Cái nhìn văn hóa trong tiểu thuyết
đề tài chiến tranh sau năm
1975
Lịch sử hiện đại Việt Nam trải qua nhiều biến thiên,
mang âm hưởng bi tráng qua những cuộc chiến tranh chính nghĩa, bảo vệ độc lập tự
do, xây dựng và đổi mới đất nước từ sau 1975.
Nếu chúng ta hội nhập rộng và sâu trong xu thế của “thế giới
phẳng”, thì các giá trị đích thực để sánh vai với bạn bè năm châu bốn biển
không phải là những phát minh vĩ đại thay đổi thế giới, các siêu tập đoàn kinh
tế, hay những Nobel về các lĩnh vực… mà là giá trị văn hóa Việt Nam, góp vào
giá trị phổ quát của nhân loại.
Văn học đương đại Việt Nam, tính từ sau 1975, theo “thi pháp”
trong giai đoạn lịch sử mới, phản ánh xã hội và con người trong dạng thức “chưa
hoàn thành”; cái hôm nay ngày càng phong phú và phức tạp với tính chất hiện
sinh, hiện tồn. Nhưng sự đa dạng của văn chương đương đại chính là sự mở rộng
biên độ phản ánh với nhiều đề tài, chủ đề, nhiều khuynh hướng phong cách…
Sự trở lại ngoạn mục của đề tài truyền thống lịch sử và chiến tranh cách mạng trên văn đàn hiện nay chiếm một vị trí quan trọng trong sự kiến thiết nền văn chương đương đại có tính chất “mở” và “hội nhập”. Thực tế đó cho thấy nhu cầu tinh thần “ôn cố tri tân” là thực tiễn và cấp bách. Trên chặng đường lịch sử mới, cả dân tộc và mỗi con người cần “ngoái đầu nhìn lại”, cần phục dựng “ký ức lương thiện” để tăng cường sức mạnh văn hóa – đạo đức của dân tộc trong thời đại mới.
Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung phân
tích động hướng sáng tác “tôn vinh văn hóa dân tộc” qua mảng tiểu thuyết viết về
đề tài chiến tranh cách mạng và hình tượng người chiến sỹ, đặc biệt là qua những
tiểu thuyết xuất bản trong 2 thập niên đầu của thế kỷ 21.
Tiểu thuyết viết về chiến tranh sau sau năm 1975, theo quan
điểm của chúng tôi, đã trải qua ba “phân khúc” chính. Một là, tiểu thuyết tả trận,
viết trực diện về chiến tranh trong tính thời sự nóng hổi, như: Mặt trận
trên cao của Nguyễn Đình Thi, Dấu chân người lính của Nguyễn
Minh Châu, Mẫn và tôi của Phan Tứ, Rừng U Minh của Trần Hiếu
Minh, Ở xã Trung Nghĩa của Nguyễn Thi, Chiến sĩ của Nguyễn
Khải, Thôn ven đường của Xuân Thiều, Năm 1975 họ đã sống như thế của
Nguyễn Trí Huân, Trong cơn gió lốc của Khuất Quang Thụy, Nắng đồng
bằng của Chu Lai, Biển gọi của Hồ Phương…
Hai là, tiểu thuyết thực hiện nhiệm vụ nghệ thuật tái nhận thức
chiến tranh và số phận con người, như: Dòng sông phẳng lặng của Tô
Nhuận Vỹ, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Bến không chồng của
Dương Hướng, Ăn mày dĩ vãng và Mưa đỏ của Chu Lai, Lạc
rừng của Trung Trung Đỉnh, Bến đò xưa lặng lẽ của Xuân Đức, Rừng
đói của Nguyễn Trọng Luân…
Ba là, tiểu thuyết viết về chiến thắng, tôn vinh văn hóa dân
tộc Việt Nam trong chiến tranh qua một số tác phẩm tiêu biểu xuất bản gần đây,
như: Đỉnh cao hoang vắng của Khuất Quang Thụy, Thư về quá khứ của
Nguyễn Trọng Tân, Con chim Zoong bay từ A đến Z của Đỗ Tiến Thụy, Gió Thượng
Phùng của Võ Bá Cường, Nậm Ngặt mây trắng của Nguyễn Hùng Sơn, Lời
nguyện cầu cho những linh hồn phiêu dạt của Đoàn Tuấn, Hương của Nguyễn
Thụy Kha…
Đặc điểm chung của những cuốn tiểu thuyết thuộc “phân khúc”
thứ ba trên đây có thể khái quát như sau: Hiện thực tinh thần được quan tâm hơn
hiện thực sự kiện trong phản ánh, tái hiện chiến tranh; Chiến thắng của văn hóa
Việt Nam được tô đậm hơn chiến thắng quân sự trong phản ánh về chiến tranh;
Đánh dấu sự phát triển bền vững của tiểu thuyết khi lý giải mối quan hệ giữa
chiến tranh và hòa bình từ quan điểm triết học, xã hội học, đạo đức học, văn
hóa học ở tầm nhìn mới.
Trước hết phải kể đến Đỉnh cao hoang vắng (2016) của
Khuất Quang Thụy. Bên ngoài (hình thức) rõ ràng là một cuốn tiểu thuyết chuyên
biệt viết về chiến tranh. Nhưng nhìn sâu vào tác phẩm, nó là một cuốn sách nói
về văn hóa Việt Nam vốn có truyền thống “Lấy nhân nghĩa thắng hung tàn / Lấy
chí nhân thay cường bạo” (Nguyễn Trãi).
Câu chuyện nữ y sĩ Vân bị bắt làm tù binh, bị dẫn giải bởi
hai người lính của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, trong vòng gần một năm trời lạc
rừng sâu, cho thấy dẫu Vân tuy chỉ là một người lính Giải phóng bình thường
nhưng có cốt cách văn hóa được rèn giũa trong quân đội cách mạng, đằng sau là vốn
văn hóa dân tộc có truyền thống nhân nghĩa. Nên cô đã thuyết phục và cảm hóa được
đối phương khiến họ không những không xâm hại, không hề động đến “sợi lông
chân”, không những thế còn quý nể, trân trọng, bảo vệ an toàn tính mạng cho
mình. Tác phẩm đượm tinh thần hòa hợp, hòa giải dân tộc. Người phát kiến lối viết
đề cao tinh thần nhân văn mới mẻ này phải kể đến và ghi công đầu cho Nguyễn
Minh Châu với tiểu thuyết Miền cháy (1977).
Nếu Đỉnh cao hoang vắng thu hẹp câu chuyện giữa ba
người (1 quân Giải phóng, 2 binh sĩ Quân lực Việt Nam Cộng hòa) thì Gió
Thượng Phùng của Võ Bá Cường mở rộng biên độ phản ánh khi viết về cuộc chiến
tranh bảo vệ biên giới phía Bắc vào cuối thập niên 70 – đầu thập niên 80 của thế
kỷ trước. Chúng tôi gọi đó là “khúc bi tráng thứ tư” trong lịch sử dựng nước và
giữ nước của dân tộc ngót nửa thế kỷ thời hiện đại (1945-1989).
Điều gì, sức mạnh nào đã giúp chúng ta đánh bại đạo quân xâm
lược vốn lân bang hàng vạn tên? Tất nhiên, lòng yêu nước căm thù giặc, ý chí
chiến đấu “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, khối đoàn kết quân và dân như cá với
nước… là cội nguồn sức mạnh của chúng ta. Nhưng sâu xa và bền vững hơn là sự
chiến thắng của văn hóa Việt Nam. Nhà thơ Lưu Quang Vũ có bài thơ để đời với tựa Gió
và tình yêu thổi trên đất nước tôi. Có thể lấy cấu tứ của thi phẩm đó để cắt
nghĩa thành công của tác giả trong thiên tiểu thuyết vừa hùng tráng, vừa bi
tráng, được viết bằng một “đại khí văn chương” (để phân biệt với những lời ai
oán về chiến tranh và thân phận con người, chúng tôi gọi là “tiểu khí văn
chương”).
Theo dòng chảy kể trên, Quay đầu lại là bờ của Hữu
Phương, Lạc vào giông bão của Phương Văn… là những tác phẩm dẫu thành
công ở những mức độ khác nhau, nhưng thống nhất cao ở chủ đề căn cơ: văn hóa
dân tộc là chất keo hữu cơ gắn kết cộng đồng người Việt Nam dù ở trong nước hay
nơi chân trời góc bể nào. Những người Việt tha hương vì bất kể lý do gì đều
nuôi bền tâm trí “cố hương”, “cố quốc”, để vượt thoát “tha hương” như một mặc cảm
tiêu cực.
Tiểu thuyết Hương (2022) của Nguyễn Thụy Kha “chạm”
đến một vấn đề quan thiết và nhạy cảm nhất hiện nay, đó là tinh thần đại đoàn kết
dân tộc, trên nền tảng hòa hợp – hòa giải dân tộc, như một sức mạnh vô song, lẽ
sống thuận tự nhiên, biểu trưng của tinh thần nhân văn vì con người. Tiểu thuyết
hấp dẫn nhờ tác giả kể lại một câu chuyện tình tay ba “cũ như trái đất”: nhưng
bên trong và giữa các số phận là vấn đề nhân tâm thời đại: xóa bỏ hận thù và định
kiến, cùng hướng tới tương lai, cùng với việc neo giữ ký ức lương thiện như là
của cải tinh thần để dành cho các thế hệ mai sau, không gì khác là Tình – yêu –
thương – lớn.
Năm 2017, Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức sự kiện lớn với chủ
đề “Nhà văn với sứ mệnh đại đoàn kết dân tộc”. Nhiều nhà văn ở nước ngoài đã về
dự và có cơ hội thấu cảm với cộng đồng dân tộc theo động hướng tinh thần “khép
lại quá khứ cùng hướng tới tương lai”. Không có một thế lực nào có thể chia cắt
mối tình cảm đồng bào của dân tộc Việt Nam hơn 100 triệu người cả ở trong và
ngoài nước, dẫu định cư ở phương trời nào.
“Văn học là lương tri thời đại” là một định đề không bao giờ
cũ, trái lại càng trong thực tiễn càng phát lộ tính chất ưu việt của nó trong
việc hướng đạo sáng tác. Một định hướng có tính khoa học và chính trị là Sáng
tác, quảng bá tác phẩm văn học, nghệ thuật về đề tài cách mạng, tôn vinh các
giá trị văn hóa dân tộc khiến không ít người trong giới nghiên cứu và sáng tác
văn học coi là “viết theo đơn đặt hàng” (commander).
Nhưng văn nghệ sĩ không thể thoát ly xã hội, thoát ly hoàn cảnh, cho nên viết theo “giao kèo xã hội” thì cũng không có gì là không đúng. Vấn đề quan trọng là tài năng nghệ thuật. Nghệ sĩ tài năng đích thực không hề vấn vương “viết về cái gì” mà chỉ đau đáu suy tư “viết như thế nào”!.
8/5/2023
Bùi Tùng Ảnh
Nguồn: Báo Văn Nghệ
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét