Khuất nẻo trên đỉnh núi
quanh năm mây phủ là phân trường Tiểu học Lũng Cải, xã Hồng Nam, huyện Hòa An
(Cao Bằng). Do là phân trường đặc thù nên cơ sở vật chất và điều kiện giảng dạy
vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn.
Cuộc sống của đồng bào nơi
đây vô cùng khắc nghiệt, bởi vậy con đường tìm đến cái chữ của học sinh rất
gian nan. Trong khi những đứa trẻ ở nơi khác được cha mẹ đưa đón đến trường thì
những đứa trẻ ở đây chỉ tầm 5 tuổi phải đeo gùi theo sau mẹ vượt các vách đá
lên nương rẫy khi đến mùa trồng trọt.
"Lửa thử vàng gian nan
thử sức"
Cách trung tâm xã Hồng Nam
7km, con đường lên phân trường Tiểu học Lũng Cải tựa như một sợi chỉ nhỏ vắt
ngang đỉnh đồi. Do đường toàn vách đá cheo leo nên chúng tôi phải gửi xe ở bản
Nà Lìn. Theo người dân ở đây, để đến với phân trường Tiểu học Lũng Cải, chúng
tôi sẽ phải vượt qua hai cổng trời, đường đi vô cùng khó khăn.
Cô giáo Hoàng Thị Mai Sương
chỉ dẫn cho học sinh viết chữ.
Men theo con đường mòn hun
hút, trên lưng chừng núi, chúng tôi gặp anh Nông Văn Phúc đang đi hái rau rừng
cho lợn. Cùng chuyện trò trên một đoạn đường ngắn, anh Phúc nói: "Đường
vào bản còn phải vượt qua một cổng trời nữa, khó đi lắm nên chúng tôi đều phải
mang ngựa theo để thồ. Việc canh tác của bà con chủ yếu phụ thuộc vào thời tiết.
Năm nào mưa thuận gió hòa
thì bà con được mùa, còn năm nào hạn hán thì mất mùa. Hiện chúng tôi đang đợi
mưa để trồng ngô, thu hoạch ngô xong lại trồng thêm một vụ đỗ tương. Dân chúng
tôi còn nghèo lắm, toàn phải ăn cơm độn thôi. Mình làm ra ngô thì mình lại đem
ngô xuống chợ để đổi lấy gạo".
Theo anh Phúc, do đường đi
khó nên con đường này chỉ có các em học sinh từ lớp 6 đến lớp 9 mới đi học
nhưng lại phải mang cơm đi theo rồi ăn ở lớp luôn. Có hôm các em học cả ngày
thì tối mịt mới về đến nhà. Cũng trên cung đường này, các em gặp phải không ít
những khó khăn thử thách.
Bởi các em phải vượt một
quãng đường rừng là 7km, kèm theo đó là sự nguy hiểm luôn rình rập. Đi đường rừng
các em sẽ phải bước qua những hòn đá gồ ghề lởm chởm. Dưới các tán cây là vô số
muỗi, vắt đang chầu chực. Nhiều hôm các em còn phải đối mặt với rắn hổ mang, rết...
Qua lời kể của anh Phúc,
chúng tôi mới hiểu được sự vất vả của các em học sinh đến trường. Theo con đường
nhỏ, chúng tôi nhìn lên các sườn đồi là những ngôi nhà sàn của đồng bào người
Dao nằm thưa thớt, trơ trọi trên các đám nương. Các ngôi nhà yên ắng và mọi sự
hoạt động của bà con cũng chậm rãi. Theo lời chỉ dẫn của người dân, cuối cùng
chúng tôi cũng tìm đến phân trường Tiểu học Lũng Cải.
Cô giáo phải đi những con đường
cheo leo trên đỉnh núi Lũng Cải.
Nhìn từ xa nếu không có lá cờ
đỏ sao vàng, chắc chắn chúng tôi không thể nhận ra đây là trường học. Trường nằm
trong một khu rừng vắng, xung quanh chỉ thấy đá là đá. Tiếp chuyện với chúng
tôi, cô giáo Hoàng Thị Mai Sương cho biết: "Tổng số học sinh ở đây chỉ có
8 em. Lớp của cô có hai em mầm non, hai em lớp 1 và một em khuyết tật hòa nhập
học lớp 2. Cạnh lớp cô là lớp của cô Trâm nhưng cũng chỉ có 3 em học sinh. Vì
các em không cùng lứa tuổi nên bắt buộc chúng tôi phải dạy ghép".
Theo sự phân công của Sở
Giáo dục, cô Hoàng Thị Mai Sương và cô Đinh Thị Trâm được phân công lên phân
trường Tiểu học Lũng Cải của Trường Tiểu học xã Hồng Nam từ đầu năm học. Với những
người miền xuôi lên đây cắm bản, thời gian đầu mọi thứ đều rất hoang sơ, bởi
các cô phải ở nhà văn hóa, nước vẫn phải nhờ người dân mang ngựa đi thồ về, điện
thì không có nên toàn phải dùng bằng đèn pin.
Sự lạnh lẽo hoang vắng trong
một khu rừng khiến các cô cảm thấy đơn độc, lo sợ. Đồng bào ở đây họ sống khép
kín, mỗi người đều suy nghĩ theo lối riêng của mình, an phận hài lòng với những
gì mình có. Họ sống dựa theo tạo hóa và chấp nhận cuộc sống theo may rủi của từng
vụ mùa.
Có lẽ hành trình đi gieo chữ
trên non tưởng chừng như những người mới nghe thì họ cho đấy là mộng tưởng. Với
các cô cắm bản thì đó lại nỗi trăn trở bởi các em học sinh đều sống trong hoang
dại, tất cả đều là con nhà nghèo, cơm vẫn chưa đủ ăn, áo vẫn chưa đủ mặc.
Nỗi trăn trở của người
"gieo chữ"
Cô giáo Sương bùi ngùi tâm sự:
"Ở trên này đồ dùng học tập của học sinh vẫn còn thiếu. Cái gì cũng toàn
phải dạy chay, đồ dùng giảng dạy cho giáo viên cũng thiếu. Dạy trìu tượng lắm,
ví dụ như là cái xẻng chẳng hạn, mình thấy trong bức tranh mình hỏi học sinh
nhưng các em lại không biết.
Nếu mình cầm cái xẻng thật
thì các em lại biết. Nhiều khi mình còn phải mang cả đồ vật lên lớp để cung cấp
từ ngữ cho các em. Ngoài dạy kiến thức, các cô còn phải dạy lồng ghép cả tiếng
phổ thông".
Trong lớp học vẫn là những
khuôn mặt hồn nhiên, ngây thơ kèm theo đó là sự trăn trở của giáo viên. Có lẽ
những điều mới lạ của thế giới bên ngoài đến với các em học sinh cũng khó khăn,
bởi các em chỉ quen với cuộc sống lầm lũi trên núi cao.
Cô Trâm và cô Sương chuẩn bị
bài giảng cho ngày hôm sau.
Theo lời cô Sương, ở đây
kinh tế vẫn còn khó khăn, nếu không mưa là không thể canh tác được. Do người
dân quen sống trên cao nên việc để con em mình đến trường cũng là một điều khó
và không phải ai cũng làm được. Biết thêm tiếng của người Kinh có thể mang lại
cơm ăn áo mặc, sau này các em sẽ biết tính toán, để rồi sẽ trở thành cán bộ phục
vụ công việc cho nhà nước nhưng đó cũng là một điều xa vời. Bởi việc tích cóp từng
hạt ngô, từng gùi đỗ tương, bán cả con lợn nuôi cả năm trời để đổi lấy sách vở
cho con cũng là một việc lớn, cần có cái tâm mới làm được.
Theo cô Sương, từ nhỏ các em
ở bản Lũng Cải đã được cha mẹ dạy cho các công việc, từ trong nhà ra đến nương.
Bởi vậy nên các em rất thạo việc nhà và cần mẫn, vì vậy cũng ít biểu lộ cảm
xúc, ít khi lên tiếng bày tỏ chính kiến hay sự bất đồng với người khác.
Có lẽ những thái độ ấy là do
các em chịu ảnh hưởng của những người trên núi cao. Do các em sống ở trên cao
nên khi đi cũng chỉ cúi đầu, chỉ thích nhìn xuống đề ngắm cho rõ hơn, nhất là
khi sống trong mây quanh năm, mờ mờ tỏ tỏ.
Rồi thời gian cũng cho các
cô thêm một cảm nhận, bởi dạy học không chỉ có nghĩa là dạy cho con trẻ biết được
mặt chữ, biết tính toán, mà còn dạy cho chúng biết biểu lộ cảm xúc, biết gần
gũi người khác. Có được điều này là do các em nhận lại được từ sự ân cần yêu
thương của thầy cô giáo. Từ đó các em sẽ nhận biết được thế giới bên ngoài, sau
này các em lớn lên sẽ ấp ủ riêng cho mình những ước mơ, hoài bão…
Chẳng biết những hoài bão của
các em có đạt được hay không, nhưng một điều chắc chắn rằng, tình yêu thầy cô
nơi đây đã dành trọn cho lớp học, cho những em học sinh thân yêu, và tâm hồn của
các cô đã nằm lại ở nơi đây với những nhọc nhằn, miếng cơm manh áo.
Và cả những kiên nhẫn của việc
chia sẻ, gần gũi với những đứa trẻ vùng cao ngơ ngác. Sự nghèo đói thiếu thốn vật
chất không thể giết chết ước mơ của những đứa trẻ, với những miền đất lạ mà
chúng chưa thể đạp chân tới.
Màn đêm buông xuống bao trùm
cả bản làng, trong ngôi nhà đơn sơ, hai cô giáo lại ngồi bên bếp lửa soạn bài.
Những bộn bề lo toan của một ngày giảng dạy cũng chìm xuống. Dưới gầm sàn thỉnh
thoảng lại có một vài chú ngựa bước đi trong đêm tối.
Tiếng chuông của nhạc ngựa cứ
vang xa trên đỉnh núi, kèm theo đó là tiếng chim cú mèo, tiếng bìm bịp kêu vang
rờn rợn ẩn mình trong khu rừng vắng. Cô Trâm bảo: "Mới đầu chúng tôi lên
đây cũng sợ lắm, nhiều hôm ngựa còn húc nhau rung cả gầm sàn. Ngựa ở đây họ thả
cả đêm, khi nào cần thồ hàng, họ mới lùa về nhà".
Lớp ghép của cô Trâm là học
sinh lớp 3 và học sinh lớp 4.
Qua những lời cô giáo tâm sự
khiến chúng tôi không thể chợp mắt được bởi đó là sự đồng cảm và chia sẻ. Gần
sáng trời đang còn tối mịt, chúng tôi đã nghe tiếng vó ngựa lóc cóc ở dưới gầm
sàn. Do hôm nay là chợ phiên Kim Đồng nên người dân phải thồ hàng từ lúc mặt trời
chưa mọc.
Sự vất vả của người miền núi
khiến chúng tôi lại nghĩ đến các em nhỏ sống trong lầm lũi. Sự nghèo đói khiến
chúng tôi cũng chỉ thầm mong cho các em học sinh ở bản Lũng Cải này một cuộc sống
êm ấm, đủ ăn, đủ mặc, đủ tiền mua sách, để cho những em nhỏ sau này sẽ được đi
học trọn vẹn.
Minh Phượng


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét