Thứ Ba, 10 tháng 5, 2016

Ngôn ngữ của loài chim


Ngôn ngữ của loài chim 
Như con người, chim cũng thừa khả năng sinh tồn, biết tìm nơi di trú: đất lành chim đậu. Hơn hẳn thế, chim hót vì lẽ sống của tâm hồn. - Nguyệt Trinh.   
Phần giới thiệu 
Theo The British Library, London: The language of Birds Introduction.
Ngôn ngữ của loài chim là âm thanh do chúng tạo ra để liên lạc cùng đồng loại. Ngôn ngữ của con người thể hiện cách xử dụng âm thanh theo phong tục tập quán ... của một nền văn hóa, nói chung. Mang âm thanh vào ngôn ngữ giúp con người diễn đạt tư tưởng một cách khái quát, cũng như truyền thụ nỗi niềm về quá khứ hoặc tương lai. Đặc tính nầy chỉ có một số loài cầm thú làm được. Tất nhiên, ác điểu không hề có khả năng nầy (wild bird). Tiếng chim hót, tiếng chim kêu đều từ mục đích để chúng liên lạc trực tiếp với đồng loại, tương tự như con người khi muốn bầy tỏ tâm tư hoặc truyền đạt ý nghĩ. Song, không hẳn chúng ta chỉ dùng lời nói, mà còn biểu hiện qua tiếng nấc, tiếng la, tiếng lẩm bẩm càu nhàu, tiếng thở dài, v.v… thậm chí giọng điệu cao thấp nặng nhẹ khi nói. Tiếng chim hót, tiếng chim kêu chim kêu biểu lộ cảm giác của chúng. Không những thế, nó còn nói lên tâm trạng của loài lông vũ. Do đó, ta không thể phủ nhận khi cho rằng cầm thú chẳng biết diễn đạt nội tâm một cách trung thực. Trong vô số tiếng chim kêu, có những tiếng giống như từ ngữ của loài người dùng trong các trường hợp cực kỳ đặc biệt. Ví dụ, tiếng chim kêu la khi gặp nguy, báo động lúc đối phương tấn công.
Một trong những tiếng chim được chú ý nhất là tiếng chim hót. Thậm chí, con người hẳn nhiên công nhận nó có tiết tấu âm nhạc nhất trong tất cả tiếng động của thiên nhiên. Percy Scholes, tác giả biên soạn quyển the Oxford Companion to Music từng khẳng định,
“Đối với con người, chắc hẳn chỉ có loài chim là nhà nhạc sĩ của tạo hóa.”
Percy Scholes đưa ra câu nói vào 1938; tức là, trước khi máy ghi âm, máy hát, đài truyền thanh, v.v... có cơ hội mang đến cho loài người tất cả âm thanh phát ra từ côn trùng, ếch nhái, cũng như các động vật có vú khác (mammals). Hơn hẳn thế, lời khẳng định của Percy Scholes đi trước cả khi <ngành nghiên cứu về âm thanh của sinh vật một cách tỉ mỉ tinh tường> được chú ý khoảng nửa thế kỷ sau đó.
Có một số côn trùng tạo ra những âm thanh rất thú vị. Đáng chú ý nhất là loài dế nhũi (Mole Cricket Gryllotalpidae). Còn có âm điệu du dương êm ái vào đêm của ếch nhái, lắm khi nghe trội hơn cả tiếng chim hót. Thậm chí, loài ếch có tiếng kêu lảnh lót như chim được mang tên chính thức Hyla Avivoca. Ngoài ra, vượn cụt đuôi tại Đông Nam Á (Gibbon Hylobatidae) được chọn làm <chim danh dự> do tiếng khóc nỉ non rất xúc động của nó, dù lắm lúc nghe thật man dại. Trong những tiếng kêu đáng chú ý, nên kể đến loài cá voi, đặc biệt cá voi có bứu.
Qua bao nhiêu khả năng khá đặc biệt của cầm thú, loài chim ắt hẳn không được xem như nhà nhạc sĩ độc nhất. Song, tiếng hót của chúng đối với con người vẫn tiêu biểu cho làn âm nhạc tuyệt vời của thiên nhiên; cho dù, tiếng chim hót, tiếng chim kêu chỉ để chúng liên lạc cùng đồng loại. Tiếng chim hót được xếp vào một thể loại. Tiếng chim kêu, tất nhiên nằm trong phạm trù khác. Tiếng chim hót thường xảy ra vào mùa gây giống, và chỉ do chim trống hót. Do đó, tiếng hót khá ồn, luôn được lặp đi lặp lại nhiều lần một cách bền bỉ. Lắm lúc chim trống hót những giai điệu réo rắt phức tạp. Trong khi ấy, tiếng chim kêu đều do cả hai giống trống mái nhà chim cất tiếng gọi. Tiếng chim kêu thường ngắn gọn, có tính cách tổng quát về mục đích cấp thời.
Nói chung, ngôn ngữ của một số loài chim được con người nghiên cứu thích đáng, đủ giúp nhân loại hiểu trong phạm vi chừng mực. Ngôn ngữ của chim Mai Hoa (Chaffinch's Fringilla Coelebs) ngoài những tiếng hót chính và tiếng hót phụ, còn bao gồm cả chín tiếng chim kêu khác nhau. Se Sẻ Ngô trống (Great Tit Parus Major) có thể xử dụng 26 tiếng kêu để ra hiệu. Trong khi ấy, chim Trích (Herring Gull Larus Argentatus) than oán bằng bảy cách khác nhau để bầy tỏ cảm tưởng.
Cảm nhận của con người về Tiếng chim hót
(Theo The British Library, London: The Language of Birds - Human Appreciation of Birdsong)
Theo một số nhận xét, tiếng chim hót gợi lên điều tuyệt đẹp. Vì lẽ ấy, con người đã tự mình tạo nên âm nhạc. Trong vô số tiếng chim hót, có những âm thanh mà ta gần như không thể phân biệt nổi với âm thanh phát ra từ nhạc cụ. Như tiếng chim Hồng Tước ở Nam Mỹ (Wren) mang âm điệu trong sáng và tiết tấu khá thú vị gần như trội hơn cả nhạc của con người. Còn có giai điệu lạ của loài Hồng Tước tại đảo New Guinea, Tây Nam Thái Bình Dương, phía bắc Úc Ðại Lợi. Nếu người nghe không quen, sẽ ngỡ tiếng phát ra từ kẻ đang thổi sáo. Ðó là hai loài chim hát nhạc buồn, nhịp khúc êm dịu khoan thai. Ðể tận hưởng hết âm điệu của loài Mai Anh (Myadestes) đơn sắc xám tại vùng rừng nhiều mây ở Mexico, người thưởng ngoạn nên thả hết tâm tư vào cung nhạc chầm chậm. Nhà nghiên cứu chim (Ornithologist) từng đi nhiều nơi trên thế giới, Frank M. Chapman, miêu tả tiếng hót của loài lông vũ nầy như sau,
“Ðó là điệu nhạc tuyệt vời nhất.”
Tất nhiên, nhận định nầy không những tùy thuộc vào sự đánh giá về khả năng tạo ra nhạc điệu khi hót của loài lông vũ qua cảm nhận từ người nghe, mà còn do niềm yêu thích chọn lựa riêng rất cá nhân.
Chất giọng nguyên thủy của chim, có thể nói là yếu tố hàng đầu để đánh giá mức độ âm nhạc của loài lông vũ. Ví dụ, chim Ô Vũ (Blackbird) và chim Cổ Ðỏ (Robin) tạo nên âm điệu khi hót, trong khi loài Quạ (Crow/Rook) chỉ gây ra tiếng động. Do đó, người nghe cần phân biệt đâu là giai điệu du dương theo trình tự và khuôn khổ của từng bậc âm thanh. Tiếng chim hót không chỉ là những nốt nhạc được xướng lên một cách cẩu thả vô thứ tự trong lúc ngẩu hứng; cũng không phải là sự lập lại vanh vẹt một cách máy móc. Mà ngược lại, loài lông vũ biết hát tự nó cấu tạo âm thanh nhạc điệu theo trình thức cung bậc hẳn hòi; do đó, có những loài mang cho mình âm điệu đặc biệt lôi cuốn hơn.
Cảm nhận và giám định của con người về âm nhạc trong tiếng hót của loài chim đã bắt đầu khoảng 200 năm. Trong lá thư Daines Barrington trả lời Gilbert White ở Selborne, Daines đưa ra 20 khía cạnh âm nhạc khác nhau từ tiếng chim hót. Chiền Chiện Trời (Skylark) dẫn đầu 19/20 về tiết điệu vui vẻ, 18 điểm do cách hót, 18 điểm nữa do tầm vóc âm nhạc. Chỉ có 4/20 loài lông vũ xứng đáng được thẩm định là có giọng ca ngọt ngào. Trong số ấy, một loài Chiền Chiện khác được điểm 18/20 về chất giọng ngọt ngào nầy.
Nếu 100 người Anh yêu mến chim cần đơn cữ 20 loài lông vũ xứ Anh biết hót về khía cạnh âm nhạc, hầu như tất cả đều chọn Chiền Chiện Rừng (Woodlark) lên bảng vàng của mình. Riêng giáo sư Jeffery Boswall (tác giả bài nghiên cứu nầy), danh sách của ông như sau:
Sơn Ca, Nightingale Luscinia Megarhynchos
Chiền Chiện trống Mão Ðen, Black Cap Sylvia Atricapilla
Ô Vũ, Blackbird Turdus Merula
Chiền Chiện Rừng, Woodlark Lullula Arborea
Anh Vũ, Mistle Thrush Turdus Viscivorus
Chiền Chiện Trời, Skylark Alauda Arvensis
Chim Cổ Đỏ, Robin Erithacus Rubecula
Chim Hát, Song Thrush Turdus Philomelus
Hồng Tước, Wren Troglodytes
Chích Chòe Ruộng, Marsh Warbler Acrocephalus Palustris
Chích Chòe Vườn, Garden Warbler Sylvia Borin
Se Sẻ Vườn, Hedge Sparrow Prunella Modularis
Se Sẻ Đồng, Tree Pipit Anthus Trivialis
Chích Chòe Liễu, Willow Warbler Phylloscopus Trochilus
Phụng Hoàng Đuôi Đỏ, Redstart Phoenicurus
Chích Chòe Cói, Sedge Warbler Acrocephalus Schoenobaenus
Cú Đen, Tawny Owl Strix Aluco
Mỏ Nhát, Curlew Numenius Arquata
Mai Hoa, Chaffinch Fringilla Coelebs
Se Sẻ Ngô, Great Tit Parus Major
Trong những tiếng hót của chim Châu Âu, xưa nay tiếng Sơn Ca (Nightingale) được chấm nhất. Một số đông các nhà nghiên cứu chim dựa vào giọng hót sung sức và mãnh liệt của nó bèn trìu mến chấm ưu hạng về làn Pop của loài lông vũ. Gần 2000 năm trước, Pliny the Elder, nhà bách khoa La Mã (còn gọi là Caius Plinius Secundus, 23-79) tác giả quyển Natural History đã viết,
“Không có tiếng sáo tiếng tiêu, hoặc bất cứ âm cụ nào trên thế giới có khả năng âm nhạc hơn nhạc điệu phát ra từ chiếc cổ bé nhỏ của chú chim xinh xắn nầy.”
Trong khi ấy, nhà thơ Anh Alfred Tennyson (1809-1892) chỉ nói một cách đơn giản,
“Nhạc điệu của trăng ngủ trong quả trứng đơn sơ của Sơn Ca.”
Chiền Chiện trống mão đen (Blackcap) hót với kỹ thuật âm nhạc xem như vô đối thủ. Tiếng hót của nó không bao giờ khiến người nghe chói tai vì nó tài tình trong cách hót và chuyển giọng. Có thể nói, đây là một trong những giọng ca đầy sức quyến rũ và không hề biết mệt mỏi.
Giữa những loài chim, Ô Vũ (Blackbird) được mệnh danh là Beethoven. Chim trống không những hót thật lâu, mà còn sắp đặt tiết tấu tuyệt vời theo trình thức rõ ràng giữa thời gian và âm điệu. Kết quả là giòng nhạc ngọt ngào êm như tiếng sáo. Chính trị gia đồng thời là nhà văn người Anh, Joseph Addison (1672-1719) từng viết,
“Tôi quý khu vườn nhà vì nó có nhiều chim Ô Vũ hơn cây Anh Đào. Nó thật sự cho tôi thu hoạch hoa thơm trái chín từ tiếng chim hót.
Như từng gợi ý trước, nhiều nhà bình luận đánh giá tiếng hót Chiền Chiện Rừng (Woodlark) đứng số một về sự tuyệt vời của độ ngân hoàn hảo.
Tiếng Anh Vũ (Mistle Thrush) dễ bị lầm với tiếng Ô Vũ (Blackbird). Tuy nhiên, tiếng nhạc Anh Vũ pha một chút the thé. Tuy hơi chói tai, nhưng nhạc điệu có hồn, xứng đáng đứng hạng Năm.
Hạng Sáu dành cho Chiền Chiện Trời (Skylark) qua giai điệu dồi dào tiếng sáo trầm bổng vi vu không ngừng, mà người ta ví von như khí thế hân hoan đổ dồn.
Chim Cổ Đỏ hót lời sầu muộn (Robin). Nhà thơ thế kỷ thứ 18, William Cowper từng viết,
“Tiếng nhạc thỏ thẻ của loài chim cổ đỏ êm dịu, nhưng quá yếu ớt gần như hãm giọng.”
Sở dĩ có lý do ấy vì âm điệu của chim Cổ Đỏ thật sự bị đè nén, thậm chí hơi căng thẳng. Nhân cách hóa thì đó là giọng nghẹn ngào (bittersweet).
Lôi cuốn và trong sáng là tiếng chim Hát (Song Thrush) qua làn hơi dồi dào dồi dào hoàn toàn. Như nhà soạn nhạc, chim Hát cho thấy nó có khuynh hướng hót một điệp khúc hai ba lần. Nó có hơi hám phong phú khoảng 200 tiết điệu; do đó, khi hót âm điệu phát ra trong trẻo và mạnh mẽ.
Bài đồng ca chào sáng  
(Theo The British Library, London: The Language of Birds - The Dawn Chorus)
Như được biết, chim thường hót ríu rít khoảng 40 phút sau khi rạng đông. Trong các khu vườn tại miền tây Anh Quốc vào đầu tháng Năm, chim Hát (Song Thrush) trổi giọng trước bình minh, sau đó đến,
Cổ Đỏ / Robin
Ô Vũ / T. Merula
Hồng Tước / Wren Troglodytes
Chích Chòe Vườn / Garden Warbler Sylvia Borin
Chích Chòe màu vàng xanh / Chiffchaff
Se Sẻ Vườn / Hedge Sparrow Prunella Modularis
Mai Hoa / Chaffinch
Chim hót không theo thứ tự nhất định loài nào trước loài nào sau. Song, chúng hót theo lịch trình chính xác riêng mình. Do đó, Hồng Tước (Wren), chim Cổ Ðỏ (Robin), chim Hát (Song Thrush), Anh Vũ (Mistle Thrush) thường cất tiếng hót trước bình minh. Vì điều khá thú vị của thiên nhiên như thế nên có câu, "Up with the lark and Rise before cockcrow" (xin tạm dịch, Chiền Chiện kêu thì dậy trước gà gáy sáng).
Có phải ngẫu nhiên mà chú gà trống ò ó o như lên tiếng chào thổ địa và mời mọc gà mái? Tiếng gà gáy sáng, tiếng chim mở đầu ngày được mệnh danh, <bài đồng ca buổi sáng>, thậm chí <tiếng kinh cầu lúc bình minh> . Thật ra, tiếng chim hót được yêu mến như bài quân ca, hoặc bản tình ca của kẻ đi tìm lẽ sống khi trời vừa ló chút ánh sáng đầu ngày. Chút ánh sáng nhỏ nhoi chỉ đủ đưa đường, nhưng chưa đủ giúp sức để tìm ra thức ăn. Do đó khi trời còn sương lạnh chim chóc chưa thật sự đi tìm mồi. Chim hót chào bình minh ít được để ý, nhưng khá được quan tâm mỗi buổi chiều, đặt biệt vào mùa Xuân ở Anh Quốc. Có thể nói, chim Hát (Song Thrush) có vẻ giữ giọng vào thời gian nầy.
Tiếng chim hót vào buổi bình minh và hoàng hôn nghe thú vị hơn. Ðiều hợp lý như thế nầy, khoảng thời gian ấy không những trời vắng gió mà vạn vật khá yên tĩnh vì ít tiếng động (do thiên nhiên hoặc do người). Vì hai nguyên do ấy, tiếng chim hót được ước tính chừng 20 lần vào buổi trưa.
Có khoảng 4000 tiếng chim hót trong 53 họ chim khác nhau. Như chúng ta có thể tưởng tượng, từ giọng hót đơn sơ nhất là giọng 2 nốt của Se Sẻ Ngô (Great Tit) đến giọng 103 nốt hát ít nhất trong 8.25 giây của Hồng Tước (Wren). Nếu loài chim của những bài ca đơn sơ có thể trổ tài như các loài chim chuyên hát nhạc khó thì đâu còn là thử thách nữa.
Các nhà nghiên cứu chim đã dùng máy vi âm thu tiếng chim tỏ tình để thử nghiệm xem trong khoảng bao lâu chàng Chích Chòe Cói (Sedge Warbler) tán được người yêu. Kết quả cho thấy người nào ca khá hơn chiếm cảm tình trước kẻ ít khả năng hơn.
Biểu hiện nầy cho thấy đó là tiến trình chủ yếu về sự chọn lựa giữa giới tính loài chim. Chích Chòe Cói đấu hót thật ra khác gì Công khoe đuôi, Phượng khoe cánh. Nếu chú chim là một chàng Chích Chòe Cói và muốn chiếm con tim người yêu bằng mọi cách, chàng chỉ cần hót thật đê mê. Tại Châu Mỹ, chim Nhài Nhại (Mockingbird) được biết không những có khả năng quyến rũ chim mái mau hơn, mà địa hạt của nó cũng lớn hơn, khá hơn. Nhài Nhại mái bị quyến rũ bởi giọng hót trau chuốt. Song, giọng hót chết người ấy là mối đe dọa cho Nhài Nhại trống.
Chim có giao cảm với âm nhạc hay không 
(Theo The British Library, London: The Language of Birds - do birds have a musical sense?)
Ngoài ca hót vì bản năng sinh tồn, loài chim có ca hót để thỏa mãn niềm giao cảm về cái đẹp cho riêng mình hay không? Từ 1958, lúc các nhà chuyên nghiên cứu về tư thái của thú vật (Ethologists) còn bảo thủ khi nghe kẻ khác thuyết phục rằng thú vật có cảm giác, William H. Thorpe đã viết,
“Tư tưởng cho rằng tiếng hót của chim biểu hiện niềm hân hoan không đè nén nổi cần được nhận xét một cách đầy đủ lý lẽ hơn. Tất nhiên, phải chứng minh rõ ràng thật khoa học. Như được biết từ trước đến nay, có lẽ tiếng chim hót xem như bước đầu tiên biểu lộ tâm hồn nghệ sĩ sáng tạo để bầy tỏ nỗi niềm của loài lông vũ."
Thật ra chỉ là điều đơn giản: cái đẹp mỹ thuật tìm ẩn đè nén bên trong, Homo Sapiens, hoặc trống rỗng hoàn toàn chẳng có gì. Do vạn vật tiến hóa không ngừng, loài thú cũng phát triển gần với con người hơn; và đó là điểm có giá trị mà các nhà nghiên cứu nên dựa theo để nêu ra những suy nghĩ, cũng như khám phá của mình. Hẳn nhiên, cầm thú đôi lúc cũng có tính người (It is also true that much is uniquely human).
Vì sao giọng hát của ca sĩ lắm khi không mang lại sự thỏa mãn cho niềm yêu thích cá nhân? Lẽ nào các nhà thơ và các nhà nghiên cứu đều nhận xét không đúng. Hiện nay, một số khoa học gia không đồng ý với tư tưởng cho rằng loài chim thật sự có giao cảm với cái đẹp của âm nhạc. Họ bảo, chim hót chưa hẳn chỉ vì cái đẹp, mà chúng hót do tìm thấy cần làm những điều đáng làm, những điều có lợi cho chúng. Họ đưa ra thật nhiều nguyên do để chứng minh điều nầy. Trong bài hát của chim, rất nhiều loài xử dụng âm điệu riêng biệt, khá phức tạp cho mình. Nếu chúng hót vì được lợi, vì bổn phận nên làm, thì chỉ cần vài điệp khúc lèo tèo cũng xong việc.
Loài chim khi hót cũng vận dụng những phương cách, kỹ thuật như các nhà soạn nhạc. Tiết tấu nhịp điệu khi nhanh, lúc chậm, khi bổng, lúc trầm (Accelerando, Ritardando, Crescendo, Diminuendo). Theo đó, một số nhà nghiên cứu cho rằng điều ấy đủ nói lên niềm giao cảm của chim với âm nhạc. Họ đưa ra một số chứng minh khá thuyết phục như qua cuộc quan sát thời gian tỏ tình của Ô Vũ (Blackbird) và Chích Chòe Liễu (Willow Warbler). Sau khi chiếm con tim chim mái và củng cố địa hạt cho mình vững chắc, chim trống vẫn tiếp tục hót. Như thế, đâu còn lý do chúng hót để sinh tồn hoặc vì có lợi. Chúng cứ tiếp tục hót mãi chỉ vì tiếng hót tự nó mang đến sự cần thiết riêng tư sâu xa hơn cho loài lông vũ.
Xin đưa ra một ví dụ gây ấn tượng sâu sắc về giao cảm âm nhạc của loài chim. Tại Bavaria, Chiền Chiện Mão (Crested Lark) bắt chước bốn tiếng huýt sáo của gã chăn cừu ra lệnh cho chú chó của mình. Chiền Chiện Mão nghe tiếng huýt sáo liền hót theo. Song, không phải chỉ lắp ráp lồng tiếng huýt sáo vào tiếng hót của mình, mà Chiền Chiện Mão thật sự phối hợp hòa điệu để tất cả âm hưởng quyện vào nhau. Xin ghi ra đây câu nói trực tiếp của Giáo Sư Erwin Tretzel,
“Loài chim xử dụng khá chính xác thang âm của nốt C Trưởng. Nó hót tiếng huýt sáo của gã chăn cừu qua lối sắp xếp cung bậc một cách cực kỳ có âm điệu rõ ràng, cho thấy niềm giao cảm lạ lùng kinh dị của nó với âm nhạc, như tâm tư người ca sĩ đối với thể loại và quy thức của bài bản."
Tiếng kêu của chim non  
(Theo The British Library, London: The Language of Birds - Calls of Young Birds)
Một trong những tiếng chim gây xúc động nhất được chương trình Natural History Sound Archive của đài BBC thu âm tại Suffolk vào tháng Năm, 1972 do Eric Simms thực hiện là tiếng kêu của chim non.
(Natural History Sound Archive; xin tạm dịch, khoa tàng giữ bản sắc âm thanh của thiên nhiên)
Eric Simms đặt máy vi âm vào tổ Mỏ Nhát Ðá (Stone Curlew), loài chim chuyên giữ và ấp trứng của mình dưới đất trống. Ổ trứng có hai quả trứng chim đến ngày nở, nhưng chưa gọi báo. Bên trong quả trứng, chim non sẽ gọi mẹ để mẹ chim nghe. Mỏ Nhát Ðá cũng như các loài gà vịt sẽ nở trứng trọn vẹn khi đến ngày phát triển hoàn toàn, và quá trình xảy ra trong một ngày. Tất nhiên, trong khoảng thời gian nầy điều bất trắc có thể xảy đến nếu mẹ chim đi tìm mồi hoặc kiếm chỗ trú xa. Sự liên lạc qua âm thanh giữa chim non và mẹ chim do trời sinh để chúng nhận được tiếng gọi của nhau trước khi chim non có thể tự mình cất cánh, cũng như mẹ con tìm được nhau giữa vùng cây cối um tùm. Loài vịt trời có thể đẻ một lứa 10 hoặc hơn 20 con; do đó, điều kiện để mẹ con cùng nhau là điều khá phức tạp.
Tiếng lách cách đột ngột vang lên từ bên vỏ trứng chưa nở của gia cầm cũng như các loài lông vũ khác cho biết tín hiệu trứng sắp nở, do chim non gõ vào vỏ. Song, hiện nay người ta hiểu rằng tiếng động ấy không phải do chim non gõ vào vỏ trứng hoặc gọi mẹ, mà tiếng lách cách ấy do phổi hô hấp để tiếp nhận không khí. Tiếng động đưa ra nhịp nhàng vì chim non thở, và nó phối hợp cùng lúc trứng nở. Ðiều nầy rất quan trọng để bố mẹ chim giữ đủ lứa cho tất cả nở cùng lúc. Ví dụ, 16 trứng Gà Gô Xám (Grey Partridge), 12 trứng Vịt Trời (Mallard), hoặc 8 trứng Cút (Quail) sẽ không được ủ ấm vì mục đích của quá trình ấp cho đến khi ấp quả trứng cuối cùng. Cuộc thử nghiệm chim Cút cho thấy thời kỳ nở trứng của nó kéo dài 48 tiếng; có nghĩa, quả trứng đầu tiên sẽ nằm chờ đúng hai ngày, đến khi quả trứng cuối cùng của lứa ấy chuẩn bị nở. Kỳ diệu thay, mối phức tạp nầy được hóa giải do chim non biết gọi nhau từ bên trong vỏ trứng để chúng có thể nở cùng lúc trọn vẹn trong thời gian chỉ 6 tiếng.
Chim mới nở vô cùng mỏng manh chưa tự lực nổi nên cần chăm sóc triệt để; do đó, bố mẹ chim thay nhau mớm mồi cho con. Tất nhiên, không phải chỉ qua cái ngáp yếu ớt ra tín hiệu của chim non, mà còn từ tiếng oe oe thút thít khóc đòi. Trong số các loài lông vũ, chim Mai Hoa (Chaffinch), chim Gõ Kiến (Woodpecker), chim Bói Cá (Kingfisher), và Ðại Bàng lông vàng (Eagles) thường vòi ăn bằng tiếng khóc nỉ non.
Tiếng kêu lừa dối  
(Theo  The British Library, London: The Language of Birds - Calls as Deceitful Mimicry)
Trong những tiếng kêu riêng biệt của các loài chim từ Chích Choè Trời ở Châu Âu (Wild Marsh Warbler), Nhài Nhại ở Bắc Mỹ (Mockingbird), Lia Lia ở Úc (Lyre bird) và chim Cổ Đỏ ở Châu Phi (Robin), ước tính toàn cầu giới hạn trong khoảng vài trăm loại. Tại Châu Âu, có khoảng 30/400 loài chim có tài nhại tiếng kêu của loài khác. Do đó, người ta gọi là tài bắt chước (mimicry). Danh từ nầy chỉ phù hợp như tự điển ghi chú “sao bản tỉ mỉ từng phút” vì nó không bao hàm ý nghĩa Sinh Vật Học của mánh khoé giả dối nầy. Tài nhại ở loài bướm đánh vào thị giác. Tất nhiên, qua quá trình phát triển khá dài để từ loài bướm kém quyến rũ trở nên quyến rũ hòng đánh lừa con mồi.
Một trong những chứng minh khá thú vị về loài lông vũ có tài nhại, như Nhạn Mỏ Dầy (Thick Billed Euphonia Laniirostris) thường bắt chước tiếng báo động của chim trong vùng nó ở, khi ổ nó bị tấn công. Nhạn Mỏ Dầy kêu cầu cứu hòng giữ tổ bằng cách gọi đồng minh đến chống lại địch thủ, trong khi nó ẩn trốn nơi an toàn ! Nhà nghiên cứu chim người Mỹ, Eugene Morton từng đến gần ổ Nhạn Mỏ Dầy; có nghĩa, ông đang trong vai trò kẻ săn mồi. Nhạn Mỏ Dầy thay vì gọi báo động bằng tiếng mẹ đẻ của mình, nó thất thanh cất tiếng chim khác. Tất nhiên, Morton liền bị hai chú chim khác họ với Nhạn Mỏ Dầy tấn công. Trong khi ấy, chủ nhân chim chiếc ổ mà Morton quấy rầy, ẩn trú vào xó kín và vẫn tiếp tục kêu la thảm thiết. Chim Giẻ ở Châu Âu (Jay Garrulus Glandarius) và chim Cổ Ðỏ ở Phi Châu (Robin) cũng nổi danh qua tiếng kêu nhại để cầu cứu khi gặp nguy cơ.
Chim Ðuôi Nĩa (Drongo) ở Phi Châu thường nhại tiếng huýt sáo của gã chăn cừu để lừa đối phương. Kết quả, gạt được con mồi ra xa vì hắn lầm tưởng gã chăn cừu đang có mặt nơi ấy. Chim Ðuôi Nĩa hiểu con mồi của nó (Diều Hâu/Hawk) luôn tránh loài người; do đó, nó gây ngộ nhận cho con mồi cảm giác có người ở đấy vì Diều Hâu nhận được hiện diện của gã chăn cừu qua tiếng huýt sáo. Ví dụ thứ hai cho thấy chim Vĩ (Bowerbird Ptilonorhynchus Violaceus) tại Úc và New Guinea, trước thời gian giao cấu thường phô trương ưu thế của mình bằng những tiếng hót nhại từ chim khác như Quạ Ðen (Raven Corvus Coronoides) và chim Bói Cá miền Nam Úc (Kookaburra Dacelo Novaeguineae). Ðó là hai loài chim chuyên trộm trứng và chim non.
Cùng kế ấy, Nhài Nhại (Mockingbird) luôn tránh kẻ thù bằng cách lồng tiếng chim Giẻ Xanh (Blue Jay) vào giọng hót của mình. Vì sao chim Vĩ và Nhại Nhại không bắt chước tiếng hót của địch thủ cho đơn giản ? Có lẽ vì theo quy luật nhà chim. Hoặc giả, chim Vĩ và Nhài Nhại muốn dùng tiếng của loài chim hung hăng dữ tợn để giữ các chim Vĩ và Nhài Nhại khác trong vòng ngoại cuộc. Nói cách khác, hòng đồng loại được yên vị tại ổ với tiếng hót của riêng mình.
Một trong số các trường hợp nhại tiếng hót để đánh lừa đối phương đáng chú ý nhất là cuộc quan sát chim Ưng lưng màu đá xám đen tại Panama (Falcon Slaty Back). Chim Ưng dùng âm thanh thính giác để nhử mồi trong phạm vi của nó. Loài chim ấy thường ẩn mình vào nơi thích hợp, rồi nhại lên tiếng chim đau đớn bi ai, sau đó ... ăn thịt con mồi.
Lắm khi chỉ trong cự ly đủ tầm nhìn, nó nhào bổ xuống, vồ ăn con mồi vô cùng dã man. Hình ảnh, cách ứng xử nầy được nhà nghiên cứu chim người Anh, Neal G. Smith quan sát tường tận. Neal còn đưa ra ví dụ khác, Ðại Bàng (Crowned Eagle) có thể huýt tiếng sáo y như khỉ để lùa khỉ vào chỗ chết. Song, cho dù được Phi Châu xác nhận điều nầy, nhưng chưa đủ để người khác nhìn nhận sự việc có thật.
Chim Biểu Tượng của các Tiểu Bang, tại Hoa Kỳ
(Chỉ kể những loài chim biết hót)
 1:00
-  Cổ Đỏ / American Robin
: Connecticut, Michigan, Wisconsin
 2:00
-  Nhài Nhại / Northern Mockingbird
: Arkansas, Florida, Mississippi, Tennessee, Texas
 6:00
-  Vàng Anh / Baltimore Oriole *
: Maryland
 8:00
-  Se Sẻ Mão Ðen / Black Capped Chickadee
: Maine, Massachusetts
 9:00
-  Bắc Hồng Y / Northern Cardinal

: Illinois, Indiana, Kentucky, North Carolina,
  Ohio, Virginia, West Virginia
Đội Bóng Chày Baltimore Orioles
Một trong những đội bóng chày tuyển thủ vùng Bắc Mỹ, Hoa Kỳ và Gia Nã Đại nói riêng (MLB, Major League Baseball), đội bóng chày tiểu bang Maryland lấy tên loài chim Baltimore Orioles làm tên và biểu tượng cho đội nhà từ 1893. Đến 1900, đội Baltimore Orioles trở nên thành viên chính thức của American League (một trong hai khối thuộc Liên Đoàn Bóng Chày vùng Bắc Mỹ, MLB: American League và National League). Sân nhà của đội Baltimore Orioles đóng tại Camden Yards, Baltimore từ 1989. Sau lần trùng tu vào ngày 6 tháng 4, 1992, cuộc tranh cãi bao quanh vấn đề nên dùng tên Oriole Park hoặc Camden Yards cho sân banh mới, và mọi người đồng quyết định dùng cả hai tên.
Phụ chú:
Tài liệu trong bài nầy rút từ các trang nhà trên. Dù đã ghi đầy đủ địa chỉ để người đọc có thể tham chiếu, người dịch cũng xin thành thật cáo lỗi nếu trang nhà ấy không còn hoạt động nữa.
Bài dịch trên đây được sự chấp thuận của Ban Biên Tập trang nhà, 
Nguyệt Trinh
Theo http://nguyet-trinh.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Cô gái Quảng Trị với nồng cay tiêu Cùa

Cô gái Quảng Trị với nồng cay tiêu Cùa Đọc 14 bài bút ký của nữ nhà báo Đào Khoa Thư, trong tập bút ký “Mùa bình thường” in chung với nhà ...