Phần giới thiệu
Theo The British Library, London: The language of Birds Introduction.
Ngôn ngữ của loài chim là âm
thanh do chúng tạo ra để liên lạc cùng đồng loại. Ngôn ngữ của con người thể hiện
cách xử dụng âm thanh theo phong tục tập quán ... của một nền văn hóa, nói
chung. Mang âm thanh vào ngôn ngữ giúp con người diễn đạt tư tưởng một cách
khái quát, cũng như truyền thụ nỗi niềm về quá khứ hoặc tương lai. Đặc tính nầy
chỉ có một số loài cầm thú làm được. Tất nhiên, ác điểu không hề có khả năng nầy
(wild bird). Tiếng chim hót, tiếng chim kêu đều từ mục đích để chúng liên lạc
trực tiếp với đồng loại, tương tự như con người khi muốn bầy tỏ tâm tư hoặc
truyền đạt ý nghĩ. Song, không hẳn chúng ta chỉ dùng lời nói, mà còn biểu hiện
qua tiếng nấc, tiếng la, tiếng lẩm bẩm càu nhàu, tiếng thở dài, v.v… thậm chí
giọng điệu cao thấp nặng nhẹ khi nói. Tiếng chim hót, tiếng chim kêu chim kêu
biểu lộ cảm giác của chúng. Không những thế, nó còn nói lên tâm trạng của loài
lông vũ. Do đó, ta không thể phủ nhận khi cho rằng cầm thú chẳng biết diễn đạt
nội tâm một cách trung thực. Trong vô số tiếng chim kêu, có những tiếng giống
như từ ngữ của loài người dùng trong các trường hợp cực kỳ đặc biệt. Ví dụ, tiếng
chim kêu la khi gặp nguy, báo động lúc đối phương tấn công.
Một trong những tiếng chim
được chú ý nhất là tiếng chim hót. Thậm chí, con người hẳn nhiên công nhận nó
có tiết tấu âm nhạc nhất trong tất cả tiếng động của thiên nhiên. Percy
Scholes, tác giả biên soạn quyển the Oxford Companion to Music từng khẳng định,
“Đối với con người, chắc hẳn
chỉ có loài chim là nhà nhạc sĩ của tạo hóa.”
Percy Scholes đưa ra câu nói
vào 1938; tức là, trước khi máy ghi âm, máy hát, đài truyền thanh, v.v... có cơ
hội mang đến cho loài người tất cả âm thanh phát ra từ côn trùng, ếch nhái,
cũng như các động vật có vú khác (mammals). Hơn hẳn thế, lời khẳng định của
Percy Scholes đi trước cả khi <ngành nghiên cứu về âm thanh của sinh vật một
cách tỉ mỉ tinh tường> được chú ý khoảng nửa thế kỷ sau đó.
Có một số côn trùng tạo ra
những âm thanh rất thú vị. Đáng chú ý nhất là loài dế nhũi (Mole Cricket
Gryllotalpidae). Còn có âm điệu du dương êm ái vào đêm của ếch nhái, lắm khi
nghe trội hơn cả tiếng chim hót. Thậm chí, loài ếch có tiếng kêu lảnh lót như
chim được mang tên chính thức Hyla Avivoca. Ngoài ra, vượn cụt đuôi tại Đông
Nam Á (Gibbon Hylobatidae) được chọn làm <chim danh dự> do tiếng khóc nỉ
non rất xúc động của nó, dù lắm lúc nghe thật man dại. Trong những tiếng kêu
đáng chú ý, nên kể đến loài cá voi, đặc biệt cá voi có bứu.
Qua bao nhiêu khả năng khá đặc
biệt của cầm thú, loài chim ắt hẳn không được xem như nhà nhạc sĩ độc nhất.
Song, tiếng hót của chúng đối với con người vẫn tiêu biểu cho làn âm nhạc tuyệt
vời của thiên nhiên; cho dù, tiếng chim hót, tiếng chim kêu chỉ để chúng liên lạc
cùng đồng loại. Tiếng chim hót được xếp vào một thể loại. Tiếng chim kêu, tất
nhiên nằm trong phạm trù khác. Tiếng chim hót thường xảy ra vào mùa gây giống,
và chỉ do chim trống hót. Do đó, tiếng hót khá ồn, luôn được lặp đi lặp lại nhiều
lần một cách bền bỉ. Lắm lúc chim trống hót những giai điệu réo rắt phức tạp.
Trong khi ấy, tiếng chim kêu đều do cả hai giống trống mái nhà chim cất tiếng gọi.
Tiếng chim kêu thường ngắn gọn, có tính cách tổng quát về mục đích cấp thời.
Nói chung, ngôn ngữ của một
số loài chim được con người nghiên cứu thích đáng, đủ giúp nhân loại hiểu trong
phạm vi chừng mực. Ngôn ngữ của chim Mai Hoa (Chaffinch's Fringilla Coelebs)
ngoài những tiếng hót chính và tiếng hót phụ, còn bao gồm cả chín tiếng chim
kêu khác nhau. Se Sẻ Ngô trống (Great Tit Parus Major) có thể xử dụng 26 tiếng
kêu để ra hiệu. Trong khi ấy, chim Trích (Herring Gull Larus Argentatus) than
oán bằng bảy cách khác nhau để bầy tỏ cảm tưởng.
Cảm nhận của con người về Tiếng chim hót
(Theo The British Library, London: The Language of
Birds - Human Appreciation of Birdsong)
Theo một số nhận xét, tiếng
chim hót gợi lên điều tuyệt đẹp. Vì lẽ ấy, con người đã tự mình tạo nên âm nhạc.
Trong vô số tiếng chim hót, có những âm thanh mà ta gần như không thể phân biệt
nổi với âm thanh phát ra từ nhạc cụ. Như tiếng chim Hồng Tước ở Nam Mỹ (Wren)
mang âm điệu trong sáng và tiết tấu khá thú vị gần như trội hơn cả nhạc của con
người. Còn có giai điệu lạ của loài Hồng Tước tại đảo New Guinea, Tây Nam Thái
Bình Dương, phía bắc Úc Ðại Lợi. Nếu người nghe không quen, sẽ ngỡ tiếng phát
ra từ kẻ đang thổi sáo. Ðó là hai loài chim hát nhạc buồn, nhịp khúc êm dịu
khoan thai. Ðể tận hưởng hết âm điệu của loài Mai Anh (Myadestes) đơn sắc xám tại
vùng rừng nhiều mây ở Mexico, người thưởng ngoạn nên thả hết tâm tư vào cung nhạc
chầm chậm. Nhà nghiên cứu chim (Ornithologist) từng đi nhiều nơi trên thế giới,
Frank M. Chapman, miêu tả tiếng hót của loài lông vũ nầy như sau,
“Ðó là điệu nhạc tuyệt vời
nhất.”
Tất nhiên, nhận định nầy
không những tùy thuộc vào sự đánh giá về khả năng tạo ra nhạc điệu khi hót của
loài lông vũ qua cảm nhận từ người nghe, mà còn do niềm yêu thích chọn lựa
riêng rất cá nhân.
Chất giọng nguyên thủy của
chim, có thể nói là yếu tố hàng đầu để đánh giá mức độ âm nhạc của loài lông
vũ. Ví dụ, chim Ô Vũ (Blackbird) và chim Cổ Ðỏ (Robin) tạo nên âm điệu khi hót,
trong khi loài Quạ (Crow/Rook) chỉ gây ra tiếng động. Do đó, người nghe cần
phân biệt đâu là giai điệu du dương theo trình tự và khuôn khổ của từng bậc âm
thanh. Tiếng chim hót không chỉ là những nốt nhạc được xướng lên một cách cẩu
thả vô thứ tự trong lúc ngẩu hứng; cũng không phải là sự lập lại vanh vẹt một
cách máy móc. Mà ngược lại, loài lông vũ biết hát tự nó cấu tạo âm thanh nhạc
điệu theo trình thức cung bậc hẳn hòi; do đó, có những loài mang cho mình âm điệu
đặc biệt lôi cuốn hơn.
Cảm nhận và giám định của
con người về âm nhạc trong tiếng hót của loài chim đã bắt đầu khoảng 200 năm.
Trong lá thư Daines Barrington trả lời Gilbert White ở Selborne, Daines đưa ra
20 khía cạnh âm nhạc khác nhau từ tiếng chim hót. Chiền Chiện Trời (Skylark) dẫn
đầu 19/20 về tiết điệu vui vẻ, 18 điểm do cách hót, 18 điểm nữa do tầm vóc âm
nhạc. Chỉ có 4/20 loài lông vũ xứng đáng được thẩm định là có giọng ca ngọt
ngào. Trong số ấy, một loài Chiền Chiện khác được điểm 18/20 về chất giọng ngọt
ngào nầy.
Nếu 100 người Anh yêu mến
chim cần đơn cữ 20 loài lông vũ xứ Anh biết hót về khía cạnh âm nhạc, hầu như tất
cả đều chọn Chiền Chiện Rừng (Woodlark) lên bảng vàng của mình. Riêng giáo sư
Jeffery Boswall (tác giả bài nghiên cứu nầy), danh sách của ông như sau:
Sơn Ca, Nightingale Luscinia
Megarhynchos
Chiền Chiện trống Mão Ðen,
Black Cap Sylvia Atricapilla
Ô Vũ, Blackbird Turdus
Merula
Chiền Chiện Rừng, Woodlark
Lullula Arborea
Anh Vũ, Mistle Thrush Turdus
Viscivorus
Chiền Chiện Trời, Skylark
Alauda Arvensis
Chim Cổ Đỏ, Robin Erithacus
Rubecula
Chim Hát, Song Thrush Turdus
Philomelus
Hồng Tước, Wren Troglodytes
Chích Chòe Ruộng, Marsh
Warbler Acrocephalus Palustris
Chích Chòe Vườn, Garden
Warbler Sylvia Borin
Se Sẻ Vườn, Hedge Sparrow
Prunella Modularis
Se Sẻ Đồng, Tree Pipit
Anthus Trivialis
Chích Chòe Liễu, Willow
Warbler Phylloscopus Trochilus
Phụng Hoàng Đuôi Đỏ,
Redstart Phoenicurus
Chích Chòe Cói, Sedge
Warbler Acrocephalus Schoenobaenus
Cú Đen, Tawny Owl Strix Aluco
Mỏ Nhát, Curlew Numenius
Arquata
Mai Hoa, Chaffinch Fringilla
Coelebs
Trong những tiếng hót của
chim Châu Âu, xưa nay tiếng Sơn Ca (Nightingale) được chấm nhất. Một số đông
các nhà nghiên cứu chim dựa vào giọng hót sung sức và mãnh liệt của nó bèn trìu
mến chấm ưu hạng về làn Pop của loài lông vũ. Gần 2000 năm trước, Pliny the
Elder, nhà bách khoa La Mã (còn gọi là Caius Plinius Secundus, 23-79) tác giả
quyển Natural History đã viết,
“Không có tiếng sáo tiếng
tiêu, hoặc bất cứ âm cụ nào trên thế giới có khả năng âm nhạc hơn nhạc điệu
phát ra từ chiếc cổ bé nhỏ của chú chim xinh xắn nầy.”
Trong khi ấy, nhà thơ Anh
Alfred Tennyson (1809-1892) chỉ nói một cách đơn giản,
“Nhạc điệu của trăng ngủ
trong quả trứng đơn sơ của Sơn Ca.”
Chiền Chiện trống mão đen
(Blackcap) hót với kỹ thuật âm nhạc xem như vô đối thủ. Tiếng hót của nó không
bao giờ khiến người nghe chói tai vì nó tài tình trong cách hót và chuyển giọng.
Có thể nói, đây là một trong những giọng ca đầy sức quyến rũ và không hề biết mệt
mỏi.
Giữa những loài chim, Ô Vũ
(Blackbird) được mệnh danh là Beethoven. Chim trống không những hót thật lâu,
mà còn sắp đặt tiết tấu tuyệt vời theo trình thức rõ ràng giữa thời gian và âm
điệu. Kết quả là giòng nhạc ngọt ngào êm như tiếng sáo. Chính trị gia đồng thời
là nhà văn người Anh, Joseph Addison (1672-1719) từng viết,
“Tôi quý khu vườn nhà vì nó
có nhiều chim Ô Vũ hơn cây Anh Đào. Nó thật sự cho tôi thu hoạch hoa thơm trái
chín từ tiếng chim hót.
Như từng gợi ý trước, nhiều
nhà bình luận đánh giá tiếng hót Chiền Chiện Rừng (Woodlark) đứng số một về sự
tuyệt vời của độ ngân hoàn hảo.
Tiếng Anh Vũ (Mistle Thrush)
dễ bị lầm với tiếng Ô Vũ (Blackbird). Tuy nhiên, tiếng nhạc Anh Vũ pha một chút
the thé. Tuy hơi chói tai, nhưng nhạc điệu có hồn, xứng đáng đứng hạng Năm.
Hạng Sáu dành cho Chiền Chiện
Trời (Skylark) qua giai điệu dồi dào tiếng sáo trầm bổng vi vu không ngừng, mà
người ta ví von như khí thế hân hoan đổ dồn.
Chim Cổ Đỏ hót lời sầu muộn
(Robin). Nhà thơ thế kỷ thứ 18, William Cowper từng viết,
“Tiếng nhạc thỏ thẻ của loài
chim cổ đỏ êm dịu, nhưng quá yếu ớt gần như hãm giọng.”
Sở dĩ có lý do ấy vì âm điệu
của chim Cổ Đỏ thật sự bị đè nén, thậm chí hơi căng thẳng. Nhân cách hóa thì đó
là giọng nghẹn ngào (bittersweet).
Lôi cuốn và trong sáng là tiếng
chim Hát (Song Thrush) qua làn hơi dồi dào dồi dào hoàn toàn. Như nhà soạn nhạc,
chim Hát cho thấy nó có khuynh hướng hót một điệp khúc hai ba lần. Nó có hơi
hám phong phú khoảng 200 tiết điệu; do đó, khi hót âm điệu phát ra trong trẻo
và mạnh mẽ.
Bài đồng ca chào sáng
(Theo The British Library, London: The Language of
Birds - The Dawn Chorus)
Như được biết, chim thường
hót ríu rít khoảng 40 phút sau khi rạng đông. Trong các khu vườn tại miền tây
Anh Quốc vào đầu tháng Năm, chim Hát (Song Thrush) trổi giọng trước bình minh,
sau đó đến,
Cổ Đỏ / Robin
Ô Vũ / T. Merula
Hồng Tước / Wren Troglodytes
Chích Chòe Vườn / Garden
Warbler Sylvia Borin
Chích Chòe màu vàng xanh /
Chiffchaff
Se Sẻ Vườn / Hedge Sparrow
Prunella Modularis
Mai Hoa / Chaffinch
Chim hót không theo thứ tự
nhất định loài nào trước loài nào sau. Song, chúng hót theo lịch trình chính
xác riêng mình. Do đó, Hồng Tước (Wren), chim Cổ Ðỏ (Robin), chim Hát (Song
Thrush), Anh Vũ (Mistle Thrush) thường cất tiếng hót trước bình minh. Vì điều
khá thú vị của thiên nhiên như thế nên có câu, "Up with the lark and Rise
before cockcrow" (xin tạm dịch, Chiền Chiện kêu thì dậy trước gà gáy
sáng).
Có phải ngẫu nhiên mà chú gà
trống ò ó o như lên tiếng chào thổ địa và mời mọc gà mái? Tiếng gà gáy sáng,
tiếng chim mở đầu ngày được mệnh danh, <bài đồng ca buổi sáng>, thậm chí
<tiếng kinh cầu lúc bình minh> . Thật ra, tiếng chim hót được yêu mến như
bài quân ca, hoặc bản tình ca của kẻ đi tìm lẽ sống khi trời vừa ló chút ánh
sáng đầu ngày. Chút ánh sáng nhỏ nhoi chỉ đủ đưa đường, nhưng chưa đủ giúp sức
để tìm ra thức ăn. Do đó khi trời còn sương lạnh chim chóc chưa thật sự đi tìm
mồi. Chim hót chào bình minh ít được để ý, nhưng khá được quan tâm mỗi buổi chiều,
đặt biệt vào mùa Xuân ở Anh Quốc. Có thể nói, chim Hát (Song Thrush) có vẻ giữ
giọng vào thời gian nầy.
Tiếng chim hót vào buổi bình
minh và hoàng hôn nghe thú vị hơn. Ðiều hợp lý như thế nầy, khoảng thời gian ấy
không những trời vắng gió mà vạn vật khá yên tĩnh vì ít tiếng động (do thiên
nhiên hoặc do người). Vì hai nguyên do ấy, tiếng chim hót được ước tính chừng
20 lần vào buổi trưa.
Có khoảng 4000 tiếng chim
hót trong 53 họ chim khác nhau. Như chúng ta có thể tưởng tượng, từ giọng hót
đơn sơ nhất là giọng 2 nốt của Se Sẻ Ngô (Great Tit) đến giọng 103 nốt hát ít
nhất trong 8.25 giây của Hồng Tước (Wren). Nếu loài chim của những bài ca đơn
sơ có thể trổ tài như các loài chim chuyên hát nhạc khó thì đâu còn là thử
thách nữa.
Các nhà nghiên cứu chim đã
dùng máy vi âm thu tiếng chim tỏ tình để thử nghiệm xem trong khoảng bao lâu
chàng Chích Chòe Cói (Sedge Warbler) tán được người yêu. Kết quả cho thấy người
nào ca khá hơn chiếm cảm tình trước kẻ ít khả năng hơn.
Biểu hiện nầy cho thấy đó là
tiến trình chủ yếu về sự chọn lựa giữa giới tính loài chim. Chích Chòe Cói đấu
hót thật ra khác gì Công khoe đuôi, Phượng khoe cánh. Nếu chú chim là một chàng
Chích Chòe Cói và muốn chiếm con tim người yêu bằng mọi cách, chàng chỉ cần hót
thật đê mê. Tại Châu Mỹ, chim Nhài Nhại (Mockingbird) được biết không những có
khả năng quyến rũ chim mái mau hơn, mà địa hạt của nó cũng lớn hơn, khá hơn.
Nhài Nhại mái bị quyến rũ bởi giọng hót trau chuốt. Song, giọng hót chết người ấy
là mối đe dọa cho Nhài Nhại trống.
Chim có giao cảm với
âm nhạc hay không
(Theo The British Library, London: The Language of
Birds - do birds have a musical sense?)
Ngoài ca hót vì bản năng
sinh tồn, loài chim có ca hót để thỏa mãn niềm giao cảm về cái đẹp cho riêng
mình hay không? Từ 1958, lúc các nhà chuyên nghiên cứu về tư thái của thú vật
(Ethologists) còn bảo thủ khi nghe kẻ khác thuyết phục rằng thú vật có cảm giác,
William H. Thorpe đã viết,
“Tư tưởng cho rằng tiếng hót
của chim biểu hiện niềm hân hoan không đè nén nổi cần được nhận xét một cách đầy
đủ lý lẽ hơn. Tất nhiên, phải chứng minh rõ ràng thật khoa học. Như được biết từ
trước đến nay, có lẽ tiếng chim hót xem như bước đầu tiên biểu lộ tâm hồn nghệ
sĩ sáng tạo để bầy tỏ nỗi niềm của loài lông vũ."
Thật ra chỉ là điều đơn giản:
cái đẹp mỹ thuật tìm ẩn đè nén bên trong, Homo Sapiens, hoặc trống rỗng hoàn
toàn chẳng có gì. Do vạn vật tiến hóa không ngừng, loài thú cũng phát triển gần
với con người hơn; và đó là điểm có giá trị mà các nhà nghiên cứu nên dựa theo
để nêu ra những suy nghĩ, cũng như khám phá của mình. Hẳn nhiên, cầm thú đôi
lúc cũng có tính người (It is also true that much is uniquely human).
Vì sao giọng hát của ca sĩ lắm
khi không mang lại sự thỏa mãn cho niềm yêu thích cá nhân? Lẽ nào các nhà thơ
và các nhà nghiên cứu đều nhận xét không đúng. Hiện nay, một số khoa học gia
không đồng ý với tư tưởng cho rằng loài chim thật sự có giao cảm với cái đẹp của
âm nhạc. Họ bảo, chim hót chưa hẳn chỉ vì cái đẹp, mà chúng hót do tìm thấy cần
làm những điều đáng làm, những điều có lợi cho chúng. Họ đưa ra thật nhiều
nguyên do để chứng minh điều nầy. Trong bài hát của chim, rất nhiều loài xử dụng
âm điệu riêng biệt, khá phức tạp cho mình. Nếu chúng hót vì được lợi, vì bổn phận
nên làm, thì chỉ cần vài điệp khúc lèo tèo cũng xong việc.
Loài chim khi hót cũng vận dụng
những phương cách, kỹ thuật như các nhà soạn nhạc. Tiết tấu nhịp điệu khi
nhanh, lúc chậm, khi bổng, lúc trầm (Accelerando, Ritardando, Crescendo,
Diminuendo). Theo đó, một số nhà nghiên cứu cho rằng điều ấy đủ nói lên niềm
giao cảm của chim với âm nhạc. Họ đưa ra một số chứng minh khá thuyết phục như
qua cuộc quan sát thời gian tỏ tình của Ô Vũ (Blackbird) và Chích Chòe Liễu
(Willow Warbler). Sau khi chiếm con tim chim mái và củng cố địa hạt cho mình vững
chắc, chim trống vẫn tiếp tục hót. Như thế, đâu còn lý do chúng hót để sinh tồn
hoặc vì có lợi. Chúng cứ tiếp tục hót mãi chỉ vì tiếng hót tự nó mang đến sự cần
thiết riêng tư sâu xa hơn cho loài lông vũ.
Xin đưa ra một ví dụ gây ấn
tượng sâu sắc về giao cảm âm nhạc của loài chim. Tại Bavaria, Chiền Chiện Mão
(Crested Lark) bắt chước bốn tiếng huýt sáo của gã chăn cừu ra lệnh cho chú chó
của mình. Chiền Chiện Mão nghe tiếng huýt sáo liền hót theo. Song, không phải
chỉ lắp ráp lồng tiếng huýt sáo vào tiếng hót của mình, mà Chiền Chiện Mão thật
sự phối hợp hòa điệu để tất cả âm hưởng quyện vào nhau. Xin ghi ra đây câu nói
trực tiếp của Giáo Sư Erwin Tretzel,
“Loài chim xử dụng khá chính
xác thang âm của nốt C Trưởng. Nó hót tiếng huýt sáo của gã chăn cừu qua lối sắp
xếp cung bậc một cách cực kỳ có âm điệu rõ ràng, cho thấy niềm giao cảm lạ lùng
kinh dị của nó với âm nhạc, như tâm tư người ca sĩ đối với thể loại và quy thức
của bài bản."
Tiếng kêu của chim non
(Theo The British Library, London: The Language of
Birds - Calls of Young Birds)
Một trong những tiếng chim
gây xúc động nhất được chương trình Natural History Sound Archive của đài BBC
thu âm tại Suffolk vào tháng Năm, 1972 do Eric Simms thực hiện là tiếng kêu của
chim non.
(Natural History Sound
Archive; xin tạm dịch, khoa tàng giữ bản sắc âm thanh của thiên nhiên)
Eric Simms đặt máy vi âm vào
tổ Mỏ Nhát Ðá (Stone Curlew), loài chim chuyên giữ và ấp trứng của mình dưới đất
trống. Ổ trứng có hai quả trứng chim đến ngày nở, nhưng chưa gọi báo. Bên trong
quả trứng, chim non sẽ gọi mẹ để mẹ chim nghe. Mỏ Nhát Ðá cũng như các loài gà
vịt sẽ nở trứng trọn vẹn khi đến ngày phát triển hoàn toàn, và quá trình xảy ra
trong một ngày. Tất nhiên, trong khoảng thời gian nầy điều bất trắc có thể xảy
đến nếu mẹ chim đi tìm mồi hoặc kiếm chỗ trú xa. Sự liên lạc qua âm thanh giữa
chim non và mẹ chim do trời sinh để chúng nhận được tiếng gọi của nhau trước
khi chim non có thể tự mình cất cánh, cũng như mẹ con tìm được nhau giữa vùng
cây cối um tùm. Loài vịt trời có thể đẻ một lứa 10 hoặc hơn 20 con; do đó, điều
kiện để mẹ con cùng nhau là điều khá phức tạp.
Tiếng lách cách đột ngột
vang lên từ bên vỏ trứng chưa nở của gia cầm cũng như các loài lông vũ khác cho
biết tín hiệu trứng sắp nở, do chim non gõ vào vỏ. Song, hiện nay người ta hiểu
rằng tiếng động ấy không phải do chim non gõ vào vỏ trứng hoặc gọi mẹ, mà tiếng
lách cách ấy do phổi hô hấp để tiếp nhận không khí. Tiếng động đưa ra nhịp
nhàng vì chim non thở, và nó phối hợp cùng lúc trứng nở. Ðiều nầy rất quan trọng
để bố mẹ chim giữ đủ lứa cho tất cả nở cùng lúc. Ví dụ, 16 trứng Gà Gô Xám
(Grey Partridge), 12 trứng Vịt Trời (Mallard), hoặc 8 trứng Cút (Quail) sẽ
không được ủ ấm vì mục đích của quá trình ấp cho đến khi ấp quả trứng cuối
cùng. Cuộc thử nghiệm chim Cút cho thấy thời kỳ nở trứng của nó kéo dài 48 tiếng;
có nghĩa, quả trứng đầu tiên sẽ nằm chờ đúng hai ngày, đến khi quả trứng cuối
cùng của lứa ấy chuẩn bị nở. Kỳ diệu thay, mối phức tạp nầy được hóa giải do
chim non biết gọi nhau từ bên trong vỏ trứng để chúng có thể nở cùng lúc trọn vẹn
trong thời gian chỉ 6 tiếng.
Chim mới nở vô cùng mỏng
manh chưa tự lực nổi nên cần chăm sóc triệt để; do đó, bố mẹ chim thay nhau mớm
mồi cho con. Tất nhiên, không phải chỉ qua cái ngáp yếu ớt ra tín hiệu của chim
non, mà còn từ tiếng oe oe thút thít khóc đòi. Trong số các loài lông vũ, chim
Mai Hoa (Chaffinch), chim Gõ Kiến (Woodpecker), chim Bói Cá (Kingfisher), và Ðại
Bàng lông vàng (Eagles) thường vòi ăn bằng tiếng khóc nỉ non.
(Theo The British Library, London: The Language of
Birds - Calls as Deceitful Mimicry)
Trong những tiếng kêu riêng
biệt của các loài chim từ Chích Choè Trời ở Châu Âu (Wild Marsh Warbler), Nhài
Nhại ở Bắc Mỹ (Mockingbird), Lia Lia ở Úc (Lyre bird) và chim Cổ Đỏ ở Châu Phi
(Robin), ước tính toàn cầu giới hạn trong khoảng vài trăm loại. Tại Châu Âu, có
khoảng 30/400 loài chim có tài nhại tiếng kêu của loài khác. Do đó, người ta gọi
là tài bắt chước (mimicry). Danh từ nầy chỉ phù hợp như tự điển ghi chú “sao bản
tỉ mỉ từng phút” vì nó không bao hàm ý nghĩa Sinh Vật Học của mánh khoé giả dối
nầy. Tài nhại ở loài bướm đánh vào thị giác. Tất nhiên, qua quá trình phát triển
khá dài để từ loài bướm kém quyến rũ trở nên quyến rũ hòng đánh lừa con mồi.
Một trong những chứng minh
khá thú vị về loài lông vũ có tài nhại, như Nhạn Mỏ Dầy (Thick Billed Euphonia
Laniirostris) thường bắt chước tiếng báo động của chim trong vùng nó ở, khi ổ
nó bị tấn công. Nhạn Mỏ Dầy kêu cầu cứu hòng giữ tổ bằng cách gọi đồng minh đến
chống lại địch thủ, trong khi nó ẩn trốn nơi an toàn ! Nhà nghiên cứu chim người
Mỹ, Eugene Morton từng đến gần ổ Nhạn Mỏ Dầy; có nghĩa, ông đang trong vai trò
kẻ săn mồi. Nhạn Mỏ Dầy thay vì gọi báo động bằng tiếng mẹ đẻ của mình, nó thất
thanh cất tiếng chim khác. Tất nhiên, Morton liền bị hai chú chim khác họ với
Nhạn Mỏ Dầy tấn công. Trong khi ấy, chủ nhân chim chiếc ổ mà Morton quấy rầy, ẩn
trú vào xó kín và vẫn tiếp tục kêu la thảm thiết. Chim Giẻ ở Châu Âu (Jay
Garrulus Glandarius) và chim Cổ Ðỏ ở Phi Châu (Robin) cũng nổi danh qua tiếng
kêu nhại để cầu cứu khi gặp nguy cơ.
Chim Ðuôi Nĩa (Drongo) ở Phi
Châu thường nhại tiếng huýt sáo của gã chăn cừu để lừa đối phương. Kết quả, gạt
được con mồi ra xa vì hắn lầm tưởng gã chăn cừu đang có mặt nơi ấy. Chim Ðuôi
Nĩa hiểu con mồi của nó (Diều Hâu/Hawk) luôn tránh loài người; do đó, nó gây ngộ
nhận cho con mồi cảm giác có người ở đấy vì Diều Hâu nhận được hiện diện của gã
chăn cừu qua tiếng huýt sáo. Ví dụ thứ hai cho thấy chim Vĩ (Bowerbird
Ptilonorhynchus Violaceus) tại Úc và New Guinea, trước thời gian giao cấu thường
phô trương ưu thế của mình bằng những tiếng hót nhại từ chim khác như Quạ Ðen
(Raven Corvus Coronoides) và chim Bói Cá miền Nam Úc (Kookaburra Dacelo
Novaeguineae). Ðó là hai loài chim chuyên trộm trứng và chim non.
Cùng kế ấy, Nhài Nhại
(Mockingbird) luôn tránh kẻ thù bằng cách lồng tiếng chim Giẻ Xanh (Blue Jay)
vào giọng hót của mình. Vì sao chim Vĩ và Nhại Nhại không bắt chước tiếng hót của
địch thủ cho đơn giản ? Có lẽ vì theo quy luật nhà chim. Hoặc giả, chim Vĩ và
Nhài Nhại muốn dùng tiếng của loài chim hung hăng dữ tợn để giữ các chim Vĩ và
Nhài Nhại khác trong vòng ngoại cuộc. Nói cách khác, hòng đồng loại được yên vị
tại ổ với tiếng hót của riêng mình.
Một trong số các trường hợp
nhại tiếng hót để đánh lừa đối phương đáng chú ý nhất là cuộc quan sát chim Ưng
lưng màu đá xám đen tại Panama (Falcon Slaty Back). Chim Ưng dùng âm thanh
thính giác để nhử mồi trong phạm vi của nó. Loài chim ấy thường ẩn mình vào nơi
thích hợp, rồi nhại lên tiếng chim đau đớn bi ai, sau đó ... ăn thịt con mồi.
Lắm khi chỉ trong cự ly đủ tầm nhìn, nó nhào bổ xuống, vồ ăn con mồi vô cùng dã man. Hình ảnh, cách ứng xử nầy được nhà nghiên cứu chim người Anh, Neal G. Smith quan sát tường tận. Neal còn đưa ra ví dụ khác, Ðại Bàng (Crowned Eagle) có thể huýt tiếng sáo y như khỉ để lùa khỉ vào chỗ chết. Song, cho dù được Phi Châu xác nhận điều nầy, nhưng chưa đủ để người khác nhìn nhận sự việc có thật.
Lắm khi chỉ trong cự ly đủ tầm nhìn, nó nhào bổ xuống, vồ ăn con mồi vô cùng dã man. Hình ảnh, cách ứng xử nầy được nhà nghiên cứu chim người Anh, Neal G. Smith quan sát tường tận. Neal còn đưa ra ví dụ khác, Ðại Bàng (Crowned Eagle) có thể huýt tiếng sáo y như khỉ để lùa khỉ vào chỗ chết. Song, cho dù được Phi Châu xác nhận điều nầy, nhưng chưa đủ để người khác nhìn nhận sự việc có thật.
Chim Biểu Tượng của
các Tiểu Bang, tại Hoa Kỳ
(Chỉ kể những loài chim biết
hót)
1:00
|
- Cổ Đỏ / American
Robin
|
: Connecticut, Michigan,
Wisconsin
|
|
2:00
|
- Nhài Nhại /
Northern Mockingbird
|
: Arkansas, Florida,
Mississippi, Tennessee, Texas
|
|
6:00
|
- Vàng Anh /
Baltimore Oriole *
|
: Maryland
|
|
8:00
|
- Se Sẻ Mão Ðen /
Black Capped Chickadee
|
: Maine, Massachusetts
|
|
9:00
|
- Bắc Hồng Y /
Northern Cardinal
|
: Illinois, Indiana, Kentucky, North Carolina, Ohio, Virginia, West Virginia |
Đội Bóng Chày Baltimore
Orioles
Một trong những đội bóng
chày tuyển thủ vùng Bắc Mỹ, Hoa Kỳ và Gia Nã Đại nói riêng (MLB, Major League
Baseball), đội bóng chày tiểu bang Maryland lấy tên loài chim Baltimore Orioles
làm tên và biểu tượng cho đội nhà từ 1893. Đến 1900, đội Baltimore Orioles trở
nên thành viên chính thức của American League (một trong hai khối thuộc Liên
Đoàn Bóng Chày vùng Bắc Mỹ, MLB: American League và National League). Sân nhà của
đội Baltimore Orioles đóng tại Camden Yards, Baltimore từ 1989. Sau lần trùng
tu vào ngày 6 tháng 4, 1992, cuộc tranh cãi bao quanh vấn đề nên dùng tên
Oriole Park hoặc Camden Yards cho sân banh mới, và mọi người đồng quyết định
dùng cả hai tên.
Phụ chú:
Tài liệu trong bài nầy rút từ
các trang nhà trên. Dù đã ghi đầy đủ địa chỉ để người đọc có thể tham chiếu,
người dịch cũng xin thành thật cáo lỗi nếu trang nhà ấy không còn hoạt động nữa.
Bài dịch trên đây được sự chấp
thuận của Ban Biên Tập trang nhà,
Nguyệt Trinh








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét