Một tấm ảnh, một đời người
Lần mẹ tôi xuống bệnh viện thăm bố tôi, lần duy nhất. Hôm ấy, tiếng còi báo động hú vang, báo có máy bay Mỹ lượn trên bầu trời. Cả khu bệnh viện náo loạn, ai cũng cuống cuồng sơ tán thương binh xuống hầm trú ẩn. Cô Lủi, em gái bố tôi, khi ấy đang bụng chửa vượt mặt, vẫn gắng sức cõng anh xuống hầm. Chị Vân chạy theo sau, hốt hoảng đỡ giúp, tay này vịn bố, tay kia giữ cô khỏi ngã. Bố tôi liếc quanh, không thấy mẹ tôi đâu, gắng gượng hỏi, giục mọi người tìm giúp.
1 Giữa tháng sáu, bầu trời
như một lò nung khổng lồ úp xuống mặt đất. Gió khô khốc rít qua tán cây, mang
theo mùi ngai ngái của bụi đỏ hòa lẫn hương lá úa. Nắng như lưỡi dao nung quét
ngang vạn vật, trút xuống trần gian hơi nóng hầm hập. Cây cối bơ phờ, mệt mỏi
chờ một cơn mưa giải cứu. Chỉ những chùm phượng vĩ đỏ rực vẫn kiêu hãnh trong nắng
hạ, càng cháy rực hơn, như bừng lên sắc đỏ của ký ức mùa thi.
Tôi rủ mấy người bạn ra
quán đầu phố, gọi mấy vại bia hơi giải khát, vừa uống vừa tán chuyện giết thời
gian. Đang nhâm nhi thì nhận được điện thoại của chị Vân, giọng gấp gáp hỏi tôi
đang ở đâu. Chị giục tôi uống nhanh, rồi về ngay hỏi xem mẹ tôi còn giữ bất kỳ
loại giấy tờ nào liên quan đến bố thì gửi ngay cho chị. Tôi bảo chị yên tâm, một
lát nữa em sẽ về. Nhưng chỉ hai, ba phút sau, chị Vân lại gọi, giọng căng thẳng
hơn: “Về chưa?”. Rồi chị trách tôi rằng, sắp đến ngày giỗ bố rồi, chị đang sốt
ruột chờ tin, còn tôi vẫn ngồi thong dong uống bia. “Chẳng lẽ em không muốn biết
mặt bố?” – chị hỏi, giọng vừa trách móc vừa đau đáu, xót xa.
Tôi cầm cốc bia uống dở,
ngửa cổ tu một hơi hết sạch rồi xin phép mấy người bạn, vội vàng về nhà. Thấy mẹ
tôi đang lúi húi trong bếp, tôi giục bà tìm ngay các loại giấy tờ có liên quan
đến bố tôi. Bà hỏi để làm gì. Tôi bảo để con đưa cho chị Vân, nhờ người ta tìm ảnh
bố con.
Mẹ tôi chì chiết:
“Tao cũng lạ con chị mày,
đã mấy chục năm rồi mà vẫn cứ lèo nhèo mãi về tấm ảnh bố. Chỉ là tấm ảnh thôi
mà làm như vàng bạc, kim cương không bằng! Mày gọi lại bảo với nó là tao chẳng
còn cái gì liên quan đến bố của chúng bay cả!”
Tôi bảo:
“Chí ít thì mẹ cũng còn
giữ một thứ gì chứ?”
Mẹ tôi bực tức:
“Cái con Vân này, mãi mà
nó vẫn không thôi cái vụ này. Nó đã đến tất cả những gia đình họ hàng hỏi xem
có ai chụp ảnh chung với bố nó không, nó đến cả Huyện đội, Tỉnh đội, rồi Sở Lao
động Thương binh Xã hội, hỏi loạn cả lên nhưng cũng có tìm được đâu. Lần trước
nó hỏi, tao đã bảo không có, nó lại bắt bẻ tao. Rằng sao biết bố nó nằm chờ chết
mà tao không chụp ảnh để sau này làm ảnh thờ. Rồi nó ì èo, bảo tao đã không cho
bố con mày gặp nhau thì cũng phải chụp ảnh để lại cho mày biết mặt bố chứ…”
Mẹ tôi được thể, cứ chì
chiết mãi không dứt. Hễ nhắc đến chị Vân là giọng bà cao lên một quãng, khuôn mặt
nhăn lại như bị kéo căng bởi những mối hằn học chưa từng nguôi ngoai. Tôi im lặng
lắng nghe, lòng chùng xuống. Dù bà là mẹ tôi, nhưng tôi không sao đồng tình nổi
với những suy nghĩ có phần khắt khe và cố chấp ấy. Đã nhiều lần tôi tự hỏi, phải
chăng người xưa thấu hiểu lòng người đến vậy mới đúc kết nên câu: “Mấy đời bánh
đúc có xương, mấy đời dì ghẻ có thương con chồng.”
Mẹ tôi chưa bao giờ dành
cho chị Vân dù chỉ một ánh nhìn cảm thông. Mỗi lần thấy chị, ánh mắt bà lại sa
sầm, gương mặt đanh lại như thể có một cái gai vô hình đang cắm sâu vào ký ức.
Có lẽ, trong chị Vân, bà luôn nhìn thấy hình bóng mẹ chị, vợ đầu của bố tôi, một
cái bóng mà bà chưa bao giờ vượt qua được. Tôi biết, để yêu thương vợ cũ của chồng
mình là điều chẳng dễ dàng gì, nhưng cứ mỗi lần tôi góp ý, bà lại gắt gỏng, xua
tay như muốn đẩy lùi cả những lời tôi chưa kịp nói hết.
Không muốn mọi chuyện đi
xa thêm, tôi vội cắt lời mẹ:
“Thôi thôi, mẹ đừng nói nữa.
Con biết hết rồi. Mẹ không tìm thì để con tìm…”
Tôi quay lưng bước nhanh
vào gian trong, nơi chất đống những thùng giấy cũ nát, mùi ẩm mốc ngai ngái như
đang kể lể về những tháng năm bị lãng quên. Tôi cúi xuống, lật giở từng chồng sổ
sách, giấy tờ đã sờn mép, nhàu nát. Những trang giấy vàng ố như những chiếc lá
cuối mùa, giòn và mong manh đến mức chỉ cần một cái chạm nhẹ là có thể vụn ra từng
mảnh.
Và rồi, như thể vận may
cuối cùng cũng mỉm cười, tay tôi chạm vào một tập giấy nằm lẫn lộn trong đống
phế liệu mẹ tôi đang chuẩn bị bán cho đồng nát. Đó là tấm bằng “Tổ quốc ghi
công”, cùng hai tấm Huân chương: Huân chương Kháng chiến hạng ba và Huân chương
Chiến công Giải phóng hạng ba, đều ghi tên bố tôi.
Chúng đã bạc màu theo thời
gian, góc cạnh rách nát, vài chỗ chữ in mờ đến mức phải căng mắt mới lờ mờ đoán
ra được. Tôi bần thần trong giây lát, rồi như sực tỉnh, vội vồ lấy ba tấm giấy
đó, nhẹ tay vuốt phẳng, như thể sợ chỉ một động tác mạnh cũng có thể làm chúng
tan biến.
Tôi chụp vội từng tấm ảnh,
gửi qua Zalo cho chị Vân. Nhưng khi nhìn những tấm huân chương và tờ bằng khen
trong tình trạng tả tơi ấy, tôi biết, chị sẽ không khỏi đau lòng, thậm chí sẽ
giận mẹ tôi lắm.
Vì vậy, trước khi gửi,
tôi gọi cho anh rể, chồng chị, nói hết mọi điều. Tôi nhờ anh nói giúp với chị rằng
tôi từng sống ở nước ngoài, chẳng có điều kiện để quan tâm hay gìn giữ những kỷ
vật quý báu này. Tôi cũng nói đỡ cho mẹ, rằng vì chuyển nhà nhiều lần, giấy tờ
bị thất lạc, nên mới ra nông nỗi như thế.
2. Tôi là em cùng cha
khác mẹ với chị Vân, kém chị bảy tuổi. Chị Vân còn có bốn người em ruột, cùng mẹ
khác cha với chị. Trong số đó có thằng Tú, bằng tuổi tôi, lại là bạn thân từ
thuở nhỏ. Hai đứa học chung lớp, cùng chung một ngõ nhỏ quanh co dẫn ra đầu
làng, nhà chỉ cách nhau mấy bước chân, nên gần như ngày nào cũng dính lấy nhau,
khi thì đá cầu, lúc thì búng bi, có khi lăn lê cả buổi dưới bóng cây bàng đầu
xóm.
Tôi còn nhớ như in một lần,
buổi chiều hè oi ả, mặt mũi hai đứa nhễ nhại mồ hôi, đang mải mê búng bi trên
sân đất thì chị Vân tìm đến. Chị gọi Tú về ăn cơm. Giọng chị dịu dàng như gió
thoảng qua rặng tre:
” Người gì mà mồ hôi nhễ
nhại thế kia. Thôi lau mặt đi em, về ăn cơm không muộn rồi đấy!”
Chị nhìn Tú với ánh mắt dịu
dàng, trìu mến. Rồi bất ngờ, chị liếc sang tôi. Ánh mắt bực dọc thoáng vụt qua,
chạm phải cái nhìn lặng lẽ, ngập ngừng của tôi. Cả hai chị em cùng vội quay đi.
Tôi cúi gằm mặt, lầm lũi bước về, trong lòng buốt nhói như có cơn gió lạ lùa
vào một chỗ rỗng sâu hoắm.
Mỗi lần nghĩ đến ánh mắt
chị âu yếm dành cho Tú, cho các em cùng mẹ khác cha, rồi nhìn lại cách chị
tránh né, xa cách với tôi, cái lườm nguýt, cái quay đi rất khẽ nhưng đầy lạnh
lùng, lòng tôi lại chùng xuống, tủi thân lắm. Nhưng lạ thay, tôi chưa bao giờ
ghét chị Vân. Tôi cố tìm đủ mọi lý do để tự an ủi, để vơi bớt nỗi buồn: chắc tại
chị ở cùng nhà với mấy em, sống gần gũi nên tình cảm hơn; còn với tôi, có lẽ chị
lạnh nhạt bởi vì… mẹ tôi.
Tôi tự biện hộ cho chị để
lòng mình nhẹ đi. Tôi chẳng dám oán trách ai. Chuyện người lớn giữa hai nhà ra
sao, tôi không rõ. Chỉ biết rằng mẹ chị là em gái, con bà cô họ hàng với mẹ
tôi. Mẹ tôi ghê gớm, đanh đá và rất khéo miệng. Mẹ chị thì trái ngược hoàn
toàn: hiền lành, xởi lởi, luôn cười nhẹ và bao dung với mọi người. Tôi quý bà
như chính mẹ của mình.
Lớn lên một chút, khi hiểu
thêm về những gì từng xảy ra, tôi bắt đầu trăn trở. Mẹ tôi là chị họ của mẹ chị
Vân, thế mà lại lấy chồng cũ của em gái, chỉ ít lâu sau khi họ vừa ly hôn. Hai
nhà lại đối diện, ngày qua ngày trông mặt nhau, dòm ngó nhau, điều tiếng cũng
là phải. Người làng đồn thổi, nói nọ nói kia, rồi bảo chính mẹ tôi là lý do khiến
bố mẹ chị tan vỡ. Tôi hiểu dần, hiểu tại sao chị Vân lại nhìn tôi như vậy.
Những lần bị chị lườm
nguýt, tôi chỉ muốn chạy đến ôm lấy chị mà nói:
” Chị ơi, lỗi đâu phải tại
em. Em chẳng có tội tình gì. Đừng ghét bỏ em, em tội lắm…”
Nhưng tôi không dám. Ý
nghĩ ấy tôi chỉ dám giữ trong lòng, chôn sâu như một chiếc gai không ai nhổ
giúp được. Tôi hiểu, nếu là chị, tôi cũng chẳng cư xử khác đi. Người ta vẫn
nói: “Giận cá chém thớt” mà.
Có một bà cụ hàng xóm,
tóc bạc như mây, hay ngồi dưới giàn mướp trổ hoa vàng rực mỗi chiều, từng xoa đầu
tôi mà bảo:
”Cháu yên tâm nhé. Người
cùng máu mủ, có giận đến mấy thì rồi cũng nhận lại nhau thôi…”
Tôi chỉ còn biết bám víu vào lời cụ, hy vọng và trông chờ cái ngày ấy, ngày chị Vân thôi lườm nguýt tôi, mà mỉm cười gọi tôi là em, sẽ thực sự đến…
3. Khi tôi vào cấp ba thì
chị Vân vừa tốt nghiệp trung cấp Y. Hôm ấy, trên đường đi học về, tôi tình cờ gặp
chị đi ngược chiều. Từ xa, tôi đã thấy dáng chị hiện lên trong nắng chiều
nghiêng nghiêng, gót giày điểm nhẹ trên con đường làng râm bóng hàng nhãn xanh
um. Tôi dõi theo như bị hút vào một khung tranh êm đềm. Gương mặt chị Vân thật
xinh xắn, hiền hậu, ánh mắt chan chứa dịu dàng. Người trong xóm vẫn thường khen
tôi giống chị, mỗi lần nghe vậy, lòng tôi lại rộn ràng, như được ai đó ban cho
một niềm an ủi lặng thầm.
Tôi đang thẫn thờ ngắm chị,
chưa kịp ngoảnh mặt đi thì bất chợt nghe tiếng chị gọi:
“Đức!”
Tôi giật mình, tưởng mình
nghe nhầm. Chị lại tiếp lời, giọng nhẹ như gió thoảng:
“Em đi học về đấy à? Dừng
xe lại, chị nói chút!”
Tôi luống cuống, vừa mừng
vừa ngượng, chỉ kịp lí nhí một tiếng “vâng” nhỏ xíu. Chị
Vân bước nhanh về phía tôi, tay nhẹ nhàng nắm lấy ghi đông xe đạp của tôi, giọng
đầy thân tình:
“Chị vừa nhận công tác ở
Bệnh viện Khoái Châu, giờ chị ở khu tập thể bệnh viện. Lúc nào rảnh, em vào
chơi với anh chị và các cháu nhé!”
Lần đầu tiên tôi thấy chị
nhìn mình bằng ánh mắt dịu dàng ấy, ánh mắt như chảy ra từ trái tim một người mẹ.
Ánh mắt mà bao năm qua tôi chỉ thấy chị dành cho Tú, ánh mắt tôi từng thèm
khát, từng ghen tỵ, từng mơ được chạm tới một lần. Lòng tôi ấm lên như có ngọn
lửa nhỏ vừa được thắp sáng giữa mùa đông lặng lẽ. Tôi đứng đó, ngây người vì hạnh
phúc. Và từ khoảnh khắc ấy, chị em tôi bắt đầu đi lại thân tình với nhau, như
thể sợi dây máu mủ bị đứt nay đã nối lại được bằng những mảnh yêu thương tưởng
đã lạc mất.
4. Một hôm, chị Vân lên
Hà Nội chơi với con gái, chị gọi điện cho tôi, rủ tôi đi chơi. Tôi nghe giọng
chị trầm lại, linh cảm có điều gì đó sâu kín. Tôi vội phóng xe tới đón chị. Chị
chọn hồ Tây. Hai chị em vào quán bánh tôm ven hồ, món đặc sản mà bất cứ người
Hà Nội nào cũng tự hào.
“Hôm nay chị mời em. Em
muốn ăn gì cứ gọi!”
Tôi cười, đùa nhẹ:
“Vậy chị gọi một đĩa bánh
tôm và cho em thêm chai bia Trúc Bạch nhé!”
Chúng tôi chọn chiếc bàn
kê sát mép hồ. Chiều muộn, mặt trời lùi dần về cuối chân trời, để lại những vệt
nắng cuối ngày ánh lên mặt nước như dát vàng. Mặt hồ êm như tấm lụa xanh mềm mại,
sóng lăn tăn vỗ vào bờ nghe như tiếng thở dài của thời gian. Không gian thanh
bình đến lạ.
Tôi mở nắp chai bia, ngửa
cổ uống một ngụm, cảm giác mát lạnh chạy dọc cổ họng xuống tận đáy bụng. Đang định
nói đùa vài câu thì chị Vân đột ngột trầm tư. Chị nhìn xa xăm về phía ánh hoàng
hôn, rồi quay lại nhìn tôi, ánh mắt đăm chiêu mà ấm áp:
“Đức à, chị có nhiều điều
muốn tâm sự với em. Trước kia chị không nói, vì sợ em buồn, chị thương em nhiều
lắm. Nhưng giờ em đã lớn, đã mạnh mẽ, chị nghĩ em cần phải được biết…”
Tôi sững người, đặt ly
bia xuống bàn, chăm chú:
“Có chuyện gì quan trọng,
chị cứ nói. Em nghe đây.”
Chị Vân hít một hơi thật
sâu, giọng chùng xuống như kéo theo cả ký ức:
“Đó là một chuyện buồn… Mỗi
lần nhớ lại, chị lại thấy thương bố mình đến thắt ruột…”
Chị Vân thở dài, mắt nhìn
xa xăm, rồi chậm rãi kể. Khi ấy, bố tôi bị thương nặng từ chiến trường đưa về
điều trị tại Quân y viện Bảy, nghe mọi người kể bố tôi mới biết, mình có một đứa
con trai, là tôi. Vì khi ông lên đường vào chiến trường miền Nam, mẹ tôi mới biết
mình mang thai hơn một tháng. Tin ấy như ngọn lửa thắp sáng những ngày cuối
cùng trong đời bố tôi. Dù đang mang trong mình những vết thương nặng, ông vẫn
xúc động tột cùng, ánh mắt bừng lên một tia sáng. Ông mong mỏi được nhìn thấy mặt
con trai hơn bất cứ điều gì. Trong những ngày hấp hối, ông tha thiết nhờ bác Thắng,
anh ruột mình, về nhà nói với mẹ tôi, đưa tôi xuống bệnh viện để hai bố con tôi
được gặp nhau một lần, dù chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi cuối đời.
Sáng sớm hôm ấy, bác Thắng
dặn chị Vân ở lại trông bố, còn mình vội vã lên đường, không chậm trễ một phút
nào. Ông băng qua những đoạn đường mịt mù bụi đỏ, gió gào, lòng chỉ mong kịp thời
gian. Vừa tới nhà tôi, chưa kịp ngồi xuống, bác Thắng đã cất tiếng gấp gáp:
“Thím à, tôi có việc muốn
nói gấp với thím.”
Mẹ tôi ngạc nhiên:
“Việc gì mà trông anh có
vẻ căng thẳng thế?”
Bác Thắng nén xúc động,
giọng nghẹn lại:
“Chú Chiến yếu lắm rồi.
Không biết có còn trụ được bao lâu nữa. Chú ấy chỉ mong được gặp mặt thằng Đức
một lần. Thím thu xếp đưa cháu xuống Quân y viện gặp bố nó đi chị!”
Mẹ tôi khẽ lắc đầu, chối
khéo:
“Dạo này giặc Mỹ đánh phá
dữ lắm. Đường sá không yên, cháu còn bé, em không dám đưa nó đi đâu cả…”
Bác Thắng nhíu mày:
“Cháu Đức cũng năm, sáu
tuổi rồi, còn bé bỏng gì nữa? Từ đây xuống viện Bảy chưa đến năm chục cây số.
Người ta vẫn đi lại ngoài đường đấy thôi, có ai trúng bom trúng đạn đâu mà thím
lo quá vậy? Tôi thấy… thím nên nghĩ lại, cho bố con chú ấy gặp nhau một lần.”
Mẹ tôi khựng lại, rồi đáp
gắt, giọng dứt khoát:
“Em đã nói không là
không! Anh có nói gì thì em cũng không cho cháu đi đâu hết!”
Bác Thắng cố nén giận,
nói như van lơn:
“Thím nghĩ kỹ lại đi. Chú
ấy gửi gắm tôi mang lời về, như là ước nguyện cuối cùng trước lúc nhắm mắt. Ai
mà nỡ để người sắp rời xa thế giới này phải mang theo cả niềm mong mỏi chưa
thành? Vì cái tình cái nghĩa, thím giúp bố con chú ấy gặp nhau một lần thôi.
Nghĩa tử là nghĩa tận mà thím!”
Nhưng mẹ tôi vẫn cứng rắn,
ánh mắt lạnh tanh:
“Em không thể chiều lòng
người sắp chết mà để đánh đổi mạng người đang sống. Biết mặt hay không thì cũng
có sao đâu? Người sắp chết cũng phải biết nghĩ cho người còn sống chứ? Chả lẽ
ông ấy lại muốn con mình liều mạng trên đường bom đạn? Anh về nói với nhà em
như thế. Em tin rằng ông ấy sẽ hiểu ra và sẽ không đòi hỏi nữa đâu…”
Bác Thắng trở lại Quân y
viện Bảy trong tâm trạng nặng trĩu, buồn bã như có tảng đá ghì xuống lòng. Bước
vào phòng, bác lặng lẽ ngồi xuống bên giường bệnh, nơi bố tôi vẫn nằm bất động,
đôi mắt thất thần hướng mãi ra phía cửa như đang níu lấy một tia hy vọng cuối
cùng. Trong ánh mắt ấy, lấp lánh những giọt nước long lanh, mỏng như sương
nhưng mặn đắng cả cõi lòng.
Bố tôi nhìn thấy bác trở
về một mình thì đã hiểu. Ông không hỏi. Ông chỉ nhìn, ánh mắt cụp xuống như một
cánh cửa khép lại. Bác Thắng thở dài, giọng chùng xuống như tiếng gió thổi qua
giường bệnh:
“Anh đã phân tích, giảng
giải hết lời rồi… nhưng thím ấy vẫn cương quyết không cho cháu Đức xuống thăm
chú.”
Bố tôi nhắm mắt lại, lặng
một hồi, rồi thì thào, giọng ông như hơi thở cuối cùng của một ngọn lửa sắp lụi:
“Em hiểu… Cô ấy vốn chỉ
biết nghĩ cho mình. Nhưng em không ngờ, ngay cả với một người sắp chết, cô ấy
cũng có thể cạn tình đến thế. Cô ấy tưởng thế là thương con, nhưng không… Cô ấy
đang làm một điều tàn nhẫn với chính chồng con mình. Anh thử nghĩ mà xem, có
người vợ nào lại để chồng mình, từ chiến trường thoát chết trở về, nằm liệt giường
một chỗ mà bao lần năn nỉ mới xuống thăm được một lần… rồi biệt tăm biệt tích
sau hôm ấy…”
Nói đến đây, giọng chị
Vân nghẹn lại. Gương mặt chị tái đi, tay chị run nhẹ khi nhớ về cảnh tượng năm
xưa. Chị kể tiếp, giọng trầm lắng, mắt hoe đỏ.
Lần mẹ tôi xuống bệnh viện
thăm bố tôi, lần duy nhất. Hôm ấy, tiếng còi báo động hú vang, báo có máy bay Mỹ
lượn trên bầu trời. Cả khu bệnh viện náo loạn, ai cũng cuống cuồng sơ tán
thương binh xuống hầm trú ẩn. Cô Lủi, em gái bố tôi, khi ấy đang bụng chửa vượt
mặt, vẫn gắng sức cõng anh xuống hầm. Chị Vân chạy theo sau, hốt hoảng đỡ giúp,
tay này vịn bố, tay kia giữ cô khỏi ngã. Bố tôi liếc quanh, không thấy mẹ tôi
đâu, gắng gượng hỏi, giục mọi người tìm giúp.
Khi mọi người đã xuống hầm
gần hết, thì thấy mẹ tôi… đã ngồi sẵn dưới đó từ lúc nào, co ro trong một góc.
Bố tôi lúc đó giận run người, mặt trắng bệch, răng nghiến lại:
“Về ngay! Đồ ích kỷ!”
Chị Vân kể, mẹ tôi sầm mặt
lại, vịn cớ từ hôm ấy, cắt đứt mọi liên lạc, không quay lại Quân y viện nữa.
Hai tháng sau, bố tôi
trút hơi thở cuối cùng. Các chú trong đơn vị và bà con thân thích xuống Quân y
viện Bảy đón thi hài bố tôi về quê an táng. Mẹ tôi cũng không đi. Chỉ vì sợ… sợ
trên đường về, nếu không may gặp bom rơi, đạn lạc thì lại thiệt thân.
Tôi lặng người khi nghe đến
đây. Trong lòng dâng lên cảm xúc hỗn độn, vừa thương bố đến thắt ruột, vừa giận
mẹ đến khó tả. Giận không chỉ vì bà cắt đứt cơ hội cuối cùng để bố tôi nhìn thấy
mặt con trai, mà còn vì bà đã tước đi cơ hội duy nhất của chính tôi… được biết
mặt bố mình.
Chị Vân ngồi đó, lặng im
một lúc lâu. Ánh mắt chị đọng lại những vệt mờ như thể bên trong đang quay một
thước phim đã nhuốm màu thời gian. Chị thì thầm:
“Chuyện gia đình mình…
trong đầu chị lúc nào cũng như một đoạn phim cũ kỹ, lâu lâu lại lặng lẽ quay, từng
khung hình, từng tiếng thở dài…”
Chị Vân nghẹn ngào kể, tất
cả những hình ảnh như đoạn phim quay chậm trong tâm trí chị, điều ám ảnh chị,
nhất là quãng thời gian bố tôi nằm trên giường bệnh, thân thể chỉ còn là một
dáng hình gầy guộc như chiếc bóng đang dần bị xóa nhòa khỏi cõi đời. Chị bảo, mỗi
lần nhớ đến, hình ảnh bố hiện lên rõ mồn một: thân hình teo tóp, còn mang nhiều
mảnh đạn, làn da vàng úa do bị nhiễm chất độc da cam, giống như chiếc lá cuối
thu, gương mặt hốc hác, méo mó vì đau đớn. Đôi mắt ông cứ khép hờ, mỏi mòn hướng
ra phía cửa, như đang chờ một phép màu sẽ đưa đứa con trai chưa từng gặp mặt bước
vào, gọi ông một tiếng “bố”.
Chị Vân đưa tay lau dòng
nước mắt vẫn trào ra không ngăn nổi, giọng chị như vỡ ra từng khúc:
“Bao năm nay chị cứ đau
đáu một điều… phải tìm cho bằng được tấm ảnh của bố. Một tấm ảnh để đặt lên ban
thờ cho bố có chốn đi về, có khuôn mặt để con cháu cúi đầu tưởng nhớ. Nhưng hơn
hết là để em được biết mặt người đã sinh ra mình. Chị không cam lòng để bố đi
trong vô vọng, không hình bóng trong ký ức của chính đứa con ruột của mình…”
Chị im lặng một lúc, rồi
bất chợt nấc lên, như bao kìm nén dồn nén suốt mấy chục năm nay giờ bật tung
ra:
“Nhiều lúc, chị uất lắm,
hận mẹ em đến mức chỉ muốn chạy về, trút hết tất cả những gì chị chịu đựng, nói
cho ra nhẽ, cho nhẹ lòng. Nhưng rồi chị lại không thể. Không phải vì sợ, mà vì…
vì thương em. Người ta vẫn bảo: ‘Vuốt mặt phải nể mũi’. Chị không muốn em bị kẹt
giữa một người là mẹ, một người là chị. Và thế là, suốt bao năm, chị nuốt đắng
vào trong, sống cùng với những day dứt không tên…”
Chị vừa sụt sùi vừa đưa
khăn chấm nước mắt. Nhìn chị khóc nức nở trước mặt tôi như một đứa trẻ, lòng
tôi như thắt lại từng khúc. Tôi chưa từng thấy chị yếu mềm đến mức như vậy.
Cũng chưa từng thấy chính mình nghẹn ngào đến thế. Mỗi lời chị kể như từng mũi
kim xuyên vào ngực, nhói buốt.
Tôi cầm lấy tay chị, tay
chị gầy guộc, lạnh như nước hồ ban sớm, mắt tôi nhòe đi:
“Chị… Em hứa. Chị em mình
sẽ cùng nhau đi tìm bằng được hình ảnh của bố. Dù có phải lật tung tất cả các
đơn vị, các kho tư liệu, các nơi bố từng đi qua, em cũng sẽ không dừng lại. Nhất
định… vào ngày giỗ, mình sẽ có tấm ảnh bố đặt trên ban thờ. Bố sẽ không còn vô
hình nữa…”
Chị Vân nhìn tôi xúc động
gật đầu. Tôi ngồi bên chị, lặng im, không ai nói gì thêm. Chúng tôi chỉ ngồi
đó, cùng nhìn về một phía không rõ hình thù, nơi có thể là ký ức, cũng có thể
là tương lai. Nhưng trong khoảnh khắc ấy, tôi biết một điều chắc chắn: từ nay,
tôi sẽ cùng chị, đi tìm lại khuôn mặt của bố mình. Tôi quay mặt ra phía hồ để
giấu đi những giọt nước mắt đang chực rơi. Mặt hồ Tây lúc này đã nhuộm một màu
tím biếc, những tia nắng cuối cùng đã lặn khuất sau rặng cây phía chân trời.
Hàng liễu ven hồ buông lơi những mái tóc dài mềm mại, đong đưa trong gió như những
lời tiễn biệt lặng lẽ. Xa xa, tiếng lanh canh của chiếc thuyền chài vọng lại giữa
không gian mênh mang, ngân lên một nốt lặng buốt lòng. Những con sóng nhẹ nối
nhau vỗ bờ, như những lời thì thầm an ủi từ quá khứ vọng về. Hồ Tây giống như một
trái tim yêu thương xoa dịu dần đi nỗi niềm khắc khoải của chị em tôi…
25/9/2025
Nguyễn Thị Bích Vượng
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét