Thứ Năm, 23 tháng 12, 2021

Gương người xưa 2

Gương người xưa 2

VIII. TIẾNG SÚNG KHỞI NGHĨA ĐẦU TIÊN
Một hôm vào mùa hạ năm 1915, tại tòa Lãnh sự Đức, ở Vọng Các, có thết một bữa ăn thân mật trong vườn hoa Sứ quán.
Dự tiệc, ngoài hai ông sứ thần Đức và Áo là chủ nhân, chỉ có hai người Việt-Nam bận Âu phục, một người thông ngôn và nữ bí thư của lãnh sự Đức. Tất cả 6 người trong lúc ăn uống, nói chuyện mưa gió phong tục, tập quán của dân bổn xứ hai bên, chứ không đá động gì đến quốc gia đại sự.
Ấy vậy mà hai người khách dự tiệc, hai người Việt Nam, lại là hai nhà cách mạng bôn ba hải ngoại: cụ Mai Sơn và cụ Đặng tử Kính, đồng chí của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, ở Quảng Đông mới tới Xiêm (Thái Lan).
Hai nước Đức và Áo hồi ấy còn là đồng minh và cuộc chiến tranh Pháp Đức đã bước qua năm thứ nhì. Người Đức muốn liên lạc với nhà cách mạng Việt Nam để ngầm giúp, hầu mong có thể gây lên một cuộc khởi nghĩa ở V.N. hầu làm khó dễ cho chính phủ Pháp. Người Pháp sẽ lo lắng đối phó với tình hình thuộc địa sẽ yếu thế ở ngay trong nước, quân đội Đức sẽ có cơ hội thắng lợi.
Tòa lãnh sự Đức đa tỏ ý muốn gặp Kỳ ngoại hầu Cường Để song nhằm lúc cụ Cường Để đi viếng Âu châu, không có mặt ở nước Tàu, còn cụ Phan bội Châu, người thứ nhì cầm quyền điều khiển các nhà cách mạng ở hải ngoại, thì lại mắc vòng lao lý: cụ đang bị giam cầm ở Quảng Đông, vì Long Tế Quang bắt cụ, toan bán cho Pháp.
Từ ngục thất, cụ Phan bội Châu được báo tin tòa lãnh sự Đức muốn tiếp xúc với đảng cách mạng, cụ bèn cử hai cụ Mai Sơn và Đặng tử Kính thay mặt các đồng chí mà đi Xiêm nói chuyện.
Sau các cuộc mật đàm, khi ở tòa lãnh sự, khi ở nhà riêng các bạn hữu ông đại sứ, để tránh tai mắt của gián điệp, hai cụ Mai và Đặng đã hiểu rõ thâm ý của nước Đức: muốn giúp phong trào cách mạng nổi lên ở Việt Nam, nhưng giúp một cách kín đáo, không chánh thức và để cho hai ông lãnh sự Đức-Áo lấy tư cách cá nhân mà giúp trong giai đoạn đầu, nếu cuộc nổi dậy chống Pháp có thể thành công, tức khi đã khắc phục được một phần lãnh thổ rồi, nước Đức sẽ công khai nhìn nhận tân chính phủ V.N. và viện trợ vật chất một cách mạnh mẽ.
Hai đại diện cách mạng Việt Nam đã trình bày hết thực lực của V.N. ở hải ngoại cũng như ở trong nước và thiết tha yêu cầu Đức giúp đỡ.
Sau các cuộc mật đàm, đến tiệc thân thiện để kết thúc câu chuyện.
Hai vị lãnh sự Đức, Áo mời hai cụ Mai và Đặng đi tản bộ trong vườn rồi kín đáo đưa tặng hai cụ một số tiền lớn 10.000 ti-cô (tiền Xiêm) gọi là tượng trưng cho cuộc sơ giao và nhấn mạnh rằng đó là do tự động của cá nhân hai ông.
Số tiền một vạn đồng ti-cô hồi ấy là một số tiền rất lớn vì công dụng của nó đã giúp cho các nhà cách mạng mở được một cuộc tấn công đầu tiên ở vùng Cao Bằng và nếu thành thì chắc là đại cuộc đã tiến triển thuận lợi để đi tới giải thoát xứ sở.
Số 10.000 bạc Xiêm đem về Quảng Đông. Các nhà cách mạng hồi ấy chia ra ba khuynh hướng mỗi phe đưa ra một chương trình hoạt động.
Phe Tán Thuật (Nguyễn Thiện Thuật) muốn do đường Đông Hưng đánh về Móng Cáy.
Phe Mai Sơn muốn do đường Long Châu tràn về Lạng Sơn.
Sau chót, phe thứ ba do cụ Hoàng Trọng Mậu lãnh đạo, chủ trương đánh đồn Tà Lùng của Pháp ở tỉnh Cao Bằng.
Sau nhiều cuộc bàn cãi gay go, rút cuộc kế hoạch thứ ba đắc thắng vì có nhiều người tán thành song cũng đã gây chia sẽ ngấm ngầm trong nội bộ đảng cách mạng, làm giảm mất tình đoàn kết là sức mạnh cần thiết trong các công cuộc lớn.
Cụ Hoàng Trọng Mậu cử ông Đinh Hồng Việt đảm lãnh việc quân sự. Ông Đinh Hồng Việt còn có tên là giáo Trung nữa, là con cụ tổng đốc Đinh duy Trinh tỉnh Nam Định (Bắc Việt). Giáo Trung có một người em lấy Trương như Cương, thượng thơ bộ lại ở triều đình Huế. Ông Cương sinh ra một người con gái gả cho Hoàng thân Bửu Đào tức vua Khải Định sau này (thân phụ của Bảo Đại). Nhưng một năm trước khi lên ngôi, Hoàng thân Bửu Đào đã bỏ vợ, để lấy người khác.
Tóm lại, Giáo Trung đáng lẽ là cậu vợ của vua Khải Định.
Năm 1906 ông xin nghỉ dạy học ở Nam Định, tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục.
Khi Đông Kinh Nghĩa Thục bị đóng cửa, ông trốn sang Tàu tính theo các nhà cách mạng mưu toan đại sự, song ông bị bắt ở vùng biên giới và bị kết án 6 tháng tù. Tù tội cũng không làm nhụt được nhuệ khí của ông. Hết hạn tù ông lại trở về con đường cũ. Lần này ông đi thoát sang Vân Nam rồi hoạt động cùng các nhà cách mạng đã xuất ngoại trước ông.sứ » ở Vọng Các, tức làm trung gian cho đảng cách mạng giao thiệp cùng các Việt Kiều ở Xiêm và các người ngoại quốc.
Đến tháng 3 năm 1915 đảng cách mạng quyết đánh đồn Tà Lùng chiếm cứ tỉnh Cao Bằng làm căn điểm xuất phát cuộc tổng khởi nghĩa.
Bộ tham mưu đặt tại nhà một người Tàu tên là A Nông tại Long Châu ; nhà này còn là nơi chưa võ khí của đảng cách mạng Việt-Nam nữa. Nhà cầm quyền địa phương Tàu hồi ấy cũng biết các cuộc toan tính này song nhắm mắt bỏ qua, chờ nếu phe cách mạnh thành công thì nước Tàu là nước được hưởng những quyền tối huệ. Hơn nữa trong quân đội khởi nghĩa sẽ kéo về giải phóng lãnh thổ Việt-Nam có cả người Tàu nữa. Ông Hoàng Trọng Mậu nhờ một vạn bạc của lãnh sự Đức viện trợ mà có tiền mộ lính Tàu, trả lương cho họ 10 đồng một tháng: ông còn mộ cả lính Thổ (dân thượng du Bắc Việt).
Toán lính xung phong được giao cho Giáo Trung chỉ huy gồm 100 người: 50 người Việt đi tiền đạo và 40 người Tàu cùng 10 người Thổ đi hậu tập. Ngoài ra còn một người Việt sống lâu năm ở vùng biên giới lãnh việc chỉ đạo vì anh em này rất am tường những đường mòn băng qua rừng già.
Võ khí của đoàn xung phong gồm có 10 súng trường, 40 súng lục, 20 cái rựa, (búa chặt cây trong rừng), 60 trái lựu đạn.
Đêm 12 rạng ngày 13 tháng 3 dương lịch, người chỉ đạo đi dọ đường vào 3 giờ và 4 giờ sáng đoàn quân khởi nghĩa tới Tà Lùng.
« Ách cha là ; Chiu viu! »
Câu cảnh cáo ấy vừa thốt ra ở cửa miệng anh lính khố đỏ Lê Luân ; anh gác đồn Tà Lùng, đứng trên pháo đài ở hướng Tây Nam, vừa nhận thấy tiếng động như có chân người đi từ phía ngoài tiến tới gần đồn.
Xin mở một dấu ngoặc để giải thích qua câu hô trên đây: thời Pháp thuộc, các lính bổn xứ dù là Việt hay Miên, Lào, bị tuyển mộ trong các cơ binh khố xanh hay khố đỏ, đều dùng tất cả các hiệu lịnh nhà binh bằng tiếng Pháp. Nói với viên đại úy, người lính thất học cũng làu làu tiếng « Tây bồi » và gọi đại úy là « Cập tển ». Các khẩu hiệu nhà binh anh cũng biết hô bằng tiếng « Tây bồi » nữa.
« Ách cha la, chiu viu » là âm ở câu: « Halte là! Qui vive! ».
Các cấp người Pháp muốn hiểu thế nào thì hiểu.
Những bóng người tiến tới tuy không rành tiếng Pháp, song cũng cảm thấy câu hô ấy có nghĩa là: dừng chân lại! không tôi bắn nát « Ai đó! Tớ đây mà ».
Ông kết thân với Hoàng Trọng Mậu, Nguyễn cẩm Giang (tức cụ Nguyễn Hải Thần) và được các đồng chí giao cho lãnh chức «Trung gian sứ » ở Vọng Các, tức làm trung gian cho đảng cách mạng giao thiệp cùng các Việt Kiều ở Xiêm và các người ngoại quốc.
Đến tháng 3 năm 1915 đảng cách mạng quyết đánh đồn Tà Lùng chiếm cứ tỉnh Cao Bằng làm căn điểm xuất phát cuộc tổng khởi nghĩa.
Bộ tham mưu đặt tại nhà một người Tàu tên là A Nông tại Long Châu ; nhà này còn là nơi chưa võ khí của đảng cách mạng Việt-Nam nữa. Nhà cầm quyền địa phương Tàu hồi ấy cũng biết các cuộc toan tính này song nhắm mắt bỏ qua, chờ nếu phe cách mạnh thành công thì nước Tàu là nước được hưởng những quyền tối huệ. Hơn nữa trong quân đội khởi nghĩa sẽ kéo về giải phóng lãnh thổ Việt-Nam có cả người Tàu nữa. Ông Hoàng Trọng Mậu nhờ một vạn bạc của lãnh sự Đức viện trợ mà có tiền mộ lính Tàu, trả lương cho họ 10 đồng một tháng: ông còn mộ cả lính Thổ (dân thượng du Bắc Việt).
Toán lính xung phong được giao cho Giáo Trung chỉ huy gồm 100 người: 50 người Việt đi tiền đạo và 40 người Tàu cùng 10 người Thổ đi hậu tập. Ngoài ra còn một người Việt sống lâu năm ở vùng biên giới lãnh việc chỉ đạo vì anh em này rất am tường những đường mòn băng qua rừng già.
Võ khí của đoàn xung phong gồm có 10 súng trường, 40 súng lục, 20 cái rựa, (búa chặt cây trong rừng), 60 trái lựu đạn.
Đêm 12 rạng ngày 13 tháng 3 dương lịch, người chỉ đạo đi dọ đường vào 3 giờ và 4 giờ sáng đoàn quân khởi nghĩa tới Tà Lùng.
« Ách cha là ; Chiu viu! »
Câu cảnh cáo ấy vừa thốt ra ở cửa miệng anh lính khố đỏ Lê Luân ; anh gác đồn Tà Lùng, đứng trên pháo đài ở hướng Tây Nam, vừa nhận thấy tiếng động như có chân người đi từ phía ngoài tiến tới gần đồn.
Xin mở một dấu ngoặc để giải thích qua câu hô trên đây: thời Pháp thuộc, các lính bổn xứ dù là Việt hay Miên, Lào, bị tuyển mộ trong các cơ binh khố xanh hay khố đỏ, đều dùng tất cả các hiệu lịnh nhà binh bằng tiếng Pháp. Nói với viên đại úy, người lính thất học cũng làu làu tiếng « Tây bồi » và gọi đại úy là « Cập tển ». Các khẩu hiệu nhà binh anh cũng biết hô bằng tiếng « Tây bồi » nữa.
« Ách cha la, chiu viu » là âm ở câu: « Halte là! Qui vive! ».
Các cấp người Pháp muốn hiểu thế nào thì hiểu.
Những bóng người tiến tới tuy không rành tiếng Pháp, song cũng cảm thấy câu hô ấy có nghĩa là: dừng chân lại! không tôi bắn nát « Ai đó! Tớ đây mà ».
Một vài tiếng Việt được thốt ra để đáp lại song không mạnh mẽ bằng vì đám người tiến tới gần đồn không muốn gây náo động…
Những tiếng nói nhỏ cũng vọng đến tai anh lính gác: « Anh cứ lờ đi, chúng mình là người Việt Nam cả, có xa lạ gì đâu, cùng đồng bào cùng máu đỏ da vàng. Anh để cho chúng tôi giết bọn người Pháp, còn đồng bào sẽ bình an vô sự hết ».
Anh lính Lê Luân đâu có nghe lọt tai được câu nói thống thiết ấy. Anh bắn một phát « cắc bùm! »
Tiếng súng vừa nổ, kế liền đến tiếng còi báo động trong đồn rúc lên. Lính đồn được huy động, đứng sắp hàng chờ lịnh của viên trung sĩ Pháp Kentainger, người chỉ huy đồn.
Viên trung sĩ này nghe tiếng anh lính gác trên pháo đài vừa nạp đạn bắn, vừa nói vọng xuống: « Sếp! Pia-rat! Pia-rat! Sếp! Da-na bố cu nhiều! » (Sếp ơi giặc tới! Giặc tới Sếp ơi! Có rất nhiều!)
Đồn Tà Lùng bị công hãm, hỏa lực của quân sĩ cách mạng tập trung vào hai cửa Bắc và Nam. trong đồn cũng bắn ra, tất cả 192 viên đạn kiểu 1886.
Cuộc xáp chiến kéo dài từ 4 giờ đến 5 giờ 15 thì dứt tiếng nổ. Vì trời đã sáng tỏ, quân cách mạng chưa vào được đồn, thấy mòi thất bại nên rút lui, tản mác vào rừng.
Viên trung sĩ Kentainger cắt nửa tiểu đội ở trong giữ đồn và dẫn một nửa ra dọ xét tình hình.
Lúc này viên xếp đoan người Pháp (thương chánh) cũng đem tốp lính của anh ta tới đồn để toan tiếp viện. Viên tri châu Vương quí Đoàn đem lính dõng của ông (lính người Thượng) đến tiếp tay. Song đã trễ quá 1 tiếng đồng hồ. Ai cũng lo bảo vệ sinh mạng, chẳng vội vàng hy sinh vô ích.
Lúc này các lực lượng nói trên chỉ còn có việc đi lùng bắt « đối phương ». Một cuộc bố ráp lớn lao được cử hành lại làng Pia Quang và Po Táp là hai địa điểm có người Việt ở. (Nên biết rằng vùng Thượng du là của người Mán, Mường, Mèo, Thổ). Hai làng này bị lục soát, phá phách tan hoang vì bị tình nghi là đã dung dưỡng « quân giặc cướp » (danh từ để gọi các chiến sĩ cách mạng). Trong một chuồng bò, viên tri châu lôi đầu ra một người Tàu tay còn ôm trái lựu đạn. Anh này lúng túng không kịp liệng lựu đạn để thoát thân.
Do các vết máu trên đường, quân đồn Tà Lùng còn bắt được ba người Thổ nữa và thâu được các chiến lợi phẩm sau đây: 1 súng lục « ru lô », 1 súng lục hiệu Steyer, 220 bì đạn súng lục Mauser, 4 lựu đạn, 1 bao gạo và 1 bao đựng huy hiệu Việt Nam Quang Phục quân.
Đoàn quân xung phong cách mạng không biết bị chết bao nhiêu người, vì đã rút hết về Quảng Tây.
Tòa án quân sự đặc biệt xử 4 người bị bắt. Người Tàu bị bắt lúc ôm trái lựu đạn bị tử hình, còn ba người Thổ bị tù có hạn.
Những người cầm đầu cuộc tấn công này sau hoạt động ở đất Xiêm. Rủi thay ít lâu, Xiêm trở thành đồng minh của Pháp nên các nhà cách mạng V.N. bị trục xuất tất cả 29 người trong số đó có Hoàng trọng Mậu và Giáo Trung hai yếu nhơn chỉ huy đánh đồn Tà Lùng. Khi tàu Pháp chở 29 nhà cách mạng về Saigon một ông tên Địch Sơn trốn thoát lính canh mà nhảy xuống biển tự tử.
Còn 28 ông bị đưa ra tòa án quân sự ở Hà Nội.
Năm cái đầu rơi trong đó có Hoàng trọng Mậu và Giáo Trung.
Nhưng cuộc chiến đấu giành độc lập thất bại trong bước đầu vẫn tiếp tục trong mấy chục năm sau khi tiềm tàng, khi bộc phát, không bạo lực nào dập tắt được.
IX. MỘT ĐIỆP VIÊN VÀO « HỎA LÒ » KHÁM PHÁ « BÍ MẬT PHÒNG SỐ 13 »
Tại căn gác một nhà ở Phố Hàng Điếu, Hà Nội, các cụ « Bô lão » đang họp hội nghị tối mật để bàn về một câu chuyện quốc gia đại sự. Đó là các « Bô lão » trong làng cách mạng thời bấy giờ: năm 1925.
Trong hàng « Bô lão » ấy người ta đếm được lơ thơ trên đầu mấy ngón tay: Ngô đức Kế ; Dương bá Trạc, Lê Dư, Hoàng tăng Bí… Các cụ đã làm cách mạng, đã bị thất bại, song thực dân không giam cầm hay đầy ra Côn đảo vì không muốn làm náo động nhân tâm ; vả lại các cụ chưa mó tay vào các cuộc biến động nên còn được tương đối tự do, chỉ bị Mật thám theo dõi đề phòng. Các cụ là những thần tượng của thanh niên ái quốc ; họ coi các cụ như cố vấn lão thành mà họ thường lui tới để thỉnh ý về mọi vấn đề liên hệ đến quốc gia dân tộc. Họ gọi các cụ là những « cụ Bô » tức như đấng bô lão.
Hôm nay các « Bô lão » nhóm họp ở nhà cụ Lê Đại, phố Hàng Điếu, để thảo luận về cái « bí mật Phan bội Châu ».
Tin cụ Phan bội Châu bị bắt từ Thượng Hải đưa về Hà nội lúc ấy là một tin chưa đích xác. Một điều « bán tín bán nghi ». Tin ấy mới do một tờ báo Thượng Hải loan đi, còn báo chí nước nhà thì chưa biết gì. Các nhà cách mạng nhờ anh em đi làm tàu biển mà hay được tin ấy.
Nếu cụ Phan bị bắt thật, thì đã bị đưa vào Hỏa Lò, khám đường ở Hà nội, nơi giam kín nhất và chắc chắn. Vậy mà danh sách các tù nhơn trong Hỏa Lò không hề thấy tên cụ Phan bội Châu. Các đồng chí cũ của cụ ở trong cảnh cá chậu chim lồng, nhưng cũng thường được tin tức từ trong khám đưa ra mỗi khi một người nào bị bắt giam vì quốc sự. Vậy mà sao không có bị can nào mang tên « Phan bội Châu ».
Tin vịt chăng? Hay là thực dân « thả vịt » để phá tan những hy vọng mà phái thanh niên ái quốc từng đặt vào cụ Phan.
Các cụ « Bô lão » liên lạc với những người tâm phúc làm việc tại Hỏa Lò, hỏi tin tức thì được trả lời: « không có ». Cụ Phan chưa bị bắt chăng? Tuy nhiên, cũng nhận được một tin từ khám đường đưa ra, đáng chú ý: Có một ông già bị bắt giam, ghi tên là Trần Văn Đức. Ông quắc thước, có bộ râu tốt lắm, hai mắt linh lợi và hình như có vẻ là người Tàu vì bận quần áo Tàu. Lạ sao? Ngoài phòng giam lại treo cái bảng nhỏ ghi ba chữ « Trần văn Đức » không phải là tên Tàu.
Hơn nữa, trại giam Trần văn Đức lại là trại giam các tội nhân Pháp, các người Âu Châu, người ngoại quốc da trắng. Nếu là một anh « da vàng mũi xệp » thì ít ra cái tên Việt của anh còn phải kèm theo một tên Tây nữa: Trần văn Đức là người Việt dân Tây thì sao không có cái tên « Paul Đức » chẳng hạn. Phòng giam riêng Trần văn Đức là một phòng nhỏ có một giường cá nhân với một bàn nhỏ, tuy không lớn hơn cái « xà lim » của phòng tù nhân « bổn xứ » song đủ tiện nghi hơn. Phòng ấy mang số 13.
Người Việt mà bị giam ở cái « xà lim » Tây này chắc không phải là người thường.
Hay ông Đức là một nhân vật làm việc tòa lãnh sự Pháp ở Thượng Hải bị đưa về nước câu lưu vì can vào một vụ bí mật gì còn đang cứu xét? Căn cứ vào đâu mà có thể nghĩ rằng ông Đức ấy là nhà cách mạng bôn ba hải ngoại, họ Phan?
Lúc ấy chân dung cụ Phan bội Châu có được phổ biến như ngày nay đâu. Chẳng mấy ai biết được mặt cụ, ngoài các đồng chí của cụ.
Nhà nào nếu có tấm hình của cụ cũng không dám giữ vì rủi có kẻ nào tố giác thì… « ở tù mọt gông ».
Bởi vậy những người làm việc trong khám có thấy mặt ông Đức cũng không biết là có phải cụ Phan hay không? Mà muốn lại gần cái « xà lim » Tây mang số 13 ấy để hỏi xem ông Đức là ai, thì phải là câu chuyện « câu trăng đáy nước » không dễ gì đâu. Vì những « xà lim » là những phòng giam cá nhân, đặt trong quy chế « Tối Mật ». Người gác ở đây không phải là người Việt, mà là một người Pháp, mới thật khó. Nhân viên người Việt nào mà lớ vớ lại gần khu « Tối Mật » sẽ bị « bể nồi cơm » như chơi.
Tại bộ tham mưu, các « Bô lão » họp ở nhà cụ Lê Đại, Phố Hàng Điếu, không ai chiếu được tia sáng nào vào cái bí mật ở phòng số 13 ấy: cái « bí mật Phan Bội Châu ».
Cụ Hoàng tăng Bí luận bàn một lúc rồi cũng… bí luôn. Cái « bí mật Phan bội Châu » vẫn còn lâm ngõ bí.
Cụ Lê Dư từng lê gót cách mạng ở Trung Hoa, Nhật bản, Triều Tiên, cũng không nghĩ ra một mưu kế gì để khám phá ra bí mật ấy.
Cụ Lê Đại bóp trán thở dài:
- Nếu Trần văn Đức đích thị là ông Phan, thì chúng ta phải kêu gọi đến dư luận trong nước và ngoài nước chớ? Chúng ta phải đánh thức đồng bào từ Nam chí Bắc, không lẽ để cho bọn Tây chúng nó âm thầm xử kín ông Phan rồi lén lút hành quyết như chúng đã từng xử các liệt sĩ của chúng ta từ trước đến giờ. Dư luận biết được thì đã quá trễ.
Ai nấy lặng thinh như liên tưởng đến giờ bi thảm ở Pháp trường. Bỗng cụ Lê Đại nẩy ra một ý kiến:
- Thôi được rồi! Chúng ta quên mất anh Hy. Sẵn anh Hy đó, chúng ta sẽ nhờ anh vào Hỏa Lò xét xem sao?
Cụ Lê Đại tìm ra một điệp viên. Các « Bô lão » sực nhớ tới anh Hy, một thanh niên hăng hái, thường lui tới nhà các cụ, luận bàn quốc sự và học hỏi những kinh nghiệm cách mạng của người huynh trưởng.
Các cụ trầm ngâm suy nghĩ, không tỏ ý song cái lặng thinh có thể hiểu là một thái độ nghi ngờ:
- Liệu có dễ dàng như lời nói không? Vào Hỏa Lò để khám phá cái « bí mật Phan Bội Châu » hay là để ở luôn trong khám với Phan bội Châu rồi chờ ngày ra tòa lãnh án. Sao lại bàn đến việc « đeo nhạc cổ mèo » như thế. Câu chuyện tráng sĩ Kinh Kha một ra đi là không trở về… Ai mà quên được.
Cụ Lê Đại không nghe ai tán thành đề nghị của cụ, bèn nói rõ thêm:
- Nhưng anh Hy đã từng làm trong « ghép » của Hỏa Lò mấy năm trước, thế nào lại không có người quen biết, có bạn đồng sự cũ còn làm ở đấy, có thể nhờ cậy được.
Tiếng « ghép » âm ở tiếng Pháp « greffe » là tiếng thông dụng trong giới tù nhân ; « ghép » là cơ sở hành chánh trong khám đường, phụ trách về giấy tờ, sổ sách liên hệ đến các tội nhân. Anh Hy, một nhân viên hành chánh cũ của khám đường, một người làm ở « ghép » mà nay vào thăm anh em cũ, thì không đến nỗi khó khăn nguy hiểm như Kinh Kha sang Tần. Các cụ « bô » suy nghĩ một lúc rồi tán thành đề nghị của Cụ Lê Đại ; vài cụ lặng thinh không phản đối song cũng muốn cầu may một phen: bộ tham mưu đồng ý cho đi mời anh Hy.
Anh Hy là một thanh niên có óc tiến bộ. Sau ba năm làm một công chức giúp việc tại khám đường Hà Nội, anh xin từ chức vì gia đình sung túc, anh muốn xoay ra đi buôn để có một tương lai khả quan hơn. Từ khi ra khỏi cuộc sống tù túng trong 4 bức tường của công sở, anh thấy tinh thần khoảng khoát và giao du với những bậc đàn anh hay những người có tư tưởng mới.
Được các cụ « bô » cho mời anh đến không bỏ phí một phút đồng hồ, đến ngay căn gác của ngôi nhà Phố Hàng Điếu. Sẵn bầu máu nóng của tuổi thanh niên, anh luôn luôn mong chờ những sứ mạng khó khăn mà các bậc đàn anh giao phó, dầu có phải vào sanh ra tử, anh cũng không nề hà.
Vừa thấy anh Hy, cụ Lê Đại thay mặt bộ tham mưu, nói trước (cụ vốn đã quen biết với anh):
- Này ông Hy à! Chắc ông cũng nghe tin cụ Phan bị bắt.
- Dạ, có nghe, nhưng không chắc thực hư ra sao.
- Chúng tôi muốn nhờ ông một việc…
- Phá tù xa để cướp lại cụ Phan chăng? Hay ra pháp trường giải phóng cho cụ? Cháu xin lãnh hết. Dù xương tan thịt nát, cháu đâu có quản ngại gì.
Các cụ « bô » đã biết tánh thanh niên hăng hái ngạo nghễ và hay nói đùa, nên các cụ đều cười vui vẻ ; cụ Lê Dư điềm đạm nói đỡ lời:
- Chưa đến phải phá tù xa, cướp pháp trường. Sứ mạng giao cho anh không nguy hiểm như thế.
- Vậy cần người chết thế mạng cho cụ Phan chăng? Xin các cụ nói mau cho cháu biết.
- Cũng không phải hy sinh đến vậy. Chỉ cần một điệp viên. Ông Hy ạ, ông sẽ vào « nhà pha » xem có thật là cụ Phan bị bắt hay không?
- Thưa các cụ, việc ấy tế nhị lắm, cháu không dám từ nan. Các cụ giao phó cho trọng trách này thì chẳng khác nào Thống sứ, Toàn quyền ký nghị định bổ tên Hy này làm Tổng thanh tra Hỏa Lò. Chẳng khác nào cháu phải đi từng phòng giam, từng xà lim mà hỏi: Ai là Phan Bội Châu… Nhưng việc khó đến đâu, cháu cũng xin vâng lời. Còn thành bại chưa dám nói trước.
Thay vì chén rượu tiễn hành Kinh Kha trên dòng sông Dịch, cụ Hoàng tăng Bí rót tách nước trà ướp sen mời anh Hy như dụng ý thưởng anh và khen anh.
Anh Hy đỡ chén trà uống một hơi rồi cáo từ ra về để thu xếp chương trình, kế hoạch sáng mai « vô khám ».
Sáng hôm sau, đúng như lời hứa, anh đến trước cửa khám đường. Anh gõ mấy tiếng vào cánh cửa sắt sơn đen có một cái lỗ hổng tròn băng miệng chén, để người gác đứng trong dòm ra xem ai muốn vào. Cánh cửa nặng nề từ từ quay, phát ra những tiếng sắt rỉ, nghe ken két, để trống một chỗ nhỏ vừa cho một người lách đi vô.
Anh gác cửa là một nhân viên đã làm lâu năm ở đây, còn nhớ mặt « ông Phán Hy » đon đả chào hỏi:
- Kìa ông Phán, hồi này mạnh khỏe chớ. Hôm nay vào thăm ai đây?
- Thăm anh em cũ làm trong « ghép » và thăm cụ « Tổ ».
Cụ « Tổ » được anh em tặng cái danh hiệu này vì cụ là một nhân viên già gần 70 tuổi, còn làm « xếp ghép ». Đã quá tuổi về hưu, cụ còn khỏe mạnh và có dân tây nên được lưu dụng để làm cái việc an nhàn dưỡng lão nầy. Lại nữa cụ thạo công việc hành chính trong Hỏa Lò quá, thuộc làu mọi việc, nên người ta cũng muốn nhờ ở kinh nghiệm của cụ. Trước kia cụ Tổ đã tòng sự ở khám đường đảo Réunion, từng giao thiệp với Thành Thái, Duy Tân trong cảnh sầu xứ nên cũng có óc tương đối rộng hơn các công chức gốc Việt dân Tây khác. Cụ hay giúp đỡ đồng bào, đem chút đỉnh ưu ái xoa dịu phần nào nỗi khổ đau của những người mang số kiếp « vào tù ra khám ». Người ta gọi cụ là cụ « Tổ » cũng xứng đáng.
Anh Hy trước đây làm dưới quyền cụ, nay trở lại thăm cụ vì tình « thầy trò » cũng là chuyện thường. Cụ Tổ có ngờ đâu người đồng sự cũ còn trẻ tuổi này đang là một điệp viên của các « Bô lão » trong làng cách mạng.
Tay bắt mặt mừng, anh Hy ba hoa hỏi thăm sức khỏe của cụ. Tình thầy trò thật mặn mà, thắm thiết. Anh không ngồi mà chỉ đứng trước bàn cụ, không phải vì lý do « kính lão » nhưng dụng ý muốn nhìn xuống giấy tờ trên bàn xem có ba chữ « Phan Bội Châu » không?
Vô kế khả thi. Cụ Phan bị bắt cả tuần lễ nay rồi, vậy nếu muốn xem có tên cụ trong « Sổ Đoạn Trường » không thì ít ra phải lật lên cả chục trang giấy về trước. Muốn kéo dài thì giờ, anh Hy rút gói thuốc trong túi ra mời người này người nọ, lân la từ bàn nọ sang bàn kia. Bao thuốc đã hết mà anh điệp viên chưa tìm ra được một tia sáng. Bỗng anh nghe cụ Tổ hỏi:
- Ông có biết ông Tây đang đi ngoài kia cùng ông xếp Hỏa Lò, tiến vào phía « ghép » không? Độ là cụ « Bích » đấy.
Cụ Bích? Cái tên nghe quen quen.
Ai là người Bắc am hiểu cơ quan hành chánh thời bấy giờ đều cũng thuộc câu vè «Tứ Hung»: « Nhất Đạc, nhì Ke, tam Be, tứ Bích ».
Đó là tên bốn nhân viên hành chánh cao cấp Pháp: Darles, Eckert, Wintrebert, Brides. Bốn người này đã từng làm Đốc lý hay Công sứ (Tỉnh trưởng) thuộc vào phái thực dân hạng nặng, biết nói tiếng « An Nam » và biết ăn mắm tôm nữa ; đặc tánh khắt khe, độc ác của bốn « trự » ấy thì khỏi phải nói ; dân chúng khiếp sợ, oán ghét họ mới gọi là « Tứ Hung » với câu vè trên kia.
Cụ Tổ nhắc tên « Bích » ngụ ý bảo anh Hy đề phòng hay nên rút lui  có trật tự, kẻo mang tai bay họa gởi vì tên cáo gìa này. Song cái danh hiệu « Bích » gợi lên cho anh Hy một tia sáng tò mò: Chính thằng cha Bích này đã chủ tọa Hội đồng Đề hình xử vụ án Thái Nguyên năm trước đây. Nay nó vào Hỏa Lò không phải là không có « đại sự ». Nó sẽ lập Hội đồng Đề hình ở đây chăng? Mà nếu có Hội đồng Đề hình thì chẳng phải là xử mấy anh nấu rượu lậu!.
Anh Hy lui bước ra hành lang, chỗ có những kệ chứa đầy các hồ sơ cũ. Anh làm như một công chức trong « ghép » đang sắp xếp hồ sơ. Anh cố giữ bình tĩnh vì nếu có nét mặt đổi khác khi rủi mà Bích lại gần anh thì anh khó mà tránh được vào sở Mật thám để bị tra tấn dã man.
May sao không có ai ra hành lang hết. Bích và xếp khám nói chuyện xì xồ, anh Hy nghe lõm câu được câu không:
- Sao ông không có một cuốn sổ riêng để ghi căn cước « Nó »?
- Tôi đã ghi tên khác: tên Trần văn Đức. Tôi lại giam « Nó » ở khu người Âu để không có tên « An nam » nào tiếp xúc được với « Nó ».
- Ông nên biết rằng « Ông chủ ta » không muốn cái tên « Phan bội Châu » lọt ra công chúng. Có lẽ vụ này sẽ xử kín và khi thành án sẽ hành quyết ngay trong khám.
Anh Hy mừng run lên vì thần May Mắn đã giúp anh khám phá ra « bí mật xà lim 13 » rồi: Cái tên Trần văn Đức là tên giả mà xếp khám đặt cho cụ Phan bội Châu.
Kết quả cuộc dọ xét của anh Hy đã sáng tỏ mà anh không tốn công khó nhọc gì cho lắm. Anh lo lắng cho số phận nhà ái quốc đang bị thực dân âm mưu trừ diệt ngấm ngầm, không cho công chúng hay biết, đến khi công chúng có hay thì chuyện cũng đã dĩ lỡ rồi. Anh Hy muốn có phép tàng hình mà ra khỏi Hỏa Lò, về báo động cho các cụ « bô » ở Phố Hàng Điếu: « Thậm cấp! Chí nguy! »
Làm sao mà đánh trống khua chuông cho đồng bào đứng dậy không cho thực dân lén lút làm hại sanh mạng cụ Phan?
Lúc sau, Bích cùng xếp khám ra khỏi văn phòng, có lẽ đi xem các trại giam tội phạm.
Anh Hy thở một cái nhẹ nhõm, ra bắt tay cáo từ cụ Tổ để về báo cáo kết quả sứ mạng của mình.
Bộ tham mưu ở Phố Hàng Điếu biết chắc rồi, bèn in mấy ngàn truyền đơn, báo động với đồng bào rằng cụ Phan bội Châu đã bị bắt.
Thế là từ Bắc vào Nam, đồng bào ùn ùn như nước chảy, đứng ra vận động đòi trả tự do cho cụ Phan.
Một phong trào nổi lên như vũ bão. Toàn quyền Varenne phải nhượng bộ trước lòng ái quốc thành thật của hai chục triệu dân Việt Nam.
X. GIAI THOẠI VỀ NGUYỄN THÁI HỌC
Theo lời các vị đồng chí cũ của ông Nguyễn Thái Học thì đảng trưởng « Việt Nam Quốc Dân Đảng » lúc còn là một cậu học trò, có để lại một vài câu chuyện lý thú.
Trong cuộc đời học sinh, Nguyễn Thái Học đã tỏ ra có óc chống Pháp và tinh thần cách mạng đã nẩy nở ở ông từ khi ông học ở trường Sư phạm Hà Nội, trường đào tạo giáo viên tiểu học.
Nguyễn Thái Học không khá về Pháp văn. Ông không có khiếu về môn này mà cũng không thích học chữ nước người. Ác thay, theo chương trình thì phải học tất cả các môn bằng tiếng Pháp, từ Sử Địa đến Toán Lý Hóa ; Việt sử cũng phải học trong cuốn « Histoire d’Annam » của G. Maybon.
Mỗi tuần được có một, hai giờ học Việt văn, là cả một sự thích thú, hân hoan đối với cậu học trò bướng bỉnh của năm thứ nhất trường Sư phạm (như Đệ thất trung học ngày nay).
Khi cậu phải làm luận Pháp văn thì là cả một cực hình. Cậu gãi đầu, bứt tóc, miệng càu nhàu: « Càng giỏi tiếng Pháp cho lắm, càng phải nghe Tây nó chửi nhiều. Dốt lại ít hiểu, nó chửi nó nghe ».
Muốn luyện cho học trò Việt nghe quen giọng Pháp, mỗi lớp được học một hai giờ với giáo sư Pháp mỗi tuần ; giờ chính là giờ ám tả (Dictée française) và có khi được học thêm một giờ thứ nhì nữa là giờ Luận Pháp-văn (Rédaction francaise). Ở năm thứ nhứt trường Sư phạm, Nguyễn Thái Học gặp phải một cô giáo Pháp rất khó tánh, mà giọng nói lại khó nghe. Cô mà đọc ám tả cho học sinh Việt Nam viết, thì cậu nào cũng đầy lỗi ; giỏi nhất lớp cũng phải đến 4 hay 5 lỗi.
Học trò gọi giễu cợt cô là « Sâu Róm ». Một hôm cô vừa ăn bánh mì nhồm nhoàm, vừa đọc ám tả. Học trò lắng tai lắm mới nghe câu được câu không.
Nguyễn Thái Học không viết bỏ bút xuống, nhìn lên trần nhà mỉm cười. Cô « Sâu Róm » kêu Học đứng lên, hỏi:
- Thằng « nhà quê »! Tại sao mày cười?
- Ta cười vì ta không khóc.
- A thằng hỗn xược! Mày là người tỉnh nào?
- Người Việt Nam.
Câu trả lời đượm màu tư-tưởng quốc gia này, làm cho cô « Sâu Róm » khó chịu, bực tức. Cô hỏi tiếp:
- Ba má mày tên gì?
- Song thân ta tên « Việt-Nam ».
Cô giáo nắm cánh tay Học toan kéo lên ông Đốc để trình về ngôn ngữ của Học, song cô bị Học hất mạnh tay ra. Cô biết cô gặp phải một học sinh không phải tay vừa, rồi không hiểu nghĩ sao, cô không lôi cậu học trò ngỗ nghịch ấy lên văn phòng hiệu-trưởng nữa mà chỉ dọa một câu:
- Rồi mày sẽ biết.
Sau giờ ám tả ấy, các bạn đều lo cho Học sẽ bị đuổi.
Nhưng chờ ngày ấy qua ngày khác, cậu học trò bướng-bỉnh vẫn còn ngồi trong lớp. Có lẽ cô giáo Pháp kia không muốn gây ác cảm, nên bỏ qua những tư tưởng quốc gia mà cô nhận thấy ở Nguyễn Thái Học.
Khi lên năm thứ nhì, thầy giáo Pháp luyện giọng Tây cho học trò là giáo sư Thomas đã có xung đột với học trò trường Chasseloup-Laubat ở Saigon, vì khó tánh và hay phạt. Bị mất mặt vì cuộc xung đột ấy, ông phải đổi ra Hà nội dạy tại trường Sư phạm.
Cha cậu học trò đã cầm đầu cuộc xung đột với ông ở Saigon là một người Việt « có thế lực lắm » cậu mới được học trường Pháp. Vì thế khi ra Hà nội, ông Thomas ghét học sinh V.N. lắm. Trời dun rủi sao ông lại phải dạy ở trường học sinh V.N.
Đến kỳ thi lên lớp, ông đọc ám tả cho học trò viết, và cố ý « trát » học trò, chỉ đọc mỗi câu có một lần. Nhiều cậu không nghe kịp phải để từng đoạn trống trong bài thi. Cố nhiên Nguyễn-Thái Học bực tức nhất vì cậu không giỏi Pháp ngữ.
Cậu không viết nữa và nửa chừng đứng lên xé giấy thi, bỏ ra ngoài. Nhưng cậu mới bước tới cửa lớp, đã bị thầy giáo ngăn lại:
- Mầy đi đâu? Mày không thấy xấu hổ với anh em sao? Trong khi ai cũng viết kịp thì mày bỏ dở bài thi.
- Còn ông, ông không xấu-hổ với các thầy giáo khác sao, các thầy ấy đều được học trò mến phục, còn ông thì trái lại…
- Tại sao vậy? Mày cắt nghĩa tao nghe.
Nguyễn Thái Học tuy dở tiếng Pháp nhưng cũng có thể nói chuyện với giáo sư bằng thứ tiếng Tây « ba rọi » trật lất văn phạm và từ ngữ. Tuy nhiên giáo sư Thomas cũng hiểu rằng Học nói cho ông biết: ông oán ghét học trò V.N. vì ông không được dạy trường Albert Sarraut (trường trung học Pháp ở Hà Nội) chớ gì? Ông suy nghĩ một phút rồi dịu giọng:
- Chắc các trò oán ghét tôi vì tôi đọc ám tả có một lần, nghe không kịp. Có vậy, đi thi mới chắc đậu.
Rồi giáo sư còn nói thêm cho cả lớp hiểu rằng ông không có ác ý đâu. Kế đó ông đọc lại bài ám tả từ đầu mà mỗi câu đều đọc 2 lần chậm rãi.
Từ hôm ấy ông bớt gắt gao. Có lẽ ông thấy Nguyễn Thái Học bướng bỉnh, ông lo ngại sẽ xảy ra cuộc xung đột như ở Saigon, thì ông không còn đất sống ở V.N. nữa, đến phải sang Phi châu mà dạy học hay phải về Pháp không chừng. Chống với vị giáo sư khó tính mà Nguyễn Thái Học giúp cho cả lớp không còn bị ông làm khó dễ nữa.
Khi đi thi bằng Thành Chung (Diplome) có bài luận Pháp văn mà đề bài như sau:
« Các trò hãy nói về sự nghiệp của Jules Ferry. »
Nguyễn thái Học viết có đúng một câu:
học trò V.N. vì ông không được dạy trường Albert Sarraut (trường trung học Pháp ở Hà Nội) chớ gì? Ông suy nghĩ một phút rồi dịu giọng:
- Chắc các trò oán ghét tôi vì tôi đọc ám tả có một lần, nghe không kịp. Có vậy, đi thi mới chắc đậu.
Rồi giáo sư còn nói thêm cho cả lớp hiểu rằng ông không có ác ý đâu. Kế đó ông đọc lại bài ám tả từ đầu mà mỗi câu đều đọc 2 lần chậm rãi.
Từ hôm ấy ông bớt gắt gao. Có lẽ ông thấy Nguyễn Thái Học bướng bỉnh, ông lo ngại sẽ xảy ra cuộc xung đột như ở Saigon, thì ông không còn đất sống ở V.N. nữa, đến phải sang Phi châu mà dạy học hay phải về Pháp không chừng. Chống với vị giáo sư khó tính mà Nguyễn Thái Học giúp cho cả lớp không còn bị ông làm khó dễ nữa.
Khi đi thi bằng Thành Chung (Diplome) có bài luận Pháp văn mà đề bài như sau:
« Các trò hãy nói về sự nghiệp của Jules Ferry. »
Nguyễn thái Học viết có đúng một câu:
« Người Việt Nam không hề biết tên người này ».
Ai cũng cho là Học để ý phản đối Jules Ferry, một tay thực dân hạng nặng đã chủ trương chánh sách đi chiếm thuộc địa.
Cố nhiên bài luận ấy đem cho Học một « trứng ngỗng » và sau đó một cái « vỏ chuối ».
Hồi đó người Pháp muốn bưng bít dư luận bên nước họ, lúc nào cũng cho Chánh phủ Paris có cảm nghĩ là dân « A na mít » trung thành với « mẫu quốc » lắm ; có lẽ vì thế mà họ không muốn làm to chuyện về khối óc bướng bỉnh, chống thực dân của một cậu học trò.
Họ có ngờ đâu cậu học trò mà họ không thèm lưu ý ấy sau này thành đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng, làm cho thực dân « con cháu Jules Ferry » phải toát mồ hôi.
Một đề-nghị vượt ngục?
Ngày 28 tháng 3 năm 1930, tại phòng giam tử tội của khám đường Yên Bái, nhà cách mạng Nguyễn Thái Học trải qua một cơn bão tố trong lòng.
Trong bốn bức tường của « xà lim » đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng một mình đối bóng phải cân nhắc để giải quyết một vấn đề lương tâm: nên vượt ngục để tránh cái án tử hình mà Hội đồng đề hình vừa tuyên xử buổi sáng hôm ấy hay là cúi đầu trước số phận, chịu đem máu đào tưới nơi pháp trường dưới lưỡi dao sáng quắc của cái máy chém, để kết liễu bổn phận thiêng liêng của một đấng tu mi ái quốc.
- Sống hay chết?
- Và muốn sống liệu có sống được không?
Nguyễn Thái Học phân vân, bóp đầu bóp trán với những câu hỏi ấy.
Một thượng sĩ gốc gác người xứ Algérie, có trách nhiệm canh gác khu giam tử tội, đã đề nghị với Nguyễn Thái Học một cuộc vượt ngục ; anh ta vui lòng giúp cho nhà lãnh tụ cùng 12 đồng chí của ông hoàn thành việc ấy, nếu ông ưng thuận. Tên của 12 bạn đồng chí cách mạng vơ vẩn trong óc nhà thủ lãnh như tên của 12 đứa em cùng chung một bà mẹ « Việt Nam » sinh ra:
- Phó đức Chính,
- Bùi tư Toàn,
- Bùi văn Chuẩn,
- Nguyễn An,
- Đào văn Nhít,
- Ngô văn Du,
- Nguyễn văn Tiền,
- Nguyễn như Liên tức Ngọc Tỉnh,
- Nguyễn văn Cửu,
- Lê văn Tụ,
- Nguyễn văn Tính,
- Hà văn Lao.
Nguyễn Thái Học nhớ cả từng nét mặt, thói hay tật xấu của vài người đã vào sanh ra tử cùng ông trong khi còn bay nhảy bên ngoài, đánh giá thực dân bằng những đòn chớp nhoáng.
Ông không thể quên được nét mặt non nớt, hồn nhiên của Ngọc Tỉnh ngây thơ với cái tuổi 20 song lòng yêu nước thì sôi sùng sục ít người sánh được.
Với tất cả 12 sanh mạng treo trên sợi chỉ mành ấy, chỉ một cái gật đầu của Nguyễn Thái Học là họ được tháo cũi xổ lồng, rồi chỉ một sớm một chiều là tất cả hay một phần 13 nhà cách mạng V.N. sẽ có mặt trên đất Trung Hoa, theo đuổi ước vọng ôm ấp bấy lâu nay.
Anh gác khám tử tội, đã tiếp xúc với Nguyễn Thái Học từ sáng hôm 27 khi tất cả 87 nhà cách mạng sắp bị đưa ra xử tại Hội đồng Đề hình.
Đây là đợt thứ nhì sau đợt thứ nhứt đã bị xử tại Hà Nội. Đợt thứ nhì bị bắt sau, gồm những người có dính líu trực tiếp hay gián tiếp vào vụ khởi nghĩa Yên Bái, bị chuyển từ Hà Nội lên Yên Bái để xử án.
Lúc chưa ra tòa, viên thượng sĩ Bắc Phi đã lân la đến cửa « xà lim » Nguyễn Thái Học mà trò chuyện. Anh ta là một thanh niên mặt mày sáng sủa, chắc là có văn hóa ít nhiều: anh nói chuyện với đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng bằng tiếng Tây lưu loát.
Anh cho ông Học biết rằng anh đọc báo, rất phục hành động của V.N.Q.D.Đ. và các nhà cách mạng Việt Nam đã mưu toan giải phóng quốc gia ; còn xứ Algérie của anh không biết bao giờ ngóc lên được, anh lo đến bị đồng hóa với Pháp mất.
Vì cảm tình với dân tộc Việt Nam mà anh thượng sĩ da đen ấy muốn tổ chức cho Nguyễn Thái Học một cuộc vượt ngục theo kế hoạch như sau:
Anh sẽ chờ đúng giờ chuyến xe lửa Hà Nội – Lào Kay ghé ga Yên Bái, là mở cửa khám tử tội ra, cho Nguyễn thái Học kéo hết đồng chí ra ga, uy hiếp viên xếp ga rồi nhảy rốc hết lên xe lửa, bắt người tài xế phải mở máy cho xe chạy tới Lào Kay, không còn xa mấy. Tới đây là ráp giới Trung Hoa, họ sẽ vượt biên giới và thoát sang lãnh thổ nước láng diềng.
Dù người Pháp ở Hà nội có hay tin mà can thiệp cũng trễ rồi. Huống chi, kế hoạch còn dự bị cho một số đồng chí ở lại chiếm nhà Bưu điện, không cho đánh dây thép về Hà nội. Chờ xe lửa đi xa rồi, những đồng chí còn ở lại mới băng rừng mà thoát thân sau. Anh thượng sĩ xứ Algérie sẽ cùng trốn một lượt với Nguyễn Thái Học.
Kế hoạch trên đây, Nguyễn Thái Học nghe ra hợp lý và có thể thi hành được. Thời gian và không gian không phải là trở lực đáng kể. Lãnh tụ V.N.Q.D.Đ. suy nghĩ và chưa tiện trả lời chấp thuận đề nghị hay không. Ông bảo người bạn da đen để cho ông suy nghĩ kỹ đã. Ông cũng khêu gợi ba điều bốn chuyện để dọ xét thâm tâm người đối thoại nhận thấy anh ta không có điều gì khả nghi, gian xảo hết. Anh cũng có vẻ là một thanh niên nhiệt huyết, cùng một tâm trạng với những người có tư tưởng quốc gia sống dưới ách thực dân da trắng.
Nhưng Nguyễn Thái Học còn thận trọng vì ông đã rút được một bài học kinh nghiệm lần trước, khi ông bị bắt hồi tháng hai và bị giam ở Hỏa Lò Hà Nội. Hồi ấy có lần một viên đội Lê dương (người Đức) gác khám cũng lân la nói chuyện với ông. Anh này cũng tỏ lời khâm phục và hỏi Nguyễn thái Học có muốn viết thơ hay nhắn tin ra ngoài anh sẵn lòng giúp.
Muốn thử thách lòng anh, ông Học bằng lòng nhờ anh giúp. Bắt đầu ông đưa cho anh này hai bức thơ bỏ phong bì, một gửi cho thủ tướng Pháp, một gửi cho toàn quyền Đông Dương, kể hết tệ đoan trong giới quan lại Việt Pháp. Không biết số phận hai bức thơ này ra sao?
Lần thứ hai, Nguyễn Thái Học gởi hai bài báo để đăng báo Hồng Kông: một bài gởi cho tờ báo Hoa ngữ, một cho tờ báo Anh ngữ. (Sau này những nhân vật V.N.Q.D.Đ. ở ngoài kiểm soát lại thì thấy không tờ báo nào trong hai tờ ấy nhận được bài của Học cả).
Lần thứ ba, viên đội Lê Dương nhận một sứ mạng quan trọng hơn, một sấp thơ bốn cái gởi cho bốn đồng chí của ông khuyên họ kiên tâm vì cơ hội sắp đến. Chỉ vài hôm sau, cả bốn người đều vô khám hết. Nhưng Nguyễn thái Học đâu có khờ khạo đến làm hại cho đồng chí: thật ra bốn « đồng chí » ấy là bốn tên phản đảng lợi hại trong những giờ đầu. Bốn tên ấy đã phải làm vật hy sinh cho cuộc thử lòng dạ viên đội Lê Dương.
Thấy bốn « đồng chí » xộ khám ông biết chắc là viên đội kia đã đưa bốn bức thơ của ông cho sở Mật Thám.
Đến lúc bị giam ở Yên Bái, gặp được viên gác khám người Algérie tỏ ý muốn giúp ông thì ông hết sức phân vân.
Không biết anh chàng này có giống anh đội Lê Dương ở Hà Nội không? Chẳng khác nào con chim một lần bị bắn, cứ thấy cành cây cong là sợ, nên Nguyễn Thái Học hết sức thận trọng, đề phòng.
Sáng hôm Hội đồng Đề hình xử vụ đảng viên cách mạng V.N.Q.D.Đ. tức ngày 27-3-1930 – và chiều hôm sau nữa, chàng thanh niên da đen gác khám lại đến hỏi quyết định của Nguyễn thái Học nữa nhưng ông Học vẫn còn hẹn sẽ trả lời sau.
Viên gác khám thở dài nói:
- Còn suy nghĩ đến bao giờ nữa. Hiện giờ đề lao Yên Bái không được canh gác cẩn mật chỉ nay mai xử xong các ông, họ sẽ đưa các ông về Hà Nội là lỡ cơ hội.
Thật thế, nhóm 13 tủ tội sau khi bị tuyên án đã bị đưa về Hà Nội, chờ bộ Tư Pháp Ba Lê xét lại hồ sơ rồi sẽ thi hành án lệnh.

Nguyễn Thái Học cũng hiểu rõ thủ tục và biết rằng thì giờ không còn chờ đợi ai. Nhưng ông phân vân không quyết định. Biết đâu đây chẳng phải là một mưu kế của thực dân bày ra, để có cơ hội thanh dĩ nhiên rồi. Dầu ông chết dưới máy chém của Cai Công hay dưới những viên đạn súng của lính Thực dân đuổi theo khi ông vượt ngục, thì cũng chỉ là một cái chết. Nhưng còn 12 đồng chí của ông cùng án tử hình nhưng có người tội nhẹ hơn, có thể giảm án xuống chung thân khổ sai. Nếu mà họ đều chết dưới viên đạn súng của Thực dân thì ông Học sẽ mang trách nhiệm với lương tâm.

Nguyễn Thái Học suy luận như vậy nên đã không chấp nhận đề nghị của viên gác khám Yên Bái…
Suy đi thì như thế song nghĩ lại thì sao? Nếu như người gác khám thực tâm muốn cứu mà mình từ chối thì có khác nào mình tự giết mình và giết luôn cả 12 người nữa ; mình bỏ lỡ cơ hội thoát chết. Sinh mạng 12 người phó thác vào một cái gật đầu của Nguyễn Thái Học.
Sau này về Hà Nội bị giam ở Hỏa lò, Nguyễn Thái Học lặng thinh cả tuần lễ không nói chuyện với các đồng chí bị giam cùng một dãy « xà lim ». Ông bị lương tâm cắn rứt vì thái độ của ông ở Yên Bái chăng? Và một hôm ông kể lại câu chuyện bỏ lỡ dịp vượt ngục cho vài bạn nghe như muốn chờ anh em xét xử. Ai cũng tiếc rằng ông quá nặng nề về đạo đức và không phải là người giàu thủ đoạn, có thể nói là thiếu thủ đoạn của con người cách mạng.
Nếu như hôm ấy Nguyễn Thái Học gật đầu một cái, mà cuộc vượt ngục thành công một phần nào thì các yếu nhơn V.N.Q.D.Đ. cùng đảng trưởng đã hoạt động trên đất Trung Hoa, biết đâu cuộc diện Việt Nam hồi ấy cũng có phần thay đổi, không thì ít ra ngọn lửa chống Pháp cũng còn duy trì được lâu hơn nữa và gây cho thực dân những trận điên đầu.
toán cả 13 tử tội và thực dân e ngại chánh phủ Ba Lê bị áp lực của dư luận báo chí sẽ cho giảm án. Nguyễn thái Học không thể nào thoát án tử hình, điều ấy
XI. MỘT ĐỒNG CHÍ CỦA KÝ CON « BỊ » PHÁP THƯỞNG HUY CHƯƠNG
Nhà cụ Phán Tường vừa ăn xong cái Tết, bước qua mấy ngày đầu tháng Giêng.
Hôm ấy đã hạ cây nêu rồi thì phải. Hai vợ chồng cụ Phán đã già, cụ ông 56 tuổi. Cụ có hai cô con gái chưa lấy chồng còn ở chung với cha mẹ tại một căn nhà rộng, cất theo lối xưa, mang số 24 phố Hàng Giấy Hà Nội.
Nhà nầy không có lầu, là một hiệu buôn mắm. Bước chân vào nhà đã nồng lên một mùi mắm, chủ nhân lại là hai ông bà chất phác hiền hậu, trước kia ông đã làm Thông Phán tại một công sở, ai cũng tưởng nhà nầy làm ăn, buôn bán, cầu an, miễn sao được yên ổn là mừng lắm rồi. Có ai ngờ nhà ấy lại dùng làm trụ sở của Ký Con, lãnh tụ ban ám sát Hà Nội của Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1930.
Và có ai ngờ cụ Phán Tường tức Đào Tiến Tường, sau nầy ra trước Hội đồng Đề hình với cái tuổi già của cụ. Thì ra cụ Phán là một đồng chí của Nguyễn Thái Học, còn nội tướng của cụ và hai cô con gái đều là đảng viên cùng theo đuổi một chí hướng như chồng và cha.
Hôm ấy Ký Con hẹn với 5 người trong ban ám sát thuộc dưới quyền của anh, đến đây để lãnh công tác mật.
Năm « hạt gạo cội » chớ đâu phải là « tay mơ ». Ký Con điểm lại 5 đồng chí dưới quyền mình lần lượt đã vào nhà bán mắm của cụ Phán Tường.
- Nguyễn văn Liên,
- Mai Duy Xứng,
- Nguyễn Minh Luân,
- Nguyễn Quang Triệu,
- Nguyễn Bá Tâm.
Năm anh đủ cả rồi. Ký Con bắt đầu phân phối công tác cho mỗi anh. Anh giao cho 5 đồng chí tất cả 16 quả bom và nói rõ mục đích vụ nầy là gây lên cùng một lúc 16 tiếng nổ lớn ở Hà Thanh để nâng cao tinh thần đồng bào Thủ đô đất Bắc.
Cảnh sát quận nhất: Ta cho nó hai trái.
Cảnh sát quận nhì: hai trái nữa.
Sở Sen đầm: cũng hai trái.
Còn tên Arnoux, tên trùm Mật thám và Cảnh sát Bắc Kỳ, tên Pháp «chó săn của Thực dân » đã thẳng tay bắt bớ các đảng viên của đảng, ta cũng tặng cho nó hai trái, liệng vào nhà riêng của nó, nếu giết được nó càng hay không thì cũng cảnh cáo nó và vợ con nó.
Riêng Hỏa Lò (khám đường Hà Nội) là nơi giam cầm cả ngàn tù nhân chánh trị phần đông là người V.N.Q.D.Đ. thì phải 8 trái mới đủ.
Tuy bình thản và có uy quyền đối với anh em, song Ký Con cũng cho 5 ám sát viên hiểu qua tại sao phải có vụ này thi hành ở ngay giữa trung tâm thành phố.
Năm ấy (1930) cuộc khởi nghĩa Yên Bái, Lâm Thao đã bùng nổ. Đảng của Nguyễn thái Học đã thất bại và chỉ thâu được một kết quả nhỏ là được dư luận thế giới chú ý đến chí quật cường của dân tộc V.N. muốn đứng lên phá dây xiềng xích.
Có thế thôi.
Các tên phản đảng đã làm hư hết kế hoạch ; võ khí ở thủ đô bị khám phá, các đảng viên lãnh việc đánh Hà Nội bị bắt bớ gần hết: thành ra đại cuộc không thành.
Trước tình thế ấy phải gây ra một xúc động mạnh mẽ ở Hà Thành để thức tỉnh đồng bào nơi đây và gây náo động trong dư luận thế giới. Các tòa lãnh sự ở Hà Nội sẽ nghe được 16 tiếng nổ và nhận thức rằng lực lượng chống Pháp chưa nao núng, dầu có bị vài thất bại ban đầu.
Tám quả bom ném vào bên ngoài Hỏa Lò có mục đích nâng cao tinh thần các đồng chí đang bị bắt giam và nhắn nhủ họ: « Chúng tôi chưa bại trận! »
Đúng 8 giờ tối, dân Hà Nội nghe vang dậy những tiếng nổ cùng một lúc có cách nhau chỉ một vài phút thôi.
Trong khi 5 đồng chí đi thi hành sứ mạng thì Ký Con ở nhà cụ Phán Tường, phố Hàng Giấy, chờ kết quả do 5 người này sẽ về báo cáo.
Bốn người đã lần lượt về…
Riêng có anh Nguyễn bá Tâm còn vắng mặt.
Bốn anh trên đều bình an vô sự, trùm Mật thám Arnoux chắc không hề hấn vì hai quả bom không lọt vào nhà nó mà rớt ở phía ngoài hàng rào, gây hai tiếng nổ, cũng đủ làm cho nó kinh hồn, hết vía.
Còn anh Tâm sao chưa về? Ai cũng thắc mắc cho số phận anh.
Anh là người lãnh trách vụ ném bom vào sở cảnh sát quận nhì. Anh bị bắt rồi chăng hay gặp tai nạn? Bị thương hay đã đền nợ nước?
Tuy mọi người đều lo lắng song bà cụ Phán Tường vẫn tỏ ra người nội tướng giỏi. Cụ vào bếp nấu nước pha trà mời các đồng chí. Dĩa bánh ngọt và mứt còn dư sau ba ngày Tết, cụ đã cho sắp xếp trên mấy cái đĩa, chờ mở « tiệc khao quân » – Vẫn còn nguyên trên bàn. Chỉ vì thiếu anh Tâm.
Nước đã sôi được châm vào bình trà mạn ướp sen, khói lên nghi ngút.
Chờ lúc sau, Ký Con cho lịnh các đồng chí ăn bánh uống nước, để khỏi phụ lòng tốt của chủ nhân.
Song cả năm người đã thủ mỗi người một khẩu súng lục, phòng khi anh Tâm bị bắt không chịu được tra tấn dã man mà khai ra nhà cụ Phán Tường, thì Ký Con và đồng chí đã có võ khí mở một đường máu chống bọn mật thám đến bao vây nhà.
Năm phút sau, không thấy tin tức gì, Ký Con cho lịnh anh em giải tán.
Đêm hôm ấy số phận anh Tâm ra sao?
Anh Tâm đã gặp một tai nạn hi hữu trong lịch sử cách mạng mà cổ kim, đông tây chưa bao giờ có.
Một « tai nạn đầu Xuân ».
Cũng không phải. Mà phải nói là « cái bổng đầu Xuân » mới đúng, vì anh Tâm… được thưởng mề đai của Thực dân.
Thế mới kỳ…
Một ám sát viên đem bom đi ném vào Thực dân mà lại được Thực dân ân thưởng.
Tại sao thế?
Nguyên là do sự hiểu lầm mà ra.
Anh Tâm đến Sở Cảnh sát Quận nhì, thấy tên « cò » Satiani đang cùng gia đình ăn cơm tối. Phòng ăn, có thể đứng ngoài trông thấy rõ người bên trong, dù cửa kiếng trông ra đường đóng kín.
Tâm ném một trái bom vào: bom nổ làm bể cửa kiếng, văng miểng vào trong.
Đến đây xin ngưng một phút để giải thích về trái bom năm 1930. Tuy gọi là « bom » theo tiếng thông dụng, nhưng nó chỉ nhỏ như trái lựu đạn. Kỹ thuật chế bom lại thô sơ, ấu trĩ, nên công hiệu rất yếu.
Quả bom của anh Tâm chẳng giết được ai, cũng như những bom của 4 đồng chí khác.
Anh Tâm toan bồi thêm một trái thứ nhì nữa thì bỗng có một người đi đường hoảng hốt chạy qua bên cạnh anh, đụng mạnh vào anh làm anh té cái ạch. Trái bom thứ hai của anh đã rút ngòi, phát nổ, miểng trúng vào bụng anh. Còn người lạ mặt đụng anh thì vô sự đã chạy mất.
Anh Tâm đứng lên chạy theo. Có tiếng chân lính cảnh sát đuổi sau lưng. Anh lanh trí, ôm bụng la lớn:
« Ông đội xếp ơi, nó chạy đường này, bắt lấy nó. Nó ném bom vào tôi ».
Viên cảnh sát thấy anh Tâm bị thương, máu chảy ở bụng, còn người chạy trước ảnh đã mất hút.
Máu ở bụng anh Tâm làm cho viên cảnh sát chột dạ, không dám đuổi theo nữa vì biết đâu đuổi theo sẽ lại chẳng ăn một viên đạn bắn trở lại. Tâm được « thầy đội xếp » dìu lên xe đưa vào nhà thương điều trị.
Nhờ mau trí khôn, biết quyền biến, anh Tâm từ một anh có chân trong ban ám sát, đã thành một nạn nhân… của bọn « khủng bố ». Hơn nữa thực dân còn ca tụng anh là « kẻ hiệp sĩ anh hùng dám đuổi theo một tên khủng bố ». Trong bịnh viện anh Tâm được săn sóc châu đáo, rồi sau lành mạnh anh ra về.
Trớ trêu hơn nữa là bàn tay của Hóa công đã đưa anh lên một chỗ « vinh dự » mà kẻ bán nước quên nòi đều phải thèm muốn. Phủ Thống sứ cho người đem huy chương vào bịnh viện gắn cho anh Tâm, ngày anh bình phục, ra về.
Điều thứ nhứt anh làm khi về tới nhà là đi tìm Ký Con để báo cáo sự việc đã xảy ra.
Hai đồng chí đều cười nôn ruột về « cái bổng đầu Xuân » mà anh Tâm « bị » thụ hưởng 1.
--------------------------------

1

Sau này có kẻ bị bắt đã tố cáo sự thật về anh Tâm nên anh bị đưa ra tòa xử.

XII. HAI CHA CON HAI LẰN MỨC
Á! Mầy lại đem những cái « cặn bã văn minh » ấy ra mà tính thuyết phục tao? Mở miệng ra là Rousseau với Montesquieu, chỉ những lý thuyết suông chớ không nhìn vào đời thực tế. Cho mầy đi Tây học được cái bằng cử nhân luật, những mong về nước làm nên danh phận, rạng rỡ tông đường, chớ đâu phải để mầy nhồi sọ bằng những tư tưởng quá khích có ngày đi theo bọn « làm loạn » vào tù sớm!
Đó là những câu mắng nhiếc rất thông thường mà gia nhân nhà Tổng đốc Vi văn Định được nghe mỗi cuối tuần tại tư dinh của viên Tổng đốc tỉnh Thái Bình. Những lời nghiêm huấn của cha dạy con: một thanh niên còn hăng hái, cậu Vi văn Lê, con trai của Vi văn Định.
Vào khoảng 1929-1930.
Đất Bắc đang sôi động với phong trào khởi nghĩa chống Pháp. Các hội kín bị tan vỡ, những tay sai của thực dân như cỡ Vi văn Định trong giới quan trường, thi đua đàn áp các phần tử chống Pháp. Họ cúc cung tận tụy với « quan thầy » và không bỏ cơ hội nào tỏ tình khuyển mã với « Mẫu quốc ». Thậm chí họ muốn un đúc con cái theo đúng cái khuôn mẫu trung thành của họ nữa. Tổng đốc Vi văn Định muốn cậu con trai của y sẽ thành một vị « quan lớn » cũng như mình để vinh thân phì gia hơn mình gấp bội: Con hơn cha là nhà có phúc mà!
Nhưng cậu cử Lê sau mấy năm ăn học ở Pháp, tiêm nhiễm những tư tưởng dân chủ, dân quyền, đâu có chịu uốn nắn thân mình trong khuôn mẫu của phụ thân, một tên « sâu dân mọt nước » đã lừng tiếng về lối tra tấn dã man bằng một cái chầy sắt.
Đáp lại lời mắng nhiếc của cha, cậu cử Lê thẳng thắn nói rõ ý nghĩ của mình:
- Con xin cha suy xét lại. Dư luận đã ám chỉ đến cái chầy sắt mà cha dùng để tra tấn các nhà cách mạng. Họ không dám nói huỵch toẹt ra, nhưng một tờ báo đã dùng mánh lới đăng bài thơ vịnh « Cái chầy » bên cạnh chân dung của cha đó.
- À! Tờ báo xỏ lá ấy à! Tao đã viết thơ cho quan Thống sứ đóng cửa nó. Rồi mầy sẽ xem!
Vừa lúc nầy, một anh lính lệ đưa vào 1 công văn « hỏa tốc » của viên công sứ tỉnh Thái Bình (tỉnh trưởng Pháp). Vi văn Định cầm lấy đọc xong, tươi cười hớn hở, trao cho con xem:
- Mầy thấy không? Tao nói sai đâu. Tờ báo xỏ lá ấy, tờ « Đông Tây » đã bị rút giấy phép. Để xem còn thằng nhà báo nào dám động đến chân lông tao nữa.
- Nhưng còn dư luận ngấm ngầm, xin cha đừng coi rẻ.
- Tao sẽ diệt hết những đứa nào chống tao và chống « chính phủ bảo hộ » ; thuyết dân chủ, dân quyền của mầy có mạnh bằng thần công, đại bác của nước Pháp không?
Vi văn Lê lắc đầu, thở dài, không đàm luận nữa. Cậu tính quay ra, về phòng riêng của cậu để nằm suy nghĩ. Nhưng cậu bị cha kêu giật lại:
- Mầy hãy ở đây, tao cho xem một biện pháp mạnh của tao để đối phó với quân nổi loạn.
Nói rồi Vi văn Định nhận chuông. Một người cộng sự tâm phúc của y chạy vào khúm núm nói:
- Dạ, bẩm cụ lớn gọi con.
- Kêu thằng mới bị bắt sáng nay lên đây. Dùng lối « Sư tử hí cầu » nó sẽ phải khai hết.
Vi văn Định hất hàm ra lịnh như vậy.
Vi văn Lê thở dài nói nhỏ:
- Chầy sắt chưa đủ, còn « Sư tử hí cầu » nữa. Trò gì đây?
Lúc ấy một thanh niên tiều tụy được dẫn lên, để đứng ở ngoài sân rộng, trước văn phòng của Tổng đốc họ Vi. Mặt mày sưng húp, quần áo rách bương, đủ cho thấy thanh niên đã bị tra tấn nhiều lần. Viên đề lại hỏi chàng:
- Mầy đã khai thật chưa? Hay còn cố giấu?
- Dạ, oan con lắm.
- Thôi được! Tao cho chó « bẹc giê » nó phanh thây mầy ra trăm mảnh.
Viên đề lại ra hiệu cho một lính lệ. Tức thì hai con chó lớn gần bằng hai con bò con được mở cũi chảy xổng ra, vồ lấy con mồi là chàng thanh niên bị tra vấn. Chàng hết hồn, té xuống dưới sức mạnh của hai con vật, chàng tưởng bị « phanh thây ra trăm mảnh » như lời viên đề lại vừa nói. Kẻ nào mới thấy cảnh tượng ấy cũng phải lo cho số phận chàng. Nhưng hai con « bẹc-giê » gởi mua từ Pháp qua, đã được huấn luyện thuần thục: Chúng chỉ làm cho chàng thanh niên hồn vía lên mây, mà không cắn ; chúng « quần thảo » chàng một hồi, tung lên đè xuống, thật như món võ « Sư tử hí cầu » của các nhà nghề võ thuật.
Viên đề lại kêu hai con chó tới gần y, chờ chàng thanh niên hoàn hồn rồi hỏi tiếp:
- Mày khai chưa, hay để tao ra lịnh cho chó ăn thịt mày?
- Oan con lắm!
Vi văn Định truyền lịnh cho viên đề lại:
- Hãy giam nó vào ngục cho nó còn có thì giờ suy nghĩ.
Vi văn Lê nói thẳng với cha:
- Cha muốn bắt chước Néron thời xưa cho cọp ăn thịt tội nhân chắc! Néron còn để tiếng với sử sách muôn đời.
- Mày câm miệng đi. Hết Rousseau lại đến Néron! Mày hãy đi cho khuất mắt tao.
Vi văn Lê buồn bã, cúi đầu, lững thững về phòng riêng của mình trong dinh Tổng đốc.
Chàng nghĩ đến cha mình và mình ở hẳn hai lằn mức: cha thì hại dân hại nước ; mình thì mong muốn đem khả năng ra giúp ích cho đồng bào. Nhưng khó đi đến chỗ dung hòa được.
Từ ngày giựt được mảnh bằng Cử nhân luật ở bên Pháp trở về, chàng quyết không nghe lời cha đi làm tri huyện để nhờ thế lực của cha mà bước những bước dài trên hoạn lộ. Chàng mở một phòng tư vấn pháp luật để chỉ dẫn cho người có việc lui tới tòa án.
Mỗi tuần, chàng từ Hà Nội về Thái Bình thăm cha vào chiều thứ bảy. Mỗi lần là mỗi có cuộc tranh luận và bất đồng ý kiến giữa hai cha con. « Hổ phụ sao không sinh hổ tử mà lại sinh ra khuyển tử như mày? « Vi văn Định vẫn vỗ bàn la lớn.
Vi văn Lê buồn lắm, nhất là chàng thường đi tiếp xúc với dân chúng nghe được những dư luận không tốt đối với phụ thân.
Một đêm chàng suy nghĩ thế nào mà lại nẩy ra một sáng kiến: giải thoát cho những nhà cách mạng lớn tuổi đang bị giam giữ trong ngục thất ; các ông ấy chịu sao nổi trò « Sư tử Hí Cầu ».
Đêm ấy chàng đến trước cửa trại giam, bảo tên lính gác mở cửa cho chàng vào. Với con trai của quan Tổng đốc, ai còn dám nghi ngờ gì nữa. Anh lính cũng tưởng chừng « lệnh lang » của cụ lớn vào ngục để tra vấn một tội nhân,
Thừa lúc lính gác không để ý, Vi văn Lê nhìn thấy một chỗ trống ở trên một phòng giam cá nhân, có thể thông ra đường. Chàng bèn hối thúc anh tù nhân ở đây leo lên lưng chàng, bước lên vai chàng như bậc thang, rồi trốn thoát ra ngoài phố.
Có tiếng động, chàng phải ra về.
Sáng hôm sau, Vi văn Định kêu đến tù nhân phòng này lên hỏi cung mới hay con mình đã « tháo cũi xổ lồng »… Lại nhằm vào một yếu nhân cách mạng mà y định khai thác. Y tức bầm gan.
Y kêu con lên văn phòng, mắng nhiếc sỉ vả một hồi, thiếu điều muốn đánh cho chàng một trận mới hả giận.
Hôm sau người cha sắt đá quyết đầy con trai lên mạn ngược (vùng thượng du). Trước kia, họ Vi làm tri châu ở Sơn La, biết nơi đây đèo heo hút gió, bắt con lên đây ở thì hết còn có tư tưởng dân chủ, dân quyền, hết còn binh vực bọn « nổi loạn ».
Vi Văn Lê dầu đã đi du học ngoại quốc về nhưng còn thấm nhuần chút nho giáo, vẫn còn thần phục uy quyền của cha. Chàng cam chịu cái án đi đày, mong chẳng đến đỗi phải chung thân. Vì chàng nghĩ hổ dữ cũng không đến ăn thịt con ; chẳng bao lâu chàng sẽ được cha ân xá mà trở về Hà nội.
Ngày tháng trôi qua… Vi văn Lê cỡi ngựa đi giải trí trên thung lũng trong khung cảnh âm u của thiên nhiên, chung quanh chỉ có đất với trời. Tánh hăng hái không chịu nổi sự giam hãm trong cô độc, chàng thường phóng ngựa chạy từ đồi nọ sang đồi kia, để tiết bớt sinh lực nóng hổi ra ngoài.
Rồi một hôm, con ngựa cũng hăng sức phóng nước lớn, hụt chân quăng chàng thanh niên xuống vực thẳm. Chàng đau quá, lịm đi, không có ai đến cứu, mặc dầu con ngựa hí vang động bốn phía. Tiếng gió rì rào với cành cây phủ lên tạo vật một màu đen tối. Trời thảm đất sầu tiễn đưa một linh hồn thanh niên khẳng khái về bên kia thế giới sau hai tháng bị đầy trên mạn ngược.
Tiếng gió như còn gọi lên ba tiếng:
Vi văn Lê! Vi văn Lê.
XIII. NGUYỄN VĂN SÂM : CHỦ BÁO, KHÂM SAI, LÃNH TỤ CHÁNH TRỊ, ĐI XE BUÝT, ĐỂ BỊ ÁM SÁT
Trong các ký giả, một vị đàn anh để lại mãi hình ảnh trong ký ức nhiều người trong hay ngoài làng: đó là ông Nguyễn Văn Sâm, Hội trưởng hội Ajac, chủ nhiệm báo Đuốc Nhà Nam.
Làm chủ báo mà lại là tờ báo đối lập với chánh quyền thực dân lúc thực dân toàn thịnh, nên ông Sâm rất nghèo, tòa báo thiếu cả 12 tháng tiền phố.
Tốt nghiệp trường Cao-đẳng Công-chánh, nếu ông đi làm việc « nhà nước » thì cũng lên đến địa vị cao sang ở « sở Trường tiền » đâu có đến đỗi. Song ông lại không ham cái nghề công chức cao cấp, ông dấn thân vào cái nghề bạc bẽo: nghề viết báo.
Tánh trầm tĩnh, ôn hòa, ông được đồng nghiệp đưa lên địa vị điều khiển hội Ajac, một hội tương tế của làng báo Nam Kỳ. Hồi Pháp thuộc không có tự do nghiệp đoàn, các người làm cùng nghề chỉ được phép lập hội tương tế hay ái hữu mà trong điều lệ phải ghi rõ: « Tất cả các cuộc thảo luận chánh trị hay tôn giáo đều cấm ngặt. » Điều lệ cũng như tên hội phải thảo bằng tiếng Pháp, dùng làm văn kiện căn cứ, còn bổn dịch ra tiếng Việt chỉ là bổn phụ. Ajac là bốn mẫu tự trong cái tên mà các hội viên sáng lập đã đặt cho hội: Association des Journalistes Annamites de Cochinchine.
Tuy ghét hội này không chịu an phận thủ thường như các hội « ăn nhậu » khác, nhà cầm quyền chưa dám bóp chết Ajac vì còn sợ thất nhân tâm.
Năm 1969, có phong trào đàn áp báo chí, hội Ajac bị giải tán luôn, với cớ là « hội đã làm chánh trị, trái với điều lệ của hội ». Năm đó Pháp lâm vào cuộc chiến tranh với Đức. Ajac bị giải tán, ông hội trưởng của nó còn bị đưa đi an trí tại Sốc trăng, sanh quán của ông. Lý do thực sự khiến Thống đốc Nam kỳ ghét ông Nguyễn Văn Sâm là vì ông đối lập với chánh quyền, đả kích mãnh liệt ông Bùi Quang Chiêu, ứng cử viên do Thống đốc bảo trợ trong cuộc bầu cử đại biểu Nam Kỳ vào Thượng Hội-đồng Thuộc địa.
Khi Nhựt đảo chánh Pháp, ông Nguyễn Văn Sâm mới được rời Sốc trăng về Saigon hoạt động trở lại. Ông hợp tác với ông Hồ Văn Ngà, xuất bản tờ báo Hưng Việt, lập một chánh đảng để phụng sự lý tưởng của ông.
Năm 1945, Chánh phủ Trần Trọng Kim cử ông làm Khâm sai Nam Việt và mời ông ra Huế để lãnh Chiếu tấn phong. Nhưng Nam kỳ đang bị Nhựt giữ nguyên trạng trong chế độ cũ, cuộc điều đình giữa Chánh phủ Việt Nam cùng nhà cầm quyền quân sự Nhựt ở Đông dương, kéo dài cả 5 tháng mới kết thúc. Ông Sâm phải chờ đợi rất lâu ở Huế ; khi Nhựt chịu giao trả thuộc địa cũ của Pháp cho Việt Nam, thì Việt Minh đã bắt đầu cướp chánh quyền ở Nam kỳ trong khi ông Khâm Sai mới từ Huế trở vào Saigon ít ngày.
Về đoạn sử bi đát này, chúng tôi xin mượn lời của ký giả Nam Đình, vì ông này đã từng sống bên ông Sâm ở Huế, với tư cách Đổng lý Văn phòng bộ Tư pháp. Ông Nam Đình thuật ngày trở về như sau này trong cuốn « Hồi Ký » của ông:
« Chánh phủ Trần Trọng Kim giao cho Khâm sai một chiếc xe Ford số P.I (Palais Impérial) và một sốp phơ phản động, mới là nguy!
« Tôi không biết có phải Việt Minh sắp đặt như thế hay không, mà xe hơi vừa ra khỏi Huế là… suýt chút nữa đâm đầu xuống hố, nếu tôi không lẹ tay kéo tay bánh lại kịp.
« Không phải tôi lãnh sứ mạng của bộ Tư Pháp đưa Khâm sai Nguyễn Văn Sâm về Saigon: tôi đi với tư cách riêng, không dính líu gì với Khâm sai.
« Thoát chết lần đầu, Nguyễn Văn Sâm cũng không để ý… Đến lần thứ nhì, chiếc xe hơi sụp vào bãi cát lớn. Thế là chiếc xe nằm ì ở đó…
« Sốp phơ phá hoại, rồi đến Việt Minh ở Quảng Ngãi đốn 10 cây số cây trồng 2 bên đường. Thế là chiếc xe Ford không thể tiến hành một cây số nào nữa.
« Nguyễn Văn Sâm phải trở về Đà Nẵng, đánh điện về Huế, kêu cứu với Chánh phủ Trần Trọng Kim rằng: Đường về Nam thấy còn nhiều trở ngại. Nếu có được máy bay mà Nhựt chịu cho mượn mới mong về Saigon đúng ngày giờ đã định, bằng không chưa biết ngày nào về tới Saigon.
« Thủ tướng Trần Trọng Kim hỏi quân đội Nhựt và được biết: Đã đình chiến rồi. Đồng minh ra lịnh không cho máy bay cất cánh.
« Bây giờ làm sao đưa Khâm sai về Nam bộ? Quân đội Nhựt cho 20 cam nhông lính dẹp hàng ngàn cây nằm ngổn ngang trên đường Quảng Ngãi vào Nam…
« Ra tới Tam-kỳ, chúng tôi ghé lại Phủ đường, nhờ dây thép đánh về Huế. Nguyễn Văn Sâm sợ Việt Minh ở Saigon làm hỗn, cướp chánh quyền, nên đánh điện về Thủ-tướng Trần Trọng Kim xin ký sắc lịnh bổ nhiệm Hồ Văn Ngà – có mặt tại Saigon – tạm giữ chức Khâm sai Nam-bộ. Rồi Khâm sai sẽ về sau…
« Gần tới Khánh Hòa, quang cảnh thấy khác thường: dân tình êm lặng như sợ sệt một việc gì… Xe hơi mang cờ Quẻ Ly vào trung tâm Khánh Hòa, tức thì bị Dân Quân Cách Mạng nhảy lên xe, xé cờ Quẻ Ly và bắt trọn xe đưa về Công an. Thế là rõ rệt: Khánh Hòa vừa bị cướp chánh quyền 6 giờ chiều hôm qua.
« Họ bắt Nguyễn Văn Sâm giam giữ một nơi. Tôi và Diệp Ba bị giam giữ một nơi khác.
(Một đoạn dài của ông Nam Đình không liên hệ đến ông Nguyễn Văn Sâm, xin lược bỏ).
« Một đêm sống trong kinh khủng…
« Nhưng sáng lại, lính gác rút dần dần, làm cho mình nhẹ lo phần nào. Vào độ 10 giờ, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng ôm cặp đến trại lính cho tôi hay:
- Anh cùng về với ông Khâm sai.
« Đang lúc còn ngơ ngẩn, kế thấy xe hơi đưa Nguyễn văn Sâm tới. Chúng tôi cùng lên xe. Xe của ông chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng – xe « trắc xông » có cờ đỏ sao vàng – mở đường đi trước và nói:
- Chúng tôi đưa các anh ra khỏi biên giới.
…« Đường về Nam bộ, xe Khâm sai vượt qua khỏi ranh Phan Thiết là gặp những khải hoàn môn dựng trước công sở, đón tiếp nồng hậu… 1
« Ông Tỉnh trưởng Phan thiết đã đánh điện tín về các tỉnh, quận, mà Khâm sai sẽ đi qua, trên quốc lộ số 1, nên đâu đâu đều chuẩn bị cuộc tiếp rước…
« Xe chưa vào châu thành Biên Hòa, là gặp một chiếc xe hơi trắc xông có cắm cờ, đón giữa đường, ở một nơi vắng vẻ…
- À! Anh Huỳnh Văn Phương… Diệp Ba la lên.
« Ông Huỳnh Văn Phương lãnh chức Tổng giám đốc Công an, lên đây trước, đón ông Nguyễn Văn Sâm đặng hỏi tin tức…
« Xe của Huỳnh Văn Phương mang cờ công an, chạy trước mở đường.
« Rồi Thủ Đức, Gia định, Saigon. Dân chúng đứng chật hai bên đường, từ Đất Hộ (Đakao) về tới đường Lagrandière (Gia Long) dinh thống đốc là nơi còn Minoda 2.
« Xe Huỳnh Văn Phương ngừng ở Đất Hộ, để một mình xe ông Khâm sai vào Saigon, đặng cuộc tiếp rước không lầm lẫn… »
Khi không ngồi ghế Khâm sai nữa, ông Nguyễn Văn Sâm trở về với nghề làm báo. Ông cố gắng quy tụ các phần tử quốc gia chân chánh, tìm một giải pháp quốc gia cho cuộc chiến tranh Việt Pháp.
Tuy là một yếu nhân trên chánh trường, ông vẫn sống thanh bạch, bình thường. Đi đâu ông ít mượn xe hơi của anh em, mà lại hay đi xe buýt. Ông không có xe riêng.
Rồi một hôm trên chiếc xe buýt Saigon-Chợ lớn, chạy tới trạm đường Cây Mai, ngừng lại. Mấy tiếng súng lục nổ chát chúa: bọn khủng bố đã hạ sát ông Nguyễn Văn Sâm trên xe.
Năm ấy là năm 1948.
Một ngày trời thảm, đất sầu.
Nghe tin này, ai cũng sửng sốt, bồi hồi. Một chiến sĩ của báo giới, của chính trường, suốt đời trong trắng, chỉ biết tranh đấu cho lý tưởng, vừa ngã gục dưới những hòn đạn bạo tàn.
Vè kẻ viết bài này lại nhớ đến mấy câu thơ cũ của Phan Bội Châu:
Hỡi người ái quốc!
Xin ái thực thà:
Quên mình quên nhà,
Chỉ biết có Nước.
Tôi bùi ngùi nhớ lại nhà ái quốc Nguyễn Văn Sâm.
--------------------------------

1

Phan thiết chưa có Cách mạng, còn yên ổn.

2

Thống đốc Nhựt hồi đó.

XIV. THI SĨ VIỆT CHÂU « TẠM GÁC THI VĂN KHOÁC CHIẾN BÀO »
Trong giới Phật giáo Hòa Hảo ai là không biết thi sĩ Việt Châu, một nhà thơ trẻ tuổi mà danh tánh một thời đã vang dội ở miền Tây, với chức bí thư của Đức Huỳnh giáo chủ.
Người ta nhớ đến Việt Châu cũng như nhớ đến Đức « Thầy ». Một sự tình cờ của Định Mạng đã đưa Việt Châu tới gần vị Giáo chủ để mà thành bí thư tín cẩn của « Thầy » đi theo sát « Thầy » như bóng theo người, cùng chung là việc nước trong những giờ phút nghiêm trọng của miền Nam năm 1945.
Lúc sanh thời, Huỳnh giáo Chủ rất tâm đắc với Việt Châu. Những khi đi thăm tín đồ ở Cần Thơ, Long Xuyên. Người đều kêu viên bí thư đi theo và trên đường trường nắng gắt, thầy trò xướng họa với nhau, xuất khẩu thành thi, thật là tương đắc. Hai thầy trò xuất khẩu những vần thơ thanh tao, hùng tráng, mô tả cảnh đẹp của miền quê đất nước ; hai thầy trò cùng rung cảm trước cảnh gấm vóc của non sông.
Bây giờ thi sĩ Việt Châu không còn nữa.
Đời của nhà thơ trẻ tuổi ấy ra sao chúng ta cũng cần biết rõ.
Năm 1942, tuần báo « Tiểu thuyết Thứ Bẩy » ở Hà Nội đăng một bài trường thi với nhan đề « Lông Ngỗng Gieo Tình » ký bút hiệu Việt Châu. Đây là một truyện lịch sử bằng thơ, nói lên mối tình đau thương của Mỵ Châu Trọng Thủy.
« Lông Ngỗng Gieo Tình » đã làm cho văn giới từ Bắc vào Nam hỏi nhau: « Việt Châu là ai? » Bài thơ dài ấy thật là tiếng kêu bi đát, nói lên cái hại của ái tình mù quáng, nhắn nhủ thanh niên chớ có sa ngã vào cạm bẫy trên tình trường. Nhà bình phẩm văn học Vũ Ngọc Phan đã không tiếc lời ca tụng, khi bài trường thi ấy được xuất bản thành sách.
Đối với Trung, Bắc, nhiều người chưa biết Việt Châu, thì tác phẩm này đã giới thiệu một tài hoa trẻ tuổi với hai địa phương ấy.
Nhưng độc giả trong Nam đọc thơ Việt Châu thì tác phẩm này đã giới thiệu một tài hoa trẻ tuổi với hai địa phương ấy.
Nhưng độc giả trong Nam đọc thơ Việt Châu từ lâu rồi, từ khi còn tờ báo « Lục Tỉnh Tân Văn » của ông Nguyễn văn Của.
Sanh ngày 7 tháng 3 năm 1918, Việt Châu tên thật là Nguyễn Xuân Thiếp, con một gia đình nho phong làng Tân Thạnh, tỉnh Long Xuyên.
Thân phụ là cụ Phương Sơn, một nhân vật của phong trào « Đông Kinh Nghĩa Thục ».
Nguyễn xuân Thiếp là con thứ ba của cụ.
Thông minh khác thường từ thuở nhỏ, 5 tuổi đã đọc rành quốc ngữ, 7 tuổi thuộc làu nhiều thơ văn cổ điển. Nguyễn xuân Thiếp đi học trường làng, tánh tình rất dạn dĩ tự nhiên. Bởi vậy năm lên 9 tuổi, cậu học trò ấy đã đọc một bài chúc từ trước mặt đông đủ các nhân vật quyền chức sở tại nhân dịp lễ phát phần thưởng.
Theo nền nếp nho phong, cụ thân sinh bắt Thiếp học thêm chữ Hán ; do đó mà lớn lên Thiếp có dịp làm y sĩ, đem y đạo ra cứu thế độ nhân.
Mười tuổi đã làm thơ bát cú, tứ tuyệt, nhà thơ tí hon ấy lắm khi thi hứng dồi dào, xuất khẩu thành thi mà lại là thơ có niêm, luật đàng hoàng. Cái mới khó, mới lạ. Ai cũng khen là một thiên tài. Năm 1928-1929 đâu có các thi, văn đoàn, bút nhóm nhiều như ngày nay, có đâu những tài hoa bộc phát được đưa ra ánh sáng dư luận.
Nhưng không bao lâu, mới 16 tuổi, Nguyễn Xuân Thiếp đã có duyên văn trên báo chí, bước vào làng thơ với bút hiệu Việt Châu: Tờ « Lục Tỉnh Tân Văn » dưới bút quyền của cụ Nguyễn chánh Sắt đã mở một « Phụ trương Văn Chương » giao cho Việt Châu phụ trách. (Hồi ấy chưa có danh từ Văn Nghệ).
Trên văn đàn của tờ báo, Việt Châu quy tụ một số bạn trẻ thành một nhóm lấy tên là « Văn Đàn Đốc Vang Thượng » theo địa danh của làng anh. Các bạn trẻ ngày nay đua nhau lập thi văn đoàn, bút nhóm này nọ, có ai nhớ đến thi sĩ Việt Châu hồi 16 tuổi, năm 1934 đã có sáng kiến đầu tiên lập một « văn đàn » cho tuổi trẻ trau giồi văn nghệ?
Sau « Lục Tỉnh Tân Văn » Việt Châu viết bài cho mấy tờ báo khác ở Saigon như tuần báo « Mai» của Đào Trinh Nhất, trong đó Việt Châu giữ mục «Trường thơ». Tuần báo « Văn Chương » có mục « Trường Văn Trận Bút » giao cho Việt Châu phụ trách.
Dưới thời Pháp thuộc, Việt Châu gom thơ thành mấy tập sau đây đem xuất bản
- Xuân Xanh (1933-1935)
- Tình Thơ (1938-1942)
- Lông Ngỗng Gieo Tình (1942)
- Hải Đường Hoa Rụng (1943): một tập trường thi tả mối tình Đường Minh Hoàng với Dương quý Phi.
- Tráng sĩ ca (1944) gồm những thơ hùng tráng.
Sau tập này, độc giả đã ví Việt Châu trong Nam với các thi sĩ đang nổi danh ngoài Bắc. Trong báo « MAI » Đào trinh Nhất đã phê bình như sau:
«Người lục tỉnh đầu tiên có thể chiếm một địa vị ngang hàng với mấy thi sĩ tài danh bực nhứt của chúng ta hiện thời là Việt Châu ».
Muốn thấy rõ tài hoa của nhà thơ trẻ tuổi, chúng ta hãy đọc lại bài thơ tình cảm nhan đề « Bến Lăng Tô » của ông:
Nắng nhạt, sương về trên bến nước,
Những hồn du tử thả lên sương.
Những hồn du tử bâng khuâng nhớ:
Tình ái vô duyên để đoạn trường.
Tôi biết khi cầu sương ngã bóng,
Bao lòng thơ mộng ngả trong mơ.
Nỗi niềm u ẩn lan sóng nước,
Tình ai trôi xuôi chẳng đợi chờ.
Viễn ảnh thuyền tình mơ ảo quá,
Mong gì nữa, hỡi khách sang sông
Chiều nay sông đẹp, sông tươi thế
Mà khách sang sông chạnh não nùng
Thuyền tình hờ hững xa xôi lướt
In bóng lên sương, bóng hững hờ
Thuyền hỡi thấu chăng nông nỗi khách?
…Buồn nghe gió cuốn bến Lăng Tô
Thơ Việt Châu phảng phất cái buồn nhè nhẹ của Thế Lữ, và mối tình man mác của Huy Thông.
Nhưng Thế chiến thứ II bùng nổ, giang sơn đất nước Việt Nam cũng không tránh khỏi cảnh tang thương. Việt Châu tỏ niềm cảm khái trong bài thơ sau đây:
Long trời lở đất súng thần công,
Lưng ngựa thanh gươm, chí vẫy vùng
Hơi độc mờ bay, thây chất núi,
Tiếng bom vang nổ, máu hòa sông
Dũng, Trung, hai tiếng như kêu gọi
Thê, Tử: thường tình hết nhớ nhung
Chiến sĩ khi nhìn gươm đẫm máu
Mỉm cười: song chửa nợ tang bồng?
Biết qua cuộc đời của nhà thơ, bây giờ chúng ta tìm hiểu cuộc đời nhà cách mạng của Việt Châu.
Ngoài 20, tuổi Việt Châu lập gia đình với một thiếu nữ, con một hương chức làng Hòa An (Cao Lãnh).

Tuy đã có cái vốn nho học vững vàng, Việt Châu không bo bo trong những tư tưởng « Khổng Tử viết » mà còn muốn nhìn rộng thấy xa nên trau giồi Pháp văn và say mê thi văn Pháp. Ông cũng không chịu sống theo nếp sống ủy mị của đa số thi nhân thế hệ. Ông chủ trương rằng dầu có là một văn nghệ sĩ đi nữa, sức khỏe cũng rất cần thiết trong thời đại mạnh được yếu thua này. Việt Châu quyết tâm học võ, luyện tập môn quyền thuật.
Đến khi thế lực Pháp sắp suy tàn, năm 1944-1945, Việt Châu thành một thanh niên văn võ song toàn, chờ lúc phải đem bầu máu nóng của cái tuổi 27 xuân xanh ra phục vụ đồng bào, tổ quốc.
Việt Châu với thân hình vững chắc da trắng miệng rộng, giọng nói dõng dạc phải « tạm gác thi văn khoác chiến bào » từ đây – (theo lời của thi sĩ.)
Ông đã gặp được Đức Huỳnh giáo chủ và coi như là một minh chủ. Ông cũng được Người tín nhiệm, nhận làm bí thư. Gần gũi với vị lãnh đạo tinh thần trên 1 triệu tín đồ miền Tây, ông đã có nhiều ý kiến sáng suốt khi tham gia các việc quyết định của Giáo chủ.
Tháng Ba năm 1945, Nhựt đảo chánh Pháp. Tại vườn Ông Thượng Saigon (sân Tao Đàn bây giờ) có một cuộc biểu tình của các đoàn thể mừng nền « độc lập » đã thâu hồi. Các tổ chức lần lượt lên diễn đàn. Trong khi ấy Việt Châu lo cái nạn « dịch chủ tái nô » yêu cầu Đức Huỳnh Phú Sổ cho lịnh tín đồ Phật Giáo Hòa Hỏa hãy dè dặt, theo dõi thời cuộc, chớ vội a dua.
Quân đội Nhựt bắt đầu nghi ngờ Phật Giáo Hòa Hảo song chưa dám động đến một khối người tín ngưỡng đông đến trên một triệu.
Tháng 8 năm 1945 Việt Châu được Đức Huỳnh Giáo chủ phái ra Hà Nội điều tra, xem xét tình hình.
Khi trở về Saigon, ông phúc trình tất cả thực trạng.
Ngày mồng 2 tháng 9 năm 1945, Việt Châu bị Việt Cộng đem xử tử tại sân vận động Cần thơ và vu cáo cho ông theo Pháp chỉ vì ông quyết không mù quáng và giữ vững lập trường quốc gia.
XV. CẬU HỌC SINH « CHIÊU HỒN NƯỚC » TRƯỚC MẮT THỰC DÂN
Trường Bưởi năm ấy thật là nhiều chuyện. Hết để tang cụ Phan châu Trinh, lại đến đi đưa đám cụ Cử Can, cả hai việc đều được học sinh trường này hăng hái tham gia.
Tên Tổng giám thị mũi lõ, tên thực dân hạng nặng ở trường Bưởi, đã được lịnh của Hiệu trưởng, bảo coi chừng, theo dõi những học sinh, ngăn cản mọi cuộc lễ truy điệu nhà cách mạng họ Phan mới tạ thế ở Saigon. Vì đã có nhiều trường trung học từ Nam tới Trung, Bắc, kế tiếp nhau tổ chức những cuộc lễ để tưởng nhớ nhà ái quốc đáng kính, thần tượng của thanh thiếu niên còn giữ được truyền thống dân tộc.
Tổng giám thị trường Bưởi căm tức lắm khi thấy các học sinh đến trường với cái băng đen đeo ở cánh tay: các anh em để tang cụ Phan Châu Trinh đấy, khác gì khiêu khích bọn thực dân trong trường, từ Hiệu trưởng đến phó Hiệu trưởng, Tổng giám thị. Vậy mà chúng khôn ngoan không dám làm gì học sinh vì không muốn gây ra lớn chuyện. Mặc dù thái độ ấy, chúng cũng phải khổ tâm mệt trí với một lễ truy điệu do học sinh tổ chức.
Năm ấy là 1926.
Qua năm sau lại có một cơ hội nữa cho thực dân nhận định bầu máu nóng của thanh thiếu niên Việt Nam: cụ Lương Văn Can tức cụ Cử Can, Hiệu trưởng cũ của Đông Kinh Nghĩa Thục, từ trần ở Hà nội ; sinh viên trường Cao Đẳng (hồi ấy chưa thành Đại học) và học sinh trường Bưởi nghỉ học, đi đưa đám rất đông.
Cái trường Bưởi dịu hiền mọi ngày đón ngọn gió mát mẻ của hồ Tây, hồ Trúc Bạch thổi qua nay bước vào một giai đoạn sôi động, hòa nhịp tiếng nói dân tộc vào bản nhạc ái quốc mà thanh thiếu niên toàn quốc bắt đầu cử lên vang động từ Nam ra Bắc.
Trường Bưởi mà thực dân Pháp đã đặt cho cái tên là Trường Trung học Bảo Hộ (Collège du Protectorat) để nhấn mạnh vào ý chí của chúng muốn « bảo hộ » muôn năm nhân dân đất Bắc, – trong hai năm 1926-1927 trường Bưởi không còn muốn bị « bảo hộ » nữa và đã manh nha một lý tưởng gỡ dây xiềng xích cho đồng bào.
Trong số thanh niên hăng hái mó tay gây lên phong trào ấy có Phạm Tất Đắc, một thư sinh chưa đủ 18 tuổi, học năm thứ tư ngang với lớp đệ tứ trung học ngày nay.
Truy điệu cụ Phan Châu Trinh
Đưa đám tang cụ Lương Ngọc Can.
Sau hai trái bom ấy, Phạm Tất Đắc lại tung ra một trái bom nổ chậm: trái bom « Chiêu Hồn Nước ».
Trong không khí đã hơi lắng dịu của Hà thành một buổi sáng ngày kia, thanh thiếu niên kháo nhau: « Anh đã đọc CHIÊU HỒN NƯỚC chưa » Rồi hết người nọ đến người kia kéo nhau đến nhà in Thanh Niên ở phố Hàng Bông để mua cuốn sách mới in ra, mua mau vì sợ hết mất. Họ đọc say sưa thích thú như học sinh đọc « chưởng » hay đọc những tiểu thuyết đồi trụy của những cây bút bán dâm hôm nay.
Một cuốn thơ mỏng, vỏn vẹn chưa đầy 50 trương, với tên tác giả: Phạm Tất Đắc.
Phạm Tất Đắc nào đây? Anh em học sinh trường Bưởi nở một nụ cười hân hoan: « Còn thằng Đắc nào nữa? Thằng Đắc học năm thứ tư trường chúng mình đó! »
Thế là một đồn mười, mười đồn trăm, chỉ trong một buổi sáng mấy ngàn cuốn « Chiêu Hồn Nước » không cần đăng quảng cáo, xuất bản không kèn không trống, mà đã bán hết sạch.
Sở Mật Thám của thực dân hay tin đi mua một cuốn. Vì là sách không kiểm duyệt, không nạp bản nên đã qua mặt được tất cả bọn « chó săn » của Pháp (danh từ thông dụng hồi bấy giờ).
Cậu học trò Phạm Tất Đắc âm thầm « làm văn nghệ » – nói theo danh từ văn nghệ hôm nay – và cậu đã thét lên những uất hận tự đáy tim của lớp thanh thiếu niên, những người « trai thế hệ » – tiếng nói chung của đồng bào đang oằn oại dưới bàn tay thực dân tàn ác.
Cũng nhà cửa cũng giang san,
Thế mà nước mất nhà tan hỡi Trời.
Nghĩ lắm lúc đang cười muốn khóc,
Muốn ra tay ngang dọc, dọc ngang
Vạch trời thét một tiếng vang,
Cho thân tan với giang san nước nhà.
(CHIÊU HỒN NƯỚC)
Đã có một thanh niên « làm văn nghệ » mà dám sẵn sàng « cho thân tan với giang san nước nhà » thì cũng phải có một ông chủ nhà in « nâng đỡ văn nghệ » sẵn sàng nghe theo tiếng « chiêu hồn nước »: ông chủ nhà in Thanh niên đứng ra in cuốn thơ của Phạm Tất Đắc rồi thu xếp việc nhà, chờ mật thám đến còng hai tay, đưa lên « xe cây » cho đi nghỉ mát Hỏa Lò. Còn tác giả cuốn thơ ấy cũng biết số phận đang chờ mình.
Việc phải đến, đã đến.
Kẻ « làm văn nghệ » và kẻ « nâng đỡ văn nghệ » đều xộ khám.
Họ vào Hỏa Lò, nhưng tiếng vang của « Chiêu Hồn Nước » không vì thế mà phải im bặt, trái lại còn lan truyền đi khắp nơi như một đám hỏa hoạn, bùng cháy tâm can đến cả hạng người cầu an nhất, muốn sống trong số lương tháng mà thực dân phát cho. Những câu thơ hùng tráng của « văn nghệ sĩ » họ Phạm đã gào thét lên tất cả một lòng quốc hận và đánh đổ những áng văn ủy mị, bi quan của thời bấy giờ: « Tố Tâm »… « Tuyết Hồng Lệ Sử ».
Sức mạnh của VĂN NGHỆ!
Nếu « văn nghệ hôm nay » đưa thế hệ « đang vươn lên » đi vào cuộc đời bê tha, đồi trụy, thì văn nghệ trong « Chiêu Hồn Nước » đã một sớm một chiều đánh thức thanh thiếu niên, đẩy họ đến trước Nghĩa Vụ của họ.
Phải nhắc lại rằng hồi ấy cũng đã có những văn nghệ sĩ đầu độc tinh thần thanh thiếu niên bằng những bài thơ buồn chán « khóc gió than mây » và những tiểu thuyết diễm tình lãng mạn. Nhưng trái bom « Chiêu Hồn Nước » đã đốt cháy những tác phẩm văn nghệ ấy, đẩy chúng vào xó tủ bụi bám rồi chết trong sự lãng quên.
Trong các giới xã hội, người ta thì thầm nhắc đến văn chương « Chiêu Hồn Nước » cũng như ngày nay người ta "nói chưởng ».Giới «văn nghệ già » như Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, tuy không nói ra, nhưng cũng phải ngấm ngầm thán phục cây bút văn nghệ trẻ đã có một sức mạnh « chiêu hồn» thật sự.
Các thanh thiếu niên học đường truyền tay nhau cuốn thơ của Phạm Tất Đắc và thuộc làu những đoạn chánh:
Đồng bào hỡi! Con nhà Đại Việt
Có thân mà không biết liệu đời
Tháng ngày lần lữa đợi thời.
Ngẩn ngơ ỷ lại ở người ai thương!
Nay sóng gió bốn phương càng dội.
Có lẽ nào ngồi đợi mãi sao?
Đồng bào chút giọt máu đào,
Thương ơi, tội nghiệp đời nào sót đây.
Nên mau mau, dậy ngay kẻo muộn,
Mà xót thương đến chốn Nhị Nùng
Xưa kia cũng lắm anh hùng
Dọc ngang trời đất vẫy vùng bể khơi
Xưa cũng có lắm người hào kiệt.
Trong một tay xoay trở sơn hà
Nghìn thu gương cũ không nhòa
Mở mày mở mặt con nhà Lạc Long
Non sông vẫn non sông gấm vóc
Cỏ cây xưa vẫn mọc tốt tươi.
Người xem cũng đáng con người
Cũng tai cũng mắt ở đời khác chi
Cảnh như thế tình thì như thế
Sống làm chi sống để làm chi?
Đời người đến thế còn gì!
Nước non đến thế còn gì nước non
Trong Chiêu Hồn Nước, Phạm Tất Đắc thét lên những tiếng ai oán, bi hùng, đọc lại thì cảm thấy bầu nhiệt huyết sôi sùng sục trong trái tim người học sinh đang tuổi hăng hái:
Nghĩ thân thế thêm mòn tấc dạ,
Trông non sông lã chã dòng châu
Một mình cảnh vắng đêm thâu,
Muốn đem máu đỏ nhuộm màu non sông
Hồn hỡi hồn! Con Hồng cháu Lạc!
Bấy nhiêu lâu đói rách lầm than.
Bấy lâu thịt nát xương tan,
Bấy lâu tim ruột thâm gan vì hồn.
Trong bốn bể bồn chồn dạ ngọc,
Ngắm năm châu không khóc nên lời
Đêm khuya cảnh vắng trông trời
Hồn ơi, hồn hỡi! Hồn ơi! Hồn về.
Hồn hỡi hồn! Giang san là thế!
Giống Lạc Hồng tôi kể hồn hay:
Kể từ hồn lạc đến nay,
Đêm đêm khóc khóc, ngày ngày than than…
Cũng có kẻ trên ngàn đổ máu,
Cũng có người nương náu phương xa.
Cũng người bỏ cửa bỏ nhà.
Cũng người lo nghĩ tuyết pha mái đầu.
Cũng có kẻ làm trâu làm ngựa,
Cũng có người đầy tớ con đòi,
Có thằng buôn giống bán nòi,
Khôn thiêng chăng hỡi! Hồn coi cho tường.
Có mồm nói, không đường mà nói,
Có chân tay, người trói chân tay
Hồn trở về non sông đất cũ,
Mà mau mau giết lũ tham tàn.
Mau mau giết lũ hại đàn,
Túi tham dám chứa bạc vàng của dân.
Hồn trở về, cho dân tỉnh lại,
Không ngu ngu dại dại như xưa ;
Không còn vất vả sớm trưa
Không còn nắng nắng mưa mưa dãi dầu
Hồn trở về, mau mau hồn hỡi!
Hồn trở về, tôi đợi tôi mong!
Hồn về tô điểm non sông!
Hồn về đánh thức con Rồng cháu Tiên.
Trích ra vài đoạn thống thiết trong tập Chiêu Hồn Nước, bạn đọc cũng đủ xét đoán giá trị của nó trong tác dụng tuyên truyền, thức tỉnh đồng bào, cổ xúy lòng yêu nước, chống thực dân.
Cố nhiên Phạm Tất Đắc bị bắt và đưa ra xử trước toà Tiểu hình Hà nội, trong một phiên họp dành riêng xử các vị thành niên: bị can mới 18 tuổi. Trong phòng xử chật ních những sinh viên và học sinh tỏ lòng ngưỡng mộ một bạn đồng niên yêu nước. Cảnh sát phải chận làn sóng người không cho tràn ngập vào tòa án.
Viên chánh án người Pháp, nghiêm nghị trong chiếc áo thụng đen, kêu Phạm Tất Đắc lên trước vành móng ngựa.
- Tại sao anh mỉm cười! Viên chánh án hỏi.
- Đó là thói quen của tôi, Phạm Tất Đắc đáp.
Bị can luôn giữ nụ cười ngạo nghễ, khinh mạn làm cho cả chánh án, cả biện lý đều tức lắm. Biện lý tiếp lời Chánh án:
- Bị can hãy coi chừng! Nếu còn vô lễ với tòa án, tòa sẽ đình xử, anh sẽ bị trả về khám đường.
Viên Biện lý Pháp không nói rõ, song ngụ ý của ông là khi trả về khám đường Đắc sẽ bị giam kín vào « xà lim », hai chân bị cùm và ăn cơm với muối. Hơn nữa có thể tòa sẽ cho lịnh điều tra bổ túc, bị can sẽ giao qua sở Mật thám tra tấn, như anh đã từng bị tra tấn tàn bạo từ ngày bị bắt.
Phạm Tất Đắc quay về phía tay trái, chỗ Biện lý ngồi, vẫn mỉm cười ngạo nghễ, đáp:
- Tôi đã nói với các ông rằng đó là cái tật của tôi.
Viên chánh án ngắt lời anh, bắt đầu xử vụ án, muốn cho mau kết liễu:
- Anh là Phạm Tất Đắc, sanh ngày 15 tháng 2 năm 1909 tại làng Dũng Kim, tổng Công Xá, phủ Lý Nhân, Hà Nam. Cha anh là Phạm Văn Hạnh, mẹ anh là Lê Thị Giáo. Anh đỗ bằng Sơ học Pháp Việt, vào học trường Bảo Hộ từ năm 1923…
Hỏi hết lý lịch của bị can, ông Chánh án nói đến tội trạng của anh, anh bị khép vào một khoản trong Hình luật canh cải nói về « những việc vận động có tánh chất làm rối sự an ninh công cộng và gây ra những sự rối loạn trầm trọng ».
Ông hất hàm hỏi câu chót:
- Anh muốn nói gì để binh vực cho anh không?
Phạm Tất Đắc dõng dạc nói tiếng Việt:
- Xin tòa cho dịch ra tiếng Việt Nam vì tôi không nói tiếng Pháp.
Viên chánh án giận đỏ mặt:
- Anh vừa nói được tiếng Pháp. Bây giờ anh muốn nói tiếng « An Nam » để tuyên truyền phải không?
Viên Biện lý xen vào:
- Xin toà chú ý đến điều này: Bị can còn muốn dùng chốn tôn nghiêm mà cổ xúy nổi loạn trong đám thanh thiếu niên ngồi đầy nhóc trong phòng xử án.
Luật sư bào chữa cho bị can, một luật sư Pháp, đứng sát bên bị can khuyên nhỏ:
- Anh nên trả lời bằng tiếng Pháp, kẻo làm cho tòa bất mãn, anh sẽ bị xử nặng.
Viên Chánh án quay về phía lục sự bảo ghi chép vào sổ:
- Bị can nhất định đòi nói tiếng An nam, không chịu nói tiếng Pháp, mặc dầu trong học bạ của y, kỳ thi lục cá nguyệt nào y cũng được từ 12 đến 14 điểm về Luận Pháp văn.
Dưới thời Pháp thuộc, học sinh năm thứ tư, sắp thi bằng Thành Chung, đều khá tiếng Pháp lắm, có người viết được bài đăng báo Pháp nữa, mà Đắc lại là học sinh xuất sắc về Luận Pháp văn song cố ý đòi nói tiếng mẹ đẻ. Viên chánh án bảo thông ngôn:
- Dịch ra tiếng An nam cho nó nghe.
Viên thông ngôn dịch xong rồi bị can đáp:
- Tôi xin tòa cho đọc tập sách mà tòa kết tội và vạch rõ ra những đoạn nào phạm luật.
Viên chánh án nghe dịch xong câu ấy, đáp: « Khỏi cần! » rồi nhắc lại điều khoản trong Hình luật mà ông đọc thuộc làu không cần nhìn vào sách vì ông đã xử nhiều vụ như thế này rồi, ông kết thúc:
- Anh còn muốn nói gì nữa để bào chữa không?
Phạm tất Đắc dõng dạc nói:
- Khi Pháp thua Đức, phải nhường hai tỉnh Alsace Loraine cho Đức, thanh niên hai tỉnh này có bỏ tiếng Pháp mà nói tiếng Đức không? Tôi nói tiếng Việt sao các ông lại bắt bẻ…
- Thôi thôi! ngưng lạị.
Ông Phán già thông ngôn của toà án đã xua tay chận bị can vì ông có kinh nghiệm không để cho bị can « chửi Pháp » giữa tòa án. Nhưng Đắc không ngưng, cướp lời nói tiếp trong khi ông Phán dịch những câu cho tòa nghe.
Bị can nói thao thao một lúc vì lo tòa cho còng tay giải về Hỏa Lò:
- Nếu một thanh niên ở Alsace Loraine viết ra cuốn Chiêu Hồn Nước như tôi, họ có tội không? Chắc anh ta sẽ là một nhà ái quốc chứ? Các ông binh vực cho nước Pháp đô hộ, sắp nhân danh ái quốc kết án một thanh niên Việt Nam phạm « tội ái quốc ». Quân Đức chắc cũng đã xử nhiều thanh niên Pháp phạm « tội ái quốc » như tôi.
Ông Biện lý đập bàn hăm dọa:
- Lần chót tôi cảnh cáo, nếu bị can còn ngoan cố y sẽ bị đưa về khám.
Ông Chánh án điềm đạm hơn, cho dịch những câu bị can vừa nói, rồi thêm:
- Một mình bị can làm sao làm nổi tập thơ này. Lời thơ già giặn lắm. Ba anh có giúp cho anh làm tập thơ này không?
Viên Chánh án dụng ý dọa bị can rằng: « Coi chừng, tòa sẽ bắt cả cha anh như là tòng phạm ». Đắc không nao núng, không chờ viên thông ngôn dịch lời viên chánh án, anh trả lời liền bằng tiếng Việt:
- Ông muốn biết ai là tòng phạm? Tòng phạm của tôi là hai chục triệu đồng bào tôi, là thanh niên toàn quốc.
Thấy bị can nói nhiều quá, ông chánh án không thèm nghe lời dịch nữa, bảo cảnh sát:
- Hãy lôi bị can về chỗ ngồi. Kêu cha của bị can lên.
Rồi ông nghiêm trách ông Phạm văn Hạnh:
- Ông có con không biết giáo dục. Ông đừng quên rằng con ông còn vị thành niên, ông có trách nhiệm về nó.
- Con tôi ở nhà thì tôi có trách nhiệm, còn nó đi học thì trách nhiệm về nhà trường, về chánh phủ.
Viên chánh án thấy người cha bình thản, không run sợ, nên lo ông sẽ tuyên truyền nữa bèn ngắt lời:
- Thôi đủ. Xin ông Biện lý lên tiếng.
Biện lý buộc tội gắt gao rồi Luật sư Pháp binh vực gượng gạo vì ông bị phải một « thân chủ cứng đầu » quá, bào chữa sao nổi.
Phạm tất Đắc bị kết án « gởi lên trại giáo hóa Trị Cụ » ở thượng du, giam giữ đến tuổi trưởng thành: 21 tuổi. Trị Cụ cũng như trại Ông Yệm trong Nam thời Pháp thuộc.
Được vài tháng, thấy Đắc tuyên truyền trong đám thiếu nhi phạm pháp, người Pháp không dám để anh ở Trị Cụ nữa mà đưa về Hànội, giam ở «xà lim B» là chỗ dành riêng cho những phạm nhân «nguy hiểm» – không thể để chung với các tội nhân khác.
Ngày 16 tháng 5 năm 1930, Đắc được trả tự do vì đã đủ 21 tuổi.
Anh về nhà dạy học tư cho các thí sinh thi bằng Thành Chung. Vì bịnh hoạn liên miên do sự tra tấn hồi bị bắt, anh không đủ sức chống với con ma bịnh. Ngày 24 tháng 4 năm 1935 anh từ trần tại Hànội.
« Muốn đem máu đỏ nhuộm màu non sông! »
Trong Chiêu Hồn Nước, Phạm tất Đắc đã thốt ra câu ấy. Máu đỏ của anh không được nhuộm đất nước, nhưng trái tim nóng hổi yêu nước của cái tuổi 26 đã được chôn vùi trong lòng đất nước.
Năm 1973
Tế Xuyên
Theo https://vietmessenger.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  - Con dao của Cellini. Nếu bọn chúng không kể chuyện con dao thì bây giờ anh nghe cũng được. Cellini được thuê làm hai con dao cho Đức Hồn...