Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2026

 22222

NỮ NGHỆ SĨ DIỆU HIỀN

trong biển lửa

Thời xưa, ở các tỉnh miền đồng bằng sông Cửu Long, giao thông vận tải đường bộ chưa được mở mang nhiều, các gánh hát phải dùng ghe chài, ghe bầu để di chuyển đến các bãi hát. Đó là sự bình thường. Trong các thập niên 1960, 1970, đường sá mở mang, xe đò, xe tải rất nhiều, các “Ghe Hát” được cải danh là “Đoàn Hát” vì giới nghệ thuật sân khấu đã dùng xe hơi, xe tải, xe nhà, để di chuyển từ tỉnh nầy đến tỉnh khác và thường đi thành từng đoàn xe, vừa tiện lợi, vừa nhanh chóng.

.

Sau năm 1975 (từ 1975 đến 1990) các đoàn hát ở miền Tây lại phải di chuyển bằng ghe. Không phải vì đường sá hư, mà chính vì thời kỳ đó, các chủ xe đò, xe tải, phải vô “hợp tác xã”; xe hơi hư thì người chủ phải bỏ tiền ra sửa chữa. Tiền xăng nhớt, tiền công tài xế, chủ nhơn chiếc xe phải trả, nhưng khi có thu nhập thì chủ xe phải giao nạp hết cho trưởng ban hợp tác xã để trưởng ban phân chia.

Làm ăn lỗ lã như vậy, xe hư, chủ nhơn không bỏ tiền ra sửa nữa. Tài xế có đòi tăng lương hay làm khó dễ thì chủ xe bỏ cho xe nằm “ga ra” luôn, không cho xe chạy nữa.

Trong tình trạng đó, khó có thể mướn xe đò và xe tải nên các đoàn hát phải dùng ghe để di chuyển như xưa. Có điều kém hơn xưa vì chỉ mướn được ghe nhỏ, khoan ghe khoảng hơn hai thước bề ngang và bề dài, khoảng hơn mười thước. Trên mui không để thoáng trống như xưa mà dùng để chất phông cảnh, màn, cánh gà…

Vận chuyển trên sông thật vất vả, nhất là lên xuống đồ đạc thì anh em dàn cảnh rất cực. Có những bến từ bãi diễn đến bến sông ghe đậu cách cả vài trăm thước. Có những đêm hát xong, gặp lúc nước sông ròng cạn, đưa đồ đạc xuống là cả vấn đề khó khăn, có khi đến 3, 4 giờ sáng ghe mới nhổ neo rời bến.

Đến bến mới có khi tới trưa, tới chiều, anh em dàn cảnh, hậu đài vì quá mệt mỏi sau đêm diễn và chuyển bến nên chưa đến nơi họ đã ngủ vùi trên ghe.

Nữ nghệ sĩ Diệu Hiền, nghệ sĩ Hoàng Liêm, Tấn An, Xuân Lan đi hát cho đoàn Tiếng Ca Sông Cửu (năm 1980) Đoàn diễn ở xã Vĩnh Trạch ( Cà Mau ) dời bến vô huyện Năm Căn, cách xa một ngày đường ghe. Trên đường di chuyển, đoàn cho ghe ghé lại một bến, tạm nghỉ vì toàn đoàn đã mệt lả sau đêm diễn mà phải chuyển bến khó khăn như đã kể trên.

Đào kép ngủ trong khoan ghe. Diệu Hiền là đào chánh nên được xếp nằm ở giữa ghe. Anh em công nhân dàn cảnh và các em phụ diễn chia nhau ngủ ở mũi ghe và lái ghe.

Trời tối đần, mọi người đều ngủ mê man, tài công để trên mui ghe một ngọn đèn dầu để làm hiệu cho những ghe tàu khác thấy để tránh nạn va chạm nhau. Sóng nước làm chiếc ghe tròng trành, đèn đổ dầu phựt cháy. Dầu cháy lan tới khoang máy, làm cho thùng phuy đựng dầu cũng cháy luôn. Khi mọi người hay được thì mạnh ai nấy tìm cách thoát thân. Tiếng la kêu cứu hỗn loạn. Mấy người ngủ khoang ngoài, gần mũi ghe và lái ghe đều phóng xuống sông lội vô bờ.

Tội nghiệp Diệu Hiền, ngủ giữa khoang ghe, khi hay lửa cháy thì thùng dầu nổ, văng dầu ướt lưng cô, lửa cháy bùng trên lưng, cháy dài theo cánh tay trái và một phần cổ. Cô dẫy dụa kêu cứu, nhưng mọi người đang kinh hoảng, không ai nghe được tiếng kêu la thất thanh của Diệu Hiền.

Hoàng Liêm đã nhảy xuống sông, vì ghe cột gần bờ nên anh lội vô, leo lên bờ và lớn tiếng kêu la để những người nhảy xuống sông biết hướng mà lội vô bờ thay vì lội ra giữa sông hay thả xuôi theo dòng nước. Hoàng Liêm nhìn vô khoang ghe, thấy có bóng người trong biển lửa, liền nhớ đến Diệu Hiền. Anh nhảy xuống sông, lội ra và leo lên ghe mặc dầu lửa đang cháy dữ dội. Anh thấy Diệu Hiền đã bất tỉnh, lấy mền dập tắt lửa trên mình Diệu Hiền rồi bồng cô ra trước mũi ghe. Lúc nầy nhiều anh em dàn cảnh đã bình tĩnh trở lại, thấy có ghe thương hồ đi ngang liền nhờ ghe tới chở Diệu Hiền vô phòng y tế huyện Năm Căn để cấp cứu.

Ngọn lửa cháy mạnh, ghe chìm dần dưới đáy sông. Tài sản của đoàn, của anh em nghệ sĩ bị thiệt hại hết, nhưng thiệt hại lớn nhất là tình trạng bị phỏng nặng của nữ diễn viên chánh của đoàn: cô Diệu Hiền. Y tế huyện Năm Căn thoa dầu cá thu những nơi bị phỏng của cô, cho uống thuốc giảm đau rồi nhờ tàu máy chở cô ra tỉnh gấp. Hoàng Liêm và anh Trưởng đoàn đi theo lo lắng giúp đỡ cho cô.

Bệnh viện Cà Mau lại chở Diệu Hiền cấp tốc tới bệnh viện đa khoa Cần Thơ. Tại đây cô được điều trị suốt ba tháng, hai lần phải mổ chỉnh hình, tách rời mấy ngón tay ra vì tay trái bị cháy nặng, khi ở Năm Căn băng bó, vô tình làm cho da các ngón tay dính với nhau.

Lúc đó tôi giúp việc cho đoàn Phước Chung, hát ở Cần Thơ.

Chúng tôi có đến thăm Diệu Hiền, được Hoàng Liêm kể cho nghe chuyện ghe bị cháy, bị chìm và tai nạn của Diệu Hiền. Khi chúng tôi đến thăm thì Diệu Hiền đã khỏe lại nhiều rồi, tôi hỏi Diệu Hiền sức mạnh nào giúp cho cô giữ vững tinh thần trước tai nạn thảm khốc nầy?

Diệu Hiền cười buồn, nói với chúng tôi:

– Đời em khổ quá nhiều rồi, khổ vì dang dở nợ duyên, khổ vì không gặp may mắn trên đường sự nghiệp như bao bạn bè trang lứa, em còn phải bám vào sân khấu để kiếm sống và nuôi dạy hai con… Nói tóm lại số phận em không được tốt, em không chịu thua số phận. Có vậy thôi! Em phải phấn đấu tới cùng để đạt được những gì mà em thua sút bạn bè trang lứa. Em sẽ làm cho các con của em không phải chịu thiệt thòi như đời em đã chịu.

.

DIỆU HIỀN đã trở lại sàn diễn và nổi danh trong vai “Nhụy Kiều Tướng quân” tuồng Bùi Thị Xuân, nhận nhiều huy chương vàng hội diễn ở Sài gòn và các tỉnh miền Tây.

Con gái lớn của cô là Diệu Thanh, nối nghiệp mẹ, là diễn viên chánh của đoàn Bông Hồng Vàng. Con trai thứ là Quang Bình nhạc sĩ tân nhạc, thu thanh ra được nhiều album nhạc trẻ nổi tiếng.

Bạn bè trong giới sân khấu và khán giả quen gọi Diệu Hiền là “Nhụy Kiều Tướng quân” và ở các tụ điểm ca nhạc cổ, khán giả ái mộ yêu cầu cô ca lại câu vọng cổ mà họ ưa thích:

Nhạc:

Nầy lửa hỡi … Hãy nghe đây,

Lời trăn trối của hôm nay,

Có nghe không? Hỡi lửa hồng,

Hãy thay ta, ngăn bước quân thù,

Giữ vững yên lành, cho quê hương

Mãi mãi đẹp xinh!

(Tiếng hát hậu trường)

Người con gái hỡi! Hãy nghe đây,

Lời thương xót của quê hương,

Hỡi em ơi, khi lửa hồng kia vẫn còn

Thiêu đốt thân nàng,

Đôi tay đành – sắp bỏ thanh gươm.

Nhụy Kiều ca vọng cổ:

2# – Thanh gươm nầy sẽ nằm trong tay ta mãi mãi dù thân xác ta sắp từ giã cõi dương trần… Máu hồng ơi! chầm chậm khoan tuôn đổ phút giây nầy, Cho ta hướng mắt nhìn về đất mẹ một lần sau cùng rồi nhắm mắt xuôi tay. Chút hơi tàn xin dâng trọn quê hương. Cha mẹ hỡi! Thôi từ nay xin vĩnh biệt... Thanh kiếm hỡi … Hãy giúp ta lần sau cuối, đánh đuổi quân thù để giành lại quê hương.

Giọng ca của cô rất mạnh mẽ, cao vút như đang xung trận, khung cảnh sân khấu bừng bừng lửa đỏ, cộng với tiếng reo hò tở mở của quân binh tướng sĩ, dường như là cảnh tượng nầy đã gợi lại cảnh cô suýt bị chết cháy trên sông nên cô diễn xuất thần, biểu lộ cái dũng mãnh của người quyết tâm giành sự sống, giành lấy cái chiến thắng sau cùng..

Diệu Hiền là một diễn viên thanh sắc lưỡng toàn, nổi danh từ đầu năm 1960. Đáng lẽ cô được dự tuyển chọn diễn viên triển vọng Huy Chương Vàng Giải Thanh Tâm như các cô Thanh Nga, Bích Sơn, Thanh Thanh Hoa …, nhưng chuyện gia đình rối rắm của cô đã ngăn bước tiến triển của cô trên đường sự nghiệp sân khấu.

Khán giả mộ điệu sân khấu cải lương trong những thập niên 1950, 1960, 1970, không thể nào quên vợ chồng nghệ sĩ tài danh Út Hậu và Diệu Hiền.

Út Hậu, tên thật là Trần Quảng Hậu, sanh năm 1939, được cha mẹ gởi đi tu ở chùa Thiên Phước Tự ở Trà Ôn từ năm lên 7 tuổi.

Trong chùa, Tiểu Hậu lễ Phật, đọc kinh, giọng trong, sang sảng như tiếng chuông ngân. Năm 12 tuổi, vì có giọng tốt, Tiểu Hậu được Ban nhạc lễ cúng đình nhờ đứng xướng danh các chức sắc trong Ban cúng tế.

Nhạc sĩ Mười Kiên trưởng Ban nhạc lễ nhận Tiểu Hậu làm đệ tử, dạy ca cổ nhạc (vọng cổ và các bài bản nhỏ). Tiếng đàn kìm, câu ca vọng cổ của ông Mười Kiên đã khơi dậy trong anh cái hồn nghệ sĩ và làm sôi lên dòng máu giang hồ mà câu kinh tiếng kệ không thể làm cho lãng quên được.

Năm 16 tuổi Tiểu Hậu quyết định rời chùa, đi tìm gánh hát để thỏa mơ ước trở thành một diễn viên sân khấu. Đến Sàigòn, may mắn đầu tiên là anh được nhận vào đoàn Kim Thanh của anh Út Trà Ôn do bốn tài danh sân khấu đương thời chung vốn thành lập (Kim Chưởng, Thanh Tao, Út Trà Ôn và vợ chồng Thúy Nga – Phước Trọng)

Đoàn Kim Thanh lúc đó (1955) đang tập tuồng để chuẩn bị khai trương gánh hát tại rạp Aristo tức là Trung Uơng Hí Viện ở đường Lê Lai, cạnh ga xe lửa Sàigòn.

Trần Quảng Hậu được Út Trà Ôn thu làm đệ tử và đặt cho nghệ danh là Út Hậu.

Út Hậu chỉ xuất hiện trong một vai khiêm tốn, nhưng có ca hai câu vọng cổ do soạn giả Thu An sáng tác thêm cho anh theo yêu cầu của anh Út Trà Ôn. Báo chí kịch trường thời đó phê bình buổi diễn khai trương của Đoàn Kim Thanh, ngoài việc khen tuồng hay, đào kép ca diễn giỏi, có đặc biệt lưu ý về sự xuất hiện của một kép ca: Út Hậu mà ký giả Hoài Ngọc tiên đoán là Út Hậu sẽ là một danh ca vọng cổ như Út Trà Ôn.

Một năm sau, Đoàn Kim Thanh giải tán.

Út Hậu gia nhập Đoàn Thanh Minh (Bầu Nghĩa), đã thành công trong vai Phù Đổng, vở Phù Đổng Thiên Vương của soạn giả Ngọc Huyền Lan (tức ký giả Nguyễn Ang Ca) và đã đóng chung với Thanh Nga trong vở tuồng Phận Trẻ Lạc Loài của soạn giả Lê Khanh.

Năm 18 tuổi, anh được soạn giả Bạch Vân mời về, chung vốn thành lập đoàn Mai Hoa – Út Hậu.

Út Hậu hùn vốn có nghĩa là tiền contrat anh ký với Bầu Mai Hoa được bỏ vô làm vốn chung của gánh hát; tuy có danh nghĩa là bầu nhưng mọi việc chi xuất tài chánh là đều thuộc quyền của ông Bầu Bạch Vân, chồng của cô đào Mai Hoa. Út Hậu chỉ lãnh lương đêm như bao nhiêu nghệ sĩ khác trong đoàn. Năm nầy Út Hậu được nhiều người biết tới, nhứt là giới bầu gánh, soạn giả và khán giả các tỉnh miền Tây vì báo chí kịch trường rất khen anh qua các vai diễn trong tuồng “Nửa mảnh tim“, ” Mái tóc người vợ trẻ ”

Cũng tại sân khấu nầy anh thành hôn với nữ nghệ sĩ Diệu Hiền, một tài danh vừa chớm nở trên vòm trời nghệ thuật cải lương ở miền Tây. Út Hậu và Diệu Hiền chung sống, có được hai con tên là Diệu Thanh và Quang Bình.

Hai năm sau, Đoàn Mai Hoa – Út Hậu giải tán.

Út Hậu trở về hát cho đoàn Thống Nhất của anh Út Trà Ôn.

Và năm sau nữa, anh rời đoàn Thống Nhất của Út Trà Ôn, về hát cho đoàn Kim Chung của Bầu Long.

Vì liên tục thay đổi đoàn hát, nghề nghiệp của Út Hậu không tiến triển được. Các ký giả kịch trường cũng bớt khen ngợi hay phê bình anh, mặc dầu trong thời gian đầu khi anh về cộng tác với đoàn Kim Chung, anh rất thành công qua các vai Lữ An Tùng trong vở “Nhạn Về Xóm Liễu“, vai Tường Vi trong vở ” Bên Cầu Vọng Thê “.

Năm 1965, Út Hậu muốn về đoàn Kim Chung 6 đang lưu diễn miền Trung để nắm vai chánh các vở tuồng của đoàn nầy thay vì lẩn quẩn ở các đoàn Kim Chung 1,2,3 nơi mà Út Hậu không thể hát hay hơn Hùng Cường, Minh Phụng, Minh Vương.

Nữ nghệ sĩ Diệu Hiền, vợ anh khuyên anh cùng về hát cho đoàn Tấn Tài, trước nhứt là vợ chồng con cái được đoàn tụ bên nhau, lo liệu chăm sóc lẫn nhau, sau nữa là đoàn Tấn Tài chuyên lưu diễn ở các tỉnh miền Tây, nơi mà khán giả còn dành nhiều cảm tình ưu ái cho cặp nghệ sĩ danh ca Út Hậu – Diệu Hiền, như vậy thì dễ thành đạt trên con đường sự nghiệp sân khấu hơn.

Vì không đồng ý nhau về việc chọn đoàn hát để cộng tác mà hai vợ chồng Út Hậu – Diệu Hiền to tiếng cãi vã nhau, kết quả là hai vợ chồng thôi nhau, kẻ đi theo đoàn Kim Chung 6 ở miền Trung, người theo đoàn Tấn Tài ở miền Tây.

Cho đến 10 năm sau, Út Hậu mới rời đoàn Kim Chung để về cộng tác với đoàn Thủ Đô – Tấn Tài thì Diệu Hiền bỏ đi cộng tác với đoàn khác. Hạnh phúc gia đình đổ vỡ không thể nào hàn gắn được.

Sau năm 1975 đến năm 1996, Út Hậu theo các đoàn hát hát ở miền Trung (đoàn Sông Hàn, đoàn Hoa Biển)

Cuối năm 1999, Út Hậu bị tai biến mạch máu não, bị bán thân bất toại ở Tuy Hòa.

Diệu Hiền đưa tiền cho con gái lớn là Diệu Thanh ra Tuy Hòa đưa Út Hậu về Sàigòn để điều trị.

Hiện nay Út Hậu tá túc trong nhà dưỡng lão của Nghệ sĩ ở quận 8. Tôi có đến thăm anh một lần, anh nói:

– Tiểu Hậu đã bỏ chùa, bỏ Phật để chạy đuổi theo hư vinh, quên cả vợ con vì tham vọng cá nhân, bây giờ khi hiểu được câu kinh kệ “Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc ” thì không còn có thể trở lại chùa được nữa.

Tôi cười, nói: “Phật tại tâm. Anh muốn tu thì ở nhà dưỡng lão cũng là tu rồi.”

Phần của Diệu Hiền thì phải nói là cô hy sinh tất cả để chăm sóc nuôi dưỡng hai con Diệu Thanh và Quang Bình. Mặc dầu đang là một nữ diễn viên thanh sắc vẹn toàn, có thu nhập cao trong một đoàn hát tỉnh, nhiều người ngấm nghé muốn kết hôn với cô, nhưng cô không muốn bước thêm bước nữa. Sự đổ vỡ của mối tình đầu, cũng là mối tình cuối của cô, làm cho cô nghi ngờ tất cả những lời nói yêu đương của nam giới. Cô chỉ muốn được yên tâm theo đuổi nghề hát để lấy đó làm kế mưu sinh và có phương tiện để nuôi dạy hai con của cô.

HỀ THANH VIỆT

làm thấy pháp bất đắc dĩ

Trong những thập niên 60, 70, 80, Hề Thanh Việt tuy không mang danh hiệu “Trạng Hề”, hay “Quái Kiệt “, hay” Danh Hề “, nhưng trên bất cứ sân khấu nào có mặt hề Thanh Việt diễn thì dường như khán giả đã quên mất những danh hề, quái kiệt hay các trạng hề khác. Khán giả hoàn toàn hài lòng với tài chọc cười nhẹ nhàng và tế nhị của Thanh Việt. Họ yêu mến Thanh Việt và thân mật gọi Thanh Việt bằng hai tiếng: Hề Râu chỉ vì cái bộ râu “quặp” độc đáo của Thanh Việt.

Thanh Việt sanh năm 1939, ở Hốc Môn.

Người ta nghe danh Thanh Việt khoảng năm 1955, 1956, khi các chương trình ca tân nhạc ở các rạp hát bóng Việt Long (đường Cao Thắng ) và rạp Văn Cầm (đường qua cầu Chữ Y) được khán giả ưa thích.

Thời gian này cũng là thời gian mà các ca sĩ như Ngọc Cẩm, Nguyễn Hữu Thiết, Trần Văn Trạch, ban hợp ca Thăng Long, ban vũ Trịnh Toàn và nhiều nữ danh ca tân nhạc mở màn cho loại hình sân khấu “Đại nhạc Hội”, góp phần cho sinh hoạt văn nghệ trình diễn ở Sài Gòn ngày thêm phong phú.

Thanh Việt có một người em ruột tên Thanh Sơn, cũng ca tân nhạc, diễn hài nhưng không gặt hái được sự thành công đáng kể nào. Thanh Sơn chuyển qua làm chuyên viên ánh sáng, phụ trách dàn đèn cho sân khấu tân nhạc.

Cả hai anh em Thanh Việt khi gia nhập quân đội Cộng Hòa, đều phục vụ trong tiểu đoàn 40 Chiến tranh Chính trị, dưới quyền điều khiển của thiếu Tá Sinh.

Khi Bộ Tổng Tham Mưu thành lập đoàn Hoa Tình Thương, Thiếu Tá Sinh được thuyên chuyển qua làm chỉ huy trưởng đoàn này thì Thanh Việt, Khả Năng, Phi Thoàn đều được điều động về đơn vị này.

.

Tôi không nhớ rõ trường hợp nào Thanh Việt gia nhập “Làng Hề”, nguyên do là vì anh khởi nghiệp trong giới “Tân Nhạc”, còn tôi thì trụ trì bên giới cải lương. Cơ duyên đưa đến cho tôi có nhiều dịp viết và tập cho Thanh Việt diễn hài kịch là lúc đoàn cải lương Thanh Minh-Thanh Nga hát thường trực tại rạp Thành Xương, sau đó ở các rạp Nguyễn văn Hảo, Hưng Đạo và Quốc Thanh, Hề Tùng Lâm thường mướn các rạp hát đó đế diễn xuất ban ngày, xuất 9 giờ sáng: Chương Trình Cù Lét.

Tùng Lâm thường nhờ tôi viết hài kịch cho những chương trình “Cù Lét” này. Đó là những năm từ 1960 đến 1966.

Lúc đó Chương trình “Cù Lét” của Tùng Lâm có tới 6 danh hề tân nhạc: Tùng Lâm, Xuân Phát, Khả Năng, Phi Thoàn, Thanh Việt, Thanh Hoài. Về sau có thêm một tay hài nữa tên Tùng Phèn, đệ tử của Tùng Lâm, nhưng Tùng Phèn chỉ có mặt trong một vài chương trình rồi anh biệt tích giang hồ.

Viết hài kịch cho 6 diễn viên hài, người nào cũng phải có chỗ diễn, người nào cũng phải có “ga” để làm bật tung lên những trận cười của khán giả, đó là một chuyện không phải dễ. Và mỗi vai hề phải có một lối chọc cười khác nhau; tuy khác nhau nhưng phải rập ràng, kẻ tung người hứng, phát triển theo cốt chuyện kịch, chớ không phải tùy tiện theo lối hề diễu rẻ tiền, mạnh ai nấy diễn.

Do yêu cầu nghệ thuật diễn hài kể trên, tôi phải nghiên cứu khả năng chọc cười của từng diễn viên để có cách khai thác khác nhau.

Ví dụ Phi Thoàn diễu thì phải nói nhanh, nói đủ thứ chuyện, chọc cười khán giả bằng điệu bộ lăng xăng, nói tía lia, méo mặt, méo mày, đưa tay giả làm lược vuốt tóc, v..v…

Khả Năng thì diễu “tỉnh”, nói năng chậm rãi và biết nhấn mạnh “từ” nào có thể chọc cười khán giả. Khả Năng “to con lớn xác”, nhưng có vẻ khù khờ, ngờ nghệch của một anh nông dân mới lên tỉnh thành. Phong cách đó trái ngược với phong cách của Phi Thoàn. Tôi viết cho hai anh Phi Thoàn – Khả Năng các lớp diễu đối chọi nhau như các cảnh diễn của hai danh hề quốc tế Laurel – Hardy, hai anh hề “Mập”, “Ốm”. Anh ốm (Laurel) thì lanh miệng, láu cá, khôn vặt, tìm cách hiếp đáp anh mập (Hardy). Anh mập ngu ngơ, khù khờ nhưng cuối cùng bao giờ cũng thắng…

Hai danh hề Tùng Lâm – Xuân Phát cũng có cá tánh và sắc vóc khác nhau, đối chọi nhau: Tùng Lâm lùn tịt, Xuân Phát cao lêu nghêu. Tùng Lâm lúc nào nói chuyện cũng có vẻ quạu quọ, như muốn gây lộn, cái mặt vác hất. Xuân Phát nói năng có vẻ trịnh trọng, cười luôn miệng, lúc đối thoại thì có vẻ chăm chú nhưng rồi không hiểu người ta nói gì. Xuân Phát gặp Tùng Lâm thì vồn vã, xum xoe, nhưng không hiểu, không nhớ những gì Tùng Lâm vừa nói nên khiến Tùng Lâm càng quạu quọ, càng trở nên lố bịch. Hai tính cách của hai vai trái ngược nhau, đối chọi nhau, tạo cười cho khán giả.

Đến Thanh Việt và Thanh Hoài, Thanh Hoài có bộ râu mép rất dầy, rất đậm, miệng cười toe toét, nói năng nhừa nhựa, người Bắc nhưng lại thích bắt chước nói giọng Nam, người nghe thấy ngây ngô, tức cười.

Thanh Việt cũng có bộ râu mép rất dầy, rất đậm, cộng thêm bộ râu “quặp” dưới cằm. Thanh Việt có tài làm cho bộ râu nhúc nhích, hoạt động, phối hợp với vẻ mặt diễn tả sự vui, buồn một cách rất hài hước. Chỉ cần nhìn bộ râu của Thanh Việt hoạt động, người ta cũng có thể cười được thoải mái. Cặp mắt của Thanh Việt khi nheo lại ngó ai cũng gợi cho người ta một niềm vui. Giọng nói của Thanh Việt cũng dễ gây cảm tình đối với người nghe.

Tôi nghĩ có lẽ đây là cái duyên trời cho, cái tài chọc cười thiên phú. Tôi từng làm việc chung với Thanh Việt trong nhiều đoàn hát, trong các phim trường, trong các đại nhạc hội hay thu băng, thu hình, tôi tìm hiểu khả năng “hài” của Thanh Việt thì tôi nhận thấy ngoài “cái duyên hài” trời cho, Thanh Việt còn khả năng bắt chước rất tài: bắt chước điệu bộ, nhại giọng nói, và có nhiều sáng tạo bất ngờ.

Tôi còn nhớ cuối năm 1963, thời cuộc ở Sài Gòn có nhiều biến động, lịnh giới nghiêm được ban hành, giới sân khấu cổ nhạc, tân nhạc đều điêu đứng vì không hát được xuất tối, phải chuyển qua hình thức “hát hội”, tập trung nhiều tài danh nghệ sĩ, nhiều tiết mục để câu khách.

Đoàn Thanh Minh-Thanh Nga hát ở rạp Hào Huê, tuồng Đoạn Tuyệt của Duy Lân. Màn đầu có tăng cường ca tân nhạc và một hài kịch ngắn: “Chàng rể hào hoa“, có hề Thanh Việt, Khả Năng, Phi Thoàn, Thành Được và Thanh Nga.

Đến tuồng Đoạn Tuyệt thì có trở ngại bất ngờ là Hề Minh, hề của gánh hát Hương Mùa Thu, vì say rượu, té xe Honda trên đường tới rạp hát nên bà Bầu Thơ phải kiếm người đóng vai thầy pháp thế cho Hề Minh.

Bà Năm Sa Đéc thủ vai bà phán Lợi đề nghị Thanh Việt thế vai thầy pháp và gợi ý nếu Thanh Việt quên thì bà ở kề cận, nhắc tuồng hay hát cương cho qua lớp đó. Miễn là có thầy pháp, hát vài câu, “kêu linh gọi hồn” là xong.

Thanh Việt xưa nay chưa hề đóng vai thầy pháp, không biết câu hát “kêu linh gọi hồn” thành ra tôi là soạn giả thường trực của đoàn hát, tôi phải cấp tốc viết mấy câu cho Thanh Việt học để lát nữa hát. Tôi ngồi gần bàn làm tuồng của Thanh Nga, hí hoáy, viết; Thanh Việt vừa vẽ mặt thầy pháp, vừa học theo từng câu.

Tôi nói:

– Một lát ra sân khấu, mầy vẽ bùa, bắt ấn quyết; khi “hô linh”, mầy nói hỡi hỡi … âm binh thần tướng thì xê tới gần cánh gà, tao nhắc câu nào, mầy hát câu nấy, chớ học bây giờ, sao mà thuộc được?.”

Thanh Việt nói:

– Ông thầy ráng ủng hộ tui nghe, xong xuất hát nầy, thầy trò mình đi nhậu.

Bà Năm Sa Đéc nghe, vừa cười vừa nói: “Ê! Mời ông thầy đi nhậu mà quên tui thì một lát tui cũng quên bạn thì đừng có trách nghen! ”

Thanh Việt bước lại, bóp bóp vai bà Năm Sa Đéc, nói: ” Tội nghiệp con mà Má! Con mua trầu cho Má xơi được hông?”

Ngoài sân khấu, tuồng diễn đến lớp Loan (Thanh Nga) bồng đứa con bị bịnh, đi khám bác sĩ về. Bà Năm Sa Đéc trong vai bà phán Lợi, mẹ chồng bước ra đay nghiến, đòi kêu thầy pháp trị bịnh tà cho cháu nội chớ không cho uống thuốc tây, không cho đi khám bác sĩ. Ngọc Nuôi trong vai Bích, cô em chồng đanh đá, dẫn ông thầy pháp (Thanh Việt ) vô, nói:

– Má, con rước ông thầy pháp ở xóm Sáu Lèo tới. Ống nổi tiếng bắt ma, trừ tà, trục hồn, trị bịnh giỏi nhứt ở núi Tà Lơn mới tới đó, má.

Bà Năm Sa Đéc nói mở đường cho thầy pháp Thanh Việt:

– Nè, ông thầy cứ thắp nhang khấn vái, đăng đàn gọi hồn nhập xác, cứ lấy khăn ấn nẹt nẹt vô mình của cháu nội tôi là nó hết bịnh liền. Khỏi phải vẽ bùa, đọc chú chi cho khan tiếng, nghe ông thầy.

Thanh Việt mừng quá, xá xá bà Năm, nói:

– Dạ, tôi làm gấp gấp, lãnh cachet rồi chạy chầu đám khác.

Khán giả nghe thầy pháp nói lãnh cachet, cười rộ lên. Thanh Việt biết mình lỡ lời, làm tĩnh, cầm nắm nhang khói ngui ngút, vẽ bùa bốn phương tám hướng. Bà Năm Sa Đéc muốn trát Thanh Việt, bước ra sát mặt tiền sân khấu, hướng về khán giả như muốn nói phân bua:

– Ông thầy pháp nói lãnh cachet là lãnh cái chi, phải hỏi ổng cho rõ.

Rồi bà hỏi tới tấp:

– Ông thầy nói lãnh cachet là lãnh cái chi vậy hả, ông thầy?

Thanh Việt trong nhất thời chưa biết trả lời sao, thấy bà Năm xớ rớ theo mình, liền nẩy ra sáng kiến:

– Tôi nói nếu bác “Rảnh”, bác xê ra cho tôi cúng kiếng …Bác Rảnh bác xê ra, chớ ai nói lãnh cachet cái gì đâu?

Tôi đứng trong cánh gà, nhắc Thanh Việt: “Ám ma ni bát di hồng!”

Thanh Việt múa khăn ấn đỏ, nẹt nghe rẹt rẹt, rồi lớn tiếng xướng theo lời nhắc của tôi:

“Ám ma ni bát di hồng …

Cấp cấp triệu thỉnh âm binh thần tướng lai đáo…

La Đường La Sát bách vạn thiêng liêng,

Tiền sai lôi tướng, hậu khiển âm binh.

Thính lịnh ngã sai, trừ tà sát quỷ.

Là hỡi… hỡi âm binh ôi… “

Thay vì nói La Đường La Sát bách vạn thiêng liêng, Thanh Việt rống họng la lớn: Bà Năm Sa Đéc bá vạn âm binh …

Khán giả cười ào ào. Bà Năm Sa Đéc nổi khùng, la theo: “Ông thầy cúng cái gì kỳ vậy hả?”. Bà kéo áo ông thầy pháp Thanh Việt.

Thanh Việt la lớn: “Ế, Mâm bô, I ta li nha nô. Ế, Mâm bô “. Giàn tân nhạc dường như đã được Thanh Việt dặn dò trước, tấu một khúc nhạc mambo rất giựt gân. Thanh Việt múa khăn ấn đỏ của thầy pháp, bước nhún nhảy vòng quanh theo nhạc điệu mâm bô, miệng hát cũng nhịp nhàng như người cốt lên đồng:

Truyền chư vị chúng thần,

Tương hồn ma nhập phách,

Hoặc hồn ở đám lau bụi lách,

Hoặc hồn ở các sà nách ba,

Hay hồn tới xóm cây Da xà

Nghe thầy triệu, hồn mau nhập thể, hô nhập …hô nhập..

(nẹt khăn ấn )

Hỡi ơi…hỡi, âm binh thần tướng, hề tụ lãnh lương,

Kép mùi, kép chánh, tướng cạnh, tướng con,

Mợ chài, mợ quý, vũ nữ, vũ công, hề tụ lãnh lương,

Bà Năm Sa Đéc, cũng hề tụ lãnh lương… ơi hỡi …âm binh

Cấp cấp theo lịnh triệu.

(dùng khăn ấn đánh mạnh vào đứa nhỏ)

Khán giả cười ào ào vì Thanh Việt kêu réo mọi người trong gánh hát hề tụ lãnh lương. Anh ta cũng không quên nhắc Bà Năm Sa Đéc tụ lại lãnh lương. Thanh Việt bặm môi, vểnh râu cằm ra phía trước, dùng cặp chân mày và bộ râu gõ nhịp theo điệu nhạc mambo, khiến cho khán giả cười vỡ rạp.

Tuồng “Đoạn Tuyệt” là một vở Bi Kịch, đến lớp này biến thành Hài Kịch, khán giả ghét nhân vật bà mẹ chồng độc ác, ghét cô em chồng đanh đá nên khi ông thầy pháp tới gây rối, chọc tức hai nhân vật trên thì khán giả rất hài lòng, cười khoan khoái.

Bà Năm Sa Đéc không biết làm cách gì để kéo lại cái không khí gay cấn của gia đình giữa mẹ chồng và nàng dâu.

Ông thầy pháp Thanh Việt thấy khán giả cười, càng khoái chí, vễnh râu múa mambo.

Thời may Thanh Nga (vai Loan ) chạy ra, giọng thất thanh, thét lớn: “Trời ơi! Con tôi đã chết. Người ta đã giết con tôi “. Thanh Nga ôm xác đứa bé thơ, khóc rống và gào to: “Con ôi…Con đừng chết nghen con “.

Khán phòng bỗng lặng im, Thanh Việt rón rén lui vào hậu trường. Người ta không cười nữa, mà mọi người xúc động nghẹn ngào vì tiếng khóc con của một bà mẹ trẻ, bị cái gia đình phong kiến đẩy vào thảm cảnh đau thương.

Thanh Việt làm thầy pháp bất đắc dĩ nhưng thành công một cách quá sức tưởng tượng của mọi người trong đoàn hát, vậy nên về sau có vai thầy bói, thầy hù, thầy pháp, soạn giả nào cũng muốn giành vai đó cho Thanh Việt.

NGHỆ SĨ HỒNG NGA

làm “mưa” trên không

Trong các trạng hề, nữ quái, danh hài gái hiện nay Hồng Nga và Ngọc Giàu đứng đầu sổ là được nhiều khán giả ái mộ nhất. Cả hai đều thành công lớn trong mọi mặt ca, diễn, diễu trên sân khấu cải lương cũng như ở kịch nói hay phim vidéo.

 

Trong cuộc đời đi hát thì Hồng Nga chịu nhiều lao đao lận đận hơn các bạn đồng nghiệp. Hồng Nga theo nghề rất sớm, chị xin theo gánh hát, đã từng làm tì nữ, làm quân hầu, làm vũ nữ rồi học ca, và muốn diễn được chị đã từng làm việc cho các đào hát như thể người ở, giặt quần giặt áo, chăm sóc tủ làm tuồng cho đàn chị để được chỉ bảo vài điệu ca, lối diễn.

Nhắc đến Hồng Nga, có nhiều vai diễn để đời, nhưng có hai vai mà không ai hát hay hơn Hồng Nga, muốn bắt chước cũng không thể nào bắt chước được.

Năm 1962, sân khấu cải lương chạy theo tiểu thuyết kiếm hiệp, đưa tuồng chưởng lên sân khấu.

Nhân vật tuồng kiếm hiệp là những kiếm sĩ cô đơn, khung cảnh chung quanh là mưa gió bão bùng hay sa mạc khô cháy, họ đuổi theo những mối tình vời vợi như ảo ảnh. Khung cảnh lãng mạn trữ tình là những miếng đất dành cho những giọng ca ai oán não nùng. Hồng Nga có giọng ca trời cho, nên khi đoàn Dạ Lý Hương của Bầu Xuân dự định quay phim cải lương kiếm hiệp “Cô Gái Đồ Long” thì Hồng Nga được phân vai Kim Hoa Bà Bà, một vai có ca vọng cổ, phi thân và đánh chưởng.

Bầu Xuân rước thầy Tàu trong nhóm múa lân ở ngang rạp Thủ Đô về dạy đánh kiếm, đánh côn. Hồng Nga vai Kim Hoa Bà Bà, nên xử dụng cây côn đầu rồng, đánh với Hùng Cường (vai Trương Vô Kỵ) Khi tập thử thì không sao, đến khi ra sàn diễn thu hình thu thanh thiệt thì lần nào Hồng Nga cũng múa gậy phang ngang, trúng ống quyển của Hùng Cường. Anh nầy vừa đau vừa giận, bỏ về không thèm thu hình nữa. Bộ phim kéo dài nhiều ngày, đạo diễn Lê Hoàng Hoa và Bầu Xuân kêu trời vì sợ lỗ lã.

Cuối cùng đạo diễn Lê Hoàng Hoa bố trí cho vai Kim Hoa Bà Bà khi gặp Trương Vô Ky thì phóng ám khí rồi phi thân mất dạng. Chỉ gặp Chu Chỉ Nhược (Kim Ngọc thủ vai nầy) thì Hồng Nga Kim Hoa Bà Bà mới ca vọng cổ với Kim Ngọc Chu Chỉ Nhược.

Sắp xếp như vậy thì Hùng Cường chịu quay phim. Khung cảnh được chọn lựa là khu mộ của gia đình chú Hỏa ở đường đi Thủ Đức, nơi đó có nhiều cổ thụ, một nơi có thể căn giây cable để rút cho các tay kiếm sĩ bay, phi thân hoặc đánh chưởng.

Về phần kỹ thuật cột giây bay, cách kéo giây bay, tôi chịu trách nhiệm chỉ cho các anh dàn cảnh làm nên tôi tới điểm diễn trước để kiểm soát và cho một anh dàn cảnh “bay” thử để bảo đảm an toàn. Tới nơi thì tôi thấy Hùng Cường đã tới trước, đang chuyện trò vui vẻ với các anh dàn cảnh. Tôi yên chí là phen nầy sẽ thu hình được các phân đoạn có cảnh bay.

Bầu Xuân, đạo diễn Lê Hoàng Hoa và caméraman Đường Tuấn Ba tới quan sát coi ánh sáng buổi đó khi thu hình thì giây bay có lọt vào ống kính không?

Ông thầy Tàu dạy võ cùng tới một lượt với Kim Ngọc, Hồng Nga, Ngọc Giàu và Thanh Sang. Mọi người đã được hóa trang. Thanh Sang vai Tạ Tốn Kim Mao Sư Vương. Ngọc Giàu vai Triệu Minh.

Chúng tôi còn đứng giữa sân quay, dưới làn giây cable kéo bay vì mọi người cũng muốn quan sát khi bay thì sẽ bay từ đâu tới đâu. Hồng Nga hóa trang xong, đã mang bộ giây bay bên trong làn áo của Kim Hoa Bà Bà.

Anh chín Siểng xếp dàn cảnh đã móc giây cable vô móc sắt trên lưng Hồng Nga. Anh kéo nhẹ nhẹ thử coi giây móc chắc chưa.

Lê Hoàng Hoa đang cầm loa giải thích cho Kim Hoa Bà Bà và Trương Vô Ky nghe lớp đó diễn như thế nào, bất thình lình Hùng Cường la thật lớn: ” Bay!”. Mấy anh dàn cảnh tưởng là có lịnh đạo diễn, ba người nắm giây kéo một cái thật mạnh rồi họ chạy xa vô trong để kéo Kim Hoa Bà Bà bay lên cổ thụ.

Hồng Nga đang đứng lắng nghe giải thích của đạo diễn, bỗng bị giựt bay vút lên trời, hết hồn la “Úy chết mẹ tôi rồi”

 

Cô sợ quá, “Tè” ra ướt quần. Cô bay ngang qua đầu Lê Hoàng Hoa, Bầu Xuân, ông thầy Tàu và các bạn Thanh Sang Ngọc Giàu, Kim Ngọc …

Nước…như mưa, khai mùi ạt-mô-nhắc rưới dài theo giây bay. Mọi người lấy tay che đầu, chạy tán loạn tránh cơn mưa “nước tè” đó.

Hồng Nga khóc ồ ồ trong khi mọi người ôm bụng lăn ra mà cười!

Hùng Cường khoái chí vì chơi Hồng Nga một vố đau, trả được cái thù Hồng Nga phang gậy vô chân anh ta. Hùng Cường còn chạy tới, biểu Bầu Xuân đưa đầu cho anh ta ngửi thử coi có được xức dầu thơm của Hồng Nga không.

Bầu Xuân cái mặt xanh dờn, vừa tức cười vừa tức giận, ông ta không dám cự Hùng cường vì Hùng Cường đang là kép ăn khách nhất của đoàn. Ông nói:

– Hùng Cường lại dỗ Hồng Nga đi, cổ khóc một hồi khan tiếng, hết ca vọng cổ đó.

Hồng Nga vừa khóc vừa cười, nói:

– Để tôi thay cái quần đã rồi quay tiếp. Thằng cha Trương Vô Kỵ tới là tôi đá...cái hộc máu.

Đây là vai tuồng “Làm mưa” độc đáo của Hồng Nga mà không ai bắt chước được.

Vai tuồng để đời: Hồng Nga trong vai cố mẫu.

Tôi đã xem Hồng Nga diễn rất nhiều vai trên sân khấu Dạ Lý Hương, trên truyền hình và sau nầy trên các băng vidéo. Hồng Nga là diễn viên “đa năng, đa diện”. Cô đóng các vai đào mùi, đào lẳng, đào độc, mụ mùi, vai Hoàng Hậu, võ tướng đều giỏi. Sau nầy diễn nữ hề, giựt giải “Cù Nèo Vàng”, giải “Những nữ hề hay nhất.Tuy nhiên chỉ có một vai mà chưa ai thay thế bằng, đó là vai bà cố mẫu trong tuồng Dương Vân Nga của Hoa Phượng.

Cốt truyện tuồng lớp đó như sau:

Bà cố mẫu Hồng Nga đang nghe lời xúc xiểm của Đinh Điền, Nguyễn Bặc, sợ Dương Vân Nga trao quyền cho Lê Hoàng, đưa giang sơn cho giòng họ khác. Bà rất tức giận. Tì nữ dâng trà thì Dương Vân Nga tới. Bà cố mẫu (Hồng Nga) từ từ quay lại, bưng tách nước đổ xuống nền đá. Dương Vân Nga sửng sốt.

 

Bà cố mẫu Hồng Nga nhìn theo những giọt nước vừa đổ xuống, cất giọng lạnh như băng:

“Nước đã đổ rồi, có hốt lại được đâu. Hẳn là con dâu của mẹ cũng nghe qua lời xưa tích cũ. Kìa… nước thấm thềm hoa, nước đi vào lòng đất để tìm lại gốc cũ người xưa. Con ôi, nguồn cội họ Đinh, xuất phát từ nơi mẹ vừa đổ nước. Trên mảnh đất ướt mà mẹ con ta đang đối mặt nhìn nhau. Nơi đây bây giờ cửa cuốn rèm che, chớ trước kia là hang sâu động thẳm, nơi mà người mẹ góa đầu đội mưa nguồn, chân leo dốc vắng, tháng ngày lặng lẽ, thắt lưng buộc bụng lầm lũi nuôi con cho đến khi con khôn lớn nên…

(Vọng cổ)…Người… Chung quanh ta xưa kia hoa lau san sát non ngàn. Nhớ thuở thằng bé bẻ lau làm cờ tập trận. Trâu thả lưng đèo, vắt vẻo tiếng sáo khuya, chỗ nầy xưa kia chỉ là mái tranh nghèo, gió lùa vách núi từng cơn, mẹ góa con côi, sống kiếp mục đồng, học điều nhân nghĩa…”

Lối diễn của Hồng Nga rất cô đọng, súc tích. Sân khấu lặng trang, khán giả nín thở theo từng câu ca, từng hơi thở của Hồng Nga và bị cuốn hút vào cái cổ kính trang nghiêm của một thời lịch sử xa xưa. Tôi thấy sau câu Hồng Nga ca, cả rạp hát bùng nổ những tràng pháo tay như mọi người chợt tỉnh sau một cơn xúc động sâu xa. Tôi nghe lại băng vidéo để ghi lại câu ca nầy của Hồng Nga,tôi vẫn cảm thấy còn xúc động bàng hoàng như đang ngồi giữa rạp hát, lắng nghe giọng ca vàng và điệu hát quyến rũ của Hồng Nga.

Một vai để đời…một vai không ai thay thế được của Hồng Nga.

NHÂN VẬT “ĐIÊN”

trên sân khấu cải lương

Trên sân khấu cải lương, nhân vật “ĐIÊN ” thường được các nghệ sĩ “có tay nghề”, cho là một vai tuồng hết sức khó diễn cho hay, nhưng cũng không ít nghệ sĩ cho là loại vai dễ diễn nhất vì chỉ cần đầu bù tóc rối, mặc quần áo lòe loẹt “hỏng giống ai”, hát hò nghêu ngao hoặc hú la thất thường. Đào điên thì mặt dồi phấn thật trắng, má hường vẽ hai khoanh tròn trên gò má, đầu giắt bông hoa thật lớn, màu đỏ sậm hoặc trắng toát, y phục cũng in bông hoa lớn hoặc có hình vẽ chim cò, tay cầm chổi hay ôm con búp bê, chân đi lạng quạng, miệng hát ru em hay cười the thé…

Phần lớn các nghệ sĩ này diễn theo các vai “điên” đã được thể hiện trên sân khấu hát bội thuở xa xưa (các thập niên 1920 – 1930), hoặc họ thấy vài người điên vì tình trên đường phố, rồi bắt chước cách ăn mặC, đi đứng, miệng hát lảm nhảm hay hú la để thể hiện vai tuồng điên của mình trên sân khấu.

Ở Sài Gòn, sau năm 1975, có một cô gái điên rất được nhiều nghệ sĩ cải lương quen biết và đặt cho cô gái điên nầy biệt danh là cô Năm Tu Hít.

Cô Năm Tu Hít vì lúc nào cô cũng đeo một cái tu hít trước ngực như trọng tài các trận túc cầu hay cảnh sát công lộ. Khi cô tỉnh, cô đọc sách, đọc báo và nói chuyện bằng tiếng Anh, tiếng Pháp rất giỏi vì cô nguyên là một nữ tiếp viên hàng không Việt Nam, có chồng là Thiếu Tá không quân, bị bắt đi học tập cải tạo và chết ở trại tù Hoàng Liên Sơn. Đêm đêm cô thường đi xem hát cải lương ở rạp hát Hưng Đạo. Lúc nào cô cũng mặc bộ y phục bằng hàng, lụa, có in hình những đóa hoa hồng nhung hoặc hoa hướng dương thật lớn, màu rực rỡ và luôn luôn có mang theo tu hít. Khi trên sân khấu, đào, kép đóng những pha mùi mẫn, ca vọng cổ, xáp lại ôm nhau thì cô Năm thổi tu hít thật lớn và hét lên: “Không được ôm! Đứng xa ra!”.

Khán giả rất bực mình và các anh nhơn viên soát vé phải nhiều lần khuyên can, thậm chí có khi phải tạm thời giữ cái tu hít của cô ta và chỉ trả tu hít lại khi vãn hát.

Cô ta nói:

– Tại sao người ta bắt chồng cô ở tù, không cho gần gũi, ôm ấp cô ta? Bất cứ ai, ôm nhau trước mặt cô là cô thổi tu hít, biên phạt như cảnh sát công lộ phạt xe chạy ẩu trên đường phố.

Khi mọi người hiểu được hoàn cảnh của cô, đều thông cảm cô. Về sau, cô xem hát và vẫn thổi “phạt” những pha đào kép ôm nhau. Khán giả cười, có khi vỗ tay tán thưởng hành động điên nầy của cô Năm Tu Hít.

Tôi nhắc lại chuyện cô Năm Tu Hít để nói về một nữ nghệ sĩ (tôi xin không nói rõ tên vì đây là một chuyện thuộc về dĩ vãng đáng quên), đoàn cải lương Cửu Long 1 hát ở rạp Hưng Đạo, tuồng “Ai Làm Vua” của soạn giả Hoài Nhân có Vua bị tiếm ngôi, Bà Hoàng Hậu bị nhốt trong lãnh cung. Tên quyền thần vô lãnh cung định cưỡng hiếp bà nhưng khi ấy bà đã điên loạn. Khi tên quyền thần xáp tới, nắm tay bà Hoàng Hậu thì bà nầy giựt tay lại và móc cái tu hít đeo trước ngực thổi: “Dang xa ra! Không được ôm! “.

Không ngờ đêm đó cũng có cô Năm Tu Hít coi hát, cô khoái quá, leo lên sân khấu, móc tu hít ra, thổi phụ với Hoàng Hậu trong tuồng. Tướng cạnh của Vua lại kéo cô vô cánh gà cho bên ngoài nghệ sĩ hát tiếp. Cô ta ghì lại và thổi tu hít lia chia như nói chuyện đối đáp với anh tướng cạnh. Cô diễn viên đóng vai Hoàng Hậu cũng quên là mình đang hát, tiếp tay cô Năm nói chuyện bằng “tu hít” khiến cho khán giả được một trận cười nghiêng ngả!

Đoàn hát phải buông màn xuống, xin lỗi khán giả vì “Sự Cố” vừa rồi. Diễn viên đóng vai Hoàng Hậu “điên”, thổi tu hít là định bắt chước cô Năm Tu Hít và theo cô ta lý luận thì người điên thổi tu hít là một “hình tượng mới” có thể đưa lên sân khấu giống như kiểu những người điên gào, thét hay kêu hú như thú rừng.

Hình tượng bà Hoàng Hậu điên thổi tu hít không được Đoàn hát và khán giả chấp nhận, cô diễn viên có sáng kiến “điên” này: Cô Sáu… được phong tặng danh hiệu cô Sáu Tu Hít. Cô bỏ nghề hát, mở một quán bán bún thịt nướng trong chợ An Đông.

Trở lại chuyện nhân vật “Điên” trên sân khấu, trong nghệ thuật Hát Bội, không có vai nữ nào “điên thật ” mà chỉ có những vai nữ “giả điên” để qua mặt quân thù như các vai Phương Cơ trong vở Tam Nữ Đồ Vương, vai Xuân Hương trong vở Dương Chấn Tử, vai Kim Liên trong vở Ngũ biến báo phu cừu. Phải diễn sao cho khán giả thấy vai đào đang tỉnh phát điên. Đang buồn, đang lo bỗng phát cười lên hắc hắc, ngó dáo dác, chỉ trỏ mơ hồ rồi hát bài điên như sau: ( tuồng “Mao Y Thần Cung “)

Vui quá lắm… Vui quá lắm

Để tao chơi… để tao chơi,

Kìa ngựa xe như nước,

Nọ áo quần như nêm

Ợ Ợ…

Kìa ma trêu trước cửa

Nọ quỷ lộng sau hè

Bớ bây ôi… bớ bây ôi,

Tao sợ lắm… tao sợ lắm…

Sầu tình, lan huệ đã phai màu,

Do bởi vì ai khiến dãi dầu?

Lan huệ buồn duyên, lan huệ héo

Sông Tương mờ chảy, biết về đâu?

(Đào điên ôm mặt khóc ngất, rồi lại cười hắc hắc)

Bài hát điên chỉ tạo cái không khí “điên” để khởi đầu cho diễn viên diễn, khi quanh mình có quân lính bên nghịch thì cô điên tròng ghẹo lính, hát mời rượu rồi lại khóc,… (tuồng Ngũ biến báo phu cừu ) Cô Năm Nhỏ, Cô Năm Đồ, cô Kim Chắc hát những vai điên nầy thật hay, khi thì thấy như điên thật, khi thì thấy lộ rõ dụng ý qua mặt quân canh. Lời tục có câu “Giả dại qua ải” có lẽ bắt nguồn từ các cách hát giả điên qua ải của đào Kim Liên trong tuồng “Ngũ biến báo phu cừu” này chăng? Sau này các cô Thanh Thế, Xuân Yến, Kim Thanh, Ngọc Đáng, đều nổi danh qua các vai đào điên kể trên.

Tôi còn nhớ nhiều diễn viên thành danh nhờ diễn vai “điên” trên sân khấu cải lương. Người đầu tiên là Út Trà Ôn nổi tiếng là “Danh ca vọng cổ”, rồi được gọi tặng là “Vua Vọng cổ” qua bài vọng cổ “Tôn Tẫn Giả Điên”. Tất nhiên là anh Út Trà Ôn ca rất nhiều bài hay, nhưng bài Tôn Tẫn Giả Điên là bài hát đầu tiên mà khán, thính giả khám phá ra khả năng thiên phú của anh khi anh diễn đạt các bài ca vọng cổ.

Những người lớn tuổi, thích đọc truyện tàu, chắc còn nhớ “chuyện” Bàng Quyên – Tôn Tẫn”, đôi bạn học đạo cùng thấy là Quỉ Cốc Tiên ông. Tôn Tẫn được thầy truyền dạy Thiên Thư, biết phép hô phong hoán vũ, di sơn đảo hải…

Bàng Quyên xuống núi trước, lại có tâm địa bất chánh nên không được Quỉ Cốc Tiên dạy phép mầu. Bàng Quyên dùng quyền thế, bắt chặt một bàn chân của Tôn Tẫn rồi giả nhân giả nghĩa hứa sẽ tha nếu Tôn Tẫn chịu chép quyển Thiên Thư truyền dạy lại cho hắn.

Tôi xin chép lại một số câu của bài Vọng cổ “Tôn Tẫn Giả Điên”, và nói về cách ca của anh Út Trà Ôn:

1/- Úy trời đất ôi! Cái nỗi đoạn trường … cũng tại vì tôi quá tin thằng Bàng Quyên là bạn thiết, nên ngày hôm nay tôi mới ra nông nỗi.

2/- Còn như công cuộc ngày hôm nay đây, bởi tôi không cẩn thận, nên bạn tôi đành chặt đứt một bàn chân tôi.

3/- Khi mà tôi ở trên non, quyết tu tâm dưỡng tính, luyện thuốc trường sinh, mong thành chánh quả đặng tọa hưởng trên Bồ Đàn.

4/- Nào hay đâu thằng Bàng Quyên nó lên năn nỉ ỷ ôi, lời ngon tiếng ngọt, nó nói rằng Chúa của nó là một đấng Mình Quân chơn mạng. Nên nó bảo tôi một một hai hai cũng phải xuống mà đầu hàng.

5/- Trong khi ấy, tôi mới hạ san. Thầy tôi tặng cho tôi một bức cẩm nang, lại căn dặn tôi rằng, hễ mỗi khi lâm nàn thì mở ra xem, đặng liệu chước biến quyền.

6/- Vậy thì, vọng nguyện tôn sư, khai thơ cứu mạng… ủa sao trong thơ không có điều chi lạ, chỉ có một chữ “Cuồng”.? phải rồi, thầy tôi bảo giả điên đặng có thoát thân.

Anh Út Trà Ôn giọng rất trầm ấm, làn hơi mạnh bạo, tiếng ngân vang rất xa, khi anh gọi đến thầy: “Ớ này Quỉ Cốc tiên sinh thầy ôi!”, tiếng vút cao như tiếng gọi vong linh của những tay phù thủy khi đăng đàn réo hồn bắt quỷ, nghe nổi gai lạnh xương sống…

Khi anh ca câu 9:

9/- Không, không có thể nào ai mà biết tôi đâu. Tôi đây là con của trời, cháu của Phật, tôi là vua, là chúa, là tướng, là quân, là trù phòng tể nhục “.

Trong một câu vọng cổ có tới 6 tiếng “là”, được anh Út Trà Ôn ca qua mỗi chữ “là” như có đổi âm sắc khác nhau, như khoe khoang, như tâm sự, người nghe cảm giác như người ca có cái vẻ hơi “tửng, tửng”, hơi điên điên, biểu lộ tâm trạng căng thẳng và thay đổi bất thường của nhân vật.

Sau này, khi tôi làm trưởng Ban Phương Nam, ban cổ nhạc đài phát thanh Quân Đội, tôi có thu thanh lại bài Vọng cổ này để phát thanh, anh Bảy Quới, anh Thành Công, Anh Sáu Thoàng đều có ca thử và các anh công nhận là không thể ca hay hơn anh Út Trà Ôn về bài này.

Sự thành công của anh Út Trà Ôn khi diễn đạt vai Tôn Tẫn “điên” thì phần diễn xuất điệu bộ, anh chỉ đạt được 3 phần 10 hiệu quả, còn phần ca, làn hơi, giọng ca và cách thể hiện, rõ ràng là anh lôi cuốn được khán giả trọn vẹn.

Còn một nghệ sĩ thành công khi diễn vai “Điên” trên sân khấu, đó là Hề Ba Vân. Sau vai diễn để đời của anh trong tuồng “Khi Người Điên Biết Yêu”, anh được báo chí và khán giả tặng mỹ hiệu là Quái kiệt Ba Vân.

Quái kiệt Ba Vân, tên thật là Lê Long Vân, sanh năm 1908, xã An Đức, Huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, đi hát từ năm 1924, gia nhập đoàn Tái Đồng Ban, rồi qua các gánh hát Tân Hí Ban, Quảng Lạc Ban ở Hà Nội( 1927), Đoàn Phước Cương, đoàn Thanh Tùng, đoàn Năm Châu, đoàn Phụng Hảo, đoàn Con Tầm, đoàn Việt Kịch Năm Châu( 1948), đoàn Năm Phỉ, đoàn Kim Chung Bầu Long, Đoàn Kim Thanh, đoàn Út Bạch Lan Thành Được… (65 năm đi hát).

Quái kiệt Ba Vân nổi danh khi thủ diễn vai Phê trong vở tuồng “Khi Người Điên Biết Yêu” của soạn giả Trang, Châu, Nở.

Tôi mê nhân vật Phê từ khi tôi được xem đoàn Việt Kịch Năm Châu trình diễn vở tuồng này năm 1948. Vở hát có tuổi thọ trên 50 năm, khi nhắc lại các vai diễn hay, để đời của các nghệ sĩ tiền phong, tôi tưởng cũng nên tóm tắt lại cốt chuyệr tuồng và vài đặc điểm về ca, diễn của tuồng đó.

Tóm lược truyện tuồng “Khi Người Điên Biết Yêu” như sau:

“Một cơn hỏa hoạn tàn phá khu lao động nghèo thuộc xứ mỏ Hòn Gai. Anh thợ máy Bạch cứu được một bé gái mồ côi đem về nuôi dưỡng và đặt tên là Bê.

Mười sáu năm sau… Vợ Bạch bất hạnh lìa đời. Ông nhờ cô con gái nuôi (Bê) tảo tần buôn bán nên cũng sống yên ổn trong một ngôi nhà khang trang.

Phê, con ruột của Bạch, tính tình ngông cuồng, thấy Bê có nhan sắc nên muốn lấy làm vợ. Bạch không bằng lòng nên Phê càng ” iận trời, giận đất”, không nguôi dục vọng bất thường ấy.

Bê đã có người yêu là một sinh viên nghèo tên Thi, nàng thường giúp đỡ tiền nong cho Thi ăn học.. Một hôm Bạch vắng nhà, Thi đến từ giã Bê để đi xa tìm cách lập nghiệp. Phê trông thấy, nổi ghen, xách dao hăm dọa Thi.

Tình cờ Bạch say khướt, về nhà, chứng kiến việc Phê dọa giết Thi. Ông can thiệp, rầy mắng Phê. Phê nổi điên, cự lại với cha; chẳng may trong cuộc giằng co, ông Bạch té sấp, lưỡi dao đâm ngay bụng. Phê đổ cho Thi tội sát nhân.

Thi bị lưu đày 15 năm, còn Bê vào tù vì tội đồng lõa. Bê thổ huyết, chết trong ngục. Phê hoảng sợ, phát điên, lang thang cùng trời cuối đất.

20 năm sau, nơi mảnh đất xảy ra vụ án mạng năm xưa, người ta thấy một ngôi chùa được dựng lên. Một hôm, sư trụ trì đang thuyết pháp thì Phê xuất hiện, thóa mạ nhà sư. Thì ra nhà sư ấy chính là Thi, sau khi mãn hạn tù về, người yêu (Bê đã chết, Thi chán ngán sự đời nên đi tu.

Còn Phê thì bị dày vò tội lỗi đến mức cuồng loạn tâm trí. Sự đối diện giữa lương tri và tội ác, phần lương tri đã thắng. Phê ăn năn và cũng là lúc Phê tàn hơi, mỏn sức, Phê giã biệt cuộc đời trong sự độ lượng của Thi.”

Ba Vân diễn vai Phê, cái điên của Phê không dữ đội đến mức “đem cả làng Vũ Đại ra mà chửi như Chí Phèo”, Phê điên vì dục vọng bất thành, giằng xé, cắn rứt, rũ rượi đến tột cùng.

Trong sự tuyệt vọng của một tình yêu câm nín, với nhân tính què quặt, Phê đã đứng ra làm vật cản giữa đôi tình nhân Thi và Bê. Trong lớp diễn này, Phê (Ba Vân ) để đầu tóc rối bù, quần áo xốc xếch, trên đầu phủ một nón nỉ cũ rách. Phê mạt sát Thi “dám trộm hoa của tao”, cười sằng sặc, rú lên từng tràng. Mặt của Phê có vẻ ghê rợn và uất ức khi Phê ngửa mặt cười rú với trời, biểu hiện một lý trí đã đi hoang! Nhưng sự đau khổ lúc này chưa phải đã đến tột điểm, Phê, qua diễn xuất của Ba Vân, vẫn còn chút hơi ấm nồng nàn của tình cảm con người. Phê dịu dàng nói với Bê:

“Em thật là tươi đẹp, là chứa cả những hoa đẹp trong vườn. Em nói anh điên à? Anh điên thật vì… vì em đó Bê à!”

Phê gục mặt xuống, ngồi phịch xuống băng ghế, hai tay bưng đầu, khóc nức nở.

Ghê rợn … Ghê rợn, tôi nghĩ là phải dùng tĩnh từ này để nói lên tâm trạng hoảng loạn của Phê qua diễn xuất của Ba Vân.

Phê điên loạn vì mất đi môi trường đối thoại bình thường cho tâm hồn con người: tình yêu đối với Bê không bao giờ được đáp lại, không thể thuyết phục được sự ưng thuận của cha, không thể làm vật cản giữa Thi và Bê, cái chết của cha và của Bê do chính Phê là thủ phạm, lại là cái cớ để Phê đưa Thi vào tù.

Khi mà tất cả những người có thể đối thoại bình thường với Phê bị loại trừ thì chỉ còn lại Phê với lương tâm của chính mình, giằng co, ray rứt, hoảng sợ đưa tới điên loạn, điên loạn trong sự cô đơn đến tột cùng.

Anh Ba Vân đã đến nhà thương Biên Hòa để quan sát thái độ và sự phản ứng của những bệnh nhân mất trí khi họ không bằng lòng. Anh đã được bác sĩ phụ trách bệnh viện chỉ cho biết đây là người điên vì thất tình, kia là người điên vì mất tiền, bị tán gia bại sản. Cũng có những người điên vì uống lậm thuốc, hoặc giận quá hóa điên, vì thù oán hay điên vì bệnh di truyền.

Anh nghiên cứu và tìm ra cách diễn cho nhân vật Phê, điên vì tình, vì oán hận, vì ăn năn, vì sự trừng phạt của lương tâm. Điên mà vẫn tỉnh trong nội tâm, tỉnh mà vẫn điên như nồi hơi bị ép tới phải nổ bùng: Khó diễn đạt nhưng khi thành công lại là sự thành công lớn của Ba Vân trong nhân vật Phê.

Qua vai diễn người điên (Phê), anh Ba Vân đã đem: luồng gió mới vào lối diễn xuất theo khuynh hướng tả thực “Một sân khấu Đẹp và Thật” như chủ trương của anh Năm Châu.

Người điên qua cách diễn của anh Ba Vân đã khắc họa hình tượng một người điên độc đáo, không giống với bất cứ người điên nào khác. Qua cách diễn tả thực, Ba Vân đả phá lối mòn diễn xuất “rập khuôn” như cách học truyền nghề trước đây của Hát Bội và Hát Bội Pha Cải Lương.

Ba Vân được khán giả và ký giả kịch trường tặng cho mỹ hiệu Quái Kiệt Ba Vân nhờ công sáng tạo phương pháp kết hợp người mẫu có thực trong cuộc sống đời thường với nhân vật trong kịch bản để tạo thành một mẫu người có “tính cách và nhân cách điển hình” của sân khấu cải lương tuồng xã hội

Anh Ba Vân từ trần năm 1984, an táng tại nghĩa trang nghệ sĩ ở Gò Vấp, hưởng thọ 80 tuổi.

Trên sân khấu cải lương cũng có những diễn viên thành danh qua một vai “Điên” như Thanh Sang trong vai Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn, lúc ở Băng Hỏa Đảo, bị đui mù vì độc châm của Hân Tố Tố, phát điên vì nghĩ không ra bí mật Đồ Long Đao.

Tạ Tốn đã khống chế Trương Thúy Sơn và định hãm hiếp Hân Tố Tố thì Trương Vô Ky mới được sanh ra, khóc thét lên. Tiếng con nít khóc đã đánh thức lương tri của Tạ Tốn. Ông kịp thời dừng lại trước khi phạm vào một tội ác tày trời.

Thanh Sang đã diễn tuyệt hay, giữa tình trạng đang điên loạn và bất chợt nghe tiếng trẻ thơ khóc, Tạ Tốn đang dữ dội, bỗng ngơ ngác lắng nghe tiếng u ơ của trẻ thơ, rồi nở nụ cười thánh thiện của một người cha trước đứa con máu thịt vừa mới được sơ sinh.

Thanh Sang đã diễn rất tinh tế, phản ứng trước tiếng cười trẻ thơ, vai Tạ Tốn lắng nghe và nở một nụ cười đôn hậu, hai nụ cười của trẻ thơ và của người già kết hợp nhau như có sức mạnh của một tia chớp chói sáng giữa trời, soi rọi tâm linh đen tối vì thù hận của Tạ Tốn: trong một cái chớp mắt đã làm nhạt nhòa thù hận giữa Tạ Tốn và Thành Khôn.

Khán giả hồi hộp theo dõi coi Hân Tố Tố, Thúy Sơn và đứa bé sơ sinh có thoát khỏi cái chết vì sự điên loạn của Tạ Tốn không. Khi nghe tiếng trẻ thơ khóc và nụ cười tuyệt vời nở trên môi lão điên Tạ Tốn, khán giả đã vỗ tay ào ào, như họ trút được nỗi sợ hãi chết chóc nhờ ở nụ cười đúng lúc của Thanh Sang trong vai Tạ Tốn.

Thanh Sang với nụ cười sáng giá này đã lãnh huy chương vàng giải Thanh Tâm năm 1964.

Còn rất nhiều diễn viên thành danh nhờ diễn xuất vai “Điên” trên sân khấu cải lương như nghệ sĩ Vinh Sang đoàn Thanh Minh Thanh Nga với vai điên tên Thuyết trong tuồng “Mưa Rừng” của Hà Triều Hoa Phượng.

Chị Ngọc Nuôi thành công với quá nhiều vai diễn, nhưng khi báo chí nhắc lối diễn xuất trong một vai để đời và rất khó của chị Ngọc Nuôi là nhắc lại khi chị diễn vai bà mẹ điên giết con mà đứa con bị giết là anh Việt Hùng thủ diễn trong tuồng “Chén trà của quỷ” của Nguyễn Phương. Cái điên vì tham tiền, cái điên loạn vì giết lầm con ruột của mình, cái điên vì chợt khám phá ra cuộc đời vô nghĩa khi mình đạt được tham vọng có bạc vàng mà mất cả tình thương, chị Ngọc Nuôi diễn hay đến độ khi chị nâng đầu đứa con (do Việt Hùng thủ diễn) chị kêu hai tiếng “Con ơi”, cả khán phòng bật tiếng khóc theo chị. Nếu chị diễn vai điên nầy “chưa tới” thì khán giả sẽ nhớ hai diễn viên đang đóng vai mẹ và con kia là hai vợ chồng ngoài đời. Tiếng gọi con thay vì gây xúc cảm, sẽ làm bật lên tiếng cười.

Còn nữa… còn rất nhiều vai điên mà diễn viên khắc họa những nét rất thật, rất xúc cảm, tôi xin phép tạm dừng bút nơi đây vì nghĩ mãi những vai điên, tôi sợ cũng sẽ điên theo!.

NHÂN VẬT “HỀ”

trên sân khấu cải lương

Hát bội và hát cải lương là hai loại hình nghệ thuật sân khấu gần gũi nhau, có nhiều ảnh hưởng tác động lẫn nhau nên tôi nghĩ khi bàn về nhân vật Hề trên sân khấu cải lương, cũng cần nói phớt qua về nhân vật Hề trên sân khấu hát bội.

Năm 1955, tôi là soạn giả của đoàn cải lương Thanh Minh, đoàn nầy diễn thường trực tại rạp Thành Xương, đường Yersin. Bên hông rạp Thành Xương là đình Cầu Quan, nơi đoàn hát bội Bầu Thắng hát thường trực, do đó tôi có nhiều dịp xem hát bội và làm quen với các anh Minh Tơ (cha của nghệ sĩ Thanh Tòng), anh Thành Tôn (cha của Nghệ sĩ Bạch Lê) và nhiều diễn viên thời danh ngành hát bội.

Qua anh Thành Tôn, tôi có nhiều dịp đến Hội Khuyến Lệ Cổ Ca, được trò chuyện và học hỏi với nhà nghiên cứu sân khấu tuồng cổ là ông đốc phủ Đỗ Văn Rỡ và đệ tử của ông là nghệ sĩ kiêm soạn giả Đinh Bằng Phi.

Theo học giả Đỗ Văn Rỡ, tuồng hát bội có thể phân loại như sau.

– TUỒNG THẦY, còn gọi là tuồng cổ có các vở: Sơn Hậu, Tam Nữ Đồ Vương, Giác Oan, Dương Chấn Tử, Đào Phi Phụng, Lý Phụng Đình, Hồ Thạch Phủ…

– TUỒNG CUNG ĐÌNH có các vở do các quan lại triều Nguyễn sáng tác: Võ Nguyên Long, Đảng Khấu Chí, Vạn Bảo Trình Tường, Quần Phong Hiến Thụy…

– TUỒNG VĂN THÂN do các văn thân sáng tác khoảng cuối thế kỷ 19 như các vở: Kim Thạch Kỳ Duyên, Hộ Sinh Đàn, Phong Ba Đình…

– TUỒNG PHO là những vở được sáng tác dựa theo các pho truyện của Trung Quốc như Tam Quốc Chí, Tiết Nhơn Quí chinh đông, Tiết Đinh San chinh tây...Mỗi pho gồm nhiều vở nối tiếp, diễn liên tục hàng chục đêm không hết. Như pho Tam Quốc Chí có các vở:

– 1# Hội Bàn Đào Lưu Quan Trương kết nghĩa.

– 2# Tam Anh Chiến Lữ Bố.

– 3# Phụng Nghi Đình,

– 4# Quan Công đấp đập bắt Bàng Đức.

– 5# Quan Công Thất Thủ Hạ Bì.

– 6# Quan Công phò Nhị Tẩu

– 7# Trương Phi thủ Cổ Thành.

– 8# Tào Tháo thất Xích Bích…

– TUỒNG ĐỒ là loại tuồng hài hước, châm biếm do dân gian sáng tác và diễn ở làng xã mỗi khi có hội hè. Thường thì không thấy nhắc đến tên soạn giả, vì đó là sự góp nhặt qua nhiều bài hát vè, qua nhiều câu chuyện vui rồi dần dần được chỉnh đốn thành một vở hát như các tuồng đồ còn lưu truyên hiện nay là vở Nghêu Sò Ốc Hến, Trương Đồ Nhục, Trần Bồ ….

Nhân vật trong tuồng đồ thường có địa vị xã hội từ quan huyện trở xuống, các thầy thư lại, lý xã, các ông sư, thầy bói thầy cúng, các bà vợ đánh ghen, các vai cường hào ác bá…

Nhân vật trong các vở Tuồng Thầy, Tuồng Cung Đình, Tuồng Pho đều là những nhân vật phong kiến, vua quan. Nội dung các loại tuồng nầy có thể tóm tắt như sau:

“VUA BĂNG, NINH TIẾM, BÀ THỨ LÊN CHÙA,

“CHÉM NỊNH, ĐỊNH ĐÔ, TÔN VUƠNG, TỨC VỊ.”

Chuyện xảy ra trong đời sống cung đình, có khi ở biên ải hoặc tư dinh các quan văn tướng võ. Thỉnh thoảng có nơi rừng núi, chùa chiền hoặc quán xá bên đường chạy loạn hoặc khi phục nghiệp. Do nội dung xoay quanh chuyện tranh đoạt và bảo vệ ngôi vua, soạn giả tuồng hát bội ngày xưa thường là các danh nho, các quan chức triều đình theo quan điểm trung với vua, giữ phong cách nhà nho Khổng Mạnh, chiếu lệch không ngồi, nói năng đi đứng chững chạc mới ra người quân tử, do đó các soạn giả tuồng cổ thời đó đã không sáng tạo ra những nhân vật Hề trong tác phẩm của mình.

Trong những thập niên 1920, 1930, 1940… những vở tuồng hát bội hát nhơn các dịp cúng đình, cúng kỳ yên, cúng Cá Ông …không có nhân vật Hề.

Đi xem hát bội, người ta thích các lớp tuồng bi hùng như lớp Đổng Kim Lân và Khương Linh Tá vào ngục cứu mẹ con thứ phi Phượng Cơ, bị Tạ Ôn Đình phát hiện đuổi theo. Linh Tá đoạn hậu cho Kim Lân đưa thứ phi thoát nạn. Linh Tá bị Ôn Đình chém đầu. Linh Tá bị chém đứt đầu nhưng vẫn đứng lên, xách đầu mình chạy theo Kim Lân, dẫn bạn đi đường tắt qua hẻm núi để cứu thoát thứ phi.

Sau những lớp tuồng hùng tráng hay bi thiết, để thay đổi “không khí” cho bớt căng thẳng, một hay hai vai hề xuất hiện, bằng tài năng riêng, anh xử dụng ngôn ngữ, đối thoại, hành động và cử chỉ tạo ra những tràng cười cho cả rạp. Những lớp diễn nầy không liên quan tới nội dung tuồng đang diễn chỉ cốt tạo ra tiếng cười cho khán giả, giúp cho người xem trở lại trạng thái bình thường trước khi xem tiếp những xung đột khốc liệt khác sẽ xảy ra trên sân khấu.

Có vài lớp hề Diễn Ngoài Màn mà đến nay tôi còn nhớ, xin thuật lại để các bạn hình dung được lối diễn hề của hát bội xưa.(do hề Thiệu Của và nữ nghệ sĩ Mộng Lành đoàn hát bội Bầu Thắng diễn):

Lão Trượng (hề Thiệu Của)

Ớ…ớ cô lái đò ơi …..

Bao giờ bến mới gặp đò

Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?

Tiên Bửu (đào Mộng Lành) (nói hướng về phía khán giả)

Ôi! trời ơi! Lời tục có nói: Ra đường gặp gái là xui, bữa nay mình gặp cái ông già tuổi Mùi, hỏng biết có phải là quá xui hông đây?

(nói với lão trượng)

Ớ…ông già ơi, ông già…

Chồng con chi nữa ngầy ngà

Vai mang chuỗi hột áo dà đi tu.

Lão trượng (đáp) …

Tu đâu cho bằng tu đây,

Tu chùa một cột, đá xây hai hòn.

Tiên Bửu:

……..Thân tôi khác thể chuông vàng,

Ở trong thành nội một ngàn quân canh.

Lão Trượng: (đáp)

……..Thân qua như thể cái dùi,

Có lệnh chỉ phán, giờ mùi giọng chuông.

Tiên Bửu:

…….. Thân tôi khác thể giường ngà,

Thân ông chiếu rách, người mà ngồi trên.

Lão Trượng: (đáp)

……..Nhờ trời thiên hạ đứng lên,

Gió xuôi thổi chiếu phủ trên giường ngà.

Tiên Bửu: (nói hướng về phía khán giả)

Ơ cái ông già dê đạo lộ, mình nói khó cách chi, ổng cũng đáp nghe xuôi rót….ờ…ờ …mình cứ chê ổng già, coi ổng nói ra làm sao.

Bớ ông già ơi…

Ông già, tôi không muốn ông đâu,

Ông đừng cắc cớ cạo râu đau hàm.

Lão Trượng: (đáp)

Bớ cô lái đò ơi…

Ơ…Ơ….con tôm, con tép nó còn có râu,

Cớ chi em bậu câu mâu sự đời?

Tiên Bửu

……..Ớ ông ơi …

Ông già kia hởi ông già,

Cái răng ông rụng, tôi mà thèm đâu.

Lão Trượng (đáp)

……..Ơ bậu ơi…Thời nghĩ lại đó mà coi…

Thương nhau vì đậm vì đầy,

Cắn rứt chi đó mà nài hàm răng?

Khán giả cười nghiêng ngả dù họ đã xem các lớp hài nầy quá nhiều lần, thậm chí có người thuộc cả lời thoại, diễn viên xướng, họ cũng xướng theo. Giữa khán giả và diễn viên dường như không còn khoảng cách nữa. Dứt lớp hài diễn ngoài màn nầ y, khán giả lại nghiêm chỉnh xem tiếp các lớp tuồng chính của đêm hát đó.

Theo lời nghệ sĩ Thành Tôn, khoảng nửa thập niên 1930, hát bội mất dần khán giả vì nghệ thuật hát cải lương phát triển. Bên hát bội có tuồng nào thì bên hát cải lương cũng có tuồng đó.

Ví đụ các tuồng: San Hậu, Phụng Nghi Đình, Võ Tòng Sát tẩu, Phụng Kiều Lý Đáng…bên hát cải lương: y quan, tranh cảnh đều rất đẹp, lại có ca cổ nhạc, có các vai hề sáng tác theo từng cốt truyện tuồng khiến cho đêm diễn tạo được sức hấp dẫn; khán giả được nghe mùi mẫn các bài ca cổ nhạc, được cười thỏa thích với các vai hề, được vui buồn theo số phận nhân vật tuồng mà đa số tuồng cải lương đều có cốt truyện eo le, gay cấn.

Bầu gánh hát bội Phước Long Ban là thân phụ của nghệ sĩ Thành Tôn, sau khi xem hát cải lương ở rạp Thầy Năm Tú ở MỹTho (1935), bèn lấy các điểm hay học hỏi được bên hát cải lương về áp dụng cho ban hát bội của mình. Phước Long Ban là gánh hát bội đầu tiên lấy bảng hiệu “Hát Bội Pha Cải Lương”, hát có tranh cảnh, y trang đẹp như các đoàn cải lương, thay cho cách dàn cảnh tượng trưng, ước lệ của lối hát bội chánh cống; dàn nhạc gánh Phước Long Ban, ngoài các lối hát Nam, hát khách, xướng… có dùng một số bài bản cải lương như xang xừ líu, khốc hoàng thiên, ngũ điểm bài tạ... nhưng thay vì chỉ đàn bằng các thứ đàn như cải lương (kìm, cò, gáo) ông Bầu cho thêm bộ gõ như mõ, sanh tiền, trống và đồng lố, gõ nhịp theo câu đờn. Bản ca của sân khấu cải lương tuồng cổ vì có mang âm hưởng nhạc của các tuồng Tàu.

Dàn nhạc dùng kiểu nầy hướng dần lối hát bội pha cải lương sang địa hạt cải lương Hồ Quảng sau khi thêm một số các bản nhạc Đài Loan.

Về nhân vật Hề thì đoàn Phước Long Ban cũng bỏ hẳn lối Hề Diễu Ngoài Màn, mà mướn soạn giả sáng tác thêm một số nhân vật Hề dính ít nhiều tới cốt chuyện tuồng.

Đó là các vai thể nữ (nữ hề theo hầu Hoa Mộc Lan) các vai hề đồng, công tử bột, chủ quán, thầy pháp, thầy bói, thầy cúng, các ông sãi mầm dựa theo nguyên tắc cấu tạo lớp hài của kịch Tây Phương và cải lương thường xử dụng. Những nhân vật hài có tính cách mâu thuẫn giữa lời nói và việc làm, mâu thuẫn trong chức vị và đời sống thường ngày và các diễn viên hề sẽ dùng biệt tài về cách biểu diễn hình thể, nói năng có duyên và ngôn ngữ hài để làm nổi bật cái mâu thuẫn cố che đậy kia để làm bật lên những tràng cười cho khán giả. Sư ông ăn chay niệm phật luôn mồm mà dê gái suồng sã rồi trở lại bộ mặt giả đạo đức (vai Cổ Ngu trong tuồng San Hậu), quan huyện miệng nói thanh liêm mà ăn hối lộ (tuồng Thất Hiền Huyến), quan huyện và thầy đề lại oai quyền húng hiếp dân mà lại quá sợ vợ (tuồng Nghêu Sò Ốc Hến), tên tướng dốt hay nói chữ Mạnh Lương trong tuồng Mộc Quế Anh)

Trong thời kỳ khởi đầu lối Hát bội pha cải lương, có một bài hát diễu của anh chủ quán bên vệ đường trong vỡ “Võ Tòng Sát Tẩu”, xin nhắc ra đây, xem như tài liệu ghi nhận sự làm sai lạc lối hát bội truyền thống.

Chủ quán ca: (ngũ điểm bài tạ)

Bên Tàu là ngộ bên Tàu,

Bên Tàu là ngộ mới qua,

Qua Nam Việt bán buôn làm giàu,

Ngày trước ngộ có cây đòn gánh,

Chè lỗ, ngộ đi bán mì khô.

Đủ dư xực, có đâu dư xài?

Đủ xài là mấy năm nay,

Ở Nam Việt nổi danh ngộ làm giàu.

Giàu có thiếu chi mèo chó!

Giàu có biết mấy là cô ……

(còn một câu,tôi quên …. )

Sau Phước Long Ban, các ban hát bội khác cũng noi theo, cố sao cho ban hát của mình cũng có được một danh hề. Tôi còn nhớ được một số danh hề mà tôi có dịp làm quen:

– Gánh Thành Hưng Ban của Bầu Ban có Hề Bảy Bông;

– Gánh Quốc Bửu Ban của Bầu Hiền (Sa Đéc) có Hề Ba Trăm;

– Gánh Tấn Thành Ban của Bầu Cung (Cầu Muối) có Hề Ba Mách;

– Gánh Vĩnh Xuân Ban của Bầu Thắng (đình Cầu Quan) có Hề Thiệu Của, sau đó có thêm Hề Châu Kỷ.

– Các gánh Công Thành, Nghĩa Hiệp, Phước Thành có các anh: Hề Tám Cảnh, Hề Hai Thu, Hề Sấu Hoa, Hề Sáu Nha.

Các danh hài hát bội nêu trên đã tạo không khí tươi vui, tưng bừng rộn rã cho lớp diễn, gây những tràng cười vỡ rạp. Tuy nhiên họ chỉ hát trong những xuất hát ở rạp với lối diễn hát bội pha cải lương. Khi đoàn hát chầu, hát cúng đình, cúng Ông... thì đoàn hát hát đúng theo truyền thống hát bội, không dùng các bài bản cải lương và hề trong tuồng như vừa mới kể. Lớp Hề Ngoài Màn lại được đem ra dùng trong những trường hợp này.

Nghệ thuật Hát Bội là nghệ thuật tượng trưng, ước lệ nên nhân vật Hề chỉ được xây dựng và biểu diễn hạn chế trong một khuôn khổ nhứt định.

Trái lại nghệ thuật sân khấu cải lương sanh sau đẻ muộn, thừa hưởng được kinh nghiệm của hát bội, của Hí khúc và Kinh kịch Trung Quốc, của Hài kịch và Bi kịch Pháp, Anh, và cả của nghệ thuật điện ảnh nên nhân vật Hề trên sân khấu cải lương thật là phong phú, đa dạng. Có thể mượn một câu nói khái quát: “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng” để nói về tình trạng lạm phát vua hề, trạng hề, danh hề, quái kiệt, nữ quái hề, nhất là hề quậy trên sân khấu tấu hài, vidéo hài trong thời kỳ “mở cửa”, “tiếp thị kinh tế thị trường” như hiện nay.

Trong những thập niên 1920, 1930, 1940… Hề trên sân khấu cải lương tạo những trận cười nhẹ nhàng, ý nhị, trào lộng bằng cách châm biếm những thói hư tật xấu của một số tầng lớp nào đó trong xã hội như: các ông bà nhà quê lên tỉnh, các ông nhà giàu hống hách, dốt hay nói chữ, ông Hội đồng dê mà sợ vợ, thầy pháp trị bịnh tà ma, dối thế gạt dân… và thủ pháp diễu hề chính yếu là dựa vào nội dung kịch bản, về diễu hình thể thì nói giọng cà lăm, hoặc hơi nhừa nhựa, quần áo mặc xốc xếch, ống cao ống thấp... ngoài ra cũng có lối diễu có trí tuệ hơn thể hiện được tính cách hài của nhân vật. Có thể kể bốn diễn viên hài tiêu biểu của thời kỳ này: Hề Tư Xe, Hề Lập, Hề Tám Củi, Hề Ba Vân.

Hề Tư Xe là cha của Hề Vui (đoàn cải lương Sài gòn 3) và là ông nội của nữ diễn viên kịch nói và điện ảnh Kim Xuân.

Hề Tư Xe ốm, cao lêu nghêu, có tài bắt chước giọng nói của người khác, bắt chước tiếng chim tiếng thú. Anh đã diễn tả xuất thần một thằng Út ngẩn ngơ khờ dại (vai Lôi Nhược trong tuồng cải lương San Hậu) lấp ba lấp bấp bên bà chị Tam cung Nguyệt Kiểu rất là buồn cười và dễ thương, nhất là khi anh cà lăm ca vọng cổ, cứ tưởng sẽ ca rớt nhịp khi mà còn vài chữ chót, anh cà mà cà mập, lắp ba lắp bắp, khán giả lo cho anh thì anh đã nhào phóc vô, xuống đúng nhịp song lang. Khán giả thở phào nhẹ nhỏm, Tư Xe cũng vuốt cổ vuốt ngực như vừa mới hết ngộp hơi, mắt nheo nheo với khán giả, vừa cám ơn vừa tự hào mới thoát nạn, khán giả khoái quá vỗ tay ào ào.

Hề Tư Xe còn có giọng ca tốt, ca sĩ nổi tiếng trong hãng Asia của thầy Năm Mạnh. Anh đóng vai Tống Thái Tổ trong bộ dĩa “Trảm Trịnh Ân”, vai Trụ Vương trong bộ đĩa “Mổ tim Tỷ Can”.

Ca vọng cổ cà lăm không phải dễ, ai yếu nhịp, khó mà ca hay. Thời đó có ca sĩ Hồng Châu ca hài hước trong bộ dĩa ” Cộp… cộp, bonjour thầy Ba” của hãng đĩa Asia.

Hề Lập trong tuồng “Lý Chơn Tâm cỡi củi” cũng dùng thủ pháp nói chuyện và ca cà lăm, thủ vai anh chàng tiều phu trên rừng, tình cờ cứu nàng công chúa đang bị bọn gian thần truy sát. Anh đỡ công chúa ngồi trước trên bó củi, anh ngồi phía sau, hô câu thần chú để bó củi bay lên…kẻ thù đã đuổi tới trước mặt, vừa đánh vừa đâm. Lý Chơn Tâm vừa đỡ vừa hô câu thần chú, nhưng anh cứ cà lăm…hô..hô hoài mà hỏng nói được tiếng “bay”.

Công chúa lo sợ, ôm anh cứng ngắc, thúc dục: “Nhà ngươi hô cái gì, hô đại đi…”

Lý Chơn Tâm cũng còn cà lăm, (có lẽ vì được người đẹp ôm cứng, khoái quá chưa muốn bay đi) bỗng anh bị kẻ thù đánh một gậy lên lưng quá đau, anh thét lớn: “Ấy da… Bay!”..

Bên trong các anh dàn cảnh kéo giây bay, giựt mình vì tiếng thét của anh, ra sức kéo thật mạnh. Hề Lập và công chúa bay cái rẹt, bó củi dưới chân chưa kịp kẹp chặt, rớt xuống nghe cái rầm…bọn gian thần giựt mình nhảy nai, có kẻ la…trời sập … trời sập…bỗng thấy Lý Chơn Tâm chạy ra, ôm bó củi, vừa chạy vô buồng vừa nói: “Bó củi thần, phải lấy để lát nữa bay chớ…”

Màn hạ nhanh, khán giả xì xào cười nói, hỏng biết bó củi thần rớt khi nảy là hữu ý hay do tai nạn nghề nghiệp. Tuy nhiên vì tạo được cái cười bất ngờ đó mà các lần diễn sau, ở lớp cứu công chúa, bó củi luôn luôn để rớt xuống và Hề Lập chạy bộ ra lượm lại, ôm bó củi chạy vô mới bỏ màn.

Hề Tám Củi tên thật Triệu An, nổi danh một lượt với các anh Năm Châu,Tám Danh, Ba Du, TưXe, Hai Giỏi, Tư Mẹo.

Hề Tám Củi nhỏ con, hơi hô, mỏ nhọn, nói cười liếng thoáng.

Anh cũng có biệt tài bắt chước giọng nói của người khác, khi anh nhái theo giọng Tiều, giọng Quảng, giọng Miên thì khó mà phân biệt với người dân chánh gốc nước đó.

Nhớ về anh, tôi không quên được lần đoàn Phát Thanh hát ở rạp Thầy Năm Tú ở Mỹ Tho, lúc đó gánh Phát Thanh hát nhiều loại tuồng của soạn giả Mộng Vân, nhưng do người mua giàn hát yêu cầu hát tuồng Tàu “Âm Dương Trận” bầu Tỷ còn do dự chưa dám nhận, Tám Củi xúi nhận ngay vì tiền bán giàn khá cao.

Bầu Tỷ biết Tám Củi từng hát qua tuồng nầy nên giao anh trách nhiệm làm biện tuồng, phân vai và nói lớp hát cương. Tám Củi và anh Tám Đèn nhận trước một số tiền coi như lương đúp (lương đôi). Anh Tám Đèn liền đi mua pháo, vấn thành những hột nổ có pha khói màu và bố trí trên sân khấu, sát dàn đèn ngoài và rải rác khắp sân khấu, để khi phá âm dương trận, anh nhấn nút điện là pháo nổ, tăng thêm phần gay cấn và hồi hộp cho màn kết thúc này. Và để tự thưởng công, anh mua nửa lít đế Gò Đen và vài con khô sặc để lai rai khi vản hát.

Anh Tám Củi đi đánh số đề thua cháy túi. Cũng cần biết Tám Củi ghiền rượu, đêm nào trước xuất hát cũng phải nhậu ít ra nửa xị mới có hứng. Đêm đó, Tám Củi thủ vai Phùng Mậu, vâng lịnh nguyên soái, dùng phép độn thổ vô dinh công chúa Ngại Ngân Bình để ăn cắp bảo bối đi phá trận.

Tám Củi gần tới lớp ra tuồng mà có vẻ như chẳng quan tâm, anh nhìn lom lom chai rượu đế của Tám Đèn, liếm mép liếm môi…

Tám Đèn thấy vậy nói:“Củi, tới lớp của mầy kia”.

Tám Củi phóng tới, chớp chai rượu của Tám Đèn rồi chạy ào ra sân khấu, vừa đi ngã tới ngã lui, vừa uống rượu, hát:

Vạn hộc tình hoài nhược khát,

Tam canh hạo nguyệt đương đầu,

Chi cho bằng… Mượn tửu binh đả phá thành sầu

Vầy một tiệc ngỏ khuây bụng tưởng.. ·

Hát xong anh cầm chai rượu, tu một hơi dài. Tám Đèn bên trong nhắc nhỏ:

“Chừa cho tao với, cái thằng ông nội”…

Tám Củi cố uống, lải nhải hát:

“Nguyên soái hạ lịnh cho ta dùng phép độn thổ vô tư phòng của công chúa Ngại Ngân Bình để đánh cắp bảo bối hầu đi phá Âm Dương trận. Bây giờ rượu đã cạn… âu là ta niệm chú, thi triển riến phép mầu… Ám ma ni bát di hồng… hô biến!”

Anh dậm chân xuống sàn sân khấu một cái mạnh.

Theo lẽ thường khi niệm chú xong, có hiệu dậm chân thì anh Tám Đèn cúp điện, đèn tắt, Tám Củi chạy núp vô cánh gà là coi như đã độn thổ. Lần nầy tức vì Tám Củi lấy chai rượu của mình, Tám Đèn không thèm tắt đèn, Tám Củi thấy còn đèn sáng, không chạy vô buồng được, tưởng Tám Đèn quên lớp tuồng, bèn hô thần chú, dậm chân độn thổ nữa.

Tám Đèn vẫn trơ trơ, cười trừ.

Tám Củi lính quýnh phải cương: “Chỗ nầy là ván...(anh dậm chân chỗ khác) chỗ nầy là cây… Ta say quá quên câu thần chú độn mộc… nếu không độn được, âu là ta chạy bộ..”

Anh chưa kịp chạy, Tám Đèn bật hết các công tắc điện, pháo và khói màu nổ liên tiếp quanh Tám Củi, khiến cho anh ta nhảy cà tưng như khỉ mắc phong, cái áo cháy xém, mặt mày khói pháo khói màu làm bỏng rát, túng quá anh nhào đại xuống phía khán phòng, té chúi nhủi vô mình một bà khá sang trọng.

Tám Củi quýnh quá, sợ bị la, bèn hét lớn: Má ơi, cứu con ….

Khán giả cười vỡ rạp khi thấy Tám Củi nhảy nai, té lên té xuống, rồi lọt xuống khán phòng. Ông Bầu Tỷ cũng hết hồn, tưởng xảy ra tai nạn, tới xin lỗi vị khán giả nọ.

Bà cười: “Chú Phùng Mậu lộn đường rồi, tư phòng của công chúa ở trên kia kia “.

Khán giả vỗ tay hoan nghinh bà khán giả rộng lượng.

Lớp sau Phùng Mậu không niệm chú độn thổ nữa, mà anh niệm hết câu Ám ma ni bát di hồng, thay vì anh hô biến, anh nói thôi khỏi độn, để đi bộ, chắc ăn hơn, rồi anh chạy vô buồng.

Hề Ba Vân thì có nhiều nét đặc sắc hơn, anh được giới báo chí kịch trường và khán giả ái mộ tặng cho danh hiệu Quái Kiệt trong làng diễu hài. Thực sự anh Ba Vân không chỉ là một diễn viên giỏi về Hài mà còn là một nghệ sĩ tài năng bậc nhất của cải lương. Những vai để đời của anh không phải chỉ là những vai Hài mà còn là những vai chính diện trong các bi kịch hoặc bi hùng kịch như vai Phê (tuồng Khi người điên biết yêu),vai Dũng ghiền (tuồng Vó ngựa truy phong) vai Ngũ Tử Tư (tuồng Tây Thi gái nước Việt), vai Tám Khoẻ (Người ven đô).

Mặc dù các nhân vật kịch đó đã được các tác giả chăm sóc kỹ về mặt tâm lý, tính cách, ngôn ngữ, nhưng phải nhận rằng nhờ có diễn xuất tài tình của Quái Kiệt Ba Vân mới làm cho các nhân vật đó có một sức sống mạnh, có tính cách thuyết phục, khiến cho khán giả không thể nào quên.

Đã có nhiều tài danh sân khấu cải lương khác đã thử diễn qua các nhân vật kể trên nhưng không có ai hát hay hơn hoặc bằng anh Ba Vân.

Mỗi khi nhắc tới các vai kịch như Phê, vai Dũng ghiền, vai Ngũ Tử Tư, bắt buộc dân ái mộ cải lương phải nghĩ tới tài nghệ đặc biệt của Quái kiệt Ba Vân.

Anh Ba Vân nghiên cứu nhân vật rất kỹ, từ ngoại hình đến tính cách nhân vật, cả đến nội tâm nhân vật, anh cũng phân tích chi li với tác giả để nắm bắt được những điểm cốt lỏi cần thể hiện ra bằng ngôn ngữ hoăc bằng lối diễn hình thể.

Thủ vai Phê (Khi người điên biết yêu) anh đã theo dỏi quan sát một người điên suốt ngày, rồi anh lên bệnh viện tâm thần Biên Hòa nghiên cứu từng điệu bộ, từng cử chỉ rồi về nhà đứng trước kiếng, tự biểu diễn một mình. Đó chỉ là ngoại hình, anh lại nghiên cứu về nguyên nhân và tâm trạng người điên như người điên bẩm sinh thể hiện ra sao? người điên vì tình ra sao? người điên uất ức vì thời cuộc thể hiện ra sao?

Đi từ sự nghiên cứu sâu tâm trạng nhân vật, anh Ba Vân tìm ra cách diễn sao cho lột tả đúng tính cách nhân vật nên ở anh không có sự trùng lắp trong diễn xuất, không có sự cẩu thả gượng ép, bê nguyên xi các vai diễn thành công ở vở tuồng nầy áp dụng qua tuồng khác như một số diễn viên đã làm.

Theo Ba Vân trong “Kể chuyện cải lương” thì “BẤT NGỜ” là một thủ pháp gây cười.

Anh nói: ” Tôi đã nghiên cứu logic của sự nghịch lý được thể hiện qua cách nói, điệu bộ, sắc diện để gây cho khán giả những bất ngờ thú vị. Đóng Hài là phải gây được tiếng cười mà thành công thật sự lại là Dư Âm sau tiếng cười. Phải diễu thế nào cho khán giả càng suy nghĩ càng tức cười mà về nhà nhớ lại vẫn còn cười.”

Bốn diễn viên Hài tiền phong giờ đã ra người thiên cổ, nhưng mỗi khi nhắc tới các danh hài cải lương, nhắc tới các vở tuồng nổi danh thời trước, bốn tài năng Hề Tư Xe, Hề Lập, Hề Tám Củi, Quái Kiệt Ba Vân như những tên khắc trên bảng vàng chói lọi của lịch sử cải lương miền Nam.

CHUYỆN DỊ ĐOAN

trong giới nghệ sĩ cải lương

Chúng ta đang ở vào những năm đầu của thế kỷ 21, thời đại của nguyên tử, thời đại của Tin Học, vậy mà tôi nhắc lại những chuyện dị đoan trong giới sân khấu cải lương, chắc có bạn sẽ mỉm cười, cho là người già lẩm cẩm.

.

Ở cái xứ Canada tuyết lạnh tình nồng này, cả tháng trời liên tục dò tin trên internet, chưa chắc có ai kiếm ra được một cái tin về ma quái, về những chuyện hồn ma báo oán hay tin trời đánh một đứa con bất hiếu nào đó như mấy chục năm xưa ở quê nhà, nhất là ở đồng quê, người ta thường có những tin tức giựt gân như vậy và người ta tin đó là những chuyện huyền bí có thật, có người còn quả quyết là chính mắt họ đã từng chứng kiến.

Những chuyện tôi sắp kể ra đây, riêng cá nhân tôi và những bạn bè trang lứa với tôi, nhất là những người cùng ở chung một gánh hát, cùng chứng kiến hoặc cùng biết sự việc xảy ra, chúng tôi tin là có thật, nhưng lâu nay tôi không dám nói ra, chỉ vì tôi không biết lý giải theo khoa học, sợ các bạn chê cười là tôi dị đoan, chê tôi là người xưa, cổ lỗ sĩ.

Nhưng giữ mãi trong lòng cái chuyện mà tôi không tự giải thích được thì coi như phải chịu dốt suốt đời, chịu ấm ức mãi, thôi thì cứ nói ra, để giải tỏa ẩn ức của mình vậy.

Chuyện Tổ Nghiệp sân khấu.

Bất cứ nghệ sĩ cải lương, soạn giả hay công nhân sân khấu, bầu bì hay chủ nợ các gánh hát, những ai đã ăn cơm cải lương đều tin tưởng là có Tổ Nghiệp cải lương.

Khi ra ngoại quốc (vượt biên hay đi diện đoàn tụ gia đình, hay đi hát có hợp đồng hoặc hát chui nhân dịp du lịch thăm thân nhân ở ngoại quốc) người nghệ sĩ cũng nhớ lễ cúng giỗ Tổ Nghiệp, đúng ngày theo truyền thống.

Gần đây xem phim vidéo Paris By Night, quay cảnh đằng sau sân khấu, tôi thấy các ca sĩ Tân Nhạc trẻ cũng thắp nhang vái Tổ, chấp tay xá Tổ Nghiệp trước khi bước ra sân khấu, tôi thật sự xúc động trước hình ảnh thân thương đó. Các bạn nghệ sĩ trẻ, có người được sanh ra và lớn lên ở nước ngoài, có bạn khi xuất ngoại thì còn rất nhỏ, vậy mà khi hành nghề ca hát, vẫn giữ tập tục xưa của cha mẹ, thật là đáng mến đáng yêu, đặc biệt đáng ca ngợi các bậc cha mẹ nghệ sĩ đã truyền đạt lại niềm tin Tổ Nghiệp cho con cái nghệ sĩ của mình.

Giai thoại về vị Tổ Sư của nghề hát thì rất nhiều. Ngành Hát Bội thì có giai thoại là hồi xưa, có ba ông hoàng trẻ tuổi trốn theo gánh hát, mải mê xem hát đến ngã bịnh, chết trong gánh hát. Ban hát cho rằng ba ông Hoàng rất linh thiêng nên lập trang thờ và gọi trại đi là ông Làng để tránh phạm thượng. Trong giới hát bội gọi là Tam Vị Thánh Sư.

Đối với ông Làng (Tam Vị Thánh Sư), người hát bội xem là Tổ Nghiệp, rất kính trọng và thân thiết. Hễ diễn tuồng có lớp sanh đẻ, người ta bồng ra sân khấu một ông Tổ để đóng vai hài nhi; xong lớp hát, ông Làng được cung kính đặt lại vào trang thờ. Người diễn viên khi bồng Tổ ra hát hay khi đặt trả lại trang thờ đều không quên chắp tay xá Tổ.

Còn nhiều giai thoại khác về Tổ Nghiệp nghề hát, nhưng trong giới nghệ sĩ Cải Lương, Tổ Nghiệp cải lương là người đầu tiên có công khai sáng nghề nghiệp, truyền nghề cho nhiều người trở thành nghệ nhân, lập thành Ban, thành Đoàn, đặt thành quy củ, nề nếp, kỹ thuật để nghề nghiệp được phát triển thêm lên.

Thờ cúng Tổ Nghiệp sân khấu là một hành động của nghệ sĩ biết ơn công khai sáng, đồng thời cũng biểu lộ lòng tin, khẩn cầu xin Tổ bảo hộ cho nghề nghiệp của mình.

Lý thì là như vậy nhưng lòng tin của nghệ sĩ đối với Tổ Nghiệp như tin một vị Thánh Sư, có phép thần thông, có quyền lực ban phước và trừng phạt những kẻ nào phạm lỗi, dối gian, lừa đảo bạn bè đồng nghiệp.

Vì sự tin tưởng đó, diễn viên nào trước khi bước ra sân khấu hát mà quên xá xá hướng về bàn thờ Tổ thì coi như sẽ quên tuồng, hay hát vô duyên khiến cho khán giả không thích, khán giả đuổi vô.

Có những diễn viên ngoài đời không đẹp, ca hát bình thường, vậy mà khi bước ra sân khấu hát thì trở nên đẹp đẽ muôn phần, làm say mê khán giả. Mỗi một cái liếc mắt, một nụ cười, một tiếng hát cũng đủ làm cho khán giả xiêu hồn lạc phách. Người ta nói cô đào đó hay anh kép đó được “Tổ Đãi”.

Để chứng minh sự thành thật của mình, người ta hay thề:“Nếu tôi gian dối thì cho Tổ vặn họng” hay là “Nếu tôi hại anh hay lấy cắp của anh hì cho Tổ móc nhãn tôi hay Tổ lấy nghề của tôi đi “.

Luôn luôn lời thề đó được người khác tin là người dám thề như vậy, quả là thành thật, là kẻ vô tội, vì người nào đã theo nghề hát rồi thì luôn luôn tin là Tổ Nghiệp linh ứng, không bao giờ dám thề ẩu.

Năm 1948, khi tôi mới bước chân theo ghe hát thì tôi được nghe nhiều anh em trong đoàn Tiếng Chuông kể những mẩu chuyện về sự linh thiêng của Tổ Sân Khấu. Nhập gia tùy tục, tôi cũng tin như anh em đã tin, ngoài ra tôi chưa có một ấn tượng nào rõ ràng về sự linh hiển mà anh em trong đoàn hát thường nhắc.

Cho đến một ngày mà tôi theo đoàn hát Việt Kịch Năm Châu, năm 1952…

Đoàn Việt kịch Năm Châu tập xong tuồng mới: tuồng “ Tây Thi, Gái Nước Việt”, hát khai trương tại rạp Nguyễn Văn Hảo, đông nghẹt khán giả suốt một tuần lễ liên tục.

So với các rạp hát ở Sàigòn và Chợ Lớn, Gia Định lúc bấy giờ, Nguyễn Văn Hảo xứng danh là Hàng Không Mẫu Hạm, riêng ở lầu nhì và từng trệt đã có đến 900 vé thượng hạng, hạng nhứt và hạng nhì. Lầu ba trung bình mỗi đêm bán được từ hai đến ba trăm vé hạng ba.

Mấy tuần lễ sau, cũng hát tuồng Tây Thi Gái Nước Việt ở rạp Đông Vũ Đài trong khu Đại Thế Giới Chợ Lớn, hát ở rạp Thuận Thành Tân Định, rạp Đại Đồng Gia Định, dù hát ở bất cứ rạp hát nào, với vở tuồng Tây Thi Gái Nước Việt, Đoàn Việt Kịch Năm Châu cũng đều đông nghẹt khán giả.

Nhưng khi dọn lên hát ở rạp hát Thủ Dầu Một thì khán giả đến xem đêm đầu chưa tới một phần ba rạp. Đó là hát tuồng Tây Thi Gái Nước Việt, một vở hát đang ăn khách nhứt của Đoàn, được báo chí khen ngợi.

Ban Giám Đốc đoàn, anh Năm Châu, Tám Kiết, Kim Cúc, Kim Lan, chị Hai Nữ họp bàn nên ở tiếp tục hát hay phải dọn đi rạp khác.

Mọi người trong đoàn cũng xôn xao bàn tán. Á Tường, một người Hoa đàn Piano trong dàn nhạc Tây của đoàn nói: “Hà, cái lầy ông Tổ đi theo chơi với mấy con Tầm dồi! “

Tôi biết anh Tường nói “Tầm” tức là mấy con “đầm”, nên ngăn lại: “Đừng nói tầm bậy! Nị coi chừng ông Bầu nghe được, ổng đuổi Nị đó. Đầm ở đâu mà ông Tổ theo chớ?”

“Hà, Cái lầy Nị ngó lên nóc rạp coi, có hai con Tầm tẹp thật là tẹp đó. Ngộ còn muốn có một con làm vợ mà hỏng lược đó!”

Á Tường kéo tôi ra khỏi rạp hát, chỉ lên nóc rạp, hai bên nóc có hai bức tượng bằng ciment, tạc hai cô đầm mặc áo trễ xuống, lòi ngực thật là hấp dẫn. Hình hai bức tượng nữ ôm đàn Luth và đàn Harpe, được ánh sáng trời chiều chiếu vào, lung linh như người sống thật. Hai bức tượng nữ đẹp thiệt, tôi theo đoàn hát tới hát ở rạp Thủ Dầu Một nhiều lần, chưa lần nào chú ý nhìn lên nóc rạp nên không thấy.

Tôi thầm nghĩ: “Á Tường muốn có một cô vợ đầm đẹp như vậy cũng là chuyện phải thôi. Người nắn tượng nhứt định phải chọn một người mẫu thật đẹp…”

Tôi đang lan man nghĩ vơ vẩn thì anh Tám Kiết tới cho biết anh Năm Châu định tối mai sẽ đổi tuồng, nếu mà vắng khách nữa thì “dời bến”, chạy đi chỗ khác.

Đêm nay cũng hát ế. Lãnh lương đờ-mi, mặt mày đào kép méo xẹo, nhăn nhó. Ba bữa lương đờ-mi rồi, vãn hát tối nay, tẩm khậu sẽ phát cho mỗi người một thẻ đường và một tô cháo trắng. Đêm nay mọi người đi ngủ sớm, không ồn ào nhậu nhẹt như mấy tuần hát thành công ở rạp Nguyễn Văn Hảo.

Nhạc sĩ tân và cổ nhạc được chia cho chỗ ngủ dưới khán phòng sát sân khấu, chúng tôi dồn ghế khán giả lại, che chắn thành một ô vuông rộng, bên trong đặt mấy dãy ghế bố.

Tôi ngủ gần Á Tường và anh Hoàng Việt (đờn contre basse).

Ngoài ngọn đèn cóc trên bàn thờ Tổ, trên sân khấu chỉ thắp sáng một bóng đèn 40 watts, trước cửa rạp có một ngọn đèn 60 watts, vì vậy chỗ ngủ của chúng tôi chỉ hơi sáng lờ mờ.

Tôi không ngủ được, Á Tường ngủ ngáy như người ta cưa gỗ…rồ rẹt…rồ rẹt hoài, lâu lâu như nuốt cái gì trong họng, nghe “ót” một tiếng thật lớn.

Hoàng Việt ngồi dậy, mở rương kiếm bông gòn nhét lỗ tai, anh thấy tôi còn trăn trở, bèn rủ tôi ra trước rạp, kiếm rượu đế với khô cá khoai, lai rai cho tới khi nào thật mòn mỏi rồi sẽ ngủ, chớ không tài nào ngủ được với tiếng ngáy của Á Tường.

Chưa kịp đi thì nghe tiếng ú ớ như bị nghẹt họng, tôi thấy Á Tường vùng vẫy, hai tay ôm cổ như muốn gỡ cái gì vô hình đang thắt họng anh ta. Mấy anh tân, cổ nhạc nằm gần đó cũng giựt mình thức dậy. Chúng tôi lay gọi, kêu réo ba hồn bảy vía của Á Tường.

Anh ta mở mắt trừng trừng nhìn mọi người, tỉnh dậy, rồi nhảy xuống ghế bố, miệng lắp bắp:

“Chết ngộ dồi... Chết ngộ dồi... Nó đè ngộ, nó úp...úp cái vú lạnh ngắt của nó vô miệng ngộ, nghẹt thở chịu hông nổi... nó nói ngộ muôn lấy nó làm vợ, nó đòi ngủ với ngộ…”

Hoàng Việt cười:

“Có quỷ mới chịu làm vợ của nị… Làm được bao nhiêu tiền là thua xì phé với số đề hết, có con nào dám tới tò te với nị đâu!”

“Hà! Con quỷ thiệt a! Con quỷ ở trên nóc rạp đó. Hồi chiều ngộ nói chơi, muốn có con vợ đẹp như nó. Tối, nó xuống đè ngộ đó”. A Tường nói và chỉ lên nóc rạp.

Chúng tôi rùng mình, không ai dám nói chơi thêm tiếng nào cả.

Dân chúng quanh rạp Thủ Dầu Một nói là những đêm mưa gió, không trăng sao, họ thấy mấy con đầm bằng ciment trên nóc rạp hiện ra, đờn nghe tăng tăng, có khi nó hát như tiếng hú… Họ đốt nhang, cúng vái hoài nên nó không làm hại ai, chỉ hiện lên đờn ca thôi. Chúng tôi không tin, tuy nhiên không cãi lại vì không muốn mích lòng khán giả. Bây giờ người trong đoàn nói có quỷ từ trên nóc rạp xuống, nửa tin, nửa ngờ, nhưng không ai dám nói là mình không tin.

Tôi xúi Á Tường: “Nị đốt nhang ra lạy mấy bả, xin tha cho cái tội nói bậy hồi chiều. Nếu không, nị đi đâu, mấy bả theo tới đó thì coi như nị tàn cuộc đời”

Hoàng Việt nói: “Nị lạy mấy bả trước rồi mới lạy ông Tổ sau, ông Tổ vặn họng nị đó.”

Á Tường:“Hà! Lạy ai trước cũng vậy mà. Đi… đi lạy ông Tổ, xin mấy cây nhang luôn”.

Á Tường leo lên sân khấu, tôi và Hoàng Việt đi theo. Bàn thờ Tổ đặt sau bức phông trắng, hậu trường sân khấu. Lúc đó đã gần ba giờ khuya. Khi vô tới nơi, tôi thấy anh Năm Châu, anh Tám Kiết và chị Hai Nữ đang thắp nhang vái lạy trước bàn thờ Tổ.

Đây là chuyện bất thường vì không phải đúng ngày giỗ Tổ, đêm khuya không có ai đến cúng vái như vậy.

Anh Tám Kiết thấy chúng tôi tới, hỏi: “Bộ mấy anh cũng thấy hả? ”

Tôi ngạc nhiên: “Anh Tám hỏi chúng tôi thấy cái gì?”

Á Tường mau miệng: “Há! Ngộ thấy mấy bà quỷ đè ngộ”

Anh Năm bực mình: “Á Tường lúc nào cũng nói tầm bậy, tầm bạ. Hỏi nị có thấy ông Tổ hông?”

Á Tường: “Ngộ vô kiếm ông Tổ đây. Hồi chiều ngộ nói chơi, ông Tổ theo mấy cô Tầm trên nóc rạp rồi nên mình hát ế hoài. Hồi nãy, ngộ ngủ, bị mấy bà Tầm đè”.

Anh Năm Châu,Tám Kiết và chị Hai Nữ, ba người trao đổi nhau bằng ánh mắt, khiến cho chúng tôi tin là có chuyện gì đây. Anh Tám Kiết không muốn cho chúng tôi đoán mò lôi thôi nên mau miệng nói: “Tôi với Chị Hai Nữ nằm chiêm bao, thấy giống nhau nên kêu anh Năm dậy nói cho ảnh biết… ”

Chị Hai Nữ:

– Tôi thấy ông Tổ nói: “Tụi bây hát ế vì mấy con quỷ ở trên nóc rạp cản không cho khán giả vô coi hát. Tụi bây dọn đi chỗ khác hát hay là làm cách gì đuổi mấy con quỷ đó đi thì hát mới được”.

Anh Năm Châu:

– Bởi vậy, chúng tôi mới thắp nhang cám ơn Tổ Nghiệp đã báo mộng. Á Tường nói thấy mấy con đầm đó thì đúng là có người khuất mặt khuất mày phá mình rồi. Thôi, anh em đi ngủ đi, rồi mai sẽ tính.

Chúng tôi đốt nhang, xá ba xá, cắm vào lư hương trên bàn Tổ, rồi kéo nhau đi về chỗ của mình.

Đêm đó chúng tôi không ai ngủ được. Gần sáng có tiếng chạy rầm rầm trên sân khấu như tiếng vó ngựa. Giựt mình dậy thì thấy một con nai thiệt lớn đang đi loanh quanh trên sân khấu. Bà đồ hội đuổi, nó nhảy xuống khán phòng, bương chạy xô ngã nhiều hàng ghế trong rạp. Con nai đó là thú nuôi của ông chủ rạp, đêm đêm sau khi vãn hát, nó hay leo lên sân khấu, chạy rầm rầm, không cho ai ngủ yên.

Những ai ở Thủ Dầu Một trong những thập niên 1950 chắc còn nhớ, thuở đó có 3 con nai được nuôi trong thành phố. Một con nai của ông chủ rạp hát là ông Hiếu, nuôi sau rạp. Con nai này quen chỗ đông người, thường đi lảng vảng ngoài đường, vô rạp hát, vãn hát thì leo lên sân khấu. Các nghệ sĩ thường cho nó ăn chuối, có khi chia phần cơm của mình cho nó ăn.

Một con nai nữa là của ông Hương Hào Ty, một nhà giàu có ở Thủ Dầu Một. Ông Hào Ty có một khoảnh vườn rộng, làm thành một cái sở thú nhỏ, trong đó có nuôi con trăn thật lớn, chim trĩ gà rừng, gấu con và một con nai. Các đoàn hát lên hát ở Thủ Dầu Một thường mời ông bà Hào Ty coi hát, dành cho ghế danh dự nên được ông Hào Ty mời lại nhà, đãi đằng đáp lễ và cho vô coi sở thú nhỏ của ông.

Còn một con nai nữa, người nuôi đem bán lại cho ông bà Châu Văn Bê, lúc đó là chủ tiệm Nhựt Hưng, tiệm vàng và tiệm cầm đồ trong thị trấn. Ông Bê muốn nuôi nhưng bận việc kinh doanh, thành ra sau đó trả lại cho người chủ cũ.

Khi chúng tôi tìm đến ông Hiếu, chủ rạp hát để nói chuyện về hai bức tượng đặt trên nóc rạp thì ông Hiếu nói ổng có biết là quỷ nhập vô hai tượng đó. Ông nuôi con nai trong rạp là để trấn áp không cho quỷ vô rạp phá, vì có lý lẽ đó nên mới xin phép ông Tỉnh trưởng cho nuôi một con thú rừng trong thành phố.

Ống nói thêm:

– Đây là đất của Bà Thiên Hậu mà hai con quỷ còn dám ở đó thì biết là nó cũng thần thông quảng đại lắm. Tôi muốn “thỉnh họ” đi chỗ khác nhưng pháp sư ở đây chạy mặt hết trơn. Tôi đành để vậy đó.

Hồi xưa, người mình nhẹ dạ, dễ tin; họ tin là thần tiên, ma quỷ và con người có thể chung sống hòa bình với nhau trong một thành phố nhỏ. Vậy nên ở Thủ Dầu Một, hàng năm đúng vào ngày rằm tháng giêng, hàng trăm ngàn người dân của tỉnh này và các tỉnh lân cận, cả dân của Sàigòn, Chợ Lớn, Gia Định cũng đổ xô về Thủ để làm lễ cúng vía Bà Thiên Hậu.

Lễ diễn ra hai ngày, 14 và rằm 15, mỗi người đi lễ vía Bà cầm một cây nhang dài cả thước, có những cây nhang thật lớn, nhuộm đỏ có in hàng chữ Tàu bằng nhũ vàng.

Phải cần nhang lớn và dài như vậy vì người ta theo kiệu rước Bà, đúng giờ chiều ngày rằm tháng giêng, lễ rước Bà đi dạo phố, khởi hành từ chùa Bà đi quanh chợ Thủ, rồi qua chùa Ông, qua chùa Linh Không Đàm, rồi đi ngang chùa Thuận Thiên, xong quay trở về chùa Bà.

Con đường đi dạo phố của Bà chỉ như vậy, không dài lắm nhưng kiệu rước sắc phong của Bà phải đi từ 4 giờ chiều đến 12 giờ khuya mới trở về đến chùa Bà.

Người dự lễ trùng trùng, điệp điệp...Ta cứ tưởng tượng, hàng bốn, năm trăm ngàn người, mỗi người đốt lên một cây nhang lớn, bốn năm trăm ngàn cây nhang đốt một lượt, khói hương có thể kết thành một đám mây, bay cao lên đến thiên đình. Hương trầm thơm nức mũi, tiếng niệm Nam Mô, tiếng kêu gọi nhau ơi ới, tiếng tu hít của cả ngàn trật tự viên thổi, dàn xếp một con đường cho kiệu Bà đi, tiếng trống chiêng của đoàn rồng (hai con huỳnh long và thanh long) tiếng trống múa lân của 5 con lân ngũ sắc, cộng với tiếng đàn, tiếng trống, tiếng chập chỏa của tám dàn bát cấu nghe thật là đinh tai điếc óc, bở vía kinh hồn.

Tám người mặc áo mão Kim Đồng, Tám Ngọc Nữ.

Hai ông địa, ba ông Phước, Lộc, Thọ. Hai chục người đi cà khêu, mặc quần áo đỏ, nẹp vàng, có chữ “Chốt” (lính) trên ngực hộ vệ quanh kiệu có sắc phong của Bà.

Dẫn đầu đoàn diễn hành là bàn để lư hương Bà với hơn chục người trật tự dội kết xanh bảo vệ, đề phòng dân đi cúng, nhào tới giựt ba cây nhang trên lư hương của Bà, vì họ cho là được cây nhang đó, được tro nhang đó là có thể trị bách bệnh.

Cuộc lễ vía Bà Thiên Hậu khí thế ngất trời.

Chùa Ông với ngựa Xích Thố trấn trước cửa cũng linh thiêng không kém.

Chùa Linh Không Đàm cũng có con Thần mã Bạch Long Cu được dân chúng tin tưởng, tới vái lạy, vuốt đuôi ngựa, sờ đùi ngựa rồi chà lên đầu mình để cầu phước.

Sở dĩ tôi nhắc tới lễ viá Bà Thiên Hậu và các sự linh ứng của bốn ngôi chùa lớn ở Thủ Dầu Một là để chỉ rõ rằng hai con Đầm quỷ ngự trị trên nóc rạp hát Thủ Dầu Một chắc cũng biết phép thần thông biến hóa, mới có thể ngự trị trên nóc rạp hát lâu như vậy mà không bị trục xuất đi nơi khác.

Ông Hiếu chủ rạp thì tự mình không dám làm gì động tới việc trục xuất hai con quỷ đó, nhưng ông không ngăn cản nếu như đoàn hát dám làm.

Anh Năm Châu tính dời đi rạp khác để hát. Tám Kiết, nguyên là học sinh trường Bá Nghệ, anh thường nói sắt thép cứng là vậy, nhưng anh đốt nung cho đỏ rồi thì dùng búa mà đập cũng đập dẹp được. Anh không chịu thua, anh dẫn anh Tường đi theo làm thông ngôn, tới chùa Ông để hỏi. Tôi, anh Hai kèn saxo, Hoàng Việt, ba người chúng tôi cùng đi theo.

Ông Từ chùa Ông cho biết:

“Hồi đó ngựa Xích Thố của Ông Quan Đế Thánh Quân để trước chùa, bị kẻ xấu dùng sơn đen quét lên mình, lên đầu đen thui. Đêm đêm ông nghe tiếng ngựa hí dữ dội và tiếng vó ngựa dậm trên nóc chùa nghe rầm rầm như là ngựa Xích Thố giận dữ.

Ông đốt đèn ra xem xét, phát hiện dấu sơn đen trên mình ngựa. Ông nói với Ban Trị Sự chùa, họ chịu làm lễ cúng và xuất tiền mua sơn, sơn lại màu Xích Thố như cũ. Từ đó hết nghe tiếng ngựa hí và tiếng vó ngựa dậm trên nóc chùa.”

Ông Từ nói thử sơn đen hình hai con đầm trên nóc rạp, con quỷ về nhận không ra hình dáng cũ của nó hay là nó thấy xấu quá, có thể nó sẽ bỏ đi nơi khác.

Anh Tám Kiết về nói cho anh Năm Châu biết lời của ông Từ chùa Ông như vậy.

Anh Năm Châu làm lơ, nói:

– Tùy dượng, dượng dám làm thì dám chịu.

Tám Kiết nói với ông Hiếu chủ rạp, ông Hiếu nói:

– Tôi đi Sàigòn vài bữa, anh muốn làm gì đó làm, coi như tôi không hay không biết gì hết.

Nói rồi ổng bỏ đi Sàigòn liền.

Nói thiệt trong bụng tụi tui cũng sợ, nhưng anh Tám Kiết dám đứng mũi chịu sào thì tụi tui cũng muốn làm tới, thử coi câu chuyện sẽ ra sao?

Sáng bữa đó, Tám Kiết cho xe đi quảng cáo hát tuồng Tây Thi Gái Nước Việt, quảng cáo luôn trưa có cúng Tổ và đờn ca tài tử tại rạp, mời dân chúng tới xem tự do.

Anh Tám Kiết cho họa sĩ Quyền dùng thang leo lên bôi dầu hắc lem luốc lên mặt hai hình nhơn, anh Gia lên bắt loa sắt ngay chỗ hai cây đờn và anh Tám đèn lên quấn hai giây bóng đèn màu quanh hai hình nhơn, để đèn cháy chớp tắt như đèn Noël.

Trong khi các anh thay đổi hình dạng hai con đầm ciment trên nóc rạp thì trước cửa, nghệ sĩ ca vọng cổ, hát trích đoạn cải lương cho bà con coi miễn phí.

Người dân trong khu phố tới xem, khách mua bán ở chợ cũng tới xem và họ vô mua giấy để tối xem hát. Chuyện không ngờ đã xảy ra, mới gần năm giờ chiều vé hát đêm đó đã bán hết sạch.

Từ đó đến cuối tuần, đêm nào cũng bán vé complet, anh em trong đoàn phấn khởi.

Ông chủ rạp đi Sàigòn về, kêu Bầu Năm Châu ở hát thêm một tuần lễ, ông chỉ lấy phân nửa tiền rạp mỗi xuất hát, gọi là tưởng thưởng anh em trong đoàn đã giúp cho ông làm hồi sinh lại rạp hát của ông.

Mấy mươi năm sau, chúng tôi vẫn hay nhắc lại câu chuyện của hai con đầm quỷ trên nóc rạp Thủ Dầu Một. Không ai hiểu là có quả thật có hai con quỷ đó không? Không ai biết là có phải vì sơn mặt mày nó khác đi là nó không về nhập vô tượng đó? Hay vì đoàn khéo quảng cáo tuồng mà hát đắt khách ở những ngày sau?.

Chỉ biết một điều là sau đoàn Việt Kịch Năm Châu, ca đoàn hát khác tới rạp Thủ Dầu Một hát cũng được đông khách, khác hẳn với trước kia. Và ông Hiếu chủ rạp đã cho chở con Nai vô rừng phóng thích, cho thú rừng trở về rừng vì ông Hiếu nói không cần dùng Nai để trấn ếm tà ma nào nữa.

NGÀY XUÂN NÓI CHUYỆN ĐỜI XƯA…

ngậm ngải tìm trầm

Mùa Xuân Ất Dậu 2005, cái Tết con Gà năm nay sao mà bầu trời rơi quá nhiều tuyết. Tôi có trồng một cây mai vàng trong nhà đã tám năm rồi, năm nay cây mai trổ nhiều bông đúng vào mấy ngày Tết, trong bụng tôi chỉ vui vui một chút thôi, vì ngoài cây mai vàng với vài chục chùm bông nhỏ màu vàng chanh đó ra thì tôi nhìn quanh, tôi không thấy có một chút xíu nào hương vị Tết của mình, mặc dầu trong nhà vợ tôi cũng chưng dọn như kiểu đón Xuân ngày xưa ở quê hương.

Không có tia nắng ấm… không có làn gió xuân se lạnh, không có tiếng chim, không pháo nổ, không có cả những em bé xúng xính trong những bộ quần áo mới, tung tăng rủ nhau đi mừng tuổi cha mẹ để hưởng một gói tiền lì xì…

Sáng sớm ngày mùng một Tết, sau khi cúng kiếng ông bà, tôi quyết định xuất hành ngày đầu Xuân.

Hồi xưa ở Việt Nam, Tết nào tôi cũng coi giờ, coi hướng cẩn thận mới xuất hành đầu xuân. Từ khi tôi qua định cư ở Canada tới nay, hướng xuất hành của tôi năm nào cũng là hướng tới Côte des Neiges để gặp các ông bạn già, và giờ xuất hành là tùy theo giờ của chiếc bus chạy tới trạm trước nhà của tôi. Ra đúng giờ gặp xe bus tới thì sẽ đỡ khỏi phải chịu lạnh vì đợi xe. Tôi nghiệm ra rằng hướng xuất hành và giờ xuất hành như tôi đã tuân theo cả chục năm qua là hướng tốt và giờ tốt, vì mỗi năm khi tôi xuất hành đúng giờ, đúng hướng đó thì tài lộc vô cho tôi đều đều mỗi tháng, tiền “của bề trên tỉnh bang Québec” rót hàng tháng, đúng ngày quy định giúp cho tôi được an hưởng tuổi già.

Tôi cũng chợt nhớ ra rằng hơn 15 năm định cư, tôi không có tốn tiền cho mấy ông thầy bói để nhờ chỉ hướng và giờ xuất hành trong mấy ngày Tết.

Ngày Tết ta ở Mộng Lệ An không có chút xíu nào hương vị của Tết Việt Nam, mặc dầu các Hội đoàn cũng có tổ chức đón xuân, có ra báo xuân và các cửa hàng thực phẩm đều có bán bánh mứt, hoa quả để dân Canadiens gốc Việt mình mua về dùng trong các cuộc lễ cúng đưa rước ông Táo, đưa rước Ông Bà trong ba ngày tết.

Có lẽ ta chỉ cảm giác là đã tới Tết rồi khi bạn bè gặp nhau thì câu chào hỏi quen miệng là: Năm mới, chúc anh vạn sự như ý!

Tôi đến Câu lạc bộ người Cao Niên ở Côte des Neiges uống trà đón xuân với các ông bạn già. Hôm đó tuyết rơi nhiều, hoa tuyết nặng hạt bay cuồn cuộn mù mịt cả bầu trời. Chúng tôi ngồi trong phòng sưởi ấm, nhìn qua khung cửa thấy cả một khoảng không gian màu trắng đục dật dờ lay động theo từng mảng tuyết bay.

Một ông bạn già, hớp một ngụm trà nóng, nói:

– Ở xứ người, trong những mùa xuân đầy tuyết giá, được ngồi chuyện trò vui vẻ với các bạn đồng hương, tôi chợt nhớ hai câu thơ:

Hỉ đắc thiên nhai tri kỷ cộng

Tận tâm thù đáp thánh ân triêm.

Nguyễn Phương có biết hai câu thơ nầy ở trong bài thơ nào không? Và tác giả là ai?

Tôi không phải là một học giả chuyên nghiên cứu thơ mà cũng không phải là một nhà chuyên sưu tầm văn học nên tôi không thể trả lời câu hỏi đó. Tôi nói:

– Có thể hiểu ý thơ, nghĩa của hai câu thơ đó chớ tôi không biết xuất xứ và tác giả. Hai câu thơ:

“Hỉ đắc thiên nhai tri kỷ cộng

Tận tâm thù đáp thánh ân triêm.”

nghĩa là:

Chân trời vui được cùng tri kỷ

Đem hết lòng son báo thánh hoàng

Câu dưới “Đem hết lòng son báo thánh hoàng” cho mình hiểu thơ nầy tác giả là một ông quan, trung thành với nhà Vua. Câu trên “Chân trời vui được cùng tri kỷ” thì mình có thể đoán là ông quan đó đi sứ, đến ngoại quốc, gặp lại bạn đồng hương, đồng tâm đồng chí nên mới cảm khái mà sáng tác ra hai câu thơ trên. Tôi chỉ căn cứ theo ý nghĩa của hai câu thơ mà đoán, còn muốn biết đích xác thì phải đi tra cứu nơi các sách vở xưa.

Tôi im một chút rồi nói tiếp:

– Mà nói thiệt, muốn tìm các điển tích văn học xưa, tôi thấy khó như chuyện ngậm ngải tìm trầm!

Ông bạn của tôi bỗng phá ra cười:

– Hai câu thơ kia chưa biết đích xác ai là tác giả, giờ lại thêm bốn tiếng Ngậm ngải tìm trầm! Vậy là sao? Ngậm ngải tìm trầm là sao?

Nhân dịp xuân về, trong lòng tôi cũng hân hoan khi thấy các bạn thích nghe kể chuyện nên tôi thuật lại một chuyện đời xưa liên quan tới việc ngậm ngải tìm trầm.

***

Hồi năm 1963, đoàn hát Thanh Minh – Thanh Nga đang hát tại thành phố Nha Trang thì ở Saigon xảy ra cuộc đảo chánh ông Diệm. Tại Nha Trang ban đêm cũng có lịnh giới nghiêm. Các đơn vị Hải Quân, Trường huấn luyện Không quân ở tòa tỉnh trưởng, quân sĩ canh phòng cẩn mật, thái độ nghiêm túc, căng thẳng tưởng chừng như có thể sẽ xảy ra những cuộc chạm súng giữa phe đảo chánh và phe phản đảo chánh.

Bà Bầu Thơ biết là không thể đưa đoàn hát trở về Sàigòn trong lúc này, mà ở tại thành phố Nha Trang thì e cũng không yên nên quyết định dọn đi hát trong các quận nhỏ như ở Đồng Đế, Nha Trang Thành, quận Tuy Hòa hay Ninh Hòa, để đợi coi tình hình êm êm rồi sẽ trở về Saigon.

Lúc chúng tôi hát ở quận Ninh Hòa, một quận ly nhỏ ở ven rừng núi, dân cư thưa thớt, chúng tôi thấy dường như quân đội và dân chúng ở đây chẳng quan tâm gì đến những biến động chánh trị đang diễn ra sôi nổi ở Saigon.

Ông thiếu tá Sinh, quận trưởng Ninh Hòa, trước đây là bạn thân của hai anh Hoàng Giang và Việt Hùng. Khi đoàn Thanh Minh – Thanh Nga mới dọn đến thì ông quận trưởng đã đến rạp hát để kiếm hai anh ấy rồi mời bà Bầu Thơ, Thanh Nga, hai vợ chồng Hoàng Giang – Kim Giác, Việt Hùng – Ngọc Nuôi và một số nghệ sĩ, soạn giả đến tư dinh của ông dùng cơm.

Bữa cơm mà ông quận trưởng gọi là đạm bạc gồm có một con bê thui, nhiều thùng bia, hai chai rượu Whisky và mỗi nghệ sĩ dự tiệc được tặng một cây thuốc thơm Quân Tiếp Vụ.

Đáp lại tấm thạnh tình đó, nghệ sĩ luân phiên nhau ca nhiều bài ca vọng cổ để tặng ông bà quận trưởng và góp vui trong bữa tiệc.

Sáng hôm sau, ông quận trưởng cho hai xe jeep đến rạp, mời bà Bầu Thơ, Thanh Nga và các nghệ sĩ đi tắm suối nước nóng, một thắng cảnh nổi tiếng của Ninh Hòa. Thanh Nga, bà Bầu Thơ, Hoàng Giang – Kim Giác đi xe jeep với ông bà quận trưởng. Xe jeep thứ hai thì vợ chồng Việt Hùng- Ngọc Nuôi, Thành Được, Hữu Phước và tôi (Nguyễn Phương). Số nghệ sĩ khác, Kiên Giang, Hà Triều, Hoa Phượng đi xe hơi của đoàn.

Suối nước nóng nằm trong vùng đồi núi, sâu trong rừng chồi, cách quận ly Ninh Hòa độ 15 cây số. Đi trên đường tỉnh lộ hơn 10 cây số rồi quẹo tẻ vô đường đá đỏ nhỏ, nguyên trước đây là con đường làm cho xe be kéo cây từ trong rừng ra quận. Đường vô gần tới suối nước nóng gồ ghề, nhiều hang ổ nên xe phải chạy chậm lại. Đến gần 11 giờ trưa mới tới con suối nước nóng.

Có người tới ngay cuối nguồn suối để tắm vì nơi đó nước ấm.

Có người thì tới nơi có nước suối nóng nhất, để hột gà trong một cái giỏ rồi thòng xuống nước để làm hột gà “la kót” (œuf à la coque).

Tôi, Kiên Giang, Hà Triều, Hoa Phượng, Ngọc Giàu và Bích Sơn đi vô mấy ngôi nhà sàn của người dân tộc thiểu số ở ven bìa rừng, gần cuối nguồn suối để kiếm mua những vỏ quả bầu khô để kỷ niệm chuyến đi chơi trong phum sóc của người dân tộc thiểu số.

Sau đó chúng tôi cũng xuống suối tắm, trửng giỡn nô đùa như những em học sinh đi cắm trại nhân dịp nghỉ hè. Người thiểu số Rhadé thấy có nhiều người lạ ở thành phố đến tắm suối nên tới nhìn, có người mang trái gùi, trái cám, trái sim tới bán. Có một người thợ săn mang tới bán một con giộc (giống như khỉ) mà ông ta vừa bắn được. Chúng tôi thấy con giộc, hiếu kỳ bu tới xem nhưng không ai mua, chắc là không ai dám ăn. Ông quận trưởng mua con giộc, mua trái gùi và trái cám cho chúng tôi ăn thử. Trái gùi màu vàng chanh, ngọt ngọt chua chua, đi rừng nếu khát nước, hái được những trái gùi nầy để ăn giải khát thì chắc là “đã” hết biết.

Gần hai giờ chiều, ông Quận cho bày thịt heo quay, bánh mì, nước suối Vĩnh Hão mà ông đã mua sẵn, chở theo xe cho chúng tôi ăn trưa. Ông cũng không quên mang theo một thùng bia.

Trời quá nóng bức, rừng chồi lại im gió, chúng tôi lấy bánh mì thịt quay xong là chạy xuống suối ngâm mình, vừa ăn vừa tắm…

Bỗng trời sầm sập tối, mây giăng cuồn cuộn ngang trời. Bà Bầu Thơ sợ mắc trận mưa to bất ngờ, sợ Thanh Nga sẽ cảm nắng cảm lạnh thì nguy nên bà yêu cầu ông Quận Trưởng cho về Ninh Hòa liền. Mọi người thu xếp đồ đạc, dọn dẹp sạch những lon bia, chai nước suối và đem lên xe những thức ăn thừa.

Xe vừa rồ máy thì trời mưa lớn như cầm chĩnh mà đổ. Xe hơi của đoàn lại giở chứng, ” đề ma rưa” (démareur) máy không nổ, xe không chạy. Nơi xe đậu là dốc núi, đường hẹp té mà lại gồ ghề, không thể đẩy xe lấy trớn cho máy bắt chạy.

Ông quận trưởng gọi ông chủ phum sóc ra, căn dặn giúp đỡ chúng tôi, xe của ông và xe jeep kia phải về quận ly sớm để cho anh em nghỉ ngơi, tối lại anh em còn phải hát.

Lượt đi thì tôi ngồi xe jeep, lượt về tôi nhường chỗ trên xe jeep cho Ngọc Giàu và Bích Sơn về trước. Tôi qua đi xe của đoàn, nên phải chờ sửa máy xe xong rồi mới có thể đi về được.

Trời mưa lớn như giông bão, gió mạnh từng luồng làm gãy đổ nhiều nhánh cây, chúng tôi không dám ngồi trên xe mà phải đội mưa chạy theo ông chủ phum về mấy ngôi nhà sàn gần bìa rừng chồi, nơi đó có ít cây cao nhánh lớn, không sợ cây ngã đè chết bất tử. Ông tài xế lái xe lớn của đoàn hát mà cái “gan” của ông ta bé tí xíu, ông ta cũng sợ bão tố bứng gốc cây rừng đè nên ông ta cũng chạy theo chúng tôi vô phum. Vậy là chiếc xe hơi của đoàn “ăn banh” (en panne) giữa rừng, tối nay chúng tôi ngủ rừng là cái chắc!

Ông chủ phum nói tiếng Việt lơ lớ nhưng tốt bụng, mọi người chúng tôi vô nhà sàn của ông, vừa vắt áo cho bớt nước mưa, ngồi vừa yên vị thì ông chủ nhà đã lấy ra một bình rượu cần cho chúng tôi mỗi người “tu” vài ngụm cho nóng người lên.

Hoa Phượng lên tiếng:

– Anh Ba, anh là trưởng lão cái bang của tụi em, đêm nay nếu phải ngủ ở lại đây thì nhờ đại ca sắp xếp dùm.

Theo lệ thường của đoàn hát, khi tới địa điểm mới, những chỗ ăn ngủ tốt thì dành ưu tiên cho ông bà bầu, cho các đào kép chánh, soạn giả rồi sau cùng mới đến các anh chị đào kép phụ, vũ nữ, vệ sĩ và các anh công nhân sân khấu. Trong chuyến xe bị kẹt phải ngủ rừng đêm nay có bốn cô vũ nữ, tỳ nữ, chúng tôi bốn soạn giả, ba anh kép phụ (Chí Hiếu, Vinh Sang và Văn Ngà) anh tài xế và hai người công nhân dàn cảnh. Nhà sàn của ông chủ phum rộng, tôi biết ý của Hoa Phượng là nhờ tôi an bài chỗ ngủ cho các cháu vũ nữ ưu tiên nên tôi quyết định sau khi ăn tối xong, các cô gái ngủ ở giữa nhà sàn, gần bếp lửa sưởi, anh em chúng tôi ai muốn thức sáng đêm nhậu rượu với ông chủ phum thì quây quần gần đó, còn ai buồn ngủ thì cứ lăn quay bên cạnh mà tự do ngáy. Tôi đưa hai tờ 500 cho ông chủ Phum nhờ mua gà nấu cháo và mua vài chai rượu đế. Ông nhận tiền, gà thì có nuôi sẵn dưới nhà sàn, rượu đế thì ông cũng có mua dự trữ trong nhà. Chúng tôi may mắn được tạm trú qua đêm trong ngôi nhà của một ông đệ tử lưu linh, vậy là tối nay chúng tôi tha hồ uống rượu để thi gan với muỗi rừng một phen. Muỗi có chích, có hút máu của tụi tôi đêm nay thì muỗi cũng phải say mà lăn quay ra đó vì trong máu của đám đệ tử lưu linh này nhất định phải có chất men đủ sức để quật ngã mấy con muỗi không biết hiếu khách như ông chủ phum.

Các cô vũ nữ và hai anh dàn cảnh xung phong làm bếp, làm gà nấu cháo, chỉ trong một thời gian ngắn là có ngay bữa ăn tối. Ăn xong, ngoài trời mưa vẫn không ngớt hạt, xe hơi của đoàn không sửa được, đêm nay chúng tôi đành ngủ trong rừng vậy. Chúng tôi ai cũng đã có trải qua một thời ăn quán ngủ đình, nên bữa nay có ngủ bờ ngủ bụi thì cũng không sao, huống chi chỗ ngủ là một ngôi nhà sàn rộng, tuy ở gần bìa rừng nhưng có lửa để sưởi ấm, có rượu đế để lai rai. Nói thiệt dẫu mà lúc đó xe hơi đã sửa chữa cho chạy được thì chúng tôi cũng không bỏ qua cuộc tiệc rượu bất ngờ và lý thú nầy. Rượu thì còn nửa bình rượu cần, rượu đế có hai chai, mồi nhậu có thịt gà xé phay, có khô trâu nướng của ông chủ nhà.

Rừng chiều, bóng tối xuống mau. Mây đen vẫn còn che kín khung trời. Mưa theo gió luồng quật phần phật cái cánh liếp của nhà sàn nơi chúng tôi đang ở.

Ông chủ phum đốt mấy cây đuốc bằng dầu chai, gắn xiêng xiêng trên bốn cây cột nhà nơi gian giữa. Ánh sáng chập chờn, chao đảo theo từng cơn gió lùa qua cánh liếp. Ông chủ phum hé cửa nhìn ra ngoài, ông nói:

– Mưa còn nhiều lắm, tới sáng chưa hết mưa đâu.

Thấy chúng tôi có vẻ không tin tài đoán thiên văn của ông, ông nói tiếp:

– Mấy con mối càng kéo từng đàn leo lên cái cột nhà kìa, mưa lớn nên nó đi trốn nước lụt đó. Mấy ông uống rượu chơi, tui đàn cho mấy ông nghe.

Ông nói xong liền với tay lấy cây đờn gáo treo trên vách mà khi vô nhà của ông, chúng tôi chưa kịp lưu ý nên không thấy và không khám phá ra ông chủ nhà cũng là một tay nghệ sĩ dân dã.

Tiếng đàn gáo kéo cung dài, nghe lê thê buồn thảm, ông chủ phum kéo đàn, đôi mắt lim dim, cái đầu ngã tới ngã lui nhè nhẹ như gởi hồn theo tiếng đàn. Chúng tôi lắng nghe như là tiếng rên than của một oan hồn nào đó nơi miền rừng sâu nước độc… Tiếng đàn nghe đơn điệu, nhại đi nhại lại mấy câu như kiểu tiếng hò nơi đồng quê rẫy bái của người Hậu Giang nhưng tiếng đờn gáo kéo nhừa nhựa, lê thê hơn, chúng tôi nghe mà cảm thấy một nỗi buồn mênh mang, xa vắng…

Bà chủ nhà và cô con gái chỉ ra chào hỏi chúng tôi khi chúng tôi mới đến nhà, sau đó thì hai người rút lui vô buồng trong nhưng đến khi nghe tiếng đàn, bà chủ và cô gái đi nhè nhẹ ra, lẳng lặng ngồi xuống cạnh ông chủ phum. Lát sau đó, cô gái khe khẽ hát theo tiếng đàn của cha, ca bằng tiếng Rhadé hay tiếng Miên, chúng tôi không hiểu nghĩa bài ca nhưng lời lẽ và giọng điệu như là lời thỏ thẻ tỉ tê của một cô gái đang tỏ tình với người yêu. Khi cô hát, đôi mắt long lanh, miệng cười chúm chím.

Kiên Giang lấy sổ tay ra hí hoáy viết. Tôi đoán là anh chàng thi sĩ ngắm nhìn đôi mắt đa tình của cô sơn nữ nên cảm hứng muốn làm thơ.

Tiếng đàn và tiếng hát chen qua cánh liếp, xông ra ngoài giữa lúc mưa gào gió thét thì liền được đáp lại bằng những tiếng réo gọi nhau ơi ới từ mấy ngôi nhà gần đó. Tôi nghe tiếng nâng cánh liếp, ánh sáng mấy cây đuốc dầu chai bập bùng chao đảo theo bóng dáng của nhiều người đang lục tục kéo tới nhà sàn của ông chủ phum. Đó là những chàng trai, những cô gái, có cả các ông già bà lão, những người ở trong phum sóc nầy. Thường khi nghe tiếng đàn của ông chủ phum, họ kéo tới để đờn ca nhảy múa cho đến khi họ mệt mỏi mòn mới chấm dứt cuộc vui để trở về nhà ngủ hầu sáng hôm sau họ lại lên nương lên rẫy hay đi săn chim bắn giộc.

Mấy người mới đến có hai tay đờn cò, một người thổi kèn bằng lá cây, một người đánh trống cơm, nhiều chàng trai và cô gái ca. Ông chủ phum nhường cây đàn gáo cho một ông bạn già, rồi vô nhà lôi ra một hũ rượu cần thiệt lớn để giữa sàn nhà để đãi khách. Cuộc vui tiếp tục, tiếng đàn rộn rã hơn trước nhưng âm điệu cũng mang một dáng vẻ xa xôi hoang vắng.

Cô con gái của ông ca, ông dịch cho chúng tôi nghe. Kiên Giang lấy sổ tay chép vội vàng:

Bởi vì em yêu anh

Nên anh yêu em mãi

Muốn tình yêu chung thủy

Em cắt tóc tặng anh.

Hỡi em yêu hiền lành

Mái tóc mềm đen nhánh

Anh mong điều may mắn

Trong chiếc kéo trên khay.

Em hãy ngồi xuống đây

Dưới tàng cây so đũa

Mái tóc em buông xõa

Thay lời em yêu anh.

Một chàng trai lực lưỡng, tiếng hát mạnh bạo nhưng âm hưởng vang xa, rất xa:

Nàng Rot giống như nguyệt thực

Đi tìm ai giữa ban ngày

Nếu anh có cánh anh bay

Tít trên tầng mây xanh thẳm

Giá như anh được bồng ẳm

Vầng trăng giữa đám mây kia

Nhưng nguyệt thực chỉ mờ mờ

Còn anh thì không có cánh.

Một anh khác vừa kéo đờn cò vừa hát, ông chủ phum vẫn làm một viên thông ngôn bất đắc dĩ:

Anh cùng em bơi thuyền Chôôk Chôôk

Nhổ thật nhiều bông súng, em ơi

Nhưng, thôi không kịp nữa rồi

Mây đen kéo tới chân trời gần lắm.

Anh coi mây mưa, anh nghe tiếng sấm

Anh phải đưa em mau mau trở về

Anh bơi thuyền lẹ hơn cơn mưa

Không cho mưa rơi trúng mình em một giọt.

Kiên Giang, Hoa Phượng, Hà Triều và tôi thưởng thức giọng ca và lắng nghe ý nghĩa từng lời từng tiếng, nhưng dường như lối hát buồn buồn đơn điệu có vẻ thiếu hấp dẫn, nên ông chủ nhà lấy trống cơm đánh bập bùng. Một anh bạn trẻ chạy xuống bếp lấy chiếc đũa cơm và cái nồi đồng lên để gõ nhịp hòa theo. Mấy tay đờn liền đổi điệu, tiếng nhạc nhanh hơn, nhún nhảy hơn, các cô gái, các chàng trai bước ra sóng đôi nhau mà nhảy điệu múa Lâm Thôn.

Các cô vũ nữ của đoàn hát chúng tôi như được gãi vào chỗ ngứa, khoái quá tủm tỉm cười, cũng bước ra nhập cuộc, nhún nhảy rập ràng theo đúng điệu Lâm Thôn.

Ông chủ nhà vừa đánh trống, vừa múa và hát:

Điệu múa Rhadé thật tưng bừng

Mời thần thánh xuống, hãy vui chung

Kom phloong phloong ơi, trroất trroất

Nào, em có bằng lòng anh không?

Anh từ xa đến, hỡi em yêu

Thấy em xinh đẹp lại diễm kiều

Anh không hề chán, không hề nản

Hãy ngã vào anh, hồn phiêu diêu

Kom phloong phloong ơi, trroất trroất

Đôi ta vừa múa lại vừa hát

Điệu vũ Rhadé thật tuyệt vời

Như niềm vui không bao giờ dứt.

Bỗng có một tiếng hú từ xa vọng lại…Vâng, đúng là có một tiếng hú thật dài hơi xen vào tiếng đờn tiếng trống bập bùng trong nhà…

Một tiếng hú giữa rừng khuya trong một đêm mưa to gió lớn, có phải chăng là câu chuyện ma hời hay con ma cà rồng là chuyện có thật như người ta thường kể xưa nay?

Không phải chỉ có một mình tôi nghe tiếng hú đó, mà tất cả mọi người đang dự cuộc vui đều nghe. Tiếng hú lại nổi lên, kéo dài ra, nghe như rất gần mà cũng có vẻ như ở một nơi nào đó xa xôi theo gió vọng về. Trong nhà mọi người liền ngưng ngay tiếng đờn tiếng trống. Nhiều người ngơ ngác nhìn nhau. Có người nói nhỏ: “Nó lại về đó. Hễ mưa to gió lớn thì nó về nó hú như vậy đó.”

Mấy người khách không mời mà tới lúc nãy, bây giờ vội vàng rút lui. Họ ra về vội vã, không kịp chào từ giã chủ nhà mà cũng chẳng nói với chúng tôi tiếng nào cả. Họ im lặng mà đi cho thật mau để trở về mấy ngôi nhà của họ.

Tiếng hú giữa rừng khuya như một luồng mưa rào quật mạnh vô người nghe đến rát cả mặt. Cuộc vui đang lúc ồn ào nhất bỗng trở lại cái cảnh im lặng một cách đáng sợ.

Mấy cô vũ nữ của đoàn thì sợ ma, họ ngồi sát vào nhau quanh ngọn lửa. Có đứa muốn khóc, có đứa nói rởn óc nổi gai cùng mình, có đứa cắn răng lại để đừng đánh bù cạp vì sợ.

Tiếng hú lại nổi lên, nghe như có như không trong cái đen thăm thẳm của núi rừng Tây Nguyên.

Chúng tôi rùng mình, lặng im nhìn nhau.

Ông chủ nhà kêu chúng tôi ngồi quanh ngọn lửa hồng, tiếp tục uống rượu cần và nghe ông kể chuyện:

– Tiếng hú đó là tiếng hú của người rừng…Người dân ở đây gọi như vậy vì chưa ai đích xác thấy được người rừng đó, nhưng cứ mỗi khi có mưa to gió lớn, rừng núi âm u thì người ta nghe tiếng hú vọng về. Khi thì nghe rất gần như ở sát bên sau nhà, khi thì nghe như xa xôi rồi vụt nghe rõ và lớn, rồi lại như nhỏ dần, chìm mất trong không gian vô tận.

Ông chủ phum kể lại: “Cha của ông hồi trước là thầy mo trong vùng, chuyên trị bịnh tà ma, bốc thuốc cho người trong phum sóc. Hồi đó có một anh thợ rừng tên Sroc Ngor, anh chuyên bắn giộc, chuyên vô rừng sâu để đi kiếm cây Quế Khâu và Trầm Hương để bán lại cho thương buôn ở Ninh Hòa hay Khánh Hòa, Nha Trang. Mỗi chuyến tìm trầm anh Sroc Ngor đều tới nhà ông thầy Mo (cha của ông chủ phum) để thỉnh ngải, ngậm trong miệng rồi mới dám đi sâu vô rừng. Những người già có gia đình sống nhiều đời ở vùng rừng núi này thường kể cho nhau nghe, là nếu đi kiếm Quế Khâu, cây Mun hay cây Giáng Hương thì không cần phải đi sâu vô trong rừng già. Còn Trầm Hương thứ cây nhỏ, giống thường thì thỉnh thoảng cũng tìm thấy được bên bờ suối hay trong rừng chồi. Muốn kiếm cây Trầm Hương lớn gốc, thứ cây có tuổi thọ cả trăm năm thì nhiều khi phải đi cả tháng vô rừng sâu, khi đi thì phải cúng vái ông thần rừng, phải ngậm ngải trong miệng để đi tìm trầm. Có được Trầm Hương hay không còn là do có phước có phần, khi nào không tìm được Trầm Hương, người tìm trầm có ngậm ngải thì sẽ nhớ con đường về. Trái lại coi thường sơn thần, coi thường các linh hồn trong rừng thẳm, không ngậm ngải tìm trầm thì sẽ quên mất con đường về. Thậm chí người tìm trầm sẽ mất hết trí nhớ, sẽ phải sống trong rừng như một người rừng thật sự. Chàng Sroc Ngor đã mất tích mấy chục năm nay nhân một chuyến đi tìm Trầm Hương mà không đi thỉnh ngải để ngậm trong miệng. Chắc là anh ta không tìm thấy con đường để trở về thôn bản, anh biến thành người rừng, quên đi tiếng nói của con người và thay vào đó là tiếng hú mỗi khi anh nhớ nhà, nhớ người thân. ”

Ông bạn của tôi nãy giờ lặng yên để nghe kể chuyện, bỗng lên tiếng nói:

– Nếu người thợ săn lạc đường về, khi nghe họ lên tiếng hú thì mình phải hú đáp lại hay hè nhau mà la thật to cho họ biết hướng mà tìm về thôn bản. Tại sao mọi người lại sợ tới nỗi chỉ mới nghe tiếng hú là vội vàng im lặng rút lui về nhà, đóng cửa lại vậy?

Tôi nói:

– Tụi tui cũng hỏi như anh vậy. Ông chủ phum trả lời: “Những cây Trầm Hương cổ thụ trong rừng già rất linh thiêng, dưới gốc cây Trầm Hương luôn luôn có những bãi cây ngải rừng, thú rừng hay con người đến gần cây Trầm Hương đó thì bị đám ngải rừng đó đầu độc cho chết liền tại chỗ. Nếu là người thì người đó lập tức hóa thành con dã nhơn, lông lá đầy mình. Thợ rừng hay người dân đi đốn củi, vô phước mà gặp con dã nhơn đó thì sẽ bị nó giết, nó ăn thịt hay bắt cóc đem đi. Ông chủ phum nói là trong phum sóc của ông cũng có mấy anh trai làng bị mất tích. Cũng vào lúc mưa bão, cũng tối trời và người ta nghe được tiếng hú ma quái đó. Vậy nên từ đó về sau, không ai dám đi vô rừng già. Ba của tôi chết rồi, ổng không truyền lại cho tôi cái ngải thiêng liêng để ngậm khi vô rừng, thành ra chuyện ngậm ngải tìm trầm như là một chuyện đời xưa. Bây giờ không còn ai kiếm ra được cái thứ ngải đó nữa. “

Đêm đó không ai ngủ được. Chúng tôi cố uống cho thật nhiều rượu để say để quên, để ngủ gục xuống sàn nhà, nhưng mà dường như cái nỗi sợ sệt mông lung đã đánh bại ông thần ma men. Rượu uống vô chỉ làm cho thêm ngầy ngật, khó chịu, nôn mửa chớ không làm cho chúng tôi say quắc cần câu, nằm đường té bụi như mọi khi.

Vừa hừng sáng thì thấy xe jeep của ông quận trưởng. Ông cho chở vô hai bình accu để thay cho bình accu xe của đoàn. Anh tài xế thay xong, bấm “đề ma rưa” là máy rồ rồ liền. Mọi người vội lên xe. Tôi thay mặt anh em cám ơn ông bà chủ. Ông còn mời bữa khác anh em vô tắm suối nước nóng, ngủ đêm rồi nhậu và đàn hát chơi với bà con trong phum sóc. Chúng tôi cám ơn, đi mà không hẹn ngày trở lại vì ai nấy còn bị ám ảnh về cái tiếng hú ghê rợn trong rừng khuya.

Về tới Saigon, Hoa Phượng liền khai thác cái ý Ngậm Ngải Tìm Trầm thu nhận được trong chuyến ngủ đêm trong rừng ở suối nước nóng Ninh Hòa. Anh viết tuồng Mưa Rừng, trong tuồng có một nhân vật bị ngải làm cho điên, quên tiếng nói của con người, chỉ biết kêu hú…

Tiếng hú như tiếng hú ghê rợn mà chúng tôi đã được nghe khi ở trong nhà sàn của ông chủ phum bên bờ suối nước nóng Ninh Hòa.

Tôi viết tuồng Hai hình ảnh một cuộc đời, tôi đã về miệt Phong Điền, Kinh Xáng, Xà No để thu thập những câu hát huê tình làm những câu đối thoại giao duyên cho mối tình chớm nở của một cô gái Hậu Giang và anh chàng sinh viên Saigon khi anh về nghỉ hè nơi quê hương bên ngoại. Tôi báo cho bà Bầu Thơ biết là tôi sẽ vắng mặt trong đoàn hai tuần lễ để “Ngậm Ngải Tìm Trầm”. Và trong đoàn hát Thanh Minh – Thanh Nga, danh từ của các soạn giả nói đi ngậm ngải tìm trầm có nghĩa là đi sưu tầm tài liệu, “đi thực tế” như kiểu nói ngày nay.

Mỗi cốt chuyện hay, mỗi câu văn thơ, một câu hò hát huê tình thu lượm được trong những chuyến ngậm ngải tìm trầm đó, đối với chúng tôi quý như người thợ rừng tìm được cây Trầm Hương.

Mấy câu hát huê tình mà chúng tôi sưu tầm được như sau:

Gái hò:

Hò ơ… Ghe anh mỏng ván, bóng láng nhẹ chèo,

Xin anh bớt mái, nương lèo đợi em…

Chiếc ghe trước lơi mái chèo, có tiếng một người đàn ông tằng hắng lấy giọng rồi hò đáp lời của cô gái:

“Hò ơ… Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi ờ…

Hò ơ,….kẻo giông khói đèn..ờ….

kẻo giông khói đèn, bờ bụi mà tối tăm ơ…ơ…”

Cô gái lại hò chọc ghẹo người trai ở ghe trước. Nên biết là hò hát trên sông đối đáp bâng quơ chớ không phải có tình ý gì. Đường xa thăm thẳm, dưới ghe xoay trở khó khăn chật chội, hò hát để rút ngắn cơn mưa dầm, đối đáp như vậy sẽ làm dịu đi cái nắng cháy da, sẽ làm quên đi cái cơn mệt nhọc, tiếng hát hò trên sông rạch ngày xưa là tiếng nói thân thương của những vùng đồng quê bình yên trù phú.

Tiếng hò của cô gái ghe sau trong vắt và vang xa như tiếng chuông ngân:

“Hò ơ… Phụng Hoàng đậu nhánh cẩm lai ờ….ơ…

Hò hơ…. Em trách người nghĩa ờ…ơ…

em trách người nghĩa nói sai lời thề…ờ…ơ…

Hơ…Đường đi Kinh Xáng xa vời…ơ…

Hò ơ…Xin cho em gởi…ơ…ơ…

xin cho em gởi vài lời thăm vợ anh ơ… “

Tiếng chàng trai cũng trả treo không vừa:

“Hò … ơ… Vợ anh chưa cưới.., ơ… anh vừa mới hỏi mới chào…ơ…ơ.

Xin em cho biết, …ơ….

xin em cho biết chừng nào em về với anh ơ….hơ….”

Cô gái cười nắc nẻ vô tư, cô gái hò trong đêm khuya tăm tối, không ai thấy mặt ai, ghe trước ghe sau cách nhau vài sải tay, vậy mà tưởng như có tơ trời nối đỏi kéo ghe sau theo liền với ghe trước…

Cô gái lại cao giọng hò:

” Hò ơ…. Con sông bên lở bên bồi ờ….ơ…

Bên lở thì đục …ơ.., bên bồi thì trong,

Sông kia nước chảy đôi dòng,

Biết rằng bên đục, ơ…

biết rằng bên đục, bên trong bên nào?

Gặp anh, em cũng muốn chào,

Sợ rằng chị Cả,… ờ…

sợ rằng chị Cả, dắt dao trong mình ơ…”

Tiếng hò bên trai an ủi vỗ về, cố lờ đi cái chuyện cô gái sợ mình là kẻ đến sau:

“Hò ơ… Tàu Tây chạy ngang cồn cát,

Xuồng câu tôm đậu sát mé nga,

Anh thấy em có một mẹ già,

Anh muốn vô hoạn dưỡng, biết có là đặng không? ”

Cô gái:

” Hò ơ… tôi bước xuống cầu…

bước xuống cầu, cầu trơn cầu trợt ờ….

Tôi bước xuống tàu,

tàu lắc tàu nghiêng… ờ….ơ..

Cả tiếng kêu người mở miệng cầu duyên…ờ...

Ra đây cho tôi thấy mặt ờ …..

cho tôi thấy mặt lạ hay quen cho tỏ tường ơ…. “

Tiếng bên đàng trai cũng hò, tưởng chừng không kể tới sự dọ dẫm của cô gái:

“Hò ơ…. Đèn tạ đăng thắp để bàn thờ…ơ…ơ..

Hễ vặn lên thì nó tỏ ờ,…

mà vặn xuống thì nó lờ…ơ….

Tôi thương ai đêm tôi đợi ngày chờ….ơ..

Xuống sông tôi hỏi cá…ơ mà lên bờ tôi hỏi chim… ơ…

Trách ai làm cho chỉ nọ xa kim… ơ..

Muổng nọ xa tiềm ơ… vắng em một bữa ơ…ờ

Vắng em một bữa,…mà anh nằm… ơ…điềm,… ờ… lại chiêm với bao… ơ….”

Và mấy câu hát huê tình này, ngày nay ít còn nghe ai hát:

“Hò ơ…ớ..

Gái chưa chồng như bông hoa lý…ờ..

Trai chưa vợ như bức tượng vẻ bìa xanh…

Nàng đành…ờ,…mà phụ mẫu không..ơ…ờ…đành

Chớ tỷ như gáo nước…ơ..ơ…

tỷ như gáo nước tưới lửa thành sao tan ơ…ơ…

Hò ơ..ớ..ơ…

Cầu cao ngựa chạy chớ cầu gãy con ngựa nhảy tứ linh,

Anh đi đâu tăm tối một mình… ờ…

Hay là anh có ý…ơ…ờ..

hò…ơ có ý tư tình với ai… ơ… hơ..

Hò… ơ… ớ…

Anh thương em thời thương cho chắc cho chặt cho bền, ơ… hơ…

Dẫu mà có ai xe cát… ơ… hò… o… ớ, rồi đắp… ơ…nền, anh cũng mà không…ơ…

Hò ơ..ớ.. Ếch nằm bờ giếng mà ếch kêu trời… ơ..

Anh ơi, em thương anh mà thương đỡ ơ…ờ..

Thương đỡ mà vậy chớ có thương đời đặng đâu…ơ…

Ông trời ổng cao hơn cái trán,

Con trăng sáng hơn ngọn đèn,

Mà kèn kêu hơn quyển,

Mà biển rộng hơn sông

Biểu anh đừng thương trước uổng công ờ…

Để cho mà thiệt vợ thiệt chồng rồi anh sẽ thương ….

Hò… ơ….

Cây trên rừng hóa kiểng,

Cá dưới biển hóa rồng,

Con cá lòng tong giởn bóng ăn rong… ờ…

Anh đi Lục Tỉnh giáp vòng ơ…

Đến đây trời khiến anh phải lòng thương em…ơ. “

Tôi nghĩ nếu như ai đó có công sức lặn lội về các nơi thôn quê hay các miệt vườn ở Hậu Giang Tiền Giang để sưu tầm các câu hát ru em, các điệu hò cấy lúa, hò giã gạo, hò chèo ghe, hát bóng rổi, các truyện thơ xưa như thơ Sáu Trọng, thơ thầy ký Chánh, truyện Chăn Cà Mun…ắt là sẽ có nhiều câu văn hay, nhiều ý tứ dồi dào mà lời văn rất bình dân nhưng không kém phần mượt mà như văn chương bác học sau nầy.

Công việc đòi hỏi sự cố gắng vô biên, phải kiên trì và phải có cả một tấm lòng mến yêu văn học bình dân, phải chịu khó chịu khổ như người ngậm ngải tìm trầm thì mới có thể khám phá dần dần cái kho tàng văn học dân gian quý báu của dân tộc Việt Nam.

Tôi là người miền Nam, chỉ biết một chút xíu về những câu ca dao, câu hò câu hát của miền Nam. Nói tới điệu hát ru của cả ba miền Bắc Trung Nam thì phải cậy trông vào sự góp công góp sức nhiệt tình của các văn nhân nghệ sĩ của cả ba miền đất nước.

Nhân ba ngày Tết, nhắc chuyện đời xưa: Ngậm Ngải Tìm Trầm để nhớ lại rằng quê hương mình có một nền văn học nghệ thuật rất là phong phú, đa dạng, lời lẽ bình dân nhưng thắm đượm một tình cảm mộc mạc, chân thành. Mỗi khi nghe lại những câu hò, những điệu hát ru em là tôi nhớ đến quê hương với những cánh đồng lúa mênh mông xanh rì với những cánh cò trắng chao nghiêng mỗi khi chiều xuống, và tiếng võng kẻo kẹt hòa theo tiếng êm êm của bà mẹ quê ru con ngủ bên hiên nhà. Và tôi bỗng nhớ 4 câu thơ của một người bạn già, ngày xưa anh ấy đã ngâm cho tôi nghe khi hai đứa tôi bơi xuồng đi tìm những câu hát ru em ở xã Phong Điền:

Cò trắng ngàn năm bay chẳng mỏi

Lưng trâu, sáo đậu ngóng mây chiều

Bếp un dệt khói đan mùng lưới

Giấc ngủ ru theo tiếng sáo diều.

Mùa Xuân Mộng Lệ An, nhìn đâu cũng thấy tuyết rơi mịt mù, nhưng rồi tôi nhìn đâu cũng thấy hiển hiện trong tâm tư sâu lắng những hình ảnh gợi nhớ quê hương.

MỘT TẬP TỤC KHÓ QUÊN:

ngày xuân nghệ sĩ đi xem bói

Năm nay Tết Ất Dậu 2005, trước Tết mấy ngày, vợ tôi thấy tôi loay hoay thu thanh tiếng gà trống gáy để cho gáy vào đêm giao thừa, bèn nói:

– Em thấy anh lẩm cẩm rồi đó. Năm nào cũng tìm cách thu thanh tiếng con thú cầm tinh của năm đó với hy vọng là được may mắn; năm nay anh thu tiếng con gà gáy vì là năm Ất Dậu, năm sau 2006 anh phải đi kiếm thu thanh tiếng con chó sủa cho hợp với năm Bính Tuất 2006, rồi lại kiếm tiếng con heo kêu ột ột cho hợp với năm Đinh Hợi 2007. Mà khi tiếng con thú cầm tinh của năm đó kêu đúng vào giờ giao thừa, có phải đó là báo hiệu cho mình biết là sẽ có một năm may mắn thuận lợi, có đúng như vậy hay không?

Tôi mỉm cười, trả lời:

– Nhứt định như vậy rồi. Em có còn nhớ năm Canh Tý 1960, vừa đúng vào giờ giao thừa, khi có pháo nổ thì tiếng chuột kêu rúc rích, có một con chuột chạy từ ngoài trước sân vô nhà mình… Năm đó, đoàn Thanh Minh – Thanh Nga hát khai trương tuồng Tình Xuân Muôn Tuổi của mình, tiền bản quyền mình thu vô ào ào. Hỏng phải là năm Canh Tý, chuột chạy vô nhà, báo hiệu cái điềm mình được phát tài hay sao?

Vợ tôi không tin, bèn nói:

– Năm Canh Tý 1960, đoàn hát hát tuồng của mình nên mới có tiền vô, còn nếu như đoàn hát hát tuồng của soạn giả khác thì dầu cho có cả trăm con chuột chạy vô nhà mình, mình cũng đâu thâu được tiền gì đâu. Với lại…

Tôi hỏi:

– Với lại gì nữa?

– Với lại cái năm Nhâm Tý 1972, cũng năm con chuột, anh cũng thâu thanh và cho phát thanh trong nhà tiếng chuột kêu rúc rích…rúc rích, mà năm đó đoàn hát xất bất xang bang, mình chẳng thu được tiền bản quyền mà còn bị giựt hụi gần cả triệu đồng. Vậy thì hên ở chỗ nào đâu?

– Thì … thì tại cái năm mùa hè đỏ lửa… năm 1972, ai làm ăn cũng thất bát, chớ đâu phải chỉ có một mình mình thôi.

Tôi biết là tôi cãi bướng vì cái chuyện tin dị đoan chẳng qua là một cách tự kỷ ám thị, mình tạo cho mình một hy vọng, một mơ ước trong khi biết rõ là mình không có khả năng đạt được mơ ước đó. Chỉ là cầu may thôi!

Trong cuộc sống, ai cũng mang theo hành trang mơ ước, hy vọng và niềm tin để đi vào đời. Nếu không có mơ ước, không có hy vọng, chỉ bằng vào khả năng của mình để có niềm tin thì khả năng của tôi không có nhiều, tôi tin tôi được sao? Bởi vậy nhiều khi mình không biết nên hy vọng vào đâu nên mới phải nhờ mấy ông thầy bói, bói mò để mấy ổng cho mình một chút hy vọng. Đó là tâm lý của tôi, của các bạn nghệ sĩ đồng nghiệp với tôi, vậy nên năm nào vào dịp cuối năm và đầu xuân, chúng tôi cũng rủ nhau đi lăng Ông Bà Chiểu để cúng kiến cầu phước, đi hái lộc cầu may và xin xăm, coi bói để đoán hậu vận tương lai.

Nói tới Lăng Ông Bà Chiểu thì dân Saigon, Chợ Lớn, Gia Định ai cũng biết đó là ngôi mộ cổ, nơi an nghỉ cuối cùng của Tả Quân Lê Văn Duyệt, Tổng Trấn Gia Định Thành, khai quốc công thần của Thế Tổ Cao Hoàng đế Gia Long. Bên cạnh mộ Ông là mộ Bà, phu nhân quan Tả quân, bà tên tộc là Đỗ Thị Phấn.

Tôi còn nhớ khuôn viên nơi Lăng Ông tọa lạc thật là lớn rộng, nằm giữa bốn con đường: mặt tiền hướng Nam là đường Vũ Tùng, mặt hậu hướng Bắc là đường Phan Đăng Lưu, phía trái hướng Tây là đường Đinh Tiên Hoàng, phía phải hướng Đông là đường Trịnh Hoài Đức.

Trên cổng tam quan có đề chữ “Thượng công Miếu”, trong khuôn viên có nhiều cây cổ thụ, đặc biệt có một số cây thốt nốt trồng tự lâu đời. Phía trái là khu cổ mộ, nơi an táng hài cốt của hai ông bà Tả Quân, phía trong là đền thờ kiến trúc theo kiểu Á Đông, trên nóc có rồng chầu phụng múa, sơn son thiếp vàng. Chính điện thờ bức đồ tượng của Tả Quân, mặc đại bào triều phục, dáng người thấp nhỏ, đứng tuổi nhưng không có râu, đôi mắt sáng tinh anh. Khác với những ngôi đình thờ thần hoàng bổn cảnh ở Saigon hay các tỉnh là trong miếu thờ Tả Quân không có sắc phong của triều đình.

Theo sử sách thì sau khi Tổng Trấn Gia Định Thành tạ thế (năm 1832) vua Minh Mạng bãi bỏ chức Tổng Trấn, lập ra sáu tỉnh ở phương Nam, bổ nhiệm cho Nguyễn Văn Quế làm tỉnh trưởng Gia Định, Bạch Xuân Nguyên làm Bố chánh và Nguyễn Chương Đạt làm giám sát.

Vừa mới nhậm chức, Bạch Xuân Nguyên phao tin là nhận mật chỉ của vua tra xét mọi việc hà lạm của cố Tổng Trấn. Bạch Xuân Nguyên tịch thu gia sản, bắt giam Lê Văn Khôi, con nuôi và cũng là cận tướng tin cẩn nhất của Lê Văn Duyệt.

Lê Văn Khôi sau đó vượt ngục, chiêu tập những người trung thành với cố Tổng Trấn nổi loạn, chiếm cứ thành Phan An, giết cả gia đình của Bạch Xuân Nguyên và Nguyễn Văn Quế.

Ba năm sau triều đình mới dẹp được loạn ngụy Khôi. Vua Minh Mạng kết tội Lê Văn Duyệt liên can với giặc, lẽ ra phải quật mồ phân thây, nhưng xét vì có công dựng nước với Tiên vương nên mới ra lệnh xiềng mả.

Đến đời vua Tự Đức mới xóa bỏ án cũ, phá bỏ xiềng xích. Vì vậy, Thượng-công Lê Văn Duyệt không được ban sắc phong thần của triều đình như các bậc công thần khác.

Người dân Gia Định có lòng kính yêu đối với Lê Tổng-trấn, thờ phượng người như một thượng đẳng linh thần, đặc biệt người Trung Hoa đến chiêm bái đông nhất. Họ tin tưởng sự linh hiển của Lê Thượng-công như họ đã sùng kính Quan Đế Thánh Quân của họ. Khách chiêm ngưỡng dâng cúng rất nhiều tiền bạc, của cải nên đền thờ luôn luôn được trùng tu, chăm sóc, mỗi ngày thêm bề thế nguy nga hơn.

Đến ngày giỗ đức Lê Thượng-công (từ mùng 1 đến mùng 3 tháng 8 âm lịch), khi cúng Kỳ Yên và ba ngày Tết thì Hội Thượng-công qui tế tổ chức cúng rất trọng thể, có rước Ban hát bội tới diễn ba xuất hát San Hậu. Đó là vở tuồng mà khi còn sinh tiền Thượng-công thích nhất vì ngài coi như gởi gấm tâm tình mình qua nhân vật thái giám Tử Trình. Nghệ sĩ hát bội nào được hát “cúng Ông” rất lấy làm vinh dự nên hết sức nghiêm túc khi trình diễn. Họ tin là hát hay để “hầu Ông” là sẽ được Ông ban cho mọi điều may mắn và sẽ thành đạt hơn trong nghề hát.

Diễn viên nào lơ là, chểnh mảng, sơ suất sẽ bị Ông quở, sau đó sẽ “xuống nghề”, “mất duyên sân khấu”.

Nghệ sĩ cải lương không có dịp hát hầu Ông nhưng được nghỉ hát từ 25 Tết cho đến hết đêm 30 nên năm nào chúng tôi cũng rủ nhau đi cúng Ông như các khách thập phương khác để xin xăm, hái lộc hoặc bói quẻ.

Còn nhớ đêm ba mươi Tết năm 1972 (Nhâm Tý), Kiên Giang, Hà Triều, và vài nghệ sĩ ở chung đoàn cải lương Thanh Minh – Thanh Nga đến thăm tôi, chúc Tết và ăn nhậu trong đêm trừ tịch.

Tôi đã rời đoàn hát Thanh Minh, qua làm việc cho đoàn hát Dạ Lý Hương của Bầu Xuân; Hà Triều thì đưa tuồng hát cho đoàn Kim Chung và Kiên Giang vẫn còn làm cho đoàn Dạ Minh Châu tức là đoàn Thanh Minh 2. Tuy mỗi người ở một đoàn hát khác nhau nhưng chúng tôi vẫn thường gặp nhau và các bạn thường kéo lại nhà tôi để ăn nhậu vì vợ tôi hiếu khách và nấu mấy món đồ ăn nhậu rất ngon.

Sau khi no nê và hơi say say, chúng tôi rủ nhau đi hái lộc và cúng Ông, xin xăm ở Lăng Ông Bà Chiểu. Ba tên soạn giả chúng tôi gởi xe vespa trong khuôn viên của các gia đình nghệ sĩ gánh hát Phước Chung ở dưới gốc cầu Bông rồi thả bộ đi về hướng Lăng Ông.

Người đi đường và xe cộ quá đông, quá ồn ào náo nhiệt.

Chúng tôi phải chen lấn khó nhọc lắm mới vô được trong hàng rào của Lăng Ông, vô được tới chánh điện rồi thì mồ hôi ướt áo, cả ba chúng tôi khấn nguyện và xin xăm.

Hà Triều cầm ống xăm, lắc thật lâu, thấy không rớt ra cây xăm nào bèn thò tay rút đại một cây xăm. Kiên Giang thì lắc ống xăm quá mạnh, khi xăm rớt ra thì rớt năm bảy cây một lượt. Anh ta làm đi làm lại mấy lần đều như vậy, cuối cùng cũng lấy đại một cây xăm cho mình và lượm một cây xăm khác đưa cho tôi.

Đến khi xin keo thì năm lần bảy lượt keo nào cũng hoặc sấp hết, hoặc ngửa hết, tôi nói:

– Tụi bây rút đại một cây xăm thì đâu phải là Ông cho cây xâm đó nên xin keo hoài hỏng được. Bây giờ tụi mình trở vô vái lạy, xin xăm lại lần nữa thử coi sao.

Hà Triều nói:

– Bây giờ mà lại chen vô tới chánh điện thì cũng đủ mệt xỉu chết trước khi được Ông cho một cây xăm khác. Thôi, mình đã có lòng thành tới cúng Ông, xin xăm được thì tốt, không được thì ra về cũng yên bụng. Cứ tin là năm nay mình gặp may mắn là sẽ hên suốt năm. Mấy anh tin tôi đi, mấy lần trước đi cá ngựa, tôi xin được cây xăm thượng thượng, vậy mà con ngựa Tô Điền Sơn của tôi cứ chạy thua hoài. Thua sạch túi. Tôi bán con Tô Điền Sơn rồi, gặp Lê Khanh, tôi mượn tiền đi cá độ thử, tôi nói bữa nay hên…

Tôi chận lại hỏi:

– Sao mầy biết bữa đó mầy hên?

– Thì thằng cha Lê Khanh có đời nào mà có tiền dư để cho ai mượn, vậy mà tôi hỏi một tiếng, thằng chả đưa tôi mượn năm trăm đồng, hỏng phải bữa đó tôi hên sao?

Kiên Giang hỏi:

– Hên sao? Hên là thua kỳ nầy, khỏi phải trả nợ cho Lê Khanh hả?

– Bậy! Kỳ đó tôi ăn gần hai chục ngàn. Lúc đó tôi vái thầm trong bụng, vậy mà Ông độ, tôi trúng lớn. Bởi vậy, bữa nay mình cúng vái rồi, cứ yên chí ra về, nhứt định năm nay tụi mình hốt bạc ào ào cho mà coi…

Khói nhang mù mịt tới khó thở, người đi cúng đốt giấy tiền vàng bạc, lửa cháy phừng phực, thật nóng nực, tôi bèn rủ Kiên Giang và Hà Triều đi về phía cổng hậu của Lăng Ông là ra hướng đường Phan Đăng Lưu để ra chợ Bà Chiểu. Nhưng ra tới đường, thấy dọc theo hàng rào có nhiều bàn của các ông thầy bói, Kiên Giang gợi ý là đi đến Lăng Ông, không xin xăm được thì cũng thử xem bói coi năm tới vận hạn ra sao.

Chúng tôi tới trước bàn của một ông thầy bói có một tấm bảng lớn đề mấy chữ: Bói Quẻ Khổng Minh. Dưới hàng chữ đó có vẽ hình bùa bát quái màu đỏ và mấy chữ viết theo kiểu chữ triện: Gia Cát Võ Hầu Linh Cảm Thần Quái.

Kiên Giang lại ngồi xuống, tôi và Hà Triều ngồi hai bên.

Kiên Giang nói:

-Anh Nguyễn Phương lớn tuổi nhất, anh lắc mu rùa xin quẻ trước đi.

Tôi biểu Kiên Giang coi bói trước; Kiên Giang lại bảo Hà Triều.

Tôi thấy ngày Tết người ta đi xin xăm bói quẻ nhiều, không muốn cản trở công việc làm ăn của ông thầy bói nên nói:

-Được rồi. Tao coi bói trước. Nếu ổng bói trúng thì tụi bây coi sau.

Tôi do dự một chút nhưng rồi cũng theo lời ông thấy bói, cầm cái mu rùa và bỏ vô năm đồng tiền điếu, đưa lên trán thầm khấn xin ông Khổng Minh Gia Cát báo cho biết vận hạn của tôi năm mới ra sao? Khấn vái xong, tôi lắc mu rùa lâu lâu rồi đổ năm đồng tiền xuống cái đĩa để trước mặt ông thầy bói. Tôi thấy ông sắp hàng dọc mấy đồng tiền điếu, xem kỹ rồi nói:

– Đồng tiền thứ hai và thứ tư sấp, ba ngửa, quẻ Đắc lộc, Thượng Cát..

Ông Thầy Bói ngồi trầm ngâm, ngó chúng tôi. Kiên Giang hỏi:

– Đắc lộc, Thượng Cát là sao, ông thầy hỏng giải cho chúng tôi biết?

– Năm mươi đồng một quẻ, xin quí thầy đặt tiền quẻ thì tôi mới “bàn” cho mấy thầy nghe…

Hà Triều nói:

-Thôi đi! Chưa bói đã thấy thua năm chục rồi, tụi mình đi…

“Nè, mấy ông nghĩ sao nếu khán giả vô coi hát cọp?” Ông thầy bói hỏi một câu… nghe “xanh dờn”.

“Ông có biết tụi tui là ai không mà ông nói như vậy?” Hà Triều cho là ông thầy bói ám chỉ là anh đi coi bói cọp nên gay gắt hỏi lại.

– Đặt tiền quẻ đi, tôi không đoán trúng mấy ông là ai thì tôi không lấy tiền quẻ mà còn đãi mấy ông một chầu bia nữa. Đặt tiền quẻ đi!

Chúng tôi thấy ông thầy bói nầy lạ hoắc và chúng tôi thì mỗi năm chỉ tới Lăng Ông có một lần vào dịp Tết. Chưa lần nào xem bói thì làm sao mà ông thầy bói nầy biết chúng tôi là ai? Hỏng lẽ tôi mới rờ cái mu rùa mà ông biết được tôi là ai sao và đoán ra những người cùng đi với tôi? Rõ ràng là thầy bói nói mò…

– Được rồi! Năm chục thì năm chục… Tiền đây, ông nói nghe coi, chúng tôi là ai?

Tôi để năm chục đồng tiền quẻ trên cái dĩa trước mặt ông, ông lấy tiền, xếp lại đút vô túi cẩn thận rồi cười mím chi, nói:

– Cám ơn ông soạn giả Nguyễn Phương. Hai ông đây là soạn giả Kiên Giang và soạn giả Hà Triều. Đúng hông? Tôi bói tên ba ông đúng hông?

Cả ba chúng tôi kinh ngạc, thầm phục ông thầy bói, chắc là ông có “nham độn ” hay “ngải nói ” chi đây. Chưa khai tên khai tuổi, vậy mà tôi mới rờ mu rùa, đặt tiền quẻ năm chục đồng là ông đã bói trúng tên chúng tôi rồi. Vậy là phen nầy chúng tôi nhờ ông bói cho biết họa phước ra sao thì cũng đáng đồng tiền lắm!

Ông thầy bói nói tiếp:

– Quẻ của ông Nguyễn Phương xin là quẻ Đắc Lộc, Thượng Cát:

Cao danh cư lộc vị,

Long diễu đắc đào sinh,

Xuất nhập đa tài bửu,

Cánh nghi khứ viễn hành.

Cầu mưu toại ý hữu dinh sinh,

Xuất lộ vinh hoa, nghi viện hành

Gio trạch an ninh đa cát khánh

Nhân cơ hưng vượng, vật tăng sinh.

Giải:

Cầu quan được địa vị, xuất hành tốt, đi xa nhiều tài lộc.

Mưu việc thành đạt, kiện tụng nên hòa. Tìm người thì gặp, của thất lạc tìm lại được, hôn nhơn thành tựu, có thai sinh trai, gia trạch yên ổn.

Kiên Giang lại xoa bụng tôi, tôi xô anh ra, cằn nhằn: “Làm gì xoa bụng tôi? ”

Kiên Giang cười hề hề, nói:

– Ông thầy bói nói là có thai sinh trai, tôi rờ thử bụng anh coi anh có thai hay không vậy mà.

Ông thầy bói nói:

– Quẻ bói là chung cho Nam lẫn Nữ. Ông không có thai thì bà có thai. Hai ông bà già hết rồi, không thai nghén được nữa thì con dâu, con gái có thai, nghĩa là không có con thì thôi mà hễ có con thì là con trai, cháu nội trai. Thôi, các ông có vẻ không tin quẻ Khổng Minh. Vậy thì các ông viết cho tôi mỗi ông một chữ, tôi sẽ chiết tự, đoán vận mạng cho các ông.

“Vậy thì tôi viết trước!” Kiên Giang lấy viết và giấy trên bàn của ông thầy bói, viết một chữ NỢ, rồi anh ta gạch tréo trên chữ Nợ và nói: “Tôi muốn xóa nợ. Đó ông thầy bói đi.”

Ông thầy bói ngồi rung đùi cười ruồi, tôi hiểu ý ông ta nên nói:

– Ông đoán đi, tôi đặt tiền quẻ luôn cho ông đoán ba chữ ký đây.

Tôi lấy ra thêm ba tờ năm chục đồng đặt trên đĩa trước mặt, ông thầy bói lấy một trăm đồng thôi, ông trả lại cho tôi năm chục:

– Phần của ông, tôi đã lấy lúc nãy, tôi đoán chữ ký cho ông, miễn phí. Hai ông viết luôn cho hai chữ rồi tôi đoán luôn một thể.

Hà Triều lấy giấy viết, suy nghĩ hơi lâu để tìm một chữ gì đó để hy vọng làm khó dễ ông thầy bói nhưng rồi Hà Triều cũng viết một chữ NỢ xong khoanh tròn chữ Nợ chứ không gạch tréo như chữ Nợ của Kiên Giang. Hà Triều cười, nói: “Tôi khoanh vùng, không cho nợ nữa.”

Đến phiên tôi, tôi gò chữ viết một chữ NỢ thật đẹp, không gạch, không khoanh tròn, không cả dấu chấm sau chữ nợ.

Ông thầy bói cầm ba chữ Nợ, ngó ngang, ngó dọc của từng chữ, rồi lấy thước đo chiều cao của nét chữ, chiều ngang, lấy tay mằn mằn theo từng nét chữ, rất trịnh trọng.

Tôi theo dõi và thầm nghĩ là thằng cha nầy đang tìm cách nói dóc sao cho thật hay đây.

Hà Triều cười:

– Ông chiết tự mà đoán trúng tương lai hậu vận của tôi, tôi xin bái ông làm sư phụ để xin theo học nghề bói toán.

Ông thầy bói lấy ngón tay trỏ, gõ nhẹ nhẹ lên chữ Nợ có gạch tréo ngang của Kiên Giang rồi nói:

– Ông gạch tréo để xóa chữ Nợ, ý muốn xóa nợ, hết mang nợ, nhưng theo nét chữ và cách gạch tréo của ông thì cái gạch tréo nầy là cái dấu Nhơn, y như dấu nhơn trong bốn phép tính. Vậy có nghĩa là đời của ông sẽ không bao giờ dư dã, ông sẽ nhơn lên số nợ của ông hoài cho đến ngày cuối đời. Lúc nào cũng mang nợ. Nợ sanh lời, đẻ ra nợ, hết chuyện tai nạn nầy tới chuyện trục trặc khác làm cho ông phải mang nợ và nợ, nợ sẽ nhơn lên thành nhiều nợ…

Kiên Giang không phản đối, thở ra một hơi dài như cam chịu cái phần số long đong, nghèo mạt rệp của anh.

Không khí của cuộc bói toán trở thành nghiêm trang, Hà Triều cũng lo lắng ra mặt, không còn có giọng cợt đùa không tin tưởng ông thầy bói như lúc nãy.

Ông thầy bói lại lấy ngón tay trỏ khỏ khỏ lên chữ Nợ có khoanh tròn của Hà Triều, ông có vẻ do dự chưa muốn nói thật ra nhưng Hà Triều thúc dục: “Ông đoán đi, cứ nói đi, tôi không phiền giận gì nếu ông đoán là vận mạng của tôi xấu ”

– Vậy thì tôi cho ông biết là ông khoanh tròn cái chữ Nợ nầy, không phải là ông ngăn không cho cái nợ nó lan tràn ra nữa mà là chữ nợ khoanh tròn nầy báo hiệu là ông sẽ hết Nợ Văn Chương. Tôi chưa đoán được chuyện gì sẽ xảy ra, nhưng ông sẽ không viết tuồng được nữa, hoặc tuồng của ông viết ra thì không được xử dụng, số mạng của những tác phẩm sau nầy của ông bị khoanh vùng rồi, và tôi nói ông đừng buồn, sanh mạng của ông cũng không thọ, có nghĩa là ông cũng hết Nợ Đời sớm hơn hai ông nầy.

Hà Triều lúc nầy mới thật sự lo sợ, anh ta ngập ngừng hỏi: “Ông thầy coi có cách nào để giúp tôi xóa đi cái vận hạn xấu nầy không? Hay là để tôi viết chữ khác để ông thầy đoán lại, coi tôi có một cơ may nào không? ”

Ông thầy bói lắc đầu: “Mỗi người có một phần số, đâu phải muốn thay đổi là thay đổi được dễ dàng. Tôi hy vọng là tôi coi chưa tới, tôi đoán sai, không thấy được Triệt đóng ngay khung tiểu hạn của ông để mà hóa giải những tai nạn vận đen cho ông. Phải coi tử vi, đúng ngày sanh, giờ sanh thì mới dám quyết đoán.”

Ông thầy bói lại lấy chữ Nợ của tôi gò viết chữ cho đẹp lúc nãy, ông cũng lấy ngón tay trỏ gõ gõ lên chữ Nợ, nhìn kỹ, đưa lên nghiêng qua nghiêng lại trước ánh đèn cóc mù mờ, tôi nghe tim tôi đập mạnh như bị ông thầy bói khỏ khỏ lên trái tim của tôi, tôi nói:

– Dạ thưa thầy, thôi đi, tại tôi thấy hai anh nầy viết chữ Nợ, tôi bèn viết theo, chứ thật trong thâm tâm của tôi, tôi không hề nghĩ tới việc viết một chữ Nợ. Thầy khỏi đoán nữa…

Ông thầy bói dường như không nghe lời nói của tôi, ông tiếp tục nói theo dòng suy tư của ông: “Viết cái chữ Nợ một cách gò gẫm như vầy, đẹp như vầy là nói lên cái số của ông còn nặng nợ văn chương, như con tằm phải trả nợ dâu, ông còn phải trả nợ văn chương cho tới quá chín mươi tuổi, ông còn nợ cháu nội, cháu ngoại, còn nặng nợ giúp đỡ bạn bè. Viết gò gẫm một chữ Nợ có nghĩa là ông tự nguyện mang cái nợ văn chương, mang cái nợ nuôi con cháu và giúp đỡ bạn bè và cái số của ông là về già ông được sung sướng, thong dong và có lẽ nhờ cái vận số của ông lúc nào cũng được may mắn, phong lưu nên ông giúp người ta một cách dễ dàng. Ống trả nợ nhưng thật ra là ông cho người ta mượn nợ kiếp nầy để kiếp sau họ trả lại cho ông.”

Ông ta nói tốt cho tôi, trong bụng tôi cũng vui vui nhưng tôi nghĩ là vì tôi mau chóng đặt tiền quẻ, ông bói tốt cho tôi, còn Hà Triều và Kiên Giang thì cợt đùa, có vẻ không tin việc bói toán nên ông ta bày đặt chuyện, nói dọa hù cho hai anh chàng lo sợ.

Trước khi đi chợ Bà Chiểu, tôi chợt nhớ một thắc mắc nên hỏi ông thầy bói:

– Tại sao chúng tôi chưa nói tên tuổi của mình mà ông đoán biết trúng ngay phong phóc vậy?

Ông thầy bói cười nói:

– Vì các ông khi nói chuyện với nhau trước khi xem bói, người nầy gọi tên người kia. Ba cái tên Nguyễn Phương, Kiên Giang, Hà Triều thì tôi nghe các tuồng dĩa cải lương của các ông soạn, tôi nghe giới thiệu hoài, tuy tôi chưa biết mặt nhưng tôi đã nghe danh ba ông. Vậy nên khi các ông tới bói, vô tình gọi tên nhau là tôi biết, chớ có gì là lạ?

À ra là vậy! Chúng tôi tiếp tục đi chợ Tết, mua bông mai, ít trà mứt mà trong lòng không mấy vui. Tôi được bói tốt nên an ủi hai bạn:

– Chúng mình là soạn giả, chuyên môn đặt chuyện nói dóc thành ra tuồng tích, vậy mà nghe một ông thầy bói bói mò, lại tin tới nỗi lo sợ mất vui. Bói ra ma, quét nhà ra rác, tụi mình quên chuyện nầy đi.

Hà Triều và Kiên Giang bỗng phá ra cười to lên, Hà Triều nói:

– Hồi nãy có một thằng nhỏ đốt một phong pháo, quăng vô gần cái bàn của ông thầy bói. Nguyễn Phương có thấy là Kiên Giang thì chúi đầu vô né, tôi thì chới với, vói tay chụp cái bàn. Nguyễn Phương đá phong pháo ra ngoài xa, còn ông thây bói thì cầm cái đèn cóc lên vì ổng sợ ngã cái đèn, dầu chảy ra, cháy đồ nghề bói toán của ông ta. Nhớ chưa?

– Nhớ! Rồi sao?

– Lúc đó tôi nhanh tay chớp cuốn sách bói, ông ta không hay biết là đã mất cuốn sách kiếm cơm nầy. Qua mùng ba, mình đem lại trả cho ổng, nói là khi pháo nổ, bàn bói của ổng bị xô lệch, sách rớt xuống đất, mình lượm, coi lại thì mới biết là sách bói.. (Hà Triều đưa ra cuốn sách bói mỏng, nhỏ như loại sách bỏ túi) cuốn Bói quẻ Khổng Minh, Tết nầy tụi mình vô thăm bà Bầu Thơ trong rạp hát Thủ Đô, tôi mở một cái quán lốc cốc tử, coi bói cho Thanh Nga, cho Bà Bầu và mấy bạn nghệ sĩ chơi.

Tôi bảo đem trả đi vì đồ nghề kiếm cơm của người ta, lấy đi rồi người ta làm sao làm ăn? Nhưng Kiên Giang nói ông ta đã thuộc nằm lòng, có sách bói hay mất sách cũng chẳng có ảnh hưởng gì hết

Ngày mùng ba Tết năm đó, tôi vô rạp hát Thủ Đô, chúc Tết bà Bầu Thơ, thăm các bạn nghệ sĩ đoàn Dạ Minh Châu (tức Thanh Minh 2 ), tôi thấy Hà Triều ngồi bịt khăn đỏ ngang trán, vẽ râu ngạnh trê, Kiên Giang mặc áo thụng xanh (mượn trong đồ hát của bà giữ đồ hội của đoàn). Cả hai giả hai ông hầy bói lốc cốc tử, một cái nắp hộp phấn có dán hình một con rùa, úp trên đĩa thay cho cái mu rùa, các nghệ sĩ bu lại coi bói thiệt là vui.

Tôi nghe Hà Triều ê a đọc lớn:

– Quẻ của cô Thanh Nga… Phúc Lộc, Thượng Thượng:

Phúc Lộc đắc an khang,

Vinh hoa bảo tiến xương

Bách sự toại tâm ý

Thiên lý cộng hình hương.

Gia môn an thái sinh hân khí

Xuất ngoại kinh doanh lợi tức tăng

Tai khứ phúc lai quang thái ánh,

Cầu mưu tất sự vĩ cao thăng.

Hà Triều giải nghĩa bài quẻ bói kể trên chắc là đúng theo ý của cô Thanh Nga nên tôi thấy cô gật đầu dạ, dạ, vẻ mặt rất vui.

Nghệ sĩ Minh Điển xưa nay không tin dị đoan, thấy vui vui cũng cầm mu rùa dỏm lên xá xá, rồi xổ mấy đồng bạc cắc, thầy rùa Hà Triều xếp xếp mấy đồng sấp, ngửa, hô to:

– Quẻ An Tĩnh, Hạ Trung.

Nói xong, ông thầy bói dởm mở sách ra ngâm nga:

Tâm tư đa bất định,

Cầu mưu vị đắc thánh

Nhẫn nại phương vi phúc

Thủ phận miễn tại tinh

Khuyến quân vi thiện mạc hành tà

Vạn khoảnh tâm điền thường tự ma

Phụ mẫu đường từ tu hiếu kính

Chiêu nhiên thiên lý phúc nguyên ha.

Minh Điển hỏi:

– Ông thầy rùa giải nghĩa mấy câu chữ nho coi nói gì. Ống đọc khơi khơi như vậy thì làm sao mà tôi hiểu?

Hà Triều nói lớn: “Thiên cơ bất khả lậu. (xong anh ta rỉ tai Minh Điển) Tôi còn không hiểu thì anh biểu tôi giải nghĩa làm sao được mà giải?”

Bên hành lang hậu trường sân khấu trang trí đón Xuân rất đẹp, cũng có hoa mai, nhiều chậu cúc… một bàn dài để nước ngọt, rượu bia, bánh mứt và trái cây đãi khách và nghệ sĩ các đoàn khác đến chơi, không khí rất là vui; các nghệ sĩ của đoàn, ai có vai hát, tới lớp thì chạy ra sân khấu hát, ai chưa tới lớp vô chúc tết, coi bói, binh xập xám.

Viễn Châu và Nguyễn Ang Ca tới chúc Tết bà Bầu Thơ, thấy Kiên Giang và Hà Triều hóa trang làm mấy ông thầy bói, Viễn Châu cũng cao hứng, vô bà Sáu đồ hội, mượn một áo thụng xanh, khăn đóng, ra ngồi coi bói cho nghệ sĩ.

Nữ nghệ sĩ Lệ Thủy tới coi bói, đặt tiền quẻ đàng hoàng. Viễn Châu đốt nhang, hô úm ba la một hồi, thần bút xuống cơ cho mấy câu thơ:

“Cô bán trầu xanh” thật dễ thương

Giọng ca lảnh lót ngọt như đường

Thanh thanh dáng nhỏ, người tha thướt

Xuân đến càng thêm đượm sắc hương.

Nữ nghệ sĩ Hồng Nga lại vái chào ông thầy bói, Kiên Giang vội nói:“Lần nầy để cho tôi bói. Hồng Nga, lại rờ cái mu…cái mu..” Kiên Giang cười tới té sặc, cà lăm không nói được.

Hồng Nga tức: “Ông thầy nói tầm bậy, tôi cắt cái lưỡi của ông đó”.

– Xin lỗi… Tại tụi nó chọc, tao cà lăm… tao là tía của mầy, tao nói bậy cho Tổ vật tao chết đi.

Hồng Nga lại bụm họng Kiên Giang: “Nói chơi với ông thầy, đừng có thề, Tổ vật ông thiệt à nghen!”

Kiên Giang viết mấy câu thơ, ngâm lớn cho mọi người nghe:

– Hồng Nga cười cũng giỏi mà khóc cũng hay. Bi, Hài đều số một. Bộc trực, ngay thẳng, tánh tình sòng phẳng. Nhưng cũng có đôi lúc bốc đồng cũng dám giở ngón Ka ra tê giằn mặt đối phương. Vậy có thơ rằng:

Khán giả khen em sắc vẫn tươi,

Dạ thưa:

Em mới quá năm mươi!

Quà xuân xin tặng người tri kỷ,

Nhận ở Hồng Nga một tiếng cười.

Nữ nghệ sĩ Kim Ngọc tròn như hột mít, từ ngoài chạy vô la: “Tới phiên em… Tới em…”

Ông thầy bói Viễn Châu đọc to lên:

– Kim Ngọc, Vàng và ngọc.

Cuộc sống có được hai thứ đó đúng là quá lý tưởng.

Chưa thấy mặt đã nghe tiếng cười, vậy có thơ rằng:

Hồi Dạ Lý Hương vẫn ốm teo,

Mai Đình cô gái ở quê nghèo

Từ ngày đi tấu hài đây đó,

Nặng ký nhưng mà hổng có eo!.

Cái Tết năm Nhâm Tý đó vui thật là vui, đầu năm thì gánh hát nào cũng đông nghẹt khách, nhưng khi có chiến dịch Hạ Lào xảy ra thì cuộc sống của giới nghệ sĩ sân khấu trở nên khó khăn hơn; các gánh hát làm ăn thất bát, nghệ sĩ túng thiếu, vay nợ như chúa chổm.

Kiên Giang thì năm nầy mắc nợ cho tới phải bán nhà, đi ở nhờ hết ở nhà của người bạn nầy rồi dời đi ở nhờ với người bạn khác.

Hà Triều thì bặt vô âm tín, anh không viết được tuồng nào nữa. Mãi cho tới sau 1975…, đến năm 2003, anh Hà Triều cũng không có được một vở tuồng nào cho ra hồn. Phải chăng là lời bói chiết tự của ông thầy bói quá đúng?

Mùa Xuân Ât Dậu 2005 nầy, tôi bỗng nhớ lại chuyện ngày Tết đi Lăng Ông, bói quẻ đầu xuân. Lời tiên tri của ông thầy bói ám ảnh tôi nhiều năm dài. Bây giờ tôi bỗng nhiên tin là ông ta đoán trúng, vì cho tới mãi năm 2004 vừa qua, tôi vẫn được tin của Kiên Giang là gần ba mươi năm qua, lúc nào anh ta cũng mắc nợ. Và Hà Triều thì đúng là hết nợ văn chương, hết nợ đời. Và riêng Nguyễn Phương tôi thì đã đi quá cái ngưỡng cửa tám mươi tuổi, tôi vẫn còn nặng nợ văn chương.

Bạn bè ở Mộng Lệ An năm nay rủ tôi đi bói quẻ đầu Xuân, tôi không dám đi. Thà như không biết, thà như không nghe nói trước, vì có câu tục ngữ:

Thừa tiền thì đem mà cho,

Đừng có xem bói thêm lo vào mình.

CUỘC SỐNG SAU BỨC MÀN NHUNG

Nghệ sĩ sân khấu cải lương trong nửa thế kỷ trước đã từng phải sống trong tình trạng nghèo khó, ăn quán ngủ đình.

Trong những thập niên 60, 70, 80, một thời kỳ vàng son của cải lương, đa số nghệ sĩ đều có xe hơi, nhà cao cửa rộng, có tài xế riêng và người giúp việc trong nhà. Những đào kép dàn bao, bực trung cũng ở nhà lô, chung cư và phương tiện di chuyển thông thường là xe Honda, Vespa, Lambretta hay xe mô-tô BMW.

Thời kỳ này, tuy trong giới nghệ sĩ vẫn có sự giàu nghèo cách biệt, đồng lương chênh lệch rất nhiều nếu so sánh giữa đào, kép chánh và kép phụ hay công nhân sân khấu, nhưng nói chung mọi nghệ sĩ vẫn được “no cơm ấm áo”, không có cảnh chạy ăn từng bữa, nay ở gầm cầu, mai lang thang không nơi trú ngụ.

Sau 1975, một cuộc đổi đời bi thảm, mọi giá trị trên đời đều bị đánh giá lại theo quan điểm của những chủ nhân ông mới của đất nước, mọi nếp sống đều bị đảo lộn, nghệ sĩ cải lương cũng không thoát khỏi cái vòng xoáy đó của thời cuộc.

Sự phân chia giai cấp trong giới nghệ sĩ càng lúc càng rõ nét.

Có những nghệ sĩ được chế độ ưu đãi thì tiếp tục cuộc sống của những ông hoàng, bà chúa tân thời, tuy số người này ít, có thể đếm được trên đầu ngón tay, nhưng họ được thổi phồng lên, được quảng cáo rầm rộ, thành ra nếu khán giả không thật sự theo dõi, tìm hiểu một cách sâu xa, thì có thể lầm tưởng là sân khấu cải lương được đổi mới, hưng thịnh hơn xưa và nghệ sĩ cải lương hiện nay được sống cao sang hơn trước.

Sự thật thì hoàn toàn khác. Người ta được biết Bạch Tuyết vẫn ở biệt thự sang trọng, xe hơi có tài xế riêng, có con đi học bên Mỹ trong 12 năm liên tục. Kim Cương cũng sang giàu, con trai học và tốt nghiệp HEC của Montréal. Hồng Nga có con ở nước Áo. Lệ Thủy có con đi học ở Úc. Các nghệ sĩ như Kim Tử Long, Ngọc Huyền, Hoài Thanh, Diệp Lang, Ngọc Giàu, Hồng Nga, Minh Vương, Bảo Quốc được nhiều lần đi biểu diễn ở Úc, Pháp, Nga, và Canada.

Lần biểu diễn ở Toronto và Montréal của Minh Vương và Bảo Quốc bị người Việt định cư Canada kịch liệt phản đối, không hát được, nhưng báo chí trong nước vẫn quảng cáo là đồng bào nước ngoài sắp hàng, dành mua vé xem hát.

Hỏi ra những lần đi diễn ở Úc, Pháp, Nga thì phần lớn là diễn ở các quán ăn có chương trình ca nhạc, một hình thức giống quán nhậu có ca nhạc của Thanh Tú, Trang Bích Liễu hay Hoài Thanh, Đỗ Quyên. Dầu sao thì cũng được gọi là đi biểu diễn ở nước ngoài.

Cái giàu sang của Bạch Tuyết, Kim Cương, Lệ Thủy, Hồng Nga, Minh Vương không phải do thu hoạch trong khi hành nghề cải lương, mà là do một nguồn lợi khác.

Ở trong nước, từ những năm 1990, sân khấu cải lương đã bị sa sút trầm trọng. Nhiều đoàn tan rã. Có những đoàn chỉ còn cái tên của bảng hiệu như đoàn Thanh Nga, đoàn cải lương Sàigòn 1, đoàn Phước Chung. Nghệ sĩ Thanh Điền, Thanh Kim Huệ. Kim Tử Long, Ngọc Huyền, Ngân Huệ nếu muốn hát cải lưong thì bỏ một số vốn riêng để quy tụ đào kép, mượn bảng hiệu đoàn Saigon l để hát. Thanh Điền – Thanh Kim Huệ khi thua lỗ thì trả đoàn lại cho Sở Văn Hoá Thông Tin, quay về với cái nghề tay trái là chụp ảnh nghệ thuật để sinh sống, chờ cơ hội khác.

Đoàn cải lương Sàigòn 2, đoàn Sàigòn 3, đoàn Huỳnh Long, Minh Tơ, Hương Mùa Thu, Kịch nói Bông Hồng, Kịch nói Kim Cương, phải chịu rã gánh.

Phía sau cung điện vàng son

Dịp Tết, tôi về thăm quê hương, đêm mùng 1, mùng 2, mùng 3 Tết, đêm nào tôi cũng theo các bạn đồng nghiệp ra rạp Hưng Đạo coi hát cải lương. Khán giả mỗi đêm chỉ được độ gần hai trăm người. Chỉ hơn một phần ba khán phòng dưới đất, còn từng lầu 2, lầu 3 vắng tanh.

Tôi vô hậu trường, thăm hỏi Thanh Điền, Thanh Kim Huệ, Thanh Tuấn thì các bạn cho biết là đoàn kéo màn hát được là may rồi, vấn đề lương thì mấy năm nay chỉ lãnh bồi dưỡng, một số tiền tượng trưng thôi, cốt làm sao cho sân khấu cải lương được sáng đèn hàng đêm.

Toàn thành phố Sàigòn chỉ có một rạp duy nhứt hát cải lương là rạp Hưng Đạo.

Rạp Đại Đồng quận 3 thì mấy ngày Tết có nhóm nghệ sĩ Bạch Mai, Ngọc Đáng hát Hồ Quảng. Rạp Thủ Đô, Hào Huê, công viên Đầm Sen, Hồ Kỳ Hòa có diễn trích đoạn cải lương, xen với các màn trình diễn tạp kỹ, ca tân nhạc, tấu hài, ảo thuật, xiếc…

Tôi nghĩ là nếu muốn biết cuộc sống thật sự của giới nghệ sĩ cải lương trong tình hình sân khấu sa sút như vậy thì phải tìm đến nhà của các anh chị em đó, chính mắt mình quan sát, tai nghe chính những người trong cuộc kể về mình. Như vậy, rõ ràng và thực tế, và chắc chắn là sẽ khác hơn những gì nghe được ở Hội Sân Khấu.

Xóm nghệ sĩ đình Cầu Quan.

.

Đình Cầu Quan, còn gọi là đình Thái Hưng, ở kế rạp hát bóng Diên Hồng (rạp Thành Xương cũ) đường Yersin, quận nhì. Nơi đây đã sản sinh ra rất nhiều thế hệ nghệ sĩ mà tên tuổi bây giờ và mai sau được nhiều người ái mộ sân khấu nhắc nhở, như: Xuân Yến, Hữu Cảnh, Thanh Tòng, Thanh Loan, Trường Sơn, Công Minh, Minh Tâm trong gia đình của Bầu Thắng, Minh Tơ, Khánh Hồng, Đức Phú, Bạch Cúc, Hoàng Nuôi... gia đình nghệ sĩ Thành Tôn, Huỳnh Mai với các con Bạch Liên, Bạch Lê, Thanh Bạch, Bạch Lựu, Bạch Lý, Bạch Long, Thành Lộc và những nghệ sĩ trẻ thế hệ thứ tư: Tú Sương, Thanh Thảo, Ngọc Trinh, Chấn Cường...

Tôi đến đình Cầu Quan khi lớp học ca diễn của Bạch Long đang hoạt động. Tiếng đàn, câu ca của các học viên đồng ấu làm cho tôi vô cùng xúc động, tình hình sân khấu sa sút, mất khán giả, đời sống nghệ sĩ đói nghèo, thu nhập thất thường, vậy mà cũng còn có người cho con em đi học nghề ca hát nữa kia!

Tôi ngỡ ngàng nhìn quanh mình khung cảnh quá hoang tàn, đổ nát. Trên những mảnh vụn vỡ của gạch ngói rêu phong, trong những miếng băng-rôn, những miếng tôn rỉ sét, chính là nơi nương náu của biết bao gia đình nghệ sĩ.

Chánh điện và sân đình còn lát gạch tàu khá tươm tất, ngoài ra mọi chỗ đều chấp vá, tạm bợ. Gia đình nghệ sĩ Chấn Đạt ở trên sàn sân khấu, xung quanh được che chắn bằng tất cả những gì có thể che chắn được.

Sàn bê-tông bị xói mòn theo năm tháng, tôi bước trên sàn nhà không dám mạnh chân, sợ vô ý sẽ làm vụn vỡ. Vậy mà, dưới sàn sân khấu này có những căn phòng: căn phòng dưới gầm sân khấu, chiều cao không quá một thước, chiếc xe đạp dắt vô không lọt.

Dưới gầm sân khấu đó có “căn nhà” của nghệ sĩ Trường Quang. Từ khi đoàn Minh Tơ giải tán, anh Trường Quang ở đây và chuyển nghề làm đạo cụ sân khấu. Khi cần diễn viên phụ hoặc công nhân hậu đài, anh cũng nhận làm để kiếm lương sống qua ngày. “Nhà” có 3 vách tường: một là của nhà hàng xóm, hai tường kia là của đình, phía trước trống trơn, mặc cho gió lùa mưa tạt...Mái là một mảnh nylon kéo dài.

Cũng trong khu nhà này, gia đình nghệ sĩ Trường Sơn trú ngụ. Trường Sơn, Thanh Loan (con gái của nghệ sĩ Minh Tơ), là cha mẹ của Trinh Trinh và Tú Sương, hai nghệ sĩ huy chương vàng Trần Hữu Trang. Hai cô gái trẻ này gắn bó với sân đình, sàn diễn và những mái nhà hết sức chênh vênh ấy từ thuở còn bập bẹ đánh vần, rồi đóng quân, chạy cờ, đóng thế nữ, kép con cho tới khi thành danh, đoạt huy chương vàng.

Dù chẳng phải là những mái nhà đúng nghĩa, nhưng dẫu sao kỷ niệm vẫn còn đầy ấp, thói ăn nếp ở đã quá thân quen. Bạch Long nói với tôi:

“Dù cháu biết là căn nhà cháu đang ngụ đây, gió lùa mưa tạt, ướt lênh láng trong ngoài, cháu vẫn không thể nào rời đây để mà kiếm nơi khác trú ngụ.”

Tôi hỏi “Tại sao? ”

Bạch Long cười, cái miệng méo xệ:

“Sân khấu cải lương và tuồng cổ đang sống dở, chết dở. Kiếm cái ăn còn không đủ no, tiền đâu mà mướn một chỗ ở khác? Chỉ mướn không, cũng không có tiền. Mua nhà là chuyện chiêm bao. Mà nói thiệt với chú, cháu cũng muốn nằm chiêm bao thấy mua được nhà, nhưng trong giấc chiêm bao cũng không bao giờ thấy có tiền. Chiêm bao, cứ thấy chủ nợ rượt chạy trối chết, không chiêm bao được cái gì khác hơn là Đói với Nợ”.

Xóm Nghệ Sĩ Sân Khấu Ma.

Ở Sàigòn có 2 xóm “nghệ sĩ sân khấu ma ”:

Một là ở khu mả lạng, đường Nguyễn Cư Trinh, chen lẫn trong những chòm mả, mấy mái tranh che lụp xụp, nơi đó có chỗ tạm trú của anh Tình Thiệt, xếp dàn cảnh của đoàn Thanh Nga. Có mái nhà của hề Nguyên Hạnh, diễn viên cải lương và kịch nói. Có những chỗ ở chung của các anh dàn cảnh đoàn Huỳnh Long như anh Xạc Ne, anh Sáu Chương, dàn cảnh đoàn Sàigòn 1.

Ban ngày các anh chạy xe ôm, có người làm phu khuân vác ở chợ Cầu Muối. Nếu có đoàn hát kêu thì các anh đi làm dàn cảnh ban đêm, ban ngày vẫn theo nghề tay trái.

Những ngôi nhà (nếu có thể gọi các chỗ che nylon, che mái tranh sát chòm mả là nhà) sắp bị giải tỏa. Đã có lịnh giải tỏa, nhưng các anh chưa kiếm được chỗ ở, nên dời đi loanh quanh đâu đó, yên thì lại trở về chòm mả.

Xóm thứ hai của nghệ sĩ sân khấu ma là ở vùng ven đô, thuộc tổ 44, ấp Thuận Quang, phường Tân Thới Nhất, quận 12.

Khác với xóm nghệ sĩ sân khấu ma vùng mả lạng Nguyễn Cư Trinh, chật hẹp, dựa theo các mái che của các ngôi mả, xóm mả khu Thuận Quang có những ngôi nhà của các gia đình nghệ sĩ chen chúc với những ngôi mộ trắng toát, chen trong những đám cỏ dại rợn người của bãi tha ma.

Nghệ sĩ Vương Phụng đã ở đây khoảng 20 năm rồi. Sau khi đoàn Kim Chung không còn hoạt động sau năm 75, anh về đây ở, buôn bán lặt vặt kiếm sống. Nhờ quen biết với anh, một số nghệ sĩ có hoàn cảnh khó khăn cũng xin về đây tá túc.

Hiện tại, xóm ma có 11 hộ gia đình của các nghệ sĩ Vương Phụng, Thanh Kim Hồng, Thanh Kim Của, Linh Cảnh, Bảo Trân, Ngọc Hải, Hoài Hận, Ngọc Thạch, Hoàng Liêm, Hiếu Châu...

Những nghệ sĩ này không còn hát hàng đêm vì các gánh hát các anh đi, đã rã. Các anh sống bằng đủ thứ nghề tay trái như chạy xe ôm, bán vé số, bán bánh trái, phu khuân vác hay làm công nhân các xí nghiệp…

Cuộc đời cứ lặng lẽ trôi đi, ngoảnh qua ngoảnh lại, tuổi đã ngoài bốn mươi. Làm nghề gì khác rồi cũng cứ nhớ sân khấu. Những khi có dịp là họ theo các đám hát chầu, hát đám hoặc tụ họp nhau đờn ca trong những đêm khuya vắng.

Một người bạn soạn giả chở tôi bằng xe Honda, tới thăm các bạn nghệ sĩ ở đình Cầu Quan, đình Cầu Muối, khu mả lạng Nguyễn Cư Trinh và khu xóm mả ở chòm mả Thuận Quang. Chúng tôi đến gầm cầu chữ Y, nơi này trước đây nghệ sĩ Văn Sa (cựu kép chánh của đoàn Kim Thoa), bà Ba Vân (vợ quái kiệt Ba Vân), vì bị lường gạt, mất nhà, phải sống dưới gầm cầu chữ Y. Bà Ba Vân đã được ở khu dưỡng lão và cũng đã chết ở nơi này.

Nghệ sĩ Văn Sa, các cô nữ diễn viên thinh sắc một thời như Thu Ba (đoàn Tiếng Chuông và Thanh Minh), Sáu Ngọc Sương, Đoàn Thiên Kim ( đoàn Kim Thoa ), Lệ Thắm, các trưởng đoàn hát đã giải thể: Hoàng Nở (đoàn Huỳnh Long), Thanh Hùng (đoàn Phước Chung), bầu Hiếu, soạn giả Thành Phát (Sàigòn 3), Đặng Lợi (đoàn Múa rối), Hoài Nam (họa sĩ),… đều ở nhà dưỡng lão nghệ sĩ ở đường Âu Dương Lân, Quận 8. Các anh, các cô tự an ủi mình, bây giờ không hát hò gì được vì sân khấu xuống cấp quá rồi, mình còn được ở nhà dưỡng lão, cơm có mà ăn, đau yếu đi y tế phường, chết được chôn ở nghĩa trang nghệ sĩ Gò Vấp. Vậy là quá hạnh phúc rồi!

Họ là những Ông Hoàng, Bà Chúa, những vị tướng lãnh tài ba trên sân khấu. Đêm đêm, họ sống trong vai tuồng trong những cung đình sơn son phết vàng, thướt tha nhung lụa, một cái phất tay người người khiếp sợ, lời ca tiếng hát ru hồn biết bao khán giả…

Khi cánh màn nhung khép lại, khi tuổi đời chồng chất, họ chỉ còn lại cho mình sự nghèo đói, cô đơn và sự quên lãng của người đời.

Tôi hỏi người bạn đồng nghiệp của tôi

– Trong số các diễn viên và các anh hậu đài thất nghiệp đó, nhiều người có thể đổi nghề để kiếm cuộc sống khá hơn. Tại sao họ vẫn bám sân khấu, khi có hát, khi không?

Anh bạn của tôi nói:

– Họ mướn những căn phòng trong các hậu cứ của các đoàn hay chung cư hoặc hậu trường sân khấu, các đình mà trước đây có hợp đồng với các đoàn tuồng cổ, nếu họ không còn là nghệ sĩ nữa thì họ phải dời đi chỗ khác, mà dời đi đâu? Tiền mướn nhà, mướn phòng không phải rẻ. Vậy nên họ vẫn mang tiếng là người của đoàn hát để có chỗ ở, khi đoàn hát có hát thì họ làm việc ban đêm, ban ngày đi bán vé số, chạy xích lô, đi xe ôm hay khuân vác ở chợ Cầu Muối. Biết làm sao bây giờ? Cơ chế thị trường mà!

Tôi nói:

– Cơ chế thị trường là cái gì? Anh nói danh từ chánh trị, tôi không hiểu. Nếu ” Cơ chế thị trường ” là làm lời ăn lỗ chịu, tư nhân làm chủ thì hồi đó các ông bà bầu gánh cũng làm lời ăn lỗ chịu. Sao họ làm cho sân khấu cải lương huy hoàng. Bây giờ vô tay nhà nước, sao mà tan hoang hết trơn vậy?

Anh bạn của tôi nhìn trước nhìn sau rồi nói nhỏ: “Thôi, đừng nói chuyện này nữa, được hông? Hồi đó thì chuyện tình yêu, chuyện dã sử, soạn giả nào muốn viết sao cho ăn khách được thì viết. Bây giờ: ngày 3 tháng 2 phải viết những ngày thành lập Đảng; ngày 8 tháng 3 ngày phụ nữ; ngày 30 tháng 4 ngày giải phóng; ngày 19 tháng 5 sinh nhật cụ; ngày 27 tháng 7 ngày thương binh liệt sĩ;, ngày 19 tháng 8 cách mạng tháng Tám; ngày 2 tháng 9 ngày tuyên bố độc lập; ngày 23 tháng 9 Nam kỳ khởi nghĩa; ngày 1 tháng 10 kỷ niệm cách mạng Trung Hoa; ngày 17 tháng 10 kỷ niệm cách mạng Nga; ngày 19 tháng 12 kỷ niệm toàn quốc kháng chiến; rồi Tết thì viết về Tết Mậu Thân Tổng tấn công… v.v…

Vậy đó! Ở Phường, Quận, Thành Phố hay Tỉnh nào cũng phải sáng tác và biểu diễn như vậy, hỏi sao khán giả không coi nữa?”

Những cuộc gặp gỡ, những điều vô tình biết được về thực trạng sân khấu cải lương ở Việt Nam, về cuộc sống quá kham khổ và những nghề tay trái bất đắc dĩ của nghệ sĩ thất nhiệp đã làm cho tôi bất ngờ và bất nhẫn!

Đến bao giờ thì Cải Lương mới tìm lại được cái thuở hoàng kim, để nghệ sĩ trở về sân khấu, được sống đúng với nghề nghiệp và nỗi đam mê của mình?

NỮ NGHỆ SĨ PHƯỢNG MAI:

40 năm hát hồ quảng

Trong lịch sử Sân Khấu Việt Nam, ngành nghệ thuật Hát Bội và Cải Lương có một thời gian dài hoạt động, có nhiều nghệ nhân tài danh, nhiều soạn giả xuất sắc, nhiều vở tuồng đã đi vào lòng khán giả nên các nhà nghiên cứu văn học nghệ thuật và báo chí kịch trường có viết bài phê bình, giới thiệu, tổng kết, nâng lên thành lý luận nghệ thuật Hát Bội và nghệ thuật Cải Lương. Có một loại hình nghệ thuật biểu diễn sân khấu, con đẻ trực tiếp của nghệ thuật Hát Bội và Cải Lương phối hợp tạo nên, từ hơn bốn mươi năm nay được khán, thính giả say mê, ủng hộ, nhưng không được công nhận là một loại hình nghệ thuật đứng đắn: Đó là nghệ thuật Hát Hồ Quảng.

Hát Hồ Quảng còn được gọi là Cải Lương Hồ Quảng được khai sanh trong trường hợp nào, trong hoàn cảnh nào và hình thức ca, diễn của Hồ Quảng ra sao mà bị một số công luận chống đối? (Tôi chỉ nói có sự chống dối của một số nghệ sĩ hay các nhà nghiên cứu thuần túy về nghệ thuật hát bội truyền thống nhưng về phía dân chúng bình dân và khán giả thì sự thích thú có lẽ không kém so với nghệ thuật hát cải lương).

Còn nhớ năm 1948, tôi được mời cộng tác với anh Thành Tôn, anh Hữu Thoại và chú Sáu Vững, chép ra các vở tuồng hát bội do các anh ấy hát, để có kịch bản văn học nạp cho Đài Phát Thanh Sàigòn kiểm duyệt, dùng cho các buổi diễn hát bội thu thanh của Ban hát bội Vân Hạc, chú Sáu Vững, trưởng Ban Vân Hạc có nói với anh Thành Tôn:“Mầy hát sao mà tao thấy Tiều Quảng quá. E khán giả không thích “.

Anh Thành Tôn là người luôn luôn muốn canh tân nghệ thuật hát bội vì anh thấy nếu giữ nghệ thuật hát bội thuần túy như xưa, sẽ mất hết khán giả. Vì vậy anh đi coi hát Tiều, hát Quảng rồi học lóm những cái hay của hát Tiều và hát Quảng, đem áp dụng cho hát bội pha cải lương do anh và một số nghê sĩ hát bội ở Tấn Thành Ban đề xướng.

Anh nói

“Tôi học các gánh hát Tiều, hát Quảng là học cái nghê thuật tạo hình, diễn xuất, vũ đạo. Về y phục, cảnh trí, cách ca hát canh tân là để cho khán giả dễ hiểu. Người ta coi hát mà không hiểu mình hát gì thì họ sẽ không coi nữa.”

Hồi xưa, sân khấu hát bội của ta và sân khấu hát Tiều có nhiều điểm giống nhau: Trang trí sân khấu ước lệ, có màn trướng thêu rồng phụng, ngăn cách nơi biểu diễn với chỗ sắm tuồng, bàn ghế đơn sơ, y phục không loè loẹt, mang râu bít miệng. Phong cách biểu diễn tượng trưngười: đi ngựa bằng cách múa roi, lên xe giữa hai tấm vải vẽ hình bánh xe, nhảy lên ghế là thăng thiên, chui xuống bàn là độn thổ…

Trong những thập niên 1930, 1940, 1950, 1960 nhiều đoàn hát Quảng từ Quảng Châu, Thượng Hải, Hương Cản sang biểu diễn ở Chợ Lớn và các tỉnh có nhiều Hoa kiều, sân khấu màu sắc lộng lẫy, trang phục sang trọng rực rỡ, tranh cảnh thay đổi từng lớp, từng hồi, coi rất bắt mắt. Dàn nhạc có trống kèn, chập chỏa, đồng lố, hầu củn nên rất xôm, hấp dẫn. Khán giả Hoa, Việt đều thích coi hát Quảng vì trang phục đẹp, lối hát lôi cuốn, điệu múa rất huê dạng.

Các đoàn Bầu Thắng, Tấn Thành ban Bầu Cung (Sàigòn), Bầu Luông (Vĩnh Long), Bầu Bòn (Cần Thơ), Bầu Hiền (Sa Đéc) là những đoàn đi tiên phong trong việc canh tân hoá hát bội, đổi bảng hiệu thành đoàn Hát Bội Pha Cải Lương.

Họ vào Chợ Lớn đặt may y phục theo lối hát Quảng, có thêu kim kim tuyến, mắt gà, mua sắm mũ mão Thượng Hải, Hồng Kông.

Trang trí phong cảnh như đền vua, vườn hoa thật là tráng lệ, giống như các đoàn hát Thượng Hải.

Hàm râu bít miệng được thay thế bằng những hàm râu liên tu, 5 chòm, 3 chòm để khán giả thấy miệng diễn viên khi ca, hát.

Dàn nhạc cũng được mô phỏng theo nhạc Quảng.

Về sân khấu có một nguyên lý mà người theo nghề hát phải tuân thủ theo: Khi chất liệu dùng trên sân khấu thay đổi thì nghệ thuật sân khấu ca, ngâm, diễn xuất, trang trí cũng bị ảnh hưởng mà phải thay đổi theo cho phù hợp.

Ngày xưa, may áo giáp hát bội bằng vải bố, vải viền màu bằng vải ta, vải tám, đóng ngọc lộ bằng thiếc, bộ áo giáp cồng kềnh, thô cứng nên kép võ cũng phải dùng điệu múa thô cứng, động tác mạnh bạo.

Khi các đoàn hát bội của ta mua trang phục của các đoàn hát Quảng ở Hồng Kông, Thượng Hải qua Sàigòn hát, các bộ giáp may bằng hàng tơ lụa, viền bằng chỉ kim tuyến, thêu mắt gà, vừa rực rỡ sáng chói, vừa có màu sắc hài hòa, diễn viên ta mặc áo giáp hay mảng bào tơ lụa, vải mềm tha thướt tự nhiên giáng đi điệu múa của diễn viên cũng phải tha thướt dịu mềm.

Về nhạc cũng vậy, khi có trống, bạt, chập chỏa, đồng lố và kèn lá của dàn nhạc Quảng vô sân khấu thì vũ đạo hát bội phải theo trình thức của hát Quảng thì mới phù hợp. Hát Bội tuy mang danh nghĩa là pha cải lương nhưng trong các thập niên 1940, 1950, vì hát phần lớn là tuồng theo tích truyện Tàu, nên dù muốn hay không cũng bị lai theo hát Tiều và hát Quảng.

Một số diễn viên lớn tuổi, cao tay nghề không chịu theo lối hát “Lai Căng” này, cho là hát Tiều Quảng, làm mất giá trị nghề nghiệp truyền thống. Nhóm này có các nghệ nhân tên tuổi như Tám Tri, Mười Hiếu, Biện Dực, Tám Văn, Mười Sự, Chín Luông, Chín Tài, Minh Biện, Tám Hiển, Năm Còn…

Danh từ hát Tiều, hát Quảng là để chỉ lối hát lai căng do xuất xứ này. Thành ngữ trong giới cải lương, hát bội: Nói Tiều, nói Quảng là nói bậy nói bạ.

Những nghệ nhân hát bội giỏi múa Quảng, áp dụng một số vũ đạo Quảng vào tuồng ta và làm thành căn bản cho vũ đạo hát Hồ Quảng là các anh Thành Tôn, Hai Thắng, Mười Vàng, Minh Tơ, Khánh Hồng, Công Chấn, Công Minh…

Năm 1960, một số phim ảnh Hồng Kông, Đài Loan du nhập, loại sân khấu kinh kịch của Tàu được đưa vào điện ảnh với những vở tuồng trữ tình do các tài tử trứ danh Lý Lệ Hoa, Lâm Đại, Nghiêm Tuấn, La Duy, Lăng Ba, Lạc Đế, đã chinh phục khán giả Việt, Hoa bằng những bài hát du dương tươi mát, có nhạc khí cổ truyền hòa điệu, hợp với cảm quan của người Việt Nam và người Á Đông nói chung.

Lập tức các nghệ sĩ hát cải lương pha Quảng đua nhau học hát, rước thầy Tàu dạy ca các bản nhạc Đài Loan.

Người có công lớn nhất trong việc đưa các bản nhạc Đài Loan vô làm thành điệu ca Hồ Quảng, theo tôi biết đó là nhạc sĩ Đức Phú.

Đức Phú là em ruột của Minh Tơ. Anh giỏi về tuồng cổ, hát bội pha Quảng và giỏi về đàn Piano, guitare tân nhạc. Khi tôi quen biết anh là lúc anh làm nhạc trưởng vũ trường Kim Sơn, gần đình Cầu Quan. Thời gian này anh chung sống vợ chồng với danh ca Hồng Loan, ca sĩ các vũ trường Kim Sơn, Paramount, Arc en Ciel.

Đức Phú ghi âm các bản nhạc Đài Loan trong các film Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài, Thanh Xà Bạch Xà, Hoa Mộc Lan Tùng Chinh rồi viết lời Việt, dùng trong tuồng Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài do anh sáng tác và dàn dựng trên sân khấu Minh Tơ.

Có hai nhạc công Tàu: Há Thầu và Chú Long, viết nhạc Hồ Quảng (tức là nhạc trong phim Đài Loan) cho đoàn cải lương Hồ Quảng Huỳnh Long-Bạch Mai.

Há Thầu đặt tên các bản nhạc Hồ Quảng đó là Bài Ly Hận, Xáng Xáng Lu, Chiêu Quân Hội, Phụng Hoàng San, Hoàng Mai 5, Hoàng Mai 15…(không rõ là do ngẫu hứng hay Há Thầu dịch từ bài Đài Loan ra các tựa bài ca Hồ Quảng kể trên). Há Thầu tên thật là gì không ai biết, chỉ biết gọi anh là Há Thầu. Há Thầu là đầu bự, có nghĩa là người thông minh.

Các tuồng Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài, Hoa Mộc Lan Tùng Chinh, Tra án Quách Hoè, Na Tra Đại Náo Long Cung, Lưu Kim Đính, Phàn Lê Huê, Thanh Xà Bạch Xà lần lượt ra mắt khán giả. Vẫn ca cải lương, múa bộ Quảng, nay thêm ca nhạc Đài Loan, mặc đồ Quảng Đông, loại hình nghệ thuật này nghiễm nhiên thành danh: Cải Lương Hồ Quảng.

Các đoàn Thanh Minh, Huỳnh Long – Bạch Mai, Minh Tơ, Khánh Hồng, Phụng Hảo đều có tuồng cải lương Hồ Quảng hát ở các rạp hát, đài Phát Thanh và sau 1965 ở Đài Truyền Hình.

Các ngôi sao trẻ chuyên hát Hồ Quảng có Thanh Nga, Bạch Mai, Ngọc Đáng, Thanh Bạch, Bạch Lê, Thanh Tòng, Thanh Thế, Bửu Truyện, Mộng Lành, Thanh Loan, Trường Sơn, Bo Bo Hoàng, Mỹ Tuyết, Kim Ngà, Kim Thanh, Hữu Lợi, Đức Lợi, Đức Phú, Vũ Đức…

Thần đồng – Phượng Mai, 7 tuổi nổi danh Tiểu Lăng Ba.

.

Nữ nghệ sĩ Phượng Mai, sanh ngày 29 /10/1956, con của một gia đình đông con. Cha mẹ của Phượng Mai có tất cả 13 người con mà Phượng Mai là con gái thứ 7, vì nhà nghèo, không thể nuôi một đàn con đông như vậy nên cha mẹ của Phượng Mai cho cô làm con nuôi của bà cô ngoại là nữ nghệ sĩ tiền phong Cao Long Ngà.

Gia đình của Phượng Mai bên nội, ngoại đều là những nghệ sĩ nổi đanh trong sân khấu tuồng cổ. Phượng Mai thuộc về thế hệ thứ 5 trong gia đình nghệ sĩ này. Ông Ngoại là nghệ sĩ tài danh Cao Tùng Châu, bầu gánh hát bội Phước Tường. Nữ nghệ sĩ Cao Long Ngà, em gái của ông Cao Tùng Châu là một diễn viên hát bội tài danh được Hội Khuyến Lệ Cổ Ca liệt vào danh sách Ngũ Trân Châu của ngành hát bội, gồm có các viên ngọc quí Cô Năm Nhỏ, Năm Đồ, Cao Long Ngà, Năm Sa Đéc và Ba Út

Tuy vai vế của nghệ sĩ Cao Long Ngà ngang hàng với bà nội, bà ngoại của Phượng Mai, nhưng bà cho Phượng Mai gọi bà bằng Má và gọi chồng bà, ông Sáu Xường bằng Cha. (Sáu Xường là cầu thủ nổi danh của đội banh Etoile Gia Định, cùng với thủ môn Tịnh, đấu ngang ngửa với đội banh Hương Cảng mà trung phong Lý Huệ Đường của đội banh quốc Tế này đã thán phục hậu vệ Xường và thủ môn Tịnh của Việt Nam).

Ông cậu của Phượng Mai là em vợ của ông bầu Nguyễn Phước Cương, cha ruột của nữ nghệ sĩ Kim Cương; do quan hệ gia đình nên lúc Phượng Mai được 5 tuổi, Kim Cương đã đưa Phượng Mai đi đóng phim, một vai con trong phim Ảo Ảnh của đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc.

Phượng Mai hát vai con trong vở “Thiếu Phụ Nam Xương” trong Ban kịch Kim Cương, diễn mỗi sáng chúa nhựt tại rạp Thanh Bình Sàigòn. Cô còn được Kim Cương tập cho các vai đào con trong các vở kịch:Tôi Là Mẹ, Cuối Đường Hạnh Phúc, Sắc Hoa Màu Nhớ.

Neoài việc đớng phim, đóng kich, hàng đêm Phượng Mai đều theo bà mẹ nuôi (Cao Long Ngà) đến rạp hát, xem bà hát nên từ nhỏ đến lớn, tiếng đàn, giọng ca, trống, phách và các điệu múa hát của các nghệ sĩ trên sân khấu tiêm nhiễm vào tiềm thức nên Phượng Mai tuy không chánh thức được truyền nghề, cô vẫn múa hát rất có duyên.

Phượng Mai học trường tiểu học Phan Văn Trị, ngang rạp hát bóng Đại Nam đường Trần Hưng Đạo.

Trong những năm 1960, 1961, rạp hát bóng Đại Nam chiếu phim Đài Loan Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài, Thanh Xà Bạch Xà, nhân viên gác cửa rạp chiếu bóng quen biết các nghệ sĩ đoàn hát Bầu Thắng và Bầu Cung nên cho các nghệ sĩ vào xem hát bóng mà khỏi mua vé. Phượng Mai nhân đó được xem phim Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài. Cô mê hai diễn viên tài danh Trung Quốc: Lăng Ba và Lạc Đế trong hai vai Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài nên trốn học, xem liền cả tuần lễ, nhập tâm học cách ca cách diễn của hai diễn viên tài danh Đài Loan đó.

Nhà trường gởi thơ cho bà Cao Long Ngà, báo tin Phượng Mai thường trốn học, bà giận lắm, bắt Phượng Mai cúi xuống cho bà đánh, răn dạy. Phượng Mai mới bị một roi, mếu máo khóc, nói:

“Má ơi, đừng đánh con đau. Để con hát bội làm đào má coi. ”

Bà Cao Long Ngà và ông Sáu Xường tức cười, nói:

– Được! Má không đánh nữa, con nói làm đào, hát cho má coi, không hát được thì ăn năm roi về tội nói láo đó.

Phượng Mai dạ một tiếng thật lớn rồi chạy kiếm tấm khăn lông, choàng vào vai, cầm cây quạt, múa, ca, diễn lớp Lương Sơn Bá gặp Chúc Anh Đài lần đầu tiên gặp nhau nơi trường đình. Cô đóng cả hai vai và nhại ca theo tiếng Tàu trong phim (dĩ nhiên là không thật đúng), nhưng nghe ra tiếng Tàu và điệu hát Đài Loan, điệu hát đang rất thịnh hành trong giới ca cổ.

Bà Cao Long Ngà sửng sốt, gọi chồng:

– Anh Sáu! Con Mai nó hát giống Lăng Ba quá.

Ông Sáu cũng mừng, bảo bà đi vô Chợ Lớn đặt may cho Phượng Mai mấy bộ đồ Tàu để Phượng Mai thủ diễn hai vai Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài vì nét diễn, giọng ca, cách hát của Phượng Mai rất giống Lăng Ba và Lạc Đế, hai danh tài phim ảnh Đài Loan.

Giỗ Tổ năm đó, bà Cao Long Ngà dẫn Phượng Mai tới nhà Hội Ái Hữu Nghệ Sĩ đường Cô Bắc, cho Phượng Mai lạy Tổ và hát vai Lương Sơn Bá nơi trường đình để hầu Tổ. Các nghệ sĩ tiền phong, các ký giả kịch trường đều khen hay, khen giống Lăng Ba. Ký giả Nguyễn Ang Ca tặng cho Phượng Mai danh hiệu “Thần đồng Tiểu Lăng Ba”.

Mới 7 tuổi, Phượng Mai nổi đanh thần đồng Tiểu Lăng Ba, cô đã hát trong các xuất Đại Nhạc Hội trong hai vai của Lăng Ba và Lạc Đế và được khán giả hoan nghinh nhiệt liệt.

Phượng Mai, Ngọc Bất Trác, bất Thành Khí, 7 năm rèn luyện nghiệp Tổ:

Cha nuôi của Phượng Mai, ông Sáu Xường, cầu thủ bóng đá, phó Hội trưởng Hội Ái Hữu Nghệ Sĩ (vì ông cũng là kép hát bội lừng danh) muốn đào luyện cho Phượng Mai trở thành một nghệ sĩ chuyên nghiệp nên ngăn cấm không cho Phượng Mai đi học lóm như trước nay vì học lóm rất dễ “hư nghề “.

Ông nói:” Phượng Mai là viên ngọc quí chưa được dũa mài, nếu để tự phát sẽ không có giá trị lớn mà phải nhờ những tay thợ chuyên môn dũa mài, đào luyện một cách quy mô và căn bản “.

Ông gởi Phượng Mai vào học lớp Đồng Ấu Minh Tơ, do chính danh sư Minh Tơ dạy ca, hát, múa theo đúng căn bản của ngành hát Bội. Về cổ nhạc cải lương, học với nhạc sĩ Tư Tần, nhạc trưởng dàn nhạc cổ Minh Tơ. Học tân nhạc với nhạc sĩ Bảo Thu. Học múa lân với nghệ sĩ Mười Vàng, Học ca Hồ Quảng với nhạc sĩ Há Thầu Chợ Lớn. Học tổng hợp, (tức diễn một vai tuồng đã được định hình trên sân khấu như vai Lữ Bố, vai Điêu Thuyền, vai Lưu Kim Đính…v.v…) thì học trực tiếp với nữ nghệ sĩ Phùng Há. Học các vai đào trong tuồng Biến Báo Phu Cừu, học vai Giả Thị trong tuồng Hoàng Phi Hổ Quy Châu thì học nơi bà Cao Long Ngà và bà Năm Đồ. Ngoài ra, Phượng Mai vẫn phải tiếp tục học văn hóa ở trường Tiểu học Phan Văn Trị.

Trong thời gian học nghệ, nếu có biểu diễn ở các Đại Nhạc Hội thì Phượng Mai diễn những trích đoạn học được nơi danh sư kể trên, coi như làm bài kiểm hay học ôn.

7 năm khổ luyện, mỗi năm học nghệ, Phượng Mai đều những thành tựu xuất sắc.

Năm 9 tuổi, Phượng Mai đã nổi tiếng với Vũ Đức ở nhóm Đồng Ấu Minh Tơ qua nhiều vở tuồng như Na Tra, Ngũ Biến, Hoa Mộc Lan, Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài…

Năm 1970, Phượng Mai 14 tuổi đã vững vàng trong các vai đào chánh ở Ban Cải Lương Hoa Thế Hệ, Phụng Hảo và nhiều Ban kịch, cải lương trên Đài Truyền Hình, đóng cặp với Thanh Tòng, La Thoại Tân, Vũ Đức, Thanh Bạch, Đức Lợi, Hùng Cường…

Các chương trình cải lương Hồ Quảng có Phượng Mai làm đào chánh, được Đài Truyền Hình phát đi vào các tối thứ bảy, thu hút đông đảo khán giả ở Sàigòn, Chợ Lớn, Gia Định và các vùng phụ cận.

Thời gian này, tôi vừa là soạn giả thường trực của đoàn Dạ Lý Hương, vừa là chuyên viên phụ trách phòng thu âm của hãng đĩa Capitol và phòng chuyển âm phim của hãng phim Mỹ Ánh của ông Trương Dĩ Nhiên ở gần chợ Hòa Bình, Chợ Lớn. Anh của ông Trương Dĩ Nhiên là ông Trương Dĩ Đại, bang trưởng Bang Triều Châu, Giám Đốc Tài Chánh của bệnh viện An Bình. Ông Trương Dĩ Đại muốn khuếch trương hoạt động của đoàn hát Tiều mà ông là Mạnh Thường Quân chi tiền nhiều nhất nên nhờ tôi kiếm nghệ sĩ có tay nghề hướng dẫn cho các bạn hát Tiều nghiệp dư đó.

Tôi giới thiệu Phượng Mai và phải bỏ ra mấy ngày thuyết phục các nghệ sĩ đoàn hát Tiều: Lâm Gia Ngọc, Đào Chí Hoa, Liên Cẩm Hồng, Dương Bội Thuyên cùng với Phượng Mai canh tân lối hát Tiều, bớt động tác ước lệ, hát vẫn là giọng Tiều, bài hát Tiều, y phục và vũ đạo canh tân, múa gần như loại hát Quảng là sở trường của Phượng Mai.

Tôi soạn vở Dương Gia Tướng, nghệ nhân người Triều, ông Huỳnh Khắc Minh dịch lại thành tiếng Tiều, thêm bài ca và Phượng Mai trở thành Đạo diễn, dạy cho các nghệ nhân nghiệp dư hát vở tuồng Dương Gia Tướng.

Hai nhạc sĩ sư phụ của Phượng Mai là Há Thầu và Chú Long cũng được mời đến chỉ dạy ca. Năm đó đoàn hát Tiều hát trên sân khấu ngoài trời ở chùa ông, đường Cây Mai (rue des Marins cũ), đoàn hát Quảng của nhà thương Sùng Chính hát ở sân Tinh Võ, hát ba đêm liên tục.

Đêm đầu đoàn hát Quảng của nhà thương Sùng Chính thu hút đông khách, nhưng gần 12 giờ khuya thì khán giả tràn qua chùa ông xem đoàn hát Tiều. Với y trang phong cảnh lạ hơn các năm trước, lối hát cũng hay hơn, vũ đạo, các màn đấu võ thì tuyệt vời.

Phượng Mai chỉ xuất hiện trong vai Dương Tôn Bảo đánh thương, đánh kiếm, màn ca hát có lời thì cô Lâm Gia Ngọc đóng. Vì vóc dáng giống nhau. y phục giống nhau, vũ đạo cùng học một lò với nhau nên hai người thủ một vai mà khán giả không biết.

Hai đêm sau, khán giả kéo gần hết qua xem đoàn hát Tiều của nhà thương An Bình.

Đoàn hát Quảng của nhà thương Sùng Chính không có khán giả, phải ngưng hát.

Năm đó nhờ có Phượng Mai mà Ban hát Tiều thắng cuộc.

Ông Trương Dĩ Đại rất hài lòng, ông lì xì cho tôi, Phượng Mai, Chú Long và Há Thầu một phong bì khá nặng.

15 tuổi, Phượng Mai ký contrat hát chánh cho đoàn Hà Triều – Hoa Phượng, lưu diễn miền Trung 6 tháng. Sau đó cô ký hợp đồng hát cho đoàn Dạ Lý Hương Bầu Xuân, hát chung với Hùng Cường, Bạch Tuyết, Dũng Thanh Lâm…,

Lại thêm một giai thoại về tài năng thiên phú của Phượng Mai:

Đầu năm 1974, nhân dịp Tết Giáp Dần, thành phố Chợ Lớn được dịp tiếp một đoàn Kinh Kịch Đài Loan sang trình diễn một tháng. Đây là một đoàn Kịch lớn của nhà nước Trung Hoa Dân Quốc, thuộc trường sân khấu Phục Hưng tại Đài Bắc (Quốc Lập Phục Hưng hý kịch thực nghiệm học hiệu).

Đoàn diễn tại rạp Đại Quang đường Tổng Đốc Phương, với một chương trình kịch mục như: Phụng Nghi Đình, Tình Trung Báo Quốc (Nhạc Phi ), Hoa Mộc Lan, Trương Phi Thủ Cổ Thành… và các nghệ sĩ Vương Phục Dung (vai Điêu Thuyền, Bạch Xà Nương, Dương Qui Phi ), Trình Yên Linh (Kép chánh vai Lữ Bố), Lý Kim Đường (vai lão )…

Đoàn đã thành công tốt đẹp qua diễn xuất điêu luyện của dàn nghệ sĩ trẻ đẹp, những màn vũ thuật đẹp mắt, những điệu múa truyền thống hấp dẫn.

Các Bang Trưởng Quảng Đông, Triều Châu, Hẹ, Hiệp hội Hoa Kiều Tương Tế, Hội Ái Hữu Nghệ Sĩ Việt Nam, Hội Khuyến Lệ Cổ Ca và nhiều nghệ sĩ tài danh Việt, Hoa, tổ chức khoản đãi các nghệ nhân Trung Hoa Dân Quốc tại nhà hàng Đồng Khánh. Trong buổi tiệc, các nghệ sĩ Đài Loan hát tặng vài bài ca cho các ông Bang Trưởng, diễn một vài trích đoạn tuồng tặng cho các nghệ sĩ Việt Nam và có đoàn lân của Hội Sân Tinh Võ múa khai mạc dạ tiệc.

Đoàn Lân múa điệu “Lân Mẫu Sinh Lân Nhi”, nhưng vào giờ chót người múa vai lân con đau bụng, không múa được. Trưởng đoàn Lân lên micro cáo lỗi, nhưng bà Bảy Phùng Há biểu Phượng Mai lên múa lân con giúp cho đoàn bạn.

Bà Cao Long Ngà thấy Phượng Mai còn do dự, bèn ra hiệu cho Phượng Mai và Kim Thanh nhận lời đề nghị của bà Bảy Phùng Há.

Phượng Mai và Kim Thanh (diễn viên đoàn hát bội bầu Cung, Cầu Muối) mặc áo dài Việt Nam nên cột hai vạt trước sau lại, mượn đôi giày bố thay cho giày cao gót, hai cô diễn viên trẻ, Phượng Mai thủ đầu lân, Kim Thanh dũ đuôi, cả hai cô cùng với đoàn lân sân Tinh Võ múa tiếp vũ khúc Lân Mẫu Sinh Lân Nhi.

Phải nói là lân con do Phượng Mai và Kim Thanh múa còn hay hơn lân râu bạc của sân Tinh Võ. Cả hai diễn viên trẻ tài danh này là học trò của ông Mười Vàng, tổ sư đoàn múa lân râu đen Cầu Muối. Tết nào đoàn lân Cầu Muối cũng được các tiệm, quán ở Sàigòn, Chợ Lớn mời đến múa khai trương cửa hiệu hoặc chúc thọ cho người già trong gia đình.

Phượng Mai và Kim Thanh múa đến đoạn Sư Tử Hí Cầu, ông Mười Vàng lại đánh trống, các nhạc sĩ Tấn Thành Ban đánh chập chỏa.

Trống thúc từng cơn, khi thì rụp rụp nhịp thật nhẹ, lân con gậm trái cầu, dùng chân đùa giỡn, trái cầu văng xa, trống đánh thúc, lân như bừng tỉnh, cất cao đầu múa rồi lăn vòng, chụp, gậm trái cầu thật đẹp.

Tất cả học sinh trường Quốc Lập Phục Hưng Hý kịch Đài Bắc đồng loạt đứng lên vỗ tay hoan hô. Đội Tinh Võ để đầu lân xuống đất, ngẩn ngơ nhìn lân con Phượng Mai và Kim Thanh lạy tạ sự tán thưởng của đoàn bạn. Ông chủ nhà hàng Đồng Khánh lấy hai lượng vàng, gói trong giấy đỏ, cột chung với một cây cải sà lách, cho người đứng trên ghế, giương cao lên thưởng cho lân con.

Trống múa lân lại nổi lên rộn rã, lân con Phượng Mai và Kim Thanh múa điệu múa vui tươi, hí hửng, vờn cây cải, múa thêm một chập rồi gậm cây cải lẫn hai lượng vàng. Theo tiếng trống đánh thúc, lân con lạy tạ ông chủ Đồng Khánh, xong lân con quay lại lay tạ lân mẹ của Đội sân Tinh Võ. Điều không ai nghĩ tới là lân con nhã hai lượng vàng trong gói giấy đỏ trước mặt lân mẹ Tinh Võ. lấy chân khều khều đầu lân mẹ, vờn vờn trước lân mẹ khiến cho đội Tinh Võ phải cầm đầu lân lên múa tiếp với lân con sau khi nuốt bao lì xì. Lúc này thì ngoài tiếng vỗ tay như sấm còn nhiều tiếng Tàu hô lớn, hoan hô hành động quá đẹp của lân con Phượng Mai và Kim Thanh.

Dứt điệu múa. đội trưởng đội Tinh Võ trả hai lượng vàng cho Phượng Mai, nhưng Phượng Mai không nhận và nói ông chủ tặng thưởng chung cho đoàn lân Tinh Võ mà cô chỉ là lân con của Tinh Võ. Nhờ sự tinh tế khéo léo của Phượng Mai mà Đoàn lân Tinh Võ không bị mất mặt.

Trưởng đoàn kịch Đài Bắc cũng là hiệu trưởng trường Quốc Lập Phục Hưng Hý Khúc và cô đào chánh Vương Phục Linh mời Phượng Mai và Kim Thanh ngồi chung bàn trò chuyện. Khách nói tiếng Quan Thoại nên cuộc mạn đàm phải qua thông dịch viên. Sau đó theo yêu cầu của đoàn khách, Phượng Mai và Kim Thanh diễn hai trích đoạn tại sân khấu Đồng Khánh: “Lữ Bố hí Điêu Thuyền” và “Lữ Bố thất Bạch Mã Thành”.

Phượng Mai Lữ Bố, Kim Thanh Điêu Thuyền. Phượng Mai trong vai Lữ Bố khi tròng ghẹo Điêu Thuyền tại Phụng Nghi Đình thì tình tứ hết chỗ nói. Khi giả biệt Điêu Thuyền lúc thất trận ở Bạch Mã Thành thì vừa oai dũng lồng lộn lên như con sư tử bị thương, vừa bi lụy phải xa rời người ngọc trước khi chết, Phượng Mai không hổ danh là cao đồ của các danh sư Phùng Há, Cao Long Ngà, Minh Tơ, Mười Vàng, đã làm cho các sinh viên trường kịch nghệ Đài Bắc thán phục sát đất.

Ông Trưởng Đoàn kịch Đài Bắc đề nghị nếu Phượng Mai và Kim Thanh đồng ý, họ sẽ nhờ Đại Sứ quán Trung Hoa Dân Quốc đạt thư mời và xin mọi thủ tục xuất, nhập cảnh cho Phượng Mai và Kim Thanh đi Đài Bắc, biểu diễn ở trường sân khấu Đài Bắc và một số nơi ở Đài Trung, Đài Nam, coi như là một cuộc giao lưu văn hóa giữa hai nước.

Phượng Mai và Kim Thanh rất vui mừng vì được dịp xuất ngoại học tập, nhưng có lẽ vì tình hình chiến sự ở Việt Nam, Phượng Mai và Kim Thanh không được phép xuất ngoại đi Đài Bắc.

Sau năm 1975, Phượng Mai hát vai đào chánh ở Đoàn Minh Tơ với Thanh Tòng qua các tuồng Dưới Cờ Tây Sơn, Xuân Về Trên Đỉnh Mã Phi, Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài.

Năm 1977 hát trên sân khấu Huỳnh Long với Thanh Bạch và Đức Lợi qua các tuồng Con Tấm Con Cám, Lưu Kim Đính giải giá Thọ Châu, Về Đất Kinh Châu, Đường về núi Lam…

.

Đầu năm 1979, hát cho đoàn Dạ Lý Hương Sông Bé thay vai Mộng Tuyền trong tuồng Bao Công Xử Án Trần Thế Mỹ. Cuối năm 1979, Phượng Mai theo chồng định cư ở Tây Đức trong 15 năm.

Năm 1982 bà Cao Long Ngà, bà cô mà cũng là má nuôi của Phượng Mai mất. Cô không về thọ tang được, chỉ biết hướng về Việt Nam van vái, và đến chùa cầu siêu cho vong hồn bà được siêu thăng.

Từ năm 1994, gia đình đổ vỡ, cô sang qua California định cư, sống với hai con. Ở hải ngoại suốt 19 năm, Phượng Mai vẫn sống bằng nghề hát vì cô giỏi về mọi mặt. Trong lãnh vực Tân nhạc, cô được các trung tâm băng nhạc lớn mời thu thanh thu hình (Thúy Nga, Làng Văn) được mời đi show tân nhạc, cải lương và Hồ Quảng, hát chung với Hương Lan các vở tuồng:

– Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài,

– Cho Trọn Cuộc Tình,

– Tấm Lòng Của Biển,

– Áo Cưới Trước Cổng Chùa,

– Khi Hoa Anh Đào Nở,

– Người Đẹp Bạch Hoa Thôn,

– Hoa Đồng Cỏ Nội,

– Dương Quí Phi…

Từ năm 1991, Phượng Mai có về Việt Nam thực hiện băng Hồ Quảng, kỷ niệm 40 năm hát Hồ Quảng, đóng chung với các diễn viên Vũ Linh, Thanh Hằng, Kim Tử Long, Chí Linh, Minh Vương, Thanh Sang, Tuấn Châu.

Trong những năm 77, 78, tôi cùng ở chung đoàn Huỳnh Long với Phượng Mai. Trước đó cũng từng cộng tác trong đoàn Dạ Lý Hương và các chương trình cải lương Đài Truyền Hình, nên hiểu biết khá nhiều về khả năng nghệ thuật và tánh tình của Phượng Mai.

Số đông nghệ sĩ tuồng cổ (hát bội, hát bội pha cải lương, Hồ Quảng) thường giỏi về vũ đạo mà yếu về ca, hơi khàn hoặc tiếng hát rè rè, riêng Phượng Mai là cô đào hiếm hoi hội đủ hai yếu tố: ca và diễn xuất sắc.

Giọng Phượng Mai ấm áp, ngọt ngào, truyền cảm, có hơi thổ như giọng ca của Thanh Nga, Mỹ Châu. Phượng Mai ca nhạc theo điệu cải lương rất chuẩn mực, đúng bài bản, điệu, theo đúng chân truyền, ca Hồ Quảng cũng rất hay, rõ lời.

Phượng Mai diễn xuất đằm thắm, tinh tế, biết tiết chế hành động tối đa để các động tác vũ đạo dịu dàng, nhuần nhuyễn. Trong vai Văn cũng như vai Võ, Phượng Mai đều có bước đi, vung tay đẹp, đúng cách, chỉ cần nhìn từng bước điệu bộ của Phượng Mai, người xem khẳng định đây là nghệ sĩ nhà nghề.

Còn nhớ khi độc diễn màn cuối của vở Chúc Anh Đài than khóc trước mộ của Lương Sơn Bá, Phượng Mai đã diễn xuất thần, kết hợp nhuần nhuyễn giữa vũ đạo đẹp mắt, giọng ca điêu luyện và nét mặt bi thương, trong lớp diễn này, Phượng Mai chứng tỏ khả năng khắc họa hình tượng nghệ thuật cho nhân vật mà cô thủ diễn, có thể dùng làm mẫu mực cho các thế hệ đàn em học theo kỹ thuật ca diễn đó. Trước Phượng Mai, một thời đã có Bo Bo Hoàng diễn xuất thần trong vai Chúc Anh Đài, cùng với Đức Phú trong vai Lương Sơn Bá.

Bo Bo Hoàng được khán giả ái mộ một thời gian dài, nhưng từ khi có Phượng Mai xuất hiện, Phượng Mai trẻ đẹp hơn, ca múa đều tươi mát hơn nên phải nói là Phượng Mai kế thừa, thay thế Bo Bo Hoàng trong vai Chúc Anh Đài mà đến nay vẫn chưa có nữ nghệ sĩ trẻ nào có thể thay thế được Phượng Mai.

Chỉ tiếc một điều, hiện nay hoàn cảnh đất nước không được như trước 75, nhiều tài năng nghệ thuật sân khấu không có môi trường thuận lợi để hành nghề, để cống hiến những tác phẩm sân khấu nhiều hơn nữa cho khán giả thưởng thức. Có nhiều nghệ sĩ bỏ nghề. Phượng Mai còn sống được bằng nghề ca hát cũng là điều quý hiếm. Mong rằng Phượng Mai có cơ hội và phương tiện để truyền dạy lại cho các nghệ sĩ đàn em những gì cô đã học được và đã phát triển đến mức mẫu mực như hiện nay.

HÁT CHẦU

nhân lễ hội kỳ yên

Năm 2000, tôi về thăm quê hương, tôi muốn gặp lại những người bạn đồng nghiệp để tìm hiểu cuộc sống của các bạn cũ có khấm khá hơn trước không, và cũng để coi nghệ thuật sân khấu cải lương và hát bội sau một phần tư thế kỷ đổi đời, có thay đổi gì hay không?

Vì là dịp Tết nên các rạp ở Sàigòn có các đoàn hát cải lương, không khí cũng khá rộn rịp. Có một chuyện lạ là ngày Tết bây giờ, các đoàn hát không còn giữ lệ kiêng cữ như ngày trước. Hồi đó, tuồng hát trong những ngày Tết phải là tuồng vui, kết cuộc có hậu, sum họp, hạnh phúc. Các đoàn hát và khán giả rất kỵ các vở tuồng có chết chóc, chia ly và những màn lớp đau thương mà diễn viên ca, diễn lâm ly để “lấy nước mắt” của khán giả. Tại rạp Hưng Đạo, đoàn cải lương Trần Hữu Trang hát tuồng Tần Nương Thất, sau đó nối tiếp các tuồng Đèn Đêm Nhỏ Lệ và Nước Mắt Kẻ Sang Tần.

Tuy xa quê hương đã lâu nhưng những tập tục cải lương có lẽ đã ăn sâu trong huyết quản của tôi nên tôi nhứt định không đi coi các tuồng hát có cốt chuyện và cái tựa “không hên” như kể trên. Thời may tôi gặp anh Đinh Bằng Phi, cô Kim Thanh, Ngọc Dung, Ngọc Đáng và anh Xuân Quan (các nghệ sĩ hát bội tài danh) rủ tôi đi Vũng Tàu, đến đình Thắng Tam, coi hát bội nhân dịp Lễ Hội Kỳ Yên.

Vũng Tàu ngày Tết cũng quá đông du khách vì bây giờ đường giao thông mở rộng, lại có tàu cao tốc, người Sàigòn đi Vũng Tàu sáng sớm, chiều tà là có thể trở về Sàigòn. Nhưng ngày Tết, không tiếng pháo, không có cái không khí Tết như ngày trước. Chỗ nào cũng treo cờ, bắt buộc treo trước mỗi nhà, mỗi tiệm, và không biết cơ man nào là biểu ngữ và cờ, tôi có cảm giác là cuộc lễ gì đó chớ không phải là ngày Tết. Cô Ngọc Đáng nhìn nét mặt của tôi, đoán ra là tôi không vui trước cái không khí Tết nầy, cô nói:

– Chú biết hông, bữa nay là Tết nhưng là cái Tết 25 năm sau cái năm 75, nên người ta tổ chức như vậy đó. Mấy năm trước, Tết ở Vũng Tàu buồn lắm, không pháo, chợ Tết bán èo uột bánh mứt, vài chục chậu hoa cúc, hoa vạn thọ rồi tan chợ. Tết mà không có pháo giống như ăn mắm kho mà không có rau, không ớt, không có thịt ba rọi, không tôm, không cá!

Tôi phì cười, nghĩ là cái con nhỏ nầy cũng quên tuốt các món ăn ngày Tết, bánh tét thịt kho tàu, dưa giá cá kho….Anh Đinh Bằng Phi cắt đứt dòng suy nghĩ lang bang của tôi bằng một câu nói với giọng thật là buồn: “Tôi sợ chầu hát năm nay có sự cố”.

Sự cố?… Sự cố gì? Gánh hát đã dọn tới trước hai bữa, đã bông rạp, dựng cảnh xong xuôi. Khi đoàn hát tới, Ban Trị Sự của Đình tổ chức rước Trang Ông trọng thể, đúng với tập tục xưa nay mỗi khi Đình tổ chức cúng và hát bội trong cuộc lễ hội Kỳ Yên. Diễn viên cũng là những diễn viên thượng thặng của ngành Hát Bội hiện nay.

Anh Đinh Bằng Phi, một diễn viên, kiêm tác giả, kiêm đạo diễn và cũng là một nhà nghiên cứu nghệ thuật hát bội, chỉ có đứng sau nhà nghiên cứu đốc phủ Đỗ Văn Rỡ thôi, anh Đinh Bằng Phi là một diễn viên tài ba, khi anh thủ diễn vai Quan Công trong tuồng Quan Công Đơn Đao Phó Hội thì khán giả trầm trồ khen anh như ngày xưa người ta đã trầm trồ khen anh Minh Tơ trong vai nầy. Lần nầy hát ba thứ San Hậu, anh Đinh Bằng Phi sẽ thủ vai Phàn Định Công. Khán giả chỉ nghe giới thiệu tên Đinh Bằng Phi và vai Phàn Định Công là đã nô nức rủ nhau đến đình Thắng Tam để coi anh hát.

Còn các vai nữ thì sao?. Trước hết cần kể đến tên đào Ngọc Đáng. Trước năm 1975, Ngọc Đáng được khán giả ái mộ tặng cho danh hiệu là một trong ngũ nữ tướng của sân khấu tuồng cổ:

– Xuân Yến,

– Thanh Loan,

– Thanh Thế,

– Bạch Lê,

– và Ngọc Đáng.

Ngọc Đáng là con nhà nòi, cha mẹ của cô là đôi nghệ sĩ tài danh Tư Minh và Ngọc Xứng trên sân khấu tuồng Tàu Phụng Hảo. Năm 13 tuổi Ngọc Đáng đã nổi danh trên sân khấu Kim Mai – Thanh Bình. Lúc đoàn nầy hát trên sân khấu đình Cầu Muối thì khán giả đến xem Ngọc Đáng trong các vai Mạnh Lệ Quân, Bàng Quí Phi, Lý Thần Phi, Tiêu Anh Phụng, Lưu Kim Đính. Khán giả ái mộ Ngọc Đáng đến mức là đêm nào không có Ngọc Đáng hát là khán giả ồn ào phản đối, trả vé đòi tiền lại, có khi còn muốn xông lên sân khấu xé phông, màn. Bầu Gánh phải cho khiêng Ngọc Đáng trên ghế bố ra sân khấu, chứng tỏ là cô đau thật, không thể hát thì khán giả mới yên. Hôm sau họ mang cam, hột gà, thuốc Nam, thuốc Bắc, thuốc Tây, đủ thứ thuốc trị bịnh tới cho Ngọc Đáng. Cô phải tiếp xúc, cám ơn không ngớt lời và chờ cho khán giả ái mộ ra về, cô dẹp hết các thứ thuốc đó qua một bên vì sợ thuốc nầy kỵ với thuốc kia, mà không nhận thuốc của khán giả mang tới cho thì sợ khán giả giận. Sau 75, Ngọc Đáng là đào chánh đoàn Minh Giang – Khánh Hồng. Cô cũng từng là đào chánh đoàn Minh Tơ, đoàn Huỳnh Long, đoàn Sàigòn 1, cùng với Bạch Mai đào luyện các diễn viên trẻ. Ngọc Đáng lần nầy thủ vai Đổng Mẫu trong vở San Hậu thứ ba.

Đào Kim Thanh, một nữ diễn viên xuất sắc mà giới phê bình sân khấu thường ví cô như cô Năm Đồ tái sinh. Kim Thanh cũng thuộc về con nhà nòi. Cha cô là nhạc sĩ Văn Long, chuyên đánh trống trong dàn nhạc hát bội của đoàn hát bội Vĩnh Xuân Ban, rồi sau thành đoàn Minh Tơ, đoàn Hồ Quảng Minh Tơ; mẹ cô là nữ nghệ sĩ Kim Bông. Ông Cố của Kim Thanh là ông Bầu Tân, ông Nội là kép hát bội tên Hai Bảng và bà nội là đào Kim Nương.

Kim Thanh được sanh ra và lớn lên ngay trong đoàn hát Vĩnh Xuân Ban – Minh Tơ tại đình Cầu Quan nên ngay khi còn thơ ấu, đêm ngày nghe tiếng đờn giọng hát, lên sáu, lên bảy đã theo học hát lớp đồng ấu Minh Tơ nên về phương diện ca, diễn, Kim Thanh được sự chân truyền của minh sư Minh Tơ và được chính cha mẹ cô chỉ dạy thêm. Khi nhận huy chương vàng giải hội diễn hát bội toàn quốc, Kim Thanh đã cho biết chính tiếng trống của cha cô đã giúp cho cô thành đạt trong vũ đạo trên sân khấu. Ký giả báo Sân Khấu yêu cầu cô giải thích rõ hơn, cô nói:

“Hồi nhỏ, tôi thường theo Ba tôi, ngồi trong cánh gà coi hát, tôi nghe tiếng trống của ba tôi đánh thiệt là hay, tôi định hỏi ổng vài câu, khi nhìn lại, tôi thấy ba tôi vừa đánh trống vừa nhìn chăm bẳm ra sân khấu. Ba tôi làm việc rất căng thẳng suốt buổi diễn, tai nghe, mắt nhìn, chăm bẳm theo dõi từng diễn biến: người bước ra, kẻ bước vô, từng động tác, chấm dứt lời ca… mọi thứ đều phải qua tay đánh trống của Ba tôi. Ba tôi cầm hai chiếc roi trống, thoăn thoắt trên mặt trống chiến, khi đánh vào giữa, lúc lại ra sát vành ngoài, rồi điểm mỏ, gõ dăm, tiếng đục, tiếng trong. Với biệt tài điêu luyện, Ba tôi đã gây không khí cho từng lớp diễn, cho từng diễn viên, từng điệu hát bằng tiếng trống để cùng dàn nhạc đi vào những tấu khúc hùng tráng hay bi cảm. Khi tôi diễn vai Bàng Quí Phi, lúc chạy gối xin tội với vua Tống thì chính là tiếng trống giúp tôi chạy gối nhuyễn hơn, khi thủ vai Lưu Kim Đính sát tứ môn, đến cửa thành thứ tư, con tuấn mã kiệt sức chết thì tiếng trống vuốt nhẹ và rung đều, khiến cho tôi cảm giác đôi chân run rẩy của con tuấn mã bị kiệt sức, vậy nên tôi mới thật sự xúc động mà diễn lớp đó thật hay…”

Đó, Kim Thanh nức tiếng nữ diễn viên thinh sắc lưỡng toàn, lần nầy thủ diễn vai Tạ Nguyệt Kiểu thì bảo đảm khó có ai diễn hay hơn được.

Còn Xuân Quan, anh kép trẻ nổi danh trong vai Triệu Tử Long trong tuồng Triệu Tử Long Nhập Cam Lộ Tự, cũng là một kép hát bội tài ba. Năm 1972, mới 11 tuổi, Trần Văn Quan, sau nầy lấy nghệ danh là Xuân Quan đã được Giám Đốc Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sàigòn, đặc cách thu nhận em là học viên chánh thức trong phân khoa Hát Bội mà không cần qua khóa thi tuyển sinh. Nguyên do là khi hát chầu ở Lăng Ông Bà Chiểu, vì thiếu một vai quân báo, em Quan là khán giả nhí, tình nguyện ra làm vai quân báo và đã được anh Thành Tôn dạy từng câu báo trong đêm diễn chầu đó. Em thông minh, sáng dạ, học mau thuộc và dạn sân khấu nên tuy là thế vai bất ngờ mà em Quan đã diễn rất xuất sắc. Sau nầy chỉ mới hai năm học nghệ trong trường, Xuân Quan đã thủ diễn nhiều vai kép võ mặt trắng rất hay. Xuân Quan thành danh từ năm 1980, được nghệ nhân Công Chấn thương tài, gả cho con gái là nữ diễn viên tài sắc tên Thanh Trang. Xuân Quan lần nầy thủ vai Khương Linh Tá.

Và Ngọc Dung, nữ diễn viên hai lần được huy chương hội diễn hát bội ở Bình Định và Sàigòn, Ngọc Dung sẽ thủ vai Phàn Phụng Cơ…

Điểm qua tài năng của các ngôi sao sân khấu hát bội trong lần hát chầu nầy để thấy rằng “sự cố ” mà anh Đinh Bằng Phi lo sợ không phải là do diễn viên không đủ tài đảm đương các xuất hát chầu nầy, mà là do người của địa phương Vũng Tàu. Khi đi tàu cao tốc ra đây, anh nghe phong phanh là trong Quí Tế cúng đình lần nầy, ông Chấp sự Hai Điểm là người chầu trong các xuất hát. Anh Đinh Bằng Phi biết tôi đã mười mấy năm xa quê hương nên có lẽ không hiểu những phiền toái giữa người cầm chầu và diễn viên hát chầu, anh giải bày nỗi lo lắng của anh. Tôi trấn an anh rằng dù người cầm chầu khó tánh tới mức nào, ắt là cũng khó lòng bắt bẻ nghệ thuật ca diễn của các nghệ sĩ có tay nghề bậc thầy các anh, các cô đây. Tôi mời các bạn ra bãi sau dùng cơm rồi trở lại võ ca, nơi đoàn hát đang chờ. Kim Thanh đề nghị ăn cơm gần đình vì quanh chỗ làm lễ hội Kỳ Yên có rất nhiều hàng quán, đông vui hơn ở bãi sau.

Đình Thắng Tam được trang trí lộng lẫy, nơi đây “người ta” cho gìn giữ cái “không khí” cúng đình ngày xưa nên tha cho cái rừng cờ và biểu ngữ như ở bãi trước và nơi phố, chợ. Đình được sơn son, phết vàng, các câu liễn trên các cột đình cũng được tô vẽ như mới. Bên trong bàn thờ khói hương nghi ngút. Nhiều người dân địa phương đã vào thắp nhang lễ bái.

Đến tối, khi lễ cúng Kỳ Yên bắt đầu thì chỉ có Ban Quí Tế, mặc áo thụng xanh, đầu chít khăn đóng mới được thắp nhang, cúng Thần, làm lễ khai chầu.

Quanh đình, hàng quán mọc san sát như hội chợ, vừa là dịp Tết, vừa lễ hội cúng đình nên ngoài những hàng bán nhang đèn, vàng mã, còn có nhiều quán cơm chay, mặn, có nơi bán nước giải khát, có cả những quán bán trái cây, nhiều nhứt là nhãn, đặc sản nổi tiếng của Vũng Tàu. Tôi mua một kí nhãn rồi kéo vô quán cơm có một tấm bảng quảng cáo: “Rừng Cá, Núi Tôm”, mọi người đều “bắt mắt” vì tấm quảng cáo kỳ khôi nầy. Người ta thường nói Rừng cây, Núi đá, còn cá thì biển cá thì cá mới có nước để mà lội mà sống, chớ cá lên rừng thì chết khô ngay, sống gì nổi.

Các cô đã đói, vào quán là gọi cơm phần, nhưng tôi ngăn lại, đã ra tới biển thì ăn cua, ghẹ, sò, ốc trước rồi mới tính cơm, cá sau, vô quán Rừng Cá Núi Tôm mà ăn cơm phần thì quê chết. Chủ quán biết mặt các nghệ sĩ như Ngọc Đáng, Kim Thanh, Ngọc Dung, Xuân Quan nên tiếp đãi vui vẻ, nồng hậu. Ghẹ, cua được luộc tức tốc, bia Tiger cũng được khui ra…Ngọc Đáng nhìn tôi cười cười, tôi ngơ ngác, hỏi: “Bộ có gì không ổn sao?” Ngọc Đáng nói:

– Nhìn bộ dạng của chú, người ta biết là Việt Kiều mới về nước lần đầu nên mới mắc bẫy vì cái tấm quảng cáo Rừng Cá Núi Tôm đó. Nói chú đừng giận con! Người ta đi biển, ăn cua, ghẹ, đồ hải sản là ra bãi sau, các quán Thùy Vân, quán Thùy Trang của Bà Ba Lệ, vân vân…vừa ăn hải sản khoái khẩu, vừa nhậu ruợu bia ngoại hạng, hóng gió biển, nhìn sóng ào ạt xô đuổi nhau chạy vô bờ, lại được xem trai xinh gái lịch trong những bộ quần áo tắm thời trang, chớ ai đi đến đình Thần mà ăn hải sản?.

Tôi biết mình hố rồi, nhưng không sao, nay mai còn ở Vũng Tàu, ra bãi sau, bãi trước hay đi vòng núi lớn, núi nhỏ gì rồi cũng sẽ tuần tự nhi tiến mà. Chúng tôi chưa hết chai bia đầu tiên thì anh Năm Nhi, kép hát trong đoàn đến, nói ông Hai Chấp sự mời anh Đinh Bằng Phi đến bàn việc quan trọng. Anh ĐBP nói với tôi: “Sự cố mà tôi nói là đây rồi. Anh Nguyễn Phương đi với tôi nhe. Các cô ở lại dùng cơm rồi vô đình nghỉ, tối hát. Khi nào diễn chầu xong xuôi, chúng ta sẽ ở thêm hai ngày, đi tắm biển, dạo núi rồi về Sàigòn”.

Tôi kêu Xuân Quan ra riêng, đưa cho 100 đô, nhờ Xuân Quan thay mặt tôi khoản đãi các cô ăn uống thoải mái. Chúng tôi vô đình thì được người trong đình mời ra xe ngựa đã chuẩn bị sẵn, đưa chúng tôi ra bãi sau, nơi nhà riêng của ông Hai Chấp sự.

Đinh Bằng Phi cho tôi biết ông Hai Chấp sự tên thật là Sáu Quắn, trước kia là kép hát bội, con cháu của bà Ba Ngoạn, tay nghề rất giỏi nhưng nhà giàu, về Vũng Tàu kế nghiệp ông cha làm chủ ghe cá và một hãng làm khô, mắm, chủ quán nhậu nổi tiếng. Vì vậy ông không theo ghe hát nữa và vì là con nhà giàu, tánh hào phóng, được coi là nhân sĩ ở địa phương nên được bầu vô Ban Quí Tế, Ban Trị Sự Đình. Hễ khi có cúng đình, xây chầu hát bội thì ông cầm chầu và hát hay cỡ nào cũng chỉ thưởng cho đào kép hai cái đánh “thùng” thôi chớ không hơn, mà đánh nghe nhỏ rí nên người ta tặng ông danh là Hai Điểm. Tới quán nhậu của ông, người ta kêu ông là Sáu Quắn, tới lễ cúng Kỳ Yên thì người ta gọi ông là ông Điểm!

Chúng tôi đã đến nhà Hai Điểm, một villa nhỏ ở Hàng Dương, mặt tiền hướng ra biển. Ông Hai Chấp sự đang ngồi bên một cái bàn đá cẩm thạch, đặt trước sân, trước mặt có bình trà. Ông có vẻ đăm chiêu, suy nghĩ điều gì lung lắm. Nhìn bộ dạng của ông, tôi và Đinh Bằng Phi trao nhau một cái nhìn ngầm than với nhau: ” Chỉ ngó cái bộ mặt cau có của ông nầy cũng đủ biết là sự đời đang rắc rối đây.”

Ông Hai Điểm thấy chúng tôi, tươi cười, mời ngồi, mời uống trà rồi vô câu chuyện ngay:

– Tôi chờ các anh đã lâu. Mình ngồi đây uống trà, bàn chuyện, Trẻ nhỏ lo cơm nước xong thì mình vừa ăn vừa tiếp tục câu chuyện. Vậy có gì phiền hai anh không?

Đinh Bằng Phi nóng ruột muốn biết vì chuyện gì mà ông có vẻ trịnh trọng như vậy? Tôi nói ngay, tôi cũng là một nghệ sĩ nhưng đi định cư ở Canada lâu quá rồi, nhớ quê hương, nhớ gánh hát và không khí cúng đình ngày xưa nên theo gánh hát ra Vũng Tàu, nếu là chuyện nội bộ của Ban Trị Sự Đình và đoàn hát, tôi xin ra trước sân nhà, ngắm bãi biển cho hai anh bàn chuyện thoải mái hơn. Hai Điểm nói không cần, vì anh ở nước ngoài, còn nhớ quê hương, nhớ nghiệp Tổ thì ngồi đây bàn chuyện cũng hay lắm chớ.

Và sau đây là câu chuyện mà Đinh Bằng Phi có dự cảm là “sự cố” buổi hát chầu 25 năm sau cái năm 75 đổi đời:

Ông Hai Điểm:

– Lần nầy các anh hát chầu mấy thứ?

– Thì hát San Hậu, ba thứ như Ban Trị Sự đã bàn với chúng tôi.

– Ba thứ, có nghĩa là San Hậu thứ ba, có lễ Tôn Vương, Phong Soái.

– Dạ, đúng vậy, mình không thể hát thiếu. Với lại lễ Tôn Vương, Phong Soái thì mới kết thúc tuồng, vừa xôm, vừa có hậu. Khán giả khoái nhứt là cái Lễ Tôn Vương nầy.

– Tôi mời anh ra riêng đây là để bàn với anh: hát San Hậu Thứ Ba mà không có Lễ Tôn Vương.

Anh Đinh Bằng Phi ngỡ là lâu quá ông Hai Điểm không theo gánh hát, quên tuồng tích nên nhắc lại, tuồng San Hậu thứ ba có 4 lớp hát rất hay như:

– Lớp bà Nguyệt Kiểu xuống tóc đi tu giữa một đám em họ Tạ gian thần cướp ngôi vua Tề, một người chị trung chính, vứt bỏ phú quí vô chùa nương cửa Phật để rồi phải sa vào tay lũ ác tăng.

– Trận chiến giữa Tạ Ôn Đình và tướng trẻ Phàn Diệm và bị thua Phàn Diệm.

– Lớp treo Đổng Mẫu buộc Kim Lân qui hàng.

– Kết thúc có hậu, bà Nguyệt Kiểu tự trói mình, đề nghị Tề Ấu quân giao bà cho họ Tạ để đổi lấy bà Đổng Mẫu. Sau đó quân tướng thành San Hậu đánh thắng họ Tạ, chém chết Tạ Ôn Đình, đưa Ấu quân lên ngôi tức vị. Đó là làm lễ Tôn Vương, Phong tướng.

Ông Hai Điểm để cho Đinh Bằng Phi kể chuyện tuồng, rồi mới từ tốn nói:

“Chuyện tuồng thì là vậy. Hồi xưa, tôi theo nghiệp Tổ, tôi cũng nghĩ là sân khấu và cuộc đời giống nhau. Kẻ gian ác tham lam, có lúc đắc thời nhưng tàn cuộc thì bao giờ cũng bị quả báo. Gian thần soán ngôi đoạt vị thì thế nào cũng bị tướng trung và minh quân hồi trào phục nghiệp, bắt đem chém đầu hay xử lăng trì. Rồi thì làm lễ Tôn Vương, phong soái. Đó, hai anh nhìn ra biển mà coi, sóng trắng xóa tung tăng xô nhau vô tư đùa giỡn, nhưng dưới lòng biển, ngoài khơi ngàn trùng xa cách đó, có cả triệu người vùi thây mất xác… Nếu linh hồn oan ức của họ còn lởn vởn đâu đó thì nhứt định là họ mong có một ngày quân tham ác, cướp ngôi đoạt vị phải bị trừng trị, rồi thì có lễ Tôn Vương cho người dân sống thoải mái TỰ DO hơn. Vậy mà 25 năm qua rồi, chưa có lễ Tôn Vương…mà cũng chẳng biết đến bao giờ mới có lễ Tôn Vương thật sự. Vậy nên tôi muốn xuất hát San Hậu thứ ba không có lễ Tôn Vương để cho thánh thần và dân tới coi hát nhớ là chưa có lễ Tôn Vương, bọn gian thần Tạ Thiên Lăng, Tạ Ôn Đình vẫn còn đó…”

Đinh Bằng Phi ngồi gãi đầu, gãi tai, kêu khổ, kêu khó:

– Ông không bị ai ràng buộc, muốn làm sao cũng được, tụi tui khó à nghen. Mà nói cho cùng, hồi xưa đất nước mình lọt vô tay quân Pháp, vua Annam bị đày đi Phi Châu thì hát bội tuồng San Hậu cũng có lễ Tôn Vương kia mà…

– Hồi đó tụi Tây cho dân mình ăn bánh vẽ, nên hát bội nó khuyến khích mình hát lớp Tôn Vương. Bây giờ hỏng lẽ mình ru ngủ bà con mình bằng cái lớp Tôn Vương giả tạo đó sao?

Tôi nghĩ là ông Hai Điểm có cái lý của ổng, mà đoàn hát bội thì có cái hoàn cảnh bất khả kháng của đoàn, thôi thì cứ ăn cơm, no bụng rồi mới tính tới.

Bữa đó ăn cơm nhà của ông Hai Điểm cũng có cá, có tôm, nấu ăn rất ngon, nhưng Đinh Bằng Phi như ngồi nuốt từng cục đá, nghẹn cổ họng, nuốt không trôi. Ông Hai Điểm nói cho Đinh Bằng Phi và tôi yên tâm:

– Mà nói cho hai anh nghe vậy thôi. Hát xướng là phận sự của các anh, còn cầm chầu là quyền thưởng phạt do tôi. Tối nay mình gặp lại nhau. Nói thiệt, tôi đau dạ dày, nghĩ ngợi lung tung càng đau nhiều hơn, tôi muốn quên hết, quên cái sân khấu và sự đời, quên luôn cái lớp tuồng soán ngôi và giết phản thần, Tôn Vương…Phải, quên hết đi, để mà ăn một bữa cơm ngon lành.

Đêm hát thứ ba ở Đình Thắng Tam làm cho tôi nhớ đời.

Ông Hai Chấp sự trong hai đêm trước cầm chầu, đánh trống chầu thưởng giọng hát, điệu bộ của các diễn viên thiệt là hào phóng, đánh trống thật lớn, chụp tay đè mặt trống vừa phải, anh em có lỡ hát cương cũng không bị gõ dăm trống. Tôi và Đinh Bằng Phi rất cảm kích ông. Ông dám đem tâm sự thầm kín ra nói với mình và thông cảm hoàn cảnh của anh em để tránh cho anh em gặp rắc rối.

Ngoài sân khấu Tạ Ôn Đình đã bị chém đầu, trống chiến đánh dồn dập, sắp tới lễ Tôn Vương, Ấu quân hát:

Bá quan, truyền văn võ bá quan.

Nhập triều nội tôn vương tức vị.

Xuân Quan (vai Phàn Diệm) nhập triều nội Tôn Vương tức vị.

Đến lớp hát nầy thì trống đổ, các tướng trung theo ngôi thứ, múa giáp bước vô triều, chót hết Ấu Vương ra…Tôi thở ra một hơi khoan khoái, không còn bị ám ảnh về câu chuyện không cho hát lớp Tôn Vương, bỗng tôi nghe một tiếng “Thùng” thật lớn, rồi tiếng trống tắt nghẹn ngay vì bị bịt mặt trống. Ông Hai Điểm đánh trống thật mạnh, bịt mặt trống xong quăng đôi dùi trống lên sân khấu, vẻ mặt giận dữ, bỏ ra khỏi đình ngay tức khắc.Thông thường khi ông Chấp sự cầm chầu quăng dùi trống là để trừng phạt toàn Ban đã hát bậy, làm ô uế khán trường, nhục mạ, xúc phạm linh thần. Trên sân khấu toàn Ban ngơ ngác. Khán giả cũng ngơ ngác. Đoàn bỏ màn hát, chấm dứt tuồng không có lớp Tôn Vương. Không ai hiểu lý do vì sao mà ông Chấp sự quăng dùi trống phạt toàn Ban, chỉ có Đinh Bằng Phi là ngầm hiểu vì sao tới lớp Tôn Vương lại xảy ra “sự cố”.

Mặc cho anh em bàn tán, mặc cho khán giả phàn nàn, chúng tôi chạy đuổi theo ông Hai Điểm: Ông thổ huyết trầm trọng sau cái đêm ngăn không cho hát lớp Tôn Vương. Cả đoàn hát đi tiễn linh hồn người quá cố, anh em có người dị đoan cho là ông Hai Điểm cầm chầu, thưởng phạt sai nên Thần Hoàng Bổn Cảnh trừng phạt. Tôi hiểu là ông bị đau dạ dày tới mức trầm trọng.

Cái đêm cầm chầu sau cuối cuộc đời của ông, ông đã đánh trống và quăng roi trống một cách hào hùng và thổ huyết vì quá xúc động.

Ngày nay, sau cái chết của ông Hai Điểm ở Vũng Tàu trong cái lễ cúng Hội Kỳ Yên đó, tôi mới nghiệm ra rằng Cuộc Đời và Sân Khấu không giống nhau. Những kẻ gian ác còn giàu sang phây phây ra đó, những kẻ có lòng trung chính, thật thà cứ phải chịu gian nan. Bao giờ mà Ông Trời, Thượng Đế làm soạn giả, soạn tuồng thì hy vọng ổng viết việc thưởng phạt công minh và cho mau lẹ một chút, để người hàm oan thấy lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà không lọt, ân oán phân minh.

LỜI BẠT

xin được chia sớt buồn vui đời nghệ sĩ
cùng soạn giả nguyễn phương
(hồ trường an)

Tôi chỉ là một ký giả kịch ảnh tân nhạc tài tử, tuổi nghề bắt đầu từ năm 1971 cho tới năm 1973. Nhưng từ 11 tuổi, tôi đã theo dõi sinh hoạt của giới nghệ sĩ sân khấu, tân nhạc, và nhất là điện ảnh thuộc cây nhà lá vườn rồi. Cho nên khi còn đeo đuổi việc học hành, mỗi ngày tôi có dịp đến phòng Thông Tin tỉnh nhà (tỉnh Vĩnh Long) theo dõi trang kịch trường, tân nhạc đăng trên hàng chục tờ nhật báo để bồi bổ kiến thức của mình. Và khi bước vào đời lính, nhờ làm việc trong ban ThôngTin Báo Chí, thuộc Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III & Quân Khu 3, tôi cũng được tiếp tục theo dõi sinh hoạt các bộ môn trình diễn trên sân khấu đăng trên hằng chục tờ nhật báo.

Ngành ca kịch cải lương đã thu hút tâm hồn tôi vào lứa tuổi hoa niên, kéo lôi giấc mơ hoa mộng ảo của tôi trải dài hơn nửa thế kỷ. Và cho mãi tới nay, niềm say mê ngưỡng mộ của tôi đối với bộ môn nghệ thuật trình diễn ấy vẫn còn chưa phai nhạt lu mờ.

Dĩ nhiên tôi vẫn biết soạn giả Nguyễn Phương.

Nguyễn Phương là một soạn giả cùng một thế hệ với cặp soạn giả Hà Triều & Hoa Phượng, cặp soạn giả Thiếu Linh & Thành Phát, cặp soạn giả Bạch Diệp & Mình Nguyên, soạn giả Kiên Giang Hà Huy Hà, soạn giả Mộc Linh, soạn giả Lê Khanh, soạn giả Thu An, soạn giả Quy Sắc, soạn giả Điêu Huyền… Lúc đó những soạn giả nổi danh từ thuở tiền chiến như Năm Châu, Năm Nở, Tư Trang, Giáo Út, Duy Lân… đã thấm mệt. Lớp soạn giả Vạn Lý, Viễn Châu, Vân Sinh, Trần văn May, Ba Khuê, Mộng Vân tuy vẫn còn phong độ, nhưng trừ hai anh Vạn Lý và Viễn Châu ra, tất cả lại hình như hơi thiếu thiếu cái không khí mới mẻ, thấm nhuần chất văn chương và thần trí sáng tạo khi họ soạn bất cứ vở tuồng nào. Câu đối thoại của các nhân vật không bày tỏ một quan niệm sống; chúng đơn giản đến độ trơn tuột. Cho nên Nguyễn Phương với lớp soạn giả cùng thế hệ và cùng trang lứa với anh có thể đem lại cho sân khấu cải lương đôi chút sinh khí ở những câu đối thoại rất luyện đạt tình người, ở cách dàn dựng diễn biến và sắp xếp tình tiết công phu hơn.

Ở đây, tôi không cần phải nói về sự nghiệp soạn tuồng và cái tuyệt đỉnh danh vọng của Nguyễn Phương trong giới ca kịch cải lương nói chung, trong giới soạn tuồng nói riêng. Từ năm 1948, anh lao vào cuộc lưu diễn qua các đoàn ca kịch Ánh Sáng, Tiếng Chuông, Việt Kịch Năm Châu cho tới ngày miền Nam Việt Nam bị Cộng Sản cưỡng chiếm thì cũng đã được một phần tư thế kỷ rồi. Ai trót mê ca kịch cải lương mà không biết anh? Đã vậy anh còn viết kịch bản (scénario) cho nhiều cuốn phim hài hước nổi danh. Anh là một nghệ sĩ lớn, dù tôi có tán mỹ ngợi ca anh cũng bằng thừa.

Ở đây, tôi xin đề cập tới hai quyển nửa biên khảo nửa hồi ký của anh là “Ngũ Đại Gia Của Sân Khấu Cải Lương” và “Buồn Vui Đời Nghệ Sĩ”. Anh không có ý định viết về lịch sử của ngành ca kịch cải lương. Anh chỉ viết những biến cố trong giới ca kịch mà anh đã trải qua, những nhân vật trong giới cải lương mà anh tiếp xúc. Đôi lúc anh cũng xen vào đó những điều mà bạn bè anh kể lại, song ít thôi. Thế có nghĩa là anh viết sách bằng nhiều kinh nghiệm sống thực chứ không thuần túy bằng tài liệu. Tài liệu thì khô khan, còn kinh nghiệm sống thực mới tươi rói, mới sống động, dễ lôi cuốn độc giả từ trang đầu tới trang cuối quyển sách.

Đọc quyển “Buồn Vui Đời Nghệ Sĩ”, tôi bàng hoàng khi nghe Nguyễn Phương nhắc lại các nghệ sĩ Thanh Cao, Tuấn Sĩ, Văn Sa, Kim Anh, Ngọc An, Nguyệt Yến…

Làm sao chúng ta lại quên được Kim Anh hát 20 câu Vọng Cổ trong cặp dĩa “Phàn Lê Huê” của hãng Asia bằng giọng thổ khao khao trầm thống?

Làm sao chúng ta lại quên được Ngọc An với dáng dấp cao sang và đẹp sáng mát như vầng trăng rằm qua các đoàn Tiếng Chuông, Hương Hoa, Ngọc An & Bích Sơn, Thanh Hương & Hùng Minh?

Làm sao chúng ta quên mất Nguyệt Yến trong vở tuồng “Nữ Thần Trong Động Lửa” và là đào chánh của gánh Phát Thanh?

Làm sao chúng ta quên được nghệ sĩ Văn Sa, kép nhì rất hùng dũng bên cạnh kép chánh tao nhã Năm Phồi trong gánh Phát Thanh?

Ôi, nếu không có Nguyễn Phương thì họ sẽ lặn sâu trong niềm quên lãng tận dưới đáy tiềm thức của lớp khán giả từ lục tuần trở lên, trong đó có tôi đây.

Nguyễn Phương không phải là nhà kể chuyện (chroniqueur) thuần túy. Chúng ta có thể cười phơi phới qua các giai thoại về cuộc đời về nghề nghiệp của Tám Vân, Trường Xuân, Thanh Việt, Hùng Cường, Hồng Nga cùng ông bầu Cang, ông bầu Tám Kiết. Chúng ta còn được nghe anh kể chuyện anh đi coi vợ bị bên đàng gái chê vì họ lầm tưởng anh theo gánh cải lương của danh sĩ Trúc Viên Trương Gia Kỳ Sanh; nghe anh kể quãng thời gian anh theo gánh Ánh Sáng, Tiếng Chuông, Việt Kịch Năm Châu trong thời kỳ chiến tranh Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh.

Ở đây, chúng ta mới rõ thân phận của giới cải lương trong thời chiến, họ bị chèn ép, giam giữ, húng hiếp bởi những lãnh chúa dùng tôn giáo để hùng cứ một phương trời, một vùng bao la trên đất nước Nam Kỳ trong thời khói lửa. Chúng ta có thể chạnh niềm trắc ẩn xót xa trước cảnh ngộ của nghệ sĩ sân khấu sau cuộc đổi đời qua chương “Nữ Nghệ Sĩ Diệu Hiền Trong Biển Lửa”‘ và qua chương “Cuộc Sống Sau Bức Màn Nhung”‘. Thế có nghĩa là Nguyễn Phương đâu phải bắt chúng ta nghe anh kể những chuyện suông đuột và rỗng tuếch để cười sặc sụa rồi lòng rổn rang, trí óc bình thản. Anh chọc cho chúng ta cười để rồi chúng ta ray rứt trước bao cảnh ngộ thương tâm, để chúng ta suy nghĩ về cuộc đời dâu bể, thế sự vô thường. Anh bông phèo giễu cợt qua lối kể chuyện rất điềm đạm, không tía lia hời hợt, nhưng câu chuyện do anh kể vẫn mặn nồng. Chúng ta vẫn được anh chỉ vẽ qua các tập tuồng của các diễn viên hát bội, của các diễn viên cải lương. Anh còn chú trọng tới phần kiến thức nghề nghiệp để độc giả lãnh hội nhiều điều bổ ích về ca kịch cải lương, một bộ môn nghệ thuật cao quý của dân tộc. Do đó chúng ta biết tại sao nghệ sĩ Tám Danh thành công qua vai Hà Công Yên nghiện ngập trong vở “Tứ Đổ Tường”, vì sao Quái kiệt Ba Vân thành công trong vai anh chàng Phê điên loạn trong vở “Người Điên Khi Biết Yêu”. Đó chẳng qua là ông Tám Danh phải đến tiệm hút mà thời Pháp thuộc gọi là công quản nha phiến (R.O/ Regis d’Opium) và ông Ba Vân đến dưỡng trí viện Biên Hòa, kẻ quan sát bợm ghiền, người học lóm cử chỉ và thần sắc của người điên. Rồi qua chương “Nghệ Sĩ Phượng Mai”, chúng ta mới rõ vì sao nữ nghệ sĩ này thành công trên sân khấu Hồ Quảng và trong phạm vi hát tân nhạc. Đó có phải chăng ngoài năng khiếu thiên bẩm còn có tấm lòng tươi son bền sắt với nghề nghiệp, sự cầu tiến và sự tinh luyện tài năng của mình không nhàm mỏi?

Và còn nghệ sĩ Văn Ngà nữa chớ. Anh là kép phụ đòan Thanh Minh Thanh Nga. Nhưng mà, tuy là kép phụ nhưng cùng với Minh Điển, Chí Hiếu, Vinh Sang nếu anh không là nghệ sĩ lớn thì cũng là nghệ sĩ tài nghệ điêu luyện không kém các kép phụ bên gánh Việt Kịch Năm Châu như Ba Sanh, Hoàng Kinh, Văn Lắm (nam), Hai Nữ, Kim Đặng, Tố Nữ (nữ). Văn Ngà vốn là dân Bắc Ninh, cách phát âm trong giọng nói anh phảng phất cách phát âm giọng Bắc Ninh. Anh theo gánh miền Nam, hát cải lương miền Nam nên anh muốn cách phát âm của anh phải đặc sệt cách phát âm của miền Nam. Soạn giả Nguyễn Phương bắt anh đọc nhiều lần bài vè “Gái Lỡ Thời” bằng lối phát âm miền Nam cho tới thuần thục nhu nhuyễn mới thôi. Và nhờ đó, Văn Ngà bỏ được cách phát âm miền Bắc khi đóng tuồng trên sân khấu.

Ở chương “Người Trồng Cây Si Gia Long” nhắc lại thưở Nguyễn Phương si tình cô nữ sinh trường Gia Long. Cuộc tình chẳng ra cái ra nước gì cả. Sau đó, anh theo cộng tác các gánh hát bị các cô đào đặt cho cái hỗn danh Si Gia Long.

Rồi một hôm, đoàn Tiếng Chuông mà anh đang cộng tác đến điễn ở Cần Giờ. Ông Chấp sự trong Hội Đồng Xã vốn không rành truyện Tàu nên muốn đoàn diễn tuồng “Gia Long Tẩu Quốc”. Nghe nói trong gánh có chàng Si Gia Long nên ông nhờ chàng soạn tuồng có cái tựa và cái chủ đề nầy. Ông Ách Một, trưởng đồn lính bạc-ti-dăng cũng đốc xúi cây si như vậy. Nhưng…“Dạ, mang tiếng si Gia Long mà hỏng biết gì về lịch sử Gia Long hết, cái nầy người ta nghe người ta cười tôi. Còn cái tuồng mà quan lớn vẽ ra đó, dạ khó lắm. Tuồng Tàu, tuồng Tây mình có viết sai thì dân coi hát cũng bỏ qua cho, sai là sai cái sử của thằng Tây, thằng Tàu không quan trọng gì tới người Việt mình. Còn như sử Việt Nam mà mình viết sai thì a… thì…Dạ bẩm quan, kỳ nầy về Saigon, tôi nhứt định sẽ nghiên cứu sử Việt Nam, tôi sẽ viết những tuồng sử Việt Nam cho đàng hoàng. Còn kỳ nầy, thì xin quan tha cho.”

Ông Chấp sự cười hề hà: “Thôi, thử bụng mấy chú thôi! Được rồi. Chuyện cả ngàn năm của người Tàu, mấy chú rành ông này mặt mày ra sao, tánh tình như thế nào, chuyện tình yêu gì của họ, mấy chú rành rẽ quá. Vậy thì mấy chú cũng nên rán mà hiểu chút đỉnh lịch sử của nước mình. Dân mình biết rành chuyện Tàu vì mấy chú hát tuồng Tàu. Nếu mấy chú hát tuồng sử Việt thì dân mình cũng hiểu chuyện sử của mình. Phải vậy không? “.

Thật là một bài học chẳng những thấm thía cho tác giả mà còn cho các văn nghệ sĩ của các bộ môn nghệ thuật sáng tác khác.

Ở chương “Hát Chầu Nhân Lễ Hội Kỳ Yên”‘, Nguyễn Phương gây một cái “choc” mạnh vào ấn tượng người đọc. Chuyện kể: vào dịp Tết Canh Thìn (năm 2000), tác giả cùng anh Đinh Bằng Phi, học giả môn hát bội ra cùng nhóm nghệ sĩ ra Vũng Tàu để xem hát bội vào dịp Lễ Hội Kỳ Yên. Ông Hai Chấp sự mà dân địa phương gọi là ông Hai Điểm giữ phần cầm chầu. Ông đề nghị với Đinh học giả nên bỏ lớp Tôn Vương trong tuồng “San Hậu”. Lý do của ông như sau:

…Hồi xưa, tôi theo nghiệp Tổ, tôi cũng nghĩ là sân khấu và cuộc đời giống nhau. Kẻ gian ác tham lam, có lúc đắc thời nhưng tàn cuộc thì bao giờ cũng bị quả báo. Gian thần soán ngôi đoạt vị thì thế nào cũng bị tướng trung và minh quân hồi trào phục nghiệp, bắt đem chém đầu hay xử lăng trì. Rồi thì làm lễ Tôn Vương phong soái. Đó, hai anh nhìn ra biển mà coi, sóng trắng xóa tung tăng xô nhau vô tư đùa giỡn, nhưng dưới lòng biển, ngoài khơi ngàn trùng xa cách đó, có cả triệu người vùi thây mất xác… Nếu linh hồn oan ức của họ còn lởn vởn đâu đó thì nhứt định là họ mong có ngày quân tham ác, kẻ cướp ngôi đoạt vị phải bị trừng trị, rồi thì có lễ Tôn Vương cho người dân sống thoải mái Tự Do hơn. Vậy mà 25 năm qua rồi, chưa có lễ Tôn Vương… mà cũng chẳng biết bao giờ có lễ Tôn Vương thật sự. Vậy tôi muốn xuất hát ‘San Hậu” thứ ba không có lễ Tôn Vương để cho thánh thần và dân tới coi hát nhớ là chưa có lễ Tôn Vương, bọn gian thần Tạ Thiên Lăng, Tạ Ôn Đình vẫn còn đó…

Hôm tuồng trình diễn tại đình Thắng Tam, ông Hai Điểm cầm chầu. Tới lớp Tôn Vương ông đánh dằn mạnh vào trống, rồi quăng dùi trống và bỏ đi. Hôm sau, ông chết vì chứng thổ huyết trầm trọng. Xem tới chương này, đố ai mà không bần thần suy nghĩ? Và cảm giác sần sượng cứ bám riết vào tim óc chúng ta chắc chắn cũng khá lâu, có phải?

Chương lảng vảng bóng u linh là chương “Chuyện Dị Đoan Trong Giới Nghệ Sĩ Cải Lương”‘. Chuyện kể rằng: hai bức tượng phụ nữ Pháp trên nóc rạp Thủ Dầu Một bị ma nữ dựa vào để khuấy phá nghệ sĩ trong gánh hát Việt Kịch Năm Châu vào lúc họ ngủ. Chúng còn cản trở khán giả không đến xem đông đúc tuồng “Tây Thi Gái Nước Việt” vốn là tuồng hốt bạc của đoàn… Ông Tám Kiết phải lấy sơn đen bôi lên tượng thì khán giả tới ùn ùn mua vé xem tuồng “Tây Thi Gái Nước Việt” được trình diễn lại. Rồi trong thời gian còn trụ diễn ở Thủ Dầu Một, nghệ sĩ và công nhân được yên ổn cho tới ngày họ dọn đi lưu diễn ở địa danh khác. Bút giả nghĩ rằng đây chưa hẳn là chuyện hoang đường. Khoa học huyền bí chưa đủ khả năng giải thích hiện tượng kỳ quái này nên kẻ hồ đồ cho là điều mê tín dị đoan. Nhưng sự thực là đâu, khi nó nằm ngoài vòng hiểu biết của nhân loại? Lại nữa, trong chương “Ngày Xuân Nghệ Sĩ Đi Xem Bói”‘, chúng ta phải tự hỏi vì sao thầy bói quẻ Khổng Minh ở Lăng Ông Bà Chiểu lại đoán trúng vận mệnh tương lai của ba soạn giả Hà Triều, Nguyễn Phương và Kiên Giang Hà Huy Hà không sai một mảy lông sợi tóc? Nếu không dựa vào chuyện thần linh ma quỷ trong cõi âm hồn thì làm sao chúng ta giải thích cho trôi được, hả các bạn?

Chương “Ngậm Ngải Tìm Trầm” là chương tác giả cùng nhóm nghệ sĩ công nhân đoàn Thanh Minh Thanh Nga đi trình diễn ở Ninh Hòa sau cuộc đảo chánh lật đổ chánh thể Đệ nhứt Cộng Hòa. Trong thời gian còn trụ diễn ở đây, đoàn hát nhân một ngày thong thả đi tắm suối nước nóng thì gặp mưa bão. Nguyễn Phương, Kiên Giang Hà Huy Hà, Hà Triều, Phượng và ba nghệ sĩ Chí Hiếu, Văn Ngà, Vinh Sang cùng 4 cô nữ vũ công không về được thành phố đành ngủ đêm trong gian nhà sàn của ông chủ phum. Nửa đêm, trong cơn mưa gió có tiếng hú ghê rợn của ngưòi rừng. Ông phum cho mọi người khách biết đó là người đi tìm trầm hương mà quên ngậm ngải nên bị sơn thần và ma rừng làm mất trí nhớ và tiếng nói nên lạc đường về buôn bản. Đương sự lại ăn nhằm thứ ngải linh mọc xung quanh gốc trầm nên biến thành người rừng. Nghe câu chuyện kể, Hà Triều và Hoa Phượng sanh cảm hứng nên khi về Sài Gòn, cả hai cùng chung soạn tuồng “Mưa Rừng” trong đó có nhân vật điên (trưởng nam ông chủ đồn điền) vì ăn nhằm ngải độc.

Đây là một câu chuyện lý thú không thua chuyện đường rừng của Tchya hoặc của Lan Khai vào thời tiền chiến.

Đọc quyển sách của Nguyễn Phương viết về kỷ niệm quãng đời anh tham gia sinh hoạt của sân khấu, chúng ta có cảm tưởng như đọc văn chương của Sơn Nam. Chúng ta phải suy nghĩ triền miên theo hành trình cây bút của anh. Chúng ta yêu cái cao quý của giới sàn gỗ màn nhung đã đành, chúng ta còn bắt gặp cái thối nát trong thời kỳ nhiễu nhương của đất nước. Có cái khía cạnh tiêu cực của thời cuộc ấy, tác giả mới làm hiển lộ niềm gắn bó của kẻ sống đời gạo chợ nước sông, của kẻ ăn cơm quán ngủ đình hà rầm để đem tất cả tài hoa của mình cống hiến cho khách thưởng ngoạn. Trong giới ca kịch cải lương vẫn có người tốt kẻ xấu. Nhưng Nguyễn Phương chỉ nhìn cái tốt của họ bằng tấm lòng nhân hậu và bằng cặp mắt bao dung. Đối với anh, chỉ có tấm lòng yêu nghệ thuật và sự nghiệp lẫy lừng của họ mới đáng để anh đưa vào tác phẩm của mình. Không bao giờ anh phanh phui chuyện thay vợ đổi chồng hoặc sự tương tranh bất chính và hèn mạt của họ.

Đọc “Buồn Vui Đời Nghệ Sĩ”, chúng ta gặp được nhiều cái để học hỏi: yêu bộ môn ca kịch cải lương vốn là tinh hoa lưu truyền của dân tộc, biết tha thứ những cá tính không đẹp và đời tư đồi trụy của một vài nghệ sĩ để giữ mỹ cảm cho khán giả và khách ái mộ tài năng của họ được nguyên vẹn và tốt đẹp, trước sao sau vậy.

Ông Chấp sự ở Cần Giờ trong chương “Người Si Gia Long” không đáng để chúng ta suy tư về tâm hồn ái quốc rất đơn sơ mộc mạc của những kẻ chất phác ở một địa danh khiêm tốn tại miền duyên hải hay sao? Còn ông Hai Điểm trong chương “Hát Chầu Nhân Lễ Hội Kỳ Yên” không đáng để cho tấm lòng chúng ta nức nở trước một nhân vật ái quốc qua một khía cạnh quá đặc biệt. Nó không biến chương sách này thành một truyện ngắn có giá cao độ để chúng ta xếp vào nền văn chương hải ngoại hay sao?

Cho nên “Buồn Vui Đời Nghệ Sĩ” là một tác phẩm nhuần thấm tình người, tình nước, tình yêu nghệ thuật, ngoài những giai thoại lý thú lấp lánh ánh sáng lạc quan luôn cả những vận sự cười ra nước mắt.

Cổ Nguyệt Đường, mùa Hè năm 2005

Nguyễn Phương

Theo http://vietnamthuquan.eu/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

 22222 ​ NỮ NGHỆ SĨ DIỆU HIỀN trong biển lửa Thời xưa, ở các tỉnh miền đồng bằng sông Cửu Long, giao thông vận tải đường bộ chưa được ...