Đọc văn thấy sử qua
một cuốn tự truyện
Cuốn tự truyện “Đi tìm một vì sao” (NXB Hội Nhà văn,
2022) của tác giả Phạm Quang Nghị lôi cuốn độc giả bởi trong chuyện riêng lại
có chuyện chung, trong cái tôi có cái ta; là chuyện cá nhân nhưng qua đó thấy
được chuyện cộng đồng, chuyện dân tộc, chuyện đất nước; thấy được văn hóa, lịch
sử, số phận… của con người Việt Nam trong thời gian khoảng 60 năm (thời chiến
tranh, thời bao cấp; thời hòa bình, thời mở cửa).
Sách không bị nhạt và đơn điệu một chiều vì đã phản ánh cuộc sống ở cả những “chỗ sáng” lẫn những “góc khuất”, những sự thật “ít được phơi bày”; cả những chuyện có tầm vĩ mô lẫn vi mô qua đôi mắt của một người biết quan sát, đúc kết, chiêm nghiệm, một người từng kinh qua nhiều thử thách khó khăn, được rèn luyện trong cuộc sống, trên chiến trường và cả chính trường. Tác phẩm có hệ thống nhân vật đồ sộ; cách kể chuyện tạo được cảm giác tin cậy về độ chân thực; là cuốn tự truyện rất giàu chất văn với đủ mọi cung bậc cảm xúc ái, ố, hỉ, nộ. Có thể nói, đây là cuốn sách mà trong văn có sử, trong sử có văn.
1. Cung cấp nhiều thông tin mang tính lịch sử, văn hóa
Qua tự truyện, ta thấy cuộc sống của người nông dân Bắc Bộ những
năm 50 của thế kỉ trước được tái hiện cụ thể sinh động. Đó là những câu hò dô ứng
khẩu đầy màu sắc phồn thực xuất hiện trong lao động khi họ kéo cây gỗ “khôn”
lên bờ (tr. 29). Đó là những câu trả lời hồn nhiên, thiếu hiểu biết của một cặp
vợ chồng nông dân khiến người đọc phì cười. Họ không thể nhớ được ngày sinh
tháng đẻ của con mình nên đã vô tình đánh đố cán bộ điều tra dân số: Tôi đẻ
cháu năm bầu lào ra hoa (tr. 30). Đó là cuộc sống của những đứa trẻ nông thôn
thời trước: không có nhà gửi trẻ, tha thẩn tự chơi, tự khóc, tự nín; có những
trò chơi thật buồn tẻ, lạ lùng: chơi với kiến (tr. 37), ông và cháu chơi trò giả
chết (tr.31). (Tôi nghĩ, hai trò chơi mà tác giả miêu tả trong tự truyện hoàn
toàn có thể phát triển thành một truyện thiếu nhi). Một thời đã xa, nước nghèo,
dân nghèo. Đến trường “chỉ có thầy hiệu trưởng và giáo viên chủ nhiệm là có dép
cao su, còn tất cả học sinh đều đi chân đất”. Một thời, tư tưởng lạc hậu: “nhất
nam viết hữu”, “trọng nam khinh nữ” đã ăn sâu vào mỗi gia đình; xung đột mẹ chồng
nàng dâu được thể hiện qua những chi tiết xót nhói ở trang 33 và 277.
Tự truyện đã phản ánh chân thực cuộc sống của học sinh, sinh
viên thời trước: đang học không được phép yêu đương; nếu lỡ yêu phải báo cáo với
chi đoàn, lớp trưởng và thể nào cũng bị đánh giá thấp về hạnh kiểm. Đó là cái
thời trai gái “thích nhưng không dám nhích” (tr. 236); cái thời mà sinh viên mượn
áo, mượn xe đạp của nhau để đi thăm bạn gái khác trường, khác khoa; cái thời mà
một số từ ngữ quen thuộc ngày ấy đã trở nên xa lạ, khó hiểu với người thời nay
như: lộn (xích xe đạp), (săm) chửa, (khung xe bị) gù/ chùn… (tr. 68).
Tự truyện cũng nói được không khí lạc quan lãng mạn trong thời
gian miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội với cảnh làm ăn tập thể “đời vui lên
phơi phới”: “Chào 61 đỉnh cao muôn trượng”, thời kì được các chuyên gia Liên xô
vô tư giúp đỡ. Nhưng bên cạnh đó, nhiều trang viết đã phản ánh thực trạng đói
nghèo của đất nước bởi: “sự bất cập của cơ chế quản lí, sản xuất phân phối tập
trung, quan liêu, bao cấp, triệt tiêu hầu hết mọi động lực, nguồn lực trong
dân” (50). “Thực trạng kinh tế lúc bấy giờ được gói gọn trong mấy câu ngắn gọn
dễ nhớ: “Làm không đủ ăn, thu không đủ chi, xuất không đủ nhập”. Bốn lĩnh vực
kinh tế mũi nhọn lúc đó là: ‘Lộn xích lip xe đạp; lộn cổ áo sơ mi; bơm hút mực
bút bi; gia công quy gai xốp (!)” (69). Đó là cái thời tuổi trẻ phải “bán phân”
(Thanh niên Cổ Nhuế xin thề / Không đầy hai sọt không về quê hương) và có tháng
cán bộ công chức phải… “ăn phân” (!) (vì “bán phân đạm thay cho tiêu chuẩn
lương thực hàng tháng) hoặc ăn “cột điện” (vì “có cơ quan, xí nghiệp trả lương
cho công nhân… bằng cột điện bê tông” (!); cái thời “đem thịt người đổi thịt lợn”
(tr. 639); thời của các cô mậu dịch viên quen thói cửa quyền: “hỏi chán chê
không thèm trả lời” (tr. 331)…
Sự bất cập của một số chủ trương phân phối hàng hóa trong thời
kì bao cấp hết sức nặng nề không chỉ ở Việt Nam mà ở cả Liên Xô, nơi tác giả có
thời gian học tập. Nhiều câu chuyện tiếu lâm cười ra nước mắt thời đó ra đời: Mấy
chữ viết tắt CNXH được dịch là “cả ngày xếp hàng”. Người Việt sang Nga lao động
hoặc học tập đã dành phần lớn thời gian để mua bán; họ thấy các phụ nữ Nga xếp
hàng dài để vào nhà vệ sinh công cộng thì lại tưởng chỗ đấy đang bán mặt hàng
gì quý hiếm (!). Đó là thời kì mà sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam sang Nga chỉ
là chổi rơm mà làm rất cẩu thả, kém chất lượng (tr. 368). Thời bao cấp là thời
mà cán bộ trung – cao cấp tại thủ đô cũng chỉ được ở trong một căn hộ lắp ghép
có 24 mét vuông mà 3 thế hệ cùng chung sống, lại còn nuôi thêm 2 con lợn và 1
chuồng gà trên cầu tiêu (tr. 464).
Tự truyện tái hiện sâu sắc thời kì văn nghệ phải phục vụ
chính trị một cách thô bạo. Có thể biết được điều đó qua mẩu chuyện hài hước về
việc vẽ tranh của Họa sĩ Nguyễn Thái Bình. Một bức tranh phải tuân theo các ý
kiến chỉ đạo phi nghệ thuật của những lãnh đạo mù mĩ thuật, nó “phải gánh bao
nhiêu là nhiệm vụ chính trị” khiến tác giả “đau đầu” và muốn xóa bỏ (tr. 192).
Tác phẩm cũng làm sống lại không khí lãng mạn cách mạng của những người lính hành quân vào Trường Sơn với tâm thế hồ hởi “đường ra trận mùa này đẹp lắm”; với những câu đùa vui ríu rít, những món quà trao vội giữa bộ đội và thanh niên xung phong khi họ gặp nhau trên đường Trường Sơn.. Nhưng bên cạnh đó, người đọc cũng thấy muôn vàn khó khăn gian khổ mà người lính phải vượt qua. Bởi đi B là: “Đi trong bom đạn đón đường. Đi trong thường xuyên đói khát. Đi trong cơn sốt rét vàng da kiệt sức. Đi trong mùa khô cơn khát cháy phổi, héo cả cái nhìn. Đi trong mùa mưa phù sũng đôi chân, run rẩy nắm chặt cây gậy chống lại đêm rừng lạnh buốt..”. Họ xác định “đi ở Trường Sơn là đi bằng đầu chứ không phải đi bằng bước chân”. Một đoạn văn có điệp từ “đi” thật ấn tượng. Qua tự truyện, người đọc mới thấu hiểu, mới hình dung được tận cùng sự chịu đựng kiên cường của những người lính Trường Sơn. Đặc biệt, nỗi vất vả, chân dung, khí phách của những người chiến sĩ giao liên được tác giả miêu tả thật cụ thể, sống động (tr. 130).
Những chi tiết miêu tả cái đói của lính Trường Sơn thực sự ám
ảnh tôi: “Ngoài ác liệt của chiến trường, là đói. Đói nghiệt ngã. Đói quay quắt.
Đói vàng mắt, chóng mặt. Đói từ sáng đến tối, từ ngày này qua ngày khác. Đêm
đêm nằm mơ, chỉ toàn mơ được ăn. Bừng tỉnh, lại đói.” (tr. 153). Những chi tiết
kể về cái đói của người và vật ở những trang như 126, 179… hoặc là dở khóc dở
cười hoặc ám ảnh kinh hoàng.
Những cái chết trong chiến tranh mà tác giả được chứng kiến tận
mắt thực sự là những chi tiết “đắt”, không thể tưởng tượng nổi. Đó là hình ảnh
người lính nằm trên võng chết thối trong rừng: “một đàn ruồi hàng triệu, hàng
triệu con vù vù bay lên như môt cuộn khói đen đặc hình nấm khổng lồ” và “khoang
bụng thì nhung nhúc đầy giòi, có thể dùng bát, dùng tô múc được” (134). Mùi thịt
người dân chết cháy vì bom na pan; những tư thế chết khác nhau của người làng
trong một trận bom, hình ảnh 3 đứa bé (trong đó có hai đứa em gái ôm nhau chết
trong tư thế sợ hãi không người che chở)…, tất cả không cần phải hư cấu, tự nó
đã nói lên sự khốc liệt của chiến tranh.
Tác giả tố cáo chiến tranh đã gây ra nỗi đau khổ của người
dân tuy chỉ bằng một chi tiết nhưng thực sự ám ảnh. Đó chính là lời giải thích
của thím Năm về ba cái bàn thờ:”Ban giữa tôi thờ ổng. Ổng đi làm đồng đạp phải
mìn, chết. Còn hai bên thờ hai thằng, là thằng Ba, thằng Tư. Một thằng đi lính
quốc gia. Một thằng đi quân giải phóng. Phải lập bàn thờ để hai anh em nó hằng
ngày không nhìn thấy nhau. Hôm nay làm cơm cúng thằng Tư nên phải kéo rèm che
ban thờ thằng Ba lại” (tr. 251)
Cái đói, cái khổ đôi khi vượt quá sức chịu đựng của con người,
thậm chí khiến nhiều người lính đánh mất cả lí tưởng sống và tha hóa. Đã có
tình trạng lính lấy trộm dép, bi đông của nhau để đổi cho đồng bào lấy cái ăn,
thậm chí còn trộm rau, khoai sắn ở những trạm giao liên và cả gà, lợn của nhân
dân nữa. Hiện tượng đào ngũ đã diễn ra trên diện rộng qua câu vè: “Hà chuồn,
Nam lủi, Thái Bình bay, Hải Phòng anh dũng trốn ban ngày, Thanh Hóa mất mùa xin
ở lại, Nghệ An thấy vậy cũng giơ tay” (tr. 127).
Cũng qua tự truyện, người đọc còn thấy được văn hóa ẩm thực
vùng miền (tr. 269-271); thấy được một danh sách dài tên các loại rau rừng Trường
Sơn mà người lính đã ăn (tr.118, 322); thấy được mốt ăn mặc hippie của thanh
niên miền Nam sau giải phóng; thấy được luận điệu tuyên truyền của địch về cộng
sản (328), v.v.. Nhưng độc giả cũng nhận thức được rằng: lính Việt Nam Cộng hòa
không phải lúc nào cũng xấu. Trong giai đoạn Hiệp định kí tắt, lính thám báo đã
tha không bắn lính Việt Cộng, thậm chí còn thông báo trước cho cơ sở mật của ta
biết họ đi càn “để cho mấy ông du kích ngoài kia biết mà tránh (tr. 247, 247).
Tự truyện đã không che giấu những điều cần che giấu. Chẳng hạn,
những đoàn xe tăng của ta đã từng bị những người lính phía bên kia bắn đứt xích
hàng loạt, thiệt hại và hi sinh quá lớn qua những con số biết nói ở mặt trận An
Lộc. Những cảnh di tản, cảnh hôi của, cảnh mua sắm đồ về Bắc của bộ đội ta sau
giải phóng đã được miêu tả ấn tượng. Những câu châm ngôn đầy tính chế giễu, bi,
hài như:”Tướng tấn, tá tạ, úy yến” xuất hiện đã cho người đọc thấy được sự phân
hóa cán bộ ngay sau giải phóng. Danh xưng “đồng chí” bây giờ chỉ được dùng “những
lúc nội bộ căng thẳng, mâu thuẫn gay gắt” (tr. 444) . Tình trạng phe phái,
tranh giành quyền lực, mâu thuẫn nội bộ đến mức “chỉ còn thiếu dùng súng bắn
nhau thôi” (tr.426). Giải quyết tình trạng này “khó hơn là phải vượt Trường Sơn
lần thứ hai đi đánh giặc” (tr. 396). Tự truyện còn cho thấy công tác sắp đặt bố
trí cán bộ một thời còn nhiều bất cập, không đúng chuyên môn, không rõ nguyên
do; “nếu có hỏi thì thường nhận được câu trả lời là làm đúng quy trình”. Những
quy định của Bộ Tài chính đã quá lỗi thời, vô cảm, gây bức xúc cho dân; cách
làm việc máy móc “làm đúng nhưng gây hậu quả xấu” (tr. 594). Căn bệnh của cán bộ
là: “Nhìn đâu cũng thấy địch, thấy “âm mưu đen tối của kẻ thù”. Quan điểm phân
tích, đánh giá về những người khiếu kiện rất tiêu cực. Toàn đi “soi” lỗi của
dân mà ít nhận những cái sai về phía mình”, biện pháp xử lý với dân “luôn thiên
về mệnh lệnh, bắt bớ. Họ rất ngại tuyên truyền, đối thoại với dân” (tr. 419).
Tình trạng cán bộ yếu kém, không dám chịu trách nhiệm: “Việc gì không muốn làm
thì cứ đưa ra bàn tập thể” (tr. 517). Một thời không xa, báo chí của ta tuyệt đối
không được phép đưa tin về những vấn đề nhạy cảm hoặc tình hình ốm đau của lãnh
đạo (?) (tr. 399). Tệ nạn “đi cửa sau” đã đến mức báo động đỏ (tr. 439). Việc
bình xét trao giải thưởng cho văn nghệ sĩ và tình trạng độc quyền sách giáo
khoa đã tạo ra những dư luận không hay. Người nhiệt tình với công việc, không
quy được tội danh nhưng vẫn phải đi tù (!!!) (tr. 522)…
Ngoài ra, người đọc cũng biết được một số quan chức luôn quan
tâm đến chọn ngày giờ đi nhận công việc; kiêng may quần áo vào ngày mùng 1;
quan tâm việc chọn tranh phong thủy; quan tâm đến thế đất, thế cổng và vị trí cổng
cơ quan, thế đất ủy ban; kê phòng làm việc cho lãnh đạo; chữa bệnh cho cụ Rùa Hồ
Gươm cũng phải thành tâm cúng lễ, xem ngày lành tháng tốt mới được triển khai
(tr. 575), v.v..
Cuốn Đi tìm một vì sao có đủ chuyện để nói, chuyện bản thân,
chuyện gia đình, chuyện bạn bè, chuyện chiến trường, chuyện chính trường…. Nhiều
tự truyện của chính khách thường “lờ” chuyện yêu đương hoặc những chuyện không
được coi là nghiêm túc nhưng ở đây thì có đủ cả: từ chuyện người yêu cũ, chuyện
đùa tếu đến chuyện gái điếm, chuyện tiếu lâm… tuy nó được nói đến có mức độ và
“chỉ hé những gì cần hé”.
2. Nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, chân thực
Tác phẩm có đủ các mảng sáng lẫn mảng tối; có chuyện cao cả
và chuyện bình thường, có vui và buồn; tích cực và tiêu cực; hay và dở; cảnh đẹp
và cảnh xấu; có lúc đói và lúc no; có thiên nhiên và con người; có mưa rừng dữ
dội và có nắng gắt của mùa hè đỏ lửa; và đặc biệt là có đủ các mùi vị: mùi thơm
của hương đồng bát ngát, hương sen Tháp Mười, hương tràm, hương sầu riêng…
nhưng đồng thời cũng có mùi thịt người bị thiêu “một thứ mùi đồng loại, tanh tưởi,
hôi hám, khét lợm, nồng nặc” (tr. 186)… Viết về chiến tranh, tác giả không ca
ngợi một chiều, không viết theo “chủ nghĩa hiện thực phải đạo”, tức là cái gì của
ta cũng tốt còn cái gì của địch cũng xấu, kiểu như “đồng hồ Liên xô tốt hơn đồng
hồ Thụy Sĩ”, “mặt trời nước Nga đỏ hơn mặt trời nước Mỹ”…
Điều đặc biệt là cuốn sách có một số lượng nhân vật khổng lồ,
gồm 364 nhân vật có tên (trong đó có 237 người có họ tên đầy đủ) . Số lượng
nhân vật cũng nói lên tầm vóc lớn của cuốn sách. Đó là các nhân vật nằm trong 3
mảng kí ức: quê hương, gia đình; chiến trường và chính trường. Có nhân vật được
miêu tả rõ ràng về ngoại hình và tính cách, thậm chí có thể là nguyên mẫu cho một
cuốn tiểu thuyết (tr. 277); tác giả còn có khả năng “vẽ mây nẩy trăng”: có người
chỉ miêu tả qua một câu nói với các cô gái điếm cũng biết được ai nói năng tế
nhị, ai cục mịch; có người tác giả chỉ kể lại phong cách, cử chỉ của họ mà
không chêm xen bất kì sự đánh giá chủ quan nào nhưng người đọc tinh ý vẫn biết
được những ưu điểm lẫn nhược điểm của họ như quan cách hoặc cực đoan. Viết về vợ
không nhiều nhưng người đọc cũng biết đây là người phụ nữ đẹp (tr. 636), làm
nghề giáo, đảm đang, thương chồng, chu đáo “đều đặn hơn hai trăm lần tự tay vợ
tôi xếp, cam, bưởi, sữa chua vào chiếc túi” (tr. 417) mỗi lần ông từ nhà trở lại
nơi công tác ở Hà Nam; nhưng cũng hay…dỗi vì chồng quá bận việc qua 2 câu nói:
“Từ nay, có các vàng tôi cũng không thăm ông nữa…” (tr. 416) và “Thôi, không đi
nhờ xe ông nữa, xuống đi cháu.” (tr. 641) song cũng vì dỗi chồng mà biết lái
xe.
Cách kể chân thực đã làm cho cuốn sách trở nên hấp dẫn. Nhiều
nhân vật có thể là nguyên mẫu cho một cuốn tiểu thuyết không cần hư cấu. Nhiều
đoạn đối thoại, chi tiết ám ảnh, găm thẳng vào trí nhớ người đọc mang dấu ấn của
một truyện ngắn hay. Những đoạn tả cảnh trăng thu trong rừng hay đầm sen bát
ngát ở Tháp Mười… rất giàu chất thơ, đẹp như một tản văn; nhiều đoạn sử dụng điệp
từ rất ấn tượng.
Tự truyện là phải kể những chuyện có thật. Tuy nhiên, thẳng
thật nhưng phải ít tổn thương người khác. Đối với những chuyện không vui hoặc tế
nhị thì ông viết tắt tên hoặc không nói tên hoặc dùng từ ngữ phiếm chỉ. Có sự
việc, tác giả không “lột trần sự thật” mà chỉ “lột he hé”. Ví dụ, sự việc có một
đoàn chiến sĩ bộ binh đi đến đâu là mọi người bị mất cắp vặt bi đông, dép lốp
thậm chí còn ăn trộm lợn của dân nhưng tác giả viết tắt là “đoàn chiến sĩ bộ
binh tỉnh H” hoặc: “mấy chiến sĩ bắt lợn” (mà không viết “mấy tay lính ăn trộm
lợn của dân”); một phó giáo sự gây mất đoàn kết nội bộ ở một trường đại học thì
chỉ nói là “con một vị lãnh đạo cao cấp” (tr. 514); mối tình đầu thì không nói
tên vì cô ấy đã có gia đình; hoặc tác giả chỉ dùng những từ ngữ phiếm chỉ như:
“Một đồng chí Thứ trưởng đã nghỉ hưu gọi điện cho tôi” (tr. 508); “Một vị ở Quỹ
Văn hóa Hà Nội đề nghị” (tr. 557)… Tác giả viết “những người lính phía bên kia”
(tr. 194) chứ không nói là “bọn lính ngụy”.
Còn một ấn tượng nữa là cuốn tự truyện sử dụng rất nhiều
thành ngữ, tục ngữ. Theo sự thống kê tỉ mẩn của tôi thì có 98 đơn vị từ ngữ này
. Điều này cũng dễ hiểu bởi nó phù hợp với tính cách người viết. Vì thành ngữ
là những cụm từ có tính hình tượng và tính hàm súc, khái quát cao, làm cho cách
diễn đạt được súc tích, ít chữ nhưng nhiều ý; tục ngữ là những câu nói gắn gọn
đúc kết kinh nghiệm hoặc chân lí dân gian nên rất phù hợp với một người có thói
quen quan sát rồi rút ra kinh nghiệm thực tế, chiêm nghiệm sự đời như ông. Thế
nên, tôi hoàn toàn tin và đồng ý với nhận xét của một người thầy nói về bài văn
của tác giả khi còn học cấp 2: văn ít lời được ý, “văn của Nghị giống văn phong
lãnh tụ (!)” (tr. 52). Điều thú vị là ông còn thích sử dụng thành ngữ, tục ngữ
xuất hiện ở thời kì sau hoặc sáng tạo lại thành ngữ, tục ngữ cũ. Ví dụ: Biếu ít
xén nhiều (tr. 500); Cắt ngọn công trình” (tr. 626); Miền Bắc nhận hàng, miền
Nam nhận họ; “Hà Nội đít tròn, Sài Gòn đít vuông (tr.334); Tướng tấn, tá tạ, úy
yến (tr. 334); Hà nội không vội được đâu (tr. 609)…Thành ngữ “Vỏ quýt dày có
móng tay nhọn” được biến tấu thành: “Vỏ quýt dày có móng tay… lính trị” (tr.
28); “Nghèo rớt mồng tơi” => (sinh viên) nghèo dưới mức rớt mồng tơi (tr.
70); “Lạy ông tôi ở bụi này” => “xe thưa ông tôi ở bụi này (tr. 460); “Đẽo
cày giữa đường” => Đẽo được cày giữa Đại lộ Thăng Long (tr. 558); “Cái khó
ló cái khôn” => Cái khó khi ấy đã không ló cái khôn, mà ló cái… tôi đành phải
chấp nhận thực tại; “Quan nhất thời, dân vạn đại” => quan nhất thời, vạn đại
chính là dân (tr. 631). Tôi tin việc “biến tấu” này là ông ảnh hưởng bà nội vì:
“những câu tục ngữ, nghĩa, lời văn đã hay lắm rồi. Vậy mà bà tôi cứ sửa lại”
(tr. 32)…
Có thể nói, cái vốn sống ngồn ngộn khổng lồ dồn ứ trong khoảng
thời gian hơn 60 năm của một người tuổi đã ngoài thất thập thật đáng nể. Vốn sống
đó đã đến lúc chật căng mà bung tràn ùa ra thành các con chữ. Qua tự truyện
này, người đọc thấy được những vấn đề thời đại, nhiều suy ngẫm chiêm nghiệm có
chiều kích ở tầm vĩ mô, triết học. Tác giả thật hạnh phúc vì đã có một cuộc đời
từng trải cùng những kí ức tuyệt vời. Hạnh phúc ấy là được trải nghiệm đầy đủ
những cung bậc, trạng thái tình cảm ái, ố, hỉ, nộ; được đi nhiều nơi, tiếp xúc
với nhiều người giỏi giang tầm cỡ, có phông văn hóa lớn trong nước và quốc tế để
học hỏi và phát triển bản thân; hoàn thành được trách nhiệm lớn lao, dẫu không
phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió; và cuối cùng là có được sự thanh thản cuối
đời bên gia đình.
Hà Nội, 12/6/2022
Hoàng Kim Ngọc
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét