Thứ Năm, 23 tháng 12, 2021

Ngát trên lưng đồi 1

Ngát trên lưng đồi 1

Chương 1
Chiều về. Màu nắng gieo nhẹ những bước vàng trên khắp vùng núi đồi cao nguyên. Xe đã bò lên lưng chừng con dốc và bắt đầu len vào bát ngát những rừng thông, một bên là thung lũng. Tôi nhìn lại phía sau, phần đường của trăm ngàn những bông lau tím ngắt vẫy tay chào mừng, đẩy lùi sâu dưới ấy, hình ảnh mất hút là Saigon xô bồ, bụi bặm.
Trong đời người, có một chuyến đi làm cuồng nhiệt những bước chân, niềm vui con trẻ dồn lên ánh mắt. Đó là chuyến đi xa và tự do đầu tiên cho tuổi lớn.
Đalat đối với mọi người hình như đều đáng yêu, vì mỗi khi nói về nó, ai cũng dành cho những lời ca tụng đặc biệt. Đalat quanh năm khí lạnh ươm dài, Đalat có đồi thông chất ngất, Đalat có sương mù nhuộm trắng không gian và che khuất những con đường… Còn nhiều nữa, nhưng bấy nhiêu cũng đủ làm cho tôi nghe bằng niềm thao thức rộn ràng. Ao ước thì đã nhiều nhưng đây là lần thứ nhất tôi thực hiện được ý muốn. Bất ngờ đã đến như một món quà Giáng Sinh vừa ý nhất mà ba má đã tặng cho tôi. Sự dễ dàng đột ngột của ba má gây cho tôi những băn khoăn đầy thích thú, tôi lờ mờ đoán ra được, nhưng không chắc chắn, có lẽ tôi đã đủ lớn để thực hiện những chuyến đi xa với bạn bè mà ba má biết.
Một luồng gió lạnh thổi òa vào mặt khiến tôi rùng mình sung sướng. Quanh tôi bây giờ trời đất hình như biến mất cả để nhường chỗ cho thông. Thông điệp trùng ở phía trước, thông phủ kín trên lưng đồi, thông quần tụ đầy ắp thung lũng, thông chờn vờn trong tầm tay với… Tôi âu yếm nhìn những rừng thông cuồn cuộn đi qua, những thân cây cao ngút, màu xanh ở trên cao reo vang một khúc nhạc nghe du dương mà mộc mạc, khi lại thâm u như tiếng hát linh thần. Tôi say mê trong khúc nhạc ấy mà quên rằng cái lạnh đang thấm nhập vào mình, cái lạnh ngọt mềm làm tan đi cát bụi hành trình. Mắt tôi bao rộng cả một vùng trong thái độ nao nức đi tìm những cái mới và lòng tôi dấy lên một niềm vui di động chưa từng thấy, trí tưởng lung lay như trong một cơn say nhẹ.
- Rồi cậu sẽ còn nhiều cái để ngây ngất.
Câu nói của Thành vang khẽ bên tai tôi như một thúc đẩy gọi mời. Tôi rời cảnh vật quay sang nhìn bạn mỉm cười mà không nói. Thành là bạn thân và cũng là bạn đồng hành với tôi hôm nay, nhờ Thành mà chuyến đi của tôi được thành tựu. Thành tạo được sự tin cậy nơi ba má tôi nhờ cái vẻ người lớn đáng yêu của hắn. Trong số bạn bè, Thành vẫn nổi tiếng là đứa hào hoa và lịch lãm nhất. Hắn chỉ hơn tôi một tuổi đời nhưng có nhiều nét rắn rỏi và tư tưởng vững chãi hơn. Hắn có khả năng soi thấu tâm tình và ý nghĩ của kẻ khác. Tôi thích hắn ở cái nhìn tinh xảo và nụ cười thu phục chân thành, không ai gặp hắn mà không dừng lại ở nụ cười ấy. Hắn là kẻ đầu tiên mang đến cho tôi niềm tin tưởng vào chính mình, hắn làm tan trong tôi nhiều mặc cảm. Ngày đầu tiên của tình bạn hai đứa đi giải khát ở Saigon và tâm sự vụn với nhau, hắn bảo tôi : “Cậu có thể ví như một thứ trái cây, bên ngoài thì không hấp dẫn lắm nhưng khi đã nếm rồi thì mới biết là ngon và cứ muốn ăn hoài”. Nghe sự ví von của hắn tôi bật cười, nụ cười vui hứng khởi. Hình như gần hắn tôi được vui hơn trong đời sống, những câu hỏi đến đúng lúc, những nhận xét ân cần với kẻ đối diện, nụ cười thì luôn luôn giữ trọn thân tình đã khiến tôi gắn bó tình bạn với hắn, có lẽ ngay từ lúc gặp hắn lần đầu. Cho đến bây giờ, mang tâm trạng của một loài chim nhỏ đang vẫy cánh về cánh rừng lạ xứ, miên man cảnh đẹp và bao say đắm vào đầu, tôi vẫn thấy sự có mặt của hắn là cần, sự cần thiết mơ hồ nhưng không thể thiếu.
Xe vừa rời bỏ cái thung lũng rộng có màu xanh của cỏ xen giữa những khoảng đất rực hồng, thì lại vòng qua sườn núi trước mặt để mon men trên bờ một thung lũng khác, sâu thăm thẳm. Tôi có cảm tưởng sống ở đây là đi hoài bên cạnh những chiều cao và bề sâu của đất trời. Tôi chợt quay lại hỏi:
- Còn bao xa nữa hả Thành?
- Hai cây số nữa mình sẽ thấy thị xã hiện ra ở cuối dốc.
Gần đến đích, chiếc xe đò có vẻ hối hả hơn, không khác gì bóng chiều đang xuống. Tôi bỗng ao ước cho thời gian đi chậm lại, để trước khi tia mắt chạm bờ hồ Xuân Hương cùng thành phố, tôi có đủ thì giờ tận hưởng cái hạnh phúc đang dâng lên như sóng nước thủy triều, hạnh phúc của một kẻ vẫn ước ao, đi tìm và sắp gặp. Tôi tưởng tượng ra khuôn mặt của Đalat rạng lên trong một ngày lễ lớn. “Muốn được lạnh và thấy phần lớn cái nhan sắc của Đalat, hãy đến đó vào dịp Giáng Sinh. Mùa đông ở xứ lạnh thì không còn ở đâu lạnh bằng”, một người bạn đã bảo thế. Và tôi chợt mỉm cười vì những nao nức quá trẻ con của mình. Mọi người đã nuôi trong tôi từ lâu sự ưu ái đó?
Chiếc xe đột ngột thả xuống con dốc có rải rác những mái nhà xanh đỏ ẩn hiện, và chúng tôi bắt đầu vào thị xã. Khí lạnh ào tới từng cơn, dưới kia là hồ Xuân Hương. Tôi nghển người lên một chút để nhận diện rõ hơn thành phố đang chờ tôi bên kia vùng nước rộng. Thành khoác vào người chiếc áo ấm, vừa bảo:
- Mặc áo vào đi chứ bồ.
Tôi cười:
- Mình muốn xem sức lạnh của Đalat khỏe đến cỡ nào.
- Muốn tìm cảm giác hả, cậu sẽ biết trước khi trời tối.
Cái lạnh thấu da thịt chạm vào tôi khi xe đi vòng bờ hồ, tôi đã nhìn thấy băng giá hắt lên từ mặt hồ yên lặng, nhưng cái lạnh hình như rất êm. Xa đằng kia một vài chiếc pédallo thả bồng bềnh.
- Có lẽ những ngày nghỉ ở đây mình sẽ sống rất vội Thành ạ.
Thành đang sửa lại áo quần cho gọn trước khi xuống bến, hắn quay sang nhìn tôi bằng nụ cười vui. Tôi biết hắn sắp nói một câu khôi hài:
- Tớ không ngờ cậu lại si mê Đalat đến thế. Nếu cần mình sẽ lưu lại vài ngày nữa. Nhà ở có rồi, hết tiền thì đến ăn mày bạn bè. Mấy khi ta lại được đi ăn mày hả Linh?
Câu nói của Thành vừa dứt thì xe đã vào hẳn bến, mọi người xôn xao, mấy cô bé có dáng dấp “nữ sinh Saigon đi nghỉ mát” đang rối rít với những tay xách hành lý, khép nép trong những chiếc áo len ấm… Xa bên kia là một dòng người dạo bên bờ hồ, cạnh những rặng thông xanh… Niềm vui chợt len nhẹ vào hồn, tôi vội vã khoác chiếc áo choàng lên vai, bỏ lại những ý nghĩ vẩn vơ, theo Thành đi vào cuộc sống hiện tại…
Chương 2
Chiếc taxi chở chúng tôi đi vòng qua chợ, thị dân ở đây đa số đi bộ, xe cộ có nhưng rất ít, tôi thấy du khách đông đảo trước những cửa hàng. Những chiếc áo choàng muôn màu, đủ kiểu, cũng là một trong những nét đặc biệt của phố xá Đalat. Thành bảo tôi, dân Saigon lên đây sẽ bị nhận diện ngay bằng những màu áo, người dân Đalat đa số chỉ mặc áo len sậm, đen hoặc xanh, đời sống của họ đi liền với những chiếc áo ấy. Tôi hơi hồi hộp khi chiếc xe ra khỏi khu phố chính.
Căn nhà mà chúng tôi dùng làm nơi trú ngụ là sở hữu của gia đình Thành, tôi biết khá rõ về lịch sử của nó, và chắc chắn chúng tôi sẽ đến đó mà không có ai tiếp đón…
Theo lời Thành thì trước kia gia đình hắn sinh cơ lập nghiệp tại đây. Ông Tạo, ba Thành là công chức ở tòa thị chính Đalat. Những năm trước đây đời sống công chức còn dễ chịu, lại nhờ ông bà Tạo cố chí làm ăn nên chẳng mấy chốc gia đình trở nên sung túc, giàu có. Ông Tạo, ngoài số công việc nhàn rỗi nơi công sở, còn chạy taxi đưa rước du khách. Là người có học thức, đậu Tú tài Pháp năm 1938 ở Hà Nội, và có năng khiếu về hành chánh, ông được các bạn đồng sở nể phục. Không ai là không biết việc ông bỏ sở đi chạy xe nhưng mọi việc ông luôn luôn hoàn thành cùng lúc với mọi người. Ông lại biết sống phải và khiêm nhượng nên không ai có thể phiền trách. Dù sao, ông cũng là kẻ gặp nhiều may mắn. Có lần, một cấp trên vì một sự hiểu lầm về cách đối xử của ông, đúng hơn là vì tự ái thua kém bằng cấp đã quyết định đổi ông đi Ban Mê Thuột, nơi đèo heo hút gió. Nhưng sự việc chưa thành thì cấp trên ấy đã được lệnh thuyên chuyển về Saigon, một điều ông ta vẫn mong ước.
May mắn đã đến với cả hai.
Năm 1965, lần đổi sở về Saigon, một dịp bất ngờ ông Tạo đã tái ngộ “người bạn quí”. Không biết lý do nào thúc đẩy, ông bạn đã làm hòa trở lại và tỏ ý hối hận về những viếc làm ngày xưa. Hai người hiện giờ phục vụ tại hai cơ sở khác nhau, nhưng vẫn giữ được sự liên lạc thân tình như chưa bao giờ thù oán nhau cả.
Phần ông Tạo, về Saigon là lỡ dở một kế hoạch làm giàu vì ông đang toan bỏ vốn ra mua mấy chiếc xe taxi cho mướn. Nhưng đầu óc của con người ham thích kinh doanh thì luôn luôn có kế hoạch mới, nhất là ở Saigon, môi trường thuận lợi cho việc làm ăn buôn bán. Thực vậy, bây giờ thì ông Tạo ngoài vai trò một công chức thường – ông không muốn làm lớn để cản trở việc làm ăn – ông còn là chủ nhân một hãng buôn đồ phụ tùng xe hơi ở Saigon… Nhắc lại chính căn nhà mà chúng tôi sắp đến là nơi trước đây gia đình Thành sống suốt bao năm trường. Sau khi gia đình dọn cả về Saigon, nó được dành cho vợ chồng cô Hoa, người chị họ của ông Tạo. Nhưng từ mấy tháng nay thì căn nhà hoàn toàn bỏ trống, gia đình cô Hoa cũng vì chuyện làm ăn phải đổi đi nơi khác.
Đó là một căn nhà gỗ màu nâu cũ kỹ nhưng mỹ thuật và rộng. Nhà nằm khuất sau giàn hoa giấy màu tím, những khung cửa đóng kín mít và ngọn thông xanh vươn cao lên đầu gối… Khung cảnh chợt thấy đã khiến tôi có cảm tình ngay.
Cánh cửa mở rộng, chúng tôi thấy rõ sự hoang lạnh của căn nhà. Thành có vẻ xúc động trước những cảnh vật cũ. Hắn bảo:
- Chúng mình đến để sưởi ấm cho căn nhà này.
Tôi bắt đầu chú ý đến cái lò sưởi bỏ trống nằm dưới một bệ cao xây ở góc nhà, cạnh bộ salon màu xám. Cách bài trí trong nhà rất thoáng và kiểu cách, tuy không được đầy đủ. Tất cả đều bám bụi, kể cả những bức tranh vẽ treo rải rác ở phòng ngoài. Tôi để nguyên quần áo, nằm dài trên chiếc trường kỷ kê bên cửa sổ mà Thành vừa mở tung. Hơn bao giờ, tôi thấy cần được nghỉ ngơi trong khi Thành đi lục lạo khắp các gian phòng và sau nhà.
Nhưng giấc ngủ không thể đến dễ dàng, tôi ra đứng bên khung cửa sổ đón những cơn gió lạnh làm tỉnh người, ngoài kia thật vắng lặng, nơi mà buổi chiều chỉ còn bảng lảng đó đây, mái nhà hàng xóm khuất bóng sau những lùm hoa dại. Thành đã trở lên và đang quét sơ bụi trên những đồ vật. Tôi hỏi Thành bằng tiếng nói sau lưng:
- Căn nhà bỏ trống uổng quá hả Thành?
- Ừ. Ông cụ đang chờ mình thi đậu rồi sẽ cho lên đây ăn học.
- Bằng lòng chứ?
- Cậu giúp ý kiến cho mình đi.
Tôi quay lại đứng dựa lưng vào cửa sổ. Thành vẫn đang loay hoay thu dọn căn phòng. Giây lát sau, tôi thành thật nhận xét:
- Mình nghĩ không có ngành học nào ở trên này hợp với cậu. Nhưng có lẽ cậu cũng không muốn xa căn nhà cũ.
Thành ngừng tay nói như reo lên:
- Hay quá, đúng như vậy. Không ai nỡ từ bỏ dĩ vãng của mình bao giờ. Trừ quê hương miền Bắc, Đalat là nơi mình để lại nhiều kỷ niệm thời niên thiếu. Rất tiếc là trên này không có ngành học kỹ sư… Nhưng biết đâu đó chả là một điều may. Mình vốn đã lười biếng, sống ở đây chắc chắn sẽ hư hỏng thêm. Tính lười của mình đã bị cậu soi mòn một phần rồi đấy.
Lời nói tuy nhỏ mọn nhưng chân thành của bạn khiến cho tôi cảm thấy vui vui xen lẫn một chút tin tưởng. Thì ra ai cũng có những điểm yếu đuối riêng cần phải nhờ vào người khác. Tôi biết Thành nói thật qua thái độ và ánh mắt, và do đó tôi lại càng thương bạn hơn. Lâu nay tôi vẫn nghĩ một người lịch duyệt như Thành thì không còn thiếu thốn một điều gì nữa. Tôi tự thấy lòng mình dịu lại bên cạnh những nỗi buồn khổ của kẻ khác. Không muốn cho Thành đọc được những ý nghĩ của mình, tôi bảo:
- Chúng mình vui gì thì vui, nhưng đừng quên cái dạ dầy Thành ạ.
Và chúng tôi quyết định đi gột rửa những bụi bặm dọc đường một cách vội vàng để sửa soạn bữa ăn. Không ai có thể tắm nước lạnh ở cái xứ này. Thành bảo, thế nào mình cũng có dịp vào tắm nước nóng ở tiệm kẻo thành cú cả lũ. Những giọt nước dù ở máy đổ ra cũng lạnh cóng thịt da, chúng tôi sửa soạn thật nhanh rồi thay quần áo sạch.
Bây giờ thì hai đứa đã thành những người khác, tâm hồn tỉnh táo và chưng diện tươm tất. Tôi mặc áo len xám, đi găng tay, Thành khoác pardessus trông thật đẹp, cả hai đều thắt cravate. Tôi nhìn Thành với mái tóc bồng và bảo, cậu sẽ là một trong những người đẹp của Đalat đêm nay. Thành cười, có một chút mỉa mai thâm trầm : người ta chỉ nhìn nhau mà xét đoán ở bề ngoài, và thường thì sự xét đoán ấy sai lầm. Tôi đã quen lắm với lối nói kiểu cách và ưa triết lý vụn của Thành, vả lại chỉ với bạn thân hắn mới thế. Chợt Thành nói:
- Chúng mình sẽ dùng bữa cơm đầu tiên ở dưới phố.
Tôi bảo:
- Chương trình hoàn toàn do cậu định đoạt đấy nhé.
Thành cười:
- Sống như chúng mình thì làm gì có chương trình. Đêm nay dự lễ ở nhà thờ Chính tòa… ngày giờ còn lại dành cho những cuộc dạo chơi…
- Tuyệt quá. Tuy nhiên có vẻ hơi thiếu thốn Thành ạ.
Chúng tôi đã ra sân, Thành vừa khóa cửa, vừa bảo:
- Cậu muốn nói chúng mình thiếu những bông hồng?
Tôi cười, vỗ vai Thành nói thân mật:
- Nếu trong việc học cậu cũng thông minh như thế nhỉ.
Thành cũng cười, sau giây lát hắn bảo:
- Bí mật quốc phòng mà cậu định tiết lậu giữa thanh thiên bạch nhật thì ẩu quá… về chuyện kia, nói thật, nếu cậu muốn thì không thiếu đâu. Tôi bảo đảm muộn lắm là sáng mai cậu sẽ có bạn đồng hành. Chỉ mong lúc ấy đừng bỏ rơi kẻ này thôi.
Mà Thành đông người quen thật, đủ mọi hạng người, kể cả những người giao thiệp với gia đình hắn trước kia, chúng tôi đi bộ từ nhà vào thành phố, chỗ nào cũng có dịp để chào hỏi. Tôi bỗng thấy thèm cái tầm giao thiệp rộng rãi của bạn. Lúc nào tôi cũng có thể băn khoăn về chính mình. Sao người ta chào hỏi với nhau một cách dễ dàng đến thế? Thành có lối nói chuyện điềm đạm nhưng lại có vẻ gì mau mắn. Những cuộc gặp gỡ nhiều khi chỉ để xã giao bề ngoài, nhưng không ai nhận ra ở hắn một chút giả dối nào.
Đến một quãng đường vắng tôi bảo:
- Mình có cảm tưởng đời cậu sẽ đẹp và sung sướng nhờ biết cách thu phục cảm tình của mọi người.
Thành cười nhẹ, nụ cười phảng phất một chút tự mãn nhưng không mấy hồn nhiên, hắn thành thật:
- Có nhiều người cũng nhận xét như cậu… Nhưng, thật ra tôi có rất ít những người bạn chí tình, ở đời ai cũng mong có tri kỷ, trong khi đa số chỉ biết nghi ngờ lòng thành thật của người khác. Một khi còn nghi ngờ thì không thể thân nhau được.
Mải nói chuyện chúng tôi đã vào đến bên trong trung tâm thị xã từ lúc nào. Đalat chiều tối mang một vẻ ấm cúng lạ thường : những cánh cửa khép kín, những con đường nhỏ hẹp phủ ngát hương đêm, những thân hình lầm lũi, cổ áo cao và đôi tay trong túi, ánh lửa ở cuối phố của đám tài xế đợi chờ…
Bữa cơm nóng sốt đầu tiên, chúng tôi ăn như kẻ bị bỏ đói lâu ngày. Chất rau tươi, hương thơm gia vị. Từ một nhà hàng có cửa kính che kín nhìn xế sang chợ, chúng tôi kéo dài bữa ăn đến khi thành phố chất ngất ánh đèn. Thời gian còn rộng, mỗi đứa gọi một tách café nóng. Thành bảo tôi:
- Uống café ở nhà thủy tạ có một cảm giác rất thú, café thì nóng và hơi nước từ mặt hồ đưa lên lạnh băng, mình sẽ thấy được tất cả cái hương vị thơm nồng của giọt café nóng.
Bóng một người con gái thoáng qua rất nhanh ngoài khung cửa kính. Thành vụt đứng dậy ra dấu và nói nhỏ:
- Bông hồng nhung mà tớ muốn giới thiệu với cậu.
Rồi hắn đi nhẹn ra ngoài, dáng nhanh và hào phóng. Tôi chợt hồi hộp vì bản tính vẫn ít bình tĩnh trong những cuộc gặp gỡ đột ngột.
Một phút sau Thành vào đem theo “bông hồng nhung” của hắn. Người con gái có nụ cười rạng rỡ, mái tóc mềm bóng và đặc biệt là chiếc Manteau đỏ quý phái, hai người đã tới nơi. Thành giới thiệu:
- Bạn cả nhé.
Rồi hắn đưa tay về phía tôi:
- Linh, một bậc tài hoa của lớp mười hai BC.V.A - Còn đây Thiên Hương, bông hồng nhung của núi đồi Đalat.
Thiên Hương vẫn cười, nụ cười rạng rỡ. Tôi để ý đến cặp mắt sáng như sao băng có cái nhìn rất lạ, chợt sắc rồi chợt loang vào một tia nhìn khác, cặp mắt hắt lên cao sức mãnh liệt mơ hồ.
Chúng tôi đã vào bàn, Thiên Hương gọi một tách trà nóng, và nói chuyện ríu rít như con chim rừng buổi sớm. Thành lộ vẻ mừng khi gặp lại bạn cũ. Hai người quen nhau từ những năm học đệ thất trường T.Đ., ngày mà gia đình Thành còn sống ở đây. Họ rất tự nhiên qua câu chuyện, tôi thấy cả hai giống nhau ở nhiều điểm : nghệ sĩ và có khuynh hướng say mê đi tìm một cái gì đích thực trong cảnh sống hiện tại. Gia đình Hương giàu có, bố là thương gia, nhưng Hương rất ít khi lợi dụng vào gia tài để phung phí, cô bé có nhiều dự tính sống tự lập, đó là một điều mà tôi không thể ngờ… Đã hơn một năm, đôi bạn không gặp nhau, họ là những người thân có thể tâm sự cả ngày mà vẫn thấy thiếu, bạn bè ở đây rất ít ai hiểu Hương như Thành. Trong câu chuyện hắn hay cười mỉm và nhắc nhở những chuyện xưa, đào sâu sự say mê dĩ vãng của kẻ đối diện. Câu chuyện đưa dần về hiện tại, Thành nói với tôi một câu như đã định sẵn:
- Những ngày nghỉ của tụi mình sẽ hào hứng thêm nhờ sự có mặt của Thiên Hương.
Thiên Hương cười, vẫn nụ cười làm tan bóng tối:
- Anh cứ làm như Hương là thần tiên không bằng.
Tôi chen lời:
- Tôi không biết Hương có phải là thần tiên không nhưng tên của Hương tự nó đã mang theo cả dấu tích ngào ngạt của trời.
- Đến một lúc nào đó, sợ rằng Hương sẽ không còn là người của thế gian này nữa vì những lời tán tụng của các anh.
Tôi hỏi:
- Hương có muốn thế không?
Cô bé trả lời ngay mà không cần suy nghĩ:
- Các anh cứ làm công việc của các anh, nhưng đừng lôi Hương ra khỏi mặt đất này tội nghiệp, vì cho đến bây giờ, Hương vẫn chưa thấy nơi nào đẹp hơn nơi chúng ta đang sống.
Tôi cảm thấy ngột ngạt trước những câu đối đáp của Thiên Hương. Cô bé quá thông minh, đúng như tôi nghĩ, Hương chỉ nói mà khiến kẻ đối thoại không kịp sắp đặt những ý tưởng mạch lạc.
Nhưng cũng từ đó, bầu không khí thân mật đã đến giữa chúng tôi như một loài hoa thơm nở trên vùng đất cao nguyên mầu mỡ. Thành bảo:
- Từ giờ đến lúc khởi sự Thánh lễ nửa đêm, Hương có chương trình gì chưa cho bọn này nhập với. Lâu không về thăm Đalat, đến chiếc áo khoác cũng có vẻ ngượng ngập.
Hương khẽ reo mừng:
- Tuyệt quá. Ba má cho phép Hương đêm nay đi lễ với gia đình một cô bạn và khuya về ăn Réveillon tại nhà nhỏ luôn. Đáng lẽ giờ này Hương đến đó rồi. Nhưng thôi, muộn một chút cũng chẳng sao, đằng nào cũng đã muộn, chúng mình đi dạo một vòng rồi cùng tới nhập bọn.
Hương nói nhanh, liến thoắng. Tôi có cảm tưởng rằng những ngày vui Đalat sẽ sống động như nụ cười và dáng dấp của cô bé.
Chúng tôi còn nán lại một chút nữa trong nhà hàng cho tới khi đêm đã huyền ảo phía ngoài các khung kính. Phố xá ngợp bóng người, nhưng mờ nhạt vì ánh sáng trong căn phòng, âm thanh cũng vậy…
Cửa kính mở, tiếng động và hơi gió lạnh ùa ập, xô đẩy vào chúng tôi. Đó đây lũ lượt màu đèn và sắc áo. Những chiếc khăn quàng cổ chùm lên hơi ấm. Khu phố chợ nổi bật những đường nét huy hoàng của một ngày lễ lớn. Hình như tất cả những bóng đèn đều được trưng dụng về đây và mọi người đều rời khỏi tổ ấm gia đình để lang thang ngoài phố. Con người ta thích tìm vui ở một chốn lạ? Lòng tôi rộn lên cùng với phố phường đang mở hội - Lần đầu tiên ghé đến, tôi và Đalat đã lần quyện say mê như trong một bản đàn hợp tấu. Đêm Giáng Sinh ở Đalat, thành phố sinh động cây cỏ chợt vươn lên sức sống, mặt nhựa reo vang nhịp phách những bước chân. Đêm tím ngắt ở trên cao, âm thanh và hình ảnh càng rõ, dâng lên như muốn làm rạn cả vòm trời đầy tinh tú.
Chúng tôi góp bàn chân cùng những lớp sóng người đang cuồn cuộn chảy. Có nhìn về đây mới biết loài người đi tìm vui cũng vội vã như khi tranh sống. Lần thứ nhất tôi nhận hút điếu thuốc do Thành mới, đốm lửa rực hồng, cánh môi chợt ấm. Không ai có thể từ chối khí ấm trong lúc này.
Trên đường, ba đứa vẫn góp vui bằng những mẩu đối thoại, nhưng riêng tôi thì thỉnh thoảng. Thành và Hương còn nối tiếp với nhau đầy kỷ niệm xa xưa, họ ân cần thuật cho nhau những gì đã xảy ra trong suốt thời gian xa cách. Dĩ vãng trôi về với đôi bạn trẻ làm dấy lên những nụ vui mỗi lúc. Không gì đẹp bằng kỷ niệm, con người ta thường lui về đó làm trạm nghỉ vàng son. Trong cuộc tâm sự đầy linh thiêng bên cạnh tôi tự thấy mình nên im lặng, không biết để dễ dàng cho cảm xúc hay để mặc niệm cho nỗi buồn chợt lấp kín cơn vui. Tôi nghĩ đến câu nói lúc ban chiều của Thành: “Người ta chỉ nhìn nhau mà xét đoán ở bề ngoài, và thường thì sự xét đoán ấy sai lầm”. Có lẽ vậy. Nhìn vào cái vẻ dáng phong lưu, lịch duyệt của Thành, không ai biết hắn là kẻ vẫn cô đơn trong tình tri kỷ; nếu không được nghe tâm sự của Thiên Hương, ta không thể ngờ đằng sau cái phong cách thời đại kia lại là chỗ ngồi của một tâm hồn sâu sắc, mến mộ dĩ vãng ; và tôi, đi ở đây, trong cái bầu khí xao động này, không ai biết tâm trí tôi đang miên man sống ở một cõi khác, u sầu.
Đèn pha của chiếc xe đang chạy từ cuối dốc hắt lên, chúng tôi đã rời vùng ánh sáng muôn màu để đi lần về phía hồ Xuân Hương. Tôi thấy mặt nước thấp thoáng ở đằng xa.
- Anh Linh đang nghĩ điều gì thế?
Tiếng Thiên Hương làm tôi thảng thốt, trả lời:
- Tôi nghĩ rằng nếu không có hồ Xuân Hương, Đalat sẽ bất hạnh lắm.
Thành nói thêm vào:
- Nói cho Hương biết, Linh của chúng ta cũng đang trong tuổi mơ mộng đấy, chàng có thể đứng nhìn dòng nước trôi hằng giờ mà không biết chán…
- Và cũng để dệt những vần thơ kiều diễm nữa chứ anh Linh nhỉ – Hương nói tiếp, giọng hóm hỉnh.
Tôi cười:
- Tôi cũng hy vọng làm được một bài thơ vừa ý và bài thơ đó tôi sẽ hân hạnh đề tặng Thiên Hương.
Hương chưa kịp nói gì thì Thành đã nheo mắt:
- Thường thì bài thơ cho người yêu chính là bài thơ đắc ý nhất phải không Linh?
Cả ba chúng tôi đều cười vui với câu nói ấy; cùng lúc, một hồi chuông bỗng ngân vang từ đỉnh tháp nhà thờ bên kia những rặng thông đen thẫm, báo hiệu giờ lễ đêm đã điểm…
Những người bạn mới của chúng tôi trong đêm nay là hai người con gái. Chị Hoàng dạy học ở Couvent des Oiseaux đã lập gia đình hơn một năm rồi, chị mang dáng dấp của một người chị cả trẻ trung và cởi mở. Chồng chị là Trung úy bộ binh đóng quân xa nhà. Người thứ hai là Trân, Huyền Trân, được giới thiệu là em gái cưng của chị Hoàng, nhưng tôi nghĩ hai người không phải là chị em vì giọng nói có vẻ khác nhau nhiều.
Tôi để ý đến đôi mắt của người con gái mang tên Trân, đôi mắt trong xanh, có tia nhìn huyền diệu và đắm đuối. Chúng tôi làm quen nhau rất nhanh. Trong một phút thoáng qua tôi bỗng có cảm tưởng rằng giữa tôi và Trân không thể chỉ gặp nhau như hai kẻ qua đường.
Hồi chuông trên tháp cao vẫn vang rền giục giã mà chúng tôi năm người vẫn còn kéo dài những bước chấn dưới con dốc cuối chân nhà thờ. Mọi người đều vội vã, riêng tôi thì đang trong cơn mê đắm. Hương thơm thoang thoảng thoát lên từ mái tóc Huyền Trân sao nghe như mùi vị của núi rừng hoang dại. Trong một thoáng, những bước chân tôi thấy dẻo, cái nhìn vào cảnh vật chung quanh đã lạc thần. Một cảm giác lạ, không giống bất cứ cảm giác nào len nhẹ vào hồn khiến tôi trở nên câm nín. Tôi sợ tiếng động, một lời nói nào bây giờ cũng có thể làm tan mặt nước phẳng gương đang soi chiếu cả một trời xanh hy vọng.
Toàn thân tôi được sưởi ấm khi chen chân giữa đám đông người phía cuối nhà thờ. Trên kia đèn thắp sáng choang. Qua kẽ vai của một rừng người đứng trước tôi thấy gian thánh rực lên ánh hào quang, tưởng chừng như hào quang ấy tự trời cao đổ xuống. Hang Bethlehem đặt gần đó. Tiếng nhạc tưng bừng trỗi lên cùng với những tiếng ca réo rắt, bản Thánh ca đưa cao âm điệu, xoáy tròn theo vòm mái nhà thờ. Lòng tôi bàng hoàng về những tình cảm tràn ngập. Mới từ chiều, tôi đã nghĩ đến câu nói của Thành “Rồi cậu sẽ còn có nhiều cái để mà ngây ngất”. Trong muôn ngàn những hình ảnh yêu dấu tôi đi tìm, đâu sẽ là dấu vết đam mê sau cùng? Tôi nghĩ đến Trân, đến những cuộc vui sắp tới…
Tiếng vỗ tay vang lên trong căn phòng nhỏ, cửa kính khép kín, giữ lại sự đầm ấm cho mọi người đang quây quần quanh bàn tiệc. Chúng tôi, mỗi người một nụ cười nhỏ trên môi, trong khi chị Hoàng tuyên bố mấy lời vào tiệc. Chị bày tỏ niềm vui sướng về sự góp mặt của tôi và Thành trong đêm nay. Chị còn tiết lộ rằng tôi có nhiều nét giống anh Hùng, người chồng yêu quý của chị. Mọi người khúc khích cười. Trong khi đó nhạc giáng sinh phát thanh nho nhỏ từ chiếc cassette, không khí thật vui mà thân mật. Ánh lửa trong lò sưởi bập bùng cháy, chiếu trên gương mặt mỗi người.
Chúng tôi dùng rượu nho hâm nóng cùng với thịt, bánh và trái cây. Chị Hoàng và Thiên Hương là những người vui tính nhất. Huyền Trân thì lúc nào cũng khép nép, bé bỏng. Tôi không thể không nhìn ngắm lúc Trân cười, tôi không biết phải diễn tả nụ cười ấy như thế nào, nó đẹp rạng rỡ, hiền từ, lại vừa có vẻ gì kiêu sa, kín đáo.
Chiếc bàn ăn hình chữ nhật, chị Hoàng đã phải khó khăn lắm mới xếp chỗ ngồi ổn thỏa cho mỗi người. Trân được nhường làm chủ tọa ở một đầu bàn vì… nhỏ tuổi nhất. Đầu bàn kia để trống, sát lò sưởi. Không hiểu vô tình hay hữu ý tôi được xếp ngồi cạnh chị Hoàng, một bên là Trân. Chúng tôi chuyện trò với nhau, về cảnh ngoài phố lúc ban tối, về lễ đêm, về những người quen đã trông thấy ngoài đường và về bài giảng rất hay của vị linh mục có tuổi.
Hết chuyện chung đến chuyện riêng, thừa dịp Thành, Thiên Hương và Trân bàn luận với nhau về việc học hành, thi cử, tôi hỏi chị Hoàng:
- Ban nãy chị bảo em có nhiều nét giống anh Hùng, chị thử cho em biết rõ hơn đi. Em mong biết một người giống mình.
Chị Hoàng cười, giọng thành thật:
- Vậy hả. Anh Hùng trông khỏe mạnh hơn Linh nhưng dáng đi, nhất là cách nói chuyện, thì giống Linh lắm, thâm trầm và ít nói.
- Thật xui cho em và cả cho chị nữa vì đêm nay anh Hùng không được về phép.
- Anh ấy cũng ở gần đây thôi nhưng hành quân bất thường lắm. Càng những ngày lễ lớn, càng không được về. Nhiều lúc chị cô đơn quá, nếu không có Huyền Trân, chắc chị khóc suốt ngày.
Nhưng rồi chị đổi giọng khôi hài ngay:
- Nhưng giả như anh ấy về hoài thì cũng nguy hiểm vô cùng. Tụi này hễ gặp nhau là đi chơi quên cả làm việc.
- Những khi ấy, chị bỏ rơi lũ học trò của chị hay sao?
Chị Hoàng cười đáp:
- Lần đầu tiên sau ngày cưới, anh Hùng xa nhà đến hơn hai tháng. Hôm anh được về phép thăm nhà, chị giả bộ ốm xin nghỉ dạy học mấy ngày. Lũ học trò tưởng thật kéo tới đầy nhà, chị phải cho Trân ra nói dối với chúng là cô giáo vừa đi khám bác sĩ… Thực tình, chỉ có lần đó thôi. Đời chị có anh Hùng và lũ học trò là nguồn an ủi, thương yêu nhất…
Tôi muốn hỏi để biết thêm về chị rồi về Trân nhưng bắt gặp ánh mắt đăm chiêu của chị lại thôi. Một thoáng buồn bã chìm trong câu nói của chị. Tôi đoán rằng chị còn có nhiều tâm sự u sầu nữa.
Xong tiệc, chúng tôi trải chiếu sát lò sưởi ngồi uống trà. Đêm đã khuya lắm. Nghĩ đến nỗi phải chia tay nhau trở về căn nhà hoang lạnh của Thành, bỗng nhiên tôi muốn giữ một kỷ niệm nào đó của Trân, của buổi hội ngộ đầy hứng khởi này. Tôi với cây đàn guitare treo ở góc phòng mà tôi đã để ý từ khi mới vào nhà. Không khí tự nhiên phẳng lặng, thật hợp với một cuộc trà đàm, những tiếng nói cố nhỏ lại đằng sau tiếng reo của lửa.
Cho đến khi tiếng đàn tôi dạo khẽ lên bài “Ai về sông Tương” thì tất cả đều yên lặng. Không khí trang trọng quá khiến tôi không đủ bình tĩnh đánh hết bài. Tôi đề nghị Trân hát một bản nhạc tùy ý và mọi người vỗ tay biểu đồng tình, vì Trân hát hay nổi tiếng ở trường Bùi thị Xuân. Trân nhận lời ngay với chính bản nhạc tôi vừa dạo đàn, dáng điệu vẫn khép nép như một loài chim bé nhỏ. Tôi say sưa đàn theo tiếng ca của bạn, tiếng ca không điêu luyện lắm nhưng dễ thương chi lạ. Trân ngồi bó gối, mắt nhìn vào bếp sưởi, ngun ngút ánh lửa hồng. Tôi có cảm tưởng mình đang dạo khúc trong giấc mơ, tiếng vỗ tay của các bạn nổi lên rồi mà tôi còn thấy mãi dư âm lời ca, tiếng nhạc văng vẳng đâu đây.
Sau đó, chúng tôi ra về trong những lời chúc tụng, từ biệt nhau. Tôi khẽ cám ơn Trân về bài hát vừa rồi. Trân cười nhẹ, vẫn nụ cười rạng rỡ ấy, và chúc tôi một giấc ngủ có nhiều mộng đẹp. Riêng chị Hoàng có vẻ quyến luyến bộ ba chúng tôi; chị rủ ngày mai đến chơi và sẽ cùng nhau đi picnic suốt ngày. Tôi mừng đến lặng người về ý định đó của chị.
Hai người tiễn chúng tôi xuống cuối dốc, vì nhà chị Hoàng nằm trên lưng đồi. Bây giờ tôi mới cảm thấy cái lạnh buốt người của đêm Đàlạt. Ngàn thông reo vi vút trên đồi cao, thông làm cho đêm xanh thẫm, thông gieo nhạc vào lòng đất cao nguyên, và gió nữa, gió tạo cho không gian vẻ hoang lạnh vô cùng.
Tôi và Thành đưa Thiên Hương về tận nhà rồi mới trở lại căn nhà có giàn hoa màu tím. Đường vắng. Chúng tôi đi trong hơi thở và sự chuyển động của cây cỏ, núi rừng. Những căn nhà hai bên đường say ngủ, ánh trăng hạ tuần lạnh cong sau những đám mây nhỏ. Chợt Thành hỏi khẽ:
- Tại sao cậu lại đánh bản “Ai về sông Tương”?
Tôi cười:
- Cũng không hiểu. Có lẽ vì nó là một bản nhạc nhẹ nhàng hợp với khung cảnh lúc ấy. Nhiều khi bản nhạc được tôi dạo lên một cách vô ý thức.
Thành bảo:
- “Moa” nói thật, đã nghe cậu dạo đàn nhiều lần nhưng chưa lần nào hay bằng đêm nay.
Tôi chỉ biết yên lặng trước lời khen ấy vì khi đệm nhạc cho Trân tôi say mê đến độ không biết gì cả.
Cho đến khi về nhà, cuộn mình trong chăn ấm và giấc ngủ chập chờn, hồn tôi còn lâng lâng trong tiếng hát và tai tôi nghe văng vẳng đâu đây lời chúc tụng.
Chương 3
Tôi thức giấc trong khi Thành còn trùm chăn kín mít và sương đêm còn đọng giọt trên những hoa lá bên nhà. Đêm qua, Thành thức khá muộn, ngồi trầm ngâm với điếu thuốc lá. Tôi thấy thương bạn khi đoán rằng thời gian ấy hắn dành cho căn nhà gỗ và gia đình. Tâm trạng của Thành tôi rõ lắm, hắn là kẻ sống nặng tình cảm và luôn luôn tôn sùng kỷ niệm, trong khi đó ba má Thành đã làm thay đổi cả nếp sống đầm ấm cũ của gia đình.
Theo lời Thành thì con người ngày xưa của ông Tạo mang bản chất rất nghệ sĩ, một nghệ sĩ ôn hòa, mẫu mực. Căn nhà gỗ đầy mỹ thuật này là di tích của ngày xưa ấy. Mỗi lần kể chuyện cũ, Thành thường nhắc đến cái thú trồng hoa và sưu tầm tranh ảnh của ông Tạo, coi đó như những đức tính cao quý nhất. Hôm qua trên xe đò Thành kể cho tôi: “Hồi đó tuy gia đình sống bình thường về vật chất nhưng hạnh phúc. Ba tôi chăm lo việc giáo dục con cái, tìm sinh thú trong căn bản sinh hoạt gia đình. Thời gian đi con người cũng thay đổi. Bây giờ thú vui chính của ông là việc doanh thương, làm giàu”.
Tôi thông cảm với Thành nhưng vẫn bảo “Cậu nghĩ làm giàu là một cái tội hay sao?”. Thành trầm ngâm “Chưa bao giờ mình kết án cụ. Làm giàu lương thiện không có gì phải kết án. Nhưng với mình đồng tiền thường đến để thay chỗ cho những tình cảm đơn sơ và chân thành.
Sự giàu sang đẩy con người vào một hoàn cảnh phức tạp, điên đảo, nơi đó không có hạnh phúc. Ngày nay, dù ba tôi đối với xã hội ông là người lương thiện đáng kính phục, nhưng nhìn vào đời sống quay cuồng công việc làm giàu của ông tôi thấy thương ông, thương gia đình. Mẹ tôi cũng thế, bà là người hỗ trợ đắc lực cho ba tôi. Không khí đầm ấm, an vui không còn ngự trị giữa những người thân. Những ngày cuối năm, công việc bề bộn tôi chỉ muốn chạy trốn”.
Dĩ vãng đối với Thành là một niềm tin sức vóc, là những ngày tháng mặn nồng. Đôi lúc, tôi không khỏi ngạc nhiên về hắn, một thanh niên đang tuổi lớn của thể xác và ước vọng, mà sao hắn lại có những ý tưởng trầm hòa đến thế. Hắn trẻ mà sống như người từng trải, đã bị mất mát nhiều và luôn luôn nuối tiếc. Đến một lúc nào đó, người ta sẽ biết quyết chắc về cuộc sống. Nhưng hình như những tư tưởng ấy đến với Thành quá sớm. Dù sao, tôi mến hắn ở những thái độ hăng say hướng thượng. Hắn từng tâm sự: “Tôi vẫn ước mong một ngày nào rất gần đây, tôi có đủ can đảm và uy tín để giúp ba tôi thôi bành trướng thế lực của đồng tiền. Đủ rồi và hãy bắt đầu củng cố lại những gì tốt đẹp ngày trước… Có tiền ai cũng muốn, nhưng nếu lấy tiền để đánh đổi những cá tính cao đẹp của mình thì tôi từ chối ngay”.
Mặt trời buổi sáng đã ló dạng ngay những rặng thông xanh trước mặt, màu vàng của nắng ngự trị trên con đường vắng còn ướt sương. Khí ấm trở về. Ánh nắng làm cho cây cỏ nghiêng mình chào đón. Tôi chợt quên đi những ý tưởng về Thành. Một ngày mới bắt đầu. Chiếc xe chạy vụt vào thành phố, Tôi nghĩ đến Trân, đến cuộc du ngoạn hôm nay, đến những ngày vui nơi xứ lạnh.
Và chúng tôi lại sửa soạn ra đi sau khi đã chọn những bộ áo đẹp nhất. Tôi có cảm tưởng sống ở đây sẽ là những sớm mai ra đi vội vã, đi khắp nơi, đến đêm khuya mới lê gót trở về, nhà chỉ là chỗ tạm trú.
Bây giờ thì những con đường đã quen thuộc lắm đối với tôi. Vài gốc hoa anh đào nở rộ ở đầu phố. Tôi yêu màu hồng rực rỡ của những cánh hoa xinh, phất phơ trong gió sớm. Màu hồng của hoa anh đào cũng là màu hồng tin yêu trong trí tưởng.
Chúng tôi định đến rủ Hương cùng đi ăn sáng nhưng nhìn đồng hồ còn sớm quá, lại thôi. Hai đứa ghé quán “Tùng” ăn tô phở nóng. Khí hậu ở đây làm cho ta mau đói. Thành gọi tô thứ hai trong khi tôi chỉ cần ly café nóng và điếu thuốc lá thơm. Buổi sáng ở Đàlạt, hút một điếu thuốc trong khí lạnh sẽ cảm thấy cái thú rất đầm ấm. Và tôi chợt nghĩ, dù chỉ sống một ngày ở xứ này, người ta cũng không thể cô độc, sống mà không có một nguồn an ủi nào.
Ban ngày, tôi mới nhận thấy rõ vị trí của căn nhà trên lưng đồi, căn nhà màu trắng xinh xắn; có hàng mimosa trước đó, sau lưng là những ngọn thông cao dần. Đứng ở dưới con dốc, ta sẽ thấy căn nhà khép nép giữa trùng điệp hoa lá, say sưa với cảnh vật của núi đồi, khung cảnh đẹp như trong tranh vẽ.
Chúng tôi năm người, mang theo những đồ dùng cần thiết rồi xuống phố. Chị Hoàng mượn người bạn được chiếc xe La Dalat làm phương tiện di chuyển, Chúng tôi vui mừng vì sự bất ngờ này. Thiên Hương bảo:
- Có xe, chúng mình sẽ như mọc thêm đôi cánh.
Thành được chọn làm tài xế, tôi ngồi trên với hắn còn những người khác ngồi ở băng sau. Cuộc hành trình băng qua những con đường ngoằn ngoèo, cuộn sóng.
Địa điểm đầu tiên chúng tôi ghé là khu trại Hầm có ngôi chùa cổ khuất sâu trong núi, kín đáo, thơ mộng. Trong khi mọi người đi thăm chùa, tôi theo Trân đi lần ra đứng bên bờ lan can trông xuống thung lũng sâu. Dưới đó, bát ngát màu lá mận và bên kia là đồi thông chập chùng. Nắng nhuộm vàng cả một vùng cây cỏ khiến cảnh sắc càng thêm rực rỡ. Tôi nói với Trân đang đưa tầm mắt về phía xa:
- Trân có thấy được sống ở đây là một điều hạnh phúc không?
Trân hất nhẹ mái tóc mềm bóng, quay sang nhìn tôi:
- Vâng, cảnh ở đây đẹp thật. Tuy nhiên theo Trân, nếu người lạ sống thì chắc hơi buồn.
- Những ngày nghỉ học Trân thường làm gì?
Trân trả lời thành thật sau giây lát suy nghĩ:
- Trân thích được cùng bạn bè đi ngoạn cảnh. Thiên nhiên làm cho tâm hồn mình cảm thấy khoáng đạt và khiêm tốn.
Và Trân nói tiếp:
- … Trân thích được đứng trên cao như thế này mà nhìn xuống thung lũng. Nếu là văn sĩ thì Trân sẽ viết truyện về chúng. Mỗi cái đều có vẻ đẹp riêng, nhưng với Trân thì cái nào cũng lôi cuốn cả.
Tôi chợt nghĩ tới một thung lũng nổi tiếng mang tên Tình Yêu, bèn hỏi:
- Trân nghĩ thế nào về Vallée d’amour? Tại sao nó lại được vinh hạnh mang tên ấy nhỉ?
- Có lẽ vì khung cảnh ở đấy thơ mộng, và hữu tình, những người yêu nhau thường đến đó tình tự…
Trân nói đến đó rồi thôi, e dè như vừa lỡ để sơ hở chút tâm sự riêng.
Một gốc anh đào rũ những cánh hoa hồng thắm gần đó. Tôi với một cành nhỏ tặng Trân, vừa kịp lúc bọn Thành ra tới nơi. Chúng tôi chụp vài tấm ảnh làm kỷ niệm.
Rời trại Hầm, xe đổ về phía hồ Than Thở. Đường lao xuống thấp dần và mặt nước lạnh băng đã hiện ra trước mắt. Cảnh ở đây vắng lặng, quạnh quẻ, chung quanh chỉ thấy thông xanh và nước hồ phẳng gương soi bóng.

Khi chúng tôi tới thăm thác Cam Li thì mặt trời sắp đứng bóng. Thác nằm cách thị xã độ hai cây số về hướng Nam. Nguồn nước đi từ hồ Xuân Hương đổ xuống trông như màu lụa, thấp thoáng những chùm lá xanh non, và từ đó buông xuống ghềnh đá làm tung bụi nước, trắng xóa như sương mù. Nhạc suối reo vang, sinh động cả một vùng. Tôi cố tìm cách săn sóc Trân trên những bước đi gập ghềnh đất đá. Nhưng thái độ nửa e dè, nửa thắm thiết của Trân khiến tôi băn khoăn mỗi lúc.
Cả bọn trở về thị xã ngay sau đó, vì chiếc xe phải trả lại cho khổ chủ.
Tôi và Thành đứng thơ thẩn trước những cửa hiệu đông người ở khu công trường Hòa Bình chờ chị Hoàng, Thiên Hương và Huyền Trân vào chợ mua thực phẩm dùng bữa trưa nay. Chúng tôi dự định nghỉ ngơi trên đồi.
Bóng tà áo xanh của Huyền Trân khuất dần vào đám đông người. Thành bảo tôi:
- Huyền Trân dễ thương đấy chứ Linh. Cô bé có vẻ mến cậu lắm.
Tôi cười và hỏi một câu để dò ý bạn:
- Dễ thương thì có nhưng điều kia thì chưa chắc, cậu dựa vào đâu để nói như thế?
Thành nhìn vào mắt tôi, trả lời một câu nửa như diễu cợt, nữa như một lời quyết chắc:
- Cậu nên hy vọng đi là vừa, và đừng giấu giếm mình làm gì. Nếu lòng có vui thì cho “mỗ” đây mừng với.
Rồi hắn nói tiếp:
- Ít ra thì chuyến đi lần này của bọn mình sẽ ghi được nhiều kỷ niệm quý giá.
Câu nói của Thành đến đúng lúc với những ý nghĩ tương tự đang thành hình trong tôi. Chuyến đi nào, dĩ vãng nào rồi cũng để lại cho ta những điều đáng ghi nhớ. Nhưng hơn bao giờ, niềm vui và cánh chim ước vọng trong tôi lại bay cao như lúc này. Nơi mà trước đây, mỗi khi nghĩ đến, tôi đã dành cho những cảm tình tốt đẹp nhất. Vùng đất mà tôi vẫn đặt cả niềm tin yêu, chính nó bây giờ đã không hề phụ tôi, nó đã đem đến cho tôi những giây phút êm đẹp. Hình ảnh nhộn nhịp, ồn ào của cả một thành phố với tôi, đôi lúc, như nhòa đi ; tôi chỉ còn thấy hoa nắng sáng rực ở chung quanh và ngày về rất say mê bên những khóm hoa lá ân tình. Trời rất lạnh. Xa đằng kia chân trời trong suốt.
Bữa ăn diễn ra thoải mái và vui vẻ trên đồi ven hồ Xuân Hương. Đồi trọc, nhưng đó đây một vài cụm thông mát rượi trông như những ốc đảo trong sa mạc. Nắng ở ngoài kia không nóng lắm. Tôi vừa ăn vừa dõi mắt nhìn theo cánh đồi trải rộng miên man. Thành nói đùa:
- Chúng mình ăn và chơi trên đồi núi cao không khéo lại thành tiên cả lũ.
Chị Hoàng bảo:
- Ai muốn thành tiên cứ việc thành, để tôi làm người phàm cho, bao nhiêu thứ ở đây tôi giành hết.
Ăn trưa xong thì mọi người đều uể oải. Những đôi chân leo trèo từ sáng, giờ đã rã rời. Chị Hoàng và Trân cố gắng thu các thức ăn dư gọn vào một chỗ rồi cho xuống hố sâu gần đó, trong khi chúng tôi lười biếng nằm dài trên đám cỏ trụi. Thành và Thiên Hương lúc nào cũng có vẻ quyến luyến nhau. Tự nhiên tôi muốn tách rời mọi người để tìm sự yên tĩnh.
Một cảm giác mát rượi, nhẹ nhõm đến khi tôi bỏ giầy, đi chân trên những đám cỏ xanh. Cỏ mềm và thân mật. Tôi thong thả dạo khắp trên đồi, vượt qua những gò cao và lũng sâu. Một vài chỗ có bóng thông râm mát, cảnh trông thơ mộng. Những gốc thông thẳng và cao vút, cứng cỏi mà lại có vẻ đẹp u trầm. Tôi muốn dừng lại ở đó, nhưng thôi vì thoáng thấy sự hiện diện của một vài cặp uyên ương, họ nằm gối đầu lên tay nhau và hình như cố thu nhỏ lại giữa thiên nhiên rộng lớn. Đời sống tự nhiên và đầy nghệ sĩ tính. Tôi nghĩ đến Trân, đến một hình ảnh chói lòa giữa nắng ban trưa. Những bước chân tôi không định mà tự nhiên quanh trở về chỗ cũ.
Thành nằm lim dim trên cỏ, ba người con gái đang ngồi tựa lưng vào nhau trò chuyện gần đó. Tôi về đến nơi thì Thiên Hương cũng vừa cất tiếng nho nhỏ hát một bản nhạc của Cung Tiến. Nét tinh xảo và lãng mạn hiện rõ trên gương mặt Hương lúc ấy. Tôi có cảm tưởng đời sống của Hương sẽ là một chuỗi những ngày buông thả, trôi theo dòng đam mê rất sôi động. Tôi đứng khoanh tay dựa mình vào gốc thông bên cạnh, lắng tai nghe cho đến khi dứt bản hát.
- Cả đồi thông hôm nay đều im hơi để nghe tiếng hát của Hương.
Thiên Hương cười. Cô bé nói một câu làm tôi thấy choáng váng:
- Thực ra người hát hay ở đây không phải là Hương mà là Huyền Trân cơ… anh Linh ạ.
Tôi có cảm tưởng rằng mọi người đã thấy rõ những tình cảm khác lạ đang ngụt cháy trong tâm hồn mình.
Cũng lúc ấy, tôi ngỏ ý muốn chiều nay cả bọn cùng đi thăm Vallée d’amour thì chị Hoàng bảo:
- Ở đây chỉ có cô bé Trân là người đủ tư cách nhất để nói về thung lũng đó. Bật mí cho Linh biết, mỗi tuần cô phải lên đó một lần. Cô yêu thung lũng như người ta yêu nhau vậy.
Trân hất ngang mái tóc, cử chỉ nũng nịu và để phản đối thái độ của chị Hoàng. Tôi vội bảo:
- Nếu thế thì Linh sẽ là người đầu tiên nhờ Trân hướng dẫn lên thung lũng.
Trân nói giọng nhỏ nhẹ:
- Trân rất hân hạnh để làm công việc đó, vì anh là người lạ, là khách của Dalat. Nhưng chỉ sợ người lạ không đủ sức đi bộ suốt chiều nay thôi.
Tôi cười:
- Không sao Trân ạ. Được Trân đưa đến thung lũng tình yêu, rồi có chết ở đấy, Linh cũng cam lòng.
Một thanh niên mặc quần áo kiểu kỵ binh cưỡi ngựa chạy vụt qua. Mọi người có lẽ không kịp để ý câu nói của tôi.
Đề tài về Vallée d’amour được khai thác. Trân cho tôi xem bức hình đã chụp ở trên đồi cao, phía sau, thung lũng tình yêu mờ ảo. Trân ngồi trên một gốc thông cụt, mái tóc mang mang man dại, đùa theo gió. Gương mặt Trân rạng rỡ mà hiền hòa… Khi trao lại Trân tấm ảnh, tôi gửi theo tiếng nói mang trọn cả hồn tôi:
- Hình ảnh của Trân làm cho tôi càng yêu thung lũng.
Trân nhìn tôi cười, vẫn nụ cười đáng yêu ấy.
Mọi người có vẻ mệt mỏi thật sự, chúng tôi bảo nhau đi tìm giấc nghỉ. Cuộc vui còn dài. Riêng tôi nghĩ rằng sự yên tĩnh bây giờ thật cần, tia nhìn và nụ cười kia cần được khắc sâu trong tâm trí.
Tôi đến nằm cạnh bên Thành - hắn đã ngủ say từ lúc nào - và đưa mắt nhìn những chòm thông xao động trong gió mát ban trưa. Màu xanh đen của lá in trên nền trời xanh những nét chấm phá tuyệt đẹp. Tất cả đều yên tĩnh, sự yên tĩnh chót vót thinh không. Thoang thoảng đâu đây chỉ còn nghe tiếng rung động mơ hồ của lá thông lác đác. Dưới kia là mặt hồ phẳng lặng. Tôi đang ở trên cao. Tình yêu như cánh diều no gió, đang dâng lên bằng nhịp vui ngày nắng. Và đôi mi tôi chợt thiếp đi trong một giấc ngủ hoang hoang như không có thật.
Nhưng chúng tôi không kịp đi thăm thung lũng, vì ban chiều, khi vừa ở vườn hoa Bích Câu ra thì trời đổ mưa. Cơn mưa trái mùa kéo đến làm hỏng cả dự tính. Dù sao, cũng vì thế mà tôi được dịp ngắm cảnh trời mưa dào dạt của miền núi. Nhìn lên đồi, màu mưa trắng xóa, bay nghiêng nghiêng, trông có vẻ buồn và đẹp vô cùng.
Cũng trong chiều nay, tôi được quen biết một người bạn mới, một người bạn vong niên mà mới thấy lần đầu đã gây nơi tôi những cảm tình đặc biệt. Người đó không ai khác hơn là bác Sáu, một ông già đứng tuổi, cai quản vườn ươm hoa bên bờ hồ.
Bác Sáu là một mẫu người có nhiều tính lạ. Tuổi đời bác đã xấp xỉ lục tuần, nhưng dáng điệu và ngôn ngữ vẫn chưa hề chịu sự đè nặng của thời gian. Đầu bác đội nghiêng chiếc mũ rộng vành và môi thì luôn luôn phì phèo điếu thuốc lá. Tôi để ý nhất là đôi mắt tinh anh nằm trong vùng tối tăm của vành mũ. Đôi mắt ấy mỗi khi nhìn ai, có vẻ trìu mến, nhiệt tình. Cả khuôn mặt bác bảo đảm cho một con người có bản lãnh, đủ khả năng tranh đấu với đời và làm thân với kẻ khác.
Trong bọn, ngoài tôi ra tất cả bác đều biết, thân nhất là chị Hoàng rồi đến Thành. Chị Hoàng vẫn vào thăm vườn hoa luôn, còn với Thành thì bác Sáu trước kia là người lối xóm. Vừa thoáng thấy Thành, bác đã để tay lên trán bảo:
- Tôi trông cậu dường như quen quen. Phải con ông Tạo không?
Thành thì nhận ra ngay người bạn già của cha mình ngày xưa, nói như reo:
- Ồ, bác Sáu!. Cháu không ngờ trí nhớ bác còn minh mẫn quá. Chính cháu đây.
Hai người tay bắt mặt mừng. Thì ra tất cả đều quen thuộc. Bác Sáu giải thích với chúng tôi:
- Trước kia, nhà tôi gần nhà ông Cả Tạo là cha của cậu Thành đây. Chúng tôi quen nhau từ hồi cậu ấy còn nhỏ xíu, thích mặc áo đỏ và đội mũ beret đen… Bây giờ thì ông Cả đã giầu lắm rồi.
Thành đỡ lời người vắng mặt:
- Thưa bác, chẳng qua là vì hoàn cảnh sống thay đổi. Ba cháu vẫn mong có dịp trở về đây tìm lại những người thân cũ.
Giọng bác Sáu trở nên xa xăm, tiếng nói mang mang từ những ngọn thông ở cánh đồi phía trước:
- Kỷ niệm sâu đậm nhất giữa chúng tôi là những lần ông qua nhà để trao đổi kinh nghiệm trồng hoa và những bàn cờ tướng tương đắc. Ông đánh cờ dở hơn tôi một chút, nhưng tôi phục ông nhiều điểm, rất bình dân, thông minh và lịch sự, ông lại là người có nhiều kiến thức trong sách vở…
Theo lời chị Hoàng, bác Sáu làm việc ở đây đã trên hai mươi năm. Tuy chỉ là một người trông coi vườn hoa nhưng bác yêu việc và trung thành với nghề nghiệp của mình. Có lần bác bảo : “Giữ vườn hoa không những chỉ là một nghề mà còn là một thiên chức”. Chúng tôi không ai nhịn cười được vì hai chữ thiên chức mà bác dùng. Bác lý luận : “Hoa là niềm vui của mọi người, là vẻ đẹp hương sắc của cảnh vật. Bảo vệ hoa tức là bảo vệ niềm vui cho người và giữ vẻ đẹp cho cảnh vật”. Cũng vì thế, vẫn theo chị Hoàng, bác thường rất khó khăn với những ai phá phách trong vườn làm hư hại vẻ đẹp chung.
Lần đầu tiên quen biết, bác nhìn tôi thật kỹ và nhắc đi nhắc lại tên tôi nhiều lần trong những câu nói. Thiên Hương Bảo: “Đó là thói quen của bác. Bác thích được quen với nhiều người và mỗi người quen, bác đều học thuộc tên cũng như diện mạo. Nhờ đó mà sau này gặp lại, bác có thể nhận ra người quen một cách dễ dàng”. Vốn nặng tình cảm yêu thương, tôi thấy gần gụi ngay với người quen mới. Tôi bảo bác: “Bác có giọng nói ấm và cứng cỏi ghê. Nghe bác nói chuyện, tụi cháu quên cả lạnh…”
Khi trời đổ mưa, bác Sáu kéo chúng tôi vào căn nhà gỗ mà bác tự làm lấy ngay trong khu vực vườn hoa. Bác tỏ ra mến chúng tôi thật tình. Hôm nay lại đúng ngày giỗ của bác Sáu gái. Con cháu ở xa không về kịp, đời sống đơn độc. Tôi bỗng thấy băn khoăn và ngậm ngùi cho thân phận bác, một người già, tuổi đã nặng, tình thân đã nhiều mà ngày giỗ vợ thắp hương tưởng nhớ rất âm thầm. Niềm cô đơn đến và ruồng rẫy tuổi đời như một loài sâu độc. Bác khẩn khoản mời chúng tôi ở lại uống thêm nước trà nóng. Ngoài trời, mưa vẫn bay bay. Chúng tôi không có lý do nào để từ chối.
Buổi tối, khi chia tay ở ngã ba đường đồi và trao nhau những lời giã từ, tôi thấy buồn man mác. Cuộc vui nào rồi cũng qua mau. Ngày mai chúng tôi trở về Saigon với đời sống của mình. Niềm vui say hội ngộ tôi sẽ mang theo làm hành trang tâm tưởng, nhưng rồi sẽ được những gì? Những giờ phút bên nhau quá chóng vánh, như gió thoảng qua ngày, như bụi phấn hoa xuân, tôi đã gửi gấm được gì cho Trân chưa? Tôi muốn được theo Trân về nhà tối nay, để một lần nữa được ngắm hình ảnh Trân đẹp tuyệt vời bên bếp sưởi, ánh lửa nghi ngút và màu mắt xa xăm. Nhưng thấy hoàn cảnh bất tiện, tôi và Thành lại còn phải đưa Thiên Hương về nhà nên đành bỏ dự định. Thành và Thiên Hương lúc nào cũng ríu rít bên nhau. Lúc cuối, Trân bảo tôi:
- Tiếc quá, trời mưa làm hỏng cả chương trình. Hẹn một dịp khác Trân sẽ đưa anh đi thăm thung lũng. Dù sao, niềm ao ước sẽ giúp anh nhớ Đalat mãi mãi.
Tôi cười bảo:
- Trân dã man lắm nhé.
Rồi tôi hỏi tiếp một câu đã định sẵn:
- Trân nghĩ gì về bọn này?
Trân trả lời tôi thành thật và hồn nhiên sau giây lát suy nghĩ:
- Những ngày nghỉ có các anh đến thật vui. Hè tới nếu có thể, thi xong các anh lên đây nghỉ ngơi. Hè Đalat mưa tầm tã nhưng cũng có những thú vui rất đặc biệt.
Như một luồng khí ấm thổi qua, câu nói của Trân khiến cơn buồn trong tôi chợt dịu lại. Những bước chân quay về càng thêm lưu luyến. Rồi đây, những ngày tháng qua đi và những đoạn đường từng trải, những hình ảnh sau cùng trong tôi và mỗi người, sẽ là nơi sinh nảy nụ hoa tin yêu thứ nhất. Màu hoa làm chói lòa cơn mộng và nghĩa sống dâng về.
Chúng tôi nằm ngay ngắn trên giường, chăn tận cổ. Lửa trong lò đã tắt nhưng than vẫn đốm hồng. Lúc khuya ở phố về, hai đứa lạnh cóng cả thịt da, nếu không nhờ ít củi thông mà Thành kiếm được bên hàng xóm để đốt lò, thì không hiểu đêm nay chúng tôi sẽ ra sao?
Bây giờ thì đêm trăng mờ và lạnh đã bị ngăn kín ở ngoài kia, cùng với những kỷ niệm. Căn phòng vắng lặng. Chúng tôi nằm bên nhau không nói, mỗi người theo đuổi một ý tưởng riêng. Thành đang rít điếu thuốc lá hút dở. Chợt hắn hỏi tôi:
- Giữa cậu và Huyền Trân chuyện đến đâu rồi?
Tôi trả lời nhỏ và chậm, mắt vẫn nhìn lên trần nhà:
- Chưa đến đâu cả. Theo cậu, Trân là người thế nào?
- Trân dễ thương, mà cũng lãng mạn lắm. Mẫu người như Trân làm cho cậu say đắm là phải…
Thành cười mỉm sau câu nói, tôi không nhìn những biết và cũng cười theo. Một lát sau, tôi nói với Thành:
- Mình có cảm tưởng Trân và chị Hoàng không phải là hai chị em ruột. Nghe giọng nói thì có thể đoán được.
Và điều tôi phỏng đoán rất đúng, Thành xác nhận như vậy. Chính Thiên Hương đã cho hắn biết khá rõ về gia thế hai người. Chị Hoàng và anh Hùng sau cuộc di cư năm 1954 lưu lạc và quen nhau từ thuở nhỏ. Hai người ở Huế với những người thân trong họ. Khi anh Hùng nhập ngũ, ở quân trường ra thì hai người lập gia đình với nhau. Những ngày tháng đầu cuộc hôn nhân họ sống xa cách. Người đóng quân heo hút ở một vùng gần Đalat, người thì sống đơn lẻ tại quê hương thứ hai của mình, là Huế… Anh Hùng bản tính thích tự lập, dù đời quân ngũ chật vật, vẫn cố tìm một nơi riêng biệt để hai vợ chồng chung sống… Cuối năm 1969, tức đúng nửa năm sau, nhờ một dịp may mà Thiên Hương chưa rõ lắm, anh Hùng được người bạn thân hiểu rõ hoàn cảnh, giúp phương tiện lập một căn nhà nhỏ cách trung tâm thị xã Đalat hơn một cây số. Vùng này tuy thưa dân cư trú nhưng phong cảnh thơ mộng và gia đình anh bạn cũng sống gần đó. Căn nhà được tu bổ dần và chính là nơi mà tối qua chúng tôi dự tiệc giáng sinh tại đấy.
Trong thời gian sống ở Huế, chị Hoàng có biết một cô bé gái rất dễ thương, nhà ngay bên cạnh. Cô bé đó không ai khác hơn là Huyền Trân. Hai người quyến luyến nhau và coi nhau như tình chị em. Huyền Trân là con một nhưng chẳng may bố qua đời khi Trân còn đang học đệ tứ. Mẹ Trân rất thương con, không muốn Trân chịu cảnh tủi thân trong gia đình với người chồng thứ hai của mình, vì nghe đâu, Trân và ông này không hợp tính nhau, bà liền gửi gấm Trân cho chị Hoàng, một người mà bà hằng mến và tin tưởng hơn họ hàng. Cuối năm nay Trân thi tú tài một và vẫn mong có dịp sống gần mẹ.
Nghe xong câu chuyện về gia đình những người thân mới quen biết, tôi bỗng bùi ngùi thương xót. Đời sống và tâm tình con người phức tạp quá. Bằng những câu hỏi thăm hời hợt, ta không thể nào hiểu nổi nhau. Bên ngoài, ai cũng có vẻ bình thản nhưng thực ra bên trong là cả một biển động trong đời. Tôi nói với Thành những ý nghĩ đó, thì hắn bảo:
- Thật tình như vậy Linh ạ. Nếu con người không chịu tìm biết nhau thì không bao giờ gần nhau được.
Rồi hắn cười nói tiếp:
- Nhưng cậu phải đền đáp cho “moa” về những tin sốt dẻo vừa rồi đấy nhé.
Sau một lát, tôi bảo:
- Cho đến giờ mình cũng chưa rõ lắm về tình cảm của Trân thế nào…
- Đó chính là cái mà cậu phải đi tìm lấy bằng cách để ý những thái độ và phản ứng của Trân đối với cậu. Sự nhậy cảm trong trường hợp này rất lợi. Riêng ý mình thì Trân tỏ ra rất có cảm tình với cậu. Hãy  làm cho những tình cảm ấy lớn mạnh trong Trân, nhanh hay chậm đều do cậu hết cả.
Thành nói giọng điềm tĩnh mà vững chãi, hắn vẫn có tính hay bày tỏ ý kiến mình một cách tự nhiên như thế với bạn bè. Tôi bâng khuâng trước những điều hắn vừa bảo. Việc gì hắn cũng có vẻ tính toán dễ dàng quyết chắc. Tôi tự thấy hãy còn thua xa bạn về kinh nghiệm sống. Tôi biết, không phải trong một lúc ai cũng có thể nói về một vấn đề có liên quan đến mình một cách dễ dàng như thế. Cảm tình của tôi đối với Trân đã nặng nhưng tôi vẫn chưa có một dự tính rõ rệt nào để chiếm trọn những cảm tình tương tự ở nơi Trân. Tôi vẫn để tình cảm mình tuôn trào một cách tự nhiên quá mà không hề toan tính. Chân thành tin yêu thì có, nhưng con đường đằng trước rất mịt mờ, chưa nhìn thấy gì ở cuối phố.
Tôi hỏi Thành về những cảm giác đầu tiên khi hắn tìm thấy người trong mộng. Hắn trầm ngâm một hồi lâu rồi mới nói một câu rất kiểu cách:
- Tình yêu đầu nào cũng kiều diễm và đam mê. Chính nó làm cho con người dào dạt ý sống, tim hồng mở rộng, ôm ấp cả đất trời. Nên có người đã từng nói với người yêu rằng “Ta yêu em bằng tình yêu thế giới”… Nhưng cũng chính tình yêu đầu đem đến cho con người niềm cay đắng không bao giờ nguôi ngoai. Vì tình yêu đầu thường mong manh lắm, như giọt sương gội nắng, như dấu cây ban chiều…
Giọng Thành trở nên u uẩn lạ thường. Hắn vội xin lỗi tôi về thái độ vô lý vừa rồi, có lẽ tâm tư hắn đang bị khơi động bởi một niềm cay đắng nào đó. Tôi im lặng rồi cũng xin lỗi bạn vì đã vô tình mở lại một dĩ vãng không vui. Lần ở Saigon, Thành đã kể cho tôi nghe hai cuộc tình qua đi trong đời hắn. Tôi không khỏi ngạc nhiên trước những bản nhạc lòng đầy đam mê đó, nhất là câu chuyện tình thứ nhất. Người con gái có dáng dấp ngoan hiền đi vào tâm hồn Thành như một giấc mơ huy hoàng. Đôi mắt và mái tóc nàng nhuộm thắm một màu nâu huyền bí. Tình mới lớn xanh màu xanh hy vọng và tinh khôi như bạch ngọc. Nhưng tình yêu mười sáu bao giờ cũng non dại và phũ phàng, người lớn không ai bằng lòng sự non dại cả. Do đó, tình yêu tuổi nhỏ dù lớn và nồng thắm nhưng cứ chìm dần trong vô vàn tuyệt vọng…
Không khí trong phòng tự nhiên ngột ngạt. Tôi nhận thấy không nên im lặng thêm nữa, liền bảo:
- Giờ này có lẽ những người bạn của chúng mình đều đã say ngủ cả. Chỉ có những kẻ ngày mai ra đi mới phải thao thức.
Thành hỏi:
- Cậu nói thế có nghĩa gì?
Tôi không trả lời Thành mà hỏi lại:
- Cậu và Thiên Hương như thế nào?
Thành trả lời:
- Thiên Hương với mình chỉ có thể là bạn và là đôi bạn thân… Bản tính Hương rất thích tự lập và phóng túng. Cô nàng có nhiều mộng lớn, có vẻ quá lớn là đằng khác. Thí dụ như cô bé mong sau này sẽ trở nên một nữ học giả hay một nhà ngoại giao.
Tôi hỏi:
- Hương có fiancé chưa?
- Hương được nhiều người “mết” lắm, nhưng đều cho de hết cả. Mới đây, nghe đâu có một đại úy trẻ tuổi chiếm được khá nhiều cảm tình của người dẹp. Chàng xuất thân ở võ bị quốc gia và theo Hương thì có tương lai làm tướng lãnh.
Tôi cười bảo:
- Mình có cảm tưởng ai sống với Thiên Hương sẽ phải khổ sở lắm vì cô nàng có nhiều cao vọng và ưa vòi vĩnh…
Thành xác nhận điều đó và nói tiếp:
- Dù sao, Hương cũng là một mẫu người sống tốt, tâm hồn hăng say và có óc sáng tạo, mà không gì đẹp bằng sáng tạo. Lâu nay mình mới có dịp tiếp xúc lại với Hương, tình bạn vẫn thân thiết. Hồi mới quen nhau, mình với Hương cũng đã đồng ý với nhau rằng hai đứa sẽ thành đôi bạn thân.
Một phút yên lặng trôi qua, đôi mắt đã thấy trĩu nặng. Tôi nghĩ đến một giấc ngủ êm ấm trong chăn và nệm, liền bảo Thành:
- Lần đi xa này của chúng mình không đến nỗi vô ích.
Thành cười hóm hỉnh:
- Cho Linh thì nhất định rồi.
- Không, cho tất cả mọi người.
Thấy Thành im lặng, tôi nói tiếp:
- Thú thật, sống với cậu, mình học được nhiều cái.
Thành bảo:
- Cậu làm tớ xấu hổ. Ở trong lớp học, có ai nói tới tên Thành bao giờ đâu ; năm vừa rồi thi đậu cũng nhờ ơn phúc tổ.
Tôi thành thật:
- Trong thâm tâm, mình vẫn coi cậu như bậc đàn anh. Dĩ nhiên ở đời có ai tự hào rằng mình đầy đủ kinh nghiệm? Nhưng ai đã từng trải thì có nhiều kinh nghiệm hơn và xứng đáng làm thầy.
Thành bật cười lớn, tiếng cười làm tan bầu không khí yên tĩnh, như muốn phá bỏ những lời nói vừa rồi của tôi. Hắn bảo:
- Sự khiêm nhượng quá đáng của cậu sẽ làm cho cậu phải hối hận sau này. Ở đời mỗi người có một con đường để đi, có một đời sống để sống, có ai giúp được cho ai đâu? Nhiều khi trong lúc vui, nói để mà chơi cho khuây khỏa chứ ai dám nghĩ đến chuyện làm thầy kẻ khác. Vả lại, nếu đúng như lời cậu nói thì chính cậu cũng đã và đang là thầy tôi trong việc học. Những bài toán ở trường lớp tôi làm được không phải là do tài chỉ dẫn của cậu đấy sao?
Tôi cười:
- Như vậy chúng mình đều là những ông thầy của nhau?
- Và có thể đều là những ông thầy dở cả Linh ạ.
Chúng tôi cùng cười lớn với câu nói ấy. Tiếng cười phát ra và vỡ toang ngay sau đó, nhường lại cho sự vắng lặng rợn người bao lấy chúng tôi.
Ngoài kia đêm đã nặng. Đồng hồ trên tay tôi chỉ đúng một giờ sáng. Không ai bảo ai chúng tôi đều yên lặng. Cuộc đối thoại vừa rồi khiến những tình cảm trong tôi dịu lại như vừa trút được một mối băn khoăn lớn. Khi trải rộng được tâm tư ra, ta thấy thoải mái. Bây giờ, tôi có thể quay vào giấc ngủ mà không còn một níu kéo nào. Những đốm than hồng trong lò cũng đã tắt từ lúc nào, căn phòng chứa đầy bóng tối, thứ bóng tối đồng lõa, nuôi sống linh hồn bằng những giấc mộng hương nồng.
Năm 1972
Thái Bắc
Theo https://vietmessenger.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  - Con dao của Cellini. Nếu bọn chúng không kể chuyện con dao thì bây giờ anh nghe cũng được. Cellini được thuê làm hai con dao cho Đức Hồn...