Gương người xưa 2
VIII. TIẾNG SÚNG KHỞI NGHĨA ĐẦU TIÊN
Một hôm vào mùa hạ năm 1915, tại tòa Lãnh sự Đức, ở Vọng Các,
có thết một bữa ăn thân mật trong vườn hoa Sứ quán.
Dự tiệc, ngoài hai ông sứ thần Đức và Áo là chủ nhân, chỉ có
hai người Việt-Nam bận Âu phục, một người thông ngôn và nữ bí thư của lãnh sự Đức.
Tất cả 6 người trong lúc ăn uống, nói chuyện mưa gió phong tục, tập quán của
dân bổn xứ hai bên, chứ không đá động gì đến quốc gia đại sự.
Ấy vậy mà hai người khách dự tiệc, hai người Việt Nam, lại là
hai nhà cách mạng bôn ba hải ngoại: cụ Mai Sơn và cụ Đặng tử Kính, đồng chí của
Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, ở Quảng Đông mới tới Xiêm (Thái Lan).
Hai nước Đức và Áo hồi ấy còn là đồng minh và cuộc chiến
tranh Pháp Đức đã bước qua năm thứ nhì. Người Đức muốn liên lạc với nhà cách mạng
Việt Nam để ngầm giúp, hầu mong có thể gây lên một cuộc khởi nghĩa ở V.N. hầu
làm khó dễ cho chính phủ Pháp. Người Pháp sẽ lo lắng đối phó với tình hình thuộc
địa sẽ yếu thế ở ngay trong nước, quân đội Đức sẽ có cơ hội thắng lợi.
Tòa lãnh sự Đức đa tỏ ý muốn gặp Kỳ ngoại hầu Cường Để song
nhằm lúc cụ Cường Để đi viếng Âu châu, không có mặt ở nước Tàu, còn cụ Phan bội
Châu, người thứ nhì cầm quyền điều khiển các nhà cách mạng ở hải ngoại, thì lại
mắc vòng lao lý: cụ đang bị giam cầm ở Quảng Đông, vì Long Tế Quang bắt cụ,
toan bán cho Pháp.
Từ ngục thất, cụ Phan bội Châu được báo tin tòa lãnh sự Đức
muốn tiếp xúc với đảng cách mạng, cụ bèn cử hai cụ Mai Sơn và Đặng tử Kính thay
mặt các đồng chí mà đi Xiêm nói chuyện.
Sau các cuộc mật đàm, khi ở tòa lãnh sự, khi ở nhà riêng các
bạn hữu ông đại sứ, để tránh tai mắt của gián điệp, hai cụ Mai và Đặng đã hiểu
rõ thâm ý của nước Đức: muốn giúp phong trào cách mạng nổi lên ở Việt Nam,
nhưng giúp một cách kín đáo, không chánh thức và để cho hai ông lãnh sự Đức-Áo
lấy tư cách cá nhân mà giúp trong giai đoạn đầu, nếu cuộc nổi dậy chống Pháp có
thể thành công, tức khi đã khắc phục được một phần lãnh thổ rồi, nước Đức sẽ
công khai nhìn nhận tân chính phủ V.N. và viện trợ vật chất một cách mạnh mẽ.
Hai đại diện cách mạng Việt Nam đã trình bày hết thực lực của
V.N. ở hải ngoại cũng như ở trong nước và thiết tha yêu cầu Đức giúp đỡ.
Sau các cuộc mật đàm, đến tiệc thân thiện để kết thúc câu
chuyện.
Hai vị lãnh sự Đức, Áo mời hai cụ Mai và Đặng đi tản bộ trong
vườn rồi kín đáo đưa tặng hai cụ một số tiền lớn 10.000 ti-cô (tiền Xiêm) gọi
là tượng trưng cho cuộc sơ giao và nhấn mạnh rằng đó là do tự động của cá nhân
hai ông.
Số tiền một vạn đồng ti-cô hồi ấy là một số tiền rất lớn vì
công dụng của nó đã giúp cho các nhà cách mạng mở được một cuộc tấn công đầu
tiên ở vùng Cao Bằng và nếu thành thì chắc là đại cuộc đã tiến triển thuận lợi
để đi tới giải thoát xứ sở.
Số 10.000 bạc Xiêm đem về Quảng Đông. Các nhà cách mạng hồi ấy
chia ra ba khuynh hướng mỗi phe đưa ra một chương trình hoạt động.
Phe Tán Thuật (Nguyễn Thiện Thuật) muốn do đường Đông Hưng
đánh về Móng Cáy.
Phe Mai Sơn muốn do đường Long Châu tràn về Lạng Sơn.
Sau chót, phe thứ ba do cụ Hoàng Trọng Mậu lãnh đạo, chủ
trương đánh đồn Tà Lùng của Pháp ở tỉnh Cao Bằng.
Sau nhiều cuộc bàn cãi gay go, rút cuộc kế hoạch thứ ba đắc
thắng vì có nhiều người tán thành song cũng đã gây chia sẽ ngấm ngầm trong nội
bộ đảng cách mạng, làm giảm mất tình đoàn kết là sức mạnh cần thiết trong các
công cuộc lớn.
Cụ Hoàng Trọng Mậu cử ông Đinh Hồng Việt đảm lãnh việc quân sự.
Ông Đinh Hồng Việt còn có tên là giáo Trung nữa, là con cụ tổng đốc Đinh duy
Trinh tỉnh Nam Định (Bắc Việt). Giáo Trung có một người em lấy Trương như
Cương, thượng thơ bộ lại ở triều đình Huế. Ông Cương sinh ra một người con gái
gả cho Hoàng thân Bửu Đào tức vua Khải Định sau này (thân phụ của Bảo Đại).
Nhưng một năm trước khi lên ngôi, Hoàng thân Bửu Đào đã bỏ vợ, để lấy người
khác.
Tóm lại, Giáo Trung đáng lẽ là cậu vợ của vua Khải Định.
Năm 1906 ông xin nghỉ dạy học ở Nam Định, tham gia phong trào
Đông Kinh Nghĩa Thục.
Khi Đông Kinh Nghĩa Thục bị đóng cửa, ông trốn sang Tàu tính
theo các nhà cách mạng mưu toan đại sự, song ông bị bắt ở vùng biên giới và bị
kết án 6 tháng tù. Tù tội cũng không làm nhụt được nhuệ khí của ông. Hết hạn tù
ông lại trở về con đường cũ. Lần này ông đi thoát sang Vân Nam rồi hoạt động
cùng các nhà cách mạng đã xuất ngoại trước ông.sứ » ở Vọng Các, tức làm trung
gian cho đảng cách mạng giao thiệp cùng các Việt Kiều ở Xiêm và các người ngoại
quốc.
Đến tháng 3 năm 1915 đảng cách mạng quyết đánh đồn Tà Lùng
chiếm cứ tỉnh Cao Bằng làm căn điểm xuất phát cuộc tổng khởi nghĩa.
Bộ tham mưu đặt tại nhà một người Tàu tên là A Nông tại Long
Châu ; nhà này còn là nơi chưa võ khí của đảng cách mạng Việt-Nam nữa. Nhà cầm
quyền địa phương Tàu hồi ấy cũng biết các cuộc toan tính này song nhắm mắt bỏ
qua, chờ nếu phe cách mạnh thành công thì nước Tàu là nước được hưởng những quyền
tối huệ. Hơn nữa trong quân đội khởi nghĩa sẽ kéo về giải phóng lãnh thổ Việt-Nam
có cả người Tàu nữa. Ông Hoàng Trọng Mậu nhờ một vạn bạc của lãnh sự Đức viện
trợ mà có tiền mộ lính Tàu, trả lương cho họ 10 đồng một tháng: ông còn mộ cả
lính Thổ (dân thượng du Bắc Việt).
Toán lính xung phong được giao cho Giáo Trung chỉ huy gồm 100
người: 50 người Việt đi tiền đạo và 40 người Tàu cùng 10 người Thổ đi hậu tập.
Ngoài ra còn một người Việt sống lâu năm ở vùng biên giới lãnh việc chỉ đạo vì
anh em này rất am tường những đường mòn băng qua rừng già.
Võ khí của đoàn xung phong gồm có 10 súng trường, 40 súng lục,
20 cái rựa, (búa chặt cây trong rừng), 60 trái lựu đạn.
Đêm 12 rạng ngày 13 tháng 3 dương lịch, người chỉ đạo đi dọ
đường vào 3 giờ và 4 giờ sáng đoàn quân khởi nghĩa tới Tà Lùng.
« Ách cha là ; Chiu viu! »
Câu cảnh cáo ấy vừa thốt ra ở cửa miệng anh lính khố đỏ Lê
Luân ; anh gác đồn Tà Lùng, đứng trên pháo đài ở hướng Tây Nam, vừa nhận thấy
tiếng động như có chân người đi từ phía ngoài tiến tới gần đồn.
Xin mở một dấu ngoặc để giải thích qua câu hô trên đây: thời
Pháp thuộc, các lính bổn xứ dù là Việt hay Miên, Lào, bị tuyển mộ trong các cơ
binh khố xanh hay khố đỏ, đều dùng tất cả các hiệu lịnh nhà binh bằng tiếng
Pháp. Nói với viên đại úy, người lính thất học cũng làu làu tiếng « Tây bồi »
và gọi đại úy là « Cập tển ». Các khẩu hiệu nhà binh anh cũng biết hô bằng tiếng
« Tây bồi » nữa.
« Ách cha la, chiu viu » là âm ở câu: « Halte là! Qui vive!
».
Các cấp người Pháp muốn hiểu thế nào thì hiểu.
Những bóng người tiến tới tuy không rành tiếng Pháp, song
cũng cảm thấy câu hô ấy có nghĩa là: dừng chân lại! không tôi bắn nát « Ai đó!
Tớ đây mà ».
Ông kết thân với Hoàng Trọng Mậu, Nguyễn cẩm Giang (tức cụ
Nguyễn Hải Thần) và được các đồng chí giao cho lãnh chức «Trung gian sứ » ở Vọng
Các, tức làm trung gian cho đảng cách mạng giao thiệp cùng các Việt Kiều ở Xiêm
và các người ngoại quốc.
Đến tháng 3 năm 1915 đảng cách mạng quyết đánh đồn Tà Lùng
chiếm cứ tỉnh Cao Bằng làm căn điểm xuất phát cuộc tổng khởi nghĩa.
Bộ tham mưu đặt tại nhà một người Tàu tên là A Nông tại Long
Châu ; nhà này còn là nơi chưa võ khí của đảng cách mạng Việt-Nam nữa. Nhà cầm
quyền địa phương Tàu hồi ấy cũng biết các cuộc toan tính này song nhắm mắt bỏ
qua, chờ nếu phe cách mạnh thành công thì nước Tàu là nước được hưởng những quyền
tối huệ. Hơn nữa trong quân đội khởi nghĩa sẽ kéo về giải phóng lãnh thổ Việt-Nam
có cả người Tàu nữa. Ông Hoàng Trọng Mậu nhờ một vạn bạc của lãnh sự Đức viện
trợ mà có tiền mộ lính Tàu, trả lương cho họ 10 đồng một tháng: ông còn mộ cả
lính Thổ (dân thượng du Bắc Việt).
Toán lính xung phong được giao cho Giáo Trung chỉ huy gồm 100
người: 50 người Việt đi tiền đạo và 40 người Tàu cùng 10 người Thổ đi hậu tập.
Ngoài ra còn một người Việt sống lâu năm ở vùng biên giới lãnh việc chỉ đạo vì
anh em này rất am tường những đường mòn băng qua rừng già.
Võ khí của đoàn xung phong gồm có 10 súng trường, 40 súng lục,
20 cái rựa, (búa chặt cây trong rừng), 60 trái lựu đạn.
Đêm 12 rạng ngày 13 tháng 3 dương lịch, người chỉ đạo đi dọ đường
vào 3 giờ và 4 giờ sáng đoàn quân khởi nghĩa tới Tà Lùng.
« Ách cha là ; Chiu viu! »
Câu cảnh cáo ấy vừa thốt ra ở cửa miệng anh lính khố đỏ Lê
Luân ; anh gác đồn Tà Lùng, đứng trên pháo đài ở hướng Tây Nam, vừa nhận thấy
tiếng động như có chân người đi từ phía ngoài tiến tới gần đồn.
Xin mở một dấu ngoặc để giải thích qua câu hô trên đây: thời
Pháp thuộc, các lính bổn xứ dù là Việt hay Miên, Lào, bị tuyển mộ trong các cơ
binh khố xanh hay khố đỏ, đều dùng tất cả các hiệu lịnh nhà binh bằng tiếng
Pháp. Nói với viên đại úy, người lính thất học cũng làu làu tiếng « Tây bồi »
và gọi đại úy là « Cập tển ». Các khẩu hiệu nhà binh anh cũng biết hô bằng tiếng
« Tây bồi » nữa.
« Ách cha la, chiu viu » là âm ở câu: « Halte là! Qui vive!
».
Các cấp người Pháp muốn hiểu thế nào thì hiểu.
Những bóng người tiến tới tuy không rành tiếng Pháp, song
cũng cảm thấy câu hô ấy có nghĩa là: dừng chân lại! không tôi bắn nát « Ai đó!
Tớ đây mà ».
Một vài tiếng Việt được thốt ra để đáp lại song không mạnh mẽ
bằng vì đám người tiến tới gần đồn không muốn gây náo động…
Những tiếng nói nhỏ cũng vọng đến tai anh lính gác: « Anh cứ
lờ đi, chúng mình là người Việt Nam cả, có xa lạ gì đâu, cùng đồng bào cùng máu
đỏ da vàng. Anh để cho chúng tôi giết bọn người Pháp, còn đồng bào sẽ bình an
vô sự hết ».
Anh lính Lê Luân đâu có nghe lọt tai được câu nói thống thiết
ấy. Anh bắn một phát « cắc bùm! »
Tiếng súng vừa nổ, kế liền đến tiếng còi báo động trong đồn
rúc lên. Lính đồn được huy động, đứng sắp hàng chờ lịnh của viên trung sĩ Pháp
Kentainger, người chỉ huy đồn.
Viên trung sĩ này nghe tiếng anh lính gác trên pháo đài vừa nạp
đạn bắn, vừa nói vọng xuống: « Sếp! Pia-rat! Pia-rat! Sếp! Da-na bố cu nhiều! »
(Sếp ơi giặc tới! Giặc tới Sếp ơi! Có rất nhiều!)
Đồn Tà Lùng bị công hãm, hỏa lực của quân sĩ cách mạng tập
trung vào hai cửa Bắc và Nam. trong đồn cũng bắn ra, tất cả 192 viên đạn kiểu
1886.
Cuộc xáp chiến kéo dài từ 4 giờ đến 5 giờ 15 thì dứt tiếng nổ.
Vì trời đã sáng tỏ, quân cách mạng chưa vào được đồn, thấy mòi thất bại nên rút
lui, tản mác vào rừng.
Viên trung sĩ Kentainger cắt nửa tiểu đội ở trong giữ đồn và
dẫn một nửa ra dọ xét tình hình.
Lúc này viên xếp đoan người Pháp (thương chánh) cũng đem tốp
lính của anh ta tới đồn để toan tiếp viện. Viên tri châu Vương quí Đoàn đem
lính dõng của ông (lính người Thượng) đến tiếp tay. Song đã trễ quá 1 tiếng đồng
hồ. Ai cũng lo bảo vệ sinh mạng, chẳng vội vàng hy sinh vô ích.
Lúc này các lực lượng nói trên chỉ còn có việc đi lùng bắt «
đối phương ». Một cuộc bố ráp lớn lao được cử hành lại làng Pia Quang và Po Táp
là hai địa điểm có người Việt ở. (Nên biết rằng vùng Thượng du là của người
Mán, Mường, Mèo, Thổ). Hai làng này bị lục soát, phá phách tan hoang vì bị tình
nghi là đã dung dưỡng « quân giặc cướp » (danh từ để gọi các chiến sĩ cách mạng).
Trong một chuồng bò, viên tri châu lôi đầu ra một người Tàu tay còn ôm trái lựu
đạn. Anh này lúng túng không kịp liệng lựu đạn để thoát thân.
Do các vết máu trên đường, quân đồn Tà Lùng còn bắt được ba
người Thổ nữa và thâu được các chiến lợi phẩm sau đây: 1 súng lục « ru lô », 1
súng lục hiệu Steyer, 220 bì đạn súng lục Mauser, 4 lựu đạn, 1 bao gạo và 1 bao
đựng huy hiệu Việt Nam Quang Phục quân.
Đoàn quân xung phong cách mạng không biết bị chết bao nhiêu
người, vì đã rút hết về Quảng Tây.
Tòa án quân sự đặc biệt xử 4 người bị bắt. Người Tàu bị bắt
lúc ôm trái lựu đạn bị tử hình, còn ba người Thổ bị tù có hạn.
Những người cầm đầu cuộc tấn công này sau hoạt động ở đất
Xiêm. Rủi thay ít lâu, Xiêm trở thành đồng minh của Pháp nên các nhà cách mạng
V.N. bị trục xuất tất cả 29 người trong số đó có Hoàng trọng Mậu và Giáo Trung
hai yếu nhơn chỉ huy đánh đồn Tà Lùng. Khi tàu Pháp chở 29 nhà cách mạng về
Saigon một ông tên Địch Sơn trốn thoát lính canh mà nhảy xuống biển tự tử.
Còn 28 ông bị đưa ra tòa án quân sự ở Hà Nội.
Năm cái đầu rơi trong đó có Hoàng trọng Mậu và Giáo Trung.
Nhưng cuộc chiến đấu giành độc lập thất bại trong bước đầu vẫn
tiếp tục trong mấy chục năm sau khi tiềm tàng, khi bộc phát, không bạo lực nào
dập tắt được.
IX. MỘT ĐIỆP VIÊN VÀO « HỎA LÒ » KHÁM PHÁ « BÍ MẬT PHÒNG SỐ
13 »
Tại căn gác một nhà ở Phố Hàng Điếu, Hà Nội, các cụ « Bô lão
» đang họp hội nghị tối mật để bàn về một câu chuyện quốc gia đại sự. Đó là các
« Bô lão » trong làng cách mạng thời bấy giờ: năm 1925.
Trong hàng « Bô lão » ấy người ta đếm được lơ thơ trên đầu mấy
ngón tay: Ngô đức Kế ; Dương bá Trạc, Lê Dư, Hoàng tăng Bí… Các cụ đã làm cách
mạng, đã bị thất bại, song thực dân không giam cầm hay đầy ra Côn đảo vì không
muốn làm náo động nhân tâm ; vả lại các cụ chưa mó tay vào các cuộc biến động
nên còn được tương đối tự do, chỉ bị Mật thám theo dõi đề phòng. Các cụ là những
thần tượng của thanh niên ái quốc ; họ coi các cụ như cố vấn lão thành mà họ
thường lui tới để thỉnh ý về mọi vấn đề liên hệ đến quốc gia dân tộc. Họ gọi
các cụ là những « cụ Bô » tức như đấng bô lão.
Hôm nay các « Bô lão » nhóm họp ở nhà cụ Lê Đại, phố Hàng Điếu,
để thảo luận về cái « bí mật Phan bội Châu ».
Tin cụ Phan bội Châu bị bắt từ Thượng Hải đưa về Hà nội lúc ấy
là một tin chưa đích xác. Một điều « bán tín bán nghi ». Tin ấy mới do một tờ
báo Thượng Hải loan đi, còn báo chí nước nhà thì chưa biết gì. Các nhà cách mạng
nhờ anh em đi làm tàu biển mà hay được tin ấy.
Nếu cụ Phan bị bắt thật, thì đã bị đưa vào Hỏa Lò, khám đường
ở Hà nội, nơi giam kín nhất và chắc chắn. Vậy mà danh sách các tù nhơn trong Hỏa
Lò không hề thấy tên cụ Phan bội Châu. Các đồng chí cũ của cụ ở trong cảnh cá
chậu chim lồng, nhưng cũng thường được tin tức từ trong khám đưa ra mỗi khi một
người nào bị bắt giam vì quốc sự. Vậy mà sao không có bị can nào mang tên «
Phan bội Châu ».
Tin vịt chăng? Hay là thực dân « thả vịt » để phá tan những
hy vọng mà phái thanh niên ái quốc từng đặt vào cụ Phan.
Các cụ « Bô lão » liên lạc với những người tâm phúc làm việc
tại Hỏa Lò, hỏi tin tức thì được trả lời: « không có ». Cụ Phan chưa bị bắt
chăng? Tuy nhiên, cũng nhận được một tin từ khám đường đưa ra, đáng chú ý: Có một
ông già bị bắt giam, ghi tên là Trần Văn Đức. Ông quắc thước, có bộ râu tốt lắm,
hai mắt linh lợi và hình như có vẻ là người Tàu vì bận quần áo Tàu. Lạ sao?
Ngoài phòng giam lại treo cái bảng nhỏ ghi ba chữ « Trần văn Đức » không phải
là tên Tàu.
Hơn nữa, trại giam Trần văn Đức lại là trại giam các tội nhân
Pháp, các người Âu Châu, người ngoại quốc da trắng. Nếu là một anh « da vàng
mũi xệp » thì ít ra cái tên Việt của anh còn phải kèm theo một tên Tây nữa: Trần
văn Đức là người Việt dân Tây thì sao không có cái tên « Paul Đức » chẳng hạn.
Phòng giam riêng Trần văn Đức là một phòng nhỏ có một giường cá nhân với một
bàn nhỏ, tuy không lớn hơn cái « xà lim » của phòng tù nhân « bổn xứ » song đủ
tiện nghi hơn. Phòng ấy mang số 13.
Người Việt mà bị giam ở cái « xà lim » Tây này chắc không phải
là người thường.
Hay ông Đức là một nhân vật làm việc tòa lãnh sự Pháp ở Thượng
Hải bị đưa về nước câu lưu vì can vào một vụ bí mật gì còn đang cứu xét? Căn cứ
vào đâu mà có thể nghĩ rằng ông Đức ấy là nhà cách mạng bôn ba hải ngoại, họ
Phan?
Lúc ấy chân dung cụ Phan bội Châu có được phổ biến như ngày
nay đâu. Chẳng mấy ai biết được mặt cụ, ngoài các đồng chí của cụ.
Nhà nào nếu có tấm hình của cụ cũng không dám giữ vì rủi có kẻ
nào tố giác thì… « ở tù mọt gông ».
Bởi vậy những người làm việc trong khám có thấy mặt ông Đức
cũng không biết là có phải cụ Phan hay không? Mà muốn lại gần cái « xà lim »
Tây mang số 13 ấy để hỏi xem ông Đức là ai, thì phải là câu chuyện « câu trăng
đáy nước » không dễ gì đâu. Vì những « xà lim » là những phòng giam cá nhân, đặt
trong quy chế « Tối Mật ». Người gác ở đây không phải là người Việt, mà là một
người Pháp, mới thật khó. Nhân viên người Việt nào mà lớ vớ lại gần khu « Tối Mật
» sẽ bị « bể nồi cơm » như chơi.
Tại bộ tham mưu, các « Bô lão » họp ở nhà cụ Lê Đại, Phố Hàng
Điếu, không ai chiếu được tia sáng nào vào cái bí mật ở phòng số 13 ấy: cái «
bí mật Phan Bội Châu ».
Cụ Hoàng tăng Bí luận bàn một lúc rồi cũng… bí luôn. Cái « bí
mật Phan bội Châu » vẫn còn lâm ngõ bí.
Cụ Lê Dư từng lê gót cách mạng ở Trung Hoa, Nhật bản, Triều
Tiên, cũng không nghĩ ra một mưu kế gì để khám phá ra bí mật ấy.
Cụ Lê Đại bóp trán thở dài:
- Nếu Trần văn Đức đích thị là ông Phan, thì chúng ta phải
kêu gọi đến dư luận trong nước và ngoài nước chớ? Chúng ta phải đánh thức đồng
bào từ Nam chí Bắc, không lẽ để cho bọn Tây chúng nó âm thầm xử kín ông Phan rồi
lén lút hành quyết như chúng đã từng xử các liệt sĩ của chúng ta từ trước đến
giờ. Dư luận biết được thì đã quá trễ.
Ai nấy lặng thinh như liên tưởng đến giờ bi thảm ở Pháp trường.
Bỗng cụ Lê Đại nẩy ra một ý kiến:
- Thôi được rồi! Chúng ta quên mất anh Hy. Sẵn anh Hy đó,
chúng ta sẽ nhờ anh vào Hỏa Lò xét xem sao?
Cụ Lê Đại tìm ra một điệp viên. Các « Bô lão » sực nhớ tới
anh Hy, một thanh niên hăng hái, thường lui tới nhà các cụ, luận bàn quốc sự và
học hỏi những kinh nghiệm cách mạng của người huynh trưởng.
Các cụ trầm ngâm suy nghĩ, không tỏ ý song cái lặng thinh có
thể hiểu là một thái độ nghi ngờ:
- Liệu có dễ dàng như lời nói không? Vào Hỏa Lò để khám phá
cái « bí mật Phan Bội Châu » hay là để ở luôn trong khám với Phan bội Châu rồi
chờ ngày ra tòa lãnh án. Sao lại bàn đến việc « đeo nhạc cổ mèo » như thế. Câu
chuyện tráng sĩ Kinh Kha một ra đi là không trở về… Ai mà quên được.
Cụ Lê Đại không nghe ai tán thành đề nghị của cụ, bèn nói rõ
thêm:
- Nhưng anh Hy đã từng làm trong « ghép » của Hỏa Lò mấy năm
trước, thế nào lại không có người quen biết, có bạn đồng sự cũ còn làm ở đấy,
có thể nhờ cậy được.
Tiếng « ghép » âm ở tiếng Pháp « greffe » là tiếng thông dụng
trong giới tù nhân ; « ghép » là cơ sở hành chánh trong khám đường, phụ trách về
giấy tờ, sổ sách liên hệ đến các tội nhân. Anh Hy, một nhân viên hành chánh cũ
của khám đường, một người làm ở « ghép » mà nay vào thăm anh em cũ, thì không đến
nỗi khó khăn nguy hiểm như Kinh Kha sang Tần. Các cụ « bô » suy nghĩ một lúc rồi
tán thành đề nghị của Cụ Lê Đại ; vài cụ lặng thinh không phản đối song cũng muốn
cầu may một phen: bộ tham mưu đồng ý cho đi mời anh Hy.
Anh Hy là một thanh niên có óc tiến bộ. Sau ba năm làm một
công chức giúp việc tại khám đường Hà Nội, anh xin từ chức vì gia đình sung
túc, anh muốn xoay ra đi buôn để có một tương lai khả quan hơn. Từ khi ra khỏi
cuộc sống tù túng trong 4 bức tường của công sở, anh thấy tinh thần khoảng
khoát và giao du với những bậc đàn anh hay những người có tư tưởng mới.
Được các cụ « bô » cho mời anh đến không bỏ phí một phút đồng
hồ, đến ngay căn gác của ngôi nhà Phố Hàng Điếu. Sẵn bầu máu nóng của tuổi
thanh niên, anh luôn luôn mong chờ những sứ mạng khó khăn mà các bậc đàn anh
giao phó, dầu có phải vào sanh ra tử, anh cũng không nề hà.
Vừa thấy anh Hy, cụ Lê Đại thay mặt bộ tham mưu, nói trước (cụ
vốn đã quen biết với anh):
- Này ông Hy à! Chắc ông cũng nghe tin cụ Phan bị bắt.
- Dạ, có nghe, nhưng không chắc thực hư ra sao.
- Chúng tôi muốn nhờ ông một việc…
- Phá tù xa để cướp lại cụ Phan chăng? Hay ra pháp trường giải
phóng cho cụ? Cháu xin lãnh hết. Dù xương tan thịt nát, cháu đâu có quản ngại
gì.
Các cụ « bô » đã biết tánh thanh niên hăng hái ngạo nghễ và
hay nói đùa, nên các cụ đều cười vui vẻ ; cụ Lê Dư điềm đạm nói đỡ lời:
- Chưa đến phải phá tù xa, cướp pháp trường. Sứ mạng giao cho
anh không nguy hiểm như thế.
- Vậy cần người chết thế mạng cho cụ Phan chăng? Xin các cụ
nói mau cho cháu biết.
- Cũng không phải hy sinh đến vậy. Chỉ cần một điệp viên. Ông
Hy ạ, ông sẽ vào « nhà pha » xem có thật là cụ Phan bị bắt hay không?
- Thưa các cụ, việc ấy tế nhị lắm, cháu không dám từ nan. Các
cụ giao phó cho trọng trách này thì chẳng khác nào Thống sứ, Toàn quyền ký nghị
định bổ tên Hy này làm Tổng thanh tra Hỏa Lò. Chẳng khác nào cháu phải đi từng
phòng giam, từng xà lim mà hỏi: Ai là Phan Bội Châu… Nhưng việc khó đến đâu,
cháu cũng xin vâng lời. Còn thành bại chưa dám nói trước.
Thay vì chén rượu tiễn hành Kinh Kha trên dòng sông Dịch, cụ
Hoàng tăng Bí rót tách nước trà ướp sen mời anh Hy như dụng ý thưởng anh và
khen anh.
Anh Hy đỡ chén trà uống một hơi rồi cáo từ ra về để thu xếp
chương trình, kế hoạch sáng mai « vô khám ».
Sáng hôm sau, đúng như lời hứa, anh đến trước cửa khám đường.
Anh gõ mấy tiếng vào cánh cửa sắt sơn đen có một cái lỗ hổng tròn băng miệng
chén, để người gác đứng trong dòm ra xem ai muốn vào. Cánh cửa nặng nề từ từ
quay, phát ra những tiếng sắt rỉ, nghe ken két, để trống một chỗ nhỏ vừa cho một
người lách đi vô.
Anh gác cửa là một nhân viên đã làm lâu năm ở đây, còn nhớ mặt
« ông Phán Hy » đon đả chào hỏi:
- Kìa ông Phán, hồi này mạnh khỏe chớ. Hôm nay vào thăm ai
đây?
- Thăm anh em cũ làm trong « ghép » và thăm cụ « Tổ ».
Cụ « Tổ » được anh em tặng cái danh hiệu này vì cụ là một
nhân viên già gần 70 tuổi, còn làm « xếp ghép ». Đã quá tuổi về hưu, cụ còn khỏe
mạnh và có dân tây nên được lưu dụng để làm cái việc an nhàn dưỡng lão nầy. Lại
nữa cụ thạo công việc hành chính trong Hỏa Lò quá, thuộc làu mọi việc, nên người
ta cũng muốn nhờ ở kinh nghiệm của cụ. Trước kia cụ Tổ đã tòng sự ở khám đường
đảo Réunion, từng giao thiệp với Thành Thái, Duy Tân trong cảnh sầu xứ nên cũng
có óc tương đối rộng hơn các công chức gốc Việt dân Tây khác. Cụ hay giúp đỡ đồng
bào, đem chút đỉnh ưu ái xoa dịu phần nào nỗi khổ đau của những người mang số
kiếp « vào tù ra khám ». Người ta gọi cụ là cụ « Tổ » cũng xứng đáng.
Anh Hy trước đây làm dưới quyền cụ, nay trở lại thăm cụ vì
tình « thầy trò » cũng là chuyện thường. Cụ Tổ có ngờ đâu người đồng sự cũ còn
trẻ tuổi này đang là một điệp viên của các « Bô lão » trong làng cách mạng.
Tay bắt mặt mừng, anh Hy ba hoa hỏi thăm sức khỏe của cụ.
Tình thầy trò thật mặn mà, thắm thiết. Anh không ngồi mà chỉ đứng trước bàn cụ,
không phải vì lý do « kính lão » nhưng dụng ý muốn nhìn xuống giấy tờ trên bàn
xem có ba chữ « Phan Bội Châu » không?
Vô kế khả thi. Cụ Phan bị bắt cả tuần lễ nay rồi, vậy nếu muốn
xem có tên cụ trong « Sổ Đoạn Trường » không thì ít ra phải lật lên cả chục
trang giấy về trước. Muốn kéo dài thì giờ, anh Hy rút gói thuốc trong túi ra mời
người này người nọ, lân la từ bàn nọ sang bàn kia. Bao thuốc đã hết mà anh điệp
viên chưa tìm ra được một tia sáng. Bỗng anh nghe cụ Tổ hỏi:
- Ông có biết ông Tây đang đi ngoài kia cùng ông xếp Hỏa Lò,
tiến vào phía « ghép » không? Độ là cụ « Bích » đấy.
Cụ Bích? Cái tên nghe quen quen.
Ai là người Bắc am hiểu cơ quan hành chánh thời bấy giờ đều
cũng thuộc câu vè «Tứ Hung»: « Nhất Đạc, nhì Ke, tam Be, tứ Bích ».
Đó là tên bốn nhân viên hành chánh cao cấp Pháp: Darles,
Eckert, Wintrebert, Brides. Bốn người này đã từng làm Đốc lý hay Công sứ (Tỉnh
trưởng) thuộc vào phái thực dân hạng nặng, biết nói tiếng « An Nam » và biết ăn
mắm tôm nữa ; đặc tánh khắt khe, độc ác của bốn « trự » ấy thì khỏi phải nói ;
dân chúng khiếp sợ, oán ghét họ mới gọi là « Tứ Hung » với câu vè trên kia.
Cụ Tổ nhắc tên « Bích » ngụ ý bảo anh Hy đề phòng hay nên rút
lui có trật tự, kẻo mang tai bay họa gởi vì tên cáo gìa này. Song cái
danh hiệu « Bích » gợi lên cho anh Hy một tia sáng tò mò: Chính thằng cha Bích
này đã chủ tọa Hội đồng Đề hình xử vụ án Thái Nguyên năm trước đây. Nay nó vào
Hỏa Lò không phải là không có « đại sự ». Nó sẽ lập Hội đồng Đề hình ở đây
chăng? Mà nếu có Hội đồng Đề hình thì chẳng phải là xử mấy anh nấu rượu lậu!.
Anh Hy lui bước ra hành lang, chỗ có những kệ chứa đầy các hồ
sơ cũ. Anh làm như một công chức trong « ghép » đang sắp xếp hồ sơ. Anh cố giữ
bình tĩnh vì nếu có nét mặt đổi khác khi rủi mà Bích lại gần anh thì anh khó mà
tránh được vào sở Mật thám để bị tra tấn dã man.
May sao không có ai ra hành lang hết. Bích và xếp khám nói
chuyện xì xồ, anh Hy nghe lõm câu được câu không:
- Sao ông không có một cuốn sổ riêng để ghi căn cước « Nó »?
- Tôi đã ghi tên khác: tên Trần văn Đức. Tôi lại giam « Nó » ở
khu người Âu để không có tên « An nam » nào tiếp xúc được với « Nó ».
- Ông nên biết rằng « Ông chủ ta » không muốn cái tên « Phan
bội Châu » lọt ra công chúng. Có lẽ vụ này sẽ xử kín và khi thành án sẽ hành
quyết ngay trong khám.
Anh Hy mừng run lên vì thần May Mắn đã giúp anh khám phá ra «
bí mật xà lim 13 » rồi: Cái tên Trần văn Đức là tên giả mà xếp khám đặt cho cụ
Phan bội Châu.
Kết quả cuộc dọ xét của anh Hy đã sáng tỏ mà anh không tốn
công khó nhọc gì cho lắm. Anh lo lắng cho số phận nhà ái quốc đang bị thực dân
âm mưu trừ diệt ngấm ngầm, không cho công chúng hay biết, đến khi công chúng có
hay thì chuyện cũng đã dĩ lỡ rồi. Anh Hy muốn có phép tàng hình mà ra khỏi Hỏa
Lò, về báo động cho các cụ « bô » ở Phố Hàng Điếu: « Thậm cấp! Chí nguy! »
Làm sao mà đánh trống khua chuông cho đồng bào đứng dậy không
cho thực dân lén lút làm hại sanh mạng cụ Phan?
Lúc sau, Bích cùng xếp khám ra khỏi văn phòng, có lẽ đi xem
các trại giam tội phạm.
Anh Hy thở một cái nhẹ nhõm, ra bắt tay cáo từ cụ Tổ để về
báo cáo kết quả sứ mạng của mình.
Bộ tham mưu ở Phố Hàng Điếu biết chắc rồi, bèn in mấy ngàn
truyền đơn, báo động với đồng bào rằng cụ Phan bội Châu đã bị bắt.
Thế là từ Bắc vào Nam, đồng bào ùn ùn như nước chảy, đứng ra
vận động đòi trả tự do cho cụ Phan.
Một phong trào nổi lên như vũ bão. Toàn quyền Varenne phải
nhượng bộ trước lòng ái quốc thành thật của hai chục triệu dân Việt Nam.
X. GIAI THOẠI VỀ NGUYỄN THÁI HỌC
Theo lời các vị đồng chí cũ của ông Nguyễn Thái Học thì đảng
trưởng « Việt Nam Quốc Dân Đảng » lúc còn là một cậu học trò, có để lại một vài
câu chuyện lý thú.
Trong cuộc đời học sinh, Nguyễn Thái Học đã tỏ ra có óc chống
Pháp và tinh thần cách mạng đã nẩy nở ở ông từ khi ông học ở trường Sư phạm Hà
Nội, trường đào tạo giáo viên tiểu học.
Nguyễn Thái Học không khá về Pháp văn. Ông không có khiếu về
môn này mà cũng không thích học chữ nước người. Ác thay, theo chương trình thì
phải học tất cả các môn bằng tiếng Pháp, từ Sử Địa đến Toán Lý Hóa ; Việt sử
cũng phải học trong cuốn « Histoire d’Annam » của G. Maybon.
Mỗi tuần được có một, hai giờ học Việt văn, là cả một sự
thích thú, hân hoan đối với cậu học trò bướng bỉnh của năm thứ nhất trường Sư
phạm (như Đệ thất trung học ngày nay).
Khi cậu phải làm luận Pháp văn thì là cả một cực hình. Cậu
gãi đầu, bứt tóc, miệng càu nhàu: « Càng giỏi tiếng Pháp cho lắm, càng phải
nghe Tây nó chửi nhiều. Dốt lại ít hiểu, nó chửi nó nghe ».
Muốn luyện cho học trò Việt nghe quen giọng Pháp, mỗi lớp được
học một hai giờ với giáo sư Pháp mỗi tuần ; giờ chính là giờ ám tả (Dictée
française) và có khi được học thêm một giờ thứ nhì nữa là giờ Luận Pháp-văn
(Rédaction francaise). Ở năm thứ nhứt trường Sư phạm, Nguyễn Thái Học gặp phải
một cô giáo Pháp rất khó tánh, mà giọng nói lại khó nghe. Cô mà đọc ám tả cho học
sinh Việt Nam viết, thì cậu nào cũng đầy lỗi ; giỏi nhất lớp cũng phải đến 4
hay 5 lỗi.
Học trò gọi giễu cợt cô là « Sâu Róm ». Một hôm cô vừa ăn
bánh mì nhồm nhoàm, vừa đọc ám tả. Học trò lắng tai lắm mới nghe câu được câu
không.
Nguyễn Thái Học không viết bỏ bút xuống, nhìn lên trần nhà mỉm
cười. Cô « Sâu Róm » kêu Học đứng lên, hỏi:
- Thằng « nhà quê »! Tại sao mày cười?
- Ta cười vì ta không khóc.
- A thằng hỗn xược! Mày là người tỉnh nào?
- Người Việt Nam.
Câu trả lời đượm màu tư-tưởng quốc gia này, làm cho cô « Sâu
Róm » khó chịu, bực tức. Cô hỏi tiếp:
- Ba má mày tên gì?
- Song thân ta tên « Việt-Nam ».
Cô giáo nắm cánh tay Học toan kéo lên ông Đốc để trình về
ngôn ngữ của Học, song cô bị Học hất mạnh tay ra. Cô biết cô gặp phải một học
sinh không phải tay vừa, rồi không hiểu nghĩ sao, cô không lôi cậu học trò ngỗ
nghịch ấy lên văn phòng hiệu-trưởng nữa mà chỉ dọa một câu:
- Rồi mày sẽ biết.
Sau giờ ám tả ấy, các bạn đều lo cho Học sẽ bị đuổi.
Nhưng chờ ngày ấy qua ngày khác, cậu học trò bướng-bỉnh vẫn
còn ngồi trong lớp. Có lẽ cô giáo Pháp kia không muốn gây ác cảm, nên bỏ qua những
tư tưởng quốc gia mà cô nhận thấy ở Nguyễn Thái Học.
Khi lên năm thứ nhì, thầy giáo Pháp luyện giọng Tây cho học trò
là giáo sư Thomas đã có xung đột với học trò trường Chasseloup-Laubat ở Saigon,
vì khó tánh và hay phạt. Bị mất mặt vì cuộc xung đột ấy, ông phải đổi ra Hà nội
dạy tại trường Sư phạm.
Cha cậu học trò đã cầm đầu cuộc xung đột với ông ở Saigon là
một người Việt « có thế lực lắm » cậu mới được học trường Pháp. Vì thế khi ra
Hà nội, ông Thomas ghét học sinh V.N. lắm. Trời dun rủi sao ông lại phải dạy ở
trường học sinh V.N.
Đến kỳ thi lên lớp, ông đọc ám tả cho học trò viết, và cố ý «
trát » học trò, chỉ đọc mỗi câu có một lần. Nhiều cậu không nghe kịp phải để từng
đoạn trống trong bài thi. Cố nhiên Nguyễn-Thái Học bực tức nhất vì cậu không giỏi
Pháp ngữ.
Cậu không viết nữa và nửa chừng đứng lên xé giấy thi, bỏ ra
ngoài. Nhưng cậu mới bước tới cửa lớp, đã bị thầy giáo ngăn lại:
- Mầy đi đâu? Mày không thấy xấu hổ với anh em sao? Trong khi
ai cũng viết kịp thì mày bỏ dở bài thi.
- Còn ông, ông không xấu-hổ với các thầy giáo khác sao, các
thầy ấy đều được học trò mến phục, còn ông thì trái lại…
- Tại sao vậy? Mày cắt nghĩa tao nghe.
Nguyễn Thái Học tuy dở tiếng Pháp nhưng cũng có thể nói chuyện
với giáo sư bằng thứ tiếng Tây « ba rọi » trật lất văn phạm và từ ngữ. Tuy
nhiên giáo sư Thomas cũng hiểu rằng Học nói cho ông biết: ông oán ghét học trò
V.N. vì ông không được dạy trường Albert Sarraut (trường trung học Pháp ở Hà Nội)
chớ gì? Ông suy nghĩ một phút rồi dịu giọng:
- Chắc các trò oán ghét tôi vì tôi đọc ám tả có một lần, nghe
không kịp. Có vậy, đi thi mới chắc đậu.
Rồi giáo sư còn nói thêm cho cả lớp hiểu rằng ông không có ác
ý đâu. Kế đó ông đọc lại bài ám tả từ đầu mà mỗi câu đều đọc 2 lần chậm rãi.
Từ hôm ấy ông bớt gắt gao. Có lẽ ông thấy Nguyễn Thái Học bướng
bỉnh, ông lo ngại sẽ xảy ra cuộc xung đột như ở Saigon, thì ông không còn đất sống
ở V.N. nữa, đến phải sang Phi châu mà dạy học hay phải về Pháp không chừng. Chống
với vị giáo sư khó tính mà Nguyễn Thái Học giúp cho cả lớp không còn bị ông làm
khó dễ nữa.
Khi đi thi bằng Thành Chung (Diplome) có bài luận Pháp văn mà
đề bài như sau:
« Các trò hãy nói về sự nghiệp của Jules Ferry. »
Nguyễn thái Học viết có đúng một câu:
học trò V.N. vì ông không được dạy trường Albert Sarraut (trường
trung học Pháp ở Hà Nội) chớ gì? Ông suy nghĩ một phút rồi dịu giọng:
- Chắc các trò oán ghét tôi vì tôi đọc ám tả có một lần, nghe
không kịp. Có vậy, đi thi mới chắc đậu.
Rồi giáo sư còn nói thêm cho cả lớp hiểu rằng ông không có ác
ý đâu. Kế đó ông đọc lại bài ám tả từ đầu mà mỗi câu đều đọc 2 lần chậm rãi.
Từ hôm ấy ông bớt gắt gao. Có lẽ ông thấy Nguyễn Thái Học bướng
bỉnh, ông lo ngại sẽ xảy ra cuộc xung đột như ở Saigon, thì ông không còn đất sống
ở V.N. nữa, đến phải sang Phi châu mà dạy học hay phải về Pháp không chừng. Chống
với vị giáo sư khó tính mà Nguyễn Thái Học giúp cho cả lớp không còn bị ông làm
khó dễ nữa.
Khi đi thi bằng Thành Chung (Diplome) có bài luận Pháp văn mà
đề bài như sau:
« Các trò hãy nói về sự nghiệp của Jules Ferry. »
Nguyễn thái Học viết có đúng một câu:
« Người Việt Nam không hề biết tên người này ».
Ai cũng cho là Học để ý phản đối Jules Ferry, một tay thực
dân hạng nặng đã chủ trương chánh sách đi chiếm thuộc địa.
Cố nhiên bài luận ấy đem cho Học một « trứng ngỗng » và sau
đó một cái « vỏ chuối ».
Hồi đó người Pháp muốn bưng bít dư luận bên nước họ, lúc nào
cũng cho Chánh phủ Paris có cảm nghĩ là dân « A na mít » trung thành với « mẫu
quốc » lắm ; có lẽ vì thế mà họ không muốn làm to chuyện về khối óc bướng bỉnh,
chống thực dân của một cậu học trò.
Họ có ngờ đâu cậu học trò mà họ không thèm lưu ý ấy sau này
thành đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng, làm cho thực dân « con cháu Jules
Ferry » phải toát mồ hôi.
Một đề-nghị vượt ngục?
Ngày 28 tháng 3 năm 1930, tại phòng giam tử tội của khám đường
Yên Bái, nhà cách mạng Nguyễn Thái Học trải qua một cơn bão tố trong lòng.
Trong bốn bức tường của « xà lim » đảng trưởng Việt Nam Quốc
Dân Đảng một mình đối bóng phải cân nhắc để giải quyết một vấn đề lương tâm:
nên vượt ngục để tránh cái án tử hình mà Hội đồng đề hình vừa tuyên xử buổi
sáng hôm ấy hay là cúi đầu trước số phận, chịu đem máu đào tưới nơi pháp trường
dưới lưỡi dao sáng quắc của cái máy chém, để kết liễu bổn phận thiêng liêng của
một đấng tu mi ái quốc.
- Sống hay chết?
- Và muốn sống liệu có sống được không?
Nguyễn Thái Học phân vân, bóp đầu bóp trán với những câu hỏi ấy.
Một thượng sĩ gốc gác người xứ Algérie, có trách nhiệm canh
gác khu giam tử tội, đã đề nghị với Nguyễn Thái Học một cuộc vượt ngục ; anh ta
vui lòng giúp cho nhà lãnh tụ cùng 12 đồng chí của ông hoàn thành việc ấy, nếu
ông ưng thuận. Tên của 12 bạn đồng chí cách mạng vơ vẩn trong óc nhà thủ lãnh
như tên của 12 đứa em cùng chung một bà mẹ « Việt Nam » sinh ra:
- Phó đức Chính,
- Bùi tư Toàn,
- Bùi văn Chuẩn,
- Nguyễn An,
- Đào văn Nhít,
- Ngô văn Du,
- Nguyễn văn Tiền,
- Nguyễn như Liên tức Ngọc Tỉnh,
- Nguyễn văn Cửu,
- Lê văn Tụ,
- Nguyễn văn Tính,
- Hà văn Lao.
Nguyễn Thái Học nhớ cả từng nét mặt, thói hay tật xấu của vài
người đã vào sanh ra tử cùng ông trong khi còn bay nhảy bên ngoài, đánh giá thực
dân bằng những đòn chớp nhoáng.
Ông không thể quên được nét mặt non nớt, hồn nhiên của Ngọc Tỉnh
ngây thơ với cái tuổi 20 song lòng yêu nước thì sôi sùng sục ít người sánh được.
Với tất cả 12 sanh mạng treo trên sợi chỉ mành ấy, chỉ một
cái gật đầu của Nguyễn Thái Học là họ được tháo cũi xổ lồng, rồi chỉ một sớm một
chiều là tất cả hay một phần 13 nhà cách mạng V.N. sẽ có mặt trên đất Trung
Hoa, theo đuổi ước vọng ôm ấp bấy lâu nay.
Anh gác khám tử tội, đã tiếp xúc với Nguyễn Thái Học từ sáng
hôm 27 khi tất cả 87 nhà cách mạng sắp bị đưa ra xử tại Hội đồng Đề hình.
Đây là đợt thứ nhì sau đợt thứ nhứt đã bị xử tại Hà Nội. Đợt
thứ nhì bị bắt sau, gồm những người có dính líu trực tiếp hay gián tiếp vào vụ
khởi nghĩa Yên Bái, bị chuyển từ Hà Nội lên Yên Bái để xử án.
Lúc chưa ra tòa, viên thượng sĩ Bắc Phi đã lân la đến cửa «
xà lim » Nguyễn Thái Học mà trò chuyện. Anh ta là một thanh niên mặt mày sáng sủa,
chắc là có văn hóa ít nhiều: anh nói chuyện với đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng
bằng tiếng Tây lưu loát.
Anh cho ông Học biết rằng anh đọc báo, rất phục hành động của
V.N.Q.D.Đ. và các nhà cách mạng Việt Nam đã mưu toan giải phóng quốc gia ; còn
xứ Algérie của anh không biết bao giờ ngóc lên được, anh lo đến bị đồng hóa với
Pháp mất.
Vì cảm tình với dân tộc Việt Nam mà anh thượng sĩ da đen ấy
muốn tổ chức cho Nguyễn Thái Học một cuộc vượt ngục theo kế hoạch như sau:
Anh sẽ chờ đúng giờ chuyến xe lửa Hà Nội – Lào Kay ghé ga Yên
Bái, là mở cửa khám tử tội ra, cho Nguyễn thái Học kéo hết đồng chí ra ga, uy
hiếp viên xếp ga rồi nhảy rốc hết lên xe lửa, bắt người tài xế phải mở máy cho
xe chạy tới Lào Kay, không còn xa mấy. Tới đây là ráp giới Trung Hoa, họ sẽ vượt
biên giới và thoát sang lãnh thổ nước láng diềng.
Dù người Pháp ở Hà nội có hay tin mà can thiệp cũng trễ rồi.
Huống chi, kế hoạch còn dự bị cho một số đồng chí ở lại chiếm nhà Bưu điện,
không cho đánh dây thép về Hà nội. Chờ xe lửa đi xa rồi, những đồng chí còn ở lại
mới băng rừng mà thoát thân sau. Anh thượng sĩ xứ Algérie sẽ cùng trốn một lượt
với Nguyễn Thái Học.
Kế hoạch trên đây, Nguyễn Thái Học nghe ra hợp lý và có thể
thi hành được. Thời gian và không gian không phải là trở lực đáng kể. Lãnh tụ
V.N.Q.D.Đ. suy nghĩ và chưa tiện trả lời chấp thuận đề nghị hay không. Ông bảo
người bạn da đen để cho ông suy nghĩ kỹ đã. Ông cũng khêu gợi ba điều bốn chuyện
để dọ xét thâm tâm người đối thoại nhận thấy anh ta không có điều gì khả nghi,
gian xảo hết. Anh cũng có vẻ là một thanh niên nhiệt huyết, cùng một tâm trạng
với những người có tư tưởng quốc gia sống dưới ách thực dân da trắng.
Nhưng Nguyễn Thái Học còn thận trọng vì ông đã rút được một
bài học kinh nghiệm lần trước, khi ông bị bắt hồi tháng hai và bị giam ở Hỏa Lò
Hà Nội. Hồi ấy có lần một viên đội Lê dương (người Đức) gác khám cũng lân la
nói chuyện với ông. Anh này cũng tỏ lời khâm phục và hỏi Nguyễn thái Học có muốn
viết thơ hay nhắn tin ra ngoài anh sẵn lòng giúp.
Muốn thử thách lòng anh, ông Học bằng lòng nhờ anh giúp. Bắt
đầu ông đưa cho anh này hai bức thơ bỏ phong bì, một gửi cho thủ tướng Pháp, một
gửi cho toàn quyền Đông Dương, kể hết tệ đoan trong giới quan lại Việt Pháp.
Không biết số phận hai bức thơ này ra sao?
Lần thứ hai, Nguyễn Thái Học gởi hai bài báo để đăng báo Hồng
Kông: một bài gởi cho tờ báo Hoa ngữ, một cho tờ báo Anh ngữ. (Sau này những
nhân vật V.N.Q.D.Đ. ở ngoài kiểm soát lại thì thấy không tờ báo nào trong hai tờ
ấy nhận được bài của Học cả).
Lần thứ ba, viên đội Lê Dương nhận một sứ mạng quan trọng
hơn, một sấp thơ bốn cái gởi cho bốn đồng chí của ông khuyên họ kiên tâm vì cơ
hội sắp đến. Chỉ vài hôm sau, cả bốn người đều vô khám hết. Nhưng Nguyễn thái Học
đâu có khờ khạo đến làm hại cho đồng chí: thật ra bốn « đồng chí » ấy là bốn
tên phản đảng lợi hại trong những giờ đầu. Bốn tên ấy đã phải làm vật hy sinh
cho cuộc thử lòng dạ viên đội Lê Dương.
Thấy bốn « đồng chí » xộ khám ông biết chắc là viên đội kia
đã đưa bốn bức thơ của ông cho sở Mật Thám.
Đến lúc bị giam ở Yên Bái, gặp được viên gác khám người
Algérie tỏ ý muốn giúp ông thì ông hết sức phân vân.
Không biết anh chàng này có giống anh đội Lê Dương ở Hà Nội
không? Chẳng khác nào con chim một lần bị bắn, cứ thấy cành cây cong là sợ, nên
Nguyễn Thái Học hết sức thận trọng, đề phòng.
Sáng hôm Hội đồng Đề hình xử vụ đảng viên cách mạng
V.N.Q.D.Đ. tức ngày 27-3-1930 – và chiều hôm sau nữa, chàng thanh niên da đen
gác khám lại đến hỏi quyết định của Nguyễn thái Học nữa nhưng ông Học vẫn còn hẹn
sẽ trả lời sau.
Viên gác khám thở dài nói:
- Còn suy nghĩ đến bao giờ nữa. Hiện giờ đề lao Yên Bái không
được canh gác cẩn mật chỉ nay mai xử xong các ông, họ sẽ đưa các ông về Hà Nội
là lỡ cơ hội.
Thật thế, nhóm 13 tủ tội sau khi bị tuyên án đã bị đưa về Hà
Nội, chờ bộ Tư Pháp Ba Lê xét lại hồ sơ rồi sẽ thi hành án lệnh.
Nguyễn Thái Học cũng hiểu rõ thủ tục và biết rằng thì giờ
không còn chờ đợi ai. Nhưng ông phân vân không quyết định. Biết đâu đây chẳng
phải là một mưu kế của thực dân bày ra, để có cơ hội thanh dĩ nhiên rồi. Dầu
ông chết dưới máy chém của Cai Công hay dưới những viên đạn súng của lính Thực
dân đuổi theo khi ông vượt ngục, thì cũng chỉ là một cái chết. Nhưng còn 12 đồng
chí của ông cùng án tử hình nhưng có người tội nhẹ hơn, có thể giảm án xuống
chung thân khổ sai. Nếu mà họ đều chết dưới viên đạn súng của Thực dân thì ông
Học sẽ mang trách nhiệm với lương tâm.
Nguyễn Thái Học suy luận như vậy nên đã không chấp nhận đề
nghị của viên gác khám Yên Bái…Suy đi thì như thế song nghĩ lại thì sao? Nếu như người gác
khám thực tâm muốn cứu mà mình từ chối thì có khác nào mình tự giết mình và giết
luôn cả 12 người nữa ; mình bỏ lỡ cơ hội thoát chết. Sinh mạng 12 người phó
thác vào một cái gật đầu của Nguyễn Thái Học.Sau này về Hà Nội bị giam ở Hỏa lò, Nguyễn Thái Học lặng
thinh cả tuần lễ không nói chuyện với các đồng chí bị giam cùng một dãy « xà
lim ». Ông bị lương tâm cắn rứt vì thái độ của ông ở Yên Bái chăng? Và một hôm
ông kể lại câu chuyện bỏ lỡ dịp vượt ngục cho vài bạn nghe như muốn chờ anh em
xét xử. Ai cũng tiếc rằng ông quá nặng nề về đạo đức và không phải là người
giàu thủ đoạn, có thể nói là thiếu thủ đoạn của con người cách mạng.Nếu như hôm ấy Nguyễn Thái Học gật đầu một cái, mà cuộc vượt
ngục thành công một phần nào thì các yếu nhơn V.N.Q.D.Đ. cùng đảng trưởng đã hoạt
động trên đất Trung Hoa, biết đâu cuộc diện Việt Nam hồi ấy cũng có phần thay đổi,
không thì ít ra ngọn lửa chống Pháp cũng còn duy trì được lâu hơn nữa và gây
cho thực dân những trận điên đầu.toán cả 13 tử tội và thực dân e ngại chánh phủ Ba Lê bị áp lực
của dư luận báo chí sẽ cho giảm án. Nguyễn thái Học không thể nào thoát án tử
hình, điều ấyXI. MỘT ĐỒNG CHÍ CỦA KÝ CON « BỊ » PHÁP THƯỞNG HUY CHƯƠNGNhà cụ Phán Tường vừa ăn xong cái Tết, bước qua mấy ngày đầu
tháng Giêng.Hôm ấy đã hạ cây nêu rồi thì phải. Hai vợ chồng cụ Phán đã
già, cụ ông 56 tuổi. Cụ có hai cô con gái chưa lấy chồng còn ở chung với cha mẹ
tại một căn nhà rộng, cất theo lối xưa, mang số 24 phố Hàng Giấy Hà Nội.Nhà nầy không có lầu, là một hiệu buôn mắm. Bước chân vào nhà
đã nồng lên một mùi mắm, chủ nhân lại là hai ông bà chất phác hiền hậu, trước
kia ông đã làm Thông Phán tại một công sở, ai cũng tưởng nhà nầy làm ăn, buôn
bán, cầu an, miễn sao được yên ổn là mừng lắm rồi. Có ai ngờ nhà ấy lại dùng
làm trụ sở của Ký Con, lãnh tụ ban ám sát Hà Nội của Việt Nam Quốc Dân Đảng năm
1930.Và có ai ngờ cụ Phán Tường tức Đào Tiến Tường, sau nầy ra trước
Hội đồng Đề hình với cái tuổi già của cụ. Thì ra cụ Phán là một đồng chí của
Nguyễn Thái Học, còn nội tướng của cụ và hai cô con gái đều là đảng viên cùng
theo đuổi một chí hướng như chồng và cha.Hôm ấy Ký Con hẹn với 5 người trong ban ám sát thuộc dưới quyền
của anh, đến đây để lãnh công tác mật.Năm « hạt gạo cội » chớ đâu phải là « tay mơ ». Ký Con điểm lại
5 đồng chí dưới quyền mình lần lượt đã vào nhà bán mắm của cụ Phán Tường.- Nguyễn văn Liên,- Mai Duy Xứng,- Nguyễn Minh Luân,- Nguyễn Quang Triệu,- Nguyễn Bá Tâm.Năm anh đủ cả rồi. Ký Con bắt đầu phân phối công tác cho mỗi
anh. Anh giao cho 5 đồng chí tất cả 16 quả bom và nói rõ mục đích vụ nầy là gây
lên cùng một lúc 16 tiếng nổ lớn ở Hà Thanh để nâng cao tinh thần đồng bào Thủ
đô đất Bắc.Cảnh sát quận nhất: Ta cho nó hai trái.Cảnh sát quận nhì: hai trái nữa.Sở Sen đầm: cũng hai trái.Còn tên Arnoux, tên trùm Mật thám và Cảnh sát Bắc Kỳ, tên
Pháp «chó săn của Thực dân » đã thẳng tay bắt bớ các đảng viên của đảng, ta
cũng tặng cho nó hai trái, liệng vào nhà riêng của nó, nếu giết được nó càng
hay không thì cũng cảnh cáo nó và vợ con nó.Riêng Hỏa Lò (khám đường Hà Nội) là nơi giam cầm cả ngàn tù
nhân chánh trị phần đông là người V.N.Q.D.Đ. thì phải 8 trái mới đủ.Tuy bình thản và có uy quyền đối với anh em, song Ký Con cũng
cho 5 ám sát viên hiểu qua tại sao phải có vụ này thi hành ở ngay giữa trung
tâm thành phố.Năm ấy (1930) cuộc khởi nghĩa Yên Bái, Lâm Thao đã bùng nổ. Đảng
của Nguyễn thái Học đã thất bại và chỉ thâu được một kết quả nhỏ là được dư luận
thế giới chú ý đến chí quật cường của dân tộc V.N. muốn đứng lên phá dây xiềng
xích.Có thế thôi.Các tên phản đảng đã làm hư hết kế hoạch ; võ khí ở thủ đô bị
khám phá, các đảng viên lãnh việc đánh Hà Nội bị bắt bớ gần hết: thành ra đại
cuộc không thành.Trước tình thế ấy phải gây ra một xúc động mạnh mẽ ở Hà Thành
để thức tỉnh đồng bào nơi đây và gây náo động trong dư luận thế giới. Các tòa
lãnh sự ở Hà Nội sẽ nghe được 16 tiếng nổ và nhận thức rằng lực lượng chống
Pháp chưa nao núng, dầu có bị vài thất bại ban đầu.Tám quả bom ném vào bên ngoài Hỏa Lò có mục đích nâng cao
tinh thần các đồng chí đang bị bắt giam và nhắn nhủ họ: « Chúng tôi chưa bại trận!
»Đúng 8 giờ tối, dân Hà Nội nghe vang dậy những tiếng nổ cùng
một lúc có cách nhau chỉ một vài phút thôi.Trong khi 5 đồng chí đi thi hành sứ mạng thì Ký Con ở nhà cụ
Phán Tường, phố Hàng Giấy, chờ kết quả do 5 người này sẽ về báo cáo.Bốn người đã lần lượt về…Riêng có anh Nguyễn bá Tâm còn vắng mặt.Bốn anh trên đều bình an vô sự, trùm Mật thám Arnoux chắc
không hề hấn vì hai quả bom không lọt vào nhà nó mà rớt ở phía ngoài hàng rào,
gây hai tiếng nổ, cũng đủ làm cho nó kinh hồn, hết vía.Còn anh Tâm sao chưa về? Ai cũng thắc mắc cho số phận anh.Anh là người lãnh trách vụ ném bom vào sở cảnh sát quận nhì.
Anh bị bắt rồi chăng hay gặp tai nạn? Bị thương hay đã đền nợ nước?Tuy mọi người đều lo lắng song bà cụ Phán Tường vẫn tỏ ra người
nội tướng giỏi. Cụ vào bếp nấu nước pha trà mời các đồng chí. Dĩa bánh ngọt và
mứt còn dư sau ba ngày Tết, cụ đã cho sắp xếp trên mấy cái đĩa, chờ mở « tiệc
khao quân » – Vẫn còn nguyên trên bàn. Chỉ vì thiếu anh Tâm.Nước đã sôi được châm vào bình trà mạn ướp sen, khói lên nghi
ngút.Chờ lúc sau, Ký Con cho lịnh các đồng chí ăn bánh uống nước,
để khỏi phụ lòng tốt của chủ nhân.Song cả năm người đã thủ mỗi người một khẩu súng lục, phòng
khi anh Tâm bị bắt không chịu được tra tấn dã man mà khai ra nhà cụ Phán Tường,
thì Ký Con và đồng chí đã có võ khí mở một đường máu chống bọn mật thám đến bao
vây nhà.Năm phút sau, không thấy tin tức gì, Ký Con cho lịnh anh em
giải tán.Đêm hôm ấy số phận anh Tâm ra sao?Anh Tâm đã gặp một tai nạn hi hữu trong lịch sử cách mạng mà
cổ kim, đông tây chưa bao giờ có.Một « tai nạn đầu Xuân ».Cũng không phải. Mà phải nói là « cái bổng đầu Xuân » mới
đúng, vì anh Tâm… được thưởng mề đai của Thực dân.Thế mới kỳ…Một ám sát viên đem bom đi ném vào Thực dân mà lại được Thực
dân ân thưởng.Tại sao thế?Nguyên là do sự hiểu lầm mà ra.Anh Tâm đến Sở Cảnh sát Quận nhì, thấy tên « cò » Satiani
đang cùng gia đình ăn cơm tối. Phòng ăn, có thể đứng ngoài trông thấy rõ người
bên trong, dù cửa kiếng trông ra đường đóng kín.Tâm ném một trái bom vào: bom nổ làm bể cửa kiếng, văng miểng
vào trong.Đến đây xin ngưng một phút để giải thích về trái bom năm
1930. Tuy gọi là « bom » theo tiếng thông dụng, nhưng nó chỉ nhỏ như trái lựu đạn.
Kỹ thuật chế bom lại thô sơ, ấu trĩ, nên công hiệu rất yếu.Quả bom của anh Tâm chẳng giết được ai, cũng như những bom của
4 đồng chí khác.Anh Tâm toan bồi thêm một trái thứ nhì nữa thì bỗng có một
người đi đường hoảng hốt chạy qua bên cạnh anh, đụng mạnh vào anh làm anh té
cái ạch. Trái bom thứ hai của anh đã rút ngòi, phát nổ, miểng trúng vào bụng
anh. Còn người lạ mặt đụng anh thì vô sự đã chạy mất.Anh Tâm đứng lên chạy theo. Có tiếng chân lính cảnh sát đuổi
sau lưng. Anh lanh trí, ôm bụng la lớn:« Ông đội xếp ơi, nó chạy đường này, bắt lấy nó. Nó ném bom
vào tôi ».Viên cảnh sát thấy anh Tâm bị thương, máu chảy ở bụng, còn
người chạy trước ảnh đã mất hút.Máu ở bụng anh Tâm làm cho viên cảnh sát chột dạ, không dám
đuổi theo nữa vì biết đâu đuổi theo sẽ lại chẳng ăn một viên đạn bắn trở lại.
Tâm được « thầy đội xếp » dìu lên xe đưa vào nhà thương điều trị.Nhờ mau trí khôn, biết quyền biến, anh Tâm từ một anh có chân
trong ban ám sát, đã thành một nạn nhân… của bọn « khủng bố ». Hơn nữa thực dân
còn ca tụng anh là « kẻ hiệp sĩ anh hùng dám đuổi theo một tên khủng bố ».
Trong bịnh viện anh Tâm được săn sóc châu đáo, rồi sau lành mạnh anh ra về.Trớ trêu hơn nữa là bàn tay của Hóa công đã đưa anh lên một
chỗ « vinh dự » mà kẻ bán nước quên nòi đều phải thèm muốn. Phủ Thống sứ cho
người đem huy chương vào bịnh viện gắn cho anh Tâm, ngày anh bình phục, ra về.Điều thứ nhứt anh làm khi về tới nhà là đi tìm Ký Con để báo
cáo sự việc đã xảy ra.--------------------------------
|
Sau này có kẻ bị bắt đã tố cáo sự thật về anh Tâm nên anh bị
đưa ra tòa xử. |
XII. HAI CHA CON HAI LẰN MỨC
Á! Mầy lại đem những cái « cặn bã văn minh » ấy ra mà tính
thuyết phục tao? Mở miệng ra là Rousseau với Montesquieu, chỉ những lý thuyết
suông chớ không nhìn vào đời thực tế. Cho mầy đi Tây học được cái bằng cử nhân
luật, những mong về nước làm nên danh phận, rạng rỡ tông đường, chớ đâu phải để
mầy nhồi sọ bằng những tư tưởng quá khích có ngày đi theo bọn « làm loạn » vào
tù sớm!
Đó là những câu mắng nhiếc rất thông thường mà gia nhân nhà Tổng
đốc Vi văn Định được nghe mỗi cuối tuần tại tư dinh của viên Tổng đốc tỉnh Thái
Bình. Những lời nghiêm huấn của cha dạy con: một thanh niên còn hăng hái, cậu
Vi văn Lê, con trai của Vi văn Định.
Vào khoảng 1929-1930.
Đất Bắc đang sôi động với phong trào khởi nghĩa chống Pháp.
Các hội kín bị tan vỡ, những tay sai của thực dân như cỡ Vi văn Định trong giới
quan trường, thi đua đàn áp các phần tử chống Pháp. Họ cúc cung tận tụy với «
quan thầy » và không bỏ cơ hội nào tỏ tình khuyển mã với « Mẫu quốc ». Thậm chí
họ muốn un đúc con cái theo đúng cái khuôn mẫu trung thành của họ nữa. Tổng đốc
Vi văn Định muốn cậu con trai của y sẽ thành một vị « quan lớn » cũng như mình
để vinh thân phì gia hơn mình gấp bội: Con hơn cha là nhà có phúc mà!
Nhưng cậu cử Lê sau mấy năm ăn học ở Pháp, tiêm nhiễm những
tư tưởng dân chủ, dân quyền, đâu có chịu uốn nắn thân mình trong khuôn mẫu của
phụ thân, một tên « sâu dân mọt nước » đã lừng tiếng về lối tra tấn dã man bằng
một cái chầy sắt.
Đáp lại lời mắng nhiếc của cha, cậu cử Lê thẳng thắn nói rõ ý
nghĩ của mình:
- Con xin cha suy xét lại. Dư luận đã ám chỉ đến cái chầy sắt
mà cha dùng để tra tấn các nhà cách mạng. Họ không dám nói huỵch toẹt ra, nhưng
một tờ báo đã dùng mánh lới đăng bài thơ vịnh « Cái chầy » bên cạnh chân dung của
cha đó.
- À! Tờ báo xỏ lá ấy à! Tao đã viết thơ cho quan Thống sứ
đóng cửa nó. Rồi mầy sẽ xem!
Vừa lúc nầy, một anh lính lệ đưa vào 1 công văn « hỏa tốc » của
viên công sứ tỉnh Thái Bình (tỉnh trưởng Pháp). Vi văn Định cầm lấy đọc xong,
tươi cười hớn hở, trao cho con xem:
- Mầy thấy không? Tao nói sai đâu. Tờ báo xỏ lá ấy, tờ « Đông
Tây » đã bị rút giấy phép. Để xem còn thằng nhà báo nào dám động đến chân lông
tao nữa.
- Nhưng còn dư luận ngấm ngầm, xin cha đừng coi rẻ.
- Tao sẽ diệt hết những đứa nào chống tao và chống « chính phủ
bảo hộ » ; thuyết dân chủ, dân quyền của mầy có mạnh bằng thần công, đại bác của
nước Pháp không?
Vi văn Lê lắc đầu, thở dài, không đàm luận nữa. Cậu tính quay
ra, về phòng riêng của cậu để nằm suy nghĩ. Nhưng cậu bị cha kêu giật lại:
- Mầy hãy ở đây, tao cho xem một biện pháp mạnh của tao để đối
phó với quân nổi loạn.
Nói rồi Vi văn Định nhận chuông. Một người cộng sự tâm phúc của
y chạy vào khúm núm nói:
- Dạ, bẩm cụ lớn gọi con.
- Kêu thằng mới bị bắt sáng nay lên đây. Dùng lối « Sư tử hí
cầu » nó sẽ phải khai hết.
Vi văn Định hất hàm ra lịnh như vậy.
Vi văn Lê thở dài nói nhỏ:
- Chầy sắt chưa đủ, còn « Sư tử hí cầu » nữa. Trò gì đây?
Lúc ấy một thanh niên tiều tụy được dẫn lên, để đứng ở ngoài
sân rộng, trước văn phòng của Tổng đốc họ Vi. Mặt mày sưng húp, quần áo rách
bương, đủ cho thấy thanh niên đã bị tra tấn nhiều lần. Viên đề lại hỏi chàng:
- Mầy đã khai thật chưa? Hay còn cố giấu?
- Dạ, oan con lắm.
- Thôi được! Tao cho chó « bẹc giê » nó phanh thây mầy ra
trăm mảnh.
Viên đề lại ra hiệu cho một lính lệ. Tức thì hai con chó lớn
gần bằng hai con bò con được mở cũi chảy xổng ra, vồ lấy con mồi là chàng thanh
niên bị tra vấn. Chàng hết hồn, té xuống dưới sức mạnh của hai con vật, chàng
tưởng bị « phanh thây ra trăm mảnh » như lời viên đề lại vừa nói. Kẻ nào mới thấy
cảnh tượng ấy cũng phải lo cho số phận chàng. Nhưng hai con « bẹc-giê » gởi mua
từ Pháp qua, đã được huấn luyện thuần thục: Chúng chỉ làm cho chàng thanh niên
hồn vía lên mây, mà không cắn ; chúng « quần thảo » chàng một hồi, tung lên đè
xuống, thật như món võ « Sư tử hí cầu » của các nhà nghề võ thuật.
Viên đề lại kêu hai con chó tới gần y, chờ chàng thanh niên
hoàn hồn rồi hỏi tiếp:
- Mày khai chưa, hay để tao ra lịnh cho chó ăn thịt mày?
- Oan con lắm!
Vi văn Định truyền lịnh cho viên đề lại:
- Hãy giam nó vào ngục cho nó còn có thì giờ suy nghĩ.
Vi văn Lê nói thẳng với cha:
- Cha muốn bắt chước Néron thời xưa cho cọp ăn thịt tội nhân
chắc! Néron còn để tiếng với sử sách muôn đời.
- Mày câm miệng đi. Hết Rousseau lại đến Néron! Mày hãy đi
cho khuất mắt tao.
Vi văn Lê buồn bã, cúi đầu, lững thững về phòng riêng của
mình trong dinh Tổng đốc.
Chàng nghĩ đến cha mình và mình ở hẳn hai lằn mức: cha thì hại
dân hại nước ; mình thì mong muốn đem khả năng ra giúp ích cho đồng bào. Nhưng
khó đi đến chỗ dung hòa được.
Từ ngày giựt được mảnh bằng Cử nhân luật ở bên Pháp trở về,
chàng quyết không nghe lời cha đi làm tri huyện để nhờ thế lực của cha mà bước
những bước dài trên hoạn lộ. Chàng mở một phòng tư vấn pháp luật để chỉ dẫn cho
người có việc lui tới tòa án.
Mỗi tuần, chàng từ Hà Nội về Thái Bình thăm cha vào chiều thứ
bảy. Mỗi lần là mỗi có cuộc tranh luận và bất đồng ý kiến giữa hai cha con. « Hổ
phụ sao không sinh hổ tử mà lại sinh ra khuyển tử như mày? « Vi văn Định vẫn vỗ
bàn la lớn.
Vi văn Lê buồn lắm, nhất là chàng thường đi tiếp xúc với dân
chúng nghe được những dư luận không tốt đối với phụ thân.
Một đêm chàng suy nghĩ thế nào mà lại nẩy ra một sáng kiến:
giải thoát cho những nhà cách mạng lớn tuổi đang bị giam giữ trong ngục thất ;
các ông ấy chịu sao nổi trò « Sư tử Hí Cầu ».
Đêm ấy chàng đến trước cửa trại giam, bảo tên lính gác mở cửa
cho chàng vào. Với con trai của quan Tổng đốc, ai còn dám nghi ngờ gì nữa. Anh
lính cũng tưởng chừng « lệnh lang » của cụ lớn vào ngục để tra vấn một tội
nhân,
Thừa lúc lính gác không để ý, Vi văn Lê nhìn thấy một chỗ trống
ở trên một phòng giam cá nhân, có thể thông ra đường. Chàng bèn hối thúc anh tù
nhân ở đây leo lên lưng chàng, bước lên vai chàng như bậc thang, rồi trốn thoát
ra ngoài phố.
Có tiếng động, chàng phải ra về.
Sáng hôm sau, Vi văn Định kêu đến tù nhân phòng này lên hỏi
cung mới hay con mình đã « tháo cũi xổ lồng »… Lại nhằm vào một yếu nhân cách mạng
mà y định khai thác. Y tức bầm gan.
Y kêu con lên văn phòng, mắng nhiếc sỉ vả một hồi, thiếu điều
muốn đánh cho chàng một trận mới hả giận.
Hôm sau người cha sắt đá quyết đầy con trai lên mạn ngược
(vùng thượng du). Trước kia, họ Vi làm tri châu ở Sơn La, biết nơi đây đèo heo
hút gió, bắt con lên đây ở thì hết còn có tư tưởng dân chủ, dân quyền, hết còn
binh vực bọn « nổi loạn ».
Vi Văn Lê dầu đã đi du học ngoại quốc về nhưng còn thấm nhuần
chút nho giáo, vẫn còn thần phục uy quyền của cha. Chàng cam chịu cái án đi
đày, mong chẳng đến đỗi phải chung thân. Vì chàng nghĩ hổ dữ cũng không đến ăn
thịt con ; chẳng bao lâu chàng sẽ được cha ân xá mà trở về Hà nội.
Ngày tháng trôi qua… Vi văn Lê cỡi ngựa đi giải trí trên
thung lũng trong khung cảnh âm u của thiên nhiên, chung quanh chỉ có đất với trời.
Tánh hăng hái không chịu nổi sự giam hãm trong cô độc, chàng thường phóng ngựa
chạy từ đồi nọ sang đồi kia, để tiết bớt sinh lực nóng hổi ra ngoài.
Rồi một hôm, con ngựa cũng hăng sức phóng nước lớn, hụt chân
quăng chàng thanh niên xuống vực thẳm. Chàng đau quá, lịm đi, không có ai đến cứu,
mặc dầu con ngựa hí vang động bốn phía. Tiếng gió rì rào với cành cây phủ lên tạo
vật một màu đen tối. Trời thảm đất sầu tiễn đưa một linh hồn thanh niên khẳng
khái về bên kia thế giới sau hai tháng bị đầy trên mạn ngược.
Tiếng gió như còn gọi lên ba tiếng:
Vi văn Lê! Vi văn Lê.
XIII. NGUYỄN VĂN SÂM : CHỦ BÁO, KHÂM SAI, LÃNH TỤ CHÁNH TRỊ,
ĐI XE BUÝT, ĐỂ BỊ ÁM SÁT
Trong các ký giả, một vị đàn anh để lại mãi hình ảnh trong ký
ức nhiều người trong hay ngoài làng: đó là ông Nguyễn Văn Sâm, Hội trưởng hội Ajac,
chủ nhiệm báo Đuốc Nhà Nam.
Làm chủ báo mà lại là tờ báo đối lập với chánh quyền thực dân
lúc thực dân toàn thịnh, nên ông Sâm rất nghèo, tòa báo thiếu cả 12 tháng tiền
phố.
Tốt nghiệp trường Cao-đẳng Công-chánh, nếu ông đi làm việc «
nhà nước » thì cũng lên đến địa vị cao sang ở « sở Trường tiền » đâu có đến đỗi.
Song ông lại không ham cái nghề công chức cao cấp, ông dấn thân vào cái nghề bạc
bẽo: nghề viết báo.
Tánh trầm tĩnh, ôn hòa, ông được đồng nghiệp đưa lên địa vị
điều khiển hội Ajac, một hội tương tế của làng báo Nam Kỳ. Hồi Pháp thuộc
không có tự do nghiệp đoàn, các người làm cùng nghề chỉ được phép lập hội tương
tế hay ái hữu mà trong điều lệ phải ghi rõ: « Tất cả các cuộc thảo luận chánh
trị hay tôn giáo đều cấm ngặt. » Điều lệ cũng như tên hội phải thảo bằng tiếng Pháp,
dùng làm văn kiện căn cứ, còn bổn dịch ra tiếng Việt chỉ là bổn phụ. Ajac là
bốn mẫu tự trong cái tên mà các hội viên sáng lập đã đặt cho hội: Association
des Journalistes Annamites de Cochinchine.
Tuy ghét hội này không chịu an phận thủ thường như các hội «
ăn nhậu » khác, nhà cầm quyền chưa dám bóp chết Ajac vì còn sợ thất
nhân tâm.
Năm 1969, có phong trào đàn áp báo chí, hội Ajac bị
giải tán luôn, với cớ là « hội đã làm chánh trị, trái với điều lệ của hội ».
Năm đó Pháp lâm vào cuộc chiến tranh với Đức. Ajac bị giải tán, ông hội
trưởng của nó còn bị đưa đi an trí tại Sốc trăng, sanh quán của ông. Lý do thực
sự khiến Thống đốc Nam kỳ ghét ông Nguyễn Văn Sâm là vì ông đối lập với chánh
quyền, đả kích mãnh liệt ông Bùi Quang Chiêu, ứng cử viên do Thống đốc bảo trợ
trong cuộc bầu cử đại biểu Nam Kỳ vào Thượng Hội-đồng Thuộc địa.
Khi Nhựt đảo chánh Pháp, ông Nguyễn Văn Sâm mới được rời Sốc
trăng về Saigon hoạt động trở lại. Ông hợp tác với ông Hồ Văn Ngà, xuất bản tờ
báo Hưng Việt, lập một chánh đảng để phụng sự lý tưởng của ông.
Năm 1945, Chánh phủ Trần Trọng Kim cử ông làm Khâm sai Nam Việt
và mời ông ra Huế để lãnh Chiếu tấn phong. Nhưng Nam kỳ đang bị Nhựt giữ nguyên
trạng trong chế độ cũ, cuộc điều đình giữa Chánh phủ Việt Nam cùng nhà cầm quyền
quân sự Nhựt ở Đông dương, kéo dài cả 5 tháng mới kết thúc. Ông Sâm phải chờ đợi
rất lâu ở Huế ; khi Nhựt chịu giao trả thuộc địa cũ của Pháp cho Việt Nam, thì
Việt Minh đã bắt đầu cướp chánh quyền ở Nam kỳ trong khi ông Khâm Sai mới từ Huế
trở vào Saigon ít ngày.
Về đoạn sử bi đát này, chúng tôi xin mượn lời của ký giả Nam
Đình, vì ông này đã từng sống bên ông Sâm ở Huế, với tư cách Đổng lý Văn phòng
bộ Tư pháp. Ông Nam Đình thuật ngày trở về như sau này trong cuốn « Hồi Ký »
của ông:
« Chánh phủ Trần Trọng Kim giao cho Khâm sai một chiếc xe
Ford số P.I (Palais Impérial) và một sốp phơ phản động, mới là nguy!
« Tôi không biết có phải Việt Minh sắp đặt như thế hay không,
mà xe hơi vừa ra khỏi Huế là… suýt chút nữa đâm đầu xuống hố, nếu tôi không lẹ
tay kéo tay bánh lại kịp.
« Không phải tôi lãnh sứ mạng của bộ Tư Pháp đưa Khâm sai
Nguyễn Văn Sâm về Saigon: tôi đi với tư cách riêng, không dính líu gì với Khâm
sai.
« Thoát chết lần đầu, Nguyễn Văn Sâm cũng không để ý… Đến lần
thứ nhì, chiếc xe hơi sụp vào bãi cát lớn. Thế là chiếc xe nằm ì ở đó…
« Sốp phơ phá hoại, rồi đến Việt Minh ở Quảng Ngãi đốn 10 cây
số cây trồng 2 bên đường. Thế là chiếc xe Ford không thể tiến hành một cây số
nào nữa.
« Nguyễn Văn Sâm phải trở về Đà Nẵng, đánh điện về Huế, kêu cứu
với Chánh phủ Trần Trọng Kim rằng: Đường về Nam thấy còn nhiều trở ngại. Nếu có
được máy bay mà Nhựt chịu cho mượn mới mong về Saigon đúng ngày giờ đã định, bằng
không chưa biết ngày nào về tới Saigon.
« Thủ tướng Trần Trọng Kim hỏi quân đội Nhựt và được biết: Đã
đình chiến rồi. Đồng minh ra lịnh không cho máy bay cất cánh.
« Bây giờ làm sao đưa Khâm sai về Nam bộ? Quân đội Nhựt cho
20 cam nhông lính dẹp hàng ngàn cây nằm ngổn ngang trên đường Quảng Ngãi vào
Nam…
« Ra tới Tam-kỳ, chúng tôi ghé lại Phủ đường, nhờ dây thép
đánh về Huế. Nguyễn Văn Sâm sợ Việt Minh ở Saigon làm hỗn, cướp chánh quyền,
nên đánh điện về Thủ-tướng Trần Trọng Kim xin ký sắc lịnh bổ nhiệm Hồ Văn Ngà –
có mặt tại Saigon – tạm giữ chức Khâm sai Nam-bộ. Rồi Khâm sai sẽ về sau…
« Gần tới Khánh Hòa, quang cảnh thấy khác thường: dân tình êm
lặng như sợ sệt một việc gì… Xe hơi mang cờ Quẻ Ly vào trung tâm Khánh Hòa, tức
thì bị Dân Quân Cách Mạng nhảy lên xe, xé cờ Quẻ Ly và bắt trọn xe đưa về Công
an. Thế là rõ rệt: Khánh Hòa vừa bị cướp chánh quyền 6 giờ chiều hôm qua.
« Họ bắt Nguyễn Văn Sâm giam giữ một nơi. Tôi và Diệp Ba bị
giam giữ một nơi khác.
(Một đoạn dài của ông Nam Đình không liên hệ đến ông Nguyễn
Văn Sâm, xin lược bỏ).
« Một đêm sống trong kinh khủng…
« Nhưng sáng lại, lính gác rút dần dần, làm cho mình nhẹ lo
phần nào. Vào độ 10 giờ, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng ôm cặp đến trại
lính cho tôi hay:
- Anh cùng về với ông Khâm sai.
« Đang lúc còn ngơ ngẩn, kế thấy xe hơi đưa Nguyễn văn Sâm tới.
Chúng tôi cùng lên xe. Xe của ông chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng – xe « trắc
xông » có cờ đỏ sao vàng – mở đường đi trước và nói:
- Chúng tôi đưa các anh ra khỏi biên giới.
…« Đường về Nam bộ, xe Khâm sai vượt qua khỏi ranh Phan Thiết
là gặp những khải hoàn môn dựng trước công sở, đón tiếp nồng hậu… 1
« Ông Tỉnh trưởng Phan thiết đã đánh điện tín về các tỉnh, quận,
mà Khâm sai sẽ đi qua, trên quốc lộ số 1, nên đâu đâu đều chuẩn bị cuộc tiếp rước…
« Xe chưa vào châu thành Biên Hòa, là gặp một chiếc xe hơi trắc
xông có cắm cờ, đón giữa đường, ở một nơi vắng vẻ…
- À! Anh Huỳnh Văn Phương… Diệp Ba la lên.
« Ông Huỳnh Văn Phương lãnh chức Tổng giám đốc Công an, lên
đây trước, đón ông Nguyễn Văn Sâm đặng hỏi tin tức…
« Xe của Huỳnh Văn Phương mang cờ công an, chạy trước mở đường.
« Rồi Thủ Đức, Gia định, Saigon. Dân chúng đứng chật hai bên
đường, từ Đất Hộ (Đakao) về tới đường Lagrandière (Gia Long) dinh thống đốc là
nơi còn Minoda 2.
« Xe Huỳnh Văn Phương ngừng ở Đất Hộ, để một mình xe ông Khâm
sai vào Saigon, đặng cuộc tiếp rước không lầm lẫn… »
Khi không ngồi ghế Khâm sai nữa, ông Nguyễn Văn Sâm trở về với
nghề làm báo. Ông cố gắng quy tụ các phần tử quốc gia chân chánh, tìm một giải
pháp quốc gia cho cuộc chiến tranh Việt Pháp.
Tuy là một yếu nhân trên chánh trường, ông vẫn sống thanh bạch,
bình thường. Đi đâu ông ít mượn xe hơi của anh em, mà lại hay đi xe buýt. Ông
không có xe riêng.
Rồi một hôm trên chiếc xe buýt Saigon-Chợ lớn, chạy tới trạm
đường Cây Mai, ngừng lại. Mấy tiếng súng lục nổ chát chúa: bọn khủng bố đã hạ
sát ông Nguyễn Văn Sâm trên xe.
Năm ấy là năm 1948.
Một ngày trời thảm, đất sầu.
Nghe tin này, ai cũng sửng sốt, bồi hồi. Một chiến sĩ của báo
giới, của chính trường, suốt đời trong trắng, chỉ biết tranh đấu cho lý tưởng,
vừa ngã gục dưới những hòn đạn bạo tàn.
Vè kẻ viết bài này lại nhớ đến mấy câu thơ cũ của Phan Bội
Châu:
Hỡi người ái quốc!
Xin ái thực thà:
Quên mình quên nhà,
Chỉ biết có Nước.
Tôi bùi ngùi nhớ lại nhà ái quốc Nguyễn Văn Sâm.
--------------------------------
|
Phan thiết chưa có Cách mạng, còn yên ổn. |
|
|
Thống đốc Nhựt hồi đó. |
XIV. THI SĨ VIỆT CHÂU « TẠM GÁC THI VĂN KHOÁC CHIẾN BÀO »
Trong giới Phật giáo Hòa Hảo ai là không biết thi sĩ Việt
Châu, một nhà thơ trẻ tuổi mà danh tánh một thời đã vang dội ở miền Tây, với chức
bí thư của Đức Huỳnh giáo chủ.
Người ta nhớ đến Việt Châu cũng như nhớ đến Đức « Thầy ». Một
sự tình cờ của Định Mạng đã đưa Việt Châu tới gần vị Giáo chủ để mà thành bí
thư tín cẩn của « Thầy » đi theo sát « Thầy » như bóng theo người, cùng chung
là việc nước trong những giờ phút nghiêm trọng của miền Nam năm 1945.
Lúc sanh thời, Huỳnh giáo Chủ rất tâm đắc với Việt Châu. Những
khi đi thăm tín đồ ở Cần Thơ, Long Xuyên. Người đều kêu viên bí thư đi theo và
trên đường trường nắng gắt, thầy trò xướng họa với nhau, xuất khẩu thành thi,
thật là tương đắc. Hai thầy trò xuất khẩu những vần thơ thanh tao, hùng tráng,
mô tả cảnh đẹp của miền quê đất nước ; hai thầy trò cùng rung cảm trước cảnh gấm
vóc của non sông.
Bây giờ thi sĩ Việt Châu không còn nữa.
Đời của nhà thơ trẻ tuổi ấy ra sao chúng ta cũng cần biết rõ.
Năm 1942, tuần báo « Tiểu thuyết Thứ Bẩy » ở Hà Nội
đăng một bài trường thi với nhan đề « Lông Ngỗng Gieo Tình » ký bút hiệu Việt
Châu. Đây là một truyện lịch sử bằng thơ, nói lên mối tình đau thương của Mỵ
Châu Trọng Thủy.
« Lông Ngỗng Gieo Tình » đã làm cho văn giới từ Bắc vào Nam hỏi
nhau: « Việt Châu là ai? » Bài thơ dài ấy thật là tiếng kêu bi đát, nói lên cái
hại của ái tình mù quáng, nhắn nhủ thanh niên chớ có sa ngã vào cạm bẫy trên
tình trường. Nhà bình phẩm văn học Vũ Ngọc Phan đã không tiếc lời ca tụng, khi
bài trường thi ấy được xuất bản thành sách.
Đối với Trung, Bắc, nhiều người chưa biết Việt Châu, thì tác
phẩm này đã giới thiệu một tài hoa trẻ tuổi với hai địa phương ấy.
Nhưng độc giả trong Nam đọc thơ Việt Châu thì tác phẩm này đã
giới thiệu một tài hoa trẻ tuổi với hai địa phương ấy.
Nhưng độc giả trong Nam đọc thơ Việt Châu từ lâu rồi, từ khi
còn tờ báo « Lục Tỉnh Tân Văn » của ông Nguyễn văn Của.
Sanh ngày 7 tháng 3 năm 1918, Việt Châu tên thật là Nguyễn
Xuân Thiếp, con một gia đình nho phong làng Tân Thạnh, tỉnh Long Xuyên.
Thân phụ là cụ Phương Sơn, một nhân vật của phong trào « Đông
Kinh Nghĩa Thục ».
Nguyễn xuân Thiếp là con thứ ba của cụ.
Thông minh khác thường từ thuở nhỏ, 5 tuổi đã đọc rành quốc
ngữ, 7 tuổi thuộc làu nhiều thơ văn cổ điển. Nguyễn xuân Thiếp đi học trường
làng, tánh tình rất dạn dĩ tự nhiên. Bởi vậy năm lên 9 tuổi, cậu học trò ấy đã
đọc một bài chúc từ trước mặt đông đủ các nhân vật quyền chức sở tại nhân dịp lễ
phát phần thưởng.
Theo nền nếp nho phong, cụ thân sinh bắt Thiếp học thêm chữ
Hán ; do đó mà lớn lên Thiếp có dịp làm y sĩ, đem y đạo ra cứu thế độ nhân.
Mười tuổi đã làm thơ bát cú, tứ tuyệt, nhà thơ tí hon ấy lắm
khi thi hứng dồi dào, xuất khẩu thành thi mà lại là thơ có niêm, luật đàng
hoàng. Cái mới khó, mới lạ. Ai cũng khen là một thiên tài. Năm 1928-1929 đâu có
các thi, văn đoàn, bút nhóm nhiều như ngày nay, có đâu những tài hoa bộc phát
được đưa ra ánh sáng dư luận.
Nhưng không bao lâu, mới 16 tuổi, Nguyễn Xuân Thiếp đã có
duyên văn trên báo chí, bước vào làng thơ với bút hiệu Việt Châu: Tờ « Lục Tỉnh
Tân Văn » dưới bút quyền của cụ Nguyễn chánh Sắt đã mở một « Phụ trương Văn
Chương » giao cho Việt Châu phụ trách. (Hồi ấy chưa có danh từ Văn Nghệ).
Trên văn đàn của tờ báo, Việt Châu quy tụ một số bạn trẻ
thành một nhóm lấy tên là « Văn Đàn Đốc Vang Thượng » theo địa danh của làng
anh. Các bạn trẻ ngày nay đua nhau lập thi văn đoàn, bút nhóm này nọ, có ai nhớ
đến thi sĩ Việt Châu hồi 16 tuổi, năm 1934 đã có sáng kiến đầu tiên lập một «
văn đàn » cho tuổi trẻ trau giồi văn nghệ?
Sau « Lục Tỉnh Tân Văn » Việt Châu viết bài cho mấy tờ báo
khác ở Saigon như tuần báo « Mai» của Đào Trinh Nhất, trong đó Việt Châu giữ mục
«Trường thơ». Tuần báo « Văn Chương » có mục « Trường Văn Trận Bút » giao cho
Việt Châu phụ trách.
Dưới thời Pháp thuộc, Việt Châu gom thơ thành mấy tập sau đây
đem xuất bản
- Xuân Xanh (1933-1935)
- Tình Thơ (1938-1942)
- Lông Ngỗng Gieo Tình (1942)
- Hải Đường Hoa Rụng (1943): một tập trường thi tả mối tình
Đường Minh Hoàng với Dương quý Phi.
- Tráng sĩ ca (1944) gồm những thơ hùng tráng.
Sau tập này, độc giả đã ví Việt Châu trong Nam với các thi sĩ
đang nổi danh ngoài Bắc. Trong báo « MAI » Đào trinh Nhất đã phê bình như sau:
«Người lục tỉnh đầu tiên có thể chiếm một địa vị ngang hàng với
mấy thi sĩ tài danh bực nhứt của chúng ta hiện thời là Việt Châu ».
Muốn thấy rõ tài hoa của nhà thơ trẻ tuổi, chúng ta hãy đọc lại
bài thơ tình cảm nhan đề « Bến Lăng Tô » của ông:
Nắng nhạt, sương về trên bến nước,
Những hồn du tử thả lên sương.
Những hồn du tử bâng khuâng nhớ:
Tình ái vô duyên để đoạn trường.
Tôi biết khi cầu sương ngã bóng,
Bao lòng thơ mộng ngả trong mơ.
Nỗi niềm u ẩn lan sóng nước,
Tình ai trôi xuôi chẳng đợi chờ.
Viễn ảnh thuyền tình mơ ảo quá,
Mong gì nữa, hỡi khách sang sông
Chiều nay sông đẹp, sông tươi thế
Mà khách sang sông chạnh não nùng
Thuyền tình hờ hững xa xôi lướt
In bóng lên sương, bóng hững hờ
Thuyền hỡi thấu chăng nông nỗi khách?
…Buồn nghe gió cuốn bến Lăng Tô
Thơ Việt Châu phảng phất cái buồn nhè nhẹ của Thế Lữ, và mối
tình man mác của Huy Thông.
Nhưng Thế chiến thứ II bùng nổ, giang sơn đất nước Việt Nam
cũng không tránh khỏi cảnh tang thương. Việt Châu tỏ niềm cảm khái trong bài
thơ sau đây:
Long trời lở đất súng thần công,
Lưng ngựa thanh gươm, chí vẫy vùng
Hơi độc mờ bay, thây chất núi,
Tiếng bom vang nổ, máu hòa sông
Dũng, Trung, hai tiếng như kêu gọi
Thê, Tử: thường tình hết nhớ nhung
Chiến sĩ khi nhìn gươm đẫm máu
Mỉm cười: song chửa nợ tang bồng?
Biết qua cuộc đời của nhà thơ, bây giờ chúng ta tìm hiểu cuộc
đời nhà cách mạng của Việt Châu.
Ngoài 20, tuổi Việt Châu lập gia đình với một thiếu nữ, con một
hương chức làng Hòa An (Cao Lãnh).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét