Thơ Hồ Xuân Hương và sự tiếp nhận của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học miền Nam 1954 – 1975
Nhận xét về tiếng cười trong thơ Hồ Xuân Hương, Bùi Giáng cho rằng: “Cái cười của nàng cũng như cái khóc của Nguyễn Du, vừa đau thương vừa an ủi. Hai thiên tài của đất nước đã chỉ cho ta hai lối thoát ly, tuy xa biệt nhau mà cũng giống nhau trong tác dụng.
1. Mở
Hồ Xuân Hương, một trong những thi tài độc đáo của văn học nước
nhà mà không người Việt nào, lại không thuộc, ít nhất một bài thơ của Nữ sĩ. Bởi,
thơ bà gần với tục ngữ, ca dao, với lời ăn tiếng nói của người bình dân nhưng để
hiểu thơ Hồ Xuân Hương, không phải là điều đơn giản. Thế nên, thơ Hồ Xuân Hương
là một vũ trụ đầy “bí mật” cần được khai mở. Và tôi rất đồng cảm với Nguyên Sa
Trần Bích Lan, trong bài viết: “Hồ Xuân Hương – Người lạ mặt”, khi
ông cho rằng: “Sự thất bại ta đã bắt gặp trong khi tìm hiểu Hồ Xuân Hương. Tìm
hiểu nhưng không bao giờ đạt tới. Hồ Xuân Hương người thi sĩ quen thuộc của người
Việt Nam sẽ vĩnh viển là một người lạ mặt trước những kẻ đi tìm kiếm người” . Từ
góc nhìn lý thuyết mỹ học tiếp nhận, việc hiểu và cảm tác phẩm văn học luôn
tương thích với quá trình biến đổi của đời sống xã hội và tầm đón đợi của người
đọc. Và nói như Đặng Tiến: “Yêu một tác phẩm nghệ thuật, giống như yêu một người
đàn bà ở điểm là mỗi lần yêu chúng ta khám phá ở người tình một trinh tiết mới.
Yêu một tác phẩm là sáng tạo một trinh tiết mới cho tác phẩm (…) Vì ở cuối dự định
trở về một tác phẩm, người đọc sẽ bắt gặp một tác phẩm khác. Tác phẩm tự nó đã
thay đổi ý nghĩa với thời đại và người đọc tự họ cũng thay đổi nhãn quan với thời
gian. Niềm vui phóng khoáng mỗi lần khám phá như thế chính là yếu tính của nghệ
thuật trong tác phẩm và khả năng lĩnh hội nghệ thuật trong độc giả”. Bởi lẽ,
tác phẩm văn học không bao giờ là một công trình hoàn tất. Nó “là một sáng tạo
không ngừng vì luôn luôn nó có thể mặc những ý nghĩa mới mà người đọc gán cho
nó” . Cho nên, việc Nguyên Sa – Trần Bích Lan cho rằng “Sự thất bại ta đã bắt gặp
trong khi tìm hiểu Hồ Xuân Hương. Tìm hiểu nhưng không bao giờ đạt tới…”.
cũng là điều tất yếu. Bởi, việc đi tìm Hồ Xuân Hương không chỉ là tìm hiểu cuộc
đời và thơ của một thi sĩ mà đó là việc tìm hiểu, khám phá cả một nền văn hóa
dân tộc tiềm ẩn trong thơ. Điều nầy sẽ được minh chứng qua tiếp nhận thơ Hồ
Xuân Hương của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học ở miền Nam 1954-1975.
2. Những bình diện tiếp nhận thơ Hồ Xuân Hương nhìn từ nội
dung tư tưởng
2.1.Hồ Xuân Hương – một thiên tài thi ca
Đọc những công trình nghiên cứu, phê bình về thơ Hồ Xuân
Hương trong văn học miền Nam 1954-1975, một điều dễ nhận thấy, phần lớn các nhà
nghiên cứu, phê bình đều xác quyết Hồ Xuân Hương là một thiên tài thi ca. Điều
nầy đã được minh chứng qua các bài viết về Hồ Xuân Hương trong văn học miền
Nam.
Nhận xét về tiếng cười trong thơ Hồ Xuân Hương, Bùi Giáng cho
rằng: “Cái cười của nàng cũng như cái khóc của Nguyễn Du, vừa đau thương vừa an
ủi. Hai thiên tài của đất nước đã chỉ cho ta hai lối thoát ly, tuy xa biệt nhau
mà cũng giống nhau trong tác dụng. Với Nguyễn Du ta ngồi lại bên đường dưới
bóng cây râm mát bên bờ suối trong, ta chờ bàn tay người mẹ hiền thấm nước rửa
rịt vết thương và chim trên cành vẳng giọng ca chia sớt… Lòng ta dịu lại vì
trong ta đau khổ, cả đất trời cảnh vật đã cùng ta lai láng cảm thông (…) Với Hồ
Xuân Hương, ta tìm lối thoát ly cho đau thương bằng một nẻo khác. Vết thương
loan máu, ta vẫn không được phép ngồi lại bên đường. Không có người mẹ hiền ngồi
bên ve vuốt. Chim trên cành không vẳng giọng cảm thông, mà lại lên điệu ca nhạo
báng. Và cảnh vật cùng lên giọng cợt cười: “Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám/
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn…” . Không những thế, trên cơ sở phân tích sự
khác nhau giữa cái cười của Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương, Bùi Giáng đã khẳng
định “Hồ Xuân Hương là một thiên tài trào phúng Việt Nam đã đi vào cõi bất diệt.
Cái cười của Hồ Xuân Hương mới thật là vừa hồn nhiên, vừa tươi trẻ, vừa sâu sắc
rộng lượng vô cùng. Nó không có tính cách thời sự và hẹp hòi soi mói như cái cười
của Trần Tế Xương. Nàng vẫn cười người rất tàn nhẫn; “Cái kiếp tu hành nặng đá
đeo/ Vị gì một tí tẻo tèo teo”. Nhưng tàn nhẫn mà không sâu độc, ác ý. Cái mới
thật là lạ. Chỉ vì lẽ nàng thương nhiều hơn ghét. Thương cho người và thương
cho mình” . Phải chăng, Bùi Giáng đã nhận ra phẩm tính nhân văn trong tiếng cười
của Hồ Xuân Hương!? Đó là tiếng cười bi thương trước một xã hội đầy những nghịch
lý và phi lý!?
Còn trong cái nhìn của Nguyên Sa Trần Bích Lan, xuất phát từ
điểm nhìn của lý thuyết mỹ học tiếp nhận, thiên tài của Hồ Xuân Hương chính là
sự thách đố việc giải mã của các nhà phê bình văn học đối với thơ của Nữ sĩ.
Theo Nguyên Sa : “Chúng ta đã thất bại trong việc bắt một nhịp cầu” nhưng ta
không làm được điều đó. Bởi, : “Người đọc đã đi thẳng tới Hồ Xuân Hương bằng một
con đường gần hơn con đường thẳng (…) Chúng ta bị đẩy vào trong cái tình cảm thất
bại sâu cay. Giải thích phê bình ta đã đi quá chậm”. Rồi, Nguyên Sa cho rằng:
“Lý do thất bại của chúng ta hiện ra ở chỗ Hồ Xuân Hương đã đạt tới chỗ vĩ đại
của thiên tài. Đó là điều tất nhiên. Nhưng ta phải nói thêm rằng thiên tài của
người chính ở chỗ đạt tới biên giới của tiếng nói” . Và trong suy niệm thấm đẫm
cảm thức hiện sinh của Nguyên Sa, Hồ Xuân Hương là “Sự vượt bực của thiên tài
trên mọi hoàn cảnh, sự thành công của tự do. Sự chiến thắng đó là chiến thắng của
con người trong hoàn cảnh. Những con người Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương vĩ đại cô
đơn”.
Hà Như Chi, trong cảm nhận của mình về tài năng của Hồ Xuân
Hương, tuy không định danh Hồ Xuân Hương là thiên tài như Bùi Giáng hay Nguyên
Sa, nhưng trong suy niệm của ông, thi tài của Hồ Xuân Hương cũng thuộc loại
“thượng thừa”, có giá trị đặc biệt. Theo ông “Cái phóng túng sắc sảo và mềm dẻo
trong tài nghệ của Xuân Hương rõ rệt hơn cả là ở trong loại thơ trào phúng của
bà. Xuân Hương là nhà thơ trào phúng lão luyện nên giọng văn thật có đủ lối.
Nghĩ về tài năng của Hồ Xuân Hương, Đỗ Long Vân, tuy vẫn công
nhận cái tài của Hồ Xuân Hương nhưng ông lại có một có cách nhìn khác, một sự cảm
nhận khác với các nhà nghiên cứu, phê bình ở miền Nam như: Bùi Giáng, Nguyên Sa
Trần Bích Lan, Hà Như Chi… khi ông nhìn nhận tài năng của Hồ Xuân Hương với một
tư duy triết học mang tính nhị nguyên. Theo Đỗ Long Vân: “Cái tài của Hồ Xuân
Hương ai mà không ca ngợi! Như nó có thể chuộc lại được cái tục của nàng. Hay
nói đúng hơn thì người ta đã tha thứ cái tục ấy như một phần của cái tài làm
thơ. (…) Cái phần đếm được ấy là cái người ta thường lấy để khen nàng là tài.
Và cái tài ấy có lẽ là cái phần đáng bỏ đi nhất trong thơ nàng, nếu nàng không
là người đầu tiên riễu nó và nếu người ta không biết rằng nó là tất cả những gì
còn lại cho nàng để tố giác một thế giới đã hết ân tình. Cho đến khi ân tình ấy
không còn nữa, nàng cũng quên đi, và quên cả tố giác, nàng cũng quên cả cái tài
của mình để, trong một cái nhìn lơ đãng, làm thế giới và, qua thế giới, ngôn ngữ
lại trở nên thái bình. Thành ra người ta có thể nói rằng, tài thì tài, Hồ Xuân
Hương vẫn đáng yêu”. Việc, Đỗ Long Vân có cái nhìn khác khi luận bàn về thiên
tài của Hồ Xuân Hương cũng là điều bình thường trong tiếp nhận văn học, nhất là
ở một xã hội mang tính đa nguyên về tư tưởng, chấp nhận mọi sự khác biệt trong
đời sống xã hội, trong đó, có sự khác biệt về khoa học như ở miền Nam giai đoạn
1954-1975. Sự luận giải về tài năng Hồ Xuân Hương của Đỗ Long Vân cho thấy ở
ông một tư duy tư biện sắc sảo, một năng lực cảm thụ văn học độc đáo, kết hợp
diệu kỳ giữa văn học và triết học. Thiên tài thơ Hồ Xuân Hương, theo Đỗ Long
Vân là một “nguồn nước ẩn” cần tìm hiểu, khám phá và sáng tạo, nhưng để giải mã
đến cùng là điều không dễ. Bởi, nói như Nguyên Sa: “Sự phân tỏa của những quan
niệm có thể là dấu hiệu của những tư tưởng súc tích, giàu mạnh nếu chúng ta
không bị đặt trước một thực trạng quen thuộc đến không ngờ, dấu hiệu của sự ly
khai, hố phân cách giữa những nhà phê bình và sức sống vượt bực của thiên tài”
. Và, một trong những dấu hiệu của thiên tài Hồ Xuân Hương là ý thức phản kháng
và khát vọng tự do mà các nhà nghiên cứu, phê bình ở miền Nam đã quan tâm luận
bàn.
2.2. Hồ Xuân Hương – nhà thơ cách mạng với ý thức phản kháng
và khát vọng tự do
Một trong những phẩm tính của thơ Hồ Xuân Hương là ý thức phản
kháng và khát vọng tự do mà có nhà nghiên cứu căn cứ vào các yếu tố nầy cho rằng
Hồ Xuân Hương là nhà thơ cách mạng. Song, đây là vấn đề còn có những ý kiến
khác nhau từ các nhà nghiên cứu, phê bình văn học miền Nam 1954-1975 khi tiếp
nhận thơ Hồ Xuân Hương.
Luận giải vấn đề ý thức phản kháng và khát vọng tự do trong
thơ Hồ Xuân Hương nhìn từ cái tôi bản thể của nữ sĩ, Hà Như Chi cho rằng: “Thơ
Hồ Xuân Hương phản chiếu đầy đủ bản ngã của Xuân Hương: Bản ngã ấy là một bản
ngã ưa tự do, nên lời thơ không uốn nắn đẻo gọt, không theo lề lối, mà đôi khi
xuôi ngược điên đảo ngang tàng”. Còn trong cái nhìn của Thanh Lãng, sở dĩ thơ Hồ
Xuân Hương thể hiện mạnh mẽ tinh thần phản kháng và khát vọng tự do, bởi, Hồ
Xuân Hương là con người: “coi khinh tất cả những cái gì gọi là cổ kính của xã hội
xưa (…) Sống để mà chơi, chơi để mà thù xã hội. Đời sống phóng nhiệm của nàng
là những nhát búa nặng bổ vào cái luân lý đã kiến thiết nên cái xã hội mà nàng
đang cảm thấy mình chỉ là một nạn nhân. Con người và cuộc đời Hồ Xuân Hương thể
hiện rất đúng bộ mặt thác loạn của thế kỷ XIII”. Từ góc nhìn xã hội học, theo
Thanh Lãng đọc thi phẩm Hồ Xuân Hương: “ta thấy bằng ấy hệ số, về thiên nhiên,
về xã hội, đã liên kết lại để ảnh hưởng sâu xa đến tư tưởng của nữ sĩ, khiến
nàng trở nên một tay cách mạng lật đổ luân lý cũ với những ý tưởng lãng mạn, và
một nhân sinh kỳ quái”. Với cách nhìn nầy, Thanh Lãng là một trong những nhà
nghiên cứu, phê bình văn học ở miền Nam trước 1975 đã định danh cho Hồ Xuân
Hương là nhà thơ cách mạng. Đây cũng là quan điểm của Bà Phương Lan trong Anh
thư nước Việt (từ lập quốc đến hiện đại) khi luận giải về nghệ thuật thơ Hồ
Xuân Hương mà trong suy niệm của Bà “bằng hình thức văn tự Xuân Hương dùng những
tiếng “rất Việt Nam” hạ những chữ rất táo bạo, gieo những vần rất hiểm hóc oái
oăm để phá cái thành trì kiên cố của lối thơ khoa cử, lối thơ ứng chế, lối thơ
phong kiến, lối thơ “ngự dụng”. Trước sức tấn công anh dũng của bà về phương diện
văn chương, đối phương chống lại cũng rất mãnh liệt (…) Nhưng từ chỗ trung kiên
của nhà thơ cách mạng ấy đã tỏa ra giữa đám bình dân ở đương thời, và đời sau
những ảnh hưởng rất sâu rộng”. Nhưng để hiểu thế nào là nhà thơ cách mạng không
phải đơn giản. Vì thế, theo Hà Như Chi: “muốn dùng đến danh từ “cách mạng” để
chỉ tài nghệ Hồ Xuân Hương, ta chỉ nên hiểu danh từ ấy theo một ý nghĩa hẹp, vừa
phải, trong phạm vi văn chương và dùng nó không ngoài mục đích là nhấn mạnh vào
những cái mới mẻ, bạo dạn, phóng túng trong những bài thơ sắc sảo của nữ sĩ họ
Hồ”.
Không tranh luận “chừng mực” kiểu Hà Như Chi, Nguyên Sa Trần
Bích Lan, với tư duy của một nhà thơ, nhà lý luận phê bình, trong bài viết: “Hồ
Xuân Hương – Người lạ mặt” đã đặt vấn đề “thẳng thắng” khi luận bàn về sự “nỗi
loạn” hiện sinh trong thơ Hồ Xuân Hương để “tranh luận” lại với quan điểm cho rằng
Hồ Xuân Hương là “nhà thơ cách mạng”. Theo ông: “Hồ Xuân Hương là nhà thơ cách
mạng hay phản động, cấp tiến hay thoái hóa, lành mạnh hay nạn nhân của một căn
bệnh quái đản? bấy nhiêu câu hỏi và giải đáp người ta đã đề nghị vẫn xoay quanh
chúng ta”. Rồi, Nguyên Sa lý giải: “Tất cả những thuộc từ nhà phê bình cũng như
giáo sư vẫn gán ghép cho Hồ Xuân Hương đều không sai. Dưới những khía cạnh khác
nhau, ta có thể bảo rằng thi ca của họ Hồ mang nặng những tính chất cách mạng,
phản động cấp tiến, thoái hóa, lành mạnh, bệnh hoạn. Ta có thể viện hơn một câu
thơ của nữ sĩ họ Hồ để chứng minh những thuộc từ trên. Không một ai phản đối cả.
Nhưng trên môi người đọc cũng như trên nét mực láu lỉnh của những người học trò
vẫn nở một nụ cười bao hàm ý nghĩa: Hồ Xuân Hương còn là một chút gì hơn tất cả,
vượt lên trên tất cả những thuộc từ đó. Nụ cười đó là dấu hiệu của thông cảm giữa
người đọc và tác giả”. Vì vậy, theo Nguyên Sa: “Nụ cười cũng là dấu hiệu thành
công của tác giả và thất bại của nhà phê bình. Nếu ta không nói rõ cái đặc biệt
của Hồ Xuân Hương vượt lên trên mọi thuộc từ ước lệ nghĩa là ta chưa nói được
gì cả”.
Cũng như quan điểm của Nguyên Sa, với một cái nhìn phản biện
sắc sảo, khi luận bàn ý kiến cho rằng Hồ Xuân Hương là “nhà thơ cách mạng”, Đỗ
Long Vân cũng cái nhìn riêng. Theo ông, nếu cho rằng: “Hồ Xuân Hương làm thơ
cách mạng. Nếu thế thì thượng lưu trí thức ở xứ này toàn là những người siêu
cách mạng cả sao? Những chữ cách mạng cũng như tất cả những chữ điêu khắc của
thời đại như: biện chứng, mặc cảm, tự do v.v… là một chữ đã mắc bệnh nghĩa là
ai cũng lấy dùng nhưng chỉ để dùng sái nghĩa. Hình như người ta quên rằng làm
cách mạng là lấy trật tự xã hội này thay thế trật tự xã hội khác. Mà cảnh cực lạc
của Hồ Xuân Hương không có tính cách xã hội. Nó là một giải thoát cá nhân. Và
nó đòi một sự chan hòa không để một trật tự nào sống sót thì tính cách phản
cách mạng của nó đã rõ. Hơn nữa để nói đến cùng thì còn gì phản cách mạng hơn
là một yêu sách tự do nhục tình? Sự thật đáng buồn là tất cả những cuộc cách mạng,
đến buổi thoái trào nghĩa là khi những nguyện vọng thuở đầu đã vỡ đều lên án tự
do nhất là tự do nhục tình và mượn đạo đức để minh oan cho những yêu sách của
nó càng ngày xa những có thể của thực tại và không thuận lòng người”. Còn khi
luận bàn về ý thức phản kháng và khát vọng tự do trong thơ Hồ Xuân Hương, với
cái nhìn của một nhà phê bình có nền tảng tư duy triết học, Đỗ Long Vân đã có
những nhận xét sắc sảo. Theo ông, thơ Hồ Xuân Hương “không là thơ của những cuộc
đời đã tháo lui vào thế giới ở trong. Nàng không ca ngợi nội tâm như người ta
đã ca ngợi chữ trinh còn lại của Thúy Kiều, là cái két tự để dành của những tâm
hồn chọn lọc. Mà nói đến nội tâm, trong thơ nàng, như một sự sống cũng không thể.
Cái ở trong còn ở trong thì sống chỉ là sống tù, sống mượn, sống giả và Hồ Xuân
Hương đòi người ta sống theo lòng mình nghĩa là sống tự do, sống mở và sống cho
cũng như để có cái biết thực trong thâm tình của mọi vật, nàng đòi người ta xé
vỏ chúng”.
2.3.Đi tìm lời giải về bản năng tính dục trong thơ Hồ Xuân
Hương
Vấn đề bản năng tính dục trong thơ Hồ Xuân Hương là một trong
những vấn đề các nhà nghiên cứu, phê bình văn chương của mọi thời đều quan tâm
tìm hiểu nhưng khó có tiếng nói chung. Đây cũng là một vấn đề của tiếp nhận văn
học và mọi sự khác biệt đều xuất phát từ những tầm đón đợi khác nhau. Trong văn
học miền Nam 1954-1975, khi luận bàn về bản năng tính dục trong thơ Hồ Xuân
Hương cũng có những ý kiến trái chiều. Song, nhìn chung các nhà nghiên cứu, phê
bình ở miền Nam đều hướng đến phương diện mỹ cảm, tính hướng thượng của bản
năng tính dục trong thơ Hồ Xuân Hương chứ không chỉ đơn thuần quan tâm đến yếu
tố “sex” của bản năng tính dục. Theo Hà Như Chi, đọc thơ Hồ Xuân Hương:
“ai cũng nhận thấy rằng bản năng tình dục không phải ẩn hiện tinh vi kín đáo mà
bộc lộ hết sức rõ rệt. Ta không cần đi sâu vào tiềm thức mới tìm thấy bản năng ấy
mà có thể gặp nó ngay trong phạm vi sáng tỏ của ý thức Xuân Hương. Như thế,
nghĩa là không cần phải dùng khoa tâm phân học để tìm hiểu nguyên nhân của thơ
Xuân Hương”. Xuất phát từ quan điểm như thế, khi luận bàn nguyên nhân tạo
nên tính dục trong thơ Hồ Xuân Hương, Hà Như Chi không đồng tình với việc lấy học
thuyết freud để luận giải vấn đề tính dục trong thơ Hồ Xuân Hương, xem đó là một
sự “ẩn ức” từ sự “khao khát nhục cảm” của nhà thơ. Bởi, theo ông “nguyên nhân của
lối thơ ấy trước hết là nguyên nhân xã hội. Xuân Hương sinh vào thời cuối Lê đầu
Nguyễn, vào lúc mà xã hội Việt Nam rơi vào cảnh loạn lạc không cùng, do đó bao
nhiêu ràng buộc của lễ giáo đều bị phá tung và nhiệt độ tình cảm của con người
dâng lên cao, Ấy là thời của những cuốn truyện rặc tình cảm như: Mai Đình mộng
ký, Phan Trần, Đoạn Trường Tân Thanh, Sơ kính tân trang v.v… Hồ Xuân Hương chịu
ảnh hưởng của hoàn cảnh ấy nên trong thi văn mới có cái giọng điệu ngang tàng
phóng túng không e dè kiêng nể đối với những mãnh lực tinh thần đang đè nặng
trên xã hội đương thời”. Mà theo Hà Như Chi “Để cắt nghĩa lối thơ Xuân Hương,
ta có thể nói rằng bà là một người rất dồi dào tình cảm và rất cần yêu đương
nhưng ở đời lại thường gặp nhiều thất vọng, bất như ý, nên mới có giọng văn ngấm
ngầm trắng trợn, cái trắng trợn của một kẻ ngán ngẫm việc đời”. Còn theo Phạm
Thế Ngũ, vấn đề bản năng tính dục trong thơ Hồ Xuân Hương, gần với cảm hứng và
tâm thức của tiếng cười trong văn học bình dân. Mặt khác, Phạm Thế Ngũ còn có một
ý kiến mà theo chúng tôi cần được quan tâm và nhận thức lại cho đúng khi ông
cho rằng: “Đa số những bài thơ Xuân Hương có lẽ ra đời trong cái không khí nửa
tục nửa thanh của những cuộc xướng họa bình dân, nửa hư nửa thực của những cuộc
bộc lộ bỡn cợt. Rằng trong đó hiện tượng “nhục cảm dồn ép”, ta không hoàn toàn
phủ nhận. Lý thuyết freud là một cái gì quá tổng quát mà cũng quá tinh vi nữa
khiến nhiều khi ta phải đầu hàng cái nhìn soi mói của ông. Nhưng đến chỗ rằng Hồ
Xuân Hương đã lên tiếng vì lý tưởng cách mạng xã hội như nhà phê bình duy vật sử
quan lập luận thì thật đi quá xa sự thật”. Như vậy, trong cái nhìn của Phạm Thế
Ngũ việc lý giải bản năng tính dục trong thơ Hồ Xuân Hương có thể dùng học thuyết
Freud nhưng nếu dùng lý thuyết phê bình duy vật sử quan để diễn giải thì không
phù hợp vì theo ông: “Thơ Xuân Hương trong ý nghĩa tổng quan của nó, chỉ là đại
biểu cho cái khuynh hướng cười cợt tục tĩu trong văn nghệ bình dân Việt Nam,
cái cười thường khi chỉ để mua vui chớ chẳng bao hàm một hậu ý làm luân lý,
chính trị gì hết. Khuynh hướng ấy vốn thường thấy trong ca dao cổ tích và đến
cuối Lê sang Nguyễn thì gặp những điều kiện thuận tiện như xã hội lộn xộn,
phong tục cởi mở, thái độ a tòng của một số cây bút nho sĩ đọa lạc cho nên được
dịp nẩy nở. Rồi người nữ thi nhân sinh ra trong hoàn cảnh ấy đã đem tính tình
và tài nghệ của mình đâu theo khuynh hướng để tạo ra một thi nghiệp thật là kỳ
dị”. Tôi chia xẻ với quan điểm của Phạm Thế Ngũ về vấn đề nầy. Dẫu rằng, trong
tiếp nhận văn học chúng ta tôn trọng những cách tiếp nhận khác nhau về một hiện
tượng văn học mà do tầm đón đợi của đối tượng tiếp nhận qui định. Nhưng dẫu
sao, sự tiếp nhận nào tiệm cận hơn với chân lý khoa học và chân lý đời sống vẫn
có sức thuyết phục và có sức sống bền lâu hơn. Đó là sự thật mà chúng ta không
thể nào phủ nhận. Và điều nầy chúng ta cũng tìm thấy trong việc tiếp nhận thơ Hồ
Xuân Hương ở miền Nam 1954 – 1975.
3. Tiếp nhận thơ Hồ Xuân Hương nhìn từ nghệ thuật biểu hiện
3.1. Chất trào phúng trong thơ Hồ Xuân Hương
Luận bàn về lối thơ của Hồ Xuân Hương, Hà Như Chi cho rằng:
“Hồ Xuân Hương là một hình ảnh đặc biệt trong thi văn Việt Nam. Đặc biệt vì đó
là một nữ thi sĩ mà nữ thi sĩ ấy lại có một lối làm thơ khác thường, không giống
những nữ thi sĩ khác như Bà Đoàn Thị Điểm và Bà Huyện Thanh Quan. Các bài thơ của
Hồ Xuân Hương hoặc tả những vật tầm thường, hoặc tả thắng cảnh, hoặc tự vịnh,
bao giờ cũng có ý lẳng lơ với những hình ảnh “tục” ẩn hiện sau những lời thơ và
chữ dùng mập mờ láu lĩnh”. Rõ ràng, thơ Hồ Xuân Hương như đã nói ở trên,
là một hiện tượng đặc biệt, thậm chí “cá biệt”. Nó không giống bất cứ thi sĩ
nào trong thi ca Việt Nam mà cái khác biệt đầu tiên, đó là chất trào phúng
trong thơ của Nữ sĩ.
Luận giải về vấn đề nầy, Hà Như Chi cho rằng, Hồ Xuân Hương
làm thơ trào phúng là “để phô bày những nỗi bực tức ghét giận của bà đối với những
cái xấu xa mà chính bà là nạn nhân không ít thì nhiều. Vậy đọc thơ trào phúng của
bà ta đã có thể hiểu gián tiếp những nỗi đau đớn khổ sở của bà đã gặp. Nhưng
trong thi văn của bà còn có một phần khác, trong đó bà đả động trực tiếp đến
thân thế của bà với một giọng văn đôi khi hằn học trắng trợn nhưng cũng rất
thành thật cảm động. Đó là những bài than trách số phận hồng nhan, tình cảnh
đơn chiếc lẽ mọn”. Còn trong cảm nhận của Bà Phương Lan thì tính chất trào
phúng là một điểm trội trong nghệ thuật thơ của Hồ Xuân Hương, bởi theo Bà, thơ
Hồ Xuân Hương “mới mẻ, thoát sáo, vượt ngoài khuôn khổ trường ốc, linh động như
tranh, thật là “thi trung hữu họa”, lại trội về lối tả chân, nhất là nghệ thuật
“hí hước trào phúng”. Còn Phạm Thế Ngũ, khi nhận xét về chất trào phúng trong
thơ Hồ Xuân Hương cho rằng: “Một tính chất phổ biến và hiển hiện của thơ Hồ
Xuân Hương là tính chất trào phúng. Mỗi khi bà cất bút là để riễu cợt phúng
thích. Đi vào phân tích thi tập của bà ta thấy bà đã bắn những mũi tên trào
phúng vào đủ hạng người trong xã hội. Từ ông Củ Võ: “Đầu đậu nón da loe chớp
đỏ” đến chàng văn nhân dốt nát mà sính chữ “chơi trèo”. Từ ông quan thị đến
ông thầy chùa. Nhất là phái tăng sãi hay bị Xuân Hương trêu chọc. Nào chế sư bị
ong đốt, nào chế sư phải lòng gái bị làng đuổi, khi lại mô tả với những nét hoạt
kê cuộc đời tu hành của sãi vãi”. Rồi, ông tiếp tục luận giải về nguyên
nhân tạo nên chất trào phúng trong thơ Hồ Xuân Hương mà theo Phạm Thế Ngũ “Cái
cười tục nhã dường như là bản chất của thơ Hồ Xuân Hương ta thấy nó đã có từ
lâu trong những truyện tiếu lâm, những câu tục ngữ ca dao trào phúng của bình
dân Việt Nam”. Mà những thể tài văn học trào phúng nầy xuất hiện khá sôi nỗi
trong thời Lê mạc và Nguyễn Sơ và trong cái nhìn của Phạm Thế Ngũ: “Thơ Hồ Xuân
Hương đã nẩy mầm ngay từ đời Lê mạc đến đời Nguyễn Sơ, có lẽ nó gặp thêm điều
kiện thuận lợi như sự an ninh trở lại, việc chấn hưng lễ giáo của Triều Nguyễn
chưa kịp thi hành nên đã đặc biệt nẩy nở dưới cây bút của một thi nhân mà nguồn
gốc hoàn cảnh và chắc chắn cá tính nữa đã là những yếu tố quyết định”.
Một điều khác biệt của Phạm Thế Ngũ so với các nhà nghiên cứu,
phê bình khác là ở chỗ, khi luận bàn về tiếng cười trong thơ Hồ Xuân Hương, ông
không chỉ thấy đơn thuần chất trào phúng tạo ra từ tiếng cười mà còn nhìn thấy
chất trữ tình ẩn chứa trong tiếng cười ấy mà theo ông chất trữ tình nầy, mới thực
sự lột tả được ý nghĩa của tính chất trào lộng trong tiếng cười, cho thấy được
tính bi kịch trong cuộc đời và thân phận lưu đày của Nữ sĩ Hồ Xuân Hương, một
con người bình thường nhưng lại rất khác thường. Và phải chăng, tiếng cười ấy
là những giọt nước mắt khô không lệ trong tâm hồn của một phụ nữ cô độc, sự cô
độc đớn đau của một cái tôi bản thể – cái tôi Hồ Xuân Hương. Vì vậy, trong cảm
nhận của Phạm Thế Ngũ: “Thơ Xuân Hương có ý nghĩa về văn học sử nhiều hơn là xã
hội luận. Nó không phải là tiếng nói tranh đấu cách mạng của quần chúng. Và nếu
ta chịu khó nghe xem thì thấy nó còn nặng chĩu tình cảm cá nhân. Nếu Xuân Hương
có lên tiếng đòi hỏi gì thì không phải là đòi hỏi cho xã hội, cho quần chúng mà
chính cho phận nàng, lòng nàng. Đây chính là một khía cạnh khác về chân tướng
thơ của Hồ Xuân Hương: khía cạnh trữ tình. Người ta thường chỉ để ý đến cái cười
cái tục trong thơ Xuân Hương. Không biết rằng sau cái cười ấy lại có nước mắt
và cái tục ấy nhiều khi chỉ là sự mỉa mai hờn dỗi phát lộ ra. Tác giả đã quá
đau khổ trong cuộc đời mình. Nhân duyên dang dở số phận long đong, tình cảnh
đơn chiếc. Những bài thơ cảm hoài của bà cho ta nghe rõ một tiếng than vãn khi
não nùng khi chua chát: “Canh khuya văng vẳng trống canh dồn/ Trơ cái hồng
nhan với nước non” “Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom/ Oán hận trông ra khắp mọi
chòm” (…) Thơ Xuân Hương tóm lại không chỉ khiến cho người ta một dịp suy
nghĩ về cái cười tục nhã của nó. Nó còn cho ta nghe ra một tâm tình khi che
kín, khi bộc lộ và làm cho chúng ta phải cảm động. Do đó, chúng ta càng thấy sự
duy nhất của tác phẩm và tin vào sự có thật của con người”. Khác với
Phạm Thế Ngũ, luận bàn về chất trào phúng trong thơ Hồ Xuân Hương, Thanh Lãng lại
nghiêng về tính chất phê phán, mỉa mai trong thơ của bà, cho nên trong cái nhìn
của Thanh Lãng, Hồ Xuân Hương là một “thi sĩ châm biếm”. Theo Thanh Lãng : “Các
cụ ta xưa bị trói buộc trong khuôn khổ chật hẹp của lễ giáo, nên ít khi phá lên
tiếng cười mai mỉa, kín đáo. Nhưng từ cô Hồ, cái dè giữ kia không còn nữa.
Không những nàng đã lên tiếng cười giữa ngã ba đường cái mà tiếng cười của nàng
còn có tất cả cái suồng sả của những trai đàng gái điếm.. Nàng là một thi sĩ
chuyên môn “nói lái” như trong những bài Vịnh Chùa Quán Sứ, Tiễn Hành sư ông,
Qua sông vỗ sóng. Rồi những vận nàng gieo, những tiếng nàng dùng, những câu
nàng đặt… Tất cả là những dịp cười sặc sụa hóa kiếp, hiện lên trang giấy để mà
châm chọc thù hằn đời”. Đi sâu vào cái tôi bản thể của Hồ Xuân Hương với
một sự thấu cảm sâu sắc về bi kịch thân phận mà người đàn bà Hồ Xuân Hương phải
nhận lãnh, Bùi Gáng nhận ra tính bi kịch trong tiếng cười của Hồ Xuân Hương và
cho rằng Hồ Xuân Hương: “Cười người mà cũng chính là tự cười mình. Cười người
“vị gì một tí tẻo tèo teo”, nhưng chính nàng đã há không bao lần từng cười mình
đã vì cái thúc bách của “tí tèo teo” mà ôm lòng chịu tủi nhục đó sao?. Thế rồi
khi nhận rõ nguyên nhân của tủi nhục nó phi lý lạ lùng đến thế thì thôi, là tấm
lòng của nữ sĩ có phải đã cùng với nghệ thuật mà trao đổi một chuỗi cười hân
hoan? Hân hoan và đau khổ quả đã thật xen hòa. Nhưng ta không dám quả quyết rằng
hân hoan đã làm nguôi đau khổ?”. Như vậy, việc luận giải về chất trào phúng ở
thơ Hồ Xuân Hương trong tiếp nhận của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học ở miền
Nam 1954-1975, còn có những khác biệt mà nguyên nhân, do xuất phát từ những điểm
nhìn khác nhau. Song, dù còn những khác biệt nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu,
phê bình đều xem chất trào phúng trong thơ Hồ Xuân Hương là một hệ giá trị độc
đáo, gắn với văn hóa dân tộc, thể hiện tài năng và phong cách thi ca của Nữ sĩ.
3.2. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương
Ngôn ngữ là “yếu tố thứ nhất của văn học”. Đối với thơ, ngôn
ngữ là hệ giá trị đặc biệt trong việc chuyên chở nội dung tư tưởng và nghệ thuật
của bài thơ, thể hiện tài năng và phong cách của nhà thơ. Nói như Jakobson:
“Thơ là nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm cứu cánh”. Đó là ngôn ngữ được chắt lọc, kết
tinh từ đời sống xã hội. Và “ngôn ngữ thi ca là thứ ngôn ngữ kết hợp hài hòa giữa
ngôn ngữ và tư tưởng, nhiệm vụ của thi nhân là phải tạo nên sự nhiệm mầu kỳ diệu
ấy”. Điều này, có thể tìm thấy trong nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ thơ Hồ
Xuân Hương. Đây cũng là vấn đề, các nhà nghiên cứu, phê bình văn học ở miền Nam
1954 -1975 quan tâm luận giải với nhiều điểm nhìn khác nhau.
Theo Hà Như Chi: “Thơ Hồ Xuân Hương là lối thơ rất thật và rất
tự nhiên; Thơ Hồ Xuân Hương thoát ra ngoài khuôn sáo, không dùng điển cố Hán
văn, lời thơ có khi đặc nôm mà lại thường dùng chữ trong ca dao tục ngữ; Thơ
Xuân Hương tả tình đã chân xác mà tả cảnh cũng không kém sắc sảo; Thơ Xuân
Hương có một lối dùng chữ đặt câu rất đặc sắc, bất luận là tả cảnh, tả tình hay
trào phúng”. Thanh Lãng khi nhận xét về việc sử dụng ngôn ngữ trong thơ Hồ Xuân
Hương cho rằng: “Hồ Xuân Hương là nhà thơ hoàn toàn Việt Nam”. Bởi, ông cho rằng,
nếu trong suốt mấy ngàn năm: “Các văn gia, thi nhân chỉ biết có chữ Hán, dùng
chữ Hán trong lúc nói và viết tiếng Việt Nam. Bởi vậy văn chương Việt Nam hồi
xưa chỉ là một quái vật, đầu Ngô, mình Sở. Hồ Xuân Hương là một trong những người
đầu tiên dùng chữ nôm để diễn tả tình ý. Và là người tiền phong trong phong
trào dùng toàn tiếng Việt Nam để diễn tả tư tưởng. Văn thơ của nàng đọc lên ta
thấy mộc mạc như tiếng nói của dân quê”. Vì thế, Thanh Lãng cho rằng:
“Khác với những thi nhân đi trước, chỉ chuộng về nhận công, đặt câu cốt sao cho
chải chuốt, đọc lên cho thật kêu, thực rôm. Cái đặc sắc của nàng là lối thơ
thoát sáo, tự nhiên và nhẹ nhàng. Nàng có biệt tài làm cho những tiếng rất tầm
thường trở nên mầu nhiệm lạ lùng. Không một văn gia nào giàu tiếng Việt bằng
nàng. Bất cứ bài thơ nào của nàng, ta cũng tìm được một vài tiếng kỳ thú, một
vài câu, một vài kiểu nói hàng ngày của dân quê. Những tiếng mộc mạc ấy – nhưng
rất kỳ thú ấy cho thơ nàng một vài tiếng “mõm mòm” “già tom” “tèo teo” “mấy
ngoàn”… là những tràng cười sặc sụa của tay lãng tử…”. Còn cảm nhận của Phạm Thế
Ngũ về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong thơ Hồ Xuân Hương chính là “sự vươn
lên của văn nghệ bình dân. Lời văn nôm na, câu thơ tưởng là một lời nói của miệng:
“mười bảy hay là mười tám đây ?” (…) Ngữ vựng hầu kết là nôm, có cả tiếng chửi
bới, mách tục. Đôi khi cũng dùng chữ Hán song thường dùng với một hậu ý trào lộng:
“Cán cân tạo hóa rơi đâu mất/ Miệng túi càn khôn thắt lại rồi” (…) Đồng thời
người ta thấy một kho từ vựng rất dồi dào những tỉnh từ, trạng từ thuần túy tuy
nôm na mà rất có giá trị nghệ thuật”. Vì thế, nhận định tổng quát về “Những đặc
thuật trong bút pháp” của thơ Hồ Xuân Hương, Phạm Thế Ngũ cho rằng: “Đi vào bề
trong kỹ thuật, ta có thể tìm ra mấy bí quyết đã khiến cho những bài thơ Xuân
Hương rất hấp dẫn. Tác giả dùng chữ rất chính xác, rất táo bạo. Từ ngữ nôm na của
bà thường giàu giá trị miêu tả và gợi cảm. Có thể sưu tập để trở thành một bảng
đầy: cầu trắng phau phau, nước trong leo lẻo, trơ toen hoẻn, vỗ phập phòm, rơi
lõm bõm, tối om om, sờ rậm rạp, mó lam nham… Lời thơ đọc lên khi họa hình, khi
tượng thanh, cảm tưởng gây ra rất thích thú (…) Hồ Xuân Hương quả đã sử dụng tiếng
nôm một cách quá tài tình và bài thơ Đường luật với một nghệ thuật thật là độc
đáo”. Còn Nguyên Sa, một thi sĩ rất tinh tế trong việc kiến tạo ngôn ngữ thi
ca, một nhà lý luận phê bình khá uyên áo khi thẩm định tác phẩm văn học, vậy mà
khi nhận xét về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong thơ Hồ Xuân Hương ông đã
không tiếc lời ca ngợi: “Người đã dựng lên trước mặt ta một hàng rào danh từ:
những “hỏm hòm hom”, “dê cỏn”, “dậu thưa”, “sương còn ngậm”, “suối chưa thông”.
Hồ Xuân Hương đã mượn “một cái gì” để tả “một cái gì” nên ta bị đặt trước hai
ngõ cụt. Không giải thích được cái gì của Hồ Xuân Hương mà chỉ qui định quanh
co bằng những danh từ ước lệ ta sẽ vĩnh viễn là một kẻ đến sau bởi vì người đọc
đã biết được, đã thông cảm được Hồ Xuân Hương”. “Mượn “một cái gì” để tả
“một cái gì”” có lẽ, theo cách nói của Nguyên Sa đó là những “khoảng trắng”,
“khoảng lặng” trong thiên tài thi ca của Hồ Xuân Hương đang “vẫy gọi” người đọc
giải mã thơ Bà, mà theo Nguyên Sa điều đó mãi mãi là những “thách thức”, những
“bí mật”…luôn ám ảnh tâm thức người tiếp nhận khi đến với thơ Hồ Xuân Hương!?
Như vậy, trong cái nhìn của các nhà nghiên cứu, phê bình văn
học ở miền Nam 1954-1975, ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương luôn là những ẫn ngữ, là
những viên ngọc kết tinh từ lời ăn tiếng nói của nhân dân được chiết xuất từ
kho tàng ca dao tục ngữ nên có giá trị nghệ thuật diệu kỳ, thể hiện phẩm tính
văn hóa Việt, thoát khỏi vòng quay của Hán ngữ đang bủa vây nền văn học nước
nhà lúc bấy giờ. Ngôn ngữ thi ca Hồ Xuân Hương, vì thế là một hệ giá trị minh
chứng cho sức sống mãnh liệt, sinh động của tiếng Việt cũng như cho tinh thần độc
lập, tự chủ của dân tộc, cần được giữ gìn và phát triển.
3.3.Nghệ thuật tả cảnh trong thơ Hồ Xuân Hương
Theo Thanh Lãng, nếu trong thơ văn trước kia “thi nhân Việt
Nam thi nhau mà tả mà vẻ những cảnh tưởng tượng, những cảnh họ chỉ ngắm trong
mơ mộng qua sách Tàu.” Hồ Xuân Hương không tả cảnh Trung Quốc nữa. Nàng đem lên
giấy những cảnh nàng gặp hàng ngày. Nhưng nàng không tả những cái tầm thường của
nó; Rồi với một vài nét cong đường vòng, nàng phát họa ra một cảnh thô sơ nhưng
ý vị, trông như những bức họa hoạt của Mạnh Quỳnh. Cảnh của nàng không sặc sở
như cảnh của Bà Huyện Thanh Quan, nó tiêu sơ lắm, nhưng mơ màng và cám dỗ”.
Với cái nhìn của một nhà nghiên cứu văn học trong sự qui chiếu với tư duy triết
học, Đỗ Long Vân đã luận giải tính đa nghĩa trong thơ Hồ Xuân Hương để khám phá
những mỹ cảm có tính triết học, chứ không chỉ dừng lại ở mỹ cảm văn chương. Sự
độc đáo trong lối phê bình thơ Hồ Xuân Hương của Đỗ Long Vân cũng bắt nguồn từ
đó mà những nhận xét của ông về lối thơ tả cảnh của Hồ Xuân Hương là những minh
chứng. Theo Đỗ Long Vân, cảnh trong thơ Hồ Xuân Hương “Vừa thờ ơ, vừa cám dỗ.
Cũng như thơ nàng, trong thơ Hồ Xuân Hương, cảnh thường lưỡng ý. Ý cảnh ngược
nhau như ý nào cũng chỉ có nửa chừng nghĩa là chưa có đã có cái ý khác chặn đường
để, kết luận, người ta chẳng biết ý nào là thực. Nói một đằng cảnh chằng môt nẻo.
Vừa gọi người ta nó vừa đào tẩu. Sự ởm ờ ấy làm cái điêu trác của ngoại thể. Nửa
nạc nửa mở, nửa hở nửa kín, ngoại thể lừa người ta và người ta lạc trong một
trò hú tim không thể giải quyết”. Rồi, Đỗ Long Vân xác quyết: “Nhưng có lẽ, người
ta đã biết rằng Hồ Xuân Hương không săn trong nhục tình những mồi ngon cho ngũ
giác cũng như nghệ thuật tả cảnh của nàng, như người ta sẽ thấy, không tả nhưng
để phá cảnh. Cảnh càng ngọan mục thì nàng càng ngó mắt nhòm. Hẳn cái nhìn ấy
không để thưởng lãm. Nhòm là một cái nhìn soi móc và tọc mạnh, như, sốt ruột
trước những gì trông thấy được. Hồ Xuân Hương muốn đâm thủng cái vỏ vui mắt ấy,
để lột truồng mọi vật, trả lại cảnh thực tính của nó”. Và không dừng lại ở đó,
trong cái nhìn của Đỗ Long Vân, cảnh vật trong thơ Hồ Xuân Hương là một thực thể
hiện sinh đã chứa đựng trong nó những cung bậc đa sắc màu của cuộc nhân sinh đầy
bất an và bất toàn, thậm chí đổ vỡ và nỗi loạn. Vì thế, Đỗ Long Vân cho rằng:
“Không phải ngẫu nhiên mà cái cảnh cực lạc độc nhất trong thơ nàng là một vũng
tang thương! Có tang thương nghĩa là trời có long, đất có lở, thế giới có vỡ vỏ
thì lòng thế giới mới ồ ra làm cho nước lộn trời. Sự sụp đổ của những trật tự,
trong những cuộc đổi đời, là ngần ấy dịp may cho thực thể trở thành. Và Hồ Xuân
Hương ghét những trật tự như nàng ghét những gì mà người ta gọi là ngoạn mục.
Lòng người thi sĩ ấy tưng bừng reo như rào rạt nguồn thơ đúng lúc, thế giới chỉ
còn là một vùng nước, thuần nhất và mênh mông, nàng không có gì để ngắm và tả nữa
cho đẹp mắt người đời”. Có thể nói, qua Nguồn nước ẩn của Hồ Xuân Hương, Đỗ
Long Vân đã thể hiện một cái nhìn lạ, mới về nghệ thuật trong thơ của Nữ sĩ,
góp phần làm phong phú việc tìm hiểu về thơ Hồ Xuân Hương trong văn học miền
Nam 1954-1975.
4. Tạm kết
Hồ Xuân Hương là một hiện tượng văn học đặc biệt và độc đáo
trong nền văn học nước nhà. Bởi, cuộc đời và thi ca của bà vẫn luôn là những “ẩn
ngữ” vẫy gọi các nhà nghiên cứu, phê bình trong hành trình tìm kiếm “chân dung”
Hồ xuân Hương đích thực, khả dĩ có thể lấp vào cái khoảng trống vẫn còn đó như
một thách thức khi tìm hiểu về Hồ Xuân Hương. Nhận diện đời và thơ Hồ Xuân
Hương qua việc tiếp nhận thơ Hồ Xuân Hương của các nhà nghiên cứu, phê bình văn
học ở miền Nam 1954-1975, vì thế cũng chỉ là những nét phát họa bước đầu trong
việc khám phá hiện tượng thơ Hồ Xuân Hương nhằm thỏa mãn phần nào lòng yêu kính
của họ đối với Hồ Xuân Hương và thơ của nữ sĩ, chưa phải đã tìm được chiếc chìa
khóa để mở cánh của khoa học, giải mã một cách tường minh đời và thơ Hồ Xuân
Hương. Bởi, chính Đỗ Long Vân, người đã viết một chuyên luận đặc sắc Nguồn nước
ẩn của Hồ Xuân Hương cũng đã thành thực thú nhận: “Thơ Hồ Xuân Hương mời người
ta vào một thực thể địa tầng luận. càng vào sâu thì thực thể càng đặc, càng chắc
và càng nặng”. Thế nên, để giải mã cái “thực thể địa tầng luận, càng vào sâu
thì càng đặc, càng chắc và càng nặng” ấy, không chỉ là công việc của hiện tại
mà còn là việc của tương lai. Dù vậy, việc tìm hiểu đời và thơ Hồ Xuân Hương của
các nhà nghiên cứu, phê bình văn học miền Nam 1954-1975, cũng đặt ra nhiều vấn
đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn để ngẫm ngợi mà ý kiến của Bà Phương Anh
trong Anh thư nước Việt (từ lập quốc đến hiện đại), Nxb. Khai Trí, 1968, là những
gợi mở như thế, khi bà chất vấn: “Tại sao tiểu sử Hồ Xuân Hương không được chép
vào một bộ quốc sử hay một pho liệt truyện nào? Tại sao thi phẩm Hồ Xuân Hương
không được ghi vào một tập ký ức hoặc một thiên bút lục nào thế mà từ đời bà đến
giờ hàng trăm rưỡi năm nay, thơ bà vẫn được truyền tụng ở cửa miệng người đời
trải thế hệ này qua thế hệ khác?”. Và câu trả lời của Bà Phương Lan là, phải
chăng, Hồ Xuân Hương “đã đi sát với bình dân, cảm thông với đại chúng, thơ bà bắt
gốc từ nguồn sống mãnh liệt và dẻo dai của dân tộc Việt Nam, nên tác phẩm của
bà mới cùng thời gian sống mãi? (…) Bình dân Việt Nam không thể rung cảm trước
những vần điệu đài các, những chữ nghĩa kiểu cách, những điển tích bác học và
những nét trạm trỗ từ công phủ mà thiếu khí sống. Họ không thể đồng tình với hạng
nhà văn, nhà thơ; “đánh đĩ ngòi bút”, “thừa cơ múa rối” đem ngón điêu trùng tiểu
kỹ cầu làm đẹp ý số ít quí tộc mà “giết lòng người” mà đầu độc dân chúng để củng
cố thế lực cho giai cấp thống trị hòng hưởng đôi chút “tơ tằm mắc mưa”. Cho nên
thư văn của bọn ấy dù góp lại hàng pho dày, chứa đầy hàng mấy tử, bình dân Việt
Nam có thèm nhắc nhở đến đâu, truyền tụng đến đâu. Ấy thế mà thơ Hồ Xuân Hương
trải bao biển dâu, qua bao binh lửa, dân Việt Nam từ đời nọ đến đời kia, ai
cũng thuộc lầu, nhớ như chôn vào lòng, không cần bia đá nó vẫn trơ trơ ở bia miệng,
không cần uy quyền để bắt mọi người mua hay khuyến khích người đọc mà nó vẫn
lưu hành khắp dân gian”.
Vâng! Cái chân lý giản đơn mà cao quí ấy, phải chăng là câu
trả lời hết sức lý thú xác quyết sự tồn sinh, bất tử của thơ Hồ Xuân Hương với
muôn đời, để hôm nay, thơ Nữ sĩ họ Hồ không chỉ là hệ giá trị văn hóa dân tộc
mà còn là hệ giá trị văn hóa của nhân loại…
1/1/2023
Trần Hoài Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét