Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2026

Đảo hoa vàng

Đảo hoa vàng

“Cô bảo bây giờ họ đã gặp nhau chưa?”
Hình như ông lão Pha Long hỏi tôi câu đó. Lúc ấy là hoàng hôn, bóng tối phía cửa sông trước mặt đang duềnh lên, lớp lớp xô nhau về bờ rồi loang mãi vào trong bãi. Tôi chưa kịp trả lời thì lại nghe tiếng người phía sau, bảo còn sống cả chứ có phải âm dương cách biệt, thế mà cứ loanh quanh đèn cù, kẻ xuôi tìm người ngược… Khi nghe cô hỏi tôi nhớ ngay vì cả hai đều đến tìm tôi tầm nhập nhoạng này và đều là đàn ông… Tôi hỏi cháu tưởng cô gái đi tìm trước? Ông lão lắc đầu, hôm ấy tôi đã định gác chèo thì nghe anh ấy gọi, bảo có việc cần nhờ… Anh ấy là dân đò dọc, không thường xuyên nhưng năm vài lần nếu có việc cũng ngược trên này…
Tiếng người cứ rì rầm lẫn trong tiếng gió…
… Lúc ấy, ngày đã chìm gần hết xuống mặt sông, giữa bờ bãi trải loang ra không một bóng người, dấu vết của chuyến đò đắm còn sót lại mấy khúc thân chuối chặt vội cắm đầy chân hương đã tàn và những lá vàng mã ướt sũng, nhoè nhoẹt màu phai, rải rác trên nền cát sông như những dấu chân âm phủ, có một người đàn ông dẫn ông lão đánh cá đến trước mặt cô gái đang ngồi xệp ngay bên mép nước, bảo cô hỏi ông cụ đây này, tôi nói cứ không tin. Ông lão gật đầu đúng đấy, chuyến ấy không ai thoát đâu cô. Đúng cái xoáy nước nên một lúc mất hơn hai mươi mạng… Nhưng có cách này, may tìm được xác, cô chú có theo không? Ở dưới kia có cái búng nước… Người đàn ông nói tên búng Pha Long. Ông lão gật bảo chú đi nghề thì biết, búng Pha Long dồn hết nước thượng nguồn… Người nghe trầm ngâm bảo dân vạn chài chuyên câu xác người chết trôi ở đấy, nhưng muộn nhất chỉ trong tầm nửa tháng, nếu tính từ hôm xảy ra chuyện thì chỉ còn đúng đêm nay…  Rồi ngẩng lên nhìn thẳng bảo chúng con ra Pha Long, mọi việc xin nhờ ông hết sau đó quay người bước nhanh về phía con đò đang cắm sào phía xa.
Người con gái quỳ sụp xuống vái lạy một lần nữa dòng sông rồi gạt nước mắt, chạy theo…
Từ phía đêm đã lên ngập bãi có hai con đò ngược hoàng hôn về hướng Pha Long…
Tiếng người vẫn cứ rì rầm, đều đều như tiếng sông trở mình đêm nghén nước, kể cho tôi nghe về những con thuyền chài quần thảo dọc ngang một búng nước rộng xoáy dồn vào giữa, tiếng ồ ồ như thác, tận đến khi ông lão mệt mỏi lắc đầu, giơ tay làm hiệu gọi những thuyền bạn cùng lặng lẽ quay về, giăng hàng cuối búng, nhất loạt thu lưới – những tấm lưới dài, sợi to, mắt dày, phía đầu gắn tua tủa các lưỡi câu dài, sắc và chĩa ra nhiều cạnh, ái ngại nhìn người con gái đang ngồi rũ trước mũi thuyền bảo về thôi cô ạ. Mấy ngày, nát cả nước ra rồi. Lưỡi chuyên dùng, sắc như này dính lắm, đã vướng là móc chặt lấy áo quần, da thịt, nếu xác dưới đáy sông kiểu gì cũng câu được, chỉ sợ bị cát vùi, bao giờ Hà Bá cho phép mới được lên. Cô nghe tôi, giờ về, làm cho anh ấy cái mộ gió… Đời người sống chết vô thường…
Cô gái gục đầu xuống, tay vẫn ôm chặt cái túi vải, thì thầm điều gì đó với dòng sông. Nước Pha Long lúc ấy không phải hoàng hôn mà sẫm như màu máu…
“Thế còn người kia hả ông?”
“Phải mấy tháng sau… Cũng chạng vạng tầm này. Đi một mình, chẳng mang theo gì ngoài cái túi vải với bộ quần áo mặc trên người, bảo xuống đò dọc bến cuối từ mờ sáng, đi bộ về đây. Rồi hỏi về cô ấy. Tôi bảo đúng rồi, có người như thế ra tận đây tìm xác cậu. Mấy ngày liền không thấy mới chịu bỏ về. Thân gái đò giang ngược xuôi sông nước…Thế từ ngày ấy chưa gặp nhau à? Cậu ấy bảo mình gặp nạn, có người cứu, hồi được mới lần về… Tôi còn dặn cứ yên tâm, có tình thì sẽ thấy. Con đò cô ấy thuê là một con đò dọc. Giờ muốn có manh mối cứ đò dọc mà tìm…”
“Vâng… Con nghe người ta kể dưới hạ nguồn đã từng có hai người đi dọc các bến sông tìm nhau… Người đàn ông đi một mình, còn cô gái đi trên con đò dọc. Mỗi lần cô ấy lên bờ hỏi khắp mọi người trên bến thì người ngồi bên lái nhìn theo không rời mắt, thỉnh thoảng đưa chai rượu vẫn cầm trên tay lên tu một hơi dài…”
“Nhưng người không thấy, chỉ thấy mùa xuân đến…”
Tôi gật đầu, nghe giữa bãi bờ xanh tiếng cười nói xôn xao, tiếng gọi vọng lên Nấu Khê, Đồng Hào, Văn Úc, Nguyệt Đức… ai xuống không? Một lúc sau lặp lại Nguyệt Đức ai xuống không?
Có một người đàn ông thẫn thờ bước xuống. Cầu ván rút lên. Bờ bãi xa dần. Ánh mắt người trên đò chờ đợi mãi mà phía trước, phía sau vẫn không một bóng người…
“Thế cô bảo lúc ấy người con gái ở đâu?”
“Con nghĩ ở Đảo Hoa Vàng ông ạ… Chỗ ấy không biết cách Nguyệt Đức bao xa vì người ta bảo nhanh chỉ một vài ngày, chậm mất hàng tuần, thậm chí có người đi cả đời không đến phụ thuộc vào dòng ngầm đưa con nước nghịch hay xuôi… Như cái đêm cuối năm ấy trên bờ đê Nguyệt Đức…”
Lúc ấy đã khuya, có hai bóng người đứng cạnh nhau nhìn qua sông về phía bãi hoang, ánh lửa chập chờn. Người đàn ông bảo đấy là chỗ hai ngôi mộ gió, không biết của ai nhưng chắc đêm nay người ta về thăm nhau. Cuối năm rồi, tội thế, đêm hôm… Cô gái lặng yên nắm lấy tay người bên cạnh, bảo anh đã về đây rồi thì đừng đi nữa. Không chỉ Gốm Mai cần mà tôi cũng cần anh. Người đàn ông khẽ gỡ tay cô gái bảo đò dọc đêm nay là chuyến thượng nguồn, không biết có tin gì không… Rồi như sực nhớ hỏi cô gái mới xin vào làm thuê mấy hôm nay người ở đâu? Người đứng cạnh lắc đầu bảo không biết. Cô ấy chịu khó lắm, việc gì cũng làm được. Mỗi tội câm…
Hai cái bóng đứng bên nhau lặng yên, không biết phía sau vẫn có kẻ bí mật dõi theo.
Đêm vẫn thức, tiếng sóng vẫn rì rầm xen lẫn tiếng mưa. Phía bên bờ mộ gió, rượu rót tràn ra bát cạnh những bình gốm xếp thành hàng trên nền đất vẽ ô ăn quan hình tam giác dành cho ba người. Người con gái với lấy hũ rượu ngửa cổ uống một hơi thật dài, đầu gục xuống nhưng rành rọt từng tiếng tôi là kẻ giết người… Tôi không nhà, không người thân… Tôi chẳng có gì cho anh cả. Kể cả tình yêu trong trái tim này… Người đàn ông gật đầu thản nhiên tôi cũng tứ cố vô thân. Ngoài con đò kia, gia tài của tôi giờ chỉ có cô là duy nhất. Tôi yêu cô. Cô có dám lấy tôi không?
Rất lâu sau, ánh lửa bắt đầu di chuyển.
Hai bóng người trên đê đứng nhìn theo con đò bờ bên kia rời bãi, đến khi khuất dạng mới quay về…
… Chuyến đò ấy xuyên đêm, mờ sáng mới dừng chờ chợ dậy bên sông. Người đàn ông nằm trong khoang, gối đầu lên cái bình gốm, nhìn ra phía mũi thuyền chỗ người đang nửa ngồi nửa quỳ, tìm cách treo con cá mõ lên đầu mui. Gió bắt đầu luồn qua mui thuyền mang theo tiếng u u lẫn trong tiếng lanh canh của chiếc chuông gốm nhỏ, nghe quen như gió của một đêm mưa bão trên sông…
… Mưa sầm sập không dứt tiếng. Gió thốc từ giữa sông lên đê rồi ngược xuống, kéo sóng quẩn theo, vỗ oàm oạp vào bờ. Giữa dòng Nguyệt Đức, một con đò dọc vẫn lừ lừ trôi. Ngọn đèn chai treo phía đầu mui đủ soi một quầng sáng vàng mờ trên khoảng sông nước thẫm đen đang duềnh lên, chao nghiêng phía trước. Người đàn ông đầu trần dường như chẳng để ý gì đến gió mưa mù mịt, vẫn vừa khoan thai chèo vừa nhìn về  phía làng xa. Ở đây, mưa chưa ngớt nhưng phía ấy  đã sáng hơn, mấy lò gốm đã lờ mờ hiện hình trong đêm tối.
Trong khoang đò mui che kín mít, mấy người đàn bà buôn chuyến bình thản nằm sát bên nhau, im lặng trong vệt hút mờ của ánh sáng ngọn đèn chai lắc lư theo nhịp sóng, lắng nghe tiếng mưa vuốt những nhịp dài trước khi quất ràn rạt xuống mui. Hình như đâu đó còn nghe tiếng hát:
Con sông bên lở bên bồi
Bên lở lở mãi, bên bồi bồi thêm
Bao giờ gió đứng, sóng êm
Thuyền anh xuôi ngược qua đêm lại về
Gác chèo ngủ giữa bờ mê
Gối đầu bến lú, tứ bề đồng hoang…
Trong bóng tối có tiếng thở dài. Tiếng trở mình. Rồi tiếng thì thầm ngày xưa em đã ước… Tiếng một người khác bảo ước thành bến lú bờ mê chứ gì, khó lắm! Đến nhà Hoa như thế mà bao năm nay rồi vẫn nửa neo nửa đậu, có thành đâu… Lại vẫn tiếng thở dài vẫn biết, nhưng giá kể. Tiếng trở mình rồi gắt khẽ giá kể cái gì, mày ba con rồi đấy, ngủ đi! Mà đến đâu rồi nhỉ? Lại cô gái ấy thì thầm bảo  mưa gió này nhìn thấy gì, đến đâu anh ấy khắc gọi, bao nhiêu năm có làm lỡ bến khách bao giờ…
Bên ngoài, hình như mưa đã ngớt. Làng xa gần lại. Phía trước xuất hiện một bến đò có cây gạo già in một khối bất động trên nền đêm. Người lái đò cúi xuống khoang gọi to bến Nguyệt Đức, ai xuống chuẩn bị, áo tơi mặc vào! Một bóng đàn ông từ tối vẫn ngồi bó gối vơ lấy túi đồ. Cô gái nằm cạnh đó cũng nhỏm dậy, đội nón, im lặng đứng lên.
Tay chèo khoan, con đò từ từ đảo lái vào bến vắng. Chỉ thấy gió mưa chứ không có khách chờ. Tiếng người từ ngoài vọng vào bảo đừng ra vội, chờ neo hẳn đã, chỗ này dòng dữ, không đùa được đâu… Hai bóng người trong khoang ngồi thụp xuống, mắt vẫn hướng về phía bờ. Bỗng có tiếng gọi đò từ phía xa vọng lại. Tiếng con gái rõ dần, vội vã và hốt hoảng. Rồi từ phía đê xa xuất hiện bóng người. Qua màn mưa, cái bóng rõ dần – một cô gái trẻ, nước chảy ròng ròng từ mái tóc bết chặt xuống đẫm vai áo rách toạc, lấp ló khoảng ngực trần, tay ôm chặt một chiếc túi vải nhỏ có quai dài khoác chéo qua vai.
“Đò ơi! Cho tôi lên với!”.
Bóng người chạy ào trên mép nước, nhao ra phía con đò còn cách bờ một đoạn. Người đàn ông ghìm mũi, cúi rạp xuống đưa cả hai tay nhấc bổng cái mớ nửa nổi nửa chìm, ướt sũng lên, xoay lưng che ánh đèn, nhấc vội chiếc áo tơi mắc cạnh mui trùm lên lần áo rách rồi đẩy ra phía mạn sau mình.
Đò chạm mũi, cây cầu ván hạ xuống, hai bóng người từ trong khoang bước ra, cùng tò mò liếc nhìn về phía chiếc áo tơi đang ẩn mình nhưng chẳng thấy gì ngoài bóng tối. Phía lái có tiếng hỏi hai người đi cùng nhau? Cô gái im lặng khẽ gật nhưng người thanh niên lại lắc bảo chúng tôi không quen, chỉ là xuống cùng. Người lái đò vẫn băn khoăn bảo mưa lắm, cô có ai đón không, có mỗi cái nón thế kia thì lấy áo tơi của tôi mà mặc, chuyến sau ra được thì trả, không cũng thôi, đáng gì…
Cô gái đón lấy chiếc áo, rơm rớm nước mắt, quay lưng bước xuống cây cầu ván trĩu nhịp chân người, lên đến mặt đê quay lại nhìn một lần nữa con đò đang rời bến rồi vội vàng chạy theo bóng người phía trước vừa rẽ xuống lối về Nguyệt Đức, chuẩn bị mất hút trong mịt mùng mưa…
Khách trong khoang vẫn ngủ. Không ai để ý  có một khách kì lạ vừa lên.
Cô gái ngồi sụp xuống ngay chỗ sạp thuyền cuối lái, mặt vẫn tái bợt, vừa há miệng hớp từng ngụm không khí vừa lần tay tìm về phía mui đò, dựa vào cho khỏi ngã.
Người lái đò nhìn thẳng về phía trước, hỏi bâng quơ đi đâu. Mãi không thấy trả lời, đang định hỏi lại lần nữa thì cái bóng ướt nhẹp dưới chân cất tiếng thì thầm nhưng rành rọt hai từ “Bến cuối”. Người phía trên thản nhiên gật đầu, giục vào khoang mà ngồi. Bỏ áo tơi ra cho ráo. Cái bóng đờ đẫn ngồi im thêm lúc nữa, sau đó mới cởi áo tơi, nhưng không bước xuống khoang mà vẫn ngồi ngay chỗ cũ, gục đầu xuống gối, tay ôm khư khư cái túi vải.
Có tiếng sụt sịt…
Ánh mắt nhìn xuống chạm vết máu còn tươi nguyên bắn trên vạt áo rách. Nhịp tay chèo khựng lại. Cái bóng giật mình nhìn theo hướng ánh mắt, phát hiện ra vết máu thì kinh hoàng, luống cuống lấy tay lau. Nhưng vì càng lau, vệt máu càng loang lổ thêm trên vải nên vội vã đứng dậy, định đi về phía mũi thuyền. Tiếng người lái đò đanh giọng quát với theo, bảo nước xiết thế này, muốn sống thì đứng im, chờ đấy. Rồi một tấm áo đàn ông quăng trùm lên đầu cái bóng nhỏ: “Thay ra!”.
Con đò dọc trôi vào khúc ngoặt bỏ lại Nguyệt Đức sau lau sậy ngút ngàn, rồi cứ thế lặng lẽ xuyên đêm đến tận xế chiều hôm sau mới dừng lại, cắm sào trên bến cuối.
Những người khách cuối cùng với thúng mủng, gánh gồng, mang vác lần lượt tản đi các phía, bỏ lại bãi vắng ngập hoàng hôn. Trong khoang, chỉ còn lại người con gái Nguyệt Đức lùng thùng trong manh áo đàn ông dài ngang đầu gối, tay ôm chặt cái túi vải, ánh mắt hoang mang nhìn bến lạ đang tối dần, nấn ná mãi cuối cùng mới quyết định bước xuống, đi về phía triền đê. Người đàn ông chủ đò nửa nằm nửa ngồi trên dốc cỏ, lừ lừ nhìn cái giá treo áo đang đứng trước mặt mình từ chân lên đầu, lẳng lặng dốc ngược chai rượu, tu nốt chỗ còn lại, rồi thẳng tay quăng xuống bãi cát trước mặt bảo gọi tôi là Thức. Muốn nói chuyện thì phải biết tên. Bây giờ đi đâu? Bến cuối, mà sắp tối rồi, còn chần chừ gì nữa? Có người đón hay chỉ một mình? Rồi đột ngột ngồi thẳng dậy, nhìn xoáy vào mặt người phía trước bảo nói thật đi, không có chỗ nào để về. Đúng không? Thẳng thắn mới tiếp được…
Cô gái lại quay nhìn sông rộng phía sau và bến vắng trước mặt, ứa nước mắt, gật đầu.
Người đàn ông vớ chai rượu để bên, mở nút lá chuối, tu thêm hơi nữa rồi đập tay xuống trảng cỏ bên cạnh mình. Chờ người ngồi xuống rồi mới thản nhiên nói cô vừa gây ra chuyện gì, tôi không biết, nhưng đang chạy trốn, chưa có chỗ đi. Đúng không? Cô gái gật đầu. Thế giờ định thế nào? Cô gái ngẩng lên, nhìn Thức, khẩn khoản bảo bây giờ tôi không có tiền nhưng vẫn muốn nhờ anh một việc. Nếu anh đồng ý, tôi sẽ trả sau. Xin anh tin… Tôi không dám dối… Thức nheo mắt, nhìn thêm một lượt cái mớ vải lùng thùng trước mặt hỏi việc gì? Cô gái rơm rớm nước mắt bảo tuần trước, tôi gặp anh ở bến Nguyệt Đức. Đêm ấy sáng trăng…
Thức nhìn chằm chằm một lúc nữa rồi gật nhớ rồi… Chuyến ấy tôi về chậm hơn thường lệ… Cô đi đón người nhưng không ai xuống mà chỉ có khách lên…
“Đêm ấy trăng lạnh lắm… Thấy tôi còn lại một mình, anh bảo đừng chờ nữa, nghe nói trên nguồn mưa dữ lắm lại vừa có vụ đắm đò nhưng chưa rõ thực hư, vài hôm nữa quay về sẽ nói cụ thể tôi nghe…”
“Nhưng chuyến về tôi chờ, không thấy…”
“Chuyện xảy ra ngay sau đó… Sau lúc anh đi…”
Thức nhìn mãi ra xa chờ tiếng sụt sịt nhỏ dần mới hỏi thế giờ cô muốn gì? Người con gái mếu máo bảo người yêu tôi đi chuyến ấy, nhỡ hẹn từ tuần trước chưa về… Anh cho tôi ngược, lên chỗ đắm thuyền ấy, tôi tìm người…
Thức lặng im. Lại ngửa cổ tu thêm rượu rồi mới quay sang hỏi nếu tìm thấy? Mắt cô gái sáng lên, lấp lánh bảo tôi sẽ trả tiền anh, không để anh thiệt đâu. Thức thản nhiên, giọng lạnh tanh hỏi còn nếu không? Rồi đứng dậy, bước xuống bãi, cúi nhặt cái chai vừa quăng trên cát, vẫn không ngoảnh lại, rành rọt từng tiếng tôi sẽ đưa, nhưng xác định đi, người ta bảo chuyến ấy không thoát một ai, Hà Bá gọi một lượt, gần hai chục người… Chỉ tìm được vài xác thôi còn mất tích hết. Chỗ ấy dòng ngầm, dữ lắm. Rồi như sực nhớ, quay lại, móc túi, lấy nắm tiền đưa cho cô gái, giục cầm lấy, lên trên kia, đầu làng có cái quán dưới gốc đa, mua mấy bộ quần áo mặc cho đàng hoàng, lấy thêm hai chai rượu, bảo mua cho Thức đò dọc, nhanh không tối… Còn đi thì phải mai mới có con nước. Ngược nguồn không phải lúc nào cũng được… Phải đêm mai…
Bến sông mênh mông.
Thức đứng nguyên trên bãi nhìn theo bóng cô gái từ lúc chạy mải miết về phía quán chợ dưới hoàng hôn đến tận lúc quay trở về cầm theo bọc quần áo và hai chai rượu bảo chị chủ quán nhắn anh vào rồi ngó bốn bề đêm vắng lặng bảo anh đi đi, tôi có việc phải làm… Thức gắt tắm gội gì thì nhanh lên, sạch sẽ vừa thôi. Người con gái im lặng bước về phía lái, nhổ sào, đẩy con đò ra, đến giữa dòng, nghe tiếng quát từ trên vọng xuống được rồi đấy nhanh lên thì dừng chèo lại, đi lên đầu mũi, nhảy xuống, mất hút dưới mặt nước. Thức chờ một lúc, sốt ruột, đứng bật dậy, nhìn chằm chằm vào khoảng sông đen kịt, tĩnh như tờ, đang định chạy xuống thì nghe tiếng động, cái bóng nhỏ trồi lên, khoả nước, bơi trở về thuyền. Rồi vừa phơi tấm áo của Thức lên cây sào đầu mũi vừa giục chị ấy đang chờ, tôi ở đây trông thuyền cho… Thức cười khẩy bảo mười mấy năm tôi cắm sào ở cái bến này có bao giờ phải trông? Cô mà ở lại phải trông cô thì có. Vào ăn chút gì rồi ngủ. Trông như con ma nước. Chẳng ra hồn người… Cô gái ngần ngừ nhưng quán chật lắm… Thức vừa lúi húi buộc dây neo vào chiếc cọc gỗ vừa thản nhiên bảo đúng là chỉ có một cái giường. Nhưng cô yên tâm… Tôi bảo cô là em họ tôi nên không phải ngủ với tôi đâu mà sợ. Còn chúng tôi ngủ ở đâu cô không phải quản… Cô gái phân trần ý tôi không phải thế… Chị ấy bảo mấy chuyến rồi anh không ghé, tôi sợ…Thức đứng thẳng dậy, nhếch mép bảo sợ ảnh hưởng đến chúng tôi chứ gì? Nói thật nhá, cô mà ốm lăn ra đấy, phải lo cho cô, còn mất hứng nhiều hơn, chứ tính tôi mà đã thích thì chỗ nào cũng làm được…
Thức quay lưng bước lên đê giục nhanh cái chân lên, đừng để phải nói nhiều! Mà tên cô là gì để tí nữa tôi còn gọi…
Người con gái đứng trên mũi đò, ngẩn người nhìn theo cái bóng lưng đàn ông lừng lững mỗi lúc một xa rồi chập vào quãng giữa với ánh đèn chai đi ra từ phía quán. Có tiếng gọi vọng đến về ăn đi, cơm nước dọn cả rồi…
… Người phụ nữ gắp thức ăn vào bát cho Thức rồi quay sang nhìn cô gái giục ăn đi, người nhà mình cả, ngại gì… Lại ngắm nghía thêm lúc nữa, tấm tắc người đâu nuột từ đầu đến chân… Tôi mà là đàn ông… Mà sao chỉ ăn có thế? Cô muốn đi nghỉ sớm? Ừ, ra phía sau nhà. Nước nôi, rửa ráy ở đấy cả… Cứ tự nhiên nhé! Chúng tôi còn lâu, không theo được đâu. Rồi quay lại giục Thức ăn đi mình, lâu lắm không về, nom gầy đi rồi đấy!
Thức im lặng, cầm chén rượu vừa rót lên uống cạn, mắt vẫn nhìn về phía bóng người vừa khuất lối cửa sau.
Có tiếng thau chậu va vào nhau, tiếng dội nước… Rồi im lặng…
Thức vẫn vừa uống vừa liếc về phía cửa. Một lúc sau buông chén, đứng dậy, cau có, lẩm bẩm làm cái gì mà không thấy vào.
Cái bóng nhỏ đang ngồi gục đầu, co ro, sụt sịt khóc bên đống rơm trong góc bếp chợt giật mình, ngẩng lên, thấy Thức đứng sừng sững ngay trước mặt, đanh giọng: “Lên! Tự đi hay muốn thế nào?”.
Khuya ngoài kia…
Gió vẫn từ trên xuống qua vòm lá, sóng vẫn từ sông về rì rầm. nhưng trong quán không tiếng động, chỉ nghe tiếng thở mảnh và đều của người con gái đã ngủ say vang lên từ chiếc giường nhỏ sau đống sạp hàng.
Rồi tiếng cửa mở. Tiếng bước chân. Tiếng người nho nhỏ: “Mình đi đâu bây giờ?”. “Ra đò”. “Em đi với! Lâu lắm rồi mình không về! Em nhớ…”. “Ở lại với cô ấy! Hôm nay tôi hơi mệt…”. “Nói dối em phải không? Hôm nay mình khác quá… Hay có con nào rồi… Chờ em với…”.
Cửa khép lại.
Tiếng bước chân xa dần.
Bốn bề bất chợt im lặng cả… Không còn gió. Cũng không nghe thấy sóng. Nhưng có tiếng trở mình. Người con gái đang nằm ngồi dậy, dựa lưng vào tường nhìn như thôi miên vào khoảng không tối đen trước mặt. Bến Nguyệt Đức hiện ra như chìa tay vào là chạm; một người đàn ông bên lò gốm cũ đang cười; một cây mộc hương với những chùm hoa vàng li ti; một cuộc chia tay ở bến sông, người thanh niên không rõ mặt đứng bên mạn con đò dọc đang xa dần vẫy mãi. Và cuối cùng, một bàn tay đầy máu giơ lên túm lấy cổ áo con gái, giật toang ra… Bóng người nhỏ bé co rúm lại, trùm chăn lên kín đầu, gục xuống…
Có tiếng động cửa, bóng người bước vào, lặng lẽ ngồi dựa vào cuối giường, nhắm mắt. Tiếng cô gái thì thầm hỏi câu gì đó khiến cái bóng mở choàng mắt ngạc nhiên bảo tôi tưởng cô ngủ rồi… Thế ra vẫn thức từ tối? Lặng im một lát, lại thở dài tôi biết  chuyện cô rồi, cùng phận đàn bà, thương lắm nhưng không làm sao được. Đi thì đi, tìm thì tìm cho trọn tình vẹn nghĩa chứ đừng hi vọng nhiều, khổ thêm. Người ta bảo chuyến ấy chết hết rồi… Lặng im thêm lúc nữa, lại thì thầm mà tôi cũng thế…  Trông thế này chứ hơn gì cô. Gặp bao nhiêu năm thì bấy nhiêu năm yêu người ta. Ngày trước còn mơ được cưới. Giờ thú thật, chỉ mong xin đứa con… Nhưng khó thì khó, tôi sẽ cố bằng được… Rồi cô xem…
Người con gái gật đầu đồng tình.
Cái bóng lại thở dài, nằm xuống, xoay mặt ra ngoài, lẩm bẩm chắc chắn có con nào, chứ bình thường chẳng bao giờ thấy gái lại gạt ra như thế… Để tôi xem thử ăn phải bùa mê thuốc lú chỗ nào…  Lặng yên một lúc, lại giục cố mà ngủ đi, mai còn ngược, dò bóng chim tăm cá không thể ngày một ngày hai…
“Lời nói đêm ấy tưởng chừng vu vơ thế mà đúng…”
Tiếng ông lão Pha Long rì rầm. Tôi bảo vâng, cứ ngược nguồn rồi lại xuôi về biển, có những người đi tìm nhau dọc các dòng sông…
Rồi một đêm cuối cuộc hành trình, con đò dọc dừng chèo bên bãi vắng. Thức hỏi qua mui thuyền lên trên mũi chỗ này đúng không? Người con gái đứng im nhìn hút về phía làng, một lúc sau mới thẫn thờ, chỉ tay về phía bến Nguyệt Đức bên kia sông, chỗ bóng những lò gốm im lìm bảo nhà tôi chỗ ấy nhưng không về được nữa… Rồi lại lặng im, ôm chặt hơn cái bọc trước ngực, xách cây đèn chai, bước qua cầu ván, lầm lũi qua bãi, vào tít phía sâu, chỗ gốc gạo già in bóng sẫm trên nền trời.
Quầng sáng vàng của bóng đèn chai soi từng nhát thuổng đào sâu xuống nền đất ẩm. Hai cái hố nhỏ bằng nhau hiện ra. Hai chiếc hộp gỗ nhỏ lót vải mỗi hộp đựng một bộ xương dâu, gáo dừa hạ xuống. Từng lớp đất phủ dần lên thành hai nấm mộ. Hương thắp, vàng mã hóa, lửa bùng lên cùng với tiếng thì thầm từ trong này nhìn ra sông, thầy ở bên tay trái, anh bên phải, con mang hai người về đây để cùng thấy nhà mình… Rồi ngước lên  bảo Thức tôi lên đò anh ở bến Nguyệt Đức, từ chỗ ấy, vào sâu vào chút nữa có hai lò gốm cổ, một trong hai lò gốm ấy là Gốm Lệ nhà tôi nhưng giờ không về được nữa… Đêm ấy cùng đường, không gặp anh chắc tôi cũng chết. Tôi đội ơn anh một mạng nhưng chẳng biết tương lai sẽ thế nào, có khi chết còn hơn…
Lửa mã tắt. Gió cuốn tàn tro bay tung ra sát mép nước.
Bên kia sông, bỗng có tiếng gọi đò.
Cô gái sau khi quỳ xuống vái lạy hai ngôi mộ gió thêm lần nữa thì đứng dậy xách cây đèn chai, giơ lên làm hiệu, trả lời qua sóng: “Đò đây! Ai gọi đò đấy? Ơi bờ!” rồi quay giục Thức bảo để tôi chèo, anh đón khách lên đi…
… Mấy người đàn bà lên từ bến Nguyệt Đức lao xao may quá, có anh quay lại đón không nhỡ chuyến. Đứng tí mà lạnh cả gáy. Bến này có ma. Vài hôm mà chết mấy người… Hôm nọ nhà Hùng kể chính mắt nó thấy ông Hài, lang thang ngay đầu bến, vừa đi vừa gọi con… Mà không biết cái nhà cô Lệ đi đâu ấy nhỉ. Mất tích mấy tháng rồi… Hôm qua đi ngang qua Gốm Lệ, cứ như cái nhà hoang…
Người con gái trùm khăn kín mặt, đứng cuối lái, chờ Thức rút cầu ván, nhổ sào, chống vào bờ cát thì đảo mái chèo, xoay mũi đò hướng ra phía dòng sâu.
Nguyệt Đức phía sau chìm hẳn vào bóng tối.
Thức bước xuống giục đưa cái nón đây rồi vào khoang mà ngủ… Gió sông lộng, quấn chặt khăn vào… Cái bóng lẳng lặng gật đầu, hạ bớt tấm liếp che cho gió khỏi vào khoang của khách rồi men theo mạn, lên phía mũi, bước chân lảo đảo, bàn tay víu vào mui nứa miết một vệt dài.…
Con đò dọc lừ lừ trôi trên sông đêm, trên mũi đò in rõ hình người co quắp, hai tay ôm  đầu, gối co lên chạm mặt. Gió sương lạnh ngắt ướt đẫm cả tóc lẫn áo quần. Thức buông chèo, thả đò trôi, đi lên khẽ đập vào vai người đang nằm giục  xuống khoang nhưng vì cái bóng không nhúc nhích nên phát cáu, quát ầm lên bảo có điếc không, xuống ngay, nằm thế này nhiễm sương chết cứng ra đấy lại phải tìm chỗ chôn, muốn chết mai tìm bãi hoang ở lại một mình mà chết, đò tôi chở khách chứ không đi chôn người… Tiếng trả lời nghèn nghẹn, thì thầm họ lên từ  Nguyệt Đức. Thức im, ngẫm nghĩ  bảo thế xuống lái, trùm cái khăn lên, không ai để ý đâu… Bỏ đây xem nào, có cái khăn cũng lóng nga lóng ngóng, túm chặt thế này này, đẹp đẽ gì… Mà xoè tay ra, làm sao đây, biết ngay mà, có đi vài bước cũng không nên hồn, cái mui đan bằng nứa mà miết xuống bảo sao dằm không ăn vào đến xương, đùa được hả? Rồi đưa lên miệng, chạm lưỡi vào tìm vết dằm sâu, xong xuôi đâu đấy mới giật chiếc áo tơi treo cạnh mui, úp chụp lên đầu người trước mặt nói cộc lốc mặc vào, lấy chai rượu trong góc sạp rửa sạch đi, để có sẹo thì đừng trách!
Trong khoang, mấy người đàn bà đã ngồi cả dậy, tò mò nhìn, kín đáo thì thào gì đó. Thức vẫn tiếp tục chèo, không nhìn cái đống đang ngồi sù sụ dưới chân mình mà ngóng về phía trước, vẻ trầm ngâm bảo ngày mai, lên chợ mua thêm gạo, muối. Mua nhiều vào. Làm sao phải ngạc nhiên? Tôi bỏ đò dọc. Có theo không mà hỏi?
Cô gái ngồi xây mặt lại nhìn về Nguyệt Đức, một lúc sau mới nghe tiếng thì thầm không biết anh đi đâu nhưng cho cho tôi theo với, được không?
Thức im lặng chèo, khi con đò chạm mũi vào hoàng hôn thì dừng lại bên một bến hoang. Lúc ấy sương bắt đầu xuống. Hòn đảo lút đầu lau sậy trước mặt mờ nhanh như ảo ảnh, loáng một cái đã nhoà như khói, chỉ còn vọng lại đôi tiếng bìm bịp vẳng lên từ mặt nước đầy những xoáy ngầm.
Và bất chợt đâu đó bỗng có tiếng đò ơi…
Người con gái đang ngồi trên đê nhìn sang đảo liền đứng phắt dậy bảo  anh có nghe thấy gì không? Ai gọi đò đấy! Thức thủng thẳng có phải bến đâu mà gọi. Cô tỉnh lại đi! Chỉ có cái đảo hoang. Dân sông nước chúng tôi gọi là đảo Mui Rùa vì nó có hình cái mui rùa. Đặc biệt là không có chân, di chuyển theo dòng chảy của sông, muốn vào không dễ… Cô gái bảo tôi không phải trẻ con mà doạ, nhưng vì sao anh bỏ đò dọc về đây. Thức đứng dậy, bước chân xuống triền đê ngập cỏ hoang, tiếng vọng lại trong âm thanh loạt soạt của cỏ tranh khô cuối mùa trả lời lang thang chán thì dừng. Không thích ở cùng cứ ngồi đấy. Nếu theo thì cẩn thận. Đúng vết chân mà đi…
Đêm xuống cùng lúc con đò chạm vào bờ đảo. Thức xem xét một hồi rồi quay lên, nằm lăn ra sạp, vừa nói vừa ngáp ở trên này thôi. Mai phát hoang rồi hãy xuống. Um tùm thế kia kiểu gì cũng có rắn… Ngủ đi! Đã bảo cứ yên tâm, nằm hẳn ra ngoài này… Sở thích của tôi mạnh lắm chứ cái kiểu người một dúm, không ngực không mông như cô, không có hứng…
Cô gái lẳng lặng hạ tấm liếp che mui thuyền, nằm sát vào góc sạp, quay mặt vào trong, tay vẫn ôm khư khư cái túi vải…
Đêm hoang vắng và cô đơn như đảo.
Đêm khắc khoải tìm giấc ngủ trong tiếng bìm bịp từ dưới đáy sông vẳng lên theo những đợt sóng ngầm…
“Cái đảo ấy có phải cô vẫn gọi là Đảo Hoa Vàng?”
“Không ông ạ! Cái tên ấy mãi sau này mới có. Còn bây giờ họ vẫn gọi nó là đảo Mui Rùa…”
… Khi Thức gút lại những nút cuối cùng tấm giại che nắng trước hiên ngôi nhà tranh mới dựng, màu mái cỏ hanh hao sáng lên trên cái nền lau sậy bạt ngàn, hệt như nụ cười của nắng bỏ quên lúc ghé qua thăm đảo thì đâu đây thoảng nghe mùi khói. Thức ngó ra, mắt dính chặt vào đôi chân trần trên nền đất phù sa rồi lướt lên vạt áo loang mồ hôi, ơ hờ che phía trong không đồ lót của người đang dồn cỏ tranh vào một đống, châm lửa đốt, ngẩn ngơ một lúc rồi cau mặt quát đội cái nón vào, đàn bà con gái đầu như đầu trâu. Chân tay cũng thế. Phơi lắm không biết héo à? Người con gái quay vào, lẳng lặng vơ nón đội, nghe Thức bảo ngày mai tôi lên bờ, mua mấy thứ thì tần ngần đứng mãi bên ngưỡng cửa, nhìn cái bàn thờ mới lập đặt lọ cốt tro và hai tấm bài vị một lúc rồi quay sang Thức hỏi anh có nhiều tiền không? Thức tò mò nhìn chằm chằm hỏi muốn làm gì? Định bán mình lấy tiền chắc? Cũng có một ít… Nhưng không biết cô giá bao nhiêu? Cô gái lắc đầu không phải, tôi vay. Mai anh cho tôi lên với…
Thức lạnh lùng nhìn người trước mặt thêm vài lượt nữa rồi im lặng quay đi, không nói thêm câu gì cho đến tận tinh mơ hôm sau, khi người từ trong nhà bước ra, khăn choàng kín đầu và vai, chỉ hở hai con mắt hỏi thế này được chưa? Thức nhấc cái nón treo trên vách quăng đánh vèo ra sân, nói cộc lốc đội vào rồi lẳng lặng vác chèo lên vai. Đống áo khăn lụp sụp khoác cái túi vải vừa vội vàng đội nón vừa nhắc nhớ cho tôi mượn tiền. Thức dừng lại, gườm gườm nhìn từ mớ tùm hum trên đầu xuống đôi chân trần, quát chân tay thế kia đi đâu? Có đôi dép cũng quên quên nhớ nhớ… Vô dạng… Tí lên bờ thì đứng yên một chỗ. Ngớ ngẩn lang thang, lạc, không ai tìm được…
Cô gái cúi đầu, lầm lũi bước.
Đò chuyển mũi, hướng ra sông.
Bình minh lên nhuộm cửa sông thành dòng nham thạch. Con đò của Thức ngược dòng nham thạch ấy, đi về phía mặt trời. Gió bắt đầu nổi, cô gái bảo còn lâu nữa không, giờ xuôi, tôi đứng lái thay anh. Thức không nói gì, hất đầu về phía trước. Dưới tán đa xanh mờ trước mặt đã nghe tiếng chợ rì rầm. Người trên mũi quay nhìn bến, lại nhìn sang chợ, ngẩn ngơ một lúc rồi reo lên khe khẽ tôi nhớ rồi, may quá, chỗ này lên quán chị Hoa hôm trước. Tôi đang có việc cần nhờ chị ấy. Rồi ngạc nhiên nay anh không vào quán? Thế cho tôi mượn tiền… Thức hỏi bao nhiêu? Người trước mặt lắc đầu bảo không biết nhiều hay ít… Rồi vẫn băn khoăn nếu chị ấy hỏi anh thì tôi bảo thế nào? Thức móc túi, lấy tiền bảo cầm hết lấy, thế nào thì thế nhưng trông đò đã, chờ tôi về hãy đi, đừng có chạy tớn lên, không tìm thấy đường về đâu. Cái đầu trùm khăn đã cúi xuống, sắp chui vào khoang liền quay ngoắt lại bảo rảnh, thời gian ấy thà ngủ. Anh nhanh lên, đừng có lang thang, lỡ việc tôi…
Thức không nói gì, lựa mũi cho con đò ghé bến. Khi đứng trên mặt đê còn nhìn lại, thấy liếp đã kéo xuống che kín hai đầu khoang mới yên tâm rảo bước về phía lao xao tiếng chợ dưới vòm cây, gần trưa quay về, giở đống đồ vừa mua ra ngắm nghía mãi rồi khẽ nằm xuống, ghé sát vào cổ người đang ngủ say, hít một hơi dài…
Bến vắng…
Bãi nắng…
Con đò hạ mui nói gì đó trong rì rầm tiếng gió lẫn sóng sông…
Bên hông chợ vãn, người đàn bà đang lúi húi dọn dẹp, nghe tiếng gọi, quay lại mừng rỡ hỏi cô đấy à? Đi với ai? Chuyến nọ lên ngược thế nào? Cô gái lắc đầu, rơm rớm nước mắt bảo không thấy… Về cả búng Pha Long tìm cũng thế… Giờ chỉ trông các đò dọc hỏi hộ thôi…  Em về, nhờ chị cái này… Anh Thức ngoài bến ấy. Bảo không vào nhưng em có cách. Rồi ghé vào tai người trước mặt thì thầm… Người đàn bà quay vào bưng ra một cái hũ mã mật nút lá chuối. Cô gái chìa tay đón, lắc nhẹ rồi nghiêng miệng hũ soi ra ánh sáng, gật đầu bảo trong suốt đáy, hương ngọt, tăm sủi từng đợt thế này là ngon thật đấy… Chị ra bến, bảo mang bữa trưa, rồi ở đấy, em trông quán cho… Người đàn bà vừa sắp thức ăn vào chiếc thúng con đậy tấm vỉ buồm vừa nói cô đi vào làng, đến chỗ đầm nước có cây đề, hỏi nhà ông Tú Nghênh, người ta chỉ cho. Đồ ấy không sẵn, chắc phải đặt hàng, nhanh cũng phiên chợ sau… Cứ đi cho được việc, quán xá lo gì, lo cho tôi đây này, làm thế nào để lão ấy gieo cho thằng cu hay cái đĩ đây này, bao nhiêu năm nay có lừa được đâu…
… Bốn bề yên ả.
Thức vẫn ngủ.
Khoang đò tối lờ mờ.
Người đàn bà để thúng đồ vào góc sạp, khe khẽ nằm xuống bên cạnh, đưa tay lướt dọc từ trên ngực xuống. Thức giật mình, vẫn nhắm mắt, đờ ra một thoáng rồi lật người lên, ép thân hình phía dưới xuống ván thuyền, mê mải vừa hôn vừa lần tay lên ngực giật bung hàng cúc áo. Đôi bàn tay con gái nằm dưới vuốt dọc sống lưng cuồn cuộn, dừng ở ngang hông, giữ chặt giữa hai chân trần…
Thức rời môi khỏi cái hôn dài, trượt xuống cổ, hít một hơi thật sâu… Rồi chợt khựng lại, mở choàng mắt…
Cái im lặng rã rời từ khoang đò nhỏ theo dấu người về đến tận cửa quán dưới gốc đa.
Mãi lâu sau, một trong hai cái bóng cùng ngồi cúi gục đầu ngẩng lên, nhìn bốn phía mênh mông bắt đầu chìm vào bóng tối bảo thôi em đi, tiền bán hàng để dưới chiếu đầu giường, cứ lật lên là thấy, có bác Thái nào ấy mua chịu hai gói thuốc lào… Người đàn bà bĩu môi nguýt biết rồi, lão ấy cái gì mà chả chịu, lấy cớ đấy, ngày nào chả ngồi mọc rễ đủ hai buổi, gạ tôi về ở chung mấy năm nay rồi… Rồi cười buồn kể cũng lạ, đứa sẵn sàng đội mình lên đầu thì chả thiết, cứ thiết đâu đâu… Sực nhớ ra, lại quay sang giục thôi, cô về đi, nao rảnh mà tiện đường tôi ghé…
Thức đang ngồi trên đê, hướng mặt về phía sông, thấy người về thì thản nhiên đứng dậy, vừa đi vừa giục mau cho kịp con nước, hôm nay không về đảo đâu. Cái bóng rảo bước vượt qua mặt Thức im lặng. Thức ngạc nhiên không hỏi đi đâu à? Phía trước vẫn cắm cúi bước bảo đi đâu mà chẳng thế. Cùng lắm là bị đem bán. Mà cái dạng tôi, anh có bán cũng chẳng ai mua…
Im lặng thêm lúc nữa rồi tiếng Thức đằng sau vọng đến bảo về Nguyệt Đức, bây giờ đi, đêm đến là vừa…
“Chuyến ấy họ về Nguyệt Đức làm gì, cô có biết không?”
Hình như ông lão Pha Long hỏi tôi câu ấy, nhưng tôi chưa kịp trả lời…
… Lúc ấy, bên hiên nhà tranh giữa đảo, Thức cầm cây búa nhỏ và cái đục cẩn trọng đục những nhát đầu tiên xuống đáy cái chum sành.
Người đứng cạnh ngạc nhiên, nhìn đi nhìn lại mấy lượt bảo sao anh phá ra, đấy là cái ang đựng nước. Thức im lặng, chờ đến khi bên kia lặp lại anh hết việc rồi hả, cái đấy đựng nước trên thuyền mới thản nhiên bảo đúng rồi, tôi mua để đựng nước. Chỗ này chỉ có cô rảnh. Ra sạp lấy cái cây về đây… Cây gì ra thì biết. Hỏi nhiều…
Cô gái quay ra đò rồi trở về với một bầu đất nhỏ ươm cây mộc hương gầy như que củi. Thức ngắm nghía cái chum đã đục bảo không phải phiên chợ nhưng may có người bán. Không được to lắm nhưng đuôi có đầu nuôi lâu cũng lớn. Người nghe gật đầu, thủng thẳng nói cây này trồng cái hũ này, may chục năm nữa bói hoa. Thức không nói gì, lẳng lặng vun đất vào gốc, một lúc sau mới ngẩng lên hỏi lúc ấy cô vẫn ở đây chứ?
Người con gái không trả lời, mắt nhìn mãi phía sông xa nhớ về cái đêm ở bãi hoang bên kia bờ Nguyệt Đức, có hai bóng người trước hai ngôi mộ gió lập lòe hương, bốn phía bao quanh là bóng tối. Đâu đó có tiếng thì thầm cô bảo bên kia có hai nhà làm gốm. Một là nhà cô? Cái bóng nhỏ vẫn gục đầu xuống gối trả lời là Gốm Lệ. Bố  tôi đặt theo tên tôi. Ở đó có một ngôi nhà gốm bên hiên trồng cây mộc hương cổ thụ… Anh biết không. Từ bé tôi đã mê gốm. Cứ như bị đất bỏ bùa… Cả anh Mộc, người yêu tôi cũng thế. Ngày anh ấy đi, bảo tìm thêm đất gốm… Thế mà không về…
Cái bóng đứng dậy, cầm cái bao nhỏ mang theo từ dưới thuyền bảo anh chờ tôi tí rồi xách cây đèn chai ngược vào trong cánh đồng, đến một vạt đất sét liền thổ bị khoét sâu xuống thì dừng lại bảo đất sét Nguyệt Đức nạc hơn các nơi khác nên mới làm được gốm. Giờ tìm được mỏ đất mới khó lắm. Chỗ này cũng không đẹp đâu. Đất đẹp người ta lấy hết rồi. Nhưng thôi, có là tốt… Người đàn ông bảo ngồi yên đấy rồi nhảy xuống, lẳng lặng xắn đất bằng hai bàn tay chuyển lên, vừa làm vừa cằn nhằn đã mất công thì lấy quá vào.
… Bóng đèn chai đong đưa trên mép sóng soi bóng người cúi xuống, rửa tay, màu đất sét hòa lẫn trong màu máu rồi bất ngờ nhìn thẳng vào mắt người đứng cạnh hỏi tôi đưa cô về Gốm Lệ… Một lúc… Có đi không?…
“Đêm ấy họ về Gốm Lệ ông ạ! Lấy ít bông mộc hương bên hiên nhà gốm cổ. Rồi đi…”
… Có tiếng lạch cạch, Thức ngẩng lên nhìn cô gái đang đổ chỗ thuốc bắc vừa nghiền ra bát rồi cho chỗ bông mộc hương sao khô vào trong cối giã, mắt vẫn thỉnh thoảng ngóng ra sông bảo anh để ý hộ, tôi đang chờ người, chỉ sợ họ gọi tôi không nghe thấy. Thức hỏi chờ ai, mà làm cái gì hì hục từ sáng đến giờ? Người được hỏi vẫn chăm chú trộn bột, men với chỗ thuốc bắc vừa nghiền, nặn thành từng viên nhỏ tròn đều, xếp lên nia rải trấu rồi nhấc tấm chăn mỏng phủ lên, cẩn thận cất vào góc nhà, xong xuôi mới bảo tôi làm men rượu… Vâng, men hoa… Cứ loài hoa nào không độc thì đều làm men được. Nhưng tôi thích nhất men mộc ủ nếp cái hoa vàng… Thức bảo trông ngơ ngẩn thế mà cũng khéo tay phết nhỉ. Cô gái gật đầu, thản nhiên đi ngang qua bảo giờ anh mới biết quá muộn rồi…
Ngoài xa bất chợt có tiếng gọi, người trước mặt Thức ngẩng lên nhìn rồi cứ thế nguyên chân trần băng trên cát ra rìa đảo, nơi con đò dọc vừa cập bến. Tiếng vọng vào đúng hẹn nhé! Tiếng con gái trả lời gì đó, lẫn trong tiếng đàn ông cười…
Sau đó lặng im…
Bước chân người không quay trở lại, bỏ Thức đứng một mình bên hiên nhìn mãi về phía cửa sông, chỗ ấy, con đò dọc mang theo tiếng cười vừa đi khuất vào bóng tối …
“Vậy là đêm ấy cô gái không trở về?”
“Vâng, cô ấy không quay về… Nhưng phía sau đảo, bên mép thuỷ triều, khuất sau lớp cỏ tranh cao lút đầu người, có một cái bóng âm thầm vạch xuống cát bàn chơi ô ăn quan hình tam giác bên cạnh bộ đồ nấu rượu vừa được mang lên bãi. Rồi giở cái túi vải lúc nào cũng đem theo bên mình, lấy ra những viên sỏi, lặng lẽ vừa chơi vừa rì rầm nói chuyện với ai đó, và hát đi hát lại khúc đồng dao mà lũ trẻ con hay hát lúc tàn quân: “Hàng trầu hàng cau, là hàng con gái…” Những viên sỏi trắng thả xuống từ tay người, nằm gối đầu lên nhau trên nền cát ẩm, trong bóng tối lấp lánh như những hạt kim cương…”
Ông lão Pha Long nói câu gì đó, nhưng bởi giữa gió nên chỉ nghe vương lại mấy từ. Tôi gật đầu bảo vâng, người rời đi là anh ấy, lúc tang tảng sáng, sau khi tháo dây neo, thả con đò nhỏ vẫn buộc vào cuối lái cho lênh đênh trôi về phía cuối đảo hoang còn ngập màu lau sậy mà không biết vừa có cái bóng nhỏ nhảy ào xuống kéo con đò về bãi, rồi lủi thủi một mình đứng bên chân sóng ngơ ngác tìm…
Cửa sông bắt đầu có đôi vệt sáng nhưng cuối đảo lại bắt đầu mưa. Cái bóng quay mặt về phía ấy, lặng lẽ chờ…  Nếu mưa ngớt, nắng cũng lên từ cuối đảo. Nắng có màu sông, màu lau xám lẫn trong màu khói mờ như sương của mấy đống mùn tranh ngun ngút cháy phía sau nhà rồi lan về khoảnh sân trước phơi đầy những thân cỏ tranh cao như sậy, chạm đến gốc cây mộc hương bên thềm đất thì dừng, quẩn quanh nuôi đất ấm quanh rễ gầy vừa bén phù sa…
Một con đò không người lái, thả trôi theo dòng nước, kiên nhẫn chờ ông chủ  mình trần, bơi qua sông sang tận bãi bên kia, thả mình nửa nổi nửa chìm, chán mới quay về, nằm vật xuống khoang.
Phía sau, một bóng thuyền gần lại. Cô bé con ngồi cuối lái đập đập vào chân bố ra hiệu rồi chỉ về phía trước bảo bố ơi, đò chú Thức. Người đàn ông gật đầu, bắc tay gọi với sang ơi Thức! Thức đò dọc phải không? Bên này nghe thấy nhưng vẫn nằm im, không nhúc nhích. Tận đến khi nghe tiếng cô bé con gọi chú Thức ơi mới uể oải ngồi dậy, ngó đầu ra. Cô bé vẫy tay rối rít. Người đàn ông cười hỏi đi đâu. Lâu lắm rồi chẳng thấy. Tôi vừa ghé qua đảo. Nhà đẹp lắm. Nhưng một mình hơi phí. Phải kiếm người ở cùng… Thôi, bố con tôi đi đây! Hôm nào về, thuận chiều lại ghé!
Bóng thuyền xa dần…
Cô bé con quay lại cười, giơ nắm hoa cải vặt từ bãi nào đó lên vẫy Thức. Màu hoa cải trong nắng vàng đến nhức mắt cho đến khi lẫn vào cái vòm xanh mát của bóng đa bến chợ ven sông…
Quán vắng khách. Nghe tiếng chân bước, người đàn bà quay ra, sững sờ khi thấy Thức lẳng lặng bước qua trước mặt vào trong quán, nằm vật xuống giường. Cửa quán đóng. Ánh sáng bên ngoài khép lại. Thức nằm im, mặc cho người bên cạnh choàng tay qua ngực hỏi mình ốm hay có chuyện gì? Em nấu cái gì nóng cho mình ăn? Hay uống nhé? Rồi xiết chặt vòng ôm, rúc đầu vào hõm cổ bảo chuyện gì thì cũng kệ, quay sang đây một lúc cho quên…Lâu lắm rồi… Mình về đây với em. Ở hẳn hay ghé qua như trước thì tuỳ. Em sẽ đẻ cho mình đứa con. Mấy đứa cũng được. Nếu như mình muốn… Rồi lần môi xuống chỗ ngực áo vừa mở, chạm vào vồng ngực đàn ông căng tràn lên như cánh buồm ngược gió…
Im lặng…
Chỉ nghe tiếng nhịp tim bình thản đập… Tiếng thở đều đều…
Người đàn bà nằm thêm lúc nữa rồi lặng lẽ ngồi dậy, bước vào phía trong mang vò rượu  ra, rót vào hai bát lớn, bưng một bát ngửa cổ uống cạn, cầm bát thứ hai đưa cho Thức, lúc này cũng đã ngồi dậy, nhìn xoáy vào mắt Thức hất hàm hỏi mình yêu cô ấy phải không? Cô em họ ấy chứ còn cô nào, đứng có chối… Nhưng cô ấy có yêu mình không? Rồi lại bưng vò rượu, rót đầy bát, lặp lại câu vừa hỏi mình với cô ấy khác nhau như thế, cô ấy có yêu mình không? Thấy Thức vẫn ngồi im như tượng thì lắc đầu bảo mình khác quá! Thôi đêm nay cứ ở lại đây. Cho em xin đứa con… Có là em đi luôn… Không dám làm phiền mình…  Cô ấy không biết đâu mà sợ…
Người đàn bà lại nâng bát rượu lên. Thức giằng lấy, ngửa cổ uống một hơi dài, úp bát lên miệng vò, nhìn thẳng bảo tôi yêu cô ấy… Người trước mặt quát thế cô ấy đâu? Thức gục xuống bàn, lẩm bẩm, lặp đi lặp lại cô ấy đi rồi… Nhưng tôi yêu cô ấy…
Người đàn bà ngồi dựa lưng vào tường quán, nhắm mắt lại. Rất lâu sau mới mở ra. Bốn bề đã tối đen, chỉ nghe tiếng thì thầm bâng quơ em mới gặp cô ấy… Thức giật mình ngẩng phắt lên hỏi gặp lúc nào, ở đâu? Lại im lặng lúc lâu rồi mới bâng quơ tiếp bảo mấy hôm trước, lên em hỏi mua nứt cái hoa vàng nấu rượu… Lỉnh kỉnh lắm. Tối rồi nhưng vẫn xuống bến, kêu phải về ngay không muộn… Mà mình đi đâu thế, chờ em với, em bảo cái này…
Tiếng gọi với theo bóng người đang băng qua đêm tối, xuống triền đê, lẫn vào tiếng sóng sông trầm trầm vừa dội lên cùng một lượt, nghe như tiếng thở dài…
Gió đêm nay ngược về cuối đảo. Gió mang mùi khói ấm và thơm lang thang trên mặt sóng, tận đến khi chạm vào mũi con đò dọc quen thuộc mới dừng. Lửa bếp vẫn sáng, người con gái tiếp củi vào dưới nồi chõ đang hông nếp rượu, chờ đến khi tiếng lạch xạch của chiếc bát úp nồi đáy rõ dần, lửa gộc củi bắt đầu tàn thì ôm lấy cái thúng nhỏ cạnh đó, đi về phía sông. Dòng đen thẫm hắt ngược màu da thịt trần như màu trăng lấp loáng bơi tít ra xa, rất lâu sau mới quay về, lấy khăn khô trong thúng lau tóc, mặc quần áo rồi xách ngọn đèn chai ngóng về phía cửa sông.
Có tiếng động, cái bóng nhỏ giật mình, cúi xuống chộp lấy con dao cạnh đó, chưa kịp quay lại thì đã bị khớp chặt vào thân hình hừng hực nóng và cứng như thép của người đang nghiến răng, dằn từng tiếng trong hơi thở đứt quãng, hầm hập bên tai mình. Tôi cảnh cáo cô. Trời lạnh, gió quẩn, sóng ngầm, cấm chỉ trần như nhộng ra ngoài kia bơi với lội. Có thằng đàn ông nào thì mười con dao của cô cũng không ăn thua đâu. Hay muốn làm vợ Hà Bá? Rồi bất ngờ nụ hôn ập xuống, không âu yếm, không khúc dạo đầu, cho tận đến khi một người đột ngột gồng lên, giữ chặt cái thân hình mềm như bông mà rít trong tiếng thở bảo biết điều thì đứng yên, nếu không lần đầu tiên của cô và tôi là ở chỗ này đấy… Bao nhiêu tháng nay tôi ngủ chay không đàn bà, cô không gánh nổi đâu…
Chỗ hai người đứng đêm hôm ấy bây giờ vạt cải đã lên xanh. Phía sau đảo, cỏ tranh cũng vừa bạt xong, chất lên thành đống.
Thức đang lúi húi tận ngoài mép nước ngẩng lên nhìn người vừa xách đôi vò từ trong ra, rồi lại cúi xuống tiếp tục hất từng xẻng cát sang hai bên, khơi mạch nước bắt đầu ri rỉ chảy. Người xách vò lấy nước liếc nhìn nhưng không dừng lại. Người đào đất cũng không ngừng tay, đến tận khi nắng lên gần đỉnh mới quay về phía khói bếp đang lên. Cái màu khói mơ hồ nhuộm nắng đảo thành xanh lơ, hệt như gió đổi màu sau những ngày thu chuyển. Dưới kiềng bếp, mấy thanh củi gộc liu riu cháy. Người đang ghé đầu chăm chú quan sát rượu từ nồi nấu bắt đầu theo chiếc máng tre nhỏ chảy vào chai, cẩn trọng rút bớt một gộc củi ra khỏi bếp, vẫn không quay lại, hỏi anh đào đất làm gì? Thức ngạc nhiên bảo cô đã nói chuyện rồi à? Dễ đến tuần đấy nhỉ, tưởng im được mãi. Người đang ngồi vẫn không ngẩng lên, không đổi giọng, câu hỏi lặp lại anh đào đất làm gì? Thức bảo à đào cái mương dẫn nước. Nếu cô muốn, tôi sẽ trồng cho cô cả một nửa đảo hoa cải vàng chứ không phải chỉ mấy khúc tin hin thế kia. Cái bóng lạnh lùng hỏi trồng để làm gì. Tôi biết tấm lòng anh nhưng anh đừng chờ đợi gì thêm nữa, tôi trót hứa hẹn với người ta rồi, không vì chuyện ấy, chúng tôi đã làm đám cưới… Anh ấy tên là Mộc, làm gốm giỏi lắm, thợ chuyên về men. Bố tôi cũng thế, ông dạy tôi nhiều điều, kể cả việc nấu rượu này. Tôi không uống được rượu nhưng chỉ ngửi là biết ngon hay dở, anh tin không? Vài hôm nữa là trăm ngày của bố, cũng là trăm ngày của người yêu tôi, tôi sẽ cúng tốt khốc, tiễn hai người qua 18 cửa âm bằng rượu men hoa…
Thức im lặng, nhìn đăm đăm vào người ngồi trước mặt, nghe rõ những tiếng thì thầm lẫn trong tiếng rượu chắt nhỏ giọt đều đều.
“Anh có muốn biết vì sao tôi giết người không?”.
Vào một buổi chiều cuối năm, chuyến đò dọc dừng ở bến sông Nguyệt Đức, có một người đàn ông đứng tuổi bám theo một cô gái trẻ lên bờ.
Đó là Lộc – gã thợ xứ đang đi tìm đất gốm để làm thuê.
Còn cô gái là Lệ – lừng danh khắp vùng chuyên gốm cổ, đang trên đường trở về nhà sau chuyến đi lấy hàng chuẩn bị cho nhen lửa lò cuối năm…
“Tôi cũng không biết vì sao lão biết rồi bám theo tôi. Sau này mới nhớ ra có khi là lúc tôi cầm lái thay cho chị chủ đò ru con ngủ… Lúc ấy là chiều…”.
“Nắng, đúng không? Nguyệt Đức hướng Tây. Cô cầm lái ngược chiều nắng… Trong khoang nhìn ra… Nếu là tôi, tôi cũng theo…”.
Thức thản nhiên vừa nói vừa nhìn thẳng người vừa quay phắt lại quắc mắt lên nhìn mình trừng trừng, bảo chuyện qua rồi, cái gì thanh thản được thì cố mà thanh thản. Còn phải sống tốt để người yêu thương mình yên lòng. Tôi cũng thế… Nếu tôi chết, cô cũng phải sống cho hẳn hoi. Nếu không, cứ để tôi phải luẩn quẩn lo này lo nọ thì mục kiếp cũng không siêu thoát được… Mà thôi, kể tiếp đi. Kể một lần cho hết. Để nặng đầu…
Lộc khoác túi xách từ đường lớn rẽ vào con ngõ rộng vào Gốm Lệ. Bên hiên gian nhà gốm cổ, cạnh gốc mộc hương đang trổ hoa vàng, ông Hài ngồi chuốt lại mấy chiếc bình gốm mộc vừa se, ngẩng lên, ngạc nhiên hỏi ông có việc gì. Lệ từ phía sau xưởng gốm lên, nghe tiếng người nói chuyện thì dừng lại, ngó qua cửa sổ, thấy ông Hài rót thêm chén trà mời khách bảo ông vừa đi xem qua thì biết đấy, ông thông cảm, Gốm Lệ tôi thuê một người là đủ. Kể cả làm không công, chỉ cần nuôi ăn ở như ông nói cũng chịu. Nhà một bố một con, không cố được… Có bên Gốm Mai đang chuẩn bị hàng tết, ông sang bên ấy hỏi xem… Lộc mắt láo liên nhìn ra sau vườn, hỏi thêm gì đó. Ông Hài gật đầu bảo đấy vốn là cái giếng. Ngày xưa có nước nhưng không hiểu sao bị cạn lâu rồi…
Lệ đứng sau hè, lừ lừ nhìn Lộc đi khuất về phía cổng bảo lão này thầy có nhận con cũng không đồng ý. Trông vừa gian vừa ghê cả người… Ông Hài không nói gì vì mải quay sang ngắm nghía mấy giá hàng phơ đang hong nắng trước sân, một lúc sau mới gật gù mẫu mới này tạm ổn rồi đấy. Lò cuối năm toàn hàng độc. Rồi ngẩng lên nhìn con gái, cười cười, có ý rủ rê bảo mày nghỉ tay, thầy con mình chơi ô ăn quan đi! Rồi vừa nhìn con gái lấy khúc than củi vạch ô trên nền gạch trước hiên vừa thò tay lấy chiếc túi vải để trong hũ gốm cạnh đó, nhặt nắm sỏi trắng rải xuống từng ô vừa giao hẹn không được chơi ăn gian đấy nhé! Ngày xưa tao chơi với bu mày toàn thắng mà sao bây giờ, tính toán cẩn thận lắm, vẫn thua…
Bên gốc mộc hương, dưới màu bóng trầm của hiên nhà gốm cổ bắt đầu vang lên tiếng sỏi cuội va vào nhau lách cách, tiếng con gái cười. Rồi tiếng hát đồng dao “Hàng trầu hàng cau là hàng con gái. Hàng bánh hàng trái là hàng bà già. Hàng hương hàng hoa là hàng cúng Phật…”.
Cách đó một khoảng sân và hàng rào duối gộc, bên Gốm Mai, Lộc đang đứng nói chuyện với ông Trúc, nghe tiếng hát vọng sang thì ngẩn ra, đờ đẫn nhớ về một con đò dọc trôi ngược nắng, cô gái cuối lái, đầu trần, cả thân hình ngập trong bóng lấp lánh của nước sông hắt lên, trông rạng rỡ như nữ thuỷ thần…
“Phía sau xưởng gốm nhà tôi, chỗ góc vườn có một cái giếng cạn. Tôi và thầy tôi chẳng ai ngờ có một ngày, nó lại là cái cớ để kẻ ác gây tai hoạ… Lúc đầu, tôi chỉ tưởng Gốm Mai nhận lão làm thợ gốm. Sau mới biết lão còn giở thêm trò phong thuỷ, bảo đi qua Nguyệt Đức thấy thế đất có hình rồng mới dừng lại. Bảo Gốm Mai nằm trên lưng rồng nhưng ở phía đuôi, có phát nhưng không bền, hay động. Đất đầu rồng vượng khí lại ở bên nhà tôi và giếng cạn chính là cái mắt rồng…  Bảo vận Gốm Mai sắp hết nhưng nếu biết cách hóa giải thì trường …”
“Thế là hàng xóm cô cho lão ở lại?”
“Vâng! Một bước từ thợ xứ lên ngang hàng ông chủ. Có phòng riêng, cơm bưng nước rót, nói cái gì cũng nhất nhất nghe theo…”
“Theo cô, nó tìm mọi cách ở lại Nguyệt Đức để làm gì?”
“Tôi không biết…”
“Người như cô, đừng nói là không biết… Chỉ là không thể lường hết được… Phải không?”
Người ngồi trước mặt Thức lặng im một lúc rồi mới gật đầu bảo có lẽ thế. Tôi chỉ là một trong những mục đích của con người đê tiện và nham hiểm ấy mà thôi… Lão từng nói, chỉ cần tôi gật đầu sẽ đem cả Gốm Mai về dâng dưới chân tôi, dễ như lật bàn tay, tôi sẽ thành bà chủ của lão, của cả vùng đất gốm. Bảo tôi cái trò mê tín vặt như lời tôi nói ấy làm được những gì không lường hết được đâu, đừng để rượu mừng không uống, muốn rượu phạt… Lại còn doạ thầy tôi đau yếu, không biết chết lúc nào, khi Gốm Lệ còn lại mình tôi thì chạy trời cũng không thoát lão… Thức cáu, quát ầm lên anh Mộc nhà cô đâu mà để thế?
“Anh ấy về quê có việc rồi đi tìm đất gốm… Cái đêm tôi đón người ở bến là ngày hẹn sẽ về… Đêm ấy trăng lạnh lắm… Chuyện xảy ra ngay sau đó, lúc anh đi…”
Dưới chân đê Nguyệt Đức, mấy bóng đen nấp sát vào rệ cỏ, ẩn mình trong bóng sẫm của lùm tre chắn sóng, chờ cô gái từ  bến sông lên ngang qua thì cùng chồm dậy, quật ngã xuống mặt đê.
Phía bãi hoang, một con đò chờ sẵn chở người đi, bỏ lại phía sau Nguyệt Đức  im lìm trong trăng lạnh. Cổng Gốm Lệ vẫn mở, ông Hài ngồi chờ con dưới gốc mộc hương trước hiên nhà. Bỗng đâu đó, rất xa nghe tiếng gọi thầy ơi, tiếng sỏi cuội va vào nhau lách cách, tiếng hát đồng dao vọng về cùng với tiếng sóng sông. Ông Hài bàng hoàng đứng phắt dậy chạy về phía ấy. Bến Nguyệt Đức sẫm đen một khối nhưng triền đê dưới trăng có dấu cỏ nát nhàu. Người cha run rẩy lần theo, vừa gọi vừa ôm ngực thở dốc từng cơn.
Bước chân dừng ở mép nước…
Bãi bờ hoang không bóng người…
Rồi bất ngờ, đâu đó phía sau lại vang lên tiếng hát đồng dao quen thuộc. Tiếng sỏi trắng lách cách. Tiếng thầy ơi! Ông Hài khựng lại nhưng không quay được người mà chỉ kịp đưa tay ôm ngực rồi ngã sấp mặt xuống cánh bãi đang thuỷ triều lên…
…Cùng lúc ấy, cuối bãi sông, bóng đàn ông vác cái bao hình người qua bãi lên căn nhà hoang giữa vườn cây. Lộc chờ sẵn, rút tiền ra đếm, vẻ hài lòng bảo về đi, liệu cái mồm nếu sau này còn muốn tao gọi nữa.  Cái bóng gật rồi vội vã biến mất… Tấm trùm đầu kéo ra, Lộc sáp mặt lại gần hỏi nhận ra ai rồi chứ, thằng này muốn cái gì là phải làm cho bằng được, nhất là món gái trinh đẹp đến tận gót thế này… Rồi tiếng vật lộn, tiếng người ngã, tiếng đàn ông kêu, tiếng chửi, tiếng chân đuổi theo cái bóng người vừa chạy vụt ra, băng qua vườn, xuống bãi rồi nhao xuống, mất hút trong dòng Nguyệt Đức sóng sánh một màu đen.
“Thế rồi tôi lên đò anh ở bến sông Nguyệt Đức. Đêm ấy mưa…”
… Gốm Lệ âm u. Ánh đèn dầu soi không đủ sáng. Người con gái mở chiếc túi vải đặt vào đó lọ cốt tro, đùm sỏi trắng chơi ô ăn quan, nhánh mộc hương lấm tấm hoa vàng, thắp cả nắm hương lên bàn thờ, rì rầm khấn khứa rồi giấu con dao nhọn vào trong vạt áo, khoác túi lên vai, quỳ sụp xuống đất vừa khóc vừa vái lạy lần nữa trước khi khép cửa, lầm lũi bước ra khỏi nhà.
Cánh cổng mở ra.
Trước mặt người đi là bóng tối.
Phía sau là Gốm Lệ im lìm, lạnh lẽo như nhà hoang giữa trời sũng nước và bốn bề gió nổi…
“Lão già ấy đã chờ tôi ở dưới gốc đa, bảo tôi muốn gì cứ nói, lão xin dâng bằng hết, việc hôm trước là ngoài ý muốn nhưng cũng bởi lão yêu tôi, may tôi không giận mà còn hẹn ra nói chuyện… Lão tính cả rồi, Gốm Mai chỉ có mỗi mống con gái, lão đã gọi thằng con ra, xin làm thợ, chỉ cần lấy con bé ấy là cơ nghiệp về tay… Nếu tôi gật đầu thì muốn cả vùng gốm này cũng được… Lão nói nhiều…
“Còn cô thì sao?”
“Chỉ một câu: Vì ông mà thầy tôi mới chết…”
… Đêm ấy, từ trên lái con đò dọc đang lừ lừ ngang qua Nguyệt Đức, người chủ đò ghé xuống khoang, cất tiếng gọi bến Nguyệt Đức, ai lên?
Có một đôi trai gái cùng nhỏm dậy, hướng mắt về phía bờ nhưng chẳng thấy gì ngoài bợt bạt màu mưa.
Bất chợt phía dốc đê có tiếng con gái gọi đò…
Chẳng ai nghĩ rằng cái bóng nhỏ ướt sũng chạy trên triền đê mưa bão, bỏ lại sau lưng mình Nguyệt Đức với những lò gốm im lìm in dấu trên nền đêm hôm ấy lại chính là người con gái bây giờ đang ngồi chuốt gốm dưới hiên nhà tranh trên đảo, bên cạnh là cái ảng con đựng nước thả đầy hoa dại hái ven sông. Người ấy không nhìn lên bảo Thức cái này qua lửa sẽ thành  hũ đựng trà hoa, hôm trước, về hạ nguồn, tôi thấy một cánh bãi đầy hoa cúc, mai tôi xuống, mua hoa làm trà cho anh. Thức lắc đầu mai ở nhà, tôi đi có việc. Chắc phải vài ngày… Đi đâu sao phải hỏi nhiều. … Người con gái không hỏi nữa, bước về phía giàn phơi, nâng từng chiếc bình gốm đã khô, ngắm nghía mãi rồi mới thả tay xuống đống gốm mộc vỡ dưới chân mình. Cái chum nước bên cạnh đựng đầy những mảnh gốm phơ vừa đập bỏ, có mảnh vừa ngấm nước, chuyển màu, có mảnh đã rã ra thành đất. Thức nhìn đống cỏ tranh khô đang kết dở thành hàng, lớp nọ chồng lên lớp kia hỏi cô làm gì thế?  Tiếng trả lời bảo đan nệm cỏ. Nằm được cả mùa đông lẫn mùa hè. Chỉ cần kết hai tấm phên tre mỏng trên dưới là được. Ngày trước ở nhà, tôi vẫn đan đệm bằng lá chuối khô. Ở đây không có thì dùng cỏ… Cái này tôi đan cho anh… Thức ngả mình dựa vào đám cỏ nhìn ra phía bãi, nói bâng quơ cô bảo rằng cứ theo dọc sông này lên phía trên kia… Người nghe gật bảo trên ấy có mấy vùng gốm nữa, tất cả đều bên sông. Nhưng tôi chưa đến bao giờ…
“Sẽ có một ngày tôi đưa cô đi…”
Người con gái đứng dậy, nhào lại đất trong cái chum, mắt nhìn mãi về phía xa…
“Ngày xưa, có một người cũng nói với tôi như thế…”
“Người ta trót lỡ hẹn thì sẽ có một ngày đưa cô đi…”
Con đò của Thức chuyến ấy xuôi dòng sông qua mấy vùng đất gốm, cái đêm quay về đi giữa một cơn mưa. Phía trên đê, thoáng trong ánh chớp có bóng người. Tiếng đàn ông vọng xuống đò ơi, cho tôi xuôi một đoạn. Thức hỏi về đâu? Tiếng trả lời bạt vào trong gió bảo tôi về Nguyệt Đức.
Mái chèo xoay, hướng mũi vào bờ. Bóng người phía trên mừng rỡ, chạy một đường cắt chéo qua cỏ. Cầu ván hạ xuống đón người lên. Nhìn người đàn ông uớt sũng, Thức bảo mưa quá, đò tôi lại đằm, có lẽ ta nghỉ một lát chờ ngớt. Rồi nhóm đống lửa lên trong cái lò đất giữa khoang thuyền hỏi đi đâu mà mưa gió, lại đêm hôm? Có tôi cho nhờ chứ ai dám. Khách bảo lâu rồi tôi mới về, nhỡ mất chuyến đò đọc. Người ta bảo phải chờ hai hôm nữa… Thế nên tôi đi bộ. Tại sốt ruột quá… May gặp anh… Thức khơi thêm lửa, nhìn ra ngoài bảo tôi cũng sốt ruột nhưng chờ ngớt mới an toàn. Giông trái mùa thường dữ.  Về Nguyệt Đức nước xuôi cũng nhanh thôi…
Ấm nước bắc lên bếp, Thức lấy ít trà bọc trong lá chuối khô bảo mình làm chén trà cho ấm bụng đã. Khách nãy giờ ngồi không yên thỉnh thoảng lại hé liếp nhìn ra bồn chồn, giờ đưa chén trà lên mũi hít một hơi, ngạc nhiên bảo  thơm quá. Hương rất quen. Thức gật gù trà hoa mộc vợ tôi ướp. Cô ấy giỏi lắm, cái gì cũng biết làm. Còn đẹp nữa. Tôi đi thâu đêm thế này cũng chỉ mong về sớm. Cùng đàn ông, tôi nói thật, chỉ muốn ôm suốt ngày… Rồi đứng dậy bảo anh cứ ngồi mà sưởi, ngớt rồi, tôi chèo một mạch, chỉ vài tiếng nữa về đến Nguyệt Đức… Người khách lắc đầu, bước lên ngồi ngay đầu mũi, giọng nói vọng lại, tiếng được tiếng không chỉ nghe rõ hai từ sốt ruột…
Con đò dọc lại đi giữa mênh mông.
Mưa đã tạnh nhưng trời không sáng…
Rất lâu sau, phía xa lờ mờ hiện lên vệt làng quen với mấy lò gốm cao vượt hẳn lên, sẫm bóng. Khách đứng hẳn dậy bảo Nguyệt Đức kìa anh! Thức cười tên hiền thế mà dòng dữ. Hình như từ ngày tôi không ghé, bến đò dọc phải chuyển xuống dưới kia. Khách quay người lại, nhìn Thức chăm chú bảo anh chuyên đò dọc, tôi nhớ ra rồi…Thức bảo vâng, có chốn để neo, không lang thang nữa… Chuyến này không vì vợ cũng không xuôi làm gì… Mái chèo chạm vào cái gì đó, hơi khựng lại, Thức chăm chú nhìn xuống mặt nước bảo dòng ngầm đảo rồi, phải lui xuống kia một đoạn… Đây, phải tận chỗ này… Ngày xưa là cái bến. Giờ bỏ hoang… Rồi đấy… Cần bắc cầu không… Khách từ trên mũi vọng xuống bảo không cần, rồi lựa đà, nhảy xuống chỗ bờ cỏ lác rậm ngang người sau đó quay lại hỏi anh đi bao lâu nữa? Thức ngẩng nhìn trời bảo phải gần trưa mai, nếu cứ gió xuôi nước xuôi… Có dịp thì gặp sau chứ giờ tôi phải đi ngay, đương thuận nước…
Khi con đò dọc mất hút trong màn đêm khách mới quay người, ngược dốc lên đê, giật mình thấy chỗ bãi hoang bên kia bờ Nguyệt Đức có ánh lửa chập chờn, lúc đầu dừng im một chỗ, sau di chuyển mãi vào rồi tắt giữa đồng không, để lại một mình khách rảo bước về Nguyệt Đức…
“Người khách lên đò đêm ấy là ai, cô biết không?”
Tôi gật đầu bảo con không nhưng đoán được đôi phần vì trong câu chuyện  của con có tên người ấy.
… Đêm hôm ấy, có một người dừng chân trước cổng Gốm Lệ lạnh ngắt, tối om. Tiếng gọi Lệ ơi, thầy ơi dội vào hiên nhà gốm rồi bật ngược trở ra, vọng quẩn… Rồi có tiếng bước chân. Cổng mở ra cùng với ánh đèn. Tiếng con gái hỏi ai ngoài đấy? Tiếng khách vừa xuống đò mừng rỡ Lệ ơi, anh đây! Sao cổng khóa ngoài thế này?
Có tiếng đèn rơi. Ánh sáng vàng nhờ vụt tắt… Rồi tiếng con gái vọng từ trong bóng tối anh Mộc phải không? Sao giờ anh mới về? Em là Mai… Không phải Lệ…
Phía trong Gốm Lệ, chỗ đầu hồi nhà gốm giáp xưởng, còn một người đàn ông nữa ẩn mình trong bóng tối, dõi mắt về phía cổng rồi quay lại chỗ cánh cửa nhà ngang đang mở hé, ra hiệu.
Cánh gỗ từ từ khép, trả lại Gốm Lệ tĩnh như tờ …
“Thế rồi lại có thêm một cuộc hành trình ngược dòng Nguyệt Đức để tìm người trên búng Pha Long…”
… Tiếng ông lão cứ rì rầm kể, bảo xế trưa hôm sau, trên con đường ra bến sông Nguyệt Đức có hai người lầm lũi bước bên nhau. Người con gái đêm qua trong Gốm Lệ cứ nói một mình, tiếng thì thầm lẫn với tiếng gió từ triền đê tràn xuống, qua dốc cỏ rồi quẩn gót chân người, bảo chuyện là thế, bác trai đi được mấy hôm thì cô ấy mất tích. Ai cũng bảo cô ấy chết rồi… Nhưng tôi không tin. Chắc lên ngược, chỗ đắm đò tìm anh đấy. Chuyến đi này tôi cầu anh bình an. Nếu đưa được cô ấy trở về, tôi trao lại cho hai người Gốm Lệ. Còn nếu không cũng xin anh trở về để giúp tôi. Thầy tôi từ ngày bác bên nhà mất cũng yếu đau luôn, đêm nào ngủ cũng bảo nhìn thấy ma rồi kêu đất động… Mà tôi nghĩ khéo cũng động thật. Bên kia người chết, người mất tích. Bên này ông Lộc cũng bất đắc kì tử… Gốm Mai đuối lắm, có mấy người nhưng anh Cường còn non… Anh không biết anh Cường là ai phải không? Là con trai ông Lộc, đến Nguyệt Đức đúng cái đêm ông ấy chết. Lẽ ra tôi không nhận nhưng bố tôi đã hứa với ông ấy… Mình tôi không gánh nổi, lửa Gốm Mai khéo tàn…
Khi người con gái dừng lời thì cũng là lúc cả hai dừng bước. Bến Nguyệt Đức trước mặt mênh mông. Người đàn ông lặng yên nhìn mãi sang bên kia sông rồi bảo cám ơn cô đã trông coi quét tước để Gốm Lệ ấm hơi người. Chỉ vài hôm nữa là tôi tìm thấy cô ấy, lúc về sẽ cùng cô giữ lửa gốm… Cô gái gật đầu bảo tôi nói điều này, anh có tin không? Bên kia sông có hai ngôi mộ gió. Mọi người bảo hồn bãi sông bến chợ thường thiêng. Tôi với anh sang, đắp cho họ thêm nắm đất rồi khấn họ phù hộ. Thế nào cũng thuận buồm xuôi gió, tìm được người cần tìm. Anh sang không?
Người đàn ông gật đầu theo chân cô gái xuống bến.
Nguyệt Đức buồn, dòng xuôi ra biển mang theo tiếng gọi đò ơi!
Đúng vào lúc người ở bờ Nguyệt Đức lên đò dọc thì cách đó nửa ngày sông, có một con đò nhỏ đầu mũi có chiếc ang cau cắm hoa cải vàng đang quay về đảo, chạm bóng đò dọc lừ lừ sáp lại. Thức nhoài xuống, nắm sợi dây neo, buộc vào cuối lái quát tôi đã cấm chỉ rồi cơ mà. Chỗ này nhiều xoáy ngầm. Càng gần chân đảo càng quẩn. Muốn chết hả? Người dưới đò cãi ngày xưa tôi toàn qua sông lấy đất sét về làm gốm. Thức quắc mắt lên bảo Nguyệt Đức nhà cô không bì được. Phía dưới vẫn không chịu im, bĩu môi, lẩm bẩm cãi ờ cái vực Thuỷ Thần ở Nguyệt Đức không bì được với cái đảo nhà anh… Anh đi, tôi không thả lưới, không tìm bãi xin nắm rau thì múc nước sông ăn với không khí à? Thức lặng im nhìn cái ang gốm cắm đầy hoa rồi nhảy ào xuống nước, giơ tay đỡ người, nấn ná ngang lưng một lúc mới thả ra, cúi xuống vừa cắm neo vừa bâng quơ nói phiên chợ hôm trước, cô lừa tôi ở dưới đò, lên bờ một mình… Nhớ không? Cô gái lắc đầu bảo không, tính tôi không phải việc của mình thì không nhớ… Bóng lưng vẫn vừa lúi húi vừa thủng thẳng nói lúc ấy tôi đang ngủ, cứ tưởng là cô… Rồi đứng dậy, sải vài bước, túm cái eo lưng người đang đi phía trước kéo giật lại, ghé sát xuống bảo thề với cô, lúc ấy tất cả đã sẵn sàng, tôi chỉ ấn thêm một cái là đến đích, nhưng dừng lại được, vì cái mùi thơm của cô nó khác, nhất là chỗ ngực ấy…  Sau đó đẩy người đang đứng đờ trước mặt mình ra, thản nhiên bảo tôi có cái này, thích thì ra mà lấy.
Cái bóng lưng lừng lững chui từ trong khoang, chìa ra bó hoa lau trắng, nhìn người trước mặt vẻ coi thường bảo có gì mà hớn hở, cái giống này tôi chúa ghét, chỉ tổ rác nhà, lau Nguyệt Đức đấy, tôi ngang qua…
Người dưới bãi buồn buồn anh đi đâu mà ngang?
Thức mở tấm bạt đang phủ kín.
Người bên ngoài ngó vào, sững lại, rồi từ từ sụp xuống…
Trong khoang, giữa ngổn ngang bao nhiêu đồ nghề làm gốm còn có cả một chiếc bàn xoay.
“Hòn đảo ấy lúc này đã được cô đặt tên chưa?”
“Chưa ông ạ! Vì bấy giờ cải mới lên xanh…”
… Trên một hòn đảo nhỏ bốn bề đất hoang bắt đầu xanh màu lá, trước hiên nhà tranh, cạnh chiếc bàn xoay còn nguyên vệt đất ướt, có một người con gái đang ngồi tết hoa lau thành chùm, treo dưới mái hiên, cạnh những chùm hoa cúc đã khô.
“Mẻ rượu này tôi làm men hoa cúc. Cúc tôi trồng bên bãi. Mai đi lấy… Rượu men cúc thơm nhưng hắc hơn men mộc. Tôi cám ơn anh đã lặn lội mua cho tôi đồ nghề làm gốm nhưng vẫn muốn hỏi anh mua ở đâu?”
“Cái đống vớ vẩn này thiếu giống. Đi một vòng, muốn quơ thì hàng thuyền. Nhưng tôi chốt ở Gốm Cậy. Thế thôi…”
“Anh về Gốm Cậy đường nào?”
“Cứ xuôi dòng mà đi. Nói cô cũng không biết được”.
“Chỗ này là hữu ngạn sông Cầu. Muốn về Gốm Cậy phải đi xuôi Lục Đầu Giang, đến cửa Thái Bình, rồi vào sông Sặt… Gốm Cậy là quê ngoại tôi. Cũng là quê anh Mộc…”
Thức ngả người trên đám cỏ khô trước hiên, gối đầu lên chân người đang ngồi bảo cho tôi nhờ một tí. Trời đẹp thế này, cô đừng nhắc chuyện cũ nữa, có được không? Tôi biết cô thuộc đường đến tất cả những vùng đất gốm. Nhưng ở lại đây đi! Tôi sẽ xây cho cô một cái lò gốm. Nhỏ thôi, vì tôi không có tiền. Tôi đã hỏi kĩ ông cụ ở Gốm Cậy rồi…
Cô gái ngừng tay, nhìn về phía bãi, mãi mới thở dài sắp tết rồi, tầm này năm ngoái Gốm Lệ đang bấn lắm, chúng tôi vào lò cuối năm, vừa giữ lửa qua giao thừa vừa chơi ô ăn quan, anh có biết chơi không… Thức nhắm mắt, dụi mặt vào chân trần đang gối bảo hàng gốm đã làm gom hết lại, tôi có cách rồi… Cách gì nói sau… Mà cô có biết chân cô gợi tình như thế nào không?
Người con gái rụt chân lại, bảo anh không dậy mà nhấc lưới, nói vớ vẩn linh tinh… rồi lặng lẽ đi về cuối đảo, ngồi bên mép nước, lấy tay vẽ lên cát trò chơi ô ăn quan hình tam giác, vừa chơi một mình vừa thì thầm hát khúc đồng dao.
Thức từ xa nhìn lại, lúc sau đứng lên, lần lượt chuyển những bình gốm mộc xuống đò, cẩn trọng xếp, chèn lẫn bằng những lần rơm, rồi đến bên, nắm lấy bàn tay đang rải những viên sỏi trắng hỏi đi với tôi không? Cô gái lắc đầu. Thức lẳng lặng đứng dậy. Sào rút lên, đẩy vào bờ cát, mũi đò xoay hướng ra sông.
Thức cúi xuống, nhấc cây cầu ván.
“Tôi về qua Nguyệt Đức. Đi không?”
“Tôi về qua Nguyệt Đức. Đi không? Bây giờ đi… Nửa đêm là tới…”
Thức im lặng thả con đò trôi trong sương, nghe người ngồi dưới chân mình bảo Gốm Lệ trong kia, qua quãng đồng, anh nhìn thấy cái lò gốm nhà tôi cao vượt lên không, đến khi đò qua bến hoang mới giục chuẩn bị đi!
Người con gái bước xuống, xách cây đèn chai. Thức ôm theo mấy chiếc bình gốm mộc lấy từ khoang thuyền, lẳng lặng xếp thành hàng trước hai ngôi mộ gió. Rồi lùi ra sau, lặng lẽ nhìn…
Khi đêm đã sâu, người con gái đưa tay chạm vào hai tấm bia thêm lần nữa, đứng dậy, ngơ ngác tìm người, mãi mới thấy Thức từ trong bãi quay ra vác trên vai bao đất sét, giục đi thôi. Rồi chồng nốt cái bao trên vai xuống đống đất đầy trong khoang, nhổ sào, đẩy đò ra giữa sông, thản nhiên cởi hết quần áo nhảy ào xuống nước, mãi mới quay lên bảo cô cằn nhằn làm gì, tôi tắm truồng quen rồi. Mà lần nào cô tắm đêm ngoài sông chả thế. Cô đừng nhìn kiểu ấy. Tôi rất đàng hoàng, chỉ ra canh cho cô khỏi chết đuối, không có ý gì… Với lại, nói thật, nhìn chả mùi mẽ,  tính tôi  cứ phải sờ tận tay…
Người trong khoang lặng im, khi thấy đò chuyển ra giữa dòng mới hỏi bây giờ đi đâu? Thức bảo về Gốm Cậy. Không thấy đống hàng mộc kia à? Mang về thuê lò nung thì kịp tết… Bên trong lắc đầu bảo dưới ấy toàn người quen, nhìn hàng nhận ra ngay, mà vài cái bình, đi về mấy hôm còn thêm tiền thuê nữa, mình quay về thôi…
Thức gật, chỉ sang bên kia bờ bảo đò dọc kìa, ngược gió nên cũng về muộn thế.
Người trong khoang lặng lẽ nhìn mãi con đò vừa cập bến, thấy lờ mờ trong sương, một bóng khách cô đơn, lủi thủi lên Nguyệt Đức một mình rồi nghe Thức bảo thắp cái đèn chai lên cho sáng, để tôi giong buồm, bây giờ gió xuôi chèo hết đêm về đảo sớm. Tôi sẽ xây cho cô cái lò gốm. Lần trước tôi học ông cụ gốm Cậy rồi… Có tiếng người thì thầm vọng ra tôi sẽ tặng anh một bình gốm thật đẹp cắm cành đào, một cái chuông gió bằng gốm. Không, phải là mấy cái để treo cả dưới đò… Lặng im một lát, rồi như sực nhớ ra, lại bảo dọc đường về, chỗ nào có cúc tần giăng tơ hồng thì cho tôi lấy một ít. Bên ngoài gật tưởng gì chứ cái lũ loằng ngoằng ấy thiếu giống, tí ghé Âu Thuyền thích thì vặt hàng bao… Nhưng cô lấy cái của nợ ấy làm gì?
…  Người con gái gom chỗ tơ hồng phơi khô vào ang, châm lửa đốt bảo chỗ này tôi làm men tro… Gốm Nguyệt Đức thường để đất tự tiết men, còn nếu làm men thì thường dùng men tro. Mẻ gốm này sẽ có một cái bình men tro tơ hồng. Tôi thử thôi chứ chưa làm bao giờ cả vì bố tôi bảo tơ hồng là gắn kết, loại men này không thể làm bừa, càng không thể đem bán hay tặng linh tinh…
Thức dừng tay, bước đến, lặng lẽ ngồi xuống bên cạnh thả tiếp nắm tơ hồng khô vào ang gốm bảo từ lâu lắm tôi vẫn ước có một cái nhà, bắt được một người về ở cùng làm vợ. Vợ tôi thích gì, tôi sẽ làm cho cô ấy, kể cả trồng lũ hoa hoét dở hơi chỉ tổ rác nhà…
Cô gái vẫn lặng im, trút chỗ tơ hồng đã nghiền vào phần men vừa trộn. Một lúc sau mới ngẩng lên, nhìn về phía xa.
Đảo hoang yên nhưng bốn bề nổi gió.
Hình như có một cơn mưa tận phía chân trời.
Rồi một ngày, cải vàng quanh đảo nở hoa.
Vẫn trước hiên nhà tranh nhưng có thêm tấm giại dựng lên che nắng, Thức ngồi dựa lưng vào cột nhìn cái người mặt mũi, tay chân vẫn còn lem nhem than tro, nằm sấp trên đống cỏ khô ngắm chiếc bình gốm bên ngoài vẽ một con đò nhỏ cắm sào cạnh hòn đảo nở đầy hoa cải rồi sáp lại, quàng tay ôm ngang bụng, ghé cằm vào vai hỏi cái này của tôi phải không? Cục bông mềm trong tay Thức không gật mà bảo men tro tơ hồng đấy, màu tím sẫm, tôi chưa thấy bao giờ. Anh xây lò khéo quá, mới thử lần đầu mà đã đẹp thế này, con mõ cá đây, để tôi treo trên đò. Người ta bảo, nghe tiếng mõ cá, Hà Bá sẽ tránh, không làm giông to gió giật, không xoáy vực mưa nguồn…
Thức áp mặt vào hõm cổ người bên cạnh, hít một hơi thật dài, rồi xoay mặt người ấy lại phía mình bảo để sau đi, giờ cho tôi hôn một cái… Thèm lắm rồi…
Một đêm cuối năm, trên bờ đê Nguyệt Đức, có hai người đứng cạnh nhau nhìn về phía bãi, chỗ ánh lửa chập chờn. Người đàn ông bảo đấy là chỗ hai ngôi mộ gió, không biết của ai nhưng chắc đêm nay người ta về thăm nhau. Cuối năm rồi, tội thế, đêm hôm… Cô gái lặng yên nắm lấy tay người bên cạnh, bảo anh đã về đây rồi thì đừng đi nữa. Không chỉ Gốm Mai cần mà tôi cũng cần anh…
… Bên kia bãi hoang, rượu rót tràn ra bát cạnh những bình gốm xếp thành hàng, nghe trong đêm không tĩnh tiếng đàn ông rành rọt giữa tiếng sóng rì rầm xen lẫn tiếng mưa tôi tứ cố vô thân, ngoài con đò kia, gia tài của tôi giờ chỉ có cô là duy nhất. Tôi yêu cô. Cô có dám lấy tôi không?
Gần tàn đêm, con đò bên kia rời bãi, hai bóng người bên này đê đứng nhìn theo đến khi khuất bóng mới quay về…
… Con đò đi mãi đến sáng thì dừng, gối đầu lên bãi ngủ, chờ chợ dậy bên sông.
Cách đó một đoạn cũng có một con thuyền vừa ghé. Người đàn ông kiên nhẫn chờ trong khoang đến khi con đò dọc nhổ sào mới xuống chợ, tìm hàng gốm, mắt dính ngay vào những chiếc bình vừa được cô gái mang từ dưới đò lên…
“Có một cô gái trên đảo… Nếu muốn tìm, tôi đưa anh đi…”
Ở trong một căn phòng nhỏ của Gốm Mai, những chiếc bình gốm bọc cẩn thận trong túi vải lần lượt giở ra, đặt lên mặt bàn. Người đàn ông sững sờ rồi chồm dậy, những ngón tay run run chạm dọc thân bình vào từng nét hoa văn rồi lật đáy bình lên nhìn xoáy vào dấu hiệu riêng, rất nhỏ.
“Làm sao anh có được cái này?”
Tiếng người trước mặt như trôi về từ nơi nào đó.
“Anh nhận ra rồi chứ?  Nếu muốn tìm, tôi đưa anh đi…”
“Nếu muốn tìm tôi đưa anh đi…”
… Đó là một hòn đảo hoang ở tận phía chân trời, sau ngấn nắng, ngày xưa người ta gọi là đảo Mui Rùa. Đảo tĩnh đến khi bóng thuyền xuất hiện bóng thuyền. Người đàn ông chèo. Người con gái ngồi bên mạn thuyền rũ lưới, nghe nói gì đó, ngẩng lên mỉm cười. Thuyền chạm mũi, người đàn ông nhảy xuống, đỡ cô gái lên tận bờ cát khô mới quay lại mang lưới lên bờ. Có tiếng cười lan ra ngoài chân sóng. Bóng người xa dần giữa hoa vàng ngập đến ngang lưng.
… Tất cả lọt vào tầm mắt của người ngồi trong bóng tối mui thuyền khuất trong đám sậy phía xa. Đó là người vừa từ dưới bãi hối hả chạy giữa những luống hoa ngợp màu nắng về phía ngôi nhà tranh giữa đảo rồi sững lại bên hiên, nhìn chằm chằm vào chiếc bàn xoay, mấy chiếc giá bày gốm mộc đang hong gió, nong men rượu vừa ủ để bên cửa sổ. Và bàn thờ, cạnh chiếc bình gốm cắm cành mộc hương khô có hai tấm bài vị, ghi rõ tên từng người… Ngoài kia, con mương dẫn nước từ sông vào vẫn đang âm thầm chảy và cánh hoa vàng chạy ra tít bãi sông…
Người đàn ông dựa người vào vách nứa, ngước nhìn người vừa đưa mình đến bảo về thôi anh, đừng làm cô ấy khổ thêm lần nữa… Cứ để im cho tôi chết trên nguồn…
Con thuyền quay mũi…
Có một người trên thuyền nhìn mãi đảo hoa vàng cho đến khi khuất dạng, nước mắt chảy tràn xuống hai bên khóe mắt, không lau…
Thuyền về đến Nguyệt Đức khi đêm xuống vừa đúng lúc con đò dọc đón xong khách. Người chủ đò nghe người thuyền bên thì thào dặn điều gì đó, gật đầu, cầm mảnh giấy cất vào túi áo, nhổ sào…
Trên đê nghe tiếng gọi. Là tiếng cô gái Gốm Mai gọi Mộc lẫn trong tiếng cỏ đang rì rầm suốt dọc bãi sông.
Rồi sẽ có ngày ai đó hỏi tôi đảo Hoa Vàng cách Nguyệt Đức bao xa? Câu trả lời là không khoảng cách, nhanh thì một vài ngày, chậm thì hàng tuần, thậm chí có người đi cả đời không đến phụ thuộc vào dòng ngầm đưa con nước nghịch hay xuôi.
Như chiều ấy, người con gái đang hong nong men rượu trên giàn củi mía, mùi khói thơm như mật theo chân người ra tận đầu bãi quẩn trên mấy luống đất vừa xới thêm thì bỗng từ xa xuất hiện bóng đò dọc rẽ ngang về phía đảo. Người lái đò hỏi Thức đây có phải đảo Mui Rùa. Tôi hỏi cô Lệ. Có người gửi cho cô ấy lá thư, dặn phải đưa tận tay… Thức chỉ về phía sau. Người lái đò ngần ngại nhìn quãng đường, tặc lưỡi, bảo thôi thế nhờ anh…
Con đò rời đảo Mui Rùa bỏ lại Thức một mình trên bãi.
Phía sau Thức, khói bếp vẫn xanh và hoa cải vẫn vàng…
Cho tận đến khi người trong nhà mở lá thư ra: “Gửi cô Lệ! Anh Mộc đã về. Hiện đang chờ cô ở Gốm Mai”. Vẻn vẹn đôi dòng vội vã, phía dưới chỉ có chữ kí, không rõ tên người viết.
Có tiếng bước chân, Thức đang cắm cúi nhặt mấy thứ gì đó cho vào trong cái thúng, ngẩng lên thấy cô gái đứng chắn ngay trước mặt, vừa lấy tay áo lau nước mắt vừa giơ tờ giấy bảo tại sao anh đưa tờ giấy này cho tôi? Anh có thể giữ nó lại, hay vứt đi, đúng không? Tại sao anh không làm thế?
Thức lẳng lặng đi ra phía hiên, nhấc mái chèo, bước vài bước mới dừng lại bảo tại cô nói trong tim cô không có tôi…
Người con gái sụp xuống, hu hu khóc.
Thức quay lại, cắp cái thúng lên, giục đi thôi! Tôi đưa cô về Nguyệt Đức. Giờ đi, tối mai mới đến được, ngược lắm… Về đấy, chân tay, người ngợm tôi chăm cho thế nào phải giữ nguyên như thế. Thâm tím, sứt sát chỗ nào là chết với tôi. Người con gái thấy Thức đặt chiếc bình gốm men tro tơ hồng vào lòng thúng thì gào lên anh mang cái bình đi đâu? Thức bảo cô đem về cho người ta, cái này phải trả đúng người…
Con đò nhổ sào. Đảo lùi lại phía sau…
Cả một hành trình ngược gió tận đến khi Thức thả đò trôi, ngồi xuống lái bảo đến rồi đấy, lấy cái áo mới mặc vào, mặt mũi tươi tỉnh lên. Bình thường trông cũng hẳn hoi, giờ như con mèo chết thế kia, người ta lại tưởng tôi đày đọa…
Bên trong vẫn lặng im, không nhúc nhích.
Đò sáp lại gần bờ. Vẫn tiếng Thức bảo đừng sợ gì cả, cứ đàng hoàng mà sống, kẻ nào đáng chết thì phải chết, nghĩ cái gì… Tôi để lại cho con đò con. Lúc nào muốn sang sông thắp hương thầy thì đi cho tiện. Cẩn thận sóng ngầm. Chỗ này dòng dữ chứ không thuần đâu. Đừng có cậy biết bơi mà đi bừa đi. Chết nổi lúc nào không biết… Tôi nhắn rồi… Người ta ra ngay bây giờ đấy… Nếu tí nữa mà chưa thấy thì cứ về… Nhà mình, làng mình, làm sao phải sợ…
Cô gái ngồi trong khoang đò im lặng, ngước lên nhìn Thức, ánh mắt sẫm hoàng hôn…
Đêm ấy, ở bến sông Nguyệt Đức, có một bóng người đứng chôn chân trên bãi nhìn mãi về phía cửa sông rồi mới lủi thủi lên đê nhưng không về mà quỳ xuống, lặng lẽ hướng về làng. Giữa cái nền sương xuống mỗi lúc một dày, bóng người đen thẫm như bóng đá. Cho đến tận khi gà gáy sang canh, cái bóng quỳ mới run rẩy đứng lên, xuống bến, chèo sang bờ bên kia, chỗ hai ngôi mộ gió.
Rồi lên đò, rời Nguyệt Đức, lẫn vào sương.
Chẳng ai biết cách đó một đoạn, chỗ bờ lau sậy lút đầu, có một người đàn ông đứng lặng dõi nhìn. Từ lúc người lên bến đến khi con đò khuất hẳn mới điên cuồng  đuổi theo. Tiếng gọi chìm trong tiếng sóng
Nếu có người hỏi người con gái Nguyệt Đức ấy đi đâu tôi cũng không biết trả lời sao, chỉ biết đò của Thức trôi về đến đảo lúc nắng quái lên rực mắt. Bước qua những luống hoa cải, Thức giật mình khi nhìn thấy trước thềm cái dáng quen đang ngồi chuốt gốm, nghe tiếng động ngẩng lên nhìn rồi biến mất… Thềm không bóng người. Chiếc bàn xoay vệt đất sét đã trắng, mẻ men rượu đã khô xếp đều trên mặt nong tre, lò gốm mới loang đôi vệt khói, con mương nhỏ mới đào nước vẫn ri rỉ chảy từ sông….
Thức vật xuống giữa trảng hoa vàng rực lên trong nắng cuối ngày, lúc trở dậy, bàng hoàng nhận ra con đò nhỏ đã về neo trên bãi, người lên gửi lại Thức cành đào đôi nụ sớm cắm trong bình gốm men tro tơ hồng, đôi hàng dấu chân nhỏ cô đơn kéo đò lên rồi lại một mình quay xuống biến mất bên mép sóng…
“Cô bảo bây giờ họ đã gặp nhau chưa?”
“Con không biết. Nhưng con tin điều đó vì kể từ ngày ấy, ở hòn đảo Mui Rùa cách Nguyệt Đức xa gần tuỳ con nước, có một người đàn ông bốn mùa cặm cụi xới vun chỉ để gieo một màu hoa cải. Rồi mỗi chiều lại ngồi giữa hoàng hôn, bên hiên ngôi nhà tranh, cạnh gốc mộc hương âm thầm trổ bông trong kẽ lá, ngóng qua biển hoa vàng, chờ ai đó sẽ trở về từ phía cửa sông…
“Cũng từ ngày ấy, hòn đảo mới được gọi tên là ĐẢO HOA VÀNG?”
“Vâng! Rồi sẽ có một ngày…… Ông có tin không?”…
VĨ THANH:
Tôi không thể kết thúc câu chuyện ở đây mà không kể về hai người lên Nguyệt Đức đêm mưa bão ấy.
Đó là Cường và người con gái vì tình yêu mà bỏ nhà, bỏ bố mẹ theo Cường. Để một đêm, trong góc khuất của vườn Gốm Lệ, ngồi gục đầu im lặng nghe Cường đanh giọng hỏi có chính xác không, mấy tháng? Rồi dỗ dành phải bỏ thôi, bây giờ không phải lúc, anh vừa vào được Gốm Mai, bao công sức mới đẩy được thằng Mộc đi, mới lấy được cô chủ, chưa có gì trong tay mà vỡ lở là công cốc… Bỏ đứa này, đẻ đứa khác… Anh đi lấy thuốc cho… Mà nhớ kĩ, đã vào được đây làm, đã giả câm để được ở gần nhau thì phải câm thật kẻo người ta nghi ngờ…
… Cái bóng tội nghiệp lần về, nằm gục trong góc bếp, khi nghe gà gáy sáng thì lần tường, đứng dậy, lê về phía chái, lấy quang gánh, đội mê nón, bước qua khoảng sân gốm rộng về phía cánh đồng, gặt lúa một mình. Rồi khuỵu xuống bởi những cơn đau, bò mãi mới về được ngôi miếu hoang bên gốc đa, vệt máu chảy dọc theo rệ cỏ… Nằm ở đó đến khi trời tối mới tỉnh dậy, vừa khóc vừa quỳ giữa đám cỏ tranh, lấy tay đào cái hố, lót lần cỏ khô, chôn một vật nhỏ bọc trong manh áo của mình…
Cái bóng thui thủi trở về trong bóng tối, ngạc nhiên khi thấy Gốm Mai đèn thắp sáng trưng, rộn rã tiếng người. Có ai đó reo lên may quá, chị ấy đây rồi, sao trưa nay không về ăn cơm, nhà Mai nở rồi, con giai, chị lên mà xem, thằng cu xỉnh lắm!
Từ phía căn nhà gốm, tiếng trẻ con khóc vọng lên cùng với tiếng Cường cười…
… Hơn hai mươi năm sau, khi Gốm Mai đã lớn mạnh lên thành trùm xứ gốm,  không mấy ai còn nhớ ở mảnh đất này đã từng có Gốm Lệ lừng danh mà dấu tích  còn lại chính là ngôi nhà gốm cổ bên hiên có cây mộc hương già nằm trọn trong đất Gốm Mai…
Nhưng rồi bất chợt ngày nọ có một người con gái đột ngột trở về…
Tôi sẽ kể tiếp câu chuyện cô gái ấy nếu bạn kiên nhẫn đọc đến những dòng cuối cùng này rồi nói đã từng gặp ĐẢO HOA VÀNG đâu đó và muốn dẫn tôi đi… 
14/11/2025
Nguyễn Hải Yến
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Một tấm ảnh, một đời người

Một tấm ảnh, một đời người Lần mẹ tôi xuống bệnh viện thăm bố tôi, lần duy nhất. Hôm ấy, tiếng còi báo động hú vang, báo có máy bay Mỹ lượ...