Tám nữ sĩ đương đại
hàng đầu Ba Lan với tôi
Thực ra tôi mến mộ các tác phẩm của họ là vì đó là những
tác phẩm hay, giá trị văn học nghệ thuật cao, tôi thích, và tôi cảm nhận bạn đọc
của tôi cũng thích. Họ là những nhà văn thuộc phái nữ quyền, các tác phẩm của họ
đậm chất nữ quyền, khẳng định vai trò, vị trí của nữ giới trong xã hội và đấu
tranh cho quyền lợi của chị em.
Trong số trên 30 đầu sách dịch văn học Ba Lan đã ấn hành của
tôi, có nhiều tác giả là các nữ sĩ đương đại hàng đầu của đất nước Phượng hoàng
trắng này. Đó là Dorota Terakowska: “Hoang thai” (tiểu thuyết), “Quà của Chúa“,
(tiểu thuyết – NXB Phụ nữ); Katarzyna Grochola: “Xin cạch đàn ông!”, “Các người
khắc biết tay tôi!” (tiểu thuyết – NXB Hội Nhà văn, Công ty Nhã Nam); Katarzyna
Michalak: “Hy vọng” (tiểu thuyết – NXB Hội Nhà văn, Đông Tây); “Người đàn bà vô
gia cư” (tiểu thuyết – NXB Phụ nữ); Hanna Samson: “Vợ chưa cưới chủ nhật”
(tập truyện ngắn, NXB Phụ nữ); Olga Tokarczuk: “Người đàn bà xấu nhất hành tinh”
(NXB Lao Động, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông – Tây); Monika
Warnenska – Cầu trên sông Bến Hải (NXB Phụ nữ); Wislawa Szymborska – thơ –
NXB Phụ nữ; Maria Kruger: “Vì sao không nghe thấy giọng cá” (NXB Kim Đồng).
Phải chăng đây là cơ duyên? Thực ra tôi mến mộ các tác phẩm của họ là vì đó là những tác phẩm hay, giá trị văn học nghệ thuật cao, tôi thích, và tôi cảm nhận bạn đọc của tôi cũng thích. Họ là những nhà văn thuộc phái nữ quyền, các tác phẩm của họ đậm chất nữ quyền, khẳng định vai trò, vị trí của nữ giới trong xã hội và đấu tranh cho quyền lợi của chị em. Đặc biệt nữ nhà văn – nhà báo Monika Warnenska và nữ nhà thơ Wislawa Szymborska là những nữ sĩ Ba Lan đã từng hết lòng ủng hộ cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc của nhân dân ta, điều được thể hiện rõ trong các tác phẩm của họ.
Monika Warnenska
Có một người phụ nữ Ba lan từng tuyên bố: „Việt Nam là Tổ quốc
thứ hai của tôi”. Người phụ nữ đó chính là nhà văn, nhà báo Ba Lan, bà Monika
Warnenska. Mùa xuân năm 1962 bà sang Việt nam lần đầu tiên, khi Việt nam đang bị
chia cắt làm hai miền Nam Bắc và kết quả của chuyến đi này là tác phẩm Cầu
trên sông Bến Hải. Sau chuyến đi năm đó bà có cảm tình đặc biệt với Việt Nam,
qua lại Việt Nam rất nhiều lần, thời chiến cũng như thời bình.
Một người phụ nữ châu Âu nhỏ nhắn như bà mà dám lặn lội tới
những vùng chiến sự ác liệt nhất, điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt nhất ở Việt
Nam. Bà đã từng ngồi trong địa đạo Vĩnh Linh viết bài dưới làn pháo địch, đi khắp
vùng khu bốn ngổn ngang đổ nát do bom thù gây nên. Năm 1965 bà vượt tuyến (sông
Bến Hải) vào Nam, bà đi xuyên rừng, bất chấp bom rải thảm của pháo đài bay B52,
coi khinh muỗi vắt và gai nhọn của cây rừng, thăm vùng giải phóng.
Bà táo bạo tới độ, có lần từ rừng sâu bà đi cùng các chiến sĩ
quân giải phóng đột nhập vào tận cửa ngõ Sài Gòn. Chưa hết, năm 1969 bà đổi họ
tên Ba Lan, mang danh một nhà báo Pháp, thâm nhập vào tận Đô thành Sài Gòn để
săn tin, viết bài. Đối phương chẳng hề hay biết, người nữ phóng viên ngoại quốc
này cách đó không lâu đã từng hiện diện ở Hà Nội, được gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng
và Đại tướng Võ Nguyên Giáp, rồi từ Bắc đã Vượt tuyến vào Nam, đi khắp vùng giải
phóng.
Không kể một số lượng lớn các bài báo, tin tức cặp nhật tình
hình Việt nam mà bà đã gửi về nước cho báo chí Ba Lan và cả châu Âu, bà Monika
Warnenska đã viết hàng chục cuốn sách về Việt Nam, trong số đó phải kể đến Cầu
trên sông Bến Hải (1962), Việt Nam trong trái tim tôi, Mặt trận trong
rừng (1965), Khu Bốn (1967), Con gái Ngài thượng quan (1975), Không
có hòa bình cho đồng quê (1987) vv…
Khi tuổi cao sức yếu bà vẫn không dừng tay viết về Việt Nam. Cuốn sách cuối cùng về Việt Nam của bà có tiêu đề: “Vương quốc bị lãng quên” – viết về Vương quốc Champa từng tốn tại ở vùng đất phía nam nước ta.
Wislawa Szymborska – Nobel văn học 1996.
Trong thời gian trên năm mươi năm cầm bút, W. Szymborska chỉ
sáng tác trên 200 bài thơ, nhưng đó là những tinh hoa đã vượt qua sự chọn lựa
vô cùng khắt khe của tác giả. Bà là một nhà thơ cực kỳ khiêm tốn, bà không
thích xuất hiện trên tivi, trên báo chí, không thích xuất hiện trước đám đông.
Nếu chúng ta muốn biết về bản thân bà thì chỉ còn có cách phải
đọc ra ở trong thơ bà, bởi không bao giờ bà thổ lộ hoặc giải thích tiểu sử của
mình. Khi rất cần thiết, như khi nhận giải thưởng Nobel, thì bà mới đọc một bài
phát biểu không dài, chỉ đề cập đến thi ca và sự nghiệp sáng tác của bà.
Đối với Việt Nam, từ lâu nữ nhà thơ Wislawa Szymborska đã là
một người bạn chân tình. Những tình cảm của bà dành cho Việt Nam, nhất là những
người mẹ Việt Nam chịu nhiều mất mát, đau thương trong chiến tranh, đã được thể
hiện rất xúc động trong hai bài thơ Việt Nam và Lá chắn do bà sáng tác. Năm
2005, trong thời gian dự Hội nghị những người dịch văn học Ba Lan trên thế giới,
tại nhà hát Slowacki cổ kính ở cố đô Krakow, tôi có cơ hội được gặp bà trong buổi
lễ trao giải thưởng Transatlantyk – Con tàu xuyên Đại Tây Dương cho dịch giả
văn học Ba Lan xuất sắc nhất.
Tôi tự giới thiệu, tôi là dịch giả Việt Nam, bà thốt lên: Việt Nam! Tôi biết Việt Nam từ lâu, và tôi còn làm thơ về Việt Nam nữa đấy. Bà cảm ơn về việc các dịch giả Việt Nam đã dịch thơ của bà sang tiếng Việt và bà đề nghị tôi chụp ảnh chung với bà. Tấm ảnh đầy kỷ niệm này tôi đang treo trang trọng tại nhà tôi.
Dorota Terakowska
Tiểu thuyết “Hoang thai” là cuốn tiểu thuyết Ba Lan đầu
tiên tôi đã chọn dịch, năm 2007, dày gần 600 trang, tác giả là nữ nhà văn
Dorota Terakowska. Trong một bài phỏng vấn, phóng viên báo Văn nghệ Trẻ (số 4,
ra ngày 28.01.2007) đã hỏi tôi: Lại nói về tác phẩm Hoang thai, tại sao
ông chọn dịch tác phẩm này mà không phải là những tác phẩm ăn khách, sốt độc giả
khác? Tôi đã trả lời: Tôi chọn tác phẩm Hoang thai vì tác phẩm này
mang tính thời sự và tính nhân văn rất cao. Tôi nghĩ, sẽ rất hợp với bạn đọc Việt
Nam.
Câu chuyện mà tiểu thuyết Hoang thai đề cập vừa mới
xảy ra trong năm đầu tiên của thế kỷ này, năm 2001, tại một thị trấn nghèo ở
phía Nam Ba Lan, trong một gia đình của đôi vợ chồng ở tuổi trung niên, Teresa
và Jan. Ewa cô con gái đầu lòng của họ, nhân vật chính của tiểu thuyết, ao ước
được lên thành phố lớn sinh sống, thoát khỏi cái nghèo tỉnh lẻ, mơ ước về một mối
tình có thể đổi đời mình như trong phim Mỹ. Sau những giây phút ngộ nhận,
trẻ người non dạ, trong đêm giao thừa, cô gái mười chín tuổi đầu đã bị cưỡng
dâm và mang thai. Cô gái đã không phá thai theo lời khuyên của mẹ. Trái lại, cô
coi cái thai là của riêng của mình, để tâm tình, trò chuyện, cùng Thai
khám phá thế giới. Ba lần lặn lội đi tìm người cha của đứa bé cho thấy tính
cách, cái tâm và cái tình của Ewa đối với Thai của mình.
Hoang thai mang hơi thở của cuộc sống hiện đại, là bức
thông điệp dành riêng cho các bạn trẻ, nhất là các bạn nữ ở tuổi mười tám đôi
mươi, theo đó họ cần nhìn nhận thế giới một cách tích cực, phải thực tế, hai
chân luôn luôn phải đạp đất mỗi khi kỳ vọng điều gì, không nên viển vông, ảo tưởng,
để tránh phải trả giá khôn lường. Mặt khác cũng phải biết đương đầu với những
biến cố, cam go của cuộc đời và mạnh mẽ vươn lên. Đọc Hoang thai chắc
các bạn trẻ ở tuổi vào đời sẽ có lắm nỗi niềm.
Tiểu thuyết “Quà của Chúa”
Sau khi ấn hành, tiểu thuyết Hoang thai được bạn đọc
trong Nam ngoài Bắc mến mộ, tôi phát hiện ra, nữ nhà văn Dorota Terakowska còn
có một tác phẩm khác được người đọc Ba Lan yêu thích, cho đây là một trong những
cuốn tiểu thuyết hay nhất, được họ thích nhất trong thập niên cuối thế kỷ XX đầu
thế kỷ XXI. Một số người còn cho đây là một kiệt tác văn chương. Có một điều chắc
chắn, ngay sau khi ấn hành, Quà của Chúa đã trở thành thiên tiểu thuyết
best-seller hàng đầu, liên tục được tái bản với số lượng bản in rất lớn, được dịch
ra nhiều thứ tiếng nước ngoài. Và thế là tôi hăm hở dịch tác phẩm này, để có
thêm một tác phẩm giúp người đọc Việt Nam khẳng định tài năng của nữ nhà văn.
Tháng 6 năm 2009 NXB Phụ nữ ấn hành tiểu thuyết Quà của Chúa, thì ngay sau
đó, quý I. 2010, đã tái bản tác phẩm này, để đáp lại yêu cầu và sự mến mộ của
người đọc nước nhà.
Bản dịch tiểu thuyết Quà của Chúa đã được nhận bằng khen của Hội Nhà văn Việt Nam, trong khuôn khổ Giải thưởng văn học hàng năm năm 2010 của Hội Nhà văn Việt Nam. Tác phẩm văn học này cũng đã được Đài tiếng nói VIệt Nam đưa lên sóng, trong Chương trình đọc truyện đêm khuya dài kỳ.
Katarzyna Grochola -Tiểu thuyết Xin cạch đàn ông!
Xin cạch đàn ông! Nghe câu này chắc giới mày râu hoảng hồn.
Thế mà chị Judyta đã tuyên bố xanh dờn như vậy đó. Mà đâu chỉ có vậy. Người đàn
bà này còn chua thêm một câu nghe rởn cả tóc gáy: Tất cả đàn ông đều cùng một
giuộc. Chị Judyta là ai mà dám bạo mồm tuyên bố như vậy? Xin thưa: Chị Judyta
là nhân vật chính của tiểu thuyết Xin cạch đàn ông!
Tiểu thuyết Xin cạch đàn ông! chứng tỏ nghị lực của một
người phụ nữ bị chồng ruồng bỏ. Chồng ruồng bỏ, đau khổ thật đấy, khốn khó thật
đấy, nhưng không phải là đời đã nát tan, trái lại một cuộc sống mới bắt đầu.
Song để vượt lên chính mình, để có cuộc sống mới, người phụ nữ phải “đổ mồ hôi,
sôi nước mắt”, phải tự mình cáng đáng hết thảy mọi việc, kể cả việc xây nhà, vốn
là công việc nặng nhọc của đàn ông. Sau mỗi lần thất bại “qủa bom nghị lực” của
Judyta lại bùng nổ, đem tới cho chị sức mạnh mới. Chị không sợ thất bại, vẫn
không từ bỏ giấc mơ hoàng tử cưỡi ngựa trắng sẽ có ngày xuất hiện trước cửa nhà
mình. Tại sao không. Con người ta ai cũng có quyền mơ ước, bởi chính ước mơ cho
ta thêm nghị lực, làm cho đời đẹp hơn và thi vị hơn. Nhưng điều quan trọng là
phải biết nắm lấy vận mệnh của mình và dám đương đầu với thử thách, cam go.
Judyta đã dám làm như vậy và chị đã được đền đáp. Chị xây được nhà mới, lo được
cho con gái học hành tử tế, chị thành công trong công tác với tư cách là một
biên tập viên, thậm chí còn được khen thưởng, và chị lại làm đẹp, lại yêu…
Judyta đã không “cạch đàn ông”, chị “nói dzậy mà không phải dzậy”. Cuộc tình với
Hieronim đầy rủi ro, nhưng cuộc tình sau đó với Adam thì lại như là trời cho.
Cuộc tình của Judyta và Adam là cuộc tình “rổ rá cạp lại”, nhưng vẫn lãng mạn,
nhiều nhung nhớ, lắm đợi chờ và có cả giận hờn, tựa mối tình đầu. Tiểu thuyết “Các
người khắc biết tay tôi”, của cùng một tác giả, kể tiếp câu chuyện tình
này.
Tại Việt Nam bản dịch tiểu thuyết Xin cạch đàn ông! đã
được NXB Hội nhà văn và Công ty Nhã Nam tái bản nhiều lần.
Tôi cũng xin gửi tới bạn đọc một thông tin thú vị về tác giả
này: năm 2013, trong dịp sang Warszawa dự hội nghị quốc tế về dịch văn học Ba
Lan, tôi có cơ hội gặp nữ nhà văn Katarzyna Grochola tại quán cà phê Milano,
nơi tôi đã trao tặng bà bản dịch tiểu thuyết “Xin cạch đàn ông!”. Cầm
cuốn sách trong tay bà nói: “Tôi vô cùng xúc động và biết ơn dịch giả khi tác
phẩm của tôi lần đầu tiên được dịch sang tiếng Việt, đến tay bạn đọc Việt Nam”.
Bà còn mách với tôi, bố bà từng sang Việt Nam công tác với tư cách là thành
viên đoàn Ba Lan Trong Ủy ban quốc tế về Giám sát và Kiểm soát đình chiến tại
Việt nam. Và bà nói: “Nhất định tôi sẽ sang thăm Việt Nam, một đất nước xinh đẹp,
nơi bố tôi đã từng đến”.
Katarzyna Michalak –Tiểu thuyết Hy vọng.
Hy vọng là câu chuyện tình đẹp nhưng nhiều thăng trầm, lắm trắc
trở, của Lila Borowa, cô gái Ba Lan, mồ côi mẹ, bố nhà nông, nghiện rượu và
Aleksei Dragonow, người Nga, mồ côi cả cha lẫn mẹ sau vụ nổ tại nhà máy điện
nguyên tử Trernobyl năm 1986, phải ở với dì.
Nét độc đáo của cuốn sách này, cuốn tiểu thuyết hiện đại, là ở
chỗ, nó thực đến đau lòng và rất đời. Bằng những dòng hồi tưởng giầu nội tâm, nữ
nhà văn Katarzyna Michalak đã kể cho chúng ta nghe câu chuyện đầy tính nhân
văn, xúc động đến trào nước mắt, về tình bạn và tình yêu, về giận và thương, về
lòng quả cảm và sự hy sinh mà mỗi người chúng ta đều có thể tìm thấy bóng dáng
cuộc đời mình trong đó.
Lila tựa hồ ngọn lửa, còn Aleksei như con thiêu thân. Mối
tình lắm gian nan và nhiều trắc trở của Lila và Aleksei cũng là định mệnh và lời
nguyền của đôi bạn trẻ này. Tình yêu trở thành nỗi ám ảnh, còn định mệnh trở
thành nỗi bất hạnh, và cả Lila lẫn Aleksei không thể hoặc không muốn cưỡng lại.
Cái còn lại vẫn chỉ là Hy Vọng. Tiểu thuyết viết về tình yêu có thể chiến thắng
tất cả, về lòng căm thù có thể hủy diệt tất cả và về nỗi cô đơn mà không ít người
trong chúng ta từng nếm trải. Hãy nghe Lila nói về nỗi cô đơn của mình.
Bản dịch tiểu thuyết Hy vọng, NXB Hội Nhà văn và Trung
tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây ấn hành hành đã được tặng Giải thưởng Văn học Hội
Nhà văn Hà Nội năm 2014.
Tiểu thuyết Người đàn bà vô gia cư, đây là cuốn tiểu
thuyết thứ hai của Katarzyna Michalak tôi chuyển ngữ sang tiếng Việt, cũng do
NXB Phụ nữ ấn hành, năm 2017. Thông điệp của cuốn sách này có tầm vĩ mô, đó là
vấn đề bảo vệ phụ nữ và trẻ em, một vấn đề trọng đại không riêng của một quốc
gia nào. Là một tiểu thuyết giàu tính nhân văn, “Người đàn bà vô gia cư” đề cập
vấn đề thời đại trong một câu chuyện cụ thể, một câu chuyện có lắm rắc rối
trong quan hệ gia đình, nhiều bất ngờ trong tình yêu và tình bạn… Nhiều kịch
tính chính là nét đặc trưng của tác phẩm này. Ngay từ những dòng đầu tiên của
tiểu thuyết người đọc đã liên tục bị bất ngờ, bị ngạc nhiên, nhiều tình huống
khiến cảm xúc dâng trào đến ứa lệ. Câu chuyện này có lẽ không xa lạ với mỗi người
chúng ta. Chính yếu tố bất ngờ, lắm khi ly kỳ, xảy ra liên tục, đã khiến cuốn
sách có sức cuốn hút mà hễ đã bắt đầu đọc là ta phải đọc đến cùng.
Tiểu thuyết “Người đàn bà vô gia cư” đã đoạt giải cuộc thi “Cuốn sách hay nhất mùa hè 2013” ở Ba Lan, thể loại tiểu thuyết tâm lý xã hội.
Hanna Samson – Vợ chưa cưới chủ nhật, tập truyện ngắn,
NXB Phụ nữ ấn hành.
Hanna Samson là nữ nhà văn, nhà tâm lý học, nhà nữ quyền Ba
Lan. Tiểu thuyết, kịch và truyện ngắn của bà thường viết về những người phụ nữ
đi tìm cái tôi của mình, về đề tài tình yêu và tình dục, về cuộc sống vợ chồng,
về gia đình và về số phận lắm khi trớ trêu của nữ giới. Đó là những tác phẩm đậm
tính nữ quyền (feminism), viết khá bạo tay, dám nhìn thẳng vào sự thật, dù đó
là sự thật phũ phàng. Các nhân vật nữ biết yêu hết mình, nhưng đồng thời cũng
biết “nổi tam bành hết mình”.
Cuốn “Vợ chưa cưới chủ nhật” của bà khẳng định
nhận định nói trên. Đây là một cuốn sách nửa cười nửa khóc, khi cay đắng, lúc
ngọt ngào, đi sâu vào mọi ngóc ngách của tâm hồn người. Đọc tập truyện này bạn
sẽ thấy chị em phụ nữ thật lắm nỗi niềm, khiến ta phải mủi lòng. Người đàn bà hết
thời xuân sắc có biết bao trăn trở, lo toan, thậm chí đau khổ vì cái sự “tàn
phai” của chính mình, điều đã khiến không ít chị em cho rằng, đó là nguyên do
khiến họ phải đứng nhìn hạnh phúc tuột khỏi tay mình mà đành bất lực, như ý
nghĩ của nhân vật nữ trong truyện Đẹp đôi vợ chồng.
Truyện ngắn Đẹp đôi vợ chồng in trong tập truyện này đã được Đài tiếng nói Việt Nam đưa lên sóng, trong chương trình đọc truyện đêm khuya của đài.
Olga Tokarczuk – Nobel văn học 2018.
Truyện Người đàn bà xấu nhất hành tinh đã được in
trên báo Văn Nghệ và được diễn đọc trong Chương trình đọc truyện đêm khuya của
VOV2 với lời bình: Bắt đầu nổi tiếng ở Ba Lan từ những năm cuối thập kỷ 90, nữ
nhà văn Olga Tokarczuk đã sớm định hình về phong cách viết. Đọc và nghe tác phẩm
của bà, người ta dễ bị thu hút bởi một thứ văn phong ma mị, thấm đẫm tinh thần
nhân văn và nữ quyền… Dĩ nhiên, truyện ngắn “Người đàn bà xấu nhất hành tinh”
cũng không nằm ngoài mạch nguồn đó. Thậm chí, truyện còn tạo ra những chiều
kích lạ lùng khi khai thác một cách hiệu quả tính thẩm mĩ của “cái xấu’, “cái dị
dạng”.
Sử dụng giọng kể lạnh lùng có phần dửng dưng, đôi khi tàn nhẫn,
của nhân vật gã, chồng của Người đàn bà xấu nhất hành tinh, cuộc đời ngắn
ngủi của nhân vật chính được tái hiện với nhiều bi kịch: không quê hương, không
nguồn cội, suốt cả cuộc đời phải đem khiếm khuyết ngoại hình của mình ra để mua
vui cho thiên hạ. Thậm chí cái gã đàn ông mà nàng yêu hóa ra cũng chỉ là một kẻ
giả dối. Chừng ấy thứ đã là quá nhiều khắc nghiệt, quá nhiều cay đắng và theo
lô gích thông thường người ta chờ đợi Người đàn bà xấu nhất hành tinh sẽ
gục ngã trước những ngón đòn ác độc của số phận. Nhưng lạ lùng thay, sau mỗi
câu văn, sự xấu xí về ngoại hình cứ dần mất đi, nhường chỗ cho sự tốt đẹp của một
tâm hồn cao thượng và một bản ngã vô cùng mạnh mẽ. Người đời có thể không coi
nàng như một đồng loại, nhưng nàng chưa bao giờ quên rằng, mình là một con người.
Chính ý thức mạnh mẽ đó đã khiến Người đàn bà xấu nhất
hành tinh sau cùng lại trở thành nhân vật người nhất trong truyện ngắn
này. Nàng biết yêu, thậm chí yêu một cách say đắm là đàng khác. Nàng biết đau nỗi
đau của tình mẫu tử và giàu tự trọng đến mức coi thường đám đông tò mò ác ý, và
có lẽ cũng vì thế mà cho đến khi nhắm mắt lìa đời nàng vẫn cứ làm một sinh linh
dị dạng, một cá thể đột biến, khi trót là người giữa một thế giới phi nhân
chăng?
Maria Kruger – Vì sao không nghe thấy giọng cá?
Đây là một cuốn truyện mỏng, dành cho thiếu nhi, in năm 1993,
là một trong những cuốn sách dịch đầu tiên của tôi. Tôi đã rất vui khi đọc những
lời phát biểu chân tình của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều về tác phẩm nhỏ dễ
thương này:
“Tác phẩm dịch đầu tiên của nhà văn, dịch giả Lê Bá Thự mà
tôi đọc là một cuốn sách cho thiếu nhi. Vào một ngày hè cách đây hơn 20 năm,
tôi dẫn hai đứa con đi hiệu sách. Trong rất nhiều những cuốn sách viết cho thiếu
nhi tôi đã chọn cuốn “Vì sao không nghe thấy giọng cá”. Cha con tôi chọn
cuốn sách này vì cái tên cuốn sách rất hấp dẫn. Đêm ấy, khi hai con tôi đã ngủ,
tôi đã lấy cuốn sách và đọc hết trong đêm. Lúc đó thực sự tôi mới biết tên dịch
giả Lê Bá Thự. Cũng từ ngày đó, tôi đã chọn ông là một trong những dịch giả của
mình. Sự lựa chọn ấy hoàn toàn đúng. Bởi trong suốt hơn hai mươi năm kể từ ngày
đó đến nay, tôi đã được đọc khá nhiều tác phẩm dịch của ông và những tác phẩm dịch
ấy đã mang lại cho tôi thêm một con đường đi tới nhận thức Cái đẹp và Con người”.
7/5/2023
Lê Bá Thự
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét