Thứ Năm, 23 tháng 12, 2021

Gương người xưa 1

Gương người xưa 1

I. MỘT VÕ SINH VIỆT-NAM HẠ MỘT GIA TƯỚNG LỪNG DANH CỦA LƯU-VĨNH-PHÚC
Tại dinh khâm sai, một tiệc khai xuân được tổ chức để khoản đãi Lưu Vĩnh Phúc và các thuộc hạ thân tín của y trong số có Lý Bá Tân, một gia tướng võ nghệ cao cường mà Lưu rất tín dụng, coi như người số 1 trong bọn tướng chân tay.
Khâm sai Hoàng kế Viêm đem hết các món sơn hào hải vị để thết khách quý.
Vua Tự Đức đang lâm vào một tình cảnh bê bối ở miền Bắc: giặc Cờ Đen mà tướng soái là Lưu Vĩnh Phúc đã xâm chiếm các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang, cướp bóc nhân dân, ai ai cũng ta thán. Đến khi vua Tự Đức sai sứ sang Trung Quốc để yêu cầu gởi binh sang dẹp giặc thì Trung quốc gởi tướng Bình Trung Nguyên qua Việt Nam, tướng này lại a tòng với Lưu Vĩnh Phúc mà thao túng cho giặc cướp bóc nhân dân hơn nữa. Bởi vậy Khâm sai Hoàng Kế Viêm mà triều đình phái ra Bắc dẹp giặc Cờ Đen, phải khôn khéo lắm: một mặt mua chuộc lòng các tướng lãnh của giặc, một mặt huy động binh sĩ tiễu trừ các nhóm Cờ Đen rải rác ở thượng du coi như chúng không còn liên hệ gì đến các tướng lãnh của chúng nữa.
Vì đó, Lưu Vĩnh Phúc thường lui tới dinh Khâm sai như một người không còn điều khiển giặc Cờ Đen nữa. Một mặt Lưu dung thứ cho đám đàn em của mình cướp bóc, hoành hành, một mặt lại giao du thân mật với Khâm sai Hoàng Kế Viêm để hưởng những sự ưu đãi của triều đình. Vả lại Lưu Vĩnh Phúc lúc nắm tay với tướng Bình Trung Nguyên của Trung quốc phái qua Việt Nam dẹp giặc, đã đương nhiên như một vị tướng của Trung quốc và bề ngoài làm ra vẻ như đã giải tán binh lính của mình, chỉ còn một số tàn quân sống về cướp bóc.
Lưu đến dự tiệc khai xuân do Hoàng Kế Viêm mời, đem theo cả Lý Bá Tân nữa. Người Việt Nam thường gọi Lý là Chú Xìn sau khi đã nghe danh của y, hay được chứng kiến tận mắt các cuộc biểu diễn võ nghệ của y trên võ đài. Chú Xìn mới 24 tuổi, tính kiêu ngạo, hách dịch. Nhằm lúc vui xuân, y đã nhấp vài ly Bồ Đào mỹ tửu, cao hứng lên, nói với Hoàng Kế Viêm rằng:
- Nước ông muốn yêu cầu nước tôi giúp sức dẹp giặc thì các ông phải có người tài giỏi trước đã. Tôi nghe nói ông nuôi một số võ sinh hầu cận dưới trướng hẳn là người tinh thông võ nghệ lắm. Ông hãy cho một cậu nào ra thí võ với tôi vài hiệp cho vui gọi là thưởng mùa Xuân mới. Tôi chỉ dùng một cây kích còn võ sinh của ông muốn dùng khí giới gì cũng được; không nói gì đến việc thắng tôi, riêng chỉ đụng được đến chiếc lông bào gắn ở đầu ngọn kích cũng được coi là tài giỏi rồi Khâm sai Hoàng Kế Viêm đang muốn lấy lòng các tướng Tàu, cố giữ khiêm tốn, tìm lời khôn khéo từ khước cuộc thí võ.
Chú Xìn bèn cả cười, nhấp thêm ly rượu nữa, rồi cầm cây kích bá chiến bá thắng của y ra giữa sân khoe tài. Các đường kích của y thật là kín, vùn vụt như thổi, nhẹ nhàng như tên bay, che kín cả bốn phía, trông rất ngoạn mục. Lưu Vĩnh Phúc ngả lưng trên sập gụ khảm xà cừ, hút vài điếu thuốc phiện, sau khi đã mãn tiệc rượu. Y lim dim cặp mắt, hỏi Hoàng Kế Viêm:
- Tướng quân có người nào đủ sức địch được với tên gia tướng của tôi không? Xin đừng nề hà gì, cứ cho ra thử sức.
Hoàng Kế Viêm vẫn kiếm lời khiêm tốn để chối từ.
Múa xong vài đường kích, Chú Xìn đi đứng ngạo nghễ, bước tới bàn vị Khâm sai mà hất hàm hỏi cách kiêu căng:
- Thế nào? Đã có ai chưa?
Các võ sinh hầu cận Khâm sai tức lắm. Rồi bỗng một cậu nhảy xuống sàn; Hoàng Kế Viêm đưa mắt ngăn cản không kịp. Lý Bá Tân (tức Chú Xìn) ngắm thẳng vào mặt võ sinh ấy, nhìn từ đầu đến chân mà mỉm cười:
- Anh dám thí võ cùng ta à?
- Tôi đâu dám. Chẳng qua tướng quân rộng lượng muốn cho tiểu sinh này lên võ đài để mua vui và học thêm võ nghệ của tướng quân nên tiểu sinh chẳng quản tài bèn sức mọn, chỉ cầu giúp vui trong ngày đầu xuân.
Việc đã dĩ lỡ, không ngăn cản được, Hoàng Kế Viêm phải ưng thuận cho lập võ đài. Lưu Vĩnh Phúc vuốt râu, cười ha hả:
- Được lắm! Vui xuân thì ta đừng nên quá rụt rè, e ngại. Lý tướng quân tuy võ nghệ cao cường nhưng sẽ nương tay với những người còn non nớt, để cho các em có dịp học tập thêm… 
Ba hồi chuông đổ, báo hiệu hai đối thủ thượng đài. Họ Lý dùng ngọn kích sở trường của y, còn võ sinh Việt Nam xin lựa món côn.
Một tiếng chiêng nổi lên ngân ra 4 hướng: cuộc thí võ bắt đầu. Lý Bá Tân múa cây kích chỉ trong vài phút rồi đâm thẳng vào đối thủ Việt Nam toan kết thúc mau lẹ để khiêu khích thêm vài người nữa thượng đài. Y đã dự tính phải hạ được ít lắm là 5 mạng để gây thêm uy tín.
Ngọn kích của Lý phóng ra mau như chớp nhưng võ sinh Việt Nam cũng lanh mắt, né kịp. Lý đã thấy khó mà chiến thắng dễ dàng; còn bên đối thủ Việt Nam thì chỉ giữ thế thủ, cố né tránh mấy đường kích hiểm độc kế tiếp của họ Lý, lần nào cũng tránh trôi lọt.
Lý tức lắm, bắt đầu nổi nóng, dở đến ngón kích cuối cùng mà y tin rằng đối thủ đỡ không kịp. Hai tiếng «Sát! Sát!» y vừa thét lên như sét đánh, với một niềm tin vững chắc là đâm chết được anh võ sinh Việt Nam, nhưng y có ngờ đâu chỉ trong nháy mắt cây côn của đối thủ đã giáng xuống đầu y như một cái búa ngàn cân. Lý Bá Tân nằm sõng sượt bất tỉnh, máu và óc ra lênh láng một vũng.
Hoàng Kế Viêm kinh hoảng vì biết rằng trận thắng này sẽ làm mất mặt Lưu Vĩnh Phúc. Song họ Lưu lanh trí, chữa thẹn:
- Tiểu tướng của tôi mấy hôm nay không được khỏe vì thời tiết ẩm thấp.
Cuộc thí võ kết liễu bằng một mạng danh tướng trên võ đài, vậy mà bên phía các võ sinh Việt Nam và các gia tướng của vị Khâm sai, không ai dám thốt ra nửa tiếng hoan hô cuộc thắng lợi của mình, vì ai cũng thông cảm sự thắc mắc của chủ soái.
Vụ này, Hoàng Kế Viêm cấm không cho tiết lộ trong dân gian, để khỏi gây khó khăn trong việc giao thiệp và việc thuyết phục tướng giặc Cờ Đen. Cho đến danh tánh võ sinh Việt Nam đã thâu được thắng lợi vẻ vang lẫy lừng đáng nêu gương, danh tánh võ sinh ấy cũng không được công bố, cốt sao khỏi làm bẽ mặt Lưu Vĩnh Phúc.
Vì vậy hậu thế, không ai biết rõ võ sinh ấy là ai.
II. BỮA TIỆC ĐẦU LÂU THẾT NGUYỄN-BIỂU
Sáng hôm nay cụ Nguyễn Biểu vâng lịnh vua Trần Trung Quang đến dinh Nguyên soái Trương Phụ để xin nước Tàu phong cho vua.
Trương Phụ được lịnh đem binh sang nước Nam để trừng phạt Hồ Qúy Ly bị tố cáo là phản nghịch vì đã chiếm đoạt ngôi vua. Lấy danh nghĩa giúp nhà Trần khôi phục ngai vàng, Trương Phụ muốn trấn tĩnh nhân tâm để lo tính mưu kế xâm lăng nước Nam. Thật sự y đến đâu cũng áp bức dân chúng, cướp đoạt tiền tài, tổ chức quận huyện đặt quan cai trị của y. Trong khi ấy cha con ông Hồ Qúy Ly đã bị bắt, vua Trần Trung Quang đã lên ngôi mà Trương Phụ không chịu biết đến. Y làm thinh xúc tiến việc củng cố vị trí đóng quân khắp các nơi hiểm yếu.
Dòng dõi nhà Trần còn có hai người tôn thất là Quý Khoáng và Giản Định thì Quý Khoáng bị quân Tàu bắt mất, Giản Định thoát tay chúng, được một số người cũ còn trung thành bảo vệ, mới lên ngôi vua.
Theo tục lệ thì mỗi khi có một vua mới là lại xin nước Tàu sắc phong. Nhưng sau khi nhà Hồ thất bại, nước Nam lâm vào cảnh bị xâm lăng thật sự. Về quân lực, nhà vua không có bao nhiêu, chỉ tự vệ chống với kẻ thù trong nước, đâu có sức đánh đuổi quân ngoại xâm.
Nước ta lúc này sống những giờ bi thảm, nhân dân đau khổ. Vận nước như treo trên sợi chỉ mành.
Bởi vậy cụ Nguyễn Biểu lãnh sứ mạng của vua, đến dinh Trương-Phụ, thật là đã làm một điều quá sức. Vào tới dinh của Nguyên soái nước Tàu, cụ cố giữ gìn quốc thể, không để cho bị nhục. Bận y phục Điện tiền ngự sử, mũ áo cân đai uy nghi, cụ trình với Trương-Phụ bức quốc thư của vua Trần.
Trương-Phụ muốn làm nhục bắt cụ phải quỳ để thi lễ như kẻ dưới đối với người trên. Cụ nhất định không quỳ, nhìn thẳng vào Trương Phụ mà dõng dạc nói:
- Tôi thay mặt vua nước tôi, không thể nào làm ô danh quốc thể mà quỳ lạy một vị nguyên soái của Trung quốc. Dù có mất đầu tôi cũng không quỳ, tánh mạng tôi hiện nay ở trong tay tướng quân, vậy tướng quân muốn làm sao thì làm.
Thấy lời lẽ khẳng khái của người khâm mạng triều đình nước Nam, tên tướng Tàu không dám giết vì y cho rằng sẽ thất nhân tâm. Vả lại, thế lực của y chưa xây dựng vững vàng cho lắm, y cần phải tạm ra vẻ thân dân trong lúc nầy.
Y bèn mời cụ Nguyễn-Biểu ngồi, rồi sau đó mở tiệc khoản đãi.
Khi tiệc dọn lên thì trên mâm rượu có đúng một cái đầu lâu người mới bị chém, máu me còn lai láng, hai mắt trơn trừng rất là ghê sợ. Đó là món ăn duy nhất để đãi khách với một nậm rượu cùng để trên mâm. Trương Phụ giơ tay mời: «Thỉnh tiên sinh».
Y để ý xem cụ Nguyễn Biểu có sợ hãi chăng trước cái đầu lâu cảnh cáo cụ hãy coi chừng mất đầu lúc nào không biết.
Cụ Điền tiền ngự sử cảm thấy lúc này cụ lãnh một sứ mạng quan trọng lắm ; ở con người bé nhỏ, gầy còm của cụ không những có sự đại diện cho nhà vua mà còn cả một cái gì cao cả, vô giá hơn nữa: cái đó là sự đại diện cho Quốc-gia, Dân-tộc. Nghĩ vậy, cụ điềm đạm không hề biến sắc mặt trước mâm tiệc đầu lâu ấy; cụ ngồi vào bàn tiệc với thái độ thản nhiên. Nguyên soái Trương Phụ để ý nhận xét từng cử chỉ cùng nét mặt của cụ.
Vị đại diện nhà vua rót rượu, cầm đũa, rồi nói với viên tướng xâm lăng:
- Chẳng mấy khi một kẻ tì tiện ở nước Nam như tôi được ăn đầu lâu của người Trung quốc. Tướng quân đã có lòng khoản đãi, tôi đâu dám từ chối.
Nói xong, cụ móc hai mắt của cái đầu lâu rồi nuốt trửng; cụ nhâm nhi uống rượu như trong các tiệc yến lớn. Trương Phụ nghe thông ngôn dịch lại câu nói của cụ Nguyễn Biểu, biết dụng ý sâu sắc của vị quan đại triều muốn xỏ xiên mình, nói đá động đến «cái đầu Trung quốc». Y căm tức nhưng thấy khí phách hiên ngang của cụ Nguyễn Biểu, y cho rằng cụ không phải người thường. Các tướng tá của y thấy cụ can đảm quá, cũng rùng rợn cho rằng dân nước Nam không phải là tầm thường, dám ăn gan uống mật quân thù lắm. Chúng ngấm ngầm khen phục.
Sau bữa tiệc đầu lâu, – bữa rượu độc ẩm này, - cụ Nguyễn Biểu đứng lên ra về. Trương Phụ không cầm giữ.
Cụ vừa ra khỏi dinh, thì dưới trướng của nguyên soái Trung quốc, có ba bốn người đứng ra, tranh nhau nói tiếng Việt Nam cho thông ngôn dịch lại để Trương Phụ nghe:
- Dạ dạ! Kính bẩm Tướng quân tha cho Nguyễn Biểu về thì chẳng khác nào thả cọp về rừng. Nó là một kẻ có thế lực lắm. Nó âm mưu xúi giục nhà vua không thần phục quý quốc, đi cổ võ nhân dân nổi lên giết hại quân sĩ của Tướng quân đó. Nếu Tướng quân không bắt giam nó thì hậu họa không biết sẽ lớn chừng nào.
Trương Phụ nói:
- Nhưng ta sợ chém nó thì thất nhân tâm.
- Không sao, Tướng quân cứ đem trầm hà, rồi phao tin rằng nó chết đuối là êm chuyện.
Trương Phụ cả cười khen là diệu kế, y liền sai quân chạy theo cụ Nguyễn Biểu «mời trở lại để nói chuyện».
Chẳng cần nói rõ, chắc bạn đọc cũng hiểu ba bốn người Việt bàn mưu lập kế cho Trương Phụ là hạng người nào rồi.
Nguyễn Biểu được mời trở lại nói chuyện, cụ vô tình tưởng là Trương Phụ muốn hỏi thêm điều gì, nên không để ý.
Cụ vào dinh Trương Phụ thì bị quân sĩ bắt trói lại, Trương Phụ cười ha hả nói lớn:
- Nhà ngươi đã can đảm ăn đầu lâu người Trung quốc thì nhà người thử can đảm đi thăm vua Thủy xem sao.
Lúc này đã xế chiều, bọn quân Tàu bàn tính đem cụ Nguyễn Biểu ra cột chân cầu Rú Thành (thuộc tỉnh Thanh Hóa tại Châu Hoan là nơi Trương Phụ đóng quân). Nước Thủy triều đang dâng lên rất mau, cụ Nguyễn Biểu sẽ chết ngộp, còn hơn là thả cụ xuống sông, nước sẽ trôi cụ đi nơi khác cụ có thể được người ta vớt lên, giúp thoát chết.
Mưu kế quyết định rồi chúng thi hành.
Biết mình sắp chết, cụ Nguyễn Biểu điềm nhiên cho kẻ thù thấy rõ can trường của dân tộc, cụ ung dung chịu đi theo quân sĩ Tàu dẫn ra dưới chân cầu Rú Thành.
Nước dâng lên, tràn ngập đến đầu gối, đến bụng, đến ngực, đến cổ, đến mồm, đến mũi. Cụ Nguyễn Biểu chờ từng phút đến cái chết lạnh lùng đến với cụ. Cụ mỉm cười lần cuối cùng rồi nhắm mắt vì biết rằng cụ được chết vì quốc gia, dân tộc.
III. LƯỠI DAO NHỌN TRONG ĐÒN BÁNH TÉT
Khám đường An giang vô cùng buồn thảm.
Trời tối đen như đau thương sắp phải chứng kiến một tấn bi kịch. Cảnh tượng lại càng bi đát hơn, khi chuyển mưa, sấm sét vang động.
Bốn phương mây kéo tối sầm
Ô! hay! Trời cũng âm thầm vì ta!
Cậu Trần văn Chái nghiêm nét mặt, trầm ngâm, vì cậu sắp phải quyết định một việc quan trọng: sống hay chết? Sống để tiếp tục nối chí cha, phục thù nước. Chánh đáng lắm rồi! Nhưng liệu có sống nổi không? Huống chi quân lính của Pháp canh gác cẩn mật, một mình nằm trong phòng giam, hai chân bị cùm, mong gì tháo cũi xổ lồng nữa. Hùm thiêng đã lỡ bước sa cơ, khó an toàn được tánh mạng.
Vậy chỉ còn cái chết. Chết đi để cho khỏi phải bị chém dưới tay của kẻ thù và để lại tấm gương khí khái cho đồng bào và ghi lại một vết son cho người khác noi theo mà tiếp tục kháng chiến giành độc lập cho đất nước. Sau nữa chết là để cho người Pháp biết rằng con trai nhà anh hùng Bảy Thưa không phải là một con người ham muốn trong khi phụ thân đã đền nợ nước ở chiến trường.
Cậu Chái, lấy con dao của mẫu thân gởi vào, con dao nhọn sáng quắc dài chỉ bằng ngón tay út, để trong ruột đòn bánh tét và bao gọn trong bức thơ viết vắn tắt có mấy chữ: «Con liệu mà xử sự; nếu khó thoát khỏi pháp trường thì nên chết bằng lưỡi dao hùng tráng này».
Bà mẹ khẳng khái đã từng theo thân phụ cậu vào tử ra sanh, nay lo cả đến cái chết của con cho không bị hoen ố.
Trần Văn Chái quay đầu về hướng Nam, trầm tư nhớ đến mẹ lần chót rồi ăn hết đòn bánh tét, món quà cuối cùng của mẹ. Cậu lẩm nhẩm khấn thầm: «Kính thưa mẹ, Tây nó dụ con hàng để an dân và xây vững nền thống trị của nó. Con đâu dám làm nhục vong hồn cha. Không giúp tay cho Pháp thì chắc là tánh mạng không còn. Vậy con xin nghe theo lời mẹ».
Cậu Chái vuốt quần áo cho ngay thẳng rồi nằm xuống, cầm con dao bén, đâm thằng vào cuống họng.
Trời thảm đất sầu. Bên ngoài cơn mưa trút xuống như tín đổ.
Thế là rồi cả một dòng họ nhà ái quốc Trần văn Thành. Quê mà người đương thời hồi ấy chỉ dám gọi là «Đức Cố Quản» chớ không dám động đến tục danh.
Tại sao gọi là «Đức Cố Quản»?
Nguyên là ông Trần văn Thành. Quê làm quản binh, trông nom một cơ binh, ở biên giới An Giang - Cao Miên, chống giữ bờ cõi, dựng được lắm chiến công oanh liệt nên người đương thời không dám gọi là ông Quản mà gọi là Cố, tâng lên hàng «Cố». Khi đối thoại với ông và ở ngoài dân chúng thì gọi thêm là «Đức Cố Quản» cũng như Đức Vua, Đức Ngài, v.v…
Sanh trưởng trong một gia đình trung nông, có lẽ vì vậy mới có tòa Thành Quế, - ông là người làng Bình thạnh Đông quận Châu Phú hạ, tỉnh Châu Đốc. Hồi ấy là cuối thế kỷ 19, quân Pháp đang hoàn bị cuộc chinh phục xứ Nam kỳ. Vua nước ta phải nhường cho thực dân hết tỉnh nọ đến tỉnh kia. Tại miền Nam, có những phong trào khởi nghĩa chống Pháp nổi lên dưới mấy danh nghĩa: «Cần vương», «Bình Tây - Sát tả», «Dân chúng Tự vệ»… Bốn vị anh hùng cầm đầu các phong trào ấy còn ghi danh lịch sử là: Trương công Định, Nguyễn trung Trực, Võ duy Dương và Nguyễn hữu Huân.
Khi thất bại, các nhà ái quốc ấy sức cùng lực cạn, không còn đương đầu được với súng đồng, tàu chiến của quân xâm lăng nữa, cho đến năm 1873 mới tạm ngưng.
Cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa có thể gọi là cuộc khởi nghĩa chót của đất Đồng Nai.
Pháp đã buộc triều đình Huế nhượng nốt ba tỉnh miền Tây là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên cho họ.
Lâm vào một tình cảnh một người dân mất nước, ông Quản Cơ không cam chịu cúi đầu mà khuyên binh sĩ của ông rút về vùng Láng Linh, sát rừng Bảy Thưa để chờ cơ hội. Láng Linh phía bắc giáp núi Sam, đông giáp sông Hậu giang, tây giáp Thất sơn, nam là rừng Bảy Thưa, thật là lợi địa cho công cuộc kháng chiến.
Các binh sĩ cũ của ông về đây khai hoang, lập ruộng sống một cuộc đời chờ đợi.
Tuy là một nhà ái quốc luôn luôn nghĩ đến việc giải thoát non sông bằng võ lực, ông Cố Quản thức thời, thấy dân chúng còn mê tín dị đoan nên phải liệu gió phất cờ, lợi dụng tín ngưỡng của dân để hướng về chánh nghĩa.
Vì thế ông lên núi để thọ giáo với đức Phật Thầy Tây An và được Phật Thầy coi như tín đồ số 1 sẽ nối chí Ngài sau này truyền giáo trong nhân dân.
Uy tín của ông Cố Quản càng tăng lên nữa,
Trong đời hành đạo của ông có hai việc được truyền tụng khắp dân gian, làm cho người đời thêm tin ông có phép thuật mầu nhiệm. Có lẽ ông phải dùng mánh lới này để gây một lòng tin mãnh liệt trong đám nông dân. Đây hai việc được truyền khẩu trong dân chúng:
Trong làng ông có một người dân tranh nhau đất cát với một người Cao Miên rồi bị tên này thư cho lớn bụng. Theo khẩu truyền thì phép thư là một tà thuật mà người Miên hồi đó thường sử dụng để làm hại kẻ thù: họ hóa phép cho một vật biến thể nhỏ lại hột mè, rồi đổ vào đồ ăn cho kẻ thù vô tình ăn phải: thế là ít lâu, bụng chướng lên vì món vật bị thư vào bao tử, lần lần hiện nguyên hình. Có khi họ thư con gà vào bụng, có khi thư tảng đá.
Người nông dân nói trên đây bị thư lớn bụng, phải đến cầu cứu ông Cố Quản giải thư cho. Ông bèn viết mấy chữ nho vào tờ giấy bản (giấy mỏng) đốt ra tro, hòa nước cho anh uống. Kết quả anh đi tiêu không biết bao nhiêu nùi tóc rối, hết nùi nọ đến nùi kia. Bụng anh xẹp lại, anh hết bịnh.
Tên Thổ căm tức lắm vì Đức Cố Quản đã thắng tà thuật của y.
Y quyết trả thù ở ngay chính ông, lợi dụng hôm mồng một đầu tháng, thiện nam tín nữ lên núi Sam cúng Phật và nghe Đức Cố Quản thuyết pháp. Y cũng đi theo và thư vào bình trà của ông một thỏi sắt. Thỏi sắt này đã biến thành một hột nhỏ xíu, mắt người không thấy được.
Đức Cố Quản thản nhiên uống trà thuyết pháp.
Vài hôm sau, tên Cao Miên đến dọ tin tức thì được gia nhân Cố Quản cho hay rằng ông đi tiêu ra cả một thỏi sắt. Tên Thổ không thể hại ông đau ruột, đành phải đến tạ tội và xin tòng phục để học đạo với ông.
Nó đã cải tà quy chánh từ đó.
Hai câu chuyện trên đây là hoang đường khó tin, nhưng biết đâu đó chỉ là một đòn chiến tranh tâm lý mà ông Cố Quản cho truyền khẩu đi khắp nơi để gây niềm tin trong đám quần chúng còn nặng óc dị đoan.
Biết đâu ông Cố Quản chẳng là một người rành tâm lý, đã xếp đặt hai vụ «đấu phép» để quy phục nhân dân, tăng thêm binh số, chờ ngày khởi nghĩa.
Binh ngũ đàng hoàng, ông Cố Quản đã lập doanh trại trong rừng Bảy Thưa rồi tuyên bố đặt tên quân đội là «Binh Gia Nghị».
Sau 3 năm im hơi lặng tiếng, nhân dân An Giang lại được nghe danh «Đức Cố Quản».
Rừng «Bảy Thưa» có 6 cây số chẳng biết có phải do tay người uốn nắn không mà bên trên xòe hình tròn như sáu cái lọng. Có lẽ ông Cố Quản muốn cho dân chúng tin là điềm trời báo trước sẽ khôi phục giang sơn đất nước, sáu cái lọng tượng trưng cho uy quyền nhà vua dân Nam Kỳ đã thành dân thuộc địa Pháp nhưng còn nặng óc tôn quân.
Dân chúng kính cẩn gọi rừng nầy là «Bảy Thưa Sáu Lọng» với cả một hoài vọng rằng triều đình Huế sẽ khắc phục được 6 tỉnh đã mất.
Cuộc kháng chiến của «Binh Gia Nghị» thật là mãnh liệt và gây cho quân Pháp những tổn thất nặng nề. Pháp đem tiền bạc ra mua chuộc dân chúng để đưa đường chỉ lối cho họ vào tới rừng «Bảy Thưa» nhưng vô hiệu quả, không ai ham tiền mà cho Pháp biết doanh trại của «Đức Cố Quản». Hết bị tập kích ở Tỉnh Biên, đến bị bao vây ở đồn cây Mít, Pháp quân xính vính nhiều phen.
Một hôm quân lính bắt được một tên thổ chạy vào rừng Bảy Thưa, nghi nó làm nội công cho Pháp bèn đưa ra tra tấn. Y khai tên Nguồn và nói rằng vì đi săn bắn đuổi theo một con hươu bị trúng tên, y không biết đường mới lạc vào nơi cấm địa.
Việc này được đưa lên ông Cố Quản phân xử. Ông nhìn hình dáng Thổ Nguồn, tin là y lạc đường thật nên trả tự do cho y.
Ông có ngờ đâu hậu họa sẽ xẩy đến vì tên Thổ trả thù.
Thổ Nguồn khúm núm lạy tạ, nhưng đã phác họa trong đầu cả một mưu mô làm phản. Y lấy một cây lác khô, bẻ nhỏ, rải trên đường từ rừng Bảy Thưa ra, để sau này dễ nhận đường.
Ra tới tỉnh lỵ, y đến đồn binh Pháp xin làm người dẫn đường cho quân Pháp tiến vào rừng Bảy Thưa.
Một trận quyết liệt được chuẩn bị, Pháp đã tìm ra đường lối vào tận doanh trại của Đức Cố Quản. Họ huy động súng đồng, tàu chiến đủ cỡ, kéo từ Saigon xuống An Giang. Từ tỉnh lỵ, đại đội binh mã được chở đến rừng Bảy Thưa.
Trận chiến vô cùng mãnh liệt. Quân sĩ của «Binh Gia Nghị» bị đánh bất ngờ, trở tay không kịp, tổn thất nặng nề. Suốt mấy ngày súng thần công đại bác khạc tứ tung bất phân biệt quân và dân.
Sau trận này, Pháp được tin ông Cố Quản đền nợ nước. Con trai ông là cậu Trần văn Chái bị bắt với một vết thương nơi cánh tay.
Tân binh của ta rút đi nơi khác, bỏ lại một khu rừng âm u hiểm trở.
Quân Pháp đổ xăng vào doanh trại đốt hết khu rừng rậm. Bị hỏa thiêu một phần, nơi đây chỉ còn lại những thân cây xơ xác cháy đen.
Bà cố được hung tin trong khi bà cùng gia quyến đã tản cư ra khỏi miền Láng Linh từ tháng trước. Bà đau đớn vô cùng. Một bạn cũ của ông Cố Quản biết chỗ ở của bà, xin với quân Pháp để cho mình làm trung gian đến dụ hàng. Ông muốn bà khuyên cậu Chái, con của ông Cố Quản, ra cộng tác với Pháp, kêu gọi dân chúng chấm dứt cuộc đề kháng.
Nhưng bà hiền mẫu tiếp ông bạn cũ của chồng với những lời khẳng khái:
- Tôn huynh hẳn nhớ chuyện bà từ mẫu Từ Thứ chớ!
- Dạ có biết. Nhưng đó là chuyện đời xưa. Còn ngày nay không giống ngày xưa, ta sống phải theo thời và tùy thời.
- Từ Thứ quy Tào thì bà Từ Mẫu đã thắt cổ. Tôi không muốn con trai tôi lầm lỡ như Từ Thứ
Ông bạn cũ biết không thể nào xoay chuyển được lòng cương quyết của một phụ nữ quả cảm, nặng lòng yêu nước. Ông gợi đến tình gia tộc:
- Tẩu tẩu đừng quên rằng tôn huynh có một đứa con trai để nối dõi tông đường. Tẩu tẩu không sợ nếu rủi ro cho thằng cháu thì tôn huynh tuyệt tự sao?
- Ồ! Nghĩa gia đình nặng thật! Nhưng còn nợ nước không thể coi nhẹ bằng lông.
Bà cố chùi nước mắt, lui vào trong. Khách cũng cáo từ ra về.
Bà làm một việc tầy trời: đòn bánh tét của bà gởi vào cho con trong khám đường là món quà chót của bà mẹ và con dao bén sẽ dùng cắt đứt cuộc đời của nhà ái quốc trẻ tuổi.
Con dao anh dũng ấy cắt luôn cả dòng họ Đức Cố Quản.
IV. MÁU ANH HÙNG NHUỘM ĐỎ TÒA ÁN THỰC DÂN
Tại thành cửa Bắc, hôm 14-4-1887, một vụ tự sát rùng rợn và bi đát đã diễn ra trước phiên tòa án quân sự do Thống sứ Bi-Hua (Bi-hourd) chủ tọa. Vụ này các cụ già người Bắc còn nhớ mãi và thường gọi nôm na là vụ «móc mắt moi gan» hay có khi thanh nhã hơn thì gọi là vụ «Tán Cao».
Hỏi người già, ai cũng nhớ vụ ấy, song mỗi người kể một cách khác, vì là một vụ án xử kín, tòa nhóm trong trại lính, dễ mấy ai được chứng kiến. Họa chăng chỉ còn những sử liệu của người Pháp đương thời chép để lại cho hậu lai biết vụ «Tán Cao» là vụ gì? Các cụ già kể lại cho con cháu chỉ biết đại khái ông Tán Cao đã bị xử trảm, bêu đầu nơi công cộng, vì theo đảng Văn Thân đánh Pháp. Có thế thôi…
Bị cáo nhơn là Ông Nguyễn Cao làm chức Tán ly Quân Vụ dưới thời Hàm Nghi, nên người ta gọi là Tán Cao, cũng như ông Tán Thuật mà tên chính là Nguyễn Thiện Thuật.
Hai ông Tán Thuật và Tán Cao đã là đồng chí với nhau, cùng gây ra cuộc kháng chiến chống Pháp ở Bãi Sậy (Hà Nội). Người Việt Nam hồi Pháp thuộc được nghe sơ cái danh từ «Giặc Bãi Sậy».
Hai người cùng tham gia cuộc khởi nghĩa này, dưới hiệu cờ Cần Vương năm 1885-1886. Khi bị thất bại, ông Tán Thuật đang ở mạn ngược (miền thượng du Bắc Việt) vượt biên giới qua Tàu rồi bôn ba nơi đất người. Còn ông Tán Cao bị bắt.
Tại sao lại còn danh từ vụ án «móc mắt moi gan» mà một nhà nho cảm khái vịnh thành bài thơ bát cú, chúng tôi chỉ còn hai câu sau:
«Móc mắt luống căm phường cướp nước
Moi gan cho thấu giống hùng anh».
Có danh từ nói trên là vì ông Tán Cao đã dám móc mắt moi gan trước phiên tòa, làm cho Thống sứ Bihourd và các võ quan ngồi xử đều xanh máu mặt và ngạc nhiên thấy dân tộc Việt Nam gan dạ có thua kém gì dân tộc Nhật Bổn đã nối tiếng về tục Ha ra Ki ri.
Trước khi nói đến phiên tòa «đẫm máu» ấy, xin bạn đọc hãy biết qua thân thế Ông Tán Cao.
Người có can đảm tự móc mắt moi gan ấy lại có một bà mẹ cũng ghi tên trong trang sử liệt nữ vì bà đã có một cử chỉ bi tráng không kém: cắt vú trước bàn thờ chồng để cho khỏi lọt vào tay một nhà quyền thế.
Chánh sử không chép tên bà, song dã sử nói đến «thân mẫu của Ông Tán Cao». Bà là người làng Cát Bì tỉnh Bắc Ninh, lấy chồng người cùng làng, vốn là một nho sĩ thanh bạch. Khi bà có thai sắp đến ngày sanh nở, thì chồng bà từ trần.
Sẵn nhan sắc, bà lọt vào mắt xanh một người giàu, có thần thế trong làng. Ông nhà giàu cho người dụ dỗ bà làm vợ bé. Bà biết rằng không thuận, thế nào tên gian ác kia cũng hãm hại, nên dùng kế hoãn binh, xin phép cho mãn tang chồng bà sẽ về làm vợ bé nhà phú hộ.
Ba năm sau, ngày cúng mãn tang được cử hành trọng thể. (Nhà phú hộ khấp khởi mừng thầm sẽ được thỏa mãn).
Người quả phụ mặc đồ tang, khấn vái trước bàn thờ, khóc lóc một hồi rồi rút con dao bầu ra (dao giết heo) cởi phanh áo, cắt cả cặp vú. Máu chảy ra lênh láng, bà ngã khuỵu trước bàn thờ và một lúc sau đi theo hồn chồng về bên kia thế giới.
Dưới chế độ phong kiến, người mẹ cô đơn muốn trọn tiết đã đành bỏ lại đứa con mới trên ba tuổi, vừa thôi bú.
Người trong họ phải nuôi đứa nhỏ ấy lớn khôn.
Nguyễn Cao mồ côi cha mẹ, sống nhờ bà con họ hàng.
Đi thi đậu tới thủ khoa, thanh niên ấy mang một hoài bão lớn, muốn có võ nghệ cao cường để phò dân giúp nước. Lúc ấy Pháp đã chiếm đất Nam Kỳ và chờ ngày tiến ra Trung, Bắc. Hơn nữa, ở ngay đất Bắc, giặc nổi lên tứ tung, nào Cờ Đen, Cờ Vàng, Cờ Trắng, đều là dư đảng của bọn Thái Bình Thiên Quốc thất bại ở bên Tàu, tràn qua biên giới, hùng chiếm mỗi nhóm một vùng trên mạn ngược.
Nguyễn Cao không đếm xỉa gì tới chức thủ khoa của mình mà chỉ nghĩ đến nhiệm vụ trai thời loạn, lắng tai nghe tiếng gọi của Tố Quốc. Học võ khá giỏi rồi, ông được Tổng Đốc Hà Ninh Vũ Trọng Bình để ý. (Hồi ấy hai tỉnh Hà Nội và Bắc Ninh đặt dưới quyền một vị Tổng Đốc). Vị quan này được triều đình cử ra dẹp giặc và được binh quyền rộng rãi đến tận vùng Tuyên Thái Lạng (Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn).
Nghe danh Nguyễn Cao, ông mời Cao đến và xin vua phong cho chức Thương Tá đặc trách quân vụ.
Năm sau, chỉ một năm thôi, ông Nguyễn Cao đã tổ chức xong bộ máy quân sự, điều binh khiển tướng, cùng ông Ích Khiêm phát ra trận đánh lớn giết được tướng Ngô Côn là lãnh tụ bọn giặc Tàu, dư đảng Thái Bình Thiên Quốc.
Sau chỉ còn nhóm Cờ Vàng của Hoàng Sùng Anh còn mạnh thế ở Thượng Du ; giặc Cờ Đen thì hàng đầu ; giặc Cờ Trắng tan nát, còn những tốp lẻ tẻ, cướp bóc nhân dân mà người là gọi là giặc « Cỏ ».
Tôn thất Thuyết và Hoàng Kế Viêm được triều đình phái ra Bắc quét nốt bọn Hoàng Sùng Anh và tổ chức lại việc cai trị miền Thượng Du cho vững chắc. Thuyết dẹp giặc xong, nhờ công Nguyễn Cao, xin vua cử ông này làm Án Sát tỉnh Thái Nguyên, có rộng quyển diệt Giặc Cỏ khắp vùng Thượng Du.
Năm ấy là Quý Mùi (1883)
Năm sau, (1884) bọn triều thần nhu nhược, cầu an, xúi vua ký Hiệp ước Bảo hộ cho quân đội pháp ra chiếm đóng Bắc kỳ và bảo hộ cho dân chúng Bắc; còn Nam Kỳ đã thành thuộc địa Pháp.
Đảng Cần Vương nổi lên khắp nơi.
Ngoài Bắc, các nhóm Văn Thân không chịu chế độ bảo hộ, kéo nhau tới Hải Dương, làng Xuân Dục, nơi đây có ông Nguyễn thiện Thuật, tức Tán Thuật, dựng cờ Cần Vương chống Pháp. Ông Nguyễn Cao đang làm Án sát tỉnh Thái Nguyên, cũng bỏ hết chức tước, một mình một ngựa phóng về Hải Dương, tìm ông Tán Thuật.
Chiêu tụ được đông Văn Thân rồi, ông Tán Thuật được tôn lên làm Minh Chủ, với chức nguyên soái điều khiển quân sĩ. Còn ông Tán Cao được cử lên chức Phó nguyên soái phụ tá ông Thuật.
Tổng hành dinh lúc đầu đặt ở Hải Dương, song các Văn Thân thấy tỉnh này ở vùng Trung Châu, gần Hà Nội quá, khó mà chống Pháp có hiệu lực, nhứt lại còn phải đề phòng thất bại, có đất lui binh.
Ông Tán Thuật bàn nên dời lên vùng thượng du có núi non hiểm trở, rừng rậm bao la có thể là đất thích nghi nhứt cho việc dụng binh. Ai cũng tán thành ý kiến ấy.
Tổng hành dinh dời lên Thái Nguyên là nơi ông Nguyễn Cao đã từng điều khiển quân mã, biết rõ địa hình và thổ dân… Ông nói rõ hết cho Chủ soái biết cách thức hành quân ở vùng này. Rồi ông xin mở mặt trận ở ngay Hà Nội, đánh vào những đồn binh Pháp. Các nhân vật trong bộ tham mưu tán thành và giao trọn quyền điều động binh mã cho ông.
Nguyễn Cao trở về Hà Nội, lựa Bãi Sậy làm nơi xuất binh.
Dân chúng nghe danh ông Tán Cao khởi nghĩa, ùn ùn kéo nhau tới xin đầu quân. Những binh sĩ cũ đã từng xông pha mặt trận, dưới quyền chỉ huy của ông đánh giặc Ngô Côn, biết ông là tướng giỏi nên kiếm đến xin đi theo chống Pháp.
Đủ lực lượng hùng mạnh rồi, Ông cho lịnh đánh phá các đồn Pháp.
Nhưng quân Bãi Sậy võ khí thơ sơ, chỉ có súng hỏa mai trong khi Pháp sử dụng thần công đại bác ; lòng ái quốc dầu có hăng hái nồng nàn đến đâu cũng khó đem sức trứng chọi với đá được.
Trong một trận giao phong, ông Nguyễn Cao trúng đạn suýt chết. Băng bó xong vết thương, ông không chịu nghỉ ngơi, bắt các người phụ tá để ông nằm trên cái chõng tre khiêng ra mặt trận, ông hô hào binh sĩ hăng say đánh giặc.
Các quân nhân thấy ông hy sinh, can đảm như vậy, lòng càng phấn khởi, quyết tiến không lùi.
Than ôi! Trứng chọi với đá, chẳng bao lâu quân Bãi Sậy bị đánh tan rã. Bãi Sậy chỉ còn là bãi đất hoang đầy dẫy xác chết, lênh láng máu đào.
Ông Tán Thuật ở mạn ngược cũng không chống cự nổi, phải lánh sang Tàu.
Một đồng chí của Ông là Đốc Tích ra đầu hàng Pháp để vinh thân phì gia.
Còn ông Tán Cao ở đâu? Ông đã tử trận chăng? Hay ông trốn thoát lên mạn ngược? Không biết tông tích ông đâu nữa.
Quân Pháp cho người nhận dạng các tử thi ở Bãi Sậy, không có tử sĩ nào giống Nguyễn Cao. Tra hỏi các tù binh, cũng không biết ông đâu mất.
Hồi đó có tên lãnh Nhung là một cánh tay đắc lực của Pháp và đã có công đánh Bãi Sậy. Anh ta tên Nhung, chẳng biết họ gì, chỉ biết có công nên được Pháp đặc cách cho lên chức lãnh binh.
Dân chúng gọi là ông Lãnh hoặc kêu trỗng là «Lãnh Nhung».
Lãnh Nhung bảo người Pháp treo giải thưởng rất lớn cho ai bắt sống hoặc lấy được thủ cấp Tán Cao, nhưng lòng ái quốc của dân Việt Nam không dễ gì mua chuộc. Một năm sau, vào mùa thu năm Đinh Hợi (1887) mới có một tia sáng sáng chiếu vào vụ Tán Cao.
Một bộ hạ của Lãnh Nhung ở Hà Đông báo tin cho y biết rằng tại một căn nhà lá làng Kim Giảng, Phủ Đình, thường có người lạ ra vào. Đây là nhà thầy Đồ Hoàng rất hay chữ, có nhiều môn đệ tới học. Hồi đó, vùng Hà-Đông thuộc về Hà-Nội, các người sắp đi thi đều vào tận làng Kim Giảng, xin thầy Hoàng giảng văn sách cho.
Thầy đồ được môn đệ các nơi thọ giáo rất đông.
Được tin mật báo có người khả nghi lui tới nhà thầy đồ, Lãnh Nhung bèn cho bắt một người đem về Hà-Nội tra khảo. Thì ra thầy đồ họ Hoàng là ông Tán Cao.
Ngay đêm hôm ấy, Lãnh Nhung được Thống sứ Pháp cấp cho một tiểu đội lính kỵ mã, hỏa tốc kéo vào Hà Đông, vây căn nhà lá của thầy đồ.
Nguyễn Cao ở trong nhà biết rằng chỗ mình ở đã bị bại lộ không còn chỗ nào thoát thân. Bên ngoài có tiếng loa nói vang dậy: « Bớ này Tán Cao, hãy mau đầu hàng ta sẽ cho an toàn tánh mạng ». Ông Nguyễn Cao khăn áo chỉnh tề, điềm nhiên như đi dự một đại lễ, ra mở cửa hỏi:
- Thằng Lãnh Nhung đâu?
Không có tiếng đáp. Song nhà ái quốc họ Nguyễn đã nhận diện một người ngồi trên lưng ngựa, đeo súng trên vai:
- À ra mày tới bắt tao! Lãnh Nhung à! Mầy muốn lấy đầu tao về nộp cho chủ soái để lấy thưởng thì đây cắt đầu ta đi. Mày muốn bắt sống ta chăng? Đây còng tao đi.
Do một hiệu lịnh của Lãnh Nhung, bốn tên lính lực lưỡng ập lại trói Nguyễn Cao, dẫn về Hà Nội liền đêm hôm ấy.
Một đêm tăm tối u ám, đất thảm trời sầu.
Hôm 14 tháng 4, tòa án quân sự Pháp nhóm để xử Nguyễn Cao. Vị anh hùng Bãi Sậy ung dung nhìn thẳng vào Thống sứ Bi-hua là chánh án.
Bi-hua nói:
- Anh biết nước Đại Pháp là một nước lớn, lại có lượng khoan hồng, anh khai hết đồng đảng, Đại pháp sẽ tha tội cho anh.
Bị can lạnh lùng không đáp.
- Tán Thuật hiện nay ở đâu?
- Ở ngay trong dân chúng. Mỗi người là một ông Tán Thuật. Có bắt thì bắt hết đi.
Biết là không mua chuộc được bị can nữa, Thống sứ Bi hua mau kết liễu vụ án và tuyên án tử hình: bị can sẽ bị trảm tại Hà Nội và bêu đầu cho công chúng lấy đó làm gương.
Chưa kịp dứt lời, chánh án đã rùng mình phải chứng kiến một cảnh ghê rợn:
Bị can đứng thẳng người nói « Chúng mày coi đây! Ta đâu sợ chết! »
Rồi Nguyễn Cao lẹ như chớp, chuyển hết sức mạnh của một võ tướng vào 10 ngón tay, phanh da bụng, moi ruột ra lòng thòng, không biết đau đớn là gì. Ông còn đứng vững lại, dùng hai bàn tay đẫm máu mà đưa lên mặt móc hai con mắt ra. Ông bất tỉnh té xuống đất, trào máu miệng, vì Ông cắn lưỡi để kết thúc hơi thở cuối cùng. Hôm Ông chết cũng là hôm con trai duy nhất của Ông bị giết trong Hà Đông.
Ai giết?
Lãnh Nhung chăng? Không phải.
Người giết cậu con trai trên 20 tuổi của ông lại là những đồng chí của ông và do mạng lệnh đã ban ra trước khi Ông bị bắt.
Nguyên là cậu này rượu chè cờ bạc, chơi bời lêu lổng, có manh tâm muốn hàng quân Pháp. Ông lo con Ông là hậu họa cho công cuộc chống Pháp mà Ông còn đang tái tổ chức dưới lớp áo của thầy đồ dạy học, nên Ông sai người tìm cậu con để giết đi cho rồi.
Thật là ba cái chết bi đát của một gia đình.
Thân mẫu Ông Nguyễn Cao cắt vú để thủ tiết với chồng.
Ông moi gan móc mắt để tỏ lòng can đảm của dân tộc.
Còn con Ông chết, một cái chết không vinh quang gì, song cũng là cái chết bi đát vì chết bởi tay cha.
V. DỐC SỎI: ĐẤT THIÊNG KHÍ HÙNG
Dốc sỏi: một địa danh còn ghi lại trong lịch sử Biên Hùng.
Nơi đây, một buổi sáng tinh sương, người ta thấy 9 cái cọc đã trồng từ hôm trước, mỗi cọc cột một tử tội, 7 người bận quần áo xanh còn 2 người bộ bà ba màu nâu.
Một tốp lính « khố xanh » tất cả 12 người, bồng súng chĩa vào 9 tử tội ngạo nghễ nhìn thẳng vào họ trong giờ phút cuối cùng của cuộc đời. Lính « khố xanh » là danh từ lính Việt trong quân đội thuộc địa Pháp hồi bấy giờ. Họ bận quần áo kaki vàng, thắt dây lưng vải xanh, trước bụng có miếng vải vuông màu trắng, nên mới gọi là lính « khố xanh ».
Phút chót của 9 tử tội đã đến. Viên « ách » (thượng sĩ) người Pháp chỉ huy tốp lính giơ tay lên cho lịnh bằng một tiếng: «Phơ». Cánh tay của y hạ xuống thì 12 phát súng nổ đều ở 12 họng súng. 12 viên đạn ghim vào thân của 12 tử tội từ phút này đã thành những tử thi gục đầu xuống ủ rũ, đẫm máu.
Viên «ách» cầm súng lục đi tới gần đám tử thi bắn vào màng tang (thái dương) mỗi người một phát cuối cùng cho chết hẳn.
Xong xuôi, một đám tù nhơn được lịnh đến cởi trói cho tử thi, bỏ chiếu từng người chôn xuống 9 cái hố đã đào sẵn gần đó.
Đám tù này từ khám đường Biên Hòa đã được dẫn tới Dốc Sỏi từ chiều hôm trước để chặt cây cối cho quang đãng, trồng 9 cái trụ thật vững và đào 9 cái hố.
Dốc Sỏi ở ven một khu rừng, cây cối xanh tươi, hoang vu, vắng vẻ. Dốc Sỏi đã được sửa sang cho thành pháp trường.
Khi ấy vào đầu năm 1916, chín tử tội kia là chín nhà ái quốc Việt Nam ở đất Biên Hùng, đã đổ máu đào đền nợ nước sau khi mưu toan việc lớn không thành. Cuộc khởi nghĩa của chín nhà ái quốc dầu thất bại song đến ngày nay còn ghi lại 2 câu vè nhắc nhở hậu thế nhớ mãi chín liệt sĩ của giống nòi:
Ai về Bến Cá, Tân Uyên
Nhớ rằng Dốc Sỏi đất thiêng khí hùng.
Nằm về phía Bắc tỉnh lỵ Biên Hòa, do đường Phan Đình Phùng ngày nay đưa tới, vùng Dốc Sỏi ở sát ranh với phi trường của tỉnh lỵ.
Hồi 1916, vùng nầy còn là rừng già, ít người lui tới vì cọp beo thường bắt gia súc làng lân cận mà đem về đây ăn thịt. Sau nầy thực dân Pháp khai phá vùng Dốc Sỏi nhưng cũng còn vắng vẻ âm u. Cho đến khi nước nhà độc lập, nơi đây mới thành một vùng làm ăn trù mật. Hai tiếng Dốc Sỏi chỉ còn phảng phất trong tâm trí người dân địa phương.
Các ông già bả cả của thế hệ trước có nhớ tên của chín nhà ái quốc đã tạo ra «khí hùng cho đất thiêng Dốc Sỏi». Đó là: ông Năm Hi, ông Ba Hầu, ông Hai Lựu, ông Tư Lào, ông Năm Lẹt, ông Hai Sô, ông Ba Vận, ông Bảy Phát, ông Hai Danh.
Các cụ kể vanh vách từng tên một vì nhớ nằm lòng. Còn họ của chín liệt sĩ, thì không cụ nào biết, vì lúc sanh thời thuở trước người ta ít chú ý đến họ, chỉ thường gọi nhau bằng tên thử và tên tộc chỉ ít người được biết mà có khi biết sai lệch là khác. Tiếc thay không còn hồ sơ vụ án 9 liệt sĩ Biên Hùng nên không đủ danh tánh ghi trong sử sách.
Trong 9 liệt sĩ ấy có ông Năm Hi là một nhà túc nho, am thông kinh Dịch ; lúc bị bắt vào tay Pháp, ông đã xin duy trì cái áo dà của tu sĩ mà ông thường bận hàng ngày. Cái áo ấy ông bận ra tới pháp trường và mang theo xuống lòng đất mẹ.
Các cụ kể rằng ông Năm Hi là người được uy tín nhất trong đảng cách mạng ở Tân Uyên (Biên Hùng) và các đồng chí đều nghe theo quyết định của ông. Khi các bạn ông bị bắt gần hết, ông còn ở ngoài, xét không thể hoạt động được nữa, bèn ra mặt để cho Pháp bắt vào khám đường cùng anh em trọn hai chữ thủy chung, sống chết có nhau.
Ông Năm Hi được coi như Khổng Minh của đảng hay vị tham mưu trưởng, theo danh từ ngày nay.
Việc điều khiển binh sĩ thì có ông Ba-Hầu hồi ấy làm hương hào nên có người gọi là Hương-Hầu. Võ nghệ cao cường ông được anh em thán phục, tuân theo mệnh lệnh răm rắp.
Hồi ấy là năm 1916, nước Pháp đang nguy khổn với Đức trong cuộc đại chiến 1914-1918 sự bại trận của Pháp có thể xảy ra bất thần. Các nhà ái quốc V.N. bôn ba hải ngoại cho rằng giờ giải phóng đất nước đã đến.
Mặc dầu thực dân Pháp với chánh sách nịnh dân của Toàn quyền Xa Lộ (Sarraut) song một số người Việt Nam thức thời ở trong nước cũng không để cho bị đầu độc, ru ngủ…
Trong các làng khắp Trung Nam Bắc có những người giác ngộ, chỉ chờ cơ hội tốt là nổi lên phất cờ khởi nghĩa.
Vùng Tân Uyên có nhiều tay võ giỏi, môn sinh của phái Tân Khánh nổi tiếng thời bấy giờ. Họ đưa các bậc đàn anh lên để mưu toan việc giành độc lập. Họ là 9 nhà ái quốc nói trên mà hai người cầm đầu cùng trong số này là ông Năm Hi và ông Hương Hầu.
Họ lấy trại Lâm Trung làm căn điểm tụ tập quân sĩ. Do đó sau nầy có người gọi phong trào nầy là cuộc khởi nghĩa của «Lâm Trung trại».
Các đảng viên, ngoài những tráng niên võ giỏi, sức mạnh, hăng say với bầu máu nóng, còn có những nhà giàu ủng hộ bằng tiền gạo nữa. Chẳng bao lâu «Lâm Trung trại» đã có gần 300 đảng viên với 300 khẩu súng mua của lính «săng đá» - (lính Pháp) - hay do đảng viên mua từ Xiêm tải về bằng đường rừng.

Chín yếu nhơn của đảng lấy núi Gò Mọi làm nơi luyện tập binh sĩ và tin rằng nơi đây rừng núi hiểm trở, quân Pháp không thể biết được. Kế hoạch của các ông là đánh lấy đồn lính ở Biên Hòa trước rồi tất nhiên các tỉnh khác sẽ nổi lên hưởng ứng sau. Biên Hòa là căn cứ quan trọng nhứt của Pháp ở Nam Kỳ. Chiếm được Biên Hòa là nắm được then chốt của miền Nam.
Ông Ba Hầu làm hương hào, nhà giàu có lớn, lại không ham phú quý, cầu an, nên gương sáng của ông được nhiều thanh niên ái quốc noi theo.
Cuộc khởi nghĩa bắt đầu bằng cuộc tấn công các trại tân binh ở Tân Uyên, nơi mà thực dân Pháp bắt lính Việt, sắp chở qua Pháp đánh với Đức.
Các tân binh được giải thoát liền gia nhập cuộc khởi nghĩa.
Bước đầu thắng lợi, chưa kịp khai thác thì có hai tên phản đảng là Nghĩa và Mạnh, hai tên đã đi lính cho Pháp đến chức «quản» nên tiếc địa vị mà lẻn trốn khỏi Tân Uyên, lên cấp báo cho đồn lính. Ở Biên Hòa chưa hề hay biết gì cuộc khởi nghĩa ở Tân Uyên. (Đường giao thông hồi ấy chưa thuận tiện).
Pháp bèn huy động chủ lực, chia làm sáu cánh quân kéo tới Tân Uyên.
Đảng cách mạng không dè có sự phản phúc của hai tên Nghĩa và Mạnh; yếu tố «bất thần» chưa kịp khai thác đã bị quân Pháp sử dụng mà quật lại mình.
Ông Ba Hầu cấp tốc hỏi ý kiến bộ tham mưu thì ai cũng đòi «quyết chiến».
Tân Uyên đã bị quân Pháp bao vây. Chưa tiện hy sinh toàn lực trong một cuộc xáp chiến mà sự thất bại nghiêng hẳn về phía mình, ông Ba Hầu cho lịnh tản binh vào rừng. Xong xuôi rồi, bộ tham mưu còn 9 liệt sĩ rút qua một ruộng mía, tính tìm nơi hiểm trở để tổ chức kháng pháp. Lại một lần nữa có cuộc nội phản, quân Pháp biết khu ruộng mía mà 9 ông đang rút lui: chúng phóng một trận hỏa công, đốt cháy ruộng mía, tính giết chết 9 ông. Nhưng kỳ thay một phép lạ đã xảy đến; ngọn lửa đang bốc lên dữ dội thì có trận gió lớn thổi mạnh ngược lại về phía quân Pháp. Thế là 9 nhà ái quốc Việt Nam thoát nạn.
Nhưng chẳng bao lâu, quân Pháp lùng bắt lần lần hết những yếu nhơn trong đảng «Lâm Trung trại». Cuộc khởi nghĩa kéo dài được đúng một tháng và từ Tân Uyên đã kết liễu ở Dốc Sỏi với chín tử thi: 9 nhà ái quốc đã mỉm cười khinh cuộc thất bại, ngạo nghễ như để lại cho đời sau một bổn di chúc: «Dân tộc Việt Nam phải trường tồn»:
Ai về Bến Cá, Tân Uyên
Nhớ rằng Dốc Sỏi đất thiêng, khí hùng.
VI. ĐỐC BINH «THÒI LÒI»
Vào một buổi sáng mùa thu ảm đạm, dân Cao Lãnh vui vẻ buôn bán; chợ bắt đầu nhóm, người qua kẻ lại tấp nập.
Bỗng nhiên có những tiếng la như thất thanh, kêu cứu inh ỏi; dân chúng hùa nhau chạy tán loạn như ong vỡ tổ. Các tiệm chạp phô vội vàng đóng cửa vì ai cũng vừa hay tin rằng quân lính của Quản Khanh từ đâu kéo tới sắp xáp chiến với Đốc binh «Thòi lòi».
Quản Khanh tên thật là Phạm Công Khanh, nhờ Tôn thọ Tường lúc ấy làm tri huyện giới thiệu với Pháp nên được lãnh chức Quản đạo và được Pháp giao cho sử dụng hai khẩu súng «cò máy đá». Chỉ hai cây súng này thôi cũng đủ làm mưa làm gió vì là thứ võ khí có thể giết người từ một nơi xa, trong khi dân Việt Nam chỉ có giáo mác làm võ khí.
Súng «cò máy đá» là thứ súng thô sơ cách đây một thế kỷ, hồi Pháp mới chiếm xứ Nam kỳ; mỗi khi muốn bắn súng ấy phải bấm cò cho nó mổ xuống một viên đá lửa; lửa sẽ nháng ra bắn qua bì đạn làm cho đạn nổ. Hồi ấy bắn một phát súng là một sự khó khăn mất thì giờ. Tuy nhiên hai khẩu súng «cò máy đá» cũng làm cho nông dân sợ Quản Khanh như thần linh, ôn dịch.
Quản Khanh hôm nay từ phương xa đem lính tới Cao Lãnh quyết bắt sống Đốc binh Thòi Lòi, không thì cũng lấy thủ cấp, đem về nộp cho Tây lãnh thưởng. Phong trào Cần Vương chống Pháp đã thất bại nặng nề; hàng sĩ phu trong nước chỉ còn lác đác các nơi, ngấm ngầm lo tính việc quốc gia.
Cụ Thủ khoa Huân được triều đình Huế phong Đề đốc; cụ Thiên Hộ Dương tức Võ di Dương được làm Lãnh binh, cụ Trương công Định lãnh chức Bình Tây Đại nguyên soái. Triều đình Huế muốn duy trì một phong trào chống Pháp ở trong Nam.
Đốc binh Thòi Lòi là bộ hạ của cụ Thiên hộ Dương, hùng chiếm một vùng Cao Lãnh, lấy sức trứng chọi với đá, nhưng vẫn tin tưởng ở hậu thuẫn nhân dân, để chống cự lại quân Pháp.
Chẳng biết tên họ ông là gì, dân chúng thấy ông có hai con mắt rất lớn nên gọi ông là «Đốc binh Thòi Lòi». Hai mắt như ốc nhồi hay hai con mắt của đầu lân, ông lại có sức khỏe địch được trăm người, võ nghệ cao cường xuất chúng. Ông thường một tay ôm một cối đá liệng ra cánh đồng như bay, ai thấy cũng phải lắc đầu le lưỡi. Khi ông cầm cây kích đứng xa một bụi chuối mấy trăm thước, muốn phóng vào cây nào thì kích đâm trúng vào cây ấy, trăm lần không sai một. Quân Pháp nghe đồn về tài phóng kích của ông nên cũng có ý sợ nể, dè dặt không dám kéo binh đến Cao Lãnh
Pháp phải dùng đến Quản Khanh vì y là người Cao Lãnh, am hiểu địa hình, địa lợi.
Quản Khanh tuy không giỏi võ như Đốc binh «Thòi Lòi», nhưng cũng đủ sức ăn thua đủ với ông khi phải xáp chiến. Y lại cho người đi phao truyền rằng y được người Pháp phát súng cho vô số kể; đòn tâm lý này làm cho dân tâm xao xuyến không ít.
Đốc binh Thòi Lòi muốn trấn tĩnh nhân tâm, phải đích thân xuất trận quyết bắt sống Quản Khanh, lấy máu tế cờ. Ông cưỡi một con tuấn mã tinh khôn và can đảm không thua gì chủ, đã từng xông pha trận mạc, vào tử ra sinh.
Tay cầm kích, nhung phục nai nịch đàng hoàng, ông đi đầu toán quân sĩ, chạy kiếm Quản Khanh quyết một trận thư hùng. Dân chúng thấy ông xuất trận thì vững bụng được phần nào.
Ông dùng sức hơn dùng mưu, giàn binh bố trận chờ Quản Khanh. Khi binh hai bên đối diện nhau rồi, Đốc binh Thòi Lòi thét lớn lên:
- Bớ nầy Quản Khanh, nếu mi đầu hàng ta sẽ tha chết. Nếu không thì tội phản quốc của mi phải xử xé thịt phanh thây mới xứng.
Quản Khanh nóng mặt quất ngựa xông tới, rút thanh kiếm sáng quắc toan chém ông Đốc binh
Đốc binh Thòi Lòi giơ cây kích lên hất đúng vào lưỡi kiếm rơi xuống đất. Quản Khanh lảo đảo, sau cũng lấy lại được thăng bằng. Lúc nầy nếu Đốc Binh Thòi Lòi đâm cho y một kích thì rồi đời y. Nhưng ông lại muốn bắt sống nên sấn lại kéo y ngã xuống ngựa. Lẹ như chớp, ông xốc y lên kẹ vào nách ông. Quản Khanh thất đởm kinh hồn, giảm hết nhuệ khí không còn sức kháng cự nữa; y vùng vẫy muốn thoát thân song lại càng bị cánh tay ông Đốc binh kẹp chặt lại như gọng kềm. Ông nói:
- Nếu mày còn cựa quậy ta sẽ kẹp gãy hết xương sườn.
Phút thắng trận khải hoàn đã điểm và phía quân sĩ của ông Đốc binh Thòi Lòi đã reo mừng sung sướng. Nhưng bỗng nhiên một phát nổ «đoành» vang lên, một viên đạn bay tới ghim vào bả vai bên trái của ông. Ông thét lên mấy tiếng:
- Ta bị thương rồi! Trời hại ta.
Tay mặt của ông bỏ rơi Quản Khanh xuống trong khi tướng tá của ông mau lẹ chạy đến bên ngựa nâng dìu ông xuống. Tay ông bóp chặt lấy vết thương để chận máu bớt chảy. Rủi thay viên đạn đã trúng mạch máu nên máu ra lai láng, không cầm được. Quản Khanh đã tẩu thoát trong đám quân của y, còn Đốc binh Thòi Lòi trợn mắt đưa qua lại như muốn tìm kiếm kẻ thù. Ông dùng hết tinh lực của người tướng mà thét lên:
- Quân ta đâu? Tiến!
Phát súng vừa rồi do bộ hạ Quản Khanh bắn bằng cây súng «cò máy đá» đã chuyển bại thành thắng cho phe làm nô lệ cho Tây.
Quân sĩ của Đốc binh Thòi Lòi tuy mất chủ tướng nhưng chưa nhụt mất nhuệ khí, hăng máu xông lên đâm chém quân của Quản Khanh tơi bời.
Tiếng chuông trống trong ngôi chùa ở bờ sông bỗng nổi lên cùng tiếng mõ, vang động cả một góc trời. Dân chúng xôn xao gọi nhau ơi ới:
- Tàu lân tới! Tàu lân tới!
Chuông trống mõ đã báo động cho dân chúng hay khi có tàu của Pháp đến như thông lệ từ trước tới giờ. Tàu lân là tàu binh của Pháp đã tới ngoài sông ; đầu tàu có treo một đầu lân, điềm lành cho dân chúng. Bọn người Pháp đã nghe lời đám Việt gian mách chỉ cho nên biết rằng người Việt Nam coi đầu lân là điềm lành. Chúng treo đầu lân ở đầu tàu của chúng mỗi khi chúng muốn đi đến làng mạc, nông thôn.
Ai đã gây ra cuộc báo động trong chùa. Thì chính bộ hạ của Quản Khanh muốn làm náo động nhân tâm. Quản Khanh nhờ đòn tâm lý ấy mà thắng trận này, còn quân sĩ của Đốc binh Thòi Lòi cam phận chiến bại.
Quản Khanh đắc chí, tìm đến chỗ ông Đốc binh nằm thoi thóp trên vũng máu, mà hỏi xỏ một câu:
- Ngài mạnh khỏe chớ? Ngài còn bắt tôi đầu hàng nữa thôi?
Tuy ông Đốc binh mê sảng vì ra máu quá nhiều, nhưng cánh tay ông như có một sức mạnh huyền bí gì kích động trong lúc cuối cùng bỗng giơ lên hất mạnh một cái trúng người Quản Khanh, làm y xính vính.
Cây đèn trước khi tắt thường phừng lên một tia sáng huyền diệu; bộ mặt Đốc binh Thòi Lòi đang tái nhợt cũng hồng hào trở lại, đôi mắt tròn xoe nhìn vào Quản Khanh, như muốn ăn gan uống máu tên phản quốc; hai hàm răng nghiến lại, miệng ông thốt ra mấy tiếng như tiếng sét ngang tai:« Quản Khanh! Quản Khanh!»
Liền sau đó, Đốc binh Thòi Lòi trút hơi thở cuối cùng. Ông đã chết mà hai con mắt còn mở trừng trừng, thấy mà ghê sợ.
Sau cuộc chiến thắng ấy, Quản Khanh được Đô đốc Lagrandière
Ai đã gây ra cuộc báo động trong chùa. Thì chính bộ hạ của Quản Khanh muốn làm náo động nhân tâm. Quản Khanh nhờ đòn tâm lý ấy mà thắng trận này, còn quân sĩ của Đốc binh Thòi Lòi cam phận chiến bại.
Quản Khanh đắc chí, tìm đến chỗ ông Đốc binh nằm thoi thóp trên vũng máu, mà hỏi xỏ một câu:
- Ngài mạnh khỏe chớ? Ngài còn bắt tôi đầu hàng nữa thôi?
Tuy ông Đốc binh mê sảng vì ra máu quá nhiều, nhưng cánh tay ông như có một sức mạnh huyền bí gì kích động trong lúc cuối cùng bỗng giơ lên hất mạnh một cái trúng người Quản Khanh, làm y xính vính.
Cây đèn trước khi tắt thường phừng lên một tia sáng huyền diệu; bộ mặt Đốc binh Thòi Lòi đang tái nhợt cũng hồng hào trở lại, đôi mắt tròn xoe nhìn vào Quản Khanh, như muốn ăn gan uống máu tên phản quốc; hai hàm răng nghiến lại, miệng ông thốt ra mấy tiếng như tiếng sét ngang tai: «Quản Khanh! Quản Khanh!»
Liền sau đó, Đốc binh Thòi Lòi trút hơi thở cuối cùng. Ông đã chết mà hai con mắt còn mở trừng trừng, thấy mà ghê sợ.
Sau cuộc chiến thắng ấy, Quản Khanh được Đô đốc Lagrandière mời lên Sàigòn đãi tiệc. Y khoe với quan khách rằng y phải vật lộn với Đốc binh Thòi Lòi cả ba tiếng đồng hồ mới phân thắng phụ. Muốn khoe thêm võ nghệ của y, Quản Khanh còn đưa ra một câu: «Ấy hôm trước, Đốc binh Thòi Lòi vừa đánh chết một con cọp».
Sau nầy không hiểu sao Quản Khanh lại lập bàn thờ Đốc binh Thòi Lòi ở ngay nhà y. Không phải y muốn tỏ lòng khâm phục một nhà ái quốc, người ta dọ hỏi mới biết lý do: mỗi đêm y thường mất ngủ vì cứ thấy hình bóng Đốc binh Thòi Lòi hiện về, thét lớn: «Quản Khanh! Quản Khanh!».
Một năm sau, đúng ngày ông Đốc binh bị giết, Quản Khanh làm một mâm cỗ thịnh soạn đệ lên bàn thờ, tự tay rót rượu, cúng vái. Vừa nhìn lên bàn thờ, y bị ám ảnh bởi một thần quyền gì đó mà làm rớt ly rượu, miệng thốt ra mấy câu: «Xin ngài tha chết cho con!»
Vợ y hỏi tại sao thì y đáp rằng «Quan đốc binh trở về, giơ tay muốn bóp cổ tôi!» Đêm hôm ấy trong cảnh dông tố, mưa gào, gió thét, Quản Khanh hộc máu ra chết.
Miệng đời nói: «Đốc binh Thòi Lòi rất linh thiêng!» Nhưng thật ra, đây là một trạng thái tự kỷ ám thị do sự sợ hãi kinh hoàng của Quản Khanh gây ra. Hình ảnh Đốc binh Thòi Lòi khi chết in mãi trong óc Quản Khanh một ấn tượng để kết tinh một năm sau thành những ảo ảnh hãi hùng khiến Quản Khanh sợ quá đến hộc máu ra chết.
VII. MATA-HARI VIỆT NAM
Năm ấy, là năm 1911. Tại nhà nuôi trẻ mồ côi của các bà phước ở phố Hàng Bột Hà Nội (sau này gọi là phố Sinh Từ)…
Trong sân, bầy gà con đi theo mẹ kiếm mồi ăn, tiếng kêu cúc cúc. Một đứa trẻ gái chừng trên 10 tuổi hai mắt sáng ngời nhìn theo những con gà nhỏ, không chớp mắt. Hồi lâu nó bỗng để rơi hai giọt lệ tràn xuống gò má. Chú cai vườn đang nhổ cỏ buổi sáng, thấy đứa bé khóc, bèn hỏi:
- Tại sao em buồn! Có chuyện gì mà phải khóc?
- Em khóc vì em thấy bầy gà có mẹ mà nghĩ đến thân phận em mồ côi nên buồn tủi. Em nay không bằng con gà con, không có lấy được một người để nuôi nấng như bầy gà có mẹ này. Em cũng không có anh em, bà con, họ hàng gì cả.
Chú cai vườn trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu. Rồi chú đứng lên sát lại gần đứa bé mà nói nhỏ:
- Em đừng lo buồn. Em không có gia đình, nhưng em còn một gia đình lớn là Tổ quốc, là mấy chục triệu đồng bào. Em sẽ có ngày sống với đời ; em sẽ thấy vui tươi với cái gia đình rộng lớn ở chung quanh em.
Đứa trẻ tuy mặt mũi sáng sủa, thông minh lanh lợi nhưng cũng chưa hiểu nổi mấy câu quá cao ấy đối với tầm óc nó. Chú cai vườn chú ý đến nó từ lâu ; đã nghĩ đến lúc nó lớn lên, khôn ngoan sẽ giúp ích được cho đời. Vì chú cai không chỉ là một người giữ vườn. Chú còn là một cựu đảng viên trẻ tuổi của phong trào Cần Vương, sảy đàn tan nghé, phải nấn náu trong nhà nuôi trẻ mồ côi, chờ cơ hội sẽ thi hành chí lớn.
Từ hôm ấy, chú cai vườn với cô bé có vẻ thân mật hơn.
Chú thường lân la kiếm chuyện nói với cô bé, nhồi những tư tưởng ái quốc vào đầu óc cô. Cô bé sáng dạ, thấm nhuần được lời giáo hóa của chú. Nó cũng nhớ luôn luôn câu nói cuối cùng của chú sau mỗi lần nói chuyện: «Em giữ kín, nếu hở môi nói gì bậy bạ, Tây nó biết thì mất đầu như chơi».
Ngày tháng trôi qua. Cô bé lớn lên và đến 15 tuổi thì bỏ nhà mồ côi, trốn đi đâu mất.
Chú cai vườn mà không ai biết tên họ là gì, đã xin thôi việc từ năm trước.
Trong khoảng những năm 1914-1917 nước ta có nhiều biến cố: cụ Phan Đình Phùng ở miền Trung phất cờ Cần Vương chống Pháp, vua Hàm Nghi đứng lên đòi lại chủ quyền, Thành Thái rồi Duy Tân cũng không chịu sống dưới bàn tay ác bọc nhung lụa của thực dân ; ngoài Bắc thì Đề Thám khởi Nghĩa, ở nước ngoài cụ Phan Bội Châu, cụ Nguyễn Hải Thần xua binh về đánh các vùng Lạng Sơn, Cao Bằng… Nhưng bao nhiêu thất bại kế tiếp nhau, khiến cho kẻ bi quan đã tắc lưỡi than thầm:
Nhọc lòng xe cát bể đông,
Hao binh mã chẳng nên công cán gì.
Các khám đường mạn ngược tức các tỉnh miền thượng du đầy nhóc những nhà ái quốc, những thanh niên ưu tú của quốc gia đã hy sinh cho nước để rồi sống trong cảnh gông cùm, khổ cực.
Thái Nguyên là tỉnh chứa nhiều phần tử chống Pháp nhứt nên tương đối với các tỉnh khác ở mạn ngược, Thái Nguyên được Pháp phòng thủ kiên cố hơn. Thái Nguyên có một cơ binh hùng hậu gồm cả lính lê dương, lính khố xanh (người Việt) và cả lính dõng nữa (người Thượng) đặt dưới quyền của viên giám binh Bẹt-giê (Berger) có tiếng là con người « thét ra lửa ».
Về hành chánh thì Thái Nguyên được giao vào tay công sứ Đạc (Darles) mà người Bắc đã liệt vào hạng «tứ hung» và đặt ra câu ngạn ngữ: «Nhất Đạc, nhì Be, tam Ke, tứ Bích». Đó là bốn viên Công sứ (Tỉnh Trưởng) tàn bạo ở Bắc Kỳ: Đạc (Darles) ở Thái Nguyên; Be (Wintrebert) ở Bắc Ninh, Ke (Eckert) Đốc lý Hà Nội và Bích (Brides) công sứ Lạng Sơn. Không biết trình độ bạo tàn của họ hơn kém nhau ra sao song Đạc cầm quyền ở Thái Nguyên thì thật là một lựa chọn đích đáng của toàn quyền Sa Lộ (Sarraut).
Đạc nói được tiếng Việt Nam, nói tiếng Việt như người Việt.
Thường đêm tối, ngoài phố phường có tiếng rao: «Ai bánh dầy bánh giò ra mua!» Người ta gọi vào nhà mua ăn thì trời đất ơi! Người bán bánh dầy bánh giò té ra là «Quan Công sứ» trá hình. Đạc đã bận quần áo vải nâu, đội thúng bánh lên đầu, chân đi đất, lo xét dân tình, xem có nhà nào chống Pháp thì…
Nhờ lối trá hình ấy mà y thỉnh thoảng khám phá được nơi ẩn trú của các nhà cách mạng, không thì cũng bắt được một vài sòng bạc đang sát phạt nhau.
Đạc còn nghĩ ra một nhục hình tra tấn các phần tử ái quốc bị bắt: cho đi tắm biển «Măng». Có lẽ y động lòng sầu xứ, nhớ đến biển Manche là một biển phân cách Pháp với Anh, y mới nảy ra sáng kiến đào một biển «Măng» ở ngay khám đường. Nhưng biển Măng ở đây không lớn, nó cũng không có nước mặn mà chỉ phát ra một hơi thúi, ngửi được. Biển Măng của Đạc là hầm chứa phẩn, từ các cầu tiêu chảy đến.
Nhà ái quốc nào không chịu khai là được bọn lính tra tấn nhận xuống hầm chứa phẩn cho ngập đến cổ. Mệt quá rồi vì phẩn làm bít lỗ chân lông, mặt mày xanh lét, sắp ngộp thở, thì người tù được đưa lên xối nước cho hồi dương.
Những tên gác khám lợi dụng cái biển Măng ấy mà khảo tiền những người giàu có bị bắt tình nghi. Chúng làm tiền trắng trợn nhờ lối tra tấn cực kỳ dã man mà quan thầy chúng tạo ra.
Tỉnh Thái Nguyên nổi tiếng hồi đó vì cái biển «Măng» của công sứ Đạc. Dân còn nhớ mãi một hình phạt nữa do viên Công sứ đặt ra để làm gương cho những người muốn «phiến loạn». Năm ấy y bắt được một người ăn mày tên Trần Lập Thành mà có người điểm chỉ cho y biết là em ruột Trần Cao Vân y bèn vỗ bàn cười sung sướng: «Trần Cao Vân! Một thằng «giặc» đã giúp Duy Tân phản Đại Pháp. nếu thằng Vân thành công thì em nó làm đến chức Thượng thơ bộ binh giết không còn một người Pha-lăng-sa nào nữa».
Đạc kêu chúa ngục đến, bắt phải lấy dùi đâm lủng hai bàn chân của Trần Lập Thành, xâu dây kẽm mà cột vào giường trong xà lim; còn hai tay vẫn phải còng như các tù khác.
Sau cơn đau đớn sống đi chết lại mấy lần khi Trần Lập Thành chịu xong nhục hình ấy rồi, Đạc vào xà lim nhìn nạn nhân một cách khoan khái.
Bao nhiêu tàn ác của công sứ Đạc và giám binh Bẹt-giê (mà trên đây mới kể ra có hai vụ điển hình), đã làm cho nhân dân phẫn uất lòng căm thù sôi lên sùng sục.
Dưới quyền giám binh có mấy hạ sĩ người Việt được y tin cẩn vì khéo chiều chuộng, mua chuộc lòng y bấy lâu nay: Trịnh văn Cấn đóng lon đội, và thường được anh em gọi là Đội Cấn, cùng với Đội Giá, Đội Ban, Cai Nhân, v.v… Dưới chế độ thực dân trong binh ngũ người Việt lên đến chức đội đã là cao lắm rồi. Rất hiếm người làm đến ông Quản hay ông Ách (Adju-dant) nhứt là ở tỉnh nhỏ.
Bẹt giê có ngờ đâu Đội Cấn, Đội Giá, Đội Ban là ba nhà ái quốc V.N. gia nhập quân đội để có ngày phất cờ khởi nghĩa.
Tháng Tám 1917, giờ khởi nghĩa đã đổ, vào hôm cuối tháng. Đáng lẽ các nhà cách mạng còn chờ tổ chức chân đáo cho tới miền xuôi nữa (đồng bằng Bắc Việt) nhưng vì có kẻ làm phản, tố cáo cho Pháp biết âm mưu nên Đội Cấn phải hành động gấp.
Ba thầy đội đánh úp ba địa điểm rồi kéo cờ Việt Nam Quang Phục làm cờ khởi nghĩa.(Lúc này chưa nghĩ ra quốc kỳ phải tạm dùng cờ của cụ Phan Bội Châu dựng lên ở hải ngoại…)
Trong có một tuần lễ, tất cả lính của Pháp bị giam cầm ; những lính dõng và những lính khố xanh gia nhập quân khởi nghĩa, còn Lê Dương và Pháp bị bắt cầm tù.
Đội Cấn nắm được chủ quyền hoàn toàn ở tỉnh Thái Nguyên nhưng vì không biết khai thác mau lẹ chiến quả và cũng không biết lợi dụng các phương tiện tâm lý chiến để gây ảnh hưởng ở miền khác trong nước, nên cuộc đắc thắng không được bao lâu.
Một nhân vật quan trọng nhất đã tác chiến bên cạnh Đội Cấn và có nhiều uy tín ở trong nước là ông Lương ngọc Quyến, con trai cụ cử Lương ngọc Can. Ông Quyến nhất định không chịu làm thủ lãnh cầm đầu cuộc khởi nghĩa, chỉ muốn là chiến hữu bên cạnh Đội Cấn. Ông không chịu khai thác dĩ vãng ái quốc, cách mạng của phụ thân ; ông không chịu đoạt quyền của người có công đầu. Vì vậy, Đội Cấn được suy tôn làm Tổng lãnh binh.
Sang đầu tháng 9, quân Pháp từ Hà Nội kéo lên Thái Nguyên phản công, có đủ cả bộ binh và pháo binh; lực lượng cách mạng không khác nào trứng chọi với đá.
Tỉnh Thái Nguyên bị bắn phá tan tành. Dân quân của Đội Cấn thiệt mạng quan trọng.
Các nhà cầm quân bị thương một số lớn.
Trong khi tan vỡ, người ta thường nhắc tên một nữ liên lạc viên là cô Hai Trà, hoạt động dưới quyền chỉ huy của ông Lương ngọc Quyến.
Những bộ đội dân quân, còn lại chia ra từng toán dưới quyền chỉ huy của từng tướng lãnh, để đánh Pháp. Đội Giá cũng chỉ huy một toán và cũng như các người cầm quân khác, ông được toàn quyền hành động.
Đội Giá từng nghe nói Lương ngọc Quyến có một nữ tướng đưa tin tức rất đắc lực. Cô này lại còn dùng nhan sắc quyến rũ các nhà cầm quân của Pháp để cho quân ta giết hại. Có lần cả bộ đội của Pháp bị phục kích tơi bời chỉ vì kẻ cầm đầu đã nghe tiếng nói mê hồn của cô mà trở tay không kịp.
Đội Giá cần một người như thế để giúp ông vào một việc liên lạc gấp rút. Ông Lương ngọc Quyến bèn gởi cô Hai Trà sang doanh trại Đội Giá.
Sau khi hai bên thi lễ, Đội Gía ngạc nhiên rồi do dự hỏi: «Có phải cô là, cô gì gì… ở Hà Nội mấy năm trước?»
Cô Hai Trà bình thản lạ thường, nói rất tự nhiên: «Dạ! Em đúng là đứa con gái nuôi ở nhà mồ côi của bà phước phố Sinh Từ. Còn ông, nếu em không lầm, thì đúng là ông cai vườn».
Cả hai người mừng mừng, tủi tủi, cô Hai Trà cố kềm chế sự xúc động. Đội Giá hỏi tiếp: «Cô làm sao lưu lạc đến tận đây?»
Cô đáp: «Em nhớ mãi lời ông chỉ giáo lúc đầu: Em không có Cha Mẹ, không có Gia đình, em còn có cả một gia đình to lớn: đó là Tổ quốc, là 20 triệu đồng bào. Sau này em khôn lớn, bỏ nhà mồ côi, ra tìm những người có tâm huyết để theo hầu và giúp tay vào việc nước. May sao có người bạn gái giới thiệu với ông Ba Quyến và mới có ngày nay».
Đội Giá không chặn được nước mắt, nói ra một câu trầm buồn:
- Đại cuộc đã hỏng hết. Giặc kéo tới nơi rồi… Thái Nguyên sắp thất thủ. Tôi chắc khó mà sống vì tôi sẽ chết với binh sĩ của tôi. Nếu cô còn sống, nên khôn ngoan bảo toàn tánh mạng, chờ cơ hội khác sẽ có những người nối chí chúng tôi, họ cần đến tay cô giúp sức. Nay tôi muốn nhờ cô một việc liên lạc…
Chưa dứt lời thì một loạt súng nổ vang.
Bản doanh của Đội Gía trúng đạn, bốc cháy và trước mắt cô Hai Trà, viên tướng trẻ tuổi ôm vết thương trên đầu, té xuống bất tỉnh.
Cô Hai Trà lanh bước, lẻn ra ngoài vô sự. Cô cau mày giậm chân uất hận. Nhìn lại đống lửa đang thành nấm mồ nhà ái quốc, cô nhỏ lệ, rảo bước để khỏi lọt vào tay quân thù.
Thái Nguyên thất thủ. Đội cấn và các đồng chí rút vào rừng nhưng cuộc kháng chiến chẳng còn được bao lâu.
Còn cô «Hai Trà» - chẳng biết ai đã đặt tên cho cô gái mồ côi ấy - không biết lưu lạc đi đâu và chỉ còn để lại một tục danh mộc mạc trong dã sử.
Năm 1973
Tế Xuyên
Theo https://vietmessenger.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  - Con dao của Cellini. Nếu bọn chúng không kể chuyện con dao thì bây giờ anh nghe cũng được. Cellini được thuê làm hai con dao cho Đức Hồn...