Thứ Sáu, 24 tháng 12, 2021

Bạc áo hào hoa 2

Bạc áo hào hoa 2

5. Sài Gòn, ngày 25-5…
Em Diễm,
Sau cái đêm hôm ấy, thầy thấy mình như vừa trải qua một cơn mơ, một giấc mơ vô cùng êm ái, nhưng khi tỉnh dậy mới hay đó là một giấc mộng hãi hùng.
Diễm ơi, Diễm là nàng tiên hay gái Liêu Trai, Diễm là hiện thân của tình yêu hay là của tội lỗi? Dầu là ai, dầu là gì, Diễm cũng đã sa vào vực thẳm và lôi cuốn bao nhiêu người khác cùng chới với rơi theo.
Cho đến giờ phút này, thầy cũng chưa hiểu tại sao Diễm lại tìm đến với thầy giữa khung cảnh vô cùng quyến rũ. Diễm tìm đến với tấm chân tình hay muốn đền bù tội lỗi? Diễm tìm đến để thử thách một tấm lòng hay muốn gỡ chiếc mặt nạ đạo đức của con người mà Diễm đã oán ghét và gây ra bao cơn giông bão phũ phàng?
Với mục đích gì thì Diễm cũng đã toại nguyện. Còn thầy, thầy sẽ hối hận mãi với lương tâm, thầy sẽ không bao giờ gặp lại Diễm nữa, không muốn thấy Diễm xem tình yêu như trò giải trí, theo quan niệm của nhân vật trong tiểu thuyết Sagan.
Có lúc thầy muốn tìm hiểu Diễm, tìm hiểu nhân sinh quan lẫn luyến ái quan của thế hệ trẻ hôm nay. Thầy thấy một số đông con nhà khá giả đang tiến sâu vào con đường lầy lụa, nguy hiểm, lắm kẻ đang đứng bên vờ vực thẳm, lắm kẻ đã rơi xuống vực sâu để mai một cuộc đời đầy hứa hẹn. Làm thế nào để cứu vớt họ, đưa họ trở về con đường sáng, giao cho họ một lý tưởng để phụng sự, giao cho họ một niềm tin mãnh liệt ở tương lai?
Nhưng giờ đây thì thầy cảm thấy mình bất lực. giờ đây thầy mới nhận thấy; sống trong một xã hội quay cuồng, ta khó mà thoát khỏi vòng cuồng quay một khi ta chưa phải là thánh nhân hay như bậc chân tu đắc đạo dưới cội bồ đề ngày xưa. Cũng may là lý trí đã đến kịp thời, lương tâm đã ngăn kịp bước chân sắp rơi vào vực thẳm.
Diễm ơi, bao nhiêu đó cũng đủ rồi. Thầy mong Diễm sớm giác ngộ, từ bỏ những cuộc thử thách nguy hiểm, trở về với bản ngã thuần lương. Diễm còn trẻ đẹp, Diễm còn cả một tương lai trước mắt, tại sao lại xem cuộc đời là “phi lý”, là “bi đát” để rồi cũng bắt chước buồn nôn như những kẻ trốn chạy trách nhiệm trong khi bao nhiêu người đang gian lao tranh đấu và bao nhiêu người đã hy sinh xương máu cho đất nước được vinh quang.
Từ đây, mặc dù cách xa, thầy vẫn đặt niềm tin ở Diễm. Mong Diễm sẽ là con chim xanh tung cánh giữa bầu trời quang đãng, cất tiếng hót líu lo ca ngợi mùa xuân của đời mình, mùa xuân của dân tộc…
HOÀNG
°   °
°
Trảng Bàng, ngày 1- 6…
Cháu Hạnh, Loan mến,
Bức thư này đến với hai cháu để thay lời từ giã. Chú đã biệt đô thành để về quê, dạy ở một trường trung học. Có lẽ hai cháu ngạc nhiên lắm phải không?
Chắc cháu Hạnh cho rằng: “Chú trốn chạy…” Chắc cháu Loan nghĩ rằng: “Chú chán Sài Gòn.” Sự thật, chú không trốn chạy mà cũng không chán. Một ngày nào đó chú sẽ trở về… Chú chỉ muốn về với quê hương, sống trong không khí ấm cúng của quê hương, hòa mình trong nếp sống của người dân hiền lành mộc mạc. Quê hương của chú hiện đang bị không khí chiến tranh bao trùm. Không ngày nào là không có những chuyện thê lương, tang tóc xảy ra. Không đêm nào là không có những tiếng moọc chê, đại bác nổ vang trời làm rung chuyển cả lòng đất. Trong hoàn cảnh đó, người dân làm thế nào mà sống? Họ phải chịu đựng gian khổ đến mức nào? Đó là những điều mà chú muốn hiểu, dầu có phải chịu đựng gian khổ như họ. Rồi chú sẽ viết thư về cho hai cháu, kể những chuyện buồn, vui cho hai cháu nghe. Hai cháu bằng lòng chứ?
Bây giờ chú nhắc lại kỷ niệm ở thủ đô: “ Chú nhớ có lần dẫn Hạnh, Loan đi xem phòng triển lãm do một họa sĩ mới nổi tiếng trình bày. Hạnh chú ý đến một bức tranh lụa vẽ một thiếu nữ nằm trên cỏ, giữa một vườn hoa vắng vẻ. Gương mặt thiếu nữ đẹp như mơ, nhất là đôi mắt thu hút tràn đầy khát vọng. Màu sắc bức tranh thật dịu dàng, hòa hợp, thanh nhã.
Hạnh ngắm nghía bức tranh, hỏi chú:
- Bức tranh có ý nghĩa gì, hở chú?
Chú chưa biết trả lời thế nào, cũng may lúc ấy tác giả bức tranh đứng gần đó đáp thay lời chú:
Người đẹp nằm giữa vườn hoa vắng nói lên cái ý thức cô đơn của con người trước ngoại cảnh. Con người ở đời luôn luôn cảm thấy mình cô đơn, không ai hiểu nổi mình, không ai có thể hòa hợp được với mình ý thức ấy càng nổi bật hơn cả đối với người đẹp. Kìa khóe mắt, kìa làn môi, mỗi mỗi đều tỏa ra một niềm khát vọng chỉ vì quá cô đơn, chỉ vì không giải tỏa hết nỗi ẩn ức trong tâm hồn mình.
Hạnh trầm ngâm một lúc:
- Lời ông giải thích rất đúng. Tâm trạng cô đơn là tâm trạng phổ biến của thế hệ trẻ hiện nay. Biết bao nhiêu người sống giữa những tình cảm trìu mến, sống lặn ngụp trong yêu đương mà lại cảm thấy mình cô đơn hơn ai hết. Rồi họ có thể chết vì cô đơn, chết âm thầm như cây cỏ hay chết giữa sự luyến tiếc của bao nhiêu người như trường hợp Marilyn Monroe chẳng hạn.
Nhà họa sĩ đắc ý, cười vểnh râu:
- Cô đã hiểu bức tranh ấy hơn cả tác giả của nó. Thật hân hạnh!
Lúc ấy chú chỉ mỉm cười, không phát biểu ý kiến. Vài hôm sau, Hạnh lại đến tìm chú, cật vấn chú về bức tranh:
- Tại sao hôm đó chú không cho biết ý kiến? Chú cho nhận xét của cháu có đúng không?
Chú đáp ngay:
- Cháu thuộc lớp trẻ thì nhận xét của cháu về tâm trạng tuổi trẻ hẳn là phải đúng rồi. Nhưng riêng cháu, cháu có cảm thấy cô đơn không?
Hạnh chớp chớp mắt rồi thành thật thổ lộ:
- Ngay trong buổi dạ hội, giữa những tiếng cười vui rộn rã, vũ điệu tưng bừng, cháu cảm thấy mình như kẻ lạc loài, tâm hồn cô đơn, trống rỗng. Và ngay ở học đường, sống giữa bạn bè, cháu thấy mỗi người là một vũ trụ riêng biệt chỉ nối liền nhau bởi những hình thức giao tiếp giả tạo, chán chường.
Chú bật cười:
- Cháu học ai cái thứ triết lý rẻ tiền ấy?
Hạnh xụ mặt, có vẻ giận dỗi. Chú chỉ lặng nhìn Hạnh. Không thể chịu được. Hạnh lại nói:
- Có người bạn khuyên cháu một biện pháp chống lại sự cô đơn.
- Họ khuyên thế nào?
- Họ khuyên cháu thực hiện đúng mấy câu thơ sau đây của Alfred de Musset:
“ Aime et tu renaitras; fais toi fleur pour éclore.
Après avoir souffert, it faut souffrir encore;
Il faut aimer sans cesse après avoir aimé.”
Phải tận hưởng yêu đương, phải gặm nhấm đau khổ, đó là hai thứ hưởng lạc của những tâm hồn phong phú, tế nhị.
Chú không thể bình thản được nữa:
- Họ xúi bậy cháu đấy! Tại sao yêu đương và đau khổ có thể chống lại với cô đơn?
Nếu quả người vốn cô đơn, cuộc đời vốn phi lý, trò đời vốn bi đát, thì yêu đương và đau khổ cũng chỉ là những phương tiện đưa đến cái cứu cánh cô đơn, phi lý, bi đát mà thôi. Ta vẫn ở trong vòng lẩn quẩn, không lối thoát.
Hạnh có vẻ bất mãn, lắc đầu rồi:
- Tư tưởng của chú đã bị vượt rồi. Chú đã bị thế hệ trẻ tiến bộ vượt xa rồi.
Hạnh à, kỷ niệm mà chú vừa nhắc lại đó, chú đã mang nặng trong tâm tư và thường đem ra suy ngẫm. Chú thường tự hỏi: “Có phải mình đã lạc hậu rồi không? Và nếu tiến bộ như thế hệ trẻ ngày nay, chúng sẽ tiến đến đâu? Tiến đến vực thẳm hay tiến đến vong bản?” Chú cứ thắc mắc mãi, cho đến ngày nay mới tìm được giải pháp giản dị.
Thật là giản dị. Ra khỏi thủ đô Sài Gòn, hòa đồng với thanh niên ở một quận hẻo lánh xa xôi, chú mới biết rằng chỉ có một số thanh niên kiều dưỡng ở thủ đô mới có những tư tưởng bi quan quái gở. Họ thuộc “Đợt sống mới thực tập” bị lôi cuốn vào nếp sống thác loạn của thời đại do sự dao động mãnh liệt của những luồng sóng tư tưởng Tây phương thời hậu chiến. Họ thấy nếp sống ấy là lạ, hay hay, chớ chưa bao giờ họ tìm ra nguyên nhân sâu xa đã tạo ra hiện tượng đó. Họ chỉ hiểu nhân sinh quan triết học một cách mù mờ rồi vội tập tễnh thực hành một cách say sưa, lệch lạc.
Có điều chú nhận thấy lời của Hạnh ngày nào là đúng, nếu ta hiểu rộng rãi lời khuyên của Musset (mà có lẽ Musset không nghĩ như vậy). Phải, yêu đương và đau khổ là phương châm lý tưởng của chúng ta ngày nay, nếu ta hiểu: YÊU ĐƯƠNG là thương yêu đồng bào và ĐAU KHỔ là đau niềm đau của dân tộc.
Được như vậy, ta sẽ không còn sợ cô đơn, vì tâm hồn ta đã hòa đồng với tâm hồn dân tộc. Phải thế không, Hạnh?
Chúc Hạnh, Loan vui vẻ, yêu đời và hạnh phúc.
Người chú phương xa
HOÀNG
Trảng Bàng ngày, 5-6… Cháu Phượng mến,
Cậu về đất Trảng để nhìn lại quê hương u buồn sau hơn hai mươi năm khói lửa. Cậu về đây để rèn luyện những mầm non ở nơi chôn nhau cắt rốn. Phượng có biết không khí Trảng Bàng và không khí thủ đô khác nhau thế nào không?
Học sinh ngoan ngoãn biết kính thầy, mến bạn. Tuổi trẻ vẫn giữ những bản sắc của tuổi trẻ không bị vẫn đục bởi những tư tưởng ngoại lai, không bị hoen ố bởi những cạm bẫy phù hoa, đồi trụy. Có khác chăng là khoé mắt chúng như đượm vẻ u hoài của quê hương tang tóc, làm cho tâm hồn chúng như tiềm ẩn một ý thức phấn đấu mãnh liệt và niềm khát vọng đất nước được thanh bình. Điều đó không có gì lạ. Chúng đã chứng kiến hàng ngày những thảm trạng chiến tranh, sinh mạng con người bị thường xuyên đe dọa, giá trị con người nhiều khi bị hạ xuống hàng súc vật. Chúng còn thì giờ đâu mà băn khoăn, thắc mắc những tư tưởng viễn vông, xa vời thực tế.
Hình ảnh của chúng làm cho cậu liên tưởng đến Lệ Chi và Phượng. Sống trong không khí vẩn đục, Chi và Phượng vẫn giữ được sự trong trắng đáng quý của tuổi xanh, không bị lôi cuốn bởi những trận cuồng phong ghê gớm. Có thể hai cháu bị xếp vào loại
“cổ lỗ sĩ” cũng như cậu xếp vào hạng “ chậm tiến ”, nhưng ta để ý làm gì đến sự phê phán vô ý thức ấy. Nếu ta không cứu vớt được những kẻ sa chân vào vực thẳm thì chúng ta cũng đừng để mình lỡ bước rơi theo…
Phượng, có những lúc nhìn ra chân trời xa thẳm chìm đắm trong màn sương, cậu hình dung hình ảnh của Phượng đang tựa cửa sổ nhìn xuống đường… mỗi khi cậu xa vắng.
Hình ảnh ấy đẹp quá! Nó in sâu vào tâm hồn cậu và đem lại nguồn an ủi cho cậu ở bất cứ nơi nào và lúc nào. Trải qua bao cơn thử thách, gạn lọc lại tình cảm, cậu chỉ còn ghi nhận lại một tấm chân tình duy nhất ấy mà thôi.
Phượng ơi! Phượng hãy ráng học và ráng đợi. Nếu giông bão cuộc đời không giết chết tấm chân tình kia, nếu gió bụi phù hoa không biến đổi được một tấm lòng chung thủy, một ngày nào đó cậu sẽ về. Cậu về để Phượng khỏi mòn mỏi chờ đợi và sẽ kể cho Phượng nghe bao chuyện vui, buồn của kiếp sống phong sương. Đừng buồn nhé, Phượng! Hãy nhìn đời với cặp kính màu hồng và hãy:
Gìn vàng giữ ngọc cho hay,
Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời…”
Thân ái,
HOÀNG
PHẦN THỨ NHÌ
6. Vầng trăng người bốn đã lên khỏi đầu ngọn xoài. Lan ngồi trên thềm nhà, nhìn hai em Phong và Lệ đang nô đùa trong sân, dưới ánh trăng.
Cảnh đêm ở thôn quê tĩnh mịch. Gió phảng phất mùi hương dạ lý làm cho lòng Lan cảm thấy thơ thới, nhẹ nhàng. Phong và Lệ đang vui vẻ múa hát một vũ khúc đồng quê:
“ Má em hừng đông đi cày bừa,
Tía em hừng đông đi cày bừa,
Má em là một người nông dân,
Tía em là một người nông dân…”
Tiếng hát trong trẻo ngân vang như mang vui tươi về cho vạn vật. Vũ khúc chấm dứt, Lan vỗ tay khen:
- Hai em hát hay lắm! Cuối năm nay sẽ được lên sân khấu nhà trường đấy.
Lệ chu miệng, nũng nịu:
- Chị Lan chế em hoài. Phong cũng nói:
- Chị Lan hát với tụi em đi. Hát bài gì hôm trước chị hát cho anh Quân nghe đó.
Nghe nhắc đến Quân, đôi má Lan bỗng đỏ lên như hai quả đào tươi. Quân là bạn trai mà nàng quen thân từ khi còn đi học ở trường bán công quận Trảng Bàng.
Chàng ở tại chợ, còn nàng ở trong xóm hẻo lánh nghèo nàn này. Thỉnh thoảng
Quân đến đây thăm nàng. Nàng bẻ xoài cho Quân ăn. Quân đem sách đến tặng nàng. Nàng hát cho Quân nghe. Quân ngâm thơ cho nàng thưởng thức. Mối tình bạn êm đềm thắm thiết ấy tưởng dài mãi với thời gian. Nhưng rồi, sinh kế, Quân phải lên Sài Gòn, đeo đuổi theo cái nghiệp dĩ làm báo, viết văn, hợp lý tưởng của chàng.
Còn nàng, nàng phải ở lại đây làm một cô giáo quèn, không thích hợp chút nào với hoài bão của nàng ngày xưa…
Lệ thấy chị lặng im, liến thoắng nói:
- Chị Lan lại nhớ ông tướng Quân rồi. Chị hỏng thèm hát với tụi mình đâu.
Phong cũng cười đùa:
- Hát với chúng em đi, chị Lan. Rồi vài ngày em sẽ bẻ xoài cho chị gởi tặng anh
Quân.
Lan mỉm cười:
- Ờ, thì chị hát với em cho vui. Phong và Lệ vỗ tay, reo lên:
- Hoan hô chị Lan!
Lan nhìn ánh trăng nghiêng qua cành lá và nàng lại nhớ đến ngày cùng Quân giã biệt. Ngày ấy, nàng đã hát cho Quân nghe bài “Khúc nhạc ly hương”, bây giờ nàng muốn hát lại bản đó.
Và nàng cất tiếng hát não nùng như gởi cả mộng hồn trong âm thanh, như muốn gởi lòng thương đến người xa…
“ Rồi một ngày kia anh sẽ hồi hương.
Trở về quê cũ thêm bao tình thương.
Bao con đò xưa đến đón cố nhân…”
Tiếng hát của nàng chấm dứt mà âm hưởng như còn phảng phất đâu đây, vương vấn mênh mang trên tàn cây nội cỏ.
Tuy mới mười lăm tuổi, Lệ đã có giọng láu lỉnh như người lớn:
- Chị Lan ơi, chị chuẩn bị con đò xưa để mừng đón cố nhân đi là vừa. Lan thở dài, cất tiếng thật nhỏ như muốn nói với chính mình:
- Nhưng cố nhân biết có về không? Và đến ngày nào chàng mới về?
Bỗng một tiếng nổ vang lên từ xa vọng lại. Quen thuộc như những cái máy, Lan và hai em nằm rạp xuống đất, Lan lắng tai nghe. Tiếng nổ thứ hai vang dậy làm rung chuyển lòng đất. Có tiếng từ trong nhà vang ra:
- Lan, Phong, Lệ đâu? Chạy vào hầm núp đi con. Lan đáp cho mẹ yên lòng:
- Không sao đâu mà. Tiếng đạn đi về hướng tây, miệt Lộc Giang, không nhằm về xóm mình đâu. Nhưng chúng con sẽ vô ngay.
Ở nhà quê, đêm đêm thường nghe tiếng pháo nổ, Lan đã phân biệt được hướng đi của đạn. Trong lúc đó, Phong vừa ngẩng nhìn lên trời tìm hướng đạn đi, vừa đếm tiếng nổ:
- … ba, bốn, năm…
Lệ hỏi chị:
- Đại bác hay moọc chê, chị Lan?
- Đại bác cỡ 175 ly mới nổ lớn như vậy.
- Thôi vô nhà nằm xuống hầm đi chị Lan, ghê quá! Phong vẫn đếm:
- … sáu, bảy, tám, chín, mười.
Dứt tiếng đếm, nó đứng dậy vừa phủi bụi vừa nói:
- Hết rồi.
Lệ vẫn nằm im dưới đất ngẩng mặt lên nghi ngờ:
- Sao biết hết? Coi chừng đa. Phong cười:
- Do kinh nghiệm mà. Mỗi lần bắn em đều đếm, họ chỉ bắn mười phát liên tiếp mà thôi.
Lan nắm tay hai em kéo vào nhà, cất tiếng vừa giải thích vừa khuyên em:
- Em đừng quá tin nơi kinh nghiệm mà lầm. Rủi đội pháo binh nào khác bắn, họ không bắn nhất định mười phát đâu.
Vào trong nhà, Lệ nghe tiếng má nàng từ trong hầm trú ẩn vọng ra:
- Vào đây con. Sao mà lâu quá vậy? Ba Lan tiếp:
- Ỷ y, có ngày chết uổng mạng đa con.
Lan kéo tay em vào hầm, dịu dàng thưa:
- Chúng con chạy vào không kịp, phải đợi dứt tiếng nổ mới dám đứng dậy. Ba Lan khuyên:
- Lần sau tối đến thì vào nhà, đừng ở ngoài sân ngoài vườn nguy hiểm lắm.
Lệ, Phong lặng im nhưng cảm thấy buồn buồn. Đêm trăng đẹp như thế này mà phải núp trong hầm oi bức đầy muỗi mòng, không được ca hát nhảy múa, không được vui cái vui hồn nhiên của tuổi thơ.
Một lúc lâu, Lan hỏi:
- Bây giờ làm sao, má? Ngủ luôn dưới hầm sao má? Giọng bà già rè rè như còn ngái ngủ:
- Thì đợi một lát xem sao.
- Coi bộ êm rồi đa má.
Bà già lặng thinh nhưng vẫn ngồi im không nhúc nhích. Bóng tối bao trùm căn hầm. Ánh đèn dầu leo lét giữa nhà không đủ soi bóng năm người đang ngồi cú rũ.
Lệ nắm lấy tay Phong, bấm nhè nhẹ vào lòng tay em (không biết nó muốn nói gì?) Phong tựa vào lưng Lan lắng tai nghe từng tiếng động trong lòng đêm.
Đêm vẫn tĩnh mịch. Cành xoài vẫn xào xạc theo từng làn gió thoảng đưa.
Bỗng từ đâu một hồi mõ nổi lên, rồi từ nhà này đến nhà khác, tiếng mõ, tiếng thùng thiếc nối tiếp nhau nổi lên liên hồi.
Ba Lan nói nhanh:
- Có báo động. Má Lan tiếp:
- Mình cũng phải đập thùng thiếc lên.
Không đợi bảo, thằng Phong chun ra khỏi hầm, chạy lại phía chiếc thùng để sẵn ở góc nhà phòng khi báo động. Nó cầm khúc củi nện lia lịa vào thùng. Những âm thanh chát chúa hòa lẫn vào nhau làm cho bầu không khí thêm rùng rợn, khủng khiếp. Thằng Phong rất thích thú với công việc đó, nó không cần biết báo động vì lẽ gì.
Năm phút qua. Cơn báo động chấm dứt. Vạn vật như bao trùm bí mật, Phong trở về chỗ cũ, đấm nhè nhẹ vào vai Lệ như còn tiếc cái công tác sớm chấm dứt. Mọi người im lặng. Vạn vật như cùng im lặng.
Có tiếng lào xào bên ngoài. Hình như tiếng chân người. Rất nhiều người. Ba Lan lo sợ. Má Lan nín thở. Lan hồi hộp, tim đập rộn rã. Phong và Lệ dựa sát vào nhau. Mọi người nhìn ra cửa.
Có tiếng thét từ bên kia vọng vào:
- Chủ nhà đâu ra mở cửa coi. Một tiếng khác to hơn:
- Mau lên, “đồng chí” cả mà.
Ba má Lan vẫn ngồi im. Lan e ngại, không biết có nên mở cửa không, mà chắc không mở cũng không được. Nàng đưa mắt nhìn ba má. Ba Lan nghĩ ngợi lung tung: “Họ là ai? Tại sao lại đòi mở cửa vào giờ này? Tại sao gọi là đồng chí? Hay là…”
Má Lan không nghĩ ngợi nhiều, bà dứt khoát và quyết định bằng cách bảo Lan:
- Báo động lên đi con.
Nghe mẹ bảo Lan vội vã chạy lại thùng thiếc nhưng thằng Phong đã chạy theo bảo chị:
- Chỉ để cho em.
Nó chụp lẹ khúc củi, nện liên hồi vào chiếc thùng rỗng không. Nhưng âm thanh chỉ đơn độc vang dội lòng đêm, không một âm thanh nào đáp lại. Nhà nhà im lặng.
Ngoài cửa một giọng đùa bỡn đưa vào:
- Thôi mở cửa mau đi “đồng chí”! Một giọng khác có vẻ giận dữ:
- Mở cửa mau, không ta bắn bây giờ.
Lần này, tới phiên ba Lan dứt khoát quyết định bằng cách bảo Lan:
- Ra mở cửa đi con.
Lan vâng lời, tiến lại phía cửa. Trước khi mở, nàng run run lên tiếng:
- Chúng tôi mở cửa đây. Các ông đừng bắn.
Cánh cửa mở toang. Một toán chừng mười người mặc quân phục đứng lố nhố trước cửa. Một người lên tiếng dõng dạc:
- Mời tất cả mọi người trong nhà ra ngoài này. Ra lần lượt từng người. Có trật tư. Đem theo tờ khai gia đình.
Ba Lan ra trước. Kế đó má Lan. Rồi đến Lan. Sau cùng là Phong và Lệ. Lan nhìn ra đường, thấy một đám người ngồi lố nhố. Dưới ánh trăng, Lan nhận ra những người láng giềng ở xung quanh nhà nàng.
Một người hỏi:
- Hết rồi à?
Lan đáp nhỏ:
- Dạ thưa, nhà chỉ có ba người lớn và hai đứa trẻ.
- Vậy ba người lớn kia ra ngồi với các “đồng chí” kia, còn hai đứa nhỏ vào nhà ngủ.
Ba má Lan và Lan lại ngồi chung với đám người hàng xóm ngoài đường. Lệ và
Phong đưa mắt nhìn theo. Mắt chúng rươm rướm lệ.
Nửa giờ sau, khi đã tập trung đầy đủ những người đàn ông đàn bà trong xóm, đoàn quân nhân mới đưa họ lên đường. Đám người bị đưa đi, không biết mình tội gì, nhưng họ biết rằng mình đang đi về quận.
Ánh trăng mười bốn soi đường cho họ đi. Họ bước những bước nặng nề, lòng nặng trĩu lo âu, không còn thiết gì đến vẻ thơ mộng của đêm trăng.
Tới quận, họ bị đưa đến tập trung ở sân quận cạnh Chi cảnh sát và quân khu. Vì lo âu, suốt đêm không ai ngủ được. Họ đều trông mong trời sáng, để biết rõ số phận của mình…
Trời đã sáng. Học sinh đã lần lượt đi qua cạnh sân đến học đường. Lan ngồi trên sân xi măng, tay chống cằm tư lự. Sinh hoạt ban mai khởi sự tấp nập. Người đi đường nhìn vào sân với những cặp mắt tò mò, ngạc nhiên. Người trong sân nhìn ra đường với vẻ cầu cứu tuyệt vọng. Không nói một lời nào, nhưng có lẽ họ cũng thông cảm nỗi niềm của nhau, nỗi niềm những kẻ sống trong thời loạn.
Lan chợt đứng phắt dậy. Cách hàng rào dây kẽm gai, Lệ và Phong dừng lại bên đường tẻ vào trường trung học bán công, đưa mắt nhìn vào sân như tìm kiếm ai. Tay chúng ôm cặp sách, mặt chúng bơ phờ như vừa trải qua một đêm không ngủ, một đêm lo sợ hãi hùng.
Chừng Lan đứng lên, chúng mới trông thấy chị. Lệ hỏi lớn để lấn át tiếng nói chuyện trong sân:
- Ba má đâu chị?
Lan chưa kịp trả lời thì ba má nàng đã chạy lại gần hàng rào dây kẽm gai, mặc tiếng rầy la của người lính gác. Bà già hỏi trong tiếng nấc nghẹn ngào:
- Hai con đi học hả?
Phong không đáp mà hỏi lại:
- Chừng nào về hả má?
Lan tiến đến tới gần mẹ, đáp thay mẹ để an ủi:
- Hai em cứ đi học đi. Không sao cả. Rồi ba má và chị sẽ về.
Trực nhớ đến một vấn đề thiết yếu, bà già lần túi lấy ra một tờ giấy một trăm đưa cho Lệ:
- Trưa nay không ai nấu cơm, con mua gì cho con và thằng Phong ăn đỡ. Nhớ coi chừng thằng Phong, nha con.
Lệ rưng rưng nước mắt:
- Dạ, trưa nay chúng con không về đâu, chúng con ở lại trường để đợi ba má và chị
Lan.
Lan dịu dàng nói:
- Thôi hai em đến trường đi, gần tới giờ học rồi đó.
Thằng Phong chớp chớp mắt, đứng im không muốn rời những người thân yêu của nó. Lệ phải nắm tay em kéo đi:
- Mình đi học, trưa mình sẽ trở lại đây thăm ba má và chị Lan. Thằng Phong bước theo chị.
Hai đứa lặng im đi, nghe như lòng mình nặng trĩu. Lan nhìn theo hai em, lòng dạt dào niềm thương mến.
Suốt buổi sáng hôm đó, các gia trưởng lần lượt bị đưa vào Chi cảnh sát thẩm vấn. Đến gần mười hai giờ trưa, Lan mới được đưa vào văn phòng ông Trưởng chi. Lan hồi hộp khi bước vào phòng.
Ông Trưởng chi ngẩng đầu nhìn Lan:
- Cô là giáo viên trường sơ cấp An Tịnh?
- Thưa ông, vâng.
- Cô là một công chức nên tôi đặc biệt mời cô vào đây, mặc dù cô không phải là gia trưởng.
- Cảm ơn ông.
Ông Trưởng chi mỉm cười:
- Cô có biết tại sao cô được đưa về đây không?
- Thưa ông, không.
- Tại sao nhà cô lại đánh thùng thiếc báo động khi có quân đội quốc gia đến?
- Chúng tôi không biết là quân đội quốc gia, vì chúng tôi đều ở trong nhà.
- Nhưng tại sao cô lại báo động?
- Vì các nhà khác đều báo động. Chúng tôi sợ cướp nên phải báo động.
Ông Trưởng chi lại mỉm cười giọng hóm hỉnh:
- Nhưng tại sao quân đội gọi là “đồng chí”, cô mới chịu ra mở cửa?
- Không phải vì tiếng đồng chí, mà vì lời dọa bắn vào nhà. Chúng tôi ở vào trường hợp bất khả kháng.
- Ai xúi dân làm báo động bằng mõ, thùng thiếc? Ai xúi các người?
- Không ai xúi cả. Hình như có dạo đó là lệnh chánh quyền địa phương quốc gia, phòng khi có cướp hoặc Việt Cộng xâm nhập thì báo động.
- Nhưng lệnh đó chỉ sử dụng ở chợ, chớ không phải là ở thôn quê.
Lan đã lấy lại sự bình tĩnh:
- Lệnh không hề nói rõ là chỉ áp dụng đặc biệt ở chợ mà thôi. Vả lại ở thôn quê, chúng tôi, nếu có cướp hoặc bị Việt Cộng xâm nhập, chúng tôi phải làm thế nào?
Ông Trưởng chi bị câu hỏi trả lắt léo, không biết giải đáp thế nào. Ông lập nghiêm nói:
- Chúng tôi được tin tình báo có bộ đội Việt Cộng kéo về, nhưng khi quân đội quốc gia đến nơi thì bị các người báo động cho họ trốn mất cả. Mấy người còn làm bộ ngây thơ nữa à?
Lan tái mặt:
- Chúng tôi là thường dân, chúng tôi không biết tin gì cả. Chúng tôi không phải là tình báo, nên không rành tin tức.
Ông Trưởng chi lộ vẻ giận:
- Cô là công chức cô ăn cơm quốc gia thì phải ý thức trách nhiệm về mọi hành động của mình. Cô hiểu như thế chứ?
- Tôi luôn luôn hành động có ý thức trách nhiệm.
Ông Trưởng chi dịu giọng:
- Tôi rất bằng lòng sự thẳng thắn của cô. Tôi mong cô về giải thích cho đồng bào thôn ấp rõ sự lợi hại, khuyên họ không nên hành động gì có lợi cho địch dù cố ý hay vô tình. Tôi mong cô sẽ cố gắng làm sáng tỏ chánh nghĩa quốc gia.
Với nụ cười lần đầu nở trên môi kể từ khi bước vào đây, Lan dịu dàng đáp:
- Tôi hân hạnh được ông khuyên bảo.
- Nội chiều nay, tôi sẽ làm thủ tục trả tự do cho tất cả mọi người, vì xét ra đây là sự vô tình.
Ông Trưởng chi đứng lên, tươi cười:
- Chúc cô về vui vẻ. Lan vội cúi chào:
- Cảm ơn ông.
Lan theo người gác cửa trở về chỗ tập trung. Mọi người bu quanh Lan, thăm hỏi tin tức. Lan vui vẻ nói:
- Có lẽ mình được về nội chiều nay. Ông Trưởng chi đã hứa như vậy.
Mặc dầu giọng Lan có vẻ lạc quan, mọi người đều thắc mắc không tin tưởng. Sống trong thời buổi này, người dân đen phải chịu cảnh trên đe dưới búa, những chuyện bất trắc thường xảy ra không thể nào ngờ được. Họ thấy ngày mai thật là tối tăm mờ mịt… Họ thấy đời họ như một màu đen.
Vừa lúc đó, Lan thấy bóng Lệ và Phong ngoài hàng rào dây kẽm gai. Nàng vội đi về phía hai em. Lệ băn khoăn hỏi chị:
- Chừng nào được thả về, hả chị?
- Chắc chiều nay. Hai em về nhà trước đi. Ba má và chị sẽ về sau. Phong lắc đầu:
- Không, chúng em ở lại đợi chị hè. Lan nhìn em, thương hại:
- Em hãy nghe lời chị. Thế nào ba má và chị cũng về mà. Hãy dẫn em về đi Lệ.
Lệ nắm tay em không nói gì nữa, dường như nó thông cảm với nỗi lo âu của chị. Một lát hai chị em mới chịu rời bước đi.
Đợi cho hai em đi khuất rồi. Lan mới trở vào chỗ tập trung. Mặt nàng có vẻ tư lự, buồn bã.
7. Gia đình Lan trở về nhà được một tuần rồi. Ngày ngày Lan đi dạy, Phong và Lệ đi học, ba Lan ra đồng lo việc ruộng nương, má Lan ở nhà lo nấu cơm và thu xếp mọi việc trong nhà.
Nhịp sống bình thường đã trở lại, nhưng tâm trạng họ đã bị dao động và luôn luôn thấp thỏm lo sợ một biến cố nào khác sắp xảy ra. Những đêm trăng sáng, Lệ và Phong không vui vẻ ca hát, nhảy múa, không còn thảnh thơi như bầy chim non nhởn nhơ bay nhảy, líu lo trên cành.
Ban ngày, những giờ không đi học, hễ nghe tiếng súng nổ là chúng chui rúc xuống hầm, ban đêm hễ trời vừa chợp tối, nhà nhà đều cửa đóng then cài. Cả gia đình ngủ luôn dưới hầm trú ẩn. Vậy mà thỉnh thoảng lại có những tin rùng rợn đưa đến: Nào chú Tư đầu xóm bị trúng đạn chết không kịp ngáp, nào cặp trâu của ông Năm bị trúng mảnh bom chết nằm ngay đơ trên bờ ruộng, nào hai bên đụng độ nhau ác liệt ở ngã ba, xác chết nằm ngổn ngang, đầu một nơi, mình một nẻo, máu nhuộm đỏ cả một quãng đường, nhiều nhà tan hoang vì sự tàn phá của bom, đạn.
Chết chóc! … Tang tóc!... Lầm than!...
Một hôm, Lan dậy sớm nấu cơm ăn rồi đi dạy, Lệ và Phong cũng đi học một lượt. Hai chị em Lệ đi bộ từ nhà đến trường hơn ba cây số, chúng vừa đi vừa trò chuyện để quên quãng đường dài, có khi chúng cùng nhau ôn lại bài học nhà trường vì hai chị em cùng học chung một lớp.
Hai giờ học đầu trôi qua. Đến giờ thứ ba, vừa vào lớp, một tiếng nổ chát chúa vang lên.
Vì nhà trường nằm giữa khu quân sự, gần bên trung đội pháo binh quốc gia, học sinh trường trung học bán công đã quen thuộc quá với những tiếng nổ long trời, tuy nhiên mỗi lần nghe tiếng nổ của trọng pháo, chúng cũng giật mình, bịt cả hai tai, chờ cho cơn pháo chấm dứt mới lấy lại tinh thần học tập.
Giáo sư Hoàng phụ trách giờ ấy, trấn tĩnh học sinh:
- Không sao. Có lẽ đụng độ ở đâu nên họ bắn pháo yểm trợ. Một học sinh hỏi:
- Miệt nào vậy thầy?
Tiếp theo câu hỏi là những tiếng đại liên, trung liên, đại bác nổ rền từ xa đáp lại. Hoàng lắng tai nghe tìm hướng, một lúc mới dám phỏng định vị trí:
- Hình như ở An Tịnh.
Nghe đến hai tiếng “An Tịnh”. Lệ và phong đều giật mình, tái mặt. Chúng nhìn nhau, trao đổi sự băn khoăn, lo sợ. Phong nghĩ: “Không biết ở gần nhà ai? Nhà mình có sao không?” Lệ nhìn về hướng nhà, thầm nghĩ: “Trời! Sao mà đúng hướng xóm mình quá! Vái trời cho nhà mình được bình yên”.
Hai chị em hướng mắt về phương nam, nơi có những tiếng nổ vang rền từng chập. Trận ác chiến có lẽ đang tiếp diễn khốc liệt.
Bỗng có tiếng động cơ vang rền trên không. Năm phi cơ phóng pháo xuất hiện và tiến về phương nam. Rồi những tiếng nổ vang lên, rung chuyển cả lòng đất. Vài học sinh bảo nhỏ với nhau: “Phi cơ thả bom!” Một học sinh hỏi bạn: “Phải B52 không mậy?”. Một đứa đáp: “Chắc không, phi cơ chiến đấu yểm trợ”. Lệ và Phong tái mặt nhìn những làn khói cuồn cuộn lên không trung, mù mịt cả một góc trời. Tiếng súng, tiếng bom vẫn liên tiếp nổ.
Gần một giờ sau, tiếng nổ mới thưa dần, rồi dứt hẳn. Phong nói khẽ bên tai chị:
- Hết rồi chị!
Lệ buồn bã nói:
- Hết rồi, nhưng làng mình không biết ai chết, ai sống? Phong nắm tay Lệ:
- Không biết nhà mình có sao không, chị? Lệ thở ra:
- Mình ở đây làm sao biết được? Đợi trưa về thì rõ. Hai chị em im lặng. Hai tấm lòng hồi hộp, lo âu. Giữa lúc đó, giáo sư Hoàng nói to:
- Thôi em nào về chỗ nấy. Chúng ta tiếp tục bài giảng văn bị bỏ dở ban nãy.
Rồi giáo sư bắt đầu giảng, thỉnh thoảng ngừng lại nêu vài câu hỏi cho học sinh trả lời. Lệ và Phong ngồi lặng im nghe, nhưng không chữ nào in vào trí óc, tâm hồn chúng vẫn còn bàng hoàng vì cơn pháo kích, oanh tạc khủng khiếp vừa qua. Và hình như giáo sư cũng không được hăng say như mọi bữa.
Không khí lớp học trở nên nặng nề.
Gần mãn giờ học, bỗng một thiếu nữ đến trước cửa lớp, dừng lại. Mặt nàng tái mét, mắt nàng đỏ hoe dường như nàng vừa trải qua một sự gì đau thương.
Như hai cái máy, Lệ và Phong cùng đứng dậy:
- Chị Lan!
Lan bước vào, cúi đầu chào giáo sư:
- Thưa thầy, xin thầy cho phép hai em Lệ và Phong về nhà gấp, vì gia đình chúng tôi vừa bị tai nạn.
Giáo sư ngạc nhiên:
- Tai nạn gì thế, cô?
Thiếu nữ rươm rướm nước mắt:
- Thưa thầy, tai nạn trong cuộc chiến vừa xảy ra lúc nãy. Ba má chúng em bị lạc đạn.
Giáo sư chau mày thở ra:
- Thật không may! Chiến tranh là vậy đó!
Giáo sư chưa kịp gọi, Lệ và Phong đã chạy lên đứng bên cạnh chị. Chúng đã nghe lời đối đáp giữa thầy và Lan, nên mặt chúng tái xanh, tay chúng run run nắm lấy tay chị. Chúng không thốt được lời nào.
Giáo sư thương hại nhìn hai đứa học trò ngoan ngoãn, khả ái, dịu dàng bảo:
- Hai em theo chị về thăm gia đình. Có chuyện gì nhớ cho thầy biết nhé! Lệ và Phong cúi đầu lễ phép:
- Dạ xin phép thầy, hai em về.
Lan cũng cúi đầu chào giáo sư rồi cùng hai em ra khỏi lớp. Giáo sư đưa mắt buồn bã nhìn theo. Cả lớp đều nhìn theo bóng ba nạn nhân chiến cuộc đang khuất dần qua hàng cây vú sữa ngoài sân trường.
Gió như ngừng reo và chim như ngừng hót.
Tất cả dường như cảm thông với tâm trạng của những kẻ đau khổ.
Giáo sư ngồi im lặng. Học sinh đều im lặng. Bài giảng văn một lần nữa lại bị dở dang vì một sự kiện đột biến xảy ra. Không ai còn tinh thần đâu mà giảng, mà học… Lệ và Phong đi bên cạnh chị, Lệ hỏi trước:
- Nhà mình ra sao, hở chị? Lan buồn rầu đáp:
- Nhà mình cháy rồi! Phong run run hỏi tiếp:
- Còn ba, má?
- Ba má bị thương nặng, đã chở vào nhà thương.
Lệ thảng thốt:
- Trời! Làm sao mà đến nỗi bị thương? Bị thương ra sao hở chị?
- Ba má bị lạc đạn, giữa lúc hai bên đang ác chiến dữ dội.
- Có nặng lắm không chị?
- Chắc nặng lắm.
Phong nấc lên tiếng khóc đầu tiên:
- Làm sao bây giờ, chị?
Lan chưa kịp trả lời thì Lệ hỏi:
- Lúc ấy chị ở đâu? Làm sao chị hay tin?
- Lúc đó chị đang dạy ở trường sơ cấp. Trận chiến xảy ra cách trường chỉ độ một cây số. Nghe tiếng bom tiếng súng nổ vang dội phía nhà mình, chị vô cùng lo sợ, thấp thỏm trông cho mau dứt để về nhà.
Lệ nói trong tiếng nấc nghẹn ngào:
- Em cũng vậy, em sợ quá! Hình như linh tính báo cho em biết có chuyện không lành xảy ra đến gia đình mình. Nhưng em không về được vì còn đang học.
Lan ngậm ngùi kể tiếp:
- Khi tiếng súng ngừng nổ, chị cho học sinh ra về rồi chị cũng hối hả về nhà. Về đến nơi chỉ thấy cảnh điêu tàn thê thảm. Nhiều vũng máu trên đường. Nhiều xác chết còn nằm ngổn ngang. Nhiều nhà sụp đổ vì bom đạn. Nhiều nhà còn bốc lửa ngùn ngụt…
Lệ chận hỏi:
- Còn nhà mình?
- Nhà mình đã thành đống tro tàn. Chị đến nơi chỉ kịp thấy người ta đang khiêng ba, má lên xe Hồng Thập Tự. Chị chạy lại, người ta cản không chi chị đến gần. Chị phải phân trần cho họ rõ: nạn nhân là ba, má chị. Chừng đó mới cho chị biết sẽ chở nạn nhân về cơ quan Y tế quận cứu cấp. Chị xin đi theo. Họ bảo xe chở quá nhiều người bị thương, không còn chỗ, họ khuyên chị nên đi thẳng đến cơ quan Y tế quận để thăm thân nhân tiện hơn. Chị liền đi nhờ một chiếc quân xa quận, đến nơi, chị vội vã vào trường báo tin và rước hai em ra.
Phong lặp lại câu hỏi lúc nãy:
- Bây giờ mình phải làm sao chị?
- Mình đến nhà thương thăm ba, má.
Đến đây, Lệ và Phong mới biết mình đang đi trên con đường dẫn đến nhà thương.
Từ nãy vì bối rối, lo âu, cả hai mãi hỏi thăm chị, không để ý xem chị dẫn đi đâu.
Bây giờ, biết mình sắp gặp cha mẹ, cả hai thêm lo âu, hồi hộp.
Đến bệnh viện, Lan thấy rất nhiều người đứng lóng ngóng trước cửa. Nàng biết là những người đến thăm nạn nhân vì hầu hết đều là những người hàng xóm láng giềng. Nàng thấy bà Ba ở cạnh nhà nàng đang ngồi khóc mếu máo trước thềm. Nàng tiến lại gần bà, dịu dàng hỏi:
- Bà Ba đến thăm ai đây?
Ba Ba ngẩng nhìn lên, trông thấy chị em Lan, bà cất giọng đứt quãng trong tiếng nấc nghẹn ngào:
- Trời ơi! Trời nỡ hại cả nhà bác rồi, cháu ơi!
- Bộ bác trai bị thương, hả bác?
- Phải rồi, không biết sống nổi hay không.
Rồi bà lại khóc lớn lên, hai hàng nước mắt lăn dài trên bộ má nhăn nheo. Một lúc lâu bà mới chợt hỏi:
- Còn ba má cháu ra sao?
Lan rươm rướm nước mắt:
- Ba má cháu cũng bị thương. Cháu dẫn em vào thăm ba má cháu đây.
- Ờ, vào thăm mau đi cháu. Người ta chỉ cho nhìn mặt rồi đuổi ra. Khổ lắm, cháu
ơi!
Lan dẫn hai em tiến vào cửa. Trông thấy một nữ y tá từ trong đi ra, Lan đón lại nói:
- Thưa cô, tôi muốn vào thăm thân nhân bị nạn. Cô y tá dừng chân, dịu dàng hỏi:
- Cô là gì của nạn nhân?
- Chúng tôi đều là con.
Cô nữ y tá nhìn Lan, Lệ, Phong nói với giọng cảm động:
- Nạn nhân nhiều quá, chúng tôi chưa điều tra rõ lý lịch. Vậy tôi dẫn cô vào nhận diện. Cả hai em kia cũng vào nữa chứ?
- Vâng, cô cho chị em tôi cùng vào.
Cô y tá đi trước. Lan nối gót theo. Lệ và Phong theo sát bên chị. Bầu không khí bệnh viện nhuộm đầy vẻ tang tóc, thê lương. Tiếng rên siết hòa lẫn với tiếng khóc lóc thảm thiết. Mùi tử khí bao trùm khắp nơi.
Lan dừng bước trước từng giường nhìn mặt. Thật là khó nhận diện vì có nạn nhân được băng bó cả đầu lẫn thân người, có nạn nhân trùm mềm phủ kín cả mặt, Lan phải chú ý cả màu quần áo quen thuộc, những vật dụng mà ba má nàng dùng thường ngày.
Bỗng Lan dừng bước trước một giường bệnh. Nàng đã nhận ra chiếc áo bà ba quen thuộc của mẹ.
Nạn nhân vẫn nằm im, không biết có người tới. Toàn thân chằng chịt những lớp vải trắng như thây một người chết cứng đờ. Da mặt tái xám như không còn một giọt máu nào chuyển lưu trong huyết quản.
Lệ và Phong cùng bật tiếng khóc. Nước mắt Lan rưng rưng, nàng bặm môi để dằn cơn nức nở. Một lúc lâu, Lan mới gọi:
- Má ơi, má!
Nạn nhân vẫn im lặng trong cơn mê. Lệ và Phong không dằn được, cùng cất tiếng gọi to:
- Má ơi, chúng con đây nè.
Nạn nhân từ từ mở mắt, thân mình vẫn bất động trong làn băng vải. Đôi mắt lờ đờ nhìn mọi người. Khi nhận ra đàn con, bà mấp máy đôi môi qua hơi thở nặng nề:
- Con!
Lan kề sát môi bên tai mẹ:
- Má thấy trong mình ra sao, má?
Bà lắc đầu, mắt nhòa lệ. Có lẽ vì mệt nên bà không thốt ra lời. Lan hỏi tiếp:
- Còn ba đâu má?
Bà vẫn im lặng. Lan phải lặp lại câu hỏi, bà mới từ từ đưa tay lên chỉ về phía trái, cách đó độ mười thước. Lan vội chạy lại giường cha.
Cô y tá dặn Lan:
- Cô thăm cha mẹ rồi trở ra ngay nhé. Y tá trưởng không muốn ai ở lâu trong này, sợ làm bệnh nhân mệt thêm. Có chuyện gì cần, cô cứ đến văn phòng tìm tôi.
Dặn dò xong, cô y tá bước đi.
Lan đứng trước giường nhìn người cha thân yêu đang oàn oại trong cơn đau đớn. Thấy mấy đứa con ông muốn ngồi dậy nhưng không còn đủ sức lực để cử động. Thân mình ông cũng chằng chịt những lớp vải trắng.
Lần này, Lệ gọi trước với giọng nghẹn ngào:
- Ba ơi!
Phong cũng nức nở:
- Ba ơi!
Lan cúi mặt. Có cái gì nghèn nghẹn dâng lên cổ làm nàng không thốt nên lời. Nàng chỉ nhìn cha với cái nhìn xót thương vô hạn. Mắt nàng như muốn thu nhận vĩnh viễn, khắc sâu vĩnh viễn ảnh hình của người cha mà nàng yêu kính nhất đời.
Ông Phúc – tên ba Lan – nhìn ba con với cái nhìn trìu mến. Ông hướng về Lan, hỏi nhỏ:
- Má con ra sao, Lan?
Lan cố dằn cơn xúc động:
- Má chắc không đến nỗi nào đâu, ba. Má đang ngủ.
- Còn nhà ta?
- Nhà ta bị cháy tiêu rồi.
Ông Phúc, ba Lan, thở dài, ngao ngán:
- Thế là tiêu tan sự nghiệp! Biết bao giờ mới gầy dựng lại được! Lan ngậm ngùi an ủi:
- Ba cứ lo dưỡng bệnh. Mình còn thì sự nghiệp còn, lo nghĩ làm gì cho mệt, ba. Lệ xen vào:
- Ba bị thương ra sao, ba?
Ông Phúc cảm động nhìn đứa con gái bé bỏng ngây thơ:
- Ba bị miểng moọc chê ở chân và ở thân mình. Máu ra nhiều, nhưng chắc không sao đâu. Ba phải sống với mấy con chớ.
Phong gạt nước mắt, giọng nghẹn ngào:
- Con sợ quá, ba ơi!
Ông Phúc bồi hồi xúc động:
- Ba sẽ về với con mà. Ba chỉ sợ cho má con… Hình như má con bị thương nặng hơn ba.
Thằng Phong nào hiểu được sự lo lắng của cha, nó buồn rầu bày tỏ sự băn khoăn của nó:
- Rồi chúng con sống ở đâu ba? Nhà mình cháy, nhà hàng xóm cũng cháy. Còn nơi đâu mà nương tựa?
Ông Phúc nhắm mắt nhưng hai dòng lệ vẫn theo mi. Ông thương con mà đành bất lực. Trong hoàn cảnh này, tính mệnh của ông còn mong manh, ông còn sức đâu mà bảo bọc đàn con thơ dại. Một lát sau, ông từ từ mở mắt, hiền hòa nhìn Lan, cố thốt ra những lời tâm huyết:
- Bây giờ thì ba chỉ còn trông cậy vào con. Con ráng lo săn sóc cho má con, ráng đùm bọc mấy em con. Còn ba, chắc còn lâu ba mới bình phục như xưa.
Lan muốn làm an lòng cha:
- Ba đừng lo gì cả. Con đủ sức lo. Ông Phúc thở dài:
- Trong lúc đạn reo, bom nổ, nhà cháy, ba má không kịp lấy đồ vật gì trong nhà ra cả. Đến tiền bạc nữ trang quần áo cũng không lấy kịp. Thật là khổ cho các con.
- Tai họa biết đâu mà ngờ trước được ba.
- Rồi đêm nay mấy con ở đâu? Và những ngày tới nữa…
- Chúng con ở đậu nhà một người bạn. Thôi, ba đừng lo gì nữa cả. Con chỉ cầu nguyện cho ba, má thoát khỏi nạn tai này.
Ông Phúc lặng thinh nhìn mấy con mà lòng thêm đau xót.
Giữa lúc ấy, một viên y tá bước lại ôn tồn nói với Lan:
- Có đại úy quận trưởng và đại úy Chi khu trưởng đến viếng trại. Xin mời cô ra, chiều nay cô có thể vào thăm đươc.
Lan dịu dàng đáp:
- Vâng, chúng tôi thành thật cảm ơn ông.
Nàng quay lại nhìn cha:
- Thôi chúng con về nha ba. Chiều nay chúng con sẽ vào thăm ba má.
Lan dẫn hai em trở ra. Ngang qua giường mẹ, nàng thấy mẹ nàng vẫn nằm thiêm thiếp, gương mặt xuống sắc qua những nếp nhăn đau khổ.
Nàng nhìn mẹ chăm chăm, không muốn rời bước. Nàng thấy lòng quặn đau trước hình ảnh thương tâm của người mẹ chất phác, hiền lành.
Lệ và Phong cất tiếng gọi thảm thiết:
- Má ơi! Má ơi!
Bà mẹ vẫn lặng im. Thân hình bà vẫn bất động. Lan ứa lệ, nắm tay hai em dẫn đi. Lệ vừa đi vừa ngoảnh lại nhìn mẹ. Phong thì cúi gầm mặt xuống, không muốn thu nhận thêm những hình ảnh thương đau. Những bước chân nặng nề kéo lê trên nền gạch..
Chiều lại, Lan dẫn hai em vào bệnh viện thăm cha mẹ. Nàng mong cho mẹ mình tỉnh lại, để mẹ con được tâm sự vài câu. Nàng muốn gặp viên ý tá trưởng để hỏi thăm tình trạng thương tích của cha mẹ. Nàng muốn tỏ cho cha mẹ biết là nàng đủ sức lo lắng, đùm bọc cho hai em.
Lan không để ý đến những người quen thuộc đang tụ tập từng nhóm trước bệnh viện. Tai nàng vẫn nghe tiếng khóc thút thít như buổi sáng. Nàng đi thẳng đến cửa vào văn phòng viên y tá trưởng.
Cô nữ y tá ban sáng thấy nàng, vội chạy lại ân cần hỏi:
- Cô đến thăm cha mẹ? Lan dịu dàng đáp:
- Vâng. Xin cô cho gặp y tá trưởng. Cô nữ y tá nhanh nhẹn nói:
- Y tá trưởng cũng đang muốn gặp cô. Mời cô vào. Lan, Lệ và Phong theo chân cô ý tá bước vào.
Viên y tá trưởng là một tráng niên đang ngồi trước bàn giấy. Vì nơi đây không có bác sĩ, nên viên y tá trưởng làm tất cả nhiệm vụ của một bác sĩ.
Thấy chị em Lan vào, viên y tá trưởng đứng dậy niềm nở chào nàng và mời chị em nàng ngồi. Lan ngồi xuống chiếc ghế đặt trước bàn giấy, còn Lệ và Phong không ngồi mà chỉ đứng hai bên nàng. Lan hơi ngạc nhiên trước sự ân cần của mọi người ở đây.
Nàng linh cảm có chuyện gì lại xảy ra. Nàng hồi hộp chờ đợi. Nàng thấy thời gian như ngừng lại trong phút giây chờ đợi ấy.
Viên y tá trưởng mở lời:
- Cô và hai em là con ông bà Phúc?
- Vâng.
- Tôi báo tin cho cô rõ là ông Phúc đã được xe Hồng Thập Tự chở về Sài Gòn điều trị, vì nơi đây thiếu phương tiện để săn sóc bệnh nhân.
Lan hỏi nhanh:
- Còn má chúng tôi?
Viên y tá trưởng nhìn Lan, nhìn Lệ và Phong rồi mới đáp với giọng đầy xúc cảm chân thành:
- Bà Phúc đã tắt thở lúc 15 giờ.
Lan chỉ bật thốt được hai tiếng: “Má ơi!” rồi nàng như chết lặng trên ghế, mắt nàng nhòa lệ, đầu nàng choáng váng, tim nàng như ngừng đập. Trời! Người mẹ hiền nàng mới gặp lúc ban sáng, bây giờ đã vĩnh viễn xa lìa cõi thế, vĩnh viễn xa lìa chị em nàng.
Lan vẫn im lặng. Đầu óc nàng rối răm, hỗn độn như vừa trải qua một con phong bão, nàng biết liệu định thế nào? Nhà tan. Mẹ chết. Cha bị thương. Trời ơi! Nàng biết làm sao bây giờ? Nàng cảm thấy mình đau khổ, cô đơn, bất lực.
Đợi một lúc lâu không thấy nàng đáp, viên y tá trưởng nhắc lại, rõ ràng hơn:
- Cô định lãnh thi hài bà Phúc về chôn hay là quàng xác tại đây? Cô cho biết để chúng tôi lo thủ tục.
Lệ và Phong khóc nức nở, những dòng nước mắt rơi xuống thấm cả vai chị. Chúng nắm chặt tay Lan, gục mặt vào vai Lan. Chúng chỉ biết khóc mà không thốt ra được lời nào.
Viên y tá trưởng và cô y tá đã từng chứng kiến nhiều cảnh chết chóc, cũng không khỏi bùi ngùi thương cảm trước tình cảnh của chị em Lan. Cả hai giữ im lặng một lúc lâu để tôn trọng sự đau khổ của kẻ khác.
Khi Lan đã lấy lại trạng thái tinh thần bình thường, viên y tá trưởng mới nói:
- Cô định liệu thế nào về thi hài của bà Phúc?
Lan chưa biết giải quyết cách nào thì có bóng người từ ngoài cửa đi vào, Lệ và
Phong kêu lên một lượt:
- Thầy!
Người đi vào là giáo sư Hoàng. Thấy ba chị em Lan đầm đìa nước mắt, giáo sư đoán việc không lành xảy ra cho hai đứa học sinh bé bỏng của mình. Ông chào viên y tá trưởng và Lan. Viên y tá trưởng mời ông ngồi dối diện với Lan, rồi niềm nở hỏi:
- Giáo sư đến có chuyện gì cần?
- Tôi đến thăm thân quyến của hai đứa học trò Lệ và Phong, vừa bị tai nạn ban sáng.
Nghe thầy nói, Lệ bật khóc to:
- Thầy ơi, má em mất rồi.
Và Phong cũng nói qua giọng nức nở:
- Ba em bị thương nặng đã được xe Hồng Thập Tự chở về Sài Gòn rồi.

Giáo sư nhìn hai đứa học trò mà vô cùng cảm động. Ông cảm thông với nỗi đau của những mái đầu xanh vô tội. Và hàng ngày, hàng giờ, biết bao nhiêu là cảnh chết chóc, ly tán đã xảy ra, sẽ diễn ra ở cái mảnh giang san bé nhỏ này.
Viên y tá trưởng nói:
- Tôi đang bàn với cô Lan xem cô liệu định thế nào về thi hài bà Phúc.
Giáo sư nhìn Lan như truyền sang cho nàng một nguồn nghị lực:
- Cô Lan đã có quyết định gì chưa?
Lan ngẩng lên, mắt long lanh ngấn lệ:
- Em biết liệu định thế nào, thầy ơi! Nhà chúng em bị cháy, ba chúng em bị thương, của cải sản nghiệp đều tiêu tan. Em lãnh thi hài của mẹ em về đâu bây giờ.
Giáo sư bùi ngùi:
- Cô còn thân thuộc gì không?
- Còn một người cô ở Sài Gòn.
- Ở đây không còn ai sao?
- Không còn ai cả. Nếu bình thường thì có thể nhờ hàng xóm giúp đỡ, nhưng lúc này thì họ cũng bị tai nạn như gia đình em, cũng đau khổ như chúng em.
Giáo sư Hoàng lặng thinh suy nghĩ, trong lúc Lan, Lệ, Phong chăm chăm nhìn thầy.
Từ lúc thấy thầy vào đây, Lệ và Phong như đang chơi vơi giữa dòng níu được tấm ván. Chúng tin tưởng thầy ở đây cũng như chúng đã hoàn toàn tin tưởng thầy ở trong lớp học. Niềm tin ấy làm cho chúng vơi được phần nào sự lo âu, đau khổ.
Giáo sư Hoàng nói với Lan:
- Cô phải đánh điện tín cho cô của cô hay.
- Vâng, thầy bảo em mới nhớ.
- Cô biên địa chỉ của bà ấy, tôi sẽ cho người đánh điện tín cấp tốc. Chắc trễ lắm là sáng mai, bà ấy sẽ đến đây phụ giúp cô lo việc tống táng.
Lan vội mượn bút của viên y tá trưởng biên địa chỉ, rồi trao cho giáo sư, Nàng nói:
- Nhờ thầy lo giùm. Em bối rối quá nên quên hết cả mọi việc.
Giáo sư Hoàng ôn tồn tiếp:
- Tôi có quen với nhà bán hòm. Tôi sẽ bảo họ chở một chiếc hòm đến đây để cô lo tống liệm thi hài thân mẫu. Tiền bạc sẽ thanh toán sau.
Lan cảm động đáp:
- Em đội ơn thầy lắm.
Lệ và Phong trìu mến nhìn thầy, tỏ vẻ cảm ơn. Giáo sư trấn an hai trẻ đáng thương:
- Hai em đừng lo gì cả. Còn thầy, còn chị, còn cô, hai em không bơ vơ đâu. Sau khi lo xong đám tang cho mẹ, hai em và chị có thể đến nhà thầy ở tạm, trong khi chờ đợi xây dựng lại nhà và chờ cha mấy em lành mạnh trở về.
Lan ấp úng:
- Thầy có lòng tốt, nhưng chúng em ngại lắm. Chúng em sợ làm phiền thầy nhiều quá. Biết bao giờ mới trả được ơn thầy?
Giáo sư nghiêm giọng:
- Đặt làm gì vấn đề ơn nghĩa. Tôi thương mến học trò, tôi thấy có bổn phận phải giúp đỡ chúng một phần nào, tận tâm và thành thật.
Vả lại, cô và em chỉ ở tạm một thời gian, rồi lại trở về làng cũ đoàn tụ với phụ thân. Cô phải nghĩ đến vấn đề hiện tại cho hai em còn khờ dại chớ.
Lan im lặng, trong lúc Lệ và Phong hơi yên tâm vì đã có nơi nương tựa đáng tin cậy.
Đó là điều ra ngoài mong ước của chúng, và có lẽ của cả Lan nữa mà nàng không tiện thốt ra.
Giáo sư Hoàng nói tiếp:
- Về vấn đề tiền bạc lo việc tống tang, chắc cô của mấy em lo được chu tất. Tuy nhiên, tôi sẽ vận động để các bạn đồng nghiệp của cô Lan, của tôi, và cả học sinh nữa, biểu lộ sự tương thân tương trợ lẫn nhau.
Lan xúc động chân thành:
- Chúng em sẽ nhớ ơn thầy mãi mãi.
Giáo sư không để ý đến vẻ xúc cảm của chị em Lan, ông quay về phía y tá trưởng:
- Công việc tạm giải quyết như thế. Đợi ngày mai cô của cô Lan về mới nhất định dứt khoát được. Xin nhờ ông giúp đỡ cô giáo trong vấn đề thủ tục.
Viên ý tá trưởng sốt sắng đáp:
- Cử chỉ giáo sư rất đẹp, tôi cũng muốn góp một phần nào vào việc tương trợ cô Lan và hai em chớ. Xin giáo sư an lòng, chúng tôi sẽ dành đủ mọi phương tiện để giúp đỡ những kẻ đáng giúp đỡ, như cô giáo và hai em đây.
Giáo sư Hoàng đứng lên, bắt tay từ giã viên y tá trưởng. Ông chào Lan, nhìn an ủi hai đứa học trò rồi lần bước ra cửa. Lan và hai em theo sau. Đến thềm bệnh viện, ông dừng lại, dặn dò Lan trước khi ra về:
- Cô nên nhờ vài người hàng xóm thân thích đang ở trước bệnh viện, lo phụ giúp việc tống liệm thi hài thân mẫu. Cùng trong cảnh khổ, tôi chắc họ vui lòng. Có điều gì không biết, cô nên hỏi ý kiến những người lớn tuổi hiểu biết hơn mình. Tôi về, sẽ đánh điện tín gấp và cố quyên giúp cho cô một số tiền. Thôi, tôi về nhé!
Lan và em đứng tựa cửa nhìn theo. Một tia sáng hy vọng vừa lóe lên trên ba tâm hồn u ám.
8. Xe vừa dừng trước cửa, Hoàng đã thấy Lệ và Phong từ trong nhà chạy ra. Cả hai đồng reo lên:
- Thầy về, thầy về.
Phong chạy lại xách cặp cho thầy, hí hởn nói:
- Sao thầy về trễ quá, làm chúng em đợi muốn chết. Chắc đường bị đắp mô phải không thầy?
Lệ đi bên cạnh cũng xen vào hỏi:
- Hôm nay có lội bộ không thầy?
Giáo sư Hoàng vui vẻ nói:
- Dường bị đấp mô hai ba chặng, làm phải lội bộ hàng mấy cây số. Qua mỗi chặng phải sang xe, khi thì xe lôi, khi thì xe “ôm”.
Lệ tươi cười hỏi:
- Xe gì mà “ôm” hở thầy? Phong làm lanh:
- Chị quê một cục, không biết gì hết. Những người lái xe máy đầu nhỏ như Honda, Yamaha, Suzuki chở thêm hành khách ở phía sau, người ngồi sau phải ôm eo ếch người trước, người ta gọi là “xe ôm”. Chị biết chưa?
Lệ bật cười:
- Thật không có nước nào có xe rước khách lạ đời như nước mình. Nhưng sao thầy lại đi làm chi cái thứ xe mắc dịch ấy? Em thì thà chết còn hơn.
Hoàng vui vẻ giải thích:
- Có những quãng đường bị mô, xe hơi qua không được, chỉ có những chiếc xe gắn máy và máy dầu nhỏ rước khách. Nếu không đi xe “ôm” thì đi xe gì bây giờ?
Vào đến trong nhà, Hoàng hỏi:
- Chị Lan mấy em đâu?
Lệ nhanh nhẩu đáp:
- Chị Lan đang làm bếp. Hôm nay chúa nhật, chị ấy nấu một bữa cơm thật ngon để đợi thầy về. Nhưng buổi trưa thầy không về kịp, làm cơm canh nguội ngắt, thật uổng ghê!
Bây giờ chị đang lo bữa cơm chiều, chắc thế nào thầy cũng về tới.
Giữa lúc ấy, Phong chạy ra sau bếp reo to:
- Chị Lan ơi, thầy về.
Lan từ nhà sau chạy lên. Nàng mặc chiếc áo ngắn tay màu hoa cà. Mái tóc thắt đuôi ngựa với chiếc nơ màu tím. Má nàng ửng đỏ như mới từ trong bếp lửa. Lan mỉm cười:
- Thầy mới về! Hoàng vui vẻ đáp:
- Vì đường bị mô nên tôi về trễ.
Nguyên Hoàng là giáo sư ở Sài Gòn, nhưng quê chàng ở Trảng Bàng. Chàng về quê để dạy ở Trường bán công. Về quê hương để rèn luyện những mầm mon ở nơi chôn nhau cắt rún, chàng sung sương như được sống lại thời kỳ trẻ thơ, khi còn cắp sách đi học ở trường làng. Học sinh ở đây siêng năng, ngoan ngoãn, bầu không khí học đường có vẻ thân mật, ấm cúng hơn ở thủ đô. Ngôi nhà này là phần hương hỏa của phụ thân chàng để lại.
Nhưng vì bận việc ở Sài Gòn, chàng phải nhờ một đứa cháu gái trông nom trong thời gian vắng mặt.
Lan dịu dàng nói:
- Thầy đi tắm cho mát rồi dùng cơm chiều.
Lệ đem đến một bộ đồ mát cho thầy. Phong thì đem khăn lông và xà bông vào phòng tắm.
Thấy mấy đứa trẻ ríu rít chăm sóc mình, Hoàng cảm thấy tâm hồn thơ thới, vui lây cái vui hồn nhiên của tuổi trẻ.
Lan mỉm cười tươi tắn:
- Trông thầy giống như một tráng sĩ vừa trải qua cảnh “Gió cuốn chinh y, bụi vùi chiến mã”.
Hoàng đưa tay lên vuốt mái tóc đầy bụi đường:
- Cô Lan giàu tưởng tượng lắm. Cô nên tập làm thơ đi. Cam đoan sẽ trở nên một nữ thi sĩ trứ danh.
Lệ bật cười to:
- Chị Lan làm thơ con cóc thì tuyệt diệu!
Lan khẽ đập vai em, rồi rút lui xuống bếp. Hoàng vừa bước đi vừa mỉm cười, chẳng hiểu chàng cười gì.
Buổi chiều chầm chậm trôi đi…
Sau bữa cơm thì trời sụp tối.
Mặc dầu nhà ở Châu Thành, mới chạng vạng Lan đã lo đóng cửa cài then cẩn thận. Vì nhà Hoàng ở gần một trại nghĩa quân, mọi người trong nhà phải đề phòng bất trắc. Đứa cháu gái Hoàng đêm nào cũng tản cư về nhà cha ruột, có vẻ an toàn hơn.
Khi chưa có chị em Lan về đây, đêm đến Hoàng chỉ ở một mình trong ngôi nhà trống trải thênh thang, cô đơn dưới bóng hoa đèn, cô đơn nằm nghe súng nổ. Bây giờ thì không khí có vẻ rộn rịp, vui tươi.
Mọi người tụ họp ở phía nhà khách. Dưới ánh đèn nê ông tỏa ánh sáng xanh dịu, Hoàng nằm trên võng đong đưa, tay cầm một quyển sách đang xem dở.
Chàng cầm sách mà tầm mắt hướng lên nhà, mơ màng nhìn theo làn khói thuốc tản mạn trên những chiếc kèo bị bụi bám nhện giăng. Lệ và Phong ngồi làm bài nơi bàn giấy.
Lan ngồi trên chiếc ghế xếp, may nốt chiếc áo mới cho Lệ. Mắt nàng đăm đăm nhìn theo đường kim xuyên qua làn vải trắng, màu trắng trinh nguyên của tuổi học trò.
Thỉnh thoảng nàng ngước lên nhìn bình hương tỏa khói trên bàn thờ mẹ đặt ở cạnh tường. Một vẻ buồn thoáng hiện trên khóe mắt ưu tư. Nàng miên man đắm chìm trong ký ức, với những tai biến dồn dập xảy ra đến cho gia đình mình.
Nàng nhớ đến ngày đưa linh cữu mẹ đến nơi an nghỉ cuối cùng từ nhà thương về đến tận mái nhà thân yêu đã đổ nát. Nàng đã chôn mẹ ở sau vườn, dưới một tàn cây rợp bóng. Nàng muốn tàn cây kia sẽ che sương dỡ nắng cho mồ mẹ.
Nàng muốn một ngày gần đây, nàng sẽ trở về làng cũ, xây dựng lại mái nhà xưa, được gần gũi mãi mãi bên nấm mồ của người mẹ bạc phước. Ngày đưa táng mẹ, nếu không nhờ người cô từ Sài Gòn về và giáo sư Hoàng luôn luôn tận tình giúp đỡ, nàng đã không biết làm sao để cử hành tang lễ với hai bàn tay trắng.
Điều buồn tủi nhất cho Lan là ngày ấy vắng mặt Quân, người mà nàng đặt rất nhiều tin tưởng. Có lẽ chàng chưa hay tin, nhưng dầu sao nàng cũng thấy buồn thầm.
Điều an ủi nhất là, trên đường tiễn đưa linh cữu mẹ nàng, có sự hiện diện đông đủ các đồng nghiệp của nàng, đông đủ các học sinh ngây thơ của nàng và của giáo sư Hoàng.
Đến khi hạ quan, mỗi học sinh tiến tới ném xuống huyệt một cánh hoa hoặc một nắm đất, Lệ và Phong quỳ khóc nức nở, còn nàng nhìn chiếc quan tài từ từ bị lấp đất mà nước mắt chảy ròng ròng. Thế là hết! Từ đây vĩnh biệt người mẹ hiền đã săn sóc, cưng yêu chị em nàng từ tấm bé.
Chiến tranh đã cướp đi của nàng một lẽ sống, đã gieo tang tóc đau khổ cho những mái đầu xanh vô tội chưa vẩn đục bụi đời.
Sau ngày tang lễ, chị em nàng bơ vơ. Theo lời khuyên của giáo sư Hoàng, nàng cùng hai em về đây nương tựa. Tuần lễ đầu trải qua buồn tẻ.
Ba chị em thường nhìn nhau ứa lệ. Rồi một tháng trôi qua, nhờ sự đối đãi tử tế của Hoàng mà Lan vơi được phần nào sự đau buồn, Lệ và Phong cũng lấy lại được bản tính hồn nhiên, vui vẻ của tuổi thơ…
Lan đang triền miên lần giở lại trang ký ức, bỗng nghe tiếng Lệ gọi khẽ:
- Chị Lan!
Lan ngẩng lên âu yếm nhìn em:
- Gì thế, Lệ?
- Chúng em làm bài xong rồi. Chị cho chúng em đọc báo nhé?
- Ờ, mấy em đọc báo chơi một lát rồi đi ngủ sớm. Hoàng day lại phía Lệ và Phong:
- Thầy có đem về mấy tờ báo và tạp chí văn nghệ, hai em cứ lấy ra xem. Thầy để trên bàn đó.
Lệ mừng rỡ nói:
- Em thích những báo nào có phụ trang Tuổi thơ, Tuổi Xanh hoặc Tuổi Hồng, Tuổi
Ngọc.
Phong láu lĩnh đùa:
- Có phụ trang Tuổi Đen, Tuổi Xám không chị? Lệ tươi cười đáp:
- Nếu chị làm báo, chị sẽ mở những phụ trang ấy, vì tuổi của chúng mình không xám thì cũng đen.
Vừa đáp Lệ vừa lật mấy trang báo tìm những mục mà nàng ưa thích. Đọc được vài bài, nàng bỗng vui vẻ gọi chị:
- Chị Lan ơi, ông tướng Quân có đăng bài thơ tặng chị nè. Phải Lan Quân là bút hiệu của ảnh không chị?
Phong vẫn giọng trêu đùa:
- Còn ai vào đó nữa? Ảnh đã ghép tên của ảnh với tên của chị Lan đó mà.
Hoàng dừng xem sách, mỉm cười bảo Lệ:
- Thì Lệ cứ đọc lớn lên cho chị em nghe. Lệ hỏi chị:
- Em đọc lên, nhen chị? Đọc cho thầy nghe nhờ thầy phê bình giùm nữa chứ.
Lan không đáp, chỉ khẽ gật đầu.
Lệ đọc lớn với giọng trầm buồn phù hợp với tứ thơ:
HOA THƠ CÀI LÒNG
(Trọn vẹn về Mộng Lan, Trảng Thơ)
Đường mây suối mộng không bờ,
Tôi đi tôi hái hoa thơ cài lòng.
Sông dài, bể rộng mênh mông.
Thuyền hồn lờ lững trên dòng tương tư.
Thu nay đã mấy thu chừ,
Cây vàng võ, lá trầm tư cũng nhiều.
Đời buồn ngập mấy thương yêu,
Lòng sao chưa dứt một chiều mộng mơ.
LAN QUÂN.
Lệ đã đọc dứt mà tâm hồn Lan như còn nương theo âm hưởng bay vút tận trời mây. Má nàng ửng hồng, mi nàng chớp chớp như hai cánh bướm.
Lệ vô tư phê bình:
- Thơ hay mà buồn quá! Anh ấy đang bơi trên dòng “Tương tư” đó chị. Phong vẫn không bỏ được tính liến thoắng:
- Trảng Bàng là xứ nghèo nàn, cằn cỗi mà ông tướng gọi là Trảng Thơ. Thật em phục mấy ông thi sĩ sát đất!
Nghe chị em Lệ phát biểu ý kiến mà Hoàng không khỏi bật cười. Hoàng biết Lan đang đắm chìm trong nhớ nhung mơ mộng, nên không muốn nói gì nhiều, sợ làm tan đi giấc mộng đẹp của người con gái đáng thương. Hoàng chỉ khẽ nói với Phong:
- Thi sĩ có sứ mạng là thi vị hóa cuộc đời để cho đời thêm đẹp. Vậy thi vị hóa quê hương cằn cỗi thành một quê hương thơ mộng, có gì là lạ lùng quá đáng đâu em.
Phong đâu dám cãi thầy nên đành tiu nghỉu lặng im. Giá lời ấy của Lệ, chắc chắn nó còn thừa lý lẽ để mà châm biếm đùa cợt hơn nữa.
Lệ rất thích văn chương và đang ôm ấp nhiều hoài bão về văn nghệ.
Từ lâu nàng cũng đã tập tễnh làm thơ và đã từng lén thầy, lén chị gởi thơ đăng ở các trang Tuổi Ngọc, Tuổi Thơ. Nàng đã trải qua từng đêm thao thức trông mong thơ mình được đăng. Nàng trông cho mau đến sáng, ra hàng báo lật xem (vì nàng đâu có tiền mua báo mỗi ngày!) bài mình đã được chọn đăng chưa, hay đã bị nhà báo bỏ vào sọt giấy.
Mỗi lần có bài thơ được đăng, nàng mừng không thể tả. Đó là niềm vui văn nghệ mà những kẻ phàm phu tục tử không thưởng thức được. Nàng tự hào như thế. Và hôm đó, thế nào nàng cũng nhịn ăn quà để mua tờ báo ấy, về nhà đọc đi đọc lại bài thơ ký bút hiệu Trang Tuyết Lệ một cách đắm đuối, say sưa.
Rồi sau khi đọc, ngâm bài thơ đó đủ cách, đủ giọng, nàng trang trọng cắt thi phẩm của mình đóng vào quyển tập mạ vàng được trình bày thật đẹp, thật trang nhã.
Thật ra, niềm vui văn nghệ ấy đã an ủi Lệ rất nhiều trong cơn đau khổ. Và sự đau khổ đã thành đề tài để nàng sáng tác.
Lúc đầu, thơ nàng rất vui tươi, hồn nhiên; nàng ca ngợi tiếng hát thiên thần của mẹ, tiếng sơn ca reo hót buổi bình minh. Trong thơ nàng có giấc mộng thiên nga, có giấc mơ công chúa, có bướm hoa, có nhã nhạc, có suối ngọc, có vườn tiên. Thật đẹp đẽ thay Tuổi Ngọc vô tư trong lành, tươi mát! Nhưng những tai biến dồn dập khiến cho tiếng thơ của nàng phải chịu ảnh hưởng lây.
Từ ngày bị cảnh nhà tan, mẹ chết, Lệ cảm thấy đau khổ, bơ vơ. Thơ nàng từ đây không còn ẩn trong tháp ngà Tuổi Ngọc mà đã vượt ra, đi sâu vào tâm tư của lớp trẻ đang hòa đồng với sự thống khổ chung của dân tộc, với sắc máu của chiến tranh.
Nàng chối bỏ thù hận bằng cách ca ngợi tình thương, nàng chối bỏ chiến tranh bằng cách ca ngợi hòa bình, nàng chối bỏ Thiên Đường vu vơ để trở về với thực tại đau thương của đất nước.
Lệ tiếp tục đọc mấy bài thơ trong một tờ báo. Phong theo dõi những bức tranh hoạt họa nhi đồng. Lan xếp kim chỉ vào hộp, ngồi trầm tư mơ mộng.
Dưới ánh đèn xanh, không khí căn nhà có vẻ êm đềm, ấm cúng. Lệ ngước lên nhìn thầy, hớn hở nói:
- Thầy ơi, có bài thơ này hay quá! Em thích ghê!
Phong chu miệng, chế giễu:
- Lại thơ với thẫn! Lại một ông tướng Quân nào khác làm thơ để “Trọn vẹn về” một kiểu nữ nào đó chớ gì?
Lệ phản đối dịu dàng:
- Em là chúa xuyên tạc! Bài thơ này đầy ý nghĩa chớ không thuộc loại thơ “Trọn vẹn về ” như em nói đâu.
Lan như thoát khỏi cơn trầm tư, nhìn hai em đang đùa nhau mà cảm thấy vui lây. Phong vẫn chưa chịu nhường chị:
- Nếu không thuộc thơ “Trọn vẹn về” thì cũng thuộc loại “Em yêu anh lính chiến” . Thôi em van chị, em ngửi không vô các loại thơ ấy.
- Bộ em châm biếm cả anh Quân đấy à?
Phong giật mình, ái ngại nhìn Lan. Vì trực tính và vô tình, nó nghĩ sao nói vậy, không nghĩ rằng lời nói thẳng thắn của mình có thể làm buồn lòng chị.
Nó lặng im, hơi hối hận vì lối đùa quá quắt của mình. Lan dịu dàng nói:
- Chị không buồn đâu. Em Phong nói đúng đấy.
Lệ tằng hắng lấy giọng, rồi lần này nàng ngâm lên (chớ không đọc như lần trước) với giọng êm ái, thanh tao:
HAI LOÀI HOA
có một loài hoa
nở trong bình minh hé môi cười.
chờ bé nâng niu
và làm nũng vòi quà
loài hoa mang tên
hoa tuổi ngọc
có một loài hoa
nở giữa lòng Đất Mẹ
loài hoa không biết
hận thù
chiến tranh
máu lửa
loài hoa mang tên
hoa tình thương
đẹp thay hai loài hoa
hoa tình thương
hoa tuổi ngọc
TRẦN THI TỬ
Lệ ngâm dứt, Lan cất tiếng khen:
- Giọng em Lệ ngâm giống hệt Hoàng Oanh. Lệ bẽn lẽn, vui sướng:
- Em bắt chước điệu ngâm của ban “Tao Đàn” đó chị. Em thích giọng Hoàng Oanh hơn là Hồ Điệp, Mai Lan nữa.
Phong lại chu mỏ, lém lỉnh:
- Còn lâu chị mới ngâm được như Hoàng Oanh. Đâu, đưa bài thơ vừa ngâm cho em xem.
Lệ đưa tờ báo cho Phong. Cậu bé đọc lại bài thơ rồi trố mắt làm ra vẻ vô cùng kinh ngạc:
Thơ gì mà không vần, không chấm, không phẩy, mà cũng không chữ nào viết hoa.
Thơ như thế thì em có thể nhắm mắt đọc luôn một lượt hàng chục bài. Không tin, để em đọc cho chị chép gởi đăng báo cho vui.
Lan mỉm cười:
- Thôi cho chị can đi, Phong. Không hiểu nghệ thuật thì nhờ thầy giảng giải cho, đừng quen tật nói ẩu xấu lắm!.
Phong quay lại nhìn thầy như cầu người cứu viện:
- Em nói có đúng không, thưa thầy? Chị Lan giỏi tài ăn hiếp em hoài. Hoàng vui vẻ nói:
- Em Phong nói đúng một phần đấy chứ. Thầy tin rằng em có thể đọc luôn một lúc hàng chục bài thơ…
Phong nhìn qua Lan, giọng phân trần:
- Đó, chị thấy không, thầy bảo em có thể làm được kia mà. Em đâu có nói ẩu? Hoàng mỉm cười đáp:
- Thầy chưa nói hết! Thầy định nói rằng: Em có thể làm luôn hàng chục bài, song chắc chắn không bài nào hay như bài thơ Lệ vừa ngâm.
Phong cụt hứng:
- Tại sao kỳ vậy thầy?
- Vì hai lẽ giản dị: Thứ nhất, thơ tự do dễ làm nhưng rất khó hay. Thứ nhì, em Phong không có tâm hồn thi sĩ, không có được những cảm xúc bén nhạy và tế nhị như thi nhân.
Phong tiu nghỉu lặng thinh, nhưng có vẻ còn ấm ức, chưa thỏa mãn với lời giải thích đơn sơ của thầy. Biết ý Phong, Hoàng day sang hỏi Lệ:
- Tại sao em Lệ thích bài thơ ấy?
Lệ ngập ngừng một lúc mới diễn đạt được ý nghĩ của mình:
- Em thích bài ấy vì lời thơ hồn nhiên và tứ thơ hàm súc, ca ngợi tuổi ngọc và tình thương với lối so sánh ngộ nghĩnh, dí dỏm, dễ thương. Bài thơ có tác dụng lành mạnh làm cho lòng ta phơi phới, yêu đời và yêu tất cả mọi người, chối bỏ chiến tranh, hận thù, máu lửa.
Phong gật đầu, chen vào:
- Em đồng ý với chị Lệ về nội dung bài thơ, còn về hình thức thì em không thể nào chịu được.
Lệ cũng không biết giải nghĩa thế nào. Lần này, nàng nhìn thầy Hoàng như cầu cứu. Hoàng cầm tờ báo đọc lại bài thơ rồi chậm rãi phân tích:
- Bài thơ này không có vần mà vẫn có nhạc nhờ tác giả khéo sắp xếp những tiếng bằng tiếng trắc trong nội bộ mỗi câu và nhờ những tiếng hoa, ngọc, thương láy đi láy lại như quyện vào nhau để tiết thành nhạc điệu. Thơ không vần mà có nhạc mới thật khó làm. Còn lối viết chữ không hoa, không chấm, không phẩy, chỉ là một hình thức chạy cho thời trang, cho lạ mắt, thích hợp cảm quan của những tâm hồn ưa lập dị, không chịu chấp nhận cái gì sẵn có, cái gì đã cũ.
Phong tươi cười hí hửng:
- Thầy giải nghĩa cái gì cũng hay hết, không như chị Lệ cứ ấp a ấp úng mãi.
Mặc dầu đã thỏa mãn, Phong vẫn còn ráng móc Lệ vào để chế giễu. Lệ háy em, nhoẻn cười như muốn nói: “Chị có phải là giáo sư văn chương đâu”!
Rồi nàng trở về với nội tâm, chìm đắm trong suy tư.
Ngẫm nghĩ một lúc lâu, Lệ mới phát biểu tiếp ý mình:
- Thưa thầy, em vẫn thấy bài thơ ấy chưa hợp hoàn toàn với quan niệm của em. Cái hoa tuổi ngọc đó chỉ hợp với em ngày xưa chớ không hợp với chúng em ngày nay, khi mà chiến tranh không buông tha cả những mái đầu xanh.
Tuổi ngọc ngày nay không những chỉ biết vòi quà mà còn biết thương đau, không những chỉ biết hé môi cười mà còn biết khóc hận.
Lan ngạc nhiên nói:
- Em Lệ hôm nay sao mà thao thao bất tuyệt!
Lệ như không nghe lời chị, hăng say bày tỏ cảm nghĩ của nàng, những cảm nghĩ thật ra nàng đã suy ngẫm từ lâu:
- Còn cái tình thương kia không biết hận thù, chiến tranh, máu lửa. Lý tưởng quá! Và xa vời quá! Sao lại không biết? Phải biết chứ, biết để càng thương yêu nhiều hơn nữa dân tộc mình đang lầm than, đất nước mình đang đau khổ vì chiến tranh, máu lửa, hận thù. Và tình thương phải đi đôi với niềm khao khát, với những hành động thực tế dù tối thiểu.
Lan chưa hết ngạc nhiên, dịu dàng hỏi Lệ:
- Niềm khao khát gì? Và hành động thực tế gì, hở em? Lệ nhìn thầy, nhìn chị, mắt sáng lên:
- Niềm khao khát hòa bình và hành động thực tế để mưu cầu hòa bình cho đất nước.
- Nhưng tuổi thơ thì biết hành động thế nào?
- Vì vậy em mới nói là tối thiểu. Ít ra cũng có thể bày tỏ niềm khát vọng ấy qua lời nói cho người lớn biết, qua văn thơ cho mọi người đều biết.
Từ nãy giờ Hoàng lặng im nghe cuộc đối thoại lý thú của chị em Lan. Và cũng như
Lan, chàng ngạc nhiên không kém.
Chàng không ngờ đứa học trò bé bỏng kia – mặc dù nàng rất xuất sắc trong lớp về Việt văn – lại có những cảm nghĩ thật nồng nhiệt và thật xác đáng mà những cô gái đồng lứa với nàng không thể nào có được. Phải chăng tài hoa của nàng đang độ phát triển? Phải chăng sự đau khổ dồn dập vì chiến họa đã giúp cho một kỳ hoa chớm nở và ngát hương? Chàng tươi cười, sung sướng bảo Lệ:
- Em Lệ có những nhận xét thất xác đáng. Em nên làm thơ, thầy tin em sẽ là một tài thơ đầy hứa hẹn.
Lệ bẽn lẽn cúi đầu:
- Thầy đùa làm cho em hổ thẹn. Em mà thơ với thẩn gì, thầy. Phong không còn giọng chế giễu nữa, nó thành thật nói với chị:
- Hôm nay trúng tủ chị rồi, phải không? Em thành thật phục lăn chị đó.
Thấy thầy khen em, Lan cũng vui sướng lây. Nàng cầm tờ tạp chí có đăng bài thơ của Lan Quân tặng mình mà cảm thấy bài thơ không còn gợi cảm như lúc mới nghe. Nàng thẹn thầm tự nhủ: “Phải chi anh Quân gởi tặng thẳng cho mình! Đăng báo làm gì bài thơ tình tứ ấy lúc này?”
Dù nghĩ vậy, nàng vẫn mân mê tờ tạp chí trên tay như muốn giữ gìn một lưu niệm quý giá.
Hoàng tinh ý nói:
- Tặng cô Lan tạp chí đó, để cô giữ làm kỷ niệm lời thơ an ủi của người xa. Lan dịu dàng đáp:
- Cám ơn thầy.
Câu chuyện văn chương chấm dứt đem đến cho mỗi người một nguồn cảm nghĩ khác nhau và tạo cho bầu không khí trong nhà thêm êm ấm, thân mật. Hoàng suy tư. Lan mơ mộng. Lệ sung sướng. Phong hí hởn.
Dưới ánh đèn, bốn hình dáng ấy thể hiện bốn nguồn sống tâm tư khác biệt, nhưng tạo được một bức tranh, hòa hợp linh hoạt về hình thức lẫn nội dung.
Phong bỗng ngẩng lên hỏi chị:
- Mấy giờ rồi, chị Lan?
Lan giơ tay lên xem đồng hồ:
- Mười giờ kém năm.
Phong thốt to lên với vẻ kinh ngạc:
- Ủa, chừng này sao chưa nghe tiếng bom, đại bác moọc chê gì nổ hết vậy cà! Lan hỏi:
- Bộ em nhớ mấy thứ tiếng đó lắm hả?
- Nghe quen thì nhớ chừng vậy chớ ai ưa gì mấy thứ tiếng đó chị.
Nơi đây đêm đêm mọi người đều quen nghe những tiếng súng nổ, bom rơi, có khi thật xa, có khi rất gần. Nhiều đêm phải giật mình thức giấc cả chục lần vì những tiếng nổ gần, rung chuyển cả nhà cửa. Không ngủ được thì nằm nghe tiếng súng.
Thét rồi từ lớn tới nhỏ, ai cũng phân biệt được tiếng nổ của loại bom gì. Có người tinh tế hơn còn phân biệt cả tiếng pháo kích ra thì còn nằm yên trên giường, nếu pháo kích vào thì lật đật gọi nhau chui xuống hầm trú ẩn.
Có người – như Hoàng chẳng hạn – hay nằm nghe tiếng đạn reo luồn trong không gian để đoán xem nó dừng lại ở một vị trí nào, vào khoảng thời gian nào.
Nghe thét thành quen lệ. Phá lệ thì nhớ chừng. Thói quen nhớ chừng ấy chẳng những riêng Phong, mà là tâm trạng của đa số người sống ở thôn, ấp và cả ở tỉnh, quận nữa.
Nghe Phong nói, Lan mỉm cười:
- Đêm nay họ nghỉ xả hơi một bữa, cho chị em mình ngủ yên một giấc, khỏi giật mình.
- Chưa chắc đa, chị.
Phong vừa đáp dứt thì một tiếng nổ vang lên. Tiếng đạn réo ngang nóc nhà nghe ớn lạnh cả xương sống. Lệ lật đật hỏi:
- Pháo kích ra hay vào vậy thầy?
- Pháo kích ra.
Mặc dù nghe thầy bảo: “Pháo kích ra”, ba chị em Lan cũng quen lệ ở nhà quê, vội vàng chun xuống hầm trú ẩn. Từ ngoài có tiếng Hoàng vọng vào:
- Ba chị em vào hầm, rán chịu muỗi đốt, đợi im tiếng nổ rồi hẵng lên. Chắc không lâu đâu.
Lệ hỏi to:
- Thầy không vào hầm sao, thầy?
- Không, thầy đang xem hỏa châu chiếu xuyên qua song cửa sổ, bầu trời sáng như ban ngày.
Phong cũng nói to:
- Hỏa châu mà đẹp gì, thầy. Em ghét hỏa châu vô cùng, em ghét hỏa châu như ghét tiếng súng nổ.
Hoàng mỉm cười nghĩ thầm: “Tuổi thơ mà ghét hỏa châu thì cũng lạ!”
Trong hầm, Lệ cũng liên miên nghĩ ngợi: “Hỏa châu đẹp như pháo bông ngày Tết. Giá đừng có tiếng súng phụ họa, hỏa châu là một hình ảnh thú vị của tuổi thơ”.

Bên ngoài, có tiếng gió reo từng chập. Rồi một cơn mưa tầm tã trút xuống.
Tiếng gió, tiếng mưa, tiếng súng hòa thành một bản nhạc man dại, rùng rợn. Lệ bỗng nghĩ: “Không nhạc sĩ nào sáng tác nổi bản nhạc này, nếu loài người suốt đời phải nghe những bản nhạc như thế thì cõi trần chỉ là một địa ngục”.
Gió vẫn reo… mưa vẫn gào… Súng vẫn thét…
 Kỷ Dậu 1969
Thẩm Thệ Hà
Theo https://vietmessenger.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đinh Hùng

Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của  Anatole France, "Tôi đi học"  của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đ...