Buồn vui đời nghệ sĩ 1
THAY LỜI TỰA.
(hồi ký sân khấu của cố soạn giả nguyễn phương)
Viết hồi ký Buồn Vui đời Nghệ Sĩ, tôi ghi lại những kỷ
niệm của một thời mà tôi lang thang trên bước đường nghệ thuật sân khấu. Trong
những kỷ niệm đó, ''tôi'' – ''cái tôi'' chỉ là một phần cá thể rất nhỏ của tôi,
hòa nhập với cả một tập thể nghệ sĩ để cùng làm chứng nhân của một thời điểm mà
xã hội Việt Nam còn có ý khinh bạc đối với người nghệ sĩ, xem họ như những kẻ
xướng ca vô loại. Vì vậy, trong tập hồi ký nầy, chuyện của các bạn nghệ sĩ đồng
nghiệp của tôi chiếm một số trang quan trọng, tôi là người chứng kiến và cũng
là người cùng chung số phận, cùng chia xẻ với các bạn đó những nỗi vinh, nhục của
nghề hát cải lương.
.
Thời điểm đó lại là lúc đất nước Việt Nam đang trải qua hai
cuộc chiến tranh sắt máu ( 1945-1975 và sau 1975), sinh mạng của những người
dân bình thường bị xem như cỏ rác. Sinh mạng của người nghệ sĩ lại còn bị rẻ
rúng hơn nữa. Qua các chuyện: ''Những tập tục lạ đời '', ''Đào hát biết
hóa phép thần thông'', ''Nghệ sĩ Tám Vân … '', quí độc giả sẽ thấy được những
phi lý của những kẻ đã lạm dụng quyền thế để hành hạ, đàn áp nghệ sĩ.
Tuy nhiên qua câu chuyện bị áp chế vô lý đó, người nghệ sĩ vẫn
giữ được cái tâm bình thản để vượt qua, để tồn tại và để toàn tâm toàn ý cống
hiến nghệ thuật ca hát, góp phần làm đẹp cho đời và làm vui lòng khán giả ái mộ.
Qua những trang hồi ký Buồn Vui đời Nghệ Sĩ, tôi muốn giới
thiệu với quí độc giả sự khổ tâm rèn luyện nghề nghiệp của các nghệ sĩ, những
khó khăn, tai nạn trên bước đường lưu diễn, những cuộc sống cực khổ đói khát mà
có một thời trước đây, người ta đã ban cho các nghệ sĩ cải lương cái tên: ''Những
kẻ ăn quán ngủ đình''.
Tuy nhiên trong cuộc sống rày đây mai đó, với một tương lai bất
định, người nghệ sĩ cải lương được một niềm an ủi khích lệ lớn lao, đó là trước
hết và trên hết mọi sự, người nghệ sĩ đã sống với nhau bằng một tâm hồn chân thật,
tương thân tương ái. Họ biết tôn sư trọng đạo. Họ tìm vui và chia vui với nhau
trong câu ca, điệu hát, trong câu hò Đồng Tháp hay trong bài ca vọng cổ Bạc
Liêu. Cái đẹp của văn chương, cái quyến rũ của làn điệu cổ nhạc dân tộc, các
câu chuyện tình vẹn thủy toàn chung của các vở tuồng đã nâng cao tâm hồn người
nghệ sĩ để họ chấp nhận những lao khổ nhọc nhằn về phần mình mà được đi khắp
các miền đất nước để gieo rắc những bông hoa tư tưởng đẹp, những điệu hát câu
hò thắm đượm tình tự dân tộc.
Các nghệ sĩ mà tôi có dịp nhắc qua trong những trang hồi ký nầy,
đối với tôi, là những bạn thâm giao đã cùng tôi chia ngọt xẻ bùi, đã giúp tôi
không ít trên đường sự nghiệp sáng tác của tôi. Tôi viết để nhớ lại các bạn và
cảm ơn các bạn.
Thêm nữa, một người không phải là nghệ sĩ nhưng người ấy đã
theo tôi lang thang trên các nẻo đường nghệ thuật hơn năm mươi sáu năm liên tục,
đã cùng tôi chia xẻ vui buồn, cùng gánh vác khó khăn nặng nhọc và là chỗ dựa
tinh thần và tình cảm của tôi, giúp tôi yên tâm, phấn đấu không ngừng trên con
đường sự nghiệp sân khấu mà tôi đã chọn. Người đó là vợ tôi: bà Nguyễn thị Ba,
một cái tên bình dị như con số 3 bình thường, nhưng đó là con số “hên” của cuộc
đời Nguyễn Phương. Những chuyện Buồn Vui đời Nghệ sĩ trong quyển sách
này có sự chia xẻ và dự phần của vợ tôi. Xin cảm ơn vợ tôi và các con tôi.
Xin trân trọng kính dâng lên quí sư phụ của tôi, các ông Năm
Châu, Năm Nở, Thành Tôn những kỷ niệm của một thời Nguyễn Phương theo các thầy
học nghiệp.
Montréal, mùa Xuân 2005.
Soạn giả Nguyễn Phương
NGHỆ SĨ
trên các nẻo đường lang thang
Đã sang thu... trời chiều lạnh, tối xuống mau, tôi vẫn ngồi
trầm ngâm ngoài vườn sau nhà, mắt lơ đãng nhìn theo con sóc nhỏ đang nhảy chuyền
từng cành cây nầy qua cành cây khác. Lá cây đã sẫm một màu đen theo bóng đêm, nếu
con sóc không nhảy nữa thì tôi cũng không phân biệt được bóng hình của nó giữa
tàn lá rậm rạp.
Bỗng một ánh sáng vàng chập choạng soi mờ mờ cảnh vật, tôi
nghe vợ tôi lên tiếng:
– Trời sụp tối. Sao anh không vô nhà. Ngồi ngoài trời dễ bị cảm
lạnh đó”.Vợ tôi cầm cây đèn cầy lớn bước ra vườn kiếm tôi.
– Em đứng yên đó, rồi đưa ngọn đèn lên cao…lên cao chút nữa…
Khỏi đầu…giữ ngọn đèn ở tầm cao khỏi đầu một chút.
Vợ tôi chưa biết tại sao tôi bảo vậy nhưng vẫn làm theo ý của
tôi. Nhờ có ánh đèn, tôi nhìn lên nhánh cây thấy con sóc cũng đang nhìn ánh
đèn, đôi mắt nó long lanh. Con sóc đứng yên một chút, nghển đầu lên, nghiêng
qua, nghiêng lại như cố vảnh tai lên để lắng nghe động tĩnh, rồi nó vụt nhảy
qua nhánh cây khác. Tôi nói như la lên:
– Em rọi theo…rọi đèn theo… coi con sóc nó đã nhảy đi đâu?
– Nó nhảy đi mất rồi! Đêm tối, nó cũng phải đi kiếm chỗ để ngủ
chớ…Mà… mà anh nhìn theo con sóc để làm gì? ‘
– Hồi nãy con sóc nằm im như ôm sát nhánh cây. Khi có ánh đèn
của em soi tới, nó ngẩng đầu lên như một nghệ sĩ trên sân khấu vừa được ngọn
đèn màu rọi sáng… Nó bừng tỉnh, cất cao đầu lên, đôi mắt long lanh.. Nó làm cho
anh nhớ đến ánh mắt của người nữ diễn viên dưới ánh đèn màu… Thật là quyến rũ,
thật là mê ly, truyền cảm..
– Khổ thật, xa sân khấu hơn mười lăm năm rồi, vậy mà anh vẫn
không quên…Đi…đi vô nhà với em, ở ngoài trời sương lạnh lắm.
Vợ tôi nắm tay tôi, hai chúng tôi lặng lẽ đi bên nhau. Vô
trong nhà rồi, vợ tôi định thổi tắt ngọn đèn cầy vì đã có ánh đèn điện sáng
choang, nhưng tôi bảo vợ tôi tắt đèn điện, tôi thích ánh sáng vàng nhạt của ngọn
đèn cầy.
– Anh… anh vẫn nhớ tới đôi mắt của … của nữ diễn viên nào?
Tôi bật cười:
-Anh đã hơn tám mươi rồi, đâu còn nhớ đến một đôi mắt riêng
biệt nào. Ánh mắt của một nữ diễn viên trên sân khấu, bấy nhiêu đó cũng đủ để
mà nhớ đời rồi. Em nhìn vô mắt của anh, em thấy gì không?
Vợ tôi nhìn kỹ vô mắt tôi, một lúc sau nói nhỏ:
– Thấy! Em thấy bóng của em, cũng như mấy mươi năm trước,
trong ánh mắt đằm thắm của anh! Anh…anh thử nhìn vô mắt em, anh thấy gì không?
”
– Nhìn vào mắt em, anh thấy… thấy một người, mái đầu đốm bạc,
và những nếp nhăn hằn sâu trên khóe mắt…
– Không… không phải bóng anh vì anh không già như vậy đâu…
– Anh chưa nói hết…Mái tóc bạc và những nếp nhăn trên ánh mắt
là của diễn viên Ngũ Tử Tư trong tuồng Tây Thi Gái nước Việt… Hình ảnh kỷ niệm
của đêm hát mà hai chúng mình mới gặp nhau và yêu nhau hơn năm mươi năm về trước.
Nhìn vào mắt em, anh thấy hiện lên những kỷ niệm của chúng mình gắn liền với biết
bao kỷ niệm của các nghệ sĩ thân thương dưới vòm trời nghệ thuật.
– Hôm nay sao anh lạ vậy? Sao lại nhắc những chuyện xưa?
– Có lẽ vì ánh nến chập choạng trên vòm lá khiến cho anh nhớ
lại những đêm hát chầu cúng kỳ yên ở các làng mạc xa xôi… Lâu lắm rồi… khoảng
năm 1943, cách nay hơn 60 năm…
Hồi đó, tôi vừa tốt nghiệp Bách khoa kỹ nghệ thì nhà trường
phân bổ cho tôi vô làm việc ở Sở Bưu Điện Saigon. Tôi được nghỉ phép ba tháng
trước khi nhận nhiệm sở nên tôi về quê tôi ở MỹTho, thăm gia đình và để gặp gỡ
các bạn học cũ thời trung, tiểu học. Nhưng chỉ mới được một tuần lễ là tôi muốn
trở về Saigon ngay vì ở dưới tỉnh lẻ, không khí thật là yên tĩnh, buồn bã.
Má tôi muốn cưới vợ cho tôi ở dưới tỉnh để khi nào tôi lên
Saigon làm việc thì tôi để vợ tôi ở lại quê nhà để giúp má tôi trong việc mua
bán, trông nom vựa bán trái cây ở chợ Mỹ Tho. Như vậy thì hàng tuần tôi phải trở
về MỹTho chớ không có thể đi biền biệt như những năm qua.
Hồi đó, trong thập niên 1930, 1940, việc dựng vợ gả chồng ở
các tỉnh lẻ thường là do cha mẹ định đoạt qua lời giới thiệu của các ông mai bà
mai. Má tôi muốn tôi cùng đi với bà về quận Cao Lãnh để coi mắt vợ vì Dì ruột của
tôi có vựa mua bán trái cây ở chợ Cao Lãnh, bà ưng ý một cô gái ở xã An Bình
nên bà muốn hỏi cưới cô gái đó cho tôi.
Tôi là đứa con dễ dạy trong gia đình. Má tôi muốn tôi cưới vợ
ở dưới tỉnh thì tôi vâng lời, theo bà đi “coi mắt” cô vợ tương lai, sẵn dịp tôi
đi thăm Dì Tư của tôi ở quận Cao Lãnh, như vậy vui hơn là ở loay hoay hoài
trong cái tỉnh Mỹ Tho quá quen thuộc.
Đi coi mắt vợ! Bây giờ nghĩ lại thiệt là mắc cỡ, thiệt là kỳ
cục.
Đi đò máy từ tỉnh Sa Đéc, đò qua vàm Cái Tôm… đò chạy dọc
theo cù lao An Tịnh một đoạn khá xa, hai bên bờ sông vườn tược xum xuê, tôi thấy
lác đác vài ngôi nhà mái ngói đỏ, còn lại là nhiều nhà tranh vách lá. Tôi không
biết nhà của cô vợ tương lai của tôi, ở nhà ngói hay nhà lá? Dầu sao thì trước
mắt tôi là cả một vùng quê trù phú, vườn cây trái nối tiếp nhau tưởng chừng như
không bao giờ dứt ở hai bên bờ sông khiến cho tôi mơ màng dệt mộng. Cô vợ chưa
cưới của tôi phải là con gái cưng của một nhà địa chủ, phú nông, dư ăn dư để.
Người con gái đó nhất định là sẽ thùy mị, dễ thương; nước da
nhứt định sẽ trắng mịn, môi đỏ như son vì tiếng đồn là con gái Cao Lãnh, Sa
Đéc, Vĩnh Long đẹp nhứt xứ! Tiếng nói của cô nàng chắc chắn sẽ êm tai như mình
được nghe giọng hò câu hát… Gia đình bên vợ tương lai của tôi chắc chắn sẽ hãnh
diện với bà con hàng xóm vì con gái của ông bà được một thầy ký từ Saigon xuống
“coi mắt ” để xin cưới! Tôi đang suy tính coi nên ăn mặc như thế nào, cử chỉ
nói năng ra làm sao khi lần đầu tiên đến nhà gái, để tỏ là mình có học, sang trọng,
lịch lãm… Tôi dự tính những câu nói đầu tiên khi tôi gặp người con gái xa lạ mà
chỉ qua lời mai mối của Dì tôi, bỗng trở thành thân yêu, trở thành người bạn
trăm năm của tôi…
Bỗng tôi nghe tiếng người cười nói xôn xao…Tiếng rồ lớn của
chiếc đò máy cắt đứt dòng suy tư mơ mộng của tôi. Đò từ từ cặp bến, trên cầu
tàu, có nhiều người đến đón rước thân nhân hoặc để nhận hàng hóa. Dì Tư của tôi
và mấy bà bạn đứng trên cầu tàu đã nhìn thấy má tôi và tôi. Dì vẫy tay kêu rối
rít.
Tôi là người nhanh nhẹn, nếu bình thường khi gặp Dì tôi ra
đón ở bến tàu, tôi lập tức nhảy lên bờ, chạy ngay lại để mừng Dì tôi. Nhưng lần
nầy, tôi đi coi mắt vợ, có thể có người bên nhà gái ra bến tàu coi mắt chàng rể
tương lai, nên tôi phải thận trọng, đi đứng chững chạc, không tỏ ra hấp tấp, có
thể khiến cho bên nhà gái sẽ chê cười tôi. Tuy nhiên tôi cũng liếc mắt quan sát
những cô gái đứng gần bên Dì tôi, thầm suy đoán coi cô nào sẽ là người chủ nợ
trăm năm của đời mình?
Gái Cao Lãnh đẹp thiệt! Cô nào cũng nước da trắng hồng, miệng
cười rất có duyên, đôi mắt long lanh sáng, nhìn mình như muốn tâm sự điều gì…
Tôi ngơ ngẩn.., thấy cô nào cũng đáng yêu hết, hõng biết là nên chọn cô nào! Ý,
tôi chợt nhớ ra là Dì Tư tôi đã chọn vợ cho tôi, ở xã An Bình, không phải là một
trong những cô nầy đâu.
Chợ Cao Lãnh náo nhiệt, người mua kẻ bán đông vui, ít xe cộ
trên đường phố nhưng dưới bến sông thì ghe xuồng đông ken như là một khu chợ nổi
giống như bến sông Ông Lãnh trên Saigon. Tôi tò mò quan sát sinh hoạt của cái
quận ly bé nhỏ nhưng rất yên tĩnh hiền hòa mà trong một tương lai không xa, đây
sẽ là quê hương bên vợ của tôi. Tôi lặng lẽ đi sau lưng má tôi. Bà và Dì của
tôi bận tâm nói chuyện về những bạn hàng mua bán, những mối lái hàng trái cây
và thuốc rê Cao Lãnh, có lẽ hai bà đã quên mất việc tôi đi “coi mắt” vợ ở một
cái vùng thôn quê cách Saigon xa lơ xa lắc này.
Nhà của Dì tôi ở xa chợ Cao Lãnh, phải đi qua cầu đúc rồi đi
theo con đường đá xanh hướng về xã Tân An, Hòa An. Sát bờ bên trái là những vườn
cây xoài tượng, vườn cam, vườn cây vú sữa; phía bên phải, dọc theo bờ sông có một
hàng cây bông gòn. Dì tôi thấy tôi nhìn quanh quẩn quan sát, bà sợ tôi chê vùng
thôn quê quá yên tĩnh này, bà nói:
-Về nhà nghỉ ngơi cơm nước xong, tối nay Dì dẫn ra chợ coi
hát cải lương. Có gánh hát Tiến Hóa…(tới đây, Dì tôi day qua hỏi má tôi) Chị
Ba, chị có nhớ thầy giáo Trương Gia Kỳ Sanh không? Cái ông thầy giáo ở đối diện
với căn phố của thầy Hài đó, qua khỏi cầu quây một đỗi, nhà của thầy Kỳ Sanh ở
gần tiệm chụp hình Vinh Ký đó, nhớ chưa?
– Nhớ, mà Dì nhắc tới ông giáo Sanh chi vậy?
– Thì ông Trương Gia Kỳ Sanh là Bầu của gánh hát Tiến Hóa,
hôm gánh hát mới dọn đến, em đi chợ có gặp ổng, ổng nhận ra em là người cùng
quê cùng xóm ở tỉnh Mỹ Tho, ổng mừng lắm, nói chuyện huyên thuyên… Rồi ổng mời
đi coi hát… Mời là mời miệng vậy thôi, chớ em cũng phải mua hết hai cái vé thượng
hạng, tám cắc một vé chớ hõng phải rẻ đâu.’
Nhắc tới ông Trương Gia Kỳ Sanh, tôi liền nhớ tới ông thầy
giáo vui tánh nầy. Ông Sanh dạy lớp nhứt A trước thầy Chợ, sau đó là thầy Khịa.
Khi thầy Khịa được thăng lên làm Giám đốc trường Tiểu học Mỹ Tho thì thầy Sanh
đã nghỉ dạy học. Thầy có một người vợ kế là đào hát, cô Năm Nam, đào võ, nổi tiếng
qua vai Triệu Tử Long trong tuồng Lưu Bị cầu hôn Giang Tả. Thầy giáo Trương Gia
Kỳ Sanh lại là một soạn giả cải lương nổi tiếng, bút hiệu Trúc Viên, thầy còn
là kép hát chuyên thủ vai Lưu Bị, Khổng Minh tức là những kép văn, mặt trắng.
Thầy giáo Sanh mê cải lương, bỏ tiền ra lập gánh hát Tiến Hóa, mời Út Trà Ôn về
làm kép chánh. Diễn viên nam có Văn Ngân, Paul Tấn, Ba Du, Tám Mẹo, diễn viên nữ
có Năm Nam, Ba Liên, Hai Hỷ, Năm Bé, Ngọc Sương, Sáu Nguyệt…
Gánh hát Tiến Hóa chuyên hát tuồng Tàu:
* Quan Công phục Huê Dung Đạo,
* Lưu Bị Cầu Hôn Giang Tả,
* Khổng Minh thiệt chiến quần nho,
* Quan Công phò nhị tẩu,
* Từ Thứ qui Tào,
* Trương Phi thủ Cổ thành,
* Tam khí Châu Do,…
nên khi hát ở các tỉnh Hậu Giang, đoàn hát Tiến Hóa rất là ăn
khách. Các Ban Triều Châu, Quảng Đông ở Chợ Lớn công nhận đoàn hát Tiến Hóa hát
tuồng Tàu (đời Tam Quốc) rất là hay nên họ tặng cho đoàn hát một tấm trướng
thêu bốn chữ “Toàn Hảo Chi Ban ” mà Bầu gánh hát Trương Gia Kỳ Sanh đi hát ở
đâu cũng đem treo tấm trướng Toàn Hảo Chi Ban đó trước cửa rạp hát.
Má tôi nói:
– Coi kia… cái thằng… nghe nói cho coi hát cải lương thì cặp
mắt của nó sáng rỡ… Bên nhà gái hẹn thứ bảy này mới mời má con mình với Dì Tư
và mấy bà bạn tới dùng cơm. Họ nói là nhân dịp cúng giỗ, nhưng đó là tạo một dịp
cho con coi mắt con Quyên… Má với Dì phải dặn con khi tới đó thì phải làm sao,
nói năng như thế nào, thưa gởi những ai…
Má tôi còn nói gì thêm nhiều nữa, nhưng tôi chỉ nhớ là cô đó
tên Quyên… Cái tên nghe hay quá, con người nhứt định là phải đẹp! Từ giờ cho đến
thứ bảy là còn ba ngày nữa, tôi sẽ có dịp đi rong chơi trong thôn xóm và có dịp
coi hát cải lương, sau đó tôi sẽ tính tới chuyện đi coi mắt vợ.
Hồi học trường Tiểu học MỹTho, tôi học lớp của thầy Sanh dạy.
Những ngày cuối tháng, thầy biểu tôi vô nhà thầy cộng sổ điểm của cả lớp nên thầy
thương tôi lắm. Bây giờ bất ngờ hai thầy trò gặp lại nhau ở một quận lỵ xa xôi
nầy, nhứt định thầy sẽ mừng rỡ và tôi sẽ được coi hát cọp thoải mái.
Cơm nước vừa xong, tôi nghe tiếng trống đánh ròn rã từ trên
phố chợ di chuyển dần xuống xóm nhà của Dì tôi, tôi chạy ra trước cửa xem…
Gánh hát đi rao bảng, rải chương trình đêm hát.( programme).
Họ mướn một chiếc xe lôi đạp trên chợ, chở hai người trong
đoàn hát ngồi đánh trống và chập chỏa, xe lôi chạy dọc theo bờ sông, qua các
xóm để rải chương trình quảng cáo tuồng hát. Họ quăng từng nắm chương trình lên
cao cho tung bay theo gió. Những tờ chương trình đủ màu bay lượn như những cánh
bướm. Trẻ nhỏ trong thôn xóm chạy theo lượm, reo hò, dành giựt, không khí thật
là vui.
Tôi cũng chạy ra lượm một tờ. Má tôi biểu đọc tờ chương trình
cho bà nghe, tôi nói:
– Tối nay hát tuồng Tam Khí Châu Do, con phải ra mua vé liền
thì mới có chỗ tốt. Con sẽ về liền, nghe má.
Nói rồi tôi đi liền vì tôi sợ Dì tôi ngăn cản. Tôi muốn gặp
thầy Sanh, muốn đi dạo phố chợ một mình, hưởng một chút tự do trước khi phải sống
gò bó theo phong thái phải có của một anh chàng trai đi coi mắt vợ.
Tôi gặp thầy giáo Sanh, ông bầu gánh hát Tiến Hóa tại tiệm cà
phê bên hông chợ. Ông ngạc nhiên không hiểu sao tôi lại lò mò tới cái quận nhỏ
nầy vì ông biết là nhà của tôi ở MỹTho. Ồng dẫn tôi vô gánh hát, giới thiệu tôi
với vợ ông, cô đào chánh Năm Nam và các nghệ sĩ Út Trà Ôn, Văn Ngân, Ngọc Thạch,
Ba Du, Ba Liên, Tám Mẹo…
Các nghệ sĩ nói chuyện tự nhiên, vui vẻ. Họ xa Saigon đi hát ở
miền lục tỉnh cũng khá lâu rồi nên nhớ Saigon, họ hỏi đủ thứ chuyện. Còn tôi
thì tò mò muốn biết cuộc đời phiêu bạt rày đây mai đó của người nghệ sĩ như thế
nào nên chúng tôi nói chuyện với nhau tưởng chừng không bao giờ dứt chuyện.
Kép Văn Ngân( lớn hơn tôi hai tuổi) dẫn tôi ra sân khấu coi.
Sân khấu được dựng trong nhà lồng chợ, người ta kê tám cái
thùng dầu hắc làm cột, ở trên lót đà cây và ván. Thùng dầu hắc thì mượn của Ty
Công Chánh sở tại, họ đang tráng nhựa con đường sau nhà thương, hướng đi về
Đình Trung xã Mỹ Trà. Ván và cây thì mướn của nhà vựa bán cây tràm và đưng lợp
nhà ở sát bờ sông. Vì mái chợ cao chưa tới ba thước nên tấm phông vẽ đền vua phải
cuốn lại mất một phần ba cảnh, mới nhìn tưởng như cung điện của nhà vua cao
ngút tới mây xanh. Đèn hai bên cánh gà đựng trong hai cái máng cây, như mấy cái
máng đựng cám cho heo ăn nhưng nhỏ hơn và được dựng đứng. Mỗi máng có tám bóng
đèn, mỗi bóng một trăm watts, hai bóng bịt giấy kiếng đỏ, hai bóng bịt giấy kiếng
xanh, bốn bóng trắng. Cánh gà dùng vải xanh che thay cho các tấm cánh gà vẽ cột
rồng vì cánh gà của đoàn hát đóng cao quá, đem vô chợ để trên sân khấu không được.
Dì tôi thấy tôi đi lâu quá không về, bà ra chợ kiếm. Tôi nói
mua được hai vé hát ở hàng đầu để cho má với Dì coi, tôi vô hậu trường chơi với
các nghệ sĩ và ông bầu Sanh. Dì tôi cầm giấy hát trở về nhà.
Những anh làm dàn cảnh của gánh hát bắt đầu quét dọn chợ, rửa
chợ, sắp đặt các ghế xếp có dán số sau lưng theo như plan bán vé hát. Phía sau
chừa khoảng gần 5 thước từ vách sát cửa vô rạp tới sát hàng ghế hạng nhì để cho
khán giả hạng ba, hạng mua vé đứng. Một số anh em dàn cảnh khác đang che những
tấm “cà tăng” quanh nhà lồng chợ để biến cái chợ quận trở thành một rạp hát.
Ngay cửa dành cho khán giả vô coi hát, có một cái bàn nhỏ để bán vé cho những
người tới mua vé trễ.
Sáu giờ chiều là người trong đoàn hát ra đánh trống, đánh chập
chỏa rất là xôm như trống múa lân để quảng cáo. Khán giả ở trong các xẻo sâu,
trong mương Điều, ở xã Hòa An, Tân An đã lục tục kéo ra chợ, chờ coi hát. Trước
rạp hát, nhiều tiệm bày bàn ghế ra để bán cà phê, nước đá, nước ngọt, bánh
trái. Có nhiều gánh bán cháo cá, hủ tiếu, bánh canh, chè.. Người đến mỗi lúc một
đông, ồn ào, náo nhiệt, không khí vui như một ngày hội trong quận.
Ở quận Cao Lãnh, trong thập niên 1940, nhà đèn chạy bằng dầu
mazout nên chỉ đủ cung cấp điện cho nhà thương, dinh ông quận, một số nhà dân
có đóng tiền dùng đèn điện. Đèn đường thì có một số ít ngọn, chỉ sáng một màu
vàng mù mờ. Các tiệm quán bán đêm thường phải thắp thêm đèn tọa đăng hoặc đèn
măng-xông. Tới 10giờ đêm thì nhà đèn cúp điện trong các nhà dân, chỉ còn cung cấp
cho dinh quận, bót gác, nhà thương và một số đèn đường. Khi gánh hát tới mướn
chợ che cà- tăng để hát thì mỗi đêm hát, ông Bầu gánh phải trả 50 đồng tiền điện,
hai trăm đồng tiền mướn chợ, mướn ghế xếp và tiền mướn cảnh sát giữ trật tự.
Đèn điện chỉ được dùng trong hậu trường để nghệ sĩ hóa trang và trên sân khấu
khi nghệ sĩ hát. Vì vậy gánh hát phải đốt thêm hai ngọn đèn măng- xông để trước
cửa và một ngọn măng-xông khác trong khán phòng. Khi nào bắt đầu hát thì sẽ tắt
cây đèn trong khán phòng.
Đêm đó hát tuồng Tam Khí Châu Do:
*Ông Bầu Sanh (tức soạn giả Trúc Viên) thủ vai Khổng
Minh cầu đông phong,
*Út Trà Ôn vai Lưu Bị,
*Ba Du vai Châu Do,
*Văn Ngân vai Tôn Quyền,
*Cô Năm Nam giả trai thủ vai Triệu Tử Long,
*Cô Ba Liên vợ của anh Ba Du thủ vai Ngô Quốc Thái…
Toàn là những nghệ sĩ tài danh, ca, ngâm, diễn xuất đều quá
hay. Khán giả vỗ tay từng chập..
Đến lớp Khổng Minh cầu được gió đông, nhờ Triệu
Tử Long cướp thuyền Ngô để trở về với Luu Bị, đề đốc Châu Do đưa
binh truy nã, định bắt giết Khổng Minh nhưng Khổng Minh đã
đi thoát rồi, Châu Do tức quá, hộc máu… Lớp nầy Ba Du diễn xuất thần,
vừa hộc máu ra thì bị cúp điện! Trong rạp hát tối đen, tiếng mọi người bàn tán,
la ó thật lớn. Cảnh sát thổi tu hít và la lớn lên:
– Yêu cầu mọi người ngồi yên. Xin trật tự và im lặng.
Nhiều người vẫn nói xôn xao. Có người cho là vì đoàn hát
không mời nhân viên nhà đèn coi hát nên bị họ phá. Có người nói là gánh hát
không đóng tiền điện nên bị cúp…
Ông Bầu Sanh vẫn còn mang mặt hóa trang vai Khổng Minh,
cầm một cây đèn cầy đốt sáng, khoát màn hát, bước ra giữa mặt tiền sân khấu.
Khán giả im lặng. Ông Khổng Minh tằng hắng một tiếng rồi nói:
– Bổn bang xin cáo lỗi cùng quí khán giả, bổn bang có đóng tiền
đèn cho nhà điện…ủa, nhà điện cho tiền đèn… ý mà nhà đèn nói máy chạy quá sức
nên bị lột dên…Bây giờ tối thui, còn một lớp tuồng thiệt hay nữa, xin cho bổn
bang đốt đèn cầy hát tiếp cho quí khán giả coi chơi cho đủ lớp tuồng….
Ông Bang Xù, chủ chành lúa và nhà máy xay lúa, đứng lên nói lớn:
– Hà, nị hát lèn cầy, ai mà thấy? Ngộ cho nị mượn mấy cây đèn
măng-xông để hát. Chịu thì ngộ biểu mấy đứa nhỏ chạy về nhà lem tới.
– Dạ, cám ơn ông chủ.
– Hầy ông chủ cái gì? Ngộ: ông Bang.
– Dạ, cám ơn ông Bang…
Ông Bầu Sanh lui vô, biểu anh em chờ đèn, hát tiếp.
Tôi nghe anh Ba Du kêu trời: ” Trời ơi, hát tiếp thì tôi làm
sao mà ói máu nữa được? Hết máu trong bụng rồi… ”
– Thì mầy để một chén máu sẵn trên cái bàn, mầy ca hát, tức tối
la lên rồi quay người lại che, đừng cho khán giả thấy, mầy bưng chén máu, hớp một
hớp thật nhiều rồi quay ra phía khán giả mà ói máu…Ông Bầu Sanh nói như ra lịnh.
Ba Du cằn nhằn: Ừ thì phải làm vậy, chớ làm sao bây giờ?
Bốn cái đèn măng-xông được mang tới. Ông bầu biểu đem một cái
đèn măng-xông để bên hông sân khấu chỗ dàn đờn để cho nghệ sĩ hóa trang, thay đổi
xiêm y và cho nhạc sĩ thấy đường để đánh trống, đệm nhạc. Còn ba cái đèn kia
thì mấy anh dàn cảnh bắc thang treo lên cao trước sân khấu. Như vậy thì sân khấu
sáng bạch mà phòng khán giả cũng sáng trưng.
Màn kéo lên hát tiếp. Ba Du – Châu Do ra vuốt râu,
trợn mắt, hét lớn:
– Ta đã để cho Khổng Minh bôn đào. Tức ôi cha chả là tức..”
Ba Du – Châu Do vuốt râu, đấm ngực, quay vô trong,
lấy mình che mắt khán giả, hớp một hớp nước pha đỏ, rồi quay ra, phun phèo
phèo. Vậy mà khán giả cũng khoái, vỗ tay khen ào ào…
Đêm đó vãn hát, ngồi ăn cháo, ông Bầu nói:
– Ngày mai phải đi chạy rạp. Ở đây nhà đèn phá nữa thì hết
hát. Dám rã gánh hát lắm à… Mai nầy tôi sẽ đi An Bình, kiếm mướn đình hay chợ.
– Thầy cho tôi theo với. Tôi muốn biết xã An Bình hay xã Mỹ
Trà.
Ông đồng ý, dặn tôi ngày mai trễ lắm là 9 giờ sáng phải có mặt
tại quán cà phê trong chợ để cùng đi xã An Bình.
Sáng hôm sau, tôi nói với Má tôi và Dì là tôi có bạn học ở xã
Bình Hàng Trung, chúng tôi gặp nhau ở rạp hát hồi hôm, bạn tôi mời lại nhà bạn
chơi, chiều tối tôi về. Má tôi không muốn cho tôi đi nhưng bà Dì nói là cứ để
cho tôi đi chơi với bạn. Bà hy vọng tôi sẽ thích sống ở miệt vườn này và như vậy
thì việc bà chọn vợ cho tôi ở xã An Bình cũng sẽ được thuận lợi hơn.
Ông Bầu chờ tôi trước chợ, thấy tôi đến đúng hẹn, ông bèn dẫn
tôi và anh Tám dàn cảnh ra chợ ăn hủ tiếu, uống cà phê rồi lại bến xe lôi. Xe của
ông đã mướn sẵn, có để một cái trống, chập chỏa, một xấp giấy áp phích và
chương trình đủ màu, in quảng cáo tuồng hát.
Tôi hỏi:
– Bộ thầy đi rao bảng để hát hay sao mà mang theo trống với
nhiều tờ chương trình vậy?
– Không! Nếu mướn được chỗ hát thì mình dán áp phích và rải
chương trình quảng cáo luôn. Phải chở theo cho nó tiện. Nếu không có địa điểm
hát thì ngày mai mình rời qua rạp Sa Đéc”.
Tôi nghe ông Bầu nói vậy là tôi không muốn đi theo ổng vì nếu
mướn được đình hay chợ để hát, ổng đánh trống, rao bảng, tôi ngồi chung xe lôi
đó, rủi mà bên nhà vợ chưa cưới của tôi nhìn thấy tôi, đến khi tôi đi coi mắt vợ
thì rắc rối lắm. Nhưng ông Bầu đâu có biết tâm sự của tôi, ổng kêu tôi lên ngồi
gần bên ổng, để anh Tám ngồi phía càng xe, rồi ổng bảo anh đạp xe lôi cho xe chạy.
Ông nói thêm cho tôi yên lòng:
– Mầy đi theo tao chơi, chừng không thích thì mầy lội bộ về.
Không có xa lắm đâu.
Xe chạy được một đoạn đường, ông nói:
– Con lộ đá phía sau nhà thương Cao Lãnh chạy thẳng qua cầu sắt
là tới Đình Trung. Ở đó quẹo trái là có con lộ đất lớn đi về xã Mỹ Ngãi, cũng
đông dân cư lắm. Đi thẳng có một con đường lộ băng qua đồng ruộng, độ một cây số
là tới xã An Bình. Tại xã An Bình có một con lộ đất rộng lớn đi qua xã Mỹ Thọ,
rồi thẳng một đường đi qua các xã Bình Hàng Trung, Bình Hàng Tây, Mỹ Long, Mỹ
Hiệp. Sức trai như mầy, đi một hơi qua ba, bốn xã chừng vài tiếng đồng hồ, hỏng
có lạc đường đâu mà mầy sợ. Mầy có đem tiền theo trong túi không? Nè, tao cho một
đồng bạc, dằn túi. Dọc đường có bán bánh ú, bánh tét, có bán cam, bưởi, dừa
xiêm… không sợ đói khát. Mầy theo tao một lát cùng ngồi xe lôi mà về. Chừng như
mầy chờ tao ở Ban Hội Tề lâu quá thì mầy thả bộ đi chơi đâu đó rồi lội bộ trở
chợ quận. Mầy nhớ đường chớ?
Tôi không muốn lấy nhưng ổng đã nhét tiền vô trong túi của
tôi, tôi không tiện trả lại ngay vì sợ làm phật ý của ổng. Tôi thầm tính trong
bụng, khi qua tới xã An Bình, tôi mượn cớ đi loanh quanh xem cảnh vật rồi tôi
đi bộ trở về Cao Lãnh. Như vậy dầu cho ông đánh trống hay hát bội trên xe lôi
thì cũng chẳng có can dự gì tới tôi.
Tới Đình Trung, ông nói:
– Nếu hát được ở xã Mỹ Trà thì hay lắm. Người ở Chợ Cao Lãnh
qua coi cũng được mà ở xã Mỹ Ngãi hay xã An Bình qua coi cũng tiện đường về.
Lúc nầy có trăng sáng, lại chưa phải lúc gặt lúa hay tới mùa cam quít nên dân
chúng rảnh rang, họ sẽ đi coi hát đông lắm. Tụi bây chờ tao nghe hông?”
Nói rồi ông nhảy xuống xe, đi thẳng lại Nhà việc của Ban Hội
Tề xã Mỹ Trà.
Anh đạp xe lôi tự giới thiệu tên là Sáu Hộ, anh dẫn anh Tám
và tôi lại ngồi trong nhà mát. Anh Sáu Hộ lấy ra một cái túi nhỏ đựng thuốc rê,
mời tôi với anh Tám mỗi người vấn một điếu, hút thử. Anh Sáu vừa vấn thuốc vừa
nói:
– Thuốc rê Xiêm mẳng của Xã Tân An, Hòa An nổi tiếng là thuốc
lá ngon số dách. Lá thuốc được xắt thật nhuyễn, màu thuốc vàng tươi. Lấy tay rờ
thì bánh thuốc êm mịn như nhung, hơi rít rít tay một chút vì nhựa thuốc. Đốt
hút thì tàn thuốc trắng phau, mùi thuốc nặng mà êm chớ không hét như thuốc Gò Vấp.
Hút một điếu thuốc rê Xiêm mẳng của xã Tân An, Hòa An rất ngon, đã ghiền hơn là
hút nguyên một gói thuốc lá Bách Tô ( Bastos) hay thuốc Mélia vàng.
Tôi cũng hút thử một điếu thuốc rê Xiêm mẳng, phải công nhận
là thuốc ngon, hơi nặng mà êm dịu, hút đã ghiền như lời anh Sáu Hộ giới thiệu.
Chúng tôi hút chưa tàn điếu thuốc thì ông Bầu Sanh từ nhà việc của Ban Hội Tề
xã bước ra, tay cầm tờ giấy có đóng mộc đỏ chói. Ông cười hề hề:
– Xong rồi… Có giấy phép đây. Phương, mầy phụ với tao dán áp
phích, lựa chỗ nào dân chúng hay qua lại để họ thấy. Không cần biết chữ, không
cần đọc tựa tuồng, ho thấy áp phích của tao có vẻ hai cái mặt nạ “khóc cười” là
họ biết có gánh hát tới. Tám, mầy đánh trống, anh đạp xe lôi chở thằng Tám chạy
qua xã An Bình rải chương trình quảng cáo rồi quành về đây rước tôi với thằng
Phương.
Tôi khỏi phải đi theo xe lôi có đánh trống quảng cáo là tôi
yên lòng vì khỏi phải qua xã An Bình với anh Tám, tôi không sợ gặp những người
bên nhà gái. Ở xã Mỹ Trà, chỉ dán vài tờ áp phích phụ với ông Bầu, xong rồi tôi
thả bộ tà tà đi qua xã An Bình rồi lội bộ về Cao Lãnh.
Khi tôi với ông Bầu Sanh tới dán áp phích trên cột nhà mát
Đình Trung, có ba cô gái thật đẹp, mặc áo bà ba bông màu sắc trang nhã, đi đến.
Các cô hiếu kỳ, ghé lại coi mấy tấm áp phích. Một trong ba cô hỏi ông Bầu:
– Chú ơi chú, gánh hát hát ở Mỹ Trà mấy bữa? Có dọn qua hát ở
An Bình, Mỹ Thọ hay Bình Hàng Trung không hả chú?
– Chỗ nào có rạp hát, có đình, chợ, hát được thì gánh hát của
chúng tôi đến hát. Tối nay chúng tôi sẽ hát ở Mỹ Trà, mời các cô đến xem..
– Ông ơi, cho con nhỏ nầy nó theo gánh hát với, nó biết đờn ạt-mô-nhum
đó( loại đàn phong cầm dùng trong nhà thờ Thiên chúa)
– Chị kỳ quá hè… Bác ơi, chỉ nói đùa để ghẹo cháu đó. Cháu đờn
trong nhà thờ cho Ban đồng nhi ca, đờn cho gánh hát sao được.
Cô bé biết đờn ạt-mô-nhum, đẹp như một con búp bê Nhựt Bổn.
Đôi mắt sáng long lanh, chân mày cong lá liểu, môi đỏ như son, nước da trắng hồng
và mịn như tơ nhung. Tiếng nói của cô rất trong, rất êm. Chỉ mới nhìn thấy ánh
mắt, nụ cười và nghe giọng nói dịu dàng êm đềm của cô bé, trong lòng tôi đã xao
xuyến, đã ước mơ…
Tôi nói:
– Cô đẹp quá! Nếu cô theo gánh hát, không cần đờn, không cần
ca, chỉ cần cô bước ra sân khấu nở một nụ cười, khán giả nhìn cô sẽ sững sờ, sẽ
chóa mắt như nhìn thấy một ngọn đèn ngàn nến….
– Thiệt vậy hả anh? – Cô gái hồn nhiên hỏi tôi.
– Thiêt!.. Thiệt… Tôi nhìn cô nãy giờ mà tôi… tôi có cảm giác
lâng lâng như đang ở trên mây… hồn vía phiêu bạt dật dờ đâu mất…
– Anh nói chuyện nghe vui quá. Anh là kép hát hả? Anh đóng
vai gì.
Cô bạn của cô gái xen lời, tôi chưa biết trả lời làm sao thì
ông Bâu Sanh đỡ lời:
– Anh nầy làm thầy ký trên Saigon, học trò cũ của tôi ở trường
Mỹ Tho. Anh xuống thăm tôi. Anh cũng chưa theo gánh hát. Nếu ảnh theo thì tôi
cho ảnh làm Vua.
Các cô cùng cười:
– Ông Vua… Làm Vua…hay quá…
Anh Tám và anh Sáu Hộ về tới. Tiếng trống đánh rộn rã như
thúc dục, như gọi mời. Trẻ nhỏ trong các xóm túa ra, quây quần bên chiếc xe
lôi. Ông Bầu lên cầm chập chỏa, hòa với nhịp trống của anh Tám. Tôi cũng cao hứng
lên ngồi kế bên, lấy từng xấp chương trình tung cao lên như những đàn bướm bay
lượn chập chờn. Các trẻ nhỏ đua nhau lượm chương trình. Xe chạy qua cầu sắt trở
về Cao Lãnh. Tôi đưa tay vẫy chào ba cô gái mới gặp bên đường. Các cô cũng cười,
vẫy tay đưa tiễn.
Xe chạy một đoạn khá xa, tôi chợt nhớ:
– Hồi nãy quên hỏi tên của ba cô, quên hỏi địa chỉ.
Ông Bầu cười xòa:
– Nếu trò theo gánh hát, phải cần có một quyển sổ dày như cuốn
dictionnaire thì mới ghi đủ tên những cô gái đẹp gặp trên đường lưu diễn.
Đêm hát ở xã Mỹ Trà, tôi không có đi xem, không biết ba cô
gái gặp bên đường buổi sáng đó có đi coi hát hay không. Tôi nhớ hoài giọng nói,
nụ cười và đôi mắt đẹp của cô bé.
Ngày thứ bảy, ngày tôi đi coi mắt vợ đã tới. Tôi mặc bộ âu phục
bằng vải Tussor, thắt cà vạt, đi giày da Italie đúng mode. Cùng đi với hai má
con tôi, Dì Tư và vợ chồng mấy bà bạn của Dì, khăn đóng áo dài nghiêm chỉnh.
Đoàn bên nhà trai đi qua xã An Bình trên hai chiếc xe thổ mộ. Tôi ôm cặp rượu
Rhum, Dì tôi và bạn cầm mấy hộp bánh và một cái quả tráp đựng mứt.
Xe qua tới xã An Bình, chạy qua khỏi nhà thờ An Bình, tôi thấy
mấy ngôi nhà ngói cất gần nhau trong một vuôn vườn rộng. Đó là nhà của gia đình
cô gái mà Dì tôi muốn hỏi cưới cho tôi. Xuống xe, qua vòm cổng bằng cây bông
dăm bụp, chúng tôi đi độ hơn mười thước nữa mới tới nhà. Tôi thấy lố nhố nhiều
người nhìn ra, chỉ chỏ, tôi lúng túng, chân bước không còn được tự nhiên. Vô tới
nhà, tôi chấp tay xá ông bà, cha mẹ của cô gái. Được giới thiệu người nào, tôi
cũng chấp tay xá xá…
Dì tôi và những bạn bè của Dì là bạn thân của gia đình cô gái
đó nên gặp nhau vui vẻ, nói chuyện thân mật. Tôi đảo mắ nhìn quanh, bỗng như bị
sét đánh ngang đầu, tôi lùng bùng trong lổ tai, choáng váng. Trời ơi, cái con
nhỏ đẹp mà tôi gặp bên xã Mỹ Trà mà tôi không tiếc lời khen hôm trước, đó là cô
Quyên, người mà Dì tôi muốn hỏi cưới cho tôi.
Gia đình của cô Quyên chỉ có hai chị em. Chị lớn tên Láng, có
chồng là anh Hậu, thương buôn. Cô Quyên mới có 18 tuổi, ở nhà giúp mẹ dệt khăn,
dệt vải, những ngày chúa nhựt, ngày lễ thì đi đàn phong cầm trong nhà thờ cho
Ban đồng nhi hát thánh ca. Cô Quyên nhìn sững tôi, tôi cũng không biết là phải
đào một cái lỗ nào dưới đất để mà chui trốn. Tôi có cảm tưởng đôi mắt của cô
nhìn tôi rất buồn, trách cứ là tôi dối trá. Đi theo gánh hát làm Vua mà nói là
thầy ký trên Saigon! Ở thôn quê, người ta thích coi hát, nhưng nếu có con theo
hát bội thì …”mẹ liều con hư”.
Vậy đó, lần đầu tiên đi coi mắt vợ, bị nhà gái chê, hỏng cưới
được vợ chỉ vì ham vui theo chơi với các bạn trong gánh hát.
Năm sáu năm sau tôi cưới được vợ tôi và chung sống hơn năm
mươi năm, tôi vẫn sống cuộc đời nghệ sĩ… lang thang, nhưng nhờ có tình yêu và
nhờ nơi gia đình bên vợ và vợ tôi không có thành kiến với cải lương.
Riêng tôi thì khi có ánh nến chập choạng, tôi nhớ tới ánh mắt
của cô Quyên, giống như ánh mắt của những diễn viên tài danh như Phùng Há, Năm
Phỉ, Thanh Nga, Lệ Thủy… những ánh mắt long lanh gợi những trận bão lòng trong
tôi.
CHỌN NGHỆ DANH CỦA
nghệ sĩ cải lương
Sau lần đi “coi mắt” vợ, bị nhà gái chê vì tưởng lầm tôi là
kép hát cải lương, tôi trở về Saìgòn làm việc, trong bụng định là không bao giờ
tôi đặt chân trở lại cái quận Cao Lãnh nữa, một miền quê trù phú, dân chúng hiền
lành nhưng dường như nơi đó không có chỗ nào để dung chứa tôi.
Là một thanh niên học hành đỗ đạt, khi ra trường thì được làm
việc ngay cho nhà nước, tôi tự hào là mình cũng đẹp trai, không say mê tứ đổ tường,
một thanh niên có hoài bão, có tương lai, vậy mà tại sao con gái Cao Lãnh lại
chê tôi? Tại sao?
Lòng tự ái bị tổn thương, tôi tự trách là vì tôi không nghe lời
ngăn cản của má tôi, theo ông bầu gánh hát Tiến Hóa đi Mỹ Trà, lại còn phụ với ổng
đánh trống khua chiêng, rải chương trình của đoàn hát, trong khi mà bên nhà gái
còn nặng thành kiến với kép hát, cho là xướng ca vô loại, nên họ từ chối không
gả con gái của họ cho tôi. Nhưng tại sao họ không điều tra kỹ? Tại sao họ không
tin lời giới thiệu của Dì tôi? Mà dầu cho tôi là kép hát cải lương thật thì có
gì là xấu đâu? Nghề hát cải lương cũng là một nghề lương thiện, phải đổ mồ hôi,
phải lao tâm nhọc trí đem nguồn vui lại cho khán giả thì mới được khán giả trả
thù lao cho. Không phải đi cướp giựt hay lường gạt người khác để thủ lợi, tại
sao người ta có thành kiến, coi nghệ sĩ như là những người hư hỏng, những người
đứng bên lề của xã hội. Tôi thắc mắc trong lòng nên tôi quyết tâm tìm hiểu cuộc
đời và tâm tình của nghệ sĩ để tự giải tỏa những ẩn ức của mình.
Trước đây khi tan sở làm, tôi thường đi đến ga xe điện
Cuniac, ngồi ở kiosque bán bia, uống một hai ly bia hơi rồi mới về nhà nghỉ, gần
tám giờ tối tôi mới ăn cơm, nhưng từ cái ngày tôi cưới vợ hụt ở Cao Lãnh về,
tan sở làm là tôi đến bar Lệ Hoa trước rạp hát Thành Xương để uống bia và quan
sát các nghệ sĩ của đoàn hát đang hát tại rạp đó. Cô chủ quán tưởng tôi si cô hầu
bàn nên gạ chuyện mối mai nhưng tôi lắc đầu cười trừ nên họ đoán là tôi mê một
cô đào hát cải lương nào đó.
– Thầy có thể cho biết là thầy muốn làm quen với ai trong
gánh hát nầy không? Tôi quen với nhiều đào, kép hát nên tôi có thể giới thiệu
cho thầy.
Bà chủ quán muốn tấn ơn với người khách rượu… Tôi nói tôi muốn
quen với một cô đào hát… Khi nhắc tới đào hát, tôi chợt nhớ đến đôi mắt rất buồn
của cô Quyên trong ngày tôi đi coi mắt cô ở xã An Bình. Thuận miệng tôi đọc
luôn mấy câu thơ:
Đôi mắt em lặng buồn
Nhìn thôi mà chẳng nói
Tình đôi ta vời vợi
Có nói cũng không cùng.
Em là gái trong khung cửa
Anh là mây bốn phương trời
Anh theo cánh gió chơi vơi
Em vẫn nằm trong nhung lụa. (Lưu Trọng Lư)
Bà chủ quán vỗ tay cười lớn rồi nói:” Tôi biết là ai rồi! Cô
Lệ Thơ! Cô Lệ Thơ có đôi mắt rất buồn, đôi mắt ngây thơ và lúc nào cũng như đẫm
lệ nên các anh ký giả mới tặng cho cô nghệ danh là Lệ Thơ.”
Bà nhìn thấy cô Lệ Thơ đứng trước cửa rạp hát, bà gọi lớn:
– Lệ Thơ… Lệ Thơ! Có thầy nầy muốn kiếm cô nè.
Nữ nghệ sĩ Lệ Thơ bước tới kéo ghế ngồi đối diện với tôi:
– Thầy kiếm tôi có chuyện gì?
Nghệ sĩ Tám Cao
Nghệ sĩ Tám Cao cũng bước hỏi: ” Chuyện gì vậy em?.” Rồi anh
day qua hỏi tôi: ” Thầy kiếm vợ tôi chi vậy?”
– Trời đất! Tôi đâu có kiếm vợ anh… mà tôi cũng chưa hề quen
biết hay nói chuyện gì với chị … Tôi đang thất tình, bà chủ quán hỏi tôi, tôi
nói tôi nhớ một cô gái có đôi mắt buồn. Vậy rồi bà chủ quán kêu chị Lệ Thơ lại,
nói đôi mắt của chị lúc nào cũng như đẫm lệ… Cái chữ Lệ đó ám ảnh
tôi, tôi chưa biết phải ăn nói làm sao với “chỉ” thì anh đến…
– Bây giờ thì thầy biết phải nói gì rồi chứ?
– Biết… Biết… Bà chủ quán… Cho hai chai bia… tôm khô, củ kiệu,
đậu phộng rang … Mời anh… mời chị cạn ly, tụi mình kết bạn, vậy được hông?
– Thầy cũng nhanh trí, mau miệng… và chịu chơi!… tụi nầy đùa
với thầy thôi…
– Trước hết, xin anh tha cho tôi cái tiếng kêu thầy đó
đi. Tôi tên Phương…anh chị cứ kêu là thằng Phương là được rồi…
Trong lúc nhậu lai rai, tôi kể lại cái chuyện tôi đi coi mắt
vợ và bị bên nhà gái chê. Tôi nhớ cô Quyên, cô gái có đôi mắt buồn đó và tôi đặt
tên cô ta là Lệ Quyên. Bà chủ quán Lệ Hoa mới kêu chị Lệ Thơ lại để phá tôi…
Anh Tám Cao cười, nói:
– Nếu anh muốn kiếm một cô nào có tên bắt đầu từ chữ Lệ thì
trong gánh hát Tiếng Chuông của ông Bầu Cang nầy cũng có cả chục người tên Lệ…
– Có cả chục người tên Lệ?
– Phải! Cả chục! Tôi kể anh nghe: Lệ Thơ là vợ tôi đây, đào lẳng.
Có Lệ Hoa, Lệ Uyển, là đào ca. Thúy Lệ đào độc. Lệ Tuyền, Lệ Thẳm, Lệ Mi, Lệ
Hoa, Mỹ Lệ và Ngọc Lệ là vũ nữ và đào con…
– Hỏng lẽ hết tên để đặt…sao người nào cũng kèm theo một cái
tên Lệ đó vậy…
– Trong đoàn hát, thường là các nghệ sĩ đàn em lấy tên chữ đầu
của người thầy hay nghệ sĩ đàn anh mà họ muốn bắt chước theo lối hát hay giọng
ca để mà đặt thành chữ đầu của tên họ. Ví dụ mấy đứa có tên chữ Lệ vừa kể nó là
đệ tử của Lệ Thơ.
Tôi tên Tám Cao, tôi học theo cách ca luyến láy của nghệ sĩ
Tư Thanh Tao, nên được đặt tên là Thanh Cao, sau đó có các nghệ sĩ danh ca như
Thanh Sơn, Thanh Ngàn, Thanh Minh, Thanh Tùng, Thanh Lệ, Thanh Tuyền, Thanh
Trúc…Thanh Việt, Thanh Thanh vì họ ca vọng cổ có hơi giống anh Thanh Tao và
tôi. Nói một cách nôm na là những người có tên Thanh đứng đầu là cùng chung một
lò nghệ sĩ, một kỹ thuật ca….
– Anh nói tôi hiểu rồi, như nghệ sĩ Út Trà Ôn thì có các nghệ
sĩ học theo lối ca của ảnh là nghệ sĩ Út Hiền, Út Hậu, Út Thôi, Ut Trà Vinh, Út
Bạch Lan…Nghệ sĩ Kim Chưởng thì có các đệ tử là Kim Nga, Kim Hoàng, Kim Ngân,
Kim Ngà, Kim Ngọc, Kim Luông, Kim Lành, Kim Cương…Nhưng theo tôi nghĩ thì có thể
tìm những tên khác nghe hay hơn, lạ hơn là rập khuôn với nhau một chữ đầu.
Tám Cao vỗ vai tôi rồi lựa lời nói:
– Anh không phải là người trong nghề nên không hiểu việc chọn
chữ đầu của tên nghệ sĩ nó rất là quan trọng. Nó biểu lộ một tinh thần Tôn Sư
Trọng Đạo, Uống Nước Nhớ Nguồn. Người sau học của người đi trước cách ca, cách
luyến láy, cách diễn nên dùng cái tên chữ lót của thầy làm tên chữ lót của mình
để tỏ lòng biết ơn, để biểu lộ ý muốn theo con đường nghệ thuật của thầy, chớ
không phải vì nghèo chữ, thiếu văn chương, không thể tìm cho mình một cái tên
nào khác lạ hơn là tên người thầy của mình.
Câu nói của anh Thanh Cao làm cho tôi phải suy nghĩ. Những
người nghệ sĩ tuy họ sống một cuộc đời phiêu bạt, không biết trước ngày mai sẽ
no ấm hay thiếu thốn nhưng họ là những người có lòng với nhau, biết đùm bọc lẫn
nhau và có một tinh thần biết nghĩa biết ân, biết tôn sư trọng đạo. Đó là cái
tính quần thể đáng quý, biểu lộ tình thương yêu và quy củ tôn ti trật tự trong
đoàn hát, truyền thống đạo đức của những phường, hội, làng, xã Việt Nam. Nếu
đem so sánh với cuộc sống xô bồ xô bộn của một số người đang tìm cách triệt hạ
lẫn nhau để mà dành đất sống thì tư cách của người nghệ sĩ đáng được đánh giá
cao hơn một bậc.
Chị Tám Cao tức nữ nghệ sĩ Lệ Thơ từ nãy giờ uống bia, lên tiếng
hỏi tôi:
– Tại sao anh Phương chú ý tới nghệ danh của nghệ si?”
– Vì nghệ danh của nghệ sĩ đẹp, nghe hay hay hơn tên của một
người dân bình thường. Bây giờ nghe anh Tám Cao nói tôi mới biết những chữ đầu
tên của nghệ sĩ giống nhau vì họ tự nhận là cùng một lò nghệ sĩ, hát giống
nhau, ca giống nhau, nhưng…
– Nhưng sao? Anh Phương chắc còn nhiều băn khoăn thắc mắc, cứ
nói ra đi. Bữa nay vợ chồng tôi không có tuồng, anh Tuấn Sĩ hát thế cho tôi… tụi
mình nói chuyện tào lao chơi tới khuya cũng được.
Tôi kêu thêm bia và mời hai anh chị dùng cơm đĩa với tôi tại
Bar Lệ Hoa. Trong khi dùng bữa, tôi có chỗ không hiểu về việc tự chọn nghệ danh
của nghệ sĩ. Tôi hỏi anh Tám Cao:
– Tại sao những người nghệ sĩ tiền phong thì tên có kèm theo
một cái thứ như tên bình thường của người dân. Ví dụ: nghệ sĩ Năm Châu, Tư
Chơi, Ba Vân, Hai Nữ, Bảy Phùng Há, Sáu Ngọc Sương, Tư Thanh Tùng, Bảy Nam, Năm
Kim Thoa, Ba Hui, Tám Lắm, Mười Biểu, Năm Sadec, Năm Đồ, cô Tư Châu, …vân
…vân…Các nghệ sĩ tiền phong có nhiều người học giỏi như các anh Năm Châu, Năm Nở,
Tư Chơi, Bảy Nhiêu, các ông đó viết tuồng hay, sao mấy ổng không đặt cho mình một
nghệ danh như các nghệ sĩ sau nầy mà chỉ khiêm tốn để cái thứ trước tên của
mình thôi, nghe như tên một người nông dân Hai Thời, Ba Thế nào đó vậy?
Thấy ông Bầu Cang từ phòng bán vé ra, anh Tám Cao mời ông
cùng ngồi uống bia với chúng tôi. Anh Tám Cao nói:
– Muốn biết về các nghệ sĩ lớp trước thì anh Phương nên hỏi
ông Bầu vì ông là người lịch duyệt hơn tôi, ông vào nghề cải lương trước hơn
tôi.
Tôi mời ông Bầu Cang uống bia hơi nhưng ông từ chối, nói uống
bia hơi không tốt, no hơi lớn bụng. Ông kêu một ly cà phê đen không đường, đổ
vô một cốc rượu rhum. Bữa nay gánh hát Tiếng Chuông đông nghẹt khách nên ông Bầu
Cang rất vui, sẵn sàng trả lời những câu hỏi của tôi.
Ông nói:
– Tôi là nhạc sĩ đàn kìm, đờn cho gánh hát Đại Phước Cương
sau đó tôi đi gánh hát Phụng Hảo và “đụng” nhà tôi là nữ nghệ sĩ Năm Phát, đào
lẳng, chị ruột của nữ nghệ sĩ Sáu Nết, đào mùi cùng hát chung trong gánh hát Phụng
Hảo.
Như anh Phương biết đó: tôi tên Ba Cang, vợ tôi, Năm Phát, em
vợ tôi, Sáu Nết, những nhạc sĩ trong đoàn của tôi hay ở các đoàn khác mà tôi
quen biết cũng đều có cái tên bắt đầu bằng cái thứ của mình trong gia đình như:
* Các nhạc sĩ đờn kìm Sáu Tửng, Ba Chột, Bảy Phải, Ba Xây,
Năm Vĩnh, Năm Cơ, Bảy Hàm, Bảy Trạch, Năm Khạp;
* Các nhạc sĩ đàn cò và thổi ống tiêu: Tư Huyện, Hai Phát,
Chín Trích, Sáu Xíu, Năm Bửu..;
* Các nhạc sĩ đàn tranh và guitare phím lõm: Tư Còn, Sáu Quí,
Bảy Bá, Bảy Quới…:
* Các nhạc sĩ đàn violon, violoncelle có Tư Hiệu, Tư Thưởng,
Hai Long, Hai Thơm.
Có cái thằng Văn Vĩ đàn guitare… hỏng biết tại sao nó xọt cái
chữ Văn vô trước cái tên của nó. Nó thứ hai, lẽ ra là kêu thằng Hai Vĩ…
Ông Ba Cang cho biết nhiều nhạc sĩ dùng cái thứ của mình đứng
trước cái tên do cha sanh mẹ đẻ đặt cho chớ ông không giải thích tại sao.
Sau nầy khi tôi gia nhập vô làng hia mão, tôi đem cái thắc mắc
đó để hỏi anh Năm Châu thì anh Năm giải thích:
“Cái thời của tụi tôi mà các bạn trẻ bây giờ gọi là nghệ sĩ
tiền phong.. Cái thời đó thì chưa ai biết tự mình nên chọn tên gì để làm nghệ
danh. Tên là do ông Bầu gánh hát đặt ra để dễ quảng cáo cho tuồng hát và gánh
hát. Tôi tên Nguyễn Thành Châu, ông bầu gánh lúc đó là thầy Năm Tú đặt cho tôi
tên Năm Châu vì tôi thứ năm trong gia đình. Anh Trần Hữu Trang thành tên Tư
Trang; Huỳnh Năng Nhiêu thành tên Bảy Nhiêu; Lê Văn Cao thành Bảy Cao; Lư Hòa
Nghĩa thành Năm Nghĩa; Lê Văn Vân thành Ba Vân, Lê Hoài Nở thành Năm Nở…Nguyễn
Phương Danh thành Tám Danh… ”
Tôi hỏi về tên của các cô đào hát, anh Năm Châu có nói một số
trường hợp ngoại lệ như:
“Cô Phùng Há, gọi là Bảy Phùng Há vì cô là người Tàu lai, cái
tên Phùng Há là âm cái tên Phụng Hảo; cô Kim Thoa là người Tiều lai nên cũng gọi
là Năm Kim Thoa; cô Tư Thanh Tùng thì khi mới đầu ông Bầu Ngọc Cương gọi là Tư
Tùng nhưng khi nói mau, nghe như là ” tiêu tùng” nên ông thêm cái chữ Thanh đằng
trước thành ra tên Tư Thanh Tùng. Đa số vẫn là kềm cái thứ trong gia đình đứng
trước cái tên như cô Ba Đắc, cô Năm Cần Thơ, cô Ba Trà Vinh, cô Ba Bến Tre, cô
Sáu Nết, Hai Nữ, Sau Ngọc Sương, Ba Hui, Sáu Trâm, Tư Sạng, Năm Đặng, Năm Phỉ,
Bảy Nam, Mười Truyền, Chín Bia, Năm Đồ, Bảy Sự, Tư Châu, …”
Anh Năm Châu có nhắc lại một giai thoại về anh Ba Du. Anh Ba
Du tên thật là Phan Văn Hai, lúc đầu lấy tên là Ba Hai (anh thứ Ba, tên Hai).
Khi đoàn hát Phước Cương hát ở rạp Quảng Lạc Hà Nội năm 1938, ông bầu Cương có
mướn hai anh võ sĩ Tư Xum và Sáu Mẹo gác cửa để ngăn cản bọn du côn không cho
vô coi hát cọp hay tới gây rối đoàn hát.
Hồi đó, lính mã tà người Việt( tức là cảnh sát) rất ngại việc
va chạm tới bọn du côn chuyên đâm thuê chém mướn. Lính mã tà thường ngoảnh mặt
làm ngơ trước hành động côn đồ của bọn nầy để khỏi chuốc rắc rối vào mình. Lính
Biện Tây và Biện Chà cũng vậy, nên đoàn hát nào cũng có mướn người biết võ nghệ
gác cửa rạp hát để bảo vệ việc làm ăn của mình và sự an toàn cho nghệ sĩ. Khi
đoàn hát Phước Cương hát ở rạp Quảng Lạc, bọn du côn ở ngã Tư Sở tới quấy phá,
chúng bị hai võ sĩ Tư Xum và Sáu Mẹo đánh cho một trận bể đầu sứt trán. Chúng
tìm cách trả thù bằng cách đón đường đánh nghệ sĩ.
Bữa đó hai nghệ sĩ Ba Hai và Năm Thiên nghe đồn ở ngã tư Khâm
Thiên có hát cô đầu, nhân được nghỉ hát (vì hai anh không có vai hát trong đêm
đó), hai anh kêu xe kéo chở đến Khâm Thiên chơi cho biết. Bọn du đãng biết tin,
chận xe kéo lại, kiếm chuyện gây gổ. Hai anh tự xưng tên là kép hát Ba Hai và
Năm Thiên vì tưởng là bọn du côn kiếm lầm người không ngờ là du đãng tính đánh
nghệ sĩ để trả thù nên khi anh Ba Hai kể tên mình, chúng nó cho là anh muốn làm
cha chúng nó (Ba Hai) và thằng kia muốn làm trời (tên Năm Thiên) nên chúng nó để
thẹo cho hết hát.
Nghệ sĩ Ba Hai và Năm Thiên khi đi chơi riêng rẽ thì đề
phòng, sợ bị du đãng hành hung nên hai anh mang mình võ khí phòng thân. Võ khí
của hai anh là chiếc vớ laine đựng hàng trăm đồng xu, cột chặt lại thành như một
quả chùy đồng. Khi tự vệ thì anh cầm chiếc vớ, quật mạnh quả chùy mặt, vào đầu
địch thủ. Hai anh Ba Hai và Năm Thiên giỏi võ từng lên đấu võ đài ở Sàigòn nên
khi có võ khí đặc biệt trong tay và lợi dụng cái thế bất ngờ, đã đánh bể đầu
sáu tên du côn. Tên kéo xe cũng là đồng bọn của đám du côn đó nên cũng một chùy
vào mặt, đổ máu mũi.
Năm Thiên giựt xe kéo, nhảy lên xe ngồi, Ba Hai kéo chạy trốn
và hai anh luân phiên nhau, kẻ ngồi người kéo, chạy gần tới rạp Quảng Lạc mới bỏ
chiếc xe kéo bên vệ đường chạy về đoàn hát.
Người chủ của chiếc xe kéo thưa với bót Tây là người của gánh
hát đã cướp chiếc xe và đánh bể đầu anh kéo xe, hai người Biện Tây đến rạp hát
xét kiếm chiếc xe kéo nhưng không thấy.
Ông Bầu Nguyễn Phước Cương có đi du học ở Pháp nhiều năm và
anh Năm Châu cũng giỏi tiếng Pháp nên hai anh nới chuyện với hai người Biện
Tây, kể rõ sự khuấy phá an ninh trật tự của bọn du đãng. Hai anh cho biết tất cả
diễn viên của đoàn đều có mặt hát trên sân khấu, không có người nào đi ra khỏi
rạp hát, việc thưa người của gánh hát cướp xe chỉ là phao vu thôi. Khi xét
không thấy có tang vật và những người trong gánh hát chứng minh được là họ có mặt
tại rạp hát, không có ở hiện trường khi xảy ra vụ mất chiếc xe kéo và quan trọng
hơn hết là bọn Biện Tây thấy ông Bầu Cương và Năm Châu nói tiếng Pháp quá giỏi
nên không xét tới lời thưa gởi của chủ chiếc xe kéo và anh kéo xe.
Từ đó, bọn du côn không dám tới quấy phá đoàn hát nữa.
Sau chuyến lưu diễn ở Hà Nội về, ông bầu Cương đổi tên Phan
Văn Hai thành tên Ba Du, nghĩa là Ba (cha) của mấy thằng du côn.
Ông Bầu Cang cũng kể cho tôi nghe chuyện liên quan tới việc đặt
tên nghệ sĩ. Ông có theo gánh hát đi hát ở Hà Nội, Thái Nguyên, Huế, Nha Trang,
Đàlạt, Buôn Mê Thuột, ở xứ Lào và Cao Miên, ông có ý thức quan sát nên nhận xét
những chuyện trong các gánh hát rất là tinh tế.
Ông Bầu Cang nói là nghệ sĩ Bắc Kỳ đặt tên của họ hay hơn nghệ
sĩ Nam Kỳ. Từ những năm 1920 đến năm 1935, nghệ sĩ cải lương ở miền Nam đặt nghệ
danh cho mình bằng cách dùng tên thiệt, kèm theo cái thứ trong gia đình. Dầu là
do ông Bầu gánh đặt tên cho hay là nghệ sĩ tự chọn tên mình thì cũng theo cái
thể thức vừa kể. Do đó, ngày nay khi nhắc lại các nghệ sĩ tiền phong thì chúng
ta nhớ đến các tên như Năm Châu, Tư Chơi, Bảy Nhiêu, Sáu Nết, Ba Trà Vinh, Năm
Cần Thơ, Năm Phỉ, Bảy Phùng Há, Ba Hui, Năm Kim Thoa, Bảy Nam, Mười Truyền,
Chín Bia, Hai Vân, Ba Vân, Tám Vân, Năm Nở, Tư Xe, Ba Du, Tám Danh, Tám Củi, Ba
Thâu, Tám Mẹo…
Tên của nghệ sĩ nghe mộc mạc như tên của các tay công tử, các
anh chị bự thời đó: Vua cờ bạc Sáu Ngọ, Hắc công tử Ba Qui, Bạch công tử Hai
Phước (tức Phước Georges), cậu Hai Miên, thầy Sáu Trọng… các tay du côn anh chị
đứng bến Ba Thẹo, Sáu Búa, Hai Mỏ lết, Tư Xe, Ba Chăn Cà Mum…vân… vân…
Cũng trong thời gian nầy thì nghệ sĩ cải lương ở miền Bắc
(đông nhất là ở Hà Nội) có các tên đẹp như nữ nghệ sĩ: Ái Liên, Kim Chung, Bích
Hợp, Bích Thuận, Bích Châu, Khánh Hợi, Túy Định, Ánh Tuyết, Mộng Điệp, Thúy Liễu,
Ánh Tuệ, Anh Thư… Các nam nghệ sĩ có tên Huỳnh Thái, Anh Đệ, Sĩ Hùng, Tuấn Sửu,
Phúc Lai, Thành Hội, Mộng Long, Ngọc Thạch, Mộng Hùng, Sĩ Tiến…
Cũng theo lời kể của ông Bầu Ba Cang gánh hát Tiếng Chuông,
năm 1921, ở Thốt Nốt, tỉnh Long Xuyên có ông Bầu Vương Có, người Tiều Lai lập
gánh hát cải lương Tập Ích Ban.
Ông Vương Có mời soạn giả Mộc Quán Nguyễn Trọng Quyền làm thầy
tuồng (cung cấp tuồng tích và dạy cho nghệ sĩ hát, ca). Tổ chức gánh hát theo lối
hát Tiều, tên đào kép là do ông Vương Có và thầy Mộc Quán Nguyễn Trọng Quyền đặt
cho, mới nghe tên tưởng như là những nghệ nhân Trung Hoa:
* Nghệ sĩ Bảy Nhiêu được đặt tên là Lâm Sinh,
* Tư Thới tên Dương Hòa,
* Năm Chuông đổi thành Đại Hồng,
* Năm Hí đổi thành Song Hỉ,
* Sáu Tị thành Tần Vân,
* Sáu Trâm thành Ngọc Xoa,
* Hai Hiển thành Kiều My,
* Ba Vinh thành Kiều Loan…
* Sáu Trâm thành Ngọc Xoa (là người vợ đầu tiên của anh Năm
Châu).
Từ năm 1954 đến năm 1970, thời kỳ hoàng kim của sân khấu cải
lương, nhờ ảnh hưởng của một nền văn hóa mới và báo chí thời đại, nghệ sĩ đã biết
chọn cho mình một nghệ danh đẹp, không còn kềm cái thứ kế bên tên cúng cơm của
mình. Những tên mới như Hữu Phước, Hùng Cường, Thành Được, Út Trà Ôn, Văn Hường,
Út Hiền, Út Hậu, Minh Vương, Minh Phụng, Minh Cảnh, Bạch Tuyết, Thanh Nga, Ngọc
Giàu, Hồng Nga, Lệ Thủy, Mỹ Châu, Kim Ngọc, Kim Hoa, Thanh Hằng, Thanh Ngân,
Hoàng Giang, Kim Giác, Việt Hùng, Ngọc Nuôi, Minh Chí, Ánh Hoa… những tên nghệ
sĩ mới gắn liền với giọng ca đặc sắc và lối diễn xuất tinh tế đã trở thành thần
tượng của khán giả mộ điệu.
Sau năm 1970, những nghệ sĩ mới lên, nhại theo kỹ thuật ca của
các danh ca đàn anh, đàn chị nên họ chọn cho mình một nghệ danh có ba chữ mà chữ
tên đầu gắn liền với tên của nghệ sĩ danh ca mà họ ưa thích. Chúng ta thấy có
các tên: Thanh Thanh Hoa, Thanh Thanh Nga, Thanh Thanh Tâm, Thanh Kim Huệ, Dũng
Thanh Lâm, Dũng Minh Sang, Dũng Minh Tuyết, Kiều Mai Lý, Kiều Lệ Mai, Kiều Lệ
Tâm, Kiều Phượng Loan, Kiều Trúc Phượng, Minh Minh Vương, Minh Minh Cảnh, Minh
Minh Tâm, Phương Trúc Bình, Phương Hồng Thủy, Phương Hồng Hạnh, Kim Tử Long,
Kim Tiểu Long, Hoài Trúc Phương, Lý Cẩm Hồng, Kim Lệ Thủy, Tất My Loan, Trương
Ánh Loan..
Nghệ sĩ Thanh Cao thấy tôi lắng nghe ông Bầu Cang kể về các
nghệ danh của nghệ sĩ, xen vào nói:
– Anh Phương nếu theo ghe hát như tụi tui, anh cũng phải chọn
cho anh một cái tên nghệ sĩ nghe cho nó hay, biết đâu sau này tên nghệ sĩ của
anh sẽ được hậu thế nhắc nhở.
Tôi bật cười lớn:
– Anh khéo suy nghĩ viễn vông! Phải có giọng ca, phải có sắc
vóc đẹp, phải có một tâm hồn nghệ sĩ thì mới có hy vọng trở thành nghệ sĩ. Tôi
rất ái mộ nghệ sĩ, tôi thấy thích nghe kể chuyện nghệ sĩ vì mỗi một câu chuyện
là một giai thoại vui hay buồn, tuy nhiên từ cái ý thích đó, muốn trở thành nghệ
sĩ thì còn một khoảng cách rất xa… rất là xa…
Tuy tôi nói vậy nhưng trong thâm tâm, tôi bắt đầu dệt mộng, tự
phác họa cho mình một bước đường tương lai trong giới nghệ sĩ sân khấu cải
lương. Những khung trời mới rộng mở trước mắt tôi. Những con người rực sáng ánh
hào quang danh vọng dưới ánh đèn sân khấu đêm đêm quyến rũ tôi, tôi quên mất
cái việc tôi đi cưới vợ hụt chỉ vì bị cái thành kiến xướng ca vô loại. Tôi kết
bạn với những nghệ sĩ sân khấu để tìm hiểu họ, để sống với tâm tư và nguyện vọng
của một người nghệ sĩ. Ngoài các anh Ba Cang, Thanh Cao, Trường Xuân, tôi kết bạn
với Thành Tôn, Hữu Thoại, tôi theo làm quen với anh Minh Tơ, chị Tư Châu, cô
Năm Đồ…
.
.
Từng bước… từng bước, tôi bị lạc vào “mê cung ” đầy ánh hào
quang và sắc màu rực rỡ của sân khấu cải lương.
NGƯỜI TRỒNG CÂY SI GIA LONG
Yêu một cô nữ sinh Gia Long, tôi nghĩ đó là một chuyện bình
thường của một chàng trai tốt số, đẹp trai, học giỏi, con nhà giàu và có phước
là được quen biết cô nữ sinh Gia Long. Nhưng chuyện yêu đương như vậy không
bình thường đối với người nghệ sĩ, nhất là trong cái thời kỳ mà dân mình còn nặng
thành kiến: nghệ sĩ là xướng ca vô loại. Người nghệ sĩ cải lương mà nói tới
chuyện yêu một cô nữ sinh Gia Long là nói tới chuyện của người muốn với tay hái
sao trời. Ây vậy mà có lúc tôi mang tiếng là người trồng cây si Gia Long, người
muốn hái sao trời!
.
Chuyện là vầy…
Năm 1943, tôi làm việc ở Sở Bưu Điện Saigon. Vì quê tôi ở Mỹ
Tho nên mấy năm nay, tôi ở nhà của cậu tôi( Bazar Hồ Hữu Đức) ở đường Bonard gần
chợ Bến Thành để tiện đi làm việc. Con gái út của cậu tôi, em Hồ Ngọc Lâm học
năm thứ hai trường nữ trung học Gia Long. Vì em Lâm học ngoại trú nên cậu tôi
có mướn xe xích lô đạp đưa rước em đi học mỗi ngày. Một hôm anh xích lô bịnh bất
ngờ, cậu nhờ tôi chở cho em đi học.
Tưởng trường nữ trung học Gia Long ở đâu xa, không ngờ đó là
trường áo tím ngày xưa. Hồi đó trường có một cái tên Pháp: Collège des Jeunes
Filles Annamites. Hỏng hiểu sao và từ bao giờ, trường có tên mới: Trường nữ
trung học Gia Long. Và các cô áo tím ngày xưa được thay bằng những cô áo trắng,
cũng đẹp như tiên, cũng xinh như mộng.
Tôi đưa rước em Lâm đi học chỉ được vài hôm thôi. Khi anh phu
xích lô đạp hết bịnh là tôi bị mất đi cái công việc đưa rước lý thú đó.Tuy
nhiên mỗi khi đi đến Sở làm tôi vẫn đạp xe đạp chạy ngang trường, nhìn các cô học
sinh vô cổng trường rồi tôi mới đạp xe thật mau chạy về Sở làm. Buổi chiều đến
giờ tan học, tôi không có phận sự đón rước ai nhưng tôi cũng tới trước cổng trường,
dựng xe đạp, đứng trông ngóng như chờ đón ai!
Một cây si bắt đầu mọc trước cửa trường Gia Long bên cạnh những
cây sao trên vệ đường.
Có lần em Lâm thấy tôi đứng trước cổng trường, về nhà em hỏi
tôi đứng đó chờ đợi ai? Tôi dối là tôi theo anh Thoại, đón em gái của Thoại… thật
ra thì tôi trồng cây si trước cổng trường là vì tôi muốn nhìn thấy mặt cô S. bạn
học đồng lớp với em Lâm.
Cô S. thường đến nhà chơi với em Lâm, có khi thì ở lại ăn cơm
trưa, có khi thì cùng với Lâm đi xem ciné ở rạp Eden. Cô S. xem tôi như một người
anh nên chuyện trò vui vẻ tự nhiên, còn tôi thì không biết là từ bao giờ, tôi cảm
thấy lúng ta lúng túng… mất tự nhiên trước mặt S.
Cô nàng nước da trắng như tuyết, má hồng, môi mộng, đôi mắt
thơ ngây, tiếng cười trong suốt như pha lê… S. rất dễ thương, nói năng dịu
dàng, những khi đi chơi hay dạo chợ Bến Thành với Lâm, khi về nhà cô S. thường
có một món quà nhỏ cho tôi, khi thì một trái ổi xá lị, khi thì một bịt chè đậu
trắng hoặc bánh lọt nước dừa.
Có một lần, đi ngang phòng của tôi, S. thấy sách vở, áo quần
của tôi vất bừa bãi, S. vào thu xếp dùm. Khi đó thì tôi đang đánh Ping Pong với
Thái và Hoanh, anh của Lâm ở trên lầu ba. Tôi nghe tiếng Lâm nói:
– Kệ ảnh đi, mầy dọn dẹp sạch sẽ bữa nay, ngày mai cũng y như
vậy hè. Ba tao la ảnh hoài, chứng nào tật nấy, ảnh đi làm về, khi rảnh thì đi
đánh Ping Pong hoặc tắm piscine, chớ ảnh hỏng có rớ tới ba cái vụ quét dọn chỗ ở
của ảnh đâu”
– Thì tiện tay, tôi giúp ảnh thôi! – S. nhỏ nhẹ trả lời.
Tôi nhường cho Hoanh và Thái đánh banh với nhau, trở về phòng
của tôi thì S. và Lâm đã rủ nhau đi xem ciné rồi. Tôi nghe thoang thoảng mùi nước
hoa Revlon còn phảng phất đâu đây, tôi nghe xao xuyến trong lòng…
Tôi bắt đầu dệt mộng, học đàn mando… học hát bài Thiên Thai…
mơ tới suối Ngọc Tuyền, mộng thấy nàng tiên áo trắng. Mỗi sáng, mỗi chiều tôi
đi ngang cổng trường nhìn những tà áo dài trắng lả lướt mà tưởng chừng các nàng
tiên nữ áo trắng lượn bay… tôi muốn chiêm ngưỡng vị thiên thần áo trắng của
tôi.
Cô S. vẫn thường đến chơi với em Lâm, vẫn tự nhiên mỗi khi gặp
tôi và có lẽ cô không biết là tôi đã yêu cô. Tôi chép một bài thơ hay,
bài Tình Tuyệt Vọng của Arvers do Khá Hưng dịch, ghép vào một trang sách
mà tôi cố tình để bừa bãi trên bàn. Tôi lánh mặt lên ở trên lầu ba.
Cô S. và Lâm về, cô nhìn vô phòng của tôi, tôi nghe tiếng cô
cằn nhằn: “Lại nữa rồi…Sạch sẽ ngăn nắp chỉ được một hai ngày thôi, chứng
nào tật nấy đúng như Lâm nói”.
– Ý! có bài thơ kìa…(Lâm cầm thơ, nói) để tao đọc.
Tình Tuyệt Vọng.
Lòng ta chôn một khối tình
Tình trong giây phút mà thành thiên thâu
Tình tuyệt vọng, mối thảm sầu,
Mà người gieo thảm như hầu không hay
Hỡi ôi, người đó, ta đây,
Sao ta thui thủi đêm ngày chiếc thân?
Dẫu ta đi trọn đường trần,
Chuyện riêng dễ dám một lần hé môi
Người dù ngọc nói hoa cười,
Nhìn ta như thể nhìn người không quen.
Đường đời lặng lẽ bước tiên
Ngờ đâu chân đạp lên trên khối tình
Một niềm tiết liệt đoan trinh
Xem thơ nào biết có mình ở trong,
Lạnh lùng lòng sẽ hỏi lòng:
” Người đâu ta ở mấy dòng thơ đây? ”
Cả hai cô cùng cười, khen thơ hay nhưng không hỏi vì sao có
bài thơ để ở đó. Sau đó vài hôm thì S. không đến chơi với Lâm nữa. Tôi nhiều lần
đến cổng trường, cũng những tà áo trắng mỗi buổi tan học túa ra các nẻo đường
như những cánh bướm trắng, những nàng tiên áo trắng, chỉ có nàng tiên áo trắng
của riêng tôi thì biền biệt chẳng thấy tăm dạng ở đâu. Tôi như một kẻ mất hồn…
Tháng 9 năm 1945, Saigon sôi sục với những cuộc xuống đường…
Saigon ầm vang những lời ca hát trên hè phố của Thanh Niên Tiền Phong…Tôi cũng
bị cuốn hút vào vòng lũ của những chàng thanh niên ” nóp với giáo mang ngang
vai… ”
Năm 1947, tôi trở về làm việc nơi nhiệm sở cũ và mướn nhà ở
đường hẻm Cá Hấp, tôi không ở nhà của cậu tôi nữa vì cậu đã sang Bazar cho chủ
khác. Về Saigon tôi mới biết là em Lâm đã mất trong trận chống càn ở cù lao Quới
Sơn hồi cuối năm 1946. Cô S. thì vẫn vắng bặt bóng chim tăm cá.
Những chiều tan Sở làm, tôi tránh không đi về ngang trước cổng
trường Gia Long vì tôi sợ phải nhìn thấy những tà áo trắng quyến rũ ngày xưa mà
lòng thêm thương thêm nhớ…
Để tìm quên, chiều chiều tôi ra place Cuniac, uống bia hơi rồi
ghé lại rạp Thành Xương coi hát hoặc chuyện trò với các bạn nghệ sĩ mới quen. Một
khung trời mới hiện ra trước mắt tôi: cuộc sống rày đây mai đó của người nghệ
sĩ hấp dẫn và nhiều hứa hẹn hơn là cuộc sống bình lặng nhàm chán của một viên
công chức bực trung.
Thế là tôi xách va ly theo gánh hát với các bạn nghệ sĩ như một
cô gái cuốn gói theo người yêu, bất kể tới những bất trắc sẽ gặp phải trên đường
đời.( 1948)
Vô đoàn hát, tôi làm một công việc bá nghệ: là quản lý, tôi
thay mặt chủ bầu và nghệ sĩ để tiếp xúc với các cấp chánh quyền sở tại, nơi
đoàn hát đang trình diễn hay sẽ đến. Tôi có học về điện và máy móc nên tôi trở
thành sư phụ của các anh chuyên viên ánh sáng của gánh hát, tôi giúp cho các
anh làm ra các máy chiếu làm mây, làm nước trên sân khấu. Tôi dạy cho các nghệ
sĩ học chữ quốc ngữ, dạy cho họ tập đọc, tập viết để học tuồng dễ dàng hơn. Tôi
chép tuồng để đem đi kiểm duyệt. Tôi bắt đầu học hát và tập soạn tuồng hát, tóm
lại, ai cần tôi làm giúp điều gì thì tôi sắn sàng giúp, không nệ hà gì
Nhờ vậy mà tôi được cảm tình của mọi thành viên trong gánh
hát. Thêm nữa, tiền lương của tôi trong gánh hát khá cao, tôi lại chưa có vợ,
tánh tình hiền hậu dễ thương nên nhiều cô đào trẻ chưa chồng trong gánh hát vây
quanh tôi, muốn bắt tôi làm chủ trái tim của một người trong bọn họ. Họ săn
đón, vồn vã, có người chăm lo cho tôi từng bữa ăn, giấc ngủ. Có người giành giặt
ủi áo quần, có người rủ đi du ngoạn mỗi khi đến hát ở các vùng có danh lam thắng
cảnh.
Nói về nhan sắc thì cô nào cũng đẹp, ca hay, hát giỏi, ánh mắt
liếc bén như dao, nụ cười ru hồn khách mộ điệu. Họ sống tự do, thoải mái, dễ tiếp
xúc, dễ làm quen, nếu tôi muốn lập gia đình, chỉ cần tôi có một nụ cười đồng
lõa hay một cái gật đầu nghiêm chỉnh là tôi chấm dứt đi những ước mơ và hy vọng
của riêng tôi để mà ghép cuộc đời mình với cuộc sống của một cô đào hát nào đó.
Tôi chưa có sự nghiệp, chưa có danh vọng trong giới sân khấu,
tôi muốn học đòi theo các bậc thầy Năm Châu, Tư Chơi, Năm Nở trong lãnh vực
sáng tác, vì vậy tôi muốn được yên thân, muốn thoát khỏi cuộc bao vây quấy rầy
của các cô đào thân mến đó nên tôi tuyên bố là tôi có một người yêu vốn là nữ
sinh Gia Long. Chờ khi nào cô học tốt nghiệp xong và tôi thành công được một
tác phẩm trên sân khấu thì chúng tôi sẽ làm lễ thành hôn.
Một hôm, các bạn nghệ sĩ Tám Cao, Trường Xuân, Tuấn Sĩ, hề
Lòng và cô đào chánh Ngọc An cùng với tôi uống bia nói chuyện tâm tình trên bãi
biển Nha Trang, Ngọc An hỏi tôi:
– Anh Phương có vợ thiệt rồi, phải không?
– Phải, chúng tôi đã hứa hôn với nhau, tuy chưa cưới nhưng nhứt
dịnh rồi sẽ cưới.
Ngọc An ngập ngừng hỏi.: ” Chị ấy đẹp lắm, phải không? ”
Tôi không trả lời mà chỉ nhìn ra ngoài biển khơi, khe khẽ
ngâm mấy câu thơ Thanh Bình Điệu của thi hào Lý Bạch:
” Vân tưởng y thường, hoa tưởng dung,
– Xuân phong phất hạm lộ hoa nùng.
Nhược phi quần ngọc, sơn đầu kiến,
– Hội hướng Dao – Đài nguyệt hạ phùng”
Trường Xuân bưng ly rượu lên, uống một hơi cạn ly, lầm bầm:
–Trông đám mây tưởng là xiêm áo nàng, trông đóa hoa, tưởng là
vẻ mặt nàng, à anh Phương đúng là người trồng cây si Gia Long..
Nhờ có lá bùa “Si Gia Long ” dán trên quả tim mà ông thần
tình ái không đến quyến rũ tôi nữa, các cô đào đẹp của đoàn hát không còn gọi
tôi tên Phương mà đổi lại là anh Si, chàng Si!
Cho tới một hôm đoàn hát bán dàn, hát ở quận Cần Giờ nhân dịp
lễ cúng Kỳ Yên, cúng vía Ông ( Cá ông), tôi nhớ là khoảng tháng 10 năm 1949, lễ
cúng Kỳ Yên (cầu an), xuân thu nhị kỳ, xuân cầu, thu báo, nên Hội đồng Xã rước
Ban hát bội Vĩnh Xuân ra hát ba thứ San Hậu để khai chầu và sau đó thì gánh hát
Tiếng Chuông của bầu Cang hát tiếp bốn đêm tuồng đồ, tuồng truyện cho dân chúng
trong huyện Cần Giờ xem chơi nhân dịp cả huyện ăn mừng trúng mùa cá tôm.
Tôi theo ghe hát của Ban hát bội Vĩnh Xuân ra Cần Giờ trước để
sắp đặt chỗ ăn ở cho các nghệ sĩ đoàn hát Tiếng Chuông, vì vậy tôi được dịp xem
hát đầy đủ cả ba thứ San Hậu. Có thể nói là trong các thập niên 1960, 1970 và
sau này không có gánh hát nào hát đủ ba thứ San Hậu như Ban hát Vĩnh Xuân hồi
đó đã hát.
Tôi nghĩ cũng nên nhắc lại ba thứ hát của tuồng San Hậu:
Thứ nhứt:
Phàn Viên Ngoại tống cung ái nữ,
Tạ Thiên Lăng soán nghiệp Tề Vương.
Thứ nhì:
Giận Tạ Tặc, Phàn Công chém sứ,
Lạc Kim Lân, bà thứ lìa con.
Thứ ba:
Tạ Nguyệt Kiểu xuống tóc xuất gia,
Tề Đông Cung đuổi tà phục nghiệp.
Nghệ sĩ hát bội Vĩnh Xuân Ban hát thật là hay, khi Ban hát
lui ghe trở về Saigon, ở bến tàu Cần Giờ còn đứng đông nghẹt những khán giả đến
tiễn đưa. Có người đem cá khô, mắm, tôm khô tặng cho cô đào Ba Út vì cô đã diễn
vai Tạ Nguyệt Kiểu rất là xuất sắc. Dân Cần Giờ còn muốn xem hát bội nhưng vì Hội
Đồng Xã đã mua dàn gánh Tiếng Chuông hát tiếp mấy đêm sau nên dân chúng yêu cầu
đoàn Tiếng Chuông hát tuồng Tầu như Ban hát bội Vĩnh Xuân.
Đoàn hát Tiếng Chuông vừa đến Cần Giờ, các công nhân sân khấu
còn đang lo treo phông màn và ổn định chỗ ăn ở cho đào kép hát thì Hội đồng Xã
và ông Chấp Sự mời ông Bầu gánh hát, biện tuồng (tức là soạn giả) và cặp đào
kép chánh tới trụ sở. Cô đào Ngọc An không đi, Trường Xuân, Tám Cao, ông bầu
Cang và tôi đến hầu chuyện với các ông ấy.
Ông Chấp Sự mở lời khi thấy chúng tôi đến:
– Bà con ở đây muốn xem hát tuồng Tàu. Tôi biết là mấy chú chỉ
có tuồng kiếm hiệp như tuồng Trộm Mắt Phật, tuồng Ali Ba Ba và 40 tên
cướp, tuồng Cánh Buồm đen. Hội đồng Xã muốn mấy chú hát cương tuồng Quan
Công đại chiến Uất Trì Cung. Hát đánh đao, đánh thương, đánh võ nhào lộn cho
hay. Ca hát bản Tàu. Hội Đồng Xã sẽ trả thêm tiền mua dàn hát cho mấy chú. Mấy
chú liệu có làm được hông?
Ông Bầu Cang đứng gãi đầu gãi tai, ra chiều có điều khó nói.
Trường Xuân khoanh tay thưa:
– Bẩm Ngài, hát cương thì tụi tui cũng có thể hát cương,
nhưng mà tuồng nầy thì thiệt là khó, hỏng biết phải sắp xếp làm sao mới cương
được.
Lúc còn đang nói dang ca thì ông “ách”, chỉ huy trưởng đồn
lính Bạt Ti Dăng tại chợ huyện, tới chơi, ông “ách” xen vô nói: “Ừ! Cho thằng
kép mặt đỏ đánh với thằng kép mặt đen. Quan Công đánh với Uất Trì Cung được, chớ
sao bây nói hỏng được? ”
Tôi làm tài khôn, nói:
– Bẩm quan lớn, Quan Công thuộc về đời Hán, còn Uất Trì Cung
sanh vào đời Đường. Hán với Đường cách nhau mấy trăm năm, làm sao mà cho hai
ông đó gặp nhau, đánh với nhau cho được?.
Ông Chấp Sự nhìn tôi có vẻ ngạc nhiên:
– Vậy là chú nầy cũng có học thức đây. Chú biết chuyện lịch sử
Tàu nhiều hông?
– Dạ, bẩm quan, tôi có đọc truyện Tàu, hỏng biết có đúng sử
không, nhưng mà tích hát truyện Tàu, tôi nhớ cũng nhiều.
– Vậy thì Tiết Nhơn Quí… ơ, Tiết Nhơn Quí xử dụng võ khí gì?
Tôi nhanh miệng trả lời:
– Dạ bẩm quan, thiên phương họa kích, Tiết Nhơn Quí xử dụng
thiên phương họa kích, mặc bạch giáp bạch bào, cỡi con ngựa Thiên lý mã Thoại
Long Cu…
Ông Chấp Sự:
– Ừ! Lữ Bố cũng dùng cây thiên phương họa kích, cũng mặc bạch
giáp bạch bào, vậy tụi bây hát tuồng Tiết Nhơn Quí đại chiến với Lữ Bố. Cho hai
thằng mặt trắng đánh với nhau, cả hai cùng sử dụng cây thiên phương họa kích, để
coi thằng nào giỏi hơn thằng nào.
Tôi biết là không ổn rồi, mấy ông chức việc nầy muốn phá bĩnh
đoàn hát đây. Tôi bèn bán cái qua cho ông Bầu Cang để ổng thu xếp:
– Ông Bầu, ba cái vụ tuồng tích ông rành hơn tụi tui. Ống sắp
xếp sao thì anh em hát làm vậy.
Ông bầu Cang gãi đầu gãi tai, ấp úng nói:
– Dạ bẩm quan, Lữ Bố đời Hán, Tiết Nhơn Quý đời Đường, cách
nhau mấy trăm năm cũng như Quan Công với Uất Trì Cung, hỏng lẽ cho người sanh
ra trong đời Hán hiện hồn về đánh với người sanh ra trong đời Đường sao? Dạ,
dân chúng coi hát tuồng Tàu nhiều quá, họ hiểu lịch sử Tàu, mình hát sai thì họ
không thèm coi hát của đoàn tui nữa thì rã gánh đó, thưa ngài.
Ông Ách Một cười ngất:
-Thôi! hát tuồng Tàu chi cho nó mệt, phải nhớ thời Hán hay thời
Sở lôi thôi lắm. Tụi bây hát tuồng sử Việt Nam đi. Tao nghe nói hồi xưa Gia
Long tẩu quốc, ổng chạy ra cù lao Phú Quốc hay Côn đảo, ổng có trú binh lại ở cửa
Cần Giờ nầy. Tụi bây hát mấy thứ Gia Long tẩu quốc hay phục quốc gì cũng được.
Bầu Cang lại gãi đầu gãi tai, ấp úng:
– Chà… chà… Ông Chấp Sự:
– Hỏng lẽ tụi bây hỏng biết sử Việt Nam? Tao muốn tuồng Gia
Long phục quốc, vua Gia Long đánh với bà Bùi Thị Xuân. Bùi Thị Xuân cho vẻ mặt
rằn, mặt xanh nanh bạc như bà Chung Vô Diệm, vì nghe nói bà nầy dữ lắm. Vua Gia
Long đánh thắng nhưng nhờ quân Tây Tà, vậy cho Gia Long mặt xanh chàm… Vậy được
hông ông Bầu?
Bầu Cang lại gãi đầu gãi tai…. Ông Ách Một:
– Bộ đầu của ông bầu gánh có chí hay sao mà ông cứ gãi đầu
gãi tai hoài vậy?
– Dạ, hỏng phải! Vì quan lớn muốn hát tuồng Gia Long đại chiến
Bùi Thị Xuân, tôi hỏng biết trong Sử Việt có trận đánh đó hay không, và hỏng biết
là nếu có thì họ đánh ở đâu, đánh trên bờ hay dưới nước, đánh trên rừng hay
đánh chiếm thành trì, vậy nên tôi gãi đầu suy nghĩ..
Bầu Cang bỗng phát la lớn lên:
– Dạ, có rồi… Có rồi, trong đoàn hát của tôi có một anh Si
Gia Long, nhứt định anh ấy biết sự tích của vua Gia Long.
Ông Chấp Sự:
– Vậy thì hay quá, mời anh đó tới đây, mau đi ông bầu.
Khi tôi nghe ông bầu nói tới người si Gia Long là tôi thấy
không xong rồi, có muốn lánh mặt cũng không kịp. Ông bầu chỉ tôi rồi giới thiệu:
– Anh thầy tuồng nầy là người si Gia Long đó.
– Vậy sao! Anh học Pétrus niên khóa nào? – ông Ách Một hỏi
tôi.
– Dạ, bẩm quan, tôi không có học Pétrus. Tôi học trường Bá
Nghệ. Mà tại sao quan nghĩ là tôi học trường Pétrus? (Tôi lấy làm lạ vì câu hỏi
tôi đó).
– Bởi vì ông bầu nói là anh Si Gia Long. Hồi đó, anh em tụi
tui có câu: “Pétrus, quan ông, Gia Long, quan bà “. Tôi học Pétrus nè, nhưng
tôi đâu có vợ Gia Long. Vợ tôi là cô chủ bán mắm ở chợ huyện nầy đây…
Ông Ách Một nói tới đó, bỗng đổi giọng, hỏi tôi:” Mà sao ông
vua đó ốm quá vậy? ”
– Dạ, bẩm quan, quan nói ông vua nào ốm quá?.” Trường Xuân
xen vô ” đỡ đạn ” cho tôi.
– Thì ông vua Gia Long chớ còn ông vua nào nữa. Làm vua mà chỉ
còn “da ” với ” lông ” thôi thì chưa phải là vua ốm sao?
Tám Cao thày lay xen vô:
– Dạ, Gia Long nầy là G.I.A Gia chớ không phải dờ a da.
I,I... xin lỗi quan, quan học Pétrus là quan giỏi chữ nghĩa hơn tụi tui rồi...
Xin quan thứ lỗi cho.
Ông Chấp Sự ngồi vuốt râu, cười mím chi, bây giờ mới nói:
– Hỏng phải qua muốn làm khó dễ mấy em. Qua muốn có một tuồng
Gia Long tẩu quốc, để nói cái ông vua đó bị Tây Sơn đánh thua, chạy ra biển. Gặp
ông Long Cung thái tử dưới biển trồi lên, vua Gia Long sợ quá, mới hối lộ Long
Cung Thái Tử bằng cách là liệng bà thứ phi Phi Yến cho Long Cung thái tử làm vợ.
Vì vậy mà khi quân Tây Sơn cưỡi thuyền đuổi theo, Long Cung Thái tử mới nổi
sóng nhận chìm ghe thuyền của Tây Sơn, cứu vua Gia Long và cho một con cá kình
ngư là con cá ông, đỡ thuyền của vua vô bến Cần Giờ. Rồi bây dăm mắm thêm muối
chi đó cho có vẻ lâm ly bi đát để có chỗ ca vọng cổ... Dân ở đây cúng Kỳ Yên có
cúng Cá ông đó, bây hát tuồng nầy là người ta thích lắm đó. Sao được hông? Tuồng
viết ra thành bổn hay hát cương cũng được, cứ cho đánh kiếm, cho bắn súng thần
công, cho Long Cung Thái Tử hóa phép, cho rồng vàng hiện lên hộ thể cho vua Gia
Long…
Ông Ách Một nói:
– Sao, anh Si Gia Long, chuyện tuồng Gia Long tẩu quốc như vậy,
viết ra được hay không?
– Dạ, bẩm quan, tôi hết si Gia Long rồi. Tôi hết dám Si Gia
Long rồi.
– Tại sao?”
– Dạ, mang tiếng si Gia Long mà hỏng biết gì về lịch sử Gia
Long hết, cái nầy người ta nghe, người ta cười tôi. Còn cái chuyện tuồng mà
quan lớn vừa vẽ ra đó, dạ khó lắm. Tuồng Tàu, tuồng Tây, mình có viết sai thì
dân coi hát cũng bỏ qua cho, sai là sai cái sử của thằng Tây, thằng Tàu, cũng
không quan trọng gì tới người Việt Nam mình. Còn như sử Việt Nam mà mình viết
sai thì a... thì... Dạ, bẩm quan, kỳ nầy về Saigon, tôi nhứt định sẽ nghiên cứu
kỹ lịch sử Việt Nam, tôi sẽ viết những tuồng sử Việt Nam cho đàng hoàng. Còn kỳ
nầy, thì xin quan tha cho.
Ông Chấp Sự cười hề hà:
– Thôi, thử bụng mấy chú thôi. Được rồi! Chuyện cả ngàn năm của
người Tàu, mấy chú rành ông này mặt mày ra sao, tánh tình như thế nào, chuyện
tình yêu gì của họ, mấy chú cũng rành rẽ quá. Vậy thì mấy chú cũng nên ráng mà
hiểu chút đỉnh lịch sử của mình. Dân mình biết rành chuyện Tàu vì mấy chú hát
tuồng Tàu. Nếu mấy chú hát tuồng sử Việt thì người dân mình cũng hiểu chuyện sử
của mình. Phải vậy không?
Tôi thấy thấm thía vô cùng vì câu nói đó, những chuyện truyền
thuyết như chuyện con cá ông “độ ” ghe tàu khi có gió to sóng lớn, chuyện bà thứ
phi Phi Yến của vua Gia Long bị bỏ rơi lại trên Côn đào, chuyện những trận đánh
oanh liệt của bà Bùi Thị Xuân, nói chung chuyện của những nhân vật anh hùng
trong lịch sử Việt Nam, tôi không biết rành rẽ, vậy mà tôi biết Tào Tháo mặt mốc
râu rìa, Quan Công mặt đỏ sử dụng cây Thanh Long Yến Nguyệt đao, Lưu Bị hay
khóc, Khổng Minh biết toán quẻ âm dương…
Gần sáu chục năm trôi qua, nhớ lại chuyện xưa, tôi tự thấy
tôi mơ hồ trong cuộc sống… Yêu một cô nữ sinh Gia Long nhưng tôi lại mơ hồ về
thân thế và cuộc sống của cô ấy. Chỉ biết S. rất đẹp, rất dịu dàng, ăn nói có
duyên, có nhiều nữ tính. Hình ảnh tà áo dài trắng thướt tha như cánh chim én
mang mùa xuân lại cho lòng tôi là hình ảnh duy nhứt đã theo tôi suốt mấy chục
năm dài phiêu bạt giang hồ.
Si Gia Long mà tôi cũng không biết tại sao người ta lấy tên của
một ông vua đặt tên cho một trường nữ trung học? Tôi không hề hỏi ” tại sao ”
trước những khúc mắc của cuộc đời. Mà có phải là người ta dùng tên vua Gia Long
để đặt tên cho trường đó không?
Nhờ có chuyện Si Gia Long mà tôi học được một bài học đáng nhớ
trong đời: làm nghề gì thì cũng phải ráng mà học cho thông suốt cái nghề đó. Và
nhất là đừng quên cội nguồn, viết tuồng Tàu, tuồng Tây mà quên đi cái nguồn gốc
Việt Nam của mình. Nghĩ cũng đáng tự trách mình lắm chứ.
“Si Gia Long” một chuyện đáng nhớ đời của một kẻ lang thang
hay mơ mộng như tôi.
TAO NGỘ TRÊN SÔNG
Nhắc đến những chuyện vui buồn đời nghệ sĩ, tôi không quên được
những ngày đầu khi tôi mới gia nhập ” làng hia mão “
Năm 1948, tôi theo gánh hát Tiếng Chuông (Bầu Cang). Hồi đó
người ta gọi là “ghe hát”, chớ không gọi là đoàn hát cải lương như bây giờ, vì
các gánh hát lưu diễn ở miền Tây phần lớn đều được di chuyển bằng ghe chài, ghe
bầu hay đò máy.
Thời đó, việc giao thông đi lại của nhiều quận, huyện ở miền
Tây phải theo sông, rạch hoặc kinh đào, đường bộ ít được mở mang, lại có nhiều
cầu nhỏ, cầu khỉ nên xe cộ khó qua lại được. Ghe hát di chuyển theo sông rạch mất
rất nhiều thời gian, gặp nhiều trắc trở khó khăn, nhưng cũng có nhiều kỷ niệm rất
vui, rất đẹp ở các làng xã ven sông mà ghe hát có dịp ghé bến.
Tết năm 1948, gánh Tiếng Chuông bán giàn hát ở chợ quận Cà
Mau. Ghe hát rời bến Châu Đốc khoảng 3 giờ sáng, đến 5 giờ chiều mà vẫn còn
lênh đênh trên sông Cái. Ghe chài di chuyển quá chậm vì tàu kéo nhỏ, máy yếu, lại
gặp con nước ngược. Ở dưới ghe một ngày một đêm, mọi người đều cảm thấy tù
túng, khó chịu. Một số đào, kép rủ nhau “bày binh bố trận”, sát phạt nhau trong
khoang ghe. Tuy là đánh bài ăn thua nhỏ nhưng cũng ồn ào như nhóm chợ chồm hổm.
Tôi rủ anh Trường Xuân (kép độc), anh Tuấn Sĩ (Kép mùi), Hề
Lòng và anh Năm Khạp (đờn kìm) lên mui ghe ngồi chơi để tránh cái ồn ào và nóng
bức trong khoang ghe. Gió chiều trên sông nghe mát rượi. Cảm giác thật là khoan
khoái, dễ chịu. Tôi ngồi lơ đễnh nhìn hai bờ sông, cây cối xanh tươi. Theo lời
anh tài công thì độ 8 giờ tối mới tới vàm vô sông Cà Mau, vậy là khúc sông nầy
có thể là gần ranh tỉnh giữa Sóc Trăng và Bạc Liêu. Cây cối xanh um mà tôi thấy
dài theo hai bờ sông có thể là vườn cây ăn trái như cây nhãn, hay xoài tượng,
xoài cát. Đến Cà Mau thì hai bờ sông có nhiều cây đước, cây mắm hay gốc bần,
bên trong xa là đồng đưng, lác, chớ không có vẻ trù phú như nơi mà ghe hát đang
được kéo qua. Dòng sông hẹp dần, chúng tôi có thể thấy người đi trên bờ. Anh
Năm Khạp cao hứng, lấy đờn kìm ra đờn, Tuấn Sĩ ca vọng cổ. Trường Xuân xuống
ghe lấy rượu đế và biểu vợ anh nướng vài con khô cá sặc để nhậu lai rai mới có
hứng mà ca. Ông Bầu Cang biểu anh Mười “ampli” đem micro và ampli pile( thứ
dùng để quảng cáo) cho chúng tôi dùng vì theo ông, gió sông lồng lộng như vậy,
đờn ca gì cũng không nghe được. Các cô đào Ngọc An, Bé Hoàng Vân, Lệ Thơ (vợ
kép Tám Cao, hiện nay là soạn giả Thanh Cao) cũng lên mui ghe, chung vui đờn ca
tài tử. Tuấn Sĩ ca trước, rồi tới đào Ngọc An, bé Hoàng Vân, chị Lệ Thơ ca vài
bài bản nhỏ trong tuồng “Trộm Mắt Phật”. Anh Sáu Xíu lấy đờn cò ra hòa điệu
với anh Năm Khạp đờn kìm. Tiếng đờn câu ca được máy ampli phóng lớn, vang vang
trên sông, bay đến các ngôi nhà ngói, nhà tranh trên hai bờ sông nên nhiều người
bước ra nghe. Vì ghe chài di chuyển chậm, đào kép lại ngồi trên mui ghe, tiếng
đờn tiếng ca nghe lồng lộng nên dân chúng càng lúc càng tập trung theo hai bờ
sông nghe hát. Bây giờ tôi mới biết thâm ý của ông Bầu Cang: nếu ông bảo đào
kép theo ghe ca quảng cáo, chắc là không ai chịu hoặc nếu có chịu thì ông cũng
phải trả tiền lương. Còn bày ra cuộc chơi, đào kép vui vẻ dự vào mà việc quảng
cáo gánh hát của ông cũng thực hiện được. Khán giả trên bờ vỗ tay khen, các nghệ
sĩ hứng chí ca không biết mệt, chỉ có ông Bầu Cang tủm tỉm cười, thỏa mãn, tin
tưởng ngày mai ông sẽ tha hồ hốt bạc…
Tao ngộ trên sông: Khởi Nghiệp Của Một Cô Đào.
Có mấy chiếc ghe thương hồ chở cây hoa kiểng, cây quít, cây tắc
vô chợ Cà Mau bán dịp Tết, thấy ghe hát đờn ca vui, cũng bớt mái chèo, cặp theo
be ghe chài mà nghe ca. Họ còn thưởng tiền và yêu cầu ca những bài mà họ thích.
Tuấn Sĩ, Ngọc An được thưởng tiền nhiều nhất, Tuấn sĩ thừa thắng xông lên, làm
luôn một bài vọng cổ Ông lái đò:
(nói lối)
... Mấy năm qua mấy mùa khói lửa, lão đã chứng kiến biết
bao nhiêu cảnh hưng vong của thế sự…
(Vọng cổ )
... …thăng trầm,
Nước mắt già nua pha lẫn nước xuôi dòng,
Bất giác lão đưa tay rờ lên mái tóc thì sau cuộc ba đào nó đã
trắng như bông.
(thơ Vân Tiên)
Chuyện đời như cánh phù du,
Sớm còn tối mất dạ sầu mà chi,
Sang giàu như áng mây bay
Mới vừa thấy đó phủi tay không còn
Hò..ơ… Nước giữa dòng có khi trong khi đục
Người ở đời có lúc nhục lúc vinh
Gẫm ai vô sự như mình
Đò ngang một chuyến…
Hò.. ơ… Đò ngang một chuyến
mặc tình nắng mưa.
(thơ Vân Tiên)
Thân già gạo chợ nước sông
Khỏe thì đưa khách mệt nằm xả hơi
Sang giàu mặc kẻ đua bơi
Công danh như thể bèo trôi giữa dòng
Ai dại ai khôn gẫm lại vẫn không bằng đời của lão.
Còn trời còn nước còn sông,
Còn cây đa bến cũ còn ông chèo đò.
Khán giả trên bờ vỗ tay và la lớn: ” Hay lắm… Ca hay lắm!”
Bỗng dưới ghe thương hồ có một cô gái lên tiếng hỏi:
– Các anh các chị là nghệ sĩ cải lương, ca vọng cổ đương
nhiên là hay rồi, các anh các chị dám hò đối đáp với tụi tui hông?.
Chúng tôi đang ú ớ, chưa biết tính sao, ông Bầu Cang ngồi trước
mũi ghe, nói khích:
– Liệu được hông bây? Hò mà thua, mất mặt “bầu cua ” à nghen.
Hề Lòng tự ái:
– Muốn chơi thì chơi luôn. Nè, mời cô leo qua ghe chài, ở đây
có mi cờ rô, hò lớn tiếng cho bà con nghe chơi.
Cô gái không đợi mời lần thứ hai, lần ghe nhỏ của cô tới gần
chỗ có thể leo lên ghe chài. Tía của cô đỡ dưới chân, Tám Cao và Tuấn Sĩ nắm
hai tay, kéo cô lên.
Ai hò trước? Hò “cái gì đây”? Tám Cao, Tuấn Sĩ, Hề Lòng bàn
thảo rù rì.
Cô gái cầm micro: Em thử giọng à nghe…
“Tới đây hỏng hát thì hò … Ơ. Hỏng phải con cò …
Hò ơ..Hỏng phải con cò ngóng cổ mà nghe.”
Hề Lòng nói:
-Để tui…
“Hò ơ… Đờn cò lên trục kêu vang,
Qua còn thương bậu… bậu khoan có chồng,
Muốn cho nhơn nghĩa đạo đồng
Qua đây thương bậu…ờ…hơ…
Qua đây thương bậu hơn chồng bậu thương...”
Cô gái hò:
“Hò..ơ..Em thấy anh, em cũng muốn chào,
Sợ rằng chị Cả…
Sợ rằng chị Cả dắt dao trong mình.”
Hề Lòng:
” Hò..ơ… Anh đâu phải mê bông quế mà bỏ phế cái bông lài,
Quế thơm ban ngày, lài ngát ban đêm, ơ…
Hò..ơ..Bông quế lại với bông lài,
Anh quyết bẻ hết, hò..ơ…
anh quyết bẻ hết, khỏi ai cằn nhằn..ơ…”
Cô gái:
“Hò..ơ… Lấy ai, lấy khính chồng người,
Lấy chồng kiểu đó… Hò..ơ…
lấy chồng kiểu đó, lấy chồng cùi sướng hơn.”
Tám Cao thấy Hề Lòng loay hoay, không ” nhập đề ” được, bèn cứu
bồ. Tám Cao hò:
“Hò..ơ… Gạo Ba Thắt trắng như bông bưởi
Nước phông tên tiền rưỡi một đôi,
Sài Gòn vui lắm em ơi
Lấy anh về đó…ờ…
lấy anh về đó, một đời sướng thân.”
Tám Cao, danh ca vọng cổ nên giọng rất trong, hơi hò âm vang
lảnh lót, cô gái có vẻ có cảm tình, cô gái liếc Tám Cao, đuôi mắt bén như dao.
Cô gái hò:
“Hò..ơ… Bớ người không quen ơi…
Nghe anh than em cũng muốn thương nhiều,
Nhưng hoa đà có chủ, khó chiều dạ anh,
Bình bồng ở giữa Giang Tân,
Bên tình bên nghĩa… Hò..ơ…
Bên tình bên nghĩa, biết thân bên nào? ơ…”
Tám Cao hò:
“Hò..ơ… Bớ nầy em ơi,
Nhứt lê, nhì lựu, tam đào,
Bên tình bên nghĩa… Hò..ơ,
Bên tình bên nghĩa, bên nào cũng thân…ơ… “
Tiếng cô gái:
” Hò..ơ. · · Nói vậy mà chơi,
Chớ gió thổi hiu hiu, lục bình trôi riu ríu,
Xin anh đừng bận bịu cái điệu chung tình…ờ…
Con nhạn bay cao khó bắn,
Hò..ơ… Con cá ở ao quỳnh..
con cá ở ao quỳnh cũng khó câu…ơ… “
Tuấn Sĩ dành micro, nói:
– Cho tôi hò với chớ!
Tuấn Sĩ hò:
“Hò..ơ… Cây trên rừng hóa kiểng,
Cá dưới biển hóa long,
Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong,
Anh đi hát lục tỉnh giáp vòng…ờ…
Đến đây trời khiến…hò..ơ..:
đến đây trời khiến đem lòng thương em…ơ.”
Tiếng cô gái:
” Hò..ơ… Má em dặn là…
Gái kiếm chồng nơi giàu sang nương tựa,
Đặng sáng với chiều lên ngựa xuống xe,…ơ…
Chớ đừng lấy bạn hát theo ghe chài…
Sáng ngồi lườn, tối nằm be,
Để thân con gái má phấn không người chở che…ơ…
Hò..ơ… Không người chở che, nó cũng uổng đời…ơ…”
Tuấn Sĩ hò:
“Hò..ơ… Em mà chịu lấy anh đây,
Chẳng phải đi cấy đi cày nữa đâu,
Ngồi trong rạp hát ăn trầu,
Ngồi trong rạp hát ăn trầu.
Có hai thế nữ… Hò..ơ…
Có hai thế nữ đứng hầu hai bên…ơ…”
Tiếng cô gái:
“Hò..ơ…Tía má em dặn rằng…
Lấy chồng chớ lấy chồng xa,
Lấy chồng kép hát đi ta bà thế gian,
Tưởng là sung sướng tấm thân,
Nay đình mai chợ… Hò..ơ…
Nay đình mai chợ, gian truân cả đời…ơ… “
Trường Xuân nãy giờ im tiếng, bây giờ mới xen vô, hò:
“Hò..ơ… Phải nói gì em mới chịu tin đây?
Đôi ta chẳng được sum vầy
Khác chi cánh nhạn lạc bầy kêu sương.
Nhạn lạc bầy nhạn thương nhạn nhớ,
Anh xa nàng…hò..ơ…
anh xa nàng anh khổ lắm nàng ơi.”
Cô gái chưa kịp hò trả lời thì tía của cô gọi ơi ới:
– Bớ Kim, nước lớn đang chảy xiết vô chợ, con mau xuống ghe
chèo riết đi con!.
Cô gái còn nuối tiếc cuộc hò đối đáp vui vẻ, chưa kịp về ghe
mình thì ông Bầu Cang xuất hiện, cười hề hề, đưa một tấm carte visite của ông
và nói:
– Cô Kim, tôi tặng cô tấm carte nầy. Bất kỳ khi nào và bất kỳ
ở đâu, khi cô gặp ghe hát Tiếng Chuông thì cô cứ tới phòng vé, chìa tấm carte nầy
ra là cô có quyền lấy vé mời xem hát … Bao nhiêu vé cũng được. Cô cứ coi như
gánh hát nhà đi. Nhớ nhe, một kỷ niệm tao ngộ trên sông.
Cô gái nhận món quà bất ngờ đó và nói:
– Cám ơn ông Bầu, thế nào em cũng sẽ tới kiến ông Bầu!
Cô Kim trở về ghe của mình, hai tía con nương theo con nước
đang đổ mạnh hướng về chợ, chèo ghe xa ghe chài của chúng tôi cho tới khi mất dạng.
Trường Xuân bật cười ha hả cái giọng cười bất hủ của anh rồi nói:
– Ông Bầu chơi kiểu cha! Tụi nầy tốn công dọn cỗ, ông ngồi
không mà nhào vô đớp một cách ngon lành. Đúng là chơi cái kiểu Papa mà.
Bầu Cang nói:” Bậy! Mầy hay nói bậy nói bạ! Tao đớp cái gì mà
mầy nói tao đớp? “
Trường Xuân:
– Thì cô Kim đó! Tụi nầy hò chọc ghẹo, ba bốn đứa hè nhau hò,
bao vây cô ta. Cô ta một mình chống đỡ, không theo ai mà cũng không thua ai. Bỗng
ông xen vô, đưa một tấm danh thiếp và cô ta đã hẹn: Thế nào em cũng sẽ tới kiếm
ông Bầu. Đó, hỏng phải là ông phỏng tay trên của tụi tui sao?.
Bầu Cang: ” Tao già rồi, răng cỏ đâu mà nói đớp với hỏng đớp?
Tụi bây trẻ, thấy gái thì chỉ nghĩ tới cái nọ cái kia… Còn tao đó hả…
Tuấn Sĩ cười mơn:
– Ông không nghĩ cái nọ, cái kia,. ông chỉ làm cái kia cái nọ
thôi!
Mọi người cười ồ lên vì câu nói ám chỉ của Tuấn Sĩ, nhưng ông
Bầu Cang vẫn bình tĩnh, nói như muốn phân bua với bà Năm Phát là vợ của ông
đang đứng theo dõi cuộc đùa cợt nãy giờ:
– Tụi bây quên tao là ông Bầu gánh hát, gặp một đứa con gái đẹp,
có giọng hò tốt, lại dạn dĩ không sợ ai, không mắc cỡ, tao nghĩ là làm sao để
nó theo gánh hát để đào tạo nó thành đào hát. Tao chắc chắn nó sẽ nổi danh
không thua ai đâu. Tao cá với tụi bây, cô Kim đó sẽ xin theo học hát ở gánh hát
của mình. Tao đưa cho tấm danh thiếp của tao là để cô Kim mạnh dạn tới sân khấu
đó.
Đúng như lời tiên đoán của ông Bầu Cang, sau Tết, cô Kim tìm
tới ghe hát Tiếng Chuông, xin theo học hát và trở thành cô đào với cái
tên: Nữ danh ca KIM ANH. Cô Kim Anh đã một thời lừng danh trên sân khấu
Thanh Minh đóng cặp chung với anh Út Trà Ôn.
TRƯỜNG XUÂN BỊ PHỤC KÍCH,
lặn sông mất tích
Khi ghe hát vô vàm sông Cà Mau thì trời gần tối, trong khoang
ghe mọi người đã ăn cơm rồi, chỉ còn những người trên mui ghe vì bận đờn ca tài
tử, hò hát nên chưa ăn. Ông Bầu Cang biểu bà “tẩm khậu” dọn lên mui ghe cho
chúng tôi, ông Bầu cũng lên nhậu lai rai. Rượu vào lời ra, có người khen cô Kim
đẹp người đẹp nết, giọng tốt hò hay, có kẻ khen ông Bầu có mắt tinh đời, biết
người biết của. Trường Xuân nhậu cũng hơi nhiều, nói lè nhè:
– Bây giờ đang có chiến tranh Việt Pháp, nếu thấy người lạ tới,
mình phải đề phòng. Rủi là lính kín phòng nhì tới dò xét, lỡ miệng nói bậy thì
bị tù. Nếu bên Việt Minh tới gây cảm tình, móc ngoặc, Tây biết được thì mình
cũng không yên. Tốt hơn hết là đừng giao thiệp với người lạ. Cẩn tắc vô ưu!
Ghe đã vô khỏi vàm một đỗi, trời tối đần. Chúng tôi định trở
vô khoang ghe thì phía bờ sông bên mặt, một loạt súng nổ chát chúa. Phía bên
trái cũng có tiếng nổ từng tràng dài, chúng tôi thấy lửa chớp chớp.
Trường Xuân la lớn:
– Bị Việt Minh phục kích rồi, anh em… nhảy xuống sông mau… nhảy.
Trường Xuân dứt lời phóng ầm xuống sông, bơi hướng vô bờ.
Hề Lòng, Tuấn Sĩ cũng phóng theo … Ngọc An nói như muốn mếu:
– Trời ơi… làm sao bây giờ? Tôi không biết lội…
Tôi nói:
– Bình tỉnh… mấy cô xuống ghe, núp ở một góc nào đó... Chờ
coi… sao đã!
Mấy cô nhảy xuống ghe, bên trong nhiều anh em nhốn nháo, chạy
tới chạy lui…
Phía trước, tàu kéo đứt đỏi, tháo chạy một mình thật mau, bỏ
chiếc ghe chài trôi lình bình. Anh tài công lái chiếc ghe chài cũng nhảy xuống
sông mất dạng. Ghe còn trớn kéo, bê ngang vô gần bờ. Trên bờ tiếng nổ càng dữ tợn,
nhiều loạt… nhiều loạt… Dường như “mặt trận” kéo dài vô phía trong vì hai bờ
kinh tiếng nổ như chuyền dài vô chợ. Mọi người nằm sát ván ghe. Ghe tấp vô gần
sát bờ, tôi với anh Tám Cao nhảy xuống sông, kêu mấy anh dàn cảnh quăng đỏi ghe
xuống rồi phụ với chúng tôi cột mũi ghe vô gốc bần.
Tiếng nổ vẫn còn, nhưng dường như tiếng nổ chuyển dần khỏi chỗ
chúng tôi núp. Đào, kép được từ từ cho lên bờ, nằm phục dưới đất, dưới mương để
tránh đạn và chờ coi tình hình ra sao. Ông Bầu, bà Bầu, mấy cô đào chấp tay vái
Tổ nghiệp cho tai qua nạn khỏi. Tôi với Tám Cao bò tới chỗ ông Bầu, hỏi ông bây
giờ tính sao? Ông run cầm cập, không nói được lời nào. Tiếng cô Ngọc An, giọng
run run, răng đánh bò cạp:
– Em. em lạnh quá! Em sợ quá…
Tám Cao nói:
– Im..đừng la! Coi chừng tụi nó còn phục kích trên đó... Để
anh ôm em, ” úm ” em một hồi là hết lạnh.
Tám Cao nói rồi, bò tới chỗ có tiếng của Ngọc An, bỗng tôi
nghe một tiếng ” bịch ” thật lớn, Tám Cao ngã ngang, la:
– Ai da! Chết tôi!
Tôi hỏi:
– Anh Tám, trúng đạn hả?
Tiếng vợ Tám Cao, chị Lệ Thơ la bài hải:
– Đồ già dịch! Tình cảnh vầy mà còn dê được…. thiệt là quá
mà…
Tôi kéo anh Tám Cao theo tôi:
– Chạy … Anh Tám. Ở đó chị Tám đạp anh mấy đạp nữa đa!
Chúng tôi lên tới bờ lộ. Bốn phía im phăng phắc. Tám Cao cười
hì hì, phân trần:
– Tôi tính làm phước, ôm cô Ngọc An cho cô ta bớt sợ, ai dè bị
con vợ tôi phục kích, nó đạp tôi đau quá mạng.
Tôi chỉ ánh đèn trong nhà dân:
– Anh Tám, có nhà còn thức, mình tới đó hỏi coi…
Chúng tôi tới ngôi nhà còn sáng đèn, chưa kịp lên tiếng,
trong nhà đã có người bưng đèn ra, hỏi:
– Mấy chú là ai? Ở đâu tới đây? Sao mình mẩy, mặt mũi bùn đất
không vậy?
– Dạ, chúng tôi ở dưới ghe hát, bị phục kích, hỏng biết là
Tây hay Việt Minh, súng nổ quá trời nên phóng xuống sông lội vô… Bộ… êm rồi hả?
Tám cao tiếp lời:
– Hết nghe bắn rồi! Họ rút lui hết rồi sao?
Chủ nhà lộ vẻ kinh ngạc:
– Ai bắn? Ai rút? Súng nổ hồi nào? (chợt hiểu ra, ông ta cười
ngả nghiêng). Tụi tui đốt pháo đón mừng ghe hát đó mà!
Tám Cao:
– Trời ơi, đốt pháo đón mừng ghe hát mà không cho biết trước…
Báo hại tụi tui sợ gần chết…
Tôi nói:
– Đốt pháo, có tiếng nổ, bộ bà con không sợ Tây nghi có Việt
Minh, nó đi ruồng bố sao?
– Quan ba, chủ quận Cà Mau cho lịnh đốt pháo. Lính bạt-ti-dăng
gác ở đầu vàm, thấy ghe hát tới, đốt pháo báo hiệu vô chợ. Dân ở hai bờ sông thấy
ghe hát về, họ mừng, sẵn dịp có phép của Quận nên họ cũng đốt pháo đó.
Chúng tôi xin mấy cây đuốc, đốt cho sáng, trở ra báo tin cho
anh em yên lòng. Chủ nhà cũng rủ vài ba người trong xóm đốt đuốc theo chúng
tôi.
Đi dọc bờ sông, chúng tôi lớn tiếng kêu, kiếm những anh đã
phóng xuống sông. Hề Lòng, Tuấn Sĩ và anh tài công bám theo bánh lái ghe, ngâm
mình dưới nước lâu, lạnh run.
Hề Lòng cằn nhằn, bị cá lòng tong rỉa, đau quá mạng mà không
dám lội đi chỗ khác. Tuấn Sĩ không nói không rằng, leo vô ghe, kiếm rượu uống
cho bớt lạnh.
Ông Bầu Cang biểu đốt mấy cái đèn măng-xông cho sáng rồi túa
đi kiếm Trường Xuân. Kêu hồi lâu không thấy trả lời, vợ Trường Xuân gào khóc rất
là thảm thiết. Bé Hoàng Vân, Ngọc An, Lệ Thơ tới an ủi, dìu vợ Trường Xuân vô
nhà dân ở gần đó. Chúng tôi chia nhau đi dọc bờ sông. Bầu Cang mượn ghe để cho
người chèo qua bờ bên kia kiếm. Bỗng có tiếng anh Sáu dàn cảnh la lớn:
– Thấy rồi …Thấy rồi… Cái chân của anh Trường Xuân đây nè …
Anh em xách đèn măng xông chạy tới chỗ anh Sáu dàn cảnh đứng.
Bầu Cang vừa đi vừa nói lải nhải:
– Cái gì kỳ vậy? Hỏng có mìn nổ, hỏng có bắn súng, mà sao đứt
cái chân, văng tới đó?
Thì ra anh Trường Xuân núp trong bụi ô rô, ló cái chân ra.
Chun vô thì dễ, lúc chun ra mới khó. Anh không lên tiếng trả
lời vì anh không muốn người ta thấy anh ở trong hoàn cảnh khó coi nầy. Bầu Cang
biểu lấy dao, chặt bụi ô rô, kéo anh ra.
Trường Xuân trọc
Mình mẩy bị gai quào rướm máu, Trường Xuân thề không tới cái
xứ Cà Mau hát nữa… nhưng thề là để cho đỡ tức, đỡ ngượng thôi, chớ anh ta cũng
trở lại Cà Mau nhiều lần để hát. Vì có gì vui hơn là khi gặp được khách tri âm,
người đồng điệu, hiểu được và chia xẻ với nghệ sĩ những nỗi niềm cảm xúc trong
câu ca điệu hát. Dân Cà Mau ái mộ nghệ sĩ. Nghệ sĩ gánh Tiếng Chuông cũng nhớ
suốt đời cái cách đón mừng gánh hát của dân Cà Mau trong thời đất nước còn chiến
tranh.
LONG ĐONG KIẾP CẦM CA
một thời ăn quán ngủ đình
Xem internet, thấy đăng tin nghệ sĩ Kim Tử Long, Ngọc Huyền
đi nước Úc, trình diễn cải lương (trong các quán rượu với những trích đoạn cải
lương, chớ không phải hát trọn tuồng trong một rạp hát đàng hoàng ), tôi mừng
cho các bạn trẻ ngày nay được đi diễn ở những nơi xa xôi bằng phi cơ. Thật là
mau lẹ, tiện lợi.
Bỗng nhiên tôi nhớ lại chuyện ngày xưa, cách nay hơn nửa thế
kỷ…
.
Hơn nửa thế kỷ trước, trong những thập niên 1940, gánh hát
còn di chuyển bằng ghe. Bầu gánh, đào, kép chánh thì ở trong ghe chài lớn, mỗi
người một phòng, có ngăn vách, có trải thảm trên sàn ghe, có bàn, ghế, tủ đựng
quần áo hay vật dụng riêng. Diễn viên phụ, kép dàn bao, vệ sĩ, công nhân dàn cảnh
thì ở chung một ghe khác, trải chiếu trên sàn ghe, trai thì ngủ tập trung phía
trước mũi ghe; gái ngủ trong khoang ghe; dàn cảnh ngủ trên mui ghe. Thông thường
di chuyển một hay hai ngày mới đến bến diễn, cơm nước mỗi ngày cho toàn đoàn là
do “tẩm khậu” nấu. Khi diễn ở rạp hát thì ông bà Bầu, đào, kép chánh vẫn ở dưới
ghe vì họ có phòng riêng, có đầy đủ tiện nghi; các anh chị đào, kép dàn bao, vệ
sĩ hay công nhân sân khấu thì lên rạp hát ở. Họ ở dưới hầm rạp hay chờ khi vãn
hát thì kéo ghế của khán giả, kê lại làm chỗ ngủ. Tắm rửa, giặt giũ hay vệ sinh
là ngay trong rạp hát. Ban ngày nếu không có tập tuồng mới hay phải dượt lại tuồng
cũ cho người thế vai thì thường thường anh em thả rong đi chơi. Những nơi có
danh lam thắng cảnh như Huế có lăng tẩm, có đại nội, hay ở Nha Trang, Vũng Tàu,
Đà Lạt, họ thường kéo nhau đi ngoạn cảnh.
Dân chúng địa phương thấy đào, kép hát thật là sung sướng, thảnh
thơi. Dạo phố thì họ ăn mặc thật đẹp; địa phương nào có món ngon, vật lạ thì
dân cải lương có đến ăn thử, thưởng thức.
Có người không thích du ngoạn, thích rượu chè, bài bạc thì
tha hồ say sưa hay sát phạt nhau trong rạp hát. Cảnh sát ít khi vô xét rạp hát
nên đào kép không bị bắt vì tội “tứ đổ tường”.
Người ngoài chỉ thấy khía cạnh cuộc sống tự do, phóng khoáng
của họ, chớ ít ai biết được là cuộc đời giang hồ lảng tử của đào, kép hát đã phải
chịu gian khổ, chịu sự chèn ép bất công của những kẻ ỹ thế cậy quyền.
Nếp sống vừa kể trên đây là nếp sống của những nghệ sĩ cải
lương các đoàn hát lớn, các đại ban trong những thập niên 1940, 1950. Họ được lảnh
lương đầy đủ theo tài năng, theo những xuất hát của Đoàn; việc ăn, ở, di chuyển,
tập tuồng và biểu diễn trên sân khấu là do Bầu gánh, Quản Lý và Biện tuồng, Thầy
tuồng lo.
Cuộc sống rày đây mai đó, khi thì biểu diễn ở tỉnh này một tuần
lễ rồi dọn đi nơi khác, khi thì ở huyện nọ vài ba hôm là đổi bến diễn; nơi nào
có rạp hát, có sân bãi để diễn thì có mặt đoàn hát cải lương ở đó. Đoàn hát là
một tổ chức có nề nếp, có tôn ti trật tự nên dù luôn luôn di chuyển, đoàn vẫn
hoạt động rất hữu hiệu.
Một thời ăn quán ngủ đình
Ở các đoàn hát nhỏ, trung ban, tiểu ban thì phải nói là cuộc
sống của anh em nghệ sĩ rất khó khăn. Người ngoài nhìn vào thì nhiều khi thấy
thảm thương cho hoàn cảnh nghèo nàn của các nghệ sĩ đó, nhưng chính bản thân, họ
thấy bình thường, đôi khi còn tỏ ra thích thú vì cuộc sống “không giống ai” của
người nghệ sĩ.
Năm 1948, tôi theo đoàn cải lương Tiếng Chuông của Bầu Cang.
Đó là một đoàn hát trung ban. Khi đi hát bán giàn các vùng xa như ở các tỉnh Cà
Mau, Bạc Liêu thì ông Bầu mướn ghe chài trung, có tàu kéo nhỏ. Khi hát quanh quẩn
ở các quận của tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Mỹ Tho hay Bến Tre thì ông Bầu mướn vài
ba chiếc đò máy, hoặc nếu có đường lộ thông thương thì ông mướn xe tải, xe đò.
Vận chuyển bằng đò máy hay xe tải nhỏ, anh em trong đoàn hát
phải ngồi chen chúc với nhau, đôi khi phải ở trên mui một số người. Khi đến gần
bót gác, xe ngừng lại, anh em trên mui xuống đi bộ, qua khỏi bót một đổi, lại
lên mui xe mà ngồi.
Có lần, sau đêm diễn ở quận Vũng Liêm, dọn qua chợ Tam Bình,
đi đến gần ngả ba lộ tẻ, anh em phải xuống xe đi bộ, qua khỏi bót gác mới lại
lên xe. Anh Tám Cao, kép chánh, Trường Xuân, kép độc, ngồi trong xe, cảm giác mệt
mỏi, bèn theo các anh dàn cảnh trên mui xe, xuống đi bộ một khoảng đường cho
thoải mái. Khi anh em trở lên xe chạy tiếp, đến chợ Tam Bình, xem lại thì không
có mặt anh Tám Cao và Trường Xuân. Cả hai khi xuống xe nơi ngả ba lộ tẻ, thấy
có gánh bán ốc gạo ở vệ đường, bèn ngồi xuống ăn ốc gạo, uống vài ly rượu đế.
Không biết ăn ốc gạo ngon cỡ nào mà hai anh quên cái chuyện phải trở lên xe để
đi tiếp. Còn tài xế xe thì chỉ kiểm điểm những người trên mui, hể đủ thì chạy,
quên trong xe thiếu hai người. Tám Cao và Trường Xuân không đón xe được, đành
phải lội bộ.
Đêm đó hát tuồng “Trộm Mắt Phật”, Trường Xuân đóng vai A
Bu, đi cà nhắc vì lội bộ bị phồng chân. Còn Tám Cao thủ vai A La Đanh, thỉnh
thoảng bỏ chạy nhanh vô buồng, bỏ mặc cho A Bu hát cương một mình vì Tám Cao ăn
ốc gạo, bị Tào Tháo rượt.
Hát ở quận Tam Bình, đoàn hát bao nhà lồng chợ bằng cà-tăng,
lấy thùng phuy xăng kê chen lại, gác ván lên làm sân khấu. Tối lại, khi vãn
hát, một số đào kép phụ thì ngủ lại trong chợ, số đào kép chánh, kép độc Trường
Xuân và ông bà Bầu thì ở trong đình Thuận Hóa gần bờ sông.
Thời buổi này đang còn chiến tranh, lính “Bạt-ti-dăng ” dặn
là đêm tối, bất cứ ai cũng không được đi ngoài vòng rào đình.
Những người ngủ ở trong chợ thì cũng không được đi ra khỏi chợ
trước khi trời sáng vì họ sợ Việt Minh lẻn vào gây rối.
Trong đình ẩm ướt, nhiều bụi bặm, mùi mốc đến khó thở, cô đào
trẻ đẹp nhứt của đoàn là Ngọc An kêu mấy anh dàn cảnh che bốn tấm panneaux bao
quanh ghế bố của cô sát phía vách sau của đình để cô ngủ.
Đêm đó, lính Bạt-Ti-Dăng đi tuần, thấy có bóng người bò bò gần
gốc cây da sau đình, lớn tiếng hỏi: “Ai? Đứng lại! Nếu chạy tôi bắn!” Bóng đen
vụt chạy vô sau đình, lính bắn một cái đùng, bóng đen phóng vô dàn panneaux che
chỗ ngủ của Ngọc An nghe cái rầm. Ngọc An đang ngủ, bị panneaux đè, tưởng bị cướp,
phát la lớn: “Bớ mã tà, bớ cảnh sát, cướp! Cướp!”. Bóng đen bụm họng Ngọc An,
năn nỉ: “Đừng la! Qua đây nè em!”
Lính rọi đèn pin vô đình, hò hét, quát tháo, bảo ông Bầu bắt
người lạ mặt mới chạy vô đình giao cho bót. Ông Bầu cho đốt đèn manchon cho
sáng để lính vô xét. Đào kép ngủ trong đình phải ngồi xếp hàng dưới đất để lính
với ông Bầu điểm danh. Ồng Bầu phân trần: ” Đâu có người nào lạ mặt chạy vô
đây!”
Chúng tôi đều biết vắng mặt một người, nhưng vì có lính ở đồn
tới xét nên chúng tôi im lặng, không muốn rắc rối. Bỗng chị Tám Cao phát la lớn:
“Rồi, tôi biết là thằng nào mới chạy đó. Mấy chú xách đèn theo tôi, đi bắt bợm!”
Tôi kéo tay chị Tám lại, nói:” Chị Tám, bộ chị mớ ngủ hay sao
mà nói gì kỳ vậy”?
Chị Tám vẫn la lớn:” Thằng chả! Tôi biết là thằng chả đi o
mèo, bị bắt quả tang nên chạy đó, chớ chẳng có ai trồng khoai ở đất này”.
Ông Bầu, lính và chúng tôi theo chị Tám ra sau đình, rọi đèn
thấy Tám Cao đang ngồi chung ghế bố với Ngọc An, mền quấn ngang bụng.
Chị Tám la: “Đó! Đó! Tôi nói có sai đâu. Tổ nghiệp ơi Tổ nghiệp!
Ngó xuống mà coi! Đã có vợ có con mà còn đèo bòng thêm vợ bé vợ mọn. Tổ nghiệp
ơi, coi nó giựt chồng tôi nè Tổ nghiệp. ”
Chị Tám ôm mặt khóc bù lu bù loa. Ngọc An cũng khóc, kêu oan.
Ông Bầu bảo Tám Cao phải khai thiệt, đừng để rắc rối trong đoàn.
Tám Cao tức quá, nhảy xuống đất, quăng cái mền ra, xây lại: ”
Đây nè! Một quần đây nè! Tao ăn ốc gạo, bị phá bụng, ra gốc da, tính xổ bầu tâm
sự, mấy ổng thấy bóng đen, mới kêu lên là bắn liền, hỏng chạy núp vô đây thì
núp ở đâu?”
Ông Bầu với mấy chú lính ôm bụng, cười bò ra. Ngọc An được giải
oan, khóc ồ ồ: ” Đó! Rồi ai lo giặt mùng, mền, ghế bố cho tôi? Ổng xổ đầy ra
đó. Tôi sợ mấy ông lính nên cắn răng mà ngồi chịu trận, vậy mà chị Tám còn chưởi
bới tôi nữa. Ngày mai, tôi về Sàigòn, hỏng hát nữa…”
Chị Tám ghen ẩu, mắc cỡ, nói lảng chuyện khác: ” Đi! Ông Nội!
Đi tắm rửa rồi tôi lấy quần áo cho mà thay. Ngày mai, mướn người ta giặt đồ, đền
bù cho Ngọc An.”
Vợ chồng Tám Cao kéo nhau đi ra ao nước trước đình, mấy chú
lính biểu xách theo chiếc đèn manchon. Bà Bầu biểu Ngọc An vô ngủ gần bà, ngủ
trên cái ghế trường kỹ trước bàn thờ thần Thành Hoàng Bổn Cảnh.
Trường Xuân nheo nheo đôi mắt, nói với tôi bằng một giọng buồn
buồn:
– Cái thân mình Ăn Quán Ngủ Đình, trong lúc chiến tranh, rắc
rối sơ sơ vầy là có Tổ nghiệp phù hộ cho, chớ nếu không thì phát súng ban nảy
làm cho Tám Cao đổ ruột, chớ không phải sợ tới “vãi” ra một quần như vậy đâu.
Chỉ Có trong Giấc Chiêm Bao, Mới Có Đi Ăn Tiệc!
Số diễn viên phụ, các công nhân sân khấu, ngủ tại chợ thì còn
nhiều chuyện nhiêu khê.
Vãn hát thì đã hơn 11 giờ khuya, loay hoay rửa mặt, thay đổi
xiêm y, ăn uống xong, dọn dẹp để ổn định chỗ ngủ thì cũng hơn 12 giờ. Người nào
cũng tranh thủ ngủ ngay vì sau đêm hát quá mệt, họ cần ngủ để lấy lại sức khỏe.
Nhưng mới 5 giờ sáng hôm sau thì người mua kẻ bán ở chợ đã tấp
nập, ồn ào. Những ai trong đoàn hát ngủ trong chợ thì giờ chợ nhóm cũng phải thức
dậy, dù ngủ chưa đã thèm, họ vẫn phải cuốn mền, xách gối, dẹp mùng, kẻ nào còn
buồn ngủ quá thì vô đình, làm thêm một giấc.
Ai có tiền thì lại quán cà phê, làm một cái xây chừng (tức là
ly cà phê đen nhỏ ).
Trong đoàn có một em vệ sĩ (chuyên đóng quân ) tên Sáu, có biệt
danh là Sáu Đá, vì em ngủ mê, muốn đánh thức, phải đá đít ít nhứt là sáu cái
đá, em mới chịu dậy. Vì biết tật mình mê ngủ, em Sáu Đá lúc dọn tới bến diễn mới
là em dành chỗ ngủ trước, trải chiếu, dành phần.
Khi đoàn hát di chuyển bằng ghe thì em ngủ dưới ghe, nơi mà
em có thể ngủ tới bao lâu cũng được. Hát đình, hát chợ thì em dành chỗ dưới gầm
sân khấu; dù nhóm chợ hay cúng đình, chỗ đó cũng được an toàn, không ai tới đuổi
em đi.
Hát ở chợ Tam Bình lần này, em theo xe chở đồ dàn cảnh, xe hư
dọc đường nên gần sáu giờ chiều mới đến bến diễn, những chỗ ngủ tốt thì các anh
em tới trước đã dành hết rồi, em đành chọn thớt thịt trong chợ làm chỗ ngủ để
qua đêm.
Thớt thịt rộng, dài như bộ ván nhỏ, tuy còn hôi mùi thịt mở,
nhưng em lấy banderole cũ trải lên, rồi thêm một chiếc chiếu lên trên nữa thì
giống như một bộ ván gỏ của nhà giàu, em nằm được thẳng lưng, ngay cẳng, khoái
quá, em cười hô hố rồi la lớn: “Bữa nay trẩm ngự giữa long sàng. Quân bây có nhậu
thì nói cười nho nhỏ cho trẩm an giấc điệp, nghe không?’
Vài phút sau là nghe tiếng ngáy ồ ồ…Sáu Đá ngủ say mê, tưởng
chừng trời long đất lở, em cũng bất cần.
Tối đó, cô Lệ Thắm, vợ của Tuấn Sĩ nấu cháo vịt, đánh tiết
canh để vãn hát bán cho anh em trong đoàn. Tuấn Sĩ, Hề Lòng, Văn Bảnh, Thu Cúc
rủ tôi ở lại nhà lồng chợ để ăn cháo vịt, nhậu đế và đàn ca rỉ rả chơi, có ông
xếp bót và vài chú lính tới nhậu nữa. Tôi không thể từ chối, đành ở nhậu xã
láng một đêm, tới sáng vô đình, chun dưới bàn thần để ngủ bù vì ban ngày không
có tập tuồng nên không sợ mệt.
Đêm đó, Năm Khạp đờn kìm, Ngọc Sáu đờn cò, Tuấn Sĩ, Hề Lòng,
Lệ Thắm, Thu Cúc ca thật là mùi. Ông xếp bót ngứa miệng, cũng ca bản Xuân
Tình: “Tống Tửu Đơn Hùng Tín” hơi ca rỗn rãng, chắc nhịp. Khi ông ta
kêu “Bớ Trình Giảo Kim!” tụi tôi năm sáu người có mặt, rượu vô ngà
ngà rồi nên hè nhau: ” Dạ, có đệ đây, hiền hữu có điều chi dạy bảo? ”
Ông xếp cao hứng, ca hết bài này tới bài khác. Rồi ổng bảo
1ính ca… Ông nói:
– Tụi bây hát hồi tối rồi, khuya này để gánh bầu Tèo của tụi
tao ca. Bây lo ăn cháo, nhậu lai rai, nghe hát nhớ vỗ tay. Tao ca mà hỏng vỗ
tay, tao bắt vô bót, tao cạo đầu bây đó.
Cuộc vui không kể giờ giấc. Trong xóm có tiếng gà gáy nhìn ra
bốn hướng đường dẫn tới chợ, nhiều ngọn đèn dầu nhấp nháy như sao trời một tối
không trăng…Bạn hàng chợ, bưng hay gánh hàng, mỗi người đều phải cầm một cây
đèn dầu, đèn cóc hay đèn bão để chứng minh mình là người dân chơn chất làm ăn.
Những chùm ánh sáng vàng le lói đó như bị hút về hướng chợ,
càng lúc càng nhiều. Tiếng bạn hàng chợ càng lúc càng ồn ào hơn; chúng tôi thu
dọn mùng, mền, chén dĩa, ly nhạo để trả chợ cho người mua kẻ bán.
Trời sáng dần. Tôi nghe tiếng một chú chệt la: “Hầy! Lứ dậy
li chứ. Lứ ngủ hoài Úa nàm sao bán thịt? Dậy li! Chả thớt thịt cho Úa. Chời ơi,
ngủ hoài, kêu hỏng dậy. ”
Tôi biết là Sáu Đá ngủ trên thớt thịt, ông Tàu kêu mà em ngủ
say quá, không thức dậy nổi. Hề Lòng nói: “Để tôi đá vô đít nó sáu đá thì nó mới
thức dậy”.
Tôi bảo: “Đừng, nếu nó không thức thì tụi mình hè nhau khiêng
nó vô đình cho nó ngủ tiếp. Khi nào ngủ đã rồi thì nó dậy, khỏi kêu. ”
Lệ Thắm bước tới ra dấu cho chú chệt khỏi nói khỏi la nữa, cô
mua một miếng thịt heo quay, cầm thịt heo quay nhử nhử trước mũi, miệng của Sáu
Đá. Chúng tôi tới gần coi Lệ Thắm làm gì. Trong thâm tâm, tôi không muốn cho Lệ
Thắm đùa như vậy, vì tôi cảm giác như chính mình bị xúc phạm. Tôi cũng “Ăn Cơm
Cải Lương “, dân cải lương ngủ đình, ngủ chợ đã là một sự sỉ nhục, phù hợp với
cái thành kiến muôn đời “xướng ca vô loài”. Nay đem thịt heo quay thơm phức, nhử
trước mũi, nếu trong giấc mơ, Sáu Đá liếm mép, hay cắn đại một cái, có phải là
người trong giới mình đi bêu rếu mình không? Tuy nhiên con người soạn giả, tâm
hồn một nhà văn trong tôi, lại muốn để yên để xem một con người đói ăn, đói uống,
đói ngủ thường trực sẽ phản ứng ra sao trước cái cám dỗ của vật chất, nhất là
trong lúc ngủ, nghĩa là trong lúc mình không ý thức được việc làm của mình.
Tiếng cười ồ và tiếng vỗ tay của những người chung quanh cắt
đứt giòng tư tưởng của tôi. Em Sáu Đá trong giấc mơ, tưởng đang ăn tiệc, nên em
liếm mép, rồi đưa tay cầm miếng thịt heo quay, cắn, nhai một cách ngon lành. Tiếng
cười nói ồn ào cộng với vị mặn của thịt heo quay đã đánh thức em. Sáu Đá ngỡ
ngàng ngó mọi người, xấu hổ vì ngủ giữa chợ, trước mắt một đám đông, nên lồm cồm
ngồi dậy, quơ tay ôm chiếu, mền, banderole, tay kia vẫn cầm miếng thịt heo
quay, vừa cắn vừa đi về phía đình như không có chuyện gì xảy ra cả.
Mọi người chứng kiến việc vừa rồi coi như tấn tuồng đã chấm dứt,
người mua kẻ bán trở lại với sự bận tâm của họ. Chú chệt bày thịt ra thớt, cầm
dùi sắt, mài dao nghe ren rét. Tôi cảm giác như dao cứa vào trái tim của tôi,
đau nhói. Tôi đi về phía đình, kêu Sáu Đá lại hỏi:” Tại sao lúc nảy em ăn miếng
thịt heo quay đó mà không hỏi là của ai? Em đã thức rồi mà còn giả vờ ngủ để được
ăn heo quay, phải vậy không”?
Sấu Đá ngơ ngác, không hiểu tại sao tôi hỏi với vẻ bực tức.
Em nói:
– Em nằm mơ, thấy được ăn thịt heo quay nhân ngày giổ Tổ. Vậy
đó, em ăn. Chỉ trong dịp giổ Tổ, tụi em mới có thịt heo quay ăn, hỏng phải vậy
sao Chú?
Tôi im lặng, đau thắm thía trước cái thực tế phủ phàng của một
kiếp nghệ sĩ nghèo.
Sáu Đá vẫn vô tình, bồi thêm một câu:
– Em ngủ hoài muốn nằm chiêm bao. Trong giấc chiêm bao mới được
đi ăn tiệc, mới được lên xe xuống ngựa. Nhiều khi thức giấc rồi, em cũng nhắm mắt
để nhớ lại trong chiêm bao, mình sung sướng như thế nào.
Tôi bỏ ra bờ sông, ngồi suy nghĩ một mình. Đêm rồi thức trắng
đêm vì các bạn và vì ông xếp bót muốn đờn ca tài tử. Bây giờ thấm mệt nhưng tôi
không tài nào ngủ được vì câu nói vô tình của em Sáu Đá “Chỉ có trong mơ,
em mới hưởng được sự sung sướng “.
Dòng sông nước chảy lờ đờ. Một giề lục bình trôi dật dờ như
phiêu lưu vô định, vướng cọc tre, tấp vô bờ. Nước lớn, lục bình trôi vô, nước
ròng, lại trôi ra; cuộc đời nghệ sĩ có giống như giề lục bình kia không?
Hơn năm mươi năm sau, tôi có được câu trả lời:: “Cuộc đời
của mình do bàn tay và khối óc của mình quyết định, chớ không buông xuôi trôi
theo con nước như giề lục bình vô tri kia. ”
Chuyện em Sáu Đá đã hơn năm mươi năm qua rồi, nếu ngày nay em
còn sống, chắc cũng gần 70 tuổi rồi.
Cải lương sau những thập niên 60, 70, có nhiều người được sống
sung sướng, có xe hơi, nhà lầu, có danh vọng, được xã hội thương mến và nể phục.
Nghệ sĩ cải lương đã có một thời vàng son, nếu nằm trong mơ cũng chưa chắc gì
biết hết được.
TRÊN ĐƯỜNG PHIÊU BẠT
chút tình lãng mạn
Thấy các nghệ sĩ trẻ ngày nay được hưởng cuộc sống đầy đủ tiện
nghi, tôi nhớ lại nửa thế kỷ trước đây, nghệ sĩ cải lương chúng tôi đã sống một
cuộc đời du mục, rày đây mai đó, vui buồn theo con sông, bến nước, cuối chợ đầu
làng. Ấm no hay đói rách nhờ vào khán giả và các Mạnh Thường Quân ở khắp mọi
nơi.
Còn nhớ mùa nước lụt năm 1950…
Đoàn Tiếng Chuông Bầu Cang hát ở chợ Thủ Thừa, tỉnh Tân An,
lúc đó khoảng cuối tháng 10 dương lịch, mùa nước nổi năm đó lớn quá, nước ngập
vô tới chợ, ngập luôn trong rạp hát và hầm sân khấu. Trời lại mưa dầm luôn mấy
ngày đêm, đoàn hát không hát được.
Ông Bầu Cang chạy lo tiền cơm cho toàn đoàn ăn, ba ngày đã hụt
hơi, ông nói phải về Sàigòn vay nợ rồi sẽ trở xuống mướn xe hay ghe tàu, đưa
đoàn trở về Sàigòn. Nhưng ông về Sàigòn không vay được nợ hay vay được mà ông
đã nướng hết vô sòng bạc Kim Chung nên ổng trốn luôn, để mặc cho vợ ông, cô Năm
Phát (chị ruột của nữ nghệ sĩ tài danh Sáu Ngọc Sương) một mình lèo lái đoàn
trong cơn khốn khó. Cô Năm Phát cầm cố nữ trang, chạy ăn từng bữa cho toàn thể
nhơn viên trong gánh hát.
Kép chánh Thanh Cao, đào chánh Ngọc An, kép độc Trường Xuân
cũng phải cầm quần, bán áo để qua cơn túng ngặt.
Đoàn không thể dời đi bến nào khác được vì nước ngập cả lộ số
4 (đường Sàigòn – Mỹ Tho), nên không mướn được xe tải hay xe hàng. Qua đến ngày
thứ 8, mưa dứt hột, nước rút nhiều, trong quận đường xá còn nhiều sình lầy
nhưng có thể đi tới đi lui trong phố chợ.
Bà Năm Phát muốn mướn xe để dời đoàn ra tỉnh Long An, nhưng
kép độc Trường Xuân đề nghị ở lại thêm mười ngày để hốt bạc rồi mới dời đi. Kép
độc Trường Xuân nổi danh là Thầy Rùa (như Dư Hồng, thầy rùa trong tuồng Lưu
Kim Đính sát tứ môn thành), có nhiều sáng kiến, nhiều mưu kế giúp đoàn thoát
nguy nhiều lần, nên đề nghị lần nầy của Trường Xuân được mọi người lắng nghe
mưu kế kiếm tiền của anh trong cơn thắt ngặt nầy.
Anh nói:
– Mấy bữa nay, tôi theo anh em dàn cảnh đi soi ếch, bắt cá để
cải thiện bữa ăn, tôi gặp ông chủ tiệm thuốc Bắc ở đầu chợ, ổng nói mấy chú đi
soi ếch, bắt cá khuya vậy, nguy hiểm lắm. Dù cho mấy chú lính trên đồn ở đầu cầu
thông cảm cho mấy chú đi đêm, không bắt bớ, nhưng thằng Tây xếp bót ở đồn gần
sân banh, đêm đêm nó thấy bóng đen là xả súng bắn liền. Mấy chú có thể làm công
việc khác, kiếm tiền nhiều hơn để mua cá mắm, sao mấy chú không làm?
Trường Xuân nói:
– Tôi chỉ biết hát, mấy anh em nầy chỉ làm dàn cảnh, khuân
vác đề co, đâu có nghề nghiệp gì khác.
Ông cười, nói:
– Mấy chú theo tôi, tới tiệm thuốc Bắc của tôi là biết liền hết.
Trường Xuân kể tiếp:
– Tới tiệm thuốc Bắc, ông biểu vợ ông nấu một nồi cơm lớn,
canh chua cá sặc bướm với rau muống, thịt kho hột vịt, cá trê dầm nước mắm gừng
cho chúng tôi ăn một bữa no nê. Tôi cẩn thận, vô công bất thọ lộc, hỏi ổng muốn
chúng tôi làm gì mà đối xử trọng hậu như vậy? Ông biểu chúng tôi cứ ăn cơm no
nê đi, ổng thấy gánh hát nghỉ hát nhiều ngày, anh em phải đi soi ếch, bắt cá,
hái rau để có cái ăn, ổng thương nên muốn giúp một bữa ăn ngon thôi. Mấy anh em
kia ăn thiệt tình, thật no, thật ngon, còn tôi thì băn khoăn hoài nên dứt bữa
ăn, tôi nói:
– Thực nhơn tài phải cứu nhơn tai, chúng tôi thọ ơn ông rồi,
vậy ông cần gì thì nói thiệt với chúng tôi.
Ông nói:
– Mấy chú dọn cảnh là bày ra, dẹp vô cảnh trí trên sân khấu.
Sẵn nước lụt, tiệm của tôi đầy bùn đất, rác rến mà chúng tôi không có sức để dọn
dẹp. Mấy chú giúp dùm như dọn đồ hát trên sân khấu, tôi mua bán được, trả tiền
công cho mấy chú, vậy hỏng tốt sao?
Tôi còn do dự thì anh Sáu Dàn Cảnh nhận lời:
– Mình giúp cho khán giả ái mộ, cũng là chuyện tốt mà!.
Nói xong là mấy anh lấy vá, xuổng xúc bùn đất đổ ra ngoài sau
hè, còn gánh nước rửa cửa tiệm sạch sẽ.
Người trong xóm thấy có người trong đoàn hát tới giúp cho tiệm
thuốc Bắc, họ khen mấy chú gánh hát tử tế, rồi họ đề nghị là tới giúp họ. Ngoài
việc cho ăn cơm nước tử tế, trả tiền công trọng hậu, lại còn cho thêm gạo thóc,
cá mắm. Bao gạo mà mấy anh em dàn cảnh đem về cho “thẩm khậu” nấu cơm cho toàn
đoàn ăn, đó là của tiệm chạp phô ngoài phố tặng cho đoàn hát khi anh em tôi tới
giúp họ vét bùn, sửa sang cửa tiệm.
Ông chủ rạp hát nghe đồn anh em trong gánh hát giúp dân trong
phố dọn dẹp nhà cửa sau cơn nước lụt bèn đến gặp chúng tôi, đề nghị anh em vét
bùn, rửa sạch rạp hát của ông, ông cho hát một tuần lễ không lấy tiền mướn rạp,
đồng thời ông bao trả tiền mướn máy đèn trong tuần lễ đó, ngoài ra còn cho căng
một giây đèn nhiều bóng, chạy dài từ phố chợ vô rạp hát.
Nên biết là ở quận Thủ Thừa trong những năm 1940, 1950, 1960,
đèn trong quận chỉ được thắp sáng từ 6 giờ tối đến 10 giờ. Sau đó nhà đèn chỉ
còn cho mấy ngọn đèn đường leo lét, đèn nhà câu trực tiếp của nhà đèn đều bị
cúp. Những tiệm nước, tiệm bán ăn khuya phải thắp đèn manchon hoặc đèn dầu lửa.
Ông chủ rạp hát chịu tốn kém như vậy để nhờ đoàn hát làm cho
rạp hát của ông hoạt động trở lại. Vậy là tất cả anh em nghệ sĩ, công nhân sân
khấu ra sức rửa cho sạch rạp hát, sàn diễn, hầm sân khấu và cả ghế khán giả.
Tuần lễ đó, hát đông nghẹt khán giả vì dân trong phố có cảm
tình với gánh hát. Tiền mướn rạp khỏi trả, lại hát complet nên lương anh em được
gấp đôi, bà Năm Phát và anh em cũng có tiền chuộc lại nữ trang và đồ đạc đã cầm
cố trong những ngày lụt lội vừa qua.
Đêm hát đầu tiên, có cô thôn nữ tên Huệ (dường như là hoa
khôi Thủ Thừa), lên sân khấu hò một câu tặng anh em trong gánh hát
Hò ơ… Qua sông Vàm Cỏ Tây, em nhớ Thủ Thừa trong mùa nước nổi…
ờ…ơ...
Đường đi lầy lội,… nước cả mênh mông..
Nghiêng nghiêng cánh cò soi bóng trên đồng…ờ…
Thương anh kép hát….ơ…thương anh kép hát, gánh gồng giúp dân
ơ….ơ…
Khán giả vỗ tay hoan hô quá mạng, cô Huệ cúi chào rồi định bước
xuống phòng khán giả, Trường Xuân đã hóa trang mặt làm tướng Mông Cổ, chạy ra:
“Khoan…khoan! Cho tôi hò một câu đáp lễ. ”
Khán giả thấy ông tướng Mông Cổ hò Đồng Tháp, khoái quá, la
lên tán thưởng: “Phải đó…Hò đi… hò đi… ”
Trường Xuân vuốt râu, trợn mắt, ráng gân cổ, hò:
“Hò ơ… Gió lay lay, hương tràm bay bay thơm mặt nước … ờ…
Vàm Cỏ Tây xuôi ngược lắm xuồng ghe…ờ…
Xích lại gần đây anh nói em nghe… ơ…
Chừng bao lâu nữa…ơ…ơ…chừng bao lâu nữa, em về với anh …ơ…”
Tiếng anh khàn khàn, người mập, thấp lùn, lại hóa trang Mông
Cổ mà hò Đồng Tháp, nghe cũng mùi mẫn, khiến cho khán giả vừa cười vừa vỗ tay
hoan hô, có người la lớn: “Chịu hông… Chịu thì theo gánh hát luôn đi… ”
Cô Huệ mắc cỡ, che miệng cười, khoát khoát tay cho mọi người
im tiếng, cô hò:
Hò ơ…Em sẽ thăm anh khi tràm xanh nước nổi ờ…
Còn chuyện duyên tình…ờ…ơ…xin chớ đợi chuyện trăm năm…ơ…
Bướm vàng hút nhụy hoa tràm…ơ…bướm vàng hút nhụy hoa tràm, lấy
chồng xứ lạ, em không đành xa quê em…ơ...
Khán giả vỗ tay cổ võ, muốn cuộc hò đối đáp kéo dài, nhưng
anh Tám Cao đã cho chuông reo báo giờ biểu diễn.
Trường Xuân lui vô, màn hát bắt đầu, tướng Mông Cổ Trường
Xuân đêm nay hát thật là hay, ca thật là mùi. Anh hy vọng vản hát sẽ gặp lại
người đẹp, nhưng đêm đó anh ngồi trước cửa rạp hát với ngọn đèn dầu lù mù, bên
chai rượu đế, chờ hoài… chờ hoài… nhưng bặt tin nhàn cá. Người đẹp không muốn lấy
chồng xứ lạ nên biến mất trong cái đêm tối mù mờ của một quận ly bé nhỏ xa xôi.
Mấy hôm sau gánh hát dọn đi, các nghệ sĩ đều vui vì thu nhập
cao, vì được khán giả thương mến, chỉ có một người rất buồn, ngồi trên xe mà
đôi mắt nhìn chằm chặp vào đám đông khán giả tiễn đưa. Trường Xuân mong thấy lại
được nụ cười của cô gái hò đối đáp đêm trước, nhưng không thể nào thấy được.
Xe qua cầu sắt, rời quận Thủ Thừa một đoạn đường khá xa, sắp
đến con lộ số 4, Trường Xuân còn ngẩn ngơ như đã để quên con tim ở lại.
Nửa thế kỷ đã qua, chút tình lãng mạn ngày xưa vẫn còn đọng lại
trong lòng Trường Xuân!
TẬP TỤC LẠ ĐỜI
trên đường lưu diễn
Chúng ta đang ở vào đầu thế kỷ 21, khi các bạn trẻ nghe tôi
nhắc lại những tập tục lạ đời của các thập niên 1940, 1950 trong những địa
phương mà đoàn hát cải lương của chúng tôi đặt chân đến hát, chắc chắn là các bạn
trẻ sẽ ngạc nhiên, thậm chí có người không thể tin là chuyện đó có thể xảy ra.
Nhưng những ông bạn nào từ 60 tuổi trở lên, có trải qua cơn binh lửa ở quê
hương thì chắc chắn là sẽ nhớ đến một xã hội nhiễu nhương, đầy biến động trong
thời kỳ có chiến tranh Pháp – Việt.
Hồi đó, cuối năm 1947, đoàn cải lương Tiếng Chuông của ông Bầu
Cang được một người mua dàn hát, đưa đoàn đi lưu diễn ở các tỉnh miền Đông, trạm
đầu tiên đoàn Tiếng Chuông hát ở quận Gò Dầu Hạ, sau đó chuyển qua hát ở tỉnh lỵ
Tây Ninh. Ông Bầu mướn một chiếc xe đò để chở đào kép, một xe camion chở cảnh
trí, dàn máy âm thanh, dàn đèn và các nhơn viên dàn cảnh.
Xe của đoàn hát rời khỏi rạp hát Thành Xương ở trung tâm
thành phố Sàigòn, khi xe qua khỏi ngã ba Bà Quẹo, chúng tôi đã cảm thấy bầu
không khí chiến tranh ngột ngạt đến khó thở. Đoàn xe phải di chuyển chậm chạp
vì nhiều đoạn đường bị VM đào phá, có những đoạn đường thường bị du kích phục
kích bắn sẻ nên nhiều xe đò và xe hàng phải dừng lại, chờ cho quân đội Pháp và
1ính Bạt-Ti-Dăng dùng xe nồi đồng (xe bọc thép) đi mở đường. Khi nào nhà binh
Pháp thấy bảo đảm được sự an toàn mới cho các xe của dân sự chạy. Xe của đoàn
hát Tiếng Chuông cũng phải theo đoàn Convoi đó mà di chuyển. Mỗi khi xe đến một
trạm kiểm soát, tất cả những hành khách phải xuống xe, đi từng người một vào
bót gác, trình giấy Thẻ Xanh (laisser-passer) của nhà cầm quyền Pháp cấp. Ai
không có Thẻ Xanh thì bị bắt nhốt lại trong bót vì bị tình nghi là Việt Minh.
.
Từ quận Gò Dầu Hạ đến các quận huyện thuộc tỉnh Tây Ninh thì
quân đội Pháp đóng đồn lớn trong Quận, trong Tỉnh, họ giao việc hành quân tuần
tiểu và kiểm soát cho quân đội Cao Đài phụ trách, cho nên đoàn cải lương Tiếng
Chuông gặp rắc rối vì không biết những tập tục riêng của địa phương.
Từ Gò Dầu Hạ đi đến tỉnh Tây Ninh, xe của đoàn hát phải ghé
qua trạm kiểm soát của quân đội Cao Đài tại xã Cẩm Giang. Vì có nhiều xe đò và
xe hàng tới trước nên đoàn hát chúng tôi phải xếp hàng chờ tới phiên của mình.
Tôi và các nghệ sĩ Tám Cao, Tuấn Sĩ, Trường Xuân xuống xe, lại xe bán nước mía
bên vệ đường để uống nước mía giải khát. Tôi quan sát thấy hành khách vào bót
kiểm soát, trình giấy tờ xong ra xe coi bộ cũng dễ dàng, chớ không có chi rắc rối.
Đồng bào trong xã Cẩm Giang, nhiều người mặc áo dài trắng, quần trắng, đàn ông
có để búi tóc như đàn bà, khác hẳn lối trang phục của người dân Sàigòn. Nét mặt
của họ có vẻ thuần hậu, chất phác. Theo lời của chị bán nước mía thì Bộ Tư Lịnh
quân đội Cao Đài đóng ở xã Cẩm Giang nên đạo hữu Cao Đài tập trung về đây sinh
sống rất là đông đảo. Việc mua bán làm ăn dễ dàng, dân chúng sung túc. Nếu đoàn
hát đến xã Cẩm Giang hát thì chắc chắn là sẽ rất đông khách. Chúng tôi nói chuyến
đi lưu diễn nầy là do người mua dàn hát, họ đưa đoàn hát tới vùng nào thì đoàn
hát phải tới đó hát, khi nào hết hợp đồng bán dàn hát, bận trở về, chúng tôi sẽ
xin phép hát ở Cẩm Giang.
Đến lượt xe của đoàn hát phải vào trình giấy tờ, anh sớp phơ
vô trình giấy, xong rồi anh ra ngồi bên tay lái xe. Kế đó anh lơ xe, vô… anh
cũng bình yên ra khỏi bót. Tới phiên ông Bầu Cang… ông vô bót trình giấy tờ
nhưng sao lâu quá không thấy ông trở ra. Chúng tôi phát lo trong bụng. Nghệ sĩ
Tám Cao được gọi vô trình Thẻ Xanh, anh Tám Cao cũng kẹt trong bót như ông Bầu
Cang. Tiếp đó là Trường Xuân, rồi tới Tuấn Sĩ, rồi tới phiên tôi…
– “Laisser-passer” của anh đâu? – Ông Trung úy, xếp đồn hỏi
tôi.
– Bẩm quan lớn, đây là laisser-passer của tôi.
Tôi trình Thẻ Xanh của tôi do Tỉnh Trưởng Gia Định cấp cho
tôi. Ôngười Xếp bót trợn mắt ngó tôi, tôi chột dạ nhìn quanh, tôi thấy ông Bầu
Cang, các anh Tám Cao, Tuấn Sĩ, Trường Xuân bị bắt ngồi bệt xuống đất, mặt mày
xanh lè, cắt không còn một hột máu! Tôi cũng phát run…
– Anh tên gì? – Ông xếp bót gằn giọng, hỏi tôi.
– Bẩm quan lớn..
– Im! Khỏi nói nữa. Lại kia ngồi với mấy thằng mới bị bắt đó…
– Bẩm Quan lớn, chúng tôi ở đoàn hát, có giấy tờ hợp lệ,,
không hiểu chúng tôi phạm tội gì, xin Quan lớn dạy cho chúng tôi biết…
– Anh kêu tôi một tiếng Quan Lớn nữa là tôi đập ông năm roi
đó. Các anh nói là người đi đoàn hát, đi nhiều nơi nhiều chỗ rồi sao các anh
không biết tập tục của địa phương? Anh làm nghề chi trong gánh hát?
– Dạ, bẩm…ơ..o… soạn giả.
– Còn mấy thằng mới bị bắt đó?
– Dạ bẩm… ông Bầu với mấy anh kép hát…
– Có thằng nào biết đờn không?
– Dạ, có nhạc sĩ ở ngoải chưa vô trình giấy tờ.
– Mầy ra kêu thằng đờn vô, biểu nó em theo cây đờn. Mau, chậm
là tao nẹt cho mấy roi đó.”
– Dạ!
Tôi bất mãn trong bụng nhưng trong thời chiến tranh, vùng nào
cũng có những người chúa tể của vùng đó, chọc giận họ “feu” mình cái rầm là
theo ông bà ngậm hờn dưới chính suối. Tôi tự bảo “Nhứt câu nhịn, chín câu
lành”.
Tôi ra xe, kêu anh Năm Khạp, nhạc sĩ đờn kìm của đoàn vô. Anh
Năm Khạp khi di chuyển trên xe thì bao giờ anh cũng cầm theo cây đờn kìm, vật
báu mà anh quý không thua gì tánh mạng của anh.
– Mầy là nhạc sĩ hả? Giấy tờ đâu?
– Bẩm quan lớn.
– Im, lại ngồi với mấy thằng kia. Cái thằng soạn giả cũng vậy!
Đem nhốt vô khám hết!
Thấy chúng tôi ngơ ngác không hiểu là mình bị phạm tội gì,
ông xếp bót nói thêm:
– Các anh nên nhớ, trong vùng kiểm soát của quân đội Cao Đài,
khi nói chuyện với các cấp chỉ huy thì các anh phải nói là thưa Ngài, bẩm Ngài.
Cái tiếng quan lớn là của Hòa Hảo họ dùng, chúng tôi không dùng.
Lính ra bảo đoàn hát ngồi chờ rồi cho các xe phía sau vô
trình giấy tờ. Các xe xếp hàng sau xe của chúng tôi đều được qua trót lọt vì họ
thường qua lại vùng nầy, nên họ biết phải bẩm ngài, thưa ngài. Còn gánh hát
chúng tôi xưa nay hát ở các tỉnh Tiền Giang, Hậu Giang, quen cái tiếng Bẩm Quan
lớn nên mới phải chịu khổ ở cái xã Cẩm Giang nầy.
Ông xếp bót xuống khám giam, đưa cho chúng tôi quyển sách Đại
Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, ông nói:
– Mấy anh đọc cuốn kinh sách nầy rồi viết bài hát ca ngợi
Pháp Chánh Truyền là căn bản Giáo Lý của Cao Đài Giáo là tôi sẽ thả các anh ra.
Chúng tôi tức giận vì bị người ta lạm quyền vô cớ bắt giam
nhưng cũng biết rằng chúng tôi không thể đi thưa gởi hay khiếu nại với ai để
xét xử cái hành động bất công nầy. Muốn ra khỏi khám giam thì chỉ có một việc
duy nhứt phải làm là viết một bài ca ca ngợi Giáo Lý Đạo và nhờ kép Tám Cao ca
lên cho vui lòng Xếp.
Nói thì dễ, nhưng viết một bài ca ca ngợi Giáo Lý của một Đạo
giáo đâu có phải là một chuyện dễ làm. Tôi là soạn giả của đoàn hát nên ông Bầu
Cang trao cho tôi trách nhiệm rắc rối nầy. Tôi đọc đi đọc lại quyển kinh, chỉ
nhớ có mấy chữ đầu của câu kinh thứ nhứt của bài Niệm Hương: Đạo Gốc Bởi Lòng
Thành Tín Hiệp…
Kép độc Trường Xuân cằn nhằn:
– Ông Bầu bán dàn hát làm chi cho người ta đưa mình vô cái chỗ
chết. Kinh kệ như vầy, có đọc chừng cả tháng cũng chưa chắc gì biết cái Giáo Lý
của Đạo ra làm sao, làm cách nào mà trong khoảnh khắc lại có thể viết thành bài
ca cho được?
Bầu Cang:
– Mầy đừng có cằn nhằn, làm rối trí anh Nguyễn Phương. Để anh
kiếm cách gỡ rối cho mình.
Tôi nói:
– Hồi nãy ông Xếp hăm đánh tôi năm roi. Bây giờ tôi viết tầm
bậy thì ông ta sẽ quất tôi mười roi đó.
Tuấn Sĩ nói:
– Thôi, tụi mình năm người bị bắt nhốt ở đây, mình ra xin
Ngài đánh mỗi người hai roi, khi ra khỏi khám thì mình quay xe về Sàigòn, xuống
miệt Hậu Giang hát cho êm chuyện. Đi hát ở các vùng nầy, có cho ăn vàng, tôi
cũng không ham.
Tám Cao xúi tôi dựa theo bài Niệm Hương, viết thành hai câu vọng
cổ. Tôi nghĩ là nếu viết như vậy mà anh Tám Cao ca không đàng hoàng, ông Xếp tưởng
mình có ý nhạo báng thì kẻ phải “ăn đạn đồng” chinh là thằng soạn giả viết bài
đó, chớ có ai vô đây mà chịu chết thay cho tôi?
Cái ý nghĩ bị giết chết bỗng làm lóe lên trong óc tôi câu giảng
kinh trong sách là năm Mậu Thìn (1928) Thầy (Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế)
có lên Cơ giảng về Bất Sát Sanh và Vô Vi Tâm Pháp. Do đó tôi
dùng mấy câu kệ nầy để viết bài ca để nhắc khéo ông Xếp là Thầy đã dạy
là không được giết người (bất sát sanh). Hy vọng là ông Xếp là bậc chân Trung
Ương, ông ta phải nghe lời dạy của Cao Đài Tiên Ông mà tha cho chúng tôi.
Tôi mở đầu bốn câu kinh Niệm Hương, chỉ thêm một chữ Lòng vô
chữ Hò, để cho dễ vô vọng cổ và trong lòng câu vọng cổ thì tôi dùng ý của các
bài giảng về Bất Sát Sanh và Vô Vi Tâm Pháp để mà viết. Bài
vọng cổ đó như sau
Nói lối vô vọng cổ:
Đạo Gốc Bởi Lòng Thành Tín Hiệp,
Lòng nương nhang khói tiếp truyền ra
Mùi hương lư ngọc bay xa,
Kính thành cầu nguyện Tiên Gia...
vô Vọng cổ:
… Chứng cho lòng.. Cao Đài xuất thế cứu trần gian, Mạt pháp
chúng sanh chịu khổ nàn… Cái sống của chúng sanh, chẳng khác nào một nhành hoa
trong cội, đủ tháng đủ ngày thì mới trổ bông sanh trái. Mỗi mạng sống đều hữu
căn hữu kiếp, nếu ai giết mạng sống đều chịu quả báo không sai vì làm trái với
lòng hiếu sanh của Thầy đã phân cho khắp Càn Khôn Thế Giới.
Câu 2
…..Vạn năng còn ngủ say chưa tỉnh khiến cho bước đời vô định
phiêu lưu nên mới vương khổ lụy tâm thần… Lục căn giao động triền miên, Lục trần
lôi cuốn hồn thiêng mê lầm. … Nào ai biết giả tâm sanh mộng, nào ai biết biển động
sóng gào, Biển đời sóng gió lao xao, Biển tâm thanh tịnh muôn màu hiệp chơn.
Sứ mạng Cao Đài buổi trước tiên
Vô Vi Tâm Pháp độ người hiền
Tam Kỳ Mạt Hạ Khai Chân Lý,
Dẫn dắt người phàm có thiện duyên.
Nghệ sĩ Tám Cao học thuộc lòng hai câu vọng cổ của tôi vừa viết,
anh ngân nga ca, nhạc sĩ Năm Khạp dạo đờn hòa theo, rồi Tám Cao ca lớn lên.
Khám đường giam giữ chúng tôi bỗng trở thành một nơi hòa ca cổ nhạc, tiếng ca
ngọt lịm của nghệ sĩ Tám Cao hòa theo tiếng đờn trầm ấm của nhạc sĩ Năm Khạp
thu hút sự chú ý của ông Xếp bót.
Ông đến nghe và bảo Tám Cao ca lại hai lần. Các binh sĩ Cao
Đài trong đồn cũng đến nghe. Mọi người khen hay duy chỉ có ông Xếp bót là trầm
ngâm suy nghĩ. Ông thả chúng tôi ra và nói:
– Các anh đi hát thì phải biết các tập tục của địa phương.
Bây giờ là thời buổi có chiến tranh, các anh ăn nói không giống người địa
phương, tất nhiên là chúng tôi phải nghi ky, phải đề phòng, các anh đừng phiền.
– Dạ, bẩm Ngài dạy rất phải, chúng tôi rất cám ơn sự rộng lượng
của Ngài.
Ông Bầu Cang nói nịnh một câu rồi kéo chúng tôi mau mau ra khỏi
đồn lính. Xe của đoàn hát vẫn còn đó, các anh chị em nghệ sĩ ngồi bên vệ đường
rầu rĩ đợi chờ. Không một ai bỏ trở về Saigon hay đi vô tỉnh Tây Ninh khi chưa
biết rõ số phận của những bạn đồng nghiệp bị bắt. Khi thấy chúng tôi được thả
ra, tất cả các bạn vỗ tay reo mừng, họ chạy đến ôm chúng tôi, tíu tít hỏi han sức
khỏe, sợ chúng tôi bị lính trong đồn đánh đập.
Thật là cảm động, một kỷ niệm khó quên của đời người nghệ sĩ
lang thang.
ĐỊA PHƯƠNG NÀO LÃNH CHÚA NẤY,
cải lương khổ vẫn hòan khổ
Năm 1952… Miệt Hậu Giang gạo trắng nước trong, sông sâu nước
chảy, đất phù sa màu mỡ, người dân sống sung túc hiền hòa. Dù lúc ấy chiến
tranh Việt Pháp vẫn còn ác liệt trên các chiến trường trong toàn quốc, nhưng chỉ
riêng ở miền Tây, miệt Hậu Giang, người ta có cảm giác như thần chiến tranh
không nỡ hủy hoại màu xanh của những cây lành trái ngọt ở nơi nầy. Chợ búa người
mua kẻ bán đông vui, đúng là mảnh đất lý tưởng cho các đoàn hát cải lương sinh
sống.
Nghệ sĩ NĂM CHÂU.
Tôi theo đoàn hát Việt Kịch Năm Châu hát ở rạp Minh Châu tại
tỉnh Cần Thơ. Tuồng Tây Thi Gái Nước Việt rất ăn khách nên nhiều nhà
chức trách huyện và xã phái đại diện đến mua dàn hát, đưa Đoàn về hát ở địa
phương mình để gây quỹ. Ban Trị Sự Hòa Hảo ở Chợ Bà thuộc quận Cái Vồn mua dàn
với một giá cao nhất nên đoàn Việt Kịch Năm Châu qua hát sau khi rời rạp Minh
Châu.
Chợ Bà, quận Cái Vồn ở bên kia bờ sông Hậu, cách tỉnh ly Cần
Thơ vài cây số. Sở dĩ địa phương nầy và ngôi chợ mang tên “Chợ Bà” là vì do bà
Thiếu Tướng Năm Lửa bỏ tiền ra xây cất và tài trợ cho mọi hoạt động của Ban Trị
Sự Hòa Hảo địa phương.
Ba chiếc đò máy lớn chở diễn viên, nhơn viên và đồ đạc cảnh
trí, âm thanh, ánh sáng của Đoàn hát cặp bến trước ngôi “Chợ Bà”. Chúng tôi lên
bờ, đi thả bộ về rạp hát phía trong xóm sau chợ. Dọc bờ sông, tôi thấy có đôi
ba ngôi nhà lợp ngói, còn kỳ dư là những nhà lợp lá, cất theo kiểu ba căn hai
chái, vách ván bổ kho, nhà nào nhà nấy khang trang rộng rãi. Mỗi nhà đều có một
bàn thờ ông Thiên đặt ở ngoài sân, ngay trước cửa nhà. Dân chúng đều mặc áo bà
ba màu dà, màu nâu sậm. Đàn ông đều có búi tóc và để râu dài. Nét mặt trang
nghiêm, mọi người dân ở đây đều không có vẻ cỡi mở vui vẻ như dân chúng ở bên
thành phố Cần Thơ.
Chúng tôi đang lo sắp đặt phông, màn, đèn và âm thanh trong rạp
thì tin tức từ chợ về cho anh em biết là chị Đầm, (thân mẫu của nghệ sĩ Nam
Hùng, tẩm khậu nấu ăn của đoàn hát? bị Ban quản trị Chợ Bà bắt nằm dài giữa chợ,
đánh năm roi. Anh em dàn cảnh và nghệ sĩ nổi nóng, tính kéo ra chợ để trả đũa
cho chị Đầm, anh em không muốn ở lại hát ở cái nơi mà người ta khinh thường, hà
hiếp nghệ sĩ; nhưng ông Tám Kiết, Quản lý của đoàn yêu cầu anh em chờ ông ra chợ,
bảo lãnh chị Đầm về để biết rõ sự thật ra sao rồi sẽ có thái độ.
Anh Tám Kiết ra chợ, bảo lãnh chị Đầm về. Anh em mới biết là
trong cả xã vùng Chợ Bà, mọi người đều ăn chay. Chị Đầm ra chợ kiếm mua thịt
heo, gà, vịt, cá để về nấu cơm cho anh em trong gánh hát ăn, như vậy là phạm tội
sát sanh và trái với tập tục của địa phương. Ban Quản Trị chợ đánh chị năm roi
để răn dạy và làm gương cho mọi người đang mua bán ở chợ.
Anh em nhôn nhao phản đối, không muốn ở lại hát, kêu ông Quản
lý trả tiền mua dàn, kéo nhau trở về tỉnh Cần Thơ.
Ông Tám Kiết nói:
– Làm như vậy là thỏa được lòng tự trọng của các anh nhưng
như vậy thì sẽ rã gánh hát, vì nghệ sĩ đi về Cần Thơ thì dễ vì có thể đi đò như
người hành khách bình thường, còn phông màn, máy móc âm thanh, dàn đèn
projecteur thì đâu có thể dùng đò máy của Ban Trị Sự H.H để chở ra khỏi nơi nầy.
Họ mướn đoàn về đây hát cho ông Bà Thiếu Tướng coi, mình bỏ đi là đụng chạm tới
ông Thiếu Tướng. Thời buổi chiến tranh, rã gánh là cái chuyện nhỏ, nếu họ bắt
giam mình lại, nói là Việt Minh phá hoại thì mình chỉ còn có một cửa tử mà
thôi, không ai có thể cứu mình và cũng không khiếu nại nhờ quyền lực của nơi
nào khác để cứu mình. Nhứt câu nhịn, chín câu lành!
Ông Tám Kiết căn dặn thêm về phương cách sống trong vùng Chợ
Bà Cái Vồn trong năm ngày đoàn hát bán dàn:
– Thứ nhứt, không được đi la cà trong thôn xóm vì người dân
có đạo Hòa Hảo ở đây rất nghi ky những người lạ mặt, Chợ Bà là một vùng chống
Việt Minh. Ai đi vô các thôn xóm xa có thể bị bắt cóc, bị mất tích mà Đoàn hát
không biết khiếu nại với ai.
– Thứ hai, không đi mua bán gì ở chợ hay trong các tiệm quán.
– Thứ ba, khi vãn hát rồi thì ăn cháo của bà tẩm khậu nấu, ăn
xong là về chỗ ngủ, không được đi ra khỏi rạp, không được thức khuya đờn ca.
– Thứ tư, nếu có ai đến gạ nói chuyện hay hỏi han về nhận xét
đối với đia phương thì các nghệ sĩ không được tự do phát biểu mà phải báo ngay
cho Ban Quản Lý của đoàn hát để Ban Quản Lý tiếp chuyện với họ.
Các nghệ sĩ trong đoàn đều có gặp phải những chuyện độc tài độc
đoán của các lãnh chúa địa phương nên thông cảm với lời dặn dò của Ông Quản Lý
Tám Kiết; ai nấy lo thu xếp chỗ ở, chỗ làm tuồng của mình và không tiếp chuyện
với những khán giả hiếu kỳ đang kéo tới rạp hát để xem mặt đào kép.
Đêm diễn đầu tiên đoàn hát tuồng Tây Thi Gái Nước Việt.
Kim Cúc – Bảy Nhiêu – Kim Lan
Nghệ sĩ Năm Châu thủ vai vua Ngô Phù Sai, Kim Lan thủ
vai Tây Thi, Bảy Nhiêu vai Ngũ Tử Tư, Văn Lang thủ vai Phạm Lãi…
Đây là thành phần diễn viên mạnh nhất của đoàn đưa ra trong đêm hát đầu tiên ở
rạp hát Chợ Bà vì chúng tôi được báo cho biết là Thiếu Tướng Ông Năm sẽ đến xem
hát.(Ông Năm là gọi theo người địa phương vì họ kiêng không dám gọi tên).
Người ta đã dẹp bớt bốn hàng ghế, chừa chỗ để một cái bục
cao, trên bục đó để một cái ghế bành bằng mây đan, một cái bàn, trên bàn có một
cây quạt máy nhỏ, một chai rượu Whisky và một cái ly. Đó là chỗ danh dự dành
cho Quan Lớn Thiếu Tướng ngồi coi hát.
8 giờ 30 tối rồi mà đoàn hát vẫn chưa được phép mở màn hát dù
cho khán giả đã vô đầy rạp và các nghệ sĩ đều đã hóa trang xong, mũ mãng đàng
hoàng. Anh Năm Châu rất bực bội vì anh là người làm việc luôn luôn đúng giờ.
Khi hát ở Sàigòn, đúng 8 giờ tối, giờ mở màn hát thì dù trời đang mưa to gió lớn,
khán giả vô rạp mới độ mươi người, nghĩa là nếu đứng trên sân khấu nhìn xuống
thì sẽ thấy cái rạp trống trơn, anh Năm Châu cũng ra lịnh rung chuông, mở màn
hát đúng theo giờ đã quảng cáo.
Bỗng có nhiều tiếng tu hít thổi “rét...rét.. ” chói tai từ
ngoài xa, tiếng tu hít chạy thật nhanh tới trước rạp… mọi người được báo là xe
jeep của Quan Lớn đã tới. Rồi tiếng tu hít thổi nghe chát chúa trong rạp kèm
theo tiếng của hai anh lính cận vệ thay phiên nhau hô lớn: “Quan Lớn đã tới…
Mấy người đứng dậy chào Quan Lớn… ” Tất cả khán giả đồng loạt đứng lên và
họ chỉ ngồi xuống khi Ông Năm yên vị trong cái ghế bành trên bục cao.
Ông Tám Kiết, Quản Lý đoàn hát chạy lại hỏi nhỏ anh lính cận
vệ, tôi thấy anh cận vệ gật đầu, khoát tay, ông Tám Kiết liền chạy bay vô hậu
trường, kế đó là chuông reo báo giờ trình diễn.
Mặc đầu bực mình vì hát trễ nhưng anh Năm Châu, chị Kim Lan
và ông Bảy Nhiêu hát rất hay lớp Tây Thi mê hoặc Ngô Phù Sai và lớp Ngũ Tử Tư
can gián vua.
Quan Lớn Ông Năm cười sặc sụa khi nghệ sĩ Tám Lắm trong vai
Bá Chủng, một tên nịnh thần vuốt ve xu nịnh theo ông vua, anh ta bị Ngũ Tử Tư mắng.
Anh lính cận vệ đứng gần Quan Lớn, anh không xem hát mà anh
theo dõi thái độ xem hát của Quan Lớn để ra lịnh cho khán giả phải hùa theo. Tiếng
tu hít thổi bất ngờ trong rạp hát kèm theo tiếng hô lớn và kéo dài ra của anh cận
vệ: “Quan Lớn cười… Sao mấy người không cười? ”
Khán giả ré lên cười như một cái máy cười được bấm nút cho khởi
động.
Tiếng tu hít lại nổi lên: “Quan Lớn nín rồi, sao mấy người
cười hoài vậy?”
Khán giả lại im re…
Các nghệ sĩ trong đoàn thích thú với cái trò hề của anh lính
cận vệ. Ông Tướng ngồi xem hát rất oai phong kia chắc là cũng thích thú khi cái
vui buồn của ông ta được theo tiếng tu hít và lời hô lớn của anh cận vệ mà truyền
ra khởi động cả rạp hát làm theo. Chỉ có anh Năm Châu là nhăn mặt nhíu mày, buồn
khổ… Anh cằn nhằn:
– Trời ơi, người ta coi hát như vầy bằng như người ta chửi
cha nghệ thuật!
Tiếng tu hít lại nổi lên: “Quan Lớn vỗ tay, sao mấy người
không vỗ tay? “ Tiếng vỗ tay của toàn thể khán giả trong rạp hát lại nổ
rang như pháo Tết.
Trong rạp hát bỗng chia thành hai không gian: một không gian
trên sân khấu dành cho các nghệ sĩ diễn tuồng và một không gian khác ở dưới
khán phòng dành cho hai anh lính cận vệ và khán giả hoạt động theo tiếng lịnh của
tu hít, diễn cho thỏa mãn cái tính hách dịch kiêu kỳ của ông Tướng.
Màn một chấm dứt bằng cảnh Hỏa thiêu Cô Tô Đài, vua Ngô
Phù Sai – Năm Châu chết chới với trong biển lửa. Tôi thấy ông vua Ngô Phù Sai
Năm Châu chới với, hai tay như bơi bơi trong biển lửa, nhưng một nụ cười thoáng
hiện trên môi của anh Năm Châu khiến cho tôi ngầm hiểu là anh rất sung sướng được
chấm dứt vai hát của anh trong lúc nầy. Anh không còn bận lòng tức giận vì người
xem hát không phải là một người thật sự ái mộ cải lương, mà là một người không
biết thưởng thức nghệ thuật.
Màn nhung vừa hạ xuống, anh Năm Châu mau mau vô buồng, thay đổi
y trang, rửa mặt rồi bước ra sau rạp khá xa để khỏi phải nghe tiếng tu hít và
tiếng hô hoán của hai anh lính cận vệ. Anh cũng không muốn nghe những tiếng đờn
và câu ca bị xé vụn ra vì cái tiếng tu hít điên rồ đó.
Màn hai bắt đầu… cũng cảnh chiến trường còn ngùn ngụt khói lửa,
giữa lớp lớp quân sĩ phơi thây, nàng Tây Thi Kim Lan ca một lớp Văn Thiên Tường
rất là hay, nói lên nỗi lòng của một người con gái, tuy đã hoàn thành sứ mạng
diệt thù nhưng rồi cuộc đời của nàng cũng phải tan nát như một mảnh vụn của Cô
Tô Đài. Giữa lúc Tây Thi tuyệt vọng thì Phạm Lãi đến kịp để cứu Tây Thi, sau
bao nhiêu đau khổ chia lìa, hai người yêu cũ gặp lại nhau, họ dìu nhau đi tìm một
hải đảo hoang vu để xây hạnh phúc và để tránh cuộc sống nhung lụa vàng son
nhưng phải lệ thuộc dưới quyền của một nhà vua đầ tham vọng. Nghệ sĩ Văn Lang
và nữ nghệ sĩ Kim Lan thực là xứng đào xứng kép, thinh sắc lưỡng toàn, điệu bộ
diễn xuất và giọng ca quyến rũ mê hồn đã làm cho khán giả say mê theo dõi.
Bỗng có tiếng một cây gậy đập mạnh và nhịp liên hồi trên bàn.
Nghệ sĩ trên sân khấu ngưng bặt tiếng ca, ngỡ ngàng nhìn về phía vị khán giả
Quan Lớn kia vì chính ông Thiếu Tướng dộng liên tục cây baton xuống bục cây.
Khán giả cũng im lặng, hướng mắt nhìn về vị khán giả khó tính đó.
Anh lính hầu cận vẫn là người truyền lại lịnh của Quan Lớn.
Anh thổi một tiếng tu hít như vị trọng tài thổi phạt trên sân
bóng đá rồi tằng hắng một tiếng, lớn giọng truyền:
– Quan Lớn nói Quan Lớn muốn coi lại cái lớp tuồng hồi nãy,
cái lớp Ngô Phù Sai dê Tây Thi rồi bị chết trong Cô Tô Đài. Bỏ cái màn hát nầy
đi. Hát lại màn trước cho Quan coi. “
Màn nhung buông xuống giữa sự ngơ ngác và tức giận của nghệ
sĩ.
Ông Tám Kiết, Quản lý của đoàn chạy ra thưa:
– Bẩm Quan Lớn, màn một hết nên anh kép hát đã bôi mặt, thay
y trang đi kiếm thức ăn khuya rồi….
– Biểu nó vô vẽ mặt lại, tao chỉ muốn coi lớp Hỏa thiêu Cô Tô
Đài thôi…- Ông Năm phán một câu tỉnh bơ rồi ngồi nhịp nhịp cây baton.
Ông Quản lý của gánh hát thừa biết là nếu muốn ăn đòn thì đứng
đó mà nói dang ca. Còn khôn hồn thì vô buồng biểu chúng nó vẽ mặt hát lại cái lớp
tuồng mà Quan Lớn muốn coi. Anh Tám Kiết dạ một tiếng yếu xìu rồi vô buồng. Anh
thừa biết là anh Năm Châu nhứt định sẽ không diễn lại cái lớp tuồng Hỏa
thiêu Cô Tô Đài nên anh bảo anh Tám Vân vẽ mặt, đóng thế vai vua Ngô Phù
Sai của anh Năm Châu.
Chuông báo hiệu khởi đầu, màn nhung kéo lên, sau khi đoàn vũ
nữ và Tây Thi múa hát trên Cô Tô Đài, Vua Ngô Phù Sai say rượu, tròng ghẹo Tây
Thi. Nghệ sĩ Tám Vân từng đóng vai Ngô Phù Sai thế cho anh Năm Châu những khi
anh Năm Châu không theo đoàn đi hát ở các tỉnh nên Tám Vân thuộc làu làu vai tuồng.
Giọng ca, điệu bộ cũng điêu luyện không kém. Thông thường thì đến đoạn Ngũ Tử
Tư vào can gián Ngô Phù Sai thì khán giả vỗ tay từng chập sau mỗi câu nói của
Ngũ Tử Tư, nhưng không ngờ khi anh Bảy Nhiêu vừa xuất hiện thì thay cho tiếng vỗ
tay là tiếng tu hít thổi lên nghe đinh tai điếc óc. Giọng hét lớn và kéo dài của
anh Cận Vệ nối sau tiếng tu hít:
– Quan Lớn hỏi thằng vua hồi nãy sao mập quá, thằng nầy sao ốm
quá vậy? Kêu ông Bầu ra cho Quan Lớn biểu…ông Bầu đâu?”
Ông Tám Kiết chạy ra, thưa:
– Bẩm Quan Lớn, Anh kép đóng vai Vua hồi nãy bị mập quá nên
hát mau mệt, anh ta bị ngất xỉu rồi nên chúng tôi phải thay ông Vua ốm hơn một
chút, nhưng vua nầy hát cũng hay lắm, Quan Lớn!
Quan Lớn dọng cây baton xuống bục cây, nói sẵng:
– Dẹp! Thằng vua đó hát hỏng được nữa thì tụi bây bỏ màn nghỉ
đi. Quan Lớn không coi hát nữa. “
Ông Thiếu Tướng nói xong, ông đứng dậy, bỏ ra về. Các lính cận
vệ thổi tu hít dẹp đường. Ông Tướng đi rồi, khán cũng lục đục kéo ra ngoài,
trong rạp số khán giả còn lại không tới nửa rạp. Đoàn vẫn phải tiếp tục hát cho
tới hết tuồng, khán giả tiếc tiền mua vé hát nên ráng coi cho hết tuồng, diễn
viên diễn như để trả nợ.
Đêm đó, anh Năm Châu và chị Kim Lan báo cho biết là ngày mai
hai người đó sẽ về Saigon, Tám Vân thế vai của Năm Châu, nữ nghệ sĩ Tương Lai
thế vai của Kim Lan.
Những ngày kế tiếp, các nghệ sĩ còn ở lại đoàn hát còn phải
chịu nhiều luật lệ oái oăm hơn nữa của vị lãnh chúa địa phương.
NHẬP GIA TÙY TỤC
Sau đêm diễn đầu tiên ở rạp Chợ Bà, anh Năm Châu và chị Kim
Lan bỏ về Sàigòn. Anh Năm Châu và chị Kim Lan rất bực mình vì phải hát cho ông
Tướng coi mà từng màn từng lớp bị tiếng tu hít của hai anh lính hầu cận cắt vụn
ra bằng những cái lịnh rất quái gở. Nghệ sĩ chúng tôi cũng bực mình nhưng bù lại
cũng có điều vui là anh hề Tám Lắm và nghệ sĩ Tám Vân bàn với nhau là sẽ đưa
hình tượng “nịnh thần” của hai anh lính cận vệ lên sân khấu để cho khán giả cười
chê, (khi hát ở địa phương khác thì mới dám đưa chuyện hai anh lính nịnh đó mà
diễu) còn lúc hát ở Chợ Bà Cái Vồn thì nhất thiết mọi việc đều phải tuân thủ
răm rắp theo quy định của địa phương.
Nhập gia tùy tục, bài học mà nghệ sĩ cải lương đi hát lo diễn
luôn luôn phải ghi nhớ. Hát ở Chợ Bà, địa phương qui định là toàn đoàn phải ăn
chay như người địa phương thì đoàn hát phải ăn chay.
Hôm sau đoàn hát quảng cáo sẽ hát tuồng Gió Ngược Chiều của
soạn giả Nguyễn Thành Châu (phóng tác theo kịch Ru Blas của Pháp).
Đa số diễn viên và nhơn viên của đoàn hát đều xuống đò máy để
qua chợ Cần Thơ, 6 giờ chiều họ sẽ theo đò máy trở qua Chợ Bà để tối hát. Sở dĩ
các nghệ sĩ qua tỉnh Cần Thơ và ở suốt ngày, chờ tối mới về là vì anh em không
thể ăn chay với tương, rau; ăn chay như vậy thì mau đói bụng, tối hát không được,
mà khi vãn hát cũng không mua được thức ăn khuya. Họ qua Cần Thơ ăn cơm quán,
khi về mua thêm bánh mì thịt hoặc thịt heo quay, họ dấu thật kỹ trong các lon
guigoz, bề ngoài bọc mấy cái bao nylon cho mùi thịt không bay ra ngoài chờ khi
vãn hát, khán giả về hết, trong rạp chỉ còn người trong đoàn hát thì họ mới bày
ra ăn.
Nghệ sĩ Tám Vân đóng vai Duy Bạt thay cho anh Năm Châu nên ở
lại trong rạp, học lại vai tuồng để tối hát.
Nghệ sĩ Tám Vân tên thật là Lê Văn Tám, sanh năm 1924, em ruột
của quái kiệt Hề Ba Vân (Lê Long Vân), quê ở quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ
anh Lê Văn Tám học trường Trung học Mỹ Tho, tới năm thứ ba, bỏ học đi theo anh
Ba Vân gia nhập đoàn Đại Phước Cương ra Hà Nội hát, anh Lê Văn Tám được ông bầu
Cương đặt cho nghệ danh là Tám Vân. Khi hát ở Hà Nội, anh Tám Vân mê cô đào hát
Bích Châu của đoàn Kim Chung tại rạp hát Quảng Lạc nên bỏ đoàn Đại Phước Cương
theo đoàn Kim Chung với cô Bích Châu đi hát ở nước Lào rồi sang Thái Lan cho tới
năm 1952, anh Tám Vân và chị Bích Châu mới trở về Saigon, gia nhập đoàn Việt Kịch
Năm Châu.
Tám Vân lúc nây là một kép đẹp trai, ca vọng cổ rất mùi, bài
bản cổ nhạc nào anh ca cũng hay, đúng điệu. Anh thường thế vai anh Năm Châu, thủ
vai kép chánh, đóng cặp với chị Kim Cúc (người chiến binh trong tuồng Người
Mặt Cháy). Tám Vân thủ vai Duy Bạt trong tuồng Gió Ngược Chiều, đóng cặp với
nữ nghệ sĩ Kim Lan (vai hoàng hậu Mã Nhi Nương Bửu), vai Hàm Lệ trong tuồng Hàm
Lệ, Thái Tử nước Đan Mạch đóng cặp với Kim Lan (vai A Phượng Ly), vai Ngô
Phù Sai trong tuồng Tây Thi, Gái nước Việt( Kim Lan trong vai Tây Thi).
Anh Tám Vân chẳng những hát được những vai kép mùi mà anh còn chịu ảnh hưởng của
anh Ba Vân nên Tám Vân có khả năng đóng các vai hề, vai lẳng trên sân khấu.
Nhắc lại khi anh Năm Châu và chị Kim Lan bỏ về Saigon sau đêm
hát tuồng “Tây Thi, gái nước Việt ” thì Tám Vân và nữ nghệ sĩ Tương Lai
(con của Hai Vân, anh ruột Tám Vân) phải hát thế các vai tuồng của anh Năm Châu
và chị Kim Lan.
Lệ thường trong các gánh hát thì người thế vai cho kép chánh,
đào chánh đều được hưởng những tiện nghi dành cho vai tuồng đó, cho đào kép
chánh đó. Ví dụ: Chỗ ở của đào kép chánh trong rạp hát hay ở khách sạn được xắp
xếp gần sân khấu nhứt, sạch sẽ khang trang nhứt, có đầy đủ tiện nghi như có ổ cắm
điện riêng để gắn quạt máy hay réchaud nấu nước. Trong tuồng hát, những gì cần
thiết để diễn xuất mà đào kép chánh trước quen dùng để hát tuồng đó thì đào kép
thế vai tuồng cũng được hưởng như vậy. Ví dụ trong tuồng có uống rượu chát thiệt,
ăn gà rôti thì kép thế vai sẽ được dùng rượu thiệt chớ không phải nước trà pha
màu cho giống như rượu chát…
Chính vì được dùng những thứ thiệt như vừa kể nên nghệ sĩ Tám
Vân mới bị một tai nạn nghề nghiệp mà trước đó trên sân khấu cải lương chưa hề
có xảy ra.
NGHỆ SĨ TÁM VÂN
bị quỷ ám trên sân khấu
Trong tuồng Gió Ngược Chiều, nghệ sĩ Tám Vân thủ vai Duy
Bạt, gia nhân của quận công Gia Lữ Tế, vốn là một gã giang hồ có tài thao lược,
có tài thuyết phục người khác. Gia Lữ Tế âm mưu, tạo cho Duy Bạt một địa vị mới
và một cái tên mới thuộc giòng họ quý tộc: gã gia nhân Duy Bạt trở thành quận
công Gia Lữ Sanh. Gia Lữ Tế buộc Duy Bạt dùng cái thân phận giả “quận công Gia
Lữ Sanh” chinh phục hoàng hậu Mã Nhi Nương Bửu (do Kim Lan thủ trước kia, đêm
nay do Tương Lai thế vai) để rồi sau đó Gia Lữ Tế vạch trần cái phận tôi đòi của
Gia Lữ Sanh (Duy Bạt) làm nhục HoàngHậu vì Hoàng Hậu đã từ chối tình yêu của hắn
ta.
Lớp tuồng Gia Lữ Sanh (Duy Bạt) chui ống lò sưởi vô phòng của
Gia Lữ Sanh, đang đói, thấy có rượu và gà quay bày sẵn trên bàn, lòng mừng khấp
khởi. Lớp nầy Tám Vân (Duy Bạt) diễn tả cái háu ăn, đói khát của một gã đầy tớ
ăn vụng khi vắng chủ nhà rất là hay, làm cho khán giả cười từng chặp… từng chặp…
Vì chủ trương của anh Năm Châu là sân khấu phải “Thật” và “Đẹp”,
nên trong lò sưởi phải có một bao nylon đựng phấn đen để khi Duy Bạt chui từ
trong lò sưởi ra thì làm bay mù mịt khói đen như bụi khói trong lò sưởi. Trên
bàn phải có chai rượu chát đỏ (rượu thật chớ không phải nước pha màu giả rượu),
một dĩa có một con gà rôti, nĩa, muỗng…v…v…để Duy Bạt ăn uống thật, tạo ra những
trận cười cho khán giả vì cách ăn vụn, háu ăn và diễn tả tâm trạng nuốt vô mắc
nghẹn của Duy Bạt khi nghe Gia Lữ Tế bày âm mưu hại Hoàng Hậu.
Nếu đoàn hát diễn ở một địa điểm nào khác thì chắc là chuyện
“tai nạn nghề nghiệp” của Tám Vân không xảy ra, nhưng diễn ở Chợ Bà thì không một
ai trong đoàn hát lường trước được một trở ngại bất ngờ đã khiến cho đoàn hát
phải lận đận lao đao.
Nhắc lại, ở Chợ Bà toàn thể dân chúng ở xã nầy đều ăn chay
trường nên ở Chợ Bà không bao giờ có bán thịt heo, thịt gà hay cá tôm. Trong
thôn xóm cũng không có ai nuôi gia cầm, dưới sông rạch không có người đi giăng
câu bắt cá. Khi hát tuồng Gió Ngược Chiều thì phải có một con gà rôti
trong lớp Duy Bạt ăn vụng trong nhà Gia Lữ Tế, làm sao mà có một con gà rôti?
Anh Bảy Nhiêu đóng vai Gia Lữ Tế, Tám Vân, vai Duy Bạt, cả hai đều yêu cầu ông
Tám Kiết Quản lý của đoàn hát phải cho người qua chợ Cần Thơ mua về một con gà
rôti để hát đúng theo chủ trương “sân khấu Thật và Đẹp” của anh Năm Châu.
Tất nhiên là ông Tám Kiết đồng ý, ông đưa tiền cho anh Hai
Màn, anh xếp dàn cảnh để cho người qua chợ Cần Thơ mua.
Anh Hai Màn thấy cái gương của chị Đầm tẩm khậu bị ăn năm roi
giữa chợ nên không dám đi mua gà quay mà giao cho anh Gia, người phụ trách đồ
giữa đi mua dùm.
Anh Gia ghiền thuốc phiện, thấy có cơ hội ăn xén ăn bớt được
để có tiền hút nên anh ta nhận lời đi mua. Thay vì mua nguyên một con gà rôti
và một chai rượu chát một lít thì anh Gia mua hai cái đùi gà rôti và một chai
rượu chát nửa lít. Anh gói lá chuối bọc hai cái đùi gà rôti, để chai rượu và gà
trong túi xách, anh kiếm chỗ hút và để cái túi xách dưới đất gần chỗ anh đang
“phê”..
Gần tám giờ tối, chuyến đò chót vừa cặp bến mới thấy anh Gia
cầm cái túi xách chạy thật mau vô cửa sau rạp hát.
Anh Hai Màn xếp dàn cảnh đón anh Gia lại hỏi:” Sao mậy?”.
Anh Gia gật đầu nói:”Yên chí! Yên Chí!”
Tám Vân nhướng chân mày hỏi: ” Chắc không?” Anh Gia quả quyết:
“Trăm phần trăm!”
Tám Vân xoa xoa hai tay, cười với tôi: “Tối nay Nguyễn Phương
mày coi tao ăn thịt gà trước mặt ông Tướng, coi mấy chả ra lịnh cấm ăn mặn có
được không? Duy Bạt nầy có đặc ân của quận công Gia Lữ Tế, phải ăn gà và uống
rượu chát thì mới đúng theo tuồng. Hát cho ông Tướng coi thì phải làm đúng theo
tuồng, làm trật, Quan Lớn rầy là hát nhận lớp đó!” Tám Vân khoái chí cười khà
khà.
Tôi quan sát thái độ của anh em trong đoàn hát, tôi thấy đa số
đều hể hả khi biết tối nay đoàn hát có một người dám ăn mặn trước mặt ông Tướng
của địa phương, một nơi mà chỉ cần hỏi mua thịt gà như chị tẩm khậu của đoàn
thì đã bị đánh năm roi giữa chợ. Đây cũng là một tâm lý thông thường của người
Việt mình, khi bị ức hiếp, kẻ thế cô không phương chống trả bằng vũ lực thì thường
dùng lối nói móc lò, nói xiên nói xéo, nói chuyện tiếu lâm với nội dung kiêu ngạo
kẻ lộng quyền, để cười cho bõ ghét.
Anh Gia để cái túi xách có hai cái đùi gà rôti và chai rượu
chát dưới đất, sau tấm đề co vì sợ nếu để trên bàn, gió đưa mùi đùi gà rôti bay
tới mũi của Quan Lớn thì chắc chắn là sẽ bị ăn đòn.
Tuồng hát đêm nay mở màn đúng giờ vì ông Thiếu Tướng đến đúng
giờ. Các diễn viên đều hết sức trổ tài ca, diễn, hai anh cận vệ theo dõi nét mặt
xem hát của ông Tướng để thổi còi ra lịnh cho khán giả dân chúng cười hoặc vỗ
tay hùa theo Quan Lớn, tiếng tu hít đêm nay được thổi nhiều hơn vì Quan Lớn cười
và vỗ tay nhiều hơn.
Tuồng diễn tới lớp Hoàng Hậu Mã Nhi Nương Bửu (đào Tương Lai)
mắng quận công Gia Lữ Tế (kép Bảy Nhiêu) vô lễ khi ông tỏ tình với nàng, mắng
xong Hoàng Hậu bỏ ra về không một lời từ giã. Gia Lữ Tế hét lớn một tiếng, thề
sẽ trả thù mối nhục nầy thì đèn sân khấu tắt hết để chuyển qua cảnh “hầm
đá bí mật của quận công Gia Lữ Tế”, nơi diễn ra âm mưu hãm hại Hoàng Hậu.
Trong bóng tối dày đặc, các anh dàn cảnh chạy ra đổi phông “Hầm
đá”, có lò sưởi lớn, vách lò sưởi ăn thông vô hậu trường sân khấu để cho Duy Bạt
(Tám Vân) từ trong nhảy ra như vừa mới chui qua ống khói của lò sưởi. Trong
bóng tối, anh Gia cũng chạy ra để trên bàn một chai rượu chát đã khui sẵn, hai
đùi gà rôti trên dĩa, một cái nĩa và dao theo quy định của đạo diễn.
Sân khấu sáng đèn, Duy Bạt (Tám Vân) dậm chân một cái rầm thật
lớn tiếng, rồi từ trong lò sưởi lăn ra sân khấu, bụi đen bay mờ mịt, làm như
anh từ trên lỗ thông hơi của lò sưởi té xuống. Duy Bạt đứng lên, mặt mày, áo quần
dính bụi đen bê bết, quan sát chung quanh hầm bí mật rồi bật cười khan:
– Quận Công xây cái hầm bí mật nầy để bàn bạc những âm mưu
đen tối nên ngõ ra ngõ vô buộc mình phải chui từ lỗ thông hơi của lò sưởi xuống.
Nếu ông ta đốt lửa, mình tọt xuống đây thì nhứt định sẽ trở thành con heo quay
ngay.
Nói tới đây, Duy Bạt (Tám Vân) nghểnh mũi đánh hơi, ngửi xấy
có mùi rượu thịt, khoái quá, cười to: “Hà…hà… có rượu, có thịt đây… Phải tận hưởng
ngay, kẻo uổng phí của trời!”
Tám Vân chụp chai rượu, mở nút, ngậm miệng chai, tu một hơi
dài, khè một tiếng khoan khoái, anh đặt chai rượu xuống bàn, hai bàn tay chụp lấy
hai cái đùi gà, đưa lên miệng cắn, nhai ngấu nghiến…
Anh chị em diễn viên và dàn cảnh đứng trong cánh gà, nhìn Tám
Vân ăn đùi gà ở giữa sân khấu, thấy mà phát thèm, tôi nhìn xuống phòng khán giả
theo dõi coi phản ứng của ông Tướng và của các ông trong Ban Trị Sự H.H ra sao
trước việc có người dám ăn mặn trước mắt mình, nhưng anh Tám Vân bỗng hét lên một
tiếng thật lớn rồi quăng hai cái đùi gà rôtui xuống ngay dưới dàn đờn tân nhạc
phía trước sân khấu. Tám Vân vừa la vừa phủi miệng lia lịa:
“Trời ơi…đau quá, Cứu tôi,… đau quá…”
Phía dưới dàn nhạc, anh em nhạc sĩ cũng nhảy lên, tay phủi
lia lịa:
“Trời ơi, kiến lửa… kiến lửa…:
Tám Vân bị kiếng lửa cắn lưỡi, cắn môi, cắn mặt, anh ta càng
phủi, kiến lửa càng chui tọt vào cổ áo, cắn mình mẩy tay chân.
Anh Tám Kiết, quản lý đoàn la lớn: ” Bỏ màn…bỏ màn xuống”.
Cả khán phòng ồn ào, lộn xộn… Tám Kiết kêu dàn nhạc tấu lên
nhưng anh em trong dàn nhạc cũng bận phủi kiến lửa do hai cái đùi gà của anh
Tám Vân quăng xuống lúc nãy nên cũng không chơi nhạc được.
Bỏ màn xuống xong, anh em phụ cỡi bộ y phục Quận Công của Duy
Bạt – Tám Vân để phủi kiến lửa. Chị Hai Nữ lấy “dầu cù là con cọp” xức môi, xức
mặt và mình mẩy cho Tám Vân.
Tám Vân còn lè lưỡi phun phèo phèo vì kiến lửa cắn đau quá
xá. Vì xức dầu cù là trên môi nhiều quá, phần bị kiếng lửa cắn trên mặt, trên
mí mắt nên mặt và môi của Tám Vân sưng vù lên, không thể tiếp tục hát được nữa.
Người mua dàn hát vô nói: “Quan Lớn hỏi tại sao không hát nữa?”
Tám Kiết phải bước ra trước màn, cầm micro, nói:
– Bẩm Quan Lớn, kép Tám Vân bị..
Nói đến đây, anh nhớ lịnh cấm không cho ăn thịt, sợ nói kiến
lửa trên đùi gà cắn Tám Vân sưng môi sưng mặt thì đoàn hát sẽ bị phạt vì dám ăn
mặn) anh nói trớ:
– Dạ, bẩm Quan Lớn, kép Tám Vân bị ” Quỷ ám” nên sưng mặt
sưng môi không thể ca hát được nữa.
Không giải thích thì còn đỡ, nhưng giải thích bằng cách nói
là Tám Vân bị Quỷ Ám nên anh Tám Kiết bị Ban Trị Sự cho cảnh sát tới còng tay.
Họ nói: ” Nơi đây là Thánh Địa, đất của Đức Thầy, đất của Phật.
Quỷ ở đâu mà dám tới đây? Anh Tám Kiết muốn xuyên tạc cái gì mà dám nói là có
quỷ ở đất nầy”?
Toàn khán phòng nhốn nháo, bàn tán. Anh chị em trong đoàn hát
cũng hoảng sợ, nếu anh Tám Kiết, quản lý của đoàn hát bị bắt, bị ghép tội nói xấu
vùng đất thiêng liêng của Đức Thầy thì phen nầy gánh hát có thể bị rã gánh.
Chị Hai Nữ đẩy tôi ra trước sân khấu, chị nói: ” Chú Ba, chú
ra nói đi.”
Tôi bị xô ra sân khấu, chưa biết nói gì, tôi thấy ông khán giả
Thiếu Tướng ngồi trên cái bục cao giữa khán phòng, tôi bỗng nẩy ra ý nói nịnh
ông ta vài câu rồi sẽ kiếm cớ gỡ tội cho anh Tám Kiết.
Tôi cầm micro hai tay, chấp tay cúi mình chào như vái Phật
trước bàn thờ, tôi nói:
– Bẩm Quan Lớn, xin Quan Lớn thông cảm mà hỉ xã cho lỗi lầm của
Ban hát chúng tôi. Lần đầu tiên Ban hát chúng tôi hân hạnh có một vị khán giả
là Quan Lớn, vừa cao sang danh vọng, vừa là người biết thưởng thức nghệ thuật
nên chúng tôi không dám “nhận lớp” tuồng, không dám hát thiếu để mang tội với
Quan Lớn. Nguyên trong tuồng có cảnh Duy Bạt ăn đùi gà, vì đây là cái gút tuồng
để cho Gia Lữ Tế buộc cho Duy Bạt phải theo âm mưu của ông ta mà ám hại Hoàng hậu.
Nếu bỏ lớp ăn đùi gà thì là nhận lớp tuồng, có lỗi với Quan Lớn và quí khán giả
mà ở nơi Thánh Đia thì chúng tôi cũng ăn chay. Có cái đùi gà là vì lúc hát bên
rạp hát Minh Châu Cần Thơ còn lại, anh dàn cảnh lấy cất trong giỏ xách, để hơ hỏng
nên bị kiến bu. Nếu bỏ thì không có đồ để hát, vì lúc nãy tắt đèn đổi cảnh, anh
ta sơ suất không thấy là có kiến bu trên đùi gà nên mới xảy ra cớ sự. Chúng tôi
nghĩ đây cũng là một sự trừng phạt của Đức Thầy, đoàn hát đến Thánh Địa thì phải
tuân thủ theo mọi quy định, nếu có khó khăn gì thì phải thỉnh xin ý kiến của
Quan Lớn. Quan Lớn dạy sao, đoàn hát làm vậy thì đâu có chuyện gì xảy ra. Xin
Quan Lớn thương mà tha thứ cho Ban hát chúng tôi nhờ.
Quan Lớn gật đầu:
– Được, cái thằng nầy ăn nói thật thà. Quan Lớn tha cho. Bây
kiếm thằng khác đóng thế tuồng cái thằng bị kiến cắn. Hát tiếp cho tao với bà
con coi.
Tôi mừng quá, xá lia:
– Dạ! cám ơn Quan Lớn… cám ơn Quan Lớn.
Anh Tám Kiết được tha ra, thoát khỏi cái còng số tám, anh vô
hậu trường, nói nhỏ với tôi:
– Hồi nãy nghe anh nói, tôi sợ anh cũng bị còng như tôi.
Tôi hỏi:
-Tại sao? Tôi nói gì sai sao?
Anh Tám Kiết nói:
– Tôi sợ anh nói kiến ” lửa” cắn Tám Vân, anh phạm húy, nói tới
tên của ông Tướng Năm Lửa thì tôi với anh có cái màn là bỏ xác tại đây.
May quá, tôi không nói phạm húy, không nói tới tên của ông Tướng,
có lẽ là nhờ Tổ Nghiệp độ, chớ quả thật là tôi không hề để ý tới việc có thể vô
tình nói tới tên ông ta.
Vãn hát, chúng tôi rất buồn, thắm thía nghĩ tới cái thân của
người nghệ sĩ đi hát trong thời buổi có chiến tranh, vùng nào có lãnh chúa nầy,
cái mạng của người dân đen rẻ như bèo.
Tám Vân, Tám Kiết và tôi ngồi phía sau rạp hát, nhìn dòng
sông Hậu Giang chảy lờ đờ…Bên kia sông là Cần Thơ, ở đó như ở quê nhà… Bên nầy
sông là Cái Vồn, mà sao cảm thấy như lạc lõng ở một cái nước nào xa xôi dịu vợi.
Tám Vân bỗng nhớ mấy vần thơ Hoàng Hạc Lâu của thi
sĩ Thôi Hạo đời Đường, anh ngâm nho nhỏ:
” Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên Ba giang thượng sử nhân sầu!”
Tôi tiếp lời anh:
“Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai!”
Đêm nay ngồi bên dòng sông quê hương, nhìn lượng sóng nhấp
nhô nhẹ đưa giề lục bình bập bềnh trôi trôi giữa dòng, cả ba chúng tôi cứ ngỡ
mình lạc lõng ở xứ lạ quê người, buồn không kể xiết!
MỘT THỜI ĐỂ NHỚ:
đào hát biết phép thần thông
Mùa đông năm nay trời lạnh buốt hơn các năm trước. Không biết
có đúng như vậy hay không, hay là tại tôi già rồi, sức khỏe suy giảm nên mới có
cái cảm giác năm nay lạnh hơn năm rồi. Mỗi sáng khi thức giấc, tôi nhìn màn ảnh
truyền hình, theo dõi mục thời tiết, lúc nào cũng thấy dưới 20 độ âm, bèn chép
miệng than:
“Ôi! ở cái xứ lạnh tình nồng nầy, cái lạnh thì không mời
không gọi cũng theo tuyết mà bay mịt trời mịt đất, lạnh buốt từ trong xương lạnh
ra, còn tình nồng thì tìm ở đâu ra? Mấy ông văn sĩ, nhạc sĩ bày đặt nói “xứ
lạnh tình nồng” để giúp cho mình một chút tự kỷ ám thị, một chút hy vọng
hão huyền, chớ bộ dễ mà có được cái thứ tình nồng để chống lại cái lạnh dưới 20
độ âm sao?”
Vợ tôi đang đọc báo, nghe tôi than, cô ta cười:
– Anh cứ than già hoài, coi chừng mà rủng chí, hết phương viết
lách nữa. Mà… mà…anh muốn cái “tình nồng” gì? Hơn tám mươi tuổi rồi ông
ơi…
Tôi chống chế:
– Thì… nói về chuyện văn chương nghe mà chơi, chớ còn tình tự
gì nữa đâu mà “khóc với cười…”(tôi vô tình buộc miệng ca một câu nhạc của Vũ
Thành An mà tôi quên mất tên bản nhạc đó)
Vợ tôi im lặng thật lâu, nhìn tôi như muốn xẽ chia tâm sự, rồi
như chợt nhớ tới cái lạnh dai dẳng của mùa đông năm nay, vợ tôi biểu đồng tình
với tôi:
– Đúng vậy! Năm nay lạnh hơn mấy năm rồi. Phải chi em có phép
thần thông, em sẽ hóa cho anh một cái mặt trời mùa hạ, sáng tối mọc lên và lăn
xuống gần ngôi nhà của mình, để cho anh được sưởi ấm, để cho anh tưởng như mình
đang còn ở Việt Nam, đang cái thời mà anh vừa hai mươi tuổi!
Tôi khoái chí, bật cười to:
– Anh 20 tuổi thì em mới 18 tuổi! Đúng là cái tuổi thần tiên,
đầy ước mơ, hy vọng và những sầu mộng vu vơ!
Tôi bỗng cao hứng, ngâm nho nhỏ mấy câu thơ:
Có một nàng con gái,
Vừa đến tuổi mộng mơ
Hoa ân tình chớm nở
Đã mang sầu vào thơ.
Ngồi thường đếm là rụng
Đón gió chiều thướt tha
Gởi hồn mộng theo gió.
Bay vội đến trăng ngà.
Ôm niềm đau tuổi nhỏ
Nước mắt đi vào đời
Bằng điệu buồn mười tám,
Nghe tình yêu xa xôi…
Vợ tôi muốn kéo tôi ra khỏi mộng mơ nên nhắc khéo:
– 18 gì mà 18, em đã 81 tuổi rồi, dầu cho có phép thần thông,
đảo ngược được hai con số 81 thành l8 thì em cũng không thể trở thành cô gái 18
tuổi đâu.
Tôi phát la lên: ” Có rồi… có rồi… Cám ơn em…!
Tôi chạy lại bật contact máy computer.
Vợ tôi hỏi:
– Có chuyện gì mà anh la: “Có rồi? Có rồi?”
– Có đề tài để viết báo rồi. Em vừa nói tới ba tiếng “Phép
Thần Thông”, gợi cho anh nhớ chuyện “cô đào hát có phép thần thông”. Chuyện có
thật một trăm phần trăm, một kỷ niệm nhớ đời của các nghệ sĩ cải lương trong thời
kỳ chiến tranh Việt Pháp.
Tôi vừa trả lời, vừa chăm chú vào máy vi tính và trong đầu óc
của tôi ba chữ “Phép Thần Thông”! ngời sáng như một viên ngọc quý.
NHẬP GIA TÙY TỤC
nhập giang tùy khúc
Trước khi kể chuyện “cô đào hát có phép thần thông”, tôi xin
giới thiệu bối cảnh lịch sử của câu chuyện.
Nghệ sĩ cải lương theo đoàn hát đi lưu diễn khắp các miền đất
nước, luôn luôn ghi nhớ câu tục ngữ: “Nhập gia tùy tục, Nhập giang tùy khúc”.
Ghe chài của đoàn hát lúc di chuyển được tàu máy dầu kéo nhưng người tài công của
ghe chài bao giờ cũng phải túc trực bên bánh lái ghe để có thể lái ghe chài
theo luồng nước, tránh các đụn cát, các gò cát dưới lòng sông. Phải biết chỗ
nông hay sâu, chỗ nào ghe chài của đoàn hát cập bến được. Về từng địa phương
nơi đoàn hát đến, nghệ sĩ phải được ông quản lý của đoàn hát cho biết luật lệ của
địa phương. Nơi nào cấm đến, cấm chụp ảnh, những điều cấm kỵ không được nói đến.
Các anh Hề diễu thì phải tránh nói những gì mà các nhà chức trách ở địa phương
có thể ngộ nhận là đoàn hát nói xiêng nói xỏ họ. Vì vậy, trong những năm 1946 đến
năm 1954, thời kỳ chiến tranh Việt Pháp, các gánh hát có hai người chịu trách
nhiệm quản lý: một chánh và một phó. Người chánh đi xin phép, mướn rạp, mướn
phòng ngủ hay nhà nghỉ cho đào kép, mướn xe tải hay tàu kéo thì người phó lo
công việc quản lý, giao thiệp với nhà chức trách địa phương, nơi đoàn hát đang
trình diễn. Hoặc ngược lại, người phó quản lý đi lo bến mới, bãi diễn hay mướn
rạp hát thì người quản lý chánh lo thủ trại. Và lần nào đi xin phép hát, mướn rạp,
dán những tờ áp phích quảng cáo trước và dò hỏi tình hình của địa phương, ý
thích của khán giả, người quản lý của đoàn hát đi trước có quyền chi tiêu rộng
rãi và được ở lại tại địa phương mới đó vài ngày. Đoàn hát doanh thu thành hay
bại, được an ninh hay không là nhờ ở tài ngoại giao của ông Quản lý.
Ngày nay, các bạn trẻ nghĩ là luật lệ trong một nước, một tỉnh
thành hay quận ly thì đã được nhà cầm quyền ban bố bằng Hiến Pháp hoặc bằng các
sắc luật; bất cứ địa phương nào trong một nước cũng đều phải áp dụng luật pháp
đó giống như nhau, người Quản lý của gánh hát đâu có cần phải dọ biết những luật
lệ, tập tục riêng của từng địa phương.
Sự thật thì không phải vậy! Từ năm 1946 đến năm 1954, thời kỳ
chiến tranh Việt Pháp, mỗi địa phương có một lãnh chúa, mỗi ông lãnh chúa có
quyền lực riêng mà chánh quyền trung ương cũng phải vị nễ, không can thiệp được
dù cho quyền địa phương đó trái với những gì đã được quy định bằng sắc luật hoặc
nghị định của chánh quyền trung ương.
Có những vùng của Việt Minh kiểm soát, có những vùng ” xôi đậu”,
ban ngày của Quốc Gia, ban đêm của V.M. Có những vùng do quân đội Pháp chiếm
đóng, và ngay trong các vùng nầy lại có các bót do lính của các Giáo Phái trấn
giữ với sự cho phép của nhà cầm quyền Pháp.
Đoàn hát cải lương của chúng tôi khi lưu diễn ở các tỉnh miền
Đông thì đã phải chịu điêu đứng khi đến Tây Ninh vì gặp các “ngài” chỉ huy của
các bót Cao Đài ở các xã Cẩm Giang, Bến Xúc, Suối Đá… Chúng tôi về miền Tây
hát, tuy được doanh thu cao vì dân miền Tây rất thích coi hát cải lương, nhưng
đoàn hát cũng “trầy vi tróc vãi” với những bót do lính Hòa Hảo trú đóng. Những
vùng Hòa Hảo lại do nhiều ông Tướng chỉ huy khác nhau nên cũng có nhiều luật lệ
khác nhau.
Còn nhớ… những năm 1950 đến năm 1954… các đơn vị lính Hòa Hảo
do ông Lâm Thành Nguyên thống lãnh, chiếm đóng từ Châu Đốc dài tới biên giới
Cao Miên. Các đơn vị do ông Nguyễn Trung Trực chỉ huy thì đóng các bót ở các xã
thuộc tỉnh Long Xuyên chạy dài tới chợ mới Long Xuyên. Xuống khỏi Long Xuyên một
chút là Vàm Cống, chạy dài tới ngã ba Rạch Giá – Cần Thơ – Long Xuyên thì thuộc
về phạm vi thế lực của các đơn vị Hòa Hảo dưới quyền chỉ huy của ông Lê Quang
Liêm. Vùng Thốt Nốt – Ô Môn thuộc quyền ông Ba Cụt. Vùng Bình Thũy – Cái Vồn đi
Cần Thơ thuộc quyền của ông thiếu tướng Năm Lửa. Lúc đó còn có những đơn vị lớn
mang danh là bộ đội 40, 41, 42 Hòa Hảo… và ở vùng Cai Lậy – Chùa Phật Đá, Thủ
Thừa có đơn vị quân lính của Hòa Hảo 12 phái…
Sau năm 1954, 1955, bộ đội Quốc Gia chỉ có tiểu đoàn 15 trú
đóng tại Long Xuyên. Trước đó thì ngoài quân đội của Pháp (lính Lê Dương,
Maroc, Senégalais, lính Việt Partisan, lính 11 Ric…) chánh quyền địa phương còn
có các Ban Hội Tề, sau gọi là Hội đồng xã nắm quyền hành chánh ở các vùng nầy
cũng phải là người thuộc Giáo Phái. Vì vậy các gánh hát cải lương sau khi xin
phép hát ở tòa Hành Chánh cấp Tỉnh, cấp Quận, phải trình giấy tờ, sổ ghi tên tuổi
các diễn viên và công nhân sân khấu cho sở Cảnh Sát rồi còn phải tới trình giấy
tờ với các bót Hòa Hảo trú đóng trong vùng, sau đó mới tới trình với hành chánh
xã.
Mỗi lần đi xin phép hát, trình sổ nhân sự của đoàn hát thì
người Quản Lý đoàn hát luôn luôn phải biếu nhiều thiệp mời xem hát. Đoàn hát phải
để dành ra ít nhứt là 4 hàng ghế thương hạng, 4 hàng ghế đầu, sát với mặt tiền
sân khấu cho các vị quan quyền và gia đình xem hát.
Năam 1951, tôi đang đi gánh hát Tiếng Chuông của ông Bầu
Cang. Anh Ba Tẹt, bầu gánh hát Ánh Sáng thương lượng với ông Bầu Cang, mượn tôi
qua gánh Ánh Sáng giúp việc Quản Lý khi đoàn nầy hát các vùng Ô Môn, Bình Thủy,
Cái Vồn ở Cần Thơ. Tôi gia nhập vô làng hia mão mới có ba năm, chưa có nhiều
kinh nghiệm trong nghề hát và nghề quản lý gánh hát, nhưng tôi biết tiếng Tây
và có học thức chút đỉnh nên việc giao thiệp với đồn bót, xin phép hát, kiểm
duyệt tuồng tôi làm việc có phần dễ dàng hơn những anh em khác.
Gánh Ánh Sáng – Bầu Tập chuyên hát cương, hát tuồng Tàu, tuồng
kiếm hiệp của soạn giả Mộng Vân, nhưng khi hát ở các bến Ô Môn, Bình Thủy, bắc
Vàm Cống thì Anh Ba Tẹt và chị Nguyệt Yến bày thêm hát tuồng Phong Thần, Bàng
Quyên – Tôn Tẩn, Trụ Vương – Đắc Kỷ, Hỏa thiêu Bá Lạc Đài. Chị Nguyệt
Yến nói lớp tuồng, phân vai, hát và ca cương các đoạn tuồng chính yếu, tôi ghi
chép và đưa cho anh em học hát. Buổi sáng đọc tuồng, ráp sơ sịa, tối hát. Vậy
mà khán giả khen tuồng hay, nghệ sĩ đẹp và hát giỏi.
Khi sắp qua hát ở quận Cái Vồn, tôi biết bà Năm (vợ ông tướng
Năm Lửa) sùng bái nhân vật Phàn Lê Huê nên tôi nói với anh Ba Tẹt và chị Nguyệt
Yến chuẫn bị các tuồng theo truyện Tàu: Tiết Đinh San chinh tây, gồm có
các lớp tuồng hay nhất như Thần Nữ dâng Ngũ Linh Kỳ, Tiết Đinh San cầu
Phàn Lê Huê, Phàn Lê Huê phá Hồng Thủy Trận, Phàn Lê Huê phá Âm Dương
trận. Tuồng diễn cương thì dễ dàng đối với các nghệ sĩ đoàn Ánh Sáng – Bầu Tập,
có khó chăng là phải làm sao cho các nhân vật như Lê Sơn Thánh Mẩu, Phàn Lê Huê,
Tần Hớn bay được trên sân khấu. Ngoài ra, việc các vì tiên phe Triệt Giáo và
Phàn Lê Huê đấu phép, phá trận Hồng Thủy phải hấp dẫn như đấu phép thật, hô
phong hoán vũ phải có mưa gió ào ào như bão tố, phải có sét giăng, sấm nổ, lửa
cháy rần rần…
Đoàn Ánh Sáng – Bầu Tập chuyên hát tuồng kiếm hiệp, đấu boa
nha (poignard) nhảy cửa sổ, ca vọng cổ, phựt đèn màu, nên phong cảnh vẻ các
ngôi nhà đều có cửa sổ thật rộng, để khi kép hát phóng mình bay qua cửa sổ thì
bên trong có bốn anh dàn cảnh, cầm bốn góc mền căng ra hứng để cho anh kép
không té xuống sàn sân khấu, dập mũi, bể đầu. Những màn đấu súng thì dùng pháo
châm điện cho nổ, nhưng khi hát có các màn đấu phép thì phải cho nổ trên sân khấu,
khi liệng phép ra thì phép nổ, nháng lửa hoặc xẹt xẹt như sét đánh những khi có
mưa giông. Phàn Lê Huê bay thì phải bay từ góc sân khấu nầy xẹt lên nóc sân khấu
phía bên kia, bay một đường dài mới thật là hấp dẫn. Vì những kỹ thuật, xảo thuật
mới đó đoàn hát không có nên ông bầu Ba Tẹt và chị Nguyệt Yến nhờ tôi đứng ra
lo liệu các phương tiện xảo thuật cho tuồng hát vì chị Nguyệt Yến sẽ vào vai
Phàn Lê Huê.
Tôi có người anh bà con làm đại úy an ninh phi trường Tân Sơn
Nhứt nên tôi về Saigon nhờ anh mua dùm tôi giây cáp máy bay, thứ giây bằng
thép, nhỏ như đầu đủa ăn nhưng có thể treo một vật nặng hằng mấy trăm ký lô. Với
loại giây cáp bằng thép nầy thì khi người nghệ sĩ được kéo lên cho bay thì
không sợ bị đứt giây té xuống, và nhất là vì nó làm bằng thép, giây nhỏ nên dù
khán giả ngồi sát gần sân khấu, với đèn đuốc đủ màu xanh, đỏ, khi chớp khi tắt,
khán giả không thể nào thấy sợi giây kéo nên cứ tưởng là người bay thật. Tôi lại
đến các tiệm thuốc Bắc mua diêm trắng và hồng hoàng để về chế pháo đập. Diêm trắng
thay cho chất Chlorate de potasse, cà nhuyễn, hồng hoàng cũng cà nhuyễn, trộn với
bột than, ba thứ trộn đều, gói trong một lớp giấy với vài viên đá sỏi khi liệng
xuống đất, ba chất thuốc cọ xát nhau, phát hỏa, nổ một tiếng thật lớn với ánh
sáng xanh lè lóe mắt. Tuồng tích và mọi phương tiện xảo thuật được chuẩn bị đầy
đủ thì đoàn hát được Ban Trị Sự Hòa Hảo ở Cái Vồn mua dàn, đưa đoàn về hát ở chợ
quận.
Phàn Lê Huê và đoàn nữ binh trên đường phố
Tôi còn nhớ đoàn hát Ánh Sáng qua Cái Vồn hát vào những ngày
đầu tháng 5 năm 1951. Lúc đó ở Cái Vồn đang có lễ lớn:
Lễ kỷ niệm ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ tế thiên cáo địa thành lập
Giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo ngày 18 tháng S năm 1939.
Trên các ngã ba ngã tư các trục lộ chính trong quận đều có đặt
bàn thờ với khung ảnh Đức Huỳnh Giáo Chủ. Trên con lộ đất dọc theo bờ sông, cứ
cách một cây số, có dựng một cái chòi cao, trên đó có để bức ảnh lớn của Huỳnh
Giáo Chủ, mặt hướng ra bờ sông.
Trong phố chợ, trước mỗi nhà, đều có một bàn ông Thiên, có thắp
nhang khói ngui ngút. Ông Thiếu Tướng Năm Lửa ngồi trên khán đài, duyệt binh,
phía sau lưng ông và ở hai bên tả, hữu, có mấy lớp lính đứng hộ vệ. Lính mặc
quân phục đen, đội bê-rê đen, súng có lưỡi lê tuốt trần, khung cảnh coi rất là
uy nghi oai dũng. Dân gọi nịnh ông là ông Tướng Soái.
Ba đại đội đi diễn hành trước khán đài, mang súng tiểu liên
stell, súng mút và có cả mã tấu. Đoàn quân đi diễn binh tuy bước đi không đều
nhưng thái độ rất nghiêm trang. Sau đoàn lính diễn binh là bàn thờ lớn với lư
hương, đầy đủ nhang, đèn và khung hình Đức Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ. Theo sau bàn
thờ là nữ tướng Phàn Lê Huê (do bà phu nhơn thiếu tướng đảm trách). Bà mặc y phục
như trong tuồng hát, trước ngực có một bông hường bằng vải thật lớn, trên mão
có hai lông trĩ cao, dài như các viên nữ tướng Đoàn Hồng Ngọc hay Phàn Lê Huê
trong tuồng hát. Bà vừa đi diễn binh vừa múa song kiếm. Phía sau bà là một đoàn
nữ binh, mặc quần lãnh đen, chân quấn xà cạp sọc đen trắng, mặc áo có in bông
hoa thật lớn. Thắt lưng bằng khăn màu nâu sậm, cột hai dãi khăn bỏ thòng phía
trái, đầu thì chít khăn võ sinh màu nâu, có gắn một bông hoa vàng phía trái.
Các nữ binh cũng cầm song kiếm, bước đi rập ràng, oai dũng.
Khi bàn thờ Đức Huỳnh Giào Chủ được khiêng đi ngang khán đài,
ông Tướng Soái đứng lên, đưa tay chào theo kiểu nhà binh Pháp. Lính cận vệ đứng
sau lưng cũng bồng súng chào, tay xòe ra ngang ngực, lòng bàn tay úp xuống đất.
Các nghệ sĩ chúng tôi đêm đó sẽ hát tuồng Phàn Lê Huê phá Hồng
Thủy trận, nhưng ngay buổi sáng đi coi lễ, đã được thấy bà thiếu tướng Phàn Lê
Huê đi diễn binh, nên ai nấy đều lo sợ, không biết đêm hát tối nay, bà Phàn Lê
Huê ngồi xem hát có bằng lòng cô Phàn Lê Huê trên sân khấu hay không?
Đào hát biết phép thần thông.
Bà Tướng Soái phu nhơn đi xem hát cải lương, ngồi ghế bành
trên bục cao, kế bên có một cái bàn nhỏ để cái giỏ trầu. Sau lưng của bà có bốn
cô nữ vệ binh mang kiếm theo hầu. Hai anh lính mang súng mút đứng gác gần cửa
ra vô của rạp hát. Khán giả thì ngồi sau lưng của bà Tướng, đông tới mức là
không có ai có thể đi tới hay đi lui gì được.
Ông bầu Ba Tẹt muốn lấy lòng Bà Tướng Soái nên tuồng Phàn
Lê Huê phá Hồng Thủy trận diễn thành ba màn: Màn một hát lớp “Tiết
Đinh San cầu Phàn Lê Huê”, Màn hai diễn cảnh “Phàn Lê Huê đăng đàn bái tướng”,
Màn ba cảnh “phá trận Hồng Thủy” của nguyên soái Phàn Lê Huê.
Cô Nguyệt Yến, cô đào đẹp nhất, ca hay nhất và bộ múa võ cũng
đẹp hạng nhất được chọn đóng vai Nguyên Soái Phàn Lê Huê. Cô Nguyệt Yến có một
nước da trắng như bông bưởi, môi đỏ tự nhiên, má hồng, mắt sáng long lanh, tiếng
nói nghe thanh tao dịu ngọt. Chỉ cần nói chuyện với cô một lúc là bọn mày râu sẽ
mê mẫn tâm thần. Xem cô hát, xem cô múa võ, nghe cô ca thì bọn con trai dám bán
nhà bán ruộng để tự nguyện xin theo cô mà hầu hạ.
Kép Thiện Tâm thủ vai Tiết Đinh San. Kép Thiện Tâm cao ráo, đẹp
trai, ca vọng cổ rất mùi. Hề Vân Trình đóng vai Tần Hớn (kép bay) và Ba Tẹt vai
Đậu Nhứt Hổ, tướng biết độn thổ. Các vai tiên Triệt Giáo thì do các kép Năm Chuồng
(kép chuyên môn nhảy cửa sổ), Bảy Quí, Mười Trinh (kép chuyên đánh võ) thủ diễn.
Ngay trong màn đầu, nữ tướng Phàn Lê Huê vâng lời thầy là Lê
Sơn Thánh Mẩu, hiến dâng thành Hàn Giang Quận để đầu Đường và kết hôn với Tiết
Đinh San, nhưng Tiết Đinh San lầm cho là nữ tướng họ Phàn mê tài sắc của Đường
Tướng mới phản chúa và trái ý cha nên sau đêm tân hôn, Tiết Đinh San đuổi Lê
Huê đi.
Phàn Lê Huê vì tuân theo lời dạy của ân sư Lê Sơn Thánh Mẩu,
đầu Đường trào là thuận theo ý trời nên tuy bị chồng ruồng rẫy, nàng vẫn cam chịu
thiệt thòi. Trong lớp tuồng nầy cô Nguyệt Yến đã ca hai câu vọng cổ thật là
hay:
(nối lối)
Chăn gối hững hờ chăn gối lẻ
Phấn hương lợt lạt phấn hương tàn, |
Bao nhiêu thương nhớ bao nhiêu lệ,
Mộng ước thôi rồi chịu vỡ tan.
(câu 5 vọng cổ):
Thất thểu lên yên bụi mờ theo vó ngựa, mưa lạnh hoàng hôn ướt
đẫm nhung bào, ta chẳng biết giọt mưa rơi hay hay lệ thắm tuôn trào… ôi, “tùng
cúc lưỡng khai tha nhật lệ, cô chu nhất hệ cố viên tâm”, Gió ngàn ơi hãy dứt tiếng
bi than, ta trở lại Hàn Giang với cõi lòng đà tan nát, thân hoa trôi bèo dạt lệ
Hàn Giang đượm chảy bao lần.
(câu 6 vọng cổ):
Hàn Giang ôi, ta bỡ ngỡ quay về thăm cảnh cũ sao hoa lá vẫn
tiêu điều rũ rượi như chế nhạo kẻ bị chồng phụ bạc đuổi xô, Tim ta đau như cơn
gió đầu thu, lệ ta nhỏ như giọt mưa rơi kẻ lá. Hàn Giang ôi, hãy khóc lên đi một
cuộc tình tan vỡ cho tim ta nhẹ mối ưu phiền, ta sống giữa Hàn Giang với chuỗi
ngày khổ đau câm lặng, để nghiền ngẫm hai chữ ân tình đã khiến cho mình cam chịu
cảnh cô đơn.
Dưới khán phòng có nhiều khán giả khóc rấm rức, tôi đứng bên
cánh gà nhìn xuống, thấy bà Tướng cũng lấy khăn lau nước mắt, một cô nữ binh
têm sẫn trầu dâng cho bả, bà lấy trầu nhai lia như muốn nhai xương tên Tiết
Đinh San cho hả dạ. Bà xĩa thuốc thật mạnh như cố nén cái giận trong lòng.
Đến lớp tuồng Tiết Nhơn Quí bị vây khổn trong trận Hồng
Thủy, quân sư Từ Mậu Công phái Tiết Đinh San về Hàn Gia Quận, cầu Phàn Lê Huê
phát binh đi cứu cha chồng và Hồng Thủy trận, Phàn Lê Huê không nhận lời khiến
cho Đinh San phải chịu nhục, tam bộ nhất bái, đi ba bước phải lạy một lạy, lạy
dài từ dinh Đường cho tới quận Hàn Giang.
Khi Tiết Đinh San lạy một lạy, ca một câu, bước ba bước, lạy
thêm một lạy, khán giả khoái quá, vỗ tay la: “Cho cái thằng chồng ngu lạy cho u
đầu sứt trán nó đi, đừng thèm phá trận, đừng thèm cứu cha của cái thằng ngu
đó”.
Tôi nghe tiếng tu hít thổi rét… rét và anh lính la:” Mấy người
im lặng cho Bà coi hát”.
Bà Tướng cười hề hề:
– Kệ nó. Cho tụi nó chưởi cái thằng chồng ngu.
Phàn Lê Huê chỉ nhận lời phá trận khi được trao binh quyền và
làm lễ đăng đàn bái tướng. Màn bỏ xuống trong sự vỗ tay hoan hô nhiệt liệt của
khán giả.
Màn Hai lớp ” Phàn Lê Huê đăng đàn bái tướng”, là một hoạt
cảnh múa kiếm thật đẹp của Phàn Lê Huê, Tiết Đinh San quỳ dâng ấn tín Nguyên
soái và Thượng phương bảo kiếm của vua Đường. Phàn Lê Huê bái nhận ấn tín, truyền
lịnh cho Tiết Đinh San làm Nhất lộ tiên phuông, Tần Hớn và Đậu Nhứt Hổ: Tả, Hữu
Nhị vị tướng quân. Sau đó Nguyên soái Phàn Lê Huê đứng lên, vung cây gươm Thượng
phương bảo kiếm hét lớn “Truyền tấn binh”. Trống và phèng la đổ liên hồi, tiếng
trống như sấm động, dục tiến quân. Quân sĩ trong đoàn hát múa cờ, múa kiếm chạy
ngang qua sân khấu.
Khi Phàn Lê Huê trên sân khấu hô tiến binh, chúng tôi bỗng thấy
hàng loạt phụ nữ khán giả phía dưới khán phòng đứng thẳng người, đồng loạt vung
tay chỉ về phía trước, hét lớn:” Tiến”… ” Tiến”. Tiếng thét tiến quân đầy khí
thế của khán giả làm cho chúng tôi rùng mình, rởn óc!
Anh Ba Tẹt bầu gánh hát chạy kiếm tôi, tôi cũng đang định tìm
anh để bàn chuyện hát màn “phá trận”. Trước khí thế hăng say của khán giả, nữ
binh của Bà Tướng Soái Năm Lửa, chúng tôi cùng có một ý nghĩ là cái màn “phá trận”
phải hát cho thật là “Xôm”, nghĩa là màn đấu phép thì phải cho pháo điện và
pháo đập nổ liên hồi, có sét đánh, có chớp giăng như trời long đất lở. Bao
nhiêu pháo đập làm sẵn dành cho ba xuất hát được đem ra, phát cho các diễn viên
đứng hai bên cánh gà, để nhờ liệng vô “trận” từng chập. Pháo châm ngòi điện
cũng được anh thợ đèn gắn thêm sau các bục đá giả trên sân khấu.
Màn ba là Trận Hồng Thủy, ánh sáng một bên đỏ, một bên
xanh. Bên đỏ có một dàn quạt máy ba cái, đóng trong thùng cây, bên ngoài vẻ
hình một tảng đá, trước quạt máy có dán rất nhiều giấy kiếng màu đỏ, cắt theo
chiều dài. Khi không bật điện thì giấy đỏ nằm rạp xuống sàn sân khấu, khán giả
không thấy. Khi bật điện, quạt máy chạy càng lúc càng mạnh, giấy kiếng đỏ thổi
bay cuồn cuộn tới trước, cộng với ánh sáng sân khấu phía đó đỏ rực lên sẽ tạo
ra ảo giác cho khán giả thấy là lửa đang cháy phừng phực. Phía đèn xanh cũng một
dàn quạt máy như vậy, có khác là bên thủy trận thì giấy kiếng xanh và đèn xanh.
Khi có bật điện lên thì giấy kiếng được thổi ra, bay ào ào như hình ảnh của những
ngọn sóng vỗ nước cuốn.
Màn ba, màn nhung vừa kéo lên, chúng tôi đã nghe tiếng vỗ tay
thật lớn, thật lâu của khán giả, báo hiệu là họ đang nóng lòng chờ coi Phàn
Lê Huê phá trận. Tôi nhìn xuống khán phòng thì thấy bà Tướng Soái Năm Lửa đã hết
nhai trầu, bà ngồi thẳng thớm trên ghế bành như hình vẽ của các nữ tướng Trưng,
Triệu trên lưng voi, tay bà cầm cây quạt giấy như nắm thanh kiếm…
Tiết Nhơn Quí bị vây trong trận hồng thủy, mỗi khi ông múa
phương thiên họa kích xông ra thì lửa cháy, nước cuốn, tên bắn như mưa. Tiết
Nhơn Quí bị thương, ca bài xàng xê lớp xề, tự thán e rằng sẽ bỏ mạng sa tràng tại
vùng đất Phiên nầy. Bỗng ông nghe tiếng quân reo tở mở, Tiết Đinh San tiên
phuông xông vô trận. Cả hai cha con họ Tiết đánh với hai vị địa tiên Triệt
Giáo, bị phép tiên đánh té ngồi dưới đất, hai vị tiên biến mất. Trong ánh sáng
khi chớp lòa khi mờ sáng, tạo ra ảo giác mơ hồ, Tiết Đinh San ca vọng cổ, báo
cho cha biết là hắn đã cầu được Phàn Lê Huê đăng đàn bái tướng, Phàn Lê Huê sẽ
phá trận. Đinh San đi tiên phuông, tưởng là sẽ phá được trận cứu cha nhưng
không ngờ trận Hồng Thủy quá ác, Đinh San cũng bị vây trong trận như cha.
Lại nghe tiếng reo hò tở mỡ, nguyên soái Phàn Lê Huê múa song
kiếm, đánh lui hai vì tiên Triệt Giáo, xông vô trận. Bọn Triệt Giáo hóa phép, lửa
cháy đỏ trời, nước dâng sóng vỗ, bọn quỷ đầu trâu mặt ngựa xông vào đâm chém.
Phàn Lê Huê đứng trên tảng đá giữa trận, rút cây cờ Ngũ Linh mang trên lưng ra,
vũ lộng thần oai, hô biến, hô giáng. Khi Phàn Lê Huê vung cao Ngũ Linh Kỳ, múa
quanh mình thì anh thợ đèn bật contact cho các vĩ pháo điện nổ khi bên đông,
khi bên tây, khi sau lưng bọn Triệt Giáo khiến cho chúng nó phải nhảy nai. Lá cờ
Ngũ Linh được một ngọn đèn than 1000 watts chiếu, đèn có kiếng màu vàng bên
ngoài nên ánh sáng màu vàng chói ngời như ánh hào quang. Ngọn lửa đỏ bên Hỏa trận
khi bùng sáng khi chợp tắt, ngọn thủy triều xanh bên Thủy Trận cũng chập chờn
như cả hai màu đỏ xanh của Hồng Thủy Trận bị ánh đạo vàng trên Ngũ Linh Kỳ đánh
bại.
Bên trong các nghệ sĩ đứng bên cánh gà theo hướng cờ phất,
theo giọng biến… biến… của nguyên soái Phàn Lê Huê mà quăng các viên pháo đập
xuống sàn sân khấu. Pháo nổ chát chúa kèm theo ánh lửa xanh lè chớp sáng, bọn đầu
trâu mặt ngựa xông vô, bị tiếng nổ và lửa phép của Lê Huê, té nhào trở ra, song
chúng nó lại nhào vô hò hét. Tiếng trống tiếng nhạc, tiếng nổ chát chúa và ánh
điện xẹt xẹt như sấm động sét giăng, tiếng quân la tiến...tiến, tiếng hô giáng
giáng của Phàn Lê Huê làm cho trận đánh càng thêm gay cấn, hào hùng.
Về phía khán giả, tôi nhìn xuống thấy Bà Tướng cầm cây quạt
giấy khi chỉ bên đông, khi múa bên tây, miệng lẩm bẩm như đọc thần chú. Bà cũng
mê say như đang phá trận Hồng Thủy. Bỗng một thanh niên tóc xỏa ngang vai, mặc
y phục màu nâu sậm, chạy ra ngoài lấy cây cờ màu già có hình bánh xe tạo hóa và
một bông sen ngay chính giữa lá cờ. Anh mang cờ lên sân khấu, qùy một chân dưới
bục đá có Phàn Lê Huê đứng phía trên, anh phất phất ngọn cờ Hòa Hảo. Bốn nữ vệ
binh của Bà Tướng cũng nhảy lên sân khấu, múa kiếm quanh mình, các cô đứng bảo
vệ lá cờ Hòa Hảo. Phàn Lê Huê vẫn múa lá cờ Ngũ Linh Kỳ. Tôi và anh ba Tẹt sợ mấy
cây kiếm thiệt của mấy cô nữ vệ binh gây thương tích cho các anh em trong đoàn
hát nên hô các anh đứng trong cánh gà liệng hết pháo nổ vô sân khấu, đồng thời
hét lớn, nhắc tuồng:
” Tụi bấy chết hết đi.”
Bọn đầu trâu mặt ngựa và hai vị tiên Triệt Giáo ngã ngang ra
chết, lui vô hậu trường. Pháo đập nổ liên hồi, khói pháo mịt mù, khét lẹt. Các
cô nữ binh và anh cầm cờ Hòa hảo bị cháy xém vài chỗ trên áo quần. Phàn Lê Huê
bay cái rẹt lên phía trên nóc sân khấu. Màn bỏ xuống trong tiếng vỗ tay cuồng
nhiệt của khán giả.
Chúng tôi vén màn, hộ tống bốn cô và anh chàng dũng sĩ áo
lam, cầm cờ Hòa Hảo xuống phía trước sân khấu, gặp Bà Tướng. Bà hài lòng, khen:
“Mấy con giỏi lắm Bà sẽ thưởng cho mấy con”.
Bốn cô và một cậu vừa xông trận, chấp tay cúi đầu cảm tạ.
Bà thấy tôi đứng đó, Bà phán một câu:
– Chú biện tuồng vô kêu cô đào có phép thần thông ra bà bảo.
Tôi dạ một tiếng, chạy bay vô hậu trường.
Cô đào Nguyệt Yến đã được tháo giây bay, đứng giữa sân khấu,
thở vì mệt và vì ngộp khói thuốc pháo, chưa thay y phục hát, tôi tới bảo:
– Bà Tướng kêu chị ra gặp bả kìa.
Chị Nguyệt Yến, anh Ba Tẹt còn mặc y phục hát, theo tôi ra
khán phòng. Bà Tướng nựng mặt, vuốt bàn tay của Phàn Lê Huê – Nguyệt Yến, bà
nói:
– Cô biết phép thần thông, biết múa kiếm, giỏi lắm. Cô ở lại
đây dạy cho đám nữ binh của Bà đi. Đừng đi theo ghe hát nữa, cực lắm. Vậy hén?
Ngày mai cô vô dinh của Bà ở, Bà lo hết cho cô. Ngày mai nghen.
Bà nói xong rồi, không cần nghe trả lời là cô đào hát có ưng
chịu hay không, bà ra cửa, leo lên xe jeep. Xe chạy, Bà còn khoát khoát tay
chào Phàn Lê Huê trong rạp hát.
Đêm hát thành công quá sức tưởng tượng. Doanh thu mấy ngày
qua cũng rất cao và Bà Tướng còn tặng thêm một số tiền cho cô đào đóng vai Phàn
Lê Huê, lẽ ra thì chúng tôi vui mừng, nhưng sau đêm vãn hát đó, chúng tôi không
tài nào ngủ được. Bà Tướng muốn Phàn Lê Huê Nguyệt Yến ở lại dạy phép thuật và
song kiếm cho đám nữ binh của Bà. Bà cũng muốn học bay như Phàn Lê Huê đã bay
trên sân khấu. Chuyện hát giả trên sân khấu mà Bà Tướng tưởng “Cô đào có phép
thần thông thiệt”.
Ngay vừa hừng sáng, chúng tôi cùng nhau trốn về Cần Thơ rồi
đón xe về Saigon ngay. Đồ đạc và ghe hát để cho anh em dàn cảnh đưa về sau. Bà
Tướng thấy chúng tôi không đến trình diện, chắc Bà cũng hiểu ra là lệnh của Bà
cũng khó mà thực hiện nên Bà không truy cứu. Riêng đoàn hát Ánh Sáng thì mấy
năm sau không dám về miệt Hậu Giang để hát nữa.
Một chuyện nhớ đời của giới nghệ sĩ cải lương trong mấy mùa
chinh chiến.
60 NĂM TRƯỚC
nghệ sĩ sân khấu học hát như thế nào?
Đầu thế kỷ 21 nầy, muốn học ngành nghề nào thì cũng có trường
lớp, sách vở, tài liệu dạy về ngành nghề đó. Có khi không cần phải cặp sách đến
trường học mà ngồi nhà, học theo cách hàm thụ thì giáo sư và tài liệu giáo khoa
cũng theo máy computeur vô đến nhà mình, tới phòng riêng của mình và theo giờ
giấc quy định của mình để việc học hành được thoải mái. Đời sống trong thời đại
văn minh cơ học, vi tính học thiệt là vô cùng tiện lợi.
Hơn 60 năm trước đây thì lại khác. Nước Việt Nam hồi đó còn
là thuộc địa của Pháp, mà nước Pháp lại là một nước bị bại trận ở phương trời
Âu trong những năm đầu Đại chiến thế giới lần thứ hai. Ở Đông Dương, quân Nhựt
Bổn cũng đã có mặt trên nhiều tỉnh thành lớn của cả ba miền đất nước. Mọi mặt đời
sống tình thần, văn học và vật chất đều bị khó khăn, bị hạn chế, thiếu thốn và
lai tạp. Trong bối cảnh lịch sử của xã hội ta lúc đó, nghệ thuật sân khấu cải
lương phải chật vật lắm mới phấn đấu để tồn tại và phát triển được.
Tôi nhắc lại việc học nghề hát của hơn 60 năm trước đây, có bạn
sẽ nghĩ là chuyện đó xưa quá rồi, hoặc là so với học thuật bây giờ thì thiệt là
kém khuyết. Các bạn có lý của các bạn. Tôi viết lại những gì mình đã trải qua
hơn nửa đời người trên sân khấu, mong các nhà học giả để tâm nghiên cứu nghệ
thuật, đúc kết lại những điểm nào đó có ích, bồi bổ cho học thuật cải lương sau
nầy. Và chót hết, ý nghĩ khiêm tốn của tôi là các bạn đọc lại những trang hồi
ký nầy, mong các bạn giải trí như được coi chuyện đời xưa, nhớ lại Sàigòn và những
tỉnh thành với bao kỷ niệm thân thương mà mình đã sống và hiện nay đã biền biệt
xa xôi.
Hồi đó… khoảng năm 1940, lúc thời trung tá Ducouroy tổ chức
phong trào thể dục thể thao, sau cuộc đua xe đạp Đông Dương, từ Bắc vào Sàigòn,
tôi vừa mê thể thao vừa mê xem hát cải lương. Số là thời đó cua-rơ Lê Thành
Các, vua leo núi, mặc áo vàng khi thắng các cuộc đua leo đèo Hải Vân, Đèo Cả…
anh Lê Thành Các, được báo chí phong cho danh hiệu Phượng Hoàng Lê Thành Các,
là thần tượng của tôi, lại chính là bầu gánh hát cải lương, cha của nữ nghệ sĩ
Bo Bo Hoàng. Ngoài gánh hát của bầu Các đóng đô thường xuyên ở đình Tân Kiểng,
tôi còn mê gánh hát của ông bầu Đỗ Xuân Ứng, người Bắc, đã đưa đoàn hát Ứng Lập
Ban từ Hà Nội theo đoàn cua-rơ xe đạp chạy vào Nam. Gánh Ứng Lập Ban hát tại mỗi
chặng dừng của đoàn cua-rơ xe đạp, hát dài từ Hà Nội đến Phủ Lý, Vinh, Huế, Đà
Nẵng, Qui Nhơn, Nha Trang, Phan Thiết và đêm phát giải thưởng Cuộc đua xe đạp
Đông Dương tại nhà hát Tây Sàigòn. Sau đó ông bầu Đỗ Xuân Ứng tách đoàn cua-rơ
xe đạp để đưa gánh hát lưu diễn Sàigòn và Lục Tỉnh. Ứng Lập Ban hát thêm nhiều
xuất ở rạp Modeme đường Espagne trước khi đoàn trở về Hà Nội, (bây giờ là rạp
Long Phụng, dành riêng cho đoàn Hát Bội Thành Phố). Lúc đó tôi còn đi học, nhà ở
đường Espagne, góc chợ Bến Thành, nên khi có thì giờ là tôi loanh quanh trước rạp
Moderne coi các panneaux quảng cáo, có khi vô rạp coi tập tuồng, tập hát.
Còn nhớ hồi đó, gánh Ứng Lập Ban có các nam nghệ: Đào Mộng
Long, Huỳnh Thái, Anh Đệ, Sỹ Tiến, Paul Bách, và nữ diễn viên: Ái Liên, Bích Hợp,
Bích Thuận, Kim Chung, Khánh Hội, Túy Định, Thu Nhi… Ái Liên có giọng ca tân nhạc
như Tây như đầm, Ái Liên được Đài Pháp Á thâu thanh và phát thanh các bài
ca J’ai deux amours, C’est à Capri, Marinella, Tango
chinois… Bọn học sinh chúng tôi rất mê nên lân la tới rạp coi Ái Liên học ca
như thế nào, tập tuồng ra sao, nhưng thường thì chỉ thấy các nghệ sĩ học đánh
võ, ráp tuồng và học ca vọng cổ điệu Sàigòn. Tôi mê coi cải lương, mê coi tập
tuồng, tập hát có lẽ là từ lúc nầy, tôi mê Ái Liên, Kim Chung, Bích Thuận như
mê Phùng Há, Năm Phỉ, Năm Châu…tôi sưu tập hình ảnh các nghệ sĩ thần tượng của
tôi dán vô sổ lưu niệm. Cứ như vậy, từng bước, từng bước…tôi bước vào lãnh vực
sân khấu cải lương!
Năm 1948, theo lời rủ rê của nghệ sĩ Tám Cao, Trường Xuân, Tuấn
Sĩ, tôi theo đoàn hát cải lương Tiếng Chuông, rày đây mai đó. Lúc đó trong gánh
hát, phần lớn ít học, dốt chữ, tôi biết chút đỉnh tiếng Tây nên tôi được ông Bầu
Cang cho làm quản lý, để đi tới các đồn bót Pháp xin giấy phép hát, giao thiệp
với Cò bót khi có liên quan tới trật tự an ninh của đoàn và đi xin kiểm duyệt
tuồng ở Bộ Thông Tin. Việc Quản Lý gánh hát đối với tôi tuy dễ dàng và thuận lợi,
có nhiều lợi nhuận, nhưng tôi theo đoàn hát chính là vì mê tiếng đờn, giọng hát
chớ không phải vì kiếm tiền để sinh sống; vì vậy tôi bắt đầu học hát để mong một
ngày nào đó, tôi sẽ trở thành nghệ sĩ, làm vua làm chúa, làm kép mùi như Tuấn
Sĩ, Thanh Cao hay kép độc như Trường Xuân. Ý muốn nhỏ nhoi đó coi vậy mà khó thực
hiện vì tôi tự khám phá ra rằng tôi không có “duyên sân khấu”, tôi bèn xoay qua
việc học hát, học ca, học tất cả các ngành nghệ thuật nào có liên quan tới sân
khấu cải lương để chuyên hẳn vô nghề sáng tác tuồng cải lương.
60 năm trước, nghệ sĩ học hát như thế nào?
Có đi sâu vô nghề hát sân khấu mới biết là học nghề hát thiệt
là khó, mà học nghề soạn giả lại càng khó hơn. Vì tôi có thời gian làm việc lâu
với anh Thành Tôn, anh Hữu Thoại về ngành Hát Bội và Hát Bội pha cải lương, tôi
lại cũng học hỏi nơi anh Năm Châu, Năm Nghĩa, Năm Nở về nghệ thuật cải lương
nên tôi học được cả hai thứ. Tôi nhận thấy rằng hát và viết tuồng Hát Bội, hát
Hồ Quảng, hát cải lương tuồng cổ hoàn toàn khác với phương thức học và hát tuồng
cải lương Lịch Sử, tuồng Xã Hội.
Bài học vỡ lòng của nghệ sĩ Hát Bội, nghệ sĩ hát Hồ Quảng và
cải lương tuồng cổ:
Tôi theo đoàn Thanh Minh, hát thường trực nơi rạp Thành Xương
nên thường qua lại bên nghệ sĩ Hát Bội pha cải lương của gánh Vĩnh Xuân Ban – Bầu
Thắng nơi đình Cầu Quan. Tôi có theo dõi, học thầm những khi anh Minh Tơ dạy
cho các em nghệ sĩ trong đoàn, nhứt là khi anh đào tạo nhóm nghệ sĩ đồng ấu
Minh Tơ. Tuy tôi không phải là học viên chính thức nhưng bài học nào của anh
Minh Tơ dạy, tôi cũng có ghi ký chú, có khi chép cả những bài ca, cách múa vào
sổ tay. Việc học tập nầy đã giúp tôi rất nhiều trong những buổi đầu khi tôi
sáng tác tuồng Tàu, tuồng dã sử.
Nghệ sĩ mới học Hát Bội, học Hát Bội pha Quảng phải học mười
bài học vỡ lòng:
Bài 1\- Học nói lối, học bẩm, báo:
Thần đẳng lưỡng ban văn võ, (Chúng tôi hai hàng văn võ chầu
vua)
Tiến lai hiến thọ ba đăng.(Đến chúc thị bằng bài múa Hoa
đăng)
Bài 2\- Xem Tam Lang:
Tập cách đi, cách uốn mình cho dẻo như để 3 cái chậu theo
hình chữ V, học viên đến chậu phải nghiêng mình lướt qua. Đây là bài tập căn bản
về nghệ thuật đi. Lúc mặc giáp trụ hay mãng bào thì nhứt định phải đi kiểu nầy
mới đúng điệu.
Bài 3\- Múa Yên Lung Bích Thọ.
Điệu múa đơn giản để tập động tác ray chân phối hợp.
Bài 4\- Múa Tam Quốc, bài Thời Hồ Huỳnh Cân.
Tập động tác tay chân phức tạp hơn, kết hợp với diễn tả tâm
trạng nhơn vật.
Tôi đơn cử một vài ví dụ về cách học hát của nghệ sĩ Hát Bội,
Hát Bội pha Quảng để thấy rằng những động tác tay chân, nét mặt, ánh mắt, cách
đi đứng đều có quy định đúng trình thức. Người không học nghề căn bản không thể
hát chung với những nghệ sĩ khác. Ngay như việc đóng vai quân sĩ trên sân khấu
hát tuồng cổ cũng là khó khăn, phải học cho đúng cách. Làm quân, phải học cách
cầm cờ chạy hiệu, học bẩm báo, học cách mở then cửa vào nhà, học cách bắt ngựa,
dâng ngựa, học cách dâng rượu, học múa đạo cụ, múa kiếm, múa đao, múa kích…
v.v… Tất cả các động tác phải rập ràng theo điệu nhạc, theo trống phách.
Ngoài các động tác hình thể phải đúng theo khuôn mẫu, lối hát
Nam, hát Khách, lối xướng, điệu tán đều mẫu mực. Lối xướng cũng nhiều cách khác
nhau như xướng Lăng, xướng Rượu, xướng Thiền, xướng thường, xướng xuống
Nam…Riêng hát Nam, có nam ai, nam biệt, nam chạy, nam hận, nam khòng còn gọi là
nam dựng, nam lụy, nam rịn, nam ru, nam thiền, nam thương, nam xuân…Cũng với lời
văn lục bát hoặc song thất lục bát, cách hát, cách xướng “chinh” đi nửa giọng,
“nâng” lên một chút, “ngân” vang kéo dài…là khác biệt rồi… Khó cho người nghệ
sĩ hát mà cũng khó cho khán thính giả, muốn thưởng thức đúng điệu thì khán
thính giả cũng phải sành điệu Hát Bội thì mới thấy được hết cái hay của nghệ
sĩ.
Nghệ sĩ Hát Bội vì học bài bản như nhau nên người nào tốt giọng,
tiếng vang xa với điệu múa đẹp, ánh mắt sắc bén, nụ cười tươi, có duyên sân khấu
là chiếm được nhiều cảm tình của khán giả. Soạn giả Hát Bội cũng bị hạn chế khả
năng sáng tạo vì phải tuân thủ theo các trình thức hát mẫu mực. Vì vậy, tôi tự
thấy mình không đủ sức theo nghề Hát Bội nên tôi học theo hướng cải lương.
Nghệ sĩ cải lương có nhiều cơ hội phát triển bản sắc riêng:
Khác với Hát Bội là loại hình nghệ thuật cổ điển, nghệ thuật
hát cải lương sinh sau đẻ muộn, trong quá trình lớn dần lên, hát cải lương tự
mày mò một lối hát phù hợp với cách sáng tác mới và phục vụ lớp khán giả mới.
Tác phẩm cải lương chịu ảnh hưởng theo lối viết kịch của Anh,
Pháp nên mỗi nhân vật trong tuồng cải lương là có số phận và cá tính riêng. Điều
nầy bắt buộc các diễn viên, ngoài khả năng trời cho về Thinh và Sắc, người diễn
viên phải nghiên cứu cách thể hiện cá tính của nhân vật một cách đậm nét nhứt,
điển hình nhứt, phù hợp với nhơn vật mà tác giả muốn khắc họa trong kịch bản của
mình. Chính vì cá tánh khác biệt nhau nên nhân vật không có một mẫu hình chung
cho các vai mà phải tìm tòi cho ra cái khác biệt, cái nét riêng, đặc sắc nhứt của
nhân vật. Ví dụ Hát Bội có hôn quân thì vua hôn quân tuồng nào cũng giống nhau ở
chỗ cùng mê tửu sắc, ngu muội, bị gian thần và ái phi xỏ mũi, bất công với
trung thần và cuối cùng là bị soán ngôi.
Trong tuồng cải lương thì người điên, người say, người ghen,
người hiền, kẻ ác, nhân vật đó ở tuồng nầy khác với tuồng kia. Tôi còn nhớ anh
Ba Vân, được báo chí tặng cho mỹ hiệu là quái kiệt, khi anh đóng vai Phê trong
tuồng “Khi Người Điên Biết Yêu”, anh Ba Vân đã bỏ nhiều ngày vô nhà thương
điên Biên Hòa và nhà thương điên Chợ Quán để quan sát nét mặt, cách nhìn, cách
nói chuyện hay la hét của người điên. Trở về đoàn hát, anh một mình tập luyện
và khi tập tuồng, anh diễn thử nhơn vật Phê điên theo kiểu anh đã nghiên cứu.
Anh Năm Châu, sau khi xem anh Ba Vân diễn thử, góp ý:
– Vai Phê là một nhân vật điên vì tình, yêu Bê, người em gái
(con nuôi của cha, nghĩa là giữa Phê và Bê không có quan hệ huyết thống nào cả),
nhưng Bê không biết rõ cô là em nuôi, tưởng Phê “điên” mới có thứ tình yêu loạn
luân đó. Nên khi Phê (Ba Vân) tỏ tình với Bê, càng tỏ vẻ tha thiết, Bê càng thấy
kỳ quái. Bê phản ứng ghê tởm sự loạn luân của anh, Bê né tránh xa ra thì Phê
càng xáp vô, vẻ mặt nửa như ngượng ngùng, nửa như chai đá, Phê nói:
“Bê ơi! Em thật là sáng đẹp, thật là tươi đẹp, là chúa của tất
cả hoa đẹp trong vườn…Hà..hà…Em nói là anh điên à? Phải, anh điên vì em.., anh
điên thật Bê à”.
Phê nói năng càng nhừa nhựa, càng làm cho khán giả cảm thấy
cái điên của kẻ si tình. Khi đối diện với nhân vật Thi, tình địch thì Phê lồng
lộn như con thú dữ bị thương, càng tô đậm cái nét điên của nhân vật nầy. Và khi
dằng co với ông Bạch (cha ruột của Phê), lỡ tay làm ông té sấp nhằm ngay lưỡi
dao, ông Bạch chết ngay sau đó, Phê thét lên một tiếng thét ghê rợn…Thi và Bê
chạy ra thì Phê chỉ vào Thi, đổ trút tội giết ông Bạch vào đầu Thi. Tâm trạng của
Phê lúc đó là hoảng loạn, hoảng loạn một cách ghê rợn, gợi lên hình ảnh của một
người điên thật sự.
Ý kiến của anh Năm Châu thật rõ ràng: Phê điên cuồng dữ
dội khi đối diện với Thi, người tình địch. Phê yêu tha thiết, tỏ tình một cách
si mê mà cô em gái Bê cứ tưởng là anh điên. Lúc nầy Phê không dữ dội, không la
hét, nhưng anh càng tỏ ra si mê tới điên dại, cộng với diễn xuất ghê tởm của cô
em gái, khán giả cảm thấy Phê là hình tượng của một kẻ điên vì tình. Và một tâm
trạng nữa, tâm trạng hoảng loạn của kẻ vô tình giết cha và cho là vì Thi mới xảy
ra nông nỗi, cái hoảng loạn gần như điên cuồng tô đậm thêm hình tượng Phê điên
vì tình.
Anh Ba Vân đã thành công khi bản thân anh đã tập luyện theo sự
góp ý của anh Năm Châu, anh đã tạo ra một vai điên không giống những vai điên
đã có trước kia trên sân khấu Hát Bội và cải lương.
Qua cách dàn dựng của anh Năm Châu và qua cách tập luyện,
nghiên cứu vai tuồng của anh Ba Vân, tôi thấy trong nghệ thuật cải lương, khi
sáng tác hay thủ diễn một nhân vật nào thì người nghệ sĩ cũng phải nghiên cứu về
hình tượng của nhân vật, cá tính và những hoàn cảnh nào khiến cho phát triển
thêm tâm lý của nhân vật. Từ trong sự nghiên cứu tâm lý nhân vật đó mà nẩy sanh
ra cách diễn về hình thể, về động tác, nét mặt, cách phát âm, cách ca hát.
Một trường hợp khác được giới nghệ sĩ kể cho nhau nghe là
cách học tuồng, học hát của nghệ sĩ tiền phong Tám Danh. Anh có một vai để đời,
đó là vai Hà Công Yên trong tuồng Tứ Đổ Tường, vai của một công tử con nhà
giàu, ham chơi, trác táng đến ghiền thuốc phiện. Về sau sạt nghiệp vì hút á phiện,
anh phải làm phu xe kéo để kiếm tiền mua cơm trắng, cơm đen. Anh kéo xe và sự
tình cờ đưa tới là anh phải kéo xe chở vợ anh. Anh xấu hổ, dấu mặt, nhưng người
vợ vô tình chưa nhận ra người chồng nghiện ngập của mình.
Trong khi tập tuồng cho đến khi khai trương vở hát, anh Tám
Danh lân la các nơi bán thuốc phiện (Régie d’ Opium) để quan sát các ông bạn
ghiền. Anh lại mướn xe kéo, tự mình ăn mặc như người phu xe, ngày ngày chạy kéo
xe thật sự cho hành khách, để biết cái cảm giác mệt nhọc và bị người ta sai khiến,
bị khinh khi, cái cảm giác của một kẻ nghèo, nghiện ngập để tìm cách diễn đạt
trên sân khấu. Lúc đầu vợ anh cho là anh tập tuồng, thử một vài ngày là đủ.
Nhưng tuồng tập cả tháng chưa khai trương, anh Tám Danh có vẻ như người nghiện
thuốc phiện thiệt, lại đi kéo xe kiếm tiền, được hào nào, cắt nào, anh cũng tỏ
ra rất quí mến, cắc ca cắc củm lận lưng quần. Vợ anh nghi là anh hút thiệt,
theo quan sát, rình anh và trước hình tượng một ông chồng quá bê tha, hèn mọn,
chị cương quyết thôi chồng. Chị vô gánh hát, khóc rùm lên và quyết bỏ chồng.
Báo hại anh Năm Châu, cô Phùng Há phải hết sức thuyết phục, giải thích.
Anh Tám Danh về rạp, nghe chuyện đó, anh cũng chẳng nói gì, cứ
che miệng ngáp dài như là tới cử ghiền mà chưa được hút. Chị Tám Danh càng khóc
dữ, đòi tự vận, tới chừng đó anh Tám Danh mới cười xòa. Anh nói: “Má bầy trẻ
tin là tui ghiền thì tui thành công rồi đó ”
Khi khai trương vở tuồng Tứ Đổ Tường, Tám Danh trong vai
Hà Công Yên thành công quá sức, đến nỗi mấy chục năm sau, chưa có một diễn viên
nào khác có thể diễn vai Hà Công Yên hay bằng nghệ sĩ Tám Danh.
Một gương học nghề nữa trong giới nghệ sĩ trong những thập
niên 50, 60.
Nghệ sĩ Văn Ngà, nổi danh kép độc của đoàn Thanh Minh Thanh
Nga, anh tên thật là Hoàng Đình Ngà, sanh năm 1928 tại Sàigòn. Cha anh là Hoàng
Đình Xuân, công nhân khuân vác kho 5 quận tư, mẹ là Bùi thị Hai, mua bán hàng
rong. Cha anh là người gốc ở Bắc Ninh nên giọng nói của Văn Ngà nghe như người
Bắc ở thôn quê. Ca bài Bắc, bản nhỏ còn nghe được. Vọng cổ, các bài Nam, bản
Oán là tối ky đối với anh. Mỗi lần bắt anh ca những bản ca mùi mẫn kiểu Sàigòn,
các bạn đang diễn chung với anh phải ngả ra mà cười. Vì vậy anh yêu cầu nếu soạn
giả nào bỏ tuồng cho anh, thương anh thì tránh cho anh những bài ca đó. Anh
cũng yêu cầu đừng có lời đối thoại dài trong các vai tuồng phát cho anh. Tôi đi
đoàn Thanh Minh từ năm 1955, tới cuối năm 1956 thì Văn Ngà về cộng tác với
Thanh Minh, Văn Ngà thủ một vai tướng Tàu trong tuồng Biên Thùy Nổi Sóng của
tôi khi mới đến Thanh Minh. Do Văn Ngà giỏi võ nên các màn đánh võ trong tuồng
của tôi, tôi nhờ Văn Ngà dạy cho các em đóng vai vệ sĩ để diễn các lớp đó. Vì vậy
tôi thường đi chơi, nói chuyện tâm sự với Văn Ngà và tôi khám phá ra nhược điểm
trong cách phát âm của Văn Ngà.
Văn Ngà hỏi tôi: “Anh Ba có cách nào giúp tôi sửa cách nói
còn hơi giọng Bắc Ninh không? Nếu viết vai nào cho tôi diễn thì anh tránh dùm
tôi vọng cổ, các bài Nam, bài Oán”.
Tôi sẵn sàng làm theo yêu cầu của anh vì nếu không thì anh
hát cứng giọng, ngọng nghịu, nhưng tôi khuyên anh tập nói giọng Nam bằng cách học
nói vè, nói thơ Vân Tiên, hò Đồng Tháp. Tôi ghi ra cho anh bài vè “Gái Lỡ
thời” để cho anh đọc và dặn anh đọc thường thường cho quen miệng. Bài vè
đó như sau:
Gốc tre khô người ta còn chuộng,
bậu lỡ thời như ruộng bỏ hoang,
Ruộng bỏ hoang người ta còn cấy,
bậu lỡ thời như giấy trôi sông,
Giấy trôi sông, người ta còn vớt,
bậu lỡ thời như ớt chín cây.
Ót chín cây người ta còn hái,
bậu lỡ thời như nhái lột da.
Nhái lột da người ta còn bắt,
bậu lỡ thời như giặc Hà Tiên,
Giặc Hà Tiên người ta còn đánh,
bậu lỡ thời như cánh chim bay,
Cánh chim bay người ta còn bắn,
bậu lỡ thời như rắn cụt đuôi,
Rắn cụt đuôi người ta còn sợ,
bậu lỡ thời như nợ kéo lôi,
Nợ kéo lôi người ta còn trả,
bậu lỡ thời như trã nấu ăn,
Trã nấu ăn người ta còn rửa,
bậu lỡ thời như lửa cháy lan,
Lửa cháy lan người ta còn tưới,
bậu lỡ thời như lưới giăng ngang,
Lưới giăng ngang người ta còn cuốn,
bậu lỡ thời ai muốn làm chi.
Anh Văn Ngà học thuộc lòng, đọc đi đọc lại nhiều lần trong
ngày, khi cao hứng lại ngâm nga lớn tiếng.
Trong đoàn Thanh Minh có chị Bẻn, người Tiều lai gác cửa và
phụ việc trong nhà bà bầu Nghĩa, cứ mỗi lần gặp Văn Ngà, chị nghe Văn Ngà nói Bậu
lỡ thời như “Ấy” trôi sông. Chị Bẻn gần ba mươi tuổi, chưa chồng, đinh ninh là
Văn Ngà nói móc nói nghéo cô ta lỡ thời nên giận, cự nự: “Ừ! tôi lỡ thời
như “ấy” trôi sông, “Ấy” trôi sông “chó” còn muốn táp…”
Văn Ngà đáp lại: “Bẻn lỡ thời như cái khạp mấm nêm!”
Chúng tôi vỗ tay cười, chị Bẻn mắc cỡ, rượt anh đánh, loay
hoay sao mà làm rách cái áo mới của Văn Ngà. Anh mắc đền. Chị hẹn tới nhà vá áo
cho Văn Ngà..
Vậy là nhờ bài vè “lỡ thời”, Văn Ngà hết nói ngọng mà cũng hết
sống “cu ki”, chị Bẻn cũng chấm dứt cái cảnh gái lỡ thời mà chánh thức trở
thành bà Văn Ngà.
.
Hai vợ chồng Văn Ngà chung sống hơn ba mươi năm. Chị mất vào
năm 1987.
Văn Ngà trước khi vô đoàn Thanh Minh là một kép ba, chuyên
đánh võ. Anh siêng tập nói lối, tập ca, luyện giọng nên sửa được giọng nói cứng
của người Bắc Ninh, từ một cậu “chài” học đánh võ trong đoàn Đồng Ấu Tân Việt
Ban của ông bầu Trần Quang Cận, Văn Ngà là kép đánh Boa Nha (poignard)) nhảy cửa
sổ trong đoàn Mộng Vân ( 1946). Năm 1957 ở đoàn Thanh Minh, Văn Ngà bắt đầu có
nhiều tuồng có ca diễn nhờ vào cách tập nói, luyện giọng. Anh đã đi hát các
đoàn Út Bạch Lan – Thành Được (1960 – 1962), đoàn Dạ Lý Hương (1965), đoàn Bạch
Tuyết – Hùng Cường (1973), sau 75, đi các đoàn Thanh Nga, Huỳnh Long, Sàigòn 1
và nổi tiếng qua vai Tô Định trong tuồng Tiếng Trống Mê Linh.
Các nghệ sĩ các thập niên 1960 trở về sau nầy, vô nghề hát bằng
cách học ca ba Nam, sáu Bắc rồi chuyên luyện giọng ca vọng cổ, nhứt là cách vô
câu đầu vô vọng cổ. Lần khác, tôi sẽ kể kinh nghiệm và các giai thoại vui về học
ca giọng cổ của các nghệ sĩ Hữu Phước, Minh Cảnh, Châu Thanh, Phượng Hằng,
Giang Châu…
Cổ Nguyệt Đường, mùa Hè năm 2005
Nguyễn Phương
Theo http://vietnamthuquan.eu/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét