An Giang, một vùng cổ tích ở phương Nam
Bạn ơi, có lần nào bạn đi ngang qua An Giang chưa? Nếu chưa,
xin bạn nên ghé lại thăm An Giang đôi ngày vì địa danh này đã gợi cho bạn nhiều
hấp dẫn từ một dòng sông, dòng An Giang. Phải thế không bạn? Người nghệ sĩ ngợi
ca dòng An Giang có cái lý riêng của họ mà tự dòng sông này cũng đẹp mát lạ
thường.
Ngày xưa, khoảng những năm 1950-1960, nếu bạn từ miệt dưới Vĩnh Long, Trà Vinh,
Bến Tre lên hoặc từ trên Sài Gòn, Tân An, Mỹ Tho xuống theo con đường liên tỉnh
số 8, từ Sa Đéc lên khoảng ba mươi cây số là bạn đang ở địa phận quận lỵ Lấp
Vò. Con đường số 8 thời xưa ấy hoang phế lắm với những lùm cây mắc cở,
thù lù, cỏ lông gà mọc đầy hai bên đường và đá xanh trải mặt đường thì lởm chởm
ổ gà, lỗ chân trâu làm cho bạn nhiều lúc đang ngồi trên chuyến xe đò cũ kỹ đôi
lúc muốn nhảy chồm lên, dài khoảng ba cây số, từ chợ quận Lấp Vò sẽ đưa bạn đến
bến bắc Vàm Cống. Nơi mà ngày xưa lúc Tây mới đến nơi này , để có nước sạch cho
dân tiêu dùng, chính quyền địa phương hồi ấy bèn cho đào con kinh ăn thông vô
một cái chợ nhỏ, nước lớn từ sông Hậu chảy vô rồi khi nước ròng nước lại
tháo trở ra sông Hậu, ở miệng ra vào, người ta mới đặt ống cống rất lớn để điều
chỉnh nước thông thương mà có tên là Vàm Cống (1), và ngày nay dấu tích
cũ đâu rồi vì vàm nước từ sông Hậu này nay đã thành vàm sông rộng lớn mênh mông
nước là nước.
Đây rồi, dòng An Giang đang rộng thênh thang phía trước mặt bạn. Từ mặt sông
những ngọn gió nồm mát rượi thổi hiu hiu từ bên kia bờ phía An Giang làm bạn
quên cái cảm giác mệt nhọc trên đoạn đường đá gồ ghề mà bạn vừa đi qua. An
Giang đang chào đón bạn! Những chiếc bắc cồng kềnh như những "bè thủy
lục" mệt nhọc chở những xe cộ cùng khách bộ hành từ bao mùa như chở những
mảnh đời cũng mệt nhọc qua dòng An Giang xanh xanh nước biếc ngọt ngào.
Những con sóng bạc đầu từ hướng Cần Thơ ào ào tràn lên mùa gió chướng hay những
con sóng lưỡi búa nhấp nhô từ bên kia sông giạt về bên này sông vào mùa gió nồm
từ hướng Rạch Giá kéo về như những kiếp bọt bèo chìm nổi theo gió, theo dông
tuần hoàn bất tận. Những ngọn sóng làm chòng chành chiếc bắc như muốn xô hết
những gì mà nó đang mang trong lòng một cách nặng nhọc, nhưng rồi chiếc bắc vẫn
cố gượng dậy để đưa bạn đến bên kia bờ An Giang sau hơn hai mươi phút vượt qua
con sông sâu có bề ngang phình rộng ra này.
Bắc Vàm Cống (Long Xuyên-An Giang)
Tuy nhiên, không phải lúc nào bạn cũng gặp những mùa gió chướng, gió nồm như
vậy vì gió có mùa của gió, bạn đi qua dòng An Giang này có cái hạnh ngộ thật
thú vị của bạn với dòng sông. Nếu bạn sang sông vào buổi sáng, bạn sẽ gặp dòng
sông phẳng lặng đến hiền hòa. Bạn sẽ thấy cảnh bình minh trên sông với mặt trời
bò chầm chậm từ dưới nước bò lên, vượt qua những rặng cây ở phía chân trời xa
xa về hướng đông nơi làng Tân Lộc Đông, Tân Lộc Tây nằm vắt võng trên cái cù
lao tưởng chừng lấp ngang dòng nước chảy xuôi ra biển, cách chợ quận Thốt Nốt
một chuyến đò ngang. Ánh mặt trời để lại trên dòng nước một tấm thảm nắng ấm
màu vàng ửng thật rực rỡ, chứa chan biết bao hy vọng của một ngày mới...Có lẽ
nhân loại nói chung và cư dân vùng châu thổ dọc theo con sông Cửu Long này nói
riêng, sống được là nhờ nước ngọt và sự có mặt của ánh sáng mặt trời.
Ngày nay khách sang sông nơi bắc Vàm Cống khi trời sụp tối
Tại ngã ba Vàm Cống phía bến kia sông, giữa vùng đất phương Nam, nhưng bạn vẫn
nghe nhiều người nói giọng Huế, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Qui Nhơn hết
sức bình thường, tự nhiên như ngay ngoài miền Trung mà thân tình. Nếu bạn rẽ về
tay trái, bạn sẽ đi về Cần Thơ hoặc vào Rạch Giá theo hai lối rẽ khác nhau sau
khi cùng đi chung một đoạn đường ngắn độ năm cây số. Cần Thơ xuôi về miệt dưới
theo con đường số 9; Rạch Giá theo con đường số 8 về vùng biển ngàn trùng...Dĩ
nhiên, bạn rẽ về tay mặt ngay khi vừa rời bến bắc là bạn đang đi về hướng tỉnh
lỵ Long Xuyên, cách Vàm Cống chín cây số. Nhưng xin bạn cứ thư thả nhìn ngắm
con đường mà bạn sắp đi qua vì có lẽ lâu lắm rồi bạn mới đến An Giang một lần,
nên đâu phải vội vàng gì, phải thế không bạn?
Khởi đi từ Vàm Cống này, hồi ấy, bạn sẽ theo con đường trải nhựa mà hai bên
đường là những vườn xoài, nhà cửa san sát chạy song song với dòng An
Giang bên tay mặt và cánh đồng ruộng bao la về bên tay trái của bạn. Cánh đồng
ruộng không có những rặng cây che ngang tầm mắt càng làm bạn thấy cánh đồng
rộng thênh thang biết dường nào! Nó chạy tít mù xuống tới Cái Sắn, rồi chạy
miết đến khu di cư của đồng bào miền Bắc năm 1954 trong Tân Hiệp với những con
kinh đào băng ngang cánh đồng lúa hướng về con kinh Thoại Hà về phía núi Núi Sập,
Ba Thê xa xa ở hướng tây nam; chúng mang tên những mẫu tự quốc ngữ như A, B, C,
D, E, F, G, H... như những vết cắt nằm song song trên cánh đồng bằng. Nếu kể
những địa danh gần hơn chút nữa, bạn sẽ nghe tên gọi quen quen những cánh đồng
như Cái Sao, Bờ Ao, Bắc Dục, Vĩnh Chánh, Phú Hòa. Bạn có thể tưởng tượng giữa
cánh đồng ruộng đất bùn lầy ngàn trùng này lại có một vùng đất toàn là đá
với đá. Những tảng đá nằm lúp xúp pha lẫn những lung vũng mà nông dân nơi đây
gọi là vùng đá nổi, cách Bờ Ao, Bắc Dục không xa. Có thời sau năm bảy mươi lăm,
người ta lại đổ xô về đây bòn vàng. Tuy không rầm rộ nhưng cũng tạo cho vùng
quê này chút không khí sôi động, ồn ào. Tôi đã tận mắt nhìn thấy những vồ đá
thấp, cùng những vết tích do người ta đào ruộng bòn vàng nơi đây còn để lại vào
những ngày của các năm 1980 ấy nhiều lần qua những lần nuôi vịt chạy đồng ngang
qua những miếng ruộng nơi này vào mùa cắt lúa tháng Hai, tháng Ba. Nhưng có lẽ
vàng bòn được không bao nhiêu, nên người ta không quấy rầy những miếng ruộng an
phận giữa đồng không mông quạnh này. Và rồi đá vẫn nổi giữa cánh đồng, những vồ
đá bằng phẳng như những mặt bàn lộ thiên của các vị tiên ngồi ngắm trăng mùa
nước cạn... Lác đác các loài chim muông như cò, diệc, gà đãi, gà nước, trích
rừng dừng chân rỉa lông, nghỉ cánh hoặc chân bước lăng xăng như những chú tiểu
đồng mang trà, rượu cho các chàng "ngư, tiều, canh, mục" đang ngồi
nhâm nhi giữa cảnh đẹp của thiên nhiên, ruộng đồng thơm thơm mùi rạ mới ngạt
ngào...
Giữa cánh đồng sâu hun hút này, có lẽ bạn cũng không ngờ có con kinh đào mà cư
dân dọc hai bờ kinh nói rặt giọng miền Trung như những người mà bạn gặp ở ngã
ba Vàm Cống. Nghĩ cho cùng, có lẽ tổ tiên chúng ta từ những ngày xa xưa xuất
phát từ Quảng Nam, từ Huế mà lưu lạc đến đây cho đến tận bây giờ như một dòng
chảy bất tận của một dòng sông Nam tiến vậy. Nên người dân An Giang thời nào
cũng dễ cảm thông và sống hài hòa với mọi miền như những ngày tháng sau hiệp
định Genève 1954 với cư dân vùng các con kinh ở Cái Sắn, Tân Hiệp. Phải chăng
đây là một trong những nét đẹp của tấm lòng người phương Nam nói chung và An
Giang nói riêng.
Công viên Trưng Vương chạy dài từ đường Phan Đình Phùng đến đại lộ Tự Do như
gương mặt diễm kiều của thị xã với những gốc trúc đào, những cây dương, những
cánh hoa mười giờ màu tím than, những cây tùng xanh biếc quanh năm. Cầu Hoàng
Diệu mà tên gọi thời Pháp thuộc là Henrie Rivière, bắc ngang con sông đào Long
Xuyên-Rạch Giá như một kỳ quan vùng đồng bằng này, nối liền hai khu vực của thị
xã như đan kết hai mảnh đời dính liền lại với nhau. Với hai dãy trụ đèn cao gần
bằng những chiếc cột nhà ngói cổ dọc hai bên thành cầu từ xa xa bạn nhìn giống
như những cổng tam quan đang đón bạn đi qua thành phố. Nếu bạn nhìn xuống dòng
nước trôi xuôi về miệt núi Sập phía dưới chân cầu, bạn sẽ thấy chiếc cầu Hoàng
Diệu đang in dáng dấp lung linh trên dòng sông tuyệt đẹp. Sau này có thêm chiếc
cầu Duy Tân, song song với nó, nối liền bến chợ với nhà thương Long Xuyên, nơi
mà những năm 1940-1945 chiếc ghe tam bản của tía má tôi tản cư đậu nơi bến nhà
thương này, nhưng không sánh kịp về cái dáng đẹp đã có tự bao năm ...
Cầu Hoàng Diệu (Long Xuyên) nhìn từ bờ sông đường Quang Trung với
những dề lục bình, cỏ xước, rau muống thân thiết với bến sông xưa dù có phải
nhuốm màu thời gian qua bao mùa biến đổi...
Cầu Hoàng Diệu (Long Xuyên) về đêm với ánh đèn
dọc theo các trụ
cầu phản chiều ánh sáng lung linh lên mặt nước.
Hàng cây trứng sấu to lớn trở thành những cây cổ thụ trên đường Đinh Tiên Hoàng
phía bên kia cầu Hoàng Diệu chạy ngang qua khu học đường thật bệ vệ trang
nghiêm. Nào là trường Nam Tiểu Học tỉnh lỵ, trường Nữ Tiểu Học với lớp lớp học
trò nhỏ vui đùa của biết bao thế hệ nối đuôi nhau theo dòng thời gian mà những
năm cuối thập niên 1940 tôi có dịp dự phần cùng các lớp học trò bé nhỏ ấy.
Trường Trung học Thoại Ngọc Hầu có cổng chánh bên đường Gia Long với những hàng
dương liễu thướt tha chung quanh trường, có lẽ sẽ làm cho bạn nhớ về ngôi
trường nào một thời mà bạn đã mài đũng quần. Trường này có may mắn là có nhiều
vị giáo sư danh tiếng về dạy. Nhà văn Nguyễn Hiến Lê, ngày xưa cũng dạy nơi đây
ba niên học.
Trường Trung học Thoại Ngọc Hầu (Long Xuyên) năm 1959
Phía trước trường, gần cổng chánh, có ngôi miếu tiên sư thật trang nghiêm để
thờ phượng các vị giáo sư của trường quá cố như tấm lòng nhớ ơn của học trò
cùng hậu thế dành cho các thầy, như một nét văn hóa thật đẹp và cao quý của
trường. Và có lẽ, tại Long Xuyên này, học sinh hết mực thương mến thầy. Trong
hồi ký, nhà văn Nguyễn Hiến Lê có nhắc lại tình thầy trò:" Dạy ba năm ở
Thoại Ngọc Hầu mà non ba chục năm sau, bây giờ về Long Xuyên còn gặp được năm
sáu trò cũ coi tôi như cha, có trò thân mật như người trong nhà; điều đó làm
cho tuổi già của tôi được vui." (2) Tình thầy trò ngày xa xưa ấy
thật đầm ấm, thiết tha nhưng trang nghiêm, cao quí biết dường nào!
Hoàng hôn trên nền trời Long Xuyên (An Giang).
Nhưng có lẽ nên mời bạn đến thăm công viên Nguyễn Du bên bờ dòng An Giang, nằm
song song con đường Lê Lợi, với những giàn bông giấy, những cánh hoa trúc đào,
những cánh hoa phượng đỏ đứng soi mình lướt thướt bên bờ đá xây cặp dòng sông,
nơi mà nhà văn Nguyễn Hiến Lê có nhắc trong hồi ký của ông, cứ mỗi lần đến đây
ông có cảm tưởng như đang hưởng cái thú "giang thượng chi thanh
phong" của Tô Đông Pha vậy. Công viên Nguyễn Du này tình tứ thật,
nhất là những đôi tình nhân thời còn cắp sách thì tuyệt diệu vào những ngày năm
sáu mươi năm xa xưa ấy. Ngày nay nước của con sông Cửu Long cạn dần vì các đập
ngăn nước làm thủy điện trên các nước thượng nguồn và bờ đá nơi công viên
Nguyễn Du cũng đành phải xa mặt nước sông để trơ ra bãi bùn và vài ba bụi cỏ
dại lưa thưa nơi bến sông xưa, mà ngày xưa lúc nào nơi mé sông này cũng lé đé
nước với những lượn sóng rì rào theo gió lô xô va vào bờ đá như một điệu nhạc
của gió, của sóng, của sông nhịp nhàng không dứt ...
Công viên Nguyễn Du ngày nay với bờ sông Cửu Long
nước cạn xa bờ,
để trơ những bụi cỏ bên bờ sông cạn.
Hồ Bình Đức (Long Xuyên) đường Lê Lợi, bên cạnh
công viên Nguyễn
Du ngày nay nước cũng xa bờ .
Dù vậy, ngày xưa, nếu bạn xuống con đò nhỏ về bên kia cồn Mỹ Hòa Hưng, ngang
công viên Nguyễn Du, bạn sẽ lạc vào chốn thiên thai với những vườn cây ăn trái
phủ phục, oằn nhánh, nặng cành. Nào xoài, ổi, mận chẳng thua gì vườn ổi ở bến
bắc Cần Thơ, nếu không muốn nói cư dân nơi Mỹ Hòa Hưng này chơn chất, ngọt ngào
như cây trái mà họ trồng trong vườn... Bạn có thể ăn trái cây đầy bụng, nếu bị
xót ruột, họ sẽ mời bạn dùng cơm với họ như người thân trong nhà.
Để tiếp tục cuộc hành trình, vì An Giang thì quá rộng, xin mời bạn trở lại Long
Xuyên để về thăm Châu Đốc như một chuyến hành hương trở lại vùng cổ tích. Trước
lúc rời khỏi Long Xuyên, có lẽ nên mời bạn ăn một bữa cơm với canh chua cá hô
hoặc cá bông lau cùng cá rô kho tộ béo ngậy.
Cá hô đất trắng (mà người Thái gọi là chép), một loài cá lớn và
ngon của sông Cửu Long, chiều dài tối đa của chúng có thể lên tới 2,4m và cân
nặng tới 250 kg.( nguồn: hubpages.com).
Cá tra dầu thuộc hạ lưu sông
Cửu Long (nguồn: National Geographic)
Nhưng ở đây có món mắm kho cũng ngon đáo để không thua gì mắm Châu Đốc mà ngay
cả người sành điệu như Cụ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu có lần đã phải khen (3):
"Thú ăn chơi cũng
gọi rằng,
Mà xem chửa dễ ai bằng thế gian.
Hà tươi cửa bể Tu-ran,
Long Xuyên chén mắm, nghệ An chén cà ."
(Thú ăn chơi)
Mà xem chửa dễ ai bằng thế gian.
Hà tươi cửa bể Tu-ran,
Long Xuyên chén mắm, nghệ An chén cà ."
(Thú ăn chơi)
Tôi không biết "cà Nghệ An" thơm ngon như thế nào vì
chưa có dịp được thưởng thức, nhưng chắc chắn mắm Long Xuyên với hương vị đậm
đà quê hương và độc đáo lắm!
Thế là mời bạn đi theo con đường liên tỉnh số 9 về miền Châu Đốc để bạn có dịp
nghiệm lại mấy vần ca dao mà người miền quê ở đây ai ai cũng hát dỗ em như nằm
lòng:
"Đèn nào cao bằng
đèn Châu Đốc,
Đất nào dốc bằng đất Nam Vang,
Nghe tiếng anh than hai hàng lệ nhỏ,
Có một mẹ già, biết bỏ ai nuôi ?!!!"
Đất nào dốc bằng đất Nam Vang,
Nghe tiếng anh than hai hàng lệ nhỏ,
Có một mẹ già, biết bỏ ai nuôi ?!!!"
Bắc Châu Đốc (An Giang)
Trên con đường khoảng năm mươi cây số này bạn sẽ đi xuyên qua những cánh đồng
đầy lúa là lúa. Khi bạn đến ngã ba lộ tẻ Mặc Cần Dưng, đường đi Tri Tôn, bạn có
thể dừng lại nơi đây trong chốc lát để thưởng thức món bánh tét vùng này. Những
hạt nếp mới mà mềm và thơm mùi lá dứa ngạt ngào, làm bạn nhớ mẹ ngày xưa cũng
nấu cho mình những nồi bánh tét nhưn đậu, nhưn chuối vào những ngày giỗ chạp,
tết nhất mà thương mẹ nhiều hơn vì đã quá vất vả với mình. Từ đây nếu bạn theo
con đường rải đá xanh, bạn sẽ về Cần Đăng, Hang Tra, Trà Kiết, Cầu số 5, Tri
Tôn. Ngày xưa, con đường này vắng ngắt, mỗi ngày chỉ có một chuyến xe đò hiệu
Thành-Long ột ệt bò từ Tri Tôn xuống Long Xuyên rồi trưa trưa lại bò về hết sức
mệt mỏi. Riết rồi, trẻ con trong vùng mỗi lần thấy chiếc xe đò bò ngang qua vạt
lúa của mình mà nhớ câu hát huê tình cười đùa mang nhiều ý nghĩa:
"Thành Long chạy tắt đường đồng,
Xe đò Tri Tôn-Long Xuyên, Tri Tôn
Châu Đốc những năm 1950 (Nguồn:
TSCĐ)
Theo con đường này, bạn nhìn về hướng tay trái, xa xa dưới kia có rặng cây băng
ngang cánh đồng nối liền hai vùng Vĩnh Hanh, Hang Tra với Ba Bần là kinh xáng
Bốn Tổng. Con kinh thẳng nên rặng cây xanh rì cũng thẳng như một nét mực Tàu vẽ
lên nền trời trong vắt, mà hai ngọn núi Ba Thê, Núi Sập trong kia cũng khuất
một phần chân bên kia rặng cây xanh. Ba bên bốn bề lúa là lúa. Bạn mà lọt vô vùng
tứ giác này, có đủ các món nhậu để đãi bạn, từ chuột, rắn, rùa, cá lóc, lươn,
tôm, chim muông đủ loại như một kho vô tận, nhất là vào những năm xa xưa còn
làm lúa mùa chẳng thiếu món ngon vật lạ nào thuộc vùng đồng ruộng.
Ngã ba lộ tẻ Mặc Cần Dưng đi Tri Tô ngày nay,
ngày xưa nơi này vắng vẻ lắm, chỉ lưa thưa vài ba
mái lá
bán bánh tét nhưn chuối, nhưn đậu cho khách
bộ hành
trên những chuyến xe đò Tri Tôn
Long Xuyên qua lại nơi này.(Nguồn:
TSCĐ)
Tiện đây nhắc một chút về địa danh Hang Tra mà có lẽ các bạn mới nghe lần đầu.
Là vùng heo hút nơi thôn cùng này, nhưng Hang Tra lại có lần ghi tên mình vào
sử sách qua trận đánh Pháp của Quản Cơ Trần Văn Thành vào ngày 20 tháng Hai,
năm Quí Dậu (1873). Quản Cơ Trần Văn Thành, theo sử sách, quê ở ấp Bình Phú
(Cồn Nhỏ), làng Bình Thuận Đông, tổng An Lương, quận Châu Phú Hạ, tỉnh Châu Đốc
(4); nay là ấp Bình Phú, xã Bình Hòa (Mặc Cần Dưng), quận Châu Thành, tỉnh An
Giang. Để nhớ công ông, tại làng Bình Hòa trên con đường bạn sẽ đi qua ngang
cầu sắt Mặc Cần Dưng có ngôi trường trung học mang tên Quản Cơ Thành.
Ngoài ra vùng đất An Giang còn rất nhiều sĩ phu, hào kiệt nữa mà bài viết ngắn
này không tiện ghi ra hết được. Nhưng có lẽ cụ Thoại Ngọc Hầu là một trong
những tiền nhân có công nhất trong việc kinh bang tế thế và mở mang vùng An
Giang này mà ai ai đã đọc sử sách cũng đều am tường. Những di tích mà Ngài đã
để lại như kinh đào Long Xuyên- Rạch Giá, kinh Vĩnh Tế dọc biên giới Việt-Miên
là những bằng chứng cụ thể.
Để trở lại con đường số 9 về Châu Đốc, bạn sẽ qua khỏi cua Mặc Cần Dưng đến
Năng Gù, một xóm đạo lớn nhất An Giang này. Và chính vị cố đạo Conte coi
nhà thờ Năng Gù, vào năm 1891 đem một giống lúa ở Cao Miên về đây gieo giống
thử. Nó sống và lên theo kịp nước lụt, nên người Pháp gọi là lúa nổi (riz
flottant), còn người Việt mình gọi là lúa mùa, lúa sạ (5) vì giống lúa này chỉ
cần cày bừa rồi chờ mùa mưa xuống là sạ, rồi chờ đến mùa lúa chín là cắt gặt và
mỗi năm chỉ làm lúa một mùa duy nhất mà thôi (sạ vào tháng ba, tháng tư, cắt
gặt tháng chạp, tháng giêng âm lịch).
Bắc Vàm Nao (Chợ Mới, An Giang)
Nhắc cù lao Ông Chưởng là nhắc cụ Chưởng Binh Lễ, người có công trong việc đánh
tan giặc Xiêm và giặc Miên cùng với Đốc Binh Vàng vào năm 1837, nhưng cả hai
ngài đều tử trận và để tưởng nhớ công đức, hai ngài đều được triều đình phong
làm Phúc Thần và được dân chúng lập đền thờ, cúng tế trang nghiêm, cùng đặt tên
các kinh rạch, cù lao, đường xá, trường học tại địa phương. Chúng tôi ghi lại
câu ca dao này để các bạn biết cả một vùng sông rạch này cá tôm nhiều vô
số kể:
"Chiều
chiều quạ nói với diều,
Cù lao Ông Chưởng còn nhiều cá tôm."
Trên dòng An Giang mà bạn đang theo dòng, vào mùa nước giựt, bạn sẽ thấy hàng
hàng lớp lớp những dề lục bình trôi bềnh bồng trên dòng nước xuôi về hạ nguồn
với những cánh hoa màu tím đung đưa trong gió, mang mang nỗi buồn về những mảnh
đời vô định không bến, không bờ... Thời Pháp đô hộ có cả những thây ma bị Tây
giết thả trôi sông tấp theo những dề lục bình... Rồi chợt nhớ về những vần thơ
của một thi sĩ thời tiền chiến đã cảm hoài:
"Lơ
thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều .
Nắng xuống, chiều lên sầu chót vót,
Sông dài trời rộng, bến cô liêu .
Bèo giạt về đâu hàng nối hàng?
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng ..."
(Huy Cận) (7)
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều .
Nắng xuống, chiều lên sầu chót vót,
Sông dài trời rộng, bến cô liêu .
Bèo giạt về đâu hàng nối hàng?
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng ..."
(Huy Cận) (7)
Bông tím lục bình
Trở lại bến đò Năng Gù, mới bạn về thăm Châu Đốc với biết bao cảnh đẹp. Nhưng
có lẽ từ trên bờ sông Châu Đốc được cẩn bằng những thềm đá xanh cao vòi vọi mà
dòng nước tháng giêng thăm thẳm dưới xa kia cho bạn nhận ra lời ví trong ca dao
gần gũi bạn hơn: "Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc..."
Bồ Đề Đạ Tràng (Châu Đốc)
(Nguồn: Hình do ĐD& LT chụp năm 2005,
TSCĐ)
Chợ Châu Đốc thời xa xưa có đặc điểm là chuối thường để nguyên
quầy, không cắt ra từng nải một và dù ban đêm nhưng chuối vẫn treo đầy trong
các sạp, không cần phải dọn dẹp và sáng hôm sau lại bán tiếp tục mà không bị
mất cắp. Dĩ nhiên bạn nên mua vài keo mắm thái, mắm trèn ngon ơi là ngon để làm
quà cho bạn bè. Tại đây bạn có thể đi thăm Bồ Đề Đạo Tràng ngay trong thị xã,
thăm Núi Sam với thánh miếu Bà Chúa Xứ, lăng cụ Thoại Ngọc Hầu, chùa Tây An.
Nhưng với Châu Đốc, có lẽ cũng xin nhắc cùng bạn nơi vùng đất thuộc An Giang
này có những mùa nước lên ngập lút các đường phố vào những năm 1960, 1961 qua
một vài tấm hình nước ngập tràn bờ bên cạnh như một dấu tích một thời. Bạn đừng
ngại, ngày xưa vùng An Giang này hằng năm nước đều lên như vậy, và nhờ nước lên
đồng ruộng mới được bồi đấp phù sa mà xanh tốt, cá tôm trên sông trên đồng mới
hè nhau làm vui bụng dân nghèo sống bằng nghề câu lưới tới mãn mùa…
Thị xã Châu Đốc mùa nước lụt năm 1961 (Nguồn: TSCĐ)
Nếu bạn theo con đường liên tỉnh lộ dọc con kinh Vĩnh Tế để về thăm Ba Chúc mà
từ những năm xa xưa cách nay hơn năm mươi năm chúng tôi đã đến vùng này vào lúc
Ba Chúc bắt đầu được khai mở làm thành "khu trù mật". Rặng núi nằm
chắn một vòng thật dài như một thành lũy ngăn bước gây hấn của quân Miên có tên
là Bảy Núi in hình lên nền trời thật hùng vĩ. Chúng tôi không có dịp đi hết qua
các ngọn núi này nhưng ông bà xưa có kể tên các ngọn "Thất Sơn" này
như sau, xin ghi lại cho bạn: Núi Két, Núi Cấm, Núi Bà Đội Om, Núi Voi, Núi
Dài, Núi Cô Tô, và Phụng Hoàng Sơn.
Đường vô núi Sam (Châu Đốc) ngày xưa. (Nguồn: TSCĐ)
Việc đặt tên các núi, ông cha xưa thường căn cứ vào hình dáng ngọn núi mà đặt
tên, nên mới có những tên núi như những hình ảnh vừa kể mà ai ai cũng nhận ra
được. Thất Sơn là một vùng với nhiều giai thoại huyền bí nhưng có lẽ những
người Việt bị giặc Miên giết chết năm Pôn Pốt tràn qua còn để lại
nhiều sọ người chất cao như núi tại một ngôi chùa là một trong
những niềm đau xót mà chúng ta cần chia sẻ. Xin các bạn dành một phút để mặc
niệm những oan hồn của đồng bào xấu số chết tức tưởi nơi vùng biên cương này
khi đất nước quá nhiễu nhương!
Tại bến đò Châu Giang, ngày xưa ấy, bạn sẽ bắt gặp các cô học trò đi học bằng
đò chèo qua sông giữa sông nước mênh mông. Những bông hoa biết nói ấy ngày nay
có lẽ tuổi đời đã chồng chất nhiều rồi nhưng họ đã có một thời làm nên nét đẹp
vùng châu thổ ấy, tuyệt diệu biết dường nào!
Rồi qua vài con rạch nhỏ, không đi học bằng đò,các cô nữ sinh ngày
xưa với tà áo dài trắng thanh khiết, thướt tha, họ bước chân lên những nhịp cầu
tre lắc lẻo mà tâm hồn thiếu nữ man mác trữ tình. Cầu khỉ và bóng dáng nữ sinh
một thời áo trắng làm bức tranh quê vùng An Giang thêm đẹp lạ kỳ! Phải thế
không bạn?.
Đi học mùa nước ngập qua cây cầu tre lắc lẻo (Nguồn:qdnd.vn)
Nếu bạn đi thêm mười bảy cây số về hướng đông, bạn sẽ gặp một thị trấn tơ tằm
và buôn bán phồn thịnh nằm bên bờ sông Tiền: Chợ Tân Châu. Tân Châu nổi tiếng
với hàng lãnh Mỹ-A, hang Cẩm-Tự đen tuyền nhuộm bằng trái mặc nưa, một loại
hàng thông dụng khắp từ miền Lục Tỉnh đến Sài Gòn và cả miền Trung. Dòng sông
Cửu Long nước chảy xiết, rộng thênh thang. Xa xa bạn sẽ nhìn thấy những tàu
buôn ngoại quốc đang buông neo sừng sững ngoài khơi như những cù lao, cồn cát.
Vì là con đường giao thương qua lại quốc tế, nên Tân Châu như một thương cảng
vùng nội địa của An Giang khi tàu buôn dừng lại. Do đó có những mặt hàng ngoại
quốc ở Tân Châu tràn ngập mà các nơi khác không có càng thu hút nhiều người
buôn bán từ các nơi khác đổ xô về làm cho chợ Tân Châu lúc nào cũng nhộn nhịp.
Nhưng "tang điền biến vi thương hải" vì dòng nước
chảy xiết, cả con đường Bạch Đằng với khu chợ náo nhiệt ngày nào đã bị chìm
theo dòng nước cuốn trôi mất hút từ lâu rồi. Giờ chỉ còn một khu hoang vắng
ngậm ngùi, những căn phố, những viên đá xanh lót đường ngày nào thăm thẳm chìm
vào lòng sông
vô định qua từng mùa nước dâng, nước cạn... Khu chợ Tân Châu mới
thì dời về sân banh còn buồn so như chưa kịp lay hồn tỉnh dậy... Rồi vàm kinh
Vĩnh An Hà ngày xưa sâu là thế mà ngày nay vàm kinh cũ cũng đâu rồi một thuở
đầy tràn những mùa nước kinh xưa?
Vàm kinh Vĩnh An Hà
(Tân Châu- An Giang) những
ngày chưa bị lấp.
Chợt nhớ mấy câu thơ của cụ Tú Xương:
"Đêm nghe tiếng ếch bên tay,
Ghe cui trên sông Tiền Giang
(Tân Châu-An Giang) mùa nước tháng 9
âm lịch.
Về Tân Châu bạn sẽ gặp những bè cá trên sông, những con cá he nghệ vàng nghín,
cá ba sa đầy mỡ. Xuống Long Sơn, trên con đường đi về Hòa Hảo, bạn sẽ vui với
mùa nhãn chín thơm đầy vườn bên tiếng chim gọi nhau líu lo xào xạc, nhớ câu thơ
của Tế Hanh trong bài thơ Vườn Xưa đầy tình tự:
"Hai ta như sen mùa Hạ, cúc mùa Thu,
Như tháng mười hồng, tháng năm nhãn,
Em theo chim em đi về tháng tám,
Anh theo chim cùng với tháng ba qua ."
Như tháng mười hồng, tháng năm nhãn,
Em theo chim em đi về tháng tám,
Anh theo chim cùng với tháng ba qua ."
Nhưng có lẽ cũng xin mời bạn đọc bài thơ của nhà thi sĩ vùng Long
Sơn (Tân Châu), thi sĩ Nguyễn Hải Thệ còn có bút danh Ngy Do Thái, viết về bến
nước Tân Châu:
Sáng ra hỏi thăm dòng
sông Trước
Ngó lên Nam Vang trùng trùng sóng nước
Bến Tân Châu bụi nắng long lanh
Trăm chiếc lá non rung rinh đầu cành
Ta mở lòng ra với trời xanh biếc
Hít thở không khí căng đầy lồng ngực
Đàn chim ríu rít theo đuổi bình minh
Lẽo đẽo bờ sông anh theo đuổi em
Và bài ngợi ca Châu Đốc:
Đêm về ngó ngọn đèn cao Châu Đốc
Dòng sông sau biêng biếc trời xanh
Nước trong mát ngọt thơm lành
Thuyền lênh đênh chở hoàng hôn bỏ lại
Tuổi trung niên dong bườm ra Đông Hải
Màu hoa vàng xưa đã chết trên ngàn
Câu điệu lý như mây quờ bóng trăng
Hồn ta chất ngất tình quê núi
Ngó đỉnh Thất Sơn vòi vọi
Đất lành chim đậu cành cây
Miền Viễn Tây nghi ngút sương bay
Trời với đất không còn phân ranh giới
Bờ với cõi viên dung giềng mối
Ta và em hiệp một trong nhau
Càn khôn phôi dựng xuân đầu
Em về mắt biếc nguyên màu biển xưa
Gót sen cỏ rộng đong đưa
Cành chim lá gió hai bờ ngửa ngang
Lục bình man mát Phương Nam
Thuyền qua Châu đốc lộng tràng giang em
Bàn tay thon lá cỏ mềm
Hiển hoa trăng ngọc lộ nguyên Nguyệt Hằng.
Ngó lên Nam Vang trùng trùng sóng nước
Bến Tân Châu bụi nắng long lanh
Trăm chiếc lá non rung rinh đầu cành
Ta mở lòng ra với trời xanh biếc
Hít thở không khí căng đầy lồng ngực
Đàn chim ríu rít theo đuổi bình minh
Lẽo đẽo bờ sông anh theo đuổi em
Và bài ngợi ca Châu Đốc:
Đêm về ngó ngọn đèn cao Châu Đốc
Dòng sông sau biêng biếc trời xanh
Nước trong mát ngọt thơm lành
Thuyền lênh đênh chở hoàng hôn bỏ lại
Tuổi trung niên dong bườm ra Đông Hải
Màu hoa vàng xưa đã chết trên ngàn
Câu điệu lý như mây quờ bóng trăng
Hồn ta chất ngất tình quê núi
Ngó đỉnh Thất Sơn vòi vọi
Đất lành chim đậu cành cây
Miền Viễn Tây nghi ngút sương bay
Trời với đất không còn phân ranh giới
Bờ với cõi viên dung giềng mối
Ta và em hiệp một trong nhau
Càn khôn phôi dựng xuân đầu
Em về mắt biếc nguyên màu biển xưa
Gót sen cỏ rộng đong đưa
Cành chim lá gió hai bờ ngửa ngang
Lục bình man mát Phương Nam
Thuyền qua Châu đốc lộng tràng giang em
Bàn tay thon lá cỏ mềm
Hiển hoa trăng ngọc lộ nguyên Nguyệt Hằng.
(Châu Đốc Quý Sửu 10/1973) (8)
Trước khi bạn trở lại Sài Gòn hoặc về miền Cần Thơ, Cà Mau, xin
mời bạn trở lại thăm hai vùng thân quen một thời của An Giang ngày xưa, giờ đã
thuộc về hai tỉnh khác. Đó là Thốt Nốt thuộc Cần Thơ và Lấp Vò thuộc Cao Lãnh
(Đồng Tháp). Giống như hai đứa con gái mẹ cha phải gả đi xa, cư dân Lấp Vò và
Thốt Nốt luôn nhớ về An Giang không muốn rời căn nhà thân yêu cũ. Cực chẳng đã,
phải dính líu đến giấy tờ hành chánh, nhưng kỳ dư mọi giao dịch, mua bán, thăm
viếng họ đều gần gũi với An Giang hơn nhiều và lúc nào cũng tha thiết. Thốt Nốt
cũng giàu có với lúa, với vườn và tháng mưa, lúa hột phơi đầy trên con lộ số 9
về hướng Cần Thơ mà mỗi lần xe chạy qua nghe rào rào dưới lườn xe vùn vụt. Còn
Lấp Vò thì có nhiều trăn trở, đau buốt riêng của nó so với các nơi khác ở quanh
vùng này. Bạn có tưởng tượng trong nhà lồng chợ Lấp Vò, thời thuộc Pháp, nhiều
người bị Tây bắt chặt đầu, xác thả trôi sông và lấy đầu treo đầy cây tre trong
nhà lồng chợ. Ngày xưa, nghe ông già bà cả kể, nơi chợ quận này có thằng Tây ác
dữ lắm, biết bao gia đình là nạn nhân của nó, bị chặt đầu mà kinh hồn.
Ngã ba vàm Tân Bình và Xáng Lớn (Lấp Vò, Sa Đéc)
Nếu bạn qua sông bằng con đò chèo nơi bến đò Chợ Cũ để về Cái Tàu
hoặc bạn bắt đầu rẽ tay mặt nơi có ngôi nhà xưa của anh Sáu Louis chuyên chụp
hình rất đẹp nằm cạnh bến đò vào những năm 1950-1960 để về làng Tân Bình, Bồ
Hút, Gia Vàm, Thủ Ô, lúc bấy giờ nơi bến sông này có ông Tú Thường mưa nắng bao
mùa chèo đò đưa rước khách sang sông và bạn bồi hồi nhớ lại câu ca vọng cổ ngày
nào và nhớ về một kiếp người lăn lóc cùng sông nước qua bao mùa mưa nắng:
“Còn nước mơ màng mây vẫn vơ
Thì còn ông lão với con đò
Có tiền mua lấy vài chai rượu
Nhắp rượu xong rồi lão nói thơ
Thơ Vân Tiên
Thì còn ông lão với con đò
Có tiền mua lấy vài chai rượu
Nhắp rượu xong rồi lão nói thơ
Thơ Vân Tiên
Linh đinh trời rộng sông dài
Đò ngang một chiếc lần hồi sớm trưa
Chiều rồi nghỉ một chuyến mưa
Nằm nghe lá rụng như mưa trên đò
Cơm ngày hai bữa cầu no
Dám đâu bàn chuyện cơ đồ viễn vông
Đời này có cũng như không
Sớm còn tối mất bận lòng mà chi
Đò ngang một chiếc lần hồi sớm trưa
Chiều rồi nghỉ một chuyến mưa
Nằm nghe lá rụng như mưa trên đò
Cơm ngày hai bữa cầu no
Dám đâu bàn chuyện cơ đồ viễn vông
Đời này có cũng như không
Sớm còn tối mất bận lòng mà chi
Nói lối:
Còn nước còn non thì nơi bến cũ vẫn còn trơ một
ông lão …
1. …
đưa đò. Sông nước miền quê như say theo tiếng hát câu hò. Trên con thuyền cũ kỹ
ai muốn sang bến sông này lão đưa rước giùm cho, tiền bạc trả công chẳng nệ ít
hay nhiều, lão chỉ cần ngày hai bữa mà thôi, bởi lão đây yêu quý con đò
như thiên hạ họ yêu một người tình lý tưởng …”(9)
Và rồi bạn chợt nghe một điệu hò quen thuộc của ông lão chèo đò mà
như tiếng vọng từ trái tim mình:
Hò ơ…
Nước giữa dòng có khi trong khi đục
Người ở đời có lúc nhục lúc vinh
Gẫm ai vô sự như mình
Đò ngang một chuyến
Hò hơ …
Đò ngang một chuyến mặc tình nắng mưa .”(10)
Nước giữa dòng có khi trong khi đục
Người ở đời có lúc nhục lúc vinh
Gẫm ai vô sự như mình
Đò ngang một chuyến
Hò hơ …
Đò ngang một chuyến mặc tình nắng mưa .”(10)
Tiếp tục, xin được mời bạn đi theo con đường lộ đá cũ lồi lõm này,
bạn sẽ về Cái Tàu Thượng, Tòng Sơn nơi sanh quán của Đức Phật Thầy Tây An. Ngôi
chùa Tòng Sơn bên dòng sông Cửu Long, cách Cái Tàu Thượng vài ba cây số về
hướng Đất Sét Nhỏ, là một ngôi cổ tự mà nhiều thập phương bá tánh về đây hành
hương, cầu nguyện Phật Thầy . Nhưng có lẽ bạn sẽ qua rạch Xẽo Môn, nơi ngày xưa
trồng khoai môn nổi tiếng vùng này, nơi mà Phật Thầy trị bịnh, cứu nhơn độ thế
làm cho nhiều người khỏi chết vì bịnh dịch vào những năm đồ khổ, dịch bệnh. Dọc
theo con hương lộ đá từ Mương Kinh về Cái Tàu Thượng những vườn trầu vàng, lá
trầu non mượt, rải rác khắp một vùng làng quê lao xao theo cơn gió hiu hiu. Bạn
sẽ gặp những cô thôn nữ hái trầu đem bán những phiên chợ quận với đôi má hây
hây, tình tứ mà trầm trồ và buộc lòng bạn nhớ lại câu ca dao quen miệng mà giật
mình:
"Trồng
trầu thì phải khai mương,
Làm trai hai vợ, phải thương cho đồng."
Có lẽ An Giang là xứ sở của cổ tích, của huyền thoại thật sự của
vùng đồng bằng thuộc hạ lưu sông Cửu Long, mà bạn khó bắt gặp bất cứ nơi nào
khác có những nét đặc thù tương tự vào những ngày tháng cũ. Nhờ hội đủ ba yếu
tố thiên thời, địa lợi và nhơn hòa, An Giang có một thời đã mang tặng cho bạn
cái nét đẹp của những cánh đồng lúa mùa bao la bát ngát với những biển lúa chín
vàng đồng, những bến nước hữu tình, những dòng sông đầy cá tôm, những vườn cây
ăn trái ngào ngạt hoa thơm trái chín và một tấm lòng hiếu khách, hiền hòa ,
chơn chất của cư dân dọc hai bên bờ dòng An Giang mát mẻ, ngọt ngào, quả từ rất
lâu, từ những năm tháng cách nay hơn năm sáu mươi năm, An Giang đã mang đến cho
bạn một món quà rất đẹp và nhiều ý nghĩa rồi vậy!.
Phụ chú:
1/ Dạo Chơi Tuổi Già của Sơn Nam, NXB Trẻ, năm 2003, trang
170.
2/ Hồi Ký (tập 2) của nhà văn Nguyễn Hiến Lê, nhà xuất bản Văn
Nghệ, California, Hoa Kỳ, trang 21.
3/ //Bảy Ngày trong Đồng Tháp Mười của Nguyễn Hiến Lê, loại sách
Học Làm Người, 1954, trang 99.
4/ Việt Sử Tân Biên (tập 5) của Phạm Văn Sơn in lần đầu tại Thư
Lâm ấn quán, năm 1962, trang 208.
5/Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười (sđd), trang 86. Ngoài ra, theo
cuốn Tân Châu Xưa của Nguyễn Văn Kiềm, qua tài liệu của ông Đặng Văn Ty thong
phán hồi hưu ở Châu Đốc thì ông Phan Văn Vàng, tục gọi “xếp Vàng”, người làng
Đa Phước, quận Châu phú, nay là xã này thuộc An Phú (Châu Đốc), thường năm ông
lên miệt sông lớn bên Miên bắt sấu về bán, đồng thời ông thấy người Miên có
trồng giống lúa nổi rất trúng, nên mua về trồng thử và kết quả trúng mùa;
do vậy dân vùng Tân Châu Châu Đốc qua Miên mua giống về trồng. Nhưng theo Địa
Phương Chí Tỉnh An Giang, trang 27, thấy ghi ông Phó Tổng ở Đốc Vàng Hạ (Long
Xuyên) là người tìm ra giống lúa sạ trước nhứt”(Tân Châu Xưa của Nguyễn Văn
Kiềm & Huỳnh Minh, 1964, nhà xuất bản Thanh Niên tái bản năm 2003, trang
54)
6/ Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười (sđd), trang 97.
7/ Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười (sđd), trang 93.
8/ Trang nhà TSCĐ.com, mục thơ, tác giả Nguyễn Hải Thệ-Ngy Do
Thái, (trích tập thơ Ảo Ảnh)
9& 10/ Bái vọng cổ “Ông Lão Chèo Đò” của soạn giả Viễn Châu,
Tuyển Tập Vọng Cổ, nhà xuất bản Trẻ, năm 2003, trang 88.
(Trích trong "Bến Bờ Còn Lại" ấn hành năm 2000).
(Trích trong "Bến Bờ Còn Lại" ấn hành năm 2000).
Dòng An Giang - Ánh Tuyết - YouTube
Dòng An Giang Ánh Tuyết - Nhaccuatui.com
Dòng An Giang - Anh Việt Thu - Ánh Tuyết
Ngày 19-8-1998
Lương Thư Trung


























Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét