Thứ Sáu, 13 tháng 5, 2016

Thạch Lam - Tác giả và tác phẩm

Thạch Lam - Tác giả và tác phẩm
I. Quan niệm văn chương:
1. Quan niệm về người tạo tác văn chương:
1.1. Tính chân thật của nghệ sĩ:
Một nhà văn không thành thực, không bao giờ trở nên một nhà văn giá trị. Không phải cứ thành thực là trở nên một nghệ sĩ. Nhưng một nghệ sĩ không thành thực chỉ là một người thợ khéo tay thôi” (Một ý nghĩ nhỏ - Theo dòng, Văn chương Tự Lực văn đòan, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 2002,  tr. 489).
Chúng ta cứ là chúng ta, với cái tâm hồn và bản ngã thật của chúng ta” (tr. 281).
Sự thành thực mới là cái then chốt của nghệ sĩ. Muốn viết một tác phẩm bất hủ, mà giá trị không theo thời ta phải để hết nỗi rung động trong tác phẩm đó” (Sđd)
Có nhiều nhà văn không dám nhìn thẳng vào sự thật bao giờ. Trong tác phẩm của họ, những cảnh tả đều là bịa đặt, không có thật, các nhân vật đều có những khuôn sáo tâm lí sẵn có trong các sách trước” (Một ý kiến, Theo dòng)
Dieu La Rochelle (Pháp): "Viết văn về vấn đề gì thì viết, nhà văn cốt nhất phải đi sâu vào trong tâm hồn mình, tìm những tính tình và cảm giác thành thực: tức là tìm thấy tâm hồn mọi người qua tâm hồn mình, đi đến chỗ bất tử mà không tự biết". (Dẫn theo Thach Lam, tr. 490).
Bỏ hết cái sáo, những cái kêu to mà trống rỗng, những cái giả dối đẹp đẽ, tìm cái giản dị, sâu sắc và cái chân thật, bằng cách quan sát và rung động đúng, đó là công việc các nghệ sĩ phải làm” (tr. 497)
1.2. Tâm và tài của nghệ sĩ:
- Người nghệ sĩ phải có trực giác nhiệm mầu.
Người ta sinh ra là nghệ sĩ hay không, chứ không có thể học tập mà thành được. Muốn cố sức tìm hiểu thế nào cũng không bằng cái “trực giác “ nhiệm màu của tâm hồn nghệ sĩ” (tr. 518).
Các nghệ sĩ là những người không có một cái khoa học nhân tạo nào có thể gây thành được. Họ vẫn là những sản vật của bao nhiêu thế hệ, theo một cách thức chung đúc huyền bí và không có luật lệ; họ là những cái sinh sản bất ngờ, những cái đột nhiên kì dị và ghê gớm của vũ trụ. Nhân vật ra ngoài khuôn khổ thường, các nghệ sĩ chân chính bao giờ cũng rất hiếm. Tìm được đích đáng và tìm được nhiều, đó là danh dự của cả một thời, cả một dân tộc”. .
- Nghệ sĩ là người biết diễn tả sự thực tâm hồn mình..
Tâm hồn người nghệ sĩ là sự chung đúc của bao nhiêu tâm hồn người trước, đúc bằng bao nhiêu nước mắt nụ cười đã rỏ và nở từ mấy nghìn năm trước về đây. Tâm hồn nghệ sĩ bởi vậy, là một tâm hồn phức tạp, rất phong phú, vì đủ hết các màu sắc và mầm non của tất cả những tình cảm loài người.” (tr. 517-518).
Qua tâm hồn ta, chúng ta có thể đoán biết được tâm hồn mọi người. Và chỉ khi nào chúng ta hiểu biết được những trạng thái tâm lí của mình một cách sâu sắc, chúng ta mới hiểu biết được trạng thái tâm lí người ngoài” (tr. 490).
Chúng ta chỉ có thể bằng các nhà văn ngoại quốc, khi chúng ta đi sâu vào tâm hồn của chúng ta mà thôi” (tr. 494).
2. Quan niệm về tác phẩm văn chương:
Có những tác phẩm được người ta lưu ý mãi mãi, càng về sau càng nổi tiếng; có những tác phẩm chỉ nổi tiếng một thời, rồi về sau chìm đắm và do sự quên, không ai nhắc đến nữa. Tác phẩm trên là tác phẩm, ngoài các phần cấu tạo vì thời thế, còn có những cái gì bất diệt đời đời, trong các nhân vật; tác phẩm dưới là tác phẩm chỉ có những cái sôi nổi một thời mà không có cái gì lâu bền sâu sắc
Chỉ có những tác phẩm nào có nghệ thuật chắc chắn, trong đó nhà văn biết đi qua những phong trào nhất thời, để suy xét đến tính tình bất diệt của loài người, chỉ có những tác phẩm đó mới vững bền mãi mãi.” (tr. 490).
Theo ý tôi, một tác phẩm nào của nhà văn cũng có một chút ít nhà văn trong ấy. Muốn dùng danh từ gì mặc lòng, tả chân, khách quan, hay chủ quan, cái bản ngữ của tác giả, cũng lộ ra trong những câu văn tác giả viết”. (tr. 494).
Khi tâm hồn ta đã rèn luyện thành một sợi dây đàn sẵn sàng rung động trước mọi vẻ đẹp của vũ trụ, trước mọi cao quý của cuộc đời, chúng ta là người một cách hòan tòan hơn” (tr. 503).
Văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn” (Theo dòng).
3. Quan niệm về nhân vật văn học:
3.1. Quan niệm về con người:
Trong người ta cái tốt và cái xấu lẫn lộn”.
Người ta không muốn sống một mình, mà có liên lạc mật thiết với những người khác, với xã hội”.
3.2. Quan niệm về nhân vật:
Các nhân vật hoàn toàn không lấy được cảm tình người đọc”.
Đối với một nhân vật hòan toàn chúng ta có lẽ phục nhưng mà chúng ta không yêu. Chính vì một nhân vật hòan toàn là một nhân vật không thực, một nhân vật bịa đặt bởi tác giả và vì thế không linh động chút nào”.
I/ Quan niệm nghệ thuật về con người: Con người ân hận.
Nhà nghệ sĩ giỏi là nghệ sĩ tạo ra những nhân vật thật và họat động, ngoài những tính cách và đặc điểm của cái địa vị xã hội, tìm đến được cái bí mật không tả được ở trong mỗi một con người” (tr. 495).
L. Tolstoi: “Nhân vật của tôi, kẻ mà tôi đã cố gắng giới thiệu với tất cả vẻ đẹp của nó, kẻ đã, đang và sẽ bao giờ cũng đẹp, kẻ ấy là sự thật”.
4. Quan niệm về người đọc văn chương:
Thạch Lam cho rằng có hai loại: “Chỉ cốt xem truyện” và “Thích suy nghĩ, thích tìm trong sách những trạng thái tâm lí giống tâm hồn mình”, “họ biết thưởng thức một câu văn  hay, một ý tưởng sâu sắc và cảm thấy một cái thú vô song khi sắp bước vào tâm hồn của một nhân vật nào”, “một cách luyện mình để cho tâm hồn phong phú hơn lên”. “Sống đầy đủ hơn”, “làm người một cách hoàn toàn hơn”, “những tính tình tốt đẹp nhất của người, tình yêu và tình thương, cũng sẽ nhờ tiểu thuyết mà nẩy nở rộng rãi thêm”.
5. Quan niệm về tiểu thuyết:
Tiểu thuyết là một câu chuyện xếp đặt, một sáng tác của trí tưởng tượng”.
Tìm xét sự sống ở trong ta và ở quanh ta, tức là biết nhận được cái gì đang thay đổi, những mầm mống gì sắp nẩy nở, ở mặt tâm lí thì quan sát được tâm lí sau này của con người, ở mặt xã hội thì phác họa được trước cái xã hội khác sắp đến thay. Cho nên những nhà văn thực tài đều là những nhà tiên tri: họ đóan biết và vì thế giứp đỡ vào cái gì sẽ được xây dựng sau này”.
M. Bakhtin: “Đối tượng miêu tả nghệ thuật của tiểu thuyết là hiện thực đương thời, dang dở, không hoàn thành và luôn luôn biến động”, “khu vực tiếp xúc trực tiếp với cái thời hiện tại không hòan thành ấy. Cơ sở của nó là kinh nghiệm cá nhân và hư cấu sáng tạo tự do” (Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Nxb VHTT, Hà Nội, 1992, tr. 74-75).
Cái khuynh hướng của tiểu thuyết bây giờ hết sức gần sự sống, để được linh họat và thật như cuộc đời”, “tiểu thuyết dạy ta biết sống, nghĩa là dạy ta biết sung sướng”.
Tôi ưa câu này của Maurice Barré: Một cuốn tiểu thuyết hay là một cuốn tiểu thuyết đã làm ta rung động” (tr. 496).
Nghệ thuật và văn chương, muốn tiến thoái mãi mãi, lúc nào cũng tươi thắm và mạnh mẽ, không sợ khô héo hay cằn cỗi, bao giờ cũng phải đi theo, bao quát và cố vượt lên trên cái sống tiềm tàng và ngấm ngầm trong tâm hồn người cũng như trong vũ trụ” (Tr, 515).
Tôi tưởng quyển tiểu thuyết hay nhất - hay công dụng nhất - là quyển tiểu thuyết sẽ làm cho ta yêu, ham muốn yêu, không phải là yêu một người, nhưng yêu mọi người; không phải một vật, nhưng yêu mọi vật. Hiểu biết tình yêu, thưởng thức những thú vị phức tạp và nhìều màu sắc của tình yêu, còn gì sung sướng hơn nữa! Mỗi cử chỉ, mỗi hành vi của ta đều có một ý nghĩ riêng. Chính nhà tiểu thuyết gia có biệt tài là nhà văn đã diễn tả đúng và thấu đáo cái tâm lí uyển chuyển của người, nhà văn chính mình có một tâm hồn rất phức tạp và giàu có” (Theo dòng).
Nguyễn Đình Thi: “Tác phẩm nghệ thuật là một hình ảnh thực tại, nhưng đó là hình ảnh có linh hồn. Mà chính cái linh hồn này mới làm cho tác phẩm sống, nghĩa là dù trải qua thời gian vẫn gây được xúc động trong lòng người”. (Thực tại với nghệ thuật, Nxb Văn học, Hà Nội, 1969).
II. Quan niệm về cái đẹp:
1. Quan niệm:
Nguyễn Thành Thi: “Thạch Lam cũng đi tìm cái đẹp, nhưng với ông, trong đời sống, cái đẹp vốn tiềm tàng khuất lấp và trong văn chương, cái đẹp là sự sống được cảm thấy” (Thạch Lam, Về tác giả và tác phẩm, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, tr. 188).
Cái đẹp man mác khắp vũ trụ, len lỏi khắp hang cùng ngõ hẻm, tiềm tàng ở mọi vật tầm thường. Công việc của nhà văn là phải phát hiện cái đẹp ở chính ở chỗ mà không ai ngờ tới, tìm cái đẹp kín đáo và che lấp của sự vật, cho người khác một bài học trông nhìn và thưởng thức.” (tr. 500).
Tôi thấy trong cái mầm đầy nhựa của một cây rất tầm thường, trong những túp lá non, nhiều ý nghĩa: sự sống mạnh mẽ, tràn trề của mọi vật, cái vui sướng của mầm cây từ dưới đất nhô lên đón ánh mặt trời, cái rung động của ngàn lá trong cơn gió. Tất cả những cái ấy đối với tôi thật tuyệt đẹp... Với tôi sự đẹp có muôn hình vạn trạng phong phú và đầy đủ, có những giá trị khác xưa”. (tr. 500)
Và tôi xin nhắc lại câu nói này của André Bellesort: “Không gì bằng sự thực; sự sống là cái chuẩn đích, là mực thước của mọi vật”” (tr. 501).
Có thể khái quát ngắn gọn các quan niệm về cái đẹp của Thạch Lam:
1) Cái đẹp hoàn toàn không có giới hạn và không bị giới hạn bởi thời gian, khôn gian. Cái đẹp rất phong phú và rất đa dạng chất chứa trong cuộc sống quanh chúng ta. Chính cái đẹp như thế sẽ mở ra một tiềm năng, một chân trời vô tận cho nhà văn tìm kiếm, khám phá và sáng tạo.
2) Cái đẹp khuất lấp không dẽ dàng nhận biết, cho nên nhà văn cần có sự tinh tế lịch lãm. Quan niệm này khẳng định vai trò khiêm tốn của nhà văn, nhưng là vai trò có tính quyết định của nhà văn trong việc mở cánh cửa dẫn dắt người đọc vào thế giới của cái đẹp.
3) Cách nhìn cách cảm mỗi người. Mỗi thời sẽ cấp cho cái đẹp những giá trị riêng. Đây là quan niệm về bản sắc riêng trong quan niệm của nhà văn và của mỗi thời đại văn chương.
2. Những biểu hiện: tìm và phát hiện cái đẹp trong văn chương Thạch Lam:
*“Bỏ những cái sáo, những cái kêu to mà trống rỗng, những cái giả dối đẹp đẽ, đi tìm cái giản dị, cái sâu sắc và cái thật, bằng cách quan sát và rung động đúng, đó là công việc các nghệ sĩ phải làm” (Theo dòng).
2.1. Cái đẹp của thiên nhiên nơi làng quê đồng nội Việt Nam.
2.1.1. Vẻ đẹp của bóng tối:
- Truyện ngắn “Bắt đầu”:“Loan trở lại cái mộng xinh đẹp của mình. Sung sướng, nàng nhắm mắt để bóng tối đến, mát và rực rỡ bao bọc cả tâm hồn, thân thể nàng”, “Bóng tối dưới vòm cây thân mật, như giục gọi: lối đi trong vườn quen thuộc giữa hai bên, là lối đi nhỏ âm cúng vô cùng” (tr. 190). “Nàng đến bên cửa sổ, nhìn ra vườn. Bóng trăng xanh rót qua vòm mảnh lá cây, chiếu vào. Gió thổi hiu hiu mát hai bên cổ nàng, tóc phất phơ. Loan nhớ đến mái tóc xỏa của Minh khi chàng quay lại gọi nàng, ngày nào ở trong vườn” (Thạch Lam, Văn chương Tự Lực văn đòan, tập III, Nxb bản Giáo Dục, 2001, tr. 362).
- Truyện ngắn “Bóng người xưa”: “Vân không thấy trước mắt mình nét mặt hàng ngày của vợ nữa, chàng chỉ thấy một người vợ trẻ hơn đẹp hơn. Những vết nhăn của người đàn bà luống tuổi đã mất đi trong bóng tối; khuôn mặt trở nên đều đặn, cái miệng hơi hé trên hàm răng nhoe trắng muốt, đối mắt long lanh sáng”.
- Truyện ngắn “Hai đứa trẻ”: “Trời đã bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung, và thoảng gió mát. Đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối”.
- Truyện ngắn “Cô hàng xén”: “Lúc Tâm ra về trời đã tối. Nàng vội vã bước mau để về cho con bú. Sương mù xuống phủ cả cánh đồng, và gió lạnh nổi lên (...) Tâm dấn bước. Cái vòng đen của rặng tre làng Bằng bỗng vụt hiện trước mặt, tối tăm và dày đặc; Tâm buồn rầu nhìn thấu cả cuộc đời nàng, cuộc đời cô hàng xén từ tuổi trẻ đến tuổi già, tòan khó nhọc và lo sợ, ngày nọ dệt ngày kia như tấm vải thô sơ. Nàng cúi đầu đi mau vào trong ngõ tối”. (tr. 382).
2.1.2. Vẻ đẹp của  tạo vật bình dị, đời thường nơi thôn hương:
- “...Dãy tre đầu làng gần hẳn lại, cành tre nghiêng ngả dưới gió thổi và cô nghe thấy tiếng lá rào rào và tiếng thân tre cót két” (Cô hàng xén, tr. 373). “Chân cô giẫm lên lá khô và tai nghe tiếng xao xác đã quen; mùi bèo ở dưới ao và mùi rạ ướt đưa lên ẩm ướt” (Cô hàng xén, tr. 374). “Mùi phân trâu nồng ấm sặc ngay vào cổ; thoáng qua cô nghe tiếng chân trâu đập trong chuồng” (Cô hàng xén, tr. 374).
- “Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và bã mía. Một mùi âm ấm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn mùi cát bụi quen thuộc quá, khiến chị em Liên tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này” (Hai đứa trẻ, tr. 350).
- “Ngoài vườn vẫn nắng. Giàn thiên lí pha xanh một bên áo tráng của Nga. Những búp hoa lí non và thơm rủ liền trong giàn, lẫn vào đám lá.” (Dưới bóng hòang la, tr. 366). “Qua vườn, Thanh tiễn Nga ra đến cổng, di qua hai bên bờ lá ướt sương. Mùi hòang lan thoang thoảng bay trong gió ngát" (Dưới bóng hòang lan, tr. 367).
- “Một cơn gió mát ở cánh đồng ruộng đưa tới bay tung vạt áo Trường, đem lại cho Trường cái mùi dễ chịu của đất ải mới cày lẫn với mùi hương thơm của cỏ xanh” (Ngày mới, tr. 413). “Trường thích xuống dòng sông Tiên tắm mát, rồi bước bước những bực gạch lên vườn sau nhà bà Nhì, đứng yên lặng lúc lâu, để hưởng cái mùi thơm dịu dàng của hoa mộc hòa lẫn với cái mát của buổi mai” (Ngày mới, tr. 425).
- Truyện ngắn "Những ngày mới": “Qua hàng rào cây, Tân thấy lấp lánh đèn ở sân các nhà, tiếng néo đạp lúa trên cối đá, tiếng hạt thóc bắn vào nia cót như mưa rào. Đâu đâu cũng thấy tiếng cười nói vui vẻ: cảnh đêm trong làng thôn quê vẫn yên lặng, âm thầm thì chiều nay họat động vô cùng. Mùi lúa thơm vương lại trong các bụi cây hòa lẫn với mùi đầm ấm của phân, cỏ, bốc lên khắp cả” (tr. 284).
2.2. Cái đẹp của con người:
- Những thiếu nữ dậy thì bắt đầu yêu: Hậu (Nắng trong vường), Liên (Tiếng sáo), Hảo, Trinh (Ngày mới), Tâm (Cô hàng xén), Nga (Dưới bóng hoàng lan) Loan (Bắt đầu): "Loan chỉ thấy yêu mà thôi. Tâm hồn nàng nẩy nở đón tình yêu như cái cây non đón nước mưa. Nàng yêu Minh như đứa trẻ mới bắt đầu yêu say sưa và lóa mắt vì chính cái tình yêu của chính mình” (tr. 359).
- Những người phụ nữ tần tảo làm vợ làm mẹ: Tâm, Liên (Cô hàng xén), Liên (Một đời người), mẹ Lê (Nhà mẹ Lê), bà Nhi, bà Phán (Ngày mới).
- Những người tưởng chừng chỉ tập trung cái ác, cái xấu theo quan niệm thông thường cũng tiềm tàng những cái đẹp cao quý bất ngờ, hay những rung cảm đáng trân trọng: bà đầm (Người đầm), bà Cả (Đứa con).
2.3. Cái đẹp trong những "mầm sống" của sự sống:
- Cái đẹp của những cô gái trong mắt người yêu họ.            
+ Trinh (Ngày mới): “Một nụ cười rất duyên ở trên cạp môi đỏ và hai lúm đồng tiền in rõ trên má hồng hào. Nàng trông dịu dàng và tươi thắm. Lòng yêu mến, Trường thấy mạch máu chạy mạnh trong người và một niềm vui ham sống tự nhiên tràn ngập cả tâm hồn” (tr. 417).
+ Nga (Dưới bóng hoàng lan): “Chàng nhìn thấy cô thiếu nữ xinh xắn trong tà áo trắng, mái tóc đen lánh buông trên cổ nhỏ, bên cạnh mái tóc bạc của bà chàng” (tr. 365), “Qua vườn, Thanh tiễn Nga ra đến cổng, đi qua hai bên bờ lá ướt sương. Mùi hòang lan thoang thỏang bay trong gió ngát” (tr. 367).
- Cái đẹp của “Đứa con đầu lòng”:
+ “Tân lại gần, cúi nhìn đứa bé. Chàng thấy trong lòng một mối cảm động êm đềm và phiền phức. Nhìn đứa trẻ ngây thơ nằm trong lòng mẹ, Tân cảm thấy lần đầu cái thiêng liêng sâu xa của sự sống,...” (tr. 280).
+ “Tân rón rén khẽ giở tấm màn tuyn nhìn thấy đứa trẻ nằm gọn gàng trong vải trắng. Chàng cúi mình xuống, yên lặng đợi trên cặp môi nhỏ bé một nụ cười.
Và Tân thấy lòng rung động khẽ như cánh bướm non, một tình cảm sâu xa và mới mẻ chàng chưa từng thấy” (tr. 280).
- Cái đẹp của truyện ngắn "Những ngày mới"::
+ “Tân và bọn thợ gặt bước đều về nhà, ai nấy đều yên lặng không nói gì, như cùng kính trọng cái thời khắc của ngày tàn. Trong cái giờ khắc này, Tân như thấy cảnh vật đều có một tâm hồn, mà lớp sương mù kia là tâm hồn của đất mầu đã nuôi hạt thóc cần cho sự sống của loài người” (tr. 284).
+ “Một cơn gió hay một cái mầm cỏ non, đối với chàng đều có ý nghĩa riêng”.
III. Thi pháp truyện ngắn:
    
 1. Thế giới nghệ thuật của Thạch Lam:
  
  1.1. Thạch Lam đã từng nêu lên một quan niệm nghệ thuật đúng đắn như đã nêu trên. Nhưng với ông, hiện thực mà ông quan tâm hàng đầu đó là hiện thực bên trong, hiện thực tâm trạng. Ông đã “tìm thấy tâm hồn
của mọi người qua tâm hồn của chính mình”; nên ngòi bút của ông đã lách sâu vào cảm xúc cảm giác của tâm hồn mình để khám phá thế giới. Ông đã nắm bắt được cảm xúc tâm trạng của mình từ mảnh đất hiện thực và diễn tả bằng bút pháp lãng mạn. Vì vậy, tác phẩm của ông gần gũi với các nhà văn hiện thực vừa có phẩm chất lãng mạn trữ tình.
Thạch Lam:
“Khi mùa thu bắt đầu hết, khi nắng vàng hanh dần mất vẻ rực rỡ trên các lá cây, ngọn gió heo may sẽ từng cơn nhẹ lướt trên cánh đồng ruộng, đem lại cho ta những cái rùng mình mới mẻ, như đã lẫn cái buồn ảm đạm của ngày mùa đông” (Lời nói đầu tập truyện Gió đầu mùa).
    1.2. Thế giới nghệ thuật của Thạch Lam khá phức tạp:
       1.2.1. Nhìn từ góc độ con người cảm xúc nội tâm:
- Đó là thế giới của những con người cam chịu:
 mẹ Lê (Nhà mẹ Lê), chị Sen (Đứa con); Những con người ý thức thân phận: Tâm (Cô hàng xén), Lan và Huệ (Tối ba mươi), Liên (Một đời người), Dung (Hai lần chết); những người chân quê phó huyện: vợ chồng ông bà Cả và cô Lan (Tình xưa), người bà và cô Nga (Dưới bóng hòang lan), Liên và An (Hai đứa trẻ),...
- Đó cũng là thế giới của những con người duy cảm: Lan và Sơn (Gió lạnh đầu mùa), Thanh (Một cơn giân); những người có mức sống trung bình: hai anh em (Tiếng chim kêu); thậm chí đó còn là một người đầm Tây (Người đầm),một người Việt đi lính Pháp và từng sang Tây: (Người lính cũ),...- Tất cả họ đều có chung một tâm trạng: buồn thương và cam chịu về thân phận làm người. Họ được nhà văn yêu thương chăm chút bằng cái nhìn ấm áp tình người. Và nhà văn miêu tả họ thông qua ảnh chiếu của tâm hồn mình - một tâm hồn như “một khối thủy tinh trong suốt, mỏng manh, dễ vỡ, không quen va chạm với những xung đột, mâu thuẫn khắc nghiệt” (Phạm Phú Phong, Thi pháp truyện ngắn Thạch Lam, Thạch Lam - Văn chương và cái đẹp, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 1994).
- Thế giới nhân vật của Thạch Lam là những con người thiên về suy nghĩ, cảm xúc nội tâm; họ có chung một kích thước tâm hồn như chính tâm hòn của nhà văn. Họ thể hiện những đặc điểm phong cách của Thạch Lam: tinh tế, đa cảm, thiết tha, thuần hậu, giàu tinh thần chịu đựng.
       1.2.2. Nhìn từ góc độ xã hội:
- Hình tượng trí thức tiểu tư sản:
+ Viết về đề tài này, Thạch Lam không rơi vào mơ mộng như một số nhà văn Tự Lực văn đòan khác. Thạch Lam không thi vị hóa mà đặt họ vào hòan cảnh đói nghèo lay lắt để đi sâu khám phá những biến động nội tâm đầy phức tạp của họ.
+ “Người bạn trẻ”: Bào sinh ra trong một gia đình nghèo đang học thì bị đuổi học. Anh sống lang thang, vật vờ, túng thiếu. Anh lâm bệnh năng và trở thành gánh nặng cho gia đình. Anh quyết định tự tử để thóat cuộc sống đói khổ, tủi nhục.
+ “Đói”: Sinh thất nghiệp bị đẩy vào cảnh cùng quẫn không lối thóat. Sinh phải đối diện với một sự thực phũ phàng: Mai- vợ anh - phải bán thân kiếm tiền mua thức ăn. “Một nỗi buồn rầu chán nản vô cùng (...) trong lòng nguội lạnh một cảm giác lạ lùng như thắt lấy ruột gan”. Anh cảm thấy bị lừa dối và phản bội. Sinh đã hất đồ ăn xuống đát và xua đuổi Mai ra khỏi nhà. Nhưng cái đói đã quy phục anh. Nhân cách của anh đã đầu hàng cái dạ dày của chính anh.
+ Minh trang truyện “Cái chân què”. “Cuộc đời có nhiều cái chế riễu đắng cay và đau đớn làm cho chúng ta đột nhiên hiểu vái ý nghĩ chua chát và sâu xa”(mở), “Anh lại trở lại với cái nghèo nàn lúc cũ, với những cái thiếu thốn của kẻ không tiền, nhưng tâm anh đã rớm máu bi thương; lòng anh bây giờ không như trước được nữa. Bây giờ trong lòng anh đầy những sự chua chát và chán nản. Cái chán nản sau những cuộc chơi bời, cái chua chát khi nhận thấy sự thay đổi của lòng người đối với kẻ có tiền và không có tiền” (Kết).
+ Thanh trong “Một cơn giân”. “Sự giận dữ có thể sai khiến ta làm những việc nhỏ nhen không ai ngờ tới”, “Cái kỉ niệm buồn rầu ấy cứ theo đuổi tôi mãi đến bây giờ, rõ rệt như cái việc mới xẩy ra hôm qua. Sự đó nhắc cho tôi nhớ rằng người ta có thể tàn ác một cách dễ dàng. Và môic lần tôi nghĩ đến anh phu xe ngoại ô kia, tôi lại thấy đau đớn trong lòng, như có một vết thương chưa khỏi”.
+ Tâm trong truyện ngắn “Trở về”: “Đợi bà cụ đi khuất đầu phố. Tâm và vợ trở lại nhà hàng trả tiền, rồi đánh xe ra ngoài. Máy chạy đều, cái xe êm như ru bắt đầu lướt trên đất. Khi đến chỗ ngoặt qua ga, bỗng nhiên Tâm thoáng thấy đứng bên cạnh đường, một cụ già khom lưng dựa vào một cô gái. Chiếc xe chạy bắn vọt bùn lên quần áo hai người. Trong một giây, Tâm thấy cặp mắt đen láy của cô gái quê mở to ngạc nhiên nhìn mình”.
+ Trường trong tiểu thuyết :Ngày mới”.
=> Quan niệm nghệ thuật về con người: con người ân hận.
- Hình tượng người dân nghèo:
+ Thạch Lam sáng tác chủ yếu trong thời kì Mặt trận Dân chủ, những tác phẩm của ông chắc chắn có ảnh hưởng bởi phong trào này. Ông đã viết về những con người chân quê với tình thương cảm sâu sắc. Trong truyện của Thạch Lam người lao động chiếm một tỷ lệ khá lớn.
+ Những truyện ngắn tiêu biểu: Nhà mẹ Lê, Một cơn giận, Người lính cũ,...
- Hình tượng người phụ nữ:
+ Người phụ nữ trong văn Thạch Lam luôn lấp lánh vẻ đẹp đảm đang, tần tảo, giàu đức hy sinh, đã được ông bọc trong một thứ tình cảm chân thành, man mắc.
+ Những truyện tiêu biểu: Hai lần chết, Cô hàng xén, Tối ba mươi, một đời người, Đứa con, Nhà mẹ Lê, Gió lạnh đầu mùa,...
=> Màu sắc dân tộc trong văn Thạch Lam.
     2. Không gian và thời gian nghệ thuật:
    2.1. Không gian hiện thực hàng ngày:
- Đó là một xóm chợ, một ngõ hẻm, một phố huyện, một ga xép, một con đường làng ở một thôn dân heo hút,... Không gian này là một không gian hiện thực khép kín. Trên cái nền không gian ấy, họat động sống của con người bị bó chặt, tù đọng, lẩn quẩn; nội tâm con người luôn lo âu dằn vặt và đầy ám ảnh. Không gian phố chợ nghèo khổ, “hai dãy nhà lụp xụp” đã mục nát (Nhà mẹ Lê), không gian chợ quê và con đường làng (Cô hàng xén), không gian phố huyện - ga xép (Hai đứa trẻ), không gian căn buồng - chiếc giường (Tối ba mươi),...
- Không gian hiện thực hàng ngày thu hẹp vào không gian đời tư, không gian cá nhân bị dồn nén làm xuất hiện sự cô đơn của nhân vật và nhân vật tự đối diện với lòng mình bộc lộ sự suy tưởng. Từ không gian cá nhân này hiện ra không gian hồi tưởng.
    2.2. Không gian hòa quyện với thời gian:
- Không gian hiện thực hẹp hàng ngày đã được nhà văn kết hợp với thời gian nghệ thuật tương ứng tạo hiệu ứng thẩm mĩ: Thời gian đã thành ngôn ngữ, thúc ép dồn nén tình huống làm nổi bật tâm trạng và số phận của nhân vật.
- “Tối ba mươi”: Không gian hẹp của căn nhà săm bẩn thỉu tối tăm, ẩm thấp được đặt vào khỏang thời gian đặc biệt đêm ba mươi càng làm cho Liên và Huệ da diết nhớ ông bà, tổ tiên và những gì đẹp đẽ trong sáng hồn nhiên của tuổi thơ đã mất; để rồi hai cô tự giày vò, đau khổ cho thực trạng sống của họ. “Cô hàng xén”: Không gian con đường làng dưới bóng hòang hôn đã trở thành không gian tâm trạng của Tâm. Tâm trở về nhà giữa lúc đêm tối “sương mù ảm đạm phủ cả cánh đồng và gió lạnh nổi lên”, khiến “lòng nàng mệt nhọc và e ngại”. Tâm miên man nghĩ bao nhiêu điều và “cúi đầu đi mau vào ngõ tối”.
- Truyện của Thạch Lam bao giờ cũng đặt vào thời gian buổi chiều chuyển vào đêm hay ban đêm. Thời gian này có ý nghĩa tượng trưng cho không gian và chuyển hóa thành không gian bóng tối. Không gian bóng tối âm trầm càng thúc đẩy tâm trạng nhân vật lên đến cao trào hoặc đan xen nhiều cung điệu, màu sắc hơn. Có thể dễ dàng tìm thấy thời gian chiều chuyển vào đêm hoặc ban đêm hòa quyện với không gian trong các truyện ngắn:
 Sợi tóc, Hai đứa trẻ, Nhà mà Lê, Tiếng chim kêu, Một đời người,...
- Kiểu không gian hòan quyện với thời gian nghệ thuật này là một sáng tạo độc đáo của Thạch Lam. Chính kiểu thời gian hoa không gian này đã thể hiện một cách sâu sắc mà nhẹ nhàng tâm trạng nhân vật một cách tự nhiên, tưởng như nhà văn chẳng hề dụng công nhiều để phân tích tâm lí nhân vật mà tâm lí hiện ra rõ mồn một.
    2.3. Không gian bi kịch sau bi kịch:
- Đây là kiểu không gian kéo dài, giãn ra từ một không gian trước đó. Rõ hơn là từ một bi kịch mở ra những bi kich nhân thế khác của nhân vật trong truyện ngắn Thạch Lam. Không gian này tạo nên độ dư, một kiểu kết thúc mở của truyện, bắt người đọc nhập cảm cùng nhà văn và để cùng nhân vật phiêu lưu  trên con đường số phận quanh co, hun hút và mờ xám của họ.
- Nhà mẹ Lê: Mẹ Lê chết, mười một đứa con của mẹ cũng dở sống dở chết. Hai lần chết: Dung trốn thóat bi kịch bằng sự tự tử, nhưng được cứu thóat. Dung “ngậm ngùi nghĩ đến cái chết của mình. Lần này, về nhà chồng, mới hẳn là chết đuối, chết không bấu víu vào đâu được” và chẳng còn ai cứu vớt được nữa. Một đời người: Liên muốn ra đi tìm hạnh phúc đời mình, nhưng lại phải đón nhận một bi kịch mới. Đói: Sinh tươi tỉnh khi có thức ăn nhưng rồi “một cái chán nản mênh mông tràn ngập cả người. Sinh lấy tay ôm mặt, cúi đầu khóc nức nở”.
- Không gian bi kịch sau bi kich đã phát sinh nhiều không gian khác như không gian hồi tưởng, không gian khát vọng trong tác phẩm của Thạch Lam. Thực ra với nhà văn, nhớ lại, hồi tưởng và khát vọng được sử dụng như một yếu tố của thời gian.
+ Nếu ở các nhà văn khác hay theo tâm lí con người, thời gian quá khứ được hồi tưởng lại bao giờ cũng đẹp, ngọt ngào và ấm áp; thì với Thạch Lam thời gian ấy là sự khơi sâu nỗi đau khổ dằn vặt của con người trong hiện tại. (Nhà mẹ Lê, Cô hàng xén, Một đười người, Người lính cũ, Người bạn cũ,...).
+ Thạch Lam sử dụng thời gian quá khứ để diễn tả tâm trạng, còn thời gian tương lai chỉ là một sự giả định, một khỏang mờ tối, không thể hình dung được. Thời gian hiện tại song hành cùng thời gian tâm trạng. Liên (Một đời người) lấy chồng và phải sống với anh chồng vũ phu, mẹ chồng ác nghiệt là thời gian nặng nề, khổ đau của một đời người. Vậy mà. “bảy tám năm qua mà Liên tưởng hình như lâu lắm, hình như đã hết nửa đời người”. Các nhân vật khác cũng có nét tâm lí lãng quên thời gian hiện thực như thế. “Không nhớ là mấy tháng sau, anh Bào đến chơi nhà tôi” (Người bạn trẻ). “Nàng không nhớ rõ gì cả. Ra đến sống lúc nào nàng cũng không biết” (Hai lần chết).
     3. Nghệ thuật dẫn truyện, giọng điệu:
    3.1. Kể và dẫn chuyện:
- Thạch Lam thường kể chuyện theo trình tự thời gian. Vì thế truyện của ông hình như không có dấu vết của kĩ thuật viết văn. Điều này cũng dễ hiểu, vì truyện của ông là truyện được kể lại từ những chuyện có thật của đời ông, gia đình ông, bạn bè ông. Những chuyện ấy được ông kể lại bằng một lối kể bình thường, chân chất và hầu hết là dưới điểm nhìn trần thuật của nhân vật “Tôi”. Thạch Lam đã tìm ra trong những chuyện thường ngày tưởng như không có truyện ấy những điều cần kể và khi đã kể thì thành truyện. (Tiếng chim kêu, Người đầm, Cuốn sách bỏ quên, Người lính cũ, Sợi tóc, Người bạn trẻ,...).
- Nghệ thuật dẫn truyện của Thạch Lam là sử dụng mạch phát triển ngầm của tâm lí dòng chảy tiềm thức, với những khỏanh khắc cô đơn trong thế giới mà đôi khi con người không có ngôn ngữ để diễn tả hết tâm trạng, phải dùng đến “ngôn ngữ” của cử chỉ, nét mặt, ánh nhìn, bước đi, dáng đứng,...
Đây là điều mà Thạch Lam tâm đắc nhất trong suy tư về nghệ thuật của ông. Ông luôn đi sâu khám phá thế giới tâm linh khuất lấp, những họat động tâm lí uyển chuyển, sâu sắc của con người. Từ góc độ này có thể khẳng định truyện của Thạch Lam rất hiện đại như quan niệm của Sylvan Barret: “Truyện ngắn hiện đại coi nhẹ yếu tố tự sự, cốt truyện thường được xây dựng cốt để bộc lộ trạng thái tâm tưởng của nhân vật chính” (Nhập môn văn học, bản dịch của Hòang Ngọc Hiến,  Hà Nội, 1992).
Thạch Lam rất quan tâm đến tâm trạng, trạng thái tâm lí - cảm tính, cảm giác và tìm cách diễn tả từng tình huống tinh thần của từng nhân vật một cách tinh tế sâu sắc.
+ Cô hàng xén: Tâm trạng của Tâm chủ yếu được tác giả biểu hiện qua dòng suy tưởng khép kín của chính Tâm.
+ Người đầm: Người kể chuyện thử “đọc” tâm tư của nhân vật. Nhà văn tạo một khỏang cách giữa người kể chuyện và nhân vật. Người kể quan sát hành vi, nét mặt cho đến ăn mặc của người đầm, từ đó tưởng tượng suy đóan, nắm bắt những gì diễn ra trong tâm hồn nhân vật.
+ Gió lạnh đầu mùa: Thạch Lam lại để cho tâm lí làm nẩy nở tâm lí. Sơn và Lan: tâm lí hai chị em  gợi ra tâm lí của mẹ, và từ đó bộc lộ phẩm chất tốt đẹp của bà mẹ bé Hiên.
+ Đứa con: Là sự đối lập chằng chéo giữa những cảnh ngộ và tâm trạng khác nhau. Bà cả là chủ, giàu có về tiền bạc; nhưng chẳng có mụn con nào. Chị Sen nghèo khó giúp việc cho bà Cả, nhưng trời lại phú cho một đứa con trai kháu khỉnh. Chị khổ mà sướng, bà Cả sướng mà lại khổ.
+ Dưới bóng hòang lan: Nhờ sự thụ cảm của các giác quan, đặc biết là đôi mắt, đối mắt của Thanh, của bà và của Nga.
    3.2. Giọng điệu:
- Truyện của Thạch Lam có sự nhất quán trong giọng điệu. Chính từ tấm lòng nhân ái, cái nhìn duy cảm đối với con người mà nhà văn luôn tạo được sự ấm áp trong giọng điệu văn chương của mình. Ngay cả khi kể về sự oan trái cay nghiệt của cuộc đời ông vẫn giữ giọng điệu ấy.
- Văn chương của Thạch Lam luôn gợi lên những hình tượng, những trạng thái cảm xúc nhờ dùng từ viết câu đúng với vị trí của chúng, khiến chúng phát sáng. “Có những ngày mà tự nhiên, không hiểu tại sao, ta thấy khó chịu, và hay gắt gỏng và không muốn làm việc gì” (Một cơn giận). Tình yêu đầu đời của đôi trai gái “có cái gì dịu ngọt chăng tơ đâu đây khiến chàng vương phải” (Tình xưa). “Thanh tiễn Nga ra đến cổng, đi qua hai bên bờ lá đã ướt đẫm sương, mùi hoàng lan thoang thỏang bay trong gió ngát” (Dưới bóng hòang lan). “Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ, từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều” (Hai đứa trẻ).
- Thạch Lam có khả năng diễn đạt chính xác các cảm giác của cái trực giác nhiệm màu của nghệ sĩ trước những biểu hiện tinh tế, phong phú và phức tạp của thế giới tinh thần, thế giới tâm linh của con người. Văn của Thạch Lam là lối văn tựa hẳn vào cảm giác tạo nên chất men đặc biệt, khiến không khí truyện, thế giới ngghẹ thuật của ông say mà tỉnh, ảo mừ thực, liên túc mà đứt đọan, rõ ràng mà mơ hồ. Ông thường sử dụng những từ cảm giác với một tần số cao: thoáng thấy, thoáng nghe, thoáng nhìn, thoáng nghĩ, thoáng ngửi, bỗng nhiên, mang máng, không rõ rệt, cảm nghe, tưởng như,... Dó đó, văn Thạch Lam là một lối văn có nhịp điệu - nhịp điệu tâm hồn con người trong sự hài hòa với xã hội và thiên nhiên.
Phong Lê: Văn Thạch Lam, “ở những truyện tiêu biểu vẫn cứ mềm mại, uyển chuyển, giàu hình ảnh, nhạc điệu mà không mất đi vẻ giản dị, tinh gọn, không thừa thãi lời chữ” (Lời giới thiệu Tuyển tập Thạch Lam, Nxb Văn học, Hà Nội, 1988).
Thế Lữ:
“Bao nhiêu băn khoăn về nghệ thuật, bao nhiêu tư tưởng cũng như bao nhiêu tình cảm rung động, lúc nào cũng chứa chất dồi dào trong tâm trí: cái kho tàng cuộc sống bên trong ấy rất sẵn châu báu, mà chỉ cầm đến bút, Thạch Lam đã thấy dàn xếp theo hình thể của lời” (Báo Thanh Nghị).
IV. Kết luận:
Nguyễn Tuân: “Ngày nay đọc lại Thạch Lam, vẫn thấy đầy đủ cái dư vị và cái nhã thú của những tác phẩm có cốt cách và phẩm chất văn học”.

Hoàng Dục
Theo http://nguoikemon.blogspot.com/



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Quan niệm của Xuân Diệu về thơ từ những câu chuyện đời thường Trong hành trình kết nối tình yêu thơ ca với bạn đọc, dẫu chưa là hệ thống...