Nguyễn Tuân - Lên rừng
xuống biển
Một đời người, mà trước sau cái đi khác nhau
quá!.
Sau 1954, Nguyễn Tuân thôi không gõ gót giầy khắp các vỉa hè hay
chễm chệ trên xe kéo giữa phố cũ phố mới phố bé phố nhớn gì nữa. Nhà văn
chuyển qua cái chuyên môn khác. Đi bây giờ không phải đi chơi, mà
"đi thực tế", đi đến những chỗ có nhân dân đang lao động. Kể
lao động thì đâu cũng có, nhưng Nguyễn chọn đi thăm dân nơi rừng sâu núi thẳm
đèo heo hút gió hoặc đảo xa xôi lồng lộng biển khơi...
Nếu Nguyễn Tuân cứ đi rồi về
"không" như hầu hết mọi người, thì chẳng ai cần nhắc tới cái việc đi
của ông làm gì. Nhưng Nguyễn cứ hễ lên đường là lại chở nặng về bao nhiêu cảm
giác cảm xúc tinh tế, độc đáo. Nguyễn "cảm nặng", xong đem diễn cái
cảm của mình ra thành thứ lời khiến người đọc cũng bị... cảm lây!
Đi, trước với sau khác nhau.
Vậy viết về đi, thì thế nào?
Cũng khác đấy. Đại khái, do cái
đi sau nó là "đi làm", viết về nó tất nhiên mình phải có kể những
chuyện đã là lý do khiến mình được cử đi. Dễ dàng thấy Nguyễn Tuân đã kể
mọi chuyện mắt thấy tai nghe với nhiệt tình chân thực. Nhưng tuy xuất
phát từ đáy lòng, cái viết thực sự liên hệ đến công tác, nó bao giờ cũng vẫn
khó thành văn chương. May cho văn chương, bên cạnh nhiều dòng ghi chép tỉ
mỉ về sinh hoạt lao động của nhân dân, nhiều dòng khác miên man về lịch sử và
tình hình đất nước, Nguyễn thường có dăm ba dòng ký những cái cảm riêng tư của
mình...
Một phần do bị lẫn vào trong
"văn có ích" (1) như vừa nói, mà cái "văn chơi" của Nguyễn
Tuân sau 1954 không được chú ý đúng mức. Một phần nữa, là do loại văn chơi về
sau dù sao cũng không còn mấy ai thưởng thức.
Không phải những ghi chép, nghĩ
ngợi trong tập Ký Nguyễn Tuân không có ích. Nhưng nó lẫn vào
vô số những ghi chép, nghĩ ngợi của bao nhiêu người khác. Tưởng chính cái
phần "chơi" của sách mới có thể là thêm một đóng góp đáng kể của nhà
văn cho văn học Việt Nam. Đã nửa thế kỷ rồi từ ngày Nguyễn "ký"
những chuyến lên rừng xuống biển của mình. Sau đây chúng tôi xin trích
đăng lại một số đoạn có giá trị văn chương tiêu biểu. (2)
Hoa ban Tây Bắc
Tây Bắc được ưu đãi nhỉ. Mùa
xuân đã có hoa đào, lại có hoa ban.
Mùa hoa ban Nguyễn Tuân lên Tây
Bắc qua đã trên dưới nửa thế kỷ rồi. Cái khu rừng ban "đi bộ (...) hai
ngày liền mà không hết" bây giờ ra sao, mùa xuân 2012 có "pún"
hoa thành khói đạn cao xạ trắng trên khắp nền xanh của núi nữa không?
"Pà lầu" làm những
"bà già Mèo nhớ lại tuổi thanh xuân". Thế còn những ông khách miền
xuôi lớn tuổi đi giữa "trắng trời trắng núi một thế giới ban" thì
sao, có nhớ thời thanh niên không, có ước ngay bên cạnh mình lúc này là một đóa
biết nói biết cười không...
Đây bài thơ hoa ban Nguyễn
"ký" nhân "ngày xuân công tác vùng cao".
Hoa ban Tây Bắc, mùa ban pún hoa, nở rộ lung linh, hoa trắng núi
trắng giời (cũng trắng núi trắng giời như mưa mùa ở Tây Bắc) hoa nở không kịp
rụng (...)
Ban (...) là (...) hoa đặc
thù của Tây Bắc (...) Việt Bắc không có hoa ban (...)
Theo chỗ tôi biết ở Tây Bắc,
có một khu rừng ban rất dài rất rộng, cứ đi bộ với một đà bước vừa phải, thì đi
đường rừng hai ngày liền mà không hết hoa ban. Từ bờ sông Đà qua Nậm Gin rồi
bắt qua đường trục số 6, quãng rừng này toàn là ban. Hạnh phúc thay cho người
đi công tác mùa xuân mà lọt vào trận địa hoa này vào lúc nó mãn khai thi đua nở
cho hết để đóng mùa. Đứng ở bên phía Quỳnh Nhai nhìn sang núi bên Tuần Giáo, cứ
thấy (giữa) xanh xanh đùn đùn lên những chòm khói bằng cái nong, giống hệt tán
khói đạn cao xạ nổ giữa bầu trời. Sang sông Đà, đi gần mãi lại thì mới sực nhớ
là mùa xuân ban pún, rừng ban đang ra những tàn những tán hoa trắng.
Ban ở sau lưng anh, ban ở
trước mặt, ban ở bên phải, ban ở bên trái, ban ở trên đầu ở trên đỉnh núi, ban
ở dưới chân ở trong lòng lũng. Ban ngang ngang tầm người anh nhưng lại nép ở
bên kia mép vực đá. Nếu không thấy sợ sa xuống vực, cứ vừa bước vừa ngước lên,
thấy mây trời cứ vờn vào nhị vào cánh ban trong suốt, ánh sáng như lọc qua một
thứ giấy thông thảo hồng hồng. Nếu không sợ vấp, vừa bước vừa nhìn xuống vực
sâu, thấy rừng hoa trắng như đang loãng ra trên dòng suối thăm thẳm xanh ve
dưới lũng sâu. Trắng trời trắng núi một thế giới ban. Người anh ròng rã hai
ngày quyện trong một mùi thơm mát nhẹ đăng đắng ẩn ẩn hiện hiện một mùi phong
lan rừng cấm. Từ trên thinh không phả xuống cái hương tình của tình sử Thái,
luồng thơm này liên tiếp những luồng thơm khác. Đôi lúc, một luồng gió nóng tạt
ngang vào, thổi từ một quả đồi người Mèo đang đốt cỏ gianh làm nương tra bắp.
Có hơi nóng đốt hương, hương ban bốc mạnh lên như cái ngào ngạt hấp hơi của một
gian buồng nhiều vòng hoa hồng nẫu cánh vì tiếng nhị tiếng sáo và hơi trầm hơi
nến. Con ngựa thồ tài liệu đi trước, móng ngựa trước móng ngựa sau đều bết
những cánh ban vừa giẫm lên, còn hăng lên cái mùi hoa tươi bị nghiến nát.
Hoa ban tiếng Mèo gọi là pà
lầu. Pà là hoa. Chữ lầu có nghĩa là già, người già. Một anh bạn Mèo cắt nghĩa
cho tôi nghe: "Hoa ban là thứ hoa có thể làm cho người già trẻ lại như là
cô gái Mèo mặc váy chếp bằng lanh trắng. Màu trắng hoa ban làm cho bà già Mèo
nhớ lại tuổi thanh xuân mình mặc váy trắng in hình lên núi xanh mùa xuân."
Ngày xuân công tác vùng cao,
con ngựa đi trước, anh đi sau. Hoa ban cứ rụng xuống suốt dặm dài, ngày hôm đầu
vừa nở vừa rụng, ngày hôm sau vẫn liên tiếp nở và rụng. Con ngựa xem chừng đã
mỏi cổ mỏi đuôi lắm rồi. Cả hôm qua cả hôm nay, nó luôn lắc bờm và quất đuôi
hất những cánh hoa đã ùn lên mình nó (...) (Trích từ bài Nhật Ký Lên Mèo)
Lên Mèo
Từ bao giờ ta quen nghĩ người
Mèo gốc Trung Âu nhỉ? Âu vì có mắt xanh?... Có Âu chăng nữa thì cũng đã lai Á
rất đậm lâu lắm rồi, vì đã lang thang qua Á, qua đất bây giờ là Trung Quốc, từ
nhiều nghìn năm trước.
Người Mèo gốc gác thế nào chưa
biết, chỉ biết, nhờ đọc "Nhật ký", rằng họ hay nhắc giời, khéo nuôi
lợn, mê thuốc lào, thích thổi sáo í ộ, có tài vừa thổi khèn vừa nhảy trên
cọc...
"Mèo" thật ngộ, nhưng
dĩ nhiên Nguyễn Tuân leo những "đèo dốc võng lên võng xuống như bờm sóng
bể động" không chỉ thấy có người. Mà còn thấy "cái thế giới núi cao
lồng lộng những nắng những gió những mây", thấy "mây xô cả cửa mà vào
nhà", thấy "xa xa dưới chân (...) đường quốc lộ trắng nhờ nhờ như con
bạch xà xoắn khúc. Và mây chờn vờn dải đường như diều hâu xám là cánh. Con đường
rắn trắng hất xuống lòng vực cái đám mây ỡm ờ"... "Nhập" nhiều
thế, thảo nào khi "tôi trở về thủ đô đường bằng", "vẫn thấy tơ
vương" cái đất giời Mèo.
Có sống ở cái thế giới núi
cao lồng lộng những nắng những gió những mây những giời của vùng cao Tây Bắc
thì mới nhập hết được cái ý giời trong tập tục đời sống đồng bào Mèo (...) Ánh
sáng trong vô cùng, sáng vô ngần, lọc vô tận (...) Cái chân giời của người Mèo
cũng không hoàn toàn giống cái chân giời của người đồng bằng đồng bể có giời có
mây nhưng lại có cả nước nữa. Nếu chân giời của người đồng bể là một ngấn nước
thẳng tắp, thì chân giời của người Mèo là một cái gì cũng không kém lồng lộng
nhưng lô xô nhấp nhổm, một cái gì mở ra lồng lộng ở sau một cái đỉnh đèo họ
đang đi miết lên kia. Đã có nhiều lúc, tôi là một cái bóng lẻ sắc cạnh in hằn
lên cái chân giời đó, nơi bóng mây thì thừa mà lại thiếu hẳn cái bóng buồm nước
(...)
Tôi nghỉ lại một đêm, nửa
ngày hôm trước và nửa ngày hôm sau tại nhà một anh bạn Mèo ở cách thị xã Lai
Châu khoảng hai chục cây số (...)
Chiều hôm ấy nhiều mây, mây
xô cả cửa mà vào nhà vợ chồng anh Giàng. Tôi ngồi nhìn lửa ánh lên những tấm gỗ
vách bóng nhậy đầu khói mồ hóng. Những tấm gỗ không bào, chỉ đẽo bằng rìu, gợn
lên cái đẹp chạm trổ của vẩy rồng vẩy cá. Con diều hâu phía đường đèo xa tạt
nhanh vào xóm đây, liệng cánh chao cánh sà xuống định quắp gà con, cả xóm Mèo
la hú lên, con ác điểu lại bay mất, lại liệng ra phía đường cái. Xa xa dưới
chân tôi, xa tít ngoài núi kia, đường quốc lộ trắng nhờ nhờ như con bạch xà
xoắn khúc. Và mây chờn vờn dải đường như diều hâu xám là cánh. Con đường rắn
trắng hất xuống lòng vực cái đám mây ỡm ờ kia.
Tối hôm ấy tôi nghe sáo Mèo,
thứ sáo hình như chỉ có hai nốt: í lên rất cao, rồi ộ xuống rất thấp, nghe như
một cái gì bừng lên rồi sa làn xuống mà hẫng đi. Nghe hai nốt sáo, tôi cứ thấy
nhạc Mèo lên xuống dốc, một thứ nhạc khỏe nhưng dễ mỏi chân người quen đi núi
nay phải đi bước bằng dưới xuôi. Tối hôm ấy, trên cái tràn ruộng bé bằng vài
cái nong, tôi xem múa Mèo. Gọi là nhảy Mèo thì đúng hơn (...)
Tôi trở về thủ đô đường bằng
mà càng thấy nhớ mây Mèo. Giữa Hà Nội, thật khó tưởng tượng cái cảnh mây chiều
mây sớm xô cửa mà vào giữa nhà mình. Thấy nhớ nhớ cái đôi mắt cô bé Muờ hút
theo cái dốc núi hôm nào, đôi mắt thăm thẳm xanh lắc như cái lối nhìn của người
lính thủy bói sóng chân trời. Hà Nội quay tít cù đèn hàng vạn hàng vạn xe đạp
boóc-tê nhau. Sau lưng người trai đạp nhanh, cánh tay đàn bà mặc áo ve sầu đang
đan len ngay sau yên xe. Vành bánh xe đạp quay, bàn tay đan len quay.
Lên đỉnh giời nghe sấm đất
Thời tưởng tượng chuyện
"Trên Đỉnh Non Tản", hẳn Nguyễn Tuân không ngờ sẽ có ngày mình đặt
chân tận đỉnh non Phăng. Một đằng cao chỉ 1281m, một đằng những 3143m. Dĩ nhiên
về độ cao trong cổ tích dân tộc thì chính non Tản mới là vòi vọi.
Nửa thế kỷ trước trèo lên tới
những "mâm núi" đầy hoa đỗ quyên ấy là chuyện rất khó khăn, Nguyễn
nhờ theo một đoàn công tác chuyên môn mà được nằm lều đỉnh giời nghe sấm.
Năm 2012 việc đi lại ở Tây Bắc
nói chung và việc leo núi Hoàng Liên Sơn nói riêng đã tương đối dễ dàng hơn hẳn
khi xưa. Nhưng chúng ta bây giờ chỉ có thể nghe sấm giời của Thiên Lôi mà không
còn được nghe tiếng "sấm đất" của những người đồng bằng lên núi cao
đánh bộc phá xây đường nữa. Cái âm thanh đồng vọng của một thời phấn đấu cực kỳ
vất vả, may nó đã được ghi âm trong những trang ký này...
Tôi có lóp ngóp lên tới
tuyến đỉnh Phăng Xi Păng rồi. Trên ấy, tuyệt đối không một con vắt, không một
con muỗi, không một con ruồi. Không khí trong lành. Tốt giời thì đêm nhìn thấy
quầng ánh sáng công nghiệp Việt Trì. Bụi thì hiếm mà trúc thì giống như cái
phất trần và mặt núi thì như mâm xôi. Mâm núi nào hoa đỗ quyên
(rô-đô-đen-đơ-rông) ngũ sắc cũng nở bạt ngàn (...)
Đoàn điều tra tài nguyên đất
nước ngủ lại hai đêm trên đỉnh Hoàng Liên Sơn. Thị trấn nghỉ mát Sa Pa 1500
thước ở dưới chân mình, trời mùa hè vẫn quang quẻ và tươi nắng nhưng trên đỉnh
Hoàng Liên Sơn thì mây vần gió giật và dông bão và mưa to. Lều vải tốt có lót
ni-lông nhưng luôn luôn phải chạy dột và lo gió bay mất lều. Cả một ngày mưa to
gió lớn, ngồi hứng giọt lều lấy nước thổi nấu. Và mở tờ-răng-xi-to theo dõi
tình hình chiến sự (...) Giữa một thế giới buốt lạnh, mây trắng mịt mùng, trên
đỉnh ngọn núi cao nhất nước, nghe cái tiếng nói phát thanh (...) nó có một cảm
xúc lạ lắm (...) Chúng tôi nằm ép vào nhau, mà nghe mưa như tháo cống trên mái
lều. Chật chội ướt át như một cảnh đò dọc neo lại giữa sông mưa (...) Ngoài
những người xúm xít trong cái lều vải ướt mưa này, cả khu vực núi rừng quanh
đây là không có ai hết! (...)
Tôi vừa có thêm nhiều người
bạn mới đang sống ở chân Hoàng Liên Sơn, nhiều người quê ở các tỉnh miền xuôi
lên miền núi phát triển kinh tế (...) không ít những con người trẻ tuổi quê ở
ngay thủ đô Hà Nội (...) Trên suốt tuyến đường từ đèo Ô Quy Hồ vào đến ngã ba
Bình Lư, tất cả những người thanh niên ấy đang hăng hái tiến hành một cuộc đấu
tranh với thiên nhiên, đang hào hứng mở đường cho ô-tô mai đây nối liền hai
tỉnh thượng du Lai Châu và Lào Cai. Từ mấy tháng nay, rừng núi sát dưới chân
Hoàng Liên Sơn rền vang lên tiếng mìn bộc phá của đoàn thanh niên đồng bằng lên
mở đường cho đồng rừng. Trời quang, đứng trên đỉnh Phăng Xi Păng nhìn xuống,
vẫn thấy những cột khói mìn mở đường (...) Cuối xuân sang hè, trên Hoàng Liên
Sơn mưa to và động sấm. Nằm trong lều trên đỉnh cao, được nghe cả sấm giời và
cả tiếng sấm mở đường vọng lên từ mặt con đường đang xẻ vào lưng núi dưới chân
mình. Quả thực là tiếng đồng vọng của một chiến dịch, anh ạ (...) (Trích từ bài Tây Bắc và Lào Cai và
bài Vẫn Cái Tiếng Dội Cà Mau Ấy...)
Suối quặng
Nhờ "xưa" có người
cầm... bút trèo non lội suối, mà nay ta mới biết đến công lao của những người
cầm búa "dầm ngay mình vào giữa lòng suối nước ngập bụng ngập ngực, rồi cứ
thế mà lội ngược dòng (...) càn ngược lên", vừa càn vừa thỉnh thoảng vung
búa đập vỡ đá để "bói" quặng...
Cái công việc tìm kiếm
"của chìm" ấy đã làm xong hẳn chưa nhỉ? Có còn con suối nào trong
lòng đang chứa những viên đá "vỡ to vỡ gọn" chưa kịp phong rêu?
Một buổi trưa nào đó của Tây
Bắc, tôi bước theo một đàn ngựa thồ lội qua một khúc suối trong. Nắng rừng rọi
xuống, xuyên qua tấm kính mặt suối. Sỏi, đá cuội, đá lăn, đá đầu sư, đá hộc, đá
gốc, hiện lên bằng hết. Bỗng thấy nơi đầu hòn này nơi đầu hòn kia ẩn ẩn hiện
hiện, những vết sứt rất mới. Toàn thân viên đá đều một chất rêu lưu cữu, chỉ
riêng chỗ vết thương mới là không có rêu, và lộ ra những hạt cấu trúc của đá.
Đàn ngựa thồ nào qua đây, chắc là tải hàng nặng lắm, mỗi con chở tới bốn thùng
dầu hỏa là đúng 80 cân! Thồ nặng, trượt chân trên trán đá, ngựa vấp mạnh móng
sắt vào, làm sứt sẹo lũ đá lòng nước chứ gì! Tôi nhìn kỹ cái sẹo đá lóng lánh
cát bạc cát vàng và li ti nổi gân xanh đỏ. Móng sắt ngựa thồ không đời nào vấp
bật tóe đá đến như thế được. Chỉ có đánh búa vào thì mới vỡ to vỡ gọn như thế.
Thôi, đúng là quanh vùng đây có một đội địa chất nào (...)
Tỉnh núi Hà Giang là một
tỉnh biên giới có cổng giời, rất nhiều cổng giời, cứ úp mặt xuống đất mà leo
miết, và ngẩng đầu lên thì chỉ thấy có mây gần mây xa. Đã thế, anh địa chất Hà
Giang lại còn thêm thắt ra một vài cái cổng giời địa chất nữa. Con ngựa chuyên
đi lĩnh lương gạo và cốt mìn cho đội cũng xin hàng, không bám được đá cổng giời
mà đành đi vòng thúng theo tuyến lũng thấp. Lên được cái cổng giời Long Bánh
Chè gối này thì con ngựa cốt mìn phải chết. Cách đây hai ngày đường, bên kia
phía Bắc Mê trên lối vào xã Đường Âm, có một cổng giời khác mang tên là đèo Con
Ngựa Trụy Thai. Tim tôi đập thình thình như tiếng gõ cửa đòi cấp cứu. Dù sao,
tôi cũng hãy quay đầu lại vài lần, để nhìn con suối dưới chân cổng giời mình
vừa lội qua lội lại ban nãy tới hai mươi lần. Nhìn lại, mới thấy mình đã lên
cao khá nhiều. Con suối trông lại thấy sâu hoắm! Nó bé như một thỏi thiếc chuốt
dài, và nó ánh lạnh hệt một thỏi thiếc. Hết cổng giời, trên một thôi rừng lọt
thỏm vào đấy một vạt ruộng lầy, nghe có tiếng mõ canh giữa ban ngày. Chỉ nghe
mõ mà tịnh không thấy bóng người. Nước bậc thang ruộng trên rót xuống bậc ruộng
dưới gõ luôn vào một ống tre. "Nước xanh gõ hòn đá xanh, nửa năm nghe
tiếng mõ canh cổng giời", anh địa chất vừa đọc lên, vừa bước thoăn thoắt.
Anh kể chuyện một anh bạn cùng đội. Vừa rồi anh bạn nghỉ phép về xuôi để chuẩn
bị tiến tới lập gia đình. "Đối tượng" hạnh phúc lứa đôi ở ngay giữa
Hà Nội.
Loáng một luồng thơm
Có một thời la cà ở các nhà hát
cô đầu, các tiệm hút, có lúc qua tận Hồng Kông chơi trò "vẽ nhọ bôi
hề". Rồi có một thời trèo non băng rừng lội suối vượt sông... Sống một đời
đôi kiếp như thế, thú vị chứ.
Trong cái kiếp thứ hai của
Nguyễn Tuân, vì nhà văn không còn sáng tác chỉ vì nghệ thuật nữa, người đọc đi
tìm nghệ phẩm thuần túy đành phải bằng lòng với những trang, những đoạn, văn
đẹp xuất hiện rải rác trong các tác phẩm... Sau đây là một "chiếc lá rừng
xa tôi nhặt về", ép vào một tập ký. Lá nằm trong sách gần nửa thế kỷ rồi,
mà vẫn "xanh tợ thuở mới hái"!
Khừm đã đứng dậy, đi vòng một gốc cây to bây giờ tôi mới chú ý
đến. Khừm chém chém con dao rừng vào vỏ, tước ít vỏ, tìm được một cái hốc ở
cạnh khóm rễ nổi lên mặt đất. Khừm bảo: "Cây này lúc cần, có thể dùng làm
trạm liên lạc đây. Dùng làm liên lạc bí mật được đấy." Tôi ngắm cái cây
bưu điện giời sinh đó và hỏi lại Khừm: "Và lúc hòa bình, dùng cái cây này
làm hòm thư riêng của người con gái và người con trai hẹn tìm nhau cũng được
chứ?". Khừm cười đắc ý, lấy ra từ lòng hốc cây một cánh hoa rừng và một
nắm lá, rồi dõng dạc: "Đây, thư họ gửi cho nhau đây. Chắc của anh chị nào
ở cái bản ban nãy ta đi qua định vào mua bưởi. Đúng là của anh chị nào nhắn
nhau gì đấy. Họ lấy hoa lấy lá ra mà nói lóng với nhau, chả có đoán được đâu"
(...)
Xa xôi, ngan ngát, lăn tăn
lá reo gió thầm. Ấy chính lúc đó chân tôi vấp vào một cái cọc nhọn. Một gốc cây
con gẫy mục ở giữa lối mòn. Bàn chân dại điếng hẳn đi, tôi tập tễnh mất một
quãng. Cùng một lúc đó, mũi tôi đánh hơi bắt ngay vào một mùi thơm. Hương thơm
sặc lên như, đánh bốp một cái, đâu đây một dược sĩ nào vừa đánh rơi chai nước
hoa cốt mới chế ra. Nó sặc ngát một cách thật là loáng nhanh, rồi lặn đi mau lẹ
hơn tiếng động. Nó là một luồng hoa bay, vụt tạt ngang lối rừng giông giống cái
ánh chớp trên nguồn. Tôi cố bắt theo tàn dư luồng thơm để lại trong khinh không
một buổi chiều đang nhạt nắng. Như có người bôi nước hoa đắt giá thoắt rẽ mất
vào rừng sâu. Như có người trêu mình, mà nhìn quanh thì không có vết chân nào,
chỉ toàn là rêu rừng và ánh hoàng hôn. Tôi có cái tật đi rừng chợt thấy mùi
thơm chỗ quãng vắng là hay trờn trợn (...)
Tôi tạm kể hết mẩu chuyện
rừng (...) tôi chưa lường được khả năng gợi cảm của nó đối với anh. Anh tạm coi
nó như (...) chiếc lá rừng xa tôi nhặt về (...) anh cho nó vào cuốn sách mà ép
lại. Như kiểu ngày nhỏ còn đi học, gặp ngày chủ nhật được về chơi vùng quê, hay
ép lá lưu niệm bỏ kín vào vở vào sách ấy. Này, có nhiều người đầu đã trăng
trắng rồi, mà nay sách nhỏ mỗi lần mở lại vẫn giữ vẹn cái lá học trò xanh xanh
tợ thuở mới hái! (Trích
từ bài Đố Ai Quét Sạch Lá Rừng)
Mùa xuân năm 1964 Nguyễn Tuân
vào Điện Biên bằng đường trời và trở ra bằng đường đất.
Cái con đường Điện Biên - Tuần
Giáo ấy, Nguyễn biết "từ lúc nó còn chưa tốt chưa đẹp như bây giờ",
lúc bao nhiêu chiến sĩ hóa công nhân của công trường 426 còn đang vất vả làm ra
nó.
"Cái xe cứ bon bon mà
chạy, mà qua hết cầu này cầu khác. Nhà cửa, lều, lán, kho, trại, sân, cổng,
vườn, bến, cột cờ, chòi phát thanh, đâu hết cả rồi? Chỉ còn có rừng xanh một
dải và đường trắng cũng một dải (...) nó như là trở lại một cái phố trong lòng
rừng Việt Bắc những năm tản cư kháng chiến hàng quán tấp nập là thế, mà nay tìm
hỏi thì trước sau chỉ còn thấy có giọt nắng treo trên lá cũ...".
"Đêm xuân (ở ngã ba) Tuần
Giáo", có một người vừa từ Điện Biên ra, đứng giữa bóng tối mịt mùng mà
"thấy hiện lên rất nhiều bóng cũ. Cái bóng những người làm cầu làm đường.
Đông lắm. Hình như trên con đường vắng ấy, họ vẫn đang đứng bên đường mà sung
sướng nhìn cái xe tôi lúc ban ngày qua hết bấy nhiêu nhịp cầu mới...".
"Tôi (...) đã sống những
ngày nước lửa của công trường 426", "tay tôi vẫn chưa mất đi cái sẹo
Xuân Tre trận cháy mùa xuân 1960", "tôi cảm thấy (...) mình (...) có
hạnh phúc", nên tôi cầm bút viết "một bài thơ (cầu) đường".
Tôi ra và vào Điện Biên cũng
đã nhiều lần. Lần đi mùa xuân 1964 này mới thật là một chuyến đi hả hê, thoải
mái. Đường đã có cầu nổi, chiếc thì bằng sắt và gỗ, chiếc thì bê-tông cốt sắt,
xe không phải lội suối như trước đây nữa (...)
Tôi nhìn cái cầu bê-tông vừa
mới hoàn thành, trên mặt cầu còn phủ lá phủ đất và còn cả cái ngáng tre ở chỗ
nối đường vào cầu (...) Rừng vắng. Nhưng tôi vẫn thấy nó như đang lao xao cái
tiếng động của đám đông (...) Một vài năm trước đây lúc khởi công làm cầu, những
chỗ suối bắc cầu đó, đông đúc ầm ầm rào rào chứ đâu có lặng lẽ im ắng như thế
này. Nào là tiếng chí cha chí chát của hiệp thợ chạm ngồi tẩy mặt và góc đá hoa
cương dành cho mố cầu. Tiếng lách ca lách cách chàng đục thợ mộc. Tiếng cưa
miết đều mạch gỗ của hiệp thợ xẻ. Tiếng cút kít nghiến trục gỗ, tiếng vành sắt
xe bò nghiến xuống đá đường. Và cái tiếng máy dũi húc đất. Tiếng búa đập lên đe
rèn những đinh đỉa cho ván cầu. Tiếng bễ phì phù, tiếng máy bơm xình xịch, hút
cạn nước để đào móng xây mố cầu. Máy bơm hỏng, tắt tiếng, chờ thợ sửa bơm từ
khu lên, thì lại có tiếng tát nước bằng guồng đạp. Bên dòng suối, vợ bộ đội
công nhật nối nhau mà gánh cát cấp phối mặt đường. Và giữa lòng suối là cái
tuyếc-bin thủy điện con con đủ chạy vài chục ngọn đèn, chạy cái máy ra-đi-ô,
làm vui thêm sinh hoạt hàng ngày, và làm sáng thêm cái Tết rừng của những người
thợ làm cầu bên suối (...)
Cái xe cứ bon bon mà chạy,
mà qua hết cầu này cầu khác. Nhà cửa, lều, lán, kho, trại, sân, cổng, vườn,
bến, cột cờ, chòi phát thanh, đâu hết cả rồi? Chỉ còn có rừng xanh một dải và
đường trắng cũng một dải. Thấy tênh tênh mà tan quạnh cả đi như người và lầu
Liêu Trai sau tiếng gà gáy sáng. Nói cho đúng hơn thì nó như là trở lại một cái
phố trong lòng rừng Việt Bắc những năm tản cư kháng chiến hàng quán tấp nập là
thế, mà nay tìm hỏi thì trước sau chỉ còn thấy có giọt nắng treo trên lá cũ
(...)
Đêm xuân Tuần Giáo, điểm vào
tiếng ô-tô vượt qua ngã ba, là những tiếng con bắt-cô-trói-cột. Ôn quãng đường
vừa chạy xe qua từ trong Điện Biên ra, thấy hiện lên rất nhiều bóng cũ. Cái
bóng những người làm cầu làm đường. Đông lắm. Hình như trên con đường vắng ấy,
họ vẫn đang đứng bên đường mà sung sướng nhìn cái xe tôi lúc ban ngày qua hết
bấy nhiêu nhịp cầu mới. Họ sung sướng và lào xào như trận gió chiều reo vào
rừng hôm. Gió chiều nổi lên, con đường vắng mà vẫn như rầm rập tiếng chuyển
quân của cả một cái công trường hoàn thành đường Điện Biên - Tuần Giáo
(...) (Trích từ bài
Một Bài Thơ Đường)
Cụ Trầm
Mới năm 1964 Nguyễn Tuân cho
biết "loại trầm tốt nhất giá một cân"... ba bốn chục bát phở bò.
Thế rồi "trầm hương tự
nhiên có 6 loại (...) giá từ 1 đến 25 lạng vàng mỗi ký (thời điểm 1980). Còn
hiện nay, trầm xuất khẩu sang Nhật được tính từ 2.000 đến 10.000
USD/kg".(*)
Chênh lệch, trời đất ơi!
Thảo nào trước kia "bố
tôi" và sau đó là "tôi" đã "quanh năm, lúc nào (...) cũng
có thể (...) đốt trầm". Cái "một thời" đốt trầm chỉ đắt ngang ăn
phở nó chẳng còn "vang" còn "bóng" gì nữa ráo. Trầm giờ xa
vời vợi đàn với sách rồi, chỉ ưa quấn quýt các đại gia thôi.
(*) Trương Tất Thọ, "Không
ngậm ngải vẫn được trầm", trang truongkha.vn, ngày 6 tháng 7-2010.
Làm cái nghề kiếm trầm trên
rú, đau khổ nhất và kinh hãi nhất là mỗi khi có người lạc rừng. Cùng đi với
nhau lên rừng, bạn lứa thì tìm được ra hết gốc trầm này đến gốc trầm khác, mình
thì càng tìm càng không thấy một gốc mô. Cây xanh nhiều hơn cây khô, và cũng đã
đục nhiều gốc lụi héo mà lòng cây không có chi. Gạo cá muối ruốc của lái trầm
ứng trước ra cho mình đó, ăn mãi đã gần vợi hết đi, mà thuyền lái trầm tiếp tế
gạo mắm lên nữa thì còn lâu lắm mới tới kỳ sau. Anh em người ta ai cũng một vài
gốc một vài cân trầm rồi. Mà mình thì càng tìm càng chẳng thấy (...) Ông cụ
Trầm làng Mỹ Lộc đã kể cho nghe về chuyện những người đi làm trầm lạc đường
suýt hóa thành người rừng. Lạc trong rừng lâu ngày, đói, ăn nhầm phải lá rú nấm
dại. Rồi mất trí nhớ. Rồi thấy bóng người là lẩn tránh, lủi vào bụi sâu. Những
khi có người lạc, đi tìm, hú lên mà thoáng thấy bóng họ tránh mình lẩn vào rừng
quãng nào, thì bẻ lá bẻ cây đánh dấu lại. Về lán đùm cơm nắm trở lại chỗ đó, hú
to lên, rồi để nắm cơm vắt lên trên tảng đá bên dòng suối. Rồi tránh ra chỗ xa
chỗ kín. Người lạc rừng nấp mình kín sau cây lá mắt vẫn theo dõi, chờ ta đi
khuất, rồi lâu lâu mới mò ra, nhìn ngang ngửa nhìn trước sau, ngờ sợ mà cầm vào
nắm cơm lạnh. Nhìn rõ người bạn đi làm rừng của mình mà mình phải nín tiếng, thấy
tội quá. Vì mình động mạnh và hiện ra thì họ vụt biến mất, và có khi lủi đi một
khoảnh rừng nào khác. Như thế, càng nguy hiểm, càng khó tìm thêm, và có khi tìm
chẳng thấy bao giờ nữa. Cứ ngày ngày đem cơm nắm đặt bên khe lạnh và tránh đi,
có trường hợp phải hàng tháng như thế. Có hơi ngũ cốc vào, trí nhớ người lạc
rừng dần trở lại (...)
Tôi thích đốt trầm đốt hương
(...) Trừ những ngày hè mùa nóng, còn thì quanh năm, lúc nào tôi cũng có thể
đốt hương đốt trầm, nhất là khi trời trở lạnh (...) Bố tôi ngày xưa uống trà
Tàu, đánh đàn nguyệt đánh đàn thập lục. Tôi đứng cạnh bố tôi làm một thằng hầu
lửa, hương tắt trầm hết khói thì tôi lại thắp tiếp lên. Để cho bớt đi cái độ
ẩm, để cho dây đàn thật tiếng hơn, để cho không khí âm vang hơn. Mà thật như
vậy đó, trời mùa đông, nhà không có lò sưởi như nhà người Âu, đốt lên mấy nén
nhang, thấy nó có đỡ lạnh đi thật. Có những lúc nhất định nào đó, làn khói thơm
lại có cái giá trị vật chất của tấm áo khoác thêm lên mình lúc ngồi trong phòng
sách. (Trích từ bài
Đố Ai Quét Sạch Lá Rừng)
Lũng Cú
Đi kịch liệt quá. "Liền
mấy năm và bấy nhiêu lần đi Hà Giang...", Nguyễn Tuân có lẽ đáng gọi là
một "dũng sĩ" trong ngành đi để viết.
Thực ra ngay cả không viết lách
gì, đi mà thấy, chẳng hạn cái cảnh "sóng đá các triền núi bạn (...) như
biển cả đang vỗ bờ", đã đáng đi.
Cả huyện "mừng nước về,
mừng đường vào"! Đường và đường khoét ra từ sừng sững đá, xiết bao công
trình các dũng sĩ vô danh ơi!
Hà Giang là một tỉnh biên
giới nằm trên đỉnh đầu Tổ quốc (...) Núi Hà Giang hùng vĩ nhiều cổng trời (...)
Trên đường đèo vào Mèo Vạc,
xe tôi dừng ở đỉnh dốc Mã Pí Lèng, đúng chân tấm bia đá ghi công những người mở
đường. Cả quãng Đồng Văn - Mèo Vạc hai mươi bốn cây số đường núi đá này phải
làm mất một năm rưỡi, nhưng riêng chỗ dốc Mã Pí Lèng, Sống Mũi Ngựa này thì
phải tốn mất mười một tháng treo mình trên vách đá để đục, đánh mìn, bổ đá khắc
đá ra mà cẩn mặt đường vào vách đá đứng thành vại. Ba năm trước, cũng vào tiết
thu tôi đứng ở mép vực Mã Pí Lèng nhìn dòng sông Nho Quế như thế này. Hồi ấy,
phá để khai đường, ầm ầm cây lao xuống vực, ầm ầm đá lao xuống dòng sông tít
tắp dưới kia, có hòn đá to bằng cái tủ áo nhưng chỉ lộn nhào vài chục vòng là
tan vụn ra thành khói. Và ầm ầm vang dậy những trận cốt mìn, nhưng tan hết khói
mìn, tan hết bụi đá, thì chỉ thấy tắc đường. Con đường chỉ đến chỗ đỉnh dốc Mã
Pí Lèng hiểm nghèo này là hết (...) trước mặt chỉ có đá (...) Những người dũng
sĩ mở đường ấy nay đều vắng mặt cả, nhưng trước mắt tôi là một con đường cái
quan cộm lên một màu đá xanh và ro ro xao động dưới lốp chiếc xe tiến vào huyện
Mèo Vạc, càng vào càng mưa to. Mưa cả nửa ngày hôm ấy, mưa suốt cả đêm hôm ấy
và không ngớt hạt lúc nào, trận mưa Mèo Vạc kéo dài sang luôn cả nửa ngày hôm
sau. Mưa như thối đất ra, nhưng cất cơn mưa một cái là mặt ruộng lại nứt nẻ ra
ngay. Đêm mưa không ngủ được, cứ thao thức về nông nỗi khan nước khát nước cổ
truyền của bãi ngô cánh đồng Mèo Vạc. Mùa đông hạn hán, đốt đuốc ngồi rình nước
rỏ ra từ hang đá, ngồi chờ thùng nước quảy được về, có khi mất cả đêm. Mãi cho
đến mấy năm gần đây mới hoàn thành được mương nước chạy về từ trên nách núi
cao. Nước xuống dốc, nước uốn khúc trong lòng đá máng, đá đã cạp, bê-tông, nước
ngoặt chữ chi, nước nổi gió nổi sóng trắng mà chạy xộc về ruộng thấp. Con đường
thủy lợi trông xa xa cũng tựa như một con đường bộ nào trắng bệch trăng ngàn,
những khúc rồng rắn cuộn thừng.
Cái năm 1965 nước thủy lợi chảy về đến cánh đồng huyện, thì cũng là năm con đường cái quan mở vào tới phố huyện. Mừng nước về, mừng đường vào, cả huyện mở hội liên hoan song hỷ! (...) Nằm ở huyện có hai đêm, nhưng cũng đã phần nào thấm được cái khổ xưa và cái vui hôm nay của huyện núi Mèo Vạc (...)
Cái năm 1965 nước thủy lợi chảy về đến cánh đồng huyện, thì cũng là năm con đường cái quan mở vào tới phố huyện. Mừng nước về, mừng đường vào, cả huyện mở hội liên hoan song hỷ! (...) Nằm ở huyện có hai đêm, nhưng cũng đã phần nào thấm được cái khổ xưa và cái vui hôm nay của huyện núi Mèo Vạc (...)
Ở đây vui quá (...) Chao ôi,
mùa thu biên giới (...) cảnh thật là hết chỗ trữ tình. Trên các triền núi láng
giềng, nắng hanh như rây bột nghệ, và đá núi lượn chạy như xô bồ những con sóng
đời đời không chịu tan. Nhìn sóng đá các triền núi bạn, thấy như biển cả đang
vỗ bờ mà sao tự nhiên phim lại mất hẳn đi cái phần lồng tiếng. Ngồi trên núi
cao mùa thu, nhìn ra sóng núi tứ bề, cứ thấy nhớ biển (...) (Trích từ bài Mõm Lũng Cú Tột Bắc)
Cô Tô
Nguyễn "lên Mèo" ngắm
giời, rồi Nguyễn xuống biển ngắm trai. Trai "nằm dưới rốn bể" mà,
quái lạ:
"(Lòng) vỏ trai ngọc (...)
tươi ánh thanh khiết, kết tinh lại tất cả những buổi tốt trời trên mặt biển
vịnh Bắc bộ (...) xanh hồng huyền ảo, càng nhìn càng ưa (...) thấy như lộng lên
cái thảm kịch của sinh vật nằm dưới rốn bể mà vẫn không chịu nguôi lòng tương
tư cái nguồn sáng cội gốc đang bị trần sóng trên đỉnh đầu bẻ gẫy hết tia chói
(...) kiều diễm như nửa vòng cung cầu vồng bắc lên từ một thế giới đáy biển vẫn
hoài bão ánh trời..."!
Thì vẫn trai đấy, nước biển
đấy, sóng gió đấy, mặt trời lên mỗi bình minh đấy, nhưng có phải ai cũng thấy
được như ai đâu. Cô Tô một tuần năm ấy có khách quý. Dấu chân cát xóa lâu lắm
rồi, nhưng dấu mực trên giấy còn đây.
Biển càng hướng ra Cô Tô,
càng thấy nồng. Vĩnh Thực, Cái Chiên, Núi Miều, Núi Tụi, vùn vụt lướt qua sườn
tàu, mà trên boong tàu, mớ tóc trần trên đầu chị bạn vẫn không chịu rung lấy
nửa sợi. Đứng gió quá. Chân đảo Thoi Xanh xa xa cát vàng như một nét chỉ mành
tơ lưới kéo ngang nền giời hâm hấp của biển chờ cơn dông. Nước đùng đục. Mặt
biển lặng lờ và láng mềm đi như dầu mỡ nào đang chảy tràn tới tận cái cuống mây
chân giời. Nó gợi gợi một cái chảo khổng lồ nước xuýt vịt béo sôi giấu khói,
mới trông qua rất dễ lầm với một nồi canh nguội. Có tí sóng nào dội lên phía
chân vịt tàu, thì sóng chỉ xông thêm ong ong oi oi lên mặt tàu. Bầu trời tắt
gió càng về quá trưa càng đặc sánh. Thấy nghẹn thở. Trời vàng vàng cái mặt màu
da đồng (...)
Mấy chục con trai còn non
chưa con nào đậu ngọc. Nhưng tôi vẫn vui như chính mình vừa tìm được ngọc bể.
Trong mắt tôi vẫn chưa biến hết cái lung linh ban nãy của những người thanh
niên lặn tìm trân châu giữa biển (sắp) bão. Con trân châu tươi vừa bổ đôi ra,
hai mảnh vỏ óng lên cái hào quang của một thứ pha-lê nạm sà cừ. Buổi chiều vàng
đùng đục trên hòn đảo, cũng như biển bão đang đục ngầu quanh trụ sở hợp tác xã
Tô Bắc. Nhưng vỏ trai ngọc vẫn tươi ánh thanh khiết, kết tinh lại tất cả những
buổi tốt trời trên mặt biển vịnh Bắc bộ. Màu sắc mát nhẹ của lòng vỏ trân châu
đang từ chối mọi cái mờ ám càng giờ càng tăng của bầu trời bão quanh mình. Vỏ
trân châu xanh hồng huyền ảo, càng nhìn càng ưa, và thấy như lộng lên cái thảm
kịch của sinh vật nằm dưới rốn bể mà vẫn không chịu nguôi lòng tương tư cái
nguồn sáng cội gốc đang bị trần sóng trên đỉnh đầu bẻ gẫy hết tia chói. Màu vẻ
lòng trai ngọc thật là kiều diễm như nửa vòng cung cầu vồng bắc lên từ một thế
giới đáy biển vẫn hoài bão ánh trời (...)
Hình như gió bão chờ chúng
tôi lọt hết vào trận địa cánh cung bãi cát, rồi mới tăng thêm hỏa lực. Mỗi viên
cát bắn vào má vào gáy lúc này buốt như một viên đạn mũi kim. Gió bắn rát từng
chập. Chốc chốc gió ngừng trong tích tắc như để thay băng đạn, thì đầu cổ lại
bật lên khi gió giật. Gió liên thanh quạt lia lịa vào gối vào ngang thắt lưng,
đẩy cả người chạy theo luồng cát mà bạt ra phía sát bờ biển của một bãi dài ba
ngàn thước, rộng chừng trăm thước. Sóng cát đánh ra khơi, bể đánh bọt sóng vào,
trời đất trắng mù mù toàn bãi như là kẻ thù đã bắt đầu thả hơi ngạt. Tôi lảo
đảo trên sa trường, đi sâu mãi vào sa trường như cố tìm cho bằng hết mọi nỗi
thương vong ở chỗ thiên hôn địa ám này. Hòn đảo gần hòn đảo xa, chỉ còn mờ mờ
xam xám cái chót đỉnh, còn chân đảo thì đã mất trong cái mịt mùng của bụi muối
ẩm. Sóng tung vòi cao và đổ dài, bọt trắng tãi thành hàng thành hàng. Sóng thúc
lẫn nhau mà vào bờ âm âm rền rền như vua thủy cho các loài thủy tộc rung thêm
trống trận. Tôi đúng là một cái buồm thuyền chạy vát nhưng sắp đứt dây lèo. Gió
đánh bật cả từng cụm sim biển mà lùa ra biển, bụi sim biển cứ thế mà nhảy câng
câng, mà lộn tùng phèo qua hết bãi cát rồi nhào đầu xuống những con sóng đứt
chân đổ vào bờ. Cát vẫn bắn đón đầu. Cát vẫn bắn theo sau. Cả cái bãi vắng sa
trường bỗng trở thành cái boong hoang dại của một chiếc tàu say sóng biển. Và
trên đó, tôi như một người lính thủy đang cố lao về phía vị trí đằng mũi tàu.
Tất cả những vỏ ốc con đều bay lên như tàn vàng giấy. Gió đặt vỏ ốc vào lòng
tay tôi đang che gió. Ốc ở đây màu rất đẹp và hình vẻ nhiều kiểu khác nhau,
chưa thấy mấy bãi biển mà ốc đẹp như thế. Và cũng chưa lần nào tôi được trông
thấy những cái lâu đài dã tràng nghiêng ngửa tan vỡ đến như thế. Bãi bị gió mài
lì, trở thành một mặt bàn bi-a đại cồ lồ trên ấy quay lông lốc hàng triệu hàng
triệu viên cát dã tràng đang tìm lỗ nẻ để thụt xuống. Cuối cùng, bàn tay gió,
như một anh chơi ngang phá đám đã gạt phăng hết chúng vào bất cứ con sóng đứt
chân nào đổ bờ (...)
Mặt trời lại rọi lên ngày
thứ sáu của tôi trên đảo Thanh Luân (tức đảo Cô Tô mẹ?) một cách thật quá là
đầy đủ. Tôi dậy từ canh tư. Còn tối đất, cố đi mãi trên đá đầu sư, ra thấu đầu
mũi đảo. Và ngồi đó rình mặt trời lên. Điều tôi dự đoán, thật là không sai. Sau
trận bão, chân trời, ngấn bể, sạch như tấm kính lau hết bụi. Mặt giời nhú lên
dần dần, rồi lên cho kỳ hết. Tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng.
Lòng đỏ trứng khổng lồ đặt lên một cái mâm bạc rộng bằng cả một cái chân trời
màu ngọc trai nước biển hửng hồng. Y như một mâm lễ phẩm tiến ra từ trong bình
minh để mừng cho sự trường thọ của tất cả những người chài lưới trên muôn thuở
biển Đông. Vài chiếc nhạn mùa thu chao đi chao lại trên mặt bể sáng dần lên cái
chất bạc nén. Một con hải âu bay ngang, là là nhịp cánh (...) (Trích từ bài Cô Tô)
Đất nước ta có đủ núi, sông và
biển. Lịch sử chống ngoại xâm phương bắc của dân tộc ta cũng có đủ chiến trường
núi, sông, biển nơi tiếng reo hò thắng trận của quân Đại Việt còn mãi mãi vang:
ải Chi Lăng, sông Bạch Đằng, biển Vân Đồn...
Thăm ải thăm sông không biết có
được thưởng thức "đặc sản" gì chăng, còn thăm chiến trường biển xưa
thì ta có thể "cả người chỉ vẻn vẹn mảnh khố tắm, lên ềnh ra trên (...)
cát mỡ cát sữa (...) đẹp hơn đường hoa mơ đường mỡ gà, có chỗ ánh ngần in hệt
đường kính". Nằm trên cát mỡ sữa đường chán, ta có thể ghé vạn nếm thứ
"nước mắm cá nục đã hàng chục niên tuổi, mở nắp ngửi thơm lừng như hương
quý bốc lên từ một thứ rượu mặn"...
Hóa ra ở miền Bắc cũng có nơi
làm nước mắm. Thiết tưởng một hiện diện ngoại lệ không thể thay đổi kết luận
của nhiều nhà nghiên cứu rằng nước mắm gốc ở miền Trung, có lẽ là sáng kiến của
người Chăm. Mặt khác, Chăm từ lâu đã thành một phần không thể tách rời của
"Việt Nam", vậy nói "rượu mặn" là thành quả xuất sắc của
trí tuệ Việt Nam thì cũng không sai.
Cả một vùng biển Vân Đồn cứ
theo gió bấc như thế mà ầm ầm sôi bụng mấy buổi liền. Bãi ướt vắng cả đến bóng
gầy của những người đi bắt sa trùng càng làm cát trắng Vân Hải tăng thêm độ nhớ
và nỗi mình. Đêm đảo về sáng, những gộc củi lấy từ bên rừng Vân đỏ cháy như
không bao giờ có thể tàn được; tiếc cái đống lửa đảo Vân mà thành ra như người
mắc bệnh không ngủ, tôi nằm xuống ngồi lên nhại đúng cái dáng và cái tâm một gã
si đang hờn với một cái hẹn sai nào. Gió mùa đông bắc vẫn lùa gộc lửa bùng và
dựng dậy sóng biển ngoài. Trong tiếng lửa trong mùi gió trong hơi sóng, đã trở
về quanh đây tất cả cái tấp nập nhộn nhịp cái dẻo bền cái năng động đáng yêu
của đời Trần. Trong sóng đứt chân và gió bấc mùa còn nghe rộn lên tiếng xáp
trận của thủy quân ta (...)
Chập chờn hết mấy đêm trên
sa trường Vân Hải xưa cùng nay, thấy gió lòng quê lộng mãi lên hơn bất cứ thao
thức nào đã đu đưa mình bao năm qua các triền núi quẩn gió lũng trong đất liền
(...) Đất nước mình có núi, có sông lở, có biển bồi, có đảo, có nhiều đảo. Riêng
huyện Vân Đồn (tên cũ đáng yêu của huyện Cẩm Phả bây giờ) có trên sáu trăm hòn
đảo lớn nhỏ, chia làm ba quần đảo (...)
Đò trạm của huyện đã trả
chúng tôi đúng về bến huyện (...) Chà, vui mắt quá, cái sân chế biến nước mắm,
hàng ngàn chum kiệu màu da lươn thẫm dựng đứng theo hàng lối từng khu, mỗi khu
xếp theo tuổi của nước mắm. Có những chum nước mắm cá nục đã hàng chục niên
tuổi, mở nắp ngửi thơm lừng như hương quý bốc lên từ một thứ rượu mặn. Uống một
chén suông, chặc lưỡi một cái, thấy ngọt lừ (...) (Trích từ bài Huyện Đảo)
(1) Bài Lo Văn Ế của Tản Đà có
câu: "Có văn có ích, có văn chơi".
(2) Để xem nhiều hơn, xin vào trang gocnhin.net, mục Văn Chương/ Tùy Bút, Ký/ Nguyễn Tuân.
(2) Để xem nhiều hơn, xin vào trang gocnhin.net, mục Văn Chương/ Tùy Bút, Ký/ Nguyễn Tuân.
Thu Tứ







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét