Việt Nam thời khai sinh 2
CHƯƠNG THỨ SÁU
vấn đề nguồn gốc dân tộc việt nam
Thiết tưởng đó là một vấn đề mọi người dân Việt Nam có quyền
và có bổn phận đặt ra cho chính mình, và đó cũng là một vấn đề họ có quyền và
có bổn phận phải đặt ra với tư cách là thành phần của một đoàn thể có tổ chức,
của quốc gia Việt Nam. Vấn đề riêng và chung đó, chúng ta thử cố gắng tìm một
câu giải đáp với tinh thần uống nước nhớ nguồn. Là một vấn đề quan trọng, tất
nhiên chúng ta không thể làm một cách tắc trách, dễ dàng bằng lòng với những mẩu
chuyện hoang khống giả tạo. Thái độ của một người quyết chí tìm nguồn, không phải
là điềm nhiên ngồi trong nhà, để lắng tai nghe bất cứ ai ba hoa nói rằng nguồn ở
chỗ này, ở chỗ khác, như "thiên thượng lai" chẳng hạn. Trái lại, phải
ra đi, vượt thác trèo gềnh, không quản ngại công lao, gian hiểm.
Để tránh mệt nhọc, có thể có người nói rằng những mẩu chuyển
tiên rồng hoang khống rất có thể nâng cao tinh thần, rất có thể làm cho đất nước
vẻ vang. Nghe qua dường như có thể vậy, nhưng xét lại tưởng không sao có thể.
Là hoang khống, những mẩu chuyện đó không có sức sống, mà không có sức sống là
không thể di dưỡng. Người ta không thể ngửi hương nơi một bó hoa giấy, hoặc có
thể tráng miệng với một quả cam ni lông.
Trong những trang trước đây, chúng tôi đã dựa vào di tích và
sử liệu để trình bày cả một quá khứ của những người đã có cấu tạo một nền văn
minh, đã gầy dựng nên một sự nghiệp trên non sông cổ Việt. Những người đó đã
sinh sống nơi đây từ lâu, tại nơi đây, họ đã bỏ công khai phá để làm một chỗ ở,
để tìm một thức ăn. Họ cũng đã có tổ chức ít nhiều lòng thương yêu đất nước. Có
khi họ cũng đã vùng dậy để chống lại áp chế, để bênh vực tự do, như trường hợp
của hai chị em bà Trưng chẳng hạn.
Nhưng, cũng đứng trên căn bản di tích và lịch sử, chúng tôi
đã nói rằng, dầu những người đi trước đó đã đóng vai trên sân khấu cổ Việt, họ
vẫn không phải là người Việt Nam chúng ta, họ cũng không phải là những kẻ đã
thành lập nên quốc gia Việt Nam chúng ta. Họ có nền văn minh, nhưng nền văn
minh đó là nền văn minh của họ, nó không giống nền văn minh Việt Nam. Họ đã gầy
dựng một sự nghiệp nhưng sự nghiệp đó chỉ nằm trong khuôn khổ bộ lạc, thô lậu,
hẹp hòi. Họ đã tranh đấu chống áp chế để bảo vệ tự do, nhưng tự do họ bảo vệ
còn là một thứ tự do nằm ngoài khuôn khổ văn minh, nó hoang dã, nó cổ lỗ. Đối với
người Việt Nam, tất những gì họ đã làm chỉ có thể tóm tắt lại trong điều này là
họ đã sống trước người Việt Nam trên cùng một non sông sau này sẽ trở thành đất
nước Việt Nam.
Vậy nếu người Việt Nam không phải do những người trước đó mà
đến, thì hỏi họ đến từ đâu?
Trước khi đề cập đến vấn đề thiết yếu đó, thiết tưởng nên nhắc
lại những câu trả lời đã có sẵn. Những câu giải đáp này, chúng tôi xin xếp
thành hai loại, loại giải đáp của các sử gia chính thống, và loại giải đáp của
các sử gia ngoại quốc.
I. NGUỒN GỐC VIỆT NAM THEO CÁC SỬ GIA CHÍNH THỐNG
Khi dùng tiếng sử gia chính thống, chúng tôi muốn nói đến những
người đã viết chính sử như các quan ở các vương triều, những kẻ làm việc trong
các sử quán, hay những tác giả theo cùng luận điệu như họ.
Hỏi, theo các sử gia chính thống, dân Việt Nam bắt nguồn từ
đâu?
Đọc tác phẩm của họ, như các quyển Việt sử lược, Đại Việt
sử ký toàn thư, như Việt sử tiêu án, hay Khâm định Việt sử Thông giám
Cương mục, chúng ta không gặp được một câu trả lời trực tiếp. Họ không nói ra
trắng trợn, nhưng họ chén sử Việt với một niềm tin tưởng vững chắc là dân Việt
Nam giống như ngày nay, đã có từ lâu, và lâu lắm. Từ thời xa xuôi đó dân Việt
Nam chẳng những đã sinh sống trên đất cổ Việt, mà cũng đã tổ chức thành một quốc
gia riêng biệt, có đầy đủ chủ quyền tối cao, có một cơ cấu khá chặt chẽ. Họ
không cho biết dân Việt Nam thuộc về giống người nào, hay tại sao họ đến ở đây.
Họ không nói dân Việt Nam có giống dân Trung Hoa hay không, hoặc có phải từ dân
Trung Hoa mà đến không. Về các vị vua cai trị dân Việt Nam trong thời cổ đó, họ
đã dùng một vài danh từ bắt nguồn từ thời thái cổ của lịch sử Trung quốc, như
Thần nông, Viêm đế, hay từ thời khai sử như Hoàng đế, hay trong thời đã có lịch
sự rõ rệt, như Triệu Đà. Ý của họ có lẽ muốn nói lên rằng quyền bính của các
vua Việt Nam cũng phát tích bởi cùng một gốc như các vua Trung Hoa, mặc dầu
không bao giờ họ nói rõ điều đó. Để có thể lĩnh hội tư tưởng họ về nguồn gốc Việt
Nam, xét nên chia ra làm hai mục, mục quốc thống, và mục lĩnh thổ.
1) Quốc thống Việt Nam
Theo Ngô Sĩ Liên, thì lịch sử Việt Nam (hay Đại Việt) bắt đầu
với "cháu ba đời Viêm đế họ Thần nông là Đế Minh, sinh ra Đế Nghi", rồi
đến Ngũ Lĩnh "lấy Vụ tiên nữ sinh ra Lộc Tục" và Đế Nghi làm vua
Trung quốc, còn Lộc Tục làm vua Việt Nam với hiệu là Kinh Dương vương, rồi Lộc
Tục "lấy con gái chúa Động Đình là Thần Long sinh ra Lạc Long Quân".
Người Việt thường có tập truyền nói họ là "con rồng cháu tiên", gốc
tích từ đó. (1)
Thiết tưởng, không cần phải dừng để phê bình tính cách lịch sử
của một mẫu chuyện như thế, vì nó hiển nhiên là một mẫu chuyện hoang đường,
nhưng xét dụng ý của Ngô Sĩ Liên khi ông đặt nó vào đầu bộ Đại Việt sử
toàn thư (hay Toàn thư) thì thấy ông muốn nêu lên rằng ngay từ khi
Trung quốc phát sinh, nước Việt Nam cũng đã phát sinh hoặc là hơn thế nữa, nước
Việt Nam còn may mắn hơn Trung quốc nhiều, vì Lộc Tục thánh trí, thông minh, đức
độ, lại không thèm nhận ngai vàng của Trung quốc mà sung sướng làm vua Việt
Nam.
Từ nguồn gốc cao thiêng này, Ngô Sĩ Liêng đã khỉ sự quốc thống
Việt Nam. Quốc thống sẽ từ Lạc Long Quân qua các vua gọi là Hùng vương. Và Hùng
vương cũng là những nhân vật khác thường. Vua Hùng vương thứ nhất là con tướng
của Lạc Long Quân và Âu Cơ, bà này đã sinh ra một bọc trứng, bọc trứng nẩy nở
ra một trăm trai, trong số đó năm mươi người theo cha xuống biển vì là rồng, và
năm mươi người theo mẹ lên núi vì là tiên. Có đến 18 đời vua Hùng vương như vậy.
Theo Ngô Sĩ Liên thì từ khi Kinh Dương vương khỉ sự Hồng Bàng thị cho đến hết đời
Hùng vương thứ 18, đếm được tất cả 2.622 năm. Như thế, tính ra quốc thống Việt
Nam đã phát khởi từ năm 2.879 trước Kỷ nguyên. Đây nữa, chừng như Ngô Sĩ Liên
cũng muốn cho Việt Nam vượt Trung quốc. Thật vậy, sử Trung quốc khi nói về các
vua đầu tiên của họ, chỉ nói rõ năm kể từ thời phục hy mà đi, nghĩa là từ năm
2.858, ấy thế mà sử Việt Nam đã có thể nói rõ năm kể từ 2.876! (2)
Chúng ta nhận được rằng Ngô Sĩ Liên là một người yêu nước, mà
vì yêu nước như vậy nên ông muốn cho nước ông có một nguồn gốc vững vàng từ
nghìn xưa, ăn lấn cả lân bang khổng lồ là Trung quốc. Nhưng có lẽ cũng vì quá
yêu nước mà ông dễ dàng chấp nhận cả những điều chướng tai gai mắt, đến nỗi làm
ngạc nhiên những người đồng chí hướng với ông. Vua Tự Đức, chẳng hạn, đã không
ngần ngại kết án nặng lời tham vọng của ông, và ra lệnh cắt bớt tính cách xa
xưa giả tạo của quốc thống Việt Nam. Nhân dịp ban phép chép bộ Cương mục,
vua tuyên bố:
"Việc Kinh Dương vương là Lạc Long Quân mà sử cũ đã
chép, hoặc có, hoặc không, dầu có đi nữa, không thảo luận đến là hơn, vậy mà sử
cũ nhất luật chép bằng chữ lớn, và trong chỗ chép đó lại phần nhiều mò mẫm những
chuyện trâu ma thần rắn (ngưu quỷ xà thần), những thuyết hoang đường quái dị,
không hợp lẽ thường. Bởi đó theo nguyên tắc "xã quái tồn thường" (bỏ
việc quái dị, giữ việc bình thường) của nhà làm sử, hỏi có thể chép như thế được
không?
Vậy cho phép bộ Việt sử Thông giám Cương mục nầy được
phép bắt đầu từ Hùng vương để nêu quốc thống ta là trước từ đó. (3)
Tự Đức đã đánh dấu một bước tiến trong việc nhận xét nguồn gốc
Việt nam, nhưng vua chưa đủ can đảm để xóa bỏ hết những gì quái dị mà Ngô Sĩ
Liên đã thêm vào chính sử. Vua nói rất đúng rằng các chuyện Kinh Dương vương, Lạc
Long Quân là "trâu ma thần rắn", nhưng hỏi chuyện Hùng vương là gì
khác nếu không phải là con cái của "trâu ma thần rắn", của loài đẻ trứng
mà ra? Sở dĩ vua và các quan của sử quán không thấy rõ chỗ thiếu chuyên nhất
trong lý luận của họ, đó có lẽ là vì chuyện Hùng vương có nói đến một dọc những
vua kế truyền nhau lâu dài. Nhưng một mẫu chuyện phóng tác có thể kéo dài lịch
đại các vua tưởng tượng ra đến bao nhiêu mà chẳng được.
Vào thế kỷ 13, Lê Văn Hưu không có tham vọng quốc thống không
mộng như Ngô Sĩ Liên và Tự Đức, thực tế hơn, ông đã bắt đầu bộ Đại Việt sử
ký của ông với Triệu Đà, cho công việc của viên hiệu úy nhà Tần đã đặt nền
móng của đất nước chúng ta. Phải chăng ý của Lê Văn Hưu là nói rằng nước Việt
Nam đã có cùng một nguồn với Trung quốc, và rồi tách ra khỏi nước đó để lập
thành một quốc gia riêng? Để có thể trả lời câu hỏi nầy, tưởng nên đọc lời bàn
của ông sau chương Triệu Võ Đế. Ông viết:
"... Triệu Võ Đế mở mang được nước Việt ta mà tự làm
Hoàng đế nước mình, để cùng nhà Hán chống chọi. Chép là đế là vì mở đầu ra cơ
nghiệp đế Vương ở ta, công ấy kể thật là lớn. Những người làm vua nước Việt về
sau nên bắt chước Triệu Võ giữ vững bờ cõi, đặt ra quân quốc, có đường lối giao
thiệp với lân bang, dùng chữ nhân để duy trì ngôi cả, thì sẽ bão toàn được đất
nước, người Tàu không còn lăm le dòm ngó được nữa. (4)
Phân tích đoạn văn nầy, chúng ta thấy được những điều sau
đây:
a) Triệu Võ Đế sáng lập và mở mang nước Việt ta,
b) Thời Triệu đế, nước Việt ta đã độc lập đối với người Tàu,
c) Nước Tàu có kẻ thù dòm ngó nước Việt ta.
Theo đó, chưa có thể có một câu trả lời dứt khoát, nhưng nếu
đem lời bàn bổ túc cho những gì Lê Văn Hưu đã thuật về Triệu Võ Đế, chúng ta sẽ
lĩnh hội được ý kiến ông một cách đầy đủ. Ở chuyện thuật, thấy phát hiện hai sự
kiện nầy:
a) Triệu Đà là quan nhà Tần,
b) Theo kế của Nhâm Ngao, ông nổi dậy lập nước Nam Việt ở quận
Nam Hải của nhà Tần,
Vậy, chúng ta có thể nói rằng theo Lê Văn Hưu, gốc tích của
nước Việt Nam (Đại Việt) là từ Trung Quốc, vì nước đó được gầy dựng bởi một người
Trung Quốc, trên một phần đất Trung Quốc.
Tổng kết các ý kiến của các sử gia chính thống về nguồn gốc
dân tộc Việt Nam, chúng ta thấy có ba chủ trương. Ngô Sĩ Liên đã đặt khởi điểm ở
chỗ xa nhất, trong địa hạt hoang khống của tưởng tượng. Lê Văn Hưu đã chọn chỗ
gần nhất, ở Nam Việt của Triệu Đà, còn vua Tự Đức và sử quán triều Nguyễn thì ở
chỗ chiết trung, xa hơn Triệu Đà, mà gần hơn Kinh Dương vương.
Nhưng quốc thống không phải chỉ là khởi điểm, mà chính là chủ
quyền của một quốc gia kế truyền đời nầy đến đời khác trường kỳ lịch sử. Các sử
gia chính thống đã cho quốc thống của họ qua những triều đại nào? Lần giở Hán
thư, chúng ta thấy nó qua từ Hùng Vương An Dương Vương rồi Triệu Đà, rồi Trưng
Nữ, rồi Sĩ Vương rồi Tiền Lý Nam Đế, rồi Triệu Việt Vương, rồi Hậu Lý Nam Đế,
trước khi đến Tiền Ngô Vương. Một điều đáng chú ý là Mai Thúc Loan cũng xưng đế,
vậy mà Ngô Sĩ Liên vẫn gọi ông là giặc, chứ không liệt vào sổ triều đại.
Duyệt lại dọc bài những triều đại vừa kể, sử quán triều Nguyễn
chỉ gạc có triều đại Sĩ Vương. Vua Tự Đức phê: "Sĩ Nhiếp chỉ là một thái
thú của nhà Hán mà thôi, lại xu thời, khéo tìm cách tự tiện, không có tài mạnh,
mưu xa gì cả, đến nổi hai đời đã hỏng, có gì đáng khen. Sử cũ cho rằng Úy Đà
cũng không hơn được, thật là nói quá lời". (5) Và Cương Mục lặng
lẽ liệt Sĩ Nhiếp vào hàng thái thú Giao Chỉ, như bao nhiêu thái thú khác. Không
kể những chuyện hoàn toàn giả tạo như chuyện Triệu Việt Vương, những triều đại
khác làm thế nào để có thể nối kết với nhau được? Hỏi nhà Triệu Nam Việt móc
làm sao được vào chuyện nổi dậy của hai bà Trưng của Lạc Việt, và hai bà Trưng
của Lạc Việt nầy có liên hệ gì với Lý Bí? v.v... Những lần nổi dậy xưng vương
xưng đế vừa kể chẳng khác gì như những cô đảo rải rác giữa đại dương không có
thống thuộc gì với nhau.
2) Lĩnh thổ Việt Nam?
Quan niệm của các sử gia chính thống thật là mơ hồ khi nói về
phạm vi lĩnh thổ họ gán cho quốc gia Việt Nam, trong đầu. Những địa danh họ nói
đến là Xích Quỉ, lĩnh thổ của Kinh Dương Vương, là Văn Lang, lĩnh thổ của Hùng
Vương, là Nam Việt, lĩnh thổ của Triệu Đà.
Xích Quỉ ở đâu? Toàn thư của Ngô Sĩ Liên không cho
biết. Người ta có thể tìm thấy nơi vương hiệu của Lộc Tục: Kinh Dương Vương.
Theo vương hiệu nầy, có thể hiểu được rằng Lộc Tục là vua của các châu Kinh và
Dương. Kinh và Dương là hai châu trong vùng Cửu Châu nguyên khởi của Trung Quốc. Kinh
Thư ở thiên "Vũ Cống" có nói đến phạm vi của hai châu nầy như
sau:
a) Về Châu Kinh:
"Châu Kinh ăn từ núi Kinh đến núi Hoành, Sông Giang,
sông Hán chảy ra bể uy vệ như quan vào triều. Ba ngành sông Giang đều dẫn nước.
Sông Đà, Sông Tiềm, chảy thuận giòng. Đất ở Đầm Vân cày được, đất Đầm Mộng trồng
trọt được. Ở đây đất ẩm bùn, thuộc hạng tám, thuế hạng ba.
b) Về Châu Dương:
Giữa sông Hoài và biển có châu Dương. Ở Bành Lễ có hồ, vịt trời
hay đậu ở đó. Tam Giang chia nước chảy ra biển. Hồ Chấn bị bao vây tứ phía. Tre
mỏng, tre dày đều mọc tại đây. Ở đây cỏ cao và thanh, cây cối rất lớn. Đất thì ẩm
và bùn, đất thuộc hạng chín, thuế hạng sáu, hạng bảy. (6)
Theo đó, Lộc Tục đã cai trị ở vùng Dương Tử Giang và Hoài Hà,
cả một khu vực bao la không có biên giới nào nhất định, chỉ có sông to núi lớn
làm mốc. Dầu vậy, đất Kinh, đất Dương trong Kinh Thư không bao giờ
bao hàm những chỗ như núi Tản Viên, sông Nhị Hà, hay dãy Trường Sơn.
Đến Hùng Vương, lãnh thổ lại hơi khác. Nước Văn Lang có những
giáp giới do Toàn Thư định, tức là "đông giáp Nam Hải, tây giáp
Ba Thục, bắc giáp hồ Động Đình, nam giáp Hồ Tôn, nghĩa là Chiêm Thành".
(7) Nói cho đúng giáp giới của Văn Lang không được Toàn Thư chép bằng
chữ lớn, mà chỉ chép bằng chữ nhỏ. Hình thức trình bày đó có nghĩa như một lời
chú thích. Dầu sao, lời chú thích nầy và những chỗ tương tự khác đều được đoán
là của chính Ngô Sĩ Liên, vì không có một dấu tích gì cho biết rằng một người
nào khác về sau đã làm việc đó. Theo những đường biên thùy vừa kể, thì Văn Lang
thật là một nước to lớn, chẳng những gồm đất cổ Việt mà còn bao hàm cả miền Nam
Hoa lên cho đến sông Dương Tử.
Về nước Nam Việt, ai cũng biết là của Triệu Đà thiết lập ở quận
Nam Hải vào năm 207 trước Kỷ Nguyên, và rồi thôn nhập các quận Quế Lâm cùng Tượng
nữa vào lĩnh thổ đó. Nước Nam Việt, như thế, là trùm cả vùng lưỡng Quảng ngày
nay. Hỏi Nam Việt có gồm cả đất cổ Việt nữa không? Như đã thấy trong đoạn lịch
sử Lạc Việt, về sau Triệu Đà đã dùng võ lực chinh phục đất cổ Việt.
3) Nhận xét
Chủ trương quốc thống xa xưa của các sử gia chính thống không
thể nào đứng vững được. Sự thất thế của quan niệm họ chẳng những phát hiện ở bản
tính của những mẫu chuyện hoang đường họ đưa vào làm nền tảng, ví dụ chuyện
Hùng Vương mà chúng tôi đã đề cập đến ở chương lịch sử Lạc Việt, mà còn ở lĩnh
thổ họ nói là của Việt Nam. Nếu Việt Nam quả thật đã có từ thời những vị vua họ
gọi là Kinh Dương Vương, Hùng Vương, thì sao Kinh Dương Vương lại cai trị một
nơi, mà Hùng Vương lại cai trị một nơi? Mà nếu Triệu Đà cũng nằm trong quốc thống
đó nữa, thì sao họ lại kể Triệu Đà như là một vị anh hùng khai quốc, chứ không
phải là một người phục quốc? Hỏi lĩnh thổ Nam Việt không phải nằm trong phạm vi
của nước Văn Lang họ tưởng tượng ra sao? Hay là họ bất nhất trong quan niệm của
họ?
Và rồi, nếu cho rằng Lý Bí, Ngô Quyền, cũng là những người nối
dõi quốc thống của Triệu Đà ở Nam Việt, thì chẳng hóa ra cho vua nước nầy nối
dõi quốc thống của vua nước khác sao? Giả sử lấy lẽ rằng Triệu Đà có lần đã
chinh phục đất cổ Việt, nên về sau hễ ai làm vua cổ Việt đều nối dõi quốc thống
của Triệu Đà, thì rõ ràng là thất lý. Khi Triệu Đà chiếm đất cổ Việt, ông có thể
nói đất đó là của ông, "nhưng hỏi người cổ Việt có thể trở ngược lại gọi đất
Nam Việt là của mình không? Nếu làm thế thì thật là quá ngây ngô. Việc đó chẳng
khác gì trong thời Pháp thuộc, người Việt Nam sang bên Pháp và xưng xe rằng đây
là "nước Việt ta vậy". Đã vậy còn có chỗ hớ hênh nầy nữa, là nước Nam
Việt bị tiêu diệt những từ năm III trước Kỷ nguyên, mà Lý Bí thì mãi đến năm
541 mới nổi dậy và Ngô Quyền mãi đến năm 939 mới xưng vương. Như thế, thật khó
mà nói được họ đã nối dõi quốc thống.
CHƯƠNG THỨ SÁU (tt)
ii. nguồn gốc việt nam theo các sử gia ngoại quốc
Trong thế kỷ hai mươi, một số sử gia ngoại quốc đã lưu ý cách
riêng đến lịch sử Việt Nam và cũng có kẻ đã đề cập đến vấn đề nguồn gốc dân tộc
ta. Trong hạng sau, những người đã đem ra nhiều ý kiến đáng kể là các ông
Léonard Aurousseau và Claude Madrolle.
1) Thuyết của Aurousseau
Năm 1923, trong Tập san Viễn đông Bác cổ, Aurousseau đã
cho đăng tải một bài công phu nhan đề là "Lần đầu tiên Trung quốc chinh phục
các xứ annamites". Đó là một bài nghiên cứu sáng sủa với những tài liệu dồi
dào và ngay ở đề mục cũng đã thấy được rằng ông có nhiều ý kiến mới mẻ về lịch
sử các thứ dân Việt vào khoảng thế kỷ thứ ba trước Kỷ nguyên. Theo ông, trận
nhà Tần cho quân vượt Ngũ Lĩnh để chinh phục miền nam Trung quốc, là đánh chống
lại thứ người mà ông gọi là An-nam-mít, tức là dân Việt Nam. Mặc dầu ngày nay
cách luận lý và chủ trương của ông đã tỏ ra không được chắc chắn, bài đó vẫn
còn đem lại cho người đọc nhiều bổ ích. Điều đáng chú ý hơn, đó là phần phụ lục
của bài, trong đó ông có ý giải đáp vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt Nam. Với nhan
đề "Note sur l'Origine du peuple annamite", ông trình bày quan điểm của
ông một cách xem ra rất khoa học. Ông tự nhận rằng không phải chính mình ông đã
nghĩ ra những ý kiến ông sắp nói tới, mà ý kiến đó tiên nguyên là của Edouard
Chavannes khi ông này dịch bộ Sử ký của Tư Mã Thiên. Ở chỗ Tư Mã Thiên nói
về nước Việt ở vùng Triết giang, Chavannes đoán rằng rất có thể dân của Câu Tiển
đã là tổ tiên của dân An-nam-mit ngày nay. Ý kiến được gợi ra đó, Aurousseau cố
gắng giải thích và minh chứng bằng những sử liệu và lý luận ông tìm được. (8)
Ông bắt đầu nhận định rằng trước khi Tần Thủy Hoàng tiến về
nam, miền Nam Hoa chia làm hai khu vực lớn, khu vực tây nam (gồm Quế Châu), miền
nam Tứ Xuyên và Vân Nam) do giống người gọi là Tây-nam-man chiếm cứ, và khu vực
đông nam (gồm Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Bắc Kỳ và phía bắc Trung Kỳ) do
giống Bách Việt chiếm cứ, trong đó có thứ người ông gọi là An-nam-mit.
Để có thể chủ trương người Việt Nam là dòng dõi của dân Câu
Tiển, ông quả quyết rằng người Việt Nam không phải là thổ dân và không xuất hiện
tại Việt Nam trước thế kỷ thứ ba trước Kỷ nguyên. Ông cũng quả quyết rằng Tây
Âu là chỉ vùng Bắc Việt và người Bắc Việt của thời bấy giờ là chính dân Tây Âu.
Rồi ông minh chứng bằng sử liệu rằng dân Tây Âu gốc tại nước Việt ở vùng Triết
giang. Sau đây là cách trình bày lý luận của ông:
a) Dân Tây Âu có tục văn thân... (Tiển phát, văn thân, tả nhậm,
Âu Việt chi dân dã. (9)
b) Dân Âu Lạc và dân Việt đều thuộc về họ Mĩ (Việt cập Âu Lạc
giai Mĩ tính dã). (10)
Xem đó, theo ông, về mặt dòng giống, giống Âu Lạc và dân Việt
giống nhau (họ Mĩ), về mặt phong tục sử sách cũng cho biết hai bên không khác
nhau, vì Sử ký nói: "Tổ Tiên Câu Tiển là dòng Vua Ngu... văn thân đoạn
phát". Như thế hai dân là một.
Nhưng sao hai dân lại có thể ở xa nhau như thế? Thì,
Aurousseau nói tiếp, đó là vì nước Việt đã bị nước Sở tiêu diệt kể từ năm 333
nên dân nước Việt phải tản đi các nơi, lập thành nhiều nhóm. Ông lại dẫn Sử
ký của Tư Mã Thiên để làm chứng: "Sau các biến cố đó, nước Việt tan
tành. Con cái các nhánh họ đánh lẫn nhau để giành quyền bính, có kẻ làm vương,
có kẻ làm quân. Họ chiếm bờ biển về phía nam Sông (11). Aurousseau bám chặt vào
những chữ "có kẻ làm vương, có kẻ làm quân" để suy ra rằng con cái
các nhánh họ của người Việt đã chóng phân tán thành nhiều nhóm đến nổi thường
được gọi là Bách Việt.
Ông xếp loại Bách Việt lại thành bốn nhóm lớn:
a) Nhóm Ôn Châu, tức là Đông Âu, ở vùng Âu giang. Năm 221, Tần
Thủy Hoàng thôn tính đất Đông Âu, nhưng năm 192, Huệ đến nhà Hán đã lập lại với
tên là Việt Đông Hải. Lối 135, nước nầy xin nhập vào nhà Hán.
b) Nhóm Phúc Kiến, tức Mân Việt, cũng bị nhà Tần phá và được
nhà Hán (Hán Cao Tổ) lập lại năm 202. Năm 135, Mân Việt đánh Nam Việt, bị nhà
Hán chia làm hai, thành Mân Việt và Đông Việt, cả hai đều bị thôn tính vào năm
111.
c) Nhóm Quảng Đông, tức là Nam Việt, nước đó Triệu Đà lập năm
207.
"Có lẽ ngoài Nam Việt chính thức ra, các nước khác yếu
hơn, nhiều hơn, ít liên kết hơn ở miền đông. Và tên Bách Việt thích hợp với các
nước đó nhất." Năm III trước Kỷ nguyên, Nam Việt đã bị nhà Hán thôn tính.
(12)
d) Nhóm An-nam-mit ở miền nam Quảng Tây và Bắc Kỳ, Trung Kỳ.
Đó là Lạc Việt, hay Tây Âu, hay Tây Âu Lạc, và nếu gọi bằng tên cũ hơn, thì đó
là Giao Chỉ.
Aurousseau nói đó là gốc tích của dân Việt Nam. Nhưng ông còn
có thể đi lũi xa hơn nữa vào quá khứ. Vì Sử ký cho biết nước Sở cũng
thuộc về họ Mĩ mà nước Sở bắt nguồn mãi từ thế kỷ II trước khi Kỷ nguyên, nên
ông nghĩ rằng có thể nói được là gốc tích người An-nam-mit khỉ sự từ thế kỷ II
trước Kỷ nguyên.
Mới đây, một học giả Trung Hoa, ông Lü Shih-Peng (Lư Sĩ Bằng)
đã nhiệt liệt tán dương kiến giải của Léonard Aurousseau. Ông nói:
"Khảo cổ học, nhân loại học, ngôn ngữ học, dân tộc học
đã khám phá được đầy đủ sự kiện để minh chứng rằng thuyết của Aurousseau là
đúng. Chủ nhân văn minh Bắc sơn của tiền sử Việt Nam là thuộc giống Anh-đô-nê.
Xét văn hóa Đông sơn, trong đó có văn hóa trống đồng Lạc Việt, thì thấy rằng
trong việc tiếp thu ảnh hưởng ngoại lai, ảnh hưởng chủ yếu là của Trung Hoa, lại
khu vực phân bố của văn hóa Đông sơn cũng nằm cả ở vùng bán đảo Đông Dương và
vùng Hoa Nam. Về mặt thể chất, dân Việt Nam thuộc giống nam Mông Cổ, tóc thẳng,
da vàng, rồi hình đầu, hình mũi, chỉ số cho đến hình vóc cao đều gần giống dân
vùng Mân Việt. Về mặt ngôn ngữ, dân Việt Nam nói Việt ngữ, một thứ tiếng đơn
âm, phức thanh, phân giảng, giống như Hán ngữ. Còn về những đặc tính của nguyên
thủy văn hóa thì hoàn toàn là của văn hóa xưa của vùng Đông Nam Á. (13)
Qua đoạn nầy, người đọc có thể có hai nhận xét, một là tác giả
nêu lên sự giống nhau giữa người Việt Nam và người Trung Hoa, hai là tác giả
dùng sự giống nhau đó để bênh vực cho thuyết của Aurousseau. Điều thứ nhất, như
chúng tôi đã nhiều lần quả quyết, chắc không ai là không đồng ý với ông Lư Sĩ Bằng,
bởi vì đó là một sự thật hiển nhiên. Nhưng chúng tôi hiểu sự giống nhau nầy
trong trạng thái hiện tại, chứ không phải trong trạng thái của thời Tần Hán, và
đó là chỗ chúng tôi không đồng ý với tác giả quyển Bắc thuộc thời kỳ đích
Việt Nam.
Về điểm thứ hai, lý luận của tác giả dựa vào trên một nền tảng
hết sức gập ghềnh. Ông có thể dễ dàng tin rằng văn hóa Đông sơn thuộc ảnh hưởng
Trung Hoa vì ông là Trung Hoa, nhưng các học giả Tây phương, như Goloubew và
nhiều người khác lại có thể nói nó thuộc ảnh hưởng của nhiều nền văn minh khác
nhau và khu vực phân bố trống đồng đâu có phải chỉ ở bán đảo Đông Dương và vùng
Hoa Nam? Theo ông, văn hóa Đông sơn của dân Lạc Việt ủng hộ cho thuyết của
Aurousseau, mà thuyết nầy chủ trương rằng các thứ dân (Bách Việt) chỉ tản về
nam sau năm 333 trước Kỷ nguyên, vậy lấy gì để làm chứng rằng dân Lạc Việt chưa
có ở cổ Việt trước niên biểu đó? Cũng theo ông, chủ nhân văn hóa trống đồng là
tổ tiên của dân Việt Nam, vậy sao ngày nay người Việt Nam không còn duy trì bất
cứ gì của phong tục Lạc Việt, kể cả việc trọng kính trống đồng? Và hỏi ông làm
sao bác bỏ được dấu vết Anh-đô-nê nơi văn hóa Đông sơn? Phải chăng chỉ có thể rằng
văn hóa Đông sơn là của những người thuộc giống Anh-đô-nê, những người nầy có
thể chịu một phần ảnh hưởng của văn hóa Trung quốc, nhưng không phải vì thế mà
họ đã đổi bản chất của họ và có thể trở thành tổ tiên của dân Việt Nam.
Về phần ngữ học, hỏi dựa vào đâu mà quả quyết được rằng tiếng
Việt Nam ngày nay là giống tiếng của người Lạc Việt thời trước, và tiếng của Lạc
Việt lại giống tiếng của người dân Mân Việt trong thời Tần, thời Hán? Sự giống
nhau ngày nay giữa tiếng Việt và tiếng Trung Hoa lại không có gì bảo đảm cho sự
giống nhau ngày xưa, và sự người Trung Hoa ở vùng Mân Việt đến đất cổ Việt vào
thế kỷ thứ tư, thứ ba trước Kỷ nguyên theo như Aurousseau chủ trương vốn không
giống việc người Tàu di cư sang cổ Việt theo đà của lịch sử bắc thuộc như chúng
tôi sẽ trình bày sau nầy.
Nếu năm 1964, ông Lư Sĩ Bằng tán dương Aurousseau, thì kể từ
năm 1940, Claude lại đã phê bình nặng lời, cho rằng thuyết đó "thiếu khoa
học". Ôn lại thuyết đó xong, ông viết một cách mỉa mai rằng:
"Thế là, một thế kỷ trước khi vị Hoàng đế sáng lập Trung
quốc lên ngôi, hàng trăm nghìn người An-nam-mit, giống như những kẻ xong pha
trong các cuộc Thánh chiến, tản ra trên những nẻo đường ở miền nam Nam Lĩnh để
đi tìm chỗ đất Trời đã định cho họ. Dọc đường họ đã dừng lại thiết cư ở châu thổ
Quảng Châu, nhưng họ thèm đất sông Hồng Hà hơn, mà đó là một nơi cách khởi điểm
của họ đến chừng hai nghìn cây số."
Và Madrolle không do dự chê răng:
"Khi chép ra thiên anh hùng sử nầy, tác giả không kể gì
đến những khó khăn của một cuộc hành trình băng qua những thung lũng nằm trực
giác với đại dương, cũng không đếm xỉa gì đến sức phản kháng của thổ dân và tù
trưởng của họ đối với lũ người phiêu bạt đói rách đó. Sau cùng, người
An-nam-mit đã lập cơ sở ở châu thổ Bắc kỳ và từ đó vẫn "duy trì được tính
cách tiên nguyên của nòi giống."
Madrolle đã nhấn mạnh vào ý kiến sau hết nầy và phê bình rằng:
"Vì thiếu tài liệu, chúng tôi nhận thấy hơi khó khi muốn
quan niệm cho biết tính cách tiên nguyên của dân An-nam-mit đó là gì. Về mặt
dân tộc học, việc khám phá những ngôi mộ cổ tỏ ra rằng dân cư châu thổ đã thay
đổi từ lâu cách mai táng của họ. Về mặt nhân loại học, chúng ta không thấy người
An-nam-mit, trong hình vóc có một trung bình thuần nhất. Những nhận xét đó chứng
tỏ rằng thói tục đã biến thiên và không có sự duy nhất dân tộc." (14)
Ý kiến của Madrolle không phải bao giờ cũng may mắn, chẳng hạn
ở chỗ ông dựa vào mức trung bình của hình vóc để luận lý. Nhưng ông rất thành
công trong việc nêu lên tính cách phiêu lưu và vô căn cứ của thuyết Aurousseau.
Dân nước Việt, một nước nhỏ lại bị bại trận, bị mất chủ quyền, nghĩa là bị chết
nhiều, túng thiếu đủ cách, vậy mà trong vòng một thế kỷ đã có thể sinh sôi nẩy
nở ra trên một khoảng đất dài hằng vài nghìn cây số, lại nổi tiếng là ma thiêng
nước độc, đến nỗi nhiều lần lính tráng khỏe mạnh đến đóng đã phải mười người chết
mất bốn năm. Rồi, dân đó, sau khi đã lan tràn mau chóng như thế, lại cũng đã có
một tổ chức chặt chẽ, nề nếp, có vương, có quân, có thao lược, khả dĩ làm kinh
ngạc năm mươi vạn quân của Tần Thủy Hoàng gửi đến. Đó phải là một chuyện tiên mộng
thì đúng hơn là một chuyện sử.
Aurousseau đã kết cấu liều lĩnh như vậy, chắc chắn vì ông đã
hiểu lầm một câu của Sử ký, mà ông dùng làm căn bản. Câu văn ông trích nói
về số phận dân Việt ở Triết giang sau khi bị nước Sở tàn phá. Câu đó đọc thế
này:
"Nhi Việt dĩ thử tán. Chư tộc tử tranh lập, hoặc vi
vương, hoặc vi quân. Tản ư giang nam hải thượng." (15)
Câu đó, ông đã dịch:
"Yue à la suite de ces événements fut dispersé; les fils
des perses branches (de la famille royale de Yue) luttèrent les uns contre les
autres pour prendre le pouvoir, les uns devinrent rois, les autres devinrent
princes. Ils occupèrent le littoral de la mer du Sud du (Tchö) Kiang."
(16)
Aurousseau hiểu câu "chư tộc tử tranh lập" là con
cái các ngành của hoàng gia vua Việt giành nhau quyền bính; hiểu như thế, thiết
tưởng không đúng ý nghĩa và không đúng với lịch sử. Không đúng ý nghĩa vì bấy
giờ đất Việt đã vào tay vua Sở, gia đình vua nước Việt đã mất quyền bính, hỏi lẽ
nào mà con cái các ngành của hoàng gia vua Việt còn tranh giành quyền bính?
Lại không đúng với lịch sử, vì lịch sử cho biết rằng sự tranh
giành đó là giữa các nước, chứ không phải trong gia đình vua Việt. Thật thế,
Trung Quốc bấy giờ đang ở vào thời kỳ Chu mạt, một thời hết sức rối loạn. Khắp
nơi trong nước Tàu, các chư hầu tranh giành nhau làm quân làm vương. Vào năm
333, chúng ta thấy đã có các vương như:
Ngụy Huệ vương 334-319
Tề Uy vương 378-333
Sở Uy vuong 339-329
Tần Huệ vương 337-325
và các công hầu như:
Lỗ Cảnh Nông 345-317
Yên Văn Công 361-333
Vệ Thành Công 361-333
Triệu Túc Hầu 349-326
Tống Dịch Thành 369-329
Hàn Chiêu Hầu
Trong chính năm 333, một số hầu quốc đang cố vươn lên hàng
vương quốc, ví dụ:
Nước Yên, với Dị Vương 332-321
Nước Hàn, với Tuyên Huệ Vương 332-312 (15)
Có lẽ, đó mới là thực trạng mà Tư Mã Thiên muốn tả với câu
"chư tộc tử tranh lập, hoặc vi vương, hoặc vi quân".
Một nhận xét nữa: Khi nước Việt thất bại, đâu có phải tất cả
mọi người dân nước Việt đều phải bỏ nhà ra đi. Thường những kẻ nắm chính quyền
hay có liên kết với chính quyền cách nầy hay cách khác trong những trường hợp
như thế mới phải bỏ nước để đi ẩn thân. Bởi vậy số người nước Việt vào năm 333
phải rời đất Việt chắc cũng không có bao lăm. Do đó, có lẽ viên trưởng sử đời
Đường, Trương Thủ Tiết, đã thấy rõ hơn điều Tư Mã Thiên muốn nói, khi ông ta
cho rằng "chính nghĩa" của câu "tản ư Giang nam hải thượng",
tức là tản về chỗ nay là Thai Châu, huyện Lâm Hải (kim Thai Châu, Lâm Hải huyện),
chứ không phải lan tràn ra khắp vùng Đông Nam nước Tàu như Aurousseau nói. (18)
Và câu của Sử ký phải dịch lại như thế nầy:
"Vì đó, nước Việt bị tan tác. Con cái các họ đua nhau tranh giành quyền
bính, kẻ làm vương, kẻ làm quân. Lúc đó, người Việt phải tản về phía nam sống
trên bờ biển".
2) Thuyết của Madrolle
Claude Madrolle là tác giả của nhiều sách hướng dẫn du lịch,
như quyển Indochine du Nord, Indochine du Sud. Ông cũng đã viết một bài nghiên
cứu giá trị về địa lý lịch sử của vùng cổ Việt đề là "Le Tonkin
ancien". Trong bài nầy, sau khi đã cố minh định phạm vi các quận Hán, và
trụ sở của các quan thứ sử, ông đã đề cập đến vấn đề dân cư và cung cấp một số
ý kiến về nguồn gốc Việt Nam. (19)
Ý kiến của ông dựa vào một phương pháp có hình thức rất khoa
học: Sự đo tầm vóc của dân. Đứng trên nền tảng đó, ông chủ trương rằng người Việt
Nam không phải là dòng dõi dân nước Việt ở Triết Giang, mà cũng không phải là
hoàn toàn ngoại lai. Trái lại, dân cư vùng châu thổ Bắc Kỳ gồm hai thành phần,
một thành phần đông đảo hơn, chiếm các vùng đất cũ đó là thổ dân, và một thành
phần ở vùng duyên hải, ít hơn, đó là những kẻ ngoại lai, từ vùng Phúc Kiến mà đến.
Về thổ dân, ông cho biết kết quả việc nghiên cứu của ông như
sau:
"Chúng tôi không thể khảo sát mọi mặt hình thái của người
dân châu thổ và chỉ chú trọng vào những con số trung bình thu hoạch được về tầm
vóc; người ta thấy rằng việc nghiên cứu nầy mà thôi đã đòi hỏi rất nhiều khó nhọc.
Khi trắc lượng và xếp loại, chúng tôi có thể nhận được năm
khu, mà vị trí gần như hợp với năm địa hạt hành chánh cổ: Ở Sơn Tây và vùng
thung lũng sông Hồng Hà, ở vùng Phú Thọ, trung bình tầm vóc là từ 1m57 đến
1m585; ở Bắc Ninh, Hưng Yên, từ 1m60 đến 1m61; ở Hải Dương và Thái Bình, từ
1m58 đến 1m59; ở Hà Nội và Nam Định (trừ mấy huyện ở Duyên Hải) từ 1m59 đến
1m60, sau hết Ninh Bình 1m58. (20)
Khi đã nhân vào bề cao trung bình mà chia thành phần thổ dân
ra làm năm khu vậy, ông có một vài nhận xét: "Chính sự chia khu nầy cũng
không nói lên rằng đó là những nhóm thuần nhất; vẫn có những tổng, đôi khi những
huyện, trong đó dân rất thấp, ví dụ huyện Quỳnh Côi, Bình Giang, Hưng Nhân, ở
ngay giữa vùng châu thổ, về phía đông nam".
Có ý giải thích sự chênh lệch về chiều cao của tầm vóc giữa
các địa phương, ông nói:
Để duy trì quyền bính, bảo vệ các trụ sở hành chánh và đường
giao thông, Trung Hoa đã lập nhiều đồn. Vì có binh sĩ đồn trú thường xuyên và
các đợt dân Trung Hoa di cư đến, một cách chậm chạp nhưng liên tiếp, chắc chắn
việc đó đã làm cho tầm vóc của thành phần thổ dân Việt ở vùng Bắc Ninh, chỗ xưa
có trụ sở hành chánh, cao thêm lên đôi tí. (21)
Hỏi thổ dân nầy là ai?
Madrolle không ngần ngại quả quyết đó là dân Lạc Việt. Và ông
nói: "Chúng tôi nghĩ rằng dân An-nam-mit ngày nay là con cái trực thống của
dân Lạc đời Chu, gọi là dân Giao Chỉ trong thời Bắc thuộc".
Theo Madrolle, những nơi chịu ảnh hưởng người Trung Hoa thì
thân xác thổ dân cao thêm lên "đôi tí" nhưng nếu có những nơi mà tầm
vóc người dân cao vượt hẳn lên, như dân vùng Xuân Trường, Giao Thủy, Hải Hậu,
cao đến 1,64, thì bấy giờ phải cắt nghĩa làm sao? Ông tự hỏi "đó có phải
là vùng duyên hải hưởng khí biển, có cá làm căn bản thực phẩm mà được như thế
không?" Và chính ông trả lời:
"Xem ra khó chủ trương được như thế, thì tất cả dân cư
miền biển đều phải có tầm vóc cao, mà thật sự họ không có. Vậy, người ta có thể
kết luận rằng, dân đó không phải thổ dân, nhưng là những người đã di cư đến."
(22)
Hỏi họ đã di cư đến từ đâu và trong trường hợp nào?
Ở đây Madrolle tỏ ra rất đơn sơ. Ông nói: "Nếu chúng ta
đọc các tập báo nói về việc trắc lượng tầm vóc, chúng ta thấy có hai dân ở vùng
Nam Hải có thể tham gia vào việc di cư đến Bắc Kỳ, vì họ cùng một tầm vóc
(1m64) như dân Hải Hậu. Đó là dân huyện Trung Sơn ở phía nam Quảng Châu, nhưng
huyện nầy nhỏ quá nên không chắc đã có thể di cư. Tuy nhiên, ở miền đông bắc, dọc
theo bờ biển, có một dân khác, một dân hoàn toàn kẻ biển, rất có thể đã đến đặt
nền tảng cho thứ người ở cửa sông Hồng Hà". (23)
Thứ dân ông nói đến đó là dân Học Lão ở Phúc Kiến, dân nầy
xưa thuộc nước Mân bị nhà Tần diệt vào năm 221. Ông trích một đoạn văn của Mã
Tuấn Lâm (1245-1325) nói rằng: "Người Mân thường chở hàng hóa đến buôn ở
Lê Đồng (Hải Nam). Nhiều người ở lại đó không về nữa. Người Tàu đến ở giữa người
Mân như vậy lại trở thành những phần tử xấu nhất trong dân". Theo ông, đó
là chứng trong thời xưa, dân Học Lão đã có di cư, và vì Lê Đồng tức Hải Nam
không xa bờ biển Bắc Việt bao nhiêu, nên ông đoán thế nào họ cũng phải đến đó.
Đây lời ông: "Họ ở ngay ở cửa vào Vịnh Bắc Kỳ, nên họ không khỏi vượt qua
Vịnh và đặt người của họ ở cửa sông Hồng Hà để sinh sống. Đối với người Bắc Kỳ,
dòng dõi của họ là những Hải Hậu nhân, nghĩa là Hậu bối của những kẻ ở biển mà
vào". (24)
Ông thắc mắc một điều, nhưng rồi ông cũng tìm ra được cách giải
đáp. Theo ông, người lạ đến ở, tất dân bị xáo trộn và đó là một biến cố lớn, vậy
sao không có ghi lại gì cả trong sử sách? Lại, sao không có dấu vết gì của thứ
ngôn ngữ riêng. Ông đáp: "Nếu sử sách không ghi, đó là vì biến cố xảy ra
trong một thời xa xưa; bấy giờ vùng châu thổ đang bị phân chia thành từng miếng
nhỏ, để làm mồi cho những kẻ xâm lăng. Nếu họ không còn duy trì ngôn ngữ của
cha ông họ, đó là vì kể từ khi di cư đến, họ đã có đủ thì giờ để tập nói được
tiếng của láng giềng họ, quen thuộc với phong tục những người đó, nói tắt là để
bị Việt Nam hóa." (25)
Trở lên là đại khái của thuyết Madrolle, bây giờ đến lúc thử
đánh giá thuyết của ông.
Trước hết, nguyên tắc căn bản của thuyết, sự do tầm vóc, đã
không có một giá trị căn bản nào. Thật thế, theo sự nhận xét thông thường, tầm
vóc đâu phải là một yếu tố di truyền, hằng cửu, không thay đổi qua thời gian.
Trái lại nó có thể thay đổi từ thế hệ nầy qua thế hệ khác, đôi khi thế hệ sau
đã cao hơn thế hệ trước nhiều. Vì vậy, nếu chỉ đưa vào sự kiện tầm vóc cao hay
thấp khác nhau mà quả quyết người nầy thuộc về loại nầy, người kia thuộc về loại
khác, thì thiết tưởng thật là liều lĩnh. Nhưng người ta sẽ liều lĩnh hơn khi
người ta đi giở những bảng thống kê độ cao của tầm vóc thuộc những người ở những
địa phương xa nhau để tìm liên lạc tộc thuộc giữa những hạng người có cùng một
tầm vóc. Và người ta sẽ liều lĩnh hết chỗ nói khi người ta đi tìm tộc thuộc như
vậy giữa những dân thuộc thế kỷ 20 để chỉ về một thời kỳ cách đây ít nhất cũng
phải hơn hai mươi thế kỷ, nghĩa là lúc nước Mân Việt còn chưa bị nhà Tần tàn
phá.
Rồi còn vấn đề sinh sản. Nay số dân ngoại lai chỉ vèn vẻn có
mấy nơi như Hải Hậu, Giao Thủy, Xuân Trường, thì hỏi cách đây hơn hai mươi thế
kỷ, số dân đầu tiên di cư đến là bao nhiêu? Có lẽ chỉ một vài nhà, mà một vài
nhà như vậy làm sao có thể giữ được ý nguyện tầm vóc, cho rằng tầm vóc có thể
giữ được ý nguyện? Hỏi hai nhà đó cứ tiếp tục kết hôn với nhau đời nầy qua đời
khác sao? Thật không thể nào họ có đủ điều kiện để làm như thế.
Rồi lại còn vấn đề địa lý. Xét theo địa tính của vùng đất ở cửa
sông Hồng Hà, hỏi cách đây hơn hai mươi thế kỷ, những nơi như Giao Thủ, Xuân
Trường, Hải Hậu đã được bồi lên chưa, hay chỉ còn là biển cả? Mà nếu có bồi lên
rồi đi nữa, hỏi đã có thể ở được chưa?
Bấy nhiêu hớ hênh đã thừa đủ để nói lên rằng thuyết của
Madrolle không thể nào có bảo đảm được.
Sở dĩ Aurousseau, Madrolle, Lu Shih-Peng không giải đáp được
vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt Nam, đó là vì các ông bị sa lầy không nhiều thì
ít vào trong tư tưởng của các sử gia chính thống. Nạn nhân của những chương đầu
trong phần ngoại kỷ của bộ Đại Việt Sử ký Toàn thư của Ngô Sĩ Liên, họ
lẩn quẩnvới những ý kiến cho rằng gốc tích người Việt Nam rất xưa, đất nước Việt
Nam rất rộng, và như thế, từ Việt Nam (Đại Việt) họ đã lùi về Lạc Việt, rồi từ
Lạc Việt họ lùi về Nam Việt, và từ Nam Việt hộ lùi về nước Việt ở vùng Triết
Giang, hay nước Sở ở trên bờ sông Hán hay một nước tưởng tượng nào đó như Văn
Lang, Xích Quỷ. Người có học đã như thế, thảo nào người ít quen biết với lịch sử,
thường nói ra là buột miệng hô hào rằng Việt Nam có những bốn nghìn năm lịch sử.
Như thế, chính ra là khinh mạn lịch sử.
Lịch sử, không phải là một công trình điểm xuyết để suy tôn một
chế độ, hay một dân tộc mà trái lại, nó là thời sự quá khứ thuật lại bởi những
chứng tích có bảo đảm. Vậy mà, khi dựa vào chính loại chứng tích nầy, người ta
sẽ thấy nguồn gốc nước Việt Nam không xa lắm, quốc thống Việt Nam không xưa lắm,
mặc dầu không vì đó mà mảy may kém vẻ uy hùng tráng lệ.
CHƯƠNG THỨ SÁU (tt)
iii. dân việt nam là người trung quốc
di cư sang trong thời bắc thuộc
1) Việc tìm nguồn gốc dân tộc
Trong việc tìm nguồn gốc dân tộc, phải tùy trường hợp mà áp dụng
biện pháp. Một dân tộc, như dân tộc Hoa kỳ chẳng hạn, đã khai sinh giữa ánh
sáng của lịch sử, nên tất cả công việc tìm tòi đều phải dựa vào sử liệu. Đối với
những dân tộc bắt nguồn xa hơn trong quá khứ, như dân tộc Trung Hoa, hay dân tộc
Việt Nam, thời khai sinh nằm mãi trong cõi thâm u của quá khứ, thì việc khảo
sát tất nhiên phải gặp nhiều khó khăn phức tạp. Chính vì tính cách phức tạp của
sự khó khăn đó mà ít người có đủ kiên nhẫn để giải gỡ dần dần, và họ đành vui
lòng chấp nhận những mẫu chuyện bịa đặt sẵn có, hay những kết luận vội vàng.
Đi vào vấn đề nguồn gốc dân tộc, vẫn có một vài sự trạng phải
dùng để đặt làm nền tảng. Trước hết, trong tình trạng hiện thời của các nước
văn minh, không một dân tộc nào là nói được nguyên thuần về mặt nhân chủng. Dân
nào cũng mang dấu vết hỗn hợp, không nhiều thì ít. Vì vậy, khi tìm nguồn gốc một
dân tộc, người ta không phải là không được phép tìm do lai của tất cả các thành
phần lớn và bé của sự hỗn hợp, nhưng khi nói nguồn gốc của một dân tộc nào đó,
người ta phải hiểu là nguyên bản của thành phần chính của nó, thành phần lớn nhất,
gồm đại đa số dân chúng. Chính thành phần lớn nhất nầy làm cho một dân tộc khác
với dân tộc khác, về phương diện nhân chủng.
Nhưng khi phân biệt dân tộc, nguyên tắc không phải chỉ có
nhân chủng. Muốn thành một dân tộc riêng, một giống người nào đó còn phải sinh
sống trong một nơi nào đó, có những mẫu sống chung nào đó, như về mặt chính trị,
văn hóa, phong tục, nói cách khác, là phải sinh sống chung trong một quốc gia.
Vì vậy, nguồn gốc một dân tộc, còn là lai lịch của một nhóm người, những người
đi lập thành một nước mới để đùm bọc lấy nhau, nâng đỡ nhau, phát triển cùng
nhau.
Tìm nguồn gốc dân tộc là tìm tất cả những sự kiện vừa nói,
nhưng hỏi phải dựa vào đâu để làm đường hướng dẫn trong khi đi tìm? Thì
"con ông không giống lông thì giống cánh. Sự giống nhau sẽ là khởi điểm và
là con đường hướng dẫn trong việc tìm tòi. Nó sẽ chỉ lối cho chúng ta tiến bước,
cho đến khi gặp được sự thật.
Tuy nhiên, sự dị biết không phải nhất thiết là một ngăn trở
nên đường ngược về nguồn. Mỗi dân tộc, nhất là những dân tộc cổ cựu, bao giờ
cũng có những đặc tính nó tách biệt dân đó với các dân lân cận, nhưng còn cần
phải nhìn kỹ và những đặc tính như thế để cho biết nó phát sinh tự bao giờ, bởi
vì một đặc tính đó có thể đã có từ xa xưa và bất di bất biến cho đến một trình
độ nào đó, ví dụ đặc tính về nhân chủng, nhưng lại có những đặc tính chỉ phát
hiện và nẩy nở trong một hoàn cảnh nào đó trên đà tiến triển của dân tộc qua thời
gian. Vì vậy, hiện nay hai dân tộc có thể để lộ ra một số dị biệt, nhưng biết
đâu trước kia đã có thể phát tích từ một gốc chung, và rồi đã tách nhau ra để
sinh sống trong những khu vực địa lý biệt lập, đã có những hoàn cảnh chính trị,
kinh tế, xã hội riêng và do đó đã trở nên khác nhau dần dần.
Như thế, yếu tố thời gian đóng một vai trò quan trọng cần phải
lưu ý đến. Hiện tại xa với gốc hay gần với gốc bao nhiêu, vai trò của thời gian
sẽ quan trọng nhiều hay ít bấy nhiêu. Công cuộc tìm nguồn gốc sẽ bắt đầu từ hiện
tại để đi ngược giòng thời gian, phân tích những điểm tương đồng hay dị biệt đó
xem nó là căn bản hay phụ thuộc, dò xét kỹ những biến cách của nó qua các thế kỷ
để đi cho đến chỗ phát nguyên. Và, như đã nói, chỗ phát nguyên nầy không phải
là chỗ phát nguyên tuyệt đối, vì không thể nào tìm được chỗ phát nguyên tuyệt đối
của một dân tộc. Người tìm phải bằng lòng với nguồn gốc tương đối, nhưng càng
tiến xa hơn càng hay để đến cho được chỗ mà một cộng đồng thể, khỉ sự trở thành
một dân tộc riêng có một quốc gia riêng.
Để làm những việc vừa nói, chúng ta cần phải so sánh nhưng phải
cẩn thận vì không phải sự giống nhau nào cũng có thể cho phép chúng ta đi đến một
kết luận, mà trái lại chúng ta chỉ kết luận bao giờ có những giống nhau rút căn
bản tự lịch sử mà ra. Thật thế, chỉ những tài liệu lịch sử mới là những ngọn đuốc
chiếu sáng cho chúng ta trên con đường đi về nguồn gốc. Lần theo dấu của người
xưa để lại đó, chúng ta mới có thể tiến về quá khứ bằng những bước vững vàng.
Trong việc nghiên cứu sau đây, chúng tôi cố gắng trung thành hết sức với những
điều chúng tôi vừa nêu ra đó.
2) Những giống nhau giữa dân Trung Hoa
Khi dẫn một đoạn văn của ông Lư-Shih-Peng trong dịp phê bình
thuyết Aurousseau, chúng tôi đã khen ngợi tác giả họ Lư là khéo nhận xét và
cũng đã nói rằng sự tương đồng giữa dân Việt Nam và dân Trung Hoa là một sự hiển
nhiên.
Về phương diện nhân chủng, tức là phương diện căn bản, không
sao nói được là hai dân tộc không giống nhau. Không kể những dân thiểu số ở miền
sơn cước và một số rất ít những người Việt Nam lai Chàm, lai giống Anh-đô-nê
hay Mê-la-nê, đại đa số người Việt Nam đều thuộc giống Mông Cổ, da thì vàng,
tóc thì thẳng, có hình sọ giống hình sọ người Trung Hoa, có nét mặt giống nét mặt
người Trung Hoa, nhất là người Trung Hoa ở miền đông nam. Sự giống nhau về mặt
nhân chủng trong hiện tại, nếu có lịch sử nâng đỡ, sẽ nói lên mạnh mẽ sự đồng
nguyên trong quá khứ: Nhưng đồng nguyên thế nào? Có phải nguyên theo kiểu
Aurousseau đã trình bày hay không? Chúng tôi đã nói rằng không, vì thuyết đó
không có sử liệu ủng hộ, và không hợp lý. Hay đồng nguyên với ý nghĩa nầy là
dân vùng Hoa Nam, sau khi định cư ở vùng cổ Việt không? Đó chính là điều chúng
tôi sắp trình bày với những sử liệu có thể có.
Ngoài sự tương đồng về nhân chủng, giữa người Trung Hoa và Việt
còn có nhiều tương đồng về phong tục, về tập quán, về tôn giáo. Nghiên cứu những
thói quen của Việt Nam trong mọi khía cánh của đời sống, người ta sẽ ngạc nhiên
tự hỏi sao hai đàng có thể giống nhau đến thế. E. Biguet đã làm việc trong quyển Les
Annamites, Société, Coutumes, Religions, và Pierre Gourou trong quyển La
Terre et l'Homme en Extrême-Orient, và cả hai đã có cảm tưởng như vậy. (26)
Nhưng, mặc đầu với một cách chậm chạp và khó khăn, phong tục,
tập quán, tôn giáo, và có thể thay đổi. Vậy, biết đâu, phong tục, tập quán, tôn
giáo của Việt Nam, ngày nay giống của Trung quốc, trước kia vốn khác, và rồi
qua thời Bắc thuộc dài đằng đẳng đã dần dần bị đồng hóa với của người Trung quốc?
Đó chính là luận điệu của các sử gia chính thống và của những người theo họ.
Thiết tưởng chủ trương như vậy không phải là vô lý khi không những tương đồng
khác và đồng thời được lịch sử chứng minh. Nay, sau khi đã nhận sự tương đồng về
nhân chủng, lại thấy những tương đồng khác về các điểm phụ thuộc, thì sự giống
nhau nầy còn đâu là một sự đồng hóa, mà trái lại là một sự dời chuyển cả người
lẫn phong tục, tập quán, tôn giáo.
Hơn nữa, đang khi các sử gia chính thống đưa vào sự kiện một
nghìn năm Bắc thuộc để làm căn bản cho thuyết của họ nói rằng người Việt Nam đã
bị đồng hóa, thì chính sự kiện một nghìn năm Bắc thuộc đó lại làm chứng ngược lại.
Hỏi một nghìn năm Bắc thuộc đã Hoa hóa người Việt Nam sẵn có ở cổ Việt, hay đó
là chính thời gian người Trung Hoa đã, đợt nầy rồi đợt khác, sang thực dân tại
đây, và cuối cùng, khi mọi sự đã tỏ ra thuận lợi, đã đứng dậy, lập một nước
riêng, nước Việt Nam? Tài liệu lịch sử đã ủng hộ kiến giải thứ hai, như sẽ thấy.
Ngôn ngữ cũng là một khía cạnh cần phải nhắc đến, và đây nữa,
sự tương đồng cũng rất rõ rệt. Hầu như có thể nói được rằng tiếng Việt Nam ngày
nay, sáu mươi thế kỷ độc lập, vẫn còn là chính tiếng Tàu nhưng đọc lên một cách
hơi khác với các cách đọc của những tiếng địa phương ở Trung Quốc. Cố nhiên,
trong Việt ngữ, đôi khi có xen vào một số những tiếng không phải gốc Tàu, như
tiếng Mọi, tiếng Chàm, nhưng hiện tượng đó không thể nói lên gì khác, ngoài sự
người Việt Nam trên đường bành trướng, đã có gặp người Mọi, người Chàm, cùng một
cách như họ đã gặp người Pháp trong thế kỷ vừa qua, và họ đã thâu nhận một số
tiếng Pháp vào trong kho ngôn ngữ của họ.
Người ta có thể nói chữ nôm là thứ chữ riêng của người Việt
Nam. Thực ra, chữ nôm chỉ làm chứng một cách hùng hồn hơn rằng tiếng Việt rất lệ
thuộc tiếng Tàu, bởi vì tiếng dùng và nghĩa tiếng đã giống của người Trung Hoa,
mà còn phải dùng những yếu tố của văn tự Trung Hoa để phiên diễn cách đọc hơi
riêng của mình. Đàng khác, chữ nôm đâu có phải có trước khi người Tàu đến, mà
chỉ mới xuất hiện mấy trăm năm sau khi người Việt Nam đã có một nền chính trị
riêng. Cho nên, người ta rất có thể nói được rằng cách đọc riêng, thường được kể
là đặc tính của Việt ngữ đó, mới xuất hiện sau khi quốc gia đã sống đời sống biệt
lập, còn về trước, những người (sau nầy sẽ thành người Việt Nam) ở cổ Việt,
cũng nói một tiếng như người Trung Quốc. Và người ta phải nói thế, một khi đã
làm chứng được rằng người Việt Nam ngày nay là người Trung Quốc di cư sang đây
trong thời Bắc thuộc.
Những tương đồng như vừa trình bày, đã đủ để nói lên rằng người
Việt Nam bắt nguồn từ Trung Hoa. Khi bài bác các thuyết của các sử gia chính thống,
của Aurousseau, của Madrolle, chúng tôi đồng thời cũng đã rút phạm vi tìm tòi lại,
nói rằng, người Trung Hoa không sang thực dân ở cổ Việt một cách đáng kể trước
khi nhà Hán thôn tính vùng nầy. Trong thời nhà Triệu cai trị Nam Việt và bảo hộ
đất Lạc Việt, chắc chắn đã có một số lẻ tẻ người Trung Hoa đến định cư ở đây,
nhưng chưa có gì đáng lưu ý. Bây giờ đến lúc chúng tôi phải đem ra một số sự kiện
lịch sử minh chứng sự người Trung Hoa di cư đến cổ Việt trong thời Bắc thuốc đã
dần dần trở thành người Việt Nam.
3) Những sự kiện lịch sử
a) ĐÀ NAM TIẾN
Trong những sự kiện lịch sử to tát ủng hộ chủ trương vừa nói,
trước hết phải kể cái đà nam tiến mạnh mẽ của người Trung Hoa và của người Việt
Nam.
Bắt đầu từ thung lũng sông Vị lối đầu thiên kỷ thứ III trước
Kỷ nguyên, người Trung Hoa đã tiến vừa về đông vừa về nam. Khi đại dương dừng họ
lại về phía mặt trời mọc, bấy sức thúc đẩy họ đi xuống càng mãnh liệt hơn. Lối
thế kỷ thứ tư trước Kỷ nguyên, cả vùng giữa sông Hoàng Hà và Dương Tử Giang đã
có một nền văn minh chung, nền văn minh Trung Quốc. Khi Thủy Hoàng nhà Tần thống
nhất xong thiên hạ, ông còn đẩy đà nam tiến xuống một nửa, vượt sông Dương Tử,
vượt rặng Ngũ Lĩnh, đem dân Trung Hoa đến chiếm rải rác vùng châu thổ miền đông
nam ở các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay. Công việc nhà Tần mới
bắt đầu làm đó, nhà Hán đã tiếp tục và xúc tiến, và các triều đại sau đã kiện
toàn.
Thế rồi, khi nhìn vào lịch sử Việt Nam, người ta lại nhìn thấy
một hiện tượng tương tự xảy ra. Nếu đời Tùy, đời Đường, lực lượng Trung Quốc đã
mở bờ cỏi vào đến Hải Vân, thì trong các thế kỷ sau, người Việt Nam, tách ra khỏi
Trung Quốc từ sau thời Ngũ Đại, đã không ngừng chiến đấu để lấn thêm vào đất
Chiêm Thành, một nước bấy giờ còn khá mạnh. Họ đã thành công một cách chắc chắn
đến nổi tất cả đất Chiêm Thành và một phần đất Chân Lạp đã ở dưới chủ quyền của
họ.
Đó là hai sự kiện lịch sử giống nhau và nối tiếp nhau, trong
thời gian và trong không gian. Và người ta có quyền tự hỏi sao sự chắp nối của
hai sự kiện đó, nghĩa là của đà Nam tiến, lại diễn ra một cách khéo léo như vậy?
Phải chăng đã có một sự sắp xếp giữa hai quốc gia để nước nầy làm cho xong việc
nước kia đã bắt đầu làm? Ức đoán nầy không thể nào chấp nhận được, vì không có
căn cứ lịch sử tí nào hết. Và người ta chỉ còn có một hướng nữa để ức đoán, đó
là không cần gì phải sắp đặt, bởi vì cái đà Nam tiến đã nằm sẵn trong ý chí của
nhân dân Việt Nam. Trước là người Trung Quốc, nhưng đã biệt lập về phương diện
chính trị, người Việt Nam cảm thấy có bổn phận phải thi thố sức sống mãnh liệt
tiền bối đã truyền lại cho và bánh trướng mãi theo đà cha ông đã đặt trước.
Tình cảnh tự nhiên trong việc người Việt Nam tiếp tục đà Nam
tiến của người Trung Quốc, bởi vì họ bắt gốc từ người Trung Quốc mà ra, càng thấy
được rõ hơn nữa, khi chúng ta nhớ lại rằng vào thế kỷ 17, 18, chính một số người
Trung Quốc từ Trung Quốc sang đã giúp các Chúa Nguyễn hoàn thành mau chóng công
cuộc chiếm cứ Thủy Chân Lạp. Năm 1679, lối bảy chục chiếc ghe chở chừng ba
nghìn người và một số quan lại cao cấp Trung Hoa đến cửa Đà Nẵng. Người cầm đầu
là những cựu thân nhà Minh như Dương Ngạn Địch, trấn thủ Long Môn (Quảng Tây).
Họ đến xin Hiền Vương nhận họ làm con dân, và xin một địa điểm để sinh cơ lập
nghiệp. Chúa Nguyễn đã cho họ vào chiếm các nơi như Biên Hòa, Mỹ Tho, và những
chỗ đó sẽ thành những bàn đạp cho người Việt Nam bành trướng. Một người Trung
Hoa khác là Mạc Cửu ở Hà Tiên cũng vậy. Ở Quảng Đông sang đây vào cuối thế kỷ
17, ông đã giúp chính quyền Cao Man làm cho Phương Thành (sau gọi là Hà Tiên)
trở nên trù phú. Chẳng bao lâu, nhận thấy những kẻ cai trị nước đó không xứng
đáng ông giúp đỡ, ông đã xin với Minh vương (1691-1725) cho ông ta thần phục,
và Minh vương đã đặt ông làm Trấn thủ Hà Tiên. Con cháu ông đã trung thành mãi
với nhà Nguyễn cho đến khi cả vùng đó trở thành đất Việt Nam vĩnh cửu.
b) NAM VIỆT, MỘT ĐỢT THỰC DÂN DỌN ĐƯỜNG
Muốn biết rõ những gì đã xảy ra ở cổ Việt, đợt thực dân cuối
cùng của người Trung Quốc, chúng ta thử nhìn kỹ hơn vào những gì đã xảy ra ở đợt
trước đó, tại Nam Việt.
Khi nhà Tần có ý chiếm vùng Ngũ Lĩnh, chẳng những họ gởi lực
lượng đến Lĩnh Nam, mà họ còn cho những người không phải là binh sĩ đến lập
nghiệp. Đoạn sau đây của Sử ký cho biết điều đó: "Năm thứ 33 (đời
Tần Thủy Hoàng, tức là năm 214 trước Kỷ nguyên), nhà Tần sai tất cả những kẻ
lang thang, vô thừa nhận, bọn ăn dưng ở nể, và bọn con buôn đi chiếm đất Lục
Lương. Ông lập ra các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng, và đày những người có tội
đến ở để giữ." (27)
Ở một đoạn khác, Sử ký nói tóm lại việc trên đây và
thêm một vài chi tiết cho thấy rõ chính sách "thực dân" xưa của người
Trung Quốc. Sách chép:
"Khi Thủy Hoàng nhà Tần thôn tính xong thiên hạ và dẹp
yên được Dương Việt, ông lập các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng. Trong mười ba
năm, ông bắt bọn côn đồ tù tội đến ở rải rác khắp nơi (tạp xử) giữa dân Việt."
(28)
Tiếng tạp xử nói rõ ý kiến ở một nơi một ít đâu đâu cũng có để
rồi phát triển theo kiểu vết dầu loang. Cách nầy hết sức công hiệu để làm chủ cả
một vùng đất rộng lớn, vì đang khi người Tần đến ở chung giữa người Việt, thì hạng
người nầy lại rút đi, vào ở những chỗ xa xuôi hoang rậm. Lưu Ấn đã chép:
"Việt nhân nhập tùng bạc trung dự cầm thú xử, mạc khẳng vi Tấn lỗ ".
(Người Việt tất cả rút vào chỗ hoang rậm ở với cầm thú chứ không chịu làm tôi
người Tần.) (29)
Thử hỏi số binh sĩ và thường dân được chính quyền nhà Tần gửi
đến vùng Lĩnh Nam là bao nhiêu? Điều đó không sao biết rõ được, nhưng người ta
có thể phỏng đoán nhờ sự kiện sau đây. Bấy giờ, trong số những người chỉ huy
công cuộc chinh phục miền nam có Triệu Đà. Khi lực lượng chinh phục đã thắng.
Đà được đặt làm Lệnh Long Xuyên. Tại đây, tất có binh sĩ và một số những kẻ nhà
Tần gửi đến để sinh sống. Nói cách khác, tại đây chỉ có một phần trong số người
Trung Quốc được di cư về Nam. Vậy mà Đà đã phải sai "sứ mang thư về triều
xin gửi đến ba vạn con gái hoặc đàn bà góa để gả làm vợ binh sĩ". (Sử nhân
thượng thư cầu nữ vô gia giả tam vạn nhân dĩ vi sĩ tốt y bố.) Nếu thực sự triều
đình cho, thì ở đó đã có ba vạn gia đình. (30)
Ở đây, nên chú ý đến một khía cạnh của vấn đề, nó sẽ giúp hiểu
rõ hơn sự hình thành của dân tộc Việt Nam. Tại sao Triệu Đà lại phải dâng thư
xin gởi phụ nữ từ Trung Quốc đến Nam Hải? Có phải vì ở đây thiếu phụ nữ không?
Điều đó có thể như vậy, nhưng nó chưa trả lời đầy đủ cho câu hỏi. Một lực lượng
chiếm đóng như của Triệu Đà chẳng những có thể ăn cướp được đất đai, mà còn có
thể ăn cướp người nữa. Một điều có thể giải đáp được nghi vấn, đó là người Việt
không cùng một loại như người Trung Quốc. Chẳng những họ thiếu văn minh, mà họ
còn thuộc về nhiều giống bán khai khác nhau, thích sống tự do ở chỗ hoang rậm
hơn là ép mình vào khuôn khổ lễ giáo. Với hạng người như thế, dân Trung Quốc di
cư đến chỉ có thể có những liên lạc rất cần thiết và nhất thời, chứ không sao nối
được dây thân tình thâm thiết và lâu dài như việc kết tóc xe tơ chẳng hạn.
Sau khi những việc như trên đã xảy ra, và cơ hội tốt đã đến,
Triệu Đà đã đứng lên lập thành một nước mới. Tiền Hán thư chép:
"Đến thời Nhị Thế, viên úy Nam Hải là Nhâm Ngao lâm bệnh nặng gần chết, mời
viên Lệnh Long Xuyên là Triệu Đà đến, nói rằng: "Nghe bọn Trần Thắng làm
loạn hào kiệt phản nhà Tần tự lập. Nam Hải là chỗ xa xuôi, số binh sĩ đến đây
cướp phá, tôi muốn cất quân cắt đứt đường liên lạc để tự vệ, đợi xem loạn của
các chư hầu ra sao. Nhưng rồi bệnh thành trầm trọng, ông lại nói: Phiên Ngung
có núi non hiểm trở, nam bắc đông tây rộng đến mấy nghìn dặm, lại có người
Trung Quốc giúp đỡ, cũng có thể làm chủ một châu và làm thành một nước; các trưởng
lại trong quận không ai xứng đáng để tôi đem mưu đó ra bàn, nên mời ông đến nói
cho biết. Tức thì ông viết giấy đặt Đà làm Úy Nam Hải". Và khi Ngao mất rồi,
Đà đã cắt đứt liên lạc với nhà Tần và lập thành nước Nam Việt. (31)
Theo như vừa trình bày, về công cuộc nam chinh của Trung Quốc
và mưu mô của Triệu Đà, chúng ta thấy rõ mấy sự kiện sau đây:
- cuộc Nam tiến là một cuộc "thực dân" (trồng người).
- dân di cư đến đất mới đã được tổ chức làm sao để có thể chiếm
được một khu vực rộng lớn và lập cơ sở lâu dài.
- dân ở lại đất mới gồm nhiều thành phần, quan lại, binh sĩ,
thương gia, tội nhân...
- Khi có cơ hội đất mới sẽ tách ra làm một nước mới dựa vào
"người Trung Quốc" định cư giúp đỡ.
4) Người Trung Quốc định cư ở cổ Việt
Không cần phải nhắc lại là từ năm III trước Kỷ nguyên, nhà
Hán đã chiếm đất cổ Việt. Từ đó đợt "thực dân" cuối cùng của Trung Quốc
bắt đầu, nó sẽ kết thúc bằng sự thành lập một quốc gia mới, nước Đại Cồ Việt.
Những việc xảy ra tại đây cũng chẳng khác gì những việc đã xảy ra ở Nam Việt,
nhưng hai bên không phải hoàn toàn giống nhau. Nước Nam Việt đã được gây dựng
quá vội vàng, vị trí của nước Nam Việt lại không có những biên giới thiên nhiên
vững mạnh trấn giữ, bởi đó không lạ gì, sau một thời độc lập, nước Nam Việt lại
bị Trung Quốc thôn tính. Nước Việt Nam hình thành từ từ, trải một thời dài ngót
mười thế kỷ, lại được cả một vùng sông núi oai hùng phòng vệ, không lạ gì một
khi đã độc lập là độc lập mãi, dầu có nhiều lần Trung quốc đã dốc cả lực lượng
sang cố ép Việt Nam nối lại dây xưa, cũng không thể nào thành công. Sở dĩ sự
hình thành của Việt Nam phải mất nhiều năm, cũng là vì sự núi non hiểm trở vừa
nói. Dầu vậy, số người Trung Quốc di cư sang cổ Việt vẫn một ngày một đông,
đông mãi...
Vào cuối đời Tây Hán, số người nầy đã khá lớn. Khi Tiền
Hán thư nói Giao Chỉ có 746.237 người, Cửu Chân có 186.013 người và Nhật
Nam có 65.460 người, trong đó một phần không nhiều thì ít phải gồm người Trung
Quốc di cư đến. Đầu thời Đông Hán, họ chắc chắn đã là một thành phần đáng kể. Sử
liệu chung quanh vấn đề hai Bà Trưng và Mã Viện đều làm chứng như vậy. (32)
Thật thế, khi đọc "Mã Viện Truyện" của Hậu Hán
thư, người ta có thể thấy nhiều chỗ để lộ ra một sự kiện rất đáng lưu ý, đó là
chữ thành khi nói rằng người man di nơi đây đã cướp phá hơn sáu mươi
thành. Cắt nghĩa chữ thành nầy, Henri Maspéro đã nói nó không phải chỉ
thành quách. Nếu vậy, nó chỉ gì? Ông đã đáp câu hỏi đó một cách khí vu vơ. Lời
ông: "Sáu mươi lăm thành qui thuận Trung Quốc đó chỉ có thể là những trụ sở
có bố phòng kiên cố của các tù trưởng Thái ở vùng châu thổ và miền thượng
du". Lối nầy chẳng những thất sách về mặt lý luận mà còn tỏ ra là ít hiểu
chữ Hán nữa. Hai chữ "khẩu lược" của Hậu Hán thư đã được
ông dịch là "se soumirent", và vì dịch sai như vậy, quan niệm của ông
về cuộc nổi dậy đã bị lệch lạc. Có lẽ ông không thể tin được là người Trung quốc
đã quy thuận Trưng Trắc nên ông mới quay về các tù trưởng Thái. Nhưng đem các
tù trưởng Thái vào đây là ông đã làm một việc mâu thuẫn với lịch sử. Hỏi ở Bắc
Việt xưa nay làm gì có người Thái ở vùng châu thổ? Lại nếu tất cả dân man di
"giai ứng chi", thì đâu họ còn phải quy thuận hai bà Trưng? (33)
Nhưng, theo sách địa chí của Hậu Hán thư thì bấy giờ
huyện gọi là thành, vậy có thể rằng hơn sáu mươi thành đây là chỉ hơn sáu mươi
huyện chăng? Giải thích thế càng không được nữa, vì chúng ta có thể biết được
những quận có dân man di nổi dậy, mà số thành của các quận đó quá ít. Đây tên
các quận và số thành của nó:
Giao Chỉ 10 thành
Cửu Chân 7 thành
Nhật Nam 5 thành
Hợp Phổ 5 thành
................... (34)
Tổng cộng 27 thành
Nay, muốn biết những thành bị quân bà Trưng và dân man di khẩu lược đó là gì, trước hết nên nhớ rằng đó chỉ có thể là những nơi thuộc về phe địch của dân Lạc Việt, và trong trường hợp nầy là người Trung Quốc. Đây là một cuộc xung đột, giữa người thổ dân, một bên, là người ngoại lai, bên kia, nên bất cứ ai là người Trung Quốc, không kể là sĩ hay quan lại, hay thường dân, đều là kẻ thù của người bị trị. Bởi đó, tất cả các trại định cư của người Tàu đều phải đào hào đắp lủy để phòng thủ. Những nơi họ ở rải rác đều phải tập trung lại để có đủ sức chống cự với thổ dân. Những "đồn trại" nhất thời nầy, cọng với những đồn trại và những thành thực sự, mới có thể lên được đến con số hơn sáu mươi. Như vậy, chúng ta thấy được rằng dân Trung Quốc đến định cư đã khá nhiều.
Một tài liệu khác củng cố thêm điều đó. Trong Thủy kinh chú có một câu xưa nay làm bận tâm các sử gia nhiều. Nói về lực lượng Mã Viện kéo sang đánh cổ Việt, sách đó chép: "Năm Kiến Võ thứ 19, Mã Viện tâu trình vua rằng: Thần đã cẩn thận tiến vào Giao Chỉ với một toán binh Giao Chỉ là 12.000 người, hợp với đại binh 20.000 và thuyền xa lớn bé tất cả hai nghìn chiếc". Hỏi Mã Viện sang đánh Giao Chỉ, sao lại có 12.000 tinh binh Giao Chỉ để ủng hộ đại quân của ông? Số tinh binh đó ở đâu mà đến? Trả lời cho câu hỏi khúc mắc đó, Henri Maspéro đã không làm được gì khác ngoài phỏng đoán. Ông phỏng đoán rằng: "tinh binh Giao Chỉ" đây là binh sĩ lấy ở Quảng Đông và cho rằng giải thích như vậy là xuôi hơn hết. Ông nhắc lại một sự kiện lịch sử để làm căn bản cho lý luận của ông, đó là dưới thời Hán, "tiếng Giao Chỉ có hai nghĩa, một nghĩa chỉ quận Giao Chỉ tức là Bắc Việt, và một nghĩa rộng chỉ khu vực chín quận thuộc quyền thứ sử Giao Chỉ, khu vực nầy vào đầu thế kỷ thứ ba sẽ thành Giao Châu. Hiển nhiên rằng đây phải theo nghĩa thứ hai, vì quận Giao Chỉ đã làm loạn". (35)Maspéro nghĩ rằng đó là hiển nhiên, nhưng thực sự không được hiển nhiên là bao nhiêu. Hai tiếng Giao Chỉ nằm bên cạnh nhau trong một câu văn khó mà chỉ hai nghĩa xa nhau như thế. Lại Mã Viện không phải là một người không có óc nhận xét về địa lý. Chính ông đã cắt Tây Vu để lập hai huyện mới là Phong Khê và Vọng Hải. Chắc chắn rằng khi viết một tờ tấu quan trọng, ông cũng cố gắng cho khỏi điểm lầm, và nếu thực sự hai tiếng Giao Chỉ có nghĩa khác nhau, hẳn ông đã biết thêm những tiếng quận và bộ vào những chỗ cần thiết. Đàng nầy, đã không làm như vậy, ông còn mạnh mẽ lặp lại tiếng Giao Chỉ, như là muốn nhấn thêm vào ý kiến rằng hai tiếng chỉ cùng một nghĩa. Một ghi nhận nên có nữa, là ở Giao Chỉ vốn có một số quân thường trực để bảo vệ các viên thứ sử, thái thú, nhưng số quân nầy thường đến bốn nghìn là cùng. Giả sử nhà cầm quyền có sẵn trong tay 12.000 tinh binh, chắc gì lực lượng Trưng Trắc đã thắng được ông.Maspéro có thể cho rằng lý luận của ông là hiển nhiên, là vì, theo ông, "quận Giao Chỉ đã làm loạn". Có ngờ đâu, nào có phải tất cả quận Giao Chỉ làm loạn. Những người làm loạn, như sử cho biết, chỉ là người Lạc Việt và dân man di. Bên cạnh những thứ người nầy còn có người Trung Quốc, và ở cổ Việt, quận Giao Chỉ là nơi người Trung Quốc đã đến định cư sớm hơn và đông hơn các nơi khác. Bị người Lạc Việt và dân man di "khẩu lược", họ đã tổ chức tự vệ, nhưng không phải khắp mọi nơi đều phải tự vệ như thế. Những chỗ có giao tranh chỉ là những chỗ hai thứ dân ở gần nhau, nghĩa là vùng núi, vì người Lạc Việt thường chọn những vùng cận sơn, hợp với đời sống bản khai của họ. Đang lúc đó, dân Trung quốc di cư sang, đa số lại ở gần những trung tâm hành chánh, những đồn trại, và những chỗ đất tốt ở vùng châu thổ để canh gác. Như thế, chỗ nào đã bị khẩu lược, thì mong lực lượng Trung Quốc sang để đánh bại đối phương, còn chỗ nào chưa bị khẩu lược hay bị khẩu lược mà chống cự được, phẩy cũng mong lực lượng chính quyền sang để tái lập an ninh chung. Trong sự mong chờ hồi hộp đó, sẽ không lạ gì nếu người Giao Chỉ (những người Trung Quốc định cư) khi được tin quân của Phục ba tướng quân sắp đến, đã lập thành một đạo quân, một đạo tinh binh, lên đến 12.000 người đi đón đại quân và cùng với đại quân vào đánh bại hai bà Trưng.Sự người Trung Quốc đã định cư khá đông ở cổ Việt vào đầu Kỷ nguyên, có thể nói được là không còn có gì đáng hoài nghi. Nhưng không phải họ chỉ định cư ở Giao Chỉ mà thôi, mà đến cả những nơi xa xuôi như Nhật Nam nữa. Một việc xảy ra vào năm 138 đã tiết lộ một vài khía cạnh rất đáng lưu ý về vấn đề nầy. Bấy giờ quân Lâm ấp tấn công Nhật Nam và thứ sử Giao Châu là Giả Xương vào đánh đuổi, lại bị địch vây lấy lâu ngày. Khi Hiếu Thuận Đế nhà Hán hội đình thần lại vấn kế để đối phó, Lý Cố bàn không nên gửi lực lượng sang và đề nghị rằng:" Kinh nghiệm cho biết là châu quận có đủ sức đảm nhậm công việc. Nên chọn những người dũng lược, nhân từ, có tài làm tướng soái, để đặt làm thứ sử, thái thú, và bảo họ trú lại tại Giao Chỉ. Ở Nhật Nam, nay binh thì cô, lương thì thiếu, giữ đã không được, còn nói gì chuyện đánh. Vậy nhất thiết hãy tản cư quan lại và dân cư ra Bắc, nương nhờ vào Giao Chỉ đã, đợi tình hình yên ổn lại truyền cho họ ai đâu về đấy. Trong lúc đó, hãy chiêu mộ dân man di để họ đánh lấy nhau, chở vàng lụa vào cho họ, hễ ai có tài làm phản gián thì hứa với họ bao giờ được việc sẽ phong hầu cho và sẽ cắt đất tặng thưởng". (36)Lời của Lý Cố chứa chất nhiều ý nghĩa. Trước hết tiếng "dân cư" đi theo tiếng "quan lại", như vừa thấy, chắc chắn không phải chỉ tất cả những ai sinh sống ở Nhật Nam thời bấy giờ. Vì lẽ Lý Cố đã phân biệt có hai loại người ở Nhật Nam (và ý ông có lẽ chỉ cả vùng cổ Việt), và một loại ông đã gọi là man di, thì loại kia, loại đi kèm theo "quan lại", tất nhiên phải là "hoa". Rồi, những người "hoa" nầy đã vào Nhật Nam để sống lâu dài tại đây, chứ không phải chỉ tạm trú trong một thời, vì Lý Cố cho biết là "đời tình hình yên ổn, lại truyền cho họ ai đâu về đấy". Như thế, không thể nào chối cải được rằng, vào năm 138, một niên biểu tương đối sớm, đã có nhiều người Trung Hoa chọn vùng Nhật Nam làm quê hương lâu dài.Một nhận xét khác không kém quan trọng, đó là sự triều đình Trung Quốc lo lắng cho người dân ở Nhật Nam. Chúng ta vừa thấy những người dân đó là người Trung Quốc, bởi vì nếu họ không phải là người Trung Quốc, đâu triều đình nhà Hán phải lo lắng cho họ đến thế. Điều đó nói được là đã hiển nhiên. Nhưng chỗ chúng tôi muốn nhấn mạnh, là bên cạnh sự Bắc triều có lòng ưu ái đối với số phận của người "dân" nầy, lời của Lý Cố lại tỏ ra hết sức hửng hờ, nếu không phải là tàn nhẫn, đối với loại người man. Câu "mộ man di sử tự tương công" chẳng những làm chứng một thái độ "sống chết mặc bay", mà còn nói lên một chủ trương khai thác độc ác sinh mạng của loại người không phải cùng một văn minh. Thấy cách cư xử đó đối với người man di, tức là thổ dân, chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi nghe Lý Cố chỉ gọi đồng bào của ông là "dân". Hỏi những người khác không phải là dân sao? Lúc người Tàu sang định cư còn thưa thớt, thì thổ dân cũng là dân, nhưng một khi số người Tàu đã đông khá, một vấn đề xuất hiện: Không phải chỉ có thể yên tâm khai thác, mà còn phải lo đến việc khai hóa. Khai hóa cho cả mọi người sao? Có lẽ chính quyền Trung Quốc nghĩ rằng không tiện và không có thể. Như vậy phải có một sự phân biệt, hay nói cho đúng hơn, một sự kỳ thị. Có ngày, chẳng những trong tư tưởng, mà còn cả ở trong chính sách (phẩy) cả trong sổ sách, người ta sẽ loại người man di ra khỏi hàng ngũ công dân. Đoạn văn trích trên đây đã đánh dấu một bước tiến theo hướng đó.Bấy nhiêu chứng tích, hợp với bao nhiêu chứng tích khác trình bày rải rác trong tập nầy dồn lại, bắt chúng tôi phải kết luận rằng sự hình thành của dân Việt Nam đã bắt đầu từ thời nhà Hán sang cai trị cổ Việt và kéo dài, suốt mười thế kỷ mới hoàn tất với sự Ngô Quyền, rồi Đinh Bộ Lĩnh tách rời ra khỏi Trung Quốc để lập một nước mới. (37)CHÚ THÍCHNgô Sĩ Liên,1. Toàn thư, Ngoại kỷ, quyển 1, tờ 1a.2. Ngô Sĩ Liên, sách đã dẫn, quyển 1, tờ 5b.3. Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, quyển thủ, tờ 9b.4. Cương mục, Tiền biên, quyển 2, tờ 8a.5. Cương mục, Tiền biên, quyển 2, tờ 29b.6. Séraphin Couvreur, Chou King, Les Annales de la Chine, Cathasia, Paris, 1950, trang 70, 72.7. Ngô Sĩ Liên, sách đã dẫn, quyển 1, tờ 3a.8. Léonard Aurousseau, "La Première Conquête Chinoise des Pays Annamites", BEFEO, tập XXIII, trang 245-264.Édouard Chavannes, Mémoires historiques de Se-ma Ts'ien, Paris, trong lời dẫn nhập, trang LXXVIII.9. Tư Mã Thiên, Sử ký, quyển 43, trong bộ Nhị thập Ngũ sử, trang 150, cột 3.10. Tư Mã Thiên, cùng một chỗ, ở phần chính nghĩa.11. Aurousseau, bài đã dẫn, trang 253.12. Aurousseau, bài đã dẫn, từ trang 255 đến 263.13. Lü Shih Peng, Bắc thuộc thời kỳ đích Việt Nam, Trung Việt quan hệ sử, Tân Á nghiên cứu sở Hong Kong, 1964, trang 2.14. Claude Madrolle, "Le Tonkin Ancien", BEFEO, tập XL, trang 310.15. Tư Mã Thiên, sách đã dẫn, quyển 41, trang 146, cột 1.16. Aurousseau, bài đã dẫn, trang 254.17. Mathias Tchang, S. J. Synchronismes Chinois, Imprimerie de la Mission catholique, Chanh Hai, 1905, trang 105-110.18. Tư Mã Thiên, sách đã dẫn, quyển 41, trang 147, cột 1.19. Madrolle, bài đã dẫn, trang 108-116.20. Madrolle, bài đã dẫn, trang 313.21. Madrolle, bài đã dẫn, trang 312.22. Madrolle, bài đã dẫn, trang 313.23. Madrolle, bài đã dẫn, trang 314.24. Madrolle, cùng một chỗ.25. Madrolle, bài đã dẫn, trang 315.26. Colonel E. Biguet, Les Annamites, Société, Coutumes, Religions, Challamel, Paris, 1906.- Pierre Gourou, Terre et l'Homme en Extrême-Orient, Armand Colin, Paris, 1952.27. Tư Mã Thiên, sách đã dẫn, quyển 6, trang 25, cột 2.28. Tư Mã Thiên, sách đã dẫn, quyển 113, trang 25i, cột H.29. Lưu An, Houai-nan Tseu, quyển 18, Nhân Gian Huân, tờ 18a, cột 8.30. Tư Mã Thiên, sách đã dẫn, quyển 118, trang 260, cột 2.31. Tư Mã Thiên, chỗ đã dẫn.32. Ban Cố, Tiền Hán thư, quyển 28, trang 426, cột 4.33. Henri Maspéro, Études d'Histoires d'Annam, V. L'Expédition de Ma Yuan, BEFEO, tập XVIII, trang 13, chú 2.34. Phạm Việp, Hậu Hán thư, quyển 33, trang 710, cột 2.35. Lệ Đào Nguyên, Thủy Kinh chú, quyển 116, tờ 3b.Henri Maspéro, bài đã dẫn, trang 14, chú 7.36. Tư Mã Quang, Tư Trị Thông Giám, quyển 52, tờ 8b.37. Nguyễn Phương, "Tiến trình hình thành dân tộc Việt Nam", Đại Học, Huế, số 32.CHƯƠNG THỨ BẢYhành chánh cổ việt thời bắc thuộcKhi người Trung Hoa sang cổ Việt, nghĩa là đến làm chủ dải đất mà họ gọi là Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, dải đất nầy không bị cai quản bởi một hệ thống hành chánh trung ương nào. Thổ dân bấy giờ gồm nhiều bộ lạc khác nhau mà bộ lạc đông nhất có lẽ là dân Lạc Việt.Dân Lạc Việt chiếm một phần của đất Giao Chỉ, một phần của đất Cửu Chân, và đã có một guồng máy cai trị đơn giản gồm Lạc vương, Lạc hầu, Lạc tướng. Các dân khác bấy giờ chắc chắn còn sống hoàn toàn đời sống cổ hủ của dân man mọi, mỗi nhóm hợp thành một đơn vị độc lập, đã không có liên lạc với nhau, lại còn thù ghét nhau là đàng khác. Lịch sử có cho biết một vài giống người đó, ví dụ giống Tây-đồ-di ở Nhật Nam, giống Phù-Nghiêm ở Giao Chỉ...I. HÀNH CHÁNH THỜI NHÀ HÁN (1)1) Thời Tây Hán (202 tr. K.N. - 9 sau K.N.)Trong thời Tây Hán, tổ chức hành chánh ở cổ Việt kể ra khá đầy đủ. Khi Lộ Bác Đức chinh phục xong Nam Việt, vào năm Nguyên đỉnh thứ sáu đời Hán Võ đế (III tr. K.N.), đất cổ Việt được chia ra làm quận huyện theo hệ thống hành chánh của Trung Quốc lúc bấy giờ. Như thế, chúng ta có:a) Quận Giao Chỉ, gồm mười huyện, là:Liên LâuAn ĐịnhCâu LậuMê LinhKhúc DươngBắc ĐáiKê TừTây VuChâu DiênLong Biênb) Quận Cửu Chân, gồm bảy huyện, là:Tư PhổCư PhongĐô LongTừ PhátHàm HoanVô CôngVô Biênc) Quận Nhật Nam, gồm năm huyện, là:Châu NgôBắc CảnhLư DungTây QuyểnTượng LâmQuận giới và huyện giới không được ghi lại rõ. Dầu vậy, chúng ta cũng biết được một cách đại khái rằng quận Giao Chỉ nằm vào phần đất Bắc Việt ngày nay. Quận Cửu Chân thì nằm vào vùng Thanh, Nghệ, Tỉnh, và quận Nhật Nam từ đeo Ngang vào đến đèo Hải Vân. Huyện giới cố nhiên là mập mờ hơn. Chúng ta có thể đoán được rằng Liên Lâu ở vào vùng Bắc Ninh, Long Biên vào vùng Hà Nội, nhưng những huyện như Vô Biên, Vô Công, hoặc Tây Quyển, Tượng Lâm, thật là khó mà đặt được vào một nơi nào nhất định ở các quận Cửu Chân hay Nhật Nam.Như ở quận khác thuộc Trung Quốc, các quận ở cổ Việt có thái thú cai trị, còn huyện thì do trưởng lại đứng đầu. Quận chưa phải là đơn vị hành chánh trực thuộc triều đình, vì trên quận còn có bộ. Giao Chỉ bộ, lập từ năm III tr. K.N., gồm ba quận của cổ Việt và các quận Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố. Đứng đầu bộ có thứ sử đóng ở Long Biên. Lối 106 tr. K.N., Hán đế lập thêm hai quận nữa, cũng thuộc về Giao Chỉ bộ, là Châu Nhai và Đạm Nhĩ. Nhưng rồi Chiêu đế (86-74 tr. K.N.) bỏ quận Đạm Nhĩ năm 82 tr. K.N., và Nguyên đế (48-33 tr. K.N.) bỏ quận Châu Nhai năm 46 tr. K.N.Tiền Hán thư có cho biết dân số của các quận ở cổ Việt. Theo Ban Cố thì Giao Chỉ có 746.237 người, Cửu Chân có 166.013 người, và Nhật Nam có 65.460 người. Con số nầy nằm vào cuối nhà Tây Hán, nghĩa là lối đầu Kỷ Nguyên. Chắc nó không phải chỉ gồm có thổ dân mà còn gồm một số càng ngày càng đông thêm của những người Trung Quốc sang định cư tại cổ Việt. Dầu sao, bấy giờ đại đa số dân chúng vẫn còn là thổ dân, nên việc cai trị còn rộng rãi. Các bộ lạc còn được phép duy trì hình thức hành chánh riêng của họ, như dân Lạc Việt vẫn còn giữ Lạc tướng. Nhưng các nhà cầm quyền ở cấp huyện và nhất là cấp quận, phải là những người do Hán triều gửi qua. Lực lượng chính qui bảo vệ an ninh cũng phải gồm lính Trung Quốc. Trong thời Tây Hán, vào đầu Kỷ Nguyên, cổ Việt đã được may mắn gặp một số quan lại hiền đức, như Tích Quang (Giao Chỉ), Nhâm Diên (Cửu Chân).2) Thời Đông Hán (23-220) (2)Ở cổ Việt, thời Đông Hán đã bắt đầu với những thay đổi về người cũng như về chính sách. Chúng ta biết rằng Tô Định đã thay thế Tích Quang ở Giao Chỉ, đã đem luật pháp nghiêm nhặt ra áp dụng và vì đó đã gây nên cuộc nổi dậy của hai chị em Bà Trưng. Chúng ta cũng biết rằng Mã Viện dẹp hai Bà Trưng rồi, đã giải thích luật pháp Trung Quốc cho dân Lạc Việt và bắt họ giữ, đã cắt chia huyện Tây Vu để đặt thêm hai huyện mới là Phong Khê và Vọng Hải, đã truyền xây thành đào hào chung quanh các huyện lỵ và huyện trong thời Đông Hán gọi là thành. Như thế Giao Chỉ có 12 huyện thay vì 10 huyện. Trái lại Cửu Chân chỉ còn năm huyện thay vì bảy huyện, vì hai huyện Đô Long, Từ Phát đã bị bãi đi. Phần quận Nhật Nam, vẫn giữ năm huyện. Nên nhớ, trong thời Đông Hán, huyện đổi ra thành.Năm 144, thái thú Giao Chỉ là Chu Xưởng tâu xin Thuận đế (126-144) lập Giao Chỉ bộ thành Giao Châu, nhưng không được chấp thuận. Đến đời Hiến đế (190-220), năm Kiến An thứ tám, tức là 203, thú sử bộ Giao Chỉ, Trương Tân, cùng thái thú Giao Chỉ là Sĩ Nhiếp, cả hai đồng dâng biểu về triều xin đổi bộ Giao Chỉ ra Giao Châu. Lần nầy lời xin có kết quả và Trương Tân được đặt làm Giao Châu mục. Năm đó, châu trị bắt đầu đặt ở thành Quảng Tín, thuộc quận Thương Ngô. Năm 210, châu trị lại được dời đến Phiên Ngung, quận Nam Hải. Vị châu mục ở Phiên Ngung có thẩm quyền trên bảy quận, nghĩa là ngoài ba quận ở cổ Việt, còn có:Quận Nam Hải gồm 7 thànhQuận Thương Ngô gồm 12 thànhQuận Uất Lâm gồm 11 thànhQuận Hợp Phổ gồm 5 thành.Kể ra, tất cả Giao Châu có 56 thành.II. HÀNH CHÁNH THỜI NHÀ NGÔ(220-279) (3)Khi nhà Đông Hán mất quyền, năm 220, cổ Việt không phải thuộc về nhà Thục Hán (221-264), mà lại thuộc về nhà Ngô. Làm chủ trong một thời gian không lâu, nhà Ngô đã có những cải tổ lớn.Năm 225, Giao Chỉ có loạn. Năm đó, Sĩ Nhiếp mất, con ông là Sĩ Huy nối quyền cha ở Giao Chỉ, lại chỉ được làm thái thú ở Cửu Chân, nên cất quân chiếm giữ thành trì chống với Bắc triều. Cũng lúc đó, nhà Ngô thấy đất Giao Châu rộng nên đem chia làm hai, là Quảng Châu gồm bốn quận Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phổ và Giao Châu, gồm các quận ở cổ Việt. Ngô Tôn Quyền đặt Lữ Đại làm thứ sử Quảng Châu, và Đái Lương làm thứ sử Giao Châu. Ông nầy có bổn phận phải chiến đấu mới vào được nhiệm sở vì Sĩ Huy đã làm loạn. Nhưng ông tính hèn nhát, đến biên giới cổ Việt rồi lại rút lui, không dám liều. Bấy giờ, Lữ Đại được lệnh cầm quân dẹp loạn. Ông dùng mưu giết Sĩ Huy, thắng được đồ đảng, và nhà Ngô tái lập Giao Châu gồm bảy quận như trước, cho Lữ Đại làm thứ sử. Năm 242, Tôn Quyền lại lập ra quận Châu Nhai thuộc quyền thứ sử Giao Châu.Đến đời Ngô Tôn Hạo (264-279), vào năm 264, nhà Ngô lần nữa đem Giao Châu chia ra làm hai là Quảng Châu và Giao Châu. Quảng Châu gồm ba quận là Uất Lâm, Thương Ngô, Nam Hải, còn bao nhiêu quận khác thuộc Giao Châu, lỵ sở ở Long Biên. Bảy năm sau - 271 - Tôn Hạo lại sửa đổi khu vực hành chánh. Năm đó, quân nhà Ngô vừa đánh lấy lại Giao Châu dẹp dân mọi Phù Nghiêm ở phía trên Giao Chỉ, nên Ngô Chúa lập hai quận mới là Tâm Xương và Võ Bình. Ở miền trung, Cửu Chân cũng được cắt ra để lập thêm quận Cửu Đức. Như thế đất cổ Việt được chia như sau:1) Quận Giao Chỉ có 14 huyện, là:- Long Biên- Câu Lậu- Vọng Hải- Liên Lâu- Tây Vu- Võ Ninh- Châu Diên- Khúc Xương- Ngô Hưng- Bắc Đái- Kê Từ- An Định- Võ An- Quân Bình2) Quận Tân Xương có 6 huyện là:- Gia Ninh- Mê Linh- Ngô Định- Phong Sơn- Lâm Tây- Tây Đạo3) Quận Võ Bình có 7 huyện là:- Võ Bình- Võ Hưng- Tiến Sơn- Căn Ninh- An Võ- Phù An- Phong Khê4) Quận Cửu Chân có 6 huyện, là:- Tư Phổ- Di Phong- Trạm Ngô- Kiến Sơ- Thường Nhạc- Phù Nhạc5) Quận Cửu Đức có 7 huyện, là:- Cửu Đức- Hàm Hoan- Dương Thành- Phù Linh- Khúc Tư- Phổ Dương- Đô Long6) Quận Nhật Nam có 5 huyện, là:- Tượng Lâm- Lư Dung- Châu Ngô- Tây Quyển- Bắc CảnhNhư thế, nếu đem so số thành ở Giao Chỉ của thời Hậu Hán, chúng ta sẽ thấy Liên Lâu, bị chia làm hai để lập ra Gia Ninh của quận Tân Xương, ngoài ra, nhà Ngô đã thêm đến 13 huyện mới. Các huyện mới nầy, một số do huyện cũ phân chia ra, và một số khác hoàn toàn tân lập ở lĩnh thổ chiếm được của dân Phù Nghiêm.Một điều nữa đáng lưu ý, đó là các huyện của Cửu Chân và Cửu Đức. Quận Cửu Chân là khu vực của hai huyện (hay thành) cũ, Từ Phổ và Cư Phong (nay đổi là Di Phong) đem phân chia ra. Ở quận Cửu Đức, chỉ có tên Hàm Hoan là địa danh cũ, còn bao nhiêu nữa là những địa danh mới do nhà Ngô đặt. Sự thêm số quận và huyện ở vùng Giao Chỉ và Cửu Chân, một phần lớn là do số người Trung Quốc di cư sang nhiều, và công cuộc khai khẩn phát triển thêm.III. HÀNH CHÁNH THỜI NHÀ TẤN (265-420) (4)Nhà Tấn diệt được nhà Ngô năm 279 và từ đó mới toàn quyền làm chủ đất cổ Việt. Dầu vậy, trước đó, hai bên đã có lần tranh giành quyền bính ở Giao Châu. Vừa lấy được đất Thục Hán và lên ngôi thiên tử, Tấn võ đế (265) đã sai người sang cai trị Giao Châu. Đến năm 279, nhà Tấn bỏ quận Châu Nhai, lấy đất nhập vào quận Hợp Phổ. Đàng khác Hiếu Võ đế (265-289) cắt đất Nhật Nam để lập một quận mới gọi là Tống Bình, nhưng về quận nầy chúng ta không biết gì khác ngoài cái tên vừa nói.Đại khái, nhà Tấn đã tiếp tục cách tổ chức của nhà Ngô, chỉ lập thêm vài ba huyện, và đổi tên vài ba huyện khác. Ví dụ:Ở quận Giao Chỉ:Đổi Ngô Hưng ra Giao HưngVõ An ra Nam ĐịnhQuân Bình ra Hải BìnhỞ quận Cửu Đức:Đổi Dương Thành ra Dương ViễnThêm huyện Nam LăngỞ quận Cửu Chân:Đổi Di Phong và Cư PhongThêm huyện Tùng NguyênIV. HÀNH CHÁNH THỜI NHÀ TỐNG (420-477) (5)Thời nhà Tống vừa vắn lại vừa sóng gió. Ngay ở chốn thần kinh, việc cai trị đã lộn xộn, huống hồ ở nơi biên viễn như Giao Châu. Chương "Châu Quận Chí" của Tống Thư phản ảnh tình hình rối ren về mặt hành chánh. Chúng ta thấy số quận huyện không được rõ ràng, không biết vì trung ương không kiểm soát được hoặc vì nhà chép sử không có đủ tài liệu để ghi. Theo Tống Thư thì Giao Châu bấy giờ gồm có:1) Quận Giao Chỉ, lãnh 12 huyện:- Long Biên- Câu Lậu- Châu Diên- Ngô Hưng- Tây Vu- Định An- Vọng Hải- Hải Bình- Võ Ninh- Liên Lâu- Khúc Dương- Nam Định2) Quận Võ Bình lãnh 4 huyện:- Võ Bình- Ngô Định- Tân Đạo- Tiến Hóa3) Quận Cửu Chân lãnh 11 huyện:- Di Phong- Tư Phổ- Tùng Nguyên- Cao An- Kiến Sơ- Thường Nhạc- Quân An- Võ Ninh- Đô Long- Ninh Di- Tân Ngô4) Quận Cửu Đức lãnh 11 huyện:- Phổ Dương- Dương Viễn- Cửu Đức- Hàm Hoan- Đô Thái- Tây An- Nam Lăng- Việt Thường- Tống Thái- Tống Xương- Hy Bình5) Quận Nhật Nam lãnh 7 huyện:- Tây Quyển- Lư Dung- Tượng Lâm- Thọ Linh- Châu Ngô- Vô Lao- Bắc Cảnh6) Quận Tống BìnhGiao Châu, thời nhà Tống, còn gồm cả quận Hợp Phổ nữa, nhưng quận nầy, năm 471, Tống Minh đế (465-472) đã đổi tên là Việt Châu.V. HÀNH CHÁNH THỜI CÁC NHÀTỀ, LƯƠNG, TRẦN VÀ TÙY (6)Nhà Tề giữ ngôi hoàng đế ở Trung Quốc từ 479 đến 501 và chỉ để lại một thay đổi mà thôi, là gọi Phong Khê bằng tên Xương Quốc.Nhà Lương kế nhà Tề từ 502 đến 556, đã gọi vùng Cửu Chân là Ái Châu, vùng Cửu Đức là Đức Châu, vùng Nhật Nam là Lợi Châu và Minh Châu.Nhà Trần (557-589) không để lại một cải tổ nào.Đến nhà Tùy (590-617), việc hành chánh ở cổ Việt lại được chú ý tới. Các châu cũ đều đổi làm quận, một số địa danh trước kia dùng để chỉ một nơi, nay lại đem đi chỉ nơi khác, có chỗ quận bị hạ xuống làm huyện, hay huyện được đem lên làm quận, cũng là thêm một vài quận mới, lại trên các quận không còn cơ quan thượng cấp nào trừ triều đình.Đây, cách chia các đơn vị hành chánh thời nhà Tùy:1) Quận Giao Chỉ, gồm chín huyện:Tống Binh, trước là tên quận ở phía nam Nhật Nam,Long Biên,Châu Diên, trước là quận Võ Bình, bị bỏ năm 590,Long Bình, trước là Võ Định, năm 598 đổi ra tên đó,Bình Đạo, trước là Xương Quốc, năm 592 đổi ra tên đó,Giao Chỉ,Gia Ninh,Tân Xương,An Nhân, trước là Lâm Tây.2) Quận Cửu Chân, gồm bảy huyện:Cửu ChânDi PhongTư PhổLong An, trước là Cao An, năm 598 đổi ra tên đó,Quân An,An Thuận, trước là Thường Nhạc,Nhật Nam, trước là tên quận ở phía nam Cửu Đức, nay là tên huyện thuộc Cửu Chân.3) Quận Nhật Nam, trước là Đức Châu, năm 598, đổi ra Hoàn Châu, rồi gọi bằng Nhật Nam (nên nhớ không phải Nhật Nam như trong thời Hán), gồm tám huyện:Cửu ĐứcHàm HoanPhổ DươngViệt ThườngKim Ninh, thời nhà Lương gọi là Lợi Châu, năm 598 đổi là Trí Châu, 509, gọi bằng tên đó.Giao Cốc, nhà Lương gọi là Linh Châu, năm 605 đổi ra tên đó.An ViễnQuan An, trước là Tây An, năm 598 đổi ra tên đó.4) Quận Bắc Cảnh, gồm bốn huyện:Bắc CảnhChâu NgôThọ LinhTây Quyển5) Quận Hải Âm, gồm bốn huyện:Tân DungChâu LongĐa NôngAn Lạc6) Quận Lâm Ấp, gồm bốn huyện:Tượng PhổKim SơnGiao GiangNam CựcChúng ta nhận thấy rằng phần đất của quận Nhật Nam thời Tống đã được lấy chia làm ba quận mới là Bắc Cảnh, Hải Âm và Lâm Ấp. Sự phân chia nầy là kết quả của trận thắng Lâm Ấp của tướng Lưu Phương năm 604. Bắc Cảnh trước được gọi là Đảng Châu, Hải Âm là Nông Châu, và Lâm Ấp là Xung Châu sau mới đổi ra quận.VI. HÀNH CHÁNH THỜI NHÀ ĐƯỜNG (618-906) (7)Nhà Đường trong thời gian cai trị, gần ba thế kỷ, đã cải tổ hệ thống hành chánh ở cổ Việt nhiều lần. Một trong những lần cải tổ lớn nhất được thực hiện vào năm 622, tức là năm Võ Đức thứ năm của đời Đường Cao tổ (618-626). Cao tổ chia đất cổ Việt ra làm hai Tổng quản phủ, Giao Châu Tổng quản phủ và Đức Châu Tổng quản phủ. Sau đây là thành phần của mỗi phủ:a) Giao phủ gồm 13 quận là:1) Giao Châu có hai huyện:Giao ChỉHoài Đức2) Tổng Châu có ba huyện:Tổng BìnhHằng NghĩaNam Định3) Long Châu có ba huyện:Long XuyênVõ NinhBình Nhạc4) Thuận Châu có ba huyện:Đông HàKiến XươngBiên Hà5) Từ Châu có ba huyện:Từ LiêmÔ DiênVõ Lập6) Diên Châu có hai huyện:Cao LăngĐịnh An7) Phong Châu có sáu huyện:Gia NinhTân XươngPhong KhêAn ChâuTrúc ĐểThạch Để8) An Châu có bốn huyện:Long AnGiao SơnKiến AnĐô Quật9) Đạo Châu có hai huyện:Bình ĐạoXương Quốc10) Sơn Châu có năm huyện:Vọng SơnChân NhuậnCổ AnKiến Công11) Vĩnh Châu có ba huyện:Cử CaoKiến ChínhChân Ninh12) Lan Châu có một huyện:Hân Thành13) Võ Nga Châu có bốn huyện:Võ NgaVõ LụcVõ LaoLương SơnB. Đức Phủ gồm mười châu là:1) Đức Châu có bảy huyện:Tích ThiệnTân NgôPhương TảiPhàm LongNhư HầuBác PhạmTrần Tịnh2) Phúc Lộc Châu có hai huyện:Phú LộcNhu Viễn3) Trường Châu có bốn huyện:Văn DươngĐồng TháiTrường SơnKỳ Thường4) Hoan Châu có bốn huyện:An NhânPhù DiễnTương CảnhTây Nguyên5) Minh Châu có ba huyện:Vạn AnMinh HằngMinh Định6) Tri Châu có bốn huyện:Văn CốcKim NinhTân TrấnĐổ Văn7) Lâm Châu không có huyện.8) Cảnh Châu không có huyện.9) Nguyên Châu không có huyện.10) Hải Châu không có huyện.Việc cải tổ năm 622 nầy không tồn tại y nguyên được lâu dài. Nhiều sửa đổi lớn dần dần được thực hiện, nhất là trong đời Đường Thái Tông (627-649).Những sửa đổi lớn đáng chú ý có lẽ là những chỗ sau đây:- Năm 628, Giao Châu Tổng quản phủ được đổi thành Giao Châu Đô đốc phủ. Đức Châu Tổng quản phủ thành Hoan Châu Đô đốc phủ.- Năm 679, Giao Châu và Hoan Châu Đô đốc phủ được đổi thành An Nam Đô hộ phủ.
- Năm 757, An Nam Đô hộ phủ được đổi thành Trần Nam Đô đốc phủ.- Năm 758, lần đầu tiên đặt Tiết Độ sứ.- Năm 768, Trần Nam Đô đốc phủ lại đổi thành An Nam Đô đốc phủ.Về những thay đổi ở các châu huyện, sau đây xin trình bày theo từng đời vua.Ngay trong đời Cao tổ, Giao phủ đã được thêm một châu mới, gọi là Ngọc Châu (624). Cũng năm 624, Vĩnh Châu được đổi làm Đô Châu. Năm trước đó, Đường đế đã rút Nam Định ra khỏi Tống Châu và cho nhập vào Giao Châu. Vua cũng thêm chữ Nam vào trước tên các Châu như Từ, Tống, Đạo, Long, Đức.Trong đời Thái Tông, người ta có khuynh hướng rút bớt số châu huyện lại để nhập vào nhau làm thành những đơn vị hành chánh lớn hơn. Ngay năm 627, tức là năm đầu hiệu Trinh quán và cũng là năm đầu đời Thái Tông, chúng ta đã thấy:- Bỏ Nam Tống Châu, lấy các huyện Hằng Nghĩa, Hoài Đức, nhập vào huyện Tống Bình, thuộc Giao Châu,- Bỏ Nam Long Châu, lấy Long Xuyên, Võ Ninh, Bình Nhạc, nhập vào huyện Long Biên, thuộc Giao Châu,- Bỏ Diên Châu, lấy các huyện Cao Lăng, Định An làm thành huyện Châu Diên, thuộc Giao Châu,- Bỏ Nam Từ Châu, lấy các huyện Từ Liêm, Ô Diên, Võ Lập, nhập vào Giao Chỉ.Năm 636, lại bỏ thêm Tiên Châu, lấy huyện Xương Quốc nhập vào huyện Bình Đạo thuộc Giao Châu. Như thế, vào năm 649, Giao Châu gồm có các huyện:Tống BìnhLong BiênBình ĐạoChâu DiênNam ĐịnhỞ Phong Châu, năm 627, vừa lấy các huyện Phong Khê, Thạch Đề, nhập vào huyện Gia Ninh, lấy huyện Trúc Lạc, nhập vào huyện Tân Xương. Phong Châu như thế chỉ còn có hai huyện, là:Gia NinhTân XươngNăm 628, Ngọc Châu được đổi làm Khâm Châu.Năm trước đó, Đô Châu đã được đổi làm Tiền Châu, và rồi năm 636, Tiền Châu lại trở thành huyện Di Phong, thuộc Ái Châu.Tại Đức phủ, trong đời Thái Tông, có những thay đổi như sau:- Năm 627, đổi Đức Châu ra Hoàn Châu, và Hoàn Châu thì lại đổi ra Diễn Châu.Lấy các huyện Tích Thiện, Phương Tải làm Hậu Chân Châu, rồi bỏ đi mà lập lại huyện Cửu Đức thuộc Ái Châu.Lấy các huyện Phàn Long, Như Hầu, Bác Phạn, Trần Định làm Từ Châu, sau cùng bỏ để lập lại huyện Tư Phổ, thuộc Ái Châu.- Năm 628, đổi Hoan Châu Tổng quản phủ làm Hoan Châu Đô đốc phủ.- Năm 634, lập lại huyện Do Văn, bỏ Cảnh Châu.- Năm 635, lấy huyện Tương Cảnh nhập vào huyện Phù Diễn.- Năm 636, bỏ Diễn Châu nhập vào Hoan Châu, bỏ Minh Châu.- Năm 639, bỏ Trí Châu.- Năm 642, lấy đất Diễn Châu cũ lập huyện Hàm Hoan, thuộc Hoan Châu.Vào cuối đời Thái Tông (649), trong vùng Hoan châu Đô đốc phủ, chỉ còn lại Hoan Châu, Trường Châu, Phú Lộc Châu và kể tất cả cổ Việt thì chỉ còn chín châu:Giao ChâuPhong ChâuKhâm ChâuLan ChâuVõ Nga ChâuÁi ChâuPhúc Lộc ChâuTrường ChâuHoan ChâuTrong đời Cao Tông (650-683), việc thay đổi lớn nhất, như đã nói trên, là vào tháng tám, năm đầu, hiệu Châu Lộ (679), toàn cõi đất cổ Việt đã được gọi là An Nam Đô Hộ phủ. Ngoài ra năm 657, Tiên Châu cũ được lấy làm huyện Quân Ninh, và huyện Long An đổi ra huyện Sùng An thuộc Ái Châu.Qua các đời Võ Hậu (684-705), Trung Tông (705-710), Dục Tông (710-712), không xảy ra điều gì mới, nhưng từ đời Huyền Tông (712-756), thiên triều lại nhớ đến cổ Việt. Năm 712, huyện Long Bình được đổi làm Thái Bình, nhất là năm 742, hầu hết các châu đều đổi ra làm quận. Và chúng ta có:An Nam phủThừa Hóa quận, trước là Phong ChâuHân Thành quận, trước là Lan ChâuVõ Nga quậnCửu Chân quận, trước là Ái ChâuPhúc Lộc quậnVăn Dương quận, trước là Trường ChâuNhật Nam quận, trước là Hoan Châu.Năm 758, trong đời Đức Tông (756-761), cổ Việt được đặt dưới quyền một viên An Nam Tiết độ sứ, và lãnh thổ lại chia làm 11 châu, như sau:Giao ChâuLục Châu, do Ngọc Châu đổi ra từ năm 675Phong ChâuLan ChâuVõ Nga ChâuÁi ChâuTrường ChâuPhúc Lộc ChâuDiễn ChâuHoan ChâuVõ An ChâuVõ An Châu, mới thuộc về An Nam phủ trong thời khai nguyên (719-741)Từ đó nhà Đường gặp nhiều khó khăn chẳng những ở trung ương mà cả đối với dân di dịch phía bắc, nên ít quan tâm đến miền nam. Mãi đến khi quân Nam chiếu nổi dậy quấy phá, Đường triều mới lại có một vài cải cách.Năm 863, đời Ý Tông (860-873), khi đất Giao Chỉ bị quân Nam chiếu chiếm cứ, Hành Giao Châu được lập ở Hải Môn để lo việc chống cự. Ba năm sau, Cao Biền dẹp yên được loạn, và vùng Giao Châu được đổi tên là Tỉnh Hải. Từ đó, Trung Quốc rối loạn liên tiếp, nhà Đường không còn lưu ý đến cổ Việt nữa.Vào cuối nhà Đương, tính ra đất cổ Việt gồm có:1) Tỉnh Hải với tám huyện:Tổng BìnhNam ĐịnhThái BìnhGiao ChỉChâu DiênLong BiênBình ĐạoVõ Bình2) Phong Châu với năm huyện:Gia NinhThừa HóaTân XươngCao Sơn, lập thời Nguyên HòaChâu Lộc, lập thời Nguyên Hòa3) Ái Châu với năm huyện:Cửu ChânAn ThuậnSùng BìnhNhật NamTrường Lâm, tức là Vô Biên cũ.4) Hoan Châu với bốn huyện:Cửu ĐứcPhổ DươngViệt ThườngHoài Hoan, tức là Hàm Hoan cũ.VII. HÀNH CHÁNH THỜI NGŨ ĐẠI (907-960)Bấy giờ là trong những thời bất ổn nhất của Trung Quốc. Chính quyền trung ương rất yếu. Hào kiệt nổi lên tự lập khắp nơi. Đất cổ Việt một thời ở trong tay hộ Khúc là tiết độ sứ. Các châu huyện vẫn giữ như cũ. Khi nhà Nam Hán sang chiếm, một thời họ đã đặt Lý Tiến làm thứ sử Giao Châu, nhưng chức Tỉnh Hải tiết độ sứ vẫn được giữ. Các châu khác như Phong Châu, Ái Châu, Hoan Châu không có gì thay đổi.VIII. DÂN SỐ CỔ VIỆT TRONG THỜI BẮC THUỘCTrong thời Bắc thuộc dài đằng đẳng hơn một nghìn năm, vấn đề dân số ở vùng cổ Việt không được minh bạch lắm. Tài liệu viết về thời đó đôi khi cho biết số "hộ", số "khẩu" của một địa phương, nhưng không được đầy đủ vì có khi được "hộ" thiếu "khẩu", có khi thiếu cả hai. Lại, số "hộ" và "khẩu", mặc dầu có vẻ được kê khai cẩn thận, vẫn không có gì bảo đảm chắc chắn cho sự xác thực của nó, vì chúng ta không thể biết rõ được về căn bản chính quyền lúc đó dựa vào để kiểm tra. Hỏi khi nêu lên số "hộ", mỗi "hộ" như vậy có phải là bao hàm một số "khẩu" nào nhất định không? Và hỏi số "khẩu" đây có phải gồm tất cả mọi người có miệng để ăn, hay chỉ nói về đàn ông, và đàn ông ở vào một hạn tuổi hay một cấp bậc xã hội nào mà thôi không? Rồi, số đàn ông bị giới hạn lại như vậy, có phải là đàn ông gồm cả thổ dân và người Tàu đến định cư, hay chỉ gồm một trong hai thứ người đó? Để có thể giải quyết được phần nào những vấn đề như thế, chúng ta nên nhìn qua xem các tài liệu để lại cho chúng ta những gì về dân số. Sau đây là bản thống kê của một số sách địa chỉ:1) Tiền Hán thư:Giao Chỉ Cửu Chân Nhật NamHộ 92.440 33.743 15.460Khẩu 706.237 166.013 65.4852) Hậu Hán thư:Hộ thiếu 46.513 18.263Khẩu thiếu 209.894 100.6763) Tấn thư:Tên quận Số hộGiao Chỉ 12.000Tân Xương 3.000Võ Bình 5.000Cửu Chân 3.000Cửu Đức thiếuNhật Nam 6004) Tống thư:Giao Chỉ 4.933Võ Bình 1.490Cửu Chân 2.328Cửu Đức 809Nhật Nam 4025) Tùy thư:Giao Chỉ 30.056Cửu Chân 16.135Nhật Nam 9.815Bắc Cảnh 1.815Hải Âm 1.220Lâm Ấp 1.2206) Đường thư:Hộ KhẩuI II I IIGiao Châu 17.523 14230 88.788 99.652Phong Châu 5.444 1.910 6.435Trường Châu 648Phúc Lộc Châu 317Hoan Châu 6.579 9.619 16.689 500.818Lục Châu 494 2.674Lan Châu 1.200 5.300Võ Nga Châu 1.850 5.320Ái Châu 14.700Nhìn vào bản thống kê trên, chúng ta nhận thấy ngay rằng việc nghiên cứu sẽ gặp nhiều khó khăn, trước là vì khu vực các đơn vị hành chánh không giống nhau qua các triều đại, trái lại giới hạn thay đổi nhiều lần, khi lớn, khi bé, khác nhau. Như thế không thể dễ dàng đem số hộ hay số khẩu của triều đại nầy so sánh với của triều đại sau, chỉ trừ trong trường hợp nhà Hán là các quận giữ y nguyên được khá lâu.Một nhận xét nữa đáng chú ý là số hộ và số khẩu không tương đương với nhau, có khi hộ nhiều mà khẩu ít, có khi khẩu nhiều mà hộ lại ít, xét một cách tương đối. Chúng ta có một ví dụ cụ thể ở Đường thư. Sách địa chỉ của bộ sử nầy cung cấp số hộ và khẩu của hai thời khác nhau, một lần là vào hạ bán thế kỷ thứ bảy và lần sau là vào thời mạt Đường. Thử nhìn vào Hoan Châu chẳng hạn, chúng ta có:hộ khẩulần trước 6.579 16.687lần sau 9.919 500.818Bởi đó, muốn biết chắc về sự tăng giảm của dân số qua các thời đại, cần thiết phải có con số khẩu; trong những trường hợp thiếu số khẩu, như phần nhiều các trường hợp về cổ Việt, và chỉ có thể dựa vào số hộ để tìm hiểu, thì số hộ phải cách biệt nhau khá lớn mới bảo đảm được một sự khác nhau về dân số.Sự thực, số hộ cũng như số khẩu cách biệt nhau rất xa giữa triều đại nầy đến triều đại khác và nhiều lần trong một triều đại cũng vậy. Ngay trong thời Hán, sự cách biệt giữa Tây Hán và Đông Hán đã rất rõ rệt. So sánh số khẩu thuộc hai thời của các quận Cửu Chân và Nhật Nam, chúng ta thấy: Cửu Chân thêm đến (209.894 - 166.013)) 43.881 khẩu.Nhật Nam thêm đến (100.676 - 65.485) 35.191 khẩu.Thêm nhiều như vậy, mà xuống cũng nhiều. Con số khẩu của Nhật Nam đọc được trong Hậu Hán thư là ở vào lối đầu thế kỷ thứ ba, vậy mà vào hạ bán thế kỷ thứ bảy, con số khẩu trong Đường thư của Hoan Châu, tức là của phần đất của vùng Nhật Nam cũ, chỉ có 16.689.Sự tăng giảm một cách khác thường đó càng thấy được rõ hơn khi nhìn vào các con số hộ qua các triều đại. Về việc so sánh số hộ, có một điều cần phải làm trước, là tìm cho được những khu vực giống nhau để làm nền tảng cho sự tăng hay giảm. Ví dụ khu vực Giao Chỉ của thời Hán phải gồm cả Giao Chỉ, Tân Xương, Võ Bình của thời Tần, hay là cả Giao Châu, Phong Châu, Lục Châu, Võ Nga Châu (Lan Châu nằm ngoài) của thời Đường. Bởi đó, số hộ của Giao Chỉ qua các tài liệu sẽ như thế nầy:Tên tài liệu ......................... Số hộ vùng Giao ChỉTiền Hán thư ....................... 92.440Tấn thư ............... 12.000................ 3.000................ 5.000 .......... 20.000Tống thư ................. 4.933 ............ 6.423Tùy thư ................ 30.056Đường thư ................ 24.230............. 1.920.............. 494................ 1.850 ................. 28.090Sự lên xuống đột ngột của dân số cổ Việt đó bắt chúng ta phải suy nghĩ. Chắc chắn nó không phải dựa vào sự phát triển bình thường của dân một địa phương, vì sự phát triển bình thường của một dân trong một khoảng thời gian khá dài như một thế kỷ hay hơn nữa, phải diễn biến dần dần, chứ không đột ngột. Sự đột ngột có thể xảy ra, ví dụ sau một thời chiến tranh hay sau một thiên tai, một cơn dịch v.v... nhưng đó là khi nói về một quảng thời gian vắn kia. Với những đơn vị thời gian dài, như thế kỷ hay hơn nữa, chúng ta có thể nghĩ rằng đơn vị nào cũng gồm có thiên tai, giặc giã, và như thế các biến cố đó không còn là mot động cơ thất thường cho sự tăng giảm dân số. Những tài liệu kể ra trên đây được chép cách nhau bởi những quảng thời gian khá lớn, nên chúng ta phải lập luận theo căn bản những đơn vị dài. Vậy nguyên do của sự tăng giảm dân số thất thường của cổ Việt là tại đâu?Nếu dân số cổ Việt tăng giảm không phải do một động cơ bình thường thì tất phải do những động cơ thất thường. Nói rằng không do một động cơ bình thường có nghĩa là không bắt nguồn từ dân địa phương của các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Giả sử dựa vào sự kiểm tra dân các quận đó, tất cả đã có một sự tăng giảm đều đều, lũy tiến. Nhưng nếu nó phát tích từ những động cơ thất thường, thì những động cơ thất thường nầy là gì? Đó chỉ có thể là sự di cư đến hay tản cư đi, hoặc là một sự thay đổi trong quan niệm về người dân, ví dụ trước kể vào số người dân cả thổ dân cả người Trung Quốc định cư, và sau chỉ kể có người Trung Quốc mà thôi chẳng hạn.Phải nhận rằng dân số cổ Việt sao cũng có một thành phần gồm người Trung Quốc di cư đến, nhưng không thể nào tiên quyết được rằng dân số đó chỉ gồm người Trung Quốc di cư đến. Nếu sự kiểm tra chỉ căn cứ vào người Trung Quốc thì chắc chắn dân số vào cuối thời Tây Hán không làm sao có được nhiều như thế:Giao Chỉ ...... 706.236 ...... khẩuCửu Chân ........ 165.013 __Nhật Nam ......... 65.485 __Tuy nhiên vẫn không thể quyết được rằng những con số đó chỉ gồm người địa phương, vì những lý lẽ dựa vào sự tăng giảm đột ngột đã bàn đến trên.Nhưng có phải bao giờ sự kiểm tra cũng gồm cả người địa phương và người Trung Quốc đến định cư không? Có lẽ không phải bao giờ cũng như vậy. Chúng ta có thể hoài nghi là vì sự giảm xuống quá khác thường của số hộ giữa Hậu Hán thư và Tấn thư. Cửu Chân chẳng hạn đã giảm từ 46.518 xuống 3.000 và Nhật Nam từ 18.263 xuống 600! Sự giảm sút nầy không thể cắt nghĩa được bởi sự tản cư của người Trung Quốc bỏ đất cổ Việt để về nước. Cứ sự thường, người Trung Quốc di cư sang cổ Việt rất nhiều trong những thời ở Trung Quốc có loạn, và khi yên ổn có một số tản cư để trở về. Mà sau thời Đông Hán kế đến thời Tam Quốc, là một thời không yên ổn gì ở Trung Quốc, nên người Trung Quốc sang thêm nữa thì có, chứ đâu nói đến chuyện trở về, vậy sao số hộ lại sụt, và sụt một cách kinh khủng đến thế?Chúng tôi thiết nghĩ nguyên do sự sụt giảm to tát đó ở tại sự thay đổi quan niệm về người dân nơi các nhà cầm quyền ở cổ Việt. Về trước, họ kể vào số người dân tất cả những ai sinh sống tại đây, còn sau thời Hán, vì người Trung Quốc đến định cư đã đông đảo, nhưng khi kiểm tra, họ chỉ ghi vào sổ những người đồng bào với họ và loại bỏ thổ dân ra, liệt hạng nầy vào loại man di. Bởi chỉ đăng tịch có người Trung Quốc định cư, nên con số ít lại, nhưng ít như vậy cũng có nghĩa là nhiều.Một sự kiện tăng bổ cho ý kiến vừa nói, đó là kể từ sau thời Hán, danh từ Lạc Việt không còn được nhắc đến nữa. Không thể nói được rằng dân đó đã hoàn toàn đồng hóa với người Hán, vì mãi đến ngày nay, con cháu của dân đó vẫn duy trì những nét riêng của họ như dân Mường, dân Mọi. Cũng không nói được là họ đã bị tiêu diệt, vì lịch sử không hề để lại dấu tích gì khả dĩ giải thích được theo hướng đó. Chỉ còn có thể hiểu được cách nầy thôi là bấy giờ dân Lạc Việt đã trở thành một thiếu số không đáng kể bên cạnh người Trung Quốc càng ngày càng đông thêm, nên đối với lớp dân mới nầy họ cũng không khác gì các dân man di khác.Như thế, có thêm một chứng nữa về sự dân Việt Nam là do dân Trung Quốc di cư đến.
CHÚ THÍCH:1. Ban Cố, Tiền Hán Thư, quyển 28 hạ, Địa Lý Chí, trang 426, cột 4, trang 427, cột 1.2. Phạm Việp, Hậu Hán Thư, quyển 33, Quận Quốc Chí, trang 710, cột 4; và trang 711, cột 1.3. Dương Thái Tông Văn Hoàng Đế, Tấn Thư, quyển 15, Địa Lý Hạ, trang 1120, cột 3 và 4.4. Cùng một chỗ như trên.5. Lương Trầm Ước, Tống Thư, quyển 38, Châu Quận Chí, trang 1540, cột 4 và trang 1541, 1.6. Trương Tôn và Vô Kỵ, Tùy Thư, quyển 31, Địa Lý Hạ, trang 2440, cột 1 và 2.7. Lê Hu, Đường Thư, quyển 41, Địa Lý Tứ, trang 3239, cột 2-4 và trang 3240, cột 1.- Âu Dương Tu, Tân Đường Thư, quyển 43, Địa Lý Chí, trang 3735, 2, 3 và 4.8. Xem "Chính trị cổ Việt" dưới thời Tống. Bấy giờ giặc Lâm Ấp đã làm cho dân cổ Việt chết hại quá sức nhiều.CHƯƠNG THỨ TÁMchính trị cổ việt dưới thời bắc thuộcHoàn thành công việc thống nhất Trung Quốc, Tần Thủy Hoàng (246-210 trước K.N.) đã bước thêm một bước nữa trên đà Nam Tiến. Năm 214, ông sai đại quân đi chinh phục miền Ngũ Lĩnh, lập ra các quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng. Theo địa đồ ngày nay, thì Nam Hải nằm vào vùng Quảng Đông, Quế Lâm nằm vào vùng Quảng Tây, còn Tượng thì không rõ. Quận Tượng, theo như tên của nó có thể cho biết, phải là cả vùng núi non bao la trùng điệp về phía Tây nam, thế giới của hoang thú, nhất là VOI. Có lẽ nó có nghĩa là một lãnh thổ rộng lớn cần được chinh phục, hơn là đã bị chinh phục thực sự. (1)Đến đời Tần nhị thế (209-207), Trung Quốc hỗn độn. Để tránh loạn ly, các nhà cầm quyền địa phương ai cũng nghĩ đến việc tự lập, trước là bảo vệ phần đất mình có bổn phận phải phòng giữ, sau là nuôi hy vọng gặp được cơ hội tốt để gầy dựng nghiệp lớn. Viên Hiệu úy được nhà Tần đặt lên coi quận Nam Hải là Nhâm Ngao, cũng nghĩ như vậy. Không may ông lâm trọng bệnh, và phải giao quận Nam Hải cùng ý định to tát của ông lại cho viên lệnh Long Xuyên (thuộc quận Nam Hải), là Triệu Đà. Nhâm Ngao mất rồi, Triệu Đà, nay đã mang chức Hiệu úy Nam Hải, chuẩn bị việc thiết lập nước mới. Năm 207, ông xưng vương, đặt cho khu vực ông cai trị là nước Nam Việt, gồm quận Nam Hải, rồi quận Quế Lâm, và cả quận Tượng, tức là miền bao la phải chinh phục ấy nữa. (2)Vậy, để chinh phục, một năm nào đó không được rõ, Nam Việt vương đến vùng cổ Việt và đánh bại Thục vương tử, con người bấy giờ đang cai trị dân Lạc Việt. Nói rằng ông chiếm vùng đất mới nầy, nhưng ông không trực tiếp cai trị và chỉ sai sứ đến gọi là có sự hiện diện vậy thôi, chứ tất cả việc hành chánh vẫn còn nằm trong tay các Lạc tướng. (3)Nhưng, không lâu sau, toàn cõi Trung Quốc đã thu về quyền một người hùng là Lưu Bang, một nhà tướng và là một chính khách. Khởi nghĩa từ Hán Trung vào năm 206 trước K.N., ông đã hùng dũng bành trướng thế lực, hạ được hạng Võ, lên ngôi Thiên tử, lập ra nhà Hán, một triều đại lâu nhất trong lịch sử nước Tàu (202).Vào năm 196, Hán Cao Tổ (202-195) đã cho sứ mở đường giao hiếu với Triệu Đà và phong cho ông nầy làm Nam Việt vương. Đến thời Võ đế (140-87), một vị vua vừa khôn ngoan vừa cương quyết, nhà Hán định tâm nới rộng quyền hành. Sau khi sai tướng Vệ Thanh đi đánh vùng tây bắc và lập thêm các quận Võ Uy, Tửu Tuyền, Thuần Hoàng, Thiên Triều lại sai tướng Lộ Bác Đức, với chức Phục ba tướng quân, đi đánh vùng Nam Việt, và lập các quận ở bờ Giao Chỉ (năm III trước K.N.) (4)1. Chính trị thời Hán (202 trước K.N. đến 220 sau K.N.)Trong thời Tây Hán, hay nói cho rõ hơn, từ khi nhà Hán thiết lập quận huyện ở cổ Việt, cho đến loạn Vương Mãng (9-22), việc cai trị không để lại nhiều tài liệu. Chúng ta không biết được rõ ràng về chính sách cũng như về những người cầm quyền. Giữ chức thứ sử, tức là chức cai trị toàn bộ, chỉ thấy có những tên như Thạch Đái, Chu Chương, Đặng Nhượng. Giữ chức thái thú, nghĩa là chức quan coi một quận, có các ông Tích Quang ở Giao Chỉ, Nhâm Diên ở Cửu Chân, hai người nầy đã từng để lại những thành tích tốt. (5)Trong thời Đông Hán, những tên như Tô Định, thái thú Giao Chỉ, vả Mã Viện, vị Phục ba tướng quân đánh bại hai bà Trưng, đã được nói đến nhiều trong chương "Lịch sử Lạc Việt". Cũng trong thời nầy, lịch sử có ghi lại một số người và một số việc đáng lưu ý nữa. Về người chúng ta có Giả Tùng, Sĩ Nhiếp, về việc chúng ta có loạn Lâm Ấp, loạn Ô Hứa.a) LOẠN LÂM ẤPDưới thời Hiếu Thuận đế (126-144), ở quận Nhật Nam, có người thủ lĩnh của dân Lâm Ấp tên là Khâu Liên đến đánh phá. Đây là lần đầu tiên lịch sử nói đến thứ dân nầy. Trong dịp đó, viên trưởng lại huyện Tượng Lâm bị giết. Thứ sử Giao Chỉ lúc bấy giờ là Phàn Diễn, lấy quân các quận Giao Chỉ và Cửu Chân có ý vào tiếp cứu Nhật Nam. Nhưng binh sĩ ngại đi đánh giặc xa, nên vào tháng 7 năm Vĩnh Hòa thứ hai (137) họ nổi loạn chống với cấp chỉ huy. Tuy loạn quân ở phủ đã bị Phàn Diễn dẹp yên, tình hình ở Nhật Nam càng thêm trầm trọng.Năm sau, vào tháng năm, Ngự sử Giả Xương, chỉ huy lực lượng của bộ Giao Chỉ vào đánh Khâu Liên, không may ông bị địch bao vây, hơn một năm không sao liên lạc tiếp tế được. Nếu binh sĩ đồn trú ở Giao Chỉ không đủ sức dẹp loạn, có nhất định phải cất đại quân ở các quận khác sang không? Đang khi triều đình nhà Hán bàn cải về vấn đề đó, và có người đã đem ra ý kiến lấy bốn vạn quân ở các châu Kinh, Dương, Duyện, Dự, giao cho một vị đại tướng để đi chinh phạt, Lý Cổ lại có những đề nghị rất thiết thực và hữu hiệu. Theo ông, không nên dùng võ lực cho bằng dùng chính trị. Để bác bỏ đề nghị dùng võ lực, ông trình bày bảy lý lẽ sau đây:1) Ở các châu Kinh, Dương, Duyện, Dự, tình hình chưa yên ổn.2) Dân các châu đó đã bị động viên nhiều lần nay nếu ép họ tòng chinh nữa, lại bắt họ đi không hẹn ngày về, chắc chắn họ sẽ chống lại.3) Miền nam nóng bức, đầy choáng khí, quân đến không quen thủy thổ, mười người sẽ mất bốn năm.4) Đường đi mệt nhọc, khi đến nơi, quân không còn sức để chiến đấu.5) Đường tiếp tế khó khăn, sáu chục vạn hộc gạo chưa thấm vào đâu.6) Quân sở tại không thể chống cự được mà đem quân của triều đình sang, ấy là như lấy lòng ruột mà che chân tay.7) Quân Cửu Chân ở gần, mà còn chưa chịu đi, thì sao quân ở xa lại chịu đi?Lý Cố nói chỉ cần chọn những người dũng lược, nhân huệ, đặt làm tướng soái sai sang Giao Chỉ, và những người nầy sẽ điều khiển lực lượng địa phương để chống cự. Trước hết phải di cư dân và quan ở Nhật Nam ra tạm trú tại Giao Chỉ, rồi mộ người man di đánh lại với người man di. Ông đề nghị chọn cựu thứ sử Nam Dương là Trương Kiểu làm thứ sử, và cựu thứ sử Trường Sa là Chúc Lương làm thái thú Cửu Chân vì cả hai đều có kinh nghiệm nhiều. (6)Hán triều đồng ý với Lý Cố. Hai ông Kiểu va Lương sang cổ Việt dùng mưu lược trấn an được giặc Lâm Ấp.Cách đó mấy năm, vào tháng 10 năm Kiến Khang thứ 5 (144), dân man di ở Nhật Nam lại nổi dậy, đốt phá quận huyện. Thứ sử Giao Chỉ là Hạ Phương, người Cửu Giang, dẹp yên được. (7)b) LOẠN Ô HỨA: HAY GIAO CHỈ BỘ TRƯỚC THỜI SĨ NHIẾPỞ các quận Hợp Phổ và Giao Chỉ có loại dân man gọi là dân Ô Hứa. Năm đầu hiệu Quang Hòa (178) đời Hán Linh đế (168-188) dân nầy đứng lên chống chính quyền Trung Quốc. Dân man di ở các quận Cửu Chân, Nhật Nam cũng nổi dậy hưởng ứng. Cả bộ Giao Chỉ nơi nơi đều bị quấy phá, mà nhà chức trách thì nhu nhược, đánh dẹp không nổi, để cho tình trạng kéo dài năm nầy qua năm khác.Cũng trong thời đó, đang khi thái thú Nam Hải là Khổng Chi làm loạn, thì ở quận Giao Chỉ lại có tên Lương Long kéo theo hàng vạn người công khai cướp bóc quận huyện. Bấy giờ Hán triều đặt Chu Tuấn làm thứ sử Giao Chỉ. Ông là người có tài, giỏi về lối liệu biện công việc. Khi ra đi nhậm chức, ông đã mộ năm nghìn gia binh đi với ông. Đến cương giới bộ Giao Chỉ, ông dừng lại để dò xét tình hình rồi chia quân làm hai đạo tiến vào. Tại bộ, ông truyền hịch đi khắp nơi tuyên dương uy đức nhà Hán, hợp quân của ông với quân của bảy quận đánh phá bọn loạn tặc. Ông giết được Lưu Long, đẹp được loạn Ô Hứa, vào mùa hạ năm 181. Bộ Giao Chỉ lại được bình an. (8)Nhưng, những thái thú, thứ sử được đặt lên ở Giao Chỉ, phần nhiều đều có lòng tham bạo. Lấy cớ xa triều đình, họ ít sợ quyền cấp trên và do đó tìm đủ cách để bóc lột sức lao động cũng như tài sản nhân dân và thuộc hạ. Binh sĩ chẳng hạn, lắm lúc rất cực khổ. Khi họ không có thể chịu đựng nữa, họ nổi dậy làm loạn. Đó là trường hợp xảy ra năm 184, khi đạo quân đồn trú ở Giao Chỉ xông vào bắt giam quan thứ sử, cùng quan thái thú Hợp Phổ.Thấy những cảnh tượng như thế, tất Hán triều phải cố tìm cho được một người hết sức liêm khiết để gửi sang Giao Chỉ. Người được chọn tên là Giả Tung và ông nầy đã được lịch sử chứng minh là một nhà cầm quyền đáng khen. Hiểu rõ bổn phận cũng như quyền lợi của chức vụ, ông đã hiên ngang đến nhiệm sở mới. Binh sĩ và đại chúng tỏ ra chóng tin tưởng ông. Có kẻ đã không ngần ngại cho ông biết nguyên nhân của những cuộc nổi loạn về trước. Họ nói: "Thuế má nặng quá, trăm họ đều túng thiếu, mà kinh sư lại xa xuôi không biết kêu thân vào đâu. Vì vậy, khi dân không thể nào sống được nữa, họ phải tụ tập ăn cướp". (9)Biết vậy, Giả Tung sai cán bộ đi khắp nơi ủy dụ dân chúng, chiêu phủ những người lưu vong, tha bớt thuế má. Đồng thời ông nghiêm trị những kẻ quấy rối, chọn người tốt đặt làm việc ở quận huyện. Nhờ đó dân an phận làm ăn, không đầy một năm toàn bộ Giao Chỉ đã được ổn định. Và dọc đường sá cũng như ở bến, người ta nghe nhân dân lặp đi lặp lại mấy câu nầy:Giả phụ lai vãnSử ngã tự phảnKim kiến thanh bìnhLại bất cảm phảnDỊCH: Cha Già đến chậmNên ta làm phảnNay được thanh bìnhPhản đâu còn dám. (10)c) THÁI THÚ SĨ NHIẾP (11)Kể ra, vào cuối thời Hán, nhân vật nổi tiếng hơn cả trong việc cai trị cổ Việt, phải là Sĩ Nhiếp. Ông đã quen biết với vùng đất nước nầy trước khi nhà Hán đặt ông làm thái thú Giao Chỉ, vì thân phụ ông, tên là Tứ, đã từng làm thái thú Nhật Nam trong thời Hoàn đế (147-167).Lúc con nhỏ, Sĩ Nhiếp đã được cha mẹ cho đi du học ở Lạc Dương. Thầy ông là những bậc danh nho, như Lưu Tử Kỳ, người Dĩnh Xuyên. Ông thông thạo sách Tả thị xuân thu, thi đậu hiểu liêm, được bổ làm Thượng thư lang. Sau một thời gian cư tang thân phụ, ông được đổi sang Giao Chỉ với chức thái thú. Chức vụ nầy, ông đã hoàn tất trong vinh dự mãi cho đến khi ông mất, vào năm 225.Ông là người có tài, rất được thiên hạ qui phục. Cấp trên tin cậy ông, thường nghe các điều ông đề nghị. Bấy giờ thứ sử Châu Phù bị giặc giết, trong các quận loạn lạc cực khổ. Ông tâu xin Hán triều cho ba người em ông làm thái thú, em Nhất ở Hợp Phổ, em Vỹ ở Cửu Chân, em Vũ ở Nam Hải. Chính ông cũng là người đã cùng thứ sử Trương Tân xin đổi Giao Chỉ bộ ra Giao Châu và triều đình đã nghe.Bấy giờ là một lúc giao thời. Nhà Hán đang buổi suy vi, nên ở miền nam ai cũng muốn lên mặt làm quyền. Khi thứ sử Trương Tân bị Khâu Cảnh giết, Luu Biểu ở Kinh Châu tự ý sai Lại Cung đến thay. Cùng lúc đó, thái thú Thương Ngô cũng sai Ngô Cự đến. Rồi nhà Hán được tin Trương Tân không còn, lại biên tỉ thư sang cho Sĩ Nhiếp, đặt ông lên chức đó. Như thế, cùng một lúc, Giao Châu có đến ba thứ sử. Trong khi Sĩ Nhiếp một mực trung thành với Hán Hiến đế, Cự và Cung xung đột nhau, khiến Cung phải bỏ về Linh Lăng. Đến năm 210, khi nhà Hán đã mất quyền ở miền nam, Tôn Quyền nhà Ngô sai Bộ Chất đến giữ chức thứ sử. Sĩ Nhiếp liền phục mệnh, đem bộ hạ ra đón rước người đại diện của chúa mới. Ngô Cự do dự nên bị Bộ Chất giết.Trong buổi giao thời đó, Sĩ Nhiếp chẳng những đã tỏ ra là một nhà chính trị thích thời, mà ông còn đóng vai một chủ nhân đại lượng, biết tôn trọng và nâng đỡ nho gia. Nhiều nhà trí thức và chính khách Trung Quốc, khổ tâm vì cảnh loạn ly ở quê nhà, đã sang Giao Chỉ nương nhờ vào Sĩ Nhiếp để có thể giữ trọn niềm trung. Với khách hào hoa lui tới, với của cải chứa chất lại sau bao nhiêu năm cầm quyền, ông đã có thể sống một cuộc đời vương giả ở đất Liên Lâu.Thời Sĩ Nhiếp cai trị Giao Chỉ, cũng là một thời thịnh vượng cho dân trong quận. Mọi người đã yên ổn làm ăn. Không mấy ai phải thất nghiệp cực khổ. Thảo nào, sau khi ông mất, thọ 90 tuổi, đại chúng đã đồng tâm tôn ông là Sĩ vương, và thờ ông như một vị thần thiêng.II. CHÍNH TRỊ THỜI NGÔ (220-279)1) Sĩ Huy và Lữ Đại (12)Nếu Sĩ Nhiếp là một thái thú hội được nhiều điểm tốt, thì Sĩ Huy con ông hội được nhiều điểm xấu, như làm loạn tặc, tham lam và táo bạo. Mộng của Huy là được nối nghiệp cha ở Giao Chỉ, không ngờ nhà Ngô lại quyết định khác. Ngô Chúa đặt ông làm thái thú Cửu Chân còn quận Giao Chỉ thì lại giao cho Trần Thời. Phật ý, trước khi Trần Thời và viên tân thứ sử là Đái Lương đến, ông đã đem quân chiếm giữ Giao Chỉ. Thấy thế, Thời và Lương không dám vào Giao Châu.Không phải mọi người chung quanh Sĩ Huy đều đồng ý với ông trong chương trình phản loạn. Một người trước kia đã làm việc với Sĩ Nhiếp là Hoàn Lân, khẩn khoản xin Huy hạ mình xuống đi đón Đái Lương, Huy tức giận giết chết Lân. Bấy giờ anh của Lân là Trị và con là Phát hợp người trong họ lại để đánh Huy. Hai bên cầm cự nhau mấy tháng, cuối cùng thấy không ai được bèn giảng hòa.Trong lúc đó, Lữ Đại, thứ sử Quảng Châu, được lệnh nhà Ngô sang bình định Giao Châu thay cho Đái Lương. Đại đã dùng mưu, và có thể nói là mưu gian, để thắng Huy. Ông quen với Khuông, con của Nhất (Nhất nầy là chú của Huy), nên dùng Khuông để thuyết phục Huy đầu hàng, bảo rằng, nếu Huy hàng đi thì chỉ mất quyền cai trị quận, chứ khỏi lo về các mặt khác. Huy nghe và cả sáu anh em ra đầu thú với Đại. Không ngờ, Đại đem cả sáu người ra giết, gửi đầu về Vũ Xương. Những người bà con khác của Huy, như Nhất, Vỹ và cả Khuông nữa, đều bị truất xuống làm thứ dân, rồi sau hầu hết đều bị giết.Thắng được loạn Sĩ Huy, Lữ Đại hợp Quảng Châu lại với Giao Châu làm một đơn vị hành chánh, lấy tên Giao Châu, và đứng đầu làm thứ sử. Ông cai trị mãi cho đến năm 231, tức là năm thứ ba hiệu Hoàng Long, mới được lệnh gọi về cầm quân ở Ẫu Khẩu, thuộc Trường Sa.2) Những An Nam tướng quân (13)Viên quan được chức An Nam tướng quân đầu tiên tên là Lục Duệ. Vào năm II hiệu Xích Ô (248), ở Giao Chỉ và Cửu Chân có loạn. Tôn Quyền sai Lục Duệ sang làm thứ sử Giao Châu. Chính khi Duệ đã ổn định được tình thế, Ngô Chúa đã ban cho ông chức trên.Lữ Hưng cũng đã được chức đó trong một trường hợp khác.Trong hiệu Vĩnh An (258-264), Tôn Hựu đặt Tôn Tư làm thứ sử Giao Châu. Tư giở lại cái trò của các ô quan tham lại về trước, và bóc lột dân. Lòng công phẩn đã dâng lên tràn ngập. Bấy giờ lại có sứ giả của Ngô Chúa là Đặng Tuân đến Giao Chỉ. Khi ra về ông định mang về ba chục khổng tước. Dân sợ phải đi đường xa lo việc chuyên chở cho Tuân, nên cùng nhau mưu loạn. Thấy thế, một đàng để thỏa mãn lòng căm tức của đại chúng, và cũng là để làm tròn những ước muốn riêng, Lữ Hưng, một viên quận lại, đứng lên cả Tuân lẫn Tư. Các quận Cửu Chân và Nhật Nam đều lên tiếng ủng hộ Hưng.Sao một viên quận lại có thể làm được một việc lớn như thế? Ông làm được thế không phải chỉ vì muốn phản đối lòng tham nhũng của các thượng quan mà thôi, mà còn vì lý do chính trị. Nhìn vào thời cuộc bấy giờ, chúng ta thấy các nhà Ngô, Ngụy, và rồi Tấn, đang giành nhau quyền bính. Ở các châu quận, trong giới quan chức, kẻ thì ủng hộ nhà nầy, người lại ủng hộ nhà khác. Trong lúc Tôn Tư và sứ Đặng Tuân là người của nhà Ngô (sứ Đặng Tuân đến Giao Chỉ chính là với mục đích củng cố quyền bính nhà Ngô), thì Lữ Hưng lại muốn làm thần tử của nhà Ngụy. Theo ý Hưng, việc Tuân đến đã là một nguy hại cho uy thế nhà Ngụy rồi, Tuân lại còn làm việc thất nhân tâm nữa, thảo nào ông không cương quyết ra tay. Khi hạ được những địch thủ chính trị đó, Lữ Hưng tức tốc dâng biểu về nhà Ngụy xin gửi người cai trị và lực lượng sang.Để xác nhận công trạng của Lữ Hưng, nhà Ngụy liền ban cho ông chức An Nam tướng quân, đô đốc Giao Châu chư quân sự, và gửi sang cổ Việt với chức thứ sử một vị cựu giám quân tên là Hoắc Dực. Dực chọn Phàn Cốc làm thái thú Giao Chỉ, và đem theo một số binh sĩ, cùng những viên gia môn như Đổng Nguyên, Mao Quýnh, Mạnh Thông, Thoán Năng, Lý Tùng, Vương Tố, có ý để giúp Hưng.Không may khi bạn bè chưa đến kịp, Lữ Hưng đã bị phe nghịch giết. Vương Thống, người của nhà Ngô, đã hạ Hưng để báo thù cho Tuân và Tư. Trong trường hợp nầy, (năm 265), Nguyên để Hoán nhà Ngụy bị Tư Mã Yên truất phế để lập ra nhà Tấn, nên những người trước kia đứng về phía nhà Ngụy để chống nhà Ngô, từ nay lại quay theo nhà Tấn. Tấn Võ đế (265-289) tiếp tục, nhận cho Phàn Cốc cai trị quận Giao Chỉ, rồi khi Cốc mất, đặt Mã Dung lên thế, và khi Mã Dung chết, lại đặt Dương Tắc thay.Nhà Ngô, mặc dầu đang trên đường suy vi, cũng không thể ngồi yên để cho kẻ khác chiếm mất một vùng đất nước. Ngô Chúa Hạo (264-279) sai Lưu Tuấn sang làm thứ sử Giao Châu để cùng với đại đô đốc Tư Tắc và tướng quân Cố Dung đánh Dương Tắc.Mùa đông năm thứ tư hiệu Thái Thủy nhà Tấn (268), phe nhà Tấn và phe nhà Ngô giao chiến. Lúc đầu phe nhà Tấn thắng. Dương Tắc thắng được đối phương nhờ sự ủng hộ của các quận Uất Lâm và Cửu Chân. Thủ hạ của Dương Tắc, bọn Mao Quýnh, Đổng Nguyên giết được Tu Tắc và Lưu Tuấn tại Cổ thành ở Hợp Phổ, và vì đó Mao Quýnh được đặt làm thái thú Uất Lâm, Đổng Nguyên làm thái thú Cửu Chân.3) Đào Huỳnh (14)Sự thắng trận của phe Dương Tắc không được lâu bền, vì nhà Ngô đang chuẩn bị một cuộc tiến binh quyết liệt. Ngay từ cuối năm 269, Ngô Chúa Hạo đã phân phối công tác cho các tướng sĩ:- Giám quân Ngu Dĩ, Uy Nam tướng quân Tiết Vũ, thái thú Thương Ngô Đào Huỳnh, chỉ huy một đạo quân tiến theo đường Kinh Châu,- Giám quân Lý Đỉnh, đô đốc Từ Tôn, chỉ huy một đạo quân khác tiến theo đường Kiến An ra bể,- Cả hai đạo sẽ hợp nhau sang Giao Châu diệt Dương Tắc.Đầu năm thứ hai hiệu Thái Thủy nhà Tấn (271), chiến tranh tiến vào giai đoạn ăn thua. Hai bên đánh nhau một trận lớn ở Phần Thủy, phe nhà Ngô bị chết mất hai tướng khiến Đào Huỳnh phải rút về Hợp Phổ. Bị Tiết Vũ khiển trách, ban đêm Đào Huỳnh bèn xuất kỳ bất ý đánh được Đổng Nguyên một trận, cướp được nhiều bảo vật. Quân nhà Ngô nhờ đó lên tinh thần. Lối tháng tư, Đào Huỳnh dẫn quân tiến vào Giao Chỉ. Nguyên chận đánh. Huỳnh đặt phục binh giết được Nguyên, khiến Dương Tắc phải đặt Vương Tố lên thay làm thái thú Cửu Chân.Huỳnh mà thắng được Nguyên cũng là nhờ sự giúp đỡ của một viên tướng Phù Nghiêm tên là Lương Kỳ. Huỳnh đã lấy những bảo vật cướp được của Đổng Nguyên ở Hợp Phổ dâng cho Kỳ để mua ông và ông đem hơn một vạn quân về giúp. Vào tháng năm, Huỳnh vây hãm thành Giao Chỉ. Ở trong thành, Dương Tắc và Mao Quýnh kiệt lương, cùng sức, cả hai đều bị bắt. Huỳnh thấy Mao Quýnh dũng kiện, muốn giữ lại, nhưng liền bị Mao Quýnh mưu sát, bèn đem giết đi làm mốt với Tắc. Khi thành Giao Chỉ thất thu rồi, Vương Tố cố trốn đi theo đường biển, nhưng cũng bị bắt giết. Cửu Chân và Nhật Nam đều hàng nhà Ngô.Vì sự nghiệp vừa thâu hoạch được, Đào Huỳnh được đặt làm thứ sử Giao Châu. Ông cũng dẹp được dân man Phù Nghiêm và lập ra các quận Võ Bình, Tân Xương. Vùng hoang rậm giữa Cửu Chân và Nhật Nam từ trước đến nay là chỗ dân man di ở, Huỳnh cũng lập thành một quận mới, tức là Cửu Đức. Dân chúng rất mến phục ông. Khi Ngô Chúa muống đem ông đi làm đô đốc Vũ Xương để thái thú Hợp Phổ là Tu Doãn sang thay, dân đã kêu xin được ông ở lại.Năm đầu hiệu Thái Khang (280) đời Tấn Võ đế (265-269), Tôn Hạo đầu hàng nhà Tấn. Qui mệnh hầu Hạo sai con của Đào Huỳnh là Đào Dung cầm một phong thư do chính ông viết sang Giao Châu khuyên Huỳnh bằng lòng đổi chủ. Huỳnh đau đớn khóc mấy ngày rồi thuận gửi ấn về nộp nhà Tấn. Võ đế giữ ông ở chức cũ và phong cho ông tước Uyển lăng hầu cùng làm Quan quân tướng quân. Ông còn cai trị Giao Châu 20 nữa mới mất. Tấn thư ghi rằng khi tống táng ông, người trong châu thương tiếc như mất cha mất mẹ vậy.III. CHÍNH TRỊ THỜI TẤN (265-420)1) Những người kế vị Đào Huỳnh (15)Tấn đế chọn Ngô Ngạn thế Đào Huỳnh. Không lâu sau, binh sĩ ở Cửu Chân nổi dậy trục xuất thái thú. Người đứng đầu loạn quân là Triệu Chỉ đem lực lượng bao vây quận thành. Ngô Ngạn dẹp yên được. Ông cai trị Giao Châu hơn hai mươi năm rồi dâng biểu xin đổi đi.Người được đặt thay Ngô Ngạn là Cố Bí. Bí là người nhân từ, trị dân một cách liêm khiết. Khi ông mất, dân yêu cầu con ông là Cố Sâm nhận lãnh công việc trong châu. Không may Sâm cũng mất. Một người con khác của Bí là Cố Thọ đệ đơn lên triều đình xin nối nghiệp Sâm. Triều đình chấp thuận, nhưng dân chúng lại không bằng lòng. Không chịu được lời chỉ trích, Thọ giết mất một trưởng lại tên là Triệu, và còn toan giết một tùy tướng tên là Lương Thạc. Thạc trốn chạy nên thoát được. Ông nầy cất binh đánh, và bắt được Thọ. Chính mẹ của Thọ bảo người cho uống thuốc độc chết. Bấy giờ Đào Uy, con của Đào Huỳnh làm thái thú Thương Ngô, Thạc bên mời lên làm thứ sử. Về sau, em của Đào Uy là Đào Thục, và con là Đào Tuy, đều có giữ quyền ở Giao Châu.Lương Thạc được đặt làm thái thú Tân Xương đã tự tiện đến làm thái thú Giao Chỉ. Bấy giờ Vương Đôn làm Trấn đông đại tướng quân, coi các châu Kinh, Hoài, Giang, Tương, Quang, Giao. Khi Vương Cơ đã xin được Vương Đôn cho sang làm thứ sử Giao Châu, Thạc chận lại, không cho vào. Thay vì công nhận Cơ, Thạc đã mời Tu Trạm, con của Tu Tắc về cai trị châu. Bấy giờ Vương Đôn lại đặt Vương Lượng làm thứ sử. Lượng đến, Trạm trốn vào Cửu Chân. Sau Trạm bị dụ vào tay Lượng và bị giết.Lượng cũng tìm cách tiêu diệt Thạc, nhưng không được. Để trả thù, Thạc cất binh bao vây thành Long Biên, rồi vào bắt Lượng, cố cướp cho được cờ tiết. Vì Lượng không giao, bị Thạc chém đứt tay. Lượng nói: "Chết còn chưa sợ, thì chặt tay mà làm gì?". Sau đó mấy hôm, Lượng mất. Thạc còn lại một mình tha hồ chuyên quyền trong châu. Ông ăn ở hung bạo làm cho mọi người đều ghét.Tình trạng chính quyền ở Giao Châu sau Đào Huỳnh, đã phản ảnh tình trạng đau buồn của triều nhà Tấn, một triều đại trong đó anh em họ hàng chém giết nhau một cách tàn tệ, không phải vì mục đích bảo vệ một chí hướng chính trị, hay một ý nghĩa cao cả nào, mà chỉ là để giành giật ngai vàng.2) Đào Khản và Đổ Viện (16)Đào Khản làm thứ sử Quảng Châu. Thấy Giao Châu hổn độn có lần ông đã can thiệp vào một cách gián tiếp. Chính ông đã cho người dụ Tu Trạm vào tay Vương Lượng. Khi Vương Lượng bị Lương Thạc vây đánh, ông cũng đã chuẩn bị sang cứu Lượng, nhưng chưa làm kịp, Lượng đã thua.Năm 323, được tin Lượng chết, Đào Khản được gửi sang thay. Ông sai tham quân Cao Báu đi dẹp Lương Thạc. Báu thắng, giết được Thạc. Đào Khản bèn được chức Giao Châu thứ sử, hiệu Chính Nam Đại tướng quân, có quyền mở phủ nghị. Không được bao lâu, viên Lại bộ lang Nguyễn Phóng xin đuoc triều đình cho làm thứ sử Giao Châu. Cố nhiên Phóng chạm trán với Khản. Gặp Báu đem quân đến nghinh chiến ở Ninh phố, Phóng mở tiệc đãi Báu đồng thời đặt phục binh giết được Báu. Không ngờ quân của Báu xông đánh mạnh, Phóng phải bỏ chạy mới thoát thân. Sau Đào Khản nhường chức cho Phóng, nhưng ông nầy đến châu chưa được bao lâu đã chết.Sau Đào Khản, trong thời nhà Tấn, còn một vài nhân vật nên biết nữa, đó là Đỗ Viện và Đỗ Tuệ Độ, hai cha con, sinh trưởng ở đất Giao Châu.Bấy giờ là năm 380, trong đời Hiếu Võ đế nhà Tấn (373-396). Ở Cửu Chân có thái thú Lý Tốn lộng hành, nổi dậy chiếm cứ châu. Đỗ Viện, làm thái thú Giao Chỉ, không hùa theo loạn đảng. Ông đánh giết Lý Tốn và cả châu lại được yên. Khi Viện mất, triều đình đặt con ông là Đỗ Tuệ Độ làm thứ sử Giao Châu.Lúc đó, ở Quảng Châu có loạn, Lư Tuần đang bao vây Phiên Ngung đã bị Điền Tử đánh bại, chạy lên Thương Ngô. Ở đây Tuần bị bại nữa, bèn chạy sang Giao Chỉ. Đỗ Tuệ Độ đem lực lượng đón đánh Tuần ở Thạch Kỳ. Tuần thua to, nhưng được dư đảng của Lý Tốn là Lý Thoát tụ họp dân lý liêu gồm tất cả những năm nghìn người để ủng hộ Tuần. Quân của Tuần kéo đến phía nam Long Biên. Tuệ Độ bèn đem hết của cải phân phát cho binh sĩ để thúc giục họ hăng hái giáp trận. Lực lượng của Tuần không mấy chốc đã bị tan rã. Biết không sao khỏi chết, Tuần gọi đoàn thê thiếp lại hỏi xem ai sẵn lòng cùng chết với ông. Đa số đáp: "Chim, chuột còn muốn sống, việc chết theo thật là khó". Nhưng cũng có người nói: "Quan thượng còn phải chết thì ai còn muốn sống". Ông bèn giết hết, rồi gieo mình xuống sông. Tuệ Độ chém đầu ông đầu Lý Thoát, tất cả bảy người, rồi gửi về Kiến Khang.3) Giao Châu với Lâm Ấp (17)Trong thời Tấn, dân Lâm Ấp nhiều lần quấy nhiễu Giao Châu.Năm thứ hai hiệu Hàm Thông (336), vua Lâm Ấp là Phạm Dật chết, Phạm Văn lên thế. Văn là một người có tính hiếu chiến. Năm 347, ông đem quân đánh Nhật Nam, giết mất thái thú Hạ Hầu Lãm, cùng với năm, sáu nghìn dân. Những người sống sót phải chạy ra Cửu Chân. Văn lấy xác của Lãm tế trời, phá thành Tây Quyền, rồi cho sứ giả ra xin thứ sử Châu Phù cho mở cương giới Lâm Ấp ra đến Hoành Sơn. Châu Phù không trả lời.Năm 348, Phạm Văn đánh Cửu Chân, dân chúng mười người bị giết hết tám, chín. Không thể nhịn nhục được lâu hơn, nên năm sau đó, viên Chinh tây đốc hộ Tất Tuấn chỉ huy lực lượng Giao Châu và Quảng Châu vào đánh bại Phạm Văn. Năm đó, Phạm Văn chết, để ngôi cho con là Phạm Hồ Đạt.Năm thứ chín hiệu Vĩnh Hòa (353), vào tháng ba, thứ sử Giao Châu là Nguyễn Phu đem quân vào đánh Lâm Ấp, phá được hơn năm mươi lũy. Năm 361, thứ sử Quảng Châu là Tất Hàm cất đại quân vào đánh Lâm Ấp. Vua Lâm Ấp sợ, xin hàng. Trong đời Hiếu Võ đế (373-396), Lâm Ấp triều cống nhà Tấn. Nhưng đến năm thứ ba hiệu Long An (299), vào tháng hai, vua Lâm Ấp lại đánh phá Nhật Nam, Cửu Chân, rồi kéo ra Giao Chỉ, không ngờ bị Đỗ Viện đánh đuổi. Vào năm 413, lần nữa, Cửu Chân bị Phạm Hồ Đạt đánh. Đỗ Tuệ Độ nghinh chiến đã giết được Đạt, và Phạm Dương Mại lên làm vua Lâm Ấp. Ba năm sau, năm thứ II hiệu Nghĩa Hy, vào tháng 11, Tuệ Độ còn đánh bại một cuộc xung kích khác của Lâm Ấp. Vào năm 420, đến lượt Đỗ Tuệ mở thế công. Ông kéo quân đánh một trận rất lớn, Lâm Ấp xin hàng. Ông bằng lòng cho và tha về tất cả những người đã bị bắt.VI. CHÍNH TRỊ THỜI TỐNG VÀ THỜI TỀTrong thời Tống (420-478), các biến cố được ghi lại không có bao nhiêu. Việc đáng kể hơn cả, có lẽ cũng chỉ là chiến tranh với Lâm Ấp. (18)Năm 431, Lâm Ấp ra đánh Cửu Đức, nhưng bị đẩy lui. Không ngã lòng, Phạm Dương Mại tấn công nữa, mà lần nầy bằng một phương pháp khác. Vào tháng năm, năm Nguyên Gia thứ 10 (432), ông gửi sứ sang triều cống Tống Văn đế (424-453) để ngoại giao xin cho được quyền cai trị Giao Châu. Vua không cho, lấy lẽ là đường sá xa xuôi, đi lại không tiện.Vào năm thứ 23 hiệu Nguyên Gia (446), nhà Tấn dự tính một cuộc tấn công Lâm Ấp và giao việc đó cho Đàn Hòa Chi, thứ sử Giao Châu. Trong bọn thủ hạ của Hòa Chi có tên Tống Xác rất hùng dũng, được đặt làm Chấn Võ tướng quân, chỉ huy đạo tiền phong. Trước tình thế đó, Phạm Dương Mại gửi sứ để xin giao trả những người Nhật Nam đã bị bắt, cùng xin dâng một vạn cân vàng, mười vạn cân bạc. Văn đế nhà Tống bảo Hòa Chi nếu vua Lâm Ấp thật lòng qui thuận thì cũng ưng cho. Khi quân vào đến Châu Ngô, Hòa Chi sai viên tham quân Khương Trọng Cơ vào gặp vua Lâm Ấp. Không ngờ Trọng Cơ bị Dương Mại giữ lại. Hòa Chi quyết định đánh. Ông cho bao vây tướng địch là Phạm Phù Long ở Khu Túc. Các tướng Lâm Ấp, như Phạm Côn, Sa Đạt đến cứu đều bị Tống Xác phục binh đánh phá.Vào tháng năm, Hòa Chi hạ thành Khu Túc, giết Phù Long, phá thành rồi tiến đến Tượng Phố. Thấy tình thế khẩn trương, Dương Mại huy động cả nước ra kháng cự, lấy áo chiến trùm cả lên mình voi. Tống Xác nhớ lại rằng voi sợ sư tử nên làm ra hình sư tử để nhát voi. Voi sợ chạy lui, quân Lâm Ấp tan vỡ, cha con Dương Mại cũng vội vàng tẩu thoát. Hòa Chi đại thắng, thu hoạch được báu vật của Lâm Ấp rất nhiều, chỉ Tống Xác là không lấy vật gì. Năm 447, Hòa Chi từ chức thứ sử Giao Châu.Sau Đàn Hòa Chi, không có chiến tranh về phía Lâm Ấp nữa, nhưng lại có nội loạn. Năm 468, thứ sử Giao Châu là Lưu Mục mất, một người trong châu, Lý Trường Nhân, chiếm châu làm phản, tự xưng là thứ sử. Tống đế cũng gửi Lưu Bột sang để giữ chức đó. Khi Bột đến, Trường Nhân hết sức chống cự. Nhưng không lâu Bột mất, bấy giờ Trường Nhân sai sứ sang Tống triều xin cai trị châu, và ông đã được như ý. Năm 479, Lý Trường Nhân mất. Em ông là Lý Thúc Hiến sai sứ sang xin vua đặt ông làm thứ sử. Vua không nghe, đặt thái thú Nam Hải là Thẩm Hoán lên, còn ông thì cho làm thái thú các quận Võ Bình và Tân Xương. Vì được dân ủng hộ, Lý Thúc Hiến muốn chống mệnh lệnh của triều đình. Khi Hoán chưa sang, ông đã chuẩn bị chống cự. và rồi thực sự đem quân chận đường không cho Hoán vào. Hoán đành phải lui về Uất Lâm, bị bệnh chết ở đó. Bấy giờ, Thúc Hiến lại xin và được chức thứ sử.Thời nhà Tề (479-501) vừa vắn lại vừa tang thương. Lịch sử nhà Tề là lịch sử một chuỗi những cuộc ám sát. Hễ ai lên ngôi là đã vội tìm cách giết hết anh em họ hàng, để rồi lại bị giết bởi một người bà con sống sót. Trong tình trạng đó, ít hy vọng được thấy vùng Giao Châu được chú ý đến trừ khi các thứ sử không chịu nộp đồ cống. (19)Thật vậy, năm 484, triều đình nhận được rằng đã lâu Lý Thúc Hiến không còn qui phục trung ương như thường lệ. Ý nhà vua là phải dùng võ lực phạt Giao Châu. Năm Vĩnh Minh thứ ba (485), Tề Võ đế đặt Đại tư nông Lưu Khải làm thứ sử, chỉ huy lực lượng các quận Nam Khang, Lư Lăng, Thủy Hương, sang đánh Thúc Hiến. Thúc Hiến được tin, sợ hãi, vội vàng sai sứ về triều đình xin bãi binh đồng thời dâng lên mười hai chiếc mũ đầu mâu đúc bằng bạc. Vua không chịu, Thúc Hiến lo kẻo bị đánh úp, nên theo đường Tương châu về kinh đô. Một mối loạn tạm yên.Nhưng nếu những kẻ tham lam quyền thế, của cải, đã được lịch sử ghi lại, thì những người không màng gì đến quyền thế cũng không bị lịch sử bỏ quên. Đó là trường hợp của thứ sử Phòng Pháp Thặng. Trong thời gian ở Giao Châu, ông không lo gì đến việc cai trị, mà suốt ngày suốt buổi, ông chỉ chuyên chú đọc sách. Vì đó, tất cả công việc đều ở tay viên trưởng lại Phục Đăng Chi. Được thế, Đăng Chi chuyên quyền, thay đổi nhân viên mà không thèm cho thứ sử biết. Khi lục sự Phòng Quý Văn đem việc đó trình bày lên, Pháp Thặng tức giận, bỏ Đăng Chi vào ngục. Đăng Chi khôn khéo đem của đút lót cho em rể của Pháp Thặng, là Thô Cảnh Thúc, nên sau mười ngày đã được tha. Bấy giờ ông đánh úp châu phủ, bắp Pháp Thặng câu lưu ở một nhà riêng. Buồn vì không có gì làm, Pháp Thặng đến xin Đăng Chi sách để đọc. Đăng Chi không cho, nói: "Quan không làm gì mà còn sinh bệnh, huống hồ đọc sách". Vào tháng 11 năm Vĩnh Minh thứ tám (490), Đăng Chi tâu triều đình là Pháp Thặng có tâm tật và Đăng Chi đã được đặt lên thay. Quan cựu thứ sử chết trên đường trở về quê hương.V. CHÍNH TRỊ THỜI LƯƠNG VÀ THỜI TRẦNVõ đế nhà Lương (502-549) có thể kể được là một vị anh quân trong những năm đầu, nhưng từ năm 527 mà đi, ông đã trở thành mê tín, dần dần mất hết tư cách của một bậc anh minh. Bấy giờ ở cổ Việt xa xuôi nầy, nhiều người đứng lên đòi độc lập. (20)Lý Khải do nhà Tề gửi sang Giao Châu đã giữ lòng trung thành với triều đại nầy, khi nhà Lương lên cầm quyền ở Nam Kinh, và vì thế không chịu triều cống chủ mới. Vào năm Thiên Giám thứ tư, tháng hai, ngày Nhâm thìn (ngày 21 tháng 3, 505), Lý Khải bị một viên thuộc cấp trên là Lý Tắc hạ sát. Tắc được đặt làm thứ sử Giao Châu. Mười năm sau, lại có người tên là Nguyễn Tông Hiếu nổi dậy. Lý Tắc cũng có công đánh bại, chém được đầu gửi về kinh đô.Nhưng cuộc nổi dậy danh tiếng hơn cả trong thời nhà Lương, đó là của Lý Bí. Thuộc dòng dõi hào hựu, Bí được bổ làm quan, rồi vì gặp hoàn cảnh không vừa ý đã cáo về nhà. Bấy giờ ở Giao Chỉ lại có một người tên là Tịnh Thiều, tài giỏi chữ nghĩa, nhưng xin đi làm việc, chỉ được bổ chức môn lang ở Quảng Tín, vì lẽ trong họ chưa có tiền hiền, nên lấy làm xấu hổ cũng bỏ về. Đàng khác, thứ sử Giao Châu là Võ Lâm hầu Tiêu Tư ăn ở khắc nghiệt, nhân dân oán thán. Vì tất cả đó, Bí và Thiều nghĩ đến việc khởi nghĩa. Để dễ thi hành ý định, Bí nhận chức giám quân ở Đức Châu, tìm cách liên kết với thành phần bất mãn ở các châu để nổi dậy đánh Tiêu Tư. Quan thứ sử biết vậy, vội đem tiền đút lót cho Lý Bí và trốn về Quảng Châu.Khi tin biến loạn về đến triều đình, Lương Võ đế (502-549) sai thứ sử Cao Châu, Tôn Quýnh, thứ sử Tân Châu, Lư Tử Hùng, sang đánh dẹp Giao Châu làm một với Tiêu Tư. Họ được lệnh cử binh vào đầu năm Đại Đồng thứ tám (542). Quýnh và Tử Hùng lấy lẽ mùa xuân nhiều khí độc nên hoãn đến mùa thu, nhưng Tiêu Tư thối thúc, lại thêm Tân du hầu Hoán, thứ sử Quảng Châu, bắt buộc, họ đành phải lên đường. Không may, khi đến Hợp Phổ, binh sĩ không hợp thủy thổ, mười người chết hết sáu, bảy, đành phải giải tán. Tiêu Tư tâu trình rằng bọn Quýnh và Tử Hùng thông đồng với giặc, không chịu tiến quân, vì vậy cả hai đều phải đòi về Quảng Châu và phải tự tử.Việc rắc rối đến đó chưa phải là hết. Thân thuộc của những người bị tội, như Tử Lược, Tử Liệt, hai em của Tử Hùng, và chủ soái Quảng Lăng là Đỗ Thiên Hợp, cùng các em ông là Tăng Minh, Tân An, Châu Văn Dục, huy động bộ hạ của Tử Hùng đến đánh Quảng Châu, có ý giết Tiêu Tư và Tân Du hầu Hoán. May sao thái thú Ngô Hưng là Trần Bá Tiên đến cứu kịp. Vị tướng tài nầy đã giết được Thiên Hợp, bắt giam Tăng Minh, Văn Dục, và sau, thấy hai người nầy kiêu dũng, đã cho làm chủ soái.Nhân sự lủng củng giữa các tướng lãnh triều đình sai đi chinh phạt, Lý Bí đã có thì giờ để tăng cường lực lượng riêng. Năm 543 có quân Lâm Ấp cướp phá, ông sai Phạm Tu đi đánh đuổi được ra khỏi Cửu Đức. Chính sau trận thắng nầy, và nhân dịp đầu năm sau, Bí đã tự xưng là Việt đế, lấy hiểu là Đại Đức. (21)Nhưng vị vua của nước Việt mới nầy an hưởng ngai vàng không được lâu. Vào giữa năm thứ II hiệu Đại Đồng (545), Lương đế đã lập xong kế hoạch. Tiêu Tư bị mất chức và Dương Phiêu được đặt làm thứ sử Giao Châu. Phiêu lại có Trần Bá Tiên làm Tư Mã và thứ sử Định Châu là Tiêu Bột phụ lục. Khi binh sĩ đến Tây Giang, bỗng Bột thoái chí. Biết rằng binh sĩ không muốn gì việc đi đánh xa, nên Bột tìm cách khuyên Phiêu đừng đi nữa. Khi Phiêu hội tướng sĩ lại bàn, Trần Bá Tiên cương quyết phục mệnh, và thúc quân lên đường. Phiêu bèn đặt ông làm tiền phong.Lực lượng triều đình nhà Lương gặp ba vạn quân của Lý Bí lần đầu tiên ở Châu Diên, Bí thất bại. Lần thứ hai, hai bên giao chiến ở cửa sông Tô Lịch, Bí cũng thất bại, và rút quân về Gia Ninh. Tại đây, Bí bị bao vây và thất bại lần nữa vào ngày 25 tháng 2 năm 546, phải chạy vào trốn trong dân liêu ở vùng Tân Xương. Dương Phiêu và Bá Tiên không đuổi theo, cứ đợi ở cửa sông. Cuối mùa thu năm đó, với hai vạn quân vừa chiêu mộ được, Bí ra hồ Điển Triệt, thuyền bè đậu đầy cả hồ. Lúc đó, Bá Tiên dùng lời lẽ hăng hái khuyến khích tướng sĩ, bảo tất cả phải liều một phen sinh tử, nếu không sẽ nguy hại đến tính mạng. Thế rồi ban đêm đang lúc nước thủy triều lên, ông ra hiệu tiến quân, trống đánh inh ỏi mot góc trời. Lực lượng của Bí vỡ chạy tứ tung, còn chính Bí thì lui vào động Khuất Liêu. Vào tháng ba, năm thứ ba hiệu Thái Thanh (548), Trần Bá Tiên tấn công Lý Bí ngày ở động. Bí thất bại lần cuối cùng và ngày Kỷ vị tháng đó (tức là ngày 21 tháng 4 dương lịch) ông bị Bá Tiên chém đầu gởi về Kiến Khang.Dư đảng của Lý Bí, sau biến cố đau thương đó, đã do người anh của ông là Lý Thiên Bảo chỉ huy vào Cửu Chân, ở đây họ hợp lực với lực lượng của một tướng khác tên là Lý Thiệu Long, tất cả được chừng hai vạn người. Bảo và Long giết được thứ sử Ái Châu là Trần Văn Giới rồi vây Châu Thành. Trần Bá Tiên đem quân tiến vào dẹp yên được. Ông được Lương đế dặt làm Tây Giang đốc hộ cai quản việc quân của cả bảy quận.Trần Bá Tiên thắng Lý Bí ở Giao Châu và không mấy năm sau ông còn thắng cả nhà Lương ở Kiến Khang nữa. Thật thế, năm 557, ông truống Lương Cảnh đế (555-557) xuống và lên ngôi, lập ra nhà Trần. Nhưng số phận nhà Trần không được lâu bền gì. Bá Tiên hay Trần Võ đế (557-559) không đầy ba năm sau đã mất và các vua kế vị đã lu mờ một cách mau chóng trước sức bành trướng của nhà Tùy. Trong thời gian đó, ở vùng cổ Việt "chư châu giai định". (22)CHƯƠNG THỨ TÁM (tt)VI. CHÍNH TRỊ THỜI TÙY (584-617)
Nhà Tùy xuất hiện không lâu trong lịch sử nhưng đã để lại một sự nghiệp khá đáng kể, đó là khỉ sự thống nhất lại Trung Quốc. Kể từ thời Tống, Trung Quốc đã chia ra thành Nam, Bắc Triều. Năm 582, Trần Thúc Bảo lên ngồi ở Kiến Khang, hoang dâm, xa xỉ. Từ Trường an Dương Kiên, tức là Văn đế nhà Tùy (584-604) đã kéo quân xuống vùng Nam Kinh, hạ bệ vị vua hư hỏng nầy để nhà Tùy cai trị cả Bắc lẫn Nam.1) Lưu PhươngTrong đời Tùy Văn đế, ở Giao Châu có Lý Phật Tử nổi dậy. Chính ông chiếm thành củ của Lý Bí, con của anh ông là Lý Đại Quyền đánh thành Long Biên, tướng ông là Lý Phổ Đỉnh đánh thành Ô Diên. Vua nhà Tùy bèn đặt Lưu Phương làm Giao Châu đạo Hành quân tổng quản, có Kính Đức Lượng làm trưởng sử, cầm binh sĩ 27 dinh sang đánh dẹp. Khi đến Doãn Châu, Đức Lượng bị bệnh, không đi nữa, Lưu Phương đành phải kiêm tất cả. Lưu Phương có tiếng là một nhà tướng rất kỷ luật, nhưng đồng thời cũng rất có lòng tốt đối với binh sĩ, nên rất được người dưới mến phục. (23)Khi Lưu Phương đến Đô Long, ông gặp hai nghìn địch đến đón đánh. Các dinh chủ của ông là Tống Soán, Bùi Quý, Nghiêm Nguyện kháng cự được. Về phần Lý Phật Tử, trước tiên ông cho người đến lấy lời hơn thiệt dụ dỗ. Phật Tử sợ, liền xin hàng và bị gửi về kinh đô. Thật là một thành công dễ dàng.Nhưng sự nghiệp của ông ở vùng cổ Việt không phải chỉ có thế. Biết rằng Lâm Ấp có nhiều báu vật, triều đình muốn nhân tiện sai ông vào đánh cướp nước đó. Và triều đình viện một lý do để khỉ sự. Vua Lâm Ấp, Phàn Chí, khi Văn đế nhà Tùy (590-604) mới lên ngôi, có triều cống, nhưng về sau không cho sứ sang nữa. Thế là Lưu Phương nhận được chức Hoan Châu đạo Hành quân tổng quản với nhiệm vụ vào đánh nước của Phàn Chí. Trong nhiệm vụ nầy, ông có thứ sử Khâm Châu là Nịnh Trường Chân, thứ sử Hoan Châu là Lý Vận giúp đỡ, lại có Trương Tổn làm tư mã, và Lý Võng làm châu soái. Quân thì có hơn một vạn người cả bộ cả kỵ, thêm vào đó còn là một số tội nhân bị cầm giữ ở châu phủ.Vào tháng giêng năm đầu hiệu Đại Nghiệp (603), Lưu Phương với quyền đại tướng, dẫn lực lượng từ Bắc Cảnh ra đi. Tại Lâm Ấp, Phàn Chí đã đề phòng, chia quân đi giữ các nơi hiểm yếu. Tháng ba, hai bên đụng độ nhau lần đầu, Lưu Phương thắng. Khi ông vượt sông Đô Lê, quân của Lâm Ấp từ các nơi kéo lại đánh, có voi trận tham chiến. Biết thế không lợi, vị đại tướng Tàu dùng mưu. Ông cho đào những hố nhỏ trên đường rồi lấy cỏ phủ lên. Khi địch đến, quân ông giả vờ thua. Địch đuổi theo, không dè voi sỉa chân xuống hố, ngã thúc vào nhau. Quân Lâm Ấp kinh sợ rút lui cùng một lúc voi bị quân Tàu ào ào xông vào bắn đuổi cũng hục hịch trốn thoát, giẫm lên mình binh sĩ. Những kẻ bị giẫm như vậy, và bị chém, kể đến hàng vạn.Lưu Phương thắng mấy trận nữa. Vào tháng tư, ông đến kinh đô Lâm Ấp. Phàn Chí trốn chạy ra biển. Tàu lượm được của cải vô số. Đặc biệt nhất là họ lấy 18 tấm miếu chủ đúc bằng vàng. Trước khi ra về, Lưu Phương cho dựng bia đá ghi công, nhưng dọc đường ông đã bị bệnh, mất. Binh sĩ cũng bị sưng chân, người người chết hết bốn năm.2) Khâu HòaCuối thời nhà Tùy, Khâu Hòa được đặt làm thái thú Giao Chỉ. Ông có một viên tư pháp thư tá tên là Cao Sĩ Liêm. Cũng như Đào Huỳnh trong thời Ngô, Khâu Hòa cũng lâm vào cảnh thay triều đổi chủ.Thời Dương đế cáo chung là một thời hỗn độn. Trung Quốc bị chia năm xẻ bảy, mỗi người hùng làm chúa một nơi. Lý Uyên chuyên chế ở đất Đường, Lâm Sĩ Hằng ở Phần Dương, Tiêu Tiên ở Giang Lăng. Năm 618, Lý Uyên hạ bệ nhà Tùy rồi lên ngôi thiên tử ở Trường An. Trong lúc đó, Sĩ Hoàng đã được vùng Thương Ngô, Cao Lăng, Phiên Ngung, và Tiên vùng Uất Lâm, Thủy An. Cả hai ông nầy đều thèm đất Giao Chỉ, gửi sứ đến chiêu mộ Phần Khâu Hòa, ông chưa biết việc nhà Tùy đã mất ngôi, nên không chịu theo bên nào. Các nước ở phía tây Lâm Ấp đem minh châu, sừng tê, vàng, bạc, nhờ Khâu Hòa chuyển lên vua, Hòa cũng chuyển đi, và bị Tiên chận lấy.Vào đầu mùa hạ năm đó, Tiên quyết dùng võ lực lấy Giao Chỉ, sai Nịnh Trường Chân đem quân theo đường biển sang đánh Hòa. Hòa sợ, muốn ra hàng, nhưng Cao Sĩ Liêm bàn nên đánh. Ông bèn đặt Sĩ Liêm làm tư mã, đem quân thủy bộ nghinh chiến. Trường Chân đại bại, suýt bỏ mạng, binh sĩ thì chết hầu hết.Sau đó, có người quen ở Giang Tô về bảo cho Hòa biết là nhà Tùy đã mất, ông bèn qui thuận Tiêu Tiên, Tiên bấy giờ đã lập quốc xưng đế, gọi là nhà Lương để chống lại với nhà Đường. Không may, lực lượng của ông càng ngày càng yếu, thủ hạ ông lại dần dần bỏ ông. Vào tháng chín năm Võ Đức thứ tư (621), Khâu Hòa Cao Sĩ Liêm sang Giang Lăng có ý yết kiến Tiên, bỗng được tin Tiên thua tướng nhà Đường là Hiếu Cung. Hòa và Liêm theo Hiếu Cung, nên trong tháng đó, thấy bơ vở, Tiêu cũng đầu hàng nhà Đường.Năm sau, vào tháng ba, Đường Cao Tổ (618-626) ban cho Khâu Hòa chức Giao Châu tổng quán, Hòa bảo Sĩ Liêm dâng sớ xin cho ông về chầu. Chẳng những Đường đế thuận cho, mà còn sai Khâu Sư Lợi, con của Hòa, đi nghinh tiếp. Vua hậu đãi Hòa, ban cho ông chức Tả Võ hầu đại tướng quân. Hòa bấy giờ đã tuổi tác nên không còn trở lại Giao Châu. Vua đặt ông làm thứ sử Tắc Châu, là chỗ quê nhà.Cũng trong năm Võ Đức thứ năm (622), các thái thú Đặng Văn Tiên ở Quảng Châu, Xưng Tuyên ở Hợp Phổ, Lý Giao ở Nhật Nam, đều qui thuận nhà Đường.VII. CHÍNH TRỊ THỜI ĐƯỜNG (618-906)Đối với đất cổ Việt, đời Cao Tổ chỉ là thời chinh phục, từ thời Thái Tông về sau mới là thời cai trị.1) Thời Thái Tông (627-649)Thái Tông, tức là Lý Thế Dân, con người đã giúp một phần rất lớn vào việc sáng lập nhà Đường. Nhưng ông là con út của Cao Tổ. Một đàng vì lẽ ông sinh sau, đàng khác vì ông đã có một sự nghiệp quá hiển hách đến nỗi làm lu mờ cả địa vị của vua cha, Cao Tổ đã có dự định bỏ ông và đặt người con cả làm thế tử. Biết vậy, vào tháng 6, 626, ông giết anh ông. Vua cha hiểu ý nên chẳng những đặt ông làm thế tử mà còn nhường ngôi cho ông, bấy giờ mới 27 tuổi đầu.Thái Tông là một vị tướng vừa can đảm, vừa mưu lược, đồng thời cũng là một vị vua khôn ngoan. Ông là người đã mang Trung Quốc về phía Bắc và phía Tây, và đã củng cố quyền bính trung ương ở khắp mọi nơi trong nước, xa cũng như gần.Về cổ Việt, Thái Tông có để lại một vài dấu vết. Vào tháng 10 năm Trinh quán thứ hai (628), một người thuộc tông thất, tức là Toại an công Thọ, đô đốc Giao Châu, vì ăn ở tham bạo, nên bị vua trừng phạt nghiêm nhặt. Rồi buồn vì thấy Giao Châu đã lâu ngày những bị tham quan tệ lại quấy nhiễu, vua cố tìm cho được một người trung chính gửi sang cầm quyền. Chính trong cố gắng nầy, chúng ta có thấy được một phần nào tư cách của vị vua trẻ trung và quyền thế.Bấy giờ có Lư Tổ Thượng, cựu thứ sử Doanh Châu, nổi tiếng là văn vỏ toàn tài lại liêm bình công trực. Vua muốn sai ông sang làm thứ sử Giao Châu. Tổ Thượng nhận lời, rồi lại hối hận từ chối, lấy lý là có bệnh. Vua sai bọn Đổ Như Hối mang dụ chỉ đến cho Tổ Thượng, trong đó vua nói: "Kẻ thất phu còn giữ lời hứa với nhau, cớ sao nhà Thầy đã hứa với Trẫm mà lại sai lời?" Nhưng Tổ Thượng vẫn không đổi ý. Ngày Mậu tí tháng hai năm đó, vua triệu Tổ Thượng đến lần nữa để khuyên ông, ông cũng cứ không chịu đi. Tức giận quá, vua nói: "Ta sai kẻ khác không được, thì cai trị sao nổi?", bàn bảo giết ông ngay ở triều.Sau đó, vua không yên tâm. Một hôm, nói chuyện với thị thần, vua hỏi: "Văn Tuyên đế nhà Tề là người thế nào?". Ngụy Trưng thưa: "Văn Tuyên là người cuồng bạo, nhưng khi cải lý mà thua thì biết nghe theo. Có ông Ngụy Khải trước làm trưởng sử Thanh Châu, khi đi sứ nhà Lương, về được bổ làm trưởng sử Quảng Châu. Khải nhất định không đi. Khi Dương Đạo Ngạn tâu lại với vua, vua giận, cho gọi Khải đến trách. Khải tâu: "Trước đây thần giữ việc ở một châu lớn, mệt nhọc mà không có gì sai suất, nay sao lại phải đi giữ việc ở một châu nhỏ? Đó là lý do khiến thần không đi". Văn Tuyên bảo Đạo Ngạn rằng: "Nói thế có lý, khanh hãy tha cho ông ta". Đó là chỗ tốt của Văn Tuyên". Nghe vậy, Thái Tông than rằng: "Thế mà, nhà trứ danh Lư Tổ Thượng, chỉ vì trái đạo nhân thần, Trẫm cũng đã giết di, thật là quá bạo ngược. Thảo nào người ta chê Trẫm không bằng Văn Tuyên". Vua liền sai phục chức cho Lư Tổ Thượng và cho tập ấm. (25)Năm 635 (Trinh quán năm thứ 9, Đô đốc Giao Châu là Lý Đạo Hưng. Ông là người tông thất, trước đã làm Quảng Ninh quân vương, sau bị giáng vì có tội, chỉ còn chức Huyện công, và được sai sang vùng cổ Việt. Tại đây ông vừa không hợp thủy thổ, vừa ưu sầu, đã bị bệnh chết.Năm Trinh quán thứ II (637), đô đốc Giao Châu là Ngô Vương Khác, thường thích đi săn, làm hại dân rất nhiều. Viên Thị ngự sử Liêu Phạm tâu vua xin quở phạt. Ngày Đinh sửu tháng 10 năm đó, Khác bị cách chức, và tước mất lộc ba trăm hộ. Vua nói: "Quyền người trưởng sử quan hệ đến muôn đời. Con ta không cai trị tử tế, là tôi đáng chết". Liêu Phạm thưa: "Phòng Huyền Cầm thờ bệ hạ mà chưa bỏ được thói đi săn, thì sao chỉ một mình ông Khác là bị tội muôn đời?". Vua nghe vậy, giận lắm, vất áo, đi vào trong. Lâu sau, vua gọi Phạm đến một mình, hỏi: "Sao lại cải ngang ta?". Phạm thưa: "Vì bệ hạ nhân từ minh chính, nên thần không dám không hết lòng ngu trực". Vua lấy làm vừa ý.Năm sau, ở Minh Châu, tức là phần đất tên là Việt Thường thuộc quận Nhật Nam dưới thời Tùy, dân liêu nổi lên làm loạn. Ngày Kỹ tị tháng II, đô đốc Giao Châu, Lý Đạo Ngạn dẹp yên được. (26)2) Thời Võ Hậu (684-705)Khi Thái Tông mất, ngày 10 tháng 7, 649, con ông lên thế lấy hiệu Cao Tông (650-683). Vua nầy tài lược tầm thường nhưng nhờ uy thế của vua cha nên nắm được guồng máy chính quyền vững vàng trong một thời gian. Trong thời Cao Tông, ngoài việc đổi Giao Châu đô đốc phủ làm An Nam đô hộ phủ (679), người ta không còn thấy sử sách ghi lại điều gì khác trừ việc đặt Trứ Toại Lương làm thứ sử Ái Châu vào năm 658. Ông nầy, khi đến nhậm chức, đã dâng biểu xin cho được thay thế vì ông tự xét rằng "Lực tiểu, nhậm trọng". (27)Cao Tông càng ngày càng trở nên nhu nhược, công việc thường bị hậu cung điều khiển. Cuối cùng bà phi Võ Tắc Thiên đánh thuốc độc giết ông, rồi lên nắm chính quyền. Đó là Võ Hậu. Bà là một người độc ác, nhưng cương nghị, đã đổi nhà Đường ra thành nhà Chu kể từ 690, và cũng đã vớt vát được phần nào uy tín đã mất của Trung Quốc, sau những lần thất bại đối với các dân di địch về phía Bắc.Trong thời bà ở cổ Việt, có loạn dân Thổ. Vào năm Thừa củng thứ ba (687), An Nam đô hộ là Lý Diên Hựu. Về trước, vùng dân Thổ, thuế chỉ phải nộp một nửa phần. Diên Hựu ra lệnh bắt nộp cả phần, nên tháng tám năm đó, họ nổi dậy chống đánh đuổi sự điều khiển của Lý Từ Tiên. Quan đô hộ bắt giết Từ Tiên. Đinh Kiến thay thế, cầm đầu loạn quân, đến vây An Nam phủ. Trong thành binh sĩ ít nên Diên Hựu đóng cửa chờ viện quân. Ở Quảng Châu, Phùng Tử Do được tin không cho quân sang cứu, vì muốn đợi cho tình trạng nguy ngập đã mới đến, mong lập được công to hơn. Trong lúc đó, thành mất, Diên Hựu bị giết. Bấy giờ viên tư mã Quế Châu là Tào Huyền Tĩnh sang đánh giết được Đinh Kiến. (28)3) Thời Huyền Tông (712-756)Năm 705, Võ Hậu đã thọ bát tuần. Triều đình nhận thấy dầu bà cương nghị đến đâu cũng không thắng được dân di dịch lúc đó đang hoành hành ở miền bắc, nên nhân lúc ba ngã bệnh, đã khôi phục lại nhà Đường, đặt lên ngôi con người đáng lẽ đã cai trị từ 684, tức là Trung Tông (705-718). Không may Trung Tông nhu nhược, bị vợ chuyên chế rồi giết năm 710. Vi hậu muốn tiềm vị theo kiểu Võ hậu, nhưng bị giết và Duệ Tông (710-712) tức vị. Vua nầy chỉ cầm quyền trong một thời gian ngắn rồi nhường ngôi cho con là Lý Long Kỳ, tức Huyền Tông. Với Huyền Tông đã khỉ sự thời đại thường gọi là thời thịnh Đường. Chính trong thời nầy người ta đã thấy xuất hiện Lý Bạch (701-756) và Đỗ Phủ (712-710), hai thi nhân lỗi lạc nhất của Trung Quốc. Thời nầy cũng là thời của Dương Quí Phi, vợ Huyền Tông. Về mặt chính trị, Trung Quốc cũng được uy thế chẳng kém gì thời Thái Tông.Trong thời Huyền Tông, ở cổ Việt không có biến cố nào quan trọng, trừ ra cuộc nổi dậy của Mai Thúc Loan. Cuộc nổi dậy nầy xem chừng có một qui mô đáng kể. Tân Đường thư (29) thuật rằng ông tự xưng là Mai Hắc đế, huy động dân chúng của 32 châu, liên kết với các nước ngoài, như Lâm Ấp, Chân Lạp, Kim Lân, để chiếm cứ Hải Nam. Quân của ông có đến 40 vạn người. Không rõ những chi tiết đó hư thực bao nhiêu, nhưng biến cố đã làm cho Huyền Tông lo lắng. Vua sai viên Nội thị tả giám môn vệ tướng quân là Dương Tư Húc, và An Nam đô hộ là Quang Sở Khách đem 10 vạn quân sang dẹp. Hai ông nầy theo con đường Mã Viện đã đi trước kia để vào cổ Việt, xong đánh Thúc Loan một cách bất ngờ, bắt được ông và giết đi. Có điều nầy đáng chú ý là Ngô Sĩ Liên thường ca ngợi những nổi dậy ở cổ Việt, nhất là những người đã từng xưng đế, xưng vương. Vậy mà trong Toàn thư chúng ta thấy Mai Thúc Loan bị gọi là "tặc tướng". Như thế, phải chăng vì ông nầy không phải thuộc về cùng một giống như người Việt ta? (30)Thời Huyền Tông, vào năm 742, số binh sĩ đóng ở An Nam phủ là 4 200 người. (31)4) Một thế kỷ sau Huyền TôngHuyền Tông đã kết thúc triều đại ông một cách buồn bã. Năm 756, một thân thần của ông, An Lộc Sơn, nổi loạn. Ông phải trốn tránh vất vả rồi nhường ngôi cho con là Túc Tông (756-761). Sau đó, Đại Tông (762-779) tiếp tục dẹp loạn, cố khôi phục lại uy quyền nhà Đường. Các vua kế tiếp, như Đức Tông (780-805), Thuận Tông (805), Hiến Tông (806-820), Mục Tông (821-825) và Văn Tông (827-840), đều phải dựa vào thế lực các thủ lĩnh Hồi hốt để giữ vững quyền bính. Thời các vua Võ Tông (841-846) và Tuyên Tông (847-859), nhà Đường đã trở thành lu mờ.Ở cổ Việt, trước hết có cuộc nổi dậy của Đỗ Anh Hàn, 767. Anh Hàn là tù trưởng các dân nam. Theo sự thường, họ không phải là thứ người hiếu loạn, nhưng khi bị đàn áp quá bởi những tay tham soái, họ ồ ạt đứng lên chống đối. Bấy giờ An Nam đô hộ Cao Chính Bình, thật là một tham quan: thuế má dân phải đóng rất nặng. Bởi đó! Đỗ Anh Hàn chỉ huy quân man đến vây đô hộ phủ, làm cho Chính Bình sợ mà chết. Khi biết rằng quan đô hộ tham tàn đã chết, họ đều xin hàng. (32)Trong thời nầy, dân cổ Việt có người làm lớn, đó là Khương Công Phụ, người huyện Nhật Nam, thuộc Ái Châu. Công Phụ chẳng những đã làm vinh danh cho nơi sinh trưởng của ông, mà còn là một nhân vật quan trọng của lịch sử Trung Quốc. Truyện ông đã được thuật trong Đường thư và Tân Đường thư. Ông đậu đến tiến sĩ, được bổ làm Hiệu Thư lang. Tài đối đáp hùng hồn của ông đã làm cho ông được chức Hàn lâm học sĩ, rồi Thượng thư. Khi thấy Chu Tỉ nắm trong tay quá nhiều quyền bính, ông đã khuyên Đức Tông giết đi vì "dưỡng hổ vô tự vi hại". Dầu vua không nghe, Công Phụ vẫn kiên nhẫn trình bày mọi nỗi nguy nan. Ở Phụng Thiên, vua đã thoát nạn nhờ lời ông trần tấu, nên ông được chức Thứ nghị đại phu đồng trung thư môn hạ bình chương sự. Sau đó, vì cứ can gián vua, nên vua giận giáng chức ông xuống. Cuối cùng ông được đặt làm thứ sử Cát Châu, nhưng chưa đến nhiệm sở, đã chết. (33)Năm Nguyên Hòa thứ tư (809), đất cổ Việt bị ba vạn quân Chiêm Thành tấn công, do chính Hoàn vương cầm đầu. Quan đô hộ An Nam là Trương Châu, vào tháng tám, đã đẩy lui được lực lượng địch. Mười năm sau, lại có loạn Dương Thanh (819). Ông nầy cai trị dân man di, bị quan đô hộ Lý Tượng Cổ gọi về bắt làm nha tướng, nên rất uất hận. Tượng Cổ lại có tiếng tham túng hà khắc, ai ai cũng ghét. Bấy giờ ở vùng Hoàng Động, dân man đang nổi lên chống chính quyền. Kể từ thời Trinh Nguyên ((785-804), thủ lĩnh họ là Hoàng Thiếu Hương luôn luôn quấy rối. Bùi Hành Lập ở Quế Quản và Dương Mân ở Dung Quản đã đem quân đánh đẹp mà thất bại. Quan đô hộ An Nam cũng muốn lập công, sai Dương Thanh đi trừ loạn. Không ngờ ngày Nhâm tuất tháng 10 năm đó, thay vì đi đánh Thiếu Hương, Dương Thanh, với ba nghìn quân, đã quay lại giết Tượng Cổ và gia nhân, cùng thuộc hạ, tất cả đến hơn nghìn người. (34)Triều đình biết rõ cớ sự, tha cho Dương Thanh và đặt ông làm thứ sử Quỳnh Châu, cùng đặt Quế Trọng Võ làm An Nam đô hộ. Tháng hai năm sau, khi Trọng Võ đến, Thanh không cho vào. Nhưng bấy giờ, vì Thanh tàn bạo, thủ hạ đã ly tán nhiều. Trọng Võ dụ dỗ họ, nhiều người xin hàng. Triều đình lấy lẽ Trọng Võ chậm chạp, phạt làm An Châu thứ sử, đặt Bùi Hành Lập làm An Nam đô hộ. Trong lúc đó, tướng sĩ của An Nam phủ mở cửa đón Trọng Võ vào, và bắt Dương Thanh giết đi. Hành Lập cũng sang nhậm chức, nhưng đến Hải Môn thì chết. Trọng Võ được phục chức vào ngày tân vị, tháng 3 năm Nguyên Hòa thứ 15. (35)Sau đó, nhiều nơi không được yên. Năm Tường Khánh thứ ba (823), quan đô hộ An Nam tâu về triều rằng người liêu ở Lục Châu đánh phá châu huyện. Tháng tư và rồi tháng chín lại tâu rằng dân man Hoàng Động phá phách. Năm sau, vào tháng tám, cũng tâu như vậy. (36)Năm thứ hai hiệu Thái Hòa (828), vào tháng sáu, thứ sử Phong Châu, Vương Thăng Chiêu, làm loạn. Đô hộ An Nam là Hàn Ước đánh được và giết đi. Nhưng Hàn Ước không khôn khéo, công minh, nên tháng chín năm đó, vào ngày canh tuất, lại bị binh sĩ trong phủ thành nổi dậy trục xuất.Thời Võ Tông, quan Kinh lược sứ An Nam tên là Võ Hồn. Trong một thời an ninh bị đe dọa, ông chăm nôm đến thành quách. Nhưng tướng sĩ phải làm việc nhiều lại ghét ông, nổi dậy chống. Tháng II, năm Hội Xương thứ ba (844), họ đốt lầu trong thành, cướp kho của phủ. Võ Hồn sợ hãi chạy về Quảng Châu. Viên giám quân là Đoàn Sĩ Tắc phủ dụ tướng sĩ, tình hình lại được yên ổn. (37)Năm Hội Xương thứ sáu (846) vào tháng chín, ở An Nam, dân man đánh phá. Kinh lược sứ Bùi Nguyên Hựu lấy quân các đạo chung quanh dẹp yên được. Năm Đại Trung thứ II (857), dân man ở khe động Lĩnh nam nổi dậy. Vua đặt Hữu thiên ngưu đại tướng quân Tống Nhai làm tuyên úy sứ An Nam và Ung Quản, rồi làm An Nam kinh lược sứ. Nhưng bấy giờ ở Dung quản, quân đội nổi loạn, dưới kinh lược sứ Vương Cầu, nên tháng sáu năm đó, Tống Nhai lại làm Kinh lược sứ Dung quản. (38)Cuối đời Tuyên Tông, cổ Việt được một vị cai trị có tài tên là Vương Thức. Ông được đặt làm đô hộ kinh lược sứ An Nam vào tháng giêng năm Đại Trung thứ 12 (858), nghĩa là vào một lúc nền an ninh rất bị lung lay. Đến nơi ông liền nghĩ đến việc phòng thủ phủ thành, như trồng cây "điêu" làm hàng rào trong, giữa đào hào, ngoài trồng tre gai. Đàng khác, việc huấn luyện binh sĩ được thực hiện chu đáo. Không lâu, có một bọn nam man kéo đến. Thức ung dung cho người giải dịch hơn thiệt cho họ, họ rút về. Ông cũng chỉnh đốn trật tự, không ngần ngại phạt La Hành Cung lạm quyền làm bậy. Ở Giao Châu bấy giờ có một số người hay sinh sự, phao tin rằng giặc Hoàng Đầu ở Dung Quản đang đến xâm chiếm, mục đích là gây cơ hội kéo đến phủ trục xuất quan đô hộ về bắc. Không nao núng tí nào, Vương Thức lên thành, cho dựng cờ đại tướng, mở lời mắng trách loạn quân. Họ bỏ chạy, nhưng bị ông bắt được giết hết. Ông cũng lo việc khao thưởng binh sĩ và gửi cống lễ về triều đình. Mấy năm trước đó, những việc như thế đã bị phế trễ. (39)5) Chính trị thời Đường MạtCác Đường đế của hạ bán thế kỷ thứ 9 đều là những nhà cai trị không mấy tên tuổi, và hình như họ rút vào bóng tối dần dần cho đến khi triều đại chấm dứt vào năm 907. Sau Tuyên Tông, tính ra con có Ý Tông (860-873), Hy Tông (874-888), Chiêu Tông (889-904) và Ai Tông (905-907). Đang khi đời sống của họ bị đóng khung giữa các hoạn quan và đạo sĩ, biên thùy bị rối loạn liên miên. Ở phía Tây, người Tây Tạng xâm lăng, và khi nạn Tây Tạng bớt nguy, thì nạn Nam Chiếu xuất hiện. Nạn Nam Chiếu nầy đã làm cho cổ Việt phải chịu tang tóc nhiều nhất.Trước kia ở miền cổ Việt có sáu chiếu của dân man. Năm 738, chiếu Mông Xá đã sáp nhập sáu chiếu lại làm một và vua Trung Quốc phong cho làm Vân Nam quốc vương. Nam chiếu muốn mở mang về phía đông nên đã đặt một viên Thác đông tiết độ sứ. (40)Viên đô hộ Lý Trác cai trị An Nam trước Vương Thức, đã cho Nam chiếu một cơ hội tốt để bành trướng. Trác vừa tham lam lại vừa kém mưu lược. Thường ông đổi một đấu muối lấy một con bò hay một con ngựa của dân nam. Ông giết viên tù trưởng họ là Lý Tồn Thành và rút lực lượng Trung Quốc trú phòng ở vùng thượng. Về trước, vào mùa đông có sáu nghìn quân đóng ở Lâm Tây Tuyền, thuộc Phong Châu. Viên tù trưởng vùng nầy dựa vào lực lượng đó để thâu thuế nộp về phủ. Khi Lý Trác bãi đồn Lâm Tây Tuyền, Do Độc vừa thấy bơ vơ, lại vừa được viên tiết độ sứ Nam chiếu dụ dỗ và đem con gái gả cho, nên bỏ An Nam theo Nam chiếu. Thế là nạn Nam chiếu bắt đầu.Tháng năm, năm thứ 12 hiệu Đại Trung (858), quân Nam chiếu đến cướp phá. Vương Thức đánh đuổi được. Nhưng rồi Thức được gọi về dẹp loạn Cửu Phủ ở Chiết đông, và Lý Hủ sang thay. Độc ác, Hủ giết tù trưởng Đỗ Thủ Đăng, làm cho người man hết sức oán giận. Bấy giờ quân Nam chiếu đang đánh phá Bá Châu thuộc đạo Kiển trung, Hủ muốn lập công bèn mang quân đi dẹp. Không ngờ, nhân lúc phủ thành để trống, người nam mời Nam chiếu kéo ba vạn quân đến. Tháng chạp năm đầu hiệu Hàm Thông, Lý Hủ phải chạy về Võ Châu, chiêu mộ người man, trở về đánh đuổi được dân Nam chiếu ra khỏi thành. (41)Trong lúc đó, vua Đường chưa biết Hủ đã chiếm lại phủ, lại muốn lấy lòng dân man cho yên chuyện, nên giáng Hủ làm tư hộ Chiêm Châu, và đặt Vương Khoan làm An Nam đô hộ kinh lược sứ. Bấy giờ là vào giữa năm 851. Năm sau (862), Nam chiếu trở lại. Vua sai Sái Tập sang thay Khoan, đem theo ba vạn quân. Thấy thế, địch rút lui. Tiết độ sứ Lĩnh Nam là Sái Kinh không muốn cho Sái Tập lập công, tâu vua tình hình đã yên, và xin bãi binh. Vua nghe Sái Kinh bãi binh, mặc cho Tập tâu đi tâu lại rằng tình hình vẫn còn trầm trọng. Nhưng Kinh độc ác, không lâu sau đã bị bịnh sĩ nổi dậy đuổi đi. Phần Sái Tập, vào cuối năm, bị Nam chiếu đến đánh lần nữa với năm vạn người. Địch chiếm phủ thành Giao Chỉ, còn Tập thì bị chết đuối đang đi tẩu thoát. Quân Nam chiếu giết hết chừng 25 vạn người An Nam, lưu Tư Tấn lại trấn giữ Giao Chỉ, dưới quyền của tiết độ sứ Đoàn Tù Thiên, ở Thiện Xiển.Khi Tập kêu cứu, quân các đạo Kinh nam, Hồ nam, đã được lệnh ra đi, nhưng bị Lĩnh nam tiết độ sứ Vi Trụ giữ lại để phòng thủ Ung Châu sau có một số sang Giao Chỉ thì thành đã mất. Bấy giờ, vua bỏ An Nam đô hộ phủ và lập Hành Giao Châu ở Hải Môn, đặt Tống Nhung làm thứ sử cùng giao viện quân cho Khang Thừa Huấn. Mùa thu, đặt lại An Nam đô hộ phủ, cho Tống Nhưng làm kinh lược sứ lo việc tái chiếm An Nam. Nhưng Đường binh vẫn lưu lại Lĩnh nam không chịu tiến, hao tổn lương thực.Năm Hàm Thông thứ năm (864), quân số ở Hải Môn đã lên đến hai vạn rưỡi. Nhung được lệnh tiến quân, nhưng lại do dự mãi. Bấy giờ Cao Biền được đặt làm An Nam đô hộ kinh lược chiêu phạt sứ. Viên Giám quân ở Hải Môn, Lý Duy Chu, rất ghét Biền, giục Biền khởi hành trước, có ý trừ đi. Năm thứ sáu hiệu Hàm Thông, vào mùa thu, Biền tiến quân. Mặc dầu không có lực lượng ứng viện như Duy Chu đã hứa, Biền cũng thắng được Nam chiếu ở Phong Châu, đoạt được nhiều lúa làm quân lương. Tại An Nam phủ lúc đó, Phan-xi-ta của Nam chiếu làm đô thống, và Trương Tập làm phó. Cao Biền khi được Vi Trọng Tể đem bảy nghìn quân đến tăng cường, ông càng đánh hăng và thắng Nam chiếu nhiều trận. Không may, tin thắng trận gửi về, đều bị Duy Chu dìm mất, khiến cho vua cứ tưởng Biền chưa chịu đánh. Vua giận, đặt Vương An Quyền sang thay Biền và đòi ông về kinh để phạt. Trong lúc đó, quân Nam chiếu thua Biền phải rút vào thành cố thủ. Tháng 10, năm Hàm thông thứ bảy, thành An Nam sắp được tái chiếm, thì bỗng Biền được lệnh triệu hồi. Ông liền giao quyền cho Vi Trọng Tể và lên đường ngay. Nhưng trước đó, ông và Trọng Tể đã cho người mang tin thắng trận về cho triều đình. Đường đế nhận được, mừng lắm, ban cho ông chức Kiểm hiệu Công bộ Thượng thư, truyền trở lại đánh Nam chiếu. Đến Hải Môn, được lệnh đó, Biền lại trở về An Nam.Lý Duy Chu và Vương Án Quyền đến Giao Chỉ, lo làm giàu, không lo đánh giặc. Tướng sĩ ghét họ không chịu canh phòng, khiến quân Nam chiếu thoát được vòng vây quá nửa. Đến nơi, Biền hết sức thúc giục binh sĩ chống đánh, chẳng bao lâu đã hạ được thành. Ông giết Đoàn Tù Thiên và tên dẫn đường cho quân Nam chiếu là Chu Đạo Cổ. Quân Nam chiếu chết hơn ba vạn, Biền còn đánh hai động dân man và giết được hai tù trưởng. Dân man đầu hàng đến một vạn bảy nghìn người.Bấy giờ vua truyền cho binh sĩ các nơi đâu về giữ cương giới nấy, đừng đánh nữa. Nhà ngoại giao Lưu Đồng Hiểu được lệnh nối lại với Nam chiếu tình giao hảo như xưa. Phần An Nam phủ nầy được gọi là quận Tĩnh Hải, và Cao Biền làm tiết đỗ sứ. Ông dựng hơn bốn chục vạn căn nhà cho dân ở. Ông còn có công thuê thợ đúc những tảng đá ngầm trên đường thủy đi Ung Châu cho thuyền qua lại khỏi bị nạn. Tháng tám năm Hàm Thông thứ chín (868), khi được gọi về làm Kim ngô đại tiếng quân, ông đã xin cho cháu là Cao Tâm thấy thế, và đã được như ý. (42)Năm đầu hiệu Quảng Minh (880), lối tháng ba, binh sĩ An Nam làm loạn. Tiết độ sứ Tăng Cổn phải trốn ra khỏi thành, đánh mấy tháng mới thắng được. Vào tháng hai năm Thiên Hựu thứ hai (905), tiết độ sứ Tĩnh Hải, Chu Toàn Dục, bị em là Hộ Quốc Tuyên võ Tuyên Nghĩa, Trung Võ tứ trấn tiết độ sứ Chu Toàn Trung thối chức đề về trí sĩ. Toàn Dục đã bị trách là quê mùa, lười biếng, bất tài, làm không chạy việc. Ngày mậu dần tháng ba năm đó, viên thị lang đồng bình chương sự Độc Cô Tổn được cử làm bình chương sự kiêm tiết độ sứ Tĩnh Hải. Nhưng ông nầy chống với Toàn Trung nên bị hạ làm thứ sử Đệ Châu, rồi Tư hộ Quỳnh Châu, rồi phải tự tử. Trong khi số phận của Cô Tổn xảy ra như thế, thì ở cổ Việt Khúc Thừa Dụ lên làm tiết độ sứ. Ông được Trung Quốc công nhận và giữ chức được hai năm. Tháng bảy, năm đầu hiệu Khai Bình, ông mất (907) và con là Khúc Hạo lên thế. (43)VIII. CHÍNH TRỊ THỜI NGŨ ĐẠI(907 - 957)Thời Ngũ Đại tức là những năm giữa nhà Đường và Tống. Sự yếu đuối của những vị vua thời mạt Đường đã khiến nhiều kẻ sẵn sàng đứng lên tự chủ ở vùng đất họ đang cai trị. Đa số những người nầy tuyên bố độc lập là chống lại nhà Hậu Lương vì chiếm ngôi nhà Đường.Tháng thứ năm Thiên Hựu thứ tư, Chiêu Tuyên đế nhà Đường bị Chu Toàn Trung bắt từ chức, rồi sang năm sau bị giết. Kể từ khi được đặt làm tiết độ sứ Khai Phong, vào năm 883, Toàn Trung đã mưu đồ sáng nghiệp. Năm 900, ông chiếm Hà Bắc, rồi đến Trường An (901) nắm quyền hành. Ba năm sau, ông dời đô về Lạc Dương, giết Chiêu Tông cùng con cái, chỉ trừ có người con thứ chín, 13 tuổi, đã kế vị, đó là Chiêu Tuyên đế, như vừa nói. Triều đại của Toàn Trung chỉ đến năm 923 là hết.Khi Toàn Trung lên ngôi, Lý Khắc Dụng tuyên bố độc lập ở Sơn Tây, đó là nhà Tấn, Dương Hành Mật tuyên bố độc lập ở Dương Châu, đó là nhà Ngô, Lý Mậu Trinh tuyên bố độc lập ở Thiểm Tây, đó là nhà Tần. Một số các nước khác cũng được thành lập, như nước Ngô Việt của Tiển Liêu, nước Mân của Vương Thẩm Tri, nước Thục của Vương Kiến. Như thế, nếu ở cổ Việt, hào kiệt nghĩ đến việc tách ra khỏi Trung Quốc cũng không có gì là lạ, nhưng việc đó chưa thực hiện được ngay.Năm 908, nhà Hậu Lương đặt Lưu Ấn, tiết độ sứ Thanh Hải, kiêm chức tiết độ sứ Tĩnh Hải. Năm sau, Lưu Ấn được phong làm Nam Bình vương. Khi Lưu Ấn mất, vào tháng ba năm đầu hiệu Càn Hóa (911), em ông là Lưu Yểm kế vị, nhưng chức tiết độ sứ Tĩnh Hải lại được giao cho Khúc Thừa Mỷ, con của Khúc Hạo, ngày mậu ngọ tháng chạp năm đó, tức là ngày 31 tháng 12, 911. (44)Lưu Yểm càng ngày càng kiêu căng đòi nhà Hậu Lương cho thêm quyền bính. Mạt đế từ chối một cách cương quyết, nên Yểm đoạn tuyệt với trung ương (915) và tự xưng là Đại Việt đế. Ba năm sau, vào tháng tám, năm thứ tư hiệu Trinh Minh, ông đổi tên triều đại là Nam Hán, lấy niên hiệu là Càn Hưởng. Từ đó, nhà Nam Hán nhiều lần khuyên Thừa Mỹ thần phục, nhưng viên tiết độ sứ liệt Yểm vào hạng phản trắc nên cứ trung thành với nhà Hậu Lương.Năm 923, ngôi thiên tử về tay nhà Tấn. Kể từ năm 907, nhà Tấn ở vùng Sơn Tây đã không nhận quyền nhà Hậu Lương, nay đứng lên lật đổ dòng dõi của Chu Toàn Trung và lấy tên triều đại là Hậu Đường. Như thế, Thừa Mỹ mất chúa cũ và rất dễ làm mồi cho tham vọng của Lưu Yểm. Nhưng biết việc đánh Tĩnh Hải không phải dễ dàng, nên Yểm đợi thời, và mãi đến năm 930 mới quyết định thử sức với họ Khúc. Năm đó Yểm sai hai tướng là Lý Thủ Dung và Lương Khắc Trinh sang Giao Chỉ, Thừa Mỹ không may thất bại bị điệu về Nam Hải. Yểm tiếp Thừa Mỹ ở lầu Nghi Phượng, nói rằng: "Công thường bảo ta là ngụy, sao nay lại phải quay mặt đi và trói tay như thế?". Thừa Mỹ cúi đầu chịu tội, được Yểm tha cho. Một thủ hạ của Yểm là Lý Tiến sang làm thứ sử Giao Châu. Nên nhớ rằng Lương Khắc Trinh, sau khi thắng Giao Châu, còn vào đánh Chiêm Thành, cướp được nhiều báu vật nữa mới về. (45)Họ Khục thất bại, đã chấm dứt một giai đoạn bán đọc lập của vùng cổ Việt. Nhưng một đàng tình thế Trung Quốc bất ổn, đàng khác dân cổ Việt đã đông và đã ăn liền với khí thiêng sông núi, hơn nữa lĩnh thể của họ đã mở vào đến đèo Hải Vân và sang cả bên kia, nên sự thất bại của Thừa Mỹ chỉ là một thử thách nhất thời, nó sẽ kích thích hơn là làm chán nản, lòng ao ước tiến đến một nền độc lập vĩnh viễn.CHÚ THÍCH1. Léonard Aurousseau, "Les Théories sur la localisation de la commanderie de Siang", BEFEO, XXIII, trang 153-168, Henri-Maspero, "Études d'Histoire d'Annam III. La Commanderie de Siang, BEFEO, XVI, trang 49-55.2. Ban Cố, Tiền Hán thư, quyển 95, trong Bộ Nhị Thập Ngũ Sử, "Tây Nam di lưỡng Việt Truyện", trang 603-605.3. Lệ Đào Nguyên, Thủy Kinh chú, quyển 37, tờ 4a.4. Tư Mã Thiên, Sử ký, quyển 113, "Triệu Đà truyện", trong N.T.N.S., trang 251-252.5. Phạm Việp, Hậu Hán thư, quyển 105, "Nhâm Diên truyện", trong N.T.N.S., trang 869.6. Tư Mã Quang, Tư Trị Thông Giám, quyển 52, tờ 6-9.7. Trong Toàn thư của Ngô Sĩ Liên, quyển 3, tờ 6-9, thấy chép rằng: "Nhật nam phục công thiêu quận ấp. Cửu Chân thứ sử Hạ Phương chiêu hàng giả nhị phủ dụ chi". Ở chỗ nầy, Tư Trị Thông Giám nói rõ là: "Nhật nam man di phục phản". Về Hạ Phương, thì không phải là thứ sử Cửu Chân, vì ông không hề làm chức đó bao giờ trong đời ông. Nhưng ông là người quê Cửu Giang, làm thứ sử Giao Chỉ. Tư Trị Thông Giám, quyển 52, trang 33, chép: "Giao Chỉ thứ sử Cửu Giang Hạ Phương".8. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 57, tờ 16.9. Phạm Việp, sách đã dẫn, quyển 61, "Giả tung truyện", trang 767.10. Bài ca nầy lấy theo Hậu Hán thư, còn trong Toàn thư, quyển 3, tờ 7a, thì chép:Giả phụ lai vãn,Sử ngã tiên phản,Kim kiến thanh bình,Bất cảm phục phản.11. Trần Thọ, Tam Quốc Chí, Ngô Thư, quyển 4, trong bộ N.T.N.S., "Sĩ Nhiếp truyện", trang 1041-1042.12. Trần Thọ, sách đã dẫn, Ngô Chí, quyển 15, "Lữ Đại truyện", bộ N.T.N.S., trang 1062, cột 4.13. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 78, tờ 6, 26-27.14. Đường Thái Tông Văn Hoàng đế, Tấn thư, quyển 57, trong N.T.N.S., "Đào Huỳnh truyện", trang 1234, cột 4; Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 79, tờ 16a.15. Đường Thái Tông Văn Hoàng đế, sách đã dẫn, quyển 57, trong N.T.N.S., "Ngô Ngạn truyện", trang 1235, cột 2.16. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 89, tờ 17a, quyển 92, tờ 20a, quyển 104, tờ 24-25, quyển 116, tờ 4-5; Đường Thái Tông Văn Hoàng đế, sách đã dẫn, quyển 59, "Vương Lạng truyện", trang 1314, cột 3.17. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 99, tờ 2, quyển 116, tờ 17a, quyển 119, tờ 4a; Đường Thái Tông Văn Hoàng đế, sách đã dẫn, quyển 8, trang 1095, cột 2, trang 1099, cột 2, quyển 10, trang 1100, cột 2.18. Lương Trần Ước, Tống sử, trong N.T.N.S., quyển 5, trang 1428, quyển 8, trang 1434, cột 2, 3, quyển 38, trang 1540, quyển 76, trang 1613, cột 4; Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 122, tờ 8a, 20b, quyển 124, tờ 26, quyển 125, tờ 2b, quyển 132, tờ 16a.19. Túc Tử Hiển, Nam Tề thư, trong N.T.N.S., quyển 3, trang 1671, cột 2; Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 135, tờ 9, quyển 136, tờ 8a, quyển 137, tờ 11a.20. Đào Tư Kiêm, Lương thư, trong N.T.N.S., quyển 2, trang 1769, cột 1, trang 1770, cột 2, quyển 3, trang 1771, cột 2, trang 1773, cột 1, 2, Trần thư, quyển 1, trang 1850; Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 158, tờ 17, 20, 21, 27, quyển 159, tờ 3, 12, 15, quyển 180, tờ 8b.21. Đại Việt Sử ký Toàn thư nói rằng Lý Bí lấy niên hiệu là Thiên Đức. Nhưng Tư Trị Thông Giám chép (quyển 158, tờ 27): "Đại đồng thập niên, chính nguyệt, Lý Bí tự xưng Việt đế, trí bách quan, cải nguyên Đại Đức".22. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 177, tờ 13a.23. Trường Tôn và Võ Kỵ, Tùy thư, trong N.T.N.S., quyển 2, trang 2350, cột 2, quyển 53, "Lưu Phương truyện", trang 2483, cột 3; Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 179, tờ 28-29.24. Lý Diên Thọ, Bắc sử, trong N.T.N.S., quyển 73, trang 2976, cột 4, quyển 95, trang 3037, cột 1; Lưu Hu, Đường thư, trong N.T.N.S., quyển 59, "Khâu Hòa truyện", trang 3296, cột 4, quyển 65 "Cao Sĩ Liêm truyện", trang 3309, cột 1; Âu Dương Tu, Tân Đường thư, quyển 90, trang 3897, cột 2 và quyển 95, trang 3903, cột 3, 4; Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 185, tờ 19-20; Nguyễn Phương, "Những sai lầm của Đại Việt Sử ký Toàn thư", Đaị Học, tháng 10, 1962, trang 784-799.25. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 193, tờ 2-3.26. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 195, tờ 6, 12. Ngày Kỷ tị, tháng 11, năm 12, hiệu Trinh Quán tức là ngày 4 tháng 1, 639 dương lịch.27. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 200, tờ 11.28. Âu Dương Tu, sách đã dẫn, quyển 4, trang 3641, cột 1, quyển 201, trang 4099, cột 3; Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 204, tờ 2b.29. Âu Dương Tu, sách đã dẫn, quyển 207 "Dương Tu Húc truyện", trang 4111, cột 3.30. Tư Mã Quang gọi Mai Thúc Loan là Mai Thúc Yên (Tư Trị Thông Giám, quyển 212, tờ 19a). Xem Lưu Hu, sách đã dẫn, quyển 8, trang 3082, cột 2, quyển 184, trang 3556, cột 1.31. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 215, tờ 4.32. Toàn thư (quyển 5, tờ 6a) kể rằng cùng đi đánh quân Tàu với Đỗ Anh Hân có một người Mường tên là Phùng Hưng. Sau khi đánh xong, không lâu, Phùng Hưng mất, con ông là Phùng An lập đền thờ ông và gọi ông là Bố Cái Đại vương.33. Lưu Hu, sách đã dẫn, quyển 138, "Khương Công Phụ truyện", trang 3453, cột 4; Âu Dương Tu, sách đã dẫn, quyển 152, trang 4007, cột 1.34. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 241, tờ 13b, quyển 243, tờ 35a.35. Ngày tân vị tháng 3 năm Nguyên Hòa thứ 15 tức là ngày 15-5-820.36. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 243, tờ 2a, 6a, 14b.37. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 243, tờ 35a, quyển 247, tờ 23a.38. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 249, tờ 20b.39. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 249, tờ 23, 24a.40. Lưu Hu, sách đã dẫn, quyển 195, trang 3610, cột 4; Âu Dương Tu, sách đã dẫn, quyển 222 thượng, trang 4156; Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 214, tờ 24b.41. Âu Dương Tu, sách đã dẫn, quyển 222, trang 4157, cột 3; Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 250, tờ 13a.42. Sách đã dẫn, quyển 182, "Cao biền truyện", trang 3550; Âu Dương Tu, sách đã dẫn, quyển 224 hạ, trang 4169; Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 250, tờ 25; Lê Tắc, An Nam chí lược, trang 169.43. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 266, tờ 17b. Ngày mậu dần tháng ba, năm Thiên hựu thứ hai, tức là ngày 26 tháng 4, năm 905, Việt sử lược nói, Độc Cô Tổn đã sang Tĩnh Hải làm Tiết độ sứ thay Chu Toàn Dục, nhưng sự thực, Cô Tổn không hề sang cổ Việt. Là Tể tướng của nhà Đường, và địch thủ của Chu Toàn Trung, Cô Tổn bị Toàn Trung hạ xuống làm Bình chương sự kiêm tiết độ sứ Tĩnh Hải ngày 26-4-905, nhưng ông không đi, và phải hạ nữa làm thứ sử Đệ Châu vào ngày tân tị tháng 5, năm đó, tức là ngày 28-6-905, rồi hạ thêm tư hộ Quỳnh Châu ngày mậu tí tháng 6, tức là ngày 5-7-905.44. Tư Mã Quang, sách đã dẫn, quyển 268, tờ 10a.
45. Âu Dương Tu, Tân Ngũ Đại sử, trong bộ N.T.N.S., quyển 65, trang 4468, cột 4, trang 4469, 1, 2. Toàn thư (quyển 5, tờ 18a) chép rằng: "Mùa thu, vào tháng bảy, vua Nam Hán sai một tướng giỏi là Lý Khắc Chính đem quân sang đánh Giao Châu, bắt được tiết độ sứ Thừa Mỹ đem về". Hỏi tên Lý Khắc Chính nầy bởi đâu mà đến? Tên đó không có trong Tân Ngũ Đại sử, cũng như trong Việt sử lược. Phải chăng đây là một trường hợp nữa làm chứng cách chép sử "mường tượng" của Ngô Sĩ Liên? Theo Tân Ngũ Đại sử có tên hai tướng:Lý Thủ DungLương Khắc TrinhTrong hai tên đó gặp được hai yếu tố của tên Lý Khắc Chính: Lý lấy ở tên thứ nhất và Khắc lấy ở tên thứ hai. Nhưng Chính thì lấy ở đâu? Hơi khó mà theo dõi sự lệch lạc trong óc Ngô Sĩ Liên. Chúng ta có thể đoán rằng bấy giờ cách đọc chữ tr đã lệch ra thành ch, nhưng như thế thì chúng ta có Lý Khắc Chinh, chứ sao lại Lý Khắc Chính? Thì đoán thêm tí nữa: Có lẽ Khắc Chinh không ý nghĩa bao nhiêu, nên trong óc thông minh của nho gia tự nhiên lệch ra Chính. Sự lệch nầy đã thấy trong An Nam chí lược (trang 190), tại đây Lê Tắc đã gọi viên tướng của nhà Nam Hán là Lương Khắc Chính. Và kết quả là Lý Thủ Dung + Lương Khắc Trinh - trí tưởng tượng của tác giả = Lý Khắc Chính.CHƯƠNG THỨ CHÍNcổ việt độc lậpCho tới đây, nước Việt Nam, như chúng ta gọi ngày nay, hay nước Đại Việt, Đại Cồ Việt, như tiền bối chúng ta đã gọi qua bao nhiêu thế kỷ về trước, chưa hề được nói đến trong lịch sử hoặc xuất hiện trên bản đồ thế giới. Nói cách khác, cho đến đây, nước Việt Nam, với ý nghĩa là một quốc gia biệt lập, một nước, chưa hề được hoàn thành. Nhưng đã đến lúc giờ vinh quang nầy điểm, dõng dạc, dứt khoát, với Ngô Quyền, với Đinh Bộ Lĩnh.I. NGÔ QUYỀN DÀNH ĐỘC LẬPLưu Yểm, khi đặt Lý Tiến làm Giao Châu thứ sử, ông đã dặn rằng: "Giao Chỉ dân hiếu loạn, đãn khả ky my nhi dĩ" (Dân Giao Chỉ thích làm loạn, chỉ nên tìm cách lung lạc họ mà thôi). Nhưng Lý Tiến chưa lung lạc được người Giao Chỉ, thì họ đã bị ngành Giao Chỉ lung lạc. (1)Năm thứ tư hiệu Đại Hữu (931), Dương Diên Nghệ, người Ái Châu, một trong những thủ hạ họ Khúc, cất quân đánh Lý Tiến, đuổi về Quảng Châu. Để trả thù, Yểm sai viên thừa chỉ là Trình Báu sang đánh Diên Nghệ, nhưng không may đã phải bỏ thây trên chiến trường.Bị thất bại, Lý Yểm nghỉ một thời gian, có lẽ để củng cố nội bộ vừa để đợi thời cơ. Trong lúc đó, ông phong vương cho các con ông, như phong đứa con thứ chín là Hồng Tháo làm Vạn vương, chẳng hạn (932). (2)Năm 936, Diên Nghệ bị một nhà tướng là Kiểu Công Tiện giết đi để lên thay. Tên bạo ác nầy không có thời giờ để hưởng quyền thế, vì không lâu đã bị Ngô Quyền đem quân đến vây đánh, phải vội vàng sai sứ sang Nam Hán cầu cứu. Ngô Quyền nầy là người Ái Châu, một tướng có tài của Dương Diên Nghệ và cũng là con rể của ông.Tiếp sứ của Công Tiện, Lưu Yểm thấy cơ hội tốt đã đến, bèn phong Hồng Tháo làm Giao vương đặt chỉ huy lực lượng chinh phạt cổ Việt, còn chính ông thì đóng quân ở Hải Môn để tiếp cứu, nếu cần. Đang lúc đó, Ngô Quyền đã bắt được Công Tiện, giết đi, như thế diệt được một tay nội ứng nguy hiểm. Rồi ông lập mưu chống cự. Ở lòng sông Bạch Đằng, ông truyền đóng nhiều cộc gỗ làm như những cái chông khổng lồ lấp dưới mặt nước. Nhân khi nước lên, ông cho thuyền đón đánh tàu chiến của Nam Hán đang tiến vào, đoạn giả vờ thua đua nhau chạy ngược dòng sông. Tàu Nam Hán vô tình ồ ạt đuổi theo. Khi tàu địch đã lên phía trên chỗ đóng cộc và nước thủy triều cũng đã cạn, quân cổ Việt mai phục sẵn hai bên bờ cùng một lúc với vô số chiến thuyền đang chực để giao chiến, kịch liệt phản công. Địch quân hốt hoảng quay tàu rút ra thì bỗng gặp phải cộc, chìm vỡ ngổn ngang. Thật là một trận thất bại hoàn toàn cho quân Nam Hán. Đau đớn hơn nữa, chính Hồng Tháo cũng bỏ mạng trên sông. Tại Hải Môn, Lưu Yểm được tin, đành nuốt hận kéo quân về. Phần Ngô Quyền, sau khi diệt được địch, ông đã xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa (939).Cuộc thắng trận của nhà tướng họ Ngô tỏ ra sức mạnh của quân dân cổ Việt cũng như ý chí muốn độc lập của những người đã lâu đời chọn dải đất nầy làm quê hương. Nhưng nền móng độc lập do Ngô Quyền đặt vẫn chưa được vững chắc. Nói cho đúng, với biến cố năm 939, cổ Việt chưa thực sự đã là một nước riêng tách hẳn khỏi Trung Quốc, vì Nam Hán chẳng những chưa phải là Trung Quốc, mà lại chỉ là một ngụy triều đối với Trung Quốc. Bởi vậy, thắng Nam Hán chưa phải là thắng Trung Quốc, và độc lập đối với Nam Hán chưa phải là độc lập đối với Trung Quốc. Nói cách khác, Ngô Quyền đã tiến một bước quan trọng, nhưng bước còn lại cũng còn quan trọng lắm.Những người kế vị Ngô Quyền không có cơ hội, và có lẽ cũng không có thành ý bước nốt bước còn lại đó. Khi Quyền mất vào năm 944, Trung Quốc vẫn chưa thống nhất. Kể từ khi nhà Nam Hán bị thua ở Bạch Đằng, ở Trung Quốc nhà Hậu Đường đã nhường ngôi thiên tử cho nhà Hậu Tấn (936-947). Trong thời Hậu Tấn, Trung Quốc vẫn còn chia ra làm nhiều nước biệt lập và cừu địch, như Ngô, Thục, Ngô Việt, Nam Hán, Sở (một nước ở vùng Trường Sa, bắt đầu từ 927), Mân, Nam Bình (một nước ở vùng Hồ Bắc, bắt đầu từ 925).Trong lúc đó, kẻ kế vị Ngô Quyền, là Xương Ngập, còn trẻ tuổi. Quyền, trước khi từ trần, đã phó thác việc giúp đỡ con cho người anh rể là Dương Tam Kha, con của Dương Diên Nghệ. Không ngờ Tam Kha nhẫn tâm cướp ngôi cháu, tự xưng là Bình vương, Xương Ngập cùng một số thân thần phải trốn đến ở vùng Nam Sách.Để che miệng thế gian, Tam Kha nhận em của Xương Ngập là Xương Văn làm con. Năm 950, nhờ một số tướng sĩ trung thành với nhà Ngô, Xương Văn lật đổ được Bình vương rồi mời anh về Cổ Loa để cùng cai trị. Bấy giờ Xương Ngập lấy hiệu là Thiên Sách vương, và Xương Văn lấy hiệu là Nam Tấn vương. Năm 954, khi Xương Ngập mất rồi, Xương Văn sai sứ sang Nam Hán xin thần phục. Lưu Thành đang làm vua ở Quảng Châu liền sai cấp sự trung Lý Dự đem tiết Việt sang phong cho Xương Văn làm tiết độ sứ Tĩnh Hải. Nhưng khi Lý Dự đến Bạch Đằng, Xương Văn lại sai người ra đón vị sứ Tàu, bảo rằng hải tặc đang hoành hành, nên đường đi rất nguy hiểm. Lý Dự không đi nữa, quay thuyền trở về. Giặc nói đây, có thật hay không, hay chỉ là một cách thoái thác khôn khéo của Xương Văn để khỏi nhận quyền người Nam Hán? Điều đó không được rõ. Dầu sao nền độc lập của cổ Việt cũng chưa được dứt khoát dưới đời nhà Ngô. (3)II. NHÀ TỐNG THỐNG NHẤT TRUNG QUỐC (4)Trong khi nhà Ngô cai trị cổ Việt, Trung Quốc đã trải qua nhiều biến cố.Sau nhà Hậu Tấn, ngôi thiên tử qua nhà Hậu Hán (947-950), rồi nhà Hậu Chu (951-959). Thái tổ nhà Hậu Chu cai trị đến năm 954 thì con ông là Thế Tông kế vị. Vừa là những tướng có tài vừa là những nhà cai trị giỏi, hai vua nầy đã khỉ sự liên kết lĩnh thổ Trung Quốc. Năm 957, Chu Thế Tông đánh Nam Đường, tức là nước Ngô cũ (nước Ngô từ năm 937 đã đổi thành Nam Đường), chiếm cả vùng từ sông Hoài đến sông Dương Tử trong đó có cả kinh đô Nam Đường là Dương Châu, và vua Nam Đường phải dời xuống đóng ở Nam Kinh.Không may, trong lúc đó, một người sống sót của nhà Hậu Hán, tên là Lưu Sùng, em của Hậu Hán Cao Tổ, đến lập quốc ở vùng Sơn Tây, kể từ tháng 3 năm 951, và gọi tên nước là Bắc Hán. Nhà Bắc Hán nối tiếp qua Lưu Thừa Quân (954-968) và Lưu Thế Nguyên (968-979). Hai người nầy không những đã gây rắc rối nhiều cho nhà Hậu Chu, mà còn là một trở ngại lớn cho nhà Tống trong thời buổi đầu. Không mạnh đủ để đứng vững một mình, họ đã nương dựa vào, rồi thần phục, nước Liêu của dân Khế Đan, một thứ người thuộc giống Mông Cổ, đóng ở vùng Liêu hà kể từ năm 907. Hễ mỗi lần quân đội Trung Quốc kéo đến Thái Nguyên, kinh đô của Bắc Hán, là mỗi lần lực lượng Khế Đan vội vàng từ vùng Bắc Kinh kéo đến tiếp cứu.Nhưng rồi nhà Tống đã cướp ngôi nhà Hậu Chu.Tháng giêng năm Canh Thân (960), Thái tổ nhà Tống đã êm thấm bắt Cung đế nhà Hậu Chu từ chức để lên thay. Khi nhà Tống bắt đầu, quyền của thiên tử chỉ nằm ở vùng chung quanh, kinh đô Khai Phong, nghĩa là ở các nơi như tỉnh Sơn Tây, một phần tỉnh Hà Bắc, cả tỉnh Sơn Đông, một phần các tỉnh Giang Tô, An Huy và Hồ Bắc. Nhưng, vừa nhân đạo, vừa khôn khéo, lại có tài cai trị, Tống đế đã dần dần chinh phục hết nước nầy đến nước khác. Năm 964-965, Tống Thái tổ (960-975) thôn tính nước Thục ở vùng Tứ Xuyên, năm 971 đến lượt Nam Hán của Lưu Trường (958-971), thế Lưu Thành, và năm 975 đến lượt Nam Đường bị thôn tính. Tống Thái Tông (976-997) đã tiếp tục công việc bằng cách chiếm Ngô Việt vào năm 978. Thế là Trung Quốc đã được thống nhất, lần nữa.III. ĐINH BỘ LĨNH THỐNG NHẤT CỔ VIỆTThời Ngô Quyền, chưa chắc tất cả mọi nơi trong đất cổ Việt đã thuộc về nhà vua, nhưng các vùng như Giao Châu, Ái Châu, Phong Châu đã từng phục. Khi Ngô Quyền mất, và Dương Tam Kha tiếm vị, hầu như mọi mối dây quân thần đã bị cắt đứt. Hỏi Tam Kha là ai mà có thể có đủ uy tín để ràng buộc kẻ khác? Đã không chịu tùng phục, các thủ lãnh địa phương lại còn rộn ràng đứng lên phản đối. Khi Tam Kha bị truất phế và hai anh em Xương Ngập, Xương Văn cai trị, tình hình êm xuống một thời, nhưng rồi họ Ngô đã cáo chung vào năm 964, và các địa phương lại đâu đòi tự trị đó. Các thứ sử nổi lên như cá đối bằng đầu, chẳng còn ai muốn nghe ai, gây nên một tình trạng loạn hàng thất thứ, mà lịch sử đã mệnh danh là thời kỳ sứ quân. Bấy giờ có mười hai sứ quân như vậy, ở mười hai nơi trong vùng cổ Việt.Theo Việt sử lược, thì tên của mười hai sứ quân đó như sau:1) Kiều Tam Chế tên là Hãn, hùng cứ Phong Châu (Bạch Hạc).2) Nguyễn Thái Bình, tên là Khoan, hùng cứ Bắc Đái (Vĩnh Tường).3) Trần Công Lãm, tên là Nhật Khánh, hùng cứ Đường Lâm (Giao Thủy).4) Đỗ Cảnh Công, tên là Cảnh Thạc, hùng cứ Đỗ Động Giang (Thanh Oai).5) Nguyễn Du Dịch, tên là Xương Xí, hùng cứ Bình Kiều.6) Nguyễn Lãng Công, tên là Khuê, hùng cứ Siêu Loại.7) Nguyễn Lệnh Công, tên là Thủ, hùng cứ Tiên Du.8) Lã Tá Công, tên là Đường, hùng cứ Tế Giang (Văn Giang).9) Nguyễn Hữu Công, tên là Siêu, hùng cứ Tây Phù Liệt.10) Kiểu Lệnh Công, tên là Thuận, hùng cứ Hồi Hồ (Cẩm Khê).11) Phạm Phòng Át, tên là Bạch Hổ, hùng cứ Đằng Châu (Kim Động).12) Trần Minh Công, tên là Lãm, hùng cứ Giang Bố Khẩu (Vũ Tiến). (5)Dựa vào các địa danh trên đây mà xét, thì các sứ quân chỉ tung hoành trong một vùng nhỏ của cổ Việt quanh quẩn ở khu vực Hà Nội, Bắc Ninh, Phú Thọ, còn các nơi khác như Ái Châu, tịnh vô không có tiếng tăm gì. Vậy sự thật như thế nào về vấn đề sứ quân?Việt sử lược là một tác phẩm vô danh chép vào cuối thế kỷ 14 (năm 1377 về sau), mà sự việc được thuật lúc ở đây lại xảy ra vào hạ bán thế kỷ thứ 10. Với một khoảng cách hơn bốn thế kỷ, chắc chắn tác giả không thể có thể phỏng vấn những chứng nhân trực tiếp của các biến cố và nhất thiết phải dùng tài liệu. Mà nói đến dùng tài liệu đồng thời cũng phải nói đến dùng tài liệu nào với phương pháp nào. Về tài liệu có thể là những văn kiện do người cổ Việt để lại, hay là những sử liệu Trung Quốc. Hiện thời, không thể có một tài liệu nào thuộc loại trước, nhưng về loại sau, chúng ta gặp được ở Tống sử đoạn văn nầy:" Càn đức sơ, Xương Văn tử, kỳ tham mưu Ngô Xứ Bình, Phong Châu thứ sử Kiểu Tri Hộ, Võ Ninh Châu thứ sử Duong Huy nha tướng Đỗ Cảnh Thạc đắng, tranh lập, quản nội nhất thập nhị châu loạn. Bộ dân túc tụ khỉ vi khấu đạo, công Giao Châu. Tiên thị Dương Diên Nghệ dĩ Nha tướng Đinh Công Trứ nhiếp Hoan Châu thứ sử, kiêm Ngự Phiên đô đốc. Bộ Lĩnh tức kỳ tử dã. Công Trứ tử, Bộ Lĩnh kế chi. Ký thị Bộ Lĩnh dự kỳ tử Liễn suất binh kích bại Xứ bình đẳng, tặc đảng di tán." (6)Dịch: "Năm đầu hiệu Càn Đức (963), Xương Văn chết. Viên tham mưu của ông là Ngô Xứ Bình, viên thứ sử Phong Châu là Kiểu Tri Hộ, nha tướng của viên thứ sử Võ Ninh Dương Huy là Đỗ Cảnh Thạc, cả bọn đó tranh nhau lên ngôi, khắp mười hai châu trong quản đại loạn. Dân chúng tụ họp nhau khỉ sự đánh nhau, cướp phá, xông vào Giao Châu. Nguyên trước Dương Diên Nghệ có đặt Đinh Công Trứ làm thứ sử Hoan Châu đô đốc để giữ gìn bờ cõi. Bộ Lĩnh chính là con của ông. Khi Công Trứ mất, Bộ Lĩnh lên thay. Bấy giờ Bộ Lĩnh cùng với con là Liễn đem quân ra đánh bại bọn Xứ Bình, đảng giặc liền tan."Chúng ta nhận được rằng giữa Tống thư và Việt sử lược chỉ giống nhau ở hai chỗ, là bấy giờ cổ Việt loạn, và loạn lạc ở 12 khu vực, còn tên 12 khu đó thì Tống thư nói là châu mà, Việt sử lược lại kể ra một số những danh từ địa lý quen biết ở vùng Giao Châu và Phong Châu. Về tên những hào kiệt đứng ra làm sứ quân, hai bên chỉ gặp nhau một lần ở tên Đỗ Cảnh Thạc, dư giả là khác hết. Dựa vào phương pháp chép sử có chiều quá ư tự do của tác giả Việt sử lược gặp được ở các đoạn trước mà xét, chúng ta có thể đoán rằng đây chỉ là một cố gắng liều lĩnh của tác giả để lấp đầy con số 12 mà tác giả biết được có lẽ bởi một nguồn nào khác không phải trực tiếp bởi Tống thư. Sự thường, khi loạn lạc mà nổi dậy giữ quyền biệt lập để tranh giành, mỗi đơn vị ít ra phải là một châu, mà người cầm đâu phải là một thứ sử hay một nha tướng hăng hái nào đó, như trường hợp Đỗ Cảnh Thạc. Giả sử những vùng mà những kẻ được gọi là sứ quân chiếm cứ mang những tên như Việt sử lược kể, thì ở cổ Việt bấy giờ phải có nhiều sứ quân hơn là mười hai, vì Đinh Bộ Lĩnh, thứ sử Hoan Châu chẳng hạn, cũng phải là một người trong số đó.Cảnh loạn ly giày xéo cổ Việt kể từ 964 nầy, hỏi ai đã dẹp yên? Người đó là Đinh Bộ Lĩnh. Từ Hoan Châu, ông đã cùng với con là Đinh Liễn kéo quân ra Ái Châu, rồi ra Giao Châu. Không bao lâu, vào năm 968, ông đã nắm vững được tình thế. Dân chúng biết ơn yêu cầu ông đứng đầu coi việc cai trị. Ông lấy hiệu là Văn Thắng vương, đặt Đinh Liễn làm tiết độ sứ, lấy quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư.IV. NHÀ TỐNG PHONG VƯƠNG CHO ĐINH BỘ LĨNHLàm vua được năm năm, Đinh Bộ Lĩnh biết nhà Tống đã thống nhất Trung Quốc, bèn sai sứ xin giao hảo. Tống triều, theo nếp cũ, cho ông chức tiết độ sứ Tĩnh Hải. Nhưng nếp cũ không còn thích hợp với tình trạng mới. Đinh Bộ Lĩnh rất hiểu vậy, và có lẽ triều nhà Tống cũng hiểu vậy. Do đó, năm 975, sứ giả của Đại Cồ Việt lại sang Bắc triều, và lần nầy lượm được kết quả tốt hơn. Thái tổ nhà Tống (960-975) đã không ngần ngại phong cho Bộ Lĩnh làm Giao Chỉ quận vương trong một bài chế mà Lê Tắc đã tóm lược như sau:"Bộ Lĩnh sinh tại đất Diên Chỉ, giữ tiết làm tôi, hướng theo phương bắc, thế hệ cao quí, giữ gìn một cảnh thổ phương xa, có chí mến văn hóa của Trung Quốc, thường nghĩ đến việc nội phụ. Nay Cửu Châu thống nhất, Ngũ Lĩnh cũng thanh bình, bèn do đường thủy lục, qua lại cống hiến lễ vật. Nay ta có lời khen ngợi đã sai con xin làm phiên thuộc, vậy phong cho cha làm quận vương cấp tước lộc để biểu dương lòng nhân đức khác thường, nên ghi sâu đặc ân của ta và chúc cho trường thọ." (7)Đó là bảo đảm đầu tiên và trường tồn của nền độc lập Việt Nam. Sao lại có thể nói bản văn đó bảo đảm nền độc lập, khi nó bao hàm những câu như: "Hướng theo phương bắc", "thường nghĩ đến việc nội phụ", "xin làm phiên thuộc"?Trước hết, nên nhớ rằng bài chế không phải chỉ có mấy câu đó, mà còn có một số những câu đáng kể khác như: "giữ gìn một cảnh thổ phương xa" hay "phong cho làm quận vương". Các vua Việt Nam sau Đinh Bộ Lĩnh, mãi cho đến Tự Đức, không ai được phong gì khác cao hơn là phong vương. Và việc phong vương trong thế giới Á Đông của thời trước đây không xa, chỉ là một thể thức ngoại giao của một nước lớn, nước Trung Quốc, đối với những nước nhỏ, các lân bang, để cho có một phẩm trật trong phạm vi quốc tế, chỉ thế thôi. Việc phong vương có thể nói lên ý nghĩa thuộc quyền, nhưng chỉ là thuộc quyền theo quan niệm cấp bậc giữa nước lớn và nước bé, chứ không còn thuộc quyền trực tiếp theo kiểu thời Bắc thuộc hay thời Pháp thuộc. Cũng vì thế, mà trong chế nói đến việc Đinh Bộ Lĩnh "giữ gìn một cảnh thổ phương xa", giữ gìn mà không cần có sự can thiệp của Trung Quốc.Rồi, ngay trong những câu bề ngoài xem ra còn mang dấu vết Bắc thuộc, xét ra cũng đã chứa đựng ý nghĩa biệt lập. Thật vậy, những câu đó là những lời khen. Hỏi tại sao mà phải khen như thế, nếu đất cổ Việt thuộc về Trung Quốc, như thời các thái thú, thứ sử, hay đô hộ? Sở dĩ giao hảo với Trung Quốc là một điều đáng được Trung Quốc khen, đó là vì cổ Việt đã tách ra khỏi Trung Quốc, mà vẫn còn đi lại.Một điều đáng chú ý khác, việc nhà Tống công nhận quyền độc lập của cổ Việt không phải xảy ra sau một cuộc thất bại của nhà Tống về võ lực, mà chính là giữa thời bình, hơn nữa, có thể nói là trong một lúc Trung Quốc đang khai thắng. Giả sử cổ Việt độc lập vì thắng trận Trung Quốc, thì sự Trung Quốc công nhận độc lập vẫn mang một cái gì gò ép, không nhiều thì ít, và rồi sức mạnh của Trung Quốc có thể thay đổi tình trạng đó đi. Đàng nầy, nền độc lập của cổ Việt đã được hoàn thành trong êm đẹp của thời bình, nên nước Việt Nam chẳng khác gì một quả chín rụng ra khỏi cây mẹ để tự sống một cuộc đời riêng, mang đầy đủ sinh lực trong chính mình. Chính sinh lực nầy đã làm cho nước Việt Nam nhỏ bé chống lại được với nhà Tống trong đầu thời Lê Hoàn, chống lại được với nhà Nguyên trong đời Trần Nhân Tôn, chống lại với nhà Minh trong thời Lê Lợi, chống lại với nhà Thanh trong thời Quang Trung.Sau hết, một điều nên nhớ nữa, là sở dĩ nước Việt Nam đâm rể sâu và phát triển mạnh trong ý thức độc lập của mình, đó là còn bởi sự người Việt Nam, mặc dầu bắt gốc từ Trung Quốc, đã không còn thuần túy Trung Quốc. Chúng tôi đã trình bày dài dòng và nêu lên mạnh mẽ sự họ là những kẻ đã từ Trung Quốc di cư sang cổ Việt trong thời Bắc thuộc. Nhưng cũng không được bỏ qua sự kiện nầy là họ, khi di cư sang, đã ở với dân Lạc Việt, và nhiều thứ dân man khác, rồi với dân Lâm Ấp. Những dân đó không thể làm cho họ cải biến, bất cứ về phương diện nào, nhưng lại có thể làm cho họ phong phú thêm, phong phú về mọi phương diện, chẳng hạn về nhân chủng, về phong tục, về ngôn ngữ.Với nguồn gốc đó, với sinh lực đó, và với sự phong phú đó, người Việt Nam là người Việt Nam, và càng ngày càng Việt Nam...HẾTCHÚ THÍCH1. Lê Tắc, An Nam chí lược, trang 191.2. Tên người con thứ chín của Lưu Yểm không phải là Hoằng Tháo như Toàn thư chép (quyển 5, tờ 19a), nhưng là Hồng Tháo.3. Âu Dương Tu, Tân Ngũ đại sử, trong N.T.N.S., quyển 65, trang 4469, cột 1.4. Tống sử, trong bộ N.T.N.S., quyển 1, 2, 3, về Tống Thái tổ, quyển 4 về Tống Thái tông.5. Việt sử lược, tờ 29.6. Tống sử, quyển 488, ở mục Ngoại quốc, dưới đề "Giao Chỉ", trang 5712, cột 2.7. Lê Tắc, sách đã dẫn, trang 64.Phụ lục(sách nầy chỉ là bản văn khai triển bài tường trìnhsau đây ở hội nghị quốc tế về lịch sử á châu ởhương cảng, 1964.)INTERNATIONAL CONFERENCE ON ASIANHISTORY, UNIVERSITY OF HONG KONGAUGUST 30 - SEPTEMBER 5, 1964CHINESE ORIGIN OF THE VIETNAMESE PEOPLEREV. NGUYỄN-PHƯƠNG(University of Huế, Việt-Nam)The origin of the Vietnamese people is a challenging subject to the student of history. Difficulties arise not only from the scarcity of historical data, but also from emotional interpretations of earlier Vietnamese historians who thought it their obligation to exalt the beginning of their fatherland. Through centuries, their teachings had gained importance, had taken shape in popular traditions, and finally were regarded as truths.When France came over to Việt-Nam to impose her unhappy domination, some of her scholars had a quick look at the subject. Their researches, at times plausible, did not lead to any valuable conclusion. They pointed out a number of errors committed by Vietnamese historians, but, being entangled in the web of earlier thoughts, they still considered the emotional framework of the traditionalists as unshakable.But, if one has enough patience to go attentively over the records concerning the long period when China began to populate the territory which later bacame Vietnamese, one can get sufficient light to recognize that the mainstream of the Vietnamese people came from China and that it was the Chinese blood in them that gave them their vigorous vitality in the march southward to their present boundaries.The traditionalistic school of the Vietnamese history is represented by every official historian of the successive dynasties, but mainly by two known annalists named Lê Văn Hưu and Ngô Sĩ Liên. Lê Văn Hưu lived under the dynasty of the Trần (1225-1400) and wrote his Đại Việt Sử Ký in the second half of the 13th century. This work is now lost, but what its author had said can still be seen in the writings of Ngô Sĩ Liên who had named his books Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Undertaking his narrative two centuries later, Ngô Sĩ Liên intended to give a complete history of Đại Việt. To this end, he did not only start from where his predecessor had stopped, i.e. from the events that happened from the first ruler of the Trần dynasty until the middle of the fifteenth century, but also brought back the beginning of the Vietnamese history for a period of more than two thousand years. If Lê Văn Hưu had been contented himself with taking the first dynasty of Nan-Yue, the dynasty of the Tchao (207 B.C.-111 B.C.), as the first dynasty of Đại Việt, Ngô Sĩ Liên, on the other hand, proudly claimed that the person who founded his country had been Kinh Dương Vương, a king would have begun his reign on 2869 B.C., who, in reality however, turned out to be but a creation of a certain novelist under the T'ang dynasty.Generally speaking, the Vietnamese historians of the traditionalistic school got confused about persons and places found in the works of Chinese history. They could not distinguish between the different groups of people designated by the Chinese under the general word "yue", and thought naively that any yue group could have been of the same origin as that of Đại Việt. They got also confused about the historical value of earlier writings, assuming that whatsoever had been written was historical record. In this poor state of appreciation, they took the princes Hiong of the old kingdom of Tch'ou as their kings Hùng or considered Tchao T'o as the first legitimate Vietnamese ruler.It is surprising, however, to remark that, while they took Chinese elements to build their nationalistic history, they, nonetheless, consistently affirmed the special character of the Vietnamese people. According to them, the Vietnamese were no Chinese; they had an origin of their own, and from the very beginning, had fought against the Chinese to keep their independence. These historians repeated that the name of the old Vietnamese kingdom was Văn Lang, but did not know for sure where that kingdom was situated.Some of these nationalistic biaises were denounced by a French historian, Henri Maspéro. In two articles published in the Bulletin de l'École Française d'Extrême-Orient (Nos XVI and XVIII), Maspéro proved that the king Hùng in the Vietnamese history did not exist and Văn Lang was but an error. He insisted that the first rulers of Việt Nam were Lạc Vương, meaning that the tribe Lạc Việt was the ancestors of the Vietnamese people.A few years later, archeological and paleontological discoveries brought into light remains of an indonesian life and civilisation in Northern Việt Nam. Evidence showed that before the coming of the Chinese which happened at the end of the second century B.C., the Indonesians were already there with their new-stone-age instruments. This is mostly the result of the careful researches of Henri Mansuy and Madeleine Colani. Historians therefore took advantage of these findings and concluded that, because the Indonesians were the Lạc Việt, they were consequently the Vietnamese's ancestors.Meanwhile, in 1923, Léonard Aurousseau, then Director of the French Archeological School in Indochina, proposed his opinion on the origin of the Vietnamese people, that had prevailed for some decades. Referring to different texts taken from Chinese history books, he intended to establish that the Vietnamese, originally, were descent of the inhabitants of a little kingdom situated on the Tcho River in the Fou-Kien region named Yue. He reasoned: the Yue kingdom was crushed by the Tch'ou in 333 B.C.; its inhabitants had to take refuge and, therefore, scattered here and there in Southern China; that was the origin of the Hundred Yue, among them was the Lo Yue.Aurousseau's theory, with its too easy logic, could not stand too long. Soon historians began to question its foundation and then abandoned it for good. In fact, it rested on shaky assumptions, that is, on the similarity of the word "yue, Việt" (Việt Quốc, Lạc Việt, Việt Nam) and on the migration of the inhabitants of the Yue kingdom on the Tcho River, southward to North Việt Nam. First, it is not sure that the word "yue" had the global meaning of a tribe, but it was rather used by Chinese writers to designate all the tribes who lived in Southern China beyond the Yang-Tse River. Secondly, if the inhabitants of the Yue kingdom had been decimated by disaster in the war with the Tch'ou, how could they multiply themselves so quickly, or spread over so large an area and travel so far?As early as 1937, another French writer, Claude Madrolle, had tried to underline the weaknesses of Aurousseau's theory. He condemned it as unscientific and unsound. To give his own interpretation a more solid ground, he relied on measure and quantity. His belief was that people of the same size belong to the same origin. He found that the sizes of the inhabitants of Tonkin, cradle of the Vietnamese population, could be classified into two general kinds: those of 1m62 and those of 1m58. He found also that people of smaller size made up the majority of the population and people of taller size belonged only to some villages on the coast. Madrolle's conclusion: The Vietnamese people had two origins, one aboriginal, and one coming from abroad; people of smaller size were aboriginal and those of taller size came from China because in the region of Fou-Kien, there were also people of that size i.e., cf 1m62.Madrolle's view is just a droll one. Man's size changed from generation to generation, and depended less on heredity than on food and physical exercises. Furthermore, it is really adventurous to base on sizes, measured in 1937, to argue about the sizes effects of people of more than two thousand years ago.In sum, the theories mentioned above did not deal properly with the origin of the Vietnamese people. They are not entirely unbeneficial, but their historical conclusions are only mixed truths. It is right to think that the Vietnamese people came from China, but it isn't right anymore to affirm with Aurousseau that they came from the little Yue kingdom on the Tcho River. And, if it is true to say that there was a combination of origins in the Vietnamese, it is utterly wrong to assert with Madrolle that people of taller size are from Chinese ethnological stock, and those of smaller size are aboriginal.Perhaps, the fact of history happened in a more realistic way.On one side, it is now an archeological and paleontological evidence that before the coming of the Chinese in Northern Việt Nam, people of Indonesian race lived there. They were there from the newstone age down to the bronze age, and now, they are still living in different montainous parts of Việt Nam. History also identified these Indonesians with the Lạc Việt, because it said that the Lạc Việt tribe had as a specialty the kettledrums in bronze, and archeology discovered that these kettledrums are Indonesian works.On the other side, it is an everyday ascertainment that the Vietnamese are not Indonesians, i.e., they are different from the mountainous population called Moi. Not only they have no Indonesian appearance, but also they have no Indonesian culture, no Indonesian tradition, or religion. Everything about them, on the contrary, invites us to link them with the Chinese: Language, tradition, religion, appearance. Archeology proved it, and everyday observation is proving it. This fact, therefore, compels us to conclude that even the Lạc Việt are not Vietnamese ancestors. But, is it to say that, in the Vietnamese, there is no Indonesian trace at all? No, there is. This trace, however, is now becoming so faint that it is almost entirely immersed in the Chinese characteristics.How to interpret all that?All that points out that the Vietnamese origin was Chinese. The faint Indonesian trace found in them resulted from the first relations between the Chinese newcomers and the aboriginal Indonesians, in the early days of the Chinese settlement. But soon, with military and political organisation, Chinese colonies spread over the tillable land of the commanderies of Giao Chỉ, Cửu Chân and Nhật Nam. The Chinese population, only a minority in the beginning, became a majority after centuries of colonisation, and finally the inhabitants of the countryside of the whole territory were Chinese, the autochthonous Indonesians occupying the mountainside as ever before and becoming more and more comparatively negligible.This dominance of the Chinese is seen clearly in the sixth century when Lý Bí, a descendent of the Chinese settlers in Giao Chỉ, revolted against Chinese authorities in view of obtaining local independence, but the process of the Chinese takeover is discernable right up in the first century A.D., in the revolt of the Sisters Trưng. Then, the Chinese settlers were already numerous enough in the commandery of Giao Chỉ to form an army of 12.000 soldiers to help the Chinese General Ma Yuan to defeat the Lạc Việt leaders. By 140, the Chinese not only populated the commandery of Giao Chỉ, but also went down to colonize the farthest part of the Empire, the commandery of Nhật Nam. When war broke out there between the Chinese forces and the indigenous, the authorities of the Celestial Throne had to set up plans to evacuate their countrymen to Giao Chỉ where they could be safer.
Thus, in the tenth century, when the Đại Việt, later Việt Nam, was born, it was but the spectacle of the Chinese settlers in this territory who broke political ties with their mother country and united themselves to form a new nation. Politically independent from China, they continued however to carry in them Chinese blood, to use Chinese characters, to follow Chinese traditions, and to march southward as vigorously as ever before until the South Sea stopped them at Cà Mau. Cut off and settled in new environments, they might differentiate, little by little, from the Chinese cultural and social mainstream, and develop national special characteristics of their own, but when they look back to find out what was their origin, they have to confess that theirs was Chinese.Sau hết, một điều nên nhớ nữa, làsở dĩ nước Việt Nam đâm rể sâu và phát triển mạnh trong ý thức độc lập của mình, đó là còn bởi sự người Việt Nam, mặc dầu bắt gốc từ Trung Quốc, đã không còn thuần túy Trung Quốc.Chúng tôi đã trình bày dài dòng và nêu lên mạnh mẽ sự họ là những kẻ đã từ Trung Quốc di cư sang cổ Việt trong thời Bắc thuộc. Nhưng cũng không được bỏ qua sự kiện nầy là họ, khi di cư sang, đã ở với dân Lạc Việt, và nhiều thứ dân man khác, rồi với dân Lâm Ấp.Những dân đó không thể làm cho họ cải biến, bất cứ về phương diện nào, nhưng lại có thể làm cho họ phong phú thêm, phong phú về mọi phương diện, chẳng hạn về nhân chủng, về phong tục, về ngôn ngữ.Với nguồn gốc đó, với sinh lực đó, và với sự phong phú đó, người Việt Nam là người Việt Nam, và càng ngày càng Việt Nam...Nhà in SAO MAI75. Nguyễn Huệ - HUẾBẢN ĐÍNH CHÍNH





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét