Nhật ký của người chứng
Tôi được biệt phái sang làm thông dịch viên cho Phòng Cố vấn
Mỹ Tiểu khu. Tôi thấy bối rối nhiều với công việc này. Từ trước đến giờ, người
Mỹ vẫn xa lạ với tôi. Họ đã có mặt trên miền đất này quá lâu rồi, mà sao tôi vẫn
thấy xa lạ. Họ làm việc, chơi đùa, ăn nghỉ ở một khu riêng biệt, sang trọng. Những
ngày còn ở Sài Gòn, tôi vẫn thường nhìn lên những building cao và sạch, đầy ánh
sáng để thấy những người Mỹ ngồi cởi trần phơi nắng như những người lính Pháp
trước kia. Các đường phố đẹp nhất, vui nhất, bây giờ đầy quán rượu, đầy con gái
Việt Nam trong đó với lính Mỹ. Chỉ có lính Mỹ thôi, người Việt không dám vào. Tại
sao? Tôi không biết. Ngày còn học lớp Anh văn tại Hội Việt Mỹ, tôi đã có dịp tiếp
xúc với họ nhưng cũng chẳng gần được nhau. Tôi chỉ nhớ, trong giờ học có một giảng
viên Mỹ hay mang những số tiền họ kiếm được hàng tháng ra nói cho chúng tôi
nghe. Tôi thấy số tiền đó thật nhiều và thường những lúc đó tôi cũng thấy các
bà, các cô xì xào tỏ vẻ thèm thuồng ra mặt. Bây giờ, tôi sẽ làm việc ngay cạnh
họ. Biệt phái từ Trung đoàn sang Tiểu khu và từ Tiểu khu sang Phòng Cố vấn Mỹ.
Khi tôi vào trình diện vị Trung tá Cố vấn Trưởng Tiểu khu, ông ta không có mặt
trong phòng việc và đang ngồi nghe radio tại Câu lạc bộ cùng với mấy sĩ quan Mỹ
khác. (Ở đây, người Mỹ làm việc ngay tại cư xá của họ, cần gì họ điện thoại
sang văn phòng Tiểu khu). Viên Trung tá Mỹ to lớn dềnh dàng, sau khi nghe tôi
trình bày về sự biệt phái này, ông ta đứng ngay dậy, vỗ vai tôi nói:
“Good, good boy”.
Tôi ngạc nhiên vì được gọi là “Boy” khi không còn nhỏ và cũng mang cấp bậc quân
đội Việt Nam đàng hoàng. Ông ta nói cho tôi biết công việc hàng ngày và giờ giấc
ra sao. (Ở đây họ vẫn dùng một thứ thời khóa biểu riêng từ bên chính quốc).
Tôi sẽ theo các Cố vấn Mỹ đi thăm các quận, để sửa soạn cho một chương trình sắp
tới, là thiết lập Ban Cố vấn Quận. Tôi nghe lơ đãng, để ý nhìn xung quanh và cảm
thấy mình lạc lõng, xa lạ với tất cả những gì ở đây. Nơi của người Mỹ.
° ° °
Tôi đi cùng một Đại úy Mỹ xuống thăm quận K.M. Ông Quận trưởng
ra đón chúng tôi tận bãi hạ trực thăng. Hai người bắt tay nhau nói chuyện vui vẻ,
tôi giữ việc thông ngôn. Viên Đại úy Cố vấn muốn đi quan sát các đồn dân vệ.
Ông Quận kêu bận không thể cùng đi và cử một sĩ quan Bảo an hướng dẫn chúng
tôi: các đồn bót sơ sài chẳng có gì, vợ con binh sĩ sống ngay trong đó, hỗn độn
bẩn thỉu, tối om. Đại úy Mỹ phàn nàn nhiều lần về sự thiếu an ninh xung quanh
và súng chùi không kỹ. Mỗi lần như thế viên sĩ quan đi cùng chúng tôi lại nêu
ra các lý do giải thích, rồi ông quay sang khuyến dụ binh sĩ bằng những lời
không mấy dịu dàng tử tế, nghĩa là đầy tiếng quát và chửi tục. Viên Cố vấn Mỹ
không hiểu những câu nói đó, nhưng nhìn dáng điệu của gã sĩ quan, ông ta tỏ vẻ
bằng lòng và nói riêng với tôi là vị sĩ quan này được việc.
Lúc trở về quận, chúng tôi vào gặp ông Quận tại văn phòng của ông. Anh dân vệ
gác cửa thấy Cố vấn Mỹ vội vã chào rồi mở cửa ngay không kịp báo trước. Ông Quận
đang đọc sách thấy chúng tôi thì vội gấp lại ngay, úp mặt bìa xuống bàn. Tôi
nhìn vào cái gáy dày cộm của cuốn sách ông vừa đọc và thấy tên một truyện kiếm
hiệp Tàu. Dáng điệu ông Quận tỏ ra mệt mỏi, ông đặt một tay lên chồng hồ sơ dày
ngay trước mặt. Ông hỏi chúng tôi về việc quan sát những đồn bót vừa qua. Viên
Cố vấn Mỹ rút sổ tay đọc lại những điều đã ghi, hai bên tỏ vẻ dễ chịu với nhau.
Sau đó Đại úy Mỹ nói với ông Quận về việc sẽ thiết lập ban Cố vấn tại đây.
“Thưa Đại úy Quận trưởng, ông đã biết rằng sẽ có một ban Cố vấn Mỹ về đây làm
việc bên cạnh văn phòng quận chưa?”
“Tôi biết rồi và đã sửa soạn tất cả”.
“Đại úy định cho chúng tôi lập nhà riêng tại đâu?”
“Tôi đã cho chúng nó dọn dẹp khu đất kế bên nhà này và khi nào các ông muốn xây
cũng được”.
“Chúng tôi sẽ có những nhà tiền chế mang xuống đây lắp lại là xong. Còn về an
ninh Đại úy có thể cho biết rõ được không?”
“An ninh quận lỵ thì rất khá, còn các xã cũng tạm yên. Nếu Ban Cố vấn về đây, sẽ
ở trong khu văn phòng quận rất an ninh bảo đảm”.
“Chúng tôi về đây là để dễ dàng trong sự giúp đỡ quận và dân chúng các xã.
Chúng tôi dần dần sẽ xây cất trường học, nhà hộ sinh, v.v. cho đồng bào”.
“Chúng tôi rất mừng, và rất mong quý ông sớm về đây cùng chúng tôi”.
Ông Quận cũng ngỏ lời cám ơn những ý kiến của viên Đại úy Mỹ về đồn bót nhưng
ông than thiếu vật liệu và phương tiện, thiếu đủ thứ, ông bảo nếu có đầy đủ ông
sẽ làm thật hoàn hảo. Sau cùng hai bên đều nói “sẽ hết sức giúp đỡ lẫn nhau
trong giới hạn của mình”. Họ chia tay nhau vui vẻ, họ bắt tay nhau thật chặt.
Ra đến cửa, Đại úy Mỹ hỏi tôi rằng cuốn sách mà ông Quận đang đọc lúc nãy có phải
là Binh thư không? Tôi yên lặng. Ông ta lại tiếp bằng một giọng đầy tin tưởng:
“Tôi nghĩ ông Quận này khá, ông ấy bận rộn suốt ngày và chịu khó nghiên cứu
Binh thư. Kỳ trước tôi đến phòng ông ta cũng thấy ông ta đọc những sách dày như
thế, một Thông dịch viên đã nói đó là Binh thư. Thật khá, ông ta sẽ giết nhiều
Việt Cộng”.
Lúc về đến Tiểu khu, viên Đại úy vội vã báo cáo ngay những gì đã ghi được và
cũng bày tỏ ngay những cảm nghĩ tốt đẹp đối với ông Quận và vị sĩ quan Bảo an
kia.
Chúng tôi đến thăm quận B.T. vào lúc ông Quận trưởng được sĩ quan tình báo cho
biết có rất nhiều Việt Cộng đang đóng quân tại một tọa độ cách quận lỵ vài cây
số về phía nam. Ông Quận có vẻ lo ngại, ra lệnh gọi về Tiểu khu xin máy bay
quan sát. Đại úy Mỹ đi cùng với tôi cũng gọi máy về Cố vấn Mỹ Tiểu khu để thúc
hối thêm. Nếu thực có Việt Cộng phải xin oanh tạc ngay. Một lúc sau, chiếc phi
cơ quan sát L.19 bay sát nóc quận. Chúng tôi vào cả phòng truyền tin để liên lạc
với chiếc L.19 trên ấy có hai quan sát viên trên chiếc L.19 biết vùng khả nghi
có địch. Lát sau tôi thấy một giọng Việt Nam vang ra từ máy truyền tin.
“Theo sự quan sát của tôi, đây không phải là V.C. mà là những người dân đang gặt
lúa. Họ mặc quần áo đen, đội nón lá và sinh hoạt không có gì khả nghi”.
Tiếng viên sĩ quan tình báo quận nói vào máy:
“Đã quan sát kỹ chưa? Phải bay thấp xuống, chúng nó ngụy trang hay lắm, bay thấp
xuống, xem kỹ các lùm cây”.
“Nó” không chịu bay thấp nữa, khu vực này ít cây”.
“Có thuyền không?”
“Có, có mấy cái ghe chở lúa nằm dọc theo kinh”.
Tôi dịch lại tất cả cho viên Đại úy Mỹ nghe. Ông ta đòi liên lạc với quan sát
viên Mỹ đồng thời cũng là phi công trên đó. Họ nói với nhau.
“Thế nào, anh thấy có khả nghi không?”
“Nhiều lắm, nhiều lắm, rất nhiều V.C. đang tập họp và sửa soạn di chuyển, chúng
mang y phục đen”.
“Họ trang bị vũ khí gì?”
“Tôi không nhận được chính xác. Hình như vũ khí nhẹ họ cầm tay còn vũ khí nặng
họ chuyển bằng ghe được ngụy trang toàn bằng rơm, rạ ở phía trên”.
“Vậy cho biết ý kiến”.
“Xin oanh tạc ngay nếu không lực lượng này có thể tấn công quận đêm nay!”
“Để tôi hỏi ý kiến ông Quận trưởng”.
Ông Quận cho biết đấy chưa chắc đã là V.C. mà có thể là dân làm ruộng. Ông sai
người đi lấy báo cáo của các Trưởng xã xem vùng đó đã gặt hết chưa. Không có
báo cáo nào chứng tỏ khu vực ấy đã gặt xong mùa gặt. Viên Đại úy Mỹ lại nói:
“Nếu ông Quận nghĩ rằng đó không phải là V.C. cũng được, nhưng tôi nghĩ chiếc
L.19 do một Đại úy Mỹ lái và quan sát thì không thể lầm được vì ông ta ở ngay
trên đầu bọn chúng và quan sát rất kỹ, hơn chúng ta ở đây. Nếu không xin oanh tạc
ngay, đêm nay chúng tấn công sợ rằng lúc đó gọi máy bay quá trễ”.
Ông Quận còn đang phân vân, viên sĩ quan tình báo đã xen vào:
“Đại úy (ông Quận) xin oanh tạc liền giờ đi, tiện có Cố vấn Mỹ đây, họ xin được
lẹ. Rủi tới…”
“Thôi anh bảo nó quan sát lại một lần nữa coi”.
Tiếng máy lại vọng ra, quan sát viên Việt Nam chửi thề ầm ĩ rằng viên phi công
Mỹ không chịu lái thấp nên không thể quả quyết được. Còn lão Đại úy Mỹ trên đó
vẫn nhất định cho rằng đầy V.C., rất nhiều V.C., phải oanh tạc ngay. Tôi phải dịch
tất cả. Cuối cùng ông Quận nói với viên sĩ quan tình báo:
“Thôi được, xin đi!”
Tiếng máy truyền tin vẫn vọng ra rè rè:
“Mang Vi Xi OK… O… K…”
Không bao lâu, đoàn phi cơ oanh tạc đến. Tôi thấy khói mù mịt một phương. Tôi
nghĩ đến những người đang chết, họ là Vi Xi hay dân làm ruộng. Tôi không biết.
Tôi đi cùng một Trung sĩ y tá Mỹ đem thuốc về quận A.V. phát cho đồng bào các
xã. Hắn nói với tôi là thuốc hôm nay thiếu rất nhiều nhưng cần theo đúng chương
trình nên vẫn phải đi. Chúng tôi dùng thuyền đến một xã không xa quận lắm. Một
cái bàn được đặt giữa sân trụ sở Hội đồng Xã. Máy phóng thanh kêu gọi đồng bào
hãy mau mau đến khai bệnh, lấy thuốc do phái đoàn Y tế Việt Mỹ đến phát. Anh
binh nhì Phòng Tâm lý chiến còn thêm vào một câu khôi hài “ngàn năm một thuở, bỏ
qua rất uổng, mau mau kẻo trễ”. Hai cô y tá cau có bên cạnh bàn thuốc, viên
Trung sĩ Mỹ đứng cạnh tỏ ra xấu tính làm tôi nóng mặt. Những cụ già gầy ốm, những
bà mẹ bồng con nhỏ xanh xao, những đứa trẻ gầy gò đủ thứ bệnh ghẻ lở, bụng to,
thối tai, đau mắt. Tất cả đều xanh xao vàng vọt, tất cả đều nghèo khổ đến cái độ
không thể ngờ được. Viên Cố vấn Mỹ luôn luôn bảo mấy anh dân vệ bắt dân xin thuốc
phải xếp hàng. Hai cô y tá vụng về, luống cuống nhưng lại hay làm điệu và cau
có. Một bà lão già chống gậy đến xin thuốc ho, cô y tá gắt không có. Viên Trung
sĩ Mỹ hỏi tôi chuyện gì? Tôi trình bày lại cho ông ta nghe. Nghĩ ngợi một lúc,
hắn cầm lọ Multi vitamin dốc ra mấy viên đưa cho bà lão, rồi còn bảo tôi giảng
cho bà cụ cách uống và nói thêm rằng đấy là thuốc tốt, mai sẽ khỏi liền. Tôi ngạc
nhiên hỏi lại:
“Đấy đâu phải là thuốc ho?”
“Thuốc bổ uống vô hại lại tốt”.
“Nhưng anh lừa gạt họ”.
“Lừa gạt cái gì? Nó đâu biết thuốc đó uống không chết, tao không muốn họ về
không. Tụi V.C. có thể tuyên truyền là Cố vấn Mỹ ít thuốc hay không tốt với
dân…”
“Tôi hiểu”.
Từ đó chẳng một ai đến xin thuốc lại bị về không. Họ trở lại nhà vui vẻ, với những
viên thuốc đỏ chữ vàng. Nhưng nếu họ mang ra khoe với nhau, thì chắc sẽ ngạc
nhiên vì thấy nhiều thứ bệnh ho, suyễn, đau xương, đau ngực, đau gan, mệt mỏi…
đều cũng uống một thứ thuốc. Thuốc Mỹ chữa bách bệnh mà. Tôi thấy chán nản và tủi
hổ cho dân mình. Nếu những người dân quê ngu dốt thất học bị đánh lừa bằng những
viên thuốc, thì có thể những người không phải là quê, không ngu dốt thất học
cũng sẽ bị đánh lừa bằng những cái to lớn hơn viên thuốc.
° ° °
Buổi chiều, tôi ngồi lại câu lạc bộ của họ nghe mấy người Mỹ
xung quanh nói chuyện. Họ nói đến nhiều thứ trong cô gái điếm, tiền lương, vụ
oanh tạc Bắc Việt, lời tuyên bố mới đây của Tổng thống xứ họ. Họ cũng nói rất
nhiều đến sĩ quan Việt Nam. Họ văng tục chửi thề, họ bảo người Việt là dốt, là
lười, là bẩn, là “ban ngày thì ngủ, để ban đêm tạo ra con nít”. Ông Trung tá Mỹ
to lớn dềnh dàng, ông vẫn gọi tôi là “boy”, ông hỏi:
“Mày có sung sướng khi chúng tao ném bom Bắc Việt không?”
“Tôi không biết”.
“Tại sao?”
“Những vùng đó, ruộng đó, dân đó ngày trước đã bị người Pháp ném bom nhiều rồi…”
“Bây giờ người Mỹ khác, chúng tao không chiếm đất, không lấy gạo, không làm xếp
trong văn phòng, không làm chỉ huy trong quân đội. Nước mày nghèo và đang bị
xâm lăng, chúng tao giúp, thế thôi”.
Tôi không nói gì thêm, ông ta là Cố vấn trưởng, ông ta có thể cho tôi sang an
ninh dễ dàng nếu tôi không cùng một ý. Tôi chỉ nghĩ trong đầu đến vụ oanh tạc
quận B.T hôm nọ, đến những thuốc bổ chữa bá bệnh, đến bảng hiệu mà ông ta đang
đeo ở tay mới đổi từ M.A.A.G. 1 sang M.A.C.V. 2. Tôi thấy nản và nhục. Tôi yếu đuối nên chỉ có
thể phản ứng theo cách yếu đuối của tôi, là xin trở về đơn vị cũ, người Việt với
người Việt.
° ° °
Tôi lên gặp Trung tá Tiểu khu trưởng để xin trở về đơn vị cũ.
Trung tá còn đang bận, tôi chờ ngoài. Một lúc sau, cửa mở, Trung tá tiễn khách
ra tận ngoài, khách là một tay chuyên làm áp phe có quen biết tôi, hắn đứng lại
bắt tay tôi và cười thỏa mãn, hắn hỏi tôi lăng nhăng rồi đi. Tôi theo Trung tá
vào phòng, ông người to béo trắng hồng, sáng nay ông có vẻ vui như mới gặp một
chuyện may nào đó. Ông mời thuốc Salem và hỏi tôi rất ân cần:
“Có điều chi đây?”
“Tôi xin Trung tá về đơn vị cũ”.
Ông ta có vẻ ngạc nhiên, ông ngả lưng vào thành ghế, thở khói rồi hỏi tôi:
“Sao kỳ vậy?”
“Xin Trung tá giúp tôi”.
“Anh làm bên đó sướng thấy cha, không trực gác, không hành quân, không sợ chết
mà lại được xài đồ Mỹ, hút thuốc Mỹ. Sướng thấy cha rồi còn về đơn vị cũ làm
chi”.
Tôi định trình bày những cái đã nghĩ, nhưng lại thôi vì thấy khó mà nói được hết
ra lắm. Tôi chỉ nói:
“Tôi không kham nổi công việc mới này”.
“Thiếu khả năng thì cứ làm đại đi chứ, nói riết rồi cũng quen”.
“Không phải thế, mong Trung tá giúp tôi, cho tôi về đơn vị cũ”.
“Tôi nói thiệt nghe, tôi không có quyền gì về anh hết. Cố vấn Mỹ xài anh thì
quyền ở họ, để tôi hỏi Cố vấn trưởng xem sao. Nhưng đừng có khùng, làm bên đó
sướng thấy cha còn muốn gì”.
Tôi chào ông với sự chán nản của mình, tại sao ông phải hỏi Cố vấn Mỹ. Tại sao
ông lại không có quyền với tôi. Thật, tôi không biết.
° ° °
Dĩ nhiên là Cố vấn Mỹ không chịu trả tôi về đơn vị cũ rồi, vì
họ đang cần người và ít khi nào họ muốn người đang thuộc về họ lại không thuộc
về họ nữa. Tôi lại làm việc trong sự chán nản của mình, bên cạnh những tên người
Việt luôn luôn xoắn xuýt nịnh bợ để áp phe buôn bán. Tôi nản, nhưng phải chịu.
° ° °
Theo chương trình của người Mỹ tại Việt Nam, họ bắt đầu thiết
lập ban Cố vấn Quận tại các tỉnh. Ban này gồm năm người có bổn phận chỉ bảo
giúp đỡ và kiểm soát những gì thuộc về quận. Tôi được gửi đi làm bên cạnh Cố vấn
Mỹ tại quận T.B. Chuyến đi trực thăng đầu tiên trong ngày đáp xuống sân banh,
nơi đây có nhiều người đứng đợi, không phải họ ra đón ban Cố vấn mà đợi đi nhờ
trực thăng. Phần nhiều họ đều có công vụ phải ra tỉnh lấy thuốc, xin đạn hay thực
phẩm. Từ quận này ra tỉnh chỉ có phương tiện độc nhất là trực thăng, còn đường
bộ và đường thủy đều bị cắt đứt và V.C. kiểm soát. Máy bay đáp xuống, Đại úy Mỹ
Cố vấn, Quận trưởng, cả hai cùng cười vui vẻ. Mấy quân nhân đi công tác chen
nhau lên chiếm chỗ trực thăng, nhưng ông Quận đã ngăn lại:
“Đi chuyến sau”.
Ông giơ tay vẫy mấy người ở xa lại, có hai đàn bà và ba đứa trẻ, thêm hai anh
dân vệ xách giỏ không. Ông Quận giải thích nhỏ:
“Để mấy đứa nó lên tỉnh mua đồ đãi khách tối nay, lát chiêu về theo trực thăng
luôn”.
Máy bay lên thẳng, mấy quân nhân đi công vụ lại vào nhà mát đợi, không biết họ
nghĩ gì trong đầu.
Ông Quận hướng dẫn chúng tôi tới chỗ ở và làm việc của Ban Cố vấn Mỹ. Nhà kiểu
tiền chế và mang từ Saigon xuống) và có thể cũng từ Mỹ quốc sang). Tất cả những
tiện nghi tối thiểu cho một người Mỹ như tủ lạnh, bếp hơi, quạt, máy phát điện,
giường nệm, tủ sắt, bàn viết, v.v. còn rất nhiều thứ nhỏ bé khác đều được trang
bị đầy đủ, Đại úy Quận trưởng đưa chúng tôi vào tận phòng, ông nói nhỏ với một
sĩ quan Bảo an đi cạnh:
“Đ.m. tụi nó sướng thiệt”.
Viên sĩ quan dạ dạ rồi cả hai cười sặc, ông Quận nói một câu tiếng Anh “gút
gút”. Đại úy Cố vấn quận ngỏ lời cám ơn và ông Quận ngỏ ý muốn được yên một
mình để xếp đồ đạc rồi ông sẽ lên thăm sau. Ông Quận ngỏ lời mời Ban Cố vấn tối
nay dự tiệc. Cố vấn Mỹ cám ơn, nhận rồi đưa ông Quận ra khóa cửa lại. Họ nói với
tôi:
“Tao sợ chúng nó lấy cắp những đồ vặt của mình”.
“Đúng thế, bên Đại Hàn cũng vậy”.
“Á châu này, tao đi nhiều nên tao hiểu chúng nó lắm”.
Họ còn nói nhiều nhưng tôi không nghe được nữa, tôi mở cửa ra ngoài. Đau đớn vô
cùng, xa lạ quá. Mấy anh dân vệ đang ghé mắt nhìn vào, thấy tôi ra xúm lại hỏi
những chuyện lăng nhăng, xin thuốc lá Mỹ, tôi nói không có và không biết gì hết.
Buổi tối, ông Quận thết tiệc. Bởi vì hôm nay có nhiều chuyến trực thăng từ tỉnh
vào nên bà Quận đị chợ tỉnh về kịp, món ăn ngon và rất thịnh soạn. Tôi ngồi giữa
ông Quận và ông Cố vấn Quận trưởng. Họ vừa ăn vừa trao đổi câu chuyện thật hòa
nhã vui vẻ. Ông Quận nói nhiều câu khen tặng Mỹ và Cố vấn Mỹ luôn luôn khen đồ
ăn ngon. Tôi giữ việc thông ngôn, tôi thấy khổ sở và quá thừa ở đây. Thỉnh thoảng
ông Quận cũng quay sang nói với các sĩ quan Việt những câu chê người Mỹ như
không lịch sự, không biết ăn ngon, không rộng rãi bằng tụi Pháp ngày trước. Còn
mấy người Mỹ thì bàn nhau về đồ ăn và mấy cô gái được mời dự tiệc. Họ nói:
“Đồ ăn tụi nó ngon nhưng chắc là không sạch”.
“Đúng thế”.
“Có thể đau bụng ngày mai”.
“Ăn nhiều ỉa chảy mất”.
“Cô gái ngồi cạnh bà Quận là ai?”
“Em bà ta”.
“Đẹp nhưng cũng phải tắm sạch trước khi cho vào giường”.
“Với năm đô la?”
“Cứt, ở Sài Gòn cũng chỉ năm đô la thôi”.
“Nhưng cô này tử tế”.
“Nó tử tế nhưng mình có nhiều tiền. Dân Việt Nam cứ tiền là xong hết”.
Họ cười sặc, viên Trung úy Mỹ nói câu cuối cùng quay sang phía ông Quận:
“Ông Quận ở đây có cần mua thứ gì trong hợp tác Mỹ không. Khi nào về tỉnh chúng
tôi sẽ mua giúp”.
“Tốt, cám ơn, cám ơn, gút gút”.
“Thuốc lá Whisky, radio, v.v.?”
“Ồ tốt quá, gút gút”.
“Tôi sẽ mua giúp ông Quận và nếu ở đây có tôi sẽ mua tặng bà nhà và cô em gái một
ít nước hoa Intimate và xà phòng Dove”.
Tôi dịch hết câu thì tất cả đều cười vui vẻ, ông Quận quay sang nói với mấy sĩ
quan Việt Nam:
“Tụi nó kẹo nhưng cũng tử tế”.
Tôi chỉ biết ngồi yên, khổ sở nhiều. Tiệc tan, họ bắt tay nhau thật chặt, cám
ơn và khen nhau nhiều lần.
° ° °
(Kiểm duyệt, bỏ 2 trang)
Tôi đang cùng Đại úy Cố vấn quận và ông Quận ngồi nói chuyện tại phòng làm việc
của ông, có người vào báo cáo:
“Thưa Đại úy, cái tàu chở quân dịch sáng nay khi ra tới sông lớn thì có bốn đứa
nhảy xuống”.
“Hồi nào?”
“Ngay tức thì, dạ đang liên lạc với tàu đây”.
Chúng tôi xuống cả phòng truyền tin. Tiếng máy vọng ra rè rè.
“Dạ thưa Đại úy, tụi nó nhảy ra bốn đứa, tụi nó lặn mất tiêu”.
“Hồi nào?”
“Dạ tức thì, em gọi về liền”.
“Chết cha mày rồi, có thấy tụi nó lội không?”
“Dạ không”.
Ông quay sang phía chúng tôi, trình bày tất cả và hỏi ý kiến. Viên Đại úy Mỹ rất
tinh nhanh, ông ta xem bản đồ, hỏi chỗ xảy ra. Ông ta đề nghị là phải liên lạc
ngay với quận kế bên để họ lấy xuồng máy đi tìm mấy người trốn.
“Mấy người trốn đó nguy hiểm lắm, nếu chúng thoát chúng sẽ theo V.C. Tôi đề nghị,
nếu bắt lại được thì hay, còn không phải bắn vào mấy nơi khả nghi chúng ẩn nấp.
Nguy hiểm làm chúng sẽ theo V.C.”
Đại úy Mỹ nói xong về phòng ngay. Ông Quận vẫn còn lại để theo dõi. Tôi ra khỏi
phòng truyền tin mà tiếng rè rè của máy và tiếng oang oang lạnh lùng của Viên Đại
úy Mỹ cứ xoáy mãi trong tai.
Buổi tối trước khi đi ngủ, tôi còn được ông Quận báo tin cho ban Cố vấn là quận
kế bên vừa điện cho hay “Có hai thanh niên bơi phạm vào vùng gài mìn bị giựt chết,
trong người không có giấy tờ nên không biết có phải mấy người trốn quân dịch hồi
chiều không”. Tôi nghe mà thấy lạnh cả người, còn Đại úy Mỹ tỏ ra hài lòng. Ông
nói:
“Quận bên đó khá, họ có an ninh cẩn mật”.
° ° °
Ông Quận cho người gọi tôi vào đây lúc 4 giờ sáng. Có lệnh
hành quân gấp, phải thông báo cho Ban Cố vấn Mỹ. Người tôi còn bải hoải với giấc
mơ đêm qua, cảnh một chiếc bè sang sông nước chảy cuồn cuộn và những tràng liên
thanh Tây bắt từ trên đè xuống như điên. Máu và người chết. Tôi cùng ông Quận
và hai sĩ quan trực thuộc bên phòng Cố vấn Mỹ. Họ còn ngủ. Anh dân vệ có bổn phận
canh phòng Cố vấn Mỹ thấy bóng người từ xa đến thì hô đứng lại và chiếu đèn pin
về phía chúng tôi. Đại úy Quận trưởng trả lời bằng một câu chửi tục, đèn tắt
ngay và người gác đứng nép sang một bên. Ông Quận lại chửi tục một câu nữa rồi
mới gõ thật nhẹ lên mặt cửa. Hai ba lần vẫn như không.
“Thưa, Đại úy đập mạnh một chút, tụi nó ngủ kỹ lắm”.
“Đ.m. câm họng mày lại”.
Bên trong đèn bật sáng, một anh Trung sĩ già ra mở cửa. Hắn mặc quần cụt, cởi
trần, lông lá cùng người.
“Có chuyện chi đó Đại úy?”
“Hành quân, hành quân gấp”.
“Goddamnit (Tiên sư nó)”.
Chúng tôi vào cả trong. Đại úy Cố vấn trưởng cũng đã dậy, ông cởi trần, mặc quần
cụt vươn vai ngáp dài và hỏi:
“Có chuyện chi đó Đại úy?”
“Hành quân, hành quân gấp”.
“Sao chúng tôi chưa nhận được tin gì từ MAC. V Tiểu khu. Đại úy nhận được lệnh
hồi nào?”
“Vừa mới đây”.
“Tôi không hiểu luôn luôn chúng tôi nhận lệnh từ MAC. V Tiểu khu rất sớm. Đại
úy cho chúng tôi một phút để hỏi lại trên đó xem sao”.
Trong khi Đại úy Mỹ dùng hệ thống truyền tin riêng của họ để liên lạc với Tiểu
khu, thì lão Trung sĩ già mang café, sữa, bánh mì và bơ ra mời chúng tôi. Ông
Quận và các sĩ quan ăn uống vui vẻ, thật tình. Họ lại tấm tắc khen sự đầy đủ của
người lính Mỹ. Ông Quận nói:
“Đ.m. Đánh giặc như dzậy, tao đánh suốt đời được”.
Viên sĩ quan tham mưu cũng thêm vào một câu:
“Tụi nó sống thiệt ngon, Đại úy”.
Đại úy Mỹ đã trở lại bàn chúng tôi ngồi, ông ngỏ ý xin lỗi và cho biết vì một
nhầm lẫn mà MAC. V Tiểu khu lại thông báo tin hành quân này cho một quận khác,
nên bị trễ. Rồi ông hỏi ông Quận:
“Bây giờ, Đại úy cho biết kế hoạch của quận ra sao”.
“Được, được, tôi đến đây để trình bày và bàn kế hoạch với Đại úy”.
Đại úy Quận trưởng trải cái bản đồ bọc nhựa ra trước mặt. Viên Đại úy Mỹ cũng
trải một cái bản đồ bọc nhựa khác ra mặt bàn. Tôi nhìn theo cái ngón tay đen và
mập của ông Quận đang chạy trên các đường xanh đỏ trong bản đồ. Ông vừa nói vừa
chỉ những điểm cần thiết, giờ ra quân, xuất phát tuyến, nơi tập trung, lộ
trình, mục tiêu, phương tiện, chướng ngại vật, v.v. Đây là một cuộc hành quân
phối hợp với hai quận bên và Tỉnh đoàn Địa phương quân. Quân ta chỉ có nhiệm vụ
chặn địch khi chúng bị các lực lượng kia truy kích. Ông Quận ngừng lại để tôi dịch.
Viên Trung úy tham mưu ngồi cạnh nói nhẹ vào tai:
“Anh biểu tụi nó khỏi đi cũng được, không có chi đâu. Đ.m., tụi mày mà đi, mình
cực thêm”.
Tôi dịch tất cả câu trên. Đại úy Mỹ có vẻ không hiểu, nhưng tôi mặc. Trong khi
những người Mỹ khác sửa soạn quân trang, thì Đại úy Mỹ đề nghị với ông Quận một
điều:
“Tôi nghĩ, chúng ta nên nhân cuộc hành quân này mà kiểm soát những thanh niên đến
tuổi quân dịch”.
“Tôi sợ không kịp giờ”.
“Nếu lúc đi không kịp thì lúc về chúng ta sẽ vào các làng đi qua để kiểm soát.
Tôi thấy quận mình có lẽ chưa cung ứng nổi số quân dịch hạn định và hình như
ông Quận cũng ít để ý đến việc đó”.
“Được, được, tôi sẽ làm mà”.
“Ông Quận nhớ điều này, nếu ta không bắt họ thì họ sẽ bị địch dùng, như thế có
hại”.
“Được mà, được mà”.
“Tốt lắm, bây giờ xin hẹn nhau vào giờ khởi hành ở trước cửa quận”.
“Ô kê, gút gút”.
Tôi ở lại Phòng Cố vấn Mỹ. Ông Quận và hai sĩ quan trở ra sân, sau khi mỗi người
uống thêm một ly café sữa và cầm theo một miếng bánh mì bơ.
Đại úy Mỹ lại kêu máy về MAC. V Tiểu khu để tường trình mọi sự. Rồi họ sửa soạn
cạo râu, rửa mặt và ăn uống. Trong khi ăn viên Trung sĩ già nói với Đại úy Mỹ:
“Theo nguyên tắc thì mình phải lên phòng hội của họ để bàn mọi sự. Nhưng tôi
không hiểu tại sao ông Quận này lại tốt đến cái độ mang cả bộ tham mưu xuống
đây để trình bày”.
Đại úy không nói gì, nhưng một viên Trung sĩ nhất Mỹ to béo dềnh dàng khác lại
chen vô:
“Anh không biết, ngày trước đã có tụi Pháp ở xứ này rồi sao?”
° ° °
Chúng tôi đi qua những con đường đất, những bờ ruộng khô và
những căn nhà tiều tụy. Đàn bà, trẻ con thấy người Mỹ đi qua đều xòe tay xin kẹo,
viên Trung sĩ béo ném những viên kẹo mua ở chợ quận xuống mặt đường cho trẻ con
xúm lại giành nhau. Đến 9 giờ, nắng đã lên cao, tên Hạ sĩ đeo máy truyền tin
kêu mệt, ông Quận bèn hét một anh nghĩa quân đến vác máy giùm.
Trước khi đến mục tiêu, chúng tôi phải vượt qua một con sông nhỏ chỉ có một cây
cầu khỉ bắc ngang. Những người lính địa phương đã qua được dễ dàng, ông Quận, Đại
úy Mỹ và tôi cũng thế. Chỉ có tên Trung sĩ béo là nhất định không dám bước lên
cầu, hắn sợ cầu gãy và rung rinh. Mỗi khi hắn thử đặt chân lên cầu với dáng vẻ
đầy sợ hãi, chúng tôi ở bên này cầu lại cười rộ lên. Đột nhiên, tôi thấy cái to
béo dềnh dàng của hắn thật lố bịch, khôi hài và vô dụng, tôi cũng thấy cái vẻ
mà hắn cứ vứt kẹo mua ở chợ quận xuống mặt đường cho trẻ con xúm vào tranh nhau
là lố bịch, lố bịch đến cái độ không chịu được. Gã Trung sĩ Mỹ béo cứ làm trò
cười mãi đến gần mười phút, sau cùng ông Quận phải sai lính vào nhà gần đó mượn
một cái thuyền gỗ để hắn qua sông. Nhưng cái thuyền quá nhỏ và cũng rất chòng
chành làm cho gã Trung sĩ béo phải run lên và hốt hoảng đến suýt té xuống sông.
Tôi thấy hắn vô dụng. Sau khi lên bờ, anh chàng còn nói khoác để chữa thẹn. Hắn
bô bô kể lại những ngày tác chiến ở Đại Hàn. Tôi vẫn thấy cái to béo của hắn thật
vô dụng, ít nhất cũng ở đây, xứ này.
Chúng tôi đến vị trí đã định trễ mất 20 phút. Đại úy Mỹ báo cáo về Tiểu khu rằng
ở dọc đường có quá nhiều chướng ngại vật, ông ta không nói gì đến gã Trung sĩ
béo khi phải vượt sông. Ông Quận ra lệnh dùng văn phòng hội đồng xã làm bộ chỉ
huy. Ông phân phối công việc cho các sĩ quan đâu vào đấy. Viên Chủ tịch Hội đồng
xã cũng đến chào trình diện, ông Quận hỏi qua loa về tình hình trong xã rồi cuối
cùng sai đi làm cơm cho toàn bộ chỉ huy ăn trưa.
“Đ.m., bữa nay có mấy ông Cố vấn Mỹ đi, kiếm cái chi cho tụi nó nhậu nữa đó”.
“Dạ, dạ tụi em sẽ lo”.
Khi viên Chủ tịch xã đã nói chuyện xong với ông Quận, Đại úy Mỹ hỏi tôi đấy có
phải là ông xã trưởng không, tôi nói phải, Đại úy Mỹ ngỏ ý muốn hỏi truyện ông
xã trưởng đôi câu và nhờ tôi dịch lại. Ông xã trưởng hai tay chắp phía trước,
dáng đứng rụt rè, không dám ngồi. Đại úy Mỹ hỏi:
“Tình hình ở đây ra sao?”
“Dạ, cũng yên lắm”.
“Tại sao những xã khác không yên, mà xã ông lại được yên. Phải chăng ông có
cách gì để ngăn ngừa Việt Cộng”.
“Dạ, cũng không yên lắm, cũng lộn xộn đôi chút, nhưng, dạ… yên”.
Đại úy Mỹ quay sang phía viên Trung sĩ béo lúc đó đang nhai kẹo cao su nhồm
nhoàm, ông nói:
“Tôi không hiểu”.
Tên Trung sĩ béo bĩu môi nhổ viên kẹo uống đất, hắn nói với Đại úy:
“Đù má nó (fuckle it), tụi này phải tiếp xúc, đóng thuế và nuôi Việt Cộng chúng
mới được yên”.
Tôi thấy khó chịu khi tên Mỹ béo đó cứ chửi thề, văng tục luôn miệng. Trong
quân đội Việt Nam chỉ có cấp trên được chửi thề, văng tục với cấp dưới mà thôi.
Còn trong quân đội Mỹ họ bình đẳng hơn, cả trên lẫn dưới đều tha hồ chửi thề,
văng tục tùm lum. Đại úy Mỹ lại nói:
“Tao không nghĩ thế”.
“Đại úy mới qua đây, ông chưa hiểu, còn tôi, tôi đã ở đây được tám tháng rồi,
tôi biết rõ. Mấy tháng trước chưa có Cố vấn quận, tôi đi theo Cố vấn Tiểu đoàn,
tôi đã vào rất nhiều xã nên tôi biết rõ. Tiên sư tụi nó đều thế cả, tụi nó nuôi
Việt Cộng, tiếp tế cho Việt Cộng, đóng thuế cho Việt Cộng. Khi hành quân tới có
khi tụi nó còn giấu Việt Cộng nữa. Tiên sư nó (goddamn it) mỗi nhà đều có cờ Việt
Nam và dán những khẩu hiệu hoan hô Chính phủ, nhưng nhà nào cũng có tụi Việt Cộng
ở trong. Tôi vào nhiều gia đình chỉ thấy toàn đàn bà, con nít hỏi chồng đâu, bố
đâu, chúng nó đều nói đi làm trên tỉnh. Đ.m., chúng nó không đi làm đâu hết, Đại
úy tin đi, cứ cuộc hành quân qua hay ban đêm là tụi nó mò về đủ cả. Không tin
được tụi này, không bao giờ nên tin tụi này cả”.
“Bây giờ phải làm sao?”
“Làm sao à, Đại úy cứ hỏi Hoa Thịnh Đốn”.
Trả lời xong, viên Trung sĩ béo cười sặc sụa. Đại úy Mỹ có vẻ bực nhưng ông làm
thinh, ông lại quay sang hỏi viên xã trưởng:
“Ở đây dân chúng sống bằng nghề gì?”
“Dạ làm ruộng và làm chài”.
“Xã ông có được bao nhiêu gia đình?”
“Dạ, tới mấy trăm”.
“Mấy trăm ông có thể cho tôi con số đích xác được không”.
“Dạ được, để tôi về lấy sổ”.
“Thôi cám ơn, cái đó tôi sẽ hỏi ông Quận sau. Còn thanh niên trong xã ông có
bao nhiêu người đã thi hành quân dịch?”
“Dạ, thanh niên xã tui không có đi quân dịch, tụi nó đều tình nguyện vô nghĩa
quân ở lại coi làng luôn”.
Viên Trung sĩ Mỹ xen vào:
“Đ.m. nghĩa quân, phát súng cho tụi này, có ngày nó bắn lại tụi mình. Tao không
tin”.
Đại úy Mỹ hỏi tiếp ông xã trưởng:
“Xã ông có mấy trường học?”
“Dạ, một cái cho tụi nhỏ”.
“Mấy nhà thương?”
“Dạ, chỉ có một trạm cứu tế”.
“Này ông xã trưởng, hôm nay chúng tôi đi hành quân nên vội vã không kịp soạn
thuốc men và sách vở cho đồng bào ở đây, vậy để lần sau tôi sẽ đến thăm lại”.
“Dạ, dạ cám ơn ngài”.
“Thôi, cám ơn ông, bây giờ ông có thể trở về làm việc được rồi”.
Viên Trung sĩ béo lại nói với Đại úy Mỹ:
“Cho thuốc, cho gạo, cho tiền, cho quần áo tụi này thật uổng, rồi chúng nó sẽ
nuôi tụi Việt Công. Chúng nó không thù Việt Công như mấy bọn ở quận hay tỉnh vẫn
nói với mình đâu”.
“Dù sao cũng khó”.
“Khó cái gì”.
“Khó để chúng nó thực sự thù nhau, vì cùng một giống dân, cùng một địa phương,
cùng một làng có khi cùng một gia đình nữa”.
“Đại úy biết đấy, như thế nên tôi chán. Đ.m., tôi thiệt là chán cái xứ này. Nếu
qua đây mà không có phụ cấp lớn thì tôi chuồn từ lâu rồi. Chó đẻ thiệt, mụ vợ
tôi nó ưa mua một cái nhà mới”.
“Như thế, anh không nghĩ đến chuyện chống Cộng sản à?”
“Chống Cộng sản, cái đó để cho Hoa Thịnh Đốn”.
Hắn lại cười sặc sụa. Đại úy Mỹ có vẻ không hài lòng, ông lấy thuốc ra hút và
không quên mời ông Quận một điếu.
Đến bữa cơm, chỉ có Đại úy Mỹ và tên Hạ sĩ Mỹ cùng ăn với chúng tôi, còn tên
Trung sĩ béo nhất định không chịu ăn. Hắn ăn đồ hộp do tên Hạ sĩ bỏ trong túi
máy truyền tin. Bữa cơm quá thịnh soạn. Có gần mười người mà không biết bao
nhiêu đồ ăn gà vịt, thịt heo, cá, đủ thứ. Với bữa cơm này, thật có thể nuôi một
gia đình nhỏ trong cả tháng. Không biết ông xã trưởng đã làm cách nào để có bữa
ăn như thế trong một thôn quá nghèo, quá xơ xác này. Nhưng ông Quận chưa hài
lòng, ông bắt đi kiếm lade và bánh mì cho hai người Mỹ. Tôi muốn đỡ cho ông xã
nên hỏi hai người Mỹ có cần ăn bánh mì không, họ đều trả lời không và nói ăn
cơm được rồi, tuy nhiên ông Quận vẫn hét đi kiếm lade.
Sau bữa ăn, ông Quận hỏi lại các sĩ quan về tình hình các thứ. Rồi ông bảo ông
xã kiếm cho một chỗ ngủ trưa. Đại úy Mỹ nhờ tôi hỏi ông Quận về an ninh của
làng, ông Quận trả lời.
“An ninh lắm, tụi nó mới lục soát mà”.
“Tôi muốn đi thăm dân cư trong làng. Đại úy có thể đi với chúng tôi không?”
“Ồ, thôi để ông xã trưởng đi với Đại úy, còn tôi phải ở lại đây để lo công chuyện”.
Nói xong ông ngáp dài, quay sang ông xã:
“Biểu tụi nó kiếm cho tôi chỗ ngủ, rồi đưa ông Đại úy đây đi vòng trong xã coi.
Đừng có nói chi lộn xộn nghe không”.
Người ta nói mà tôi không hiểu, tôi mới đi lính, mới sống cuộc sống này nên có
thể tôi khó mà hiểu được.
° ° °
Viên Đại úy Mỹ là người còn trẻ, ông muốn xem, muốn biết nhiều
thứ. Trước hết ông xã trưởng dẫn chúng tôi đến trạm y tế ở sát ngay văn phòng hội
đồng xã. Căn nhà như bỏ hoang đã lâu, bàn ghế đầy bụi và có hơi mốc của đất. Đại
úy Mỹ hỏi:
“Hình như hôm nay không làm việc?”
“Dạ, họ nghỉ… trưa”.
“Ông xã có mấy y tá cho trạm y tế này?”
“Dạ hai người”.
“Họ đều làm việc đấy chứ?”
“Dạ, có hai người do trên quận gởi tới nhưng một ông mới bị gọi quân dịch, còn
một ông cũng xin được về làm trên tỉnh rồi”.
“Như thế không có ai hết?”
“Dạ”.
“Tình trạng không có người này đã lâu chưa?”
“Dạ, mới đây”.
“Bao lâu?”
“Dạ, chừng gần một năm”.
“Thế, cái trạm y tế này lập ra được bao lâu rồi?”
“Dạ, năm ngoái”.
“Tôi không hiểu, trạm y tế này có được một năm, mà không có y tá gần năm nay, vậy…
tôi không hiểu. Ông xã thử nói rõ tôi coi”.
“Dạ, hồi đầu có một ban y tế trên quận mang thuốc xuống đây phát cho đồng bào,
rồi ông Quận cho luôn xã chúng tôi một số thuốc và ít lâu sau cử thêm hai người
y tá xuống đây. Họ ở đây được ít ngày rồi đi luôn”.
“Như thế, mỗi khi có ai đau ốm hay bị thương nhẹ thì làm sao?”
“Chúng tôi chở lên quận”.
“Tôi không hiểu, thế còn thuốc men?”
“Dạ, thuốc men tôi mang về nhà tất cả, ít lắm Đại úy, có mấy lọ thuốc gì đâu
không à”.
“Tôi không hiểu, tôi phải hỏi lại lên trên xem sao. Tôi sẽ cố gắng giúp ông về
vụ y tá”.
“Dạ, cám ơn Đại úy”.
Rồi ông xã trưởng dẫn chúng tôi đến thăm trường học. Trường cũng như trạm y tế
đều vắng ngắt, đầy bụi và hơi mốc, mấy chiếc bàn chiếc ghế vứt ngổn ngang.
“Sao lại thế này?” – Đại úy Mỹ hỏi.
“Dạ cũng vậy, Đại úy. Xã chúng tôi có khá nhiều tụi nhỏ nhưng trường học lại
không có ông thầy”.
“Tôi cũng hiểu”.
“Dạ, có một ông do Quận chỉ định về, rồi ít lâu cũng đi luôn. Về sau lại có một
cô giáo khác nhưng được chừng hai ngày cô ấy cũng sợ mà bỏ đi luôn”.
“Sao lại sợ, sợ cái gì?”
“Dạ, tôi không hiểu, nhưng chắc cô sợ vì thấy xa nhà, ở đây có một mình”.
“Tôi sẽ phải bàn lại với ông Quận xem sao, xã này tương đối an ninh nhất quận
mà trường học cũng như nhà thương đều không hoạt động được thì những xã khác ra
sao. Chúng tôi lúc nào cũng muốn giúp dân Việt Nam nâng cao đời sống để chống Cộng
sản nhưng chúng tôi sẽ không thể làm gì được khi đời sống ở đây cứ thế này mãi.
Các ông hãy hiểu đó cũng là lý do tại sao chúng tôi lại thiết lập ban Cố vấn quận,
mục đích không đâu khác là tìm đủ cách để giúp dân quê Việt Nam nâng cao đời sống
mà chống Cộng sản”.
Tôi không biết câu vừa rồi, Đại úy nói riêng với ông xã trưởng hay nói cả với
tôi. Tôi nghĩ chắc ông chỉ dùng những lời đó để nói với những người như viên xã
trưởng, còn tôi, tôi đã đọc rõ chương trình cùng kế hoạch và mục đích của Cố vấn
quận rồi nên tôi rõ lắm. Không phải thế đâu, không phải chỉ có thế thôi đâu.
Tôi cũng nghĩ có lẽ Đại úy Mỹ trẻ này thuộc một gia đình giàu có bên Mỹ, nên
ông rất hay nhấn mạnh đến việc chống Cộng sản một điều mà những người dân quê
Việt Nam biết rất ít. Sau cùng ông xã trưởng dẫn chúng tôi đi thăm nhà cửa, chợ
và những sinh hoạt trong làng. Dân cư ở đây sống “nhà-hai-lớp”. Họ phải đào hầm
ngay trong nhà và đêm tối không ngủ được trên giường. Vợ chồng, con cái, cha mẹ
đều phải chui cả xuống cái hầm mấy thước vuông, họ phải sống như thế để tránh
bom đạn, tránh pháo binh bắn từ quận tới, tránh nhiều thứ. Tất cả mọi nhà đều
phải có hầm. Họ sống như loài chuột, họ chui rúc và khổ sở. Ban ngày đánh cá,
làm ruộng, phơi nắng ngoài đồng, ban đêm chui vào hầm tối. Những đứa trẻ được
thả rông, những người bệnh phải chịu vậy. Những cái hầm này khi mùa nước lớn
thì sao, họ vẫn phải chui xuống đó và ngụp lặn trong nước để tránh những quả đạn
lạc. Tôi thấy không còn gì vô lý và tàn nhẫn hơn những quả đạn lạc.
Hồi Việt Minh đánh Tây, tôi cũng sống ở nhà quê, nhưng không đến nỗi khổ thế
này. Người dân vẫn còn được hít khí trời và đi xem hội. Cuộc chiến bây giờ thật
khác, nó khác bởi người ta.
° ° °
Khi trở lại văn phòng hội đồng xã Đại úy Mỹ có ý tìm ông Quận
nhưng không thấy đâu. Ông ta ghi chép mọi sự vào sổ tay, rồi quay qua nói chuyện
với viên Trung sĩ béo, gã này đang ngồi dựa lưng vào ghế ôm khư khư lấy khẩu
súng như chỉ sợ có ai ập vào. Đại úy Mỹ nói tất cả cho viên Trung sĩ biết, tên
này luôn luôn chửi đổng văng tục:
“Đ.m. cái trạm y tế, chúng nó sợ thanh tra thì lập nên thế thôi. Còn thuốc men
chúng nó mang cống Việt Cộng hết. Không tin bây giờ Đại úy cứ đến nhà xã trưởng
mà soát lại thuốc xem, chỉ còn toàn những lọ không và mấy thứ đồ bỏ”.
“Có lẽ anh đã nghĩ sai phần nào cho họ. Hoàn cảnh này thật khó khăn”.
“Khó khăn lắm, ai cũng biết thế. Nhưng rồi Đại úy sẽ hiểu rằng sự khó khăn đó
là do họ không chịu nói thật với mình, và nhất là họ không chịu nói thật với chính
dân họ nữa. Cùng là người Việt cả, nhưng dân ở quê ở tỉnh và những người làm việc
cho quận, cho tỉnh, cho Sài Gòn, họ khác nhau về đủ mọi thứ, họ xa cách nhau và
nói dối nhau”.
“Tôi không hiểu”.
“Không ai hiểu được”.
“Anh có vẻ biết nhiều đấy, Trung sĩ”.
“Thưa Đại úy, tôi chỉ là một hạ sĩ quan”.
Nói xong tên Trung sĩ béo lại cười rộ lên. Tôi thấy tên này có nhiều cái lạ, hắn
tỏ ra biết quá nhiều, đầy thành kiến và có óc châm biếm. Tôi không ưa hắn nhiều
thứ, nhưng phải bằng lòng hắn ở cái điểm dám nói thẳng với cấp trên rằng mình
sang đây và cố chịu đựng ở đây chỉ vì đồng tiền phụ cấp viễn chinh để mụ vợ có
thể mua căn nhà mới.
Đại úy lại hỏi:
“Ông Quận trưởng đâu?”
Viên Trung sĩ trả lời:
“Hãy tìm nơi ông ta đang ngủ”.
Đại úy không nói gì thêm, ông chỉ nhún vai rồi lấy sổ tay ra ghi chép. Còn ông
Quận, vì không có gì phải lo nên đã ngủ được một giấc dài cho đến khi cuộc hành
quân chấm dứt.
° ° °
Vì không muốn ăn mãi đồ hộp, nên mấy người Mỹ đều đồng ý với
nhau là nên mượn một người nấu ăn, họ sẽ chung nhau trả tiền. Khi Đại úy Mỹ ngỏ
ý đó với ông Quận thì được tán thành ngay.
Ông Quận hứa ngày mai sẽ cho một người đàn bà nấu bếp khá đến phụ giúp. Như thế
là năm người Mỹ, có ba người giúp việc, hai anh dân vệ giặt đồ, và coi sóc quét
nhà, bây giờ lại thêm một chị nấu ăn, hình như cũng là vợ một anh dân vệ nào
đó, ông Quận cho rằng không thể cho người lạ vào phòng Cố vấn được vì vấn đề an
ninh. Năm người Mỹ có ba người làm và không biết còn bao nhiêu người canh gác
xung quanh.
° ° °
P.X. chopper (Trực thăng bán đồ Mỹ) xuống lúc 10 giờ. Hầu như
tất cả người trong quận đều bu quanh chiếc trực thăng. Đại úy Mỹ hỏi ông Quận cần
mua những gì, ông Quận chỉ ngần ngừ trả lời “Được, được”. Sau cùng Đại úy Mỹ
cũng mua giùm ông Quận một cái radio của Nhật, một cái máy ảnh Petri, một lô rượu
và một lô thuốc lá, Đại úy Mỹ cũng tặng riêng ông Quận một cái đồng hồ đi trận
thật tốt. Ông Quận tỏ vẻ hài lòng luôn luôn nói “Ô-kê, gút gút”. Còn bà Quận và
em gái cũng được viên Trung úy tặng mỗi người hai lọ nước hoa Intimate và một số
kẹo bánh các thứ. Trực thăng bán đồ rời khỏi sân Quận với sự hài lòng của mọi
người: ông Quận bà Quận và cô em gái sau khi cám ơn đủ thứ mời chúng tôi (mấy
ông Mỹ và tôi) dùng cơm chiều nay. Họ cười vui vẻ. Về đến phòng, viên Trung úy
nói bô bô và cười khoái trá.
“Nó nhận đồ của mình, là cứ tắm sạch rồi mang vào giường”.
° ° °
Cái lão chuyên làm áp phe mà tôi đã gặp tại văn phòng Trung
tá Tỉnh trưởng xuống quận vào lúc trưa. Hắn đi theo một chuyến trực thăng tiếp
tế cho Ban Cố vấn Mỹ. Hắn xuống đây để xem vị trí xây cất một nhà thờ Tin Lành
và một trường học nhỏ do chương trình Viện trợ Mỹ tặng quận. Khi gặp tôi hắn tỏ
ra mừng rỡ, bao giờ hắn cũng mừng rỡ niềm nở khi gặp ai. Hắn nói phải vào gặp
ông Quận ngay, và hẹn tôi lát nữa sẽ sang phòng Cố vấn Mỹ.
Ở phòng ông Quận ra, hắn sang ngay nhà Cố vấn Mỹ, hắn nói với tôi là mọi sự
xong cả rồi. Tôi chẳng hiểu xong cái gì nhưng chắc đây là công việc của hắn.
Tôi giới thiệu hắn với Đại úy Cố vấn trưởng, hắn nói rất thạo tiếng Anh. Đại úy
Mỹ hỏi trước:
“À, thế ra ông là người đảm nhiệm xây cất nhà thờ và trường học cho quận?”
“Vâng, chúng tôi đã được sự chấp thuận của Sài Gòn và tỉnh”.
“Rất tốt, chừng nào ông khởi công?”
“Vì an ninh đường lộ, nên khi nào chúng tôi có thể chuyên chở vật liệu xuống
đây, chúng tôi sẽ khởi công ngay”.
“Rất tốt, hiện nay ông đã tìm được cách nào để chuyên chở vật liệu chưa?”
“Tôi đang tìm cách chở bằng đường thủy, nhưng đường thủy cũng mất an ninh, nên
phải đợi có an ninh đã”.
“Chúng tôi sẽ tìm hết cách giúp ông”.
“…”
“Khi bắt đầu xây, ông định xây cái nào trước, nhà thờ hay trường học?”
“Nếu đủ nhân công và có đủ vật liệu, tôi sẽ xây cả hai cùng một lúc, nếu không,
tôi sẽ xây trường học trước”.
“Tôi nghĩ ông nên xây nhà thờ trước, vì ở quận đã có sẵn một trường học rồi.
Chúng tôi rất chú trọng đến tín ngưỡng của đồng bào. Chúng tôi sẽ có một vị mục
sư về đây giảng đạo cho dân chúng để họ tìm thấy ánh sáng đạo. Như thế nhà thờ
rất cần, nó là nơi tinh thần…”
Đại úy Mỹ tỏ ra khó khăn không biết dùng chữ gì. Ý ông định nói đó là tinh thần
của những người theo đạo Tin Lành, mà số đó lại rất ít hay không có ở thôn quê
nên không thể nói là cần được, còn nó là nơi tinh thần của người Mỹ thì lại
càng không cần hơn nữa. Tôi nghĩ Đại úy Cố vấn có thể nói: Nhà thờ Tin Lành rất
cần vì tại đó người ta sẽ truyền bá dần những văn minh, văn hóa và lối sống người
Mỹ. Ở một quận nhỏ nghèo, một cái nhà thờ Tin Lành im mát, giản dị, sạch sẽ có
thể gồm nhiều cơ quan Mỹ, những cơ quan mà bên ngoài chỉ có tính cách xã hội, từ
thiện, như lớp học… Anh ngữ, phòng phát thuốc, phòng đọc sách, v.v. còn bên
trong ra sao, không biết được. Lão thầu quay sang tôi:
“Tụi Mỹ là thế, ở đâu nó cũng muốn xây nhà thờ trước trường học. Quận nào cũng
thế, tôi thầu nhiều tôi biết. Cứ bắt đầu là trại lính, rồi đến nhà thờ rồi sau
mới các thứ”.
“Chắc họ đều theo đạo Tin Lành cả?”
“Tin Lành của mấy ông Mỹ này, thì cũng như Thiên Chúa giáo của mấy ông Tây trước
kia. Nhưng ngày trước Tây ít nhà thờ và chỉ ở tỉnh, còn Mỹ bây giờ họ rải về đến
quận, rồi đến xã”.
Thấy nói chuyện ở đây không tiện, nên lão thầu mời tôi ra quán café ngoài phố
chợ quận. Thật ra tôi cũng chẳng thân gì lão, nhưng trước kia đã có một dạo lão
ở gần nhà tôi, khi đó ông ta còn làm báo và hình như còn theo một đám chính trị
nào đó. Nên tôi hỏi:
“Thế bây giờ ông còn làm báo nữa không?”
“Thôi rồi, cậu ạ”.
“Tôi thấy làm báo cũng hay chứ?”
“Ấy cũng nhờ làm báo một thời gian mà bây giờ tôi rất thành công trong nghề
này. Cậu biết không, khi tôi nắm được một vụ nào đó, tôi phải dùng tất cả, cậu
hiểu tất cả những gì tôi đã có để chạy đua với mấy ông cùng nghề cũng như thiên
hạ chạy đua đến quốc hội vậy”.
“Hình như ngày trước ông cũng từng chạy đua vào quốc hội”.
“Chẳng ăn thua gì, chạy vào quốc hội như xe lửa chạy trên đường sắt, được bơm
xăng nhớt củi lửa, tại ga phụ rồi cứ thế về ga chính, dọc đường máy nổ ầm ĩ và
phun khói ngập trời. Hồi đó tôi chưa vào được cái đường sắt nên đành chịu lật”.
“Hay nhỉ”.
“Này, rồi cậu sẽ biết, khi nào giải ngũ, cứ đến tôi, tôi sẽ đưa cậu đi làm ăn nếu
cậu muốn”.
“Thật ra tôi cũng chẳng muốn lắm, tuy nhiên tôi cũng phải làm ăn. Nhưng theo
cái nghề của ông thì không được, tôi rất ngấy phải gặp mấy ông lớn, luôn luôn họ
là những ông vua, ông quan to cả”.
“Rồi cậu sẽ biết, nghề của tôi rất thú. Mình không phải là nhân viên của họ,
mình đến không phải là để xin xỏ nọ kia, mà chỉ để tặng một cái tủ lạnh, một
két whisky, một ngàn bao xi măng, v.v. thì lại khác, thì lại rất khác chứ”.
“Rồi sau đó cũng phải xin xỏ chứ gì?”
“Không không, áp phe của tôi không thế, mấy vụ thầu của tôi tuyệt đối không phải
xin ở mấy quan Việt Nam. Tôi thầu trực tiếp với USOM, USIS, MAC. V… Sài Gòn.
Còn về địa phương tôi phải vào gặp mấy ổng và tặng quà mấy ổng vì nếu không làm
thế mấy quan sẽ phá, mấy quan sẽ cho tụi đàn em phá. Nhiều cách lắm cậu ơi, như
chụp lên đầu mình một cái mũ Cộng sản là đi đứt rồi. Hay sai tụi đàn em cho nổ
sập cái nhà mình đang xây dở cũng đủ vỡ nợ rồi. Mỹ sợ, là hợp đồng rách luôn. Cậu
hiểu, mình không xin nhưng vẫn phải… Thật ra cũng chẳng thiệt gì, thằng nhà thầu
nào cũng phải tính vào giá thầu tất cả những chi tiết ấy. Tụi Mỹ, rất khó nhưng
lại dễ qua mặt. Tôi nói để cậu rõ, tôi xuống đây là xuống thế thôi chứ còn lâu
mới xây cất được, hai ba tháng một năm là thường. Tiền tôi nhận một phần rồi,
tôi cứ lấy nó mà làm vụ khác kiếm lời, trong khi với cái lý do không chở được vật
liệu vì an ninh cũng đủ cho tôi trì hoãn được rất lâu. Cậu hiểu, nghề của tôi
có nhiều cái thú lắm. Nhưng nhiều khi cũng kẹt chết được, năm ngoái tôi nhận thầu
cho USOM xây một số nhà thương và nhà hộ sinh cho các quận của tỉnh X. Mọi việc
Sài Gòn xong xuôi, khi về ra mắt ông Tỉnh với một cái tủ lạnh, hai két whisky
và một ngàn bao xi măng thì ông Tỉnh phán liền: “Vụ này hai triệu”. Tôi xoay thế
nào cũng không xong, thôi đành chịu. Nhưng khi về các quận, các ông Quận cũng
phán “năm trăm ngàn”. Thế là phải tính nát óc để moi cho được mấy triệu đồng từ
vài cái nhà thương, hộ sinh khốn khổ”.
“Sao ông không về lại Sài Gòn mà tố?”
“Ông ơi! Ông sẽ chết bỏ đời ông, chỉ có cách bỏ nghề, hay xé hợp đồng, hay chui
vào tù vì nợ, thì mới liều như thế. Tôi nói để cậu rõ ngay mấy chú sĩ quan an
ninh tỉnh và quận nó đều kiếm cậu ít tiền, cậu cũng phải lơ, chứ đừng nói đến
quan lớn ở trên”.
“Tôi không hiểu”.
“Rồi cậu sẽ hiểu”.
Có tiếng trực thăng bay ở xa. Lão thầu giơ tay xem đồng hồ rồi trả tiền trước.
Cả hai chúng tôi ra đứng ở sân vận động quận, lúc này đã dùng làm bãi đáp trực
thăng. Lão cho tôi địa chỉ ở tỉnh và ở Sài Gòn, hẹn dịp khác. Tôi không biết tại
sao hắn lại nói với tôi những cái đó.
“Này, tại sao ông lại nói với tôi những chuyện đó, ông không sợ à?”
“Sợ cái gì, việc tự nhiên quá, ai cũng biết mà còn sợ cái gì. Chẳng lẽ cậu tố
cáo tôi à. Cậu sẽ tố cáo với ai, với ông Quận hay ông Tỉnh? Như thế đấy”.
Rồi lão cười thật to, cái cười bị át bởi tiếng trực thăng đang xuống, lão chạy
vội ra. Tôi cũng trở lại quận. Có những người sợ từ cô em vợ cấp trên, có những
người chẳng còn sợ ai nữa khi hắn biết cả rồi.
° ° °
Quận bị pháo kích vào quá nửa đêm, tất cả đều xôn xao, tuy
nhiên không ai chạy ra ngoài cả. Theo kinh nghiệm của những lần pháo kích trước,
ông Quận đã ra lệnh đào hầm hố gần ngay chỗ ngủ để có thể lăn từ giường xuống đất
và bò chừng vài thước là đến hố an toàn. Kể từ ngày có biện pháp phòng thủ đó.
Quận chưa bị pháo kích lần nào. Vì có lẽ, họ nghĩ nếu có tấn công bằng những
trái pháo, thì cũng không có kết quả như ý nữa. Tôi nằm sát xuống mặt đất cạnh
giường nghe tiếng đạn bay từ xa, rồi nổ ở xung quanh. Tôi có ý chờ đợi một quả
nào đó rơi xuống chỗ mình. Tôi biết mục tiêu của những trái đạn đang nổ tung
kia không phải chỉ nhắm vào văn phòng quận mà vào căn nhà tiền chế của mấy người
Mỹ kia. Sự hiện diện của họ ở đâu cũng thế, luôn luôn làm tung thuốc nổ. Nhưng
họ luôn luôn được sống an toàn, họ chết và bị thiệt hại rất ít. Vì sự an toàn của
những người lính Mỹ ở đâu cũng được lo chu đáo bằng những phương tiện đầy đủ và
những huấn luyện kỹ càng. Cuộc pháo kích đã dứt, nhưng theo kinh nghiệm không
ai được ra ngoài ngay vì có thể bị pháo kích bất ngờ tiếp theo. Tôi ngồi dậy dựa
lưng vào thành giường. Xung quanh náo loạn tiếng người, tôi lắng nghe và thấy từ
xa có những tiếng khóc của đàn bà trẻ con. Họ đã biết rằng pháo kích không thể
giết được ông Quận, nhân viên trong quận, cùng những người Mỹ, nhưng họ vẫn
làm, tôi không biết, tôi không hiểu một chút gì về cuộc chiến này. Rồi những
viên đạn lạc và những người chết oan, bao giờ cũng thế, số người chết oan lại
nhiều hơn cả.
Ông Quận cho người gọi tôi xuống hầm truyền tin. Đại úy Mỹ Cố vấn đã có ở đấy.
Họ bàn nhau về cuộc phản pháo. Tuy nhiên chưa có một tin tức đích xác nào về vị
trí của địch cũng như về những thiệt hại của quận, vì chưa ai dám ra khỏi hố.
Ông Quận dùng bút chì mỡ gạch vào những vùng ông nghĩ có thể là vị trí địch,
ông nói:
“Tôi nghe thấy đạn bắn đi từ hướng này, có lẽ tụi nó đặt súng cối nơi đây, nơi
đây, nơi đây…”
“Tôi cũng nghĩ như Đại úy nhưng có thể giờ này địch đã rút ra khỏi những chỗ đó
rồi, địch có thể vào ẩn núp tại những vùng xung quanh. Chi bằng, tôi đề nghị với
Đại úy ta bắn 105 vào tất cả những vùng này. Đại úy Mỹ dùng ngón tay trỏ khoanh
một vòng gần hết cái bản đồ quận”.
“Chà, không được, chỗ này nhiều dân và có an ninh, chỗ này cũng thế, còn chỗ
này có một cái chùa Cao Đài”. Ông Quận vừa nói vừa chỉ lên những điểm trên bản
đồ.
Đại úy Mỹ có dáng suy nghĩ, ông nói:
“Được, Đại úy, chúng ta bắt buộc phải bắn vào những vùng tôi vừa nói với Đại úy
vì toàn thể nơi đó chỗ nào cũng có thể có địch được. Ta chỉ cần lấy đúng tọa độ
của cái chùa, chừa nó ra. Ngày mai sẽ cho quân đến đột kích. Tôi nghĩ rất có thể
Việt Cộng đang ẩn nấp trong đó. Còn dân chúng, tôi nghĩ họ đều có hầm trú ẩn
trong nhà cả. Không sao đâu”.
“Nhưng quận gần hết đạn, tôi sợ nếu bắn phủ cả vùng này thì không còn đủ dùng”.
“Đại úy đừng lo, ngày mai hay ngay bây giờ, tôi sẽ liên lạc với MAC. V Tiểu khu
để họ thúc Phòng 4 trên đó chở ngay đạn xuống cho Đại úy. Cứ yên lòng. Chúng
tôi về đây chỉ mong được giúp Quận trong những trường hợp như thế”.
“Ồ gút gút”.
Tuy nhiên ông Quận vẫn vui vẻ ngần ngừ và lưỡng lự khi phải chỉ những tọa độ
trên bản đồ để cho pháo binh bắn. Đại úy Mỹ xin được xem qua những điểm ông Quận
đã ghi… để còn báo cáo!
“Đại úy cho bắn bao nhiêu quả?”
“Bốn mươi”.
“Sao lại bốn mươi? Mình còn bao nhiêu đạn?”
“Còn hơn 100”.
“Tôi đề nghị, Đại úy cứ bắn ít nhất là một trăm quả vào vùng đó mới có thể phủ
kín được. Ngày mai sẽ có đạn khác cho Đại úy”.
Ông Quận gật gật cái đầu rồi kêu viên sĩ quan pháo binh vào dặn. Đại úy Mỹ cũng
từ giã trở lại phòng.
° ° °
Tôi nằm nghe từng trái đạn bắn ra khỏi nòng súng đặt tại sân
quận, đất rung lên, rồi tiếng đạn rít trong gió bay đi, bay đi về mọi hướng và
tiếng nổ âm u vọng lại từ xa. Những gì sẽ xảy ra sau tiếng nổ đó, bao nhiêu
thây người bị xé nát, bao nhiêu căn nhà bị sụp đổ, bao nhiêu mảnh vườn bị cày
tung và bao người của mục đích cuộc bắn này sẽ chết. Thật ra họ khó lòng mà chết,
họ cũng đã được huấn luyện rồi, họ cũng có những vùng an toàn phòng thân. Họ
cũng như mấy lính Mỹ và các nhân viên quận, đều có cách phòng thân. Chỉ có những
người dân suốt ngày ngoài đồng ruộng, chỉ có những trẻ con không được học hành,
chỉ có những người bệnh không người chữa là sẽ lại dễ dàng lãnh những trái đạn
đang rít lên kia. Những căn hầm tôi đã thấy rõ, chỉ đủ để tránh những mảnh vụn
bắn lại từ xa, hay những viên đạn nhỏ. Nhưng nếu nó nổ trên đầu, vào ngay giữa
nhà rơi đúng vào chỗ mà cả gia đình đang chui rúc đó, thì sao. Cái đó tại số!
Có lẽ là số của những số đạn bắn đi hàng ngày.
Tôi đếm được hơn 80 tiếng đạn nổ thì thôi bắn. Trời đã sáng, không thấy tiếng
gà gáy và chim kêu.
° ° °
Báo cáo tổn thất do quận cung cấp cho Ban Cố vấn về vụ pháo
kích đêm qua.
Một góc sân quận trước nhà Cố vấn bị hư nát.
Một cái ụ ở góc nhà Cố vấn bị hư nát.
Một chòi canh gần nhà Cố vấn bị sụp và một nghĩa quân đang
gác tại đó bị chết.
Có năm nhà thường dân bị trúng đạn, mười hai người chết,
trong đó có năm trẻ con.
Kết quả của cuộc phản pháo chưa được rõ nhưng theo tin mật
báo thì địch đã phân tán ngay sau khi pháo kích. Hiện quận đang xin lên Tiểu
khu để mở cuộc truy kích vào phía Chùa Cao Đài.
° ° °
Tôi sang phòng Cố vấn Mỹ vào lúc họ đang ăn sáng. Đại úy Mỹ
đang nói chuyện với Trung sĩ Mỹ béo, họ mời tôi ngồi và hỏi:
“Hôm qua anh nghe ông Quận nói là sẽ bắn bao nhiêu quả đạn?”
“Bốn chục”.
“Không, về sau tôi đề nghị nên bắn một trăm và ông ấy đã bằng lòng”.
“…”
Đại úy Mỹ quay sang phía lão béo:
“Nhưng đêm qua lần đầu tiên tao thử sự thành thật của hắn ở một việc rất nhỏ là
đếm những trái đạn bắn đi và chỉ thấy có 83 quả, tại sao? Tại sao lại thế?”
“Tụi nó mà”.
“Lại nữa, sáng nay tao đi tìm tên sĩ quan pháo binh, hắn nói được tiếng Anh, để
hỏi về số đạn hắn được lệnh bắn đêm qua, cũng như số đạn còn lại trong kho thì
tao rất buồn. Ông Quận ra lệnh cho hắn bắn có 80 quả mà hắn bắn thành 83 quả,
đó là một. Và nữa, hôm qua ông Quận nói với tao là số đạn còn lại trong kho chừng
hơn 100 thôi, nhưng thật ra nó còn gần 300 quả. Tao không hiểu, sáng nay có lẽ
mình phải gặp lão Quận”.
“Không nên Đại úy, ông cứ báo cáo tất cả về MAC. V Tiểu khu, rồi ở đấy họ sẽ
nói sang bên Việt Nam, và Việt Nam sẽ nói với Việt Nam. Đừng thắc mắc và đặt
câu hỏi. Cứ báo cáo. Nên nhớ các sĩ quan Việt Nam đều chen nhau vào chức Quận
trưởng. Đại úy hiểu. Mình phải mềm dẻo. Ở đây chỉ có 5 người Mỹ mà thôi. Vấn đề
an ninh các thứ”.
“Tao hiểu”.
Và tôi cũng hiểu, thằng cha Trung sĩ béo đúng là một thứ cáo già mật vụ. Nó mới
là bộ óc của Ban Cố vấn Quận này. Tôi cũng không thể ngờ được là viên Đại úy trẻ
kia có thể nằm đếm từng quả đạn để thử sự thành thật của người. Máy móc, quy tắc
và thiển cận hẹp hòi quá.
Tôi trở lại phòng với sự buồn bã của mình, khi qua nhà ông Quận tôi nghe tiếng
radio với một điệu cải lương.
° ° °
Cô em gái bà Quận như một thứ công chúa ở vùng nhỏ này. Cô ta
kênh kiệu và làm điệu theo kiểu nhà quê. Tôi không biết rõ về cô này lắm, nhưng
thấy các sĩ quan ở đây hay bàn tán nhau và hình như chưa ông nào được gần nàng
cả. Tôi cũng thấy cô ta hay hét mắng và đôi khi còn tát tai mấy anh dân vệ có bổn
phận hầu hạ trong nhà ông Quận. Buổi sáng, khi tôi đi qua nhà ông Quận để sang
phòng Cố vấn, thì cô em gái bà Quận đó gọi tôi lại để hỏi chút việc. Tôi chưa
biết việc gì.
“Nè, ông làm thông dịch ở bển chắc vui lắm hả?”
“Tôi không hiểu, vui sao?”
“Thì dzui đó, mấy ông Mỹ đó chắc vui và tốt lắm hả?”
“…”
“Nè, cái ông trẻ trẻ cho nước hoa tụi tui đó là Trung úy phải hôn?”
“Phải”.
“Mấy ông Mỹ xài sang lắm phải không, họ có nhiều đồ tốt quá mà”.
“…”
“Nè, lát nữa ông có qua bển, nói giùm tôi cám ơn nhiều nghe”.
“Ông bà và cô cám ơn họ quá rồi còn gì”.
“Nè, nè thiệt đó, nếu lúc nào tiện ông nhờ mấy ổng mua giúp tôi một ít xà bông
thơm và một chai thuốc gì đó, thứ gì xịt cho tóc nó khỏi bung đó. Chà, nước hoa
ổng cho tui thiệt thơm ạ… khi nào nghe, rồi tôi gửi tiền… Tụi tui… “
Ối giời, bố khỉ. Bây giờ tôi mới ngửi thấy mùi Intimate của cô em gái bà Quận.
Intimate là một thứ nước hoa rẻ tiền mà mấy anh lính Mỹ vẫn cho bọn gái điếm.
Còn thuốc xịt tóc (hair spray) thì cũng loại đó mà thôi. Hết Intimate bây giờ đến
Hair spray, Dove, Dial và đến bao giờ thì đô-la xanh đỏ.
Buổi chiều, viên Hạ sĩ Mỹ rủ tôi ra phố chợ mua ít đồ. Rồi vào uống bia trong
quá café. Hôm nay là đầu tháng nên trong các quán nước đều đông. Quán nước tôi
uống là một cái nhà lớn, một nửa để hai bàn billard còn một nửa kê những bàn uống
nước. Quán thật đông và đầy nhóc lính, những lính mặc đủ thứ mọi quần áo, đen,
vàng, xanh, rằn ri, có người đội mũ có người không, tuy họ đều là nghĩa quân
hay địa phương quân của quận. Lúc chúng tôi vào thì cái bàn bên đã có vẻ ngổn
ngang lắm rồi. Tôi nhìn thoáng thấy hai sĩ quan và ba anh dân vệ. Khi chúng tôi
bắt đầu uống thì một anh dân vệ trong số năm người kia bắt đầu chửi đổng, những
câu chửi có vẻ hướng về tên Hạ sĩ Mỹ nhưng hắn đâu nghe được, chỉ có tôi nghe,
hiểu và không cần để ý mà thôi. Một lúc sau tôi thấy mấy người đó chụm lại bàn
tán rồi một Thiếu úy Địa phương quân còn trẻ đứng dậy sang bàn chúng tôi. Tên Hạ
sĩ Mỹ bắt tay niềm nở, và hỏi ông có uống gì không. Ông Thiếu úy lắc đầu. Ông
nói với tôi:
“Tụi nó định gây chuyện uýnh tên Mỹ, vậy anh đi chỗ khác cho đỡ lôi thôi rầy
rà”.
“Sao lại đánh nhau?”
“Biết đâu đó”.
“Tôi không phải là người gác cho nó, nhưng cùng vào đây mà bây giờ lại bỏ đi để
mấy anh uýnh nó sao được”.
“Đ.m. anh tính binh nó hả?”
“Tôi không binh ai cả, nhưng tôi đi sao được”.
Ngay lúc đó, anh dân vệ chửi đổng lúc nãy đã đứng dậy, loạng choạng lại phía
tôi. Tôi thấy chuyện bất ổn, nên đứng vội lên. Nhưng quá muộn rồi, tên Hạ sĩ
cũng đứng lên. Anh dân vệ có vẻ say mèn, hắn chỉ vào mặt gã Hạ sĩ chửi lung
tung, tên say này cứ bắt tôi dịch lại, tôi chỉ nói rằng hắn say và nói nhảm thế
thôi, cách tốt nhất là về để khỏi rắc rối. Còn anh chàng dân vệ chửi những gì
ai cũng biết. Hắn là em của anh chàng gác nhà Cố vấn Mỹ bị chết vào vụ pháo
kích đêm nọ. Thật loanh quanh, anh chàng chửi lung tung đủ thứ “Vì tụi mày qua
đây mà anh tao chết”… Rồi hắn khóc. Hắn ôm chặt lấy tên Hạ sĩ Mỹ, gã này cố giằng
ra. Đám đông xô lại. Và tên Mỹ hất vội gã dân vệ xuống bàn. Tiếng chai cốc bể
tung. Có hai người ôm lấy tên Hạ sĩ và người khác đánh túi bụi, anh chàng dân vệ
lúc đó đã nằm dưới sàn. Gã Hạ sĩ vùng chạy được ra phía cửa, hắn rút súng định
bắn (người Mỹ ở quận, cứ ra khỏi hàng rào là đeo súng, tên Hạ sĩ này đeo một khẩu
súng lục). Nhưng đã có một người ôm lại kịp. Và ngay lúc đó có tiếng quát của
Trung úy Đại đội trưởng Địa phương quân. Ông quát mọi người giãn ra. Ông hỏi mọi
sự nhưng không ai nói rõ cả. Sau cùng ông đưa chúng tôi về lại quận. Lúc đó tên
Hạ sĩ Mỹ đã bị sưng vù một bên mắt và rách môi trên.
Người la lối dữ nhất, văng tục chửi thề nhiều nhất là viên Trung sĩ béo. Hắn
làm như loạn đến nơi, hắn đòi tôi lên gặp ngay ông Quận để tìm cho ra cái bọn
“chó đẻ” (son of bitch) mà bắn liền. Tuy nhiên hắn chỉ nói trong phòng với bọn
họ mà thôi. Hắn còn đòi báo cáo ngay với MAC. V Tiểu khu để xin trực thăng tản
thương. Hắn còn đòi, nói đủ thứ. Đại úy Cố vấn trưởng vẫn ngồi yên, trong khi
viên Trung sĩ già lo vết thương cho gã Hạ sĩ.
Một lúc sau chắc có người cho biết nên ông Quận vội sang Phòng Cố vấn ngay. Khi
thấy ông Quận từ xa, tên Trung sĩ béo đã nói với ông Đại úy:
“Đại úy phải làm thật dữ vụ này để lần sau không còn xảy ra nữa. Có lẽ phải nhốt
hết chúng nó và bắn vài thằng!”
“Hãy đợi xem, Trung sĩ, nên nhớ đây cũng chỉ như bao vụ đập lộn khác trong các
quán nước mà thôi”.
“Không thể như thế được. Khi mình Cố vấn cho một đơn vị thì binh sĩ đơn vị đó
phải quý trọng và nể mình. Những người đánh Hạ sĩ không phải ở những đơn vị lạ
mà ở ngay chính quận này”.
Ông Quận đã vào đến bàn. Đại úy Mỹ đứng dậy bắt tay. Ông Quận nói rất dài và nhắc
đi nhắc lại một câu xin lỗi nhiều lần. Đại úy Mỹ trả lời:
“Thật ra, chưa biết lỗi tại ai, nên chúng tôi chưa dám tới gặp ông. Chúng tôi
chỉ mong ông giúp bằng cách tìm ra nguyên nhân vụ này tại sao họ lại đánh viên
Hạ sĩ của chúng tôi và ai là kẻ gây sự trước”.
Ông Quận quay sang tôi hỏi các thứ, tôi kể lại đầu đuôi nhưng giấu vụ anh dân vệ
có người anh bị chết và vụ Thiếu úy sang bảo tôi đi. Nghĩa là tôi không tố cáo
ai cả. Ông Quận cười cười, rồi quay sang nói với Đại úy Mỹ:
“Nửa giờ nửa, tôi sẽ cho tập họp tất cả sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ của đơn
vị thuộc quận lỵ để Đại úy có thể đưa anh Hạ sĩ ra đó nhận diện xem ai đã gây với
anh trước và tìm ra nguyên nhân”.
“Cám ơn Đại úy”.
“Nhưng dù sao lát nữa cũng mời quý Ban Cố vấn ra cùng với tôi để tôi nhắn nhủ
các binh sĩ”.
“Thưa Đại úy, cái đó cũng không cần thiết, chúng tôi chỉ cần nhờ Đại úy tìm ra
kẻ đánh viên Hạ sĩ và nếu hắn trái, thì phải xin lỗi Hạ sĩ của chúng tôi”.
“Được mà, được mà”.
Ông về rồi mấy người Mỹ lại bàn với nhau. Viên Trung sĩ già đề nghị:
“Hãy gọi máy về hỏi MAC. V Tiểu khu xem như thế phải phản ứng thế nào?”
“Cái đó không cần thiết”.
“Việc này tùy ở Hạ sĩ, vậy Hạ sĩ muốn sao?”
“Tôi muốn lôi cổ chúng nó ra hết, bắn bỏ hết. Tôi muốn Đại úy để tôi chỉ mặt những
thằng đánh tôi mà bắt nó cúi đầu xin lỗi”.
“Từ từ. Vụ này có tính cách chính trị ảnh hưởng đến dân ở đây. Họ ưa hay không
ưa mình nữa là do mình cả”.
“Chúng ta không cần tụi bẩn này ưa làm gì. Chúng nó ưa mình chỉ thêm bận, suốt
ngày bu quanh nhà, xin các thứ và hỏi lung tung. Mình có đầy đủ mọi thứ, không
cần tụi nó”.
“Anh lầm rồi, theo chương trình, mình phải lấy lòng dân ở đây bằng mọi cách để
họ ưa và giúp mình, ngoài ra còn an ninh nữa”.
“Đ.m. an ninh, mình có súng cứ bắn bỏ”.
“Bây giờ như thế này, chú Hạ sĩ, nếu chú chịu bỏ qua vụ này, tôi sẽ để chú về tỉnh
hay Sài Gòn chơi ít lâu, còn chú vẫn cứ muốn họ phải xin lỗi chú thì cũng được”.
“Tôi không cần đi tỉnh hay Sài Gòn. Tôi muốn chúng nó phải nằm bẹp xin lỗi tôi.
Tôi muốn kể cho cha mẹ tôi ở bên Mỹ rằng tôi sang đây làm cố vấn, được trọng,
được sợ chứ không muốn bị đánh rồi để yên. Mà nhất là không phải lỗi tại tôi”.
“Được”.
Tất cả nghĩa quân, địa phương quân thuộc quận lỵ đều đứng trang nghiêm trong
hàng trước mặt ông Quận. Đại úy Mỹ, Hạ sĩ Mỹ và tôi đứng ở một góc. Ông Quận
đang đọc một bài thuyết về đạo đức, tác phong, quân kỷ và việc đối xử với người
Mỹ. Ông dùng thứ ngôn ngữ ông vẫn dùng: “Đ.m. tụi bây, đồ chó đẻ man rợ, người
ta qua đây có mút cặc tụi bây hay không mà tụi bây làm trời. Tụi bay bày đặt uống
rượu say rồi uýnh người ta. Đ.m., rồi họ báo cáo lên tỉnh, ông Tỉnh chửi tao, tụi
bay đâu có nghe. Đ.m. thằng chó đẻ nào gây lộn trước và có dính đến vụ này ra
đây ngay, nếu không, đ.m., ông kiếm được, ông bắn bỏ. Người ta qua đây có mút cặc
mày không mà làm dữ dzậy? Rồi ông Tỉnh rầy tao thì sao…”. Đại úy Quận trưởng có
tính nói dai, những điều nhắc đi nhắc lại, ông nhắc đi nhắc lại một cách lộn xộn,
lung tung. Tôi nghĩ, có lẽ ông bị xúc động nên cứ nói mãi có vài câu. Sau cùng
không cần phải đợi anh Hạ sĩ Mỹ ra chỉ mặt, những người có dính đến vụ đập lộn
vừa qua đều ra trình diện. Ông Quận đá, đánh, đấm túi bụi. Mấy người kia chạy
dãi ra như vịt. Trong cái hàng ngũ “muôn màu” của binh sĩ quận lỵ cũng bắt đầu
xôn xao. Ông Trung úy phải quát mọi người yên. Rồi tiếng ông Quận hét lớn:
“Nhốt hết tụi nó lại cho tao, lát nữa bắt qua bển xin lỗi”.
° ° °
Theo đúng chương trình Cố vấn Quận, một lớp học tiếng Anh được
tổ chức cho tất cả các nhân viên trong Quận. MAC. V Tiểu khu cung cấp sách vở dụng
cụ. Viên Trung úy Mỹ và tôi lo hướng dẫn. Ngày đầu, hầu hết nhân viên đi làm việc
tại Quận đều đi học. Ban Cố vấn phát cho mỗi người một cuốn sách in thuộc loại
Conversation, có hai phần tiếng Mỹ và Việt, một cuốn tập 100 trang, một cây bút
chì và một số báo thuộc loại thế giới Tự do. Mọi người đều hoan hỉ lắm. Đại úy
Cố vấn trưởng ra nói vài câu mở đầu… Có nói được tiếng của nhau mới dễ thông cảm
để giúp đỡ lẫn nhau và để… chống Cộng sản. Còn Đại úy Quận trưởng cũng ngỏ vài
lời cám ơn Ban Cố vấn của nước Mỹ giàu có.
Lớp học bắt đầu, những khuôn mặt Việt Nam quê mùa đang há to miệng, cố uốn cái
lưỡi để cho đúng, cho thật đúng với cái tiếng của viên Trung úy Mỹ. Những tiếng
o…eo… chào ông buổi sáng, chào bà buổi chiều, ông mạnh giỏi, v.v. phát ra ầm cả
văn phòng quận. Tôi thấy nản vô cùng.
Khi lớp học tan, mọi người áp dụng ngay một câu mới học để từ giã nhau “chào buổi
tối”. Có tiếng đàn ông nói hô hố và tiếng con gái cười khúc khích. Cô em gái bà
Quận cũng qua học và ngồi ngay bàn đầu. Hồi sáng cô đã gặp tôi để hỏi về lớp học
các thứ, cô hỏi:
“Nè, học như dzậy bao lâu nói được”.
“Một buổi tối là nói được”.
“Hay quá ha”.
“Người ta dạy cô câu nào, thì cô nói ngay được câu đó, có chi mà hay”.
“Nè, ông, tôi thiệt muốn học nhưng không ưa tụi nó, tôi không chịu ngồi chung với
những người đó đâu”.
“Tôi không hiểu”.
“Trời ơi, nè, tôi muốn mời ông Mỹ đó, và ông dạy riêng chúng tôi, mấy người
trong nhà một lớp riêng. Tôi không ưa tụi lộn xộn đó…”
“Rất tiếc, tôi bận, cô nên qua đó mà học”.
Đúng là một thứ công chúa nhà vườn, kênh kiệu dởm, đời sống này, người dân, người
làm công dù là công chức, càng ở xa thành phố bao nhiêu càng thấy mất an ninh,
càng bị nhiều thứ đe dọa nên càng sợ cấp trên. Nếu những anh dân vệ, bảo an và
người dân ở đây coi ông Quận như thần, thì cô ả này đúng là em vợ ông thần rồi
đấy.
Viên Trung úy mời tôi qua phòng uống một ly gì cho vui, và khi thấy chúng tôi,
lão Trung sĩ béo đã nói ngay:
“Đ.m., các anh dạy chúng nó học, rồi suốt ngày chúng nó qua đây O.K xin các thứ,
thật điên cái đầu”.
° ° °
Đêm qua, tiếng phản lực rít lên thật nhiều trên đầu quận, rồi
có năm tiếng nổ thật lớn, làm rung đất rung nhà. Tôi nghĩ họ đang ném bom một
vùng nào đó để dọn chỗ cho một cuộc hành quân, có thể vào sáng mai. Sau năm tiếng
nổ, tiếng phản lực cơ cũng dứt. Nhưng tiếp theo đó là tiếng đại bác của pháo
binh quận bắn ra mọi nơi. Ở quận đêm nào cũng thế, nếu không có tin địch chính
xác, hay không được gọi bắn yểm trợ, pháo binh cũng bắn rải ra các vùng mất an
ninh để chặn địch. Mỗi đêm bắn như thế vài chục quả, bắn chậm và rải rác. Những
ngày đầu, tôi mất nhiều đêm với hai khẩu đại bác đặt ngay giữa sân quận. Về sau
rồi cũng quen. Những ngày đầu, tôi bị thắc mắc nhiều với những trái nổ đó với
những gì sẽ xảy ra sau khi nó nổ… Về sau rồi cũng quen. Đến nay tôi đã quen nhiều
thứ với quận này nhưng cũng còn quá nhiều cái làm tôi ngạc nhiên. Cái ngạc
nhiên lớn nhất của tôi là kiếp sống của người dân, tôi không ngờ họ có thể sống
mãi được thế. Có những người đã bỏ ruộng, bỏ vườn, bỏ nhà để lên chợ quận bán
thuốc lá, bán xôi, bán bánh mà sống chật vật từng ngày. Những người đó tuy được
chút ít yên bình, nhưng vẫn khổ.
Buổi sáng, tôi được tin năm tiếng nổ đêm qua là do phản lực cơ thả nhầm hay là
rớt bom sao đó xuống một xã thuộc quận. Ông Quận trưởng cùng mấy nhân viên và mấy
người Mỹ đến xem ngay chỗ xảy ra chỉ cách quận chừng 15 phút thuyền máy
(speed-boat). Từ xa chúng tôi đã thấy cả một vùng khói mịt mù, và thuyền bè tấp
nập dưới sông.
Tôi không biết có bao nhiêu căn nhà bị cháy sập, có bao nhiêu người chết và bị
thương, có bao nhiêu trâu bò lợn gà hoa màu bị tiêu sạch, bởi vì tôi không thể
đếm được. Tôi không thể nào đếm được. Tiếng khóc, tiếng kêu, tiếng rên la chửi
bới, tiếng trẻ con, tiếng đàn bà và cả ngàn thứ tiếng. Tôi bị cay mắt vì khói.
Người ta đang khiêng những xác chết đặt nằm dài theo mé sông, có những thây đã
cháy rụi, có những thây bị xé nát bét. Đàn bà trẻ con, người già người khỏe đủ
cả. Họ đang khiêng thây người chết đặt dọc theo mé sông và những thây người còn
ngắc ngoải xuống thuyền. Chỉ có những người thân đi khiêng những người thân mà
thôi. Y tá không có, cứu thương không còn, mấy anh bảo an dân vệ thì đeo súng đứng
nhìn… để giữ an ninh. Họ đã dùng cả trăm người để canh gác suốt ngày suốt đêm
trong bao lâu nay, để giữ những phát súng bắn tỉa, những quả lựu đạn ném tay.
Nhưng họ làm gì để tránh khỏi những vụ thế này. Tôi không hiểu. Chúng tôi đi
sâu vào làng. Ông xã trưởng ở đây cũng chết, mấy ông trưởng ấp có ông chết có
ông còn phải lo việc nhà, nên không còn ai ra tiếp chúng tôi. Mấy bà già thấy
ông Quận đến xúm vào khóc lóc kêu than. Ông Quận không nói được gì, chỉ mấy anh
dân vệ vẫn hét đồng bào dang ra. Mấy người Mỹ cũng chẳng nói được gì. Trẻ con
không còn chạy theo họ reo hò xin kẹo, người lớn tỏ vẻ thờ ơ. Tôi nghe thấy nhiều
câu nguyền rủa chửi thầm “Bọn Mỹ”. Thật ra lúc này họ vẫn không dám chửi to,
nguyền rủa lớn. Dù khổ, dù vất vả, dù đau đớn đến mấy, họ cũng chẳng dám làm gì
khi có ông Quận đi cùng lính đeo súng thế kia. Tôi thấy nhức đầu, choáng váng,
tôi không còn nhận rõ được mọi sự nữa. Tôi thấy cay mắt và choáng váng vô cùng.
Có lẽ họ cũng thế. Họ chỉ đến xem qua rồi về quận. Ông Quận còn phải báo cáo gấp
lên trên và Cố vấn Mỹ cũng thế.
Trong khi Đại úy Mỹ dùng máy truyền tin riêng gọi về MAC. V Tiểu khu để trình
bày mọi sự, thì lão Trung sĩ béo và viên Trung úy nói với nhau, viên Trung úy
lúc nãy có đi xem chỗ bị thả bom, hắn nói:
“Nhiều người bị nướng!”
“Chừng bao nhiêu?”
“Tao không biết, không kịp đếm. Chúng nó đang khiêng nhau xếp dọc theo bờ sông,
có lẽ đợi chở đi”.
“Còn tụi bị thương”.
“Chúng nó xếp cả xuống thuyền có lẽ chở về đây, nhà thương quận”.
“Như thế mình phải mang ít thuốc cấp cứu đến nhà thương quận cho rồi”.
“Vô ích”.
“Điều cần là để chúng nó thấy mình có mang thuốc đến và có chữa chạy các thứ”.
“Nhưng lão già y tá không có đây”.
“Thì Trung úy và tôi đến đó. Mẹ kiếp cứ hỏi bệnh chúng nó rồi cho thuốc bổ. Còn
băng bó tiêm chích để tụi y tá quận”.
“Để tao hỏi Đại úy”.
“Đó là ý kiến hay”.
Tất nhiên là Đại úy rất bằng lòng vì đây là đề nghị rất hợp với đường lối của
chương trình Cố vấn Quận. Viên Trung sĩ béo soạn một số thuốc trong thùng dự trữ,
đa số là những lọ thuốc bổ. Rồi họ rủ tôi cùng sang nhà thương quận gần đấy.
Khi chúng tôi vừa ra đến cửa, Đại úy đã gọi giật lại:
“Hãy đeo súng vào. Trung sĩ nên dùng một khẩu Carbine thì hơn”.
“Trời, mình đi cứu tế mà!”
“Cứ đeo súng vào, trong hai người phải có một khẩu Carbine. Trung úy không thấy
lúc nãy mình đi thăm chỗ bị nạn sao, thái độ của họ tôi nhận thấy một điều
không tốt”.
“Thôi được”.
Viên Trung sĩ bỏ túi thuốc, chạy vào thay súng vì hắn đang mang một khẩu súng lục.
Viên Trung úy nói với tôi:
“Thật tao không hiểu, cho thuốc còn đeo súng dài, tôi không hiểu”.
“Trung úy mới sang Việt Nam bao lâu?”
“Ba tháng, nhưng tôi ở Sài Gòn hai tháng. Tôi cũng mới ra trường ít lâu thì
tình nguyện sang đây”.
“Tôi thấy Trung úy còn trẻ lắm”.
“Hai mươi ba tuổi, độc thân”.
“…”
“Nên tao rất yêu cuộc sống”.
“Đã yêu cuộc sống, sao còn tình nguyện sang đây, Trung úy không sợ chết ư?
Không sợ Việt Cộng ư?”
“Tôi sang đây, không giống như thằng Trung sĩ béo, nó vẫn nói sang đây để có tiền
mua nhà cho vợ, và thật ra cũng chẳng giống lý do mà Đại úy vẫn nói là để chống
Cộng sản. Lẽ dĩ nhiên là tụi tao chống Cộng rồi, nhưng lý do đúng nhất mà tao
tình nguyện sang đây là để mạo hiểm phiêu lưu và mau lên chức. Tao sẽ là một Đại
úy trẻ. Chó đẻ, thằng Trung sĩ béo đã ra rồi kìa, tao không ưa hắn”.
“Sao thế?”
“Nó thuộc loại ngu, đi lính 14 năm mới lên Trung sĩ I, nhưng luôn luôn nó mang
truyện Đại Hàn, Miến Điện ra nồ tụi tao. Đại úy và tao đều ít tuổi lính hơn nó,
nên Đại úy có vẻ tin và nể nó, còn tao, tao không cần và không tin nó chút nào
hết. Bọn đó thuộc cái loại lính già khôn vặt. Còn tao xuất thân từ West point
và thuộc gia đình giàu có”.
Lão béo ra đến nơi, tôi không hiểu tại sao viên Trung úy trẻ này lại tâm sự thế
với tôi. Hắn còn trẻ nhưng đầy óc so sánh phân cách. Hắn làm sao mà hòa được với
dân ở đây, mà thật ra hắn có cần hòa hợp giúp đỡ gì đâu. Hắn sang đây chỉ để
phiêu lưu và mau lên chức! Chúng tôi sang bệnh xá quận. Cảnh tang tóc náo động,
những người bị thương được xếp dài ngoài hiên vì còn phải soạn chỗ bên trong.
Cha mẹ, vợ chồng, con cái kêu khóc thê thảm. Có nhiều gia đình bị thương và chết
cả nhà. Hai người Mỹ đeo súng dài, ôm túi thuốc bước vào lạc lõng. Những người
bệnh không có ai săn sóc ngước mắt nhìn. Tôi muốn ra khỏi đây ngay. Thật sự tôi
và cả hai người Mỹ này chẳng giúp được gì. Tên Trung sĩ béo cúi xuống hỏi vài
người và cho họ ít thuốc bổ. Viên Trung úy đứng yên ngơ ngác lạnh nhạt. Và tôi
muốn ra khỏi đây. Họ kêu viên y tá trưởng đến hỏi lăng nhăng vài thứ. Có bốn
mươi ba người bị thương nặng, nhẹ, còn người chết chưa biết. Rồi lão Trung sĩ
béo nói:
“Chúng tôi sẽ hết lòng giúp đỡ bệnh xá và các bệnh nhân. Nếu cần gì ông cứ cho
biết, chúng tôi sẵn lòng ngay. Chỉ tiếc y tá của chúng tôi lại mới về tỉnh lấy
thuốc, nên không giúp được gì lúc này. Nếu cần gì, cứ đến Phòng Cố vấn Quận”.
“Vâng, xin cám ơn, xin chào quý ông, tôi bận quá”.
° ° °
Bữa cơm trưa vẫn như thường lệ. Họ bàn tán nhiều đến vụ sáng
nay. Tin đích xác nhận có 25 người chết và 48 người bị thương. Năm quả bom rơi
ngay vào một khu đông dân, có ba quả rơi đúng vào ba căn nhà, cả ba gia đình đó
chết và bị thương nặng hết. Từ ngày xuống đây, tôi đều ăn cùng với nhân viên quận
tại một nhà nấu cơm tháng. Họ đều biết tôi cả, nên khi nói chuyện về người Mỹ họ
không cần dè dặt. Ông Phó Quận hành chánh là một sĩ quan còn trẻ, mới tốt nghiệp
Quốc gia Hành chánh. Ông rất hay nói chuyện với tôi và cũng rất hay phàn nàn
“Tôi về đây như một thứ ăn không ngồi rồi, hay như một thư ký thường cũng vậy.
Ông Quận giỏi về quân sự nên coi luôn hành chánh!...” đại khái những chuyện đó,
những ngày còn học ở Viện Quốc gia Hành chánh, những ngày ở Thủ Đức, những chuyện
vợ con, v.v. Tôi hiểu và thông cảm với ông. Tôi đã rõ công việc của ông. Tôi biết
ông cũng có một cái bàn, một cái ghế và một số hồ sơ trong ngăn tủ tại văn
phòng quận. Nhưng mọi việc đã có ông Quận cả rồi, ông Quận muốn thế và chính
ông Quận cũng muốn để cho ông Phó Quận tốt nghiệp Quốc gia Hành chánh này thật
rỗi rãi và có thể về Sài Gòn thăm nhà luôn luôn được. Chính ông Quận trong một
dịp nói về ông Phó Quận với các Cố vấn Mỹ cũng đã bảo: “…Ông Phó Quận còn quá
trẻ, tuy ông tốt nghiệp Quốc gia Hành chánh thật nhưng chẳng giúp gì được tôi,
mọi việc tôi phải lo hết, tôi biết rõ dân ở đây và tôi làm mọi việc theo cách của
tôi. Vẫn trôi chảy như thường đâu có cần những nguyên tắc cao siêu. Trời, cái đồ
bỏ mà”. Ngồi ăn cùng với tôi ngoài ông Phó Quận còn có các ông Trưởng chi Thông
tin, ông giáo viên trường Tiểu học Quận, và mấy người thư ký. Ông Giáo nói trước:
“Hồi trước, tụi nó cũng đã ném lộn bom rồi nhưng may lại rơi xuống ruộng”.
“Tại sao cứ lộn hoài thế, chết người vô tội không. Thiệt khổ”.
“Có nhiều lý do lắm, một là họ sai mục tiêu, hai là họ tưởng quân mình là vùng
oanh kích tự do”.
“Tổ cha chúng nó, oanh kích tự do cái chi, mang bom đi cho đã rồi lúc về thả ẩu”.
“Có khi thằng pilot đêm qua đi chơi gái, sáng nay còn ngủ quên nên lộn tọa độ nọ
qua tọa độ kia rồi giết người ta”.
“Rồi Chính phủ và họ cũng phải thường”.
“Tổ cha tụi nó, thường cái chi, cháy nhà, chết trâu còn thường được, đây chết cả
gia đình mà thường cái chi”.
“Đâu có phải ít, ngày nào xem báo cũng thấy mấy vụ như thế này. Riết rồi chết hết
còn chi”.
“Có ngày nó thả vào giữa sân quận”.
“Không đâu, có tụi nó ở đây thì khỏi lo vụ đó”.
“Trời, đừng có tin, ông không xem báo thấy nói tụi nó thả bom ngay vào đầu một
toán quân mình còn gì, có cả Cố vấn Mỹ chết trong vụ đó”.
“Tụi này thiệt ẩu”.
“Thiệt dã man”.
“Tổ cha nó thiệt”.
Tôi ngồi nghe họ nói một lúc, bây giờ đến lúc họ sắp nổi xung văng tục chửi đổng
lung tung. Ông Phó Quận ít nói nhất, ông đứng dậy rủ tôi trở lại thăm chỗ bị nạn.
Hai chúng tôi đi và bọn họ vẫn còn chửi ồn nhà.
Chúng tôi dùng một cái thuyền máy đuôi tôm để đến chỗ bị nạn. Máy nhỏ, chạy từ
từ êm ả. Ông Phó Quận nói với tôi:
“Tôi cũng không ưa nhiều điểm của Mỹ, ngay từ ngày còn học tại Quốc gia Hành
chánh, tôi đã muốn bỏ ngay từ đấy nhưng vì hoàn cảnh nên vẫn phải tiếp tục. Tôi
vẫn hy vọng khi ra trường đi làm sẽ khác, mình sẽ có quyền và dùng khả năng để
thay đổi nhiều thứ. Nhưng về đây rồi mới biết. Thật như một cái gì thừa vô dụng”.
“Có lẽ ông Quận này thế, còn những quận khác chắc khá hơn”.
(Kiểm duyệt bỏ 29 chữ)
“Kể ra, họ cũng phải để cho mình ít nhiều quyền về hành chánh chứ”.
“Thì cũng có đấy, ngồi coi chừng mấy con dấu và mấy cái bàn máy chữ”.
“Tôi không hiểu”.
“Tôi không chịu được Cộng sản, (kiểm duyệt bỏ 10 chữ). Mỗi vụ ném bom nhầm, mỗi
vụ pháo binh bắn lộn là dịp để Việt Cộng tha hồ tuyên truyền”.
“Ông người Bắc?”
“Tôi di cư vào đây, không chịu được mới bỏ nhà di cư chứ. Vào đây rồi mới biết
mình phiêu lưu. (Kiểm duyệt bỏ 18 chữ). Tụi nó không bao giờ chịu nghiên cứu kỹ
khi bổ nhiệm một người. Thật khó làm việc, cứ bổ tưới đi thôi”.
“Sao ông không xin đổi?”
“Tôi cũng đang xin đấy, tôi định xin về chỗ nào đó tại Sài Gòn (kiểm duyệt bỏ 6
chữ). Mình chúa ghét cái gì đó mà bây giờ vẫn phải dùng. Ông bố tôi đã phải (kiểm
duyệt bỏ 16 chữ). Đến nay lại phải lo tiền một cú nữa để về Sài Gòn cho yên
thân”.
“…”
(Kiểm duyệt bỏ 17 chữ) “Mình muốn làm cũng chẳng được, chúng nó như thế”.
“Tôi cũng mệt mỏi rồi ông. Nhất là công việc của tôi, sự tiếp xúc làm tôi bực
và buồn”.
“Anh làm thông dịch như thế dễ bị hiểu lầm lắm”.
“Tôi biết, tôi biết rõ điều đó, tôi đã xin thôi mà không được”.
“Xin thôi không được bỏ quách đi, làm quái gì. Mình vào đây miếng đất cắm dùi
không có, lặn lội tới đây sống phập phồng xa lạ, tôi chịu không nổi”.
Khi thuyền chúng tôi vào tới xã bị nạn, ông Phó Quận lại không muốn lên ngay.
Chúng tôi cứ ngồi dưới thuyền nhìn lên, khung cảnh đìu hiu tang tóc. Tôi cũng
không muốn lên xem nữa. Tôi ngán những cảnh tang tóc thê lương. Lên xem mà làm
gì, để nghe tiếng trẻ khóc, để ngửi mùi máu trộn vào khói, để thấy cảnh tang
hoang nhà cháy, để rõ những tàn phá của bom đạn ra sao. Tôi không muốn xem người
khác đau, tôi không giúp được gì, tôi chẳng giúp họ được chút gì cả, vậy đừng
xem. Đây là thật, với người thật, máu thật, nhà cháy thật, trẻ con khóc thật,
không phải ciné hay ca kịch mà xem. Tôi ngồi lại thuyền để ông Phó Quận lên xem
một mình vì sáng nay ông chưa tới. Ngày còn nhỏ tôi đã sống quá nhiều trong bom
đạn. Tôi đã theo gia đình chạy tản cư khắp các vùng quê Bắc Việt. Những buổi vượt
sông trên bè, mấy chục người già trẻ lớn bé trên một khoang bé nhỏ, mưa tầm tã
và nước chảy cuồn cuộn. Chúng nó ở trên đê bắn xuống đạn rít lên rơi lõm bõm xuống
nước, người chết ngay bên cạnh, trẻ con rơi xuống nước và bị cuốn đi. Tôi sống
nhiều rồi, tôi đã quen với tiếng súng, bom, nhà cháy, máu, người chết và chạy
như điên. Đạn bắn và bom thả trên đầu phiên chợ. Đạn bắn và quân về càn ngay
trong ngày Tết, ăn bánh chưng dưới hố cá nhân và cúng ông bà ngoài đồng trống.
Tôi mệt rồi, tôi gặp nó ngay từ nhỏ. Ông Phó Quận trở lại thuyền với cái buồn của
ông, ông không nói gì, chỉ lắc đầu. Chắc ông cũng như tôi, đều đã sống thật mệt
trong thời loạn, rồi lớn lên ở đấy và bây giờ làm việc trong đó. Ông chỉ lắc đầu.
Chúng tôi trở lại quận.
° ° °
Ông Phó Quận trưởng đã được đổi về Sài Gòn. Ông Quận làm một
bữa tiệc tiễn đưa. Ông nói tại bàn tiệc rằng: “Ông Phó Quận tuổi trẻ tài cao đã
thực sự giúp cho nền hành chánh quận rất nhiều…”.
Vì nhu cầu tôi phải đổi sang một quận khác. Bên đó không có thông dịch viên
cũng không một người nào nói được tiếng Anh. Do đó Ban Cố vấn Mỹ chưa làm được
gì. Trước khi sang quận mới, tôi có ghé qua tỉnh để cùng đi với Thiếu tá Cố vấn
Quận đó. Tôi được giới thiệu với Thiếu tá Mỹ Cố vấn Quận và Đại úy Quận trưởng
ngay tại bãi đáp trực thăng trước mặt Tiểu khu. Thiếu tá Mỹ người cao lớn, tóc
đỏ hoe. Ông nói với tôi bằng những câu mà tất cả mọi người Mỹ khi gặp ai khác
cũng nói thế. Còn Đại úy Quận trưởng người cũng to lớn nhưng đen sạm. Ông bắt
tay tôi vui vẻ nói:
“Bây giờ có ông đây, tụi nó mới hỏi đủ chuyện”.
Trong lúc chúng tôi đứng đợi trực thăng, thì cái lão chuyên làm áp phe cũng đến.
Hắn bắt tay ông Quận vui vẻ lắm. Rồi hắn quay sang nói chuyện với tôi, tôi hỏi:
“Ông cũng về quận?”
“Không, thấy ông Quận và anh ở đây nên tôi mới ghé vào. Tôi còn phải đến Tòa
Hành chánh tỉnh”.
“Lại vụ gì đó?”
“Đừng hỏi lôi thôi”.
Rồi hắn đi, ông Quận hỏi tôi:
“Ông cũng biết lão đó?”
“Vâng, trước tôi ở cạnh nhà”.
“Thằng cha đó dóc tổ lắm”.
Chúng tôi đợi mãi cũng không thấy trực thăng, rồi có một viên Trung sĩ Mỹ ra
nói với Thiếu tá Mỹ rằng hai tiếng nữa mới có máy bay. Thiếu tá Mỹ rủ tôi trở lại
cư xá Mỹ nhưng tôi muốn ra phố mua ít đồ. Còn ông Quận vào Tiểu khu. Khi lang
thang ngoài phố, tôi lại gặp lão bạn già áp phe. Hắn rủ tôi về nhà chơi cho biết.
Hắn đang ở trong một căn thuộc cư xá Công chức tỉnh. Hắn nói:
“Kể cũng lạ, thiếu gì công chức phải đi ở thuê mà tôi có là công chức đâu cũng
có một căn để thỉnh thoảng mới ghé qua…”
“…”
“Này, cậu biết không, thằng cha Quận lúc nãy vừa bán cho tôi cái bông 500 bao bột
mì đấy”.
“Tôi sắp làm với ông ta đó”.
“Vậy tôi nói để cậu rõ, nếu nó có lơ mơ cậu cứ tố đại ra là nó bỏ mẹ. Nó sẽ chiều
và ngán cậu suốt thời gian cậu ở đấy. Có nhiều thằng chúa ba gai mà sếp vẫn phải
chịu vì nó biết tẩy. Thằng cha đó, mới lãnh được cái bông 500 bao bột, ra khỏi
Tòa Hành chánh là nó bán luôn cho tôi lấy tiền dùng chuyện khác”.
“Tôi không hiểu”.
“Gì nữa. Quận đó mới bị lụt và được cấp 500 bao bột Mỹ viện trợ. Ông Quận thấy
dân cũng chẳng dùng gì đến bột nên mang về chỉ thêm mệt, ông bèn bán quách cái
bông cho tôi. Cậu biết không, tôi cầm cái bông đó bán lại cho một anh ba Tàu
cũng vớ được kha khá”.
“…”
“Cậu thấy không, đằng nào bột đó cũng vào miệng dân ta là được. Mỹ cho dân Việt
thì dân Việt ăn, ông tỉnh lãnh bột từ viện trợ Mỹ, cấp cho quận một ít, ông quận
bán cho tôi, tôi bán cho ba Tàu, ba Tàu bán bánh cho dân, thế là đâu vẫn vào đấy”.
“Ừ, thì dân cũng vào đó, tôi chán nghe chuyện ông quá rồi”.
“Chán cũng nên nghe, nghe để biết, để thấy cho rõ. Phải biết rõ mọi sự mới được,
tôi tưởng các cậu còn trẻ cần phải rõ lắm chứ”.
“Thì cũng cần vậy. Nhưng tôi chán”.
“Khi nào thôi lính, nhớ đến kiếm tôi”.
Rồi lão ta hỏi tôi về những chuyện ở quận. Tôi kể cho lão những cái xảy ra như
vụ pháo kích, vụ oanh kích nhầm, vụ ông phó, tôi cũng nói qua về cô em gái bà
Quận với lớp học tiếng Mỹ. Lão có vẻ khoái nghe mọi sự, riêng về ông phó hắn bảo
“thằng cha đó tính thế là phải vì nếu về Sài Gòn, ngồi đúng chỗ hắn vẫn có thể
kiếm chác để trả vào số tiền đã chạy, còn cứ ngồi lì mãi ở quận không ăn giải
gì mà còn mất xác”. Còn cô em gái bà Quận lão cũng phán một câu rằng: “Cô ả ham
như thế, có ngày làm điếm sớm…”. Tôi cũng đã chán nghe lão già này, tôi chào hắn
để ra bãi đợi trực thăng. Hắn nói:
“Để tôi đưa cậu ra giới thiệu với lão Quận, nó sẽ nể cậu”.
“Thôi, thôi, được rồi”.
“Cứ để tôi đưa cậu ra”.
° ° °
Quận nào rồi cũng thế, một cái sân, hai khẩu đại bác và những
lô cốt, những kẽm gai. Xung quanh dân sống nghèo nàn. Ở đây mới bị nước dâng
lên lầy lội, nhà cửa hư nát, dân quá nghèo. Người Mỹ ở đây cũng gồm năm người,
tôi nhận thấy có một tên Hạ sĩ da đen và một Đại úy da vàng, ông này chắc người
Hạ Uy Di.
Thiếu tá Cố vấn trưởng đã già và điềm đạm. Vào lúc uống café vào buổi sáng, ông
đã nói với tôi:
“Từ ngày đến đây, tôi rất muốn đi thăm các xã, ấp cùng đồng bào nơi đây nhưng
vì nạn lụt và không có thông dịch viên nên chưa đi được. Lát nữa đây chúng ta
lên gặp ông Quận để mời ông cùng đi”.
“Thiếu tá sẽ lên gặp ông Quận hay ông Quận xuống đây?”
“Không bao giờ tôi để ông Quận phải sang đây cả, cần điều gì, luôn luôn tôi
sang văn phòng ông”.
“Tôi hiểu”.
“Anh nên hiểu rằng, chính phủ Hoa Kỳ thiết lập Ban Cố vấn Quận là để giúp đỡ quận
và dân địa phương chớ không phải để chỉ huy hay kiểm soát gì cả”.
“Tôi có nói thế đâu, Thiếu tá”.
“Đấy là tôi muốn nói rõ để dễ thông cảm, hiểu rõ mà làm việc. Chúng tôi chỉ đưa
đề nghị còn quyết định mọi sự là do ông Quận”.
Lại những câu, những lời như thế, ở quận cũ tôi đã nghe thế rồi và tôi đã rõ. Ở
đâu rồi cũng như nhau.
“Điều thứ hai tôi muốn nói anh rõ là chúng tôi sẽ đặt câu hỏi về tất cả những
thắc mắc về mọi phương diện với ông Quận và nhân viên. Nhưng chúng tôi chỉ đặt
câu hỏi thế thôi, tuy có nhiều cái ngoài khuôn khổ viện trợ nhưng chúng tôi phải
biết rõ để dễ bề giúp đỡ quận”.
“Tôi nghĩ Thiếu tá nên trình bày với ông Quận thì hơn”.
“Tôi muốn cho anh biết trước đó thôi. Ngoài ra, tôi còn muốn anh để ý giúp
chúng tôi và cho chúng tôi biết những cảm nghĩ và sinh hoạt của dân nơi đây. Vì
người Mỹ không thể dễ hòa hợp và hiểu được người Việt như người Việt với nhau”.
“Thưa Thiếu tá, tôi chỉ có nhiệm vụ thông dịch giữa người Mỹ và những tiếp xúc
với người Việt chứ tôi không phải là người sưu tầm tin tức cho Cố vấn Quận ở
đây”.
“Tôi hiểu, nhưng chỉ có anh mới giúp được chúng tôi hiểu rõ dân ở đây, và chỉ
có hiểu rõ mới giúp được tận tình”.
Tôi cũng hiểu cái giúp được tận tình đó rồi, cũng lại như quận kia. Tôi không
phải là một thứ do thám lăng nhăng, tôi nản và tôi muốn nói thật nhiều với ông
ta nhưng tôi cũng chỉ nói được:
“Mong Thiếu tá hãy dùng tôi là một thông dịch viên và chỉ là thông dịch viên mà
thôi”.
“Rồi anh sẽ giúp được tôi, bây giờ ta lên gặp Đại úy Quận trưởng”.
Khi gặp Đại úy Quận trưởng tại Văn phòng, ông nói ngay với tôi:
“Tôi muốn nói riêng với ông điều này, rằng có nhiều cái mình không nên cho tụi
nó biết làm chi. Cùng là người Việt, chắc ông hiểu nhiều cái không thể cho tụi
nó biết được. Đại khái như thế, ông nên thông cảm điều đó cho”.
“Tôi cũng muốn Đại úy hiểu cho là nhiệm vụ của tôi chỉ là thông dịch, ngoài ra
tôi không biết, không nghe, không thấy gì hết”.
“Chà, vậy hay đó”.
Họ trao đổi nhau những câu hỏi và những câu trả lời như ở quận trước. Hình như
viên Cố vấn trưởng nào cũng có ngần ấy điều thắc mắc giống nhau hay ngần ấy khoản
cần phải báo cáo. Sau cùng Thiếu tá Mỹ nói:
“Hình như quận này có được tỉnh cấp phát cho một ít bột mì để cho dân chúng, phải
không?”
“Vâng, đúng thế, tôi mới lãnh được phiếu hôm qua”.
“Mình có bao nhiêu?”
“500 bao bột mì”.
“Thế bây giờ ra sao?”
“Hiện tôi mới lãnh phiếu, còn đợi lãnh bột đã. Nhưng khi lãnh bột tôi cũng còn
phải trả cho tỉnh 350 bao vì đã mượn trước, vậy còn có 150 sẽ mang về đây”.
“Đại úy nghĩ khi nào thì có ở đây?”
“Không thể biết đích xác được, còn phải lấy từ kho và còn đợi phương tiện
chuyên chở”.
“Tôi sẽ cố giúp Đại úy vài chuyến trực thăng”.
“Thật cám ơn Thiếu tá”.
“Tôi muốn đi thăm mấy xã trong quận, liệu Đại úy có thể cùng đi không?”
“Bây giờ chưa được, Thiếu tá để ít lâu nữa đã, nước mới rút và các xã cũng chưa
được yên”.
“Thôi được”.
“Để cho tôi lục soát tảo thanh đã”.
“Vâng, bây giờ xin chào Đại úy và khi nào Đại úy cần điều chi cứ cho tôi rõ.
Chúng tôi sẽ cố giúp.
Chúng tôi lại trở về Phòng Cố vấn Mỹ. Ở đâu rồi cũng vậy. Lòng nghi kỵ và những
lời nói bọc đường.
Đa số dân ở đây theo đạo Hòa Hảo và ăn chay trường, gia đình ông Quận cũng thế,
ăn chay trường. Ông Quận là người rất sùng đạo, nhân viên trong quận đều là người
trong đạo hay trong tộc họ với ông. Bởi vì ông Quận rất sùng đạo nên tôi thắc mắc
nhiều với cái vụ 500 bao bột mì lão già đã kể với tôi. Vì mọi người đều ăn chay
trường như thế nên sự ăn uống của tôi đã gặp khó khăn, nhất là ông Quận lại
không muốn tôi ra chợ mỗi ngày hay đi la cà gặp bất cứ ai, ông nói đó là để giữ
an ninh cho tôi. Tôi biết là họ nghĩ sai về mình quá đáng. Thiếu tá Mỹ ngỏ ý muốn
tôi cùng ăn với họ trong những ngày tôi ở quận này. Tôi đã nói không quen ăn đồ
hộp và cần được ăn cơm với những món ăn Việt tuy ít sinh tố nhưng hợp khẩu vị.
Sau cùng, việc ăn của tôi được giải quyết là, tôi sẽ ở cùng nhà với Ban Cố vấn
Mỹ, ăn cùng bàn với họ nhưng sẽ được người nhà ông Quận mang cơm đến mỗi bữa,
chỉ có cơm không mà thôi, tôi sẽ ăn chung vào đồ ăn của Mỹ. Thế cũng được, hãy
tạm vài ngày xem sao. Năm người Mỹ ở đây chỉ có một anh lao công quét dọn lặt vặt,
anh đến vào buổi sáng, trưa để thu dọn. Còn ngoài ra mấy anh Mỹ phải làm lấy hết.
Chẳng bù cho quận bên kia. Không biết Thiếu tá Mỹ ở đây không xin, hay Đại úy
Quận không cho. Họ phải nấu ăn lấy, một lão Trung sĩ già chuyên lo việc này,
còn tên Hạ sĩ đen chuyên việc lặt vặt. Không biết vì cấp bậc thấp nhất trong bọn
hay vì màu da mà tên Hạ sĩ đen phải quần quật suốt ngày.
Hắn phải làm tất cả mọi việc mà ở quận bên do ba anh dân vệ đảm nhận. Tôi đã
nghe thấy Thiếu tá nói với anh Trung sĩ nấu bếp về tên Hạ sĩ đen nhiều lần, ông
dùng chữ “Negro” nhấn mạnh, ông không bao giờ la mắng hắn nhưng cũng không bao
giờ cười nói vui vẻ với hắn, ông lạnh nhạt thờ ơ. Chỉ có tên Đại úy người da
vàng làm thinh, ông là người Mỹ gốc Nhật Bản. Ngày đầu tôi ăn chung với họ, Đại
úy Nhật Bản tỏ ra thích thú khi được ăn cơm nấu bằng gạo của tôi. Mấy bữa rồi
ông đều ăn chung với tôi như thế, và tự nhiên chúng tôi trở nên gần gũi nhau.
Tôi cũng thấy gần gũi với tên Hạ sĩ da đen vì tôi ngủ cạnh hắn và buổi tối
trong khi mọi người khác ngồi uống bia tán láo, đánh bài ngoài bàn ăn, thì hắn
nằm bẹp tại giường nghêu ngao hát thật nhỏ những bản thánh ca. Lúc chiều, Đại
úy da vàng đã rủ tôi ra chợ quận uống nước. Tôi uống café đen còn ông uống bia,
tôi hỏi ông:
“Đại úy có muốn uống một chút rượu trắng của xứ tôi không?”
“Rượu làm bằng gạo phải không?”
“Vâng, bằng gạo”.
“Ở xứ tôi cũng có”.
“Nhưng mỗi nơi một khác, Đại úy nên uống thử một ly nhỏ”.
Tôi gọi một ly rượu trắng nhỏ cho ông, ông nhấp thử ở đầu lưỡi, rồi uống một
chút và “khà” một tiếng dài. Tôi thấy lối uống của ông thật Việt Nam, giống hệt
lối uống rượu của những người Việt Nam thuần túy khác.
“Rượu khá nặng, nếu ở xứ lạnh thì vừa”.
“Ở miền Bắc chúng tôi có mùa đông khá lạnh”.
“Cho tôi một ly nữa”.
“Rồi Đại úy sẽ say”.
“Say thì ngủ, tôi uống rượu quen rồi”.
“Đại úy ở Nhật?”
“Không, Hạ Uy Di, tôi là người Nhật, gốc Nhật chính cống nhưng chiến tranh nên
lạc sang Hạ Uy Di và nhập tịch xứ đó. Khi Hạ Uy Di trở thành một tiểu bang của
Mỹ, tôi đương nhiên là công dân Mỹ, có quyền bầu cử, ứng cử, đi lính làm sĩ
quan, đóng thuế, v.v.”
“Đại úy nói tiếng Nhật được không?”
“Thời thơ ấu tôi ở Nhật, học trường Nhật. Làm sao mà quên được tiếng gốc của
mình. Cho tôi một ly nữa”.
“Đại úy theo đạo gì?”
“Trước kia đạo Phật, sau này không theo đạo nào cả”.
“Tôi thấy Đại úy hay đọc những sách về văn chương nghệ thuật, không giống mấy
người Mỹ khác chỉ đọc truyện chiến tranh, trinh thám và ái tình nhục dục”.
“Nhắc lại, tôi là người Nhật”.
Ông ta nói một tràng tiếng Nhật, rồi hát nghêu ngao một câu, cử chỉ có vẻ chếnh
choáng. Quán lúc đó cũng chẳng có ai ngoài hai chúng tôi, nên không bị để ý gì
cả.
“Này anh Việt Nam”.
“…”
“Tôi là người Nhật, tôi đã từng theo đạo Phật, tôi biết uống trà, uống rượu, biết
chút ít về Zen và thuộc ít nhiều thơ Haiku. Hãy cho tôi một ly nữa”.
Rồi ông ngâm một câu thơ ngắn bằng tiếng Nhật, giọng rè rè u uất. Tôi thấy ông
đã chếnh choáng nhiều, và từ chợ về quận cũng khá xa. Tôi rủ ông về, ông lảo đảo
đứng dậy, đi chập choạng phải bám lấy tôi. Con đường đất nhỏ hai bên là ruộng
và mấy căn nhà lá xác xơ. Khi chúng tôi lên một cái cầu gỗ nhỏ, ông đứng lại vịn
vào thành cầu nhìn xuống dòng sông, ông nói những câu tiếng Nhật trong hơi thở,
rồi ông lại bám vào tôi tiếp tục đi.
“Này anh Việt Nam”.
“…”
“Tôi muốn mang rượu đó về phòng để uống, tôi muốn ăn một bữa cơm nấu bằng gạo với
những đồ ăn của xứ anh. Tôi là một Đại úy Mỹ Cố vấn, gốc người Nhật, này anh Việt
Nam”.
“…”
“Tôi nói để anh rõ, tôi là một Đại úy Mỹ, tôi nhận lệnh từ Hoa Thịnh Đốn sang
đây, hãy hiểu lấy, này anh Việt Nam”.
“…”
“Tôi sẽ không bao giờ quên hai quả bom nguyên tử do họ thả xuống Hiroshima và …
Này anh Việt Nam, tôi là một Đại úy Mỹ xuất thân từ…”
Tôi còn tỉnh, và ông đã say, nếu ông không say tôi cũng có thể hỏi ông thế này:
“Rằng tôi đang dìu một người Nhật, một Đại úy Mỹ ở trên tay, vậy tôi có cần nhớ
đến vụ đói năm nào ngoài Bắc và những trái bom đang thả xuống đất này như một
vùng oanh kích tự do…”.
° ° °
Thiếu tá Mỹ lên gặp Đại úy Quận trưởng để ngỏ ý muốn mở lớp học
tiếng Mỹ cho nhân viên trong quận. Ông Quận đã vui vẻ đón nhận và hứa sẽ khuyến
khích nhân viên theo học. Cũng như ở quận bên, Ban Cố vấn đã nhận được từ phòng
5 MAC. V Tiểu khu một thùng sách báo để tặng những người theo học. Lớp học cũng
được đặt tại văn phòng quận và học vào buổi tối. Nhân viên trong quận ở đây tôi
thấy cũng khá đông, tuy nhiên, không khí sinh hoạt có vẻ lặng lẽ lờ đờ.
° ° °
Lớp học tiếng Mỹ bị thất bại, chỉ có 5 người tham dự. Tuy vậy,
Thiếu tá Mỹ cũng vẫn đến dạy, ông giải thích về đủ mọi cái lợi của sự biết tiếng
Anh. Một trong những cái lợi đó là tiếp xúc dễ dàng với người Mỹ để người Mỹ
giúp đỡ nhiều hơn. Năm bộ mặt ngồi nghe không có gì hứng thú. Đến khi thực tập,
Thiếu tá Mỹ đọc lên một câu và yêu cầu toàn thể nhắc lại thì không thấy gì cả,
sau nói mãi mới thấy một vài tiếng lí nhí trong họng. Thiếu tá Mỹ tỏ vẻ chán nản
nhưng vẫn cố gắng. Ông đã nói suốt một tiếng rưỡi đồng hồ về nhiều thứ. Ông
cũng giải thích về việc thành lập Cố vấn Quận, việc tại sao người Mỹ giúp người
Việt, việc phải chống Cộng, việc nâng cao đời sống. Ông nói thật nhiều, thật từ
từ dễ hiểu, những lời ông nói là những lời tóm tắt của những bài báo thuộc loại
để tặng đồng bào. Tôi thấy nản và rất sốt ruột, khi một người Mỹ đứng nói cả giờ
trước năm người ngái ngủ không muốn nghe.
Khi lớp học tan, Thiếu tá Mỹ phàn nàn với tôi:
“Anh hãy giúp cho tôi hiểu được, tại sao ở đây họ thờ ơ như thế. Chúng tôi muốn
mọi người vui vẻ và hăng hái hoạt động và cộng tác với nhau. Theo như báo cáo ở
vài quận khác, những lớp Anh ngữ đều có kết quả và gây được nhiều thân thiện giữa
người địa phương và Ban Cố vấn Mỹ. Tôi không hiểu tại sao ở đây lại khác, hay
người Mỹ chúng tôi đã làm phiền gì dân chúng trong quận?”
“Tôi không nghĩ thế, người Mỹ ở đây có năm người, lại rất ít ra ngoài nên chưa
thể nào làm phiền đến dân chúng”.
“Vậy tại sao?”
“Tôi không biết”.
“Tôi không nghĩ thế, tôi nghĩ anh biết rõ vì anh hiểu được họ, chỉ có điều anh
không chịu nói cho chúng tôi những gì mà người dân ở đây đã có về Ban Cố vấn Mỹ,
nghĩa là anh không chịu cho tôi biết về từng chi tiết của một dư luận quần
chúng nơi đây”.
“Thưa Thiếu tá, tôi nhắc lại, tôi chỉ là một thông dịch viên, có bổn phận dịch
những lời nói giữa hai người khác tiếng”.
“Tôi hiểu, nhưng tôi cũng hiểu rằng anh không thực lòng giúp sức với chính phủ
và người Mỹ”.
“Đấy là ý kiến của ông”.
“Vậy tại sao, khi anh đã tình nguyện làm thông dịch cho người Mỹ, anh lại không
có lòng giúp đỡ họ để họ có thể giúp ích cho dân anh”.
“Tôi không tình nguyện. Thiếu tá lầm rồi, tôi không tình nguyện làm thông ngôn
cho người Mỹ, thực ra tôi chỉ là một người lính biết tiếng Anh, thế thôi”.
“Thật thế sao?”
“Thật thế”.
“Vậy ra không phải anh tình nguyện làm với chúng tôi, chỉ là bổ nhiệm”.
“Đúng thế”.
“Tôi đã lầm, tôi cứ tưởng từ lâu nay rằng, những người Việt Nam làm cạnh người
Mỹ đều là tình nguyện cả, sẵn sàng đi với chúng tôi”.
° ° °
Một tai nạn nhỏ nhưng rất cảm động xảy ra sáng nay. Khi anh Hạ
sĩ da đen mang giấy ra đốt ngoài bờ sông thì tôi cũng ở đấy. Anh vừa làm việc
anh vừa nói chuyện với tôi. Trông thân thể cao gầy đen xanh, tóc xoắn, mắt trắng
môi dầy của hắn, tôi cũng thấy mình xa lạ. Tôi hỏi:
“Anh có về Sài Gòn luôn không?”
“Không bao giờ, trước ngày xuống MAC. V Tiểu khu tôi chỉ ở Sài Gòn năm ngày
nhưng không đi đâu cả”.
“Tại sao?”
“Tao nghèo”.
“Sang đây lâu chưa?”
“Ba tháng”.
“Tình nguyện à?”
“Tình nguyện”.
“Tại sao mày lại bảo là nghèo?”
“Tao có nhiều người trong nhà. Tao phải gửi tiền cho mẹ ở Mỹ. Họ nghèo”.
“Anh là quân dịch hay tình nguyện?”
“Tình nguyện”.
“Mấy năm rồi?”
“Ba năm, tôi đi lính từ năm 18”.
“Chắc anh ưa đời nhà binh lắm hả?”
“Tao nghèo quá!”
“Thiếu tá không cho anh đi phép hay anh không muốn đi?”
“Họ không ưa tao”.
“Còn anh có ưa những người Việt nghèo ở đây không?”
“Không biết được”.
Hắn đã đốt xong thùng giấy. Chúng tôi đứng yên nhìn ra mặt sông. Nước dâng cao,
thuyền bè qua lại nhiều. Một đứa bé đang chèo thuyền từ bờ bên kia sang. Đúng
lúc đó có một tàu máy nhà binh của Bảo an vượt tới. Cái tàu đi quá nhanh quá mạnh
trên một khúc sông quá đông. Chẳng khác gì những chiếc xe nhà binh chạy trong
đường phố. Khi cái tàu vượt qua thì những đợt sóng bùng lên, thuyền đứa trẻ
chao đi rồi lật úp. Anh Hạ sĩ đen đã nhảy ngay xuống nước. Những người đi trên
sông vẫn còn ngồi trên thuyền la ó. Hạ sĩ đã bơi thật nhanh ra giữa lòng sông,
lúc đó cũng đã có mấy người đàn ông nhảy xuống. Nước chảy không mạnh lắm. Tôi
thấy Hạ sĩ đen lặn xuống, anh quắp được đứa trẻ vào tay, anh đưa nó cho người
trên thuyền, rồi bơi vào bờ. Anh thở ra thật lặng lẽ, và vác thùng đựng rác trở
lại nhà với bộ quần áo sũng nước. Tôi trở lại sau và nghe thấy tiếng hỏi trong
nhà:
“Mày sao thế?”
“Tôi nhảy xuống nước”.
“Buổi sáng không phải giờ nhảy xuống nước”.
“Vậy tôi xin lỗi”.
Tôi không hiểu được gã đen này, tại sao lại không nói rằng anh vừa cứu được một
đứa trẻ. Tại sao lại phải xin lỗi. Những gì xảy ra từ ngoài xa, ở đây sao biết
được.
° ° °
Quận bị pháo kích vào lúc 3 giờ sáng. Mọi người chạy tới chỗ
an toàn. Tôi cùng Hạ sĩ đen chui vào một lô cốt ở góc nhà. Sự phòng thủ ở đây
cũng như quận bên rất cẩn thận và chắc chắn. Trong đêm tối, tôi chỉ thấy được
hai con mắt trắng dã và hơi thở có mùi hôi của hắn. Tôi nghe thấy tiếng nổ rời
rạc từ xa. Có lẽ họ không câu vào đúng quận. Vậy bắn đi đâu. Tôi đếm được gần
hai chục quả pháo nổ ở xa và gần. Mục tiêu cuộc pháo kích này chỉ có thể là khu
nhà quận. Nhưng tôi không thấy một tiếng nổ nào có vẻ như gần đây cả. Tôi hỏi Hạ
sĩ đen:
“Hình như chúng nó bắn chỗ khác”.
“Có lẽ”.
“Nó bắn sai mục tiêu rồi”.
“Có lẽ”.
“Anh nghĩ sao khi thấy những người dân vô tội bị nạn oan”.
“Không nghĩ sao cả. Tao là người Mỹ, tao sang đây với nhiệm vụ một quân nhân. Vậy
cái chết của người khác tao không để ý”.
“Vậy anh có để ý đến những cái chết do những cuộc biểu tình chống kỳ thị màu da
ở bên Mỹ không?”
“Tôi không ưa anh hỏi như thế”.
“…”
“Xin lỗi, tôi đã nóng khi trả lời anh nhưng… tôi thật sự đau lòng khi họ chết”.
“Họ là ai?”
“Những người da đen ấy”.
“Còn tôi, tôi cũng thật sự đau lòng khi họ chết oan, những người Việt ngờ nghệch
vô tội nghèo khổ bị chết oan. Các anh đi biểu tình để tranh đấu rồi chết, cái
đó không gọi là oan. Còn dân tôi chết vô cớ, chết vì đạn lạc, chết vì hai bên bắn
nhau sai mục tiêu, thật đau lòng”.
“Tao hiểu”.
“Những người lính chết ngoài mặt trận, theo tôi không đau lòng bằng những người
chết oan và đạn lạc”.
“Vậy tại sao Việt cộng bắn vào đây?”
“Vậy tại sao dân da đen của anh biểu tình. Tôi nói để anh rõ, tôi không ưa gì
những vụ bắn qua bắn lại này, tôi không ưa gì cầu bị sập, giao thông khó, nhà
cháy, dân đói. Tôi không ưa gì những cái đó”.
“Đó là chính trị và tao không hiểu gì cả”.
“Anh muốn nói đến dân da đen?”
“Đừng nói đến dân da đen của tao. Tao sẽ nổi nóng nếu anh cứ nói mãi đến họ”.
“Tôi xin lỗi. Tôi chỉ thương những người vô tội bị nạn, không hề vàng, đen hay
trắng”.
Chúng tôi ngồi yên dưới hầm đến 5 giờ sáng mới bò ra. Có lẽ họ đã tính sai
trong lúc bắn. Tôi thù ghét sự sai lệch này. Thiếu tá Mỹ cùng tôi sang gặp ông
Quận thật sớm để hỏi tin tức. Ông Quận cho biết là đêm qua xóm Chùa gần quận bị
pháo kích. Ông tỏ ra giận dữ vô cùng. Ông mời chúng tôi cùng đi thăm khu bị nạn.
Một mái hiên chùa bị sập, có hai trái rơi trúng nóc chùa và nổ tung ở bên
trong. Một số nhà bị trúng đạn, không ai chết cả vì dân ở đây cũng có hầm và đạn
bắn tới thuộc loại nhẹ. Một số người bị thương đã chở vào nhà thương quận.
Ông Quận vào chùa thăm các thày một cách ân cần, ông hứa sẽ cho người đến sửa
chữa. Ông cũng vào thăm từng gia đình bị nạn. Dân của ông đều theo đạo Hòa Hảo
và ăn chay trường. Ông tỏ vẻ tức giận và đau lòng lắm, ông trở lại chùa và quan
sát thật lâu những chỗ đổ nát. Thiếu tá Mỹ cũng đi thăm hỏi mọi người, ông nói
sẽ tìm cách giúp đỡ dân ở đây xây dựng lại nhà. Ông Quận nói với Thiếu tá Mỹ
“Dân xóm này là những người sùng đạo nên thù Việt cộng lắm. Hôm nay tụi nó pháo
kích trả thù”.
“Đại úy đã có biện pháp phản ứng nào chưa?”
“Ngay khi vừa dứt pháo kích, tôi đã ra lệnh cho đại đội Bảo an đi truy kích rồi”.
“Vậy sao? Nhưng sao Đại úy không cho tôi rõ từ sớm”.
“Thì bây giờ tôi cho Thiếu tá hay rồi còn gì. Chuyện nhà binh phải tính cho
nhanh. Cho Thiếu tá biết trước thì cũng thế”.
“Xin Đại úy hiểu rằng, chúng tôi không có ý định biết trước những lệnh của quận,
nhưng chúng tôi cần biết thật sớm để dễ giúp đỡ quận như việc xin trực thăng,
xin máy bay quan sát, tản thương v.v.”
“Đây chỉ là cuộc truy kích nhỏ thôi mà”.
“Nhỏ cũng là một cuộc đi diệt địch”.
“Thôi được rồi, lần sau sẽ hay”.
Đại úy tỏ ra khó chịu, ông vào trong chùa nói chuyện với các thầy. Thiếu tá Mỹ
đi vào các nhà bị nạn quan sát và hỏi đủ chuyện. Ông xem xét các hầm trú ẩn và
nhìn thật kỹ những cái bàn thờ.
Lúc trở về Quận, việc đầu tiên của Thiếu tá là gọi viên Trung sĩ y tá bảo hắn
soạn thuốc men đồ nghề sang nhà thương giúp một tay. Rồi ông gọi máy về báo
cáo, ông xin điện đàm với Đại úy phòng 5 MAC. V Tiểu khu. Họ nói với nhau:
“Hãy cho tôi ngay một số thực phẩm và những đồ cứu tế”.
“Không thể có ngay được”.
“Hãy cho tôi ngay, vì đây là dịp đặc biệt. Chỉ có dịp này tôi mới làm cho dân ở
đây bớt xa lạ với Ban Cố vấn. Phải có một số thực phẩm, quần áo, vải và những đồ
cứu trợ để cướp lấy dịp này. Chỉ có dịp này thôi”.
“Tôi sẽ cố gắng nhưng không thể có ngay được”.
“Phải có ngay, ba tháng đã qua tôi chưa làm được gì, vậy phải lợi dụng ngay dịp
này. Hãy cho tôi các thứ nội ngày hôm nay”.
“Không thể được”.
“Hãy cố, tôi đã nói chỉ có dịp này thôi. Phải cho họ ăn, để gây thiện cảm”.
“Được, tôi sẽ cố”.
Cuộc điện đàm dứt, Thiếu tá tỏ ra hài lòng. Ông lại rủ tôi sang nhà thương quận.
Tôi biết ông muốn nhân dịp này để tỏ rõ lòng tốt của họ đối với dân nghèo, ông
cũng muốn nhân dịp này để tung đồ ăn mà lấy lòng. Nhiều khi muốn cho ai theo
mình, họ phải làm cho kẻ đó khốn khổ rồi mới cứu. Thiếu tá Mỹ thật chưa phải
dùng cách đó.
° ° °
Buổi chiều, một chuyến trực thăng chở thực phẩm và sách báo hạ
xuống bãi đáp. Cả năm người Mỹ đều ra khiêng lên xe. Thiếu tá Mỹ tỏ ra hoan hỉ
lắm, họ mang mấy cái thùng giấy vào phòng soạn lại. Toàn đồ hộp, bánh kẹo, sách
báo, không có vải hay quần áo. Họ lại cho tất cả vào mấy thùng rồi chất lên xe.
Thiếu tá cùng tôi sang gặp ông Quận.
“Chúng tôi có một số đồ cứu trợ để giúp đồng bào xóm Chùa bị nạn”.
“Thật cám ơn quý ông”.
“Phiền Đại úy, có thể cùng đi hay cho một số nhân viên đến cùng chúng tôi để giới
thiệu những đồ cứu trợ của Mỹ với đồng bào”.
“Tôi sẵn lòng đi và sẽ cho vài người theo”.
“Thật tốt, chúng tôi đã sẵn sàng cả rồi”.
“Nhưng Thiếu tá có thể cho tôi biết những đồ cứu trợ đó có những gì không?”
“Gồm một số thực phẩm và sách báo”.
“Chỉ có thực phẩm và sách báo thôi à?”
“Vâng, chúng tôi mới chỉ có thế”.
“Thật phiền, những cái đó không ích lợi chút nào, và cũng không cần thiết cho
dân xóm Chùa lắm”.
“Tại sao?”
“Vì dân xóm Chùa của chúng tôi ăn chay trường, nghĩa là họ không ăn thịt cá và
nhiều thứ, vậy đồ ăn của quý Ban Cố vấn tặng họ chẳng dùng được đâu. Còn sách
báo… vâng, thì mang sách báo đến tặng họ vậy”.
Ông Thiếu tá Mỹ vỗ lên trán rồi thở dài. Ông nhìn ra ngoài sân quận, cái xe chở
đồ cứu tế và mấy người Mỹ đã ở cả đấy. Cùng lúc đó, toán Bảo an, Dân vệ đi truy
kích sáng nay đã về. Tất cả nhân viên trong quận đều ra xem. Họ bắt được bảy
người và giết chết hai người. Những người sống bị trói giật tay ra sau dẫn đi,
còn những người chết bị trói hai tay, hai chân vào nhau rồi xỏ một gậy tre vào
giữa để khiêng, như khiêng một con lợn. Tôi ra tận chỗ mấy người bị bắt và giết,
có hai khuôn mặt trẻ con, chừng 15 tuổi.
Buổi chiều xuống vàng đỏ cả một vùng, qua hàng rào quận, tôi thấy một con sông
nước đục.
° ° °
Họ lại pháo kích vào 5 giờ sáng. Lần này thì trúng quận. Tôi
cũng nhảy vào lô cốt với tên Hạ sĩ. Những tiếng nổ thật gần, những tiếng rít của
đạn xoáy trên không, tôi thấy, như nó đang rơi trên đầu, mà nó đang rơi trên đầu
thật. Một trái đạn đã trúng góc nhà Cố vấn Quận ngay sát lô cốt chúng tôi. Thân
thể tôi nảy tung lên rồi văng ra cùng với những mảnh đất vụn. Tôi nghe thấy tiếng
kêu của tên Hạ sĩ đen. Tiếp theo đó lại một tiếng nổ nữa sát ngay lô cốt, người
tôi lại rung lên cùng với một cái đau thật nóng ở đùi, và tôi cũng hét lên như
tên Hạ sĩ. Rồi tôi thiếp đi chập chờn, đạn vẫn còn nổ ở xung quanh, chưa thể ra
được. Tôi thấy đau ở chân và lại thiếp đi chập chờn. Hình như họ khiêng tôi đi.
Trời đã sáng hẳn, tôi nhận được tiếng la ó xôn xao từ ngoài sân, và tiếng Thiếu
tá đang gọi máy truyền tin. Họ đặt tôi và tên Hạ sĩ đen lên băng ca. Viên Trung
sĩ y tá đang săn sóc cho Hạ sĩ, còn Đại úy Nhật Bản và tên Trung sĩ nấu bếp lo
cái chân cho tôi. Thiếu tá đang xin trực thăng tải thương. Tôi không nhận rõ được
gì cả. Tên Hạ sĩ đen bắt đầu rên, tôi thấy nó bị băng ở vai và đầu. Bên ngoài
nhốn nháo lạ thường, tôi cố tĩnh trí để nghe cho rõ, tôi cố nghe xem có tiếng
trẻ con và đàn bà khóc chăng.
Nhưng không, chỉ có tiếng người xôn xao rầm rập. Không biết cái chân của tôi ra
sao. Tôi đã tỉnh lại dần, chỉ còn đau ở chân, và khô ở họng. Tôi ngỏ ý muốn uống
nước. Đại úy vàng cho một tách cà phê sữa đặc và một điếu thuốc.
“Không sao đâu, mảnh đạn xẹt qua chân trái, thế thôi”.
“Đã gắp ra chưa?”
“Nó chỉ xẹt qua, khỏi gắp, không có gì cả”.
“Tình hình quận ra sao?”
“Không có anh thì chúng tôi cũng mù tịt”.
Có tiếng Thiếu tá vọng lại:
“Mười phút nữa có trực thăng, bây giờ làm sao liên lạc với bên quận để hỏi xem
họ có người nào bị thương nặng không?”
“Thiếu tá cho gọi anh lao công hay bất cứ ai lại đây, tôi sẽ bảo họ về nói”.
“Được”.
Tôi lại thấy đau ở bắp chân, máu chạy rật rật ở chỗ đó. Một lúc sau có anh lao
công vào.
“Thế nào”, tôi hỏi, “tình hình ra sao?”
“Tôi cũng chưa biết rõ”.
“Anh về nói với Đại úy rằng mười phút nữa có trực thăng, vậy có cần chở ai về tỉnh
thì khiêng ra bãi”.
“Vâng”.
“Nhớ hỏi cho tôi xem tình hình ra sao nhé”.
Họ khiêng tôi ra bãi đáp trực thăng. Đại úy Nhật vẫn ở cạnh, ông có vẻ buồn.
Bên quận cũng khiêng ra mấy người. Ông Quận đến hỏi thăm tôi:
“Anh bị nặng không?”
“Không nặng lắm, Đại úy”.
“Thật bết”.
“Tình hình ra sao, Đại úy?”
“Tổn thất không quan trọng lắm, bốn người chết, mười hai người bị thương, kể cả
hai người bên Ban Cố vấn là mười bốn. Tôi rất buồn, ông mới về đây đã gặp rồi”.
“Tôi không sao cả. Có người dân nào bị không?”
“Có hai người đậu ghe sau lưng quận bị thương nặng”.
Đã có tiếng trực thăng bay từ xa, tôi nghe tiếng Thiếu tá Mỹ nói với viên y tá:
“Hãy xem bọn họ chết hay sống, nếu chết rồi thì bỏ lại”.
“Chúng nó gần chết cả”.
Khi chiếc trực thăng đáp xuống, tiếng động cơ làm điếc tai và hai cánh quạt làm
tung cát bụi, tôi được Đại úy Nhật Bản phủ kín bằng một cái chăn dạ nên không bị
dính cát, chỉ thấy gió tạt. Gió tạt quá mạnh. Rồi họ khiêng tôi đặt vào thân
máy bay, và sau đó toàn thân được nâng bổng lên trong gió.
° ° °
Miền Nam mùa mưa, ướt át và ẩm thấp. Cảnh sinh hoạt trong
Quân y viện dã chiến thật tiêu điều. Tôi nằm chung với ba người khác tại khu
ngoại thương. Vì bệnh viện hẹp mà số bị thương quá đông, ngày nào cũng chở tới,
giờ nào cũng chở tới, nên người ta phải dựng tạm một số nhà lá để chứa những bệnh
nhân không lấy gì làm trầm trọng, hay sắp xuất viện. Chân tôi không bị gãy
xương, không bị mảnh đạn phá nên thuộc loại nhẹ, nằm khu nhà lá. Tôi không chịu
nổi nơi đây, ban đêm những tiếng rên la hò hét, những cơn mê của người xung
quanh làm tôi mất ngủ. Tôi sợ những tiếng đó còn hơn những tiếng đại bác bắn đi
từ sân quận hay những loạt súng cối bắn từ xa tới. Không một y tá nào tử tế với
tôi hay với những bệnh nhân quanh tôi. Ai cũng phải than phiền, văng tục với những
y tá kiêu căng, lạnh nhạt và tàn nhẫn. Họ đã coi thân thể tôi như một vật vô
tri hay một con thú. Những gã đàn ông cộc cằn phách lối và những miệng đàn bà
cong cớn vô duyên. Họ cười đùa với nhau bên cạnh những tiếng rên la của người bệnh.
Họ chỉ sợ bác sĩ và những buổi thanh tra, những phái đoàn đến thăm. Tôi đã nằm
mấy ngày tại đây với lòng căm giận, sự chán nản và uất vô cùng. Bệnh nhân nơi
đây đều là người thuộc các đơn vị chiến đấu. Những người luôn luôn đối diện với
cái chết, những người mà báo chí, đài phát thanh luôn luôn gọi họ là anh hùng,
là chiến sĩ. Họ chỉ là anh hùng, là chiến sĩ khi ở xa và trong cái chết, còn về
đây họ chỉ là những cục thịt, thế thôi. Bây giờ thì tôi mệt, đầu óc hỗn loạn
nên không muốn ghi gì về cái nơi này nữa.
° ° °
Cơn mưa vẫn tầm tã bên ngoài. Sáng nay Thiếu tá Mỹ Cố vấn Quận
đã cùng một Đại úy Mỹ Cố vấn ở bệnh viện đến thăm tôi. Họ hỏi thăm tôi các thứ
và tặng một gói quà, tôi mở ra thấy một số kẹo bánh, mấy cuốn Play Boy cũ
và một cái radio nhỏ. Đấy là quà của Thiếu tá và Đại úy Nhật, có lẽ Đại úy cho
tôi cái radio. Bác sĩ Mỹ cho biết là tôi cũng sắp có thể xuất viện rồi. Tôi nói
là tôi rất mong đến ngày đó, tôi chán nơi đây. Tôi cũng định nói tất cả những
cái xấu của nhân viên bệnh viện nhưng lại thôi vì tôi nghĩ không cần nói với họ.
Tôi sẽ nói hẳn với bác sĩ trưởng hay viết hẳn lên báo. Nhưng cuối cùng tôi lại
nghĩ bỏ qua cho rồi. Tiếng kêu của tôi sẽ mất hút ngay, sẽ tan loãng ngay và mọi
sự sẽ đâu vào đấy. Thiếu tá Mỹ nói một câu trước khi ra về.
“Tôi mong anh sẽ chóng khỏi. Bây giờ chắc anh đã thù Việt cộng thật rồi và tôi
tin anh sẽ tình nguyện làm với chúng tôi. Anh sẽ trở lại quận và giúp tôi như
tôi mong muốn”.
Tôi không muốn trả lời câu nói đó, câu nói cuối cùng của ông ta đã làm mất hết
những tình cảm của gói đồ ông đã tặng tôi. Những thứ đó, tôi thấy, chẳng khác
gì những đồ cứu trợ mà ông cố xin để tặng xóm Chùa cho đúng lúc, kịp lúc. Như
ông đã nói “phải cướp lấy ngay dịp này”. Tôi không ăn chay, không điếc và cũng
không chê báo Play Boy, nhưng thật sự những thứ đó cũng chẳng khác gì những
bánh kẹo và đồ hộp tặng dân xóm Chùa ăn chay trường. Không tiêu hóa được. Ông
đã tính toán khi tặng quà tôi, nhưng ông đã chẳng tính gì khi nói câu cuối
cùng. Mất hết cả.
Sau cuộc viếng thăm đặc biệt của hai người Mỹ, những nhân viên trong bệnh viện
đã đối đãi khác hẳn với tôi. Một sự khác hẳn bần tiện. Không bao giờ họ chịu
làm với lòng họ cả, họ luôn luôn sợ những cái không đâu. Họ không xúc động trước
những tiếng rên la và nỗi đau khổ, nhưng họ sẽ cuống lên trước những tiếng la mắng
của cấp trên hay những cái sắp bị cấp trên la mắng. Bọn nó sẽ bị nô lệ suốt đời,
vì không làm việc với lòng mình, với tình nhân loại mà đúng ra họ phải có nhiều
hơn ai. Tôi đã nghĩ và muốn nói ra thật nhiều, nhưng thấy chẳng nên quan tâm
thì hơn, vả lại tôi cũng mệt. Buổi chiều, họ chuyển tôi sang phòng khác thuộc
khu nhà gạch cao ráo mát mẻ thoáng khí. Tôi khinh bỉ sự chuyển chỗ này. Tại sao
phải thế? Hãy để tôi lại chỗ cũ, hãy đối đãi với tôi như trước kia, như với mọi
người. Nằm cùng phòng với tôi là một người trẻ bị cưa chân, vết cắt chưa lành hẳn
nhưng anh đã khỏe và có thể nói chuyện được. Anh tỏ ra vui mừng khi có thêm
tôi:
“Nằm đây một mình buồn quá, cả tuần nay cái giường bên đó bỏ trống”.
“Sao họ không cho người khác vào, thiếu gì người còn phải nằm ghế bố ngoài hiên
kia”.
“Biết đâu được đó”.
“Anh nằm đây đã lâu chưa?”
“Cũng lâu, sắp khỏi rồi, đúng ra tôi phải xuống khu nhà lá nhưng vì quen y tá
trưởng nên được ở đây”.
“Vết thương ra sao?”
“Cưa đến đùi”.
Anh kéo cái ống quần xanh cho tôi xem một khúc thịt xám bôi thuốc đỏ.
Anh nắn vào chỗ thịt đắp và nói:
“Còn hơi đau thôi”.
“Đụng trận nào mà bị đó?”
“Đụng trận tôi đâu có ức. Tiểu đoàn tôi về học bổ túc tại trung tâm huấn luyện,
giờ chiến thuật dẫn lính đi thực tập, bị một trái TNT nổ ngay dưới chân”.
“Bị TNT mìn tập mà cũng phải cưa?”
“Bọn ở đây nó ẩu, lão y tá quen tôi nó bảo, chính ra vết thương của tôi có thể
cứu được, nhưng cách tiện nhất là cưa quách”.
“…”
“Vào phòng giải phẫu, nó cưa chân mình như chặt giò heo. Khu ngoại thương là
khu tang tóc và bi ai nhất. Đủ mọi thứ què cụt, cháy, máu mủ ruột gan bày ra cả
đống, như lò sát sinh”.
“Anh có hay đi lại trong này không?”
“Mấy ngày mới có nạng tôi cũng hay đi lại cho khuây nhưng về sau thấy cảnh tang
tóc quá nên lại sợ ra ngoài. Mình nằm đây là sướng rồi đấy, họ còn phải ngủ ghế
bố ngoài hành lang đợi có chỗ trống thì vào. Mỗi lần đi qua, bọn họ xin thuốc,
nhờ vả đủ thứ. Tụi y tá thật chó, không bao giờ nó giúp ai cái gì”.
Tôi muốn mượn cặp nạng của anh ta để đi quan sát một chút, nhưng lại thôi. Tôi
sợ cảnh máu mủ què cụt, tôi sợ những tiếng rên. Từ thơ ấu, tôi đã sống trong cảnh
đó nhiều rồi, không thể quen mà phải cố tránh. Trong cuộc sống này, tránh xa được
cảnh máu lửa người chết lúc nào là yên lòng lúc đó. Tôi mang bánh kẹo thuốc lá
ra mời anh bên cạnh, chúng tôi vừa ăn vừa nói mọi chuyện. Tôi kể cho anh những
ngày ở quận, còn anh ta kể lại những cuộc đụng trận ác liệt. Sau đó anh nói về
những cái riêng tư.
“Tôi sắp cưới vợ thì bị, khi được tin gặp nạn nàng có đến thăm nhưng tôi đuổi về.
Tôi đã bảo cắt đứt. Vợ sắp cưới của tôi ngồi khóc một hồi, để lại gói quà rồi về.
Từ đó không thấy nàng lại nữa. Chắc tôi bảo cắt đứt nên nàng không lại”.
“Còn gia đình anh?”
“Ở ngoài Trung. Bốn năm tôi chưa về, xa quá, đường đi khó và tốn tiền. Muốn về
thăm nhà một tuần phải để dành tiền trong một năm”.
“Anh có báo cho nhà biết không?”
“Không, họ buồn lo vô ích, rồi lại vào đây thăm nom tốn tiền lắm, khổ sở đói
khát đủ thứ. Tôi định khi nào ra hội đồng phế thải lãnh mấy chục phần trăm đó rồi
về luôn. Lúc đó cũng chẳng muộn. Khổ một điều, nếu đi lính mà bị cụt chân thế
này, tôi đâu dám về quê, về quê thì khổ với tụi nó, mà cha mẹ tôi lại ở tận
trong vùng tụi nó”.
“Anh có nhận được tin tức gia đình luôn không?”
“Vài tháng nhận được cái thư”.
“…”
“Dân làng tôi ngoài đó cực lắm. Làm thằng thanh niên còn cực nữa, hết né bên
này lại né bên kia. Cũng may tôi được học trên tỉnh, rồi đi lính. Thiệt, đi
lính còn sướng hơn sống ở quê”.
“Tôi không nghĩ thế”.
“Nếu anh về quê tôi anh sẽ thấy, đất khô dân nghèo, làm suốt ngày mới vừa đủ ăn
kham khổ. Lại còn bom đạn ruồng bố, lại còn bắt cóc dọa nạt. Đủ thứ cực lắm”.
“Và như thế, đi lính sướng hơn”.
“Thiệt thế, mình tuy cực, tuy nguy hiểm nhưng đứng hẳn về một bên. Có vũ khí tự
vệ, có lương hàng tháng. Đằng kia nghèo khổ, yếu đuối lại ở giữa, cực lắm”.
“…”
“Anh làm cho Mỹ sướng quá. Họ tử tế thiệt, anh vào đây mà họ đến tận nơi cho
quà. Ở đơn vị tôi, từ ngày vào đây đến giờ mới có hai con khỉ từ Trung đoàn
mang sách báo và xà bông đến cho. Chúng nó đi qua và ném những tờ báo vào giường
mình như bỏ báo tháng”.
“Tôi không biết là có sướng hay không?”
“Sướng thiệt chứ còn gì. Tôi sống cực quá rồi nên chỉ mong được yên thân và có
cái ăn”.
“Chừng nào anh ra”.
“Cũng sắp, nhưng tôi mong được ở đây lâu, ra bây giờ vất vưởng cực lắm”.
“Tôi lại muốn ra ngay”.
Thật ra thì khó hiểu nhau được lắm, mỗi người ở mỗi hoàn cảnh, mỗi nếp sống, họ
khác nhau nên quan niệm về sướng khổ cũng khác nhau. Nếu anh thương binh này được
làm chỗ tôi chắc anh sẽ ở mãi và làm tất cả những gì họ nhờ. Đó là những người
ông Thiếu tá cần đến.
Buổi tối, nằm buồn, tôi mang cái radio nhỏ ra nghe, câu đầu tiên lọt ra khỏi
máy “Các anh chiến sĩ thân mến của em...”. Tiếng cô ả nói liến thoắng lành nghề,
trôi chảy, cô ả đọc những tin chiến sự một cách uốn éo. Cô ả nhắc đi nhắc lại
những tiếng chiến sĩ, anh hùng, dũng cảm, vì dân vì nước, v.v. Rồi thỉnh thoảng
cao hứng cô ta lại tặng những người chiến sĩ oai hùng một vài bản nhạc mà cô ta
ưa thích. Tôi đã nghe cái mục này nhiều lần và thấy chẳng ra sao, lố bịch, bịp.
Khi tôi tắt máy, anh thương binh nằm cạnh tỏ vẻ tiếc, anh rất thích mục này,
anh còn nói với tôi rằng nếu anh có radio thì cũng chỉ nghe mục này mà thôi.
Tôi cho anh mượn cái máy với cả bộ dây nghe tai, tôi bảo anh hãy nghe bằng cái
đó và để tôi yên. Tôi nằm hút thuốc Mỹ, ăn kẹo Mỹ, xem những khối thịt đàn bà Mỹ
trần truồng trong hai quyển Play Boy, xem những quảng cáo tiện nghi của đời
sống Mỹ. Tôi hưởng tất cả những cái đó trong khi vẫn nghĩ đến mấy vụ bỏ bom Bắc
Việt và những ngày Tây đổ bộ càn quét trước kia.
Đêm đã quá khuya, tôi vẫn không ngủ được. Những tiếng rên la ở xung quanh, những
tiếng phản lực bay rít trên trời. Và thằng cha bên cạnh vừa la lên trong cơn
mê: “Đồ chó đẻ, tao biết mày sẽ bỏ tao mà, em bỏ anh để lấy chồng nguyên lành.
Bây giờ tôi là thằng cụt chân…”.
° ° °
Tôi xuất viện với 7 ngày phép của bác sĩ. Sau những ngày nghỉ,
tôi sẽ về thẳng Trung đoàn trình diện, tôi không muốn trở lại Tiểu khu nữa, tôi
không muốn gặp mấy ông Thiếu tá, Trung tá, Đại úy bên Ban Cố vấn Mỹ nữa. Không
hiểu sao tôi rất ngại gặp họ, mặc dù họ chưa có gì tỏ ra hà khắc với tôi. Tôi về
nhà bằng xe đò, qua hai cái phà và mấy khúc đường bị phá. Những cây cầu sập người
ta phải bắc tạm bằng những cây cầu nổi. Những người lính Công binh hì hục dưới
mưa. Những tiếng anh lơ xe hò hét. Những nơi kẹt xe một bầy trẻ con đàn bà gầy ốm
đen xanh ra bán quà, tiếng mời chào, cãi nhau váng óc. Tôi về đến nhà thì đã
quá trưa. Cả nhà mừng rỡ, chưa ai biết tôi bị thương, nên khi tôi đưa cái chân
với vết sẹo to còn đỏ cho mọi người xem, thì mẹ tôi khóc ngất. Bà cứ ngơ ngẩn
mãi và bữa chiều không ăn được cơm. Tôi hiểu bà nghĩ gì. Những năm tản cư, những
ngày chạy loạn mẹ tôi đã quá quen với bom đạn, đã quá quen với máu lửa và thân
phận con người, bà đã thấy nhiều cảnh rủi may, nhưng đến nay, chính con bà bị.
Tôi bị thương như một may mắn. Mẹ tôi nghĩ thế, tôi may là chỉ bị thương. Tôi
ăn cơm chiều, rồi đi tìm bạn bè tại những nơi thường hay đến, họ cũng đi cả rồi.
Những nơi chúng tôi vẫn đến, những quán chúng tôi vẫn tới, những đường phố
chúng tôi vẫn đi, bây giờ lại đổi khác. Quán cà phê được sửa chữa lại theo một
kiểu bài trí hợp người Mỹ, họ cao lớn nghênh ngang che khuất bóng những người
Việt Nam nhỏ bé. Bạn lãng đãng xa nhau, cuộc sống này bị chia lìa tất cả… Ở
thành phố này mức sống thay đổi nhiều, thay đổi một cách đua đòi bắt chước. Rồi
nó sẽ loang ra, loang mãi về các tỉnh nhỏ, các quận, các thôn, các xóm. Và những
cái gì là Việt Nam cũng sẽ khó tìm như đôi bàn chân Giao Chỉ. Tôi không biết đi
đâu, người ta đông quá và vội vàng chụp giựt. Người ta hối hả chen nhau ở mọi
nơi, bến xe, rạp hát, tiệm ăn, v.v. Cuộc sống chụp giựt. Tôi không biết tại sao
lại có thay đổi này. Ở đâu mang lại và ai muốn thế. Tôi chán nản, xa lạ ngay
trong thành phố mà tôi đã từng trưởng thành từ đó. Bạn bè rời xa, không có gì
giải trí cho hạng người như tôi. Hạng người bị bỏ quên trong cuộc sống này. Những
người được hưởng nhiều nhất ở đây là những người dùng nhiều nhất đến sức lực và
máu bọn trẻ. Nhưng họ không cho bọn trẻ nghỉ ngơi. Tôi trở về đây với một vết
thương còn đỏ và tôi muốn nhổ vào thành phố này. Tôi cũng muốn khóc cho vết
thương toạc máu để tỏ một nỗi buồn. Nhưng tôi không làm gì cả, tôi trở về với mẹ
tôi. Tôi nói chuyện với bà. Rồi ngủ.
° ° °
Tôi gặp lại một ông giáo ở Đại học, lúc ông đang làm một tờ
báo thuộc loại “đen” quay ronéo. Tôi xem một vài bài và thấy họ cũng đã nói được
nhiều cái cần phải nói. Tôi kể cho ông nghe một vài chuyện xảy ra tại các quận,
tôi cũng ngỏ ý với ông rằng tôi muốn bỏ luôn, bỏ luôn mấy người Mỹ và bỏ luôn
quân đội. Nhưng ông khuyên:
“Kể ra cứ đi với họ cũng chẳng sao. Anh hãy quan sát, ghi lại và mình là nhân
chứng”.
Tôi là chứng nhân, một chứng nhân của bi thảm hay một chứng nhân giữa những
viên thuốc bổ và bọn dân gầy.
° ° °
Tôi trở lại trình diện Trung đoàn, đơn vị gốc cũ. Ở Trung
đoàn người ta cũng hỏi tôi tại sao không về bên Phòng Cố vấn mà lại về đây. Tôi
đã nói rằng bị thương và thiếu khả năng làm việc bên đó. Họ trả lời còn phải hỏi
ý kiến bên đó xem sao. Sau, tôi được biết, có một số thông dịch viên từ Sài Gòn
mới bổ nhiệm về cho Ban Cố vấn Tiểu khu nên họ bằng lòng trả tôi lại đơn vị cũ.
Đại úy Trưởng phòng kêu tôi vào trình diện, ông nói:
“Đúng ra, anh mới bị thương tuy nhẹ, và trước kia anh cũng đã làm ở đây. Nhưng
vì mấy lúc này Bộ chỉ huy Trung đoàn rất thừa nhân viên, rất nhiều người ứ đọng
lại đây không làm một việc gì rõ rệt cả. Vậy bắt buộc tôi phải đưa anh đi một
Tiểu đoàn tác chiến”.
“…”
“Tuy nhiên, Tiểu đoàn này mới thành lập, còn yếu nên không giữ nhiệm vụ hành
quân mà hiện đóng đồn tại một khu dinh điền cũ”.
“Thưa Đại úy, tôi sẵn sàng đi”.
“Tôi muốn giữ anh lại đây lắm, nhưng kẹt. Vả lại anh cũng đã sướng hơn nhiều
người khác trong thời gian được biệt phái sang bên đó làm việc”.
“Thưa Đại úy, tôi không nghĩ như thế”.
“Chứ còn sao nữa, như thế là sướng rồi. Thiếu gì người muốn biệt phái qua đó mà
không được”.
“Thưa Đại úy, bao giờ tôi đi?”
“Anh cứ ở đây nghỉ tà tà, khi nào có chuyến liên lạc, tôi sẽ cấp sự vụ lệnh cho
anh”.
Tôi lại lang thang trên những phố nhỏ của tỉnh lỵ đó. Nơi đây, cuộc sống còn
yên, người ta ít chen nhau chụp giựt. Nơi đây, tôi đi mà còn thấy đi trong quê
hương mình. Nơi đây, tôi ít thấy bị lạc. Bộ Chỉ huy Trung đoàn và Tiểu khu cũng
gần nhau. Tôi cố tránh để không gặp những người Mỹ cũ. Tôi vẫn không biết tại
sao mình phải tránh họ. Mặc cảm bé nhỏ chăng, thù oán chăng, hay có một cái gì
mà tôi chưa rõ. Lý trí tôi chưa nhận rõ được, nhưng có lẽ tình cảm tự nhiên đã
kéo tôi xa rời họ, không gần được họ vì những việc thường xảy ra.
Ít nhất cũng phải ba ngày nữa mới có chuyến liên lạc, có khi kéo dài cả tuần.
Vì từ đây về chỗ tôi sẽ phải đến, cũng chỉ có một phương tiện độc nhất trực
thăng. Nhưng trực thăng phải xin bên Phòng Cố vấn Mỹ rất khó vì họ chỉ ưu tiên
cho những công vụ tác chiến chứ không quan tâm lắm đến những liên lạc tiếp tế
cho các đơn vị đóng đồn. Tôi cứ lêu bêu mãi ngoài phố, hết quán nước lại ra bờ
sông. Một người lính mà chưa có nhiệm vụ hay chưa ở hẳn một đơn vị nào, thì dễ
trở thành lang thang, la cà, những lúc đó họ có thể sẽ hành động không đẹp nếu
gặp điều gì trái ý. Lính Việt Nam, kể cả những cấp sĩ quan nhỏ, không thể nào
thuê mãi phòng ngủ để nghỉ ngơi trong suốt thời gian chờ đợi. Nhất là lúc này,
đời sống đang cao giá. Do đó, họ lang thang, lêu bêu, vất vưởng suốt ngày, rồi
đến tối chui vào một chỗ nào đó. Sáng hôm sau lại lang thang vất vưởng, cứ thế
kéo dài hai ba ngày, một tuần, nửa tháng. Tuy rằng, ở Trung đoàn và hậu cứ Tiểu
đoàn đều có chỗ ăn chỗ ngủ cho binh sĩ nhưng bao giờ cũng chật và đông. Tôi
đang là lính Việt Nam ít lương, và đã từng bị lang thang chờ đợi nhiều. Nên tôi
sợ những ngày như ngày hôm nay. Tôi loanh quanh, tính toán tìm chỗ ở. Tôi cần
nghỉ ngơi, tắm rửa và dưỡng cho cái chân. Sau cùng tôi tìm đến nhà lão già áp
phe, tuy không thích lắm. Ông ta có nhà, đang uống cà phê một mình tại phòng
khách. Tôi ngỏ ý trước:
“Đến sống nhờ ông mấy ngày”.
“Nhất rồi còn gì, ném đồ đạc vào đây rồi tắm rửa đi”.
“…”
“Nghe nói cậu bị thương, có nặng không?”
“Sơ sơ thôi”.
“Bây giờ ra sao?”
“Tôi trở lại đơn vị cũ”.
“Đơn vị cũ nào?”
“Tác chiến”.
“Thế cậu không làm cho bọn Mỹ nữa à?”
“Tôi xin về”.
“Này, đừng có gàn, thời buổi này đừng có anh hùng rơm, quân tử Tàu tức khí vặt.
Làm với tụi nó tôi biết là cậu cũng chẳng ưa gì nhưng còn đỡ hơn, chữ thọ vững
hơn và ít cực”.
“Tôi nghĩ kỹ rồi”.
“Kỹ cái khỉ mốc, đừng có nổi gàn mà khổ. Cậu đã biết đấy, làm với tụi nó tuy gặp
lắm cái bực thật, nhưng cũng dễ thở, mình không phải gần những quan An Nam răng
đen mã tấu, cổ cày vai bừa. Cậu mà đi đơn vị tác chiến, cậu sẽ gặp những thằng
cha đó, nó nhìn cái tướng của cậu là nó hầm bằng thích”.
“Đâu phải ai cũng thế”.
“Ông ơi! Tôi biết quá mà, tôi biết nhiều hơn ông mà. Vì thân, tôi khuyên cậu thế
thôi, còn không tôi đã vỗ tay hoan hô chiến sĩ dũng cảm rồi”.
“Ông làm tôi nản”.
“Nản là phải. Hãy trở lại với tụi nó, còn không bỏ mẹ nó bộ đồ trận ra khỏi người,
đi làm với tôi. Cậu đào ngũ rồi cậu làm ăn ngay tại đây cũng chẳng có thằng nào
đụng đến cậu. Tôi quen hết mọi lão to đầu, tôi bảo đảm”.
Ông ta làm tôi nản, băn khoăn khó nghĩ. Tôi sợ tiếp xúc, làm việc bên cạnh mấy
người Mỹ thực, nhưng tôi cũng rất sợ phải ở dưới quyền mấy sĩ quan thuộc cái loại
“răng đen mã tấu” đã từng đi lính cho Tây, bây giờ vẫn còn hách. Có phải họ sẽ
không ưa gì những lớp trẻ như tôi? Có phải đã có những hố chia rẽ giữa cùng một
quân đội Việt chỉ vì kiến thức và cuộc sống? Có phải những đơn vị tác chiến
không làm người ta gần gũi nhau trước cái chết mà chỉ là chỗ để đầy ải nhau.
Tôi không biết, nhưng thực sự nản quá rồi. Tôi nghĩ đừng nên đến đây, và tôi
cũng nghĩ từ nay chẳng nên gặp lão già biết nhiều chuyện này. Hắn biết toàn những
cái làm tôi hoang mang.
° ° °
Tôi đến trình diện đơn vị mới cùng với một số tân binh quân dịch.
Năm chuyến trực thăng liên tiếp trong ngày. Vùng hoạt động của đơn vị tôi là một
khu trù mật cũ nay bị mất an ninh. Chúng tôi có nhiệm vụ canh giữ hai khẩu đại
bác đặt tại đây, an ninh xung quanh và đôi khi mở đường cho những chuyến liên lạc
dọc theo sông. Thật ra không có gì, lính nhàn rỗi. Thiếu tá K. Tiểu đoàn trưởng
cũng là người mới đến, nghe đâu ông bị đổi từ một quân trường về đây. Tất cả
chúng tôi đã trình diện ông ngay khi các chuyến bay vừa dứt. Thiếu tá K. người
to lớn, đen sạm, đầu hớt cao. Ông nói với tất cả về cuộc sống ở đây, nhiệm vụ mỗi
người và quân phong quân kỷ. Sau đó, ông cho tan hàng và gọi tôi vào trình diện
tại văn phòng.
“Tôi đã được thông báo về trường hợp của anh, và tôi cũng mới nhận được một
công điện từ một Trung đoàn gửi xuống. Anh sẽ làm việc tại đây bên cạnh tôi với
hai nhiệm vụ, thứ nhất coi ban tâm lý chiến, thứ hai làm thông dịch viên cho
tôi. Chỉ có thế”.
“Thưa Thiếu tá…”
“Tôi hiểu…”
“Thưa Thiếu tá, thật ra tôi không biết gì về tâm lý chiến cả. Và nhất là tôi
không thể làm thông dịch viên được nữa”.
“Về tâm lý chiến thì chẳng có gì, anh sẽ có tài liệu đọc. Còn thông dịch, đó là
lệnh của Trung đoàn mới gửi xuống. Ở đây có một Ban Cố vấn Mỹ, họ cần liên lạc
với chúng tôi, nhưng thiếu người thông dịch viên nên họ đã về xin Trung đoàn,
xin lâu lắm rồi, bây giờ Trung đoàn tạm cử anh”.
“Thưa Thiếu tá, cũng vì không muốn làm thông dịch viên nữa nên tôi mới xin đổi
về đây. Tôi không chịu nổi việc đó. Tôi không thể cứ sống chung với họ, tôi
không kham nổi…”
Tôi đã nói tất cả với Thiếu tá K. về những ngày ở các quận, những cái mắt thấy
tai nghe, những cảm nghĩ. Tôi chẳng cần gì cả, tôi nói hết. Thật ra tôi muốn đi
các đại đội bên ngoài hơn là phải coi về tâm lý chiến và làm thông dịch nơi
đây. Thiếu tá K. đã nghe tôi rất kỹ, ông tỏ ra khó xử về trường hợp của tôi.
Ông nói:
“Tôi hiểu, nhưng đây là lệnh ở Trung đoàn, anh cứ tạm nhận lấy rồi tính sau.
Hơn nữa, tôi muốn nói để anh rõ là anh sẽ làm cạnh tôi chứ không phải cạnh Cố vấn
Mỹ. Tôi không biệt phái anh sang đó, mà chỉ nhờ đến anh mỗi khi có việc. Anh
yên tâm, tôi hiểu mà”.
Tôi không biết ông ta hiểu cái gì và ra sao, nhưng thật, tôi nản nhiều ngay từ
hôm nay.
° ° °
Ban Cố vấn Mỹ tại đây gồm hai sĩ quan, một Đại úy da đen, một
Trung úy, một Trung sĩ và một Hạ sĩ. Viên Đại úy da đen là Cố vấn trưởng. Hôm
nay, Đại úy Mỹ sang gặp Thiếu tá K. để bàn về tất cả những gì mà từ trước đến
nay chưa thể bàn được. Trước hết Đại úy Mỹ hỏi:
“Tôi rất mừng là Tiểu đoàn ta đã có người thông ngôn, nhưng thắc mắc là tại sao
Thiếu tá không biệt phái hẳn người này sang làm việc bên cạnh tôi”.
“Không được, vì anh ta thuộc quân số Tiểu đoàn, nên phải có nhiệm vụ khác ngoài
thông dịch, thông dịch là phụ”.
“Tôi cũng nhận được thông báo từ Cố vấn Mỹ Trung đoàn rằng anh ta sẽ làm với
tôi”.
“Cái đó, tôi không rõ”.
“Thôi được, tôi sẽ điều chỉnh sau. Nhưng mong Thiếu tá hiểu, chúng tôi rất cần
thông dịch viên để biết rõ mọi sự ở đây, để tiện liên lạc và giúp đỡ những gì cần”.
“Tôi hiểu, nhưng chúng tôi cũng thiếu người lắm”.
“Thôi được, bây giờ sang chuyện khác. Chúng tôi cần một binh nhì để làm những
việc nhỏ lặt vặt như quét nhà, đánh giày, dọn giường, lấy nước, v.v. Thiếu tá
có thể cho chúng tôi một người không?”
“Rất tiếc không thể giúp các ông được, vì chúng tôi phải phân phối người theo bảng
cấp số. Theo đó không có người binh sĩ nào được dùng để hầu hạ Cố vấn Mỹ cả”.
“Tại sao các đơn vị khác có?”
“Tôi không biết, có lẽ do cảm tình riêng của Đơn vị trưởng với Ban Cố vấn, còn
tại đây ít người quá, nên bắt buộc tôi phải theo đúng bảng cấp số. Vả lại, quý
ông có thể dùng binh sĩ của quý ông vào việc đó”.
“Chúng tôi không có binh nhì, chỉ có một Hạ sĩ cũng là Cố vấn. Tôi nghĩ Thiếu
tá nên dễ dàng với chúng tôi, vì dù sao chúng tôi cũng ở đây với tính cách Cố vấn
và mục đích là giúp đỡ Thiếu tá về mọi mặt. Chúng tôi không thể làm những việc
quá nhỏ mọn”.
“Tôi không hiểu ý Đại úy. Chỉ xin nhắc lại, chúng tôi không bao giờ thừa người
cả”.
“Tôi rất buồn về chuyện này, một việc nhỏ mà chúng ta có thể giúp lẫn nhau dễ
dàng”.
“Một người lính không phải là nhỏ, Đại úy hiểu cho”.
“Thôi được, nhưng Thiếu tá có thể cho tôi biết rõ người tài xế”.
“Tài xế nào?”
“Chúng tôi có một chiếc xe Jeep, chưa có tài xế. Vậy Thiếu tá thử xem bảng cấp
số chúng tôi có được quyền dùng một tài xế không?”
“Theo nguyên tắc, thì mỗi xe đều có tài xế”.
“Nay chúng tôi chưa có, vậy Thiếu tá cho một người”.
“Tôi cũng rất tiếc, không thể làm vui lòng Đại úy, vì cái xe Ban Cố vấn hiện
dùng không phải xe của Tiểu đoàn dành cho, nên Tiểu đoàn không thể cung cấp tài
xế được”.
Tôi vừa dịch hết câu thì viên Đại úy Mỹ nổi nóng ngay. Ông ta đứng dậy nói lớn:
“Goddam it!... Thiếu tá cố tình làm khó tôi mọi sự. Chúng tôi đến đây để giúp
Thiếu tá những chuyện lớn, mà Thiếu tá đã làm khó chúng tôi từ những chuyện nhỏ”.
“Đại úy không có quyền nổi nóng (Thiếu tá K. mặt đanh lại gằn giọng). Tôi làm
việc theo đúng nguyên tắc, không cảm tình riêng, không nể, không sợ. Các ông
sang đây giúp, chúng tôi cảm ơn, nhưng không vì thế mà thỏa mãn mọi sự các ông
yêu cầu. Không có chuyện nào là nhỏ cả. Một người lính không phải là nhỏ. Tôi
quý lính của tôi, mong Đại úy hiểu”.
“Tôi biết, tôi biết. Thật ra còn nhiều việc muốn bàn với Thiếu tá, nhưng hôm
nay không tiện, xin hẹn bận sau”.
Viên Đại úy Mỹ bỏ về, hai bên không chào nhau. Thiếu tá K. vẫn ngồi yên trên ghế.
Ông quay sang nói với tôi:
“Anh thấy đấy, họ coi một binh sĩ mình là nhỏ. Tôi không thể giống như các ông
đơn vị trưởng khác, cung cấp cho họ bất cứ gì họ muốn. Nhiều nơi có hai người Mỹ
mà có đến năm binh sĩ Việt phụ giúp xung quanh. Cho nó báo cáo, tôi không cần.
Cứ đúng mà làm. Sở dĩ tôi bị đẩy về đây cũng chỉ vì xích mích với họ. Như thế đấy!”
° ° °
Viên Trung úy Mỹ sang gặp Thiếu tá K. để hỏi về số thuốc của
Ban Quân y hiện có. Thiếu tá K. không trả lời mà chỉ nói:
“Mọi sự về Quân y, xin hỏi Ban Quân y”.
° ° °
Cuộc hành quân mở đường dọc theo bờ sông đúng ra phải khởi
hành từ 6 giờ sáng, nhưng đến 8 giờ mới có tàu bay quan sát, nên phải hơn 8 giờ
những cánh quân đầu mới được lệnh lên đường. Viên Đại úy đen và anh Hạ sĩ Mỹ
cùng đi chuyến này. Họ lại phía chúng tôi. Đại úy Mỹ giơ tay chào Thiếu tá K.,
còn anh Hạ sĩ giương mắt nhìn, lấy thuốc hút. Đại úy Mỹ hỏi:
“Tại sao lại chậm trễ thế, Thiếu tá?”
“Vì không có phi cơ quan sát nên chúng tôi không thể đi”.
“Tại sao lại không có phi cơ quan sát?”
“Cái đó hỏi Sư đoàn”.
“Nếu Thiếu tá cho chúng tôi biết sớm, tôi sẽ can thiệp để có ngay”.
“Cám ơn Đại úy. Chúng tôi nhận được lệnh hành quân là thông báo ngay cho Đại
úy, còn việc phi cơ quan sát là do Phòng 3 Trung đoàn lo”.
“Tôi hiểu, nhưng khi nhận được lệnh hành quân, Thiếu tá có thảo kế hoạch hành
quân với các sĩ quan Tham mưu không?”
“Có”.
“Tại sao Thiếu tá không cho chúng tôi cùng dự vào đấy, tôi nghĩ một số sĩ quan
Cố vấn không phải chỉ để xin tiếp liệu, thuốc men, hay trực thăng. Chúng tôi muốn
được dự vào những việc mà chúng tôi có thể dự”.
“Đại úy hiểu lầm rồi, không bao giờ chúng tôi quên quý ông Cố vấn. Nhưng việc
bàn soạn kế hoạch hành quân là của riêng Ban Tham mưu đơn vị tôi. chúng tôi đã
thông báo cho Đại úy sau khi đã hoàn tất kế hoạch và lúc đó, nếu có điều chi thắc
mắc Đại úy sẽ hỏi”.
“Tôi biết, nhưng tôi không thể hỏi gì được khi mà Ban 3 của Tiểu đoàn chỉ báo
cho tôi là: “Ngày mai 6 giờ hành quân”, thế thôi!”
“Đó là tại Đại úy không có câu hỏi”.
“Mong Thiếu tá hiểu cho điều này, rằng tôi phải báo cáo lên trên tất cả những
gì xảy ra trong đơn vị. Một cái gì bên Việt Nam biết thì Ban Cố vấn Mỹ cũng phải
biết”.
“Bây giờ Đại úy muốn biết gì?”
“Trước hết, tôi muốn biết quân số hành quân hôm nay, có mấy đại đội?”
“Cái đó, Đại úy hỏi Ban 3”.
“Goddamn it…”
Thiếu tá K. quay ra gọi máy truyền tin, trong khi Đại úy Mỹ nhún vai nói với
tên Hạ sĩ:
“Fuckle it… Tao sẽ gặp khó khăn hay hắn sẽ gặp khó khăn”.
Anh Hạ sĩ Mỹ, vai đeo máy truyền tin, miệng ngậm thuốc cười khinh khỉnh.
Khi tất cả mọi thành phần đã đến vị trí, Thiếu tá K. cho lệnh đặt Bộ Chỉ huy tại
mé sau chùa Cao Đài. Rồi Thiếu tá cùng mấy sĩ quan đi sâu vào làng, hai người Mỹ
và tôi ở lại. Họ không nói chuyện với nhau. Viên Đại úy đứng chống nạnh hút thuốc,
còn viên Hạ sĩ dựa lưng vào máy truyền tin ngồi nhai kẹo cao su. Tôi nhìn họ và
thấy một cái gì xa lạ, không phải chỉ có tôi với hai người đó, mà có thể chính
hai người đó cũng xa lạ với nhau.
Khi Thiếu tá K. cùng mấy sĩ quan trở về, Đại úy Mỹ có vẻ tức lắm, ông ta lại gần
Thiếu tá hỏi gay gắt:
“Phải chăng Thiếu tá muốn bỏ rơi tôi?”
“Đại úy lầm”.
“Tại sao Thiếu tá chỉ cho tôi một chỗ rồi cùng nhau bỏ đi”.
“Đại úy nói gì thế, tôi đã đặt Bộ Chỉ huy tại đây và Đại úy cũng ở lại đây mà”.
“Các ông để tôi ở lại đây rồi bỏ đi, nếu có chuyện gì xảy ra thì sao?”
“Tôi phải đi quan sát địa thế và thăm dân trong làng”.
“Tại sao Thiếu tá không thể cho tôi cùng đi?”
“Vô ích, Đại úy đi cũng thế mà thôi”.
“Tôi cần được đi”.
“Tôi không thể đi cùng với một sĩ quan Cố vấn Mỹ vào làng thăm dân được”.
“Tại sao?”
“Lý do tâm lý và chính trị”.
“Là sao?”
“Tôi không muốn người dân hiểu lầm, tôi không muốn người dân ngượng ngập, e dè
khi nếu tôi đi cùng Đại úy”.
“Thiếu tá phải giải thích cho họ để họ khỏi e dè chúng tôi. Mà tại sao họ e
dè?”
“Giải thích cho dân khỏi e dè người Mỹ là việc của Dân sự vụ. Còn tại sao người
dân tôi lại e dè trước người Mỹ là do ở hậu quả của những năm đô hộ Pháp”.
“Tôi không hiểu”.
“Vấn đề không dễ để Đại úy hiểu”.
“…”
“Tôi sẽ nói chuyện với Đại úy nhiều khi có dịp, bây giờ tôi còn bận lắm”.
Thiếu tá K. ra phía truyền tin gọi máy về Trung đoàn báo cáo.
Đến giờ ăn, tất cả sĩ quan đều ăn cơm chung tại các bàn đặt ở mé hiên chùa. Thiếu
tá K. đến mời Đại úy Mỹ cùng ăn. Cả Đại úy và Hạ sĩ Mỹ đều đến, khi tên Hạ sĩ
đã ngồi vào bàn rồi, Thiếu tá K. mới nói:
“Đây là bếp sĩ quan nên Hạ sĩ Mỹ không được quyền ngồi ăn chung. Nếu muốn, Hạ
sĩ có thể sang ăn cùng binh sĩ”.
Cả hai người Mỹ đều có vẻ ngạc nhiên không hiểu. Họ nói với nhau:
“Thằng cha này cố tình làm mất mặt tụi mình. Nó không dành một ưu đãi nào cho Cố
vấn cả”.
Thiếu tá K. mời tất cả ăn và nói lớn:
“Ở đơn vị tác chiến, không có gì phải gượng nhẹ cả”.
Ngay đang bữa ăn thì có tiếng súng nổ ở xa, một tràng tiểu liên và mấy tiếng đạn
rời cùng với một tiếng nổ lớn của mìn hay lựu đạn. Rồi sau đó nhân viên Truyền
tin đến mời Thiếu tá ra đàm thoại máy. Khi Thiếu tá trở về, ông cho biết:
“Có một người bị thương”.
“Vậy phải xin tải thương gấp”.
“Nó giẫm phải mìn có lẽ nặng”.
“Đại úy xin giúp cho một cái trực thăng tải thương”.
“Tôi sẵn sàng, nhưng theo nguyên tắc thì phải khiêng người bị thương về đây cho
tôi xem vết thương có đủ nặng để phải gọi trực thăng không đã”.
“Ngoài Đại đội báo cáo rằng hắn đạp phải mìn gãy chân, vậy là nặng rồi còn gì”.
“Tôi không tin báo cáo ngoài Đại đội, hãy bảo họ khiêng người bị thương về đây,
tôi xem rồi sẽ gọi trực thăng”.
“Thôi được”.
Thiếu tá ra lệnh cho gọi về Trung đoàn báo cáo, xin tải thương, đồng thời cũng
ra lệnh cho khiêng nạn nhân về Bộ chỉ huy.
Một giờ sau nạn nhân mới được khiêng về Bộ Chỉ huy, và ba tiếng đồng hồ sau nữa
mới có máy bay tải thương. Lúc đó người bị thương đã chết.
Tôi nhìn vào cái xác đầy máu me đặt tênh hênh giữa bãi cỏ khô trước cửa chùa.
Không có gì đắp lên thân thể anh ta. Mấy y tá sau khi băng bó đã quay vào ngồi
dưới gốc cây gần đó nói chuyện cười sặc sụa. Từng luồng gió thổi những đợt cát
phủ lên người anh. Đó là thân phận đen, tủi của người cầm súng, sau khi đã
không còn cầm được súng nữa.
° ° °
Cả tháng nay không có một tiếp xúc nào giữa người Mỹ và Việt.
Thiếu tá K. vẫn nghiêm khắc nhưng hòa nhã với nhân viên của ông. Thiếu tá cũng
hay nói với tôi về nhiều chuyện. Ông kể khi còn là một Đại đội trưởng thời Tây
ông cũng về làng đốt nhà, bắn giết lung tung nên bây giờ thấy nản và hối. “Tôi
không ham gì làm Tiểu đoàn trưởng, tôi chán chém giết rồi, tôi muốn được yên
thân”. Ông cũng đã kể là trong thời Tây, khi hành quân vào một làng qua nhà một
người ông ghét, ông đã ra lệnh đốt hết khu đó và mang tất cả ra bắn bỏ. “Có một
bà già bằng tuổi mẹ tôi chạy ra ôm lấy chân tôi van xin kinh Lạy Cha cũng bị
tôi đá một cái vào lưng… bà lão lăn ngay ra chết. Cái chết đó làm tôi ngừng tất
cả chém giết, nó ám ảnh tôi là một sĩ quan “khá” nữa. Nếu tôi cứ tiếp tục chém
giết từ ngày đó đến giờ, chắc phải lên đến tướng. Tôi có tiếc gì đâu”. Thiếu tá
K. còn kể cho tôi nghe nhiều chuyện, những chuyện mà tôi tự hỏi là tại sao ông
lại đem kể với tôi.
Trong thời gian này, Thiếu tá K. đã nghĩ ra một chương trình rất đẹp, là ông
sai lính đi chặt cây về làm một phòng rộng ở góc trại để mở lớp học cho các
binh sĩ chưa biết chữ. Bởi vì đơn vị chúng tôi đang đóng đồn, cả Tiểu đoàn gồm
bốn Đại đội đóng rải rác không xa nhau lắm trong một khu trù mật của trại khá rộng,
có kẽm gai, bãi mìn và gia tăng hào vây quanh. Ngay chính giữa là hai khẩu đại
bác và với phân đội Pháo binh. Chỉ có Đại đội chỉ huy được đóng trong trại. Văn
phòng của Thiếu tá K. đặt tại một góc, còn Cố vấn Mỹ ở góc bên kia. Bên cạnh
phòng Cố vấn Mỹ có một Trung đội, một vọng gác và một khẩu súng cối. Căn phòng
học được dựng lên cùng một phía với văn phòng Thiếu tá K., Thiếu tá K. ngủ và
làm việc tại cùng một chỗ, ông sống lặng lẽ, xa cách, buồn tẻ. Chỉ có bữa ăn và
buổi họp ông mới ngồi cùng với các sĩ quan trong đơn vị, còn ngoài ra tôi không
thấy ông chuyện trò, nhậu nhẹt hay đánh bài với ai khác. Khi phòng học cất xong
ông cử tôi sang các Đại đội tìm kiếm những người không biết chữ và bắt buộc họ
phải đến học mỗi ngày 2 giờ, trừ những ngày hành quân và Chủ nhật. Ngoài ra Thiếu
tá K. còn tỏ ra luôn luôn săn sóc đến tinh thần binh sĩ. Ông cho họ đi phép rất
đều và có thưởng phạt công minh. Một điều nữa là chưa bao giờ ông đánh đập binh
sĩ, và hình như ông cũng đã khuyến dụ các sĩ quan dưới là không được chà đạp
lính của họ.
Ở những ngày đầu này, Thiếu tá K. đối với tôi là một vị chỉ huy đáng quý. Ông
có vóc dáng của một “thằng cha răng đen mã tấu” như lão già áp phe nói với tôi
nhưng quả ông là một vị chỉ huy sạch nhất kể từ ngày tôi vào lính.
° ° °
Buổi khai mạc lớp học mù chữ được diễn ra thật giản dị. Thiếu
tá cho mời tất cả các sĩ quan Đại đội và Tham mưu cùng Đại úy Mỹ đến dự. Trước
mặt tất cả, Thiếu tá nói về tai hại của nạn mù chữ, rồi sau đó ông tặng mỗi học
viên một cuốn sách tập đọc, một cuốn tập viết và một cái bút chì. Khi giao cho
tôi hướng dẫn lớp học này, Thiếu tá K. đã nói:
“Tâm lý chiến là đây này, không cần gì phải giảng thuyết cho dân họ đâu xa, cứ dạy
cho biết chữ đã”.
Đại úy Cố vấn Mỹ cũng nói:
“Nếu tôi được biết trước, tôi sẽ liên lạc với Phòng 5 Sư đoàn để xin một ít
sách tặng binh sĩ”.
“Cám ơn Đại úy, nhưng cái đó không cần lắm”.
“Vậy ngoài cái lớp học này ra, Thiếu tá nên tổ chức một lớp học Anh ngữ cho mọi
người, tôi sẽ cung cấp sách vở đầy đủ”.
“Cám ơn Đại úy. Binh sĩ chúng tôi chưa cần học Anh ngữ làm gì, họ còn nhiều cái
khác phải học”.
“Hay mở riêng cho các sĩ quan một lớp”.
“Có lẽ cũng chưa cần lắm”.
“Tôi nghĩ là cần, vì tất cả mọi sĩ quan phải biết tiếng Anh, để dễ liên lạc với
chúng tôi”.
“Muốn liên lạc với quý ông, họ đã có thông dịch viên. Ngoài ra nếu họ muốn, họ
có thể tự học lấy. Tiểu đoàn không thể nào tổ chức lớp học Anh ngữ được”.
“Vì Thiếu tá không muốn?”
“Vâng, tôi không muốn, vì còn nhiều việc phải làm”.
Tôi trở vào bắt đầu lớp học. Thật không còn gì đẹp hơn những khuôn mặt chai đá,
sạm nắng và dữ dằn bây giờ ngồi hiền lành đọc chữ a, chữ u. Cũng
không gì đẹp hơn những ngón tay xương xẩu gân guốc đang run run quặp chặt cây
bút chì. Nếu tâm lý chiến là đây, thì tôi bằng lòng nó.
° ° °
Thiếu tá K. ra một nhật lệnh cho tất cả mọi quân nhân trong
đơn vị:
“Xét vì có một số binh sĩ trong lúc gác vẫn mở radio nghe, làm chểnh
mảng sự chú ý và lộ mục tiêu như thế nguy hại cho an ninh chung, vậy từ nay cấm
tất cả quân nhân các cấp không được mở radio nghe quá 12 giờ đêm. Bất
tuân sẽ bị phạt”.
Ông cũng nhờ tôi dịch sang tiếng Anh để thông báo cho Cố vấn Mỹ và “yêu cầu thi
hành”.
Khi nhận được nhật lệnh trên, Đại úy Mỹ cười lớn, ông nói với mọi người:
“Chúng tôi có phải là lính của Thiếu tá đâu”.
° ° °
Vào quá 10 giờ đêm, đột nhiên bên kia sông có tiếng loa kêu gọi.
Tiếng loa vẫn truyền đi trong gió nghe không rõ, chỉ biết rằng đó là những lời
kêu gọi, những bài hát, những câu thơ. Thiếu tá K. đứng ở cửa căn phòng nhìn
sang bên đó, xung quanh ông các sĩ quan đang bàn tán lao xao. Thiếu tá nói:
“Không có gì đâu, nó nói chán rồi thôi, trời gió, lính cũng chẳng nghe thấy mà
sợ gì”.
Một lúc sau Đại úy Mỹ sang gặp Thiếu tá, dáng điệu hớt hải, hắn vung tay lên trời:
“Tại sao không bắn? Tại sao Thiếu tá không bắn súng cối sang bên đó? Thiếu tá
không có phản ứng nào sao”.
“Không, việc gì phải bắn, Đại úy không biết gì hết, không có gì cả”.
“Sao lại không, chúng nó hiện ra như thế, Thiếu tá để yên mà xem à, phải bắn
súng cối sang bên đó”.
“Tôi nói để ông rõ, ông không biết gì hết, ông không biết một tí gì về Việt cộng
hết; còn tôi đã lăn lóc nhiều với loại đó rồi. Nếu bây giờ tôi bắn sang chừng
20 quả súng cối, thử hỏi có giết được chúng nó không. Chắc chắn là không, tôi
biết quá rõ. Chỉ có chừng hai đứa nấp dưới hố hay trên ngọn cây nói vọng sang
mà thôi. Nếu bắn sang chỉ chết dân vô ích. Tôi không muốn giết hại dân tôi, tôi
không muốn phí. Bắn sang bây giờ là mắc mưu chúng. Cứ lờ đi chúng sẽ chán thôi.
Súng cối bắn sang chỉ vào nhà dân chứ khó mà vào đầu chúng. Đại úy hiểu?”
“Tôi không cần hiểu gì hết, địch xuất hiện là phải có phản ứng. Thiếu tá nên rõ
tôi cũng dự nhiều trận rồi. Từ Miến Điện đến Cao Ly, tôi cũng ở quân đội mười mấy
năm rồi, tôi không phải thứ lính lười nhát cứ ngồi cho địch tấn công”.
Đại úy nói xong hùng hục chạy về chỗ ở. Một lúc sau, tôi nghe thấy hàng loạt Tiểu
liên bắn sang bên kia sông rồi tiếp theo là những quả lựu đạn phóng. Binh sĩ đổ
xô về phía chòi Cố vấn Mỹ. Thiếu tá K. cũng lại đó, ông quát mọi người về vị
trí của mình. Chúng tôi đứng xem bốn người Mỹ hùng hổ đội mũ sắt thủ thế bắn
như điên sang bên kia, trong khi đó tiếng loa vẫn vọng sang đều đều. Sau cùng
Thiếu tá K. yêu cầu thôi bắn, ông nói với Đại úy Mỹ đen:
“Đại úy không được quyền bắn như thế. Trong mỗi đơn vị chỉ có một chỉ huy. Tôi
là Chỉ huy trưởng đơn vị này, vậy chỉ có tôi mới được quyền ra lệnh khai hỏa. Đại
úy đã quá lố rồi đấy”.
“Tôi không phải là lính của ông. Chúng tôi là Cố vấn, chúng tôi có quyền bắn để
tự vệ. Phải chăng là Thiếu tá muốn bọn đó tràn sang đây tấn công chúng tôi”.
“Theo nguyên tắc, tôi chỉ huy ở đây và tôi chịu trách nhiệm về an ninh của các
Cố vấn. Nếu cần phải khai hỏa để bảo vệ các ông thì chính tôi đã phải ra lệnh
cho các binh sĩ nổ súng rồi. Các ông không thể quá lộng hành ở đây”.
“Chúng tôi phải tự vệ, tôi đã yêu cầu Thiếu tá bắn sang bên đó nhưng ông từ chối
tình hình chính chúng tôi phải làm để tự vệ. Chúng tôi không phải là một quân đội
hèn nhát ngồi chờ địch giết mình, và nhất là chúng tôi không tin ở sự bảo vệ an
ninh của bất cứ ai. Chúng tôi có súng, có đạn, có kinh nghiệm, chúng tôi phải
dùng để tự vệ chứ”.
“Đấy không phải là tự vệ, đấy là tấn công. Các ông đã tự ý tấn công địch mà
đúng ra là phải có lệnh tôi, do đơn vị tôi đảm trách. Các ông là Cố vấn và chỉ
khai hỏa để tự vệ, mà thôi, hãy nhớ lấy”.
“Tôi không cần biết, khi chúng nó còn nói, chúng tôi còn thấy bị đe dọa, chúng
tôi vẫn tiếp tục bắn. Thiếu tá cứ việc ngăn cản hay cứ việc báo cáo”.
Nói xong Đại úy Mỹ lại trở vào vị trí, ông ra lệnh cho ba người Mỹ kia sẵn
sàng. Nhưng tiếng nói bên kia đã dứt. Nghe ngóng một hồi, Đại úy Mỹ ra lệnh bỏ
súng. Họ nói với nhau:
“Chính chúng ta đã làm bọn đó câm họng”.
Sau đó mọi sinh hoạt lại trở về như cũ. Tôi thấy trên khuôn mặt Thiếu tá K. một
nỗi buồn cam chịu.
Theo tin báo cáo thì vụ bắn đêm qua của người Mỹ đã làm chết hai người đàn ông,
một đàn bà và mấy người khác bị thương. Họ bị trúng đạn vì đang thả câu và đi
thuyền trên sông, lúc đó còn sớm chưa cấm đi lại, Thiếu tá cho tôi sang báo Cố
vấn Mỹ biết. Họ nghe xong đều hét to cười thỏa thích. Đại úy Mỹ vội sang gặp
Thiếu tá ngay:
“Thiếu tá thấy không, nếu chúng tôi không bắn đêm qua thì làm sao giết được hai
tên Việt cộng đó. Tôi quả quyết hai tên đàn ông chết đó đúng là Việt cộng”.
“Họ là dân ở đây, đi câu trên sông”.
“Chúng là Việt cộng”.
“Họ có giấy tờ trong người chứng nhận là dân ở đây, hơn nữa họ còn là dân vệ của
xã bên đó”.
“Tôi không tin, Việt cộng cũng có thể là dân ban ngày còn tối vẫn hoạt động phá
hoại. Tôi tin rằng đó là Việt cộng. Thiếu tá nên báo cáo rằng chính Cố vấn Mỹ
đã hạ được ba tên Việt cộng kể cả người đàn bà luôn”.
“Không thể được”.
“Tôi sẽ báo cáo lên thượng cấp của tôi tất cả”.
“Đó là quyền Đại úy”.
Đâu là thật tôi không rõ, đối với người Mỹ thì cứ mặc quần áo đen đi đêm là Việt
Cộng rồi; còn giữa người Việt với nhau, thì Việt Nam hay Việt Cộng, thật khó biết.
Đó là cái khổ và nỗi đau của người nơi đây.
° ° °
Thiếu tá K. gọi tôi dậy vào lúc 2 giờ sáng. Ông bảo:
“Tôi vừa đi kiểm soát vòng quanh trại, tất cả đều yên chỉ trừ có nhà tụi Mỹ,
đèn sáng trưng và radio mở ầm ĩ”.
“Bây giờ sao Thiếu tá?”
“Đánh thức chúng nó dậy, bắt tắt đèn, radio. Ở đâu phải theo đó. Ông đi với
tôi”.
Chúng tôi sang phía nhà Cố vấn Mỹ. Tiếng radio mở oang oang một điệu nhạc Jazz,
đèn sáng trưng. Thiếu tá K. gọi cửa đánh thức họ dậy. Một lúc sau có tiếng tên
Trung sĩ Mỹ hỏi vọng ra:
“Có chuyện gì thế?”
“Thiếu tá K. đây”.
“Nhưng có chuyện gì đấy?”
“Cho gọi Đại úy dậy”.
Rồi có tiếng Đại úy Mỹ vẫn ở trong vọng ra, cửa không mở.
“Có chuyện chi, Thiếu tá?”
“Yêu cầu tắt radio và đèn”.
“Sao thế?”
“Chúng tôi đã có lệnh tắt radio và đèn sau 12 giờ đêm, bây giờ là 2 giờ rồi”.
“Đó là lệnh trong đơn vị Thiếu tá, chúng tôi không phải lính của ông”.
“Nhưng đây là an ninh chung, tất cả mọi người phải theo, chúng tôi có thông báo
rồi”.
Lúc đó, Đại úy đen mới ra sân nói chuyện với Thiếu tá, ông ta mặc xi-lip, cởi
trần người đen chũi.
“Chúng tôi hiểu, nhưng tôi nghĩ chỉ dành cho các binh sĩ gác hay đi phục kích,
còn chúng tôi ở trong nhà, có sao đâu”.
“Nhưng các ông mở radio, để đèn sáng có thể làm lộ mục tiêu cho địch pháo
kích”.
“Tôi biết”.
“Như thế, yêu cầu các ông theo đúng cho”.
“Chúng tôi sẽ vặn nhỏ radio và đèn vì an ninh chung, không phải vì lệnh
Thiếu tá”.
“…”
Thiếu tá K. bỏ về trước khi viên Đại úy đen vào phòng. Ông nói với tôi:
“Nản quá rồi, ông thấy đấy”.
Tôi không nói gì nhưng thật thông cảm với sự khó khăn của Thiếu tá K. khi ông
phải đối diện với những phần tử không thuộc quyền kiểm soát của ông mà cũng
không phải là chỉ huy của ông. Thiếu tá K. đã thở dài và tôi cũng thế.
° ° °
Thiếu tá K. cho gọi tôi vào phòng, ông tỏ ra mỏi mệt và chán
nản. Ông dựa lưng vào ghế bảo tôi ngồi rồi đưa cho tôi xem một công điện. Theo
đó thì Trung đoàn ra chỉ thị yêu cầu Tiểu đoàn biệt phái hẳn tôi sang làm cạnh
Cố vấn Mỹ theo lời yêu cầu của họ, đồng thời cũng yêu cầu Tiểu đoàn cho Ban Cố
vấn mượn một tài xế để tiện dụng. Tin này làm cho tôi chán nản. Tôi nói:
“Thưa Thiếu tá, sao bây giờ?”
“Thì biết sao, đó là lệnh cấp trên, họ muốn là phải được”.
“Tôi thấy nản…”
“Phải chịu đựng, cố đi. Trong thời gian qua tôi đã hiểu rõ ông, nhưng biết sao,
đó là lệnh. Chúng nó còn muốn nhiều thứ nữa, ông hiểu, ngay tôi đây này… Thôi,
trước khi để ông sang làm hẳn với họ, tôi chỉ còn có thể tặng ông mấy ngày
phép”.
“…”
“Nên nhớ ông còn trẻ, hãy sống cho đúng với tuổi trẻ của mình. Tôi cho ông 7
ngày phép đi thăm nhà. Đi quá 15 ngày coi như đào ngũ, ông hiểu?”
° ° °
Phải đợi hai ngày mới có chuyến trực thăng liên lạc. Khi tôi
ra tới tỉnh C.T. thì đã 4 giờ chiều. Tôi đang nghĩ không biết có kịp về tới nhà
không. Nhưng ngay lúc đó tôi gặp một anh bạn cũ, không thân cho lắm nhưng cũng
đủ để đứng lại chào hỏi nhau.
Tôi cho anh ta biết rằng tôi đang vội về Sài Gòn. Hắn bảo tôi ở lại phi trường
vì lát nữa sẽ có một chuyến liên lạc về Sài Gòn, hắn hứa để cho tôi đi vì hắn
coi về việc đó. Anh ta rủ tôi vào một quán nước gần đó uống bia hộp và ăn
hot-dog. Chỗ này của người Mỹ lập ra chỉ bán đồ ăn Mỹ cho những người có tiền Mỹ
tại phi trường. Chúng tôi nói chuyện về mọi thứ và bạn cũ của tôi thật sự đã tỏ
ra một người hợp hoàn cảnh. Anh đang giữ một chân liên lạc giữa Việt và Mỹ, do
đó anh đã tiếp xúc nhiều và cũng do đó anh buôn bán được. Anh nói với tôi rằng
trên thế giới này Mỹ là nhất, và nếu ngày kia Việt Nam ta được trở thành một
ngôi sao trong lá cờ Mỹ thì không gì bằng. Đó là ý nghĩ của một người trẻ, trẻ
như những người khác đang xuống đường để tranh đấu cho chủ quyền, cho độc lập,
tự do, v.v.
Đợi một lúc thì có máy bay, anh giới thiệu tôi với một Đại úy Mỹ trên tàu bằng
một thứ tiếng Anh quá tệ nhưng cũng đủ cho họ hiểu mà gật đầu. Sau đó người ta
chất đồ lên tàu và máy bay cất cánh. Đó là một chiếc Caribou sơn màu xanh quân
đội, bên trong phần nhiều là Mỹ, chỉ có vài người Việt Nam. Tôi ngồi cạnh một
Trung úy già người Việt có vẻ bệnh hoạn. Máy bay cất cánh được ít lâu thì trời
gặp gió, tàu chao đi, chao đi. Trung úy ngồi cạnh ôm ngực khổ sở, khi một viên
Trung sĩ Mỹ của đoàn phi hành đi qua, ông nói với tôi nhờ xin hộ một túi nôn.
Người Mỹ nghe xong nhún vai nói:
“Bảo Trung úy hãy nôn vào mũ. Lấy mũ ra mà nôn vào”.
Thật sự tôi muốn nhảy ra khỏi máy bay, thật sự tôi thấy hối sao không đi xe đò,
thật sự tôi thấy nản khi nghĩ đến bảy ngày phép sẽ là những ngày không chịu nổi.
Và tôi muốn đi thật lâu, lâu quá 15 ngày. Tôi thương mẹ tôi nhưng lại sợ cái tỉnh
Sài Gòn. Tôi nản…
Chú thích:
|
Phái bộ Cố vấn quân sự Mỹ |
|
|
Bộ chỉ huy yểm trợ Quân sự Việt Nam. |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét