Tiếng lòng của nhà
thơ nông dân Hồng Thế
Sinh năm 1947 ở Trung Trạch, Bố Trạch (Quảng Bình), Hồng Thế
lớn lên cùng cánh đồng, lăn lóc cùng lúa khoai, rồi làm thơ từ… bao giờ. Chỉ biết,
năm 1973 ông trở thành hội viên Hội Văn học nghệ thuật Quảng Bình. Đến nay Hồng
Thế đã xuất bản bốn tập thơ: “Lời mùa thu” (1990), “Nến đồng” (2003), “Đi qua mỗi
ngày” (2010); “Cây không rễ” là tập thơ thứ tư của ông.
Tuổi thơ lớn lên với đồng bãi, ông là một “lão nông tri điền” thực thụ. Đọc “Cây không rễ”, vẫn mạch nguồn như các tập thơ trước, song cấu trúc cô đặc hơn, thi pháp mới mẻ hơn. Có lẽ, tuổi đời thêm chín, ông càng có nhiều phát hiện tinh tế, nhiều cảm xúc sâu lắng, đậm chất nông dân: Gắn bó với làng quê, thôn xóm, ruộng nương, công việc cày bừa, những trở trăn, xa xót cùng cây lúa, hạt ngô và băn khoăn thế sự.
Mở đầu, tác giả đã làm người đọc chú ý, bằng cách lấy tấm
gương và mướn danh nhà nho Nguyễn Công Trứ, để tự nhắc mình: Nghỉ hưu ông
Trứ về làng/ Cổ xe bò kéo bụi đàng ruỗi rong// Ừ thì như một cuộc chơi/ Tám
mươi cũng giống như thời hai mươi/ Đeo – đai – mũ – lọng vứt rồi/ Cần chi kiệu
– ngựa thảnh thơi xe – đò/ Cuộc đời như sợi lò xo/ Lên quan, xuống lính vẫn lo
dân hàn (Nguyễn Công Trứ). Ngẫm tiền nhân để nghĩ về mình, Hồng Thế không
chút ân hận. Suốt mấy chục năm gắn bó với ruộng đồng, trên cương vị “phó thường
dân” ông vẫn vậy, vẫn gần gũi và lo lắng cho người nông dân.
Ở tuổi 75, ông vẫn không buông cái nghề cao quý, “nghề cầm
cày”. Ông vinh hạnh vì điều đó, ông yêu cuộc sống này hơn cũng vì điều
đó: Trở về tay trắng bàn tay/ May còn lưỡi cuốc, lưỡi cày và tôi/ Đêm đêm
tiếng dế bên hồi/ Tri âm bầu bạn chẳng rời bỏ ta (Tấc lòng còn chút mà
ghi). Trong sự tất bật của nhà nông, đôi khi người ta ít để tâm những tình cảm
lãng mạn. Ông cho đó là nỗi buồn nhưng là “nỗi buồn bình dị”: Bởi vì anh
thầm ước/ được nhìn em pha trà/ được xem em đan áo/ được thấy em cắm hoa. Trong
cái cảnh tất bật của nhà nông: “Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa”, điều thầm
ước của ông chắc khó thành hiện thực. Nhưng rồi: Anh đến bên nỗi buồn/ xa
xăm trong mắt ấy// có nỗi buồn cao quý/ đẹp như một bài ca/ Nỗi buồn không trôi
dạt/ về góc bể chân trời/ nỗi buồn sâu lắng lại/ trong trái tim mỗi người (Nỗi
buồn bình dị).
Hồng Thế từng nổi tiếng với bài thơ “Đá Nhảy”. Ở thi tập này,
ông đề cập ba vị trí ở vùng đất Lý Hòa, mời gọi ta về một làng quê văn vật: Làng
ở giữa con sông và dãy núi/ Sông Lý Hòa và đèo cũng Lý Hòa// Làng ở giữa con
sông và dãy núi/ Giọng dẻo mềm cứ “giăng” “giứa” mà yêu/ Nơi đất học thành danh
nhiều khoa, giáp/ Nơi tuổi thơ tắm mát những câu Kiều// Nói sao hết bao nhiêu
là thương mến/ Nơi đất lành nở tím một loài hoa/ Nơi biển biếc, vầng trăng xanh
hò hẹn/ Tôi yêu làng như nơi đã sinh ra (Qua sông Lý Hòa gặp đèo Lý Hòa).
“Cây không rễ” là bài thơ được ông chọn làm tên sách. Chỉ mười câu lục bát, lối tách khổ “nhị cú”. Tác giả kéo ta về với làng quê sau vụ gặt, thời điểm đường thôn bề bộn rạ rơm và mùi thơm giòn của hương mùa, cho ta yêu, yêu đến da diết cái hình ảnh thân thương này: Cái cây không rễ thẳng ngay/ Trụ trời muôn thuở cắm ngày vào đêm/ Ôm quanh những sợi óng bền/ Sợi thơm của nắng sợi mềm của mưa… Ở khổ kết, tác giả đã nâng tầm giá trị của bài thơ, không chỉ ở những sợi rơm vàng, ở cây không rễ. Từ đây, cảm xúc của chủ thể trữ tình đã hướng đến những điều lớn lao, cao đẹp hơn: Thơm từ ngày xửa, ngày xưa/ Thơm từ chân ruộng mẹ vừa gặt xong (Cây không rễ).
Giếng nước, vật thể không thể thiếu trong đời sống thôn quê
Việt Nam: “Cây đa, giếng nước, sân đình” là mạch nguồn cảm hứng bất tận trong
thi ca. Giếng nước không chỉ cung cấp nguồn nước, mà còn giúp con người tắm gội
tâm hồn luôn thanh tao, sạch sẽ. Ở đây, tác giả muốn lấy câu chuyện ngụ ngôn “Ếch
ngồi đáy giếng”, ngầm phê phán những ai có thói quen tự cao, tự đại, cho mình
là hơn: Đường đời không hiểu ra sao/ Trông lên trời rộng còn cao lắm mà/
Tháng ngày tập tễnh đi qua/ Không đi hết cái sân nhà cỏn con/ Chưa ra khỏi những
lối mòn/ Làm sao biết quả đất tròn hay vuông (Đáy giếng). Bài thơ còn đưa
ra một thông điệp: Bạn cần thay đổi hoàn cảnh sống, tránh tụt hậu về khả năng
nhìn nhận khi bước vào môi trường mới.
Và đây, cái dấu chấm. Chỉ là cái dấu chấm cuối bài nhưng thiếu
nó, bài viết chưa hoàn hảo. Với ông, cái dấu chấm mang đầy ý nghĩa về cuộc đời
thi nhân: Cái dấu chấm sau cùng được hạ/ nhỏ như cái lỗ xâu kim/ lành sao
được bao lần chắp vá// Ngày còn dài đừng tuyệt vọng tôi ơi/ cái dấu chấm tròn
vo thấu đáo/ không làm được thợ thêu/ xin làm người vá áo (Dấu chấm). Xem
thơ ông, ta thường gặp những khoảng lặng, khiến người đọc nghẹt thở: Móc
khóa nhạc mở ra một bản nhạc// bao la trời đất/ cõi người// bấm nút đài/ hình ảnh
sống sao âm thanh chết/ những người câm múa may/ móc khóa nào khóa kín ta đây/
Điều giải bày bằng chân bằng tay/ chỉ bầm đau gan ruột/ làm sao nghe được tiếng
nấc sau vách ngăn/ xích dần xa xóm giềng, họ tộc (Khoảng lặng). Đi cùng sự
khám phá sinh động, trăn trở với đất đai, với những giọt mồ hôi nhuộm đẫm áo
nâu giữa trưa hè.
Ông ước mình là chú dế trú ngụ trong lòng đất, ở đó ông sẽ miệt
mài ca hát, sẻ san nhọc nhằn: Trả tôi về lại đất đai/ tôi làm con dế miệt
mài hát ca/ Hát cùng những hạt mưa sa/ Hạt rơi xuống giếng hạt ra ngoàì đồng/
Hát cùng cánh áo nâu sòng/ Mồ hôi tan chảy ròng ròng đang trưa// Sông còn chảy
núi còn ngồi/ Tôi còn duyên nợ rối bời rạ rơm (Tôi còn mưa nắng). Là thi
nhân, từng say với biển trời, yêu đảo xa, yêu đồng quê thân thuộc. Song chẳng
thể lấp đầy trong ông những ray rứt: Quê tôi vùng đồng bãi/ tôi thấm bùn từ
thuở chăn trâu/ mẹ một đời bền áo nâu/ bàn tay sạm màu nắng cháy// Bây giờ làng
lên phố/ nhiều nhà thả ruộng hoang/ hạt giống đến mùa mơ tách vỏ/ xa xót/ tiếng
gà/ loang (Hạt giống chờ tách vỏ). Không đau đáu với đồng quê, làm sao ông
có thể viết nên những câu thơ gan ruột đến vậy!
Lớn lên bên những vú cát khổng lồ, Hồng Thế suy tư sâu sắc về
nỗi đời hạt cát mỏng manh, về những thân phận ngủ yên trong cát, những thân phận
phải xa cồn cát, có người chẳng nhớ chốn quay về: Cát vàng ai đắp nên cồn/
Bàn chân bước vấp nỗi buồn vùi sâu/ Nỗi buồn cứ bám vào nhau/ Tưởng rời rạc hóa
bền lâu với người// Chói chang dưới ánh mặt trời/ Bao nhiêu nấm mộ nằm ngồi ngả
nghiêng// Mùa đông gió đẩy lên cao/ Mùa thu bão tố lại cào lấp đi/ Những cây dứa
dại gan lì/ Vì sao dứa lại ôm ghì cát khô/ Ai không nhớ một nấm mồ/ Về tìm cây
dứa dại khờ thắp hương (Mộ hoang).
Là người gieo hạt, Hồng Thế thổn thức lắng nghe, miên man
trong lòng đất, lời ru của dế, lời ca của gió và giấc mơ mùa vàng: Cả lời
chi sâu thẳm/ thân thuộc giữa tháng ngày/ lời quê hương nồng mặn/ trong hơi thở
luống cày/ Cả lời chi rạo rực/ tỏa lan khắp đất trời/ giấc mơ còn thổn thức/
mùa xuân đã cất lời (Lời hạt). Mang đậm chất nông dân, song thơ Hồng Thế đầy
tính phát hiện. Một triết lý hiện sinh được tác giả khắc họa, thông qua hình tượng
hai vị thần Thiện – Ác trong ngôi đền. Ba mươi năm trước, ba mươi năm sau vẫn
ông Ác mập mạp, ông Thiện gầy gò: Một nghìn năm/ rồi/ một vạn năm// sự đời
dâu bể chẳng lung lay (Trong ngôi đền). Mai sau, nào có đổi thay, người trụ
trì vẫn chắp tai vái: Thiện tâm! Thiện tâm!.
Những câu thơ đầu khổ được điệp lại nhiều lần, là khi lão
nông Hồng Thế đau đớn nhận ra Tổ quốc hình chữ S/ mỗi năm gánh chịu nhiều
cơn bão. Ông tin rằng, đất nước vững bền như bàn thạch/ cơn bão nào rồi
cũng đi qua. Song, với những cơn bão không theo quy luật đất trời, không đến từ
thiên nhiên mà đến từ giấc mơ của lòng tham, từ những bộ não chuyên nghĩ
cách đánh lận con đen/ bằng những ngôn từ thì trên dải đất hình chữ S
này, không thể nào để một tấc khuyết hao. Bài thơ chia bốn phần, được đánh số
thứ tự từ 1-4. Mỗi câu thơ như một tuyên ngôn chắc nịch, thể hiện thái độ,
trách nhiệm công dân: Tổ quốc hình chữ S/ non sông đất nước cha ông/ một tấc
quyết không cho giặc cướp/ những cơn bão đang rình rập giữa biển/ chưa thể nói
là cơn bão đã đi qua ( Bão biển).
Trong chuỗi cảm nhận của một nông dân làm thơ, Hồng Thế xúc động
khi đến thăm những làng trẻ, nơi nỗi đau chất độc da cam/ quằn quại. Ông
đã gọi vang lên: Con người có nghe tiếng của con người/ những tiếng kêu
đang gióng thính từng hồi. Người kiệm ngôn như ông, cũng đã thốt lên tới
ba lần: “Hãy đến…”. Đến để nhìn các em cười méo cả miệng/ nhìn các em
đi lệch cả đời/ chiến tranh đã lùi xa rồi/ nỗi đau tồn tại/ chất dioxin còn ngấm
vào cốt tủy nhân loại/ mấy đời? (Nỗi đau da cam). Cũng từ những chiêm nghiệm
khá tinh tế, qua hình ảnh em bé đồng nát, ông viết: Có những vật bị quẳng
đi từ bàn tay người này/ lại được nhặt lên từ bàn tay người khác// xó chợ, bãi
rác điểm dừng/ một cuộc hành trình không hẹn ước. Có lúc ông tự bạch: Tôi
mưu sinh từ lưỡi cày lưỡi cuốc/ từ nắm đất khô cắn/ từ nỗi nhọc nhằn kiếp trước/
em bé nhặt ve chai không nhà/ tìm lấy một đồng từ xó chợ nhà ga. Sau cùng
ông tự vấn, thêm nhức nhối thế nhân: Phố thị đèn màu, nhà cao, máy lạnh/
phố thị lầm than những hẻm không đèn/ em bé nhặt ve chai/ cam go từng sọt rác/
ta nhân từ hay ta độc ác/ quẳng ra giữa đời những mảnh vở ve chai? (Em bé
nhặt ve chai).
Một trái xoài xanh, nó lay lắt, mong manh. Hôm qua nó muốn rụng
quá nhưng không sao rụng được. Thế rồi, sáng nay không còn muốn rụng nữa/
nắng chuyền cành, lảnh lót chim xanh/ mỗi chồi tơ thắp lên mỗi chồi lửa/ trái
xoài xanh con mắt long lanh (Trái xoài xanh). Với chủ thể trữ tình là trái
xoài, tác giả đã đề cao khát vọng sống cho tất cả chúng ta. Trong bối cảnh của
tự nhiên: nắng chuyền cành, lảnh lót chim xanh/ mỗi chồi tơ thắp lên mỗi
chồi lửa, trái xoài kia con mắt long lanh, tứ thơ đắt giá này đã mang đến quan
niệm sống đầy khát vọng. Được tham gia trại sáng tác, nhiều người đã viết về những
chú thiên nga trên hồ, song ông có lối viết rất riêng: Chỉ biết bơi mà
không biết bay/ bảng lảng chiều vàng Đại Lải/ sóng nỗi niềm gợn nhớ xa xanh/
trước khi về đây thiên nga bị vặt trụi cánh rồi/ trời xanh thành ước vọng/ chẳng
màng giàu sang chỉ cần đôi cánh/ bay lên bầu trời khoáng đạt tự do (Trò
chuyện với những con thiên nga trong hồ Đại Lải).
Cày ruộng và gieo trồng, uống chè xanh, đọc sách và làm thơ.
Tuổi bảy lăm, ngòi bút Hồng Thế vẫn không ngừng sáng tạo. Tâm hồn ông vốn nhạy
cảm, giàu rung chấn. Mỗi bận người thơ ứa lệ, chính là lúc ông chộp được những
tứ thơ hay, những câu thơ xương tủy: Bạn ơi thơ viết mấy bài/ ủ men thành
rượu rót chai thòm thèm/ ruộng vườn cỏ rả lem nhem/ buồn vui tĩnh lặng ngọn đèn
khêu khuya/ Hạt mưa cuối nẻo đường về/ lặng im ớn lạnh dầm dề tủy xương/ đã từng
gối đất nằm sương/ sá chi chút bụi ngày thường đeo đai/ Bạn ơi, cày cuốc còn
dài/ nỗi niềm xin gửi cùng chai rượu này/ mấy khi lả chả được say/ lệ thơ rụng
đỏ xác cây lộc vừng (Lệ thơ)…
Tập thơ còn dung chứa bao nỗi niềm, ưu tư, nhung nhớ, hoài vọng
trong các thi phẩm: “Chiếc lá”, “Hòn Chồng Hòn Vợ”, “Núi kia và cỏ và trăng”,
“Trái chín”, “Hương ngò gai ơi!”, “Hoa xuyến chi”, “Một tôi”, “Chân thật Thị Mầu”…
Hồng Thế thường lấy cô đơn làm bạn đồng hành, từ trong cô đơn nhà thơ có những
cái nhìn thấu suốt về thế sự, về lẽ đời của kiếp nhân sinh. Đọc “Cây không rễ”,
sản phẩm tinh thần của một nông dân, một lão nông được trời phú hai món hồi
môn: Tình yêu đồng quê, sống chết với đồng quê và tình yêu thi ca, văn học.
Năm mươi năm trở thành văn nghệ sỹ, ông viết đều nhưng in
thưa, điều này còn phụ thuộc nhiều lý do, trong đó điều kiện về kinh phí là chủ
yếu. Ông in thơ không hề để bán. Ông nhận nhiều của bạn bè, đồng nghiệp khắp
nơi nên chủ yếu in để tặng. Ngoài việc đăng tải trên nhiều báo, tạp chí văn nghệ
trong cả nước, ông còn có mặt ở 18 tuyển tập của các tỉnh, thành phố và Trung
ương, cho thấy sức viết và tinh thần tiếp nhận đối với thơ ông. Dẫu vậy, lão
nông Hồng Thế chưa bao giờ thỏa mãn với mình. Ông bùi ngùi thú nhận: Tôi
như chiếc lá vàng xa nguồn cội/ Rụng xuống vườn trưa ngủ ngon lành/ Lăn lóc
trong mơ hòn sỏi cuội/ Tuổi thơ ai đã đánh rơi mình (Trưa lặng).
1/12/2022
Nguyễn Tiến Nên
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét