên: Anh ơi! Anh biết không, em
đã sẵn sàng, nếu mệnh hệ gì chụp lên đời anh, em sẽ xả thân đón nhận. Và lúc
này đây, thắp nén hương đen, em khấn lậy thần phật: “Nếu trời có trách phạt,
xin cứ giáng hết xuống đời con. Vì con đã bỏ bùa mê anh ấy. Đời anh ấy đã đi
qua bao sóng gió của hạnh phúc gia đình, xin đức tối cao toàn năng rủ lòng từ
bi che chở cho gia đình anh và anh ấy; chỉ mình con - một đời con xin gánh khổ”…
Có lẽ từ nay rồi Hoàng sẽ ít liên hệ với tôi, anh sẽ kiếm cớ
để xa lánh tôi đây. Trời phật ơi! Tôi sợ, sợ ngay cả với chính mình. Tôi chẳng
chút mảy may nghĩ đến chồng, những việc tôi làm cho chồng không còn xuất phát từ
tình yêu mà chỉ là nghĩa vụ và trách nhiệm. Tôi như kẻ đi trong bóng đêm, trước
mắt là mực đen, mắt mở trân trân mà vẫn không thấy lối. Đi là đi, chỉ biết gắng
gồng vượt qua bão tố.
Nhiều lần, rất nhiều lần tôi đã lấy hết dũng khí để quên anh,
nhưng không sao quên nổi. Lý trí vẫn gắng gạn: Hãy rời xa khi còn chưa muộn.
Nhưng đêm đêm lại nghe con tim nỉ non vì nhớ vì yêu. Nghẹn ngào, nước mắt lại
rưng rưng. Vậy là tôi cứ trượt dốc buông xuôi…
Lắm khi tôi đã vẽ ra bao nhiêu chuyện xấu xa về tôi để Hoàng
chán ghét, để đôi đứa cùng ngãng nhau ra. Nhưng mỗi chuyện thêu dệt nên, khi
nói ra tôi lại ngập ngừng vì sợ mất anh. Càng tìm cách xa anh tôi lại càng muốn
có anh, càng muốn có anh tôi lại càng đau khổ. Tôi sập sụp tinh thần, đầu óc
ong ong như dây đàn. Lắm khi tự dưng tôi nổi khùng với mọi người, chẳng ai hiểu
vì đâu tôi lại như thế. Quay cuồng trong thế giới điên rồ, tôi chuẩn bị rất kỹ
để nói với anh, nói hết với anh rằng: “Anh này, tai sao mình lại gặp nhau
trong nghịch cảnh vậy? Trái tim em muốn quỵ ngã. Còn gì đau khổ hơn khi yêu mà
không được sống bên nhau. Em không thể chịu đựng nổi nữa. Anh vô tâm. Anh nói
trên điện thoại, em gắng cười làm vui để anh an lòng, nhưng trái tim em tê tái
vì biết không bao giờ có được anh cho riêng mình. Anh khuyên phải biết tự kìm
nén Nhưng anh ơi, em không đủ sức. Có lẽ em không thể yêu thêm được nữa, nhưng
bằng cách nào để quên anh thì em không biết. Vốn chúng ta sinh ra đã không phải
của nhau, chúng ta không được phép yêu nhau. Nhưng em và anh đã cố tình đi ngược.
Em không được quyền làm khổ anh, phải vậy không? Trời phật ơi! Chỉ mới nghĩ vậy
thôi, trái tim em đã quặn nhàu đau đớn. Đừng đùa em nữa. Yêu anh, em đau khổ biết
chừng nào?...”
Qua đi một mùa giông bão. Chúng tôi vẫn mải mê say đắm như
con chim quen chậu, con cá quen mồi. Hoàng thật xứng là người đàn ông để tôi
lúc nào cũng khát, cho dù anh không phải mối tình đầu của tôi. Cho dù anh yêu
tôi cũng chẳng sung sướng gì, trái lại tôi chỉ làm cuộc sống của anh thêm bừa bộn.
Bởi thế, khi lắng lại tôi thấy lời anh khuyên “phải biết kìm nén” là có lý. Tôi
sẽ giữ anh. Tôi sẽ trọn đời yêu anh. Tôi sẽ tinh tế để anh khỏi phiền lòng.
Nhưng giá như anh đừng lãng tử. Đừng để bụng để dạ đến ai!
Thêm một kỳ nghỉ tôi không theo anh ra Hà Nội để “bám thắt
lưng địch mà đánh”. Màn đêm nơi phố nhỏ bắt đầu buông. Trăng pha trong sương
huyền ảo, lạnh lùng. Căn phòng vẫn thế mà sao đêm nay tôi cô đơn, chơi vơi, như
hư như thực. Giá như thời trẻ con, tôi đã òa khóc, khóc nức nở, khóc thét lên,
réo gọi tên anh, nhưng bây giờ thì không thể. Thế mới biết đau thể xác còn dễ
chịu đựng, chứ nỗi đau tinh thần thì quá thể. Giá như mình vứt bớt đi được những
ham muốn? Hoàng ơi. Giờ này anh đang làm gì, nghĩ gì? Sao tôi không là chị ấy để
được chan chứa tự do, để trọn đời hạnh phúc bên anh!...
Di động rung lên báo có tin nhắn. Thật linh nghiệm, giác quan
nào mách bảo anh đây, vừa nhắc tên là anh xuất hiện ngay. Tình yêu của chúng
tôi có trời phật chứng giám, có quý nhân phù trợ không mảy may tính toan vụ lợi.
Tình của con tim, của những trái tim cho ta yêu tha thiết cuộc đời, cho ta bù lấp
những gì đời mình trống vắng… Mở điện thoại, lướt nhanh những dòng chữ… Giời đất
ạ! Lại lần nữa nó xúc phạm tôi. Không là lời lẽ của vợ anh ta phỉ báng, chửi bới,
đay đả tôi thì còn ai vào đây nữa. Vậy mà lần nào Hoàng cũng cứ một mực: Đấy là
tin rác, là ai đó trêu ghẹo; nào là vợ anh không dùng di động, không biết nhắn
tin. Không biết thì người ta thuê mướn người chửi, người đánh ghen chứ sao! Tôi
nhất mực việc tôi đoán là đúng. Anh phải dạy mụ vợ của anh biết cách xử sự của
con người với con người ngay đi. Cứ đà này thì nhất quyết tôi sẽ làm cho ra nhẽ,
sẽ ba mặt một nhời: Tôi yêu anh Hoàng đấy. Tôi sẽ lấy anh ấy làm chồng. Có giỏi
thì bắc thang lên trời mà kiện, mà chửi! Anh chắp tay, cúi sạp xuống sàn nhà:
"Anh van em. Anh lạy em. Anh xin em. Vợ anh không thế. Cô ấy là người tử tế
không có thì giờ để làm những việc như thế. Mà vợ anh đâu biết chuyện của chúng
mình với nhau!...". Bây giờ, tới nước này thì không thể lặng im được nữa.
Cầm máy gọi điện cho anh giữa đêm khuya khoắt, nhưng anh khóa máy. Tôi quyết định
bay ra Hà Nội ngay sớm mai, để cho anh biết rõ cách xử sự của tôi với vợ anh
ta, và sau đó tôi sẽ một mình đi ra phố biển Hạ Long, hoặc vào Đà Lạt nghỉ ngơi
để xả trôi, đuổi cổ, gạt bỏ những nhơ nhuốc tầm thường, để minh chứng với anh rằng
tôi đâu phải kẻ u mê đến độ không nhận ra bản chất của việc mình làm… Đêm không
ngủ. Đợi trời sáng để ra sân bay. Tức giận vợi đi. Tôi lại thương anh đến nghẹn
lòng. Thương mình, thương tình yêu của chúng tôi chăm đắp cho nhau. Mỗi lần tạm
xa anh là một lần nước mắt tôi rơi. Biết bao lần tôi quyết chạy trốn khỏi anh,
trốn khỏi nụ hôn nồng nàn, ánh mắt thiết tha, vòng tay dịu dàng êm ái, vầng
trán cao sang tri thức đẩy tôi xa những mấy tầm tay với… nhưng rồi lại sợ cô
đơn khi mà tâm hồn tôi, trái tim tôi, thể xác tôi đã thuộc về anh vĩnh viễn.
Cho dù tôi yêu anh trong tội lỗi!...
Nắng hửng. Trời cứ mưa. Mưa không khắp. Cơn gió lạc loài vô cớ
cuốn tung giàn hoa giấy đang kỳ bung hoa trước hiên nhà. Lên taxi, bay cao, tôi
lạnh lùng xem lại những dòng tin nhắn phỉ báng tôi giữa đêm qua, để thấy quyết
định của mình về Hà Nội trực diện với đối phương là đúng. Tôi cố quên đi, cố
ghìm nén, cố vứt bỏ… nhưng những dòng tin chết tiệt ấy cứ ngạo ngược múa
may trong đầu óc, thậm chí cứ ung oang lên, rất vần, rất điệu: “Chăn bồ cực
hơn chăn trâu/ Phải chăm sóc nó từ đầu tới chân/ Trâu đâu phải cấp áo quần/ Bồ
thì đủ mốt từ chân tới đầu/ Ngủ thì phải ngự nhà lầu/ Ăn thì đủ món cơm Tầu cơm
Tây/ Vàng mười trang sức mươi cây/ Khoản kia cũng phải mỗi ngày hai keo/ Chăn bồ
mấy chốc mà nghèo/ Công danh… Sự nghiệp… bay vèo như chơi! Cho dù đó là những
dòng thơ ăn mượn, rẻ tiền, nhưng chúng vẫn khiến tôi đắng đời.
Tại nhà nghỉ, căn phòng VIP quen thuộc vốn là chỗ hẹn hò, hạnh
phúc như có sức sống trỗi dậy vừa mạnh mẽ vừa êm đềm. Tôi nhớ những lúc mình được
yêu, được an toàn. Anh như người bạn, người anh, người chồng thông minh, nhân hậu,
vị tha… luôn tiếp cho tôi nghị lực, ý chí để vượt qua mọi bão giông, cạm bẫy của
cuộc đời… Trong sâu thẳm trái tim, thú thật giờ phút này tôi thấy anh vẫn rất xứng
đáng là người đàn ông của đời tôi… Nhũn mềm... Bao nhiêu tức tối, bao nhiêu quyết
liệt, bao nhiêu thù hận phải cho ra nhẽ… bỗng tiêu tan. Nhìn chiếc giường đôi,
gối đôi, ga đệm thơm tho… tôi thèm khát có anh ngay để thương yêu… để sẻ chia…
để dâng hiến…
Bỗng tiếng gõ cửa nặng nề. Bà chủ nhà nghỉ bước vào đưa tôi
bình trà, đôi mắt đỏ au. Tôi hỏi:
– Kìa, bác. Làm sao thế. Điều gì khiến bác phiền muộn?
Không đáp lời tôi, bác bậm môi, tiếng khóc kìm giữ. Giọng méo
xệch:
- Tôi… tôi… đọc… báo, thương người ta quá…
Nói rồi, bà cùi cụi đi xuống. Trở lại, bà dúi vào lòng tôi
trang báo khổ nhỡ, giăng dòng tít lớn: Người mẹ trẻ hết mình vì những đứa
con nuôi tật nguyền. Theo đó là bức ảnh người mẹ cùng hai đứa con đẻ đang
lau rửa vết thương cho những đứa con nuôi. Giọng sụt sùi, thúc giục:
- Cô đọc đi. Người của khu phố tôi đấy. Cô ấy là hộ lý của bệnh
viện, một nách hai đứa con nhỏ, chồng công tác xa, lại phải phụng dưỡng bố mẹ chồng
tám chín mươi tuổi, luôn đau yếu. Ấy vậy mà vợ chồng dám đứng ra nhận hai đứa
trẻ tật nguyền do nhiễm chất độc mầu da cam, người ta đưa tới rồi bỏ lại trong
bệnh viện, đưa về chăm bẵm, nuôi dạy suốt mấy năm nay. Thế đấy, trong xã hội đầy
dãy sự xô đẩy, bon chen, vơ vén, nhũng nhương… vậy mà người nghèo khó nhất khu
phố lại thầm lặng, phúc đức như thế. Cô tính, làm sao mình không động lòng, làm
sao mình nỡ dửng dưng?…
Tôi lặng người khi đọc xong bài báo, nước mắt ràn rụa. Tiếng
khóc bật lên. Tôi quyết định không báo cho Hoàng biết mình đã về đây. Thôi tất
cả chuyện làm cho ra ngô ra khoai, thôi chuyện “tình địch”, phỉ báng. Thôi tất
cả việc đi đây đi đó để tĩnh dưỡng tinh thần… Sập cửa, xuống lễ tân, tôi trả lại
phòng. Bà chủ ớ ra. Tôi nói trong nước mắt:
- Bác ơi. Cháu dành toàn bộ số tiền kỳ nghỉ này để hỗ trợ người
mẹ trẻ ấy!
Bà ôm lấy tôi, miệng rối rít:
- Vâng. Vâng. Rồi chúng tôi cũng sẽ đến đó. Họ là người thầm
lặng cứu vớt sinh linh… Cô tới trước đi. Nhà số 68, hai tầng, kẹp giữa hai nhà
tầng cao vút, ngay sau dãy phố này, cách đây dăm bảy trăm mét!...
Người mẹ trẻ mở cửa đón khách, tôi reo lên:
- Chị. Chị là mẹ hiền của những đứa con tật nguyền?
- Vâng. Sao chị biết?
- Em đọc được trên báo, nên mới tới đây!
- Giời ạ. Sao họ lại dênh tôi lên đó. Tuần trước có mấy người
trên Sở Thương binh- Xã hội tới thăm, chụp ảnh. Có ai là nhà báo đâu!...
Thấy mẹ đón khách, mấy đứa trẻ từ phòng trong chạy ra. Hai đứa
em tật nguyền hì hụi lần theo. Đứa lớn hơn lê bước bằng một bàn tay và một cùi
chân. Đứa lành lặn hơn thì đôi mắt cứ ngơ ngơ ngác ngác. Thỉnh thoảng cái đầu lại
ngúc nga ngúc ngắc, rất tội nghiệp. Tôi dang rộng tay đón chúng vào lòng thì
chúng ré lên. Người mẹ đỡ bằng lời:
- Cháu nó lạ. Chị thông cảm!
Đứa lớn lùi lại góc nhà, tay với với về phía tường có những tấm
ảnh mầu. Người mẹ lại đón đỡ:
- Cháu nó phô mới được chụp ảnh với ông bà và bố mẹ.
Tôi xòa tay, mềm lời dỗ dành:
- Cô bế nào. Cháu ngoan. Cô cháu ta cùng xem ảnh nào!...
Chúng thu mình lại, nhất quyết không theo. Hai cháu lớn kéo
tôi tới những tấm ảnh, giọng liến thoắng:
- Ông bà này, các em này, mẹ đây, bố Hoàng của cháu đây!
Tôi sững người. Bật thành lời: "Trời… H… oa…" Rồi vội
bo lấy miệng. Người mẹ hoảng hốt, đỡ lấy vai tôi: "Sao thế. Chị làm sao thế?"
Tôi đánh trống lảng: "Không sao. Em bị nấc!" Rồi chuyển giọng vồn vã:
"Các cụ cao tuổi, nom tướng mạo đẹp quá. Anh chị rất đẹp đôi!" Người
mẹ giọng sâu lắng: "Anh ấy nhà em cũng vất vả lắm. Xa vợ xa con. Đi thì chớ.
Ngày nghỉ về nhà lại phải đôn đáo ra ngoại thành kiếm thuốc cho con!" Tôi
xen vào: "Có phúc sẽ có phần. Em là người ở tận miền quê xa xôi, qua Hà Nội,
đọc báo thấy cảnh của chị, thôi thì có chút quà mọn gọi là đỡ chị chăm nuôi các
cháu!" Vừa nói tôi vừa đặt phong bao tiền vào tay. Người mẹ nhổm dậy, giọng
đay đảy: "Không. Không đâu. Chị đừng làm thế. Vợ chồng em không nhận đâu.
Chúng em vẫn đủ sức cưu mang các cháu. Với lại, chúng em đã giúp ai được
gì đâu!" Phải đủ điều van vỉ chị mới nhận cho. Được thể tôi vội cáo từ, giật
lùi ra cửa, vớt vát lại: "À chị. Làm ơn cho em xin số di động!" Chị
nói: "Cảnh em, chị bảo di động để làm gì. Năm xưa, anh Hoàng nhà em có sắm
cho, nhưng các cháu phải thuốc thang, em sang ngay cho người khác. Dùng cố định
cũng được rồi!".
Xoay người. Bước ra cửa. Tôi đi như bay. Người mẹ giật giã:
- Chị kia ơi. Tên chị là gì?
Ngoái lại, giơ tay thay lời đáp. Tôi cắm mặt lao đi như kẻ cắp
sắp bị bắt quả tang… Phía trước, mưa độn với nắng. Mưa lây rây. Mưa không khắp!.
TẾT TRỒNG CÂY NHỚ BÁC
Kể từ ngày Bác Hồ kính yêu về hợp tác xã Lạc Trung, xã Bình
Dương, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc thăm và phát động Tết trồng cây vào
sáng 25/1/1961, đến nay đã nửa thế kỷ có lẻ đi qua. Ấy vậy mà mỗi
khi Tết trồng cây đến chúng tôi lại nhớ về Lạc Trung. Và, mỗi khi nói về Lạc
Trung chúng tôi lại bâng khuâng nhớ Bác… Năm mươi lăm năm qua rồi, vậy mà câu
chuyện chúng tôi ghi lại từ ngày ấy vẫn cứ tinh nguyên:
“… Anh Tục vui vẻ xếp công việc ở trụ sở HTX, rồi dẫn tôi về
thôn Lạc Trung. Cây và cây tăm tắp suốt hai vệ đường. Tán cành xanh rợp đan
nhau rây nắng lổ đổ trên khắp lối đi. Tới chân làng, anh dừng lại, giọng trầm
xuống:
- Đây. Chính nơi này (anh giang hai tay đón và đỡ hai đầu đoạn
đường) chính là chỗ này, ngày xưa, Bác Hồ dừng xe, vào thăm Lạc Trung đó!
Bước sang vệ đường, tôi vươn hai cánh tay, cố kiết mà không
khoanh kín được thân cây bạch đàn. Lùi lại, tôi chăm chú nhìn, nét cổ thụ hiển
hiện khắp trên thân, trên cành của nó. Lớp vỏ già căú cặn, sùi sần, rêu mốc nổi
nhằng nhịt quanh những mắt cây, những chỗ xoáy sẹo vết tích của tác động xưa xa
gì đó.
- Cây này đã bao nhiêu tuổi? - Tôi hỏi, anh Tục đáp ngay: -
Có trước ngày Bác Hồ về đây hai năm!. Dẫu rằng câu trả lời của anh Tục không lấy
gì làm rõ ràng, nhưng tôi vẫn hiểu, nó được trồng trước ngày Bác Hồ về 2 năm, tức
là vào năm 1959, năm Bác phát động Tết trồng cây, năm cây bắt đầu có Tết. Cả
hai chúng tôi cùng một câu nói: Ngày ấy tới nay đã là hơn 50 năm!
Nhìn cây, nhẩm đếm số cây bạch đàn cổ thụ, giống cũ, số cây
chỉ tính trên đầu ngón tay, tôi thoáng hiểu ý nghĩa sâu xa trong tấm lòng của
người Lạc Trung với Bác. Như đoán được ý của tôi, anh Tục nói như khẳng định:
Cây làm mốc. Mốc thời gian của ngày Bác về thăm đấy!. Theo đà, anh Tục cuốn hút
tôi vào nỗi niềm riêng tư: Những đời cây từ ngày ấy đã góp nên cơ ngũ của làng,
của xã. Những lứa xoan, những lứa bạch đàn kế tiếp nhau giúp cho làng làm nên
những nhà kho, nhà trẻ, trụ sở, trường học, nhà ở. Nghe Bác dạy, từ Tết trồng
cây ngày ấy, cả Lạc Trung tươi xanh. Tháng sáu, tháng bảy cái nắng thôi không
nung nấu dân làng; cái gió, cái bão không còn là nỗi kinh hoàng của mỗi ngôi
nhà!… Ngừng giây lát, giọng anh buồn lạc hẳn đi:
- Thật tiếc! Bác hẹn trở lại Lạc Trung, vậy mà!…
Vẫn giọng xa lơ, ngắt quãng, ngắt khoảng, như đếm, như đong,
anh bảo:
- Ngày xưa ấy, quê tôi nghèo. Xã Bình Dương của tôi quá
nghèo. Làng tôi là vùng căn cứ, bị giặc Pháp đốt phá, ném bom trà sát. Các thôn
Tứ Kỳ, Lạc Trung, Phong Doanh chung ngày giỗ trận, hàng trăm người chết vì đạn
bom, sau ngày ấy, chỉ Lạc Trung mới có cây. Bây giờ thì cả xã, tuốt tuột, đâu
cũng cây xanh, trái ngọt, đâu cũng ngói đỏ, mái bằng, tầng thấp, tầng cao… Vậy
mà!… Ánh mắt anh bỗng mờ đục, đôi môi bặm lại…
Theo anh Tục, tôi vào thôn Lạc Trung. Anh Tục bảo:
- Tôi sẽ đưa nhà báo đi theo lối ngày xưa Bác Hồ đến với
làng! … Với tôi, anh Tục như một người thuyết minh viên đầy lòng trách nhiệm, kỹ
lưỡng, thận trọng, chính chuẩn trong từng lời khi nói về Bác với Lạc Trung quê
anh. Vừa đi, anh Tục vừa kể: - Hôm ấy là ngày 25/1/1961 (dương lịch) lúc 8h sáng,
có 3 xe ô tô nhỏ về đây, xe của Bác dừng lại nơi chúng ta vừa đứng, rồi
ngoặt vào sân kho hợp tác. Ông Lê Văn Tân (dạo ấy là Chủ tịch xã) ra tận xe
đón.
- Kính mời Bác đi thăm hàng cây mới trồng!
- Ấy, kệ tôi. Tôi đi theo ý tôi! Nói rồi Bác xăm sắn bước đi.
Bác vào nhà ông Lê Văn Phết rồi sang nhà ông Phan. Đi thẳng đến giếng nước của
gia đình. Tại đây hai bố con ông Phan đang xây thành giếng, Bác niềm nở hỏi
han, giang rộng tay, Bác dặn cụ Phan:
- Cụ nên xây thêm 20 phân nữa. Trên mặt giếng nên có lưới hoặc
phên đậy để giữ an toàn cho trẻ nhỏ… Nói rồi Bác trở ra đường xóm Ngói, thăm
những hàng cây xanh!...
Tôi tần ngần đứng bên giếng nước, nơi ngày xưa Bác đứng. Nước
trong xanh, trời mây in trong lòng giếng. Chúng tôi vào thăm gia đình cụ Phan.
Cụ Phan đã qua đời mấy chục năm nay. Người con cả bây giờ tóc đã nhuốm thẫm màu
tro. Ông phấn chấn kể lại những kỷ niệm Bác đến thăm nhà, cứ như chuyện xảy ra
mới ngày hôm qua, hôm kia. Vợ cụ Phan xen vào:
- Rõ khổ, hồi Bác đến, em nghèo quá, nhà tranh vách đất. Các
ông tính, mới qua những ngày giặc giã làm thuê, cuốc mướn mà. Nhờ có Bác, nhờ
có Đảng chúng em làm nên gian nhà, gian cửa… Tôi buột miệng:
- Nhà ta bây giờ khang trang nhất làng còn gì nữa!
- Ấy chết. Thấm vào đâu. Trên này có dễ hàng mấy chục nhà to
đẹp hơn cơ đấy!. Tôi nhìn lên tường, không có bức trang trí nào ngoài 2 bức ảnh
lớn: một bức Bác Hồ cùng các đồng chí lãnh đạo tỉnh và xã thăm giếng nước của
gia đình. Một bức Bác chụp lưu niệm với cán bộ địa phương. Đặt chén trà xanh đặc
quánh xuống mặt sa lông bóng nhoáng. Anh Tục đứng dậy, tiến về phía bức ảnh, dướn
người giới thiệu với chúng tôi: Đây là đồng chí Kim Ngọc, Bí thư tỉnh ủy (đã mất);
đây là ông Chu, Bí thư xã (cũng đã qua đời); đây là ông Tân (Lê Văn Tân)
dạo đón Bác ông ấy tuổi 40 nay vào tuổi 80 nhưng vẫn khỏe mạnh.
- Đúng thế. Cụ ấy bây giờ cũng là người trồng cây giỏi. Đòi hỏi
khát khao của cụ Tân là làm tượng Bác Hồ tại nơi Bác nói chuyện với nhân dân!.
Ông Tục vanh vách giới thiệu. Tôi lại chen vào:
- Tổ trưởng trồng cây lúc ấy là ai?
- Ông Nước, rồi ông Chăm. Các cụ còn sống cả, nhưng già lắm rồi.
- Bác Tần (Nguyễn Văn Tần) cán bộ miền Nam tập kết, Anh hùng
Lao động lâm nghiệp ở đây dạo ấy có đựợc gặp Bác Hồ không?
- Không được báo trước, nên cả ông Nước, ông Chăm đều vắng!...
Chúng tôi tìm đến nhà cụ Tân. Nhà cụ giản đơn, mái rạ, vách
đan nan. Cụ Tân đi chăm sóc vườn cây bạch đàn trồng khoán, nhưng người nhà vẫn
đông. Cháu con nhiều, lại thêm khách, nhà trở nên chật chội. Mải nghe chuyện đời
tư, do cụ bà kể lại, cụ ông đi làm về hạ chiếc cuốc trên vai, bứớc lên thềm hè
chúng tôi mới hay… Tuổi già đã gò gập lưng của cụ xuống. Đôi tròng mắt nhăn
nheo, hai má tóp lại. Mái tóc trắng phau. Tuy vậy dáng vẻ vẫn nhanh nhẹn, giọng
nói chắc khỏe. Chuyện về Bác, chuyện về cây làm tôi và cụ gẫn gũi như người
cùng xóm, cùng thôn. Cụ dẫn chúng tôi vào chuyện, cứ như chúng tôi cùng đến,
cùng đi.
- Vâng. Từ nhà cụ Phan, Bác Hồ trở ra đường xóm Ngói, rồi lên
bờ kênh số 6A thăm những đường xoan mới trồng cao ngang tầm người. Giữa độ đường,
ngang xóm Ngói, Bác dừng lại nhìn những cây xoan được trồng dày đặc, rồi vẫy
tôi và ông Chu đến. Bác choàng tay chụm đầu hai người chúng tôi lại, rít chặt
vào ngực Bác. Tôi thấy đau nhưng không dám cười và cũng chẳng dám kêu. Bác vui
giọng hỏi:
- Các chú có thấy khó chịu không? Cả hai chúng tôi vội đáp:
- Thưa Bác, có ạ! Bác hơi nới tay ra và hỏi:
- Có dễ chịu hơn không?
- Thưa Bác, thoải mái lắm ạ!
Bác cười, tay chỉ vào đám xoan trồng xin xít bên vệ đường:
- Như thế này cây có khó chịu không? - Hai chúng tôi nhanh nhảu
trả lời:
- Dạ, dày quá ạ! Ông Chu nói thêm: - Thưa Bác chúng cháu sẽ sửa
chữa ạ!…
Chúng tôi theo Bác, đi lên kênh, rồi vòng xuống xóm Hòa Bình.
Đến bãi rộng, nơi trồng nhiều xoan nhất. Mùa xuân đang về, lá chưa bừng nở.
Xoan non tua tủa nghiêm trang như những vệ sĩ bảo vệ cho Bác, cho dân làng.
Tôi nhớ quá và lạ quá, Bác giản dị tới mức tôi không tưởng.
Bác nhẹ nhàng ngồi phệt xuống thảm cỏ. Đồng chí Kim Ngọc, Bí thư Tỉnh ủy và
chúng tôi cũng ngồi theo. Dạo ấy xóm Hòa Bình còn thưa dân, đất hoang trống còn
nhiều, Bác quan sát cả vùng đất, rồi khuyên đồng chí Kim Ngọc và chúng tôi:
- Trồng cây lấy gỗ là tốt rồi, nhưng phải trồng cây ăn quả, cải
thiện cho dân! …
Dọc đuờng về sân kho, nơi ấy dân làng đang tập trung chờ đón
Bác. Bác gọi tên tôi và ông Chu, rồi bảo:
- Xã có mấy thôn?
-6 thôn ạ!
- Mấy HTX?
- Thưa có 9 ạ!
- Các HTX đã trồng cây như đây chưa?
- Dạ! chưa ạ!
- Phải làm như đây! …
Bác quay sang hỏi đồng chí Kim Ngọc:
- Tỉnh Vĩnh Phúc đã làm như đây chưa?
- Dạ! Có nhiều HTX đã làm nhưng chưa được như Lạc Trung ạ!
- Thế thì phải làm cho cả tỉnh như Lạc Trung!
- Vâng ạ!…
Bác về đến sân kho, nhân dân ùa ra, hò reo đón Bác. Đứng bên
góc sân (nơi này, từ năm 1969) xã đã trồng cây đa và dựng bia luu nhớ với dòng
chữ chân chất, mộc mạc: “ Nhân dân Lạc Trung được đón Bác Hồ ngày
25/1/1961 thăm phong trào trồng cây”. Bác nói chuyện với dân làng, ân cần
dặn bảo: “ Lạc Trung trồng cây tập thể như vậy là tốt rồi, nhưng phải người người
trồng cây, nhà nhà trồng cây. Trồng cây nào phải giữ tốt cây đó”… Bác bảo: “Ta khó khăn, nay mỗi người phải góp một viên gạch, phải trồng một cây”. Bác cao
giọng hỏi bà con:
- Lãnh đạo xã có tranh việc dễ không?
- Không ạ! Tất cả cùng trả lời. Bác cười hồn hậu:
- Thế là tốt. Bác âu yếm nhìn mọi người và bảo: “Bác rất phấn
khởi thấy HTX trồng nhiều cây. Bây giờ Bác phải về, Bác dặn hai điều: Một phải
xây dựng HTX thật giàu mạnh. Hai, nếu làm tốt thơ cho Bác, lần sau về Bác
có quà!”. Tất cả lại đồng thanh: “Vâng ạ! Vâng ạ”! Và tiếng vỗ tay nổ ran lên.
Bài ca kết đoàn được Bác bắt nhịp. Tiếng hát vang lên, vang xa. Bác giơ tay
chào. Tiếng hát và tiếng hô: Bác Hồ muôn năm. Bác Hồ muôn năm! Kết đoàn chúng
ta là sức mạnh!... Vang lên, vang xa tưởng đến không cùng!…
Về Lạc Trung, nghe chuyện người, chuyện cây, chuyện tình Bác
với dân, nghe tình dân với Bác, tôi bộn nhộn xôn xao đón nhận mùa xuân. Mùa
xuân về. Chim én trao nghiêng trên đồng non lúa mới. Đường Lạc Trung, Bình
Dương đến mọi ngả, mọi ngách của huyện lúa Vĩnh Tường vựa thóc của trung du
Vĩnh Phúc đâu cũng ngằn ngặt tươi xanh bạch đàn, đâu cũng thơm thơm hoa bưởi,
hoa chanh. “Đồng bằng rừng đang về” đó là nhận biết của tôi từ độ cây bạch
đàn trồng theo phương thức thâm canh với cung cách khoán mới được đưa về đất
lúa.
Mấy mươi năm chúng ta nghe Bác để “cây cũng có Tết” để người
người trồng cây, nhà nhà trồng cây, để Lạc Trung nghe Bác ai cũng có trí để nước
mạnh dân giàu… Anh Tục dẫn chúng tôi xem vườn quả trong khu trụ sở HTX, những
trái bưởi vàng mọng níu cong cành sát đất; những cây hồng xiêm loại quả chùm,
quả nhánh thi nhau phô màu quả mới… Chủ tịch Tục vốn điềm đạm, khiêm tốn, nhưng
trước thực tế đổi thay của làng xóm, anh đã cho tôi ghi những con số mới nhất:
Dân số xã Bình Dương quê anh giờ đã xấp xỉ 1 vạn ngừời. Số cây lấy gỗ còn lại
đã đến chu kỳ thu hoạch đổ đồng mỗi người được 3 cây (tức 3 vạn cây); cây mới
trồng, hai năm nay cả xã trồng 2 vạn rưởi cây bạch đàn theo phương thức thâm
canh. Thành công lớn nhất là xã phối hợp với Phòng nông nghiệp huyện làm vườn
ươm, năm qua bán tới trên 50 vạn cây. Anh cười vui: Tôm tươi ở quê tôi bán
không chạy, chứ bạch đàn thì bao nhiêu cũng không đủ! Như để chứng minh sự giàu
lên của HTX (toàn xã) anh bảo: Sản lượng thóc (kể cả quy từ vụ đông) năm
nay Bình Dương đã con số 5000 tấn, riêng làm nghĩa vụ và trao đổi hàng hóa non
1000 tấn!...
Chúng tôi cùng đi. Đường liên xóm, liên thôn ngút ngàn hàng
cây. Bạch đàn trắng, non xanh song sóng hai bên vệ đường, buông lá xỏa xuê. Qua
đoạn đường 13 ngay trên đất Phong Doanh, đường bạch đàn hiện lên như một rừng
cây mẫu. Tôi mê mải nhìn cây. Anh Tục kể: Hơn mười năm qua, Phong Doanh bị mệnh
danh là “thôn trắng”. Tết nào cũng trồng cây, nhưng trồng cây nào bị phá cây ấy”.
Hai năm nay, có giống cây mới ở HTX giao về cho Phong Doanh, phong trào vâng lời
Bác “Người người trồng cây, nhà nhà trồng cây, trồng cây nào sống cây ấy” được
phát động. Cả Phong Doanh chuyển mình. Nhà nhà thi nhau nhận trồng khoán, tiếp
nhận kỹ thuật và chế độ khoán rồi nhúp phiếu nhận từng khoảnh đường. Hôm mở đầu,
đường làng đông như hội. Các cụ phụ lão, các cháu học sinh hỗ trợ đào hố, gia
đình làm khoán bỏ phân lót và rồi tập thể gieo cây giống. Vụ ấy, Phong Doanh trồng
17.000 cây bạch đàn trắng. Nhìn cây tôi hỏi:
- Cách hưởng thụ sản phẩm khoán? Anh Tục cười:
- Có làm là phải có ăn! Rồi anh chỉ vào đám cây trước mắt
tôi. Đây là 2000 cây bạch đàn của gia đình cụ Cự. Theo quy định, 8 năm sau thu
hoạch, ngừời nhận khoán được hưởng 40% số cây, nghĩa là riêng gia đình ông Cự sẽ
thu về 800 cây, cứ 3 cây quy một khối, vị chi ông ấy sẽ có 270m3 củi, ấy là
chưa kể số công mỗi cây 15 điểm ông ta được hưởng trong 3 năm đầu. Lợi ích ấy
thôi thúc ngừời trồng cây gắn quyện, chắt chiu chăm bón cho cây mỗi sớm, mỗi
chiều.
Tôi tìm về khu vườn và căn nhà xưa bác Nguyễn Văn Tần ở ngay
đầu lối rẽ vào Lạc Trung. Ngôi nhà lá nhỏ xíu hồi xưa ấy, khi tập kết ra Bắc,
bác Tần và mấy cháu nhỏ cùng ở, nay đã nhường chỗ cho cây ăn quả những xoài, những
mít, tỏa bóng xum xuê. Người nơi đây bảo, bác đã về miền Nam ngay sau ngày giải
phóng.
Nhìn cây. Tôi nhớ người Anh hùng trồng cây ngày ấy. Bộn bề
câu hỏi trong tôi. Tôi muốn gọi to lên, gọi thật to để nhắn lời thăm hỏi bác Tần:
Bác còn sống, còn khỏe mạnh không? Bác có được sống đầm ấm với gia đình nội tộc
ở Hoài Nhơ, Bình Định rợp bóng dừa xanh như những tháng năm ao ước trở về? Bác
may mắn hay rủi ro!... Và, tôi cầu mong cho bác Tần vào tuổi đại đại thọ, nếu
có sống bác sẽ khỏe khoắn, hạnh phúc để xứng đáng với công sức và tấm lòng của
bác, Anh hùng trồng cây trên đất Lạc Trung, Hà Trì, Bình Dương vào những năm đất
nước đau đớn đôi miền… Nhìn cây, tôi lần trở lại kỷ niệm về những ngày của năm
60, tôi thường về đây với bác Tần. Từng gặp bác cùng ông Chu, ông Ty tiếp nhận
chủ trương Tết trồng cây do Bác Hồ phát động, lo gieo ươm hạt giống, lo cuốc hố,
bổ hom. Các ông Nước, ông Chăm không theo nổi công việc trồng cây nhưng vẫn kể
về bác Tần như biểu tượng sáng nhất của người miền Nam trên đất Bắc. Và tôi,
tôi nhớ cả những hôm bác lần lên Phú Thọ mua chanh giống; về Thổ Tang cóp nhặt
hạt xoan, vào nhà trường xin thầy giáo cho được nói chuyện với học trò. Kể chuyện
và phân tích những ý sâu xa trong lời dạy của Bác Hồ “Người người trồng cây,
nhà nhà trồng cây, trồng cây nào sống cây ấy”.
Bác chân tình với lũ trẻ: “Bác trồng cây để các cháu lớn lên lấy quả ăn, lấy gỗ dùng. Thống nhất Tổ quốc Bác về Nam. Bác trồng cây không để cho Bác hưởng đâu. Sao các cháu lại không cùng Bác giữ gìn lấy cây? “… Nhìn cây, tôi muốn nhắn với bác Tần rằng: Vâng lời dạy của Bác Hồ, cả xã Bình Dương (Vĩnh Phúc) vẫn rợp rừng cây. Theo lời Bác Hồ, Bình Dương dự tính sẽ trồng thêm nửa triệu cây lấy gỗ nữa, để giữ gìn đồng ruộng, để cùng với huyện lúa “đưa rừng về đồng bằng” góp phần giữ lấy đồi rừng trung du đó!
Bác chân tình với lũ trẻ: “Bác trồng cây để các cháu lớn lên lấy quả ăn, lấy gỗ dùng. Thống nhất Tổ quốc Bác về Nam. Bác trồng cây không để cho Bác hưởng đâu. Sao các cháu lại không cùng Bác giữ gìn lấy cây? “… Nhìn cây, tôi muốn nhắn với bác Tần rằng: Vâng lời dạy của Bác Hồ, cả xã Bình Dương (Vĩnh Phúc) vẫn rợp rừng cây. Theo lời Bác Hồ, Bình Dương dự tính sẽ trồng thêm nửa triệu cây lấy gỗ nữa, để giữ gìn đồng ruộng, để cùng với huyện lúa “đưa rừng về đồng bằng” góp phần giữ lấy đồi rừng trung du đó!
Hơn nửa thế kỷ Lạc Trung theo Bác Hồ trồng cây. Hơn nửa thế kỷ,
Lạc Trung tự hào với kỷ niệm đầm ấm được đón Bác về thăm. Từ Lạc Trung, cây đã
xanh, quả đã chín trên cả 6 thôn của Bình Dương. Bao lứa cây nối tiếp. Bao thế
hệ con ngừời kế nhau nghe Bác trồng cây cho Tổ quốc tươi xanh…
Mùa xuân về, Tết trồng cây lại đến… Nhìn cây, cây xanh, quả
chín trên đất Lạc Trung, trên đất trung du Vĩnh Phúc.
Tôi bâng khuâng nhớ Bác đến không cùng!.
NGUYỄN VĂN DÂN
- Họ và tên khai sinh: Nguyễn Văn Dân
- Sinh năm 1950
- Quê quán: Quất Lưu, Bình Xuyên, Vĩnh Phúc
- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 1997)
- Tác phẩm chính đã xuất bản:
1. Sách biên soạn:
* Từ điển thần thoại Hy Lạp - La Mã (biên soạn,
1993, 2000, 2007);
* Thần thoại Hy Lạp (biên soạn,
2001 à 2007, 2010);
* Biên niên sử thế giới - Từ tiền sử đến hiện đại (biên
soạn, 2004, 2009);
2. Sách nghiên cứu:
* Những vấn đề lý luận của văn học so sánh (chuyên
luận 1995);
* Lý luận văn học so sánh (chuyên luận, 1998, 2000,
2003, 2011);
* Nghiên cứu văn học - Lý luận và ứng dụng (tập tiểu
luận, 1999);
* Văn học phi lý (chuyên khảo và giới thiệu, 2002);
* Phương pháp luận nghiên cứu văn học (chuyên luận,
2004, 2006, 2012);
* Vì một nền lý luận - phê bình văn học chất lượng
cao (tập tiểu luận, 2005);
* Văn hóa và phát triển trong bối cảnh toàn cầu
hóa (chuyên luận, 2006);
* Diện mạo và triển vọng của xã hội tri thức (chuyên
luận, 2008, 2015);
* Con người và văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và
hội nhập (chuyên luận, 2009, 2011);
* Địa chính trị trong chiến lược và chính sách phát triển
quốc gia (chuyên luận, 2011);
* Chủ nghĩa hiện đại trong văn học nghệ thuật (chuyên
luận, 2013);
* Các lý thuyết nghiên cứu văn học - Ảnh hưởng và tiếp
nhận từ ngày đổi mới đến nay (chuyên luận, 2015).
- Chủ biên nhiều cuốn sách về khoa học xã hội.
- Dịch khoảng 20 đầu sách văn xuôi, kịch và thơ của nước
ngoài từ tiếng Rumani, Pháp, Anh.
- Giải thưởng văn học:
* Giải thưởng Văn học Hội Nhà văn Việt Nam năm 2000 cho
tác phẩm lý luận - phê bình Nghiên cứu văn học - Lý luận và ứng dụng;
* Giải thưởng “Giải Bạc Sách hay” năm 2014 của Hội Xuất
bản Việt Nam cho cuốn chuyên luận Chủ nghĩa hiện đại trong văn học nghệ
thuật.
* Tặng thưởng loại B năm 2014 của Hội đồng Lý luận Phê
bình Văn học Nghệ thuật Trung ương, cho cuốn chuyên luận Chủ nghĩa hiện đại
trong văn học nghệ thuật;
* Giải thưởng Văn học - Nghệ thuật năm 2015 của Liên hiệp
các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam cho cuốn sách lý luận - phê bình Các
lý thuyết nghiên cứu văn học - Ảnh hưởng và tiếp nhận từ ngày đổi mới đến nay;
* Giải thưởng Văn học Hội Nhà văn Việt Nam năm 2015 cho
cuốn sách lý luận - phê bình Các lý thuyết nghiên cứu văn học - Ảnh hưởng
và tiếp nhận từ ngày đổi mới đến nay.
- Suy nghĩ về nghề văn:
Hồi phổ thông, tôi là học sinh giỏi toán. Nhưng rồi tôi được
phân công học đại học chuyên ngành Ngữ văn tại Rumani. Thế là tôi bước vào nghề
văn với một tâm trạng bất đắc dĩ. Song tôi nhanh chóng xác định: Dù yêu hay
không yêu, nhưng nếu có trách nhiệm thì nghề gì cũng cho ta những cơ hội tốt đẹp.
Với gánh nặng trách nhiệm, tôi làm việc không phải bằng cảm xúc bay bổng si mê,
mà là bằng tư duy lôgic lạnh lùng của toán học. Mục tiêu của tôi là chân lý
chính xác. Giờ đây tôi không hề hối tiếc là “đã phải” theo nghiệp văn chương,
vì tôi đã tìm được một niềm vui nho nhỏ khi thấy mình đóng góp được phần
nào cho sự nghiệp văn học nước nhà.
A- TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ:
l. “Trong khoảng thời gian hai chục năm qua, [...] giới lý luận
văn học càng ngày càng quan tâm đặc biệt đến những vấn đề thuộc phương pháp luận
nghiên cứu văn học [...]. Đặc biệt là trong mấy năm gần đây, thành tựu lý luận
văn học gần như “được mùa” về phương pháp luận, trong đó cuốn Nghiên cứu
văn học - lý luận và ứng dụng của TS Nguyễn Văn Dân (Nxb Giáo dục, 1999)
là tác phẩm đáng chú ý. [...] Một điểm đặc trưng cho cuốn sách của Nguyễn Văn
Dân là tác giả tỏ ra rất mạnh dạn và sâu sắc trong việc lý giải các vấn đề thuộc
cấp độ mỹ học và trong việc đề xuất những ý kiến riêng của mình. Trên cơ sở tiếp
thu các luận điểm trong và ngoài nước, tác giả không ngần ngại đề xuất những
cách hiểu mới đối với những vấn đề và khái niệm đã được nhiều người quen dùng,
[...]. Đọc toàn bộ cuốn sách Nghiên cứu văn học... chúng ta thấy toát
lên một nỗ lực của tác giả muốn xác định chính xác các khái niệm mà nếu không
xác định rõ thì chúng rất dễ biến thành một “mê cung” không có đường ra. [...]
Có thể nói những gì mà cuốn sách Nghiên cứu văn học... của Nguyễn Văn Dân
làm được chưa phải là nhiều, [...] nhưng những gì anh đề cập đến đều là những vấn
đề cốt lõi của lý luận và phương pháp luận nghiên cứu văn học.”
(GS. Hoàng Trinh: “Một nỗ lực tiếp sức cho phương pháp luận
nghiên cứu văn học”, Nhân dân cuối tuần, số 18, ngày 30-4-2000).
2. “Trội bật lên trong các tác phẩm dự vòng chung khảo và được
nhất trí cao trong đánh giá là tập Nghiên cứu văn học - lý luận và ứng dụng của
nhà lý luận - phê bình Nguyễn Văn Dân. [...] Đây là tập hợp các bài viết có
tính khoa học, nghiêm túc, có hệ thống, nhất quán từ quan niệm đến cách diễn giải.
Rất đáng biểu dương là tập sách đã mang sắc thái riêng trong khi vận dụng, toả
sáng vào các vấn đề thực tiễn văn học nước nhà, với một lối viết điềm tĩnh,
trong sáng và tương đối uyển chuyển.”
(“Hướng tới sự phát triển rực rỡ”, báo cáo [về giải thưởng VH
năm 2000] của Hội đồng Chung khảo và Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Văn
nghệ số 10, ngày 10-3-2001).
3. “Cuốn Nghiên cứu văn học - lý luận và ứng dụng của
Nguyễn Văn Dân ra đời vừa muốn giới thiệu những kết quả nghiên cứu của anh
[...], vừa muốn tranh luận và đính chính một số cách hiểu những khái niệm và vấn
đề văn học theo anh là chưa chuẩn xác. [...] Cuốn sách [...] là một tập hợp các
bài viết về những vấn đề mà tác giả quan tâm. [...] nhưng nói chung, sự thống
nhất tương đối của chúng trong cơ cấu vẫn có thể chấp nhận và nhìn toàn cục người
ta vẫn thấy sự nhất quán của tác giả khi lý giải những vấn đề lý luận hay đánh
giá một tác giả, tác phẩm hay một trào lưu. Và điều này có thể coi là một ưu điểm
quan trọng của tác phẩm. [...] Anh cũng tỏ ra khá kỹ lưỡng khi khảo sát “dấu ấn
phương Tây” trong văn học Việt Nam hiện đại, từ đó, việc vận dụng thẩm định,
đánh giá về những ảnh hưởng của văn minh phương Tây đối với một số tác gia, tác
phẩm Việt Nam được người đọc xem là dũng cảm và khá chính xác. Và đó cũng là một
ưu điểm nữa của tập sách. [...] Cũng cần nói thêm về văn phong của Nguyễn Văn
Dân trong tập sách này. Dù là sách lý luận nhưng tác phẩm không sa vào “kinh viện”
nặng nề như một số cuốn sách thường gặp, mà có thể nói hầu hết các bài viết ở
đây đều dễ đọc. Một phần vì sự khúc chiết trong tư duy lý luận cũng như khái
quát lịch sử của tác giả, phần nữa là những vấn đề văn học đặt ra ở đây rất gần
gũi với đời sống thực của văn học ta [...]. Bởi vậy, cuốn sách đã có tác động tốt
và thu hút được sự chú ý của giới nghiên cứu lý luận - phê bình nói riêng cũng
như đông đảo bạn đọc nói chung. Chính vì thế tác phẩm đã được Hội Nhà văn trao
giải B, một trong hai giải cao nhất của giải văn học năm 2000.”
(Lê Quang Trang [Chủ tịch Hội đồng Lý luận - Phê bình, Hội
Nhà văn Việt Nam, khóa VI]: “Sức thuyết phục của một tập lý luận”, Văn nghệ số 10, ngày
10-3-2001).
4. Tập lý luận Các lý thuyết nghiên cứu văn học - Ảnh và
tiếp nhận từ ngày Đổi mới đến nay “là một công trình nghiên cứu lý luận
công phú, sâu sắc và cần thiết.”
(Đánh giá của Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam về Gải thưởng
Hội Nhà văn Việt Nam năm 2015, “Một nền văn học không thể lớn nếu như không có
những tác phẩm lớn”,
5. “Nghiên cứu lý luận có điểm sáng. Các lý thuyết
nghiên cứu văn học ảnh hưởng và tiếp nhận từ ngày đổi mới đến nay của nhà
nghiên cứu Nguyễn Văn Dân là một công trình có giá trị (dù thú thật, tôi không
đánh giá cao tiêu đề cuốn sách) xét trong tổng thể các công trình nghiên cứu,
lý luận được in. Đổi mới đến nay đã được 30 năm và đó là khoảng thời gian đủ để
chúng ta đặt vấn đề chúng ta đang ở đâu trong thế giới, chúng ta đã tiếp nhận
gì và tiếp nhận đến đâu các lý thuyết nghiên cứu văn học của thế giới. Từ lâu,
Nguyễn Văn Dân đã là một nhà nghiên cứu nghiêm cẩn, có tư duy chính xác và khoa
học. Công trình này là một sự tiếp tục những gì ông đã làm và nói thẳng, đó là
cuốn sách làm nên giá trị cho giải thưởng [năm 2015].” (TS. Phạm Xuân Thạch, “Những điều đáng tiếc của giải thưởng Hội
Nhà văn”).
B- MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU:
PHƯƠNG ĐÔNG - PHƯƠNG TÂY:
TỪ MỘT BÀI THƠ, SUY NGHĨ VỀ KHÁC BIỆT VÀ THỐNG NHẤT
TỪ MỘT BÀI THƠ, SUY NGHĨ VỀ KHÁC BIỆT VÀ THỐNG NHẤT
Ngày nay, khi nói đến hai nền văn hoá phương Đông và phương
Tây, nhiều nhà khoa học trên thế giới hay dẫn câu thơ nổi tiếng của nhà văn người
Anh đầu tiên đoạt giải Nobel văn học cách đây đúng một thế kỷ (1907) - R.
Kipling: “Phương Đông là phương Đông, phương Tây là phương Tây, và hai bên sẽ
chẳng thể bao giờ gặp nhau”. Người ta cho rằng phương Đông và phương Tây có những
đặc thù riêng của chúng. Tuy nhiên, theo tôi, cái vế sau của câu thơ nói trên mới
là điều đáng bàn: Có thật phương Đông và phương Tây không bao giờ gặp nhau
không?
Về bài thơ của Kipling tôi sẽ bàn kỹ ở phần sau, trước hết
tôi muốn nói rằng trên thế giới có rất nhiều tộc người sinh sống, cho nên sự
khác biệt giữa các tộc người là điều hiển nhiên. Nhưng các tộc người không tồn
tại biệt lập nhau, mà ngày càng tiếp xúc, giao lưu với nhau theo dòng lịch sử.
Vì thế cái chung giữa các tộc người ngày càng được mở rộng. Sự hình thành và
phát triển của cái chung đó được thực hiện nhờ có sự phát triển của văn hoá và
văn minh nhân loại. Trong lịch sử hàng nghìn năm, do điều kiện cách biệt về chủng
tộc và địa lý, giữa phương Đông và phương Tây đã hình thành những khác biệt
không khó nhận ra. Nhưng lịch sử cũng chứng minh rằng giữa phương Đông và
phương Tây không phải là có một sự cách biệt hoàn toàn. Nhiều học giả đã cho thấy
rằng giữa hai bên đã có những mối giao lưu từ hàng nghìn năm. Đặc biệt là trong
thời đại của toàn cầu hoá như ngày nay, khi mà thông tin và truyền thông đã làm
cho khoảng cách về không gian và thời gian không còn có ý nghĩa gì nhiều, thì
liệu cái vế sau trong câu thơ của Kipling có trở nên lỗi thời không? Thế nhưng
cái vế đầu của câu nói “phương Đông là phương Đông, phương Tây là phương Tây”
thì hình như vẫn mãi mãi ám ảnh suy nghĩ của nhiều học giả. Vậy cái gì đã làm
thành sự khác biệt được cho là không thể vượt qua như thế?
Có một xu hướng chung cho rằng người phương Tây duy lý, còn
người phương Đông duy cảm; người phương Tây hành xử nặng về lý, còn người
phương Đông hành xử nặng về cảm tính, về tình. Nhưng tại sao lại có sự khác biệt
lý-tình như vậy thì lại là một câu hỏi khó trả lời. Chẳng lẽ đó lại là sự
quy định của chủng tộc? Điều này khó có thể chấp nhận, bởi lẽ chưa có một công
trình nhân chủng học hoặc dân tộc học nào đưa ra được một kết quả thực nhiệm đủ
sức thuyết phục về điều đó. Có nhiều người viện dẫn đến sự khác biệt giữa hai
bán cầu đại não để lý giải sự khu biệt Đông - Tây. Nhưng người ta chưa chứng
minh được rằng liệu có phải ở người phương Tây có sự phát triển mạnh bán cầu đại
não trái - thiên về lý tính phân tích lôgic -, còn ở người phương Đông có sự
phát triển mạnh bán cầu đại não phải - thiên về trực giác tổng hợp -, hay đây
chỉ là hai chức năng bổ sung cho nhau trong cùng một bộ não của bất cứ một con
người nào?
Cho đến nửa cuối thế kỷ XX, một số nhà khoa học Italia và Nhật
Bản đã nghiên cứu so sánh phản ứng xúc cảm của người Nhật so với người Italia
xuất hiện trong hai bán cầu đại não. Họ đã lần lượt tiêm thuốc gây tê vào động
mạch chủ của từng bán cầu đại não của đối tượng thí nghiệm và thấy rằng: phản ứng
xúc cảm xuất hiện trên hai bán cầu có khác nhau giữa người Italia và người Nhật.
Ở người Italia thì phản ứng xúc cảm xuất hiện trên bán cầu não phải (được họ gọi
là bán cầu không mang tính trội). Còn ở người Nhật thì phản ứng xúc cảm xuất hiện
trên bán cầu trái (mang tính trội). Tuy nhiên họ không đưa ra kết luận gì
về tính trội lý tính trong bộ não của người phương Tây và tính trội cảm tính của
người phương Đông. Đây là một thí nghiệm rất đáng quan tâm. Nhưng nó vẫn đòi hỏi
phải được tiếp tục một cách sâu rộng và có hệ thống thì mới có thể kết luận
chính xác về sự khác biệt Đông - Tây này.
Mặt khác, khi nghiên cứu về tính trội ngôn ngữ trong hai bán
cầu của người phương Tây và người Nhật, các nhà khoa học Nhật Bản cho thấy rằng
người Nhật tiếp nhận nguyên âm nhiều hơn trong bán cầu não trái, còn người
phương Tây tiếp nhận nguyên âm nhiều trong bán cầu não phải, phụ âm thì ở bán cầu
não trái. Tuy nhiên, theo hai nhà khoa học người Mỹ gốc Nhật Niseis và Sanseis,
thì việc người Nhật tiếp nhận nổi trội nguyên âm trong bán cầu não trái không
phải là do di truyền, mà là do môi trường sống đem lại cho họ. Nhìn chung,
đây là một vấn đề nan giải mà khoa học vẫn chưa có tiếng nói cuối cùng.
Vì thế tạm thời chúng tôi đặt giả thiết cho rằng có lẽ sự
khác biệt Đông - Tây nằm ẩn sâu trong truyền thống văn hoá và văn minh của hai
khu vực lớn này (tức là “do môi trường đem lại”). Con người ban đầu sinh ra
trong thiên nhiên bao la đầy những bí ẩn, thì hoạt động văn hoá đầu tiên của nó
là nhận thức thiên nhiên. Tuy nhiên, khi văn minh phát triển, thì sự khác biệt
giữa các dân tộc bắt đầu hình thành. Người phương Đông cổ xưa chủ yếu là có nền
văn minh làng xã, họ không đặt mục đích chinh phục thiên nhiên mà dựa vào thiên
nhiên, gửi gắm tình cảm vào thiên nhiên để tồn tại và lập ra những hương ước nặng
về tình để đối nhân xử thế. Người phương Đông đề cao sức mạnh của cái thiên
nhiên và cái siêu nhiên. Họ quan niệm con người phụ thuộc vào thiên nhiên và
vào thế giới siêu nhiên. Người ta cho rằng con người phương Đông cổ xưa nhận thức
thiên nhiên và thế giới chủ yếu bằng con đường trực giác, tức là bằng tư
duy cảm tính. Phải chăng mối quan hệ tình cảm có phần huyền bí giữa con người với
thiên nhiên và với thế giới siêu nhiên là lý do chính tạo ra kiểu tư duy này? Y
thuật, số thuật và chiêm tinh thuật của phương Đông thể hiện rõ ràng quan điểm
này. Từ đó xuất hiện quan điểm tôn trọng gốc gác và là nguồn gốc của đạo đức học
phương Đông tồn tại cho đến ngày nay. Người phương Đông đi xa vẫn khó quên gốc
gác của mình. Người Do Thái, người Arập, người Hoa sống ở nước ngoài vẫn giữ gần
như nguyên vẹn bản tính dân tộc. Ở những nước văn minh canh nông phương Đông
(ngoại trừ văn minh canh nông du mục), việc hình thành nhiều quốc gia từ một
nguồn gốc dân tộc không phải là điều phổ biến.
Trong khi đó ở phương Tây, do nền văn minh đô thị phát triển
sớm, người phương Tây đã sớm có ý thức cạnh tranh với cái thiên nhiên và với
cái siêu nhiên, chinh phục thiên nhiên và chinh phục thế giới để khẳng định sức
mạnh của con người lý tính.
Thực ra nói về văn minh đô thị thì phải nói cái nôi đầu tiên
của nó là nằm ở khu vực Lưỡng Hà (Tiểu Á), bắt đầu từ nghìn năm thứ 8 trước CN.
Nhưng sự phát triển về sau lại hướng về phía Tây. Còn ở vùng viễn Đông xa xôi,
văn minh đô thị phát triển chậm hơn. Trong bối cảnh đó, nền y học phương Tây là
một nền y học chủ yếu dựa vào khả năng lý tính chế tác của con người mà ít cầu
viện đến thiên nhiên, không giống như y thuật phương Đông chủ yếu dựa vào chiêm
nghiệm trực giác. Mặt khác, ý thức chinh phục thiên nhiên và giao thương phát
triển sớm làm cho người phương Tây sẵn sàng rời xứ sở đi tìm miền đất mới để định
cư. Tất nhiên việc mở mang bờ cõi thì ở cả phương Tây lẫn phương Đông đều diễn
ra. Nhưng ở phương Tây, người bản quốc sau khi định cư ở miền đất mới thì sẵn
sàng lập ra một quốc gia mới để khẳng định mình và cạnh tranh với bản quốc. Sau
đêm dài trung cổ, người Tây Âu sau khi phát hiện ra châu Mỹ đã ồ ạt di cư sang
miền Tân Thế giới này để lập ra một loạt quốc gia độc lập hẳn với chính quốc của
họ. Quốc gia mới của người Anh trên lãnh thổ nước Mỹ ngày nay khác hẳn với nước
Anh chính quốc. Người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ở Trung và Nam Mỹ cũng vậy.
Như nhiều nhà khoa học đã phát biểu, một trong những cội nguồn
của văn hóa là tín ngưỡng. Chẳng hạn như nhà triết học người Nga (thuộc Liên Xô
cũ) Alexander Spirkin đã giải nghĩa từ “cultura” trong tiếng Latin (nghĩa là
“văn hóa”) bằng cách cho rằng nó có xuất xứ từ từ “colere” có nghĩa là “gieo trồng”
và “thờ cúng”. Và ông cho rằng văn hoá của mọi dân tộc trong suốt quá trình lịch
sử loài người đều thấm đậm chất tôn giáo ở một mức độ nào đó. Ngày nay,
tôn giáo không còn giữ được ý nghĩa và vai trò ban đầu của nó, nhưng cái chất
tín ngưỡng tôn giáo thì vẫn tồn tại thấm đậm trong lối sống, trong ngôn ngữ
giao tiếp hàng ngày của hầu hết các dân tộc. Mỗi khi thể hiện những tình cảm đặc
biệt, chúng ta thường viện dẫn đến Thượng Đế. Lúc vui, lúc buồn, ta thường kêu
“Trời”, cầu “Chúa”... Theo từ điển Wikipedia, từ “goodbye” [“tạm biệt”] trong
tiếng Anh có nguồn gốc từ tập ngữ trong tiếng Anh cổ “God be with ye” [“Chúa
phù hộ cho bạn”].
Mà hệ thống tín ngưỡng tôn giáo của phương Đông và phương Tây
lại có những sự khác nhau rất cơ bản. Cái tư tưởng tôn trọng gốc gác nơi đất mẹ
thiên nhiên nói trên của người phương Đông đã dẫn đến một ý thức thuần phục gần
như tuyệt đối đối với một tôn ti trật tự đã được thiết lập trong tôn giáo. Đạo
Phật của phương Đông về cơ bản là nhất quán, thông suốt, hầu như không có những
“kẻ phản nghịch”. Trong khi đó ở phương Tây, đạo Cơ Đốc luôn được sửa đổi, cải
cách, thậm chí ly giáo. Ngay từ khi Cơ Đốc giáo mới ra đời, Chúa Jesus đã có kẻ
tông đồ thứ 13 là Juda, được mệnh danh là kẻ “phản nghịch” đầu tiên. Trong lịch
sử Cơ Đốc giáo, chúng ta đã chứng kiến rất nhiều vụ ly giáo: vụ ly giáo Đông -
Tây năm 867 giữa giáo trưởng thành Constantinople Photius với giáo hoàng
Nicolas I ở Roma; vụ ly giáo Đông - Tây năm 1054 giữa giáo trưởng thành
Constantinople Kerularios với giáo hoàng Leo IX; và đặc biệt là vụ ly giáo lớn ở
châu Âu diễn ra từ 1378 đến 1417 giữa ba chế độ giáo hoàng: chế độ giáo hoàng ở
Roma, chế độ giáo hoàng ở Avignon (Pháp) và chế độ giáo hoàng ở Pisa (Italia).
Và đặc biệt là cuộc cải cách đạo Cơ Đốc của nhà thần học người Đức Martin
Luther đầu thế kỷ XVI, dẫn đến sự ra đời của đạo Tin Lành. Tư tưởng phản nghịch
thể hiện phổ biến trong Cơ Đốc giáo đến nỗi Nhà Thờ đã phải lập ra một toà án để
xử tội dị giáo.
Có thể cái tư tưởng “phản nghịch” của người phương Tây là có
xuất xứ từ truyền thống văn hoá thần thoại xa xưa. Hệ thống thần thoại Hy Lạp
là một hệ thống tranh giành quyền lực. Thần Cronos sẵn sàng giết cha là thần
Uranos để lên nối ngôi. Đến lượt mình, thần Dớt [Zeus] lại làm một cuộc “cách mạng”
lật đổ cha mình để nắm quyền trị vì thế giới. Trong một loạt những cuộc giao
tranh tiếp theo giữa các phe phái trong các vị thần, như giữa các vị thần ở núi
Olympos với các vị thần khổng lồ Gigantes, thì con người, đại diện là dũng sỹ
Heracles, cũng tham gia giúp các vị thần Olympos đánh lại các vị thần Gigantes.
Trong thần thoại Hy Lạp, điển hình của thần thoại văn minh đô thị, thần thánh
và người trần sống lẫn với nhau, yêu nhau, kết hôn với nhau và cạnh tranh lẫn
nhau, hầu như không có sự phân biệt và không có một tôn ty trật tự tuyệt đối.
Nhiều người trần sẵn sàng đấu võ và thi tài với thần linh: Tráng sĩ Heracles giết
chết nhiều thần khổng lồ Gigantes, trong đó có thần Antaios nổi tiếng [tức thần
“Ăngtê” gọi theo tiếng Pháp]; tráng sỹ Diomedes đánh bị thương thần chiến tranh
Ares; cô thợ dệt Arakhne dám thi tài dệt vải với nữ thần Athena; cô gái Acalanthis
và chàng trai Thamyras dám thi hát với các nữ thần nghệ thuật Musa; nàng
Casiope xinh đẹp và tự tin dám thi sắc đẹp với các nữ thần biển Neraydes,
v.v... Trong khi đó trong thần thoại phương Đông, thế lực thần thánh được phát
huy tuyệt đối quyền hành, tôn ty trật tự được tuân thủ nghiêm ngặt. Kẻ phản nghịch
duy nhất là Tôn Ngộ Không thì chỉ múa may trong thế giới quỷ sứ chứ không đụng
chạm được đến quyền lực thánh thần.
Trong giáo dục, người phương Đông đề cao tư tưởng “tôn sư trọng
đạo”. Người thầy có một vị thế quan trọng đến mức thiêng liêng. Người ta chỉ có
thể lập ra một tư tưởng, một lý thuyết mới, chứ ít khi cải cách lý thuyết của
thầy. Ngay cả đến thời hiện đại, khi Đặng Tiểu Bình thực hiện cải cách Trung Quốc,
thì tư tưởng Mao Trạch Đông vẫn được tôn sùng. Trong khi đó ở phương Tây, khái
niệm người thầy không có ý nghĩa “thần thánh” như ở phương Đông. Ngay từ thời
xa xưa, Socrate đã không dạy học trò bằng cách áp đặt quan điểm của mình, mà
ông đưa ra các câu hỏi để học sinh chủ động trả lời. Aristote, bằng các công
trình học thuật của mình, đã dám phản bác lại quan điểm duy tâm của thầy học của
mình là Platon. Đến thời cận-hiện đại, K. Jung, học trò của Freud, đã cải cách
lý thuyết tâm phân học của thầy mình, dẫn đến hai người không còn muốn nhìn mặt
nhau. Các Mác, thời trẻ là học trò của Hegel, đã kiên quyết “lật ngược” phép biện
chứng duy tâm của ông này để lập ra một học thuyết mới. Lênin cũng sửa đổi học
thuyết Mác về cách mạng vô sản để thực hiện cuộc Cách mạng Tháng 10 vĩ đại.
(Mác chủ trương rằng cách mạng vô sản chỉ có thể thành công khi nó diễn ra trên
toàn thế giới. Lênin sửa lại rằng nó có thể thành công trong khâu yếu nhất của
chủ nghĩa tư bản.)
Có thể thấy, bên cạnh yếu tố tích cực về mặt đề cao tình
nghĩa thầy - trò, thì tư tưởng tôn sư trọng đạo của phương Đông nhiều khi dẫn đến
thái độ thuần phục mang tính mô phạm giáo điều, kìm hãm tư duy sáng tạo. Trong
khi đó ở phương Tây, chính cái quan niệm bình đẳng thầy - trò là một trong những
động lực làm nảy sinh nhiều tư tưởng và lý thuyết mới. Vậy mà cái tư tưởng mô
phạm giáo điều đó vẫn còn tồn tại dai dẳng ở phương Đông cho đến ngày nay, đôi
khi thể hiện thành sự bắt chước một cách máy móc các lý thuyết của nước ngoài,
đặc biệt là trong khoa học xã hội. Ví dụ như trong khi ở nước ngoài đang có nhiều
lý thuyết khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau về một chủ đề, thì ở nước ta, nhiều
người đã không tiếp thu được một cách có hệ thống, mà chỉ tiếp thu một vài quan
điểm nào đó, và người khác lại tiếp thu một vài quan điểm khác mâu thuẫn với
các quan điểm kia, thế là dẫn đến việc cùng một chủ đề, nhưng mỗi người ở nước
ta lại hiểu theo một cách khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau. Đó chính là căn bệnh
cảm tính, thiếu tư duy lôgic triết học mà có nhà khoa học đang cảnh báo. Căn bệnh
thiếu tư duy lôgic cũng đang thể hiện trong cả cuộc sống hàng ngày, khi mà người
ta không hề cảm thấy phi lý khi cứ phát ngôn một cách hồn nhiên: “tỷ giá hối
đoái giữa ‘Việt Nam đồng’ với ‘đôla Mỹ’”. (Tất cả các đồng tiền của nước ngoài
đều được đọc xuôi theo ngữ pháp tiếng Việt, riêng đồng Việt Nam thì được đọc
ngược theo ngữ pháp tiếng Anh!) Và có lẽ đó cũng là biểu hiện của truyền thống
tư duy cảm tính của người phương Đông chăng?
Tuy nhiên, trong thời đại mà thế giới đang phát triển như vũ
bão ngày nay, khi mà con người đang có nguy cơ tiêu diệt thiên nhiên và vì thế
sẽ dẫn đến tiêu diệt chính mình, thì cái bản chất truyền thống của văn hoá
phương Đông nặng về cảm tính và tình nghĩa, tôn thờ đất mẹ thiên nhiên, mặc dù
có mặt tiêu cực là chậm phát triển, nhưng lại có tác dụng tích cực là thúc đẩy
sự hòa hợp con người với thiên nhiên, rất phù hợp với quan điểm phát triển bền
vững ngày nay của LHQ. Trong khi đó, cái tư duy thiên về lý tính của phương Tây
có mặt mạnh là luôn luôn đổi mới, thúc đẩy phát triển - thực tế mấy thập kỷ gần
đây tho thấy đầu tàu phát triển nằm ở phương Tây - nhưng nó lại tiềm ẩn những
nguy cơ huỷ hoại môi trường: tài nguyên thiên nhiên suy kiệt, hiệu ứng nhà kính
làm trái đất nóng lên, v.v... Chính vì thế mà ở phương Tây cũng đang có một xu
hướng tìm đến phương Đông. Song, trớ trêu thay, khi phương Tây tìm đến phương
Đông để học tập cái hay trong văn hoá mang tính hoà nhập với thiên nhiên của
phương Đông, thì nhiều nước đang phát triển của phương Đông, vì nôn nóng bắt
chước xu hướng phát triển nhanh của phương Tây, lại đang góp phần đắc lực vào
việc hủy hoại môi trường. Nhiều nhà khoa học trên thế giới đã lên tiếng cảnh
báo rằng Trung Quốc hiện đang là nước gây ô nhiễm và huỷ hoại thiên nhiên vào
loại bậc nhất hiện nay. Mặt trái của tư duy cảm tính đang làm cho người ta
học tập sự phát triển của phương Tây một cách không suy xét. Kể cả việc học tập
theo cách sao chép, ví dụ như nạn làm hàng nhái, hàng giả thường là hiện tượng
phổ biến ngày nay ở Á Đông.
Như vậy thì sự khác biệt Đông - Tây là có thật. Ở đây tôi chỉ
bàn đến sự khác biệt trên bình diện tư duy và đời sống văn hoá-tinh thần. Nhưng
khác biệt không có nghĩa là không thể gặp gỡ và bắt tay nhau. Trên thực tế, sự
gặp gỡ Đông - Tây, đặc biệt là mối quan hệ giao thương, đã tồn tại từ lâu: con
đường tơ lụa dài 8.000 km nối liền Trung Quốc với châu Âu, được hình thành từ đầu
thế kỷ II trước CN, là một trong những bằng chứng lâu đời cho mối quan hệ này.
Vì thế, sự khác biệt cũng có phần nhạt nhoà dần theo thời gian. Đến đây, có lẽ
chúng ta phải trở lại với câu nói của Kipling để hiểu rõ thêm tư tưởng của ông.
Thực ra, ý nghĩa câu nói của Kipling không đơn giản như từ
xưa đến nay người ta vẫn hiểu, hay cố tình hiểu đơn giản như thế. Sự thật là
Kipling không bao giờ tuyên bố một cách dứt khoát về sự chia cắt Đông - Tây.
Câu nói trên được trích từ vần thơ đầu của bài thơ “Khúc ca
Đông Tây”, viết năm 1889. Kipling là con trai của một vị bộ trưởng người Anh,
sinh ra và lớn lên tại Ấn Độ. Ông am hiểu văn hoá phương Đông và sáng tác nhiều
về đề tài phương Đông. Ông được trao giải Nobel văn học vì óc quan sát thực tế,
trí tưởng tượng độc đáo và tài năng tự sự nổi tiếng. Tuy nhiên ngày nay, người
ta cho rằng cái tư tưởng đề cao sức mạnh của đế quốc Anh và khả năng khai hoá
văn minh của nó trong các sáng tác của ông đã làm giảm phần nào uy tín của ông.
Về bài thơ “Khúc ca Đông Tây”, việc người ta hay trích câu thơ nói trên thực tế
mới chỉ là trích một nửa tư tưởng của ông.
Trong khổ thơ đầu của bài thơ, Kipling đã viết như sau:
“Ôi, phương Đông là phương Đông, phương Tây là phương Tây, và
hai bên sẽ chẳng thể bao giờ gặp nhau,
Cho đến khi Đất Trời có mặt tại Toà phán xử tối cao của Thượng
Đế;
Nhưng sẽ chẳng có Đông cũng chẳng có Tây, chẳng có Ranh giới,
chẳng có Giống nòi, cũng chẳng có Sinh sôi,
Khi hai người đàn ông mạnh mẽ đứng đối diện nhau, dù họ đến từ
những nơi tận cùng của Trái đất!”
Oh, East is East, and West is West, and never the twain shall
meet,
Till Earth and Sky stand presently at God’s great Judgment
Seat;
But there is neither East nor West, Border, nor Breed, nor
Birth,
When two strong men stand face to face, tho’ they come from
the ends of the earth!]
Tiếp đến là một đoạn tự sự kể về chuyện đụng độ giữa một thủ
lĩnh người bản xứ với con trai một đại tá thực dân. Cuộc đụng độ đã kết thúc bằng
sự hoà giải và kết nghĩa anh em giữa “hai người đàn ông mạnh mẽ”. Và bài thơ kết
thúc bằng việc lặp lại khổ thơ đầu.
Hoá ra, Kipling không chia cắt Đông - Tây như người ta vẫn
tưởng. Trong quan niệm của ông, sự khác biệt Đông - Tây không đến mức không thể
hiểu nhau và hợp tác với nhau. Và thực tế ngày nay đang chứng minh điều đó.
Quan điểm về sự đụng độ giữa các nền văn minh của Huntington đang bị nhiều người
trên thế giới phản bác. Đảng CSVN cũng chủ trương “Việt Nam muốn làm bạn với tất
cả các nước”.
Những điều nói trên cho thấy rằng, điều quan trọng ngày nay
là chúng ta phải hiểu rõ được mặt mạnh và mặt yếu của mỗi khu vực văn hoá để kết
hợp bổ sung cho nhau nhằm xây dựng một thế giới loài người phát triển bền vững.
Không nên tuyệt đối hoá một khía cạnh nào của văn hoá khu vực mà không thấy được
mặt khiếm khuyết của nó. Thống nhất trong đa dạng chính là nguyên tắc để thúc đẩy
sự hợp tác, bổ sung những cái hay cái tốt cho nhau để cùng tồn tại và phát triển.
Nhưng hội nhập không phải là thủ tiêu sự khác biệt. Đông là Đông, Tây vẫn là
Tây, có sao đâu! Nhưng đừng quá tự đề cao những cái khác biệt của riêng mình mà
không thấy những cái hay cái tốt của người khác. Làm như thế sẽ có nguy cơ rơi
vào căn bệnh “tự phụ thông thái rởm” mà nhà văn Gớt đã cảnh báo cách đây gần
hai thế kỷ. Hội nhập Đông Tây nói riêng và hội nhập toàn thế giới nói chung
chính là vectơ chủ đạo và mục đích cuối cùng để loài người có được một ngôi nhà
hoà bình và ổn định trên toàn hành tinh. Và như thế mới đúng theo tinh thần tư
tưởng của Kipling: Khi các dân tộc gặp gỡ nhau trong mối quan hệ bình đẳng và
trong tình anh em, thì sẽ không còn phương Đông, không còn phương Tây, không
còn ranh giới phân chia giữa các giống nòi, chủng tộc!
Tháng 3-2008
(Nguồn: Tạp chí Triết học, số 2(213), 2009, tr. 42-47; Đã
đăng trên báo Văn nghệ dưới nhan đề: “Phương Đông - phương Tây: từ một bài thơ,
suy nghĩ về một vấn đề không nhỏ”, số 13, ngày 29-3-2008)
PHAN TRỌNG THƯỞNG
- Họ và tên khai sinh: Phan Trọng Thưởng
- Sinh năm 1951
- Quê quán: Xã Ngọc Mỹ, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc
- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 1997)
- Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, Hội viên Hội Văn nghệ
Dân gian Việt Nam.
- Tác phẩm chính đã xuất bản:
* Giao lưu văn học và sân khấu (NXB Văn học Hà Nội,
1996)
* Những vấn đề lý luận và lịch sử kịch Việt Nam nửa
đầu thế kỷ XX (NXB KHXH,1996)
* Văn chương - Tiến trình - Tác giả -Tác phẩm (NXB
Văn học Hà Nội, 2001)
* Thẩm định các giá trị văn học (NXB Văn học Hà Nội,
2013)
Ngoài ra còn rất nhiều công trình nghiên cứu, biên soạn in
chung và hàng trăm tiểu luận, tham luận in trên các báo và Tạp chí chuyên
ngành.
- Giải thưởng văn học:
* Giải A của Hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật
Trung ương năm 2014 cho cuốn Thẩm định các giá trị văn học - NXB Văn học, 2013.
A- TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ:
GIÁ TRỊ KHOA HỌC CỦA
THẨM ĐỊNH CÁC GIÁ TRỊ VĂN HỌC
Hồ
Thế Hà
Đời sống văn học, bao gồm sáng tạo văn học, phê bình văn học
và lý luận văn học luôn diễn ra theo quy luật của chính nó và quy luật của cuộc
sống để tạo ra những giá trị tiếp nối, làm thành tiến trình văn học, kết tinh
thành những giá trị văn hoá hiển minh, bên cạnh những giá trị văn hóa của các
lĩnh vực và các hình thái ý thức xã hội, thẩm mỹ khác của một dân tộc. Chỉ xét
riêng về lĩnh vực văn chương, để thức nhận và mô hình hóa, nội hàm hóa những
giá trị văn học - văn hóa kết tinh đó, phải xuất phát từ quá trình đồng hành của
các bộ môn hợp thành của Khoa nghiên cứu văn học, đặt trong liên hệ và tương
tác với bối cảnh lịch sử - xã hội, với các khoa học liên ngành mới có thể thẩm
định, đúc kết và khái quát thành những quy luật, nội dung nhằm chỉ ra những giá
trị bản chất, khách quan và khoa học của chính lĩnh vực văn học.
Công trình Thẩm định các giá trị văn học của Phan
Trọng Thưởng, do Nxb Văn học ấn hành năm 2012 chính là kết quả mong muốn và “nỗ
lực thẩm định các giá trị và lý giải các hiện tượng văn học đã và đang diễn ra
trên bề mặt và bề sâu của lịch sử văn học” như chính tác giả đã phi lộ
trong Lời nói đầu của tác phẩm, từ phương pháp tiếp cận khoa học liên
ngành như thế.
Công trình được cấu trúc thành 2 phần. Phần 1. Từ diễn
đàn các Hội thảo khoa học (gồm 12 bài tiểu luận, tổng luận). Phần 2. Đến
thực tiễn lịch sử văn học (bao gồm 7 bài tiểu luận về kịch văn học Việt
Nam). Có thể nhận định tính khoa học tổng thể công trình của Phan Trọng Thưởng,
đó là tinh thần nhận chân các giá trị văn học - văn hóa ở thế kỷ XX với cách tiếp
cận liên ngành linh hoạt theo tinh thần đổi mới nhận thức và đổi mới tư duy từ
sự phát triển, hoàn thiện của các ngành khoa học xã hội và nhân văn trong thời
hiện đại. Vì vậy, chúng có giá trị nhận thức bổ sung, nhận thức lại và nhận thức
mới nhiều vấn đề mà từ trước đến nay tưởng đã ổn định hoặc không cần phải bàn
cãi thêm. Chính vì xuất phát từ yêu cầu khoa học cao của các Hội thảo quốc gia,
quốc tế, các diễn đàn học thuật lớn như vậy mà tác giả đã nỗ lực đặt vấn đề và
giải quyết vấn đề một cách khách quan, khoa học, mang lại những thông điệp mới
và sâu sắc, đặt ra những đồng cảm và đồng suy nghĩ - sáng tạo mới trong việc tiếp
tục làm đầy những chân giá trị của văn học - văn hóa Việt Nam thế kỷ XX. Công
trình vì vậy, có giá trị lý luận và thực tiễn cao.
Phần 1 của công trình là Tiểu luận mở đầu Tinh thần nhận
chân các giá trị của thế kỷ XX, từ độ lùi của đầu thế kỷ XXI, tác giả đã
xuất phát từ các thành tựu khoa học của A. Einstein (Thuyết tương đối), S.
Freud (Phân tâm học), G.J Mendel (Thuyết di truyền), hoặc viện dẫn các trường hợp
văn chương bị hệ lụy như F. Kafka, B. Pasternak, A. Platonov..., Phan Trọng Thưởng
muốn chiêu tuyết cho những nhà khoa học và nhà văn bị “hố” của thế kỷ XX mà lịch
sử và thời đại sau đã kịp nhận ra những sai lầm nghiêm trọng cuả nhận thức và của
các thiết chế xã hội đã làm cho các giá trị bị lãng quên và im lặng đến bẽ
bàng. Tác giả viết: “Điểm qua một vài hiện tượng như trên để thấy rằng thế kỷ
XX tuy được coi là thế kỷ tiến bộ vượt bậc của khoa học và văn minh nhân loại,
nhưng không phải khi nào các phát kiến vĩ đại, các tư tưởng lớn cũng tìm được
điều kiện thuận lợi để ra đời. Và không phải khi nào, nhân loại cũng dang rộng
vòng tay và có thái độ đón nhận tất hữu đối với những đứa con kiệt xuất của thời
đại mình. Vì vậy, các nhà bác học cũng như không ít những nhà văn, nhà tư tưởng
lớn không tránh khỏi có những lúc rơi vào trạng thái cô đơn do chính sự vĩ đại
của mình gây nên. Có lẽ đó là một trong số những lý do tạo nên cơ sở triết học
của chủ nghĩa hiện sinh với triết lý vừa có phần thâm trầm, vừa có phần
ảm đạm về thân phận con người trước một thế giới đang biến đổi mau lẹ và khó hiểu”
(tr.11-12) (Từ đây, những trích dẫn từ công trình của Phan Trọng Thưởng, chúng
tôi đánh số trang để tiện theo dõi).
Nhưng cũng chính thế kỷ XX, không ít chân lý, không ít các
giá trị đích thực của cá nhân và của khoa học, nghệ thuật nhân loại được trả lại
công bằng do những phát kiến vĩ đại và những sám hối chân thành của trí tuệ và
hành vi nhận thức lại của con người. Từ những trường hợp cụ thể của phương Tây,
Phan Trọng Thưởng đã nhìn lại Việt Nam từ lĩnh vực sử học đến văn học như trường
hợp Nguyễn Trãi và các nhân vật lịch sử khác như Lê Hoàn, Thái hậu Dương Vân
Nga, Thái sư Lê Văn Thịnh, Thái sư Trần Thủ Độ, Hồ Quý Ly, Nguyễn Ánh... với nhận
định sâu sắc: “Tuy đó là câu chuyện ngược dòng lịch sử nhưng lại nằm trong xu
thế kiểm định lại các nhân cách, các giá trị quá khứ diễn ra vào thế kỷ XX...
Song ít nhất, thế kỷ XX này, các nhà khoa học đã nhận thấy từ trong quá khứ xa
xưa của dân tộc mình không ít điểm còn có thể phản biện được để tiếp cận dần tới
chân lý...
Tuy đó không phải là một công việc dễ dàng và không phải trả giá, nhưng tư duy khoa học và tinh thần nhận chân các giá trị của thế kỷ sẽ là đảm bảo vững vàng để các cuộc kiếm tìm đi đến đích” (tr.13). Đó cũng là trường hợp Tản Đà và các nhà thơ mới 1932-1945, của văn chương tự lực văn đoàn, qua “những bước thăng trầm” để sau đó được nhìn nhận “điềm tĩnh, thấu đáo, khách quan khoa học hơn”. Đó chính là những thức nhận mang tinh thần thế kỷ XX, mà càng về sau, đến thời Đổi mới (1986), tinh thần đó mới thâu thái được trọn vẹn cho “tinh thần phục hưng dân tộc, chấn hưng các giá trị. Trong trào lưu đó, không chỉ những tên tuổi như Văn Cao, Vũ Bằng mà cả Trần Đức Thảo, Hoàng Xuân Hãn... sau nhiều năm lu mờ đã tìm lại được chính danh trong văn chương nghệ thuật và khoa học của đất nước” (tr.18).
Tuy đó không phải là một công việc dễ dàng và không phải trả giá, nhưng tư duy khoa học và tinh thần nhận chân các giá trị của thế kỷ sẽ là đảm bảo vững vàng để các cuộc kiếm tìm đi đến đích” (tr.13). Đó cũng là trường hợp Tản Đà và các nhà thơ mới 1932-1945, của văn chương tự lực văn đoàn, qua “những bước thăng trầm” để sau đó được nhìn nhận “điềm tĩnh, thấu đáo, khách quan khoa học hơn”. Đó chính là những thức nhận mang tinh thần thế kỷ XX, mà càng về sau, đến thời Đổi mới (1986), tinh thần đó mới thâu thái được trọn vẹn cho “tinh thần phục hưng dân tộc, chấn hưng các giá trị. Trong trào lưu đó, không chỉ những tên tuổi như Văn Cao, Vũ Bằng mà cả Trần Đức Thảo, Hoàng Xuân Hãn... sau nhiều năm lu mờ đã tìm lại được chính danh trong văn chương nghệ thuật và khoa học của đất nước” (tr.18).
Cũng trong tiểu luận này, Phan Trọng Thưởng đã nhận thức nhiều
vấn đề, hiện tượng có liên quan đến sự nhận thức lại theo tinh thần đổi mới tư
duy của thế kỷ XX như: Vấn đề phân kỳ lịch sử văn học hiện đại, Cuộc tranh luận
Duy tâm hay Duy vật trên lĩnh vực triết học, Nghệ thuật vị nghệ thuật và Nghệ
thuật vị nhân sinh trên lĩnh vực văn học... Đặc biệt là vấn đề Chủ nghĩa hiện
thực xã hội chủ nghĩa và Phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, khi
có những bất cập và thiên kiến chủ quan. Phan Trọng Thưởng đi đến nhận định:
“Thực ra, vấn đề không phải là ở chỗ có hay chưa có một nền văn học hiện thực
xã hội chủ nghĩa; có hay không có phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ
nghĩa? mà là ở chỗ trên cơ sở thực tiễn phát triển của lịch sử nghệ thuật nhân
loại ngót một thế kỷ, cần phải biết loại bỏ những yếu tố không hợp lý, không
khoa học và phải biết kế thừa những thành tựu có thật, những truyền thống nghệ
thuật vốn có trong hệ thống lý luận mỹ học về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ
nghĩa, hoàn thiện và phát triển nó trong những điều kiện lịch sử và thực tiễn
nghệ thuật mới. Đó thực sự là nhãn quan khoa học, là tinh thần xuyên suốt và nhất
quán của thế kỷ XX” (tr.21).
Liên quan đến phương Tây, những hiện tượng như Chủ nghĩa hiện
sinh trong triết học và văn học với những tác gia lớn như J. P. Sartre, A.
Camus, S. Beckett, E. Ionesco, H. Bergson... hoặc các trường phái như chủ
nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hình thức, phê bình mới, tiểu thuyết mới... từng là đối
tượng phê phán, thì nay chúng ta mới lấy lại “thế quân bình trong một thế giới
đa cực, đa phương” (tr.22). Cuối tiểu luận, Phan Trọng Thưởng đã khái quát tinh
thần nhận chân cá giá trị của thế kỷ XX một cách cụ thể: “Song, cho dù thế kỉ
XX có chuyển biến với một nhịp điệu gấp gáp, một "gia tốc lịch sử" lớn
như ta đã thấy, trong cuộc truy tìm để nhận chân các giá trị, dường như vẫn
không đủ thời gian và điều kiện để giải quyết những tồn đọng của lịch sử. Chỉ
riêng trong lĩnh vực văn học Việt Nam hiện đại khoảng hơn mười năm trở lại đây,
còn bao nhiêu vấn đề, bao nhiêu sự kiện đã bước đầu được đặt ra mà chưa tìm kiếm
được câu trả lời thoả đáng. Lý do có thể vừa thuộc về chủ quan, vừa thuộc về
khách quan. Sự ngập ngừng trong không ít trường hợp đã khiến cho việc minh định
các giá trị văn chương phải chấp nhận lối đi vòng vo và diệu vợi. Nhưng trong mỗi
sự kiện và hiện tượng đó đã ẩn chứa tinh thần của thế kỷ. Những gì chưa kịp nhận
chân ở thế kỷ XX sẽ được chuyển giao vào những thời khắc thiêng nhất để thế kỷ XXI đón nhận và thực hiện tiếp” (tr.25).
Chúng tôi xem tiểu luận đầu sách nói trên là tư tưởng nền tảng
để tác giả làm bệ đỡ cho tinh thần nhận chân khoa học các giá trị văn hóa - văn
học đã qua. Các tiểu luận: Tân thư và phong trào Duy Tân ở Nhật Bản, Trung
Quốc và Việt Nam thời kỳ hiện đại, Tiếp cận văn học các nước châu Á bằng lý
thuyết phương Tây hiện đại: vận dụng - tương thích - thách thức và cơ hội, Hướng
tới những lý giải khoa học về văn học Việt Nam trong bối cảnh giao lưu và hội
nhập quốc tế... là những tổng kết sâu sắc, có tầm nhìn xa rộng trên cơ sở
nắm bắt bản chất vấn đề từ thực tiễn đến lý luận và ngược lại; từ cụ
thể đến khái quát và ngược lại - xuất phát từ độ lùi về thời gian và nhận
thức, từ sự phản tỉnh và phản biện của người nghiên cứu, cùng sự phát triển,
hoàn thiện của các lý thuyết khoa học hiện đại về văn hóa - văn học cũng như sự
vận động của tư tưởng và đời sống xã hội. Từ việc xác định vai trò cầu nối của
Phong trào Duy Tân trong việc tiếp thu, tiếp biến các “tư tưởng tự do, dân chủ,
dân quyền từ các nước châu Âu và phương Tây vào quá trình vận động, biến chuyển
của lịch sử xã hội cũng như lịch sử tư tưởng - chính trị và học thuật của các
nước phương Đông, trong đó có Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam” (tr. 26), Phan
Trọng Thưởng đã lý giải vấn đề hội nhập và tương tác có tính quy luật của các
nước đồng văn nói trên một cách thuyết phục. Mà ở đó, Tân thư là
phương tiện hữu hiệu nhất. Riêng ở Việt Nam, vai trò của Tân thư đem
lại những kết quả tích cực như ở Nhật Bản và Trung Quốc: “ở Việt Nam trong suốt
quá trình duy tân thời kỳ cận đại, Tân thư có một vị trí cực kỳ quan
trọng. Nó là vũ khí tư tưởng, là liệu pháp tinh thần, là nhịp cầu nối Việt Nam
với thế giới phương Tây. Ở thời kỳ Cận đại, các trí thức Nho học Việt Nam vẫn
còn giữ được vị trí đáng kể trong đời sống chính trị và văn hóa của xã hội. Với
vốn kiến thức Hán học uyên thâm, Tân thư trở thành nguồn tri thức mới
lạ, tân kỳ giúp các nhà duy tân Việt Nam mở mang tầm nhìn, khai trí, khai tâm để
hướng đến mục tiêu tự chủ tự cường dân tộc” (tr. 33). Và tác giả đi đến kết luận
đúng đắn: “Như vậy là, vào thời kỳ Cận đại, ảnh hưởng của phương Tây đến Việt
Nam qua 2 con đường: Trực tiếp từ nhà trường Pháp qua Pháp văn và gián tiếp từ Tân
thư qua Hán văn. Con đường trực tiếp giành cho các trí thức mới Tây học,
còn con đường gián tiếp giành cho các chí sĩ, các nhà Nho được đào tạo từ khoa
cử phong kiến. Tuy con đường tiếp thu phương Tây gián tiếp qua Tân thư phần
nào bị khúc xạ qua lăng kính tư tưởng của các nhà duy tân Nhật Bản và Trung Quốc,
đặc biệt là của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu, nhưng nhờ đó mà các nhà duy
tân Việt Nam mới tiếp cận được với thế giới, khai mở trí tuệ để đón nhận “gió
Âu mưa Á”, “thổ nạp Đông - Tây” đưa Việt Nam thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn, lạc
hậu của ý thức hệ Nho giáo phong kiến. Mặc dù trong thế tranh chấp ảnh hưởng với
tầng lớp trí thức Tây học được đào tạo trực tiếp từ nền giáo dục Pháp, các nhà
Nho duy tân không đóng được vai trò đại diện cho lực lượng tiên tiến của xã hội,
nhưng với những gì họ tiếp thu được từ Tân thư, qua Tân thư cũng
đã góp phần thức tỉnh “nhân tâm thế đạo”, giống như tiếng gà gáy sáng báo bình
minh, đánh thức dân tộc bằng những tư tưởng mới về dân chủ, tự do và dân sinh
dân quyền vốn xa lạ với xã hội phương Đông và Việt Nam trước đó” (tr. 34).
Cũng trên tinh thần khách quan, khoa học khi đánh giá
và tiếp cận văn học các nước châu Á bằng lý thuyết phương Tây hiện đại,
Phan Trọng Thưởng đã thấy được mối quan hệ biện chứng của sự vận dụng -
tương thích để thấy được sự khôn ngoan của chủ thể văn học các dân tộc
trong tiếp kiến và tiếp biến để sáng tạo thành những giá trị riêng, mang bản sắc
của đân tộc mình. Những thách thức và cơ hội trong quá trình tiếp biến và hội
nhập là quyết liệt và có quy luật phổ biến của nó để biến thành những giá trị
năng động: “Thành tựu đó được lý giải bởi nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những
nguyên nhân quan trọng được biết đến là tinh thần chủ động hội nhập, tăng cường
giao lưu hợp tác quốc tế. Trong bối cảnh đó, văn học và văn hoá Việt Nam tự cho
thấy đang là một thực thể năng động vừa hướng tới các giá trị dân tộc bền vững;
vừa hướng tới các giá trị quốc tế và khu vực có tính phổ biến để xác định
nguyên lý cho sự phát triển” (tr.41). Đó là những khái quát khoa học, sát đúng
với thực tiễn Việt Nam.
Là nhà lý luận văn học luôn đồng hành cùng nền văn học dân tộc,
đặc biệt là văn học đương đại, Phan Trọng Thưởng quan tâm đến mối quan hệ bộ ba
giữa sáng tác văn học - phê bình văn học - lý luận văn học trước yêu cầu đổi mới
và phát triển. Vì vậy, phải xác lập một nền mỹ học phê bình trên tinh thần dân
chủ và cập nhật mới mẻ về lý luận để tạo ra những kinh nghiệm và thành tựu mới.
Muốn vậy, phải xuất phát từ tầm đón mới của phê bình để xác định bản chất, chức
năng và đặc biệt là phải xác định đối tượng của nó, đó là “toàn bộ những hiện
tượng văn học đã và đang diễn ra; là toàn bộ những phương diện khác nhau của hoạt
động sáng tạo và thưởng thức nghệ thuật” (tr. 57). Từ đó, nhận thức rõ thực trạng
vấn đề và đề xuất các kiến giải sát hợp và khoa học. Đây là một quá trình động
và linh hoạt trên cơ sở xác định mối quan hệ giữa sáng tạo, phê bình
và lý luận văn học để đề xuất “hệ thống lý luận văn học phù hợp với thực tiễn lịch
sử và thực tiễn nghệ thuật” (tr.67). Các tiểu luận Vì một nền mỹ học phê
bình, Lý luận văn học trước yêu cầu đổi mới và phát triển, Tinh thần dân chủ lý
luận như một thành tựu và như một kinh nghiệm… đã thể hiện được cái nhìn khách
quan và dự báo đổi mới về lý luận, phê bình và sáng tạo văn học trước mắt cũng
như lâu dài một cách năng động của Phan Trọng Thưởng.
Tinh thần nhận chân các giá trị văn học Việt Nam của Phan Trọng
Thưởng bao giờ cũng được xem xét và kết luận trên cơ sở đánh giá từ những thực
tiễn thành tựu và hạn chế của giai đoạn trước và cả trong hiện tại để chỉ ra những
nguyên nhân chủ quan và khách quan của chúng. Từ đó, tiến tới luận chứng đổi mới
và phát triển lý luận văn học bằng những phương hướng cụ thể, thiết thực để định
hướng sáng tạo và phê bình văn học. Theo đó, Phan Trọng Thưởng xác định “lý luận
văn học và mỹ học Mác xít cần phải được tiếp tục xác định vai trò chủ đạo, là sự
lựa chọn có tính nguyên tắc cho sự tồn tại và phát triển của nền văn học”
(tr.86).
Tuy vậy, không được “tiếp thu một cách máy móc, thụ động, biến học thuyết triết học và mỹ học của Marx, Engels, Lenin vốn được xem là một học thuyết có tính khoa học và cách mạng thành một giáo điều tư tưởng nghệ thuật, một công thức cứng nhắc, gò bó mà phải chủ động sáng tạo, phát triển học thuyết Marx trong điều kiện lịch sử mới, phù hợp với thực tiễn văn hóa, văn học mang đậm bản sắc mỗi quốc gia, mỗi khu vực. Tinh thần đó sẽ làm cho các chân lý phổ biến của học thuyết Marx được kiểm chứng trong thực tiễn mang vẻ đặc thù của các quốc gia, dân tộc” (tr.86-87). Cũng trên tinh thần đó, Phan Trọng Thưởng đề xuất cần phải tiếp thu hệ thống lý luận văn học của các nước Âu - Mỹ hiện đại một cách khách quan, khoa học, có chọn lọc để bổ sung và làm đầy những thành tựu hợp lý cho Khoa nghiên cứu văn học Việt Nam để góp phần “khám phá bản chất đích thực và phát hiện các quy luật của nghệ thuật” (tr.88). Đó chính là cách để phát huy, phát triển và đúc kết, hoàn thiện những thành tựu lý luận mới trên tinh thần gắn lý luận với thực tiễn. Muốn thực hiện được những mục tiêu đó, cần phải phát huy tinh thần dân chủ: “Chính tinh thần dân chủ lý luận đã cho phép chúng ta tiếp cận một cách đàng hoàng hơn, toàn diện và thấu đáo hơn với các thành tựu lý thuyết của các trường phái, các học phái khác nhau trên thế giới để từ đó bổ sung vốn tri thức lý luận, tạo cơ sở cho việc đối thoại và tiếp thu, làm giàu hơn vốn liếng trí tuệ và khả năng tư duy trừu tượng. Cũng chính tinh thần dân chủ lý luận đã tạo cho chúng ta dũng khí phát hiện những điểm khả thủ cũng như những thiếu hụt, phiến diện, những sắc thái quan phương giáo điều trong hệ thống lý luận văn học và mỹ học của chúng ta để xây dựng luận chứng cho sự đổi mới và phát triển” (tr.101). Cuối cùng, Phan Trọng Thưởng đã đề xuất 7 phương hướng thiết thực và khoa học cho sự phát triển lý luận văn học Việt Nam trong thời kỳ mới.
Tuy vậy, không được “tiếp thu một cách máy móc, thụ động, biến học thuyết triết học và mỹ học của Marx, Engels, Lenin vốn được xem là một học thuyết có tính khoa học và cách mạng thành một giáo điều tư tưởng nghệ thuật, một công thức cứng nhắc, gò bó mà phải chủ động sáng tạo, phát triển học thuyết Marx trong điều kiện lịch sử mới, phù hợp với thực tiễn văn hóa, văn học mang đậm bản sắc mỗi quốc gia, mỗi khu vực. Tinh thần đó sẽ làm cho các chân lý phổ biến của học thuyết Marx được kiểm chứng trong thực tiễn mang vẻ đặc thù của các quốc gia, dân tộc” (tr.86-87). Cũng trên tinh thần đó, Phan Trọng Thưởng đề xuất cần phải tiếp thu hệ thống lý luận văn học của các nước Âu - Mỹ hiện đại một cách khách quan, khoa học, có chọn lọc để bổ sung và làm đầy những thành tựu hợp lý cho Khoa nghiên cứu văn học Việt Nam để góp phần “khám phá bản chất đích thực và phát hiện các quy luật của nghệ thuật” (tr.88). Đó chính là cách để phát huy, phát triển và đúc kết, hoàn thiện những thành tựu lý luận mới trên tinh thần gắn lý luận với thực tiễn. Muốn thực hiện được những mục tiêu đó, cần phải phát huy tinh thần dân chủ: “Chính tinh thần dân chủ lý luận đã cho phép chúng ta tiếp cận một cách đàng hoàng hơn, toàn diện và thấu đáo hơn với các thành tựu lý thuyết của các trường phái, các học phái khác nhau trên thế giới để từ đó bổ sung vốn tri thức lý luận, tạo cơ sở cho việc đối thoại và tiếp thu, làm giàu hơn vốn liếng trí tuệ và khả năng tư duy trừu tượng. Cũng chính tinh thần dân chủ lý luận đã tạo cho chúng ta dũng khí phát hiện những điểm khả thủ cũng như những thiếu hụt, phiến diện, những sắc thái quan phương giáo điều trong hệ thống lý luận văn học và mỹ học của chúng ta để xây dựng luận chứng cho sự đổi mới và phát triển” (tr.101). Cuối cùng, Phan Trọng Thưởng đã đề xuất 7 phương hướng thiết thực và khoa học cho sự phát triển lý luận văn học Việt Nam trong thời kỳ mới.
Là nhà quản lý cơ quan văn học trung tâm của cả nước - Viện
trưởng Viện văn học, Phan Trọng Thưởng có cơ hội để nắm bắt, quán xuyến, khái
quát những vấn đề văn học, văn hóa ở tầm vĩ mô và vi mô, nên những bài viết của
ông đều toát lên tính chân xác khoa học và tinh thần đổi mới tích cực, cập nhật
tư duy lý luận hiện đại, dựa trên sự phát triển và hoàn thiện của các ngành
khoa học xã hội và nhân văn thời hiện đại. Tư tưởng đó thể hiện qua các cuộc Hội
thảo quốc gia và quốc tế mà ông là người tổ chức, chủ trì và đề dẫn, thu hút sự
quan tâm của giới nghiên cứu học thuật trong nước.
Một trong những quan tâm hàng đầu hiện nay có tính toàn cầu,
đó là mối quan hệ giữa văn hóa và văn học trong giao lưu và hội nhập quốc tế.
Sau khi phân tích những quy luật tích cực của giao lưu và hội nhập văn hóa giữa
các dân tộc, Phan Trọng Thưởng đã chỉ ra sự phức tạp từ thực tiễn tiếp thu và hội
nhập văn hóa, văn học với những cấp độ, tính chất và quan niệm khả thủ và bất cập,
thuận lý và nghịch lý khác nhau. Phan Trọng Thưởng đã cảnh báo một hiện tượng
có tính thiên về “du nhập hơn là hội nhập” đã làm cho quá trình tác động bình đẳng
lẫn nhau không được thực thi: “Nhưng thực tế cho thấy quá trình hội nhập còn
làm nảy sinh những nghịch lý ở chỗ nó không chỉ tạo ra cho sự phát triển văn
hóa mỗi nước những thời cơ thuận lợi mà còn ẩn chứa ngay trong nó những nguy cơ
lớn. Một trong số những nguy cơ đó chính là sự mai một của các giá trị văn hóa
truyền thống trước sự du nhập, tấn công của các yếu tố văn hóa mới lạ từ bên
ngoài vào; sự hòa tan bản sắc riêng độc đáo vốn có của mỗi nền văn hóa thành một
sản phẩm lai tạp, hỗn loạn, không còn có cơ sở để nhận diện, mất đi những yếu tố
làm nên căn cước văn hóa của mỗi dân tộc” (tr.104). Phan Trọng Thưởng luận thuyết
một cách thuyết phục kinh nghiệm giao lưu văn hóa của nước ta như sau: “Kinh
nghiệm lịch sử của nước ta cho thấy trong giao lưu văn hóa, dù dưới hình thức
áp đặt hay tự nguyện, khi ý thức dân tộc được đề cao thì việc tiếp thu hay loại
bỏ một yếu tố nào đó bao giờ cũng được thực hiện trên tinh thần vì lợi ích dân
tộc. Vì vậy, đối với những biểu hiện xốc nổi trong các ứng xử văn hóa hiện nay,
nếu chỉ giải quyết bằng biện pháp hành chính thì hiệu quả có thể nhanh nhưng
không cơ bản và lâu dài. Vấn đề là ở chỗ áp dụng giải pháp giáo dục nào để đạt
được hiệu quả mong muốn trong ý thức văn hóa của mỗi người. Đó chính là cách tạo
ra và bảo vệ các giá trị văn hóa bằng chính văn hóa” (tr.110). Và Việt Nam, từ
sau đổi mới đến nay, trong hội nhập và giao lưu, ta đã nhận thức được điều đó
trong từng thời kỳ với một “tinh thần chủ động hội nhập, tăng cương giao lưu hợp
tác quốc tế. Trong bối cảnh đó, văn học và văn hóa Việt Nam tự cho thấy đang là
một thực thể năng động vừa hướng tới các giá trị dân tộc bền vững; vừa hướng tới
các giá trị quốc tế và khu vực có tính phổ biến để xác định nguyên lý cho sự
phát triển” (tr.111).
Vấn đề Văn học, văn nghệ dưới tác động hai mặt của cơ chế
thị trường, Mẫn cảm của nghệ sĩ trước thực tại và chức năng dự báo của văn học,Để
tiến tới một nền văn học gắn bó với số phận của nhân dân và vận mệnh của đất nước.. cũng
được Phan Trọng Thưởng đề cập có cơ sở lý luận và thực tiễn. Đây là những
tiểu luận có suy tư và nhân tình, nhưng đều xuất phát từ chân lý của đời sống
và chân lý của văn học nghệ thuật để bàn luận, đánh giá và kết luận về những vấn
đề có liên quan đến bản chất của văn học, của hiện thực cuộc sống và đặc biệt
là của vai trò của người nghệ sĩ trong việc phản ánh hiện thực và dự báo hiện
thực, xuất phát từ ý thức nghệ thuật của họ trước những bước ngặt chuyển mình
có ý nghĩa của đời sống xã hội. Từ sự tác động hai mặt của cơ chế thị trường đến
ý thức xây dựng một nền văn học nghệ thuật gắn bó với số phận của nhân dân và vận
mệnh của đất nước, đòi hỏi người nghệ sĩ phải thực sự có tâm, có tài và đặc biệt
phải thực sự mẫn cảm để định hướng và chọn lựa chủ đề, đề tài một cách có hiệu
quả về tư tưởng - thẩm mỹ đối với sự tiếp nhận của công chúng: “Để dự báo và
tiên đoán chính xác, mỗi nhà văn, mỗi nghệ sĩ, ngoài sự mẫn cảm và dự
cảm gần như là thanh khí tiên thiên của mình, còn đòi hỏi phải có các khả
năng chiêm nghiệm, khả năng phân tích, phán đoán để nhận thức
bản chất, nắm bắt qui luật và logic khách quan của cuộc sống, để trên cơ sơ đó
nhận diện tương lai ngay từ trong thực tại. Như vậy, cũng có nghĩa là muốn thực
hiện tốt chức năng dự báo, nhà nghệ sĩ, về một phương diện nào đó, phải đồng thời
là nhà khoa học, trước hết là khoa học nhân văn (tr.140).
Có thể nói, phần 1 của công trình thực sự là những tổng kết,
nâng lên thành những luận điểm và luận thuyết khoa học khách quan, biện chứng
theo tầm đón hiện đại, trên cơ sở thấy được những giới hạn của văn hóa, văn học
để khắc phục những giới hạn đó, nhằm đề xuất những phương hướng và lý luận mới.
Đó chính là tinh thần nhận chân các giá trị khoa học của Khoa nghiên cứu văn học
nói chung của nước ta hiện tại và lâu dài, khi chưa có những bất cập mới xuất
hiện.
Phần 2 của công trình Thẩm định các giá trị văn học của
Phan Trọng Thưởng là kết quả nghiên cứu lĩnh vực chuyên sâu về thể loại kịch
trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại mà tác giả liên tục thành tựu với tư
cách là một trong những chuyên gia hàng đầu. Lật trở vấn đề kịch hiện đại Việt
Nam, Phan Trọng Thưởng chú trọng vào những đối tượng chung và riêng, khái quát
và cụ thể, chú trọng sâu vào tiến trình văn học kịch Việt Nam nửa sau thế kỷ XX
trong liên hệ, đối sánh với văn học kịch nửa đầu thế kỷ XX bằng cách chỉ ra những
tiếp diễn liên tục của các giai đoạn trước đó, từ cấp độ tổng quan đến cấp độ
tác gia, tác phẩm cụ thể. Phan Trọng Thưởng nhìn nhận và nghiên cứu bản chất vấn
đề từ cấp độ thực tiễn đến lý luận. Và có khi ngược lại, từ lý luận đến thực tiễn
bằng tư duy biện chứng, tức là Phan Trọng Thưởng không cắt đứt và xét các giai
đoạn văn học kịch một cách biêt lập, đặc biệt là từ giai đoạn trước cách mạng
tháng Tám với giai đoạn sau cách mạng tháng Tám mà là đặt chúng trong một tiến
trình liên tục. Ông xem đó là hai giai đoạn/ hai thời kỳ của một dòng chảy thống
nhất, nhân quả và biện chứng lẫn nhau để tạo nên tiến trình thể loại kịch văn học
Việt Nam cho đến ngày nay. Đó chính là cảm quan khoa học chính xác và biện chứng
- lịch sử mà không phải ai cũng nhận thấy, nếu không muốn nói rằng, trước đây,
có người phiến diện đã không thấy giá trị của kịch Việt Nam giai đoạn trước
1945 đối với sự tiếp biến của kịch sau 1945 như thế nào, nhất là ở góc nhìn đặc
trưng thể loại. Vỉ vậy mà trong tổng luận: Tổng quan tiến trình văn học kịch
Việt Nam nửa sau thế kỷ XX (Những vấn đề lý luận và lịch sử), Phan Trọng
Thưởng đã nhận ra những phiến diện ấy: “Sở dĩ như vậy là vì từ trước tới nay,
khi nghiên cứu tiến trình văn học hiện đại nói chung, tiến trình kịch nói
riêng, không ít tác giả đã xem cái mốc lịch sử năm 1945 như một nhát cắt chia
tiến trình văn học trước và sau đó thành hai giai đoạn biệt lập hoàn toàn, gần
như không có sự chuẩn bị, chuyển tiếp hay kế thừa nào, trong đó, cái nhìn đối với
lịch sử văn học trước 1945 ở khá nhiều trường hợp cho thấy không ít định kiến,
dẫn tới thiếu khách quan và thiếu chuẩn xác về mặt khoa học; còn văn học từ
1945 trở đi thường lại được nhìn nhận, đánh giá theo một định kiến khác, khiến
cho không ít trường hợp các ý kiến trở nên bất cập, thiếu biện chứng lịch sử và
văn học, do vậy cũng xa với chân lý” (tr. 163). Tác giả khẳng định: “Đánh giá
đúng mức thành tựu kịch trước Cách mạng do vậy không chỉ có ý nghĩa phương pháp
luận mà còn có ý nghĩa khoa học ở chỗ chỉ có thể lý giải được những đặc điểm,
những khác biệt của kịch các giai đoạn sau khi nhìn thấy một cách đầy đủ, thấu
đáo những liên hệ biện chứng của nó với kịch giai đoạn trước” (tr.165).
Từ thực tiễn lịch sử văn học kịch Việt Nam, tiếp tục các công
trình chuyên sâu trước đó của mình, Phan Trọng Thưởng đã tiến hành nghiên cứu kịch
văn học Việt Nam thế kỷ XX ở những mặt bổ sung và những mặt mới với các mốc
chính có tính bước ngoặt, tạo ra diễn trình văn học kịch Việt Nam ở cấp độ tổng
quan và cấp độ cụ thể. Ở cấp độ tổng quan, có các tiểu luận Tổng quan tiến
trình văn học kịch Việt Nam nửa sau thế kỷ XX (Những vấn đề lý luận và lịch sử),
Văn học kịch thời kỳ 1975-1985 và những vấn đề xã hội hậu chiến, Những dấu
hiệu đổi mới và thành tựu của kịch giai đoạn 1945-1954. Ở cấp độ cụ thể,
có các bài viết sâu về chân dung các nhà viết kịch, đặc biệt là những tác giả
trước các mạng tháng Tám như: Nhìn nhận thêm về vị trí của Vũ Đình Long
(1896-1960) trong lịch sử văn học, Vị trí của Vi Huyền Đắc (1899-1976) trong lịch
sử phát triển của kịch Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, Hiểu thêm về Đoàn Phú Tứ
(1910-1989), Đào Hồng Cẩm (1924-1990) - nhà viết kịch quân đội… Đó là những kết
quả khảo sát và khảo cứu toàn diện về thể loại và tác gia kịch văn học Việt Nam
thế kỷ XX, có một phần vắt qua những năm đầu của thể kỷ XXI.
Nhìn chung, ở phần 2 của công trình, Phan Trọng Thưởng đã tỏ
ra tâm huyết và mẫn cảm, khách quan khi nhìn nhận và đánh giá diện mạo văn học
kịch Việt Nam một cách khoa học, xuất phát từ thực tiễn để đúc rút thành lý luận
và từ lý luận để soi rọi vào thực tiễn để thấy những thành tựu và hạn chế cụ thể
trong từng bối cảnh của nó. Vì vậy mà mối quan hệ giữa hiện thực - tác giả
- độc giả/ khán giả luôn được dẫn dắt và minh định sáng rõ, giúp người đọc
thấy được “những bước thăng trầm” của văn học kịch Việt Nam qua từng thời kỳ và
giai đoạn là một thực tế sinh động, có điều kiện. Qua đó, thấy được mối quan hệ
giữa chủ thể sáng tạo và khách thể thẩm mỹ luôn được diễn ra trong tính quy luật
của nó, dù không phải không có những so le, bất cập trong những thời khoảng nhất
định, do tác động của nhiều yếu tố, nhiều thiết chế chủ quan và khách quan.
Nhưng nhìn chung cả tiến trình thì kịch diễn ra hợp quy luật, xét từ thể loại đến
thể tài; từ chủ đề, đề tài đến phương thức biểu hiện; từ thị hiếu đến quan niệm;
từ phương thức/ phương tiện thô sơ đến yêu cầu chính quy, hiện đại; từ ngôn ngữ
đến diễn xuất, từ nghiệp dư đến chuyên nghiệp; từ dân tộc đến quốc tế; từ truyền
thống đến hiện đại; từ hình tượng đến tư tưởng; từ khu vực đến vùng miền… Những
vấn đề nói trên đều được Phan Trọng Thưởng giải quyết và nghiên cứu một cách
bao quát, thấu đáo, thuyết phục, để giúp người, đặc biệt là người đọc chuyên
sâu nhận thức và đồng sáng tạo.
Vấn đề vai trò, vị trí của từng nhà viết kịch, đặc biệt là
các nhà viết kịch tiên phong giai đoạn trước cách mạng tháng Tám như Vũ Đình
Long, Vi Huyền Đắc, Đoàn Phú Tứ… được Phan Trọng Thưởng đánh giá khách quan, hợp
lý, làm hiển minh công lao và sự nghiệp của họ trong lịch sử văn học kịch Việt
Nam với những nhận định chan xác và mới mẻ trên tinh thần nhận chân khách quan
các giá trị vốn có của họ.
Tóm lại, từ cái nhìn xuyên thế kỷ, Phan Trọng Thưởng đã minh
xác vấn đề có tính triết - mỹ rằng, kịch Việt Nam nửa sau thể kỷ XX đã tiếp biến
kịch Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX và phát triển trong từng hoàn cảnh đặc biệt để
phù hợp với nhu cầu của cuộc sống và công chúng cũng như nhu cầu của chính thể
loại để làm nên tiến trình văn học kịch cả nước với những hiệu quả tích cực của
nó: “Nhìn lại chiều dài ngót một thế kỉ vận động và phát triển của kịch, bằng
chính những tiến bộ về mặt thể loại, kịch đã có những vị thế mới trong tiến
trình văn học nghệ thuật để đến khi thống nhất đất nước, nó phá vỡ được ranh giới
vùng miền, phát huy ảnh hưởng vào các tỉnh và thành phố phía Nam, tạo ra một diện
mạo mới cho kịch nửa sau thế kỷ” (tr.198).
Công trình Thẩm định các giá trị văn học của Phan
Trọng Thưởng dù là tập hợp những bài viết trong những thời khoảng khác nhau, trải
rộng trên nhiều vấn đề, nhiều đối tượng nghiên cứu, nhưng đã thể hiện tính giá
trị chỉnh thể của nó ở các mặt bản chất của lý luận văn học và lịch sử văn học
một cách bao quát, khách quan và khoa học, thông qua nhãn quan nhạy bén và tư
duy đổi mới. Tác giả đã từ thực tiễn của văn học - văn hóa để nỗ lực nhận chân
các giá trị chuẩn xác của từng lĩnh vực, từng yếu tố tham gia cấu thành tác phẩm
văn học và từng bộ phận hợp thành của Khoa nghiên cứu văn học để thấy sự vận động
và phát triển của chúng theo chiều hướng tích cực, hợp quy luật, có phá và
thay; có phủ định và kế thừa, có phát huy và phát triển trên cơ sở lịch sử - xã
hội, cơ sở tư tưởng và cơ sở nghệ thuật của từng giai đoạn cụ thể. Những vấn đề
đó được tác giả công trình luận giải với một văn phong luận lý chặt chẽ, thể hiện
tinh thần nỗ lực để tiếp cận chân lý một cách khách quan, biện chứng để lật trở
vấn đề trên tinh thần đổi mới tư duy, trong bối cảnh giao lưu và hội nhập với
khu vực và quốc tế.
H.T.H
NGƯỜI ĐO CHIỀU KÍCH VĂN CHƯƠNG
TRÊN SÀN SÂN KHẤU
Nguyễn Đình Vĩnh
Tiếp xúc với Phan Trọng Thưởng, dễ gần là cảm giác đầu
tiên mà mọi người nhận thấy ở anh. Bạn văn, bạn bè của anh nhiều có lẽ một phần
cũng vì thế. Khi giao tiếp, dù lí do gì, anh cũng ít làm khó cho người. Trong
các cuộc vui, anh có thể ngồi hàng giờ để nghe ngóng, đôi khi lại chen dậm để
góp tạo những tiếng cười.
Sinh năm 1951 tại Ngọc Mỹ, huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc, nhưng
duyên nợ cuộc sống đã cho anh đến được với nhiều nơi. Nhập ngũ tại Quân khu Tả
Ngạn những năm 1972-1975, làm biên tập ở Nhà xuất bản Khoa học xã hội
(1978-1981), thực tập sinh ở Viện Văn học thế giới Gorky thuộc Viện
hàn lâm khoa học Liên Xô (cũ) và sau đó là việc tham gia qua nhiều công việc,
chức vụ từ thấp đến cao ở Viện Văn học Việt Nam. Sự từng trải ấy đã cho anh ý
thức chấp nhận nhiều tiếng nói, nhiều giọng điệu khác nhau, trong lúc bàn về
thế sự và cả khi tranh luận về văn chương nghệ thuật.
Trong nghiên cứu, Phan Trọng Thưởng là một người cẩn trọng và
có chủ kiến rõ nét. Anh luôn tự dặn với lòng mình về tính nghiêm túc và tinh thần
cầu thị. Tiếp cận với một nhà văn, nhà nghiên cứu (từ cuộc sống hoặc từ một tác
phẩm, một công trình cụ thể), anh luôn ý thức đi tìm để chỉ ra cái tâm thuật và học
thuật ở họ. Bởi theo anh, khoa học xã hội dẫu có những tính phổ quát
chung, nhưng sự đóng góp của mỗi người thì bao giờ cũng xuất phát từ những điều
cụ thể, những nét đặc thù riêng.
Anh soi nhìn quá khứ với sự trân trọng, từ cách xưng hô, tiếp
xúc với tư cách con người ngoài đời lẫn trong cách đánh giá văn chương học thuật.
Trong tâm niệm của anh, quá khứ không im tiếng. Tiếng nói của quá khứ vẫn cứ
theo từng người trên bước đường của họ. Đầu mỗi bài viết, anh hay tự bạch về hướng
tiếp cận và khu vực tư liệu mà mình chiếm lĩnh được đồng thời cũng trải bày những
hồ nghi. Với những gì chưa chắc chắn, anh hay dùng những cụm từ có tính phiếm
chỉ như phải chăng, nên chăng, có lẽ... Điều này, một phần giúp tránh những
tranh luận không cần thiết và những nhà nghiên cứu khác có thể từ đó mà trao đổi,
bổ khuyết thêm. Phần khác, quan trọng hơn, nó thể hiện thái độ thận trọng trước
những vấn đề còn tồn nghi, trước ý thức rằng chân lý khoa học luôn mãi diệu vợi
nơi phía trước, mà nắm bắt một lần chưa dễ đã đúng, đã xong.
Cho đến nay, Phan Trọng Thưởng đã có ba công trình
riêng Giao lưu văn học và sân khấu (1996), Những vấn đề lí luận
và lịch sử văn học kịch việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (1996); Văn
chương - tiến trình, tác giả, tác phẩm (2001). Anh cũng có trên mười công
trình in chung và gần trăm bài viết trên các tạp chí chuyên ngành. Những số liệu
ấy chứng tỏ sự cần mẫn và nhiệt tâm của một nhà nghiên cứu trên chặng đường
dài.
Phan Trọng Thưởng là người quan tâm tới nhiều vấn đề của đời
sống văn học.Tôi cho ý thức này vừa là do cảm quan tinh nhạy ở anh vừa là do tư
duy của người một thời từng làm công tác biên tập, có điều kiện được nắm bắt,
tiếp xúc nhiều và thấy được những điểm trống cần bổ sung trong đời sống văn học.
Anh quan tâm đến chất quê “nửa núi nửa quê, tình mộc mạc” trong thơ Ngô Văn
Phú, đến “sự mượt mà trong sáng, sự nhuần nhuyễn của cảm xúc” trong thơ Tạ Minh
Châu, đến “nỗi lao lung của hồn thơ Lưu Quang Vũ”, quan tâm đến phóng sự Việt
Nam giai đoạn 1932-1945, tiếng cười ở truyện tiếu lâm... Dưới góc nhìn ngôn ngữ,
anh nghiên cứu và biện giải khá thuyết phục về sự xuất hiện và các tầng lớp
nghĩa của chữ Nhưng trong văn Nam Cao, cụ thể trong các tác phẩm Chí
Phèo, Trăng sáng, Đời thừa, Lão Hạc, Dì Hảo, Sống mòn. Anh ủng hộ việc các
nhà nghiên cứu đề xuất chức năng dự báo của văn nghệ, bởi theo anh,
người nghệ sĩ trước hết cũng là công dân bình thường như bao công dân khác. Điều
khác biệt là ở khả năng mẫn cảm của họ. Khả năng đó như dàn ăngten sóng luôn tự
thu nhận những biểu hiện thay đổi của thời cuộc, tâm hồn. Anh cũng là người sớm
có những thu hoạch và giới thiệu phương pháp loại hình ở nước ta
(Cùng thời và sau anh có những công trình của Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn,
Nguyễn Khắc Phi...)
Anh ý thức giới thiệu về lịch sử hình thành, đối tượng, mục đích, nguyên tắc phân định của phương pháp này và sau đó chỉ ra những thành tựu và sự phủ nhận nó trên phạm vi thế giới và cụối cùng nhận xét: “Vận dụng và hoàn thiện phương pháp loại hình trong nghiên cứu văn học đánh dấu bước phát triển mới của tư duy lý luận nhằm khái quát sắc nét hơn những hiện tượng văn học, nắm bắt sâu sắc hơn những quy luật vận động và phát triển của tiến trình văn học” (1). Phương pháp loại hình đặt nặng sự so sánh nhưng nó có nhiều khác biệt so với phương pháp so sánh thuần túy. Phương pháp này không nhằm tìm ra những nét giống nhau do những liên hệ bên ngoài như vay mượn, ảnh hưởng, kế thừa mà tìm ra những liên hệ bên trong, xuất hiện do tác động của những quy luật xã hội và thẩm mỹ, của bản thân tiến trình văn học, và do tác động của mối quan hệ biện chứng giữa thực tại lịch sử, xã hội và sáng tạo văn học.
Anh ý thức giới thiệu về lịch sử hình thành, đối tượng, mục đích, nguyên tắc phân định của phương pháp này và sau đó chỉ ra những thành tựu và sự phủ nhận nó trên phạm vi thế giới và cụối cùng nhận xét: “Vận dụng và hoàn thiện phương pháp loại hình trong nghiên cứu văn học đánh dấu bước phát triển mới của tư duy lý luận nhằm khái quát sắc nét hơn những hiện tượng văn học, nắm bắt sâu sắc hơn những quy luật vận động và phát triển của tiến trình văn học” (1). Phương pháp loại hình đặt nặng sự so sánh nhưng nó có nhiều khác biệt so với phương pháp so sánh thuần túy. Phương pháp này không nhằm tìm ra những nét giống nhau do những liên hệ bên ngoài như vay mượn, ảnh hưởng, kế thừa mà tìm ra những liên hệ bên trong, xuất hiện do tác động của những quy luật xã hội và thẩm mỹ, của bản thân tiến trình văn học, và do tác động của mối quan hệ biện chứng giữa thực tại lịch sử, xã hội và sáng tạo văn học.
Vấn đề tiếp nhận văn học cũng được Phan Trọng Thưởng đề
cập đến khá nhiều khi bàn luận về sự tồn tại và lan tỏa của một tác phẩm. Anh
có những khái quát khá xác đáng: “Đa nghĩa là thuộc tính của tác phẩm nghệ thuật.
Với người này, vào hoàn cảnh này thì nghĩa này nổi lên, với người khác, vào
hoàn cảnh khác thì nghĩa khác sẽ nổi lên. Song khâu quyết định nghĩa của tác phẩm
chính là hoàn cảnh, là tình huống sẽ cho trường nghĩa hoạt động thông qua khâu
khách thể tiếp nhận” (2). Khi nhìn nhận sự phát triển văn học Việt Nam trong điều
kiện chiến tranh 1945-1975 anh đề nghị phải xuất phát từ những điều kiện làm nảy
sinh, những quy luật có tính chl phối sự vận động và phát triển của giai đoạn
văn học ấy. Để rồi, anh cho rằng đặc điểm quan trọng nhất, bao trùm nhất của
văn học giai đoạn chiến tranh 1945-1975 là tính duy lợi (nghĩa là gắn
đời sống văn học với đời sống kháng chiến của dân tộc, gắn tiêu chuẩn văn học
thời chiến với tiêu chuẩn đạo đức thời chiến). Đặc điểm này bao trùm toàn bộ đời
sống văn học từ sáng tác đến lý luận phê bình. Nó xuất hiện như một nhu cầu tự
giác đối với nhà văn và nhu cầu tự giác đối với lịch sử văn học”. Bài viết Cuối
thế kỷ nhìn lại việc nghiên cứu, đánh giá văn chương Tự lực văn đoàn được
anh vận dụng lý thuyết tiếp nhận cặn kẽ hơn cả. Với nguồn tư liệu chiếm lĩnh
khá phong phú, với cách phân chia cột mục và nhìn nhận theo tiến trình, bài viết
đã xác lập được tính hệ thống và lý giải được nguyên nhân vì sao các nhà nghiên
cứu (trong từng thời đoạn cụ thể) đã đưa ra những nhận định, đánh giá như thế
này mà không như thế khác.
Nhưng có lẽ, dấu ấn hơn cả trong quá trình nghiên cứu của
Phan Trọng Thưởng là những bài viết về mối giao lưu giữa văn học và sân khấu.
Hướng nghiên cứu này cũng đã từng được nhiều học giả lớn trên thế giới như
Konrat, Niculin, Tieghem thực hiện và cho lại những kết quả cụ thể khá thuyết
phục.
Đặt tuồng-chèo trong dòng mạch văn hóa, Phan Trọng Thưởng muốn
xác lập cho hai thể loại này một vị thế nhất định bởi theo anh tuồng, chèo được
tạo ra theo quy trình sáng tạo văn hóa, để chuyển tải và nuôi dưỡng giá trị văn
hóa. “Thực tế cho thấy, từ bao đời nay, tuồng chèo trở thành niềm đam mê tinh
thần, thành ký ức văn hóa của nhiều thế hệ công chúng. Nỗi đam mê đó không chỉ ở
nội dung tuồng tích mà có lẽ bởi hồn vía dân tộc được thổi vào mỗi làn điệu, mỗi
tiết tấu mỗi sắc màu và mỗi đêm diễn. Cao hơn cả mục đích đi xem và đi nghe, mỗi
công chúng còn đến với sân khấu tuồng chèo như một sự can dự trực tiếp vào sinh
hoạt văn hóa, một thái độ nhập cuộc tích cực vào tập quán văn hóa cộng đồng”.(4) Nghiên
cứu cụ thể hơn các vở tuồng cụ thể của Đào Tấn trên cơ sở liên văn bản, Phan Trọng
Thưởng đã tìm thấy Ra đi như một phẩm chất nghệ thuật, như một dấu ấn
tư tưởng của tác giả này. Sự ra đi xuất hiện trong nhiều vở tuồng của Đào Tấn
(Từ Thứ trong Tán dã đồn, Triệu Khánh Sanh trong Diễn võ đình, Quan
Công trong Cổ thành, Tiết Cương trong Hộ Sanh đàn, Hoàng
Phi Hổ trong Hoàng Phi Hổ quá giới bài quan...) và nó gắn
với một nội dung ý nghĩa nhất định. Đối với nhân vật là hoàn cảnh để bộc lộ
tính cách, bộc lộ nỗi niềm. Còn đối với tác giả thì đó là sự kiện thể hiện quá
trình tư tưởng và chủ kiến sáng tác của mình. Sự ra đi đó góp phần tạo dựng
nhân vật theo mô hình tâm lý và lối kết để ngỏ. Trao đổi với nhà nghiên cứu Lê
Ngọc Cầu về cuốn Tuồng hài, Phan Trọng Thưởng đã nhấn mạnh ý nghĩa
khoa học to lớn của công trình này trong việc mở đường tìm lại quá khứ và cũng
thẳng thắn góp ý lại những điểm còn bất cập, chẳng hạn sự phân biệt Tuồng cổ điển
và Tuồng hài của tác giả cuốn sách dựa vào nền tảng nhận thức của hành động
nhân vật là chưa hợp lý. Theo anh, điểm khác nhau căn bản, cũng đồng thời là đặc
trưng thể loại của Tuồng hài chính là sự thống trị của cái hài trong vở diễn.
Ngược lại, Tuồng cổ điển là sự thống trị của tính chất bi hùng. Cũng vậy, anh
trân trọng những đóng góp của Trần Huyền Trân cho chèo. Chân dung nhà thơ, nhà
diễn kịch, đạo diễn chèo Trần Huyền Trân được anh thể hiện khá cụ thể qua cả việc
nghiên cứu từ tác phẩm, theo dõi trên sàn sân khấu và trao đổi trong cuộc đời.
Cũng vì nhiệt tâm muốn bảo tồn di sản cha ông, và từ cái nhìn của hướng nghiên
cứu loại hình mà anh không đồng ý với ý kiến cho rằng chèo có nguồn gốc từ
Trung Quốc. Anh cũng bộc lộ một cách rõ nét cảm xúc không đồng tình của mình
khi xem một số vở chèo mà “vũ đạo không ăn với hát, hát không ăn với nhạc...".
Văn học kịch là thể loại mà Phan Trọng Thưởng tập trung nhiều
bài viết hơn cả. Và đây cũng là lĩnh vực chuyên ngành để anh bảo vệ xuất sắc Luận
án tiến sĩ văn học Những vấn đề lịch sử văn học kịch Việt Nam nửa đầu thế
kỷ XX vào năm 1995 và năm sau đó trở thành Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam
(1997), rồi được Nhà nước phong học hàm Phó Giáo sư (2001). Đặt trong dòng lịch
sử và văn hóa đầu thế kỷ XX, trong công trình để đời nói trên, Phan Trọng Thưởng
chỉ ra sự hình thành của thể loại kịch nói ở Việt Nam bắt nguồn từ những tương
quan sau:
- Trong tương quan văn hóa Đông-Tây, sự ra đời của kịch là kết
quả ảnh hưởng mạnh mẽ văn hóa phương Tây đối với văn hóa phương Đông; - Trong
văn minh làng xã và văn minh đô thị, kịch thuộc về văn minh đô thị; -
Trong tương quan giữa nghệ thuật truyền thống và nghệ thuật hiện đại, kịch nói -
với khả năng thẩm mỹ của mình, thể hiện được những vấn đề gay cấn bức bối, những
xung đột đạo đức tâm lý... đáp ứng được nhu cầu của đại đa số công chúng đô thị
lúc bấy giờ. Phan Trọng Thưởng sau khi chỉ ra những khác biệt của kịch so với
các loại hình sân khấu truyền thống đã cho rằng: “Thông qua nhiều con đường, kịch
nói vào nước ta không vấp phải sức cản nào của thể loại tương tự trong truyền
thống. Tuy nó có tao ngộ với tuồng, chèo vốn là hai loại hình ca kịch vốn đã có
trước đó hàng chục thế kỷ, nhưng do nó là một thể loại khác hẳn, dường như
không có những mối liên hệ quyến thuộc, nên nó không đòi hỏi phải phủ định, phải
thay thế hai loại hình này mà trái lại, nó đặt ra cho tuồng chèo yêu cầu thay đổi,
cách tân để cùng tồn tại, cùng đáp ứng yêu cầu của cuộc sống”. (5)
Quan tâm đến kịch, Phan Trọng Thưởng đã chỉ ra những khác biệt
giữa kịch bản văn chương và kịch sân khấu. Theo anh, về phương thức tiếp nhận,
một bên là đọc, một bên là nghe nhìn; về môi trường tiếp nhận, một bên là độc lập
tiếp nhận và một bên là tiếp nhận tập thể; về trạng thái tiếp nhận, một bên là
chủ động tiếp nhận, một bên là tiếp nhận có phản ứng dây chuyền. Xét từ góc độ
chủ thể sáng tác, kịch văn chương là sáng tác của một cá nhân, chịu sự chi phối
của quy luật sáng tác văn chương, còn kịch sân khấu là sáng tác mang tính tập
thể, ở đó, có sự góp sức của đạo diễn, diễn viên và nhiều yếu tố mang tính phụ
trợ khác. Hiểu những điều này để có thể giải thích vì sao có hiện tượng nhiều
tác phẩm khi đọc thấy rất hay, rất thích thú nhưng khi đưa lên sàn diễn thì lại
không thành công; vì sao có những tác phẩm mà chỉ có những đạo diễn bậc thầy mới
có thể chuyển thể lên sân khấu được, như vở Rừng trúc của Nguyễn Đình
Thi, vở Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng chẳng hạn.
Phan Trọng Thưởng cũng vẽ lại con đường thành danh của những
nhà viết kịch Xuân Trình, Học Phi, Nguyễn Vũ, Bửu Tiến. Với Xuân Trình, từ những
thất bại khi chỉ viết những vở kịch với ý thức mô phỏng cuộc sống thuần túy, đến
cái nhìn thức tỉnh sau khi được thâm nhập thực tế qua chuyến đi vào tuyến lửa
Vĩnh Linh. Với Học Phi, đó là sự từng trải của tuổi đời, tuổi nghề, của sự thể
nghiệm ngòi bút qua nhiều thể loại truyện ngắn, truyện dài, của lòng yêu nhiệt
thành với Cách mạng và Đảng. Ở Nguyễn Vũ thì đó là những tháng năm gắn bó, thâm
nhập nơi chiến trường Nam Bộ để rồi, bao trùm trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác
của anh là khát vọng chiếm lĩnh, khám phá và thể hiện quy mô thẩm mỹ của thực tại
Cách mạng miền Nam trong những năm chống Mỹ. Còn Bửu Tiến thì có phần khác, quá
trình tích luỹ tri thức từ nhỏ, sự nắm bắt kỹ đời sống của lớp trí thức tiểu tư
sản, quá trình tham gia kháng chiến và sau đó là tham gia Ban sân khấu của Hội
văn nghệ, đã cho anh có cả cái nhìn của người ngoài lẫn trong cuộc. Kịch của Bửu
Tiến có ngôn ngữ trau chuốt, nghệ thuật cấu trúc hợp lý một phần cũng nhờ thế.
Lưu Quang Vũ là tác giả được Phan Trọng Thưởng quan tâm nhiều,
và theo tôi, có những khám phá hay, thú vị nhất. Có lẽ một phần do cùng trang lứa,
do đã quen nhau trong những năm Lưu Quang Vũ còn làm thơ, viết văn, viết báo và
phê bình sân khấu. Nhưng quan trọng hơn, bởi Lưu Quang Vũ là một hiện tượng
trong đời sống văn hoá, văn học trong những năm tám mươi của thế kỷ trước. Ở
hai cuốn sách của mình, Phan Trọng Thưởng tuyển chọn có đến gần chục bài anh viết
về Lưu Quang Vũ, từ cái nhìn tổng thể đến phê bình từng tác phẩm riêng lẻ. Giải
thích về thành công của Lưu Quang Vũ, Phan Trọng Thưởng cho rằng cần phải soi rọi
từ những góc nhìn xã hội học, nghề nghiệp sân khấu, chủ thể nghệ sĩ...
Nhưng đặc biệt nhất là ở cá tính sáng tác của nhà văn, bởi Lưu Quang Vũ có may
mắn vừa được tiếp thu ảnh hưởng của môi trường gia đình vừa được tiếp thu ảnh
hưởng từ môi trường công tác. Song cái quan trọng nhất ở anh là ý thức nhà văn,
là vốn học tập tích lũy, là khả năng lao động, khả năng đồng hóa thực sự.
Từ sự phân tích quan niệm của Lưu Quang Vũ rằng thơ và kịch tưởng xa nhau nhưng lại gần nhau vì cả hai cùng là tính chất của cuộc sống, cùng để nói một điều gì đó đã được cuộc sống dồn lắng, chắt lọc rồi, mà Phan Trọng Thưởng đã có những phát hiện khá thú vị. Đó là kịch của Lưu Quang Vũ giàu chất thơ. Và đây là một đặc điểm lớn, chi phối đến nhiều yếu tố trong quá trình sáng tác kịch của anh. Qua nghiên cứu, Phan Trọng Thưởng đã cho thấy kịch của Lưu Quang Vũ tập trung vào đề tài hạnh phúc và lẽ sống của con người, có không gian và thời gian nghệ thuật khá đa dạng - đó là không gian mặt đất, âm phủ, bầu trời, cả không gian tưởng tượng của người mù; thời gian là cả quá khứ, hiện tại và tương lai. Thế giới trong kịch Lưu Quang Vũ khá đa dạng, có đủ các hạng người sống cạnh nhau: người tốt, người chưa tốt, người sống - người chết, người già - người trẻ, người lành lặn - người thương tật, người bình thường - người phi thường... Và rất nhiều khi, trong một người có cả các hạng người, sự nghiêng về kiểu dạng này hay kiểu dạng khác là do quá trình đấu tranh không ngừng nghỉ trước những thách thức xuất hiện liên tục ở hoàn cảnh và tâm thức của mình. Chính chất thơ thấm đẫm nên trong kịch Lưu Quang Vũ ít có tính chất gay gắt của xung đột, cấu trúc ít bị gò bó vào những quy phạm. Cũng chính chất thơ thấm đẫm nên lời của nhân vật được phát ngôn đôi khi nhẹ nhàng nhưng nội hàm nghĩa lại sâu lắng và giàu tính triết lý.
Từ sự phân tích quan niệm của Lưu Quang Vũ rằng thơ và kịch tưởng xa nhau nhưng lại gần nhau vì cả hai cùng là tính chất của cuộc sống, cùng để nói một điều gì đó đã được cuộc sống dồn lắng, chắt lọc rồi, mà Phan Trọng Thưởng đã có những phát hiện khá thú vị. Đó là kịch của Lưu Quang Vũ giàu chất thơ. Và đây là một đặc điểm lớn, chi phối đến nhiều yếu tố trong quá trình sáng tác kịch của anh. Qua nghiên cứu, Phan Trọng Thưởng đã cho thấy kịch của Lưu Quang Vũ tập trung vào đề tài hạnh phúc và lẽ sống của con người, có không gian và thời gian nghệ thuật khá đa dạng - đó là không gian mặt đất, âm phủ, bầu trời, cả không gian tưởng tượng của người mù; thời gian là cả quá khứ, hiện tại và tương lai. Thế giới trong kịch Lưu Quang Vũ khá đa dạng, có đủ các hạng người sống cạnh nhau: người tốt, người chưa tốt, người sống - người chết, người già - người trẻ, người lành lặn - người thương tật, người bình thường - người phi thường... Và rất nhiều khi, trong một người có cả các hạng người, sự nghiêng về kiểu dạng này hay kiểu dạng khác là do quá trình đấu tranh không ngừng nghỉ trước những thách thức xuất hiện liên tục ở hoàn cảnh và tâm thức của mình. Chính chất thơ thấm đẫm nên trong kịch Lưu Quang Vũ ít có tính chất gay gắt của xung đột, cấu trúc ít bị gò bó vào những quy phạm. Cũng chính chất thơ thấm đẫm nên lời của nhân vật được phát ngôn đôi khi nhẹ nhàng nhưng nội hàm nghĩa lại sâu lắng và giàu tính triết lý.
Quan tâm đến văn học kịch, Phan Trọng Thưởng không quên chú ý
đến những đạo diễn, những người mà theo anh, đã gởi hồn và thổi luồng sinh khí
để cho những trang sách được sống động trên sàn sân khấu. Đó là Thế Lữ, một thời
là ngôi sao chủ trên bầu trời Thơ mới, bỗng chuyển dòng hoạt động vì nhận thức
“kịch trường Việt Nam vẫn còn tẻ lạnh” và ý thức dấn thân để tạo dựng những điều
mới mẻ. Đó là Hoàng Quân Tạo, với sự từng trải của một thời gian dài làm diễn
viên, những năm tháng được tu nghiệp tại Hungari và ý thức chọn lựa, đưa tác phẩm
văn học lên sàn diễn. Đó là nghệ sĩ Ái Sơn, với con đường nghệ thuật vòng vèo
nhiều duyên nợ, sinh ra trong cái nôi của nghệ thuật chèo, làm đạo diễn tuồng,
rồi kịch và cuối cùng là cải lương. Đó là Nguyễn Đình Nghi với tư chất nghệ sĩ
và quá trình học tập khá bài bản, sự dấn thân cho nghệ thuật sân khấu và ý thức
trù lượng khi làm nghệ thuật...
Nghiên cứu văn học nghệ thuật trong cái nhìn đối sánh giữa
tác phẩm ở dạng thể văn bản viết và chuyển thể lên sân khấu đòi hỏi một sự nhập
cuộc lớn. Trước hết người nghiên cứu phải tự trang bị cho mình những hiểu biết
có tính nền tảng về nhiều loại hình nghệ thuật. Sau nữa là việc phải dự khán để
đưa ra những bình xét về sự hiện hình của tác phẩm trên sàn sân khấu. Có phải
vì những lý do đó mà số người nghiên cứu văn học nghệ thuật theo hướng như vậy
ngày một thưa vắng dần. Hiểu điều này tôi càng trân trọng những gì mà Phan Trọng
Thưởng đã đóng góp.
N.Đ.V
Chú thích:
(1), (2) Phan Trọng Thưởng - Giao lưu văn học và sân khấu, NXB
Vãn học, H.1996, Tr 23.
(3) Phan Trọng Thưởng - Giao lưu văn học
và sân khấu, NXB Vãn học. H.1996, Tr 67.
(4) Phan Trọng Thưởng - Văn chương- tiến
trình, tác giả, tác phẩm, NXB Khoa học xã hội, H.2001, Tr 258.
(5) Xem thêm Phan Trọng Thưởng - Những vấn đề
lịch sử văn học kịch Việt Nam (nửa đầu thế kỷ XX), NXB KHXH,
H.1996.
B- MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU:
TINH THẦN NHẬN CHÂN CÁC GIÁ TRỊ CỦA THẾ KỶ XX
Thế kỷ XX đã qua đi. Trong khi nhân loại chưa hết sửng sốt về
những phát kiến khoa học vĩ đại làm thay đổi căn bản thế giới thì cũng không ít
người, nhất là các nhà khoa học, không khỏi chạnh lòng khi nghĩ đến các tên tuổi
như: Albert Einstein (1879-1945), Sigmund Freud (1856-1939) và xa hơn là Gregor
Johann Mendel (1822-1884) bởi thái độ hoài nghi đến mức bất công đối với phát
minh của họ lúc mới ra đời. Đã có nhà khoa học xem đó là những trường hợp bị
"hố" của thế kỷ XX và lấy làm ăn năn về những điều chưa phải đối với
các nhà bác học khả kính của thời đại mình.
Vào năm 1905, khi Thuyết tương đối của A.Einstein
được công bố, không ít nhà bác học đương thời đã lớn tiếng bài bác, nghi ngờ.
Có những nhà khoa học từng nhận giải Nobel vật lý trước đó đã phẫn nộ phản đối ủy ban Stokholm về việc Uỷ ban này quyết định trao giải Nobel vật lý cho
A.Einstein. Về phía mình, một mặt A.Einstein chân thành đề nghị nhà bác học vĩ
đại tiền bối I.Newton tha thứ vì lý thuyết của ông đã mang đến một quan niệm
ngược lại với lí thuyết của I.Newton về không gian và thời gian. Mặt khác,
A.Einstein vẫn lặng lẽ chờ đợi một ngày nào đó, những ngờ vực, mặc cảm đối với
phát minh của ông sẽ được giải tỏa. Và rồi, không phải mất nhiều thời gian, chỉ
ngay sau đó ít năm, thế giới phải thừa nhận ông là "nhà bác học vĩ đại nhất".
Tương tự như vậy, khi thuyết Phân tâm học của S.Freud ra đời, người
ta coi ông chẳng khác một anh chàng dở hơi, thậm chí như một thằng điên và
không ngớt lời mỉa mai, châm biếm, giễu cợt. Phải lay lắt mất 8 năm, quyển sách
in với số lượng 600 bản của ông mới bán hết, chủ yếu do tò mò. Không biết có phải
vì mối đồng cảm này mà hai nhà bác học vĩ đại A. Einstein và S. Freud đã viết
chung với nhau cuốn sách mang tên Tại sao có chiến tranh vào năm
1933?
Còn G. Mendel, tuy ông thuộc người của thế kỷ trước và phát
minh của ông ra đời ở thế kỷ trước, nhưng phải sang đến thế kỷ XX, Thuyết
di truyền của ông mới thoát khỏi sự thờ ơ, ghẻ lạnh của người đời cũng như
của các nhà khoa học, mới được thừa nhận là đúng và mới tìm được chỗ đứng của
nó trong lịch sử khoa học nhân loại.
Nếu đi sâu hơn vào từng lĩnh vực khác nhau của khoa học còn
có thể tìm ra nhiều ví dụ tương tự. Chẳng hạn, sự ra đời của điều khiển học, tưởng
là một phát kiến khoa học mà nhân loại phải vồ vập thì vào đầu những năm 60, ở
một số nước nó cũng không phải là một thành tựu khoa học được đánh giá đúng mức.
Thái độ đó dẫn đến sự lạc hậu hàng mấy thế hệ trong lịch trình phát triển công
nghệ.
Trên lĩnh vực văn chương, hẳn ai cũng biết nếu những sáng tác
của Franz Kafka (1883-1924) không may mắn được một người bạn giữ lại và đưa in
thì cũng đã trở về với tro bụi theo ý nguyện của thân chủ nó, làm gì có cơ hội
để được nhân loại biết đến như ngày nay? Boris Pasternak (1890-1960) còn đau đớn
và oan trái hơn. Khi cuốn tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago được in ở Italia
và sau đó được Viện Hàn lâm Thuỵ Điển trao Giải Nobel văn chương vào năm 1958
thì cũng là lúc ông phải đối mặt với những định kiến chính trị nặng nề, và một
chuỗi ngày u ám đã đến với ông trước khi ông được Hội nhà văn Liên Xô chiêu tuyết
để đưa lên hàng thế giới như một danh nhân.
Andre Platonov (1899-1951) cũng là một trường hợp tương tự.
Nhưng bất hạnh hơn các đồng nghiệp của mình, cho đến lúc chết, Platonov vẫn
không nhận được sự hối hận và niềm ưu ái muộn mằn nào của những người định đoạt
số phận các sáng tác của ông. Chỉ riêng có C.Pautovski tỏ ra mẫn cảm khi
nhìn Platonov với vai trò người quét rác, đã sớm nhận thấy đó là một chân tài của
nước Nga. Phải đến gần cuối thế kỷ, khi công cuộc cải tổ ở quê hương ông được dấy
lên, người ta mới thấy Platonov tinh tường như thế nào. Hóa ra tất cả những gì
diễn ra trong đời sống xã hội Xô viết đương đại đã được ông tiên đoán và cảnh
báo từ những năm ba mươi của thế kỷ.
Điểm qua một vài hiện tượng như trên để thấy rằng thế kỷ XX
tuy được coi là thế kỷ tiến bộ vượt bậc của khoa học và văn minh nhân loại,
nhưng không phải khi nào các phát kiến vĩ đại, các tư tưởng lớn cũng tìm được
điều kiện thuận lợi để ra đời. Và không phải khi nào, nhân loại cũng dang rộng
vòng tay và có thái độ đón nhận tất hữu đối với những đứa con kiệt xuất của thời
đại mình. Vì vậy, các nhà bác học cũng như không ít những nhà văn, nhà tư tưởng
lớn không tránh khỏi có những lúc rơi vào trạng thái cô đơn do chính sự vĩ đại
của mình gây nên. Có lẽ đó là một trong số những lý do tạo nên cơ sở triết học
của chủ nghĩa hiện sinh với triết lý vừa có phần thâm trầm, vừa có phần
ảm đạm về thân phận con người trước một thế giới đang biến đổi mau lẹ và khó hiểu.
Song, cũng chính thế kỷ XX, bằng những phát kiến vĩ đại và những
sám hối chân thành, nhân loại đã tìm lại được không ít chân lý, trả lại được
không ít các giá trị đích thực cho cá nhân và cho sự phát triển tiến bộ của
khoa học, nghệ thuật nhân loại.
Trong bối cảnh thế giới như vậy, Việt Nam không phải là một
trường hợp ngoại lệ. Khác chăng là ở chỗ chúng ta ít có những dẫn chứng tiêu biểu
ở lĩnh vực khoa học tự nhiên, trong khi những dẫn chứng thuộc lĩnh vực khoa học
xã hội nhân văn và văn học nghệ thuật lại khá nhiều.
Trước hết là lĩnh vực sử học. Trong suốt thế kỷ XX, các nhà sử
học dường như cũng muốn theo gương Lê Thánh Tông giải oan cho Nguyễn Trãi nên
đã không ít lần tỏ ra muốn vượt qua định kiến của các sử gia phong kiến để định
luận lại công trạng và nhân cách của những nhân vật lịch sử như: Thập đạo tướng
quân Lê Hoàn, Thái hậu Dương Vân Nga, Thái sư Lê Văn Thịnh, Thái sư Trần Thủ Độ,
Hồ Quý Ly, Nguyễn Ánh v.v... Tuy cho đến nay, mọi tiếng nói còn đang dè dặt và
chưa thống nhất, nhưng tinh thần thế kỷ gần như đã mang lại những nhận thức mới
về các nhân vật lịch sử này. Có lẽ đó là cơ sở để những tác phẩm nghệ thuật
như Thái hậu Dương Vân Nga, Trần Thủ Độ, Bài ca giữ nước, Rừng Trúc v.v... và
gần đây là cuốn tiểu thuyết lịch sử Hồ Quý Ly ra đời. Tuy đó là câu
chuyện ngược dòng lịch sử nhưng lại nằm trong xu thế kiểm định lại các nhân
cách, các giá trị quá khứ diễn ra vào thế kỷ XX. Ấy là chưa kể đến những vấn đề
lớn khác như các vấn đề về nguồn gốc tộc người, vấn đề xung quanh thời đại Hùng
Vương, vấn đề có hay không có chế độ chiếm hữu nô lệ ở Việt Nam? v.v... Trước
các vấn đề này, chắc chắn cho đến khi kết thúc thế kỉ vẫn chưa tìm được câu trả
lời rõ ràng và dứt khoát. Song, ít nhất ở thế kỷ XX này, các nhà khoa học đã nhận
thấy từ trong quá khứ xa xưa của dân tộc mình không ít điểm còn có thể phản biện
được để tiếp cận dần tới chân lý. Với động cơ tìm kiếm trung thực, các nhà khoa
học đang nỗ lực để trả về cho mỗi sự kiện, mỗi nhân vật những sự thật vốn có,
những giá trị hiển nhiên. Tuy đó không phải là một công việc dễ dàng và không
phải trả giá, nhưng tư duy khoa học và tinh thần nhận chân các giá trị của thế
kỷ sẽ là đảm bảo vững vàng để các cuộc kiếm tìm đi đến đích.
Hẳn những người tha thiết với văn chương dân tộc còn nhớ vào
đầu những năm ba mươi của thế kỷ này, tác giả Thề non nước, đã nhận đòn
oan của Phan Khôi như thế nào. Vì nhiệt thành cổ súy cho Thơ mới, cho những tư
tưởng cách tân thi ca dân tộc, Phan Khôi đã xem Tản Đà như một trở lực của Thơ
mới, một đối tượng cần phải tấn công. Trong cái không khí cuồng nhiệt của một
cuộc cách mạng thi ca đang bắt đầu, thủ lĩnh tinh thần của Thơ mới đã đẩy Tản
Đà về bên kia chiến tuyến. Bị mang tiếng là thủ cựu, như không thể đảo ngược được
trào lưu bồng bột đang diễn ra trên thi đàn, Tản Đà tỏ ra ngậm ngùi, phản ứng yếu
ớt để rồi những Thề non nước, Giấc mộng lớn, Giấc mộng con... chịu lặng lẽ
khép nép trước những "mốt y phục" và giọng điệu tân kỳ của Thơ mới.
Cũng may là chỉ sau đó mười năm, khi tổng kết "cuộc cách mạng trong thi
ca", Hoài Thanh đã thay mặt những nhà Thơ mới thành kính đọc Cung
chiêu anh hồn Tản Đà với niềm cảm khái và không ít ân hận. Cả Lưu Trọng Lư
- một chiến tướng của Thơ mới cũng không khỏi bùi ngùi lúc Tản Đà nằm xuống,
khi "nắp quan tài đã đậy". Họ tỏ ra ăn năn, sám hối về những khu
xử không phải với tiên sinh. Họ thành thật thú nhận phải đến lúc đó, khi những
xốc nổi, bồng bột của một cuộc cách mạng qua đi, họ mới bình tâm trở lại để tỉnh
táo nhận ra rằng Tản Đà mới chính là người xứng đáng đứng vào hàng ngũ của họ:
"Có tiên sinh người ta sẽ thấy rõ chúng tôi không phải là những quái thai
của thời đại, những đứa thất cước không có liên lạc gì với quá khứ của giống
nòi. Có tiên sinh, tao đàn sẽ còn phảng phất chút bình yên trong tư tưởng, chút
thích thảng mà từ lâu chúng tôi đã mất" (Hoài Thanh - Một thời đại
trong thi ca).
Và rồi, như một quả báo, Thơ mới đến lượt bị tấn công. Tuy những
đóng góp của Thơ mới về một số phương diện như: thể cách, ngôn ngữ và những phẩm
chất cách tân theo hướng hiện đại của nó đã bước đầu được khẳng định, nhưng cái
"sướt mướt ủy mị", cái tôi cá nhân chìm đắm trong hoan lạc yêu đương,
cái thái độ "thờ ơ trốn tránh thực tại" của các nhà thơ trước thời cuộc...
đã bị lên án. Thời đại mới với những phẩm chất cách mạng mới đã cuốn hút các
nhà Thơ mới trước đây vào một quỹ đạo khác. Trong dòng xoáy của cách mạng, thơ
ca kháng chiến với những phẩm chất mới, hơi thở mới đã ra đời khiến cho Thơ mới
mau chóng trở thành một sản phẩm ít được người ta nhắc đến. Ngay cả những người
đã sáng tạo ra nó, từng là chủ soái lừng lẫy một thời cũng ngập ngừng, e ấp
tuyên bố thái độ ly khai với Thơ mới, ly khai với "những đứa con tinh thần
lạc loài" của mình và ngoái nhìn lại nó như nhìn lại một thời lầm lỗi.
Trong suốt một thời gian dài, Thơ mới bị coi như một thứ tàn dư văn học cũ. Những
giá trị tích cực ẩn chứa trong đó cũng dần dần chìm xuống, không còn được người
ta tiếp nhận. Trong khi cái tiêu cực, cái có hại lại càng ngày càng tỏ ra có sức
ám ảnh đến nỗi hiện tượng thi ca lớn của thế kỷ chỉ còn là một quá khứ văn học
ít giá trị, chỉ được lưu giữ trong ký ức của một số ít người.
Thế rồi, lại cũng chính những biến chuyển mang tinh thần thế
kỷ XX đã trả Thơ mới về vị trí vốn có của nó trong lịch sử văn học dân tộc. Thơ
mới lại được in ra, được đánh giá lại với tinh thần khách quan, khoa học hơn.
Những luận điểm bất cập, cực đoan, thái quá đối với mặt này, mặt kia của Thơ mới
đã được điều chỉnh. Những người trước đây từng bằng cách này hay cách khác xa
lánh Thơ mới thì nay lại công khai nhận lại vinh quang của mình, công khai thừa
nhận ảnh hưởng của Thơ mới.
Cùng chung số phận với Thơ mới là văn chương lãng mạn nói
chung, văn chương Tự lực văn đoàn nói riêng. Đây cũng là một hiện tượng đáng
chú ý trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại. Trong gần bảy mươi năm kể từ khi
Tự lực văn đoàn ra đời (1932) đến nay, số phận của văn phái này đã trải qua những
bước thăng trầm. Suốt mấy thập kỷ, văn chương Tự lực văn đoàn và văn chương
lãng mạn đã chịu một sự phán quyết "nghiêm túc đến mức khắt khe" và
không kém phần nghiệt ngã. Trong khi phần đóng góp tích cực về nội dung và nghệ
thuật của văn phái này cho tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc chưa được
đánh giá đầy đủ và đúng mức thì phần hạn chế, tiêu cực lại bị nhấn mạnh, thậm
chí bị cường điệu đến mức làm lu mờ giá trị văn học khách quan của nhiều tác phẩm.
Cho dù, điều đó có lý do lịch sử của nó, nhưng muốn hay không vẫn không tránh
khỏi những thiên kiến chủ quan, những thành kiến cá nhân nặng nề, nhất là đối với
các hoạt động chính trị của một số tác giả trong văn phái đã khiến cho nhiều
giá trị văn chương đích thực bị bỏ qua, bỏ sót và các kết luận khoa học chưa đạt
đến độ chính xác, khách quan cần thiết.
Phải đợi đến những năm cuối cùng của thế kỷ XX, cơ may lịch sử
mới đến với văn chương Tự lực văn đoàn cũng như đến với một số hiện tượng văn
chương khác. Dưới ánh sáng của những tư tưởng đổi mới, những đóng góp và hạn chế
của văn phái này đã được nhìn nhận một cách điềm tĩnh, thấu đáo, khách quan
khoa học hơn. Cũng giống như thái độ của Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư đối với Tản
Đà trước đây, vào năm 1988, Giáo sư Trương Chính với ý thức phản tỉnh sâu sắc
đã viết: "Ngày nay, trong phong trào đổi mới tư duy, chúng ta thử nhìn lại
xem trong những điều viết về họ (Tự lực văn đoàn) đã thật thỏa đáng chưa? Lịch
sử sang trang rồi. Sau bao nhiêu năm đấu tranh gian khổ, chịu đủ mọi thứ hy
sinh, chúng ta mới giành được độc lập hoàn toàn. Những nhà văn trong Tự lực văn
đoàn phần lớn đã là người thiên cổ. "Cái quan định luận", chúng ta có
thể trầm tĩnh hơn, không để một tình cảm nào kích thích làm cho cán cân trở nên
tròng trành, nặng mặt này, nhẹ mặt kia, dù muốn công bằng khách quan cũng không
công bằng khách quan được". (Tạp chí Văn học số 4/1988). Còn đây là lời
cảm khái của Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), một thành viên sót lại của Tự lực văn đoàn:
"Ôi! Tự lực văn đoàn! Nay đã thuộc về dĩ vãng. Nhiều anh đã là người thiên
cổ... Kể về công, anh em đã thực hiện được mục đích của đoàn, điều chính là
làm giàu thêm văn sản trong nước; đã có đóng góp đáng kể vào văn học Việt Nam,
tạo cho đoàn một tiếng tăm vang dội một thời, một thành tích mà các văn đoàn
khác ra đời sau không đạt được, một chân giá trị riêng trong một giai đoạn nhất
định mà giới văn học ngày nay và cả ngày mai phải công nhận" (Tạp chí Văn
học số 5-6/1988).
Có thể xem những lời tâm sự, bộc bạch trên đây mang tinh thần
thế kỷ. Đó là nỗ lực để cho những sáng tạo đích thực không bị hàm oan, không bị
ngờ vực hoặc trôi giạt ra ngoài dòng tiến hóa, cũng như những hạn chế tiêu cực
có tính lịch sử của mỗi hiện tượng văn học không bị bỏ qua. Về mặt này, có thể
nói trào lưu đổi mới được Đảng ta phát động từ năm1986 đến nay đã thâu
thái được tinh thần của thế kỷ. Đó là tiền đề để phục hưng dân tộc, chấn hưng
các giá trị. Trong trào lưu đó, không chỉ những tên tuổi như Văn Cao, Vũ Bằng
mà cả Trần Đức Thảo, Hoàng Xuân Hãn v.v... sau nhiều năm lu mờ đã tìm lại được
chính danh trong văn chương nghệ thuật và khoa học của đất nước.
Liên quan đến những vấn đề trên là vấn đề phân kỳ lịch sử văn
học hiện đại. Trong nhiều năm, các mốc phân kỳ văn học của chúng ta vẫn dựa
trên các mốc lịch sử chính trị. Điều đó có nguyên nhân ở chỗ thường thì mỗi cuộc
cách mạng lớn đều ảnh hưởng đến tiến trình vận động và phát triển của văn
chương, tạo cho văn chương những bước ngoặt mới, những phẩm chất mới. Nhưng
không phải khi nào mốc phân kỳ lịch sử chính trị cũng trùng khít lên mốc phân
kỳ văn chương. Chẳng hạn giai đoạn 1930-1945 lâu nay từng được coi là một chặng
phân kỳ văn học, trong đó năm 1930 là mốc đánh dấu sự kiện Đảng cộng sản Đông
Dương ra đời và mốc 1945 đánh dấu sự thành công của Cách mạng tháng Tám. Rõ
ràng đó là hai sự kiện có tác động mạnh mẽ tới lịch sử văn học nhưng trên thực
tế, mãi tới năm 1932, văn học hiện đại mới có đầy đủ các tiền đề để phát triển.
Đó là sự hình thành của Thơ mới, của văn chương Tự lực văn đoàn, của văn chương
hiện thực phê phán, của thơ ca yêu nước và cách mạng, của những tư tưởng triết
học và mỹ học mới thể hiện xung quanh hai cuộc tranh luận Duy tâm và Duy vật
trên lĩnh vực triết học, Nghệ thuật vị nghệ thuật và Nghệ thuật vị nhân sinh trên
lĩnh vực văn học v.v...
Sự chênh nhau về thời gian của mốc khởi đầu văn học hiện đại này tuy chỉ hai năm, nhưng đằng sau đó là cả một hệ thống quan niệm văn học mà phải mất vài chục năm, với sự trưởng thành của bản lĩnh khoa học, giới nghiên cứu mới xác định được một cách rõ ràng. Ở đây, cần phải gạt ra những mặc cảm chính trị không bình thường để hướng tới một thực tế khách quan của tiến trình phát triển văn chương. Khi mốc phân kỳ được phân định rõ ràng thì đó là cơ sở đầu tiên để tiến hành viết lịch sử văn học theo những tiêu chí khoa học thực sự.
Sự chênh nhau về thời gian của mốc khởi đầu văn học hiện đại này tuy chỉ hai năm, nhưng đằng sau đó là cả một hệ thống quan niệm văn học mà phải mất vài chục năm, với sự trưởng thành của bản lĩnh khoa học, giới nghiên cứu mới xác định được một cách rõ ràng. Ở đây, cần phải gạt ra những mặc cảm chính trị không bình thường để hướng tới một thực tế khách quan của tiến trình phát triển văn chương. Khi mốc phân kỳ được phân định rõ ràng thì đó là cơ sở đầu tiên để tiến hành viết lịch sử văn học theo những tiêu chí khoa học thực sự.
Trên phương diện tư tưởng lý luận, thế kỷ XX đối với chúng ta
cũng là một cuộc khảo nghiệm lớn. Vào những thập niên giữa thế kỷ, trên nền tảng
của triết học và mỹ học Mác-Lênin, chúng ta tiếp nhận các học thuyết về hình
thái xã hội, về đấu tranh giai cấp, về thời kỳ quá độ, về chủ nghĩa xã hội khoa
học, về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa và phương pháp sáng tác hiện thực
xã hội chủ nghĩa v.v... như những nguyên lý có sẵn và hoàn chỉnh. Trong một thời
kỳ dài, chúng ta đã cố gắng để chứng minh tính bất biến của các học thuyết này
bằng những nỗ lực chủ quan, duy ý chí và thiếu sáng tạo mà không tính đến quy
luật khách quan của quá trình phát triển lịch sử, không tính đến những điều kiện
đặc thù ở mỗi nước... (Tất nhiên điều đó không chỉ diễn ra ở Việt Nam). Kết quả
là sau 70 năm phát triển, các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã lâm vào khủng
hoảng và đi đến tan rã ở ngay thành trì của nó. Sự kiện này mang lại cho mỗi nước
trong phe xã hội chủ nghĩa trước đây những bài học lớn và sâu sắc.
Trên cơ sở phân tích, tìm hiểu nguyên nhân và rút ra những
kinh nghiệm thiết thực từ quá trình dẫn đến khủng hoảng và tan rã của hệ thống
các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, ở Việt Nam đã diễn ra một quá trình nhận thức
lại về mô hình chủ nghĩa xã hội, hiểu lại, làm lại và xây dựng lại nhiều vấn đề
trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội - chính trị - kinh tế và văn hóa của đất
nước, từ đó hoạch định chiến lược phát triển, định hướng con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội dựa trên những đặc điểm cụ thể của đất nước. Cơ chế thị trường và
kinh tế nhiều thành phần thay cho cơ chế quan liêu bao cấp của nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung trước đây là kết quả của một quá trình nhận thức quy luật,
nhận thức lại con đường phát triển tất yếu sau rất nhiều những biến động chính
trị lớn lao trên thế giới. Trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, chủ nghĩa hiện
thực xã hội chủ nghĩa và phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ
nghĩa từng ngự trị trong văn học ở nhiều nước trên thế giới suốt mấy chục
năm. Đó là một sự thực lịch sử. Với nó, văn học thế giới đã có những thành tựu
không thể phủ nhận. Không ít sáng tác của nhiều đại biểu thuộc trào lưu văn học
này đã trở thành những mẫu mực nghệ thuật của văn học thế giới. Nhưng
cũng chính trong quá trình phát triển, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ
nghĩa đã bộc lộ những hạn chế lịch sử cả trên phương diện lý luận lẫn sáng
tác. Nhiều thiên kiến chính trị chủ quan, nhiều cách hiểu có phần công thức, thậm
chí giáo điều đã biến chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong
không ít trường hợp trở thành một thiết chế nghệ thuật gò ép, thiếu tính năng động,
thiếu khả năng thích ứng kịp với thực tiễn nghệ thuật phong phú, đa dạng. Quan
hệ giữa nghệ thuật và đời sống trở nên nghèo nàn, đơn điệu bởi công thức tái hiện
cuộc sống dưới chính hình thức của bản thân đời sống. Từ khi công cuộc đổi mới ở
Việt Nam được khởi xướng, những hạn chế lịch sử và những phiến diện chủ quan về
tư duy lý luận cũng như về số phận lịch sử của chủ nghĩa hiện thực xã hội
chủ nghĩa đã được giới nghiên cứu chỉ ra. Ngay cả thuật ngữ chủ nghĩa
hiện thực xã hội chủ nghĩa và phương pháp sáng tác hiện thực xã hội
chủ nghĩa cũng nhận được những chỉ báo cần thay đổi. Thực ra, vấn đề không
phải là ở chỗ có hay chưa có một nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa; có hay
không có phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa? mà là ở chỗ trên cơ sở
thực tiễn phát triển của lịch sử nghệ thuật nhân loại ngót một thế kỷ, cần phải
biết loại bỏ những yếu tố không hợp lý, không khoa học và phải biết kế thừa những
thành tựu có thật, những truyền thống nghệ thuật vốn có trong hệ thống lý luận
mỹ học về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện và phát triển nó
trong những điều kiện lịch sử và thực tiễn nghệ thuật mới. Đó thực sự là nhãn
quan khoa học, là tinh thần xuyên suốt và nhất quán của thế kỷ XX.
Cũng trong thế kỷ này, các trào lưu hiện đại ở phương Tây
như chủ nghĩa hiện sinh trong triết học và văn học với các đại biểu:
Jean Paul Sartre (1905-1980), Albert Camus (1913-1960), Samuel Beckett
(1906-1989), Eugene Ionesco (1912-?), Henri Bergson (1859-1941) v.v... trong đó
J.Sartre và A.Camus được coi như là những bậc thầy tư tưởng của châu Âu hiện đại
đã từng bị chúng ta phê phán gay gắt quá mức cần thiết. Ngay cả các trường phái
như chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hình thức, phê bình mới, tiểu
thuyết mới... trong văn học thế giới đối với chúng ta cũng từng là đối tượng
phê phán. Dường như trong nhiều năm, chúng ta không tìm thấy ở các trào lưu tư
tưởng và nghệ thuật hiện đại này những yếu tố hợp lý, tích cực nào. Do đó trong
một thời gian dài, chúng ta đã đặt mình vào hoàn cảnh cách biệt với thế giới hiện
đại, trừ Đông Âu.
Phải đợi đến những thập niên cuối của thế kỷ, sau những biến
thiên dữ dội của thế giới và với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, chúng ta mới
lấy lại được thế quân bình trong một thế giới đa cực, đa phương. Với tinh thần
nhận chân lại các giá trị của thế kỷ, các nhà khoa học của chúng ta trên mọi
lĩnh vực đã tự giải phóng được cái "vòng kim cô" vây hãm trí tuệ để
vươn đến những giá trị toàn nhân loại.
Trong cuộc tìm kiếm các giá trị, thế kỷ XX với những tri thức
khoa học tiên tiến, với trình độ văn minh kỹ thuật cao, một mặt đang hướng tới
một thế giới tương lai bằng các nỗ lực nghiên cứu, tìm hiểu, khám phá những quy
luật của tự nhiên, những bí ẩn của vũ trụ, lý giải các hiện tượng để chung sống
và chinh phục nó, thì từ một mặt khác, thế kỷ XX cũng đang nỗ lực tìm về với thế
giới đã qua, với quá khứ và lịch sử hình thành nhân loại để phát hiện những giá
trị mới, kiếm tìm những nguồn năng lượng tinh thần mới, những cơ sở triết lý mới
cho sự phát triển. Trong nỗ lực đó, có nỗ lực chiếm lĩnh, khám phá những giá trị
văn hóa, văn học dân tộc và nhân loại. Những gì đang diễn ra trong đời sống văn
hóa Việt Nam vào cuối thế kỷ như việc tôn tạo, xây dựng lại các di tích văn hóa - lịch sử, việc khôi phục lại những truyền thống tinh thần quý báu của dân tộc
mà một thời, chính chúng ta, do nhận thức cực đoan, phiến diện đã phá hủy hoặc lãng quên... là những bằng chứng cụ thể. Chính ở đây, trong công cuộc nhận
thức lại và xây dựng lại này, người ta phát hiện lại về khả năng sáng tạo vĩ đại
của con người, về lịch trình phát triển nhiều mặt của thế giới, về tri thức và
trí tuệ nhân loại.
Từ lâu, người ta đã nhận thức được giá trị nhiều mặt của văn
học dân gian và dễ dàng đi đến thống nhất ở quan điểm xem văn học dân gian là một
thành tố quan trọng cấu tạo văn hóa, là một phức hợp giá trị văn hóa - văn học
- lịch sử - triết học - ngôn ngữ - tôn giáo - đạo đức... của mỗi dân tộc. Có lẽ
vì vậy mà văn học dân gian không chỉ là đối tượng của nghiên cứu văn học. Sang
thế kỷ XX văn học dân gian đồng thời còn là đối tượng của các bộ môn: văn hóa học,
sử học, dân tộc học, triết học, đạo đức học, ngôn ngữ học, tôn giáo học, âm nhạc
học và vũ đạo học. Từ một thực thể văn học dân gian, mỗi nhà khoa học ở những
lĩnh vực khác nhau có thể nhận thấy những giá trị khác nhau, phát hiện ra những
vấn đề khác nhau. Trong khi nhà nghiên cứu văn học chú mục vào những vẻ đẹp của
hình tượng, hình ảnh, của tư duy sáng tạo dân gian, của những vấn đề xã hội - đạo
đức - tình cảm được gửi gắm trong mỗi câu ca dao, mỗi làn điệu dân ca, mỗi câu
chuyện cổ... thì nhà ngôn ngữ học lại quan tâm tới lời ăn tiếng nói của nhân
dân, tới lịch sử hình thành ngôn ngữ được thể hiện trong đó. Trong khi nhà dân
tộc học say sưa khám phá những tri thức về phong tục tập quán, về trang phục
dân gian, về kiến trúc làng xã, về những ứng xử đạo đức tinh thần... thì nhà sử
học lại nhìn thấy ở đó những dấu ấn của từng thời đại, cấu trúc xã thôn và những
quan hệ chính trị - kinh tế - văn hoá được lưu lại trong mỗi sáng tác dân gian.
Có thể nói, văn học dân gian được sáng tạo ra theo quy trình sáng tạo văn hóa và đến lượt nó, nó lại là cơ sở chuyển tải các giá trị văn hóa, phương tiện lưu
giữ văn hóa. Với mỗi dân tộc, văn học dân gian là tấm gương soi hình bóng của
dân tộc mình. Cho nên, để hiểu một dân tộc, không gì tốt hơn là chiếm lĩnh vốn
văn hóa dân gian của dân tộc đó. Từ đây có thể khám phá ra tính cách dân tộc,
khám phá ra những đặc điểm về tâm lý, tình cảm, tâm thức dân tộc. Vấn đề bản
lĩnh, bản sắc mà chúng ta nói đến trong quá trình phát triển và hội nhập của mỗi
quốc gia vào những năm cuối thế kỷ XX không phải là vấn đề gì khác, xa lạ với vấn
đề nhận thức đầy đủ các giá trị văn hóa dân tộc mà lâu nay chúng ta đã làm.
Song, cho dù thế kỷ XX có chuyển biến với một nhịp điệu gấp
gáp, một "gia tốc lịch sử" lớn như ta đã thấy, trong cuộc truy tìm để
nhận chân các giá trị, dường như vẫn không đủ thời gian và điều kiện để giải
quyết những tồn đọng của lịch sử. Chỉ riêng trong lĩnh vực văn học Việt Nam hiện
đại khoảng hơn mười năm trở lại đây, còn bao nhiêu vấn đề, bao nhiêu sự kiện đã
bước đầu được đặt ra mà chưa tìm kiếm được câu trả lời thỏa đáng. Lý do có thể
vừa thuộc về chủ quan, vừa thuộc về khách quan. Sự ngập ngừng trong không ít
trường hợp đã khiến cho việc minh định các giá trị văn chương phải chấp nhận lối
đi vòng vo và diệu vợi. Nhưng trong mỗi sự kiện và hiện tượng đó đã ẩn chứa
tinh thần của thế kỷ. Những gì chưa kịp nhận chân ở thế kỷ XX sẽ được chuyển
giao vào những thời khắc thiêng nhất để thế kỷ XXI đón nhận và thực hiện tiếp.
ĐỂ CÓ MỘT NỀN VĂN HỌC GẮN BÓ VỚI SỐ PHẬN CỦA NHÂN DÂN
VÀ VẬN MỆNH CỦA ĐẤT NƯỚC
Thế kỷ XX qua đi để lại cho chúng ta một nền văn học “xứng
đáng đứng vào hàng ngũ những nền văn học tiên phong chống đế quốc trong thời đại
ngày nay” như Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đã đánh giá.
Nền văn học đó, tuy chưa có những đỉnh cao về nghệ thuật như
chúng ta hằng mong đợi, nhưng lại là nền văn học gắn bó máu thịt với vận mệnh Tổ
quốc và vận mệnh của nhân dân. Thực tiễn chiến tranh cách mạng khốc liệt và hào
hùng kéo dài gần suốt thế kỷ XX không chỉ là nơi thể nghiệm nghiệt ngã bản lĩnh
và sức mạnh của dân tộc mà còn là trường học lớn đào tạo nên những thế hệ nhà
văn đồng thời là người lính, đồng thời là người cán bộ; vừa có khả năng tổ chức
hoạt động thực tiễn, vừa có khả năng tổ chức và sáng tạo tác phẩm nghệ thuật.
Thực tế lịch sử cho thấy, hiện thực lớn của đất nước trong mọi hoàn cảnh luôn
luôn là nguồn cảm hứng lớn kích thích khát vọng sáng tạo và là nguồn chất liệu
không vơi cạn của văn học nghệ thuật. Trong từng tác phẩm, từng trang viết của
mỗi nhà văn, không chỉ thể hiện quy mô sử thi về chiến tranh cách mạng, mà còn
trầm tích các giá trị văn hóa - lịch sử, các giá trị tinh thần nhân văn hình
thành trong chiến đấu và lao động kiến tạo.
Có thể nói, các nhà văn tham dự vào tiến trình văn học cách mạng
Việt Nam thế kỷ XX đã hoàn tất sứ mệnh cao cả của mình là xây dựng một nền văn
học gắn bó chặt chẽ với lịch sử dân tộc, với vận mệnh của nhân dân và vận mệnh
của đất nước. Họ xứng đáng được vinh danh và tự hào. Với Tuyển tập Văn học
Việt Nam thế kỷ XX đã ra mắt gần trọn bộ, chúng ta đã có một Tập đại
thành vô giá, ghi dấu ấn lịch sử chống ngoại xâm và dấu ấn lao động sáng tạo
của các thế hệ nhà văn Việt Nam hiện đại, xứng đáng với thế kỷ được mệnh danh
là “thế kỷ chiến tranh cách mạng” và “thế kỷ đấu tranh giải phóng dân tộc”.
Vào những thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, trước ngưỡng
thế kỷ XXI, một cuộc bàn giao thế kỷ đã diễn ra. Trong cuộc bàn giao này, nhiều
giá trị văn học đích thực đã được hoàn nguyên. Hành trang văn học dân tộc đã trở
nên đầy đủ hơn, có sức thu phục và thuyết phục hơn. Có thể xem đó là một thành
tựu của sự nghiệp đổi mới, một sự khích lệ tinh thần đối với các nhà văn trong
công cuộc tìm kiếm, sáng tạo.
Bước sang thế kỷ XXI, khi bão lửa của chiến tranh qua đi, đất
nước ta nói chung và nền văn học ta nói riêng đứng trước một thực tại mới với rất
nhiều biến động dữ dội. Thế giới từng bước chuyển từ trạng thái đối đầu sang đối
thoại. Thành trì của phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu bị sụp đổ, kéo theo sự chuyển
dịch của hệ thống chính trị và hệ thống giá trị toàn cầu. Xu thế hội nhập và
toàn cầu hoá càng ngày càng chứng tỏ là một xu thế khách quan không thể đảo ngược,
khiến các quốc gia không thể không tham dự. Thành tựu của cuộc cách mạng khoa học
và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin đang hàng ngày, hàng giờ làm biến
đổi diện mạo thế giới, cho phép nối dài các khả năng và rút ngắn các khoảng
cách giữa con người với con người, con người với thế giới, tạo ra một “thế giới
phẳng” như hình dung của Thomas Friedman. Cùng với công nghệ thông tin, công
nghệ sinh học với những phát hiện về bản đồ gien người, về tế bào… con
người biết rõ giới hạn và khả năng của mình hơn, được tiếp cận với cơ hội chăm
sóc và chữa bệnh tốt hơn, nhưng cũng không loại trừ khả năng người ta có thể tạo
ra những phiên bản của con người.
Ở một phương diện khác, cuộc chiến chống đói nghèo, chống
thiên tai, dịch bệnh; chống biến đổi khí hậu và sinh thái môi trường; chống khủng
bố và xung đột sắc tộc, tôn giáo… cũng đang làm con người trên thế giới vừa
xích lại gần nhau vì các mục tiêu nhân đạo, hoà bình và phát triển; vừa tạo ra
một sự phân cực mà học giả, nhà báo Mỹ Samuel Huntington mô tả là “sự đụng độ
giữa các nền văn minh” trong công trình nổi tiếng của mình.
Trong một thế giới như vậy, Việt Nam đã không thể đứng ngoài
thì nhà văn Việt Nam càng không thể có lý do để đứng ngoài. Nhà văn Pháp A.
Camus từng xác nhận đại ý: khi không can dự cũng được xem là một thái độ
thì văn nghệ phải xuống thuyền và nhà văn phải dấn thân. Đó là một thái độ tích
cực, thái độ nhập cuộc của nhà văn trước một thực tại không biên giới mà ở đó,
nhà văn có thể trải nghiệm cảm xúc vượt đại dương, trải nghiệm những nỗi buồn,
vui mang tính toàn nhân loại. Khi cánh cửa giao lưu và hội nhập rộng mở, khi
nhà văn có cơ hội để đến được với những vùng đất và bầu trời khác, thâm nhập được
vào nền văn học và văn hoá khác, tiếp xúc với những con người thuộc chủng tộc
và màu da khác… sẽ có cơ hội để nâng tầm của mình lên, biết rõ hơn mình là ai
và ở đâu trong thế giới. Nhưng ngay cả khi chưa có được điều đó, nhà văn vẫn có
thể đến được với thế giới thông qua các khát vọng vì con người, vì tình yêu, vì
các tư tưởng tự do và dân chủ, vì hoà bình và phát triển tiến bộ của nhân loại.
Nhà văn Raxun Gamztov chỉ viết về quê hương Đagextan nhỏ bé của mình mà đến được
với thế giới bởi tình yêu và niềm tự hào về quê hương xứ sở. Nhà văn Dumbatze
cũng chỉ viết về con người của đất nước ông mà đến được với thế giới bởi vì qua
ứng xử của con người với con người, ông đã khái quát thành những vấn đề có tính
“Quy luật của muôn đời”. Để đạt được điều đó, tài năng đương nhiên cần phải có,
nhưng chưa đủ. Để được thế giới biết đến, nhà văn cần phải đồng thời là nhà
tư tưởng, nhà văn hóa. Thiếu những phẩm chất đó, tài năng, năng khiếu không thể
khỏa lấp được các khoảng trống, các giới hạn ngăn cách nhà văn với thế giới.
Trở lại với thực tại đất nước ta, với nền văn học ta từ thời
kỳ đổi mới đến nay có thể thấy văn học đã thực sự có những bước đồng hành với
nhịp chuyển biến lớn lao của đất nước. Nhớ lại những năm trước đổi mới không
lâu, chúng ta thấy chính văn học nghệ thuật là một trong những dấu hiệu báo trước,
là diễn đàn công khai góp phần tạo ra những tiền đề về nhận thức và áp lực xã hội
cho tiến trình đổi mới. Sau chiến tranh, chưa bao giờ tinh thần và trách nhiệm
xã hội công dân của nhà văn lại được phát huy cao độ và chuyển hoá vào tác phẩm
nhuần nhuyễn, hiệu quả đến thế. Với những phóng sự, những vở kịch, những tiểu
thuyết, truyện ngắn, bút ký ra đời vào thời kỳ này đã xác nhận nhà văn không chỉ
sống cùng với đất nước, với nhân dân trong chiến tranh mà còn sống cùng với đất
nước và với nhân dân trong quá trình suy tư, trăn trở, tìm kiếm con đường để
thoát khỏi cơn bĩ cực. Thái độ sống, trách nhiệm xã hội và tài năng, tâm huyết
đó của các nhà văn chúng ta cần thêm một lần nữa được ghi nhận và vinh danh.
Nhưng, rất tiếc là trong Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn
qua 20 năm đổi mới (1986-2006) (Nxb. Chính trị Quốc gia xuất bản năm
2005), Ban chấp hành Trung ương và Ban chỉ đạo tổng kết đã bỏ quên vai trò đóng
góp của văn học nghệ thuật, không ghi nhận và dành cho nó một sự khích lệ cần
thiết. Như người châu Âu nói: Thà muộn còn hơn không, tại diễn đàn này,
tôi đề nghị phải ghi công đóng góp của văn học vào tiến trình đổi mới đất nước.
Từ những năm chín mươi của thế kỷ XX đến nay, không thể nói
là văn học đã chững lại hay đi xuống, nhưng rõ ràng phải thừa nhận văn học đã
khác trước và đang khác trước rất nhiều. Xu hướng kéo sát văn học về với đời
thường, về với số phận của cá nhân cũng như xu hướng phản tỉnh đang làm cho văn
học xa dần những vấn đề lớn của đất nước. Đặc biệt là từ khi cơ chế thị trường
được thiết lập và phát huy tác động của nó đến văn học nghệ thuật thì sự thuần
khiết văn chương đã có phần không giữ được. “Gió Âu, mưa Á” từng làm cho văn
chương Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX trưởng thành và hiện đại hóa một cách
nhanh chóng thì giờ đây, trong giao lưu, hội nhập, gió Âu, mưa Á lại đang làm nảy
sinh những mầm mống mới chưa chắc đã mang lại bước phát triển tiến bộ cho văn học.
Mạng Internet tuy là một thành tựu lớn của kỹ thuật và văn minh nhân loại;
nhưng văn học mạng lấn lướt hoặc thay thế văn học viết và phổ biến
theo kiểu truyền thống của thế giới thì không hiểu giá trị văn chương sẽ đến
đâu?
Chúng ta đang sống trong một thời buổi mà hơn ai hết, nhà văn
là người phải chứng kiến sự suy thoái đạo đức xã hội trầm trọng. Vì lợi nhuận,
vì đồng tiền người ta có thể làm tất cả: rải đinh ra đường để bẫy xe; trộn
heroin, bột đá vào kẹo; bỏ Pin vào luộc bánh chưng, cho hoá chất độc hại vào thực
phẩm để lừa người tiêu dùng…; Chưa bao giờ bạo lực xã hội và bạo lực học
đường, bạo lực gia đình lại gia tăng trầm trọng như hiện nay; Chưa bao giờ tai
nạn giao thông lại cướp đi sinh mạng của 12.000 người lương thiện mỗi năm như
hiện nay (Báo cáo của Uỷ ban an toàn giao thông); Chưa bao giờ biến đổi khí hậu
và môi trường lại gây hậu quả nặng nề cho con người và xã hội như hiện nay
(Theo dự báo của UNDP, biến đổi khí hậu đang có nguy cơ đẩy 2 tỷ người trên thế
giới vào tình trạng bần cùng, trong đó Việt Nam được cảnh báo); Chưa bao giờ tệ
nạn xã hội và dịch bệnh lại đe doạ, rình rập con người như hiện nay; Chưa bao
giờ nông thôn Việt Nam lại biến đổi sâu sắc như hiện nay;…! Chưa bao giờ…! Trước
trạng thái bất an và các nguy cơ đối với cuộc sống của con người hiện đại, với
lương tâm và trách nhiệm nhà văn, liệu chúng ta có động lòng trắc ẩn chăng? Ở
Nga người ta có thể thay tên đường phố mang tên M. Gorki bằng tên khác là
Tverskaja, nhưng mệnh đề nổi tiếng “Văn học là nhân học” do ông phát ngôn không
dễ gì thay đổi. Với nó, văn học sẽ mãi mãi gắn với hạnh phúc và nỗi đau khổ của
con người. Những vấn đề nhức nhối mà tôi vừa đề cập ở trên thực sự là những vấn
đề của con người, của nhân dân, của đất nước mà nhà văn không thể thờ ơ, không
thể dửng dưng, đứng ngoài.
Nhưng, nếu chỉ có vậy thì cuộc sống và văn chương thật ảm đạm!
Đất nước đang còn một thực tại khác lớn hơn là thực tại Công nghiệp hóa Hiện đại
hóa với những thế hệ công dân mới, những tác phong sống và làm việc mới, những
quan niệm giá trị mới, những khả năng lao động mới… đang sản xuất, kinh doanh
hoặc đảm nhận những vị trí khác nhau trong xã hội, làm giàu cho đất nước, gia
đình và bản thân. Đó là một thực tại mới và lớn đối với nhà văn chúng ta. Sức hấp
dẫn của nó đối với văn chương đến đâu còn tuỳ thuộc vào những nhân vật, sự kiện
cụ thể và xúc động của nhà văn, nhưng nếu thâm nhập được vào đó chắc chắn sẽ có
những sáng tạo mang giá trị thời đại.
Bước sang thế kỷ XXI, thế giới chứng kiến một sự khủng hoảng
trầm trọng về lý luận văn học. Trong khi thực tiễn sáng tác cho thấy những dấu
hiệu được mệnh danh là hậu hiện đại nổi lên khá ồn ào ở một số nước
thì về lý thuyết văn học, dường như vẫn đang lâm vào tình trạng bế tắc, trong
đó có chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Mọi nỗ lực của giới nghiên cứu
hầu như vẫn chỉ dừng lại ở việc làm mới các lý thuyết nghệ thuật hầu hết ra đời
trên thế giới từ tiền bán thế kỷ XX. Cần phải khẳng định rằng, nỗ lực đó đã tạo
điều kiện thuận lợi để Khoa nghiên cứu văn học và tư duy lý luận văn học ở
ta phát triển, ngõ hầu hội nhập, đối thoại được với thế giới. Nhưng gần như nó
không ăn nhập gì, không góp gì nhiều cho thực tiễn sáng tác. Tình hình đó đang
tạo ra độ vênh lệch đáng kể giữa một bên là thực tiễn sáng tác hết sức năng động,
cởi mở với một bên là các lý thuyết nghệ thuật có phần đã trở nên xơ cứng, giáo
điều máy móc và không còn hoàn toàn phù hợp. Thậm chí đã có biểu hiện lý luận một
đường, sáng tác một nẻo khiến cho thực tiễn văn học ở những thời điểm nhất định
như bị rơi vào tình trạng chân không về lý luận, còn sáng tác thì vô tình lặp lại
những thủ pháp, những kỹ thuật thể hiện xưa cũ mà không hề hay biết.
Trong tình hình như vậy, thực tiễn sáng tác gắn với thực tại
lớn của đất nước, gắn với số phận con người, số phận nhân dân sẽ là ngọn nguồn
của sáng tạo. Chính thực tiễn sẽ cung cấp những tiền đề, những luận cứ để hiệu
chỉnh, xây dựng hệ thống lý luận văn học có độ tương thích lớn. Sự nghiệp
đó khó có thể là của riêng ai mà là của cả nền văn học, là nỗ lực chung của các
nhà văn chúng ta.
Để kết thúc tham luận, tôi muốn mượn ý của J. Sartre để khẳng
định lại mối quan hệ gắn bó của văn học với thời đại, của nhà văn với xã hội,
trong đó có nhân dân và đất nước mình. Ông viết: “Mục đích của chúng ta là góp
sức vào việc tạo ra những thay đổi trong xã hội… Đối với chúng ta, văn học sẽ
trở thành cái mà nó chưa bao giờ ngừng trở thành. Nhiệm vụ của nhà văn là làm
phát lộ những giá trị vĩnh cửu xuất hiện từ trong các cuộc đấu tranh xã hội hoặc
chính trị. Bởi vì nhà văn không những không có cách gì để trốn tránh thực tại
mà trái lại, còn phải gắn bó mật thiết với thời đại mình. Nó là sự may mắn duy
nhất của nhà văn; nó tồn tại cho nhà văn và cho chính nó”.
Thiết nghĩ, tư tưởng đó của J. Sartre đáng để nhà văn chúng
ta cùng suy ngẫm.
THƠ MỚI - MỘT HIỆN TƯỢNG LỊCH SỬ
CÓ TÍNH KHU VỰC
Thơ mới (1932-1945) được xem là một hiện tượng đặc biệt trong
lịch sử văn học dân tộc không chỉ vì nó là một trào lưu bao gồm tên tuổi của
nhiều nhà thơ lớn với tài năng kiệt xuất, phong cách độc đáo, nổi tiếng ngay từ
khi mới xuất hiện như: Thế Lữ, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư,
Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương, Hàn Mạc Tử, Nguyễn Xuân Sanh, Tế Hanh, Anh Thơ,
v.v… mà còn ở sứ mệnh cách tân và số phận thăng trầm của nó trong lịch sử văn học
hiện đại. Năm 2012 là năm Thơ mới tròn 80 tuổi. Ở tuổi đó, khó có thể nói Thơ mới
đang còn giữ được độ thanh xuân. Trái lại, hình như cái cơ thể già nua đó đang
trở thành đối tượng cho những đổi mới, cách tân không chút e dè diễn ra trong
thơ những năm gần đây. Mặc dù vậy, những ý nghĩa lớn lao mà Thơ mới mang lại
cho lịch sử văn học Việt Nam hiện đại vẫn cần được nhắc lại, được làm mới trong
một bối cảnh mới.
Nói đến Thơ mới, lâu nay không ít người lầm tưởng đó là hiện
tượng chỉ có ở văn học Việt Nam. Thực ra, Thơ mới là một hiện tượng có tính khu
vực, lần lượt xuất hiện ở hầu hết các nước châu Á vào những năm từ cuối thế kỷ
XIX đến đầu thế kỷ XX.
Ở Nhật Bản, một nước có quá trình tiếp xúc với phương Tây sớm,
Thơ mới (Tân Thể thi) được khai sinh năm 1882 với tập thơ dịch Tân Thể thi
sao do các giáo sư của Đại học Tokyo phóng tác theo tác phẩm của các nhà
thơ Anh, Mỹ và Pháp nhằm tạo ra một thể Thơ mới (shintaishi) để diễn đạt trạng
thái tinh thần của thời đại. Chỉ sau đó ít năm, vào năm 1897, tập thơ Cỏ
non của tác giả Shimazaki Toson ra đời. Có thể xem đó là tập Thơ mới đầu
tiên do người Nhật sáng tác, mở đầu cho phong trào Minh Trị lãng mạn chủ
nghĩa.
Ở Trung Quốc, người có vai trò giống như Phan Khôi (tác giả
bài thơ Tình già) đối với Thơ mới ở Việt Nam là Hồ Thích với Thường
thí tập (1920). Có thể xem đây là tiếng còi khai cuộc cho Thơ mới ở Trung
Quốc. Nhưng phải đến năm sau, khi tập thơ Nữ thần (1921) của Quách Mạt
Nhược được phát hành thì Thơ mới mới chính thức được khai màn, mở ra một giai
đoạn phát triển mới trong lịch sử văn học hiện đại Trung Quốc.
Cũng trong khoảng thời gian này, ở Hàn Quốc, ánh sáng duy tân
từ Nhật Bản đã rọi tới. Sự xuất hiện tập thơ Niềm im lặng của tình
yêu (1926) của tác giả Han Young-un được xem là thành tựu đầu tiên của Thơ
mới tại đây (1).
Ở Ấn Độ, với vai trò của Tagore, Thơ mới không chỉ xuất hiện
và đạt thành tựu đỉnh cao ở quốc gia này mà còn có ảnh hưởng rộng rãi, chi phối
văn học ở nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á.
Còn ở Việt Nam, như chúng ta đã biết, từ khi “một lối Thơ mới
trình chánh giữa làng thơ”, những người không ngớt cổ súy cho nó như Phan Khôi,
Nguyễn Thị Kiêm, Lưu Trọng Lư, Lê Tràng Kiều,… đã được đáp lại bằng cả một
phong trào rộng lớn để chỉ ít lâu sau đó, đến năm 1932, với sự xuất hiện của Thế
Lữ, Thơ mới đã nhanh chóng giành được “toàn thắng” (chữ dùng của Hoài Thanh)
khiến cho “trong khoảnh khắc cả hàng ngũ thơ xưa phải tan rã”.
Như vậy, Thơ mới đâu phải là hiện tượng cá biệt ở một nền
văn học nào, mà là hiện tượng phổ biến ở hầu hết các nền văn học thuộc các quốc
gia châu Á. Tuy thời điểm xuất hiện có thể sớm hoặc muộn hơn một chút tùy theo
hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở mỗi nước, nhưng nhìn chung đó là sản phẩm của lịch sử
châu Á những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
Dưới ánh sáng loại hình học và lý thuyết văn học so sánh, có
thể dễ dàng nhận thấy những điểm tương đồng và dị biệt giữa các nền văn học
trong khu vực mà Thơ mới là một hiện tượng đáng chú ý. Tuy xuất hiện ở những thời
điểm khác nhau nhưng Thơ mới ở các nước cùng có chung những đặc điểm tạo nên những
dấu hiệu loại hình khá tiêu biểu. Như chúng ta đã biết trong nhiều thế kỷ, do
những nguyên nhân lịch sử xã hội và văn hóa nhất định, thơ ở một số nước trong
khu vực Đông và Đông Nam Á đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của quan niệm thẩm mỹ và
thi pháp thơ cổ điển Trung Hoa. Với các quan niệm này, thơ bị gò bó vào các đề
tài cao quí (Tùng, cúc, trúc, mai; trăng, hoa, tuyết, nguyệt…), vào mỹ tự, thể
cách, vần điệu, niêm luật…; bị biến thành các phương tiện phát ngôn để nói chí,
tỏ lòng. Tuy ở mỗi nước, trong những giai đoạn khác nhau đã ít nhiều cho thấy
bóng dáng con người cá nhân, nhưng nhìn chung, bao trùm vẫn là cái Ta tuyệt
đích ngự trị, ít thấy cái Tôi với nhiều cung bậc của tâm trạng, tình cảm đa dạng
như cái tôi thường thấy trong văn chương hiện thực và văn chương lãng mạn sau
này. Có lẽ cũng vì vậy mà tình yêu cá nhân, những khát vọng cá nhân, cho
dù là tình yêu và khát vọng thành thực, cháy bỏng, luôn luôn hiện hữu trong đời
sống, vẫn không tìm được chỗ đứng cần có trong văn chương trung đại. Ngôn ngữ,
hình ảnh, nhịp điệu thơ dưới các thiết chế nghệ thuật thẩm mỹ truyền thống Á
Đông cũng vì thế trở nên cầu kỳ, khi nào cũng được gọt rũa để đạt được sự đài
các, sang trọng với ý tưởng giữ cho thơ không tầm thường.
Đến khi Thơ mới xuất hiện, sở dĩ được gọi là mới vì
nó đã làm cho những đặc trưng mang tính loại hình khá phổ biến và khá bền vững
của Thơ cổ ở các nước Đông và Đông Nam Á bị rạn vỡ để mau chóng hình thành một
quan niệm nghệ thuật mới, một trạng thái xúc cảm mới, một ý thức chủ thể thẩm mỹ
và một thi pháp thể loại mới. Sự đồng loạt vượt thoát khỏi các qui phạm nghệ
thuật truyền thống có thể xem là thắng lợi đầu tiên của Thơ mới ở tất cả các nước
diễn ra hiện tượng lịch sử này. Nó tạo nên những dấu hiệu loại hình mới, những
cộng đồng loại hình mới mà khi nghiên cứu lịch sử phát triển thơ ca nói riêng,
lịch sử phát triển văn học nói chung không thể bỏ qua. Với các phẩm chất mới,
thơ trở nên gần gũi, đáp ứng nhu cầu mỹ cảm của công chúng hiện đại và lột xác
trong một cuộc cách tân từng được ví như một “Cuộc hòa nhạc tân kỳ”.
Những tương đồng loại hình được tạo nên từ Thơ mới cho thấy sự
tác động của những quy luật khách quan đến tiến trình văn học. Có thể xem đó là
một hiện tượng nảy sinh trong những điều kiện lịch sử xã hội và thẩm mỹ tương đồng
mà các quốc gia châu Á cùng trải qua.
Từ thực tiễn lịch sử văn học các nước trong khu vực Đông Á và
Đông Nam Á, có thể xem Thơ mới, về một phương diện nào đó, là kết quả của quá
trình tiếp xúc, giao lưu, ảnh hưởng phương Tây, tiếp thu phương Tây để cách
tân, đổi mới và phát triển văn học. Cho nên không có gì làm lạ khi Thơ mới vừa
vùng vẫy để phá vỡ “khuôn vàng thước ngọc”, để đạt được sự tự do thì lại vô
tình rơi vào một thực trạng khác mà Hoài Thanh từng mô tả là “mỗi nhà Thơ mới
Việt Nam đội trên đầu năm bảy nhà thơ Pháp”. Đoàn Phú Tứ coi A. Musset là “bậc
thầy tư tưởng”; Xuân Diệu, Huy Cận người thì thừa nhận ảnh hưởng của P.
Verlaine, A. Rimbaud, người thì thừa nhận ảnh hưởng của C. Beaudelaire, A.
Lamartine, F. Chateaubriand… Trên một phương diện nào đó có thể xem hiện tượng
này như là sự thừa nhận ảnh hưởng của văn chương Pháp đến thế hệ các nhà Thơ mới
Việt Nam qua nhiều con đường, trong đó có nhà trường Pháp. Nhưng đồng thời, ở
phương diện khác, sự hình thành và phát triển của Thơ mới cũng được xem là sự tự
ý thức, sự chủ động tiếp thu và tiếp biến các giá trị văn học tiến bộ để các nước
châu Á hiện đại hóa văn học, gia nhập tiến trình chung của văn học thế giới.
Nhìn lại lịch sử văn học Việt Nam chúng ta có thể dễ dàng nhận
thấy quá trình giao lưu và tiếp xúc với văn học các nước trong khu vực và thế
giới không chỉ diễn ra một lần. Mỗi lần như vậy thường kéo theo không ít thì
nhiều những biến đổi và cách tân văn học dân tộc. Cuộc giao lưu và tiếp
xúc với văn học Pháp nói riêng và văn học phương Tây nói chung diễn ra vào cuối
thể kỷ XIX, đầu thế kỷ XX được xem như là cuộc giao lưu và tiếp xúc lần thứ 2.
Hệ quả của cuộc tiếp xúc này trên phương diện văn học là sự ra đời và thắng thế
của Kịch (1921) của Tiểu thuyết (1925) và của Thơ mới (1932). Với những thành tựu
nghệ thuật hiển nhiên và rất đáng trân trọng của ba thể loại này, văn học Việt
Nam đã hoàn kết quá trình hiện đại hóa để mở ra một thời đại văn học mới.
Trở lại với Thơ mới ở Việt Nam, có thể nói đây là hiện tượng
đã từng ngốn không ít giấy mực của giới lý luận phê bình và công chúng yêu
thích văn học Việt Nam suốt 80 năm qua. Như trên đã nói, Thơ mới có ở nhiều nước
trong khu vực, nhưng hình như không ở đâu nó có số phận thăng trầm giống
như ở nước ta. Ngay lúc mới ra đời, Thơ mới giống như đứa trẻ được o bế,
cưng chiều, được đón nhận vồ vập. Chỉ trong 10 năm, nó đã qui tụ thành một
phong trào rộng lớn với những tên tuổi và tài năng lừng lẫy, đưa thi đàn dân tộc
lên đỉnh cao chưa từng thấy. Vào năm 1941, khi tổng kết phong trào Thơ mới,
Hoài Thanh đã xem đó là Một thời đại trong thi ca. Sự xuất hiện và thắng
thế của Thơ mới đã “làm rạn vỡ những khuôn khổ ngàn năm không di dịch” của thơ
cũ vốn bị gò bó bởi các qui phạm, điển phạm, các phép tắc, niêm luật, vần điệu,
sáo ngữ,… từng ngự trị suốt 10 thế kỷ. Cùng với Thơ mới, một quan niệm văn học
mới, một ý thức mới về cái tôi cá nhân, một hình thức mới thể hiện thế giới cảm
xúc của con người, một cảm quan mới về nhân sinh và vũ trụ,… đã được xác lập.
Cũng giống như văn xuôi của các nhà văn trong Tự lực văn đoàn, Thơ mới với
những phẩm chất cách tân của nó đã góp phần quan trọng vào việc phát triển ngôn
ngữ tiếng Việt nói chung, ngôn ngữ thơ ca nói riêng. Từ góc độ văn hóa có thể
nhận thấy ở Thơ mới những giá trị tiềm ẩn, những điểm dung hợp giữa truyền thống
với hiện đại. Tuy lúc đầu, khi phong trào đang phát triển bồng bột, những người
cổ súy cho Thơ mới có lúc đã chĩa mũi nhọn tấn công vào thơ cũ (thơ truyền thống),
nhưng khi giành toàn thắng, chính những đại diện của Thơ mới đã cung kính nhận
lại những giá trị đích thực của truyền thống thi ca mà vào giai đoạn cuối không
ít người đã có xu hướng quay trở lại.
Nhìn lại lịch sử văn học hiện đại, có lẽ chưa có một trào
lưu, khuynh hướng thơ ca nào có nhiều tác giả tài năng kiệt xuất và nổi tiếng sớm
(phần lớn là ở tuổi trên dưới 20) như phong trào Thơ mới. Khi Cách mạng tháng
Tám nổ ra, phần lớn những thành viên của Thơ mới lại đầu quân vào văn học cách
mạng, trở thành những nhà thơ trụ cột, mang tài năng của mình ra phụng sự Tổ quốc
và nhân dân.
Nhưng, do những ấu trĩ nhất thời, lịch sử văn học cũng đã có
lúc thành kiến khá nặng nề với Thơ mới khiến cho những giá trị đích thực và tự
thân của nó có lúc bị lu mờ. Ngay cả một số tên tuổi cự phách của Thơ mới,
trong một hoàn cảnh nào đó cũng từng ghẻ lạnh với cả những đứa con tinh thần ưu
tú của mình. Cũng may là chính lịch sử sau 40 năm, đến thời kỳ đổi mới (1986),
dưới ánh sáng của tư duy mới, của tinh thần dân chủ mới, nhiều giá trị văn học
từng bị bỏ sót hoặc đánh giá chưa thỏa đáng đã được nhận thức lại, trong đó có
Thơ mới. Có thể nói sau sự bừng tỉnh của lý trí, Thơ mới lại được đón nhận với
một thái độ tất hữu. Tầm vóc của hiện tượng thi ca có ý nghĩa khu vực và quốc tế
này đã được giới nghiên cứu trong và ngoài nước xác quyết, minh định. Đó là một
hiện tượng thơ ca có ý nghĩa đặc biệt trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân
tộc.
Kỷ niệm 80 năm Thơ mới (1932 - 2012) là dịp để khẳng định lại
một lần nữa ý nghĩa cách tân to lớn của phong trào Thơ mới đối với lịch sử văn
học hiện đại; khẳng định lại tài năng, tâm huyết và cống hiến xuất sắc của các
nhà Thơ mới cho nền văn học nước nhà.
Trong bối cảnh giao lưu và hội nhập quốc tế đang diễn ra trên
thế giới như một xu hướng không thể đảo ngược hiện nay, ôn lại những bài học từ
Thơ mới thiết tưởng có thể mang lại cho chúng ta những suy nghĩ bổ ích, những
kinh nghiệm lý thú, đặc biệt là về quá trình giao lưu như một qui luật phổ biến
và tất yếu của sự phát triển văn học. Nếu xem Thơ mới là kết quả của quá trình
giao lưu và hội nhập lần thứ 2 thì những đổi mới, cách tân thi ca đương đại có
thể được xem là kết quả của quá trình giao lưu và hội nhập lần thứ tư trong lịch
văn học (lần thứ ba là sự giao lưu và hội nhập với văn học các nước xã hội chủ
nghĩa và Đông Âu từ những năm năm mươi đến những năm tám mươi của thế kỷ XX).
Những gì diễn ra trong thực tiễn cho thấy giao lưu và tiếp xúc là một trong những
tiền đề lịch sử quan trọng dẫn đến các cuộc canh tân và cách tân văn học dân tộc.
Nó diễn ra như một qui luật phổ biến trong lịch sử văn học. Dưới tác động của
qui luật đó, sự tìm tòi, thể nghiệm, cách tân vừa trở thành nhu cầu chủ quan, vừa
trở thành nhu cầu khách quan của sự phát triển văn học. Nhưng cách tân theo hướng
nào và như thế nào để thực sự tạo ra những bước phát triển đột biến làm cơ sở
cho những sáng tạo nghệ thuật đích thực, làm sinh động, phong phú thêm cho nền
văn học nói chung, cho thơ ca nói riêng, lại là vấn đề không đơn giản. Trước hết,
cần một động cơ sáng tạo trung thực và sau đó là một tài năng, một vốn liếng
tri thức văn hóa và văn học đủ để đảm bảo cho những tìm kiếm đúng hướng và có
hiệu quả, có giá trị nghệ thuật, thẩm mỹ cao. Kinh nghiệm từ quá trình vận động
và phát triển của Thơ mới cho thấy mọi kiếm tìm nếu chỉ dừng lại ở hình thức,
chạy theo hình thức đơn thuần sẽ dẫn nhà thơ đến ngõ cụt. Một khi thơ đã bị tước
đi yếu tố cảm xúc và giá trị nhân văn thì mọi nỗ lực gia công về kỹ thuật cùng
lắm cũng chỉ biến thi ca thành trò chơi ngôn ngữ như các nhà cấu trúc đã làm mà
thôi.
Nhìn vào lịch sử Thơ mới những năm cuối khi phong trào đã vượt
đỉnh chúng ta thấy mọi nỗ lực tìm kiếm cách tân từ nội dung đến hình thức của
các cá nhân, các nhóm phái đều không mang lại được cho Thơ mới một tương lai
sán lạn hơn. Ngay cả những thành viên trụ cột của Xuân thu nhã tập với
rất nhiều cao vọng, rất nhiều nhiệt huyết cũng không dẫn dắt được những ý tưởng
canh tân thơ cập đến bến bờ nào. Trong khi đó, xu hướng tìm lại những giá trị cổ
điển của thơ truyền thống mà Quách Tấn là một trong những người thường được nhắc
đến lại tỏ ra có triển vọng khơi vào nguồn mạch dồi dào và tinh khiết của thơ.
Trong khi công chúng đương đại đang tỏ ra thờ ơ đối với thơ
thì đích đến của mọi cách tân, bất kể là nội dung hay hình thức, không thể là
nơi không có công chúng. Trong thực trạng thi ca hiện nay, nhu cầu mỹ cảm của
con người chỉ có thể được đáp ứng, được sẻ chia khi thơ là tiếng nói tri ân,
tri kỷ, là những cảm xúc mà ngoài thơ ra không một thể loại văn chương nào khác
mang tới được. Nếu văn bản thơ chỉ còn là nơi thể nghiệm các lý thuyết; nơi phô
diễn những ý tưởng khô khan; là tổ hợp các mã ngôn từ khó hiểu… thì lãnh địa
thơ ca sẽ dần dần bị thu hẹp, khép kín để cuối cùng chỉ còn là trò chơi ngôn ngữ
trong tay một số ít người giống như trò chơi Rubíc vậy thôi. Vì vậy, giành lại
người đọc cho thơ cần phải trở thành cứu cánh của đổi mới và sáng tạo. Nếu có một
thống kê đầy đủ và tin cậy về số lượng công chúng của Thơ mới trong suốt 80 năm
qua thì chắc chắn đó sẽ là con số có ý nghĩa, đáng để chúng ta suy ngẫm về thơ
với công chúng hiện nay.
Chú thích:
([1]) Những tài liệu này được sử dụng từ cuốn Văn học cận
đại Đông Á từ góc nhìn so sánh, Đoàn Lê Giang (Chủ biên), Nxb Tổng hợp Thành phố
Hồ Chí Minh, 2011.
MẪN CẢM CỦA NGHỆ SĨ TRƯỚC THỰC TẠI
Trong những năm trước đây, do nhiều nguyên nhân, lý luận văn
học và mĩ học mác xít mới chỉ biết đến 3 chức năng cơ bản của văn học là chức
năng nhận thức, chức năng giáo dục và chức năng thẩm mỹ.
Theo đó, họat động sáng tạo và tiếp nhận văn học cũng thường bị giới hạn, hay
nói đúng hơn là bị chi phối bởi ba chức năng này. Cho đến nay, sau ngót một thế
kỷ với những biến cố thăng trầm, ba chức năng trên có thể có những cách lý giải
khác, với những lối diễn đạt khác, nhưng về căn bản nó vẫn được thừa nhận, và
thực tế cho thấy chưa chịu một sự chỉ chích phê phán thuyết phục nào.
Tuy nhiên, từ đầu những năm chín mươi của thế kỷ XX đến nay,
do sự đổi mới và phát triển của tư duy lý luận và sự phong phú, sinh động của
thực tiễn sáng tạo cũng như tiếp nhận văn học nghệ thuật, ngoài ba chức năng
quen thuộc, ở một số diễn đàn hội thảo khoa học, một số tiểu luận đăng trên báo
và tạp chí, một số công trình và giáo trình lý luận văn học đã bước đầu đề xuất
những chức năng mới của văn học như: chức năng giải trí, chức năng dự
báo, chức năng giao tiếp, chức năng thông tin... Riêng chức
năng dự báo đã có nhà lý luận đề xuất phương án kết hợp với chức năng
nhận thức để thành chức năng nhận thức và dự báo của
văn học, với lý do chức năng nhận thức tạo tiền đề cho chức năng dự báo. Những
đề xuất này đã đầy đủ cơ sở khoa học, đã phù hợp với thực tiễn nghệ thuật hay
chưa? vẫn đang cần giới lý luận và sáng tác cùng suy nghĩ để tiếp tục làm sáng
tỏ. Nhưng, với suy nghĩ cá nhân, chúng tôi cho rằng vấn đề dự báo chỉ
thuộc về tác giả, còn vấn để nhận thức thuộc về cả hai: tác giả và
người đọc. Vì vậy, chúng tôi thiên về phía cho rằng dự báo là chức
năng riêng, độc lập với chức năng nhận thức.
Thực ra, đây không phải là phát hiện hoàn toàn mới của các
nhà lý luận văn học và mĩ học mà là một vấn đề đã từng có từ rất lâu trong thực
tiễn lịch sử nghệ thuật nhân loại nói chung và lịch sử văn học nghệ thuật Việt
Nam nói riêng. Một trong những chứng giải thuyết phục về chức năng dự báo của
văn học là sáng tác của những nhà văn lớn thời đại Phục hưng. Ngay từ khi giai
cấp tư sản mới hình thành, đại diện cho những lực lượng mới đang lên, chiếm
lĩnh vũ đài lịch sử và quyết định chiều hướng đi lên của xã hội, bằng khả năng
phân tích, phán đoán và kết hợp với những dự cảm tinh tế, trong các tác phẩm của
mình, các nhà nhân văn chủ nghĩa đã cảnh báo trước về thói vụ lợi, lòng tham và
các cuộc chinh phạt, tước đọat đầy máu và nước mắt do chính giai cấp tư sản thực
hiện. Gần hơn, vào những năm đầu thế kỷ XX, M.Gorki - nhà văn vô sản Nga dường
như đã dự cảm trước được những biến cố lớn của thế kỷ, gần nhất là cuộc cách mạng
vô sản Nga qua hình tượng Chim báo bão trong truyện ngắn cùng tên.
Ở Việt Nam, vào cuối những năm ba mươi, đầu những năm bốn
mươi của thế kỷ XX, trước các ba động của lịch sử, các nhà thơ, nhà văn như: Tố
Hữu, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nam Cao, Trần Huyền Trân, Thâm Tâm... đã cho thấy
trong sáng tác của họ những dự cảm về tương lai, những tín hiệu báo trước cuộc
cách mạng tháng Tám sẽ diễn ra vào những năm sau đó không lâu. Tố Hữu viết:
Ta nghe hè dậy bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng hè ôi!
Nam Cao viết truyện Cơn giông, truyện Sống
mòn, truyện Điếu văn với cảm giác bức bối và với triết lý “sống
tức là thay đổi”. Nguyên Hồng viết truyện Lửa, Nhân loại, Ngày mai, đặc biệt
là tập truyện ký Cuộc sống để nói đến cái không khí ngột ngạt,
cái sức nóng chuẩn bị bùng cháy vào một ngày nào đó không xa. Tô Hoài thì cảm
thấy “Bốn phương và quanh mình đã nóng như lửa và thực sự lửa đang cháy. Mỗi
người, người nào cũng đương cần tự quyết định chết hay là đứng lên? một con đường”
(Hồi ký Tự truyện). Còn Trần Huyền Trân và Thâm Tâm thì dự cảm da diết về
các chuyến đi đầy quả quyết nhưng cũng đầy dùng dằng, lưỡng lự. Và gần đây, chắc
ai cũng nhớ, vào cuối những năm bảy mươi, đầu những năm tám mươi của thế kỷ XX,
trong đời sống văn học nghệ thuật đã xuất hiện những phóng sự, những truyện ngắn,
những tiểu thuyết, những vở kịch gây xôn xao dư luận, thu hút được sự quan tâm
theo dõi của toàn xã hội. Các tác phẩm này không chỉ trực diện phản ánh những vấn
đề gay cấn nóng bỏng của thực tại mà còn đưa ra được những dự báo, cảnh báo trước
về những vấn đề của cơ chế chính sách, của đời sống xã hội và con người.
Ngay từ năm 1984, nghĩa là trước đổi mới 2 năm, Lưu Quang Vũ
đã viết xong vở kịch Tôi và chúng ta. Với vở kịch này, Lưu Quang Vũ đã phản
biện lại cả một cơ chế. Anh đưa được lên sân khấu 21 nguyên tắc tài vụ cũ kỹ, lỗi
thời, kìm hãm sản xuất. Anh công khai bảo vệ những tư tưởng mới, những lối nghĩ
mới, những cung cách quản lý và làm ăn mới, đồng thời công khai phê phán cơ chế
quan liêu bao cấp trong lĩnh vực quản lý kinh tế và lĩnh vực tư tưởng tinh thần.
Còn Xuân Trình, cũng ngay từ năm 1985 với vở hài kịch trữ tình Mùa hè ở biển đã
hài hước hóa những típ cán bộ kiểu như Đoàn Xoa - sản phẩm của cơ chế quản lý
quan liêu bao cấp đã tỏ ra không còn phù hợp với đòi hỏi mới của cuộc sống.
Thái độ của Xuân Trình trong vở kịch này là thái độ ủng hộ, thái độ bênh vực
cho những cái mới đang còn khó phân định đúng - sai, thái độ phê phán dưới hình
thức hài kịch những cái đã trở nên lỗi thời, không còn phù hợp với yêu cầu mới
của cuộc sống và sự phát triển khách quan của lịch sử để “giã từ với quá khứ một
cách vui vẻ” như C.Marx đã từng nói. Tiếp tục mạch cảm hứng công dân và tư tưởng
sáng tạo của mình, trong Khoảnh khắc và vô tận có thể xem là tập II của Tôi
và chúng ta, Lưu Quang Vũ đưa cả vấn đề giá lương tiền, vấn đề cơ chế quản lý,
vấn đề tổ chức cán bộ, vấn đề tâm lý đạo đức... lên sân khấu. Trong khi dành nhiều
tâm huyết vào việc cổ vũ cho những kiểu người mới, kiểu làm ăn mới, ngay từ vở
kịch này, anh đã kịp nhìn thấy trước và cảnh báo toàn xã hội về lối làm ăn,
tính toán láu cá, vụ lợi, chỉ chú ý đến lợi ích cá nhân và đơn vị mình mà không
tính đến lợi ích của nhà nước và toàn xã hội. Thực tiễn quá trình đổi mới đã
cho thấy cảnh báo đó của Lưu Quang Vũ là hoàn toàn chính xác. Còn Xuân Trình
thì cho rằng có những cái tốt của ngày hôm qua không còn thích ứng với cuộc sống
của ngày hôm nay. Cơ chế mới đòi hỏi những kiểu người mới, và ngược lại, những
kiểu người mới cần phải có cơ chế mới mới phát huy được năng lực sáng tạo của
mình. Trong Mùa hè ở biển, anh đã lên tiếng bênh vực cho chính sách khoán
hộ lúc đó đang còn phải làm chui. Ở một phương diện khác, trong vở Nhân
danh công lý, cũng từ năm 1984, Doãn Hoàng Giang và Võ Khắc Nghiêm đã trực diện
đấu tranh với thế lực tiêu cực, lớn tiếng đòi hỏi một sự dân chủ, bình đẳng trước
pháp luật và cuộc sống.
Đó là chưa kể đến những tác phẩm như: Cù lao Tràm, Đứng
trước biển của Nguyễn Mạnh Tuấn còn ra đời sớm hơn. Đặc biệt là hàng lọat
phóng sự nghệ thuật của Trần Huy Quang, Minh Chuyên, Phùng Gia Lộc... làm khuấy
động xã hội bằng những chất liệu hiện thực sinh động, có sức truyền cảm mạnh mẽ.
Đó thực sự là những áp lực, những tín hiệu báo trước của thời kỳ đổi mới sẽ được
chính thức khởi động vào năm 1986.
Như vậy là, bằng mẫn cảm nghệ sĩ và tinh thần công dân của
mình, các nghệ sỹ đã góp phần dân chủ hóa xã hội, đề xuất với Đảng và Nhà nước
những vấn đề lớn của đời sống sản xuất vật chất và tinh thần xã hội để từ đó hoạch
định chiến lược đổi mới, làm thay đổi diện mạo đất nước. So với yêu cầu phát
triển, thành tựu văn học thời kỳ tiền đổi mới, tuy còn khiêm tốn nhưng rất đáng
được ghi nhận. Đó là sự khởi đầu có ý nghĩa trọng đại góp phần mở ra một thời kỳ
mới của đất nước. Ngay cả những người khó tính nhất cũng phải thừa nhận từ năm
1986 đến nay, đất nước ta đã đạt được những kỳ tích lớn lao. Cơ chế quản lý quan
liêu bao cấp có thâm niên hàng mấy chục năm, khi tỏ ra không còn phù hợp đã
nhanh chóng được thay thế; Chính trị ổn định; kinh tế tăng trưởng; mức sống được
cải thiện rõ rệt; bộ mặt đất nước đang thay đổi từng ngày, từng giờ. Cần phải
khẳng định rằng trong thành tựu của công cuộc đổi mới có đóng góp đáng kể của
văn học nghệ thuật.
Song, rất tiếc là trong quá trình chuyển giai đoạn những năm
qua, văn học nghệ thuật dường như không tiếp tục được mạch cảm hứng công dân, cảm
hứng chính luận và vai trò tích cực của mình như thời kỳ tiền đổi mới. Dường
như khi những bức bối của cuộc sống đã được giải quyết thì nhiệt huyết công
dân và tâm huyết nghệ sĩ có phần thuyên giảm và lắng xuống. Đáng lẽ
phải phát huy tinh thần đó vào việc đề xuất, kiến giải những vấn đề mới, phản
ánh cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực của quá trình đổi mới và đưa ra những dự
báo, cảnh báo chính xác cho tương lai... thì không ít nghệ sỹ, không ít tác phẩm
lại có chiều hướng quay về với những “bi kịch nhỏ”, những số phận cá nhân, những
toan tính đời thường, gậm nhấm quá khứ hoặc chạy theo cám dỗ của tiền bạc
và hư danh, bỏ quên thiên chức cao quí của nghệ sĩ để chấp nhận mua vui, giải sầu
cho những công chúng thấp kém về thị hiếu thẩm mỹ nhưng lại có tiền bằng những
sáng tác ít giá trị nghệ thuật, nặng về câu khách thông qua các chi tiết giật
gân, hiếu kỳ. Trong lịch sử văn học đã từng có những nhà văn nổi danh nhờ những
“nhân vật nhỏ bé” như A.Sekhốp, những kiếp “đời thừa” và “sống mòn” như Nam
Cao, nhưng với điều kiện nhà văn phải có tâm, có tài và số phận
của những nhân vật nhỏ bé, những kiếp đời thừa, kiếp sống mòn trong tác phẩm phải
mang một ý nghĩa xã hội-lịch sử và nhân sinh cao cả. Nếu không, nhà văn sẽ chết
chìm trong thế giới nhân vật ô hợp và tầm thường do chính mình tạo ra.
Dưới tác động hai mặt của cơ chế thị trường, văn học nghệ thuật
và nghệ sĩ đang có thêm những yếu tố kích thích mới, những động lực sáng tạo mới.
Nhưng cũng chính cơ chế thị trường đang làm nao núng không ít ngòi bút và hoen ố
không ít tác phẩm. Ai cũng biết sex có thể cần cho người này, người
kia, từng nơi từng lúc và từng người, nhưng với văn chương chân chính thì
không, nhất lại là loại sex rẻ tiền, ô uế như đã từng thấy trong một số tác phẩm
gần đây. Bởi vì đó là chuyện sau cánh cửa chứ không phải là chuyện phơi ra trên
trang giấy. Có chăng, nó phải được nghệ thuật hóa và phải được thể hiện theo
quy luật của cái đẹp. Hơn nữa, tình yêu của con người với tư cách là một đề tài
vĩnh cửu, không chỉ có vậy mà nó còn mang những giá trị cao cả hơn, trong sáng
hơn, nhân đạo hơn, nó nâng cao con người chứ không hạ thấp con người đến mức chỉ
còn như những sinh vật bình thường. Khai thác vào những chuyện đời tư như
một khuynh hướng mới hình thành trong văn học hiện nay, cũng là một hướng,
nhưng ít có cơ hội để trở thành tác phẩm văn học lớn thực sự khi người viết
mang động cơ vụ lợi và non kém về trình độ nghệ thuật.
Xu hướng quay lại với quá khứ, khai thác vào đề tài lịch
sử như một số nhà văn đang làm hiện nay cũng là một hướng có triển vọng.
Xu hướng này đã từng là một phong trào lớn thu hút nhiều trí thức văn nghệ sĩ thời kỳ cuối những năm ba mươi, đầu những năm bốn mươi của thế kỷ XX, đó là
“Phong trào văn nghệ phục cổ”. Các nhà văn, nhà nghệ sĩ tham gia vào phong trào
này xem đó là cách để trốn tránh thực tại, để thể hiện khát vọng yêu nước, tìm
trong lịch sử những bài học về tinh thần chống ngoại xâm... mà không bị kiểm
duyệt của thực dân Pháp. Ngày nay, lý do đó không còn có cơ sở để tồn tại,
nhưng đề tài lịch sử, cảm hứng lịch sử thì vẫn sẽ mãi mãi còn là miền đất hứa của
sáng tạo nghệ thuật. Vấn đề là ở chỗ nhà văn, nhà nghệ sĩ phải là người xâu
chuỗi lịch sử, phát hiện ra trong dòng chảy của nó những mối liên hệ tinh thần
giữa quá khứ hiện tại và tương lai.
Nhà văn có thể biến lịch sử thành những cái cớ để gửi đến con người hiện tại những thông điệp về giá trị đạo đức tinh thần như ý của nhà văn Pháp A.Dumas từng nói, nhưng nhà văn không được bóp méo lịch sử, xuyên tạc lịch sử, thậm chí minh họa lịch sử một cách thô thiển, vụng về. Trong khi trở về với đề tài lịch sử, cần nhớ rằng bên cạnh nhà văn còn có các nhà sử học, các nhà văn hóa học và những người yêu mến lịch sử dân tộc. Đi ngược hành trình, nhà văn rất dễ cô đơn khi động cơ thiếu trung thực và không có người đồng hành.
Nhà văn có thể biến lịch sử thành những cái cớ để gửi đến con người hiện tại những thông điệp về giá trị đạo đức tinh thần như ý của nhà văn Pháp A.Dumas từng nói, nhưng nhà văn không được bóp méo lịch sử, xuyên tạc lịch sử, thậm chí minh họa lịch sử một cách thô thiển, vụng về. Trong khi trở về với đề tài lịch sử, cần nhớ rằng bên cạnh nhà văn còn có các nhà sử học, các nhà văn hóa học và những người yêu mến lịch sử dân tộc. Đi ngược hành trình, nhà văn rất dễ cô đơn khi động cơ thiếu trung thực và không có người đồng hành.
Cuộc chiến tranh cách mạng của dân tộc ta ở thế kỷ XX sẽ còn
là đề tài lớn cho văn học nghệ thuật những thế kỷ tiếp theo. Nhưng đó không phải
là toàn bộ sứ mệnh của văn học. Nói đúng ra, nó vẫn chỉ là một trong những món
nợ mà văn chương cần phải trang trải cho lịch sử dân tộc mà thôi. Trong cuộc sống
xã hội hiện đại còn có bao nhiêu vấn đề quan yếu khác mà văn học nghệ thuật cần
phản ánh. Trong quá trình đổi mới và hội nhập, vấn đề tìm kiếm, xây dựng một mô
hình xã hội lý tưởng mới, một con đường phát triển mới, một trật tự xã hội mới,
trong đó các giá trị tinh thần nói chung, giá trị con người nói riêng được tôn
vinh; mọi tiềm năng sáng tạo được giái phóng, mọi nhu cầu hưởng thụ vật chất và
văn hóa chính đáng được đáp ứng... đang là những vấn đề lớn mà nghệ sỹ chân
chính không thể đứng ngoài cuộc. Chẳng lẽ ở đó không có đất cho những tác phẩm
nghệ thuật lớn? không có chỗ cho những xúc cảm nghệ thuật cao cả?
Không thể phủ nhận được rằng trong tiến trình đổi mới và hội
nhập hơn hai mươi năm qua, nền văn học nghệ thuật của chúng ta đã cho thấy những
dấu hiệu mới, những cách tân về phương diện hình thức và phương thức biểu hiện.
Nhưng, cái mà giới văn học nghệ thuật đang cần hiện nay là ý thức trách nhiệm
nghệ sĩ - công dân trước xã hội. Một cách nhìn mới về chiến tranh, một thái độ mới
về những số phận bị bỏ quên, những bi kịch nhỏ giữa đời thường... đối với văn học
vẫn luôn luôn đáng khích lệ và trân trọng. Nhưng, những phát hiện lý giải mới về
tâm lý, đạo đức của con người trong cơ chế thị trường; những vấn đề mới nảy
sinh trong đời sống xã hội như: vấn đề chuyển đổi hệ giá trị đạo đức tinh thần
diễn ra trong thời kỳ đổi mới và hội nhập; những vấn đề lớn mang tính toàn cầu
như vấn đề số phận con người trước sự biến đổi khí hậu, môi trường và
những biến cố thiên tai, dịch bệnh...; những tác động của làn sóng công nghiệp
hóa đến nông nghiệp, nông dân và nông thôn; những vấn đề tâm lý - xã hội nảy sinh
trong quá trình đô thị hóa; những biểu hiện suy thoái về đạo đức lối sống,
khuynh hướng bạo lực, bạo hành trong gia đình, nhà trường và xã hội đang gia
tăng; tỷ lệ người chết do tai nạn giao thông và các nguyên nhân khác đang hàng
ngày, hàng giờ cướp đi sinh mệnh của hàng trăm, hàng nghìn con người; vấn đề
phân hóa giàu nghèo trong xã hội, đặc biệt là tâm lý bất an của con người hiện
đại trước các tác động của xã hội và môi trường, trong đó, cái xấu, cái ác đang
có chiều hướng lấn át làm lu mờ cái đẹp, cái thiện..., chẳng lẽ đó không phải
là những vấn đề của con người và xã hội mà văn học cần quan tâm sao?
Chúng ta đang sống trong thời đại có những biến đổi khó lường.
Những thành tựu của khoa học và công nghệ - sản phẩm trí tuệ của con người đạt được
ở cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI này sẽ cho phép các nhà khoa học ở từng lĩnh vực
tiến hành xử lý các dữ kiện để đưa ra những dự báo toàn cầu, dự báo về tưng khu
vực và từng lĩnh vực. Có lẽ vì vậy mà ngày nay dự báo đã trở thành một ngành
khoa học (khoa học dự báo) đang phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Ngoài trí tuệ của con người, máy tính sẽ là công cụ hữu hiệu giúp cho các ngành
khoa học thực hiện các dự báo của mình. Còn văn học? sẽ dự báo tương lai như thế
nào và bằng phương tiện nào?
Có lẽ, cũng giống như các nhà môi trường - sinh thái học, các
nhà kinh tế - chính trị học, các nhà xã hội học, thiên văn học và các nhà khoa học
ở những lĩnh vực khác nhau..., các nhà nghệ sĩ cũng có những cách dự báo riêng
của mình. Dự báo đó không dựa trên các thực nghiệm khoa học mà dựa
trên các chiêm nghiệm từ đời sống; không dựa trên sự phân tích những
yếu tố riêng lẻ mà dựa vào những khái quát lớn trên diện rộng. Hạt nhân của dự
báo đó đương nhiên là những vấn đề liên quan đến con người, của con người, vì
nói như M. Gorki, “văn học là nhân học”.
Nửa đầu thế kỷ XX, trước thảm họa khốc liệt của hai cuộc thế
chiến, trước nhịp độ phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật, nhiều nhà văn, nhà
triết học hiện sinh ở phương Tây đã đưa ra những dự báo ảm đạm về thân phận của
con người (Huyền thoại Sidíp của A.Camus là một ví dụ), về nguy cơ tha hóa
của con người trước văn minh công nghiệp (vở kịch Những cái ghế của
Ionessco là một ví dụ). Đặc biệt là khi người máy ra đời, đảm nhiệm những công
việc phức tạp và đạt độ chính xác cao thì hình ảnh con người bằng xương, bằng
thịt dưới con mắt của các nhà “Kỹ trị” dường như có phần bị tha hóa trước những
sản phẩm do chính mình chế tạo ra. Gần đây, khi chú Cừu Dolly ra đời và khi bản
đồ gen người được phát hiện, vấn đề nhân bản vô tính người được các nhà khoa học
đưa ra như một khả năng có thể thực hiện đã khiến cho các nhà nhân văn, các nhà
đạo đức học lên tiếng cảnh báo. Quả thực, đó không phải là những lo toan không
có căn cứ. Song, chính nhờ các tiên cảm, dự báo mà trong quá trình phát triển,
con người với tư cách là chủ nhân của lịch sử, là “trung tâm vũ trụ” đã không để
cho máy móc lấn át vai trò của mình, trái lại, càng làm cho trí thông minh và khả
năng lao động sáng tạo của con người ngày càng được đề cao bởi năng xuất lao động
và bởi các thao tác kỹ thuật nối dài khả năng của con người.
Thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang đặt ra
nhiều vấn đề bức thiết, trong đó có vấn đề con người - nhân tố chủ thể quyết định
tốc độ và chiều hướng phát triển. Các mối quan hệ giữa con người với cơ chế,
con người với máy móc công nghệ, con người với con người, con người với sản phẩm
hàng hóa, con người với môi trường sống và lao động của mình... sẽ được đặt ra
và giải quyết như thế nào? đương nhiên, không phải chỉ là mối quan tâm của các
nhà triết học, kinh tế học, chính trị học, đạo đức học... mà còn là mối quan
tâm của các nhà văn, các nghệ sĩ mẫn cảm trước thời cuộc. Muốn hay không, thời
kỳ mới của lịch sử sẽ tạo ra những hệ giá trị mới, những chuẩn mực đạo đức tinh
thần mới mà hôm nay, những người mang thiên chức nghệ sĩ có thể hình dung, tiên
đoán. Ngay cả những niềm vui, nỗi buồn sâu xa về số phận, thân phận của mỗi cá
nhân trong cộng đồng và trước thế sự cũng luôn luôn là những ám ảnh, những nghiền
ngẫm suy tư của mỗi nhà văn, mỗi nhà nghệ sĩ để trong mỗi sáng tác của mình
không chỉ hiển hiện thực tại mà còn thấp thoáng hình bóng của tương lai.
Để dự báo và tiên đoán chính xác, mỗi nhà văn, mỗi nghệ sĩ,
ngoài sự mẫn cảm và dự cảm gần như là thanh khí tiên thiên
của mình, còn đòi hỏi phải có các khả năng chiêm nghiệm, khả năng phân
tích, phán đoán để nhận thức bản chất, nắm bắt quy luật và lôgic
khách quan của cuộc sống, để trên cơ sở đó nhận diện tương lai ngay từ trong thực
tại. Như vậy, cũng có nghĩa là muốn thực hiện tốt chức năng dự báo, nhà nghệ sĩ,
về một phương diện nào đó, phải đồng thời là nhà khoa học, trước hết là khoa học
nhân văn.
PHÙNG CUNG
- Họ và tên khai
sinh: Phùng Cung
- Sinh năm 1928
- Mất năm 1997
- Tác phẩm chính đã xuất bản
* Xem đêm (2011)
A- TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ:
HẰNG NGA THỨC DẬY
Phùng Quán
Sau ngày hòa bình lập lại, truyện ngắn Con ngựa già của chúa
Trịnh, với bức minh họa tuyệt đẹp của họa sĩ Bùi Xuân Phái, đã làm xôn xao làng
văn ngày đó. Chính bắt đầu từ cái truyện ngắn này anh đã mang thân vào cái nghiệp
văn, ở anh cũng đáng coi là nghiệp chướng.
Anh còn một tập truyện ngắn, đâu như tám truyện thì phải,
cũng một dòng “ngựa, voi”, chưa kịp ra mắt bạn đọc thì đã bị cái khách quan khắc
nghiệt “bảo lưu” cùng với tài năng của tác giả. Truyện nào viết xong anh cũng
đưa tôi đọc. Truyện nào cũng làm tôi say mê vì vẻ đẹp của ngôn từ. Cái kho ngôn
từ dân dã của anh dường như vô tận. So với tất cả văn xuôi của tôi đã in ra,
tôi có cảm giác mình là người nước ngoài viết tiếng Việt.
Sau mười hai năm cách ly đời thường, Phùng Cung như xa lạ với
môi trường văn nghệ. Được trả tự do, việc đầu tiên là anh cùng với vợ sửa lễ “Tạ
ơn cao rộng cho được sống để trở về quê quán”. Rồi yên phận hẩm hiu, anh tránh
thật xa mùi bút mực. Anh xoay trần làm nghề đập đinh, phụ với vợ thêm nghề bánh
rán, nuôi ba đứa con trai đang sức ăn, sức lớn. Song hình như mùi dầu nhờn, gỉ
sắt, mỡ rán vẫn không át được mùi bút mực. Những lúc rảnh tay, anh ngồi buồn
thiu, thỉnh thoảng chấm ngón tay vào đáy chén trà cặn, viết một từ gì đó lên mặt
bàn…
Tôi thường đạp xe từ Nghi Tàm lên phố Mai Hắc Đế thăm anh,
khi mang cho con diếc, con trôi vừa câu trộm được, khi mang mớ rau muống cấy ở
vệ hồ, trong khi đó, thật bất ngờ, anh sáng tác thơ.
Đọc thơ anh, có bài chì vài câu, tôi bỗng thấy thiên nhiên
quanh tôi vụt giàu có lên bất ngờ và trở nên đẹp đẽ đến xao xuyến tận đáy lòng
- những vẻ đẹp từ trước đến nay tôi vẫn nhìn nhưng không thấy.
Mới đây, Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam quyết định trích
quỹ sáng tác của Hội làm món quà tặng sau hội viên (trong đó có tôi) đã phải chịu
nhiều thiệt thòi trong 30 năm qua; Hội in cho mỗi người một tập thơ bao cập,
tác giả tự chọn những bài thơ vừa ý trong thơ của mình, dày từ hai trăm trang
trở lại. Năm anh bạn đang dựng bản thảo. Tôi cả đời chưa bao giờ được in riêng
một tập thơ càng hăm hở chuẩn bị,
Và bản thảo đã chuẩn bị xong, chỉ còn mang đến nộp. Trước khi
nộp tôi đem đến anh Cung để tranh thủ một vài nhận xét. Nhân dịp này tôi dã dại
dột đọc lại tập thơ tích lũy của anh. Đọc xong, lòng hăm hở của tôi chùng lại.
Tôi không còn muốn in thơ nữa! Tôi tự nhủ: In làm gì khi chưa có cặp mắt biết
nhìn như Phùng Cung? Chúng ta hãy cần đọc không cần chọn:
Mùa gieo mạ
Thoảng mùi ruộng ải
Thóc giống cựa mình
Nắng - vắt ngọn tre - đuôi - én
Đủng đỉnh điệu cu cườm
Lay nhịp - gió may
Nắng dứ
Đầu mùa nắng - dứ
Hạt mồng tơi kênh đất
nghé trời
Chuối con gái vội hong
búp lụa
Cánh chuồn chuồn lia từng bóng
râm con.
Dưới mắt anh, cảnh vật hiện ra sinh động đến thế! Ngòi bút
tôi đâu dám đua chen.
Thấy tôi chán nản, anh Cung động viên khéo: “Thời cơ chế thị
trường, dư luận khách hàng mới là khuôn vàng thước ngọc. Hãy cứ cho ra, rồi lắng
nghe dư luận”.
Trái với tình thế của tôi có điều kiện in rồi mà còn đắn đo,
tình thế của anh Cung lại là muốn in mà không có điều kiện. Anh dí dỏm gọi mỉa
mai tập bản thảo thơ anh là “Hằng nga ngủ trong rừng”.
Như mọi người đã thấy, ngày nay ở nước ta xuất bản thơ là việc
khó khăn lắm. Bạn muốn in thơ? Xin mời! Cứ việc bỏ tiền ra in. Nhà xuất bản chỉ
có thể tham gia bằng chách chịu một phần trách nhiệm về nội dung và đứng ra xin
giấy phép xuất bản, với điều kiện bạn trả tiền lệ phí. Một nhà thơ nghèo như
Phùng Cung, năm nay đã sáu mươi nhăm tuổi, có lẽ đến lục “chọn đất sạch dọn
mình vào vĩnh viễn” cũng không hy vọng thơ mình được người đọc thưởng thức qua
những dòng chữ in. Hằng tháng, chỉ với mâm cơm gia đình “bốn mùa rong ruổi chốn
rau dưa” cộng thêm vài chục nghìn tiền điện, dăm nghìn tiền nước, chị Thoa vợ
anh cũng đã phải tất tả chạy giật nóng quanh bà con lối xóm. Thơ anh đành nằm
chờ…
Nhưng tôi quyết tâm in bằng được thơ anh. Tôi sẽ đi khắp Bắc,
Trung, Nam đọc rong thơ của anh và quyên góp tiền. Tôi ước tính đủ tiền để in
hai trăm bài thơ nắng, tôi sẽ phải đi đọc thơ và quyên tiền đến một năm, trong
khi đó bao nhiêu chuyện có thể xảy ra làm cho công việc thêm phức tạp. Quá
trình phấn đấu hẳn phải chia thành nhiều đợt đi đi, về về…
Nhưng tôi đã gặp một chuyện bất ngờ. Một hôm, trong bữa cơm
gia đình có anh Nguyễn Hữu Đang dự, tôi nói:
- Em sắp đi xa vắng nhà chừng một năm. Anh nhớ luôn luôn đến
nhà em ăn cơm với vợ con em cho vui.
- Em đi đọc thơ rong, quyên góp tiền để in cho anh Phùng Cung
tập thơ. Cả một đời gian khổ vì cái nghiệp bút mực, anh ấy chỉ có một ước vọng
được in một tập thơ để tặng bạn hữu và góp mặt với đời trước khi vĩnh biệt
chúng ta.
- Tôi gặp chú Cung luôn, sao không thấy chú ấy nói chuyện này
với tôi?
- Anh Cung không nói, em cho là anh ấy nghĩ có nói anh cũng
không giúp được gì, chỉ làm anh thêm bận tâm.
- Tập thơ chú Cung đâu, chú đưa tôi xem.
Anh Đang đọc chăm chú hết tập thơ. Anh khẽ gật đầu có mái tóc
ngắn quan thuộc nói:
- Tôi không ngờ thơ chú Cung khá thế. Theo tôi còn khá hơn
văn xuôi chú ấy. Bây giờ thế này chú Quán nhé: Chú không phải đi đâu hết. Tôi sẽ
cho chú Cung tiền để tin tập thơ.
Tôi trợn mắt:
- Thơ không rẻ như bèo đâu anh ơi. In một tập thơ vài trăm
trang với hình thức chỉ xoàng xoàng thôi, anh có biết phải mất bao nhiêu tiền
không? Hai triệu đến hai triệu rưỡi đấy!
Tôi tưởng anh phải tái mặt tưng hửng trước số tiền mà tôi vừa
thông báo. Anh vẫn bình tĩnh lật lật những trang thơ, đọc lại một vài bài vừa rồi
chưa đọc kỹ, rồi chậm rãi nói:
- Tôi sẽ cho chú Cung đủ tiền để in, dù có tốn như chú vừa
nói.
Không để tôi hỏi anh lấy đâu ra tiền, anh giai thích luôn:
- Tôi cho chú ấy dung tất cả số tiền tôi dè sẻn từng đồng
dành dụm được trong hai mươi năm qua, nhất là từ bốn năm trở lại đây tôi có
lương hưu, lại dược những anh chị em cùng hoạt động hồi Mặt trận dân chủ, Huyền
truyền bá quốc ngữ, Hội văn hóa cứu quốc, các đội tuyên truyền xung phong chống
pháp, ngành bình dân học vụ cùng những bạn bè xa gần, biết tôi còn sống và
nghèo khổ, kẻ ít người nhiều họ gửi tiền đến giúp đỡ. Ngoài những khoản chi
tiêu cần thiết hằng tháng, còn lại bao nhiêu tôi gửi tất cả vào quỹ tiết kiệm
ngân hàng phòng xa phải dựng túp lều khi không còn ai cho ở nhờ, phòng xa lúc ốm
nặng kéo dài, phòng xa cả lúc chết nữa. Nhờ vậy mà số tiền tiết kiệm của tôi
cho đến hôm nay đã lên tới hơn bốn triệu đồng. Số tiền tiết kiệm đây…
Anh móc túi áo bộ đội cũ mặc bên trong, lấy ra cuốn sổ bọc
trong ba lần giấy nhựa bóng, chằng ngang chằng dọc bốn dây cao su. Anh đặt sổ
trước mặt tôi và bảo:
- Chú giữ lấy. Tôi sẽ làm giấy ủy quyền cho chú rút tiền ra sử
dụng. Nếu số tiền này chưa đủ, tôi sẽ về quê đòi vài tạ thóc cho vay, bán đi rồi
gửi thêm tiền cho chú. Tôi yêu cầu tập thơ phải in thật đẹp, mà đẹp giản dị,
thanh nhã, chứ không rườm rà, lòe loẹt như nhiều tập thơ đang bày bán.
Không hiểu sao nghe anh nói tim tôi hồi hộp và cổ tôi như nghẹn
ngào. Tôi được quen biết anh đã gắn bốn mươi năm nhưng mãi cho tới hôm ấy tôi mới
thật hiểu anh là người thế nào. Nguyễn Hữu Đang là người nếu chỉ dung cho bản
thân thì một trăm đồng ba quả khế chua để gội đầu (thay chanh mà anh sợ đắt)
cũng tiếc tiền, bất đắc dĩ mới phải mua, nhưng đã là việc nghĩa hiệp thì sẵn
sang san sẻ đến đồng tiền cuối cùng.
Thế đây. Nếu bản thảo thơ Phùng Cung là “Hằng nga ngủ trong rừng”
thì tấm lòng vô tư của Nguyễn Hữu Đang chính là “Hoàng tử đẹp trai” đến đánh thức.
Và nhất định tập Xem đêm sẽ ra đời.
P.Q
Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 1994
NHỚ PHÙNG CUNG THOÁNG NGHĨ VỀ THƠ:
XEM ĐÊM
XEM ĐÊM
Hoàng Cầm
Ngày 28.4.1998 tới đây là tròn một năm thi sĩ Phùng Cung đi
vào cõi vĩnh hằng; có lẽ để Xem đêm mãi mãi nhớ tiếc ông, tôi muốn ôn
lại đôi điều nhỏ về Phùng Cung, người đã “xem đêm” ở cõi đời chúng ta đang sống
và cảm nhận cái đêm nhân gian này một cách sâu sắc và cảm động như thế nào.
Cách đây chừng mươi lăm năm, giữa ban ngày, ngay giữa lòng Hà
Nội, Phùng Cung đã bình thản và lặng lẽ một mình đi “xem đêm”. Đến cuối năm
1995, nhà thơ Quang Huy, giám đốc Nhà xuất bản Văn hóa hồ hởi giúp Phùng Cung
cho ấn hành một tập thơ để mọi người có điều kiện cùng Xem đêm với
người thơ độc đáo xứ Đoài.
Xem đêm? Xem những gì và thấy được những gì trong cái đêm dài
ở vùng quê nghèo của Phùng Cung? Trước hết ta xem biết bao nhiêu cảnh ngộ của
những nông dân, mà chỉ cần một bài Cua đồng cũng đủ làm điển hình cho
tất cả:
Phận lấm
Tối ngày đào khoáy
Lưng nắng - vẽ
Hoa văn tiền sử
Chài chải đồng chiêm
Mấy kiếp rồi
Có lẽ từ xưa đến nay, ở nước ta chưa có một tập thơ nào về một
vùng quê nghèo khổ lại súc tích, cô đọng mang tính truyền thống và hiện đại sâu
sắc như tập Xem đêm của một thi sĩ - “tác giả một cuốn sách duy nhất”
là Phùng Cung.
Có thể nói, đây là tư liệu quý về đời sống cả về ngôn ngữ
nhân dân cùng trung du Bắc bộ rộng lớn trước đây. Điều thứ hai tôi nhận thây sở
tập Xem đêm là mỗi bài thơ, có khi chỉ một câu đều như những luồng điện
không giật chết người nhưng cứ thắt vào tim những luồng rung động thấm rất sâu.
Phùng Cung không giống như một số “nhà thơ” khác. Cũng có đôi
chút tiếng tăm, chỉ đứng ngoài mà nhìn và cảnh với người ở vùng quê. Anh chính
là từ máu thịt làng quê mà sinh ra, lớn lên bằng củ khoai, con ốc và những tiếng
khóc lời kêu của hàng xóm láng giềng. Anh thấm đậm hồn quê, nên từng chữ, từng
câu của anh đều như chạy nhảy, leo trèo, bơi lội trước mắt tôi. Ta thử nghe
chuyện Xóm giềng:
Bòng đen - vá - giấy
Lom đom vườn hàng xóm
Mượn - trộm mẩu gừng
Phát gió rửa đền
Mùi rượu gừng cả xóm
băn khoăn.
Rồi đến hình ảnh con cua đồng (trên đã nói), tôi
nghĩ không một thi sĩ Việt Nam kim cổ nào đã dung rất tài tình một từ
ghép: Chài chãi - một từ thật dân dã, ai cũng cảm thấy ngay cái vất vả
mưa nắng quanh năm dầu dãi phơi mình ra trước mọi đổi thay của thời tiết khắc
nghiệt trên những cánh đồng chiêm miền Trung du Bắc bộ.
Nhìn chung ở tập Xem đêm, mối quan hệ giữa những người
miền quê nghèo được Phùng Cung diễn tả chân thực đến mức không thể bỏ hoặc thay
một từ nào. Tương quan của từ với điệu, của ngữ điệu với ý và tứ thơ đã gắn bó
chặt chẽ như những tế bào sống và hoạt động trong cùng một thớ thịt. Hầu như với
những từ ngữ ấy, vần điệu ấy, bài nào cũng khiến tôi gai gai ngoài da, rơm rớm
cay trong mắt, nghèn nghẹn nơi cổ họng, xon xót trong ruột gan như có muối xát
vào. Đây người vợ tần tảo ngược xuôi của anh:…
Tối ngày tất tả
Lưng áo em
Ngoang vôi trắng xóa
Cái trắng nay
Vắt tận trong xương.
Rất nhiều bài như thế chứng tỏ tấm lòng thương quê của Phùng
Cung đằm sâu đến chừng nào. Cả vùng quê anh có thể nói chính là cha mẹ anh, vợ
con anh cùng với bao nhiêu an hem ruột thịt nữa đều có mặt rất thân thiết, rất
sáng sủa trong tập thơ chất nặng bao nhiêu số phận con người, chất chưa bao
nhiêu tâm trạng và bao nhiêu nỗi niềm yêu thương, nhớ tiếc, cay đắng xót xa.
Điều cuối cùng, tôi mong Nhà xuất bản Văn học cho tái bản tập
thơ và giới thiệu nó rộng rãi hơn với bạn đọc qua các phương tiện thông tin đại
chúng khác. Tôi lại mong Hội Nhà văn tổ chức ít nhất cũng một lần hội thảo về tập
thơ này. Và sau nữa, tôi tin rằng các nhà làm từ điển tiếng Việt, nhà nghiên cứu
ngôn ngữ, các giáo sư, sinh viên khoa Việt ngữ sẽ tìm đến Xem đêm, rút ra
từ tập thơ rất phong phú này khá nhiều điều cần thiết, bổ tích cho công việc
mình đang làm.
Một bài báo sơ sài không cho phép tôi nói được kỹ, được sâu về
toàn bộ 200 bài thơ, nhưng ý riêng tôi nghĩ: Mặc dầu còn ít nhiều nhược điểm về
nghệ thuật, chỉ một tập thơ này thôi đã đủ sức nâng Phùng Cung lên hàng các thi
sĩ chân chính của Việt Nam, của một thế kỷ thơ Việt. Linh hồn và hồn thơ Phùng
Cung đã thăng hoa trong thăm thẳm đất trời và trong vô tận thời gian, cái thời
gian Phùng Cung nhuộm màu gạch nung già. Đã tròn một năm rồi, hẳn Phùng Cung
cũng đã chấm dứt số phạn cánh bèo của anh, và của nhiều người:
“Lênh đênh muôn dặm
nước non,
Dạt vào ao cạn
Vẫn còn lênh đênh”.
H.C
B- MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU:
BÈO
Lênh đênh muôn dặm
nước
non,
Dạt vào ao cạn
Vẫn còn lênh đênh.
NGƯỜI LÀNG
Bạc tóc trở về quê
Bỡ ngỡ tìm đò bến mới
Nhìn dáng lạt bó rau
Nhận được người làng.
MẸ
Mồ hôi mẹ
Tháng ngày đăm đăm
nhỏ ngọt
Con níu - giọt mồ hôi
Đứng dậy làm người.
DÂU BIỂN
Chiều sâm sẩm
Vườn dâu đòi - xanh biển
Con chim chích buông cành
bay liệng
Vẽ vòng sóng vỗ xa xưa.
ĐÒ KHUYA
Đêm về khuya
Trăng ngả màu hoa lý
Tiếng gọi đò
Căng chỉ ngang sông.
NẮNG PHƠI RƠM
Sau bao năm
Tôi mới được về quê
Tên cây cỏ cũng đã quên nhiều ít
Con sông quê cảm đi
Bao dấu tích
Vẫn ca khúc chìm nổi
Trong nắng - phơi - rơm.
Mưa vừa tạnh
Rau cỏ quanh vườn
Dậy mùi - dòng giống
Dưới bóng cây
Gà rình mổ hạt - nắng - non.
GẶP THU
Trở dậy gặp thu
Không gian ngập mùi ổi chín
Mùi - năm ngoái
Đáy nước ao bèo
Mây trắng lênh đênh
Bâng khuâng mình tự
hỏi mình
Trời thu thả - nắng
Giếng đình vắng ai
GÓC SÂN NHỎ
Tặng Phùng Quán về hưu
Áo cũ gối đầu
Đêm tỉnh giấc
Sao khuya dạt chân rêu
lạnh biếc
Bầu buông chày ngọc
Cõi lam kiều
Về bên góc sân con.
QUÊ KHOAI
Trên bến đợi đò
Em ý tứ soi gương đáy nón
Tôi nhận ran gay
Em gái vùng soi bãi
Tren sông láy tháy mưa - mòi
Lũy tre bên ấy
Ngả màu xanh - rau - khúc
Em mau mắn cười
Nheo mắt đầy sông nước
Tay run run khẽ chỉ
Giọng - hẹp - dần
Làng em đấy - quê khoai.
GIÓ ĐẸP
Gió sục giàn bầu
Con ong xanh lạng cánh
Chổi mo ngập đầu hè
- ngáng lối
Sào phơi tấm áo sắp rơi.
Thao thức nỗi riêng
Muốn nhắn về cung lạnh
Gió lộng xiêm đình
Mảnh nguyệt thơm - khuya.
TÌM EM
“Tìm em như thể tìm chim
Chim ăn bế Bắc anh tìm bể Đông”
Ca dao
Tìm về gặp em
Em đã đi
Vách, giường thơm - lạnh
Mùi khăn áo cũ
Đêm - nghiêng - gió - chập chờn - mưa - gõ - lá
Không có sông
Sao có tiếng gọi đò.
MƯA GÃY GIỌT
Về đâu em
Mưa gió vây quanh
Gió chệch hướng
Va cành mưa - gãy - giọt
Cây ướt đã đành
Em ướt nửa em.
LÁ TRĂNG
Trăng lạnh sân khuya
Chút bụi - trăng vương theo lá rung
Chợt tỉnh sững sờ
Tưởng lá - trăng rơi.
HẾT BỤI
Đêm về
Hết bụi
Em có nghe
Gió kéo lê lá rụng
tím sân
Cơn - đàn gãy ngón
Tiếng nước mắt rơi
Nặng giọt trong không.
CHIỀU NẮNG GHÉ
Mảng rêu chiều nắng ghé
mênh mông
Con dế loanh quanh
Tìm lại tiếng mình đêm trước
Vườn hàng xóm ngổn ngang
mùi khế rụng.
BẾN XUÂN
Sợi tơ trời
Nghiêng bay trong nắng
Hoa gạo bên sông đỏ thắm
Đợi chuyến sang
Lúng liếng mây - trôi - dải yếm
Mái tóc em đẹp - gió bến đò.
ĐONG TRĂNG
Trăng tà
Trĩu ánh
Sương rơi
Đong - trăng lá lạnh
Đầy vơi bao lần.
LỠ CHUYẾN
Gửi Triều Nghi
Duyên văn đành lỗi hẹn
Vần thơ mượn gửi cánh cò
vấn an
Phím thuyền lỡ chuyến
Tầm Dương
Trăng “chiều” lẻ nhịp ‘chén” son
nghẹn ngào.
ĐẤT NƯỚC
Đất nước ơi
Tôi mến người
Như khi nhìn em bé ngủ
Tôi thương người
Như thương mẹ ốm
Vì đâu
Người khoác manh áo đỏ
Thừa sai - cũn cỡn
Tủi nhục tháng ngày
Long đong chiều sớm
Ôi! Có bao giờ
Người đau đớn như thế này không.


























Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét