QUÁCH LIÊU
- Họ và tên: Quách Ngọc Liêu
- Quê quán: Xã Sơn Đông, Huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc
- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 1998)
- Tác phẩm chính đã xuất bản:
* Chú bé thổi khén (Tập truyện vừa, 1991)
* Cây Nọi ước (Tập truyện ngắn, 1995)
* Nữ thần (Tập truyện ngắn, 1997)
* Vui buồn tuổi mười lăm (Truyện vừa, 1998)
* Chuyện vui ngày xuân (Tập truyện ngắn, 2001).
- Giải thưởng văn học:
* Giải B (không có giải A) Hội Nhà văn và Trung ương Đoàn (1991)
* Giải thưởng truyện ngắn NXB Kim Đồng và Báo Thiếu niên
tiền phong (1996)
* Giải thưởng truyện ngắn Báo Thiếu niên tiền phong (1998).
- Suy nghĩ về nghề văn:
Thời thanh niên đi Tây Bắc cho tôi nhiều cảm hứng, viết được
những trang khá thành công. Rời núi về xuôi, tôi đi nhiều nơi, viết nhiều
bài báo nhưng văn thì không được như trước. Thế mới biết tuổi trẻ sống vô tư là
nguồn nước trong lành cho những sáng tác đầu đời. Nay tuổi đã cao, không hồn
nhiên, bồng bột như xưa, đợi hứng mới viết là há miệng chờ sung, cố tạo cảm hứng
là kiễng chân, sẽ đuối. Phải học, phải tìm, may ra có được cái mới.
MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU:
CÁI VỈ RUỒI
Tối hôm ấy, trời mưa, nhiều nhà đã co chân lên giường. Đài
yếu pin, cứ ọt ẹt, ông Khòa định thổi đèn đi ngủ thì có tiếng cạch cạch ngoài
liếp.
- Anh Mẫm hả? Đài hết pin nghe chẳng được, mình đã định đi
ngủ. Mai nhé.
- Dạ thưa, tôi là người lỡ độ đường, ông làm ơn cho trọ nhờ
một đêm - Một giọng đàn ông khàn khàn rất khó đoán tuổi vọng vào.
ông Khòa cầm đèn ra mở cửa. Một vật gì to như buồng chuối bọc
vải mưa đẩy ông lùi lại, tiếp sau là người khách trọ cao lêu đêu, cười nhăn
nhở để tỏ thiện cảm. Chủ nhà đỡ “buồng chuối" cho khách, thấy nhẹ tênh liền
hỏi:
- Gì thế này?
- Đàn ạ. - ông khách tháo luôn tấm vải mưa. Đúng là cái đàn
ghi-ta.
- Còn gì nữa không?
- Còn đồ nghề, để em gánh vào.
Thấy ông thợ hàn nồi ngồ ngộ, ông Khòa xem giấy tờ rồi vui vẻ
chỉ cái chõng:
- Anh Thành nghỉ ở đây. Chắc chưa cơm nước gì phải không? Để
tôi bảo bà ấy đi thổi.
- Cảm ơn bác. Em sẵn đây rồi. Mời bác ngồi chuyện trò với
em cho vui. - ông Thành lấy trong thùng đồ nghề ra một bọc lạc rang cả củ, một
bi đông rượu, một cái đĩa và hai chiếc chén. - Em chỉ thế này là qua bữa... Bác
cạn chén đi, mừng cho em hôm nay được bác giúp. Cánh thơ tự do chúng em đi đâu
cũng phải tạo dựng chỗ quen để sau này còn qua lại.
Dân giang hồ bẻm mép, khó mà tin được, thôi thì cứ ngồi tào
lao với hắn cho vui, mình cũng không để cho hắn thiệt; Nghĩ vậy ông Khòa vào buồng
nói nhỏ với vợ vài câu rồi trở ra cùng ông Thành đối ẩm.
Sau mấy câu hỏi han gia cảnh, ông Khòa sực nhớ:
Ba năm trước, ở bến xe Yên Bái, lúc xếp hàng ghi tên mua vé
vào Tây Bắc, ông đã gặp bố con ông này cũng chờ xe ở đó. Không ngờ ông cụ đã mất,
nay người con đã đứng tuổi lại kế nghiệp cha đi kiếm ăn lang thang. Tiếng đàn
ghi-ta của ông cụ trong đêm nằm ở nhà chờ xe hôm ấy đến nao lòng. Có người đề
nghị cụ thôi đàn cho họ ngủ. Ông phụ trách bến đeo băng đỏ lại bảo "Cụ cứ
đàn đi, đừng cho ai ngủ cả để còn canh đồ, phòng kẻ gian lấy trộm”. "Phải
đấy, phải đấy, cụ cứ đàn đi" - Nhiều người hưởng ứng. Thế là ông cụ đàn
mãi, đàn mãi cho đến khi tay buông phím thì miệng đã ngáy ồ ồ... Liệu hậu sinh
có khả úy? Ông Khòa mời ông Thành đàn vài bài cho vui. ông Thành thật thà:
- Thú thực với bác, em hát chỉ là tàm tạm chứ đàn thì thua bố
xa. Xin bác cho em được hát.
ông Thành nâng đàn lên dạo một khúc rồi cất giọng ca
bài Suối mơ.
ông Khoà gật gù bảo:
- Anh cho nghe vài bài khác như Thiên Thai, Trương Chi,
Biệt ly, gì gì nữa tôi không nhớ đầu đề. Hồi ở quê, nhà liền vách với trường học,
đêm khuya có ông giáo hay hát những bài này, tôi thích lắm.
Theo yêu cầu của chủ nhà, ông Thành ca liền năm sáu bài, giọng
đùng đục, đàn cũng không dạt dào, thánh thót bằng ông cụ. Như để bù lại phần âm
thanh chưa mấy hoàn hảo, mắt ông Thành lim dim thả hồn vào cõi mộng, tấm thân
gầy lúc ngả nghiêng, lúc đờ đẫn, lúc oằn xuống rồi lại vươn lên, quằn quại như
muốn móc hết ruột gan ra mà phô bày. Vợ con ông Khòa khép nép ra xin phép ngồi
nghe. Mấy người nhà kế bên đội mưa kéo sang. ông Thành cứ say sưa, người nào
ra hiệu chào thì ông vừa hát vừa gật đâu đáp lễ, ai không chào thì ông cũng coi
như không biết. Ông Mẫm thuộc diện thứ hai, chen lên ngồi cạnh ông Khoà. Nghe
qua vài bài ông ta đánh tiếng:
- ông anh đàn hát hay đấy! Nhưng toàn nhạc vàng!
ông Khoà đứng dậy vỗ vai ông Mẫm, cao giọng:
- Khuya rồi. Mời bà con về nghỉ cho ông khách đây nghỉ với...
Anh Mẫm! Mời anh ở lại làm quen với anh Thành, dân văn nghệ văn gừng với nhau,
đừng phách lối nữa.
ông Mẫm người một mẩu, lũn cũn đến bên ông Thành, đằng hắng
một cái rồi mới nói:
- Nể lời mời của bác Khoà trưởng bản, tôi ở lại. Khách của
Bác cũng là của tôi. Xin bắt tay nhạc sĩ… Tôi là Mẫm, làm nghề hớt tóc kiêm
thông tin viên, chuyên vẽ tranh tường, khẩu hiệu và tổ chức cho các cháu phát
thanh tin tức. Người ta gọi là Mẫm họa sĩ hay Mẫm thông tin cũng là tôi. Tôi vẽ,
ông đàn, chúng ta làm quen với nhau. Nhà tôi ở đầu dẫy này, mai mời nhạc sĩ ghé
qua xem bức cuốn thư đang tô màu. Thôi tôi về. Chào bác Khòa nhé.
Chờ tiếng guốc ông Mẫm xa hẳn, bà Khòa bưng ra hai tô cháo
cá suối mời chồng và khách dùng cho ấm bụng.
Hôm sau mưa nặng hạt, ông thợ hàn định xin lại giấy tờ để
lên đường thì ông Khòa bảo:
- Anh gánh nặng lại đàn địch lỉnh kỉnh thế này, đợi ngớt mưa
hãng đi. Để tôi chạy qua mấy nhà hỏi xem có ai hàn gì không, nhờ anh hộ cho
luôn thể.
Thế là mấy nhà đem nồi soong đến. Đám thanh niên chẳng hàn vá
gì cũng kéo nhau sang xem ông thợ với cây ghi-ta. Vốn quen cảnh mọi người xúm
quanh xem mình làm việc, ông Thành cứ thản nhiên đục, vá, trát, chít.
Ông Khoà pha một ấm trà móc câu Suối Giàng mời ông Thành nghỉ
tay. Thấy mọi người vẫn đứng nhìn mình như xem triển lãm, ông Thành biết ý, uống
xong chén nước là cầm đàn đàn lên, từ tốn:
- Hôm qua ông Mẫm họa sĩ có nhắc tôi là hát toàn nhạc vàng.
Bây giờ xin được sửa sai.
Ông hát liền mấy bài thật hùng dũng: Bao chiến sĩ
anh hùng, Không quân Việt Nam, Tiến về Hà Nội… Rồi cả những bài mà thanh niên miền
núi ưa thích: Tình ca Tây Bắc, Lời ca gửi noọng, Tiếng hát giữa rừng Hoa
Ban, Suối Mường Hum chảy mãi.
Mấy người rỉ tai ông Khòa:
- Bác giữ ông ấy ở lại mấy bữa cho vui.
- Tôi cũng nghĩ vậy nhưng từ từ để xem ý tứ người ta thế
nào đã chứ.
Nể tình ông Khòa và bà con Bản Phố, ông Thành giảm máu phiêu
lưu. Mà cái bản này cũng đến là hay. Chỉ có hơn mười nóc nhà, chọn được nơi
ngã ba đắc địa: Một nhánh lên các xã vùng cao, một nhánh về huyện và một nhánh
nữa là đường đi tắt ra Sông Đà; Dân quanh khu vực thường qua lại, vài năm nữa
có thể thành chợ. Dân Bản Phố đều là người miền xuôi lên đây xây dựng quê hương
mới. Năm đầu họ ở bản khai hoang hoặc xen ghép với bà con dân tộc, đám thợ may,
cắt tóc, chữa xe đạp, chữa đồng hồ rất khó làm ăn vì thưa khách. Để cánh thợ khỏi
bỏ núi về xuôi, huyện mời họ về ngã ba này lập thành Hợp tác xã phục vụ tổng hợp.
Bản Phố khai sinh từ đó.
Ông Thành bỏ ra ít vốn dựng một túp con con, mở hiệu gò
hàn, công việc đều đều. Vui nhất là các buổi tối, nhiều người tụ tập xem ông dạy
đám thanh niên ca hát. Cái Thảo, cái Hoa có giọng hay hơn cả được ông dựng cho
một tiết mục song ca, đi biểu diễn trên xã rồi lên huyện dự hội diễn, ẵm tấm giấy
khen đầu tiên cho bản về phong trào văn nghệ. Chỉ khổ một nỗi là từ khi có ông
Thành, cái Thảo, cái Hoa có phần sao nhãng việc trèo lên chòi đọc các bản tin
trên xã gửi xuống khiến ông Mẫm cứ phải đôn đáo mỏi mồm. Chết cái hai đứa mười
tám đôi mươi này lại kháu khỉnh, là niềm tự hào của ông Mẫm mỗi khi dẫn hai đứa
đi dọc phố đến chòi đọc tin rồi lại đưa về tận nhà. Vợ Mẫm mở hàng bánh cuốn sắn,
suốt ngày làm bạn với hành mỡ, bột bẹt, ngực bụng rồi mông nữa cứ phè ra,
"Chỉ một cú gác là Mẫm ta thành con dán” - Người ta đồn vậy. Có kẻ còn
phô với bà chuyện ông Mẫm bám cái Hoa, cái Thảo. Bà bĩu môi:"Sính gái thế
thôi chứ cho cũng chả dám. Mà có ma nào thèm cái ngữ một mẩu. Vẽ vẽ vời vời,
tin tin tức tức, nhiều hôm bỏ đồ nghề đi suốt. Rời con này ra á! Có mà lấy khẩu
hiệu đổ vào mồm! Sĩ diện rởm, vô tích sự, chẳng nước non gì, rõ chán!".
Lại nói chuyên cái Thảo, cái Hoa mê học hát hơn đọc tin khiến
ông Mẫm căm ông Thành. Lựa hôm ông Thành ra Yên Bái sắm thêm đồ nghề, ông Mẫm
leo qua chỗ đặt vỉ ruồi ở nóc nhà mà ông Thành cố tình bỏ trống để “đón gió và
ngắm trăng sao", lấy đi cây ghi-ta đem thả xuống cái hang sâu
nhất trên núi Nài sau bản.
Từ ngày mất đàn, ông Thành như kẻ mất hồn, chỉ căm cụi làm
ăn? chẳng giao tiếp với ai, chiều chiều vác cần câu ra suối cho khuây khỏa. Đám
thanh niên đến an ủi, bảo hát không đàn cũng chẳng sao. ông lắc đầu: “Bố tôi
khi còn sống dạy là hát không đàn khác gì lũ trẻ trâu, mình sonphe, mêtót đàng
hoàng không thể đơn sơ như vậy. Thôi các anh các chị về đi, có cậy răng tôi
cũng không hát đâu".
Từ ngày không học hát, cái Thảo, cái Hoa cũng bỏ luôn việc đọc
tin. Ông Mẫm bực lắm, hay chúng nó biết mình phá thằng Thành nên trở mặt. Thấy
dân bản nhìn mình với con mắt khác, ngay mụ béo nhà ông cũng mát mẻ:"Có tiếng
đàn làm vui chúng nó cũng lấy đi. Đúng là cái lũ tai lòi". ông Mẫm chột dạ.
Một hôm bà béo gọi chồng đến bên lò bánh cuốn, thẽ thọt:
- Cái lão Thành cũng máu me ra phết. Chiều hôm qua tôi với bà
Khòa ra suối tắm, thấy lão ta núp trong bụi nhìn trộm.
Những tưởng chồng phải lồng lên, ai ngờ "Lão lùn" vỗ
đùi đánh đét, cười ha hả:
- Hay rồi! Ta sẽ có cách đền cho hắn.
Nói là làm. Ngay sáng hôm sau, ông Mẫm rủ ông Thành vác đồ
nghề lên Phiêng Ban kiếm ăn một chuyến. Gần đến đỉnh đèo đã nghe thấy tiếng hát
véo von như tiên nữ mời gọi. ông Thành bảo:
- Dừng chân nghe cái đã.
- Cứ đi đi, tớ đưa cậu đến thăm tiên nữ.
Ông Thành gạt phắt:
- Bố con tớ từng cụt hứng vì "Văn kỳ thanh bất kiến kỳ
hình". Hồi mới giải phóng, ông cụ tớ mê giọng hát của một cô ca sĩ, đến nỗi
có lần khi đài ga-len mới gióng: "Qua giọng hát của..." là cụ đã ôm lấy
đài, vặn hỏng cả vô-lum, thế là khỏi nghe. Qua Hà Nội, nghe tin đoàn cô ta biểu
diễn ở Nhà hát Nhân dân, hai cha con chen mãi mới mua được vé. Vào xem thì ôi
thôi, nhan sắc tiên nữ mà ông cụ mỏi mắt kiến hình thua xa bà xã răng đen.
- Lần này thì tuyệt cú mèo cả đôi đàng, đi đi khác rõ!
Ông Mẫm lôi ông Thành đến một hiệu may nhỏ ven đường. Cô thợ
may vừa đạp máy rào rào vừa luôn miệng hát những bài quen thuộc.
Lúc cô ta ngửa mặt lên chào khách, ông Thành há hốc mồm ra vì
ngạc nhiên: Người đâu mà trắng trẻo xinh đẹp đến thế, lại vận toàn đồ đen đến
là nổi.
Vốn là chỗ quen biết với cô Lâm, ông Mẫm tự nhiên như người
nhà:
- Lâm này, anh vào Đài truyền thanh chỗ thằng Tín bạn anh ấy.
Tí về ngay. à quên, giới thiệu với em đây là anh Thành, cây văn nghệ Bản Phố.
Hai anh em nói chuyện nhé...
- Chắc anh Mẫm đã kể về em cho anh nghe rồi. Anh nói gì đi chứ.
- Cô Lâm chủ động.
Ông Thành không biết nói gì, cứ ngồi thừ ra ngắm cô Lâm khiến
cô lúng túng.
- Em đẹp quá! - Ông Thành thốt lên.
Cô Lâm đỏ mặt nom càng xinh.
- Hồng nhan bạc mệnh anh ạ... Anh không nói thì hát cho em
nghe vậy. Cây văn nghệ mà.
- Không có đàn, anh không hát được. Em thông cảm.
- Đàn đây. Đàn đây. Hát đi. - ông Mẫm chạy về, ấn cây ghi-ta
vào tay ông Thành rồi cắp hòm cắt tóc ra gốc muỗm hành nghề.
Bị bất ngờ, ông Thành ôm đàn, chưa biết hát bài gì. Búng vu
vơ vài nốt, không hiểu sao lại trúng vào khúc dạo đầu của bài Bóng ai qua
thềm thế là ông hát luôn.
Cô Lâm dừng chân đạp máy, ngồi nghe rất chăm chú, hết bài này
sang bài khác. Không hiểu lắm về dòng nhạc này nên cô chỉ gật gù, khen chiếu lệ.
Nhận ra điều đó, ông Thành mất hứng, đặt cây ghi-ta xuống. Cô
Lâm cũng không giục mà thản nhiên đạp máy.
Để xua đi sự im lặng, cô Lâm vừa làm vừa se sẽ hát: Những
ánh sao đêm, Tình em… ông Thành cầm đàn lên, lựa theo lời ca mà bập bùng.
Như để thử tài ông Thành, cô Lâm hát mấy bài thật khó: Xa khơi, Câu hò
trên bến Hiền Lương, Bài ca hy vọng. ông Thành vẫn đệm tốt. Tiếng đàn, lời hát
nương tựa vào nhau đẹp như cậu vào với mợ. Không như anh Tín ở Đài truyền
thanh, chỉ đệm được những bài đơn giản. - Cô Lâm nghĩ vậy.
Ngước nhìn qua cửa sổ mở to trước bàn máy, cô Lâm bảo:
- Anh thấy núi đây đẹp không. Mùa này nắng vàng, nhìn mãi
không chán.
- Anh sẽ nhờ thằng Mẫm vẽ bức tranh em hát, anh đánh đàn cùng
nhìn ra dẫy núi dát vàng. - ông Thành tán. Cô Lâm cười ngất:
- Còn thiếu. Thiếu một người.
- Thiếu ai?
- Thiếu bà xã cầm dao bầu đứng ở cửa.
- Thế thì em cầm dao luôn đi, đỡ phải vẽ thêm người.
- Em mà biết cầm dao thì...
- Thì sao?
- Thì đã có đứa...
- Đứa nào? - ông Thành hỏi. Cô Lâm lặng thinh, mặt tái đi khiến
ông không dám căn vặn nữa.
Tối hôm đó, một cụ già người Thái mà cô Lâm gọi là bà chống
gậy đến ngủ, hai ông thợ vào bản nghỉ nhờ.
Suốt đêm, câu chuyện xoay quanh cô Lâm. ông Mẫm kể: Lâm là
con một gia đình người Kinh ở Tạ Khoa. Phải lòng anh nhạc sĩ đi sưu tầm văn
nghệ dân gian. Dân quân xã bắt được hai người đang ăn nằm với nhau trong lều
nương. Lúc ấy anh nhạc sĩ mới thú thực là vợ con rồi, không thể xây dựng cùng
cô Lâm. Cô nhảy xuống sông Đà tự vẫn nhưng không chết. Để tránh tiếng cho con,
bố mẹ cô bán trâu, bán lợn, mua một cái máy khâu cũ, gửi cô đi học nghề rồi mở
hiệu may trên đỉnh đèo (nơi có đôi vợ chồng người Thái kết nghĩa với gia đình
ông từ hồi chống Pháp). Những mong xa xôi người ta không biết, con gái có thể
kiếm được tấm chồng. Nào ngờ, tiếng dữ cũng đồn xa, cánh lái xe và ối kẻ qua
đây biết tiếng cô, tưởng cô dễ dãi, buông lời bờm xơm là bị cô đuổi thẳng:
"Tôi có lầm lỗi cũng là với anh nhạc sĩ chứ chưa đến cái ngữ các anh
đâu". Cũng có vài đám bỏ qua chuyện cũ, có ý xây dựng cùng cô nhưng đều lặng
lẽ rút lui vì thấy cô kênh kiệu. Ngỏ ý, cô cười nhạt: "Lâm đưa đám chuyện
đó rồi! Quanh năm áo đen, anh không thấy sao!". Người ta bảo cô trả thù
tình yêu. Thù đâu chẳng thấy, chỉ thấy ngoặc đơn ngoặc kép đã hiện trên gương
mặt. Băm mấy nhát rồi, không khéo chết già.
- Mày cũng là nhạc sĩ, nhạc sĩ Bản Phố. Hay là xong đi. Thui
thủi một mình làm gì cho tội - Ông Mẫm tỉ tê.
Ông Thành nghe xuôi xuôi. Ông Mẫm quay sang làm tư tưởng
cho cô Lâm:
- Em xem, cái nhà anh Thành cũng dân đàn hát, kém gì cái gã
sưu tầm?
- Anh hay nhỉ! Làm mối mà đi nhắc chuyện cũ, chẳng tế nhị gì
cả.
- Xin lỗi. Xin lỗi. Nhưng anh Thành đứng đắn hơn là cái chắc.
- Anh lại so bì rồi. Em đã qua thời con gái, không thể nông nổi.
Anh cho em nghĩ. Rằm tháng sau mời hai anh lên đây, em xin trả lời.
Đúng hẹn, hai ông thợ lên Phiêng Ban. Không ngờ, cô Lâm điệu
cả bố đẻ, bố nuôi cùng ngồi vào mâm rượu. Chuyện làm ăn, chuyện chạy giặc ngày
xưa, chuyện phong tục mỗi nơi mỗi khác. Rồi ông bố nuôi hát Thái, bố đẻ hát
Chèo, ông Thành phá lệ không đàn cũng cố hát để gây thiện cảm. Chỉ có ông Mẫm
là không hát, thỉnh thoảng nhấc đũa, gắp cho mọi người... Gà gáy, bữa rượu đã
tàn, ông Mẫm sốt ruột vì chuyện đôi lứa vẫn chưa được bố Lâm hỏi đến. Mình là
hàng dưới, chẳng nhẽ lại đánh tiếng trước, biết thế mời thêm ông Khoà để ông ấy
có nhời, đỡ phải hát hò nhiêu khê, ê hết cả mông cả gối!… Cô Lâm bưng đĩa dưa
Mèo vào, lễ phép:
- Mời bố và hai anh.
- Ra tao bảo đây. - ông bố đẻ kéo con gái ra đầu nhà nói. -
Tao với bố nuôi mày đã tranh thủ bàn với nhau bằng tiếng Thái lúc đang uống rượu
rồi. Anh Thành này thực bụng. Nếu mày ưng thì bảo anh ta sửa cái lễ mọn, nhờ
người xuống Tạ Khoa là được.
Thế là nên vợ nên chồng.
Đôi uyên ương từ ngày về với nhau là lăn lưng ra làm, nhà cửa
chẳng màng tu sửa. Hỏi thì họ nói là dành dụm để mua một cây đàn, cái khác tính
dần cũng không muộn. Dân Bản Phố thấy cũng có lý, tối tối không sang ngắm cô
Lâm và nghe hát nữa, cho chồng gò, vợ may, nhanh đến ngày tậu cây đàn mới.
Dịp Noel năm ấy lạnh thấu xương. Ông Thành xuống huyện
bắt xe về Hà Nội mua đàn.
Ba ngày sau, ông hớn hở cầm cây đàn thơm mùi gỗ thông chạy về
đến đầu phố, định reo lên: "Lâm ơi đàn đây rồi!" thì ông Mẫm đã chạy
ra lôi ngay vào nhà mình, khóc rống lên:
- Khổ thân mày Thành ơi! Khổ thân mày!... Vợ mày không còn nữa
rồi... Khổ ơi là khổ... Rét đến vũng nước đóng băng, vợ mày đêm hôm kia
băng huyết nằm một mình, cảm lạnh mà không ai hay... Sao mày đi mà không nhờ bọn
cái Thảo, cái Hoa sang ngủ... Tao đến vô tích sự, biết mày vắng nhà cũng không
sai vợ con sang xem củi lửa ra sao. Vợ chồng trẻ đâu có kinh nghiệm. Khổ thân
mày! Tao cũng ân hận vô cùng! Thành ơi!
ông Thành vùng khỏi tay ông Mẫm lao về nhà thì bà con chạy ra
giữ lại: "Bình tĩnh! Bình tĩnh! Chú Thành ơi! Bình tĩnh!”.
Phải hứa với mọi người là đã trấn tĩnh, ông Thành mới được
đến bên vợ. ông cắn răng không khóc để nhìn gương mặt thân yêu lần cuối. ông
ngước lên nóc nhà để ngăn không cho nước mắt ứa ra rơi xuống thi thể vợ. Bỗng
thấy hai cái vỉ ruồi trống hoác, chợt hiểu ra điều gì, ông hét lên:
- Tại anh! Tại anh! Rét thế mà hai cái vỉ ruồi kia không đan
phên đắp vào lại đi mua đàn... Này thì đàn! Thì đàn này! - ông phang luôn cây
đàn mới tinh vào cột nhà cho vỡ vụn. Sợ ông đập đầu luôn vào đó, người ta xúm
đến dìu ông ra ngoài. Kèn trống nổi lên làm lễ nhập quan.
Sau trăm ngày, ông Thành bán chiếc máy khâu để trang trải đám
tang, còn bao nhiêu đem lên Tạ Khoa đưa cho bố mẹ vợ. Rồi ông trở lại Bản Phố,
bán căn nhà nhỏ, gánh đồ nghề đi đâu không rõ. ông Khoà, ông Mẫm và dân bản cố
giữ ông ở lại mà không được.
Hà Nội, mùa đông 2002
MỘT LẼ SÂU XA
Chúng tôi tạm xa nhau mấy năm. Những ngày qua luôn hiện
lên trong tôi lâng lâng một niềm tin yêu, thấm thía…
Hồi còn làm ở Nghĩa Lộ, trong một chuyến về xuôi công
tác, tôi vào ăn ở cửa hàng số 1 trước cửa ga Yên Bái. Tôi rất ngạc nhiên thấy một
cô phục vụ tay bế con, tay dọn dẹp bát đũa. Cô ta đeo tạp dề trắng in số hẳn
hoi, không thể lẫn với khách hàng. Đành rằng lúc này vắng người, nhưng tôi vẫn
thấy cô ta tùy tiện. Mà cô ta trẻ thế, chỉ mười bảy mười tám đã có con? Thầm tiếc
cho tuổi trẻ của cô gái, tôi đưa mắt đi chỗ khác. Lại gặp cảnh khó coi: Một chị
khoảng hăm bảy hăm tám bưng bát phở và lấy và để; phụ nữ gì mà ăn uống thế!...Chị
ta đứng dậy húp đánh soạt cho hết bát phở rồi vừa lấy đũa lau mồm vừa bước đến
bên cô phục vụ đang bế con. Lạ chưa, đứa trẻ trườn khỏi tay mẹ, sà vào lòng chị
ta. Chị ta rối rít:
- Cảm ơn cô. Không có cô thì nó chẳng cho ăn.
- Có gì đâu, chị…Cô phục vụ nói và đi lấy một bát
nước đem đến:
- Chị uống nước đi này!
Chia tay với hai mẹ con, cô ta thơm cháu bé một cái rõ kêu:
- Cháu đi, hôm nào lên lại vào
thăm cố nhé.
Tự trách mình hồ đồ, nghi oan cho cô gái đáng mến, tôi nhìn
cô ta mãi. Dáng người thon thả, nụ cười ánh lên bởi đôi hàm răng rất trắng…Hình
bóng cô ta vấn vương trong tôi suốt chặng đường tàu xuôi đêm đó.
Làm việc xong, tôi ngược lên luôn. Khách xuống tàu vào cửa
hàng khá đông, tôi cũng đi theo họ. Cô ta kia rồi, đang cùng mấy chị em bưng những
khay đầy cơm phở, lách giữa các bàn như con thoi. Dáng thon thả khiến cô ta
lanh lẹ hơn trong công việc. Chỗ này gọi, chỗ kia gọi, cô ta vẫn: “Dạ”; “Vâng”;
“Bác chờ cho một tí”…Nụ cười vẫn niềm nở, đôi hàm răng sáng, những giọt mồ hôi
lấm tấm trên trán lăn dài xuống đôi má hồng hào, cô ta dễ ưa quá, càng đông cô
ta càng vui thì phải.
Ăn xong, tôi nán chờ cô ta đến dọn bàn. Tôi xếp bát đũa gọn
gàng như để báo cáo với cô rằng tôi là một khách hàng lịch sự. Cô ta đã đến,
tôi bưng chồng bát đặt lên khay cho cô.
- Cám ơn anh. Cô ta lẽ phép nói.
Tôi phấn khởi với việc làm ấy của mình cho dù trong ánh mắt của
mấy khách ăn nhìn tôi hôm đó có một anh tỏ ra khinh khỉnh như muốn kháy tôi: “Đồ
nịnh đầm!”.
Thiên hạ khó chiều, tôi giúp cô ta thì có sao… Tình thực cũng
si mê đôi chút, nhưng tôi dằn lòng ngay, bởi lẽ cô ta khá xinh mà tôi thì xấu
trai lại ở xa hàng trăm cây số. Ấy thế mà nhiều lúc vẫn mơ màng: “Trăm năm biết
có duyên gì hay không?”
Lâu không gặp lại, nỗi si mê ấy cũng nguôi dần. Nhưng mỗi lần
bước vào các cửa hàng ăn, hình bóng cô ta lại hiện lên trong tôi, khiến tôi
mong có dịp ra Yên Bái. Hiểm nỗi chẳng có công việc gì cần về xuôi. Sao dạo này
tôi hay nhớ nhà, tôi xin cơ quan đi nghỉ phép.
Xuống xe, tôi vào ngay cửa hàng. Cô ta chạy đâu nhỉ? Tôi ngồi
ăn chầm chậm, hồi lâu mới hết suất cơm, mắt không rời phía cửa thông xuống bếp.
Tôi ăn thêm bát phở, rồi cố một đĩa bánh cuốn nữa mà cô ta vẫn chưa về. Xỉa
răng, uống nước hàng nửa giờ, sốt ruột quá tôi đành nghé vào bếp xem sao; cũng
không thấy, hỏi ai bây giờ? Tôi đành xách túi ra tàu, tiêng tiếc cho cái phép,
hy vọng khi lên vậy.
Rủi cho tôi, hôm trả phép lại gặp xe ông trưởng ty ở Hà Nội,
đành phải đi cùng. Tôi rủ mọi người về Yên Bái ăn ở cửa hàng số 1, có đông
nhưng nấu khá ngon. Mấy anh bạn tôi gạt phắt:
- Về nhà thủ trưởng chiêu đãi, hôm sau lên thẳng ty là vừa.
Tôi đành phải theo họ.
Trưa hôm sau, xe sắp qua cửa hàng, tôi bảo anh lái xe:
- Suýt thì quên mua quà, cho mình xuống đây một tý.
Xe dừng lại, tôi chạy vào cửa hàng. Nhìn khắp lượt chẳng thấy
cô ta, nhìn vào bếp cũng không. Một chị phục vụ hỏi tôi:
- Anh cần tìm ai ạ?
- Không… không… À… Mua bánh kẹo ở đâu chị nhỉ?
- Anh đến quầy giải khát đằng kia.
Tôi mua được mấy gói kẹo, nhìn lại cửa hàng một lượt nữa rồi
ra xe. Cô ấy chuyển đi đâu rồi?
Xe chúng tôi vừa lăn bánh thì lại phải dừng, nhường đường cho
một chiếc xe tải chở than rẽ vào cửa hàng, mấy cô áo nâu, áo đen đứng trên xe.
Đúng cô ta rồi! Dáng thon thon, răng rất trắng, không lẫn vào đâu được. May mà
lúc ấy cô ta đang cười, chắc là bụi than vương trên mặt đã tôn hàm răng lên cho
tôi dễ nhận. Lúc nào cô ấy cũng vui thì phải, đúng như câu tục ngữ của người
Thái “Con gái hổ tha vẫn cười”.
Ô tô qua phà, vượt dốc băng đèo vào Nghĩa Lộ. Ông Trưởng ty
khoác vai anh lái xe, ngâm mấy câu thơ. Trong xe lắc lư, chúng tôi khe khẽ ngâm
theo (thơ trong sách giáo khoa, chẳng mấy người không thuộc). Đời lắm lúc nên
thơ.
Tỉnh Hoàng Liên Sơn thành lập, ty mới điều tôi ra dạy ở một
trường đóng tại thị xã Yên Bái. Với nghề giáo chúng tôi, được đứng lớp thú hơn
làm công tác quản lý. Trường tôi chỉ cách cửa hàng cô ta vài cây số.
Từ đó, tôi hay ra cửa hàng. “Áo năng may năng mới, người năng
tới năng thương”, các cụ dạy thế mà. Cô ta vẫn nhanh nhẹn, tươi trẻ, lại có phần
đẹp ra do mái tóc mới uốn thành những đợt sóng óng ả, bồng lên, ôm lấy gương mặt
thanh tú. Mái đầu gọn gàng khiến ánh mắt cô ta lanh lợi hẳn lên. Tôi bỗng thấy
ngài ngại, vui buồn lẫn lộn. Vui vì cô ấy đẹp, buồn cũng vì cô ấy đẹp. Hình như
cô ấy bắt đầu làm đỏm. Hay đã lọt mắt anh chàng bảnh trai nào? Còn tôi
thì…không thể xứng với cô ta về mặt này. Leo cao làm gì cho ngã đau? Trâu ta ăn
cỏ đồng ta, lùi về tìm hiểu một cô giáo nào đấy có hơn không?... Nghĩ vậy, nhưng
hình ảnh cô ta bưng bê, chạy đi chạy lại như con thoi, mồ hôi lăn trên má, niềm
nở, ân cần, sẵn lòng giúp đỡ mọi người; đâu phải ai cũng được thế… Có làm đỏm một
tý thì đã sao, cứ yêu thì mới chải chuốt à? Ngoài mái đầu mới uốn cho gọn, cô
ta vẫn mặc bình thường như trước cơ mà… Yêu ai thấy người ấy đẹp cũng nên… Những
ý nghĩ đó xui tôi chớ tự ti, hãy vững tâm tiến tới.
Tôi năng ra cửa hàng hơn mà vẫn chưa làm quen được. Nếu cô ta
cũng làm nghề dạy học như tôi thì thân nhau rồi đấy. Cuộc sống đa dạng. Hạnh
phúc đâu phải bữa cỗ mời. Phải kiên trì thôi, lượng đổi chất đổi, tôi tin thế.
Một hôm, có mấy anh mặc hơi càn, ngồi ăn với nhau, thỉnh thoảng
lại ngoái cổ buông lời trêu cô ta.
- Cô em ơi, tên em là gì?
- Làm cao thế!
- Được em về bưng cơm cho thì nhất hội.
Cô ta phớt lờ. Mấy anh chàng ăn uống nhồm nhoàm, nói cười hô
hố, thỉnh thoảng lại liếc trộm cô ta. Ăn xong bọn họ đứng ngồi ngông nghênh,
phì phèo thuốc lá. Cô ta đến, bình thản:
- Các anh đứng gọn một chút cho tôi dọn bàn.
- Cô em cứ tự nhiên.
- Người đẹp, cơm ngon, búa bổ thật. Bọn họ tranh
nhau nói.
Cô ta bưng khay vào. Bọn kia nói với theo:
- Tạm biệt cô em nhé
Đứa thọc tay túi quần, đứa bá vai bá cổ nhau, khệnh khạng đi
ra, lè nhè, hằn học:
- Chú mày vét đĩa, chẳng nhả được câu nào đáng tiền.
Cô ta trở lại dọn bàn, tôi mạnh dạn:
- Chị ạ. Chẳng cần lịch sự với bọn ấy. Cứ choảng
cho chúng nó mấy câu thật đau, mất mặt là phải chừa.
- Làm thế họ chẳng chừa đâu, anh ạ. Cứ vờ như
không nghe thấy, họ bị tẽn là khắc xấu hổ. Trừ khi họ quá đáng thì ôn tồn góp ý
và tranh thủ sự đồng tình của khách hàng.
- Im lặng chưa chắc chúng nó đã hiểu. Tôi nói.
- Anh cứ yên tâm, chúng em đã rút kinh nghiệm rồi.
Đa số là đua đòi, đáng thương thôi. Tháng trước, ông cửa hàng trưởng lôi mấy tướng
vào xạc cho một mẻ, dọa báo công an về tội trêu ghẹo phụ nữ làm mất trật tự
công cộng. Các cậu xin lỗi rối lên, như trẻ sắp ăn đòn.
Nghe cô ấy nói, tôi như trút được gánh nặng. Lo là lo cho cô ấy
thôi. Cái nghề “Làm dâu trăm họ” này phức tạp thật. Tôi chưa biết nói gì để làm
quen thì cô ấy đã ân cần:
- Cửa hàng phục vụ những người qua lại là chính, các anh ở gần
nên chịu khó nấu thêm thì hơn, cứ ăn ở đây thì tốn lắm. Bọn em, mấy đứa chung
nhau cái bếp dầu, trưa thì nồi khoai, trưa thì nồi sắn, cũng nhanh thôi. Chủ nhật
cải thiện một tí. Các anh cứ thử làm mà xem, mỗi tháng chỉ mươi đồng mà vẫn
tươi. Trông cả vào cửa hàng thì hết lương mất.
- Cám ơn chị. Tôi sẽ…
Thế là vừa quen, cô ta đã cấm cửa. Vô tình thôi, nhưng biết
làm sao bây giờ?...Đã thực yêu cô ta chưa? Khó mà trả lời cho dứt khoát! Chỉ biết
rằng nếu cô ta là một cô giáo thì không chần chừ gì nữa, tôi sẽ nói: “Anh yêu
em”.
Tôi không dám đến cửa hàng, phải nghe lời cô ta chứ. Đang bí
kế, lại bận thêm: Tôi phải tham gia dạy bổ túc văn hóa.
Trong sổ điểm hai lớp mà chị giáo viên nghỉ đẻ bàn giao cho
tôi, chẳng có Thanh nào cả. Chị em trong cửa hàng gọi cô ta là Thanh mà. Tôi hỏi
chị giáo viên mới biết cửa hàng số 1 cũng có mấy người học bên 10A, cả ông cửa
hàng trưởng thì phải. Tôi được dạy 10A nhỉ, nhưng thế này cũng tốt rồi, đỡ phải
ra cửa hàng.
Tối hôm sau lên lớp, tôi gặp ngay cô ta ở cầu thang. Cô ấy
tròn mắt nhìn tôi:
- Anh cũng học ở đây à? Sao vào muộn thế?
Tôi ừ ào chưa kịp nói gì.
- Anh học lớp nào?
- 10B
- Em 10A. Sao dạo này không thấy ra cửa hàng.
Tôi chưa biết trả lời ra sao thì mấy cô gái chạy đến: - Thanh
ơi, Thanh làm hết bài tập không? – Thế là Thanh theo bạn luôn.
Tối thứ hai tuần sau, tôi đến sớm, ra hành lang đón Thanh. Gặp
tôi, Thanh đứng nghiêm:
- Chào thầy ạ! Và chạy biến vào lớp:
Tuần hai buổi, Thanh đi học rất đều, nhưng ít đi một mình,
hay lẩn vào tốp bạn gái. Có lẽ Thanh biết ý tôi.
Cũng tình cờ qua câu chuyện về những trận bom Mỹ ném xuống thị
xã này mấy năm trước, tôi hiểu được hoàn cảnh của Thanh: Bố là công nhân đường
sắt về hưu, mẹ chết bom, đông em. Học hết lớp 7 là Thanh phải đi làm để giúp đỡ
gia đình. Mấy năm nay đàn em đã lớn, cô ta mới có thời gian theo học bổ túc văn
hóa.
Tôi dạy được hai tháng thì ông hiệu trưởng vận động tôi giúp
một nhóm chuyên toán học vào chủ nhật. (Một số học viên là công nhân đề nghị,
có cả ông cửa hàng trưởng cửa hàng ăn uống số 1. Ông này học lực trung bình
nhưng lại rất mê toán. Trường chỉ định ông ta làm nhóm trưởng). Chủ nhật, tôi
cũng chả có việc gì, thường đi chơi về lại xem sách. Tôi nhận lời và hy vọng ở
sự giúp đỡ của ông này.
Hôm khai mạc, Thanh và hai cô nữa xách túi đến. Ông cửa hàng
trưởng tha thiết đề nghị:
- Báo cáo thầy giáo, ba cô đều ở cửa hàng chúng tôi cũng muốn
học thêm. Nghề chúng tôi cần toán lắm, thầy giáo vui lòng nhận cho.
Còn vui mừng nào hơn, nhưng tôi cố kiềm chế để nói một câu thật
mô phạm:
- Xin hoan nghênh tinh thần hiếu học của các đồng chí. Càng
đông, chúng ta càng phải cố gắng.
Nhóm chuyên toán tiến băng băng. Ông cửa hàng trưởng lúc đầu
còn ì ạch, tôi kèm riết, sau ba tháng ông ta đã bỏ xa những học viên ngoài
nhóm. Hai lớp tôi dạy cũng đạt điểm khá cao. Ông hiệu trưởng khen tôi hết lời.
Anh em học viên trong lớp, nhất là trong nhóm mời tôi lại nhà chơi. Thanh cũng
mời, xem chừng chưa nhiệt tình cho lắm nên tôi xin khất.
Việc tôi để ý đến Thanh không lọt qua mắt anh chị em trong
nhóm. Không nói ra nhưng ai nấy đều nhìn tôi vẻ khích lệ. Riêng ông cửa hàng
trước thì vẫn chưa biết thì phải. Làm sao bây giờ, tôi đành chủ động.
Sau một tối phụ đạo riêng cho ông, tôi hỏi ông về Thanh. Lấy
rượu thuốc rót mời tôi, ông ta đi ngay vào việc:
- Thầy giáo bỏ lỗi cho tôi nhé. Tôi biết ý thầy đã lâu mà
chưa dám thưa chuyện…Chả là năm nay nó xin đi đại học, chúng tôi đã nhất trí.
Thầy giáo biết đấy, nó đã thiệt thòi nhiều. Bây giờ lấy chồng, năm sau vừa ôm
con vừa học, không theo kịp, rồi lưu ban, lại xin về cho mà xem. Ối cô như vậy
rồi. Con bé được cả nết lẫn người, đường học hành mà lại dang dở một lần nữa
thì tội cho nó quá. Nghĩ sao nói vậy, thầy giáo đừng giận.
Tôi đâu dám giận ông, chỉ phục ông thẳng, chân tình. Mặt nóng
ran, như để giữ thể diện, tôi chống chế:
- Cháu chưa có ý gì đâu, thấy cô ta dễ thương nên hỏi thế
thôi bác ạ.
Ông ta lại rót rượu mời tôi và lái sang chuyện khác.
Thanh ham học, tiếp thu nhanh. Đến lớp cô ta vui như chim sổ
lồng, đến nhóm thì bẽn lẽn, khó hiểu. Ý kiến của ông cửa hàng trưởng và thái độ
của Thanh làm tôi đắn đo, có lúc định rút lui…Nhưng rút sao nổi vì tôi đã thực
lòng yêu cô ấy.
Ít lâu sau, Thanh đến nhóm đã vui vui, lắm lúc còn đùa nghịch.
Tôi đánh bạo mời cô ta đến chơi. Thanh nhận lời. Tôi dọn căn phòng cho gọn đẹp,
mua một chục cam sành và một gói chè hương. Đúng hẹn, cô ta đến, nhưng lại rủ một
cô bạn tên là Lan làm ở cửa hàng số 2 đi cùng…
Từ đấy thành bộ ba, tôi hay mời hai cô đi xem phim, xem văn
nghệ vào các tối thứ bẩy…
Sau rồi Lan luôn cáo bận, tôi và Thanh “đành” đi với nhau.
Nhiều buổi chúng tôi không xem phim mà đi chơi bên bờ sông, trên đường tàu;
chuyện trò về phim ảnh, về ước mơ, về quan niệm sống, về ăn mặc, về cả tình yêu
nữa…Nói chung là rất phù hợp. Những đêm trăng đi chơi bên sông Hồng thật là đẹp:
Con sông như dát bạc, êm đềm trôi giữa những mái đồi thoai thoải, hiền hòa. Xa
xa, núi dăng thành mờ mờ trong ánh trăng huyền ảo. Mây trắng bồng bềnh, sương
khói thướt tha, lửa thuyền ấm áp. Gió từ mặt sông thổi bồng mái tóc. Sóng nước
lao xao, xình xịch đoàn tàu chuyển bánh, tiếng rì rầm thân quen của thị xã đông
vui. Tất cả như thấm vào hơi thở…
Hôm ấy đi chơi trên đường sắt, mỗi đứa đi trên một
thanh ray. Đi mãi, gặp đoàn tàu lao đến. Hai đứa dạt sang hai bên. Tàu qua mà
chẳng thấy Thanh đâu. Tôi hoảng quá, chạy theo tàu, gọi to:
- Thanh! Thanh ơi!...
- Em đây cơ mà.
Tôi quay lại thì cô ta đang đứng bên lùm cây ven đường. Tôi
chạy đến, hổn hển:
- Thanh làm tôi sợ quá!
- Anh sợ gì cơ?
- Sợ mất em…
…Thế là chúng tôi yêu nhau từ đó. Cô ấy tâm sự “từ buổi học
nhóm đầu tiên, em đã biết anh để ý đến em. Anh là giáo viên cấp ba nên em ngại.
Em đã nghĩ nhiều về nghề em. Càng gắn bó với cửa hàng em càng thấy sự e ngại ấy
là không đúng”. Tôi phục Thanh ở sự chín chắn thường chỉ có trong những người
đã qua nhiều gian khổ.
Thanh sắp thi tốt nghiệp nên chúng tôi ít đi chơi, nhưng vẫn
luôn bên nhau vì tôi kèm cô ấy học.
Sau hôm thi, tối nào chúng tôi cũng đi, bàn bạc cặn kẽ. Tưởng
như mọi việc đều suôn sẻ…
Một hôm xem phim về, còn sớm, chúng tôi ra bờ sông hóng mát.
Tôi nói:
- Hay em nộp đơn vào đại học sư phạm đi, cùng nghề vẫn hơn.
Thanh không nói gì, chỉ cúi đầu đi như chạy, tôi phải rảo bước
mới kịp. Cô ta đứng lại, ôm mặt khóc rưng rức. Mỗi khi nhắc đến mẹ, Thanh hay ứa
nước mắt; xem phim đoạn nào xúc động, nước mắt Thanh cũng trào ra. Thanh cố dấu
nhưng tôi vẫn biết. Lần này thì lạ quá. Tôi lay hai vai cô ấy:
- Sao thế em?... Nín đi em…
Dỗ dành mãi, cô ấy mới thong thả:
- Anh buông em ra đã…Hình như anh hơi coi thường nghề em. Em
yêu anh ở lòng say mê công việc. Thấy ai đạt điểm cao là anh phấn khởi, bắt tay
họ chia vui. Ai học đuối anh chẳng ngại đường xa, mưa gió đến tận nhà để hướng
dẫn. Em cũng vậy. Thấy khách ăn ngon là em mừng, họ kêu ca là em buồn, có lúc
muốn khóc. Em chẳng muốn nói ra điều đó, sợ anh bảo là khoe khoang. Em biết, vẫn
còn những người xem thương nghề chúng em, chẳng may người đó lại là chồng thì…Mấy
chị trong công ty em đây, khổ tâm lắm. Cứ dịp cuối năm, tết nhất, việc cửa hàng
bề bộn, đi sớm về khuya, có đêm thức trắng, về đến nhà mệt phờ, chồng lại đay
nghiến: “Báu gì cái thứ bưng bê hầu hạ mà phải tích cực!.” Em chỉ lo anh…
Tôi tìm đủ cách thanh minh. Tôi nói chán thì thôi, Thanh chỉ
im lặng. Thú thực, tôi cũng đôi khi chưa thật trân trọng nghề cô ấy, nên chăng
lời lẽ quanh co, lộ cái đuôi biện bạch.
Hai đứa lặng lẽ đi bên nhau. Mưa lâm thâm, gió sông phả vào
người man mát rồi lành lạnh. Tôi lấy khăn mùi soa trùm lên đầu cho Thanh, Thanh
từ tốn:
- Em tin là sẽ vào được Đại học Thương nghiệp khoa nấu ăn…Như
chúng ta đã bàn, anh chịu khó chờ em nhé…Nhưng anh phải bỏ cái lối thiên vị nghề
nghiệp đi cơ, nếu không thì…Em nói thực đấy; khó sống với nhau lắm.
Tôi đau lòng nhận điều kiện ấy của Thanh, cũng là tự thú với
bản thân cái phần lạc hậu mà lâu nay cứ ngỡ mình không có.
Xứng với cô ta, vấn đề lại đặt ra trong tôi theo mội lẽ sâu
xa, khác hẳn lúc ban đầu.
Yên Bái 1978
THÊM MỘT NÉN HƯƠNG
Mẹ tôi vốn là du kích chống Pháp, về hưu đã lâu ở với vợ chồng
tôi trong khu tập thể. Dịp mùng tám tháng ba năm ngoái, một cô giáo trẻ cùng mấy
cháu học sinh trường cấp hai đến thăm mẹ.
Vào các ngày lễ, tết, các cháu hay đến tặng hoa, mẹ cảm động
lắm. Lần này cô giáo mời mẹ ra trường dự ngày hội phụ nữ, kể chuyện đánh giặc.
Mẹ bảo:
- Đánh Tây, đánh Mỹ, tôi tinh giữ cái chân "khói
um", có gì mà nói. Hay cô và các cháu mời mấy ông tướng ông tá kể chuyện
xông pha nơi mũi tên hòn đạn, trẻ nó mới thích.
- Năm ngoái, ngày thành lập quân đội, chúng cháu mời các bác ấy
rồi. Mùng tám tháng ba mời bác là chuẩn nhất. Bác kể hồi bác làm du kích, sẽ rất
hay ạ. - Cô giáo gợi ý. Mẹ tiếp lời:
- Bác chỉ theo du kích ít ngày, chưa đánh đấm gì đã ra vùng
căn cứ làm cấp dưỡng. Kể chuyện nồi niêu, xoong chảo e không vừa lòng các cháu.
- Thế tại sao bà lại vào du kích ạ? - Một cháu hỏi.
Mẹ tôi têm miếng trầu, nói:
- Chuyện ấy thảm lắm! Các cháu cảm thông cho bà.
- Thưa bác, có thể chuyện cũ làm bác không vui nhưng lại rất
cần cho việc học hành. Cũng là vì con cháu mà kể lại bác ạ. - Cô giáo cố nài. Mẹ
phân trần:
- Thú thực với cô, ngay thằng con độc nhất đây tôi cũng chỉ
nói sơ sơ cho nó biết về tông tích nhà mình. Hay... thư thư cho tôi dịp khác.
Tôi còn khỏe, còn sống lâu mà.
Một cháu học sinh vùng vằng:
- Mấy lần chúng cháu vào đề nghị, bà đều khất. Lần này bà
không giúp chúng cháu, chúng cháu không đến thăm bà nữa.
Cô giáo lừ mắt, đứa trẻ ấp úng thốt lên?
- Cháu lỡ lời, cháu xin lỗi bà ạ.
Mẹ tôi xoa đầu cháu:
- Không sao, không sao. "Có đi có lại mới toại lòng
nhau”. Thôi thì bà sẽ cố.
Hôm mùng tám tháng ba, tôi xin phép đơn vị nghỉ buổi sáng,
sang trường nghe mẹ kể chuyện. Để mẹ được tự nhiên, tôi chờ buổi lễ bắt đầu, mới
rón rén vào phòng thường trực, xin ông gác trường cho ngồi ké ở đó.
Thầy hiệu trưởng thân mật mời mẹ tôi lên kể chuyện. Trong tiếng
hoan hô của thầy trò, mẹ tôi quần trắng, áo dài nhung mầu mận chín, ngực lấp
lánh hai tấm huân chương, từ tốn bước lên bục.
Sau mấy lời cảm ơn sự quan tâm thường xuyên của nhà trường và
các cháu học sinh đến người phụ nữ bình thường này mẹ tôi bắt đầu kể:
- Thuở tôi mười bảy tuổi...
- Ngày xưa chắc bà đẹp lắm, bây giờ vẫn đẹp ạ. - Một
giọng học sinh hô lên, cá trường vỗ tay tán thưởng.
Mẹ tôi cười rung cả mái tóc bạc:
- Bà không được như cháu nào vừa nói đâu. Thôi, để bà kể tiếp...
Năm ấy quê bà mất mùa. Nhà bà không có ruộng, tinh cày thuê cấy
mướn nên càng đói tệ. Phải móc rễ khoai, đào rau má, cỏ bợ về ăn. Người ta đến
làng mộ phu ra mỏ. Thầy và hai anh bà liều đi cho nhà bớt miệng ăn.
Hôm dân làng tiễn phu xuống thuyền, mưa gió ầm ầm, bến đò lầy
như cháo chan. Một tay bà vuốt nước mưa, nước mắt, một tay xốc nách đẻ (bà gọi
mẹ là đẻ) cho đẻ khỏi khuỵu trước cảnh thầy và các anh theo người ta bì bõm xuống
thuyền. Bỗng thầy lội ngược trở lại, bảo:
- Tao với hai anh mày đi trước. Làm ăn được sẽ đánh dây
thép về, mày nhờ người đọc cho rồi giục đẻ mày bán cái nhà rách và mảnh vườn
chó ỉa kia đi, theo người làng mà ra mỏ.
Bà chưa kịp vâng thì thầy đã xuống thuyền. Con thuyền nêm cứng
sáu bảy chục người tròng trành tháo dây neo. Kẻ trên bờ, người dưới thuyền dặn
nhau í ới. Tre pheo vật vã rạp đầu xuống sông như vái lạy. Đẻ báo: "Tre nó
cũng biết đưa người". Nhớ lại bà vẫn trờn trợn. Bữa ấy nước to, thuyền thuận
gió, xuôi dòng nên chỉ một loáng là lẫn vào mưa. Đêm về, bà và đẻ ngồi nhá rễ
khoai dưới bếp. Mỗi lần cố nuốt, đẻ lại nghẹn, bà phải vuốt ngực cho. Bỗng có
tiếng trống ngũ liên, tiếng người kêu thất thanh: “Ối giời ôi!". “Ác nghiệp
thế, giời ơi là giời!" nổi lên khắp làng. Bà ngơ ngác hỏi:
- Tây càn hả đẻ?
Đẻ đứng phắt dậy, bảo.
- Tây càn thì không ai đánh trống. Chắc là cướp. chạy
đi.
Hai mẹ con vừa chạy ra sân thì mấy bà hàng xóm chạy đến kêu
khóc:
- Chết hết cả rồi bà ơi! Chết hết rồi!
- Đắm thuyền, phu chết hết rồi!
- Khốn nan thân tôi!
Bà theo dân làng đốt đuốc chạy đi tìm người chết đuối. Đến
sáng thì tới một khúc sông vắng. Người ta vớt xác xếp ngổn ngang trên vệ cỏ. Đẻ
và bà bủa đi nhận mặt người nhà nhưng không thấy ai. Bà lao xuống sông lặn hụp
hết quãng này đến quãng khác. Chính ngọ thì quơ được ba bố con ôm nhau,
chết ngay mép nước mới tội. Mấy người giúp bà khiêng xác lên bờ, đốt rơm ở bên
cho đỡ lạnh. Đẻ ôm lấy chồng con gào thét, bà ôm lấy đẻ nấc lên. Người ta quát:
"Cô kia gỡ bà cụ ra! Nước mắt rơi vào người chết, chết theo bây giờ!"
Hoảng quá, bà lôi bằng được đẻ ra, ghì lấy, không cho đẻ nhào trở lại.
Lặn mặt trời, dân các làng mới vớt gần hết người chết đuối.
Có người trôi xa hàng cây số. Mẹ con bà đang tính nước nói khó với ông Khắng
cho vay mấy đồng, thuê người chở thầy và hai anh về rồi bán mấy thước vườn trả
sau thì một bà già nhỏ thó tay cầm mái chèo đến bên, lân la hỏi chuyện. Nghe đẻ
than thở, bà lái đò bảo:
- Tôi đưa đò ngang bến này. Thương tình mẹ con bà khốn khó.
Tôi chở cho không lấy công. Hộ tôi một tay khiêng người nhà xuống.
Con đò cắm hương, chở xác thầy và anh hai ngược nước. Đẻ luôn
miệng cảm tạ bà lái đò phúc đức. Bà lái đò chép miệng: "Chỉ tại thằng Tây
gây loạn lạc, đói khổ, để dân ta phải đâm đầu vào chỗ chết".
Từ đó, bà lái đò hay qua lại thăm nom đẻ. Được nải chuối, mớ ổi,
đẻ cũng cắp xuống biển chờ đò xuôi, nhờ người ta đem biếu bà lái đò. Mẹ con bà
được bà lái đò giác ngộ, nhận nuôi cán bộ, du kích dưới hầm bí mật. Bà lái đò ấy
tên là Nguyễn Thị Thiềng, bà gọi là đẻ Thiềng. Khi đẻ bà mất, đẻ Thiềng gởi bà
ra vùng tự do làm cấp dưỡng...
Mẹ tạm ngừng ở đây, lấy khăn thấm nước mắt. Các cháu học sinh
đâu biết, sau này, bà lái đò chính là mẹ chồng của mẹ tôi, là bà nội tôi. Tôi sẽ
thuật lại ở đoạn sau.
E câu chuyện quá ngắn không thỏa mãn các cháu, mẹ tôi kể thêm
mấy mẩu chuyên sinh hoạt kháng chiến của bộ đội, dân công khiến các cháu cười nắc
nẻ.
Ngày mùng tám tháng ba, theo sáng kiến của tôi, vợ và con gái
ưu tiên cho tôi và thằng con trai việc chi tiêu, nấu nướng. Tối hôm ấy, lúc tôi
đang ngồi kê lại các khoản mai còn báo cáo bà xã thì mẹ tôi đến bên, hỏi:
- Con nghe mẹ kể thế được không?
- Con có đến trường đâu ạ.
- Thế cái mũ lông Liên Xô thập thò trong phòng thường trực
là của người khác đấy hẳn. Thôi, nói đi, mẹ kể thế được không?
- Hay! Mẹ ạ. Các cháu chăm chú lắm, có cháu còn khóc nữa.
Nhưng đoạn bà và mẹ nuôi cán bộ sao mẹ chỉ lướt qua. Me tôi cười xòa:
- Trẻ nó không ưa chuyện buồn. Anh chẳng tâm lý gì cả!
Thỉnh thoảng, vào những dịp vui, tôi lạt nhắc cái ngày mẹ
sang trường kể chuyện cho mẹ phấn khởi. Nhưng lần nào mẹ cũng mỉm cười rồi lảng
đi chuyện khác. Tôi không hiểu tại sao?
Cuối năm nay, mẹ tôi đau nặng, phải mổ khối u trong người
có thể nguy đến tính mạng. Mẹ không quá lo lắng, nhưng thần sắc vẫn thoảng hiện
nỗi băn khoăn.
Sau khi mẹ làm cam đoan cho bệnh viện thực hiện ca mổ, gia
đình tôi lúc nào cũng có người ở bên, tìm mọi cách cho mẹ vững tâm. Tôi tranh
thủ về quê (dối mẹ là đi công tác) bàn với họ hàng việc nhỡ ra mẹ qua đời. Bác
cả bảo: "Chỉ chờ cái điện anh đánh về là tất thảy sẽ lên đưa tiễn thím ấy.
Giờ thì các nhà tiếp tục cắt cử người lên thăm. Chỉ được nói sự vui. Thím ấy mà
nói sang chuyện gở là gạt phắt”.
Chiều hôm ấy mưa. Chỉ còn hai mẹ con trong phòng bệnh. Mẹ
bào:
- Con khép cửa cho khỏi lạnh. Ai vào họ sẽ gọi. Mẹ muốn bàn với
con chuyện này.
Tôi ngồi xuống ghế. Mẹ vào việc:
- Con còn nhớ hồi năm ngoái mẹ kể chuyện ngoài trường không?
- Có ạ.
- Tối hôm ấy con có hỏi sao mẹ chì lướt qua đoạn nuôi cán bộ,
phải không nào?
- Đúng thế mẹ ạ.
- Bây giờ mẹ cho con rõ. Thực ra mẹ không phải là du kích, chỉ
có đẻ làm. Đều đuôi thế này:
Sau khi chôn cất thầy và hai anh, mẹ và đẻ vẫn ở căn nhà nát
bên bở ao. Đẻ nuôi cán bộ nhưng chẳng cho mẹ biết vì không muốn mẹ lụy vào việc
hiểm nguy.
Hôm ấy có tiếng ca-nô phành phạch ngoài sông rồi ập vào bến
làng. Tây càn. Đẻ bảo mẹ ra hầm vì nhà không có đàn ông sợ lính nó ghẹo, đẻ
không ngăn được. Đẻ dặn nhớ cởi áo giấu ở mái chuồng trồ, lúc lên có cái mà vận.
Mẹ làm theo lời đẻ, lội xuống ao, rồi lách vào căn hầm dưới bờ
ao. Hầm ngập nước nhưng chua tới nóc, mẹ ngồi nhô đầu lên thở. Bỗng có người
chui vào hầm, mẹ thốt lên:
"Đẻ đấy à?". Không phải đẻ mà là một người đàn ông.
Anh ta lễ phép xin ẩn nhờ vì hầm anh ta ngập không còn lỗ thở.
Mẹ đuổi ra, anh ta bịt miệng mẹ, bảo: "Chúng nó đến đấy".
Mẹ nghe tiếng chân dậm huỳnh huỵch. Chúng nó quát nhau đào những
chỗ khả nghi ở bò ao tìm hầm. Và chúng đã phát hiện ra hầm. Thế là mẹ và anh
kia bị bắt.
Chúng trói hai người với nhau dí súng vào lưng giải đi khắp
các ngõ. Thằng đội Cường toang toác: "Việt Minh chim gái làng dưới hầm.
Chúng ông bắt quả tang". “Nể mặt các cụ, ông cho chúng nó vận cái quần. Chứ
lúc bắt lên, có quỷ cũng không dám nhìn". Mẹ và anh kia gào lên kêu oan.
Nó bảo: “Ông giao chúng mày cho Tây ngoài ca-nô lĩnh thưởng. Oan thì bầm với
Tây. Nó cho đi tàu bay, tàu ngầm, đến mả bố cũng phải khai ra con ạ".
Nhưng nó chỉ giải anh kia ra ca-nô, còn mẹ nó sai lính dẫn về bốt.
Đêm ấy mẹ ngồi bó gối trong ngách bốt. Đội Cường mở cửa vào cợt
nhả:
- Cho anh góp gạo thổi cơm chung với Việt Minh, anh tha cho.
Mẹ cãi:
- Lui ra. Việt Minh họ không làm thế.
- Thì tao làm. Nói rồi, nó lao vào vật lộn với mẹ.
Mẹ đấm đạp, cào cắn chí tử nhưng không lại, nhục nhã quá! Chỉ
muốn ghè đầu vào tường, nhưng nghĩ mình chết thì ai nuôi đẻ nên lại thôi. . .
Nghe đến đây tôi lạnh người. Lúc này phải dằn lòng để lo ăn
cho sức khỏe của mẹ. Nghĩ vậy tôi cố trấn tĩnh lái câu Chuyện sang hướng khác.
- Mẹ kể là bà chết khi Tây càn lần ấy hả mẹ?
- Khi chúng khui hầm, đẻ chạy ra ẩn ở ruộng dâu bị chúng nó bắn
chết. Sau này mẹ mới rõ. Còn anh là cháu nội đẻ đẻ Thiềng, cơ sự là thế này:
- Đêm ấy, sau khi bị làm nhục, mẹ đang như người mất hồn thì
có tiếng loa từ sông vọng lên: "Thằng đội Cường bắt được gái Việt Minh
không nộp cho Tây. Không thả ra chúng ông báo Tây giết mày". Tiếng loa nhắc
lại nhiều lần. Một tên lính thò đầu vào bảo: “Ông đội tha cho mày, chạy đi”. Rồi
anh ta cúi xuống nói nhỏ: “Ra khỏi bốt phải lăn xuống vệ đê, không là chết dấy".
Mẹ ù té chạy và lăn luôn, đạn chiu chíu sau lưng. Mẹ bơi trên sông một quãng
thì gặp đò đẻ Thiềng.
Đẻ Thiềng đưa mẹ về ở hầm bí mật gần quê đẻ, kể chuyện đẻ ruột
đã được dân làng chôn cất ra sao. Lúc ấy mẹ còn biết trông cậy vào ai nữa, đành
phải kể hết mọi sự với đẻ Thiềng. Đẻ bảo: "Nhỡ ra chị có mang thì... Thằng
con tôi vừa trốn làng đi bộ đội. Tôi nhận chị làm con dâu. Nhà tôi thêm người,
chị cũng đỡ mang tiếng. Bao giờ hết giặc dàn xếp sau”.
Mẹ ốm nghén, đẻ gửi mẹ ra vùng tự do với tư cách là con dâu của
đẻ.
Chuyện bố con hy sinh như thế nào, con biết rồi. Từ ngày ra
vùng tự do mẹ chưa được gặp ông ấy lần nào.Nếu gặp, mà ông ấy cũng thương
mẹ như đẻ Thiềng thì con đã có em.
Nghe mẹ tâm sự tôi mới hiểu, lần nào giỗ bố, mẹ cũng khóc rất
lâu, như ân hận, như tiếc nuối một đều gì chưa làm được cho bố. Câu chuyện của
mẹ làm tôi ngỡ ngàng, tôi nói:
- Bà quá tốt. Con còn nhớ hồi mẹ ngã cầu thang, bó bột. bà
lên ở hàng tháng, đổ bô, tắm giặt cho mẹ.
Mẹ gạt nước mắt, gượng cười:
- Đẻ Thiềng lắm mưu đáo để. Con biết không ? Khi mẹ ra vùng tự
do, đẻ phao tin: "Thằng út đã lấy vợ ngoài chiến khu”. Hòa bình, mẹ
đưa con về thăm đẻ, có người khen con giống bố, thế mới lạ chứ. Chắc là đẻ xúi
người ta nói vậy cho mẹ vui.
- Thế con giống ai hả mẹ?
- Con hao hao giống ông ngoại.
Câu chuyện vừa vui lên một chút, giọng mẹ đã trầm xuống:
- Mấy bận mẹ định cho con biết. Chỉ ngại chuyện quê hương bản
quán biết thu xếp thế nào cho phải... Nếu các bác con làm ăn khấm khá hơn nhà
ta thì lại đi một nhẽ. Đằng này thuần nông, bát cơm manh áo còn là chuyện lớn.
Cũng may mà vợ chồng con không hẹp lòng, bù phụ khá nhiều cho các cháu dưới
quê. Thi thoảng các bác cũng lên biếu con gà, cân gạo, ân tình không rứt ra được.
Hiểu ý mẹ, tôi nói:
- Bên ngoại chẳng còn ai thân thích chỉ có bên nội là gắn bó.
Năm nào mẹ, rồi vợ chồng con chẳng về vài ba bận. Hè, hai cháu về chơi hàng tuần,
đã lội được sông, thỉnh thoảng hai chị em lại í a í ới mấy câu chèo. Chúng nó
biết yêu và cảm thông với quê, đều ấy có tiền cũng không mua được đâu mẹ ạ.
Theo con, cứ để nguyên là đẹp
- Con nghĩ vậy hợp ý mẹ. Chứ khơi ra, phải kể lại sự tình mẹ
cũng xấu hổ không dám làm. Vả lại. Với đẻ Thiềng mẹ có ơn cứu tử. Các con phải
ghi lòng tạc dạ.
Câu chuyện đã dài, tôi mời mẹ nghỉ cho đỡ mỏi. Mẹ tôi gật đầu,
đưa mắt nhìn qua cửa sổ. Ngoài tường rào bệnh viện, mấy bụi tre ngà
đu đưa. Mẹ nói:
- Mẹ xin ông bác sĩ cho về quê vài hôm hẵng lên mổ. Ông ấy bảo:
“Cụ đi bây giờ chưa nên. Đợi mổ xong về khao cả làng cụ ạ". Rõ khéo... Nếu
không có con thì mẹ đã về ở quê từ hồi nghỉ hưu. Ở đây tứ chiếng ngụ cư, tạm
bợ thế nào ấy. Được cái vợ chồng con ăn ở hết lòng, mẹ không mong gì
hơn... Thế mà lắm lúc mẹ cứ lẩn thẩn tiếc cái đận sau cải cách, người ta mời mẹ
về nhận ruộng quả thực. Nền nhà, mảnh vườn còn đó, cũng từng bị người ta chiếm,
nhưng năm năm tư họ di cư vào Nam chẳng đem theo được. Chỉ vì cái tội sính làm
người Nhà nước mà mẹ không về. Giả dụ, hồi ấy mà nghe họ thì nhà ta nay lại cày
cấy như các bác con. Còn khổ, nhưng bù lại, mẹ không bị cái thương, cái nhớ
nó đeo đẳng.
Mẹ tấm tức khóc. Tôi tìm lời an ủi và pha một cốc sữa mời mẹ. Uống
được lưng cốc, mẹ lại dừng lại than thở:
- Trâu chết quay đầu về núi. Còn tôi, biết về đâu! Gái
không chồng chết nằm bên mẹ, gái có chồng ấm mả quê chồng. Tôi vừa là có vừa
là không, biết nằm đâu cho ổn. Phận tôi cay đắng quá!
Nghe câu than của mẹ lòng tôi như muối xát.
Tôi đứng dậy đặt hai tay lên vai mẹ giúp mẹ tĩnh tâm trở
lại.
- Mẹ còn sống lâu mẹ ạ. Khi mẹ trăm tuổi, chúng con sẽ
tìm cách đưa mẹ về quê. Nói để mẹ yên lòng, chứ lúc ấy tôi bị bất ngờ trước ý mẹ.
Làng tôi xưa nay chưa có ai đón người đi xa về chôn cất.
Mẹ tôi lắc đầu:
- Anh không hiểu tôi rồi. Ý tôi là nói chuyện cải táng, quy tập
mồ mả như các họ làng ta đang làm. Còn mai táng thì anh chị cho tôi đi Văn Điển
như các cụ ở đây là được. Mà tùng tiêm thôi, dành tiền đóng học cho các cháu.
Khi bàn chuyện giỗ chạp, thờ cúng tổ tiên mẹ mới xưng tôi, gọi
con cái là anh chị. Trang trọng là thế nhưng sắm sửa lại giản đơn. Mẹ bảo:
"Cúng trước ăn sau, bày vẽ làm gì cho tốn kém. cốt ở cái tâm".
Mẹ rành rẽ:
- Tôi kể tất cả cho anh rõ cũng là để nhờ anh một việc. Anh đừng
quên. Nếu chuyện chẳng lành. Mai táng tôi xong, anh phải về quê thắp hương lên
các mộ báo tin buồn. Và... thắp hộ tôi một nén lên mộ ông đội Cường. Mộ
ông ấy cách phần mộ nhà ta khoảng bốn mươi bước chân về phía tay trái, theo hướng
ông và hai bác anh nằm. Dễ tìm thôi vì có bia khắc tên Nguyễn Trọng Cường, cả
khu ấy không có ông Cường nào khác. Anh nói giúp với ông ấy là tôi không thù
oán gì nữa cho hương hồn ông ấy được mát mẻ.
Hà Nội, tháng Ba, 1996
DIỆT ĐỒN LŨNG MA
Trích truyện vừa Chú bé thổi khèn
Lời giới thiệu: Truyện vừa Chú bé thổi khèn kể
về hai em thiếu nhi dân tộc ít người tham gia du kích trong kháng chiến chống
Pháp. (A Lử em trai người Mông cha mẹ bị giặc giết và Lả em gái người Thái con
ông Đội Muộn và bà Làn điều hành lính Thái trong đồn Tây). Đọan trích dưới đây
nói về việc Lả giấu A Lử trong đống củi dưới gầm nhà sàn. Hai em đã tìm cách phối
hợp với du kích diệt đồn ngay trong đêm hội khánh thành sân bay do Tây Găng chỉ
huy đồn Lũng Ma tổ chức.
Quá trưa thì lần đầu tiên có tiếng máy bay bay thấp, lượn đi
lượn lại rồi đáp xuống sân bay mới làm xong ngay cạnh đồn Lũng Ma.
Tiếng Tây xì xồ, tiếng chó sủa gâu gâu đón khách huyên náo cả
đồn giặc.
Chiều hôm ấy, bà Làn mở hòm lấy quần áo đẹp cho cả nhà mặc. Lả
bôi nước hoa thơm nức. Nó cố tình ngồi xuống trên chỗ tôi nằm, nhỏ một giọt nước
hoa lọt qua kẽ giát rơi đúng bụng tôi làm tôi xuýt bật cười. Qua câu chuyện với
bố mẹ, nó báo tin cho tôi biết chiếu nay cả nhà đi ăn tiệc trên đồn.
Họ đi, chiều tối lại về. Ngồi uống nước, Lả nói:
- Con lấy phần về để đâu hả mẹ?
- Mày say rượu à? Để ở chân bát chứ còn để đâu. Cả nhà đi ăn
mà vẫn lấy phần. Mày tham thế sau này đứa nào nó dám lấy!
- Chẳng ai lấy thì con ở vậy?
Lả thủng thẳng nói, bà Làn réo lên:
- Mày nói gì đấy. Con này điên thật rồi! Vui quá hóa rồ hóa dại
rồi!
Ông Đội Muộn cũng quát:
- Mẹ con mày làm gì mà khỏe cãi nhau thế. Im đi cho tao nghỉ.
Đêm nay phải đốc gác liên tục không được ngả lưng đâu.
Trời tối mịt, tiếng chiêng trống trong đồn nổi lên, chuẩn bị
vào hội xòe. Cả nhà lại lục tục kéo nhau đi. Tôi chui lên, đến chạn bát lấy gói
phần ra ăn. Thịt lợn, thịt gà, bánh tây. Tôi ăn cho kỳ no mà chỉ hết một nửa, lại
gói cẩn thận, đặt vào chỗ cũ.
Tôi trèo lên đầu hồi nhìn ra sân đồn sáng trưng ánh đèn măng
xông. Mấy người đang lố nhố quanh đống củi ở giữa sân.
Đêm hội nào chẳng vậy, chiêng trống thế thôi, còn chán mới bắt
đầu.
Rất lâu sau, tôi thấy bọn lính chạy xuống cổng đồn. Cánh cổng
hé mở, từng cô gái trong đội xòe lần lượt vào, theo sau là vài ba người già cầm
khèn bè, tính tẩu. Bọn lính ngăn từng người lại khám xét, lật cả nón, lắc cả
đàn tinh rồi mới cho vào. Lả chạy xuống đón các chị, các bạn.
Lúc sau Lả chạy về nhà! tôi nhảy xuống hỏi luôn:
- Cái Piềng có báo được tin cho chú Ấng không?
- Có. Nó báo ngay sáng nay, nhưng từ trưa đến giờ không thấy
chú ấy đâu nên cái Piềng không có tin gì cho anh. Anh ngồi trên ấy xem xòe hả?
- Ừ!
- Em đi nhé, phải xòe đến nơi rồi. Có quà cho anh đây! - Nó
giúi vào tay tôi quả táo tây rõ to rồi chạy biến.
Đêm hội bắt đầu. Đống lửa được đốt lên. Các quan Tây cùng với
hai bà đầm và lũ tay sai người Việt ngồi trên hàng ghế kê trước cửa lô cốt. Thằng
Găng ngồi giữa. Bọn lính ngồi xung quanh đống lửa.
Đội xòe Nà Loọng mở màn theo nhịp khèn bè, tính tẩu của mấy cụ
già. Các có gái trong bộ áo dài Thái thướt tha, nâng nón trên đầu dóng hàng
xích từng bước ra sân. Lúc kiễng chân dướn người chao nón về phía trước lúc quỳ
xuống ngả mình uốn hẳn về phía sau, lúc khỏa nón vung tay nhảy tưng tăng, lúc
úp nón khom lưng luồn lách vào nhau chạy trốn. Lúc thẹn thùng nép sau vành nón,
lúc tươi cười vẫy nón mời chào. Đội hình lúc thẳng tiến, lúc lượn vòng, lúc đan
chéo, lúc chụm lại, lúc tỏa ra biến hóa khôn lường. Ánh gương trong lòng nón,
ánh bạc trên hàng cúc vòng tay lấp lánh như trăng sao về đây tụ hội. Xòe Thái đẹp
vô cùng.
Thằng Găng ra trổ tài. Nó thổi khèn Mông rồi múa khèn trên
khúc gỗ. Phải nói là nó làm khá hơn trước khiến khách khứa, binh lính đều vỗ
tay theo nhịp rồi hoan hô nhặng lên. Khách cũng góp vui, một thằng Tây ra thổi
amônica ròn rã, ông trưởng bản Nà Loạng cầm bí thiu ra thổi một bài trầm lắng,
âm u.
Rồi đội xòe lại ra múa tiếp. Có tiếng hô:
- Tắt đèn đi! Có lửa rừng rồi?
Thằng Găng cho tắt đèn măng xông, chỉ còn lửa trại bập bùng
không nom rõ mặt người. Các cô lại xòe tiếp. Tay cầm khăn, tay giỗ quả nhạc,
các cô múa đi múa lại không biết bao nhiêu lần những động tác uyển chuyển nhịp
nhàng nhưng ít thay đổi như điệu xòe trước. Chắc đây là một điệu xòe cổ. Đội
xòe đang múa chậm lại như chuẩn bị chào hết thì có tiếng hô:
- Alasô!
Mấy thằng lính nhảy vào mỗi đứa bế thốc một cô chạy đi.
“Đoàng". "Đoàng" “Đoàng" Tây Găng rút
súng bắn luôn mấy phát, quát:
Các ông không được làm thế! Ai không buông ra tôi bắn.
Bọn lính phải bỏ các cô gái, trở về chỗ ngồi. Đèn măng xông lại
được thắp lên. Từ đầu tôi vẫn để mắt đến Lả. Lúc này không thấy nó đâu. Tôi tụt
ngay xuống, lủi đến khu nhà lính để tìm nó.
Có tiếng "Buông ra - Buông ra" trong nhà lính Tây.
Tôi chạy đến nhìn qua cửa sổ. Một thằng Tây đang vật Lả. Lả cào cắn nó quyết liệt.
Tôi bẻ chấn song vào cứu Lả, lấy hết sức mà song sắt không oằn. Tôi định chạy
ra phía trước thì cửa phòng mở toang. Thằng Găng cầm súng nhảy vào quát:
- Ông phi công! Ông bỏ cô ta ra. Cô ta là con nuôi của tôi.
Thằng phi công đi ra, còn nói với lại:
- Con nuôi. Nuôi lớn rồi thịt. Hề! Hề!
Thằng Găng đến bên Lả. Lả ngồi thừ ra, khép vạt áo bị rách
lên che ngực.
- Cô cứ ngồi đây. Tôi sẽ lấy áo khác cho. Không ai dám làm gì
cô nữa đâu. Thằng Găng nói rồi bước ra, khép cửa lại. Chờ cho tiếng giày nó đi
hẳn, tôi gọi:
- Lả. Lả.
Lả chạy đến cửa sổ, tôi hỏi:
- Có làm sao không?
- Không việc gì đâu chỉ rách áo thôi. Đồ chó! Biết thế em
không vào đội xòe nữa.
- Thế lúc ấy mẹ đâu?
- Mẹ nói chuyện với hai mụ đầm trong phòng khách.
Lả khóc, tôi vỗ nhẹ vào tay nó:
- Nín đi, nín đi Lả. Từ giờ cẩn thận đấy.
- Mà anh về nhà đi. Thằng Găng trở lại bây giờ. Về đi anh! Em
van anh! Anh về đi!
Cánh cửa lại mở, tôi ngồi thụp xuống, Lả quay trở lại. Thằng
Găng hỏi:
- Cô làm gì ở đấy?
- Tôi nhổ nước bọt.
- Đây là áo dài Thái trong bộ sưu tầm của tôi, cô mặc xem có
vừa không?
- Ông ra ngoài đi cho tôi thay áo.
Lát sau lại có tiếng thằng Găng:
- Đẹp đấy, hơi dài một tí!
- Ông đi đi!
- Cô cũng ra đi! Không thấy cô, bố mẹ cô chẳng để tôi yên
đâu.
Lả đành ra theo thằng Găng. Tôi trở lại đầu hồi nhà sàn, tiếp
tục quan sát.
Đêm hội sang phần ca hát tự do thì phải, Tây và lính Thái, ai
muốn lên góp vui cũng được. Ai cũng muốn trổ tài nhưng chẳng mấy ai có giọng
nên buổi liên hoan trở nên lê thê, rời rạc. Trời đã về khuya.
Có tiếng kêu ở phía cổng đồn:
- Piềng ơi! Piềng ơi! Mẹ mày sắp chết rồi!
- Về đi Piềng ơi!
- Mẹ chết Piềng ơi!
- Piềng ơi! Về ngay đi!
Trong tiếng kêu khóc, tôi nghe cả tiếng chú Ấng. Một số người
chạy xuống cổng đồn, Lả cũng chạy theo. Thằng Găng cũng xuống, cho cả đội xòe về.
Lả chạy ra ngoài cổng đồn tiễn các bạn rồi cắp nón trở lại.
Lả không đi lên sân đồn mà chạy thẳng về nhà. Nó hổn hển lật
nón ra, lấy một gói vuông vuông, năng nặng, đưa cho tôi:
- Em vừa gặp chú Áng. Đêm nay ta đánh đồn. Quá nửa đêm thấy
ba phát pháo hiệu bắn lên từ rừng ma thì anh phải cho nổ quả bộc phá này. Chú dặn
anh không được đánh mục tiêu nào cả mà nguy hiểm. Chỉ cốt gây tiếng nổ to trong
đồn để uy hiếp tinh thần địch. Sau đó anh đưa mẹ và em nấp vào một chỗ an toàn
chờ quân ta tới. Bao diêm đây.
Tôi mừng quá, chỉ kịp nghĩ rất nhanh rồi kiên quyết:
- Nổ bộc phá xong, anh phải tìm giết thằng Găng. Em và mẹ phải
tự lo lấy. Tìm nhau sau.
- Em muốn đi với anh, nhưng còn mẹ. Anh đi một mình vậy. Thằng
Găng khỏe lắm đấy. Em lo quá. Hay anh đừng ham giết nó nữa!
- Em quên lời thề rồi sao? Thôi em đi đi! Không thấy em đâu
nó lại tìm, anh dễ lộ.
Lửa trại đã tàn. Thằng Găng cho treo một miếng vải trắng to lên
tường lô cốt, chiếu hình lên đó cho lính xem. Sau này tôi mới biết đó là phim
đèn chiếu. Tới muốn đến xem lắm, nhưng tự nhủ: "Đánh đồn xong, lấy về xem
sau cũng được".
Tôi nghĩ đến các nơi trong đồn để tìm chỗ nhìn pháo hiệu cho
rõ và đánh bộc phá thuận lợi. Cuối cùng tôi chọn chuồng ngựa. Từ đấy nhìn vế
phía rừng ma không vướng mái nhà nào, đặt bộc phá ở chuồng ngựa rồi chạy xuống
nấp sau mấy mô đá gần hàng rào là an toàn nhất. Nhưng nằm ở đó thì không nhìn
thấy giặc làm gì, không thấy được Lả đâu, liệu nó và bà Làn có tìm được chỗ nấp
không. Hay là chọn chỗ khác. Nghĩ đi nghĩ lại, tôi vẫn thấy không có chỗ nào dễ
hoàn thành công việc hơn chỗ cũ.
Tôi ôm quả bộc phá lủi đi. Giấu nó ở mái chuồng ngựa cho cao
ráo, tôi ngồi vào giữa đống cỏ cao ngang ngực, mắt nhìn về phía rừng ma chờ
pháo hiệu.
Cứ độ mười phút, lính lại di tuần. Tôi nằm xuống vơ cỏ phủ
lên người, chờ chúng đi xa lại ngồi dậy. Có lần thằng Găng bấm đèn pin đi đến,
nó nói với mấy tên cùng đi:
- Tụi lính làm giả ăn thật, không tin được! Các ông phải đốc
gác liên tục. Tôi sẽ kiểm tra các ông.
Biết nó chẳng phải tay vừa, tôi rời đống cỏ bò xuống nấp ở
nhà xí. Thằng Găng co chân đá đống cỏ tung tóe. Khi nó xuống nhà xí tôi lủi lại
chuồng ngựa, thế là thoát.
Ngồi chờ pháo hiệu lâu quá, hai đêm liền không ngủ, mắt tôi cứ
díp lại. Tôi đã cắn vào tay, vào chân, lấy cả nước đái ngựa vã vào mặt mà chỉ tỉnh
được một lát. Lắm lúc cứ mê mê tỉnh tỉnh...
Tôi mê tôi cầm cái khèn vừa đi vừa thổi, đằng sau là Lả cưỡi
ngựa, cầm ô về quê thăm họ hàng... Con ngựa hí vang. Tôi quay lại xem có chuyện
gì, thì bao nhiêu con ngựa cùng hí lên...
Tôi bừng tỉnh đã thấy mấy con ngựa trong chuồng hí lên, có tiếng
hô hoán trong đồn. Hay lộ rồi. Tôi hoảng quá. Nhìn về phía rừng ma đã thấy pháo
hiệu đỏ lừ đang rơi xuống. Bắt đầu rồi!
Tôi lấy quả bộc phá xuống định châm ngòi thì có tiếng súng từ
lỗ châu mai ở lô cốt bắn ta tóe lửa. Chắc là chúng thử súng vì sau đó không thấy
bắn tiếp. Sao không tương cho nó quả này nhỉ? Tôi liền ôm bộc phá bò đến lô cốt.
Châm lửa, đợi nó xì xì, tôi dúi luôn qua lỗ châu mai và lăn lông lốc xuống dốc.
Một tiếng nổ inh tai. Tôi dừng lại nhìn lên, khói mù mịt trên nóc lô cốt.
Vừa lúc ấy tiếng đạn nổ ran lên khắp nơi. Tiếng uỳnh uỳnh của
du kích nổ bộc phá đánh hàng rào. Lửa cháy rần rật xung quanh đồn. Tiếng hô của
quân ta, tiếng kêu gào của giặc...
Hà Nội, 1990
QUANG CHUYỀN
- Họ và tên khai sinh: Trần Quang Chuyền
- Sinh năm 1945
- Bút danh: Việt Nguyên, Quang Thanh
- Quê quán: Làng Gốm, Xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch, tỉnh
Vĩnh Phúc
- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 2003)
- Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam
- Tác phẩm chính đã xuất bản:
* Đường qua kỷ niệm (In chung, NXB Việt Bắc, 1975)
* Chùm quả mùa đầu (In chung, NXB Quân đội nhân
dân, 1981)
* Khoảng cuối mùa thu (Tập thơ, NXB Văn nghệ, 1999)
* Hạt giống chim gieo (Tập thơ, NXB Thanh niên,
2000)
* Lặng thầm (Tập thơ, NXB Hội Nhà văn, 2002)
* Mắt đêm (Tập thơ, NXB Thanh niên, 2003)
* Khát (Tập thơ, NXB Văn học, 2005)
* Trở lại cánh rừng (Tập thơ, NXB Quân đội nhân dân, 2006)
* Sông gọi (Tập thơ, NXB Văn nghệ, 2008)
* Chiều đi qua cửa (Tập thơ, NXB Hội Nhà văn, 2009)
* Lục bát không mùa (Tập thơ, NXB Hội Nhà văn, 2011)
* Tiếng vọng dòng sông (Tập thơ, NXB Văn hóa văn nghệ, 2012)
* Thơ tuyển chọn (Tập thơ, NXB Văn học, 2013)
* Thầm thì biển (Tập thơ, NXB Quân đội nhân dân, 2014)
* Bốn câu lục bát (Tập thơ, NXB Văn hóa văn nghệ, 2014)
* Tiếng vọng ngày đi (Tập thơ, NXB Văn hóa văn nghệ, 2016)
- Giải thưởng văn học:
* Giải Ba cuộc thi thơ Văn nghệ quân đội, 2004
* Giải Nhì và giải Khuyến khích cuộc thi thơ Binh chủng thông
tin Bộ quốc phòng
* Giải Nhì cuộc thi thơ lục bát ”Ngàn năm thương nhớ” của
báo Gia đình và Xã hội
* Tặng thưởng Hội nhà văn thành phố HCM năm 2013.
- Suy nghĩ về nghề văn:
Với tôi, thơ ví như người bạn đời ân tình, chung thuỷ. Thơ
giúp tôi giãi bày lòng mình.Tôi đồng hành cùng thơ, ước mong tìm sự đồng cảm, sẻ chia
vui buồn trong cuộc sống…
A- TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ:
QUANG CHUYỀN - MỘT DÒNG SÔNG
LẶNG TRẦM, XOÁY XIẾT
LẶNG TRẦM, XOÁY XIẾT
Kim Chuông
Từ những năm 1969 - 1970 của thế kỷ trước, khi đang là Phóng
viên của Báo Sông Hồng, Quân khu Tả ngạn, tôi đã đọc Quang Chuyền và biết,
chàng thi sĩ này đang là Phóng viên của tờ Báo “Thông tin”, thuộc Bộ Tổng tư lệnh
binh chủng Thông tin liên lạc. Ngày ấy, người viết ít. Mỗi tác giả xuất hiện
trên trang văn nghệ của Báo Văn nghệ, Tạp chí Văn nghệ quân đội, báo Quân đội
Nhân dân, báo Nhân dân, hay báo Tiền Phong, Phụ nữ… Tất cả đều in đậm sự
trân trọng đón mừng cái mới mẻ, tươi xanh, trong cái nhớ, trong ấn tượng
và tâm tình người đọc.
Quang Chuyền, chàng trai sinh ra và lớn lên ở làng Quan Tử,
nơi ngã ba hạ lưu sông Lô và sông Đáy, đất trung du, Vĩnh Phúc. Năm hăm mồt,
hăm hai tuổi, rời trường Sư phạm Việt Bắc vào quân đội. Rồi, gần bốn mươi năm
hành trình trên con đường “đời lính với sự nghiệp văn chương, báo chí”… Để,
Quang Chuyền - “con thuyền cuối đời” lại cập về bến đậu: Nơi Sài Gòn, đất nắng!
Có một quãng mờ xa tôi luôn đọc và quý yêu Quang Chuyền trong
“kiến ảnh, “ít” kiến hình”. Mãi mùa thu năm Ất Dậu, 2005, tôi mới có
duyên trong cái gặp và gắn bó với Quang Chuyến ở một chuyến đi dài.
Gần nửa tháng trời trong đoàn Nhà văn Việt Nam đi thăm và làm
việc tại Bắc Kinh, Trung Quốc, Quang Chuyền “trở lại” trong tôi, trong tình cảm
quý yêu của một thời cùng là người lính. Trong “tâm tưởng ngàn xưa”. Trong “cái
thật”, “cái Có” bên mình. Một “Quang Chuyền, người bạn. Một Quang
Chuyền nhà thơ, thật sự đáng yêu!”.
Ngắm nhìn Quang Chuyền trong nét trầm lặng đến mát lành, dễ
ngỡ, anh là “người nhà Phật”. Với gương mặt vuông, phúc hậu. Ánh mắt hồn nhiên,
trong trẻo, giọng rủ rỉ, nhẹ mềm… Có lẽ, không mấy ai gặp anh lại không đem
lòng tin yêu rồi “mê” cái dung nhan dễ có sức “bỏ bùa” như thế.
Hình như, sự ăn khớp giữa hình thức và nội dung trong
con người Quang Chuyền được sinh ra từ “duyên kiếp” nào ấy. Bạn đọc mấy ai biết,
Trung tá, thi sĩ Quang Chuyền từng là Phó Tổng Biên tập tờ báo, Phó Chủ nhiệm
chính trị Lữ đoàn. Với cuộc đời riêng, anh đã từng gánh chịu không ít gian lao.
Hơn mười tuổi, Quang Chuyền mồ côi cha, một nhà Nho nghèo mới ngoài ba mươi tuổi.
Nhà đông em. Từ bé, Quang Chuyền đã sớm phải ly hương, tự “thân lập thân,” vật
mình làm lụng kiếm tiền giúp mẹ nuôi em và lo ăn học.
Quang Chuyền yêu văn chương và sáng tác những “bài thơ ngẫu hứng”
từ những năm còn là cậu học trò của trường tiểu học. Năng khiếu “bút nghiên”
làm Quang Chuyền sớm nổi tiếng từ khi còn là giáo sinh của một trường Sư phạm.
Để rồi, từ một thầy giáo trẻ vừa mới ra trường, Quang Chuyền đã được chọn về
công tác tại cơ quan của Hội Văn học Nghệ thuật Việt Bắc.
Có chăng, một “ông Cao xanh” nào đó bắt Quang Chuyền, thi sĩ
của nỗi niềm luôn phải gánh chịu một nỗi đau bên lòng canh cánh? Bởi, tự thiếu thời, người con trai tuổi Giáp Thân (1944) này, đã sớm mang nhiều nỗi
gian lao. Bởi, khi tuổi đôi mươi vừa đến, một “tiền đầu bất lợi” của buổi đầu
tiên khi nhịp cầu lứa đôi vừa bắc. Khi bồi hồi trước hạnh phúc của buổi tìm đến
“người mộng mơ” để cùng nhau gửi trao “lời đính ước trăm năm”… Thì bỗng dưng,
chao ôi! Người yêu thương của anh đột ngột qua đời.
Rồi sau đó, lại nữa ! “Người tương phùng tri kỷ” cũng là “người
hôm nay” đã và đang cùng anh đi trên đường cùng chung xây “tổ ấm” lại bỗng chốc
bị tai nạn lao động, làm chấn thương phần não, sau mấy năm hai người vừa trao gửi
lời yêu...
Và như thế, một Quang Chuyền, người con trai họ Trần người
làng Gốm. Một Quang Chuyền người lính. Một Quang Chuyền làm thơ … Thi sĩ Quang
Chuyền đã ra đi từ mạch chảy này và làm nên một “dòng sông riêng anh” trong lặng
thầm, xoáy xiết.
Trước ngoại giới, Quang Chuyền mang nội tâm đầy nặng một góc
lòng. Nhưng, cái thuộc về “thời”. Cái giống như bao chàng trai thuở ấy, Quang
Chuyền phải nén sâu bao nỗi tư riêng. Không gian rộng của một thời “nước nhà giặc
dã” cũng chính là “không gian thơ” mà “Quang Chuyền nhà thơ”, “Quang Chuyền người
lính” đã ý thức, đã biết quên đi cái quên, để “Biết” hướng về “cảm hứng rộng”,
cảm hứng lớn lao của núi sông, dân tộc. Và như vậy, một tầng nổi. Một ngoại giới
cần ôm chứa ở trang viết, ở cảm rung, ở nghĩ suy và trách nhiệm cao cả của nhà
văn trước giá trị hữu ích. Mỗi câu thơ Quang Chuyền là sự tấp dồn của “cảnh và
sự”.
Nhà thơ đi trong thời trận mạc này mải miết hành trình và tái
tạo bóng hình thời cuộc. Những câu thơ bộn bề, thi liệu mang nhiều chất ký. Đây
là “Điệp khúc đường hành quân đường núi”:
Núi
Núi lùi dưới
chân
Núi
Núi chồng
trước mặt
Súng đè vai
nặng rát
Ba lô kéo giật
lùi…
Qua đỉnh dốc
này rồi
Lại nhô lên
đỉnh khác
Hay, khi nhà thơ đứng giữa chiến hào trong “Tiếng gọi tìm đồng
đội”:
Đất ôm thân
thể bạn tôi
Đất sinh cây
cỏ che người gió sương…
Rồi:
Chiến
trường Tây, chiến trường Đông
Sau
bao trận đánh người không trở về
Hình như, thơ “một thời lính trận” của Quang Chuyên cứ dội
lên từ cái gặp, cái thấy, cái ám ảnh thật khó vượt thoát trong máu thịt đời người.
Thi sĩ rưng rưng khi “Trở lại cánh rừng”:
Đâu
bãi khách trăng soi tìm mái lán…
Bom phạt, cây tan, dép mũ lạc người
Cả bia mộ cũng lạc tên tuổi bạn
Chỉ đất còn lưu giữ dáng người thôi…
Hay, khi gặp miền đất đỏ, câu hỏi nhói lòng trong nỗi
đau tâm tưởng:
Đất
nhuộm chi đỏ thế
Lửa chiến tranh điêu tàn
Máu ai loang lòng đất
Chạm vào còn ấm ran
(Có một miền đất đỏ)
Rồi, cả khi “Đêm ngủ cùng bạn”, khi chiến tranh đã lùi xa,
“cái khoắc khoải, chập chờn” vẫn hiện về trong ảo mờ, trong cái gần, hiện hữu :
Đêm phố phường bình yên
Sao lòng xao xác gió
Ngỡ rừng xưa bếp lửa
Cháy bập bùng sáng đêm
Rồi, khi tuổi đời đã trôi về “khoảng cuối mùa thu”, đã trút
khỏi mình màu xanh quân phục, nhưng hình ảnh “lính” trong thơ Quang Chuyền vẫn
tụ kết, vẫn rờn xanh nơi “Phố lính”:
Đi qua gieo neo/ Tháng năm rừng rú/ bây giờ ở phố/ Có
buồn có vui/ Áo lính giăng phơi/ Nói lời của lính… Cuộc sống quen nghiêm/ Nói
gì cũng lệnh…
Có tới 11 tập thơ in chung và in riêng đã lần lượt trình
làng, Quang Chuyền, nhà thơ người lính này đã giành cho thơ sự gánh gồng thật đầy
nặng và đậm “một không gian thơ” từ máu thịt với những chiến trường trận mạc,
những hy sinh mất mát của bạn bầu, của dân tộc một thời thật oanh liệt, vẻ
vang. Những bài thơ hay, câu thơ hay của Quang Chuyền thật tươi xanh cảm xúc.
Những gì là bề bộn, xương xảu của “cảnh và sự”, khi bước vào thơ anh, bỗng lung
linh, bỗng động lên, mang sức loang và gợi.
Cũng như thế hệ nhiều nhà thơ buổi ấy, “chất trữ tình công
dân” trong thơ Quang Chuyền như ai từng “luận” đã lặn vào trong từng nét chìm
khắc của tầng nổi, thuộc về khách thể.
Từ tập thơ đầu tay: “Đường qua kỷ niệm, Chùm quả đầu mùa, rồi
“Khát, Hạt giống chim gieo, Trở lại cánh rừng, Chiều đi qua cửa, Mắt đêm, Khoảng
cuối mùa thu, Lặng thầm, Sông gọi”… Quả thực, thơ Quang Chuyền khá nhìn rõ ở
hai tầng, hai lối mở. Bên vệt dài, khá đậm ở một phía giàu trực giác,
phía của “vô biên độ”. Đến tập thơ “Lục bát không mùa”, bến mở này làm
dòng chảy “thơ Quang Chuyền” bỗng dưng vang động và đọng lắng ở một “kênh” tìm
khác.
Có một Quang Chuyền thứ hai hay Quang Chuyền thứ nhất ? Khi
“nó là nó và đã khác nó”. Khi ta gặp một Quang Chuyền với sự ăn khớp nhiều hơn
giữa “thơ và người thơ” trong cảm rung, trong suy tư, trải nghiệm. Một Quang
Chuyền đằm say, nhân hậu. Một Quang Chuyền da diết, lặng sâu.
Quang Chuyền, lứa nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống
Mỹ. Với hàng chục thi phẩm và khá nhiều giải thưởng giành được từ các cuộc thi
sáng tác văn học trên phạm vi cả nước. Nhưng, từ “Lục bát không mùa”, nhiều bạn
đọc, bạn viết đã vui mừng đón nhận một Quang Chuyền thật ấn tượng và tâm
huyết ở một tập thơ hay, ở thời gian dài vắng thưa, ít gặp ở thi đàn.
Tôi đã nhiều lần đọc đi đọc lại “Lục bát không mùa” để lần nữa
ngắm nhìn trước mắt mình một Quang Chuyền, một giọt nắng trong xanh, ngơ ngác.
Một tâm trạng với niềm yêu dễ quặn thắt, se lòng. Tôi từng bước lần theo Quang
Chuyền để cùng thi nhân trầm tĩnh mà run rẩy, mà chầm vập trước bao nhiêu ngả đời,
lối rẽ.
Nửa buồn
chen lẫn nửa vui
Con sông nước
chảy đầy vơi mấy chiều
Rồi:
Nửa đêm nghe
gió trở mùa
Nhớ thương
hai nửa, lạnh lùa vào tim
Trăng mây nửa
nổi, nửa chìm
Nửa đi
xa khuất, nửa tìm bóng nhau…
Quả tình, Quang Chuyền, trái tim thi sĩ đã hòa vào thiên địa.
Một khoảng sâu được dội lên từ “khoảng sâu” ở giữa chính hồn anh. Thật khó rành
rọt định ra nơi gọi về cái nghĩ. Bởi, từ “sự đến tình” ? Hay “cái tình” ở đây
đã dội lên từ cái nhìn mà nhà thơ “tự thức”.
Ngả này về
phía không em
Lỡ nhau từ
thuở bạc tiền lên ngôi
Ngả này thăm
thẳm mẹ ơi
Người đi để
trống khoảng trời cho con
Rồi:
Tình
yêu giờ khác tình yêu
Còn ai
lấy nghĩa cô Kiều cân đong
Ơi
nàng Tô Thị ngóng trông
Còn ai hóa đá chờ chồng như xưa …
Rõ ràng, ở “Lục bát không mùa”, nét trội vượt trong thơ Quang
Chuyền đã quay về “mạch lắng”. Lấy “cõi sâu tự thân” làm đối tượng, làm “cái
lõi” để khơi sâu, khám phá. Có cảm giác Quang Chuyền luôn chất chứa sầu đong. Bỏ
qua quãng dài, thơ hành trình từ “lối rộng”, Quang Chuyền đã quay về, bám vào
góc hẹp, một khoảng tối “vô thức” của lòng mình để gọi về cái rộng, cái mênh
mông trong cái cảm có sức loang, sức thấm không cùng.
Ví như:
Tiếng chim
lích chích bay chuyền
Dạt theo tiếng
hót về miền vắng chim
Rồi:
Ai nghe tiếng
vọng chuông lòng
Thường đêm đổ
nhịp lẫn trong chuông chùa...
Đấy là
tâm trạng. Nỗi khắc khoải, ưu tư!
Còn đây, phải chăng là cái cảm nặng đằm về nỗi đời, thân phận?
Chuông ru
Ru xót xa người
Tìm trăng, trăng lặn, tìm trời, trời xa
Và,
Ngoài kia cơn gió tái tê
Đêm nay thổi trống lòng quê - Một người ...
Lục bát của Quang Chuyền thật điêu luyện và nhuyễn. “Gam tâm
trạng” và giọng điệu mềm, sâu này làm nên sự kết tinh ở “Lục bát không mùa” một
hiệu quả, hiệu ứng đa chiều, ám ảnh.
Quang Chuyền có nhiều câu thơ hay ở cảm xúc, ở nét tinh tế của
cảm nhận tâm hồn. Ở sự phát hiện, ở cái đích dồn đẩy tới điểm nút của chiều sâu
trong trải nghiệm, suy tư.
Bây giờ mỗi lần nhớ về Quang Chuyền, tôi thường ngân lên câu
thơ anh viết:
Tôi từ
ít nhớ, nhiều quên
Sân ga
lẻ bóng, mình lên một tàu …
Vâng. Câu thơ lục bát thật hay. Rất Quang Chuyền. Nó hiện diện
khá điển hình một Quang Chuyền thấp thoáng trong lặng trầm, hiền dịu. Trong nỗi
niềm, cô đơn và kiêu hãnh nữa ở một lối độc hành.
Quang Chuyền đã và đang đi từ những gì vọng vang của “con
sông riêng mình” như thế. Con sông đi từ làng Gốm, quê anh. Từ ngã ba sông Lô,
sông Đáy, vùng trung du, Vĩnh Phúc đến Sài Gòn, miền đất nắng” yêu thương.
K.C
Quê Trạng, Vĩnh Bảo - Hải Phòng, Mùa Xuân, 2012
LỤC BÁT DỌC DÒNG THƠ
Nguyễn Thụy Kha
Tôi gặp Quang Chuyền mùa mưa 1974 tại sông Bung - Quảng Nam,
sau chiến dịch Thượng Đức. Lúc ấy, Quang Chuyền có chuyến xuyên Trường Sơn cùng
nhà thơ Xuân Miễn và Trọng Tân. Xuân Miễn là nhà thơ đã rất nổi tiếng với tập
“Nhớ miền Đông”. Quang Chuyền và Trọng Tân là cán bộ tuyên huấn thuộc Bộ tư lệnh
Thông tin. Vậy mà sau chuyến đi đó, Quang Chuyền trở thành nhà thơ. Còn Trọng
Tân thì trở thành nhà văn. Hóa ra, Trường Sơn là cái nôi dinh dưỡng tạo ra những
nhà thơ, nhà văn.
Thực ra lúc ấy thì mới gặp mặt, còn tên Quang Chuyền tôi đã
biết từ năm 1972. Khi đó, tôi được biên chế về đoàn thông tin Lam Sơn, nơi
Quang Chuyền đã từng là chiến sĩ. Đơn vị này là đơn vị xây dựng đường dây thông
tin quân sự chiến lược. Họ rất tự hào rằng đơn vị có một nhà thơ Quang Chuyền.
Họ đọc vang cho tôi nghe những bài thơ Quang Chuyền làm về đại đội 2 kiên cường,
đại đội 6 anh hùng. Đây là đại đội mà tôi được vinh dự làm chiến sĩ. Có một người
còn thuộc cả bài thơ Quang Chuyền đã từng in trên tạp chí Văn nghệ Quân đội từ
năm 1968. Đấy là bài “Chiều thành Tuyên”. Anh ta đã độc đầy hào sảng: “Chiều
thành Tuyên/ Nắng khép dần cửa sổ/ Đáy sông Lô nở chùm hoa lửa/ Chim về sải
cánh qua soi/ Sóng thở bồi hồi/ Giục phà sang Nông Tiến…”. Tôi nghe mà
ngưỡng mộ. Hóa ra, càng đi vào đời thường, càng thấy đời thường luôn tự hào về
những người lớn dậy từ nơi bình thường của họ. Hôm gặp Quang Chuyền ở Quảng
Nam, tôi thấy mến anh vô cùng. Vậy là người làm thơ cũng chỉ là người bình dị
như ta. Anh hào hển kể về những cảm xúc anh gặp ở Quảng Trị, ở Thừa Thiên dọc
Trường Sơn. Chuyến xuyên Trường Sơn này đã mang đến cho Quang Chuyền một mùa gặt
bội thu. Mùa gặt ấy đã được trình làng qua tập thơ in chung “Chùm quả mùa đầu” ở
Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân đầu thập kỷ 80 thế kỷ trước. Đó là những “Buổi
sáng ở A So”, “Đồng bằng của núi” …
Binh chủng thông tin là một binh chủng kỹ thuật quân đội. Đặc
thù của nghề thông tin có chất thơ lãng mạn của nó. Làm sao không thơ khi hai tổng
đài viên không hề nhìn thấy nhau mà chỉ quen nhau qua giọng nói dọc đường dây.
Làm sao không thơ khi hai báo vụ viên không hề nhìn thấy nhau mà chỉ quen nhau
qua tín hiệu moóc tịch tà năm tháng vượt không gian… Có lẽ vậy mà thời chống Mỹ
của chúng tôi, binh chủng thông tin đã có khá nhiều nhà thơ như Nguyễn Duy, Phạm
Đức, Anh Ngọc, Phạm Phú Nhân, Nguyễn Trung Thu … Quang Chuyền và tôi- Nguyễn Thụy
Kha. Mảng thơ làm về binh chủng thông tin của Quang Chuyền là mảng thơ khá đặc
sắc. Quang Chuyền luôn tìm một cái tứ vững chãi để triển khai giọng điệu trữ
tình thường có ở trong anh. Viết về đường cáp thông tin chôn trong đất, anh có
“Cầu vồng trong đất”. Viết về đường cáp vượt sông, anh có “Sông dưới lòng
sông”. Viết về các tổng đài dã chiến, anh có “Mái lán giữa rừng”, “Tổng đài chiến
dịch”, Hai đầu đường dây”, “Nhịp chuông điện thoại nhà Bác”. Viết về các trạm
thông tin tiếp sức, anh có “Lời cây cột ăng ten”, “Hoa trên vách đá”. Viết về
những người báo vụ, anh có “Tiếng nói bàn tay”, “Bầu trời âm thanh”. Bài thơ
“Tiếng nói bàn tay” và “Nhịp chuông điện thoại nhà Bác” của Quang Chuyền đã được
nhạc sĩ Văn An và nhạc sĩ Trần Huy Thanh phổ nhạc và lan truyền sâu rộng trong
binh chủng. Dù là lính thông tin thì Quang Chuyền trước tiên vẫn là người lính
đích thực.
Từ năm 1982, khi anh và tôi cùng công tác tại phòng tuyên huấn Binh chủng Thông tin, nhiều bài thơ lính của Quang Chuyền, tôi đều là người đầu tiên được nghe. Bài nào cũng vừa vạm vỡ tráng ca, vừa se sắt nỗi niềm. Đó là những “Điệp khúc hành quân đường núi”, “Thơ viết ở rừng”, “Sương”, “Hoa ở đồi không tên”, “Khi rừng có dấu chân”, “Tiếng gọi tìm đồng đội”, “Đồng đội ơi”… Khi cởi áo lính, nhất là khi chuyển vào ở Sài Gòn, bằng cặp mắt của một cựu bình, Quang Chuyền cũng có những bài thơ rơm rớm cảm thương cho số phận con người. Những bài như “Trước cổng nhà ai”, “Một thoáng chiều buồn”, “Sóng phố Sài Gòn”…
Từ năm 1982, khi anh và tôi cùng công tác tại phòng tuyên huấn Binh chủng Thông tin, nhiều bài thơ lính của Quang Chuyền, tôi đều là người đầu tiên được nghe. Bài nào cũng vừa vạm vỡ tráng ca, vừa se sắt nỗi niềm. Đó là những “Điệp khúc hành quân đường núi”, “Thơ viết ở rừng”, “Sương”, “Hoa ở đồi không tên”, “Khi rừng có dấu chân”, “Tiếng gọi tìm đồng đội”, “Đồng đội ơi”… Khi cởi áo lính, nhất là khi chuyển vào ở Sài Gòn, bằng cặp mắt của một cựu bình, Quang Chuyền cũng có những bài thơ rơm rớm cảm thương cho số phận con người. Những bài như “Trước cổng nhà ai”, “Một thoáng chiều buồn”, “Sóng phố Sài Gòn”…
Nhưng cái mạch thơ ám ảnh dọc đời thơ Quang Chuyền, ám ảnh nhất
chính là mạch lục bát dân tộc. Trong suốt 3 phần thơ của tuyển tập là “Từ nguồn”,
“Theo sông”, “Về biển”, ám ảnh lục bát vẫn là ám ảnh chủ đạo, chi phối thi pháp
của người thơ.
Lục bát Quang Chuyền thời kỳ đầu cũng giống lục bát của nhiều
người thơ khác. Đó là tự sự, là tả, là tiểu đối truyền thống. Ví dụ như: “Vào
rừng mới biết lòng rừng/ Mênh mông là lá, điệp trùng là cây…” (“Thơ viết ở
rừng”.4.971), “Hương cau thơm suốt ngày dài/ Em về Nông Tiến nhớ hoài Mỹ
Lâm…” (“Thơ viết về Hương Chu”.6.1973). Dần dà Quang Chuyền bắt đầu vượt
qua cổ điển, dùng câu lục bát để chờ những ngẫm nghĩ mới: “Con tàu như chạy
vòng quanh/ Vòng quanh vẫn thấy viền xanh chân trời” (“Từ ô cửa con tàu
đang chạy”.4.1977), “Xa kia có sóng đồng vàng/ Con cò vỗ cánh bay ngang
chân trời” (“Phía sau bờ tre”.1979), “Chợt nghe gió mách thầm thì/
Chim gieo hạt giống cũng vì thương cây” (“Hạt giống chim
gieo”.1982), “Đường Đà Lạt một mình tôi/ Vắng em lạnh vắng cả trời cao
nguyên” (“Chút tâm tư Đà Lạt”.1985). Lục bát Quang Chuyền đã ngày càng
không cần lụy vào tứ thơ mà bước thẳng tới luận đề vừa cổ điển, vừa hiện đại. Tất
cả tinh thần ấy nằm trong bài thơ “Tự họa” mà tôi rất thích sự thành thực này:
Ta là một gã nhà quê
Bước đời không định, lạc về phố đông
Bữa cơm thường thích cua đồng
Dưa chua, tương mặn, cải ngồng bãi soi
Khát khao sau khuất tường vôi
Đêm mơ tiếng ếch vọng nơi chân giường
Sông bươn chải, sóng tha hương
Trái tim trao tặng con đường nổi trôi…
Thơ Quang Chuyền lay động ở sự bình dị, không lấp lánh, không
trang điểm, nhưng ẩn chứa rất nhiều nỗi đời chìm nổi. Quang Chuyền cứ đi từ tốn,
không vội vã, không khoa trương như cứ từ từ ngấm vào hồn người như một thứ rượu
quê cất bằng nước giếng mạch ngầm vùng đồi trung du, bằng men đời lính ủ cùng
tâm hồn “gã nhà quê”. Thơ này uống nhiều, khéo say lúc nào chẳng biết:
Thời gian được rót tràn ly
Uống cho vợi bớt những gì đầy vơi…
N.T.K
B- MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU:
PHÍA SAU BỜ TRE
Phía sau bờ tre là làng
Là cha, là mẹ, họ hàng anh em
Bóng tre hắt chéo bên thềm
Mái nhà nấp dưới dịu hiền bóng tre
Ấy nơi năm tháng đi về
Nơi ta trao gửi lời thề cho ai
Lời thề xanh tựa buổi mai
Xanh như câu hát đậu ngoài bờ tre
Nơi này ta gọi là quê
Là nơi yên tĩnh một bề lòng anh
Là nơi đùm bọc rách lành
Củ khoai hạt lúa nuôi mình lớn khôn
Là nơi mẹ trao cho con
Câu ca từ quả cau tròn bổ ba
Con mang sức vóc của cha
Tấm lòng của mẹ, màu da của làng
Xa xa kia sóng đồng vàng
Con cò vỗ cánh bay ngang chân trời
Dập dìu đâu đó à ơi
Vầng trăng đậu nóc mái gồi bình yên
Con đường anh đi cùng em
Từ nơi ngõ nhõ ra miền xa xôi
Câu ru xanh suốt một đời
Tiếng tre đưa võng làm lời khúc ru…
Làng Gốm - Sơn Đông, 1979
XÓM NHỎ VÀO HÈ
Xóm nhỏ vào hè
Bờ tre thay lá
Đồng quen, đồng lạ
Man mác hương bay
Hạy cựa trong cây
Mầm lên uống nắng
Có đàn cò trắng
Kéo trời lên cao
Ếch kêu bờ ao
Mưa rào ngấp nghé
Bầy chi se sẻ
Gọi mùa ríu ran
Bên miệng hố bom
Luống khoai mập nhựa
Trong lòng hố bom
Cánh bèo tở mở
Dưới đáy hố bom
Bầy cua sinh nở
Nghe như đất thở
Sinh sôi ước mơ
Bóng mẹ già nua
Nắng vàng tơ dệt
Mẹ giặt áo rét
Cất đi mùa đông
Tấm lưng thêm còng
Mỗi ngày bom dội
Thơm lừng hương bưởi
Bay rối tóc ai
Nghiêng nghiêng đường cày
Em giao mùa bắp
Chừng như bắt gặp
Sáng hè chia tay
Hạt bắp căng đầy
Tách mầm bỡ ngỡ
Nghe vành nôi nhỏ
Vo tròn bóng tre
Thức dậy bầy ve
Làm xanh mắt pháo
Mùa hè khoác áo
Thắm màu nguỵ trang.
Khu
Bốn, 1969
TRỞ LẠI CÁNH RỪNG
Tôi trở lại cánh rừng thuở trước
Ký ức một thời chìm lấp sau cây
Dưới lớp lá…
Nơi nào in chân bước
Ngã ba nào…
Tôi với bạn chia tay…?
Đâu khoảng suối kỳ lưng nhau tắm táp
Đâu chạc ba cây mắc võng, treo nồi
Đâu bãi khách trăng soi tìm mái lán
Đâu con đường ba lô cõng mưa rơi?
Và đâu nữa đêm đất rừng chảy máu
Bom phạt, cây tan, dép mũ lạc người…
Cả bia mộ cũng lạc tên tuổi bạn
Chỉ đất còn lưu giữ dáng người thôi…!
Rừng ơi…
Bạn ơi...
Tha lỗi cho tôi
Chẳng kịp nhớ nơi bạn từng nằm lại
Ta mất nhau rồi
Còn lại rừng thôi…
Ngược đường về
Ký ức xa xôi
Thấy thấp thoáng
dáng người
Trong mây trắng
Mghe đâu đó
ai cười bên sông vắng
Ngã ba nào…
Tôi với bạn chia tay…?
Quảng
Đà - Viết sau chiến tranh
KHOẢNG CUỐI MÙA THU
Tôi - khoảng cuối mùa thu
Một chút vàng của nắng
Một trăng vàng bình lặng
Lá rơi vàng nghĩ suy
Ngày thu vội vàng đi
Sau chiều vàng khuất lấp
Đêm lạnh se mặt đất
Gió thu vàng mênh mông
Phía trước là mùa đông
Con đường xao xác lá
Phía sau kia mùa hạ
Lấp chìm vào cơn mưa
Ở khoảng giữa mùa thu
Đất đai không còn trẻ
Gió thổi không còn khỏe
Sắc trời thường ưu tư
Ở khoảng cuối mùa thu
Ước mơ vàng trái bưởi
Hoa cúc vàng gió thổi
Nỗi buồn vàng sau, xưa
Tôi - khoảng cuối mùa thu
Một chút vàng của nắng
Tôi - khoảng cuối mùa thu
Một khoảng đời thầm lặng.
1998
KHOẢNG KHUẤT
Tôi thường đi giữa phố đông
Bóng mình đổ xuống khoảng không của đời
Đôi khi em nhận nhầm tôi
Đôi khi tôi lẫn vào người lại qua
Đôi khi xa chẳng là xa
Đôi khi mình chẳng nhận ra quanh mình
Đôi khi thành sự vô tình
Đôi khi ta thoáng giật mình với ta…
Để rồi thấy giữa bao la
Có một khoảng khuất đi qua cuộc đời.
Tân
Bình
TIẾNG NÓI BÀN TAY
Thân tặng bộ đội Thông
tin liên lạc
Chả nhìn thấy em đâu
Bởi em ngồi khuất quá
Chưa gặp em lần nào
Chẳng hiểu sao nhớ lạ
Hai phương trời mấy ngả
Bắc nhịp cầu âm thanh
Nơi em đến nơi anh
Giăng hai chiều thương nhớ
Anh nghe từ phía đó
Tín hiệu bay bổng trầm
Giũa xô bồ tạp âm
Anh nhận ra tiếng bạn
Anh nhận ra tiếng sạn
Trong nhịp sóng không đều
Anh thấy vẻ yêu kiều
Trong điệu rung tín hiệu
Cái khoảng xa kỳ diệu
Cho chúng mình gặp nhau
Nào biết em ở đâu
Qua bao chiều gió thổi
Em giữa lòng đồng đội
Sao đôi lúc lãng quên
Lời em gửi trăm miền
Nào mấy ai biết tới
Nói nhiều hơn tiếng nói
Ơi bàn tay lặng yên
Làm câu hát trái tim
Ơi bàn tay se chỉ
Bao nhiêu lời thủ thỉ
Trong hạt lúa, củ khoai
Bao hơi mát bầu trời
Trong bàn tay ấm nóng
Ơi bàn tay phát sóng
Suốt một thời chiến tranh
Sao bàn tay lặng thinh
Khi chúng mình giáp mặt?
1982
SÓNG VỖ BÊN TRỜI
Kính tặng làng Gốm, Sơn Đông
Mỗi khi thầm gọi: Gốm ơi
Lại nghe sóng vỗ bên trời dòng sông
Lại nghe bùn đất đồng Đông
Nắng mưa còn lặn phập phồng trong da
Lại nghe bước mẹ chợ xa
Rạn vai sương gió chưa qua phận nghèo
Lại nghe trăm ngả đường yêu
Đi đâu cũng gặp tím chiều em qua
Lại nghe thăm thẳm sâu xa
Nỗi quê thức vọng tiếng gà cầm canh
Lao xao sóng dội Bến Đình
Lở bồi năm tháng… lòng mình lao xao…
Thu
2003
Nơi ấy bây giờ xanh lá
Đất mờ dấu tích ngày xưa
Nơi ấy lặn sâu ký ức
Lấp vào ngày nắng, ngày mưa
Nơi ấy có chi vương lại
Họa chăng chiếc dép lẻ đôi
Nơi ấy khuất trong tê tái
Hoạ chăng vài mảnh xương rời
Nơi ấy bóng mây còn nhớ
Lửa đêm khói đạn thiêu trời
Nơi ấy dáng cây còn nhớ
Xác người, xác mảnh trăng rơi…
Nơi ấy không gì để mất
Lắng sâu thăm thẳm cõi người!
Đường 14, năm 2007
NỬA TRỜI TRĂNG KHUYẾT
Kính
tặng gia đình người mẹ mất con
Từ ngày vắng bặt tin anh
Hình như một nửa trời xanh nhạt màu
Chiến trường khuất nửa xa sâu
Mây đêm vương nửa khuyết vào vầng trăng
Nhà ta nửa lệch, nửa bằng
Nắng chênh nửa sáng, sương giăng nửa chiều
Cây nhang cháy nửa liêu xiêu
Tóc em nửa bạc bởi nhiều buồn đau
Mẹ ngừng nhai nửa miếng trầu
Lặng nhìn tấm ảnh nửa màu phôi phai
Thương con lòng mẹ chia hai
Nửa sau khung cửa, nửa ngoài mái hiên
Ruộng nhà hai nửa mùa chiêm
Nửa phơi nắng hạn, nửa chím lũ mưa
Thiếu người cày sáng, cuốc trưa
Khuyết, tròn hạt lúa nửa múa trồng gieo
Nhà chia nửa sáng, nửa chiều
Mới qua được nửa kiếp nghèo rạ rơm
Giá mà còn đủ mặt con
Mẹ đâu nên nỗi nửa buồn, nửa lo
Nửa đêm nghe gió trở mùa
Nhớ, thương hai nửa, lạnh lùa vào tim
Trăng mây nửa nổi, nửa chìm
Nửa đi xa khuất… nửa tìm bóng nhau…
Đêm cuối 2009
KIẾP PHÙ SINH
Tạm vắng nơi này, tạm trú nơi kia
Ở hai phía âm dương đều tạm cả
Kiếp phù sinh bay vèo như mảnh lá
Lúc hóa thành cát bụi vẫn long đong
NGẮM BẠN
Vừa thoáng đấy… đồng đội thành già cả
Đã ông, đã bà móm mém gọi tên nhau
Nhắc kỷ niệm ở rừng cười rơi hàm răng giả
Ngắm bạn cười… vui quá… hóa niềm đau…
BẾN LẠNH
Cầu dựng lên, dòng sông chừng hẹp lại
Bến cũ không phà rêu cỏ chen xanh
Nước cứ chảy sóng hôn bờ bãi
Thương trăng khuya qua bến lạnh một mình…
Bến
phà NT
Ở NƠI… LÀNG ẤY
Ở nơi thiếu vắng đàn ông
Như nhà thiếu cột, như sông vắng thuyền
Ở nơi thừa thãi trinh nguyên
Là nơi gái hóa thành tiên cõi người
Đũa đôi mà chả thành đôi
Mâm cơm kê lệch, chỗ ngồi để hoang
Chỉn chu cũng hoá hoang toàng
Là làng sao thiếu hồn làng… người ơi…
Thương thay kiếp trẻ chào đời
Mồ côi từ ở bụng người mang thai
Làm cha bé ấy… là ai…?
Cái câu hỏi… cứ giằng dai… nỗi niềm
Đời người đau đáu triền miên
Chiến tranh mòn khuyết trăng liềm trời cao
Có trầu đời thiếu quả cau
Người tan phía ấy… người đau nẻo này…
Ở nơi âm khí giăng dày
Dòng sông vỗ sóng hao gày chảy qua
Ở nơi thiếu vắng người cha
Người ơi làng ấy có là làng không?
Sài
Gòn 7-2001
BẾN XƯA
Thuyền xưa đậu ở bến này
Người xưa chèo lái đưa ngày qua sông
Mái chèo khuấy đục hừng đông
Mẹ tôi sang chợ gánh gồng tiếng rao
Dòng sông có tự khi nào
Ai đem trăng khuyết neo vào bến quê
Tôi đi từ bấy chưa về
Thành ra lỗi một lời thề với sông
Còn đâu đò chở những dòng ca dao
Cầu vồng bắc nối chiêm bao
Bến sông từ ấy khuất vào dòng sông
Tôi tìm bến cũ, người không
Chỉ nghe sóng vỗ phập phồng bãi xa…
Xuân
2003
LY THỜI GIAN
Thời gian được rót tràn ly
Uống cho vợi bớt những gì đầy vơi
Này ly cho khoảng lỡ thời
Này ly cho một đoạn đời long đong
Này ly cho quãng đường vòng
Này ly cho bước tận cùng là đâu…
Ly vui ta trộn ly sầu
Tay ta, ta tự cụng vào ly ta
Cầm năm, cầm tháng rót ra
Trong ly lóng lánh toàn là hư không…
Thu
2007
THÊM CÂU LỤC BÁT
Thêm câu lục bát không mùa
Dẫu trời phai nắng, bạc mưa cũng đành
Cầm bằng lá chẳng còn xanh
Thì trao cho gió chút tình của cây
Nâng câu lục bát lòng tay
Thấy đêm đang đến, biết ngày đang qua
Nắng tan chiều xế trứơc nhà
Chợ tan buổi chợ, người xa khuất người
Nâng câu lục bát rụng rơi
Vì duyên, vì phận, vì đời cho nhau
Còn chi ở phía ngày sau
Có chăng vương lại niềm đau tay cầm…
Ngày
12-2-2012
SÔNG NGƯỢC DÒNG TRÔI
Dòng sông trôi ngược vào thơ
Chuyến xe kéo ngược cơn mơ về làng
Ngược chiều gió bấc tôi sang
Ngược tìm bến cũ lỡ làng ngày xưa…
Lão nông vác ngược cày bừa
Gió chiều hất ngược cơn mưa ướt người
Trẻ trai ngược phố lâu rồi
Đồng quê xuôi ngược xa thời đã xa
Ngược về ngã bảy, ngã ba
Ngược cùng âm điệu câu ca khác rồi
Tôi giờ đi ngược vào tôi
Tìm về dòng ngược sông trôi của làng…
2012
HOÀI NIỆM LỜI RU
Lời ru thưa thớt dần dần
Câu ru quên ý, lạc vần rụng rơi
Thoảng thi gặp giọng à ơi
Khuất trong xa vắng đất trời chốn quê
Nhớ ơi kẽo kẹt tiếng tre
Đâu thuyền géch bến chờ nghe sông hò
Nhớ ơi guốc võng mòn trơ
Trăng say giấc ngu nằm mơ hiên nhà
Nhớ ơi tiếng mẹ, lời bà
Câu ru thủa ấy đã xa theo người!...
Con tôi giờ khác thời tôi
Nựng con chẳng mượn nhờ lời ru xưa
Sáng chiều mẹ đón, cha đưa
Cháu vào nhà trẻ lúc vừa “thôi nôi”
Nếp ăn, nếp ngủ, nếp chơi
Lên mầm, lên lá, lên chồi ước mơ
Nào ai còn nhớ tiếng ru
Sông trôi, nước chảy bây giờ về đâu?
Mùa
khô 2010
GIÁ NHƯ NGÀY ẤY
Giá như ngày ấy không mưa
Giá như đừng gặp đong đưa ánh nhìn
Thì đâu… nên nổi, nên chìm
Thì đâu… suốt cả đời tìm bóng nhau…
CÁI LÚM ĐỒNG TIỀN
Thà rằng lụt biển, lũ sông
Sa chân lỡ bước… chết trong nổi chìm
Nào hay cái lúm đồng tiền
Bé ti, bé tẹo cũng dìm chết nhau
SỢI TÓC
Lạ lùng là sợi tóc em
Vừa thơm, vừa ấm, vừa mềm, vừa dai
Rối ren thắt buộc sơ sài
Một đời anh vướng… gỡ hoài không ra
CHIỀU THU NÁN LẠI
Lơi rơi từng mảnh lá bàng
Nắng vàng từ đất vàng lên
Chiều thu nán lại trước thềm nhà ta.
* Thơ trích trong
tập “Bốn câu lục bát”
THẦM THÌ BIỂN
Em vẫn thường gặp biển
Ở phía này cơn mưa
Thầm thì bao nhiêu chuyện
Khép mở từng trang thư
Chập chờn dòng tin điện
Em hình dung biển bờ
Biển có đâu xa mờ
Khi lòng người nhớ biển
Đâu đảo nổi, đá chìm
Bóng người xa ẩn hiện
Nỗi nhớ neo thành bến
Người đi xin yên lòng
Ơi mênh mông, mênh mông
Em lắng từng tiếng sóng
Chiều nay mưa thoáng bóng
Ngỡ gặp người trong mưa …
2012
VẦNG TRĂNG TÂM SỰ
Đã lâu rồi tôi gặp lại vầng trăng
Dẫu tôi biết đêm đêm trăng vẫn thường qua cửa
Đâu chỉ đêm nay
Ngàn đêm sau nữa
Trăng ngự bầu trời như lẽ đương nhiên
Tôi nhiều lần ví trăng như em
Trăng có phải em đâu
Sao vơ quàng làm vậy?
Trăng là trăng, và em là em ấy
Có nỗi niềm gì…
Em tựa như trăng?...
Ai mượn trăng, làm cớ đãi đằng
Với tôi ấy…
Nhiều điều chỉ riêng trăng biết
Dẫu xa xôi… trăng vô cùng thân thiết
Tôi thầm thì tâm sự để trăng nghe….
Trong tôi lạnh đông
Pha ấm nắng hè
Sau cuộc chiến trở về
Giấc mê thường gặp sấm
Tôi là nùn rơm, lửa ấm
Mẹ nhen từ than bếp mái nhà quê…
Giờ mẹ không còn
Ngưới cũng đã xa chia
Lắng lại nơi tôi
Vầng trăng tâm sự
Một đời lấy khoảng trời làm chỗ trọ
Mình soi mình để thấy kiếp nhân gian
Gửi vui buồn vào trăng,vào em
Vào khoảng vắng vơi đầy toàn những gió
Đã lâu lắm đêm nay nhìn trăng tỏ
Tôi hòi thầm
Trăng có nhớ nhau không?...
Đêm thu Sài Gòn 2014
GẶP TRÊN MUÔN NẺO ĐƯỜNG ĐỜI
Vẫn là mái lợp, tường quây
Vẫn dòng sông chảy, vẫn cây xanh mùa
Vẫn kia buổi chợ bán mua
Vẫn người khát nước, vẫn thừa nắng nôi
Vẫn đi muôn ngả đường đời
Ngõ quê thì hẹp, chân trời thì xa…
Người vào lối rẽ vi la
Người bươn nẻo vắng, bóng nhà khuất mây
Đi qua thăm thẳm đất này
Ai tìm ai ở tháng ngày chiêm bao
Nhịp quê vốn nhịp ca dao
Ai mang nhạc rốc pha vào nhịp quê?...
Tôi theo xa lộ tìm về
Ngỡ mình trôi lạc cơn mê phố làng
Đình chùa miếu mạo sửa sang
Ruộng nương co hẹp, nghĩa trang thêm nhiều
Nghe sông kể chuyện giàu nghèo
Gặp mưa trong nắng, gặp chiều tân trang…
Cầu giăng nối phố vào làng
Chuyến xe chở nắng muộn màng đi đâu?...
Xa lộ Nội Bài - Lào Cai, tết 2015
THÁI VƯỢNG
- Họ và tên: Thái Vượng
- Quê quán: Xã Tam Sơn, Huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc
- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 1996)
- Tác phẩm chính đã xuất bản:
* Dòng máu (Tiểu thuyết, 1978)
* Bão tan (Tập truyện ngắn, 1979)
* Mùa hoa gạo (Tiểu thuyết, 1982)
* Những con đường trên mặt nước (Tiểu thuyết, 1985)
* Vùng đất chưa im tiếng súng (Tiểu thuyết, 1985)
* Sáng ấy mưa rơi (Tiểu thuyết, 1993)
* Màu thời gian (Tập truyện ngăn, 1997)
- Giải thưởng văn học:
* Giải A, Báo Văn nghệ giải phóng, 1976
* Giải Hùng Vương của Hội VHNT Vĩnh Phú, 1986
* Tặng thưởng của Báo Văn nghệ quân đội, Văn nghệ Thành phố Hồ
Chí Minh…
A- TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ:
VỀ NHÀ VĂN MIỀN ĐÁ DỰNG
Nhà văn Thái Vượng sinh ra và lớn lên tại làng Ao Gỗ, Xã Tam
Sơn, Huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. (Tục gọi là Làng Gáo, Thái Vượng thường
đề làng Gáo trong mỗi tác phẩm của mình). Nay là thị trấn Tam Sơn, Huyện
Sông Lô, Vĩnh Phúc.
Xuất thân từ một gia đình nho giáo nghèo, ông là con thứ hai
trong năm anh chị em. Cha làm nghề dạy học và bốc thuốc bắc, Mẹ làm nghề nông
và trồng dâu nuôi tằm, năm tháng tuổi thơ của Thái Vượng vô cùng vất vả, sớm phải
bươn trải với cuộc sống mò cua, bắt ốc để mưu sinh, có lẽ vì thế mà từ bờ ao,
góc ruộng đến những bụi tre của làng Ao Gỗ đã gắn vào nghiệp văn chương của ông
sau này. Trong một bài thơ ông đã viết:
"Tôi nghèo lắm, Mẹ, Cha tôi nghèo lắm
Suốt một đời chủ nghĩa với lương tâm
Cha dạy học, ngâm thơ và chữa bệnh
Mẹ sớm khuya, canh cửi ruộng đồng"…
Hay như truyện ngắn "Mùi bùn" của ông được nhà
Biên kịch Nguyễn Thị Thu Huệ chuyển thể thành kịch bản phim truyện năm 1997.
Thái Vượng nhập ngũ năm 1967, khi vừa học song lớp 9 cấp III
trường Huyện. Ông từng tham gia chiến đấu hầu khắp các chiến trường Miền Nam những
năm chống Mỹ, đặc biệt là chiến trường Miền Đông Nam bộ, vùng Bảy núi An Giang.
Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam năm 1975, ông lại tiếp tục hành quân lên
đường làm nghĩa vụ Quốc tế trên đất bạn Campuchia.
Năm 1979 Thái Vượng được Quân Khu 7 điều ra Hà Nội tham dự Lớp
viết văn Nguyễn Du, khóa I cùng với Nhà văn Nguyễn Ngọc Mộc và nhà văn Lê Văn Vọng.
Tháng 2 năm 1979, cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra,
một lần nữa ông cùng với anh em văn nghệ sĩ (Nhà văn Lê Văn Vọng nói là
các nhà văn trung úy) lại lên đường ra trận. Nhiều bút ký, phóng sự, thơ của
ông được đăng tải kịp thời trên báo trí, mang tính thời sự, vạch trần tội ác
tàn bạo của quân thù đối với đồng bào ta ở các tỉnh Biên giới phía Bắc, đồng thời
ca ngợi những tấm gương chiến đấu dũng cảm của quân và dân ta để bảo vệ Tổ quốc,
bảo vệ cuộc sống của đồng bào nơi địa đầu Đất nước.
Năm 1982, sau khi hoàn thành khóa đào tạo viết văn Nguyễn Du,
Thái Vượng về công tác tại Tạp chí Văn nghệ quân đội, số 4 - Lý Nam Đế (Cục
Tuyên huấn, tổng cục Chính trị) ). Năm 1996 làm Chủ nhiệm Nhà
văn hóa Tổng cục công nghiệp, quốc phòng và kinh tế.
Có thể nói cuộc đời của ông gắn liền với những trận mạc, với
những chuyến đi, cây súng và cây bút luôn là vũ khí để ông viết và chiến đấu
không ngơi nghỉ trong suốt 33 năm, 5 tháng cho đến ngày ông rời xa đồng đội,
người thân để về với cõi vĩnh hằng, (Thái Vượng mất tháng 11 năm 1996, do
bị nhiễm chất độc da cam thời chiến tranh).
Điều đó được thể hiện qua các tác phẩm văn học mà Thái Vượng
đã để lại, có thể kể đến một số tác phẩm tiêu biểu như: 5 tiểu thuyết:
"Dòng Máu" (In chung với Ngô Quang Nam), "Mùa hoa gạo",
"Những con đường trên mặt nước", "Vùng đất chưa im tiếng
súng", "Sáng ấy mưa rơi", 2 tập truyện ngắn: "Bão
tan", "Màu thời gian"…
Trong những ngày tháng nằm trên giường bệnh tại viện Quân y
108, Thái Vượng vừa phải chống trọi với căn bệnh ung thư, vừa cố gắng hoàn thiện
tiểu thuyết "Dự báo về Quyên" và làm một tuyển tập, rất tiếc khi
"Dự báo về Quyên" và tuyển tập chưa kịp ấn hành thì ông đã đi xa.
H.T
B- MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU
CỤ THUNG
Thường thì cứ mỗi ngày cụ Thung chỉ uống vài ba chén rượu. Rượu
ngon hay rượu xoàng cũng vậy. Cụ uống vào bữa cơm tối bằng cái chến uống nước
nhỏ , mà ông trưởng ty văn hóa tỉnh mua cho nhà "thằng bố hai" từ khi
bố nó vào trong chiến trường.
Cụ bảo uống vài chién cho nó giãn gân, giãn cốt, để ngủ, giữ
được sức khỏe. Nhưng có lẽ chỉ có chị Sự, con dâu cả của cụ là nhận ra cái ý
nghĩa sâu sắc của những chén rượu và thói quen ấy của cụ.
Từ ngày về làm dâu hai cụ, mấy chục năm rồi, đã có cháu nội,
cháu ngoại, chị hiểu rõ bố chồng lắm. Cụ có nghiện rượu đâu. Nếu có, khi vui
có bạn, có thức nhắm cụ cũng chỉ uống vài ba chén nhỏ. Cả tháng, cả năm chẳng
có cũng được. Trà thuốc cũng vậy, cụ không nghiện thứ gì.
Thói quen uống rượu vào bữa cơm tối này của cụ Thung mới có từ
gần một năm nay, khi trong gia đình có nhiều sự kiện quan trọng, ảnh hưởng đến
tình cảm của mỗi người trong nhà, nhất là đối với cụ bà.
Ấy là hồi đầu năm, thằng con trai út của cụ vào Nam chiến đấu.
Tên anh là Đạt, đang học giở lớp chín thì tình nguyện làm đơn nhập ngũ, rồi lên
đường ngay. Sau mấy tháng huấn luyện, Đạt vào mặt trận liền, chẳng kịp về thăm
nhà lấy một ngày. Một năm sau, Đạt gửi thư về báo tin cho nhà biết: Anh đang
chiến đấu ở chiến trường miền Đông Nam bộ, đã than gia đánh tới mười bốn trận,
được công nhận là dũng sỹ diệt xe tăng, và vinh dự nhất là đã được đứng trong
hàng ngũ của Đảng.
Đến giữa năm thì người con trai thứ hai - Anh Giang, cũng
hành quân một mạch vào tuốt tận đồng bằng sông Cửu Long. Mấy năm liền bặt tin,
cứ ngỡ là anh chẳng còn nữa. Chị Căn, vợ anh âm thầm sụt sịt mãi. Đùng cái, một
hôm gần tối, ông giao thông xã đem đến tận nhà cho cụ bức thư của anh Giang.
Ngay tối hôm ấy cụ uống rượu và bảo chị Căn đọc thư cho cả nhà nghe.
- Nhà con kể anh ấy đóng quân tận mãi đồng bằng sông Cửu
Long, cách xa làng mình những hơn hai ngàn cây số. Ở đó toàn ruộng là ruộng phẳng
lì. Mùa gặt, một cô gái chạy xa tít mù mà vẫn nhìn thấy gót chân son, bằng đến
thế kia mà. Ấy thế mà ở đó lại nổi lên một vùng núi. Cứ y như là mấy quả cam xếp
giữa cái mâm đồng. Đấy là vùng bẩy núi. Đơn vị nhà con lập căn cứ ở đấy để tiến
xuống giải phóng đồng bằng…
Chắc là có chỗ anh viết riêng cho chị, nên chị Căn mới tóm tắt
bức thư cho cả nhà nghe chứ không đọc nguyên văn. Cuối năm ấy, anh con trai đầu
của cụ - Anh Thịnh đang làm Hiệu trưởng Trường cấp III cũng lại lên đường nhập
ngũ, cũng tình nguyện hành quân ngay vào mặt trận đường chín - khe Sanh.
Cụ Thung có năm người con cả thảy, ba trai, hai gái. Vậy mà cả
ba anh con trai đều vào chiến trường. Hai cô con gái đã lấy chồng. Hai tràng rể
đều là bộ đội, cũng vào cả chiến trường.
Anh con dể lớn - anh Thuận - chồng cô Thế, chiến sĩ lái xe
tăng, vừa bị thương trong trận đánh vào căn cứ Làng Vây. Nghe nói xe tăng của
ta tràn lên hàng rào giây thép gai tiến vào bắn sập bao nhiêu lô cốt. Mãi đến
khi ta chiếm toàn bộ Làng vây, con rể cụ mới bị thương. Vết thương nặng lắm,
anh đang điều trị trong bệnh viện, chưa khỏi nên chưa về thăm nhà được.
Còn con dể thứ hai - anh Mai - chồng cô Cảnh, là bộ đội thông
tin, chuyên đánh tạch tạch, tè tè bay lên trời, để ta liên lạc với nhau. Chỉ có
ta nghe được chứ thằng địch có nghe được cũng chựu. Nghe đâu chú ấy cũng đang
theo một ông chỉ huy nào cao lắm vào trong mặt trận.
Vậy là con trai, con dể đều đã đi tuốt, ở nhà còn hai cụ, hai
chị con dâu với lũ cháu nhỏ. Hai chị con dâu của cụ đều là Đảng viên, cán bộ.
Thôi thì trăm công, nghìn việc. Lúc đi họp, lúc đi phục vụ bộ đội. Tất cả cho
tiền tuyến mà. Lại còn công việc đồng áng, con lợn, con gà. Cứ là tối mắt, tối
mũi lại…
Bà cụ từ khi các con vào mặt trận cả, nhiều lúc cứ như người
ngớ ngẩn. Thỉnh thoảng nhớ các con, tự dưng cụ lại sụt sịt, có bữa bỏ cơm. Một
hôm cụ Thung hỏi chị Sự:
- Này mẹ Tâm - cụ vẫn gọi chị bằng cái tên đứa cháu - Dạo này
rượu có đắt không nhỉ?
- Cũng chả đắt đâu ông ạ! Ông có uống vài chén cho khỏe để
con mua.
À, nếu vừa phải, không đắt, con mua cho bố một chai. Mỗi ngày
bố uống một hai chén, cho nó giãn gân cốt.
Chiều hôm ấy, sau khi đi họp Đảng bộ xã về, chị Sự tạt qua phố
mua một chai rượu gạo. Chị mua luân mấy bìa đậu để hai cụ ăn. Cũng đã lâu rồi,
rau muối kham khổ. Chị cứ nghĩ, chồng đi chiến đấu, các em cũng đều vào mặt trận
cả, ở nhà mọi việc trong gia đình, nhất là việc chăm sóc bố, mẹ, chị đều tự
nguyện đứng mũi, chựu sào, lo toan hết thảy, kể từ khi chồng chị và các em vào
hết trong chiến trường, tâm tính cụ ông thay đổi, chứ không riêng gì cụ bà. Chị
thấy cụ ít nói hơn, lầm lỳ hơn, không khí trong gia đình trầm lắng hẳn xuống.
Nhất là từ ngày có chính sách báo tử. Cứ mỗi lần có đợt báo tử,
cả làng, cả xã, nhà nào cũng lo mất ăn, mất ngủ. Nhà nào mà chả có con em mình
vào Nam chiến đấu. Cái làng Gáo nhỏ bé chưa đầy tám chục nóc nhà này đã có hơn
ba chục người hy sinh trên các chiến trường, báo tử rồi. Mà cuộc chiến tranh
thì vẫn có thể lâu dài, gay go nữa. Cho nên cứ mỗi lần rục rịch báo tử thì ai
cũng cầu mong đừng có rơi vào nhà mình, mà cũng đừng có rơi vào nhà nào cả. Cứ
nhầm tên ai đó trên cõi đời này đi.
Hay là sáng nay cụ lại nghe được tin sắp có đợt báo tử nữa, cụ
lo mà bảo chị mua rượu, uống say để quên nỗi lo đi.
Bữa cơm tối mãi đến tám, chín giờ mới được ăn. Mâm cơm đặt dưới
trăng, giữa sân. Chị Sự đem chai rượu đặt bên cạnh bố chồng:
- Con chả biết nếm. Chả biết rượu có khá không: Có mấy bìa đậu
phụ, để ông uống rượu và bà ăn cho mát ruột.
- Vẽ, tiền đâu mà con còn mua đậu phụ? Bảo con mua chai rượu
bố đã nể lắm rồi. Nước nhà có giặc, đấng nam nhi chúng nó phải có trách nhiệm
đi đánh giặc. Ở nhà một lũ con dại, lại còn bố mẹ già, trăm cái lo đến tay, phải
tằn tiệm con ạ. Bố mẹ có trách móc gì các con đâu. Nào thôi, đã chót mua rồi
thì cho các cháu nó ăn. Bà chia cho các cháu mỗi đứa một miếng. Tôi cũng ăn một
miếng.
Ông cụ bảo bà cụ vậy, rồi rót rượu nâng chén nhấp một hớp.
- Ừ rượu mẹ Tâm mua được đấy. Khá, nặng mà dựu đấy chứ không
xốc.
Bà cụ đặt vào bát ông cụ cả bìa đậu. Còn lại bà chia
cho sáu đứa cháu mỗ đứa một miếng. Cả hai chị con dâu mỗi người một miếng. Cuối
cùng cụ để vào bát mình một miếng rồi chép miệng thở dài:
- Khổ, cái thằng bố Thịnh nó thích ăn đậu phụ lắm. Vào trong ấy
chả biết có mà ăn không. Hôm bố nó lên đường, mẹ Tâm lại quên chả mua cho nó
vài bìa.
- Cái bà này hay nhỉ - Ông cụ ngắt lời - Cứ nhắc đến chúng nó
cho chúng nó vấp. Lo gì chả lo, lo có đậu phụ cho nó ăn không.
- Ấy là nói chuyện thế, chứ tôi lo gì. Lo cũng chả được. Có
lo thì tôi chỉ lo cho thằng bố hai. Thằng Giang ấy, tính nó ngỗ ngược, bướng bỉnh,
chả biết có nghe lời cấp trên chỉ huy không. Xông pha vào chỗ mũi tên hòn đạn
mà ngỗ ngược là chết.
Nghe mẹ chồng nhắc đến chồng mình, chị Căn lại chớp chớp mắt,
miếng cơm cứ bã ra. Liếc thấy thế, cụ Thung nâng chén nhấp hớp rượu nói đắn:
- Chả lo, con ngựa bất kham thường là con ngựa hay. Cái thằng
bố hai thì nó thế thật. Bạo hổ bằng hà, tiểu chu quá hải. Cái thuyền
con mà giám vượt bể. Nhưng biết chèo chống là tới đích, làm nên nghiệp lớn.
- Bà ơi, bố cháu là "bạo hổ bằng hà" hả bà? - Thằng
Long con anh Giang hỏi.
- Ừ bố mày đấy - ông cụ bảo cháu - mày có biết "bạo hổ bằng
hà" là thế nào không cháu? Là ngỗ ngược, ngang ngạnh như con hổ ấy, nghe
chưa?
- Nhưng mà bao giờ bố cháu về, bố cháu mua khối đậu cho ông,
bà, cho cả nhà nữa.
- Ừ, - Vẫn ông cụ - chờ bố mày về nua đậu cho ông thì ông đã
ra Bãi Mé.
Bãi Mé là cái nghĩa địa của làng Gáo. Thằng Long cãi:
- Ứ, ông không được chết. Bao giờ giải phóng miền Nam, bố cháu
về đã, ông mới được chết.
Cả nhà cười ầm vui vẻ. Bà cụ cũng cười tít, quên bớt nỗi lo.
Thì ra có chén rượu, cụ Thung đã khơi cho không khí cả nhà
vui vẻ hẳn lên. Chị Sự nhận ra cái ý sâu xa của cụ uống rượu chính là như thế.
Lũ trẻ ăn xong, chúng rủ nhau chơi trò rồng rắn ở góc sân, cười
nói ầm ĩ. Hết trò này đến trò khác, cuối cùng thì chúng cãi nhau:
- A, bố thằng Long là "bạo hổ bằng hà, tiểu chu quá hải"
ha ha!
- Nhưng bố em ở mãi tận đồng bằng sông Cửu Long, có bảy cái
núi, còn hơn bố anh, bây giờ mới đến Trường Sơn.
- Cha bố chúng bay - ông cụ cười mắng yêu các cháu - bố chúng
bay là thua chú Đạt hết. Chú Đạt thành dũng sĩ diệt xe tăng, lại là người của Đảng
rồi đấy.
- Bố cháu cũng là người của Đảng. Cũng xắp là dũng sĩ rồi đấy
ông ạ.
- Vẫn thua chú Đạt của bà - bà cụ lôi thằng Long vào lòng,
nhưng nó giẫy ra chạy đến sà vào lòng mẹ.
- Mẹ ơi, bố nhà mình ở Bẩy núi đánh được khối thằng Mỹ mẹ nhỉ?
Chị Căn ôm gì con vào lòng không trả lời nó. Trẻ con vốn
không ưa tranh luận. Nó chỉ thích bố nó làm hơn tất cả mọi người. Nhưng trẻ con
có cái tật là cứ hay nhắc đến người đi xa, làm rối ruột biết bao người ở nhà.
Chị Căn ôm gì con vào lòng, đôi mắt đã đỏ hoe. Tính chị hay xúc động. Hơi một
tý là nước mắt đã chực chảy ra. Mỗi lần con nhắc đến chồng là nó lại khơi dậy
trong chị một kỷ niệm.
Cưới nhau chưa được một mùa gặt anh đã đi bộ đội. Bốn năm sau
anh vào chiến trường. Trước khi đi xa, anh được ghé qua nhà hai ngày. Hôm tiễn
anh ấy đi, chị bế hai nách hai con đem gửi nhà trẻ trước. Sợ bố con bịn rịn
nhau, anh ấy đi chả đành. Gửi con rồi chị vòng qua bờ ao đưa chân anh đến tận
thửa ruộng cánh đồng Mả rô. Chị rúi cho anh trăm bạc, anh đặt trả lại vào tay
chị:
- Vào trong ấy toàn rừng núi, chỉ có mình với địch, mua bán
gì mà em đưa? Giữ lấy mua áo cho con.
Ấy thế mà bây giờ anh ấy vào tuốt tận đồng bằng sông Cửu
Long, xa vợ, xa con những hơn hai nghìn cây số. Biết bao giờ mới trở về với vợ,
con…
- Này mẹ hai - cụ Thung gọi chị Căn khi cụ nhìn thấy chị dường
như muốn khóc.
- Dạ! Ông bảo con gì ạ!
- Hôm bố nó đi là ngày mấy ta nhỉ?
- Mồng tâm tháng một ông ạ!
- Thế thì bố nó ăn tết ngang đường. Thằng ấy tuổi con rồng,
đi mây về gió. Chả mũi tên hòn đạn nào đụng tới người nó được.
Chị Căn vốn rất tin bố chồng, nên khi nghe cụ nói vậy thì chị
tin ngay là thế thật. Chị yên tâm hẳn. Ừ lâu thì lâu, xa bao nhiêu năm cũng được.
Miễn là đến ngày thống nhất, anh ấy trở về…
Cụ Thung chuyển câu chuyện sang hướng khác. Bao giờ cũng thế,
hễ cụ bà nhắc tới các con, là cụ ông tìm cách xoay sang chuyện khác. Cái nghĩa
cha con, vợ chồng cụ hiểu lắm. Nhớ thương thì nén lại trong lòng. Nói ra mỗi
người một câu chỉ thêm rối ruột.
Sau cùng lũ cháu lăn ra sân ngủ. Cụ giục hai chị con dâu đưa
các cháu vào nhà.
Giữa sân trăng chỉ còn lại cụ ông, cụ bà. Lúc ấy cụ Thung mới
nói với cụ bà:
- Này bà, đêm qua tôi nằm mơ thấy thằng Đạt nhà mình đấy.
- Ông mơ thế nào?
Cụ bà tỏ ra sốt ruột. Còn cụ ông tuy đã tìm được cách vào đầu
câu chuyện hệ trọng vô cùng này, song cụ chưa biết nên tiếp theo ra sao. Cụ
nâng chén trà nóng bỏng môi lên nhấp một ngụm rồi thong thả:
- Tôi mơ thấy nó về, nó gọi bà.
- Nó gọi tôi? Nó có bảo gì tôi không?
- Nó gọi, nó bảo: Mẹ ơi, mở cửa cho con, con về đây! Tôi mở cửa
ra đón nó, nhưng không thấy nó đâu cả. Bỗng tôi nghe chim cu rúc lên mấy
tiếng.
- Trời ơi! Ông mơ thế thật hả? Mơ thế độc lắm. Thế thì thằng
con trai út của tôi nó chết mất rồi ông ơi!
- Bà làm gì ầm ĩ cả lên thế? Có để cho các cháu nó ngủ không.
Mơ là mơ. Mơ có phải là thật đâu mà bà làm toáng lên? Mà tôi có mơ thấy nó chết
đâu cơ chứ.
- Thế mới độc. Ông mơ thấy nó về gọi tôi, tức là cái vong hồn
của nó tìm về với mẹ. Ối Đạt ơi! Con ơi là con ơi! Con tôi chết mất rồi. Bà cụ
sụt sịt khóc. Còn cụ Thung thì lại cứ muốn cho bà khóc nữa đi. Khóc cho vợi đi
trước khi cái tin khủng khiếp thật chứ không phải là mơ ấy, người ta sắp đem đến
cho cụ, cho cả nhà này…
Nào có phải là chuyện mơ tưởng gì đâu. Chả là sáng nay chị Bí
thư Đảng ủy với ông Chủ tịch xã vào nhà. Thấy hai người đứng đầu địa phương đến
nhà hơi khang khác, cụ Thung biết ngay là có chuyện gì rồi. Cũng may là bà cụ
sang bế con cho cô Cảnh đi coi thi, không có nhà.
Cụ Thung bình tĩnh pha nước mời chị Se, ông Toàn uống. Hai
người cứ nhìn nhau rồi lại nhìn cụ rò xét. Cả hai đều lúng túng, nét mặt buồn
buồn. Linh tính báo cho cụ Thung điều không may đang đến, cụ hỏi luôn:
- Không hay là các cháu nhà tôi trong mặt trận có đứa nào có
chuyện gì?
Cụ không hỏi hết câu. Nỗi lo chia ra làm năm bảy đường. Ba
con trai, hai con rể đều đang ở trong mặt trận. Làm sao cho vẹn nguyên được cả.
- Ông ạ - chị Se lựa lời - Trên lại vừa báo về xã mình, bốn đồng
chí hy sinh.
- Hả? Cụ Thung ngẩn người, khuôn mặt cụ tái dần,
bạch ra.
bạch ra.
- Ngày mai, Đảng ủy, Ủy ban, các cơ quan, cùng toàn dân sẽ tập
trung làm lễ truy điệu các đồng chí ấy. Chúng con phải thưa trước với gia đình.
Việc đã thế không thể dấu hai cụ.
Đứa nào? - Ông cụ bàng hoàng ngồi không vững nữa. Ông Toàn phải
đỡ cụ Thung. Cụ thều thào - đứa nào nhà tôi bị hả chị?
Chị Se chỉ nói được có thế, dường như cổ chị cũng nghẹn lại
khi nhìn thấy đôi mắt cụ Thung ướt nhòa. Ông Toàn đỡ lời:
- Chúng con không thể giấu hai cụ, gia đình, họ mạc mãi được.
Các đồng chí ấy ra đi làm nhiệm vụ, hy sinh cho dân, cho làng, chúng con chẳng
biết làm cách nào để chia sẻ cho vợi bớt nỗi đau đớn, mất mát này của gia đình.
Chúng con vào đây thưa với ông bà, trước nhất là thầy…
Ông Toàn chuyển cách xưng hô bởi cụ Thung đã dạy học từ những
năm còn bóng tối. Đã ba, bốn chục năm rồi, thầy Thung dạy cả chữ nho lẫn chữ quốc
ngữ. Thầy được coi như người khai sáng văn hóa đầu tiên cho địa phương. Không
phải chỉ là việc đem đến cho bao người biết chữ - cái ấy đã đành - mà chủ yếu
là thầy dạy cho mọi người cái đường ăn, nhẽ ở, cái đạo lý làm người, biết
thương dân, thương nước.
Học trò của cụ nay đã có người là Ủy viên Trung ương Đảng, có
người là tiến sĩ, phó tiến sĩ, kỹ sư. Thôi thì đủ cả. Ở cái tổng này mấy thế hệ
cha con đều là học trò của cụ Thung. Có trò xấp xỉ cả tuổi thầy. Chính ông Toàn
Chủ tịch xã bây giờ đây thuộc lớp học trò cuối cùng của thầy. Vì vậy, cả xã này
người ta đều gọi cụ là ông - như người ông của các cháu - và gọi thầy. Họ đối với
cụ như đối với cha. Cha sinh không bằng thầy dạy. Cái nghĩa thầy trò ngày trước
nặng ân nặng nghĩa lắm.
Gia đình nào có chuyện bất hòa, cũng đến xin cụ chỉ bảo cho
đôi lời. Chả thế mà ông Tư pháp trên Huyện, cũng là học trò của cụ, nói: Giá cụ
Thung làm Chánh án thì tuyệt.
Trong nhiều câu chuyện cụ giáo dục, có một chuyện người ta
còn lưu truyền mãi tới tận bây giờ. Đấy là chuyện nhà cụ Kế. Cụ đã già, bị bệnh.
Con cháu đưa đẩy nhau, chẳng đứa nào muốn chăm sóc bố, vừa sợ tốn, vừa sợ bận bịu
đến thân. Đã hai lần cụ Kế định cắn lưỡi chết đi cho rồi. Ông em trai cụ Kế đã
gần bảy chục tuổi cũng là học trò cụ Thung, khuyên dạy các cháu không được, bèn
đến cụ trình bày và xin cụ lời khuyên. Cụ Thung bảo cứ về tập trung đầy đủ con
cháu lại. Ngay tối nay cụ sẽ tới.
Ông em liền cho gọi con cháu tới đông đủ và tuyên bố tối nay
cụ Thung xẽ tới thăm cụ Kế. Tin ấy làm con cháu rất mừng. Ai cũng nóng lòng đợi
cụ Thung tới.
Mãi tới gần tối cụ Thung mới tới. Bước vào nhà, Cụ Thung đến
ngay giường cụ Kế, nói:
- Tôi nghe cụ mệt nặng, hiềm tuổi già, sức yếu, mãi tới hôm
nay mới thăm cụ được. Cũng đã đi sớm. Nhưng đi đường thấy hai con quạ khoang đậu
trên cành đang bón mồi cho nhau. Cứ nghĩ chim mẹ bón mồi cho chim non, nhưng
không phải, mà là chim non bón mồi cho chim mẹ. Thì ra chim mẹ già, không còn
kiếm mồi được nữa, chim con mớm mồi nuôi mẹ. Loài điểu thú mà còn biết đường
nhân nghũa thế đấy các cụ, các ông, các bà, các anh các chị ạ. Nhìn hai con quạ
mà tôi vã cả mồ hôi. Ngẫm trên đời này còn có nhiều con người chưa bằng loài điểu
thú.
Cả nhà im phắc nghe. Cụ Thung an ủi cụ Kế mấy câu nữa rồi mới
quay ra uống nước. Cụ hỏi xem các cậu con trai, con gái, con dâu cụ Kế có đủ mặt
đấy không. Khi biết họ có đủ mặt cả, cụ mới tiếp câu chuyện. Cụ nói:
- Tôi năm nay cũng yếu lắm rồi, chả biết sống chết còn được
bao, nên đêm cũng ít ngủ. Chẳng ngủ được thì lấy sách ra đọc. Đêm qua đọc được
một câu chuyện hay quá.
Ông em cụ Kế chộp ngay lấy, thưa:
- Thầy có thể cho chúng con cùng được nghe không ạ?
- Chuyện hay thì ai cũng nên nghe. Chuyện thế này: Có một
nhà nọ, bố đã già, chỉ còn ăn nằm mà không làm được việc gì có lợi cho con nữa.
Nuôi bố mãi, anh con trai đâm chán. Anh ta bèn nghĩ cách đóng một cái xe quệt.
Đóng xong, anh ta sai con để ông cụ vào đấy kéo lên núi bỏ cho hổ ăn thịt. Đứa
cháu đành kéo ông lên núi bỏ đó. Nhưng nó lại kéo cái xe về. Vừa tới nhà, bố nó
liền quát ầm lên: " Mày còn lôi làm gì cái xe thổ tả ấy về nữa?" Đứa
con điềm nhiên trả lời: "Thưa bố, để đến khi bố già như ông, con lại sai con
con nó đem bố lên núi bỏ cho hổ ăn thịt mà không cần phải đóng cái xe
khác". Nghe vậy, người bố hãi hùng chạy một mạch lên núi cõng bố về, van
xin bố tha tội. Ấy chuyện chỉ có vậy thôi.
Sau bữa đó, người ta thấy con cháu cụ Kế đối với cụ khác hẳn.
Và cụ Kế chẳng còn nghĩ đến chuyện cắn lưỡi nữa…
Không hiểu sao lúc này ông Toàn Chủ tịch xã lại nghĩ đến chuyện
ấy. Ông Toàn nhìn cụ Thung, thận trọng thưa:
- Chúng con đến thưa với thầy việc ấy. Nên thế nào, thầy
khuyên bảo chúng con.
- Chuyện đã vậy biết làm sao được - cụ Thung nén nỗi đau
trong lòng nói với chị Bí thư và ông Chủ tịch - chỉ xin Chính quyền thư lại cho
tôi đôi ba ngày để tôi lựa lời khuyên nhủ bà cháu đã. Tình mẫu tử, tin đột ngột
thế này tôi e bà ấy chựu không nổi. Thế là suốt ngày cụ ngồi lặng lẽ xuy
ngẫm. Cụ đã nghĩ ra cái giấc mơ để nói với cụ bà bây giờ đây. Cụ bà vẫn sụt sịt,
cụ Thung bảo:
- Bà cũng phải vững tâm. Nếu tôi mơ là sự thật cũng phải cắn
răng lại. Thằng giặc nó cướp nước mình. Đã là người tai mắt, không thể ngồi
nhìn. Phải ra mà giúp dân, cứu nước. Cái lẽ sinh tử cũng là thường. Chết giữa
trận tiền là cái chết vinh. Rủi con nó có thế, minh tuy đau đớn, xót xa thật
nhưng có ngậm cười nơi chín suối cả tôi với bà cũng chẳng phải ân hận về nó.
- Ông nói gì mà lạ lùng thế - cụ bà càng nức nở - hay là con
tôi nó chết thật rồi?
- Phải, nó hy sinh rồi bà ạ.
- Ai bảo ông vậy?
- Đảng ủy, Ủy ban sáng nay vào báo cho tôi.
Thế là xong. Nói ra được điều ấy với cụ bà rồi, cụ ông thấy
như mình đã hứng chựu tất cả nỗi đau cho cụ bà và cho cả nhà. Cụ bà đã qua được
cái cơn đột ngột khủng khiếp. Còn cụ ông thì lặng đi, không còn biết là mình
đang tỉnh hay mơ nữa…
Mấy ngày nay cụ Thung ốm nặng. Cụ biết chắc đây là trận ốm cuối
cùng của cuộc đời đã tám mươi tư tuổi. Bà con xa gần kéo đến thăm hỏi chật nhà.
Người nải chuối, cân đường, người chục trứng, người vài cái bánh cuốn… Quà
cáp chất đầy trên nắp chiếc áo quan đóng sẵn kê ngay cạnh chỗ cụ nằm.
Bạn bè ở gần như cụ Chăn, cụ Đông ngày nào cũng tới với cụ
Thung một lần. Môn sinh ở xa hàng trăm cây số, nghe tin thầy mệt nặng cũng cố
thu xếp về thăm thầy lấy một lần, để lỡ thầy có mệnh hệ nào cũng không ân hận.
Môn sinh ở gần - ông Cửu, ông Cơ, ông Tụng… luôn trực bên thầy chăm sóc như con
đẻ. Có đêm các ông còn ngủ lại với thầy.
Cho đến hôm bệnh cụ đã quá, ai cũng biết cụ không qua khỏi,
chỉ trong vòng vài ba ngày nữa cụ sẽ đi, chị Sự - con dâu cả - đắn đo mãi mới
dám thưa với cụ, nhân lúc có nhiều học trò và bà con dân xóm ở đó.
- Ông ạ - Chị Sự nghẹn ngào - chúng con theo dõi mấy hôm nay
thấy sức ông yếu lắm rồi. Ngày mai cháu Rực lên đường nhập ngũ, hay là xin ông
cho con thưa với chính quyền cho cháu lui lại đợt sau, để lỡ ông có thế nào,
ông cháu còn nhìn nhau lần cuối. Cũng xin ông cho phép để con đánh điện gọi nhà
con, chú Giang và cháu Tuấn về. Nghĩa tử là nghĩa tận, xin ông…
- Hả?
Cụ Thung ngắt lời con dâu. Cụ bảo chị ngồi gần lại. Mọi người
xúm quanh, như chờ đợi lời căn dặn cuối cùng của cụ.
- Thầy chết - cụ thều thào - đó là lẽ tử sinh không ai tránh
khỏi. Già thì chết. Mà thầy thì trời đã để thọ ngoài tám mươi rồi. Đến bậc
thánh hiền như Cụ Hồ, cụ còn nói với toàn dân cụ đi gặp Cụ Mác, Cụ Lê Nin và
các bậc tiền bối khác, huống chi thầy. Các con đừng cho điều đó là hệ trọng
quá. Cháu Rực nó đi, con lo cho cháu lên đường vui vẻ. Đừng xin hoãn. Giặc nó đến
bờ cõi mình rồi, kẻ nam nhi trù trừ là không được. Còn bố Thịnh, bố Giang,
cháu Tuấn, chúng nó đều đang ở xa, đứa biên giới, đứa ngoài đảo, đứa tận
Cămpuchia. Thầy vẫn biết nghĩa tử là nghĩa tận, trước khi nhắm mắt cũng muốn được
nhìn mặt con, cháu cho đầy đủ, nhưng đi lại khó khăn, tốn kém lắm. Tiền ở đâu?
Mà có khi về được tới nhà thì bà con xóm giềng cũng chôn xong rồi. Sống có dân,
có làng, chết cũng có dân, có làng. Con nghe thầy, đừng làm náo động cả lên,
chúng nó lại thêm lo, ảnh hưởng tới công việc…
Chị Sự đành nuốt nước mắt. Từ ngày về làm dâu cụ tới giờ,
chưa bao giờ chị dám trái lời cụ. Nay tuy chị không muốn thế, nhưng ý cụ đã vậy,
chị đành mạn phép cụ tự ý lặng lẽ đi đánh điện cho chồng và chú Giang.
Ngày hôm sau, cháu Rực của cụ Thung vẫn lên đường.
Ba ngày sau, cụ Thung tắt thở.
Chưa bao giờ Làng Gáo có một đám tang to như đám tang cụ
Thung. To không phải vì mổ lơn giết bò, ma chay, tế lễ. Cái đó nhà cụ Thung
không lấy gì mà lo được. Các con đều tại ngũ, nhà cụ lo chỉ đủ miệng ăn đã là
giỏi. Đám tang to là vì nhiều người quá. Ở huyện, ở tỉnh, ở cả trên Hà Nội cũng
có người về. Xe ô tô phải đậu tận ngoài con đê đắp qua cánh đồng chiêm. Cô Thơ,
ông Tượng phụ trách đội sản xuất phải cho mở rộng con đường từ nhà cụ tới nghĩa
địa, để có đường cho bà con dân xã, xa gần ai cũng được đưa cụ tới nơi an nghỉ
cuối cùng.
Người ta phải nhường nhau để ai cũng được góp một hòn đất đắp
cho nấm mồ của cụ. Nấm mồ đất đỏ au, cao, to, đã phủ kín những vòng hoa viếng.
Người ta lặng lẽ cúi đầu vĩnh biệt.
Từ ngày cụ Thung nằm đấy với hương đồng, gió nội quê hương
trên đỉnh gò giữa bao người đã quá cố mà xóm giềng đã đặt nằm quây quần bên
nhau. Nấm mộ gần đường đi. Ai qua đó cũng đọc thấy rất rõ hàng chữ trên một
vòng hoa: "Chúng con, những môn sinh kính viếng hương hồn thầy"!
Năm tháng gió mưa, những hàng chữ ấy phai nhòa, cỏ xanh đã phủ
kín trên mộ cụ. Thế mà cho đến bây giờ, và có lẽ còn rất lâu nữa, người làng vẫn
thường kể cho con cháu nghe, những câu chuyện, những lời khuyên của cụ - Thầy
Thung - Cứ như là cụ vẫn còn đang sống.
Làng Ao Gỗ, tháng 9/1990


















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét