Người ta thường biết về
phong trào Thơ Mới 32-45 qua tác phẩm phê bình “Thi Nhân Việt Nam” của Hoài
Thanh, Hoài Chân. “Thi nhân Việt Nam” đã đóng vai trò quan trọng trong việc
“Phong Thần” các thi sĩ Thơ Mới. Nhưng nhà phê bình thật sự khẳng định sự
chuyển dịch của các đỉnh cao Thơ Mới thì phải kể đến Nhà phê bình văn học Đỗ
Lai Thúy với tác phẩm “Mắt Thơ”. Sử dụng một bút pháp hoàn toàn khác, một góc
nhìn hoàn tàn khác với Hoài Thanh, Hoài Chân, Đỗ Lai Thúy đã đưa ra một cách
nhìn mới về Thơ Mới, một cách nhìn của thế giới đương đại.
Mở đầu, cuốn sách, Đỗ Lai
Thúy trích dẫn hai câu thơ:
“Ta bày
thực hư lên bàn cuộc đời
Thực hư
bày ta lên trình loài người”
(Trần
Minh Hải)
Và quả nhiên “Mắt thơ” đã
“trình bày” cho độc giả thấy cách một đỉnh cao của Thơ Mới cảm nhận về thực tại
và cách thực tại phản ánh con người cá nhân của thi sĩ. Giống như Hoài Thanh –
Hoài Chân trong “Thi nhân Việt Nam” khẳng định, Thơ Mới là một cuộc Cách mạng
trong thi ca, bởi Thơ Mới đã giải phóng cái Tôi cá nhân, giải phóng bút pháp
nghệ thuật khỏi các khuôn mẫu sáo mòn thời Phong Kiến. Thơ Mới thời 32-45
thường được gọi là thơ Lãng Mạn, nhưng chúng ta thấy Thơ Mới không hề bị giới
hạn trong Lãng Mạn, các tuyệt phẩm Thơ Mới đều mang màu sắc Tượng Trưng hoặc
Siêu Thực. Và Đỗ Lai Thúy là người tha thiết đi giải mã các yếu tố Tượng Trưng
và Siêu Thực ở các thi sĩ Thơ Mới. Chủ nghĩa Hiện đại khác biệt so với Chủ
nghĩa Cổ điển ở chỗ: Thay vì mô phỏng Thực tại hiện hữu, tư tưởng Hiện đại luôn
tìm cách cấu trúc lại thực tại theo cái Tôi.
Thơ Mới không phải là một
giải phóng Cái Tôi nữa, mà là một cuộc nổi loạn của Cái Tôi Cá Nhân. Những kẻ
nổi loạn này đã vượt thoát khỏi hình mẫu Tài Tử Nho giáo và “ông Tây An Nam”.
Hầu hết trong số họ thuộc về lớp trí thức “Tây học bản địa”. Họ trưởng thành
trong bối cảnh các phong trào đấu tranh yêu nước đang sôi sục và hầu như đều
gắn liền với các đô thị. Chữ Quốc ngữ lúc này cũng trở nên thông dụng, vượt
thoát khỏi chức năng hành chính, hòa quyện với tinh hoa ngôn ngữ dân tộc. Với
tất cả những lợi thế ấy, dưới cái nhìn của Đỗ Lai Thúy, một cuộc chuyển dịch
của Cái Tôi đã diễn ra. Cái Tôi nhà thơ của Việt Nam đã trải qua các tiến
trình: Cái Tôi Làng Xã, Cái Tôi Vô Ngã, Cái Tôi Quân Tử, Cái Tôi Tài Tử, và chỉ
đến Thơ Mới, Cái Tôi cá nhân mới bùng nổ. Sự bùng nổ này dẫn đến sự bùng nổ của
số lượng các kiệt tác. Có lẽ, từ trước đến giờ, chưa bao giờ Việt Nam có số
lượng tác giả và tác phẩm có giá trị nhiều như thời kỳ 32-45.
Cảm thức về Thực tại
thường được biểu hiện qua các lăng kính: Khái niệm Thời gian, Khái niệm Không
gian, Bản chất Con người… Thơ Mới đã tạo ra một bước chuyển mạnh mẽ về cảm thức
Thực Tại. Đỗ Lai Thúy đã chỉ rõ bước chuyển này trên từng lăng kính.
Về
Không Gian: “Đời sống đô thị giải phóng con người trước hết ở không gian. Đầu
tiên là không gian địa lý, sau đó – không gian xã hội, và cuối cùng – không
gian tinh thần” … “Xưa kia, những cảm xúc không gian bao giờ cũng nhuốm màu tôn
giáo và triết học, không gian là một khối thiêng liêng, không thuần nhất, có
trung tâm và ngoại vi. Trong cái nhìn đô thị, thính không thuần nhất và toàn
khối của nó bị biến mất. Đúng hơn, nó đã vỡ vụn ra thành những không gian nhỏ, trần
thế như những con đường, bến đò, khúc sông, quán trọ… cho vừa tầm tâm sự cá
nhân”. Qua đó, ta thấy, dường như thơ Cổ Điển là cái nhìn Toàn cảnh thì
thơ Hiện Đại là cái nhìn Trung cảnh và Cận cảnh.
Về Thời
Gian: “Trong quan niệm bác học, chỉ có một thứ thời gian tuần hoàn
theo nhịp điệu vĩnh hằng của vũ trụ. Mọi vật dường như chỉ tồn tại trong không
gian. Vì thế, người ta không hề lo lắng đến quỹ thời gian cá nhân.”… “Con người
của xã hội thị dân không còn sống theo nhịp đi muôn thuở của mùa màng, thời tiết
nữa. Họ tuân theo nhịp điệu của công việc, của sự thành đạt cá nhân trong cuộc
sống. Thời gian với họ dường như trôi chảy nhanh hơn. Cảm giác thời gian, nhất
là thời gian lịch sử, được mài sắc và chốt nhọn. Ý niệm về phát triển theo thời
gian dần dần được hình thành.”Ta có thể hiểu, với con
người Hiện Đại, con người có thể lập trình thời gian theo ý muốn của mình.
Về Con
Người: “Ở thời Phục hung, khi con người cắt đứt với các ràng buộc cộng
đồng nông nghiệp, xác định mình như là chủ thể của hành vi và ý chí của mình
thì tương quan giữa nó và thế giới cũng thay đổi. Nếu cá nhân tập đoàn khẳng
định bản ngã thông qua các quan hệ xã hội thì cá nhân cá thể khẳng định cái tôi
bất chấp các quan hệ xã hội. Nó cảm thấy mình là trung tâm. Toàn thế giới xoay
quanh nó.” Cái Tôi Cá Nhân không còn giữ vị trí khiêm nhường trước
Không – Thời gian nữa, mà ngược lại, ngạo nghễ kiểm soát Không – Thời gian. Lúc
thì lấy con người làm thước đo của thế giới như Xuân Diệu:
“Lá
liễu dài như một nét mi”
Lúc thì vạn vật, thời
gian phụ thuộc vào suy niệm và hành vi của con người như Đinh Hùng.
“Chúng
ta đến, mùa xuân thay sắc diện
Chúng
ta đi, mùa hạ vụt phai nhòa
Gương
mặt mùa thu phút chốc phôi pha
Ta dừng
gót, chợt mùa đông tàn phế”.
Đỗ Lai Thúy đã tổng kết
lại những chiến thắng mà Cái Tôi Cá Nhân đạt được sau một cuộc nổi dậy ồn ào:
Thứ nhất, thể xác và giác quan đã được giải phóng, thoát khỏi sự kìm hãm của
khuôn khổ Nho giáo. Thứ hai, đó là quyền tự do lựa chọn. Tự do lựa chọn là yếu
tố cần thiết để trở thành một Con Người Cá Nhân đích thực.
Vì vậy,
“Hành trình thám mã” của “Mắt Thơ” là Hành trình đi giải mã các tầng tâm lý cá
nhân của thi sĩ Thơ Mới. Dù cùng một thời đại, nhưng ở mỗi cá nhân đều có một
thực tại phản ánh khác nhau nên cách họ phản ánh thực tại khác nhau. Đỗ Lai
Thúy không lẩy ra các điểm thú vị như Hoài Thanh – Hoài Chân trong “Thi nhân
Việt Nam”, mà ông loay hoay tìm cách biểu hiện thực tại bên trong của các nhà
thơ. Thực tại bên trong này thể hiện qua các ám ảnh
thơ ấu, khuyết tật thân thể, hoàn cảnh sống. Những
sự khác biệt của thực tại ấy tạo nên cá tính của nhà thơ, thứ được gọi là
“phong cách”, thứ khiến mỗi nhà thơ đều có thể vỗ ngực “Ta là
Một, là Riêng, là Thứ Nhất”:
“Phong
cách cũng là chỗ đặc dị, nơi chứa đựng mật số của tác phẩm văn chương. Nếu thi
phẩm là một thông điệp nghệ thuật mà nghệ sĩ ngôn từ muốn gửi đến cho độc giả
thì thông điệp đó phải được mã hóa. Sự vào mã của thi nhân có thể diễn ra ở
tầng hữu thưc hoặc vô thức, thường thì ở cả hai. Nhiệm vụ cả các nhà phê bình là
cùng bạn đọc tìm cách giải mã tác phẩm. Trên hành trình thám mã có khi là vô
tận này, độc giả sẽ được hưởng những khoái cảm thẩm mỹ. Nếu mật số được cất
giấu ở tầng hữu thức thì sự kiếm tìm cũng dễ vì chìa khóa chỉ có thể để ở vài
“nơi quy định”. Còn khi sự mã hóa diễn ra ở tầng hầm vô thức thì coi như chìa
khóa đã rơi vào “rốn bể”.”
Đỗ Lai Thúy bắt đầu xuất
phát trên hành trình thám mã của mình qua “ngôn ngữ tác phẩm” chứ không phải
qua tiểu sử tác giả hay hoàn cảnh xã hội. Với ông “Đó là tiếng nói của con
người, là sản – phẩm – người”. Giống như một nhà thám hiểm, Đỗ Lai Thúy truy
tìm từng dấu vết, giải mã dấu vết, mở ra cánh cửa xâm nhập vào tâm thức nhà thơ
để khám phá. Với ông, khám phá là một sự thưởng lãm. Trong quá trình ấy, kiến
thức khoa học và phương pháp luận là cần thiết, nhưng cần thiết hơn hết là trực
giác, một thứ bản năng tinh thần giúp linh hồn của nhà phê bình có thể vượt qua
khác biệt về thời đại để tiếp xúc với linh hồn thi sĩ. Và điều ấy, khiến tác
phẩm “Mắt Thơ” toát lên khí vị của nghệ sĩ, Đỗ Lai Thúy trở thành một nhà phê
bình đa tình, người có thể cảm được cái tình của mỗi nhà thơ, người đã phong
tước hiệu cho mỗi cái tình.
Thế Lữ
– Người bộ hành phiêu lãng
“Người bộ hành phiêu
lãng” là một định nghĩa toàn diện về Cái Tôi của Thế Lữ:
“Tôi là
người bộ hành phiêu lãng
Đường
trần gian xuôi ngược để để vui chơi”
Đỗ Lai Thúy bình luận:
“Thế Lữ là khởi điểm của những khởi điểm”. Mặc dù Phan Khôi viết bài thơ tự do
đầu tiên, nhưng Thế Lữ mới là người làm Thơ Mới. Một người phá quy tắc trên mọi
phương diện, rời bỏ trường trung học, sống đời phiêu lãng, thì quan trọng hơn
hết, ông là người khởi đầu của nền văn hóa đô thị Việt Nam. Thế Lữ là người xây
dựng nền móng cho kịch nói Việt Nam, tiểu thuyết trinh thám, truyện đường rừng,
truyện khoa học… và thành công nhất là thơ lãng mạn.
Không ở đâu, cái Tôi Cá
Nhân lại được khẳng định như Thế Lữ, không những được khẳng định, còn được định
nghĩa một cách rõ ràng. Không còn một kẻ xưng “tôi” chung chung không cá tính,
cái Tôi của Thế Lữ mang tính định tính:
“Tôi
chỉ là một khách tình si
Ham vẻ
đẹp của muôn hình, muôn thể”
(“Cây
đàn muôn điệu”)
“Tôi
chỉ là người mơ ước thôi
Là
người mơ ước hão, than ôi!”
(“Bên
sông đưa khách”)
“Ta là
một khách chinh phu”
(“Tiếng
gọi bên sông”)
“Thế Lữ
là một chàng kì khôi”
(“Tự
trào”)
“Đó là
kẻ không nơi trú ẩn
Bốn
phương trời xuôi ngực bấy lâu nay”
Những
câu thơ này có cấu trúc của công thức khoa học. “Trong
công thức này chủ từ là “môt” , là cây đàn, là con người cá nhân cá thể còn tân
từ thì muôn điệu, muôn hình, muôn thể, muôn cá tính”. “Con
người phiêu lãng” trong thơ Thế Lữ đã vượt thoát khỏi con người
bị định hình bởi các chức năng xã hội để bước vào không gian tinh thần. Do đó,
ông tự gọi mình là “kỳ khôi”, “kẻ
không nơi trú ẩn” cùng với sự vơ vẩn,
tình si, mơ mộng… Và theo Đỗ Lai Thúy, đó là sự khẳng định “khởi
nguyên bên trong của cá nhân”. Và chính bởi thế,
Thế Lữ đã tách khỏi không gian địa lý và không gian xã hội để dành trọn đời thơ
cho không gian tinh thần, như một kẻ cô độc đi lang thang trong cõi cô đơn với
“cây đàn muôn điệu” của đầy đủ các sắc thái sầu, buồn, chán, tuyệt vọng… Điều
này trái ngược hẳn với cây đàn “độc huyền” của những hồn thơ “ưu thời mẫn thế”
trước đó.
Thế Lữ, hơn ai hết, là
một người rất chăm lo cho các “bức chân dung tự họa” bằng thơ ca:
“Thế Lữ
là một chàng kỳ khôi:
Sống
hôm nay không biết có ngày mai
Cũng
không thiết nhận cảnh đời trước mắt
Tính
giản dị lại ưa điều bí mất
Trưa
mùa hè đi vẽ cảnh đêm trăng
Ở Đồ
Sơn thuật chuyện trên rừng
Đến khi
lên thượng du, có lẽ
Anh lại
nghĩ chuyện vẩn vơ dưới bể”
Chân dung của một kẻ lấy
chơi làm sự nghiệp, mải mê với rong chơi, khước từ mọi phận vị xã hội – Đây là
loại chân dung phá cách đầu tiên của Phong Trào Thơ Mới:
“Anh dù
bảo tính tôi hay thay đổi
Không
chuyên tâm không chủ nghĩa: nhưng cần chi?”
Hay:
“Anh ta
buông bộ lốt chẳng nên thơ
Và giữ
lại chiếc mũ tang, đôi giày trắng
Với
chiếc áo đã lạt màu vì sương nắng
Anh ta
đi, đi tìm chị Ly Tao”.
Bên cạnh đó, quan niệm về
“Cái đẹp” cũng thay đổi. Thay vì tả thần như thơ ca cổ truyền, Thế Lữ đã chuyển
sang tả thực:
“Tôi
yêu đời với những cảnh lầm than
Cảnh
thương tâ, ghê gớm hay dịu dàng
Cảnh
rực rỡ, ái ân hay dữ dội”.
Cảnh
thực này chính là ảnh hưởng cái nhìn thực tại của văn hóa đô thị phương Tây.
Nói như Đỗ Lai Thúy, với Thế Lữ, cái “thường nhật đã trở thành
thơ”. Con người thường nhật trong xã hội cổ truyền thường bị bỏ
qua để nhường chỗ cho các anh hùng ca bi tráng. Nhưng Thế Lữ đã khám phá ra cái
thường nhật ở đường phố – “con đường trần gian”, nơi con người tự nguyện làm kẻ
nặc danh, nơi những kẻ phóng đãng đều được chấp nhận.
Một
phát hiện đặc biệt nữa của Đỗ Lai Thúy về thơ Thế Lữ, đó là cách tân trong
phương cách sử dụng ngôn ngữ. Nếu thơ cổ truyền là thơ của từ vựng thì thơ của
Thế Lữ là thơ của “cú pháp”. Sự thay đổi từ Tư Duy Từ Vựng sang Tư Duy Cú Pháp
đã tạo ra sự thay đổi “Cái Nhìn”, bởi thay đổi “Cú Pháp” là thay đổi cấu trúc
thơ: “Cú pháp thơ cổ điển ổn định, ít biến hóa, còn phải dựa vào sự
đăng đối và bị khuôn vào giới hạn của câu thơ. Cú pháp Thơ Mới tự nhiên, phóng
khoáng hơn, chỉ dựa vào chính bản thân nó”
Như đã nói ở trên, cú
pháp thơ Thế Lữ mang tính định nghĩa. Nhưng chính cú pháp mang tính định nghĩa
rõ ràng ấy đã tạo cơ sở để Thế Lữ thực hiện các phép đảo cấu trúc ngữ pháp như:
“Ta đợi
chết mảnh mặt trời gay gắt”
Hay
“Đỗ bờ
sông trắng con thuyền bé”
Nhưng
giống như mọi nhà thơ của đô thị, chẳng mấy chốc mà Thế Lữ thấy chán ngán, cô
đơn, chông chênh giữa phố phường. “Nhớ rừng” là một bài thơ như vậy. Một bài
thơ biểu lộ sự “ghét những cảnh không đời nào thay đổi”, và một
ước vọng trở về. Rừng, cõi Thiên Thai, những gì trái ngược với nền văn minh,
lại trở thành cõi mộng sâu thẳm nhất của Thế Lữ. Tâm thế đối lập giữa hiện thực
đô thị và quá khứ mộng tưởng xa xăm, là tâm trạng chung của cả thế hệ lúc bấy
giờ. Và mỗi nhà thơ đều có một cõi về riêng.
Chống đỡ cho cơn nghiện
rừng, nghiện Thiên Thai, Thế Lữ đã tìm đến “mộng bên hồ”:
“Đã
biết bao phen những buổi chiều thu
Ta bâng
khuâng tìm cảnh mộng bên hồ
Nhưng
ta chỉ tiếc khi ngồi lặng ngắm
Đôi mắt
cô em như say như đắm
Như in
hình ảnh giấc mơ xa”
Hồ chính là ám ảnh trong
thơ Thế Lữ. Không giống như sông hay suối, hồ là một không gian nước tĩnh lặng,
nơi in bóng của vạn vật, nơi Thế Lữ cảm nhận rõ nét nhất “hình ảnh giấc mơ xa”,
những hình ảnh của tiên nữ tắm hồ khởi đầu cho duyên trần cấu.
“Hôm
qua đi hái mấy vần thơ
Ở mãi
vườn tiên gần Lạc Hồ
Cảnh
tĩnh, trong hoa chim mách lẻo
Gió đào
mơn trớn liễu tơ buông
Nước
mát hơi thu đắm sắc trời
Trời
xanh ngăn ngắt đượm hồng phai
Ái ân,
bờ cỏ ôm chân trúc
Sau
trúc, ô kìa! Xiêm áo ai…”
(Vẻ đẹp
thoáng qua”)
Khi Thế Lữ đến với hồ,
ông dường như đã chán con đường trần. Cái Tôi đã đi hết chặng đường của nó. Đỗ
Lai Thúy đã gọi thơ Thế Lữ là “Phúc Âm” của Thơ Mới, và quả nhiên sau Thế Lữ,
những Cái Tôi Cá Nhân khác có đủ dũng thế để vươn cao dưới ánh mặt trời.
XUÂN
DIỆU – NỖI ÁM ẢNH THỜI GIAN
Thời
gian luôn là nỗi lo lắng của thi nhân. Hơn ai hết, nghệ sĩ cảm nhận thấy sự lụi
tàn và biến chuyển. “Nhưng chỉ với Xuân Diệu, thời gian mới trở
thành ám ảnh” . Qủa vậy, đúng như Đỗ Lai Thúy nhận định, Xuân Diệu nhìn
đời bằng con mắt thời gian. Ông cảm nhận thực tại qua biến chuyển của thời gian
và mong muốn thay đổi thực tại bằng thay đổi chu trình thời gian.
Xuân Diệu ví thời gian
như dòng nước chảy:
“Nước
không vội vàng
Cũng
không trễ tràng
Nhưng ví thời gian như
nước thì Xuân Diệu không mới hơn các nhà thơ cổ điển như Lý Bạch. Nhưng “cái
khác” của thơ ông nằm ở “ngọn gió thời gian”. Thời gian, không còn bị cụ thể
hóa, hữu hình hóa nữa, mà chấp nhận sự vô hình. Tức là Xuân Diệu đã định nghĩa
cái vô hình này bằng một cái vô hình khác, khiến Thời Gian mất hoàn toàn tính
xác định mà chuyển sang tính bất định.
“Cơn gió xinh thì thào
trong lá biếc
Phải chăng hờn vì nỗi
phải bay đi”
(“Vội vàng”)
Hay
“Cây bên đường, trụi lá
đứng tần ngần
Khắp xương nhánh chuyển
một luồng tê tái
Và giữa vườn im, hoa run
sợ hãi
Bao nỗi phôi pha, khô
héo, rụng rời”
(“Tiếng gió”)
Nỗi ám ảnh về thời gian
của thi nhân cổ điển thường được biểu hiện qua “lá”, thì với Xuân Diệu lại là
“hoa”:
“Hơn một loài hoa đã rụng
cành”
(Đây mùa thu tới”)
Hay
“Bông hoa rứt cánh rơi
không tiếng
Chẳng hái mà hoa cứ hết
dần”
(“Ý thu”)
Mùa thu trong thơ của
Xuân Diêu, cũng như mùa xuân, mang tính chất “không mùa”, một mùa xuân tượng
trưng và mùa thu cũng tượng trưng. Mùa thu tượng trưng cho sự tàn phai, và cứ
khi nào thi sĩ lo lắng cho sự tàn phai thì ông lại bị khí thu bủa vây. Xuân
Diệu cảm nhận sự biến chuyển, thay đổi trong từng khoảnh khắc:
“Cái bay không đợi cái
trôi
Từ tôi – phút – ấy sang
tôi – phút – này”
(Đi thuyền”)
Nhưng trái với thái độ
sống ung dung thời Cổ Điển, Xuân Diệu đề xướng sống “gấp”, sống “vội vàng”. Và
khi ấy, thơ Xuân Diệu lồng lộng gió xuân:
“Mau với chứ, vội vàng
lên với chứ
Em, em ơi, tình non đã
già rồi”
(Giục giã)
Hay
“Gấp đi em, anh rất sợ
ngày mai”
(“Vội vàng”)
“Thắng vượt thời gian
bằng tốc độ sống không đủ, mà phải thắng bằng cả cường độ sống nữa. Cường độ
sống có thể có nhiều cách hiểu, nhiều cách lý giải. Nhưng trước hết phải trân
trọng bám níu lấy sự sống trong mọi hình thái đa dạng, từ vi đến vĩ của nó”. Bởi
vậy, nổi bật trên mọi nguồn cảm hứng, cảm hứng chủ đạo của Xuân Diệu là Tuổi
Trẻ và Tình Yêu:
“Tôi kẻ đưa răng bấu mặt
trời
Kẻ dựng trái tim trìu máu
đất
Hai tay chin móng bám vào
đời”
“Mau đi thôi! Mùa chưa
ngả chiều hôm
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu
mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và
gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với
tình yêu
Ta muốn thâu trong một
cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và
cỏ rạng
Cho chếnh choáng mùi
thơm, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của
thời tươi
Hỡi xuân hồng, ta muốn
cắn vào ngươi”
Xuân Diệu thay vì đi tìm
sự vĩnh cửu bất tận, đã thiết thực hơn, đi tìm sự vĩnh cửu của khoảnh khắc.
“Thà một phút huy hoàng
rồi chợt tối
Còn hơn buồn le lói suốt
trăm năm”
Đỗ Lai
Thúy đã nhận ra một điều từ thơ Xuân Diệu rằng: “Thời
gian khoa học không phải tất cả, mà chỉ là một chiều kích trong con người. Thời
gian tâm linh biến cái thoáng chốc thành cái vĩnh cửu, tức là không gian hóa
thời gian, tĩnh hóa cái động”.
Nhưng động lực để Xuân
Diệu “bám vào đời” phải kể đến Tình Yêu. Xuân Diệu được mệnh danh là ông hoàng
thơ tình. Nhưng ít ai nhận ra rằng với Xuân Diệu, tình yêu là lẽ sống. Tình yêu
là mùa xuân trong ông, là suối nguồn Tuổi Trẻ:
“Xuân của đất trời nay
mới đến
Trong tôi, xuân đã đến
lâu rồi
Từ lúc yêu nhau, hoa nở mãi
Trong vườn thơm ngát, cả
lòng tôi”
Và nhờ sức xuân ấy, ám
ảnh thời gian ấy, sự gấp rút ấy, Xuân Diệu làm chúng ta nhớ đến thần Ái Tình
Eros, vị thần bất tử trẻ mãi không già, vị thần khiến mùa xuân nảy lộc trong
tình yêu đôi lứa.
HUY CẬN
– SỰ KHẮC KHOẢI KHÔNG GIAN
Huy Cận, người bạn thân
của Xuân Diệu, ngược lại có nỗi ám ảnh về Không gian, thứ không gian vĩnh cửu,
không gian Thiên đường. Nói chính xác thì Huy Cận ám ảnh sự trở về.
Nhắc đến Huy Cận thời 32
-45, người ta nhớ ngay đến tập “Lửa Thiêng” – Một tuyệt phẩm của Thơ Mới. Gọi
là tuyệt phẩm sở dĩ bởi đây là tập thơ toàn bích đến từng câu, từng chữ. Và
“Lửa Thiêng” chính là ngọn lửa soi tỏ cái Không Gian mà Huy Cận hằng nhung nhớ.
Nhưng cụ thể Huy Cận nhớ gì? Điều này được trình bày từ một bài thơ lạc điệu mở
đầu tập thơ, có tên “Trình bày”. Bài “Trình bày” nói về cuộc sống chốn Thiên
Đường, nơi con người hạnh phúc trong sự hòa đồng, nơi con người còn giữ được
sức mạnh của tự nhiên: “Bàn tay nở hoa”, “cây chân”, “gió mây trong miệng thở”…
Nhưng con người đã “đánh
mất thiên đường”. Đây là cảm hứng chung của thời đại, giống như cảm giác “Nhớ
rừng” của Thế Lữ:
“Nhưng
cô độc đã thầm ghi trên trán
“Cái
tôi thị dân hiện đại, sau những phấn chấn ban đầu, đã rơi ngay vào sự cô đơn.
Diện mạo tương lai thì mờ mịt, hiện tại thì bất ổn, cái tôi lãng mạn lộn ngược
quá khứ làm tương lai, bởi vậy, nó luôn nhớ tiếc quá khứ như một cái gì bình
ổn, hạnh phúc và đẹp đẽ”
Thiên
Đường chính là cái Không gian mà Huy Cận nhớ nhung, tìm kiếm. “Không
gian Lửa Thiêng là sự hóa thân của Thiên đường, của sự hòa đồng nguyên thủy thở
xưa. Đó là không gian mang tính chất vĩnh viễn, và là đối tượng để con người
chiêm nghiệm và chiêm ngưỡng”
Huy Cận gọi không gian
này bằng nhiều cái tên khác nhau như “trời xưa”, “cõi biếc”, nói chung là
một nơi xa thăm thẳm tượng trưng cho sự hoàn hảo, đối lập với “cõi đời” ở dưới
thấp. Theo như Đỗ Lai Thúy, cõi trời mà Huy Cận vẽ ra trong “Lửa thiêng” còn có
ý nghĩa quan trọng trong “tổ chức không gian theo trục dọc: trên – dưới, cao –
thấp, đẹp – xấu, vô biên – hữu hạn”. Và động tác “trông lên” là một ứng xử mang
tính triết lý sống của Huy Cận.
Khác với Thế Lữ và Xuân
Diệu, Huy Cận trở về với không gian cổ điển của trời, mây, non, nước, khi con
người chon von dưới sự chèn ép của không gian mênh mông. Huy Cận ít viết về
thành phố, vì thành phố với ông là một khúc “Nhạc Sầu”, là ám ảnh của cái
“Chết”. Ngược lại, thiên nhiên mang đến cho Huy Cận sự gần gũi với Thiên Đường
hơn.
Không gian ký ức quan
trọng nhất trong thơ Huy Cận là Vườn. Không biết Vườn trong thơ Huy Cận có chút
nào liên hệ tới Vườn Eden không. Nhưng trong mảnh vườn ấy, những cây trinh nữ
hoang sơ giữa mơ mộng yêu đương và ngủ trong lời ru âu yếm.
“Nắng
chia nửa bãi chiều rồi
Vườn
hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu
Sợi
buồn con nhện giăng mau
Em ơi
hãy ngủ anh hầu quạt đây”
Một không gian khác biểu
hiện cho sự mênh mang và ám ảnh hơn: Sông. Huy Cận làm nhiều bài thơ về sông,
nhưng “Tràng giang” giữ vị trí tuyệt đỉnh. “Tràng giang” không chỉ mô tả một
con sông dài và rộng. “Tràng giang” ẩn dụ cho không gian, nói một cách cụ thể
hơn, không gian với Huy Cận như một dòng sông không bến bờ, hoang vu, cô tịch,
không thể nào nắm bắt. Để rồi đến cuối bài thơ, ông cố níu kéo chút nhớ nhung:
“Không khó hoàng hôn cũng nhớ nhà”. “Nhà” ở đây chính là không gian. Ông đang
“nhớ không gian”.
Nỗi nhớ
“không gian” này còn khắc khoải hơn khi Huy Cận làm thơ về “Mưa”. “Với
thi sĩ mưa là vật môi giới cho nội tâm và ngoại cảnh gặp gỡ. Giữa vô thể và hữu
thể, mưa là một khiếm thể, một thể không định hình, đang chuyển hóa”. Sự
nhạt nhòa của mưa là mất đi “không gian nhìn thấy” để gia tăng “không gian nghe
thấy”
“Đêm
mưa làm nhớ không gian
Lòng
run thêm lạnh nỗi hàn bao la
Tai
nương nước giọt mái nhà
Nghe
trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn”
Tiếng mưa đã trở thành
“phương tiện chuyển hóa không gian thành tâm hồn và không gian được nội tâm
hóa, không còn phân biệt giữa cái tôi và cái phi tôi nữa”. Biến thể mưa trong
thơ của Huy Cận còn có mây và mù, có cùng tác dụng với mưa.
Đỗ Lai Thúy đã rất hóm
hỉnh trong một câu bình: “Một tập thơ có tựa đề là Lửa Thiêng mà lại đẫm nước
như vậy hẳn không khỏi gây nên những băn khoăn trong lòng bạn đọc? Mặc dù ông
đã đề cập đến vấn đề Ngũ hành tương khắc, sự đối lập giữa lửa lòng và mưa không
gian, nhưng dường như lý giải này vẫn chưa thỏa mãn. Sự đối lập này hẳn làm ta
nhớ đến “Phong Kiều dạ bạc” của Trương Kế có câu:
“Giang
phong ngư hỏa đối sầu miên”
Tức là ngọn gió trên sông
và ngọn lửa trên thuyền chài cùng nhau tâm sự chuyện sầu bất tận. Giống như
vậy, “Lửa Thiêng” chính là đại diện cho “linh hồn ngọc” của Huy Cận, để trò
chuyện và đối thoại với sự mênh mông bất tuyệt của không gian – một không gian
phi thời gian. Cuộc đối thoại ấy, là sự lan tỏa của Lửa Thiêng, để chiếm lĩnh
không gian.
“Chiếm lĩnh được không
gian, trở nên trường tồn như không gian, nghĩa là con người khắc phục được thời
gian để đi vào bất tử. Ước mơ tưởng chừng như rồ dại đó lại là một ước mơ rất
nhân bản, mà chỉ có con người mới có được. Đó là bi kịch lớn nhất, sâu sắc nhất
của nhân loại.
NGUYỄN
BÍNH – ĐƯỜNG VỀ CHÂN QUÊ
Nguyễn Bính có một Cái
Tôi hoàn toàn đi ngược lại với thời đại. Ông có một Cái Tôi Thôn Quê. Nhưng
thôn quê của Nguyễn Bính hoàn toàn nằm trong hồi ức, như một giấc mơ không
thành của anh lái đò. Như thế, vị thế của Nguyễn Bính hẳn là ở đô thị và mơ
tưởng tới làng quê. Như vậy, Nguyễn Bính bị phân thân giữa hai không gian:
Thành thị và Nông thôn.
Thành thị trong thơ
Nguyễn Bính “mang tính lưỡng trị, vừa hút vừa đẩy, vừa quen thuộc vừa xa lạ”.
Theo Đỗ Lai Thúy, ông dùng đến ba lớp từ vựng để gọi thành thị. Một là, tên gốc
của các địa danh. Hai là “những đồng nghĩa với thành phố nhưng bị giảm giá bởi
những định ngữ đóng đinh vào nó” như “cát bụi”, “gió mưa phai”…Ba là những từ
biểu hiện sự đối lập với nông thôn như “phồn hoa”, “xứ người”. Những cảm xúc bơ
vơ, lạc lõng, lo âu được Nguyễn Bính gọi tên là “sầu đô thị”
“Chẳng
đợi mà xuân vẫn cứ sang
Phồn
hoa thôi hết mộng huy hoàng
Sáng
nay sực tỉnh sầu đô thị
Tội lại
về đây rất vội vàng”
Trong
cõi sầu đô thị này, không ít lần Nguyễn Bính tìm đến cõi mơ, giấc mơ của anh
lái đò, giấc mơ ở vương quốc bướm, giấc mơ của “Rừng
mơ hiu hắt lá mơ rơi”.Nhưng cái đau đớn là Nguyễn Bính luôn sớm tỉnh
mộng. Và ở ông, luôn có sự dùng dằng giữa thực hư, cũ mới, chân quê và thành
thị…
VŨ
HOÀNG CHƯƠNG – ĐÀO NGUYÊN LẠC LỐI
Đỗ Lai Thúy đã viết một
câu mang tính định mệnh với Vũ Hoàng Chương: “Có thể nói Vũ hoàng Chương đã cô
đúc toàn bộ triết lý cuộc đời và nghệ thuật của mình vào một chữ “Say”.” Điều
này khiến cho độc giả nhiều thế hệ sau vẫn liên tưởng đến Vũ Hoàng Chương như
một nhà thơ “Say”. Và cơn say là một cách để Vũ Hoàng Chương kiến tạo thực tại
theo cách của riêng mình. Thơ Vũ Hoàng Chương, chính là gạch nối để dẫn Thơ Mới
từ Lãng Mạn vào cõi Tượng Trưng.
Đỗ Lai Thúy đã có một
phát hiện thú vị trong cấu trúc của tập “Thơ Say”. Ông phân tích từ các tiểu
mục của tập: “Say – Mùa – Yêu – Cưới – Lỡ làng – Lại Say”. Ông gom các tiểu mục
ở giữa lại thành một cấu trúc tổng quát hơn về đời thơ của Vũ Hoàng Chương:
“Say – Tỉnh – Lại Say”, còn “Mây” là sự nối tiếp của một cơn say miên viễn.
Trong đó, “Cái Say đầu tiên là tiền định, một đam mê tự nhiên của con người,
nhất là các thi nhân, còn cái Say thứ hai mang tính nhân tạo. Bí mật của Vũ
Hoàng Chương nằm ở đấy, “Lại say”…”
Đọc những bài thơ có vẻ
“Tỉnh” của Vũ Hoàng Chương, ta thấy tràn ngập tâm sự: Sự tiếc nuối cõi mộng.
Ông thể hiện một sự chán chường của “chàng Si tội nghiệp”, về sự phân cách
“Hồn” và “Xác”, “Mơ” và “Thực”, “Thượng giới và Hạ giới”. Trong cõi tỉnh này,
với Vũ Hoàng Chương, đó là:
“Lìa xứ
Mộng giong thuyền qua bến tục”
(“Tân
hôn”)
Hay
“Và
đương rụng, giữa luồng giăng chênh chếch
Cánh
hoa tàn sau chót của Ngây thơ”
Thơ Vũ Hoàng Chương, như
ta thấy, phân rõ nhị nguyên và hoàn toàn duy lý. Bi kịch của duy lý đó là, sau
khi tự chia rẽ bản thân đến cùng cực, linh hồn thi sĩ bắt đầu đi tìm cách hàn
gắn. Và Vũ Hoàng Chương lại tìm về cõi Liêu Trai:
“Khí
thiêng chừng sớm lìa nhân thế
Dương
thịnh rồi chăng Âm đã suy
Quajnh
quẽ thu phần thơ bặt tiếng
Lầu
hoang chìm cỏ dấu hồ ly”
(“Cảm
thông”)
Và theo dấu Hồ Ly, Vũ
Hoàng Chương đã tìm về cõi Say của mình. Vũ Hoàng Chương nhận ra sâu sắc một
điều rằng, trong cơn say, những mảnh vỡ vụn mới bắt đầu hợp nhất:
“Đàn
với bút, tài sơ không chép nổi
Những
cao xa để mộng chẳng nên hình
Hãy còn
Men, người vợ góa Lưu Linh
Đưa lối
những chàng say về Lý Tưởng”.
Không chỉ bằng hơi men,
Vũ Hoàng Chương đã từng thử hàn gắn bằng tình yêu, tình dục. Nhưng rồi thì ông
vẫn “Lại Say” để tìm lại Đào Nguyên.
“Trên nẻo
hư vô mơ hồ chiếc bách
Khói
dìu đi, men đẩy phía sau khoang”
Nhưng đỉnh cao trong số
các bài thơ say của Vũ Hoàng Chương phải nhắc đến “Mời say”. Ở trạng thái tỉnh,
hồn thơ còn nhị nguyên, còn phân biệt với thể xác. Nhưng trong cơn say, say
rượu, say nhạc, say không gian, say sầu… thì sự phân biệt này không còn nữa:
“Hồn
ngã lâu rồi nhưng chân còn dẻo
Lòng
trót nghiêng mà bước vẫn du dương
Lòng
nghiêng tràn hết yêu thương
Bước
chân còn nhịp Nghê Thường lẳng lơ”.
Và
trong cơn say, người bạn nhảy cũng biến thành hư ảnh:
“Ta quá
say rồi!
Sắc ngã
màu trôi
Gian
phòng không đứng vững
Có ai
ghì hư ảnh sát kề môi?”
Hư ảnh chính là từ khóa
cho sự hợp nhất trong thơ Vũ Hoàng Chương. “Ngôn ngữ của thế giới cái thực và
ngôn ngữ của thế giới cái ảo đối xứng nhau qua ngôn ngữ của thế giới cái hư
ảnh”. Hư ảnh nằm ở vị trí trung tâm, còn Thực và Ảo xoay quanh ngoại vi đường
tròn, phân bố đối xứng với nhau. Khi tỉnh, đường tròn đứng im, mọi thứ đều phân
biệt rõ ràng và Hư Ảnh chiếm không gian nhỏ. Khi say, đường tròn chuyển động,
ranh giới thực ảo nhòe đi, đến hòa lẫn, và Hư Ảnh lên ngôi.
Đây có thể coi là chương
viết ngoạn mục nhất trong “Mắt Thơ” của Đỗ Lai Thúy. Ông không chỉ đi tìm các
nhãn tự trong thơ nữa, không còn là phân tích thơ nữa, ông đã khám phá ra cấu
trúc tư duy của Vũ Hoàng Chương.
ĐINH
HÙNG – NGƯỜI KIẾN TRÚC CHIÊM BAO
Mở đầu những trang viết
về Đinh Hùng, Đỗ Lai Thúy viết về những cơn sang chấn tâm lý. Ám ảnh lớn nhất
của Đinh Hùng chính là cái chết. Những người gần gũi nhất với Đinh Hùng đều yểu
mệnh. Trước hết phải kể đến mỹ nữ Tuyết Hồng, chị gái Đinh Hùng, đã tự tử ở hồ
Hoàn Kiếm, tạo nên một “mùa tự tử” lúc bấy giờ. Sau cái chết của Tuyết Hồng là
cái chết của cô Loan, song thân ông Hàn và bà Hàn, của Thạch Lam – bạn thân
nhất của Đinh Hùng, của Liên – cô em họ xa mà Đinh Hùng yêu tha thiết.
Ám ảnh về cái chết này bị
kích thích thêm bởi chính thực tại đô thị mà Đinh Hùng đang sống – một thực tại
chớp nhoáng, mong manh, dễ đổ vỡ. Vì thế, Đinh Hùng đi tìm kiếm cái vĩnh
cửu ở chiều kích khác – cái thiên nhiên. Nhưng không chỉ là thiên nhiên của núi
rừng hoang sơ, Đinh Hùng muốn đánh thức dậy thời nguyên thủy, nơi mà “không
gian và thời gian không phân biệt, nơi vĩnh cửu ngự trị”.
“Khi
miếu đường kia phá bỏ rồi
Ta đi
về những hướng sao rơi
Lạc
loài theo dấu chân cầm thú
Từng
vệt dương sa mọc khắp người”…
“Từng
buổi hoàng hôn xuống lạ kỳ
Ta nằm
trên cỏ lắng tai nghe
Thèm ăn
một chút hoa man dại
Rồi ngủ
như loài muông thú kia”
(“Những
hướng sao rơi”)
Mọi ngôn từ của Đinh Hùng
đều hướng tới sự hoang dại cổ xưa, nhưng sự hoang dại này không tàn bạo, mà
thuần khiết tự nhiên và huyền bí.: “man dại”, “man rợ”, “hoang thảo”:
“ÔI bí
mật của tấm lòng để ngỏ!
Đã ai
vào dò xét chuyện rừng sâu”…
“Chúng
tôi gặp nhau bên dòng suối ngọt
Làm đôi
người cô độc thuở sơ khai
Nàng
bang khuâng đốt lửa những đêm dài
Ta từng
thuở bơ vơ tìm bộ lạc”
(“Người
gái thiên nhiên”)
Thơ Đinh Hùng tràn ngập
vẻ đẹp kỳ vĩ. Sửng sốt trước vẻ đẹp này, Thế Lữ đã lấy thơ Đinh Hùng đưa vào truyện
“Trại Bồ Tùng Linh” của mình, và cũng từ đó Thế Lữ không viết thơ nữa.
“Lòng
đã khác ta trở về Đô Thị
Bỏ
thiên nhiên huyền bí của ta xưa
Bóng ta
đi trùm khắp lối hoang sơ
Và chân
bước nghe chuyển rung đồi suối
Trông
thấy ta cả cõi đời kinh hãi
Dòng
sông con nép cạnh núi bên thùy
Đường
châu thành quằn quại dưới chân đi
Xao
động hết loài cỏ hoa đồng nội”
(“Bài
ca man rợ”)
Đinh Hùng như một ngôn sứ
của thuở hồng hoang đi đến thế giới hiện đại để cảnh tỉnh, cảnh tỉnh những con
người đã quên đi cội nguồn của mình, kìm hãm sự “man rợ” và tha hóa. Ngay cả
đàn bà, gần gũi với tự nhiên nhất, cũng dần “lạc thiên nhiên”, đánh mất chính
mình. Nhưng sau những cơn tàn phá, Đinh Hùng nhận ra rằng mình vẫn tiếp tục cô
độc. Đinh Hùng lại đi tìm người đàn bà tuyệt đối – một thứ mặc cảm Pigmaleon.
“Những
buổi đó ta nhìn em kinh ngạc
Hồn mất
dần trong cặp mắt lưu ly
Ôi mắt
xa khơi! Ôi mắt dị kỳ
Ta
trông đó thấy trời ta mơ ước
Thấy cả
bóng những vừng đông thuwor trước
Cả con
đường sao mục lúc ta đi
Cả
chiều sương mây phủ lối ta về
Khắp vũ
trụ bỗng vô cùng thương nhớ”.
Đinh Hùng không hề hướng
chút nào đến hiện thực hiện hữu, ông chọn lựa một thực tại khác, thực tại của
tưởng tượng và hư cấu. Tại thực tại này, mọi ranh giới không – thời gian đều bị
xóa nhòa, và ông đạt đến sự vĩnh cửu. Ông tự nguyện sống là chính mình một cách
tuyệt đối, không do dự. Để là chính mình, ông bỏ học, để tóc kiểu Beatles,
không đi làm viên chức, hút thuốc phiện, viết truyện “Đám Ma Tôi” về cái chết
của chính mình”. Cho đến giờ, cũng chưa có nhà thơ nào quyết liệt là chính mình
như Đinh Hùng, cả trong thơ cũng như trong đời. Đúng như Đỗ Lai Thúy nói, Đinh
Hùng hoàn toàn “hiến mình cho thơ”. Chính sự quyết liệt này khiến Đinh Hùng
bước hẳn vào thơ Tượng Trưng với tâm lý học miền sâu. Đinh Hùng đi vào “Ác
mộng” tuyệt đối của chính mình, khi mình trở thành kẻ độc tài bạo chúa trong
mọi điều mình sở hữu. Rồi ông lại đi vào cõi Chết và đắm chìm troi bóng tối u
ám… Trong mỗi lần bước chân vào thực tại khác, ông lại ghi dấu bằng các biểu tượng.
Biểu tượng rõ nét nhất
của Đinh Hùng là “mặt trời máu”: “Một mặt trời đẫm máu xuống sau lưng”. Câu
này, so với “Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt”, thì bạo liệt gấp bội phần, bởi
nó tượng trưng cho cái chết của vĩnh cửu.
Ngoài gia, nấm mộ cũng là
một thế giới với Đinh Hùng. Nấm mộ chính là thực tại bên kia mà với Đinh Hùng,
còn sống động hơn thế giới thật:
“Nàng
nằm mộng suốt đêm hè dưới nguyệt
Nụ cười
buồn lay động ánh trăng sao
Xa nấm
mồ chúng ta cuồng dại hết
Để yêu
tà về khóc dưới non cao”
(“Tìm
bóng tử thần”)
Theo tính toán của Đỗ Lai
Thúy, cả tập “Mê hồn ca”, Đinh Hung sử dụng đến 85 chữ “hồn” với năm nghĩa như
sau:
1. Linh
hồn (người): “Em có mấy linh hồn, bao nhiêu mộng”
2. Hồn cầm
thứ: “Cảnh diễm lệ ngẩn ngơ hồn cầm thú”
3. Hồn cỏ
cây : “Mùi cỏ lá bỗng thoảng hồn mong nhớ”
4. Hồn của
vật vô tri: “Hồn gỗ đá nặng nề vừa tỉnh giấc”
5. Hồn của
những cái trừu tượng: “Cảm hồn trời bao dẫy núi trầm tư”
Thơ Đinh Hùng là một bước
đột phá trong Thơ Mới, từ khi có ông, Thơ Mới bước hẳn sang cõi tượng trưng.
Bởi vây, đương thời, thơ Đinh Hùng ít độc giả. Ông “lấy biểu tượng làm trung
tâm”, “những biểu tượng dựa trên khám phá và tâm lý học miền sâu. Bởi vậy, biểu
tượng thơ Đinh hùng là chiếc cầu nói từ hữu thức sang vô thức, từ hữu hình sang
vô hình, từ thực sang ảo”. Ông đã bước ra khỏi thế giới thơ Lãng mạn và bước
hẳn sang thế giới thơ của chính mình. Ông đã kiến tạo ra một thế giới nghệ
thuật riêng – Điều hiếm có trong thơ ca Việt Nam.
BÍCH
KHÊ – SỰ THỨC NHẬN NGÔN TỪ
Bích Khê là một hồn thơ
đặc biệt, một người ý thức rất rõ ràng con đường Tượng Trưng của mình, một
người khiến Hàn Mặc Tử cũng phải nghiêng mình kính phục.
“Hỡi
lời ca man dại
Điệu
nhạc thở hơi rừng
Đêm nay
xuân đã lại
Thuần
túy và tượng trưng”
Ở Bích Khê, chất tượng
trưng được biểu hiện rõ nét nhất. Ở thơ Lãng mạn, cảm xúc giữ vai trò chủ đạo,
nhưng với Tượng Trưng, các thi sĩ đã “đặt thơ vào cái vô hình, và xuất phát từ
cảm giác. Thơ Tượng Trưng, vì thế, không còn truyền cảm mà đã là gợi cảm, gợi
ý. Với thơ truyền cảm, cảm xúc do thơ tạo ra là đồng dạng, nghĩa là, bất cứ độc
giả nào cũng thấy rõ được ý tưởng, những hình ảnh và thu được những xúc động
tương ứng. Trong khi đó, thơ gợi cảm thường để lại những khập khiễng trong bạn
đọc”. Và bởi thế, ngôn ngữ là yếu tố quan trọng trong thơ Tượng Trưng. Bích Khê
đã có những tuyên ngôn như một sự thức nhận về ngôn ngữ của mình qua bài “Duy
Tân”:
“Đường
kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới
Của lời
ca long đẹp. Hạt châu trong.
Hạt
châu trong ngời nhỏ giọt vô lòng
Tràn âm
hưởng như chiều thu sóng nắng”
“Điệu mới” của ông chính
là sự “ứng chiếu” để tạo thành “nhất thể hóa giác quan”. Sự ứng chiếu này chính
là hợp thể giữa trục hoành “vũ trụ – vũ trụ” và trục tung “con người – vũ trụ”,
để “đọng lại một ấn tượng phi hình thể do những mảng màu sắc, hình khối, âm
điệu,c ảm giác tương quan với nhau tạo nên. “
“Mộng?
Thiên
tài:
Trên
hỗn độn khỏa thân
Đẹp tỉ
mỉ, hỡi rung động truyền thần”
Đỗ Lai Thúy đã chỉ ra
rằng “Đi tìm cái thống nhất của hỗn độn là nguyên lý chi phối đường hướng cách
tân thơ Bích Khê.
Giống như Đinh Hùng, Bích
Khê cũng mắc căn bệnh mặc cảm Pigmaleon, Dường như mọi nhà thơ bước sang Tượng
Trưng đều mắc căn bệnh này – những kẻ long lanh hóa thực tại khác bằng trí
tưởng tượng của mình. Và thực tại của Bích Khê được kiến tạo bằng các ẩn dụ.
Các ẩn dụ của Bích Khê
không sáo mòn, mà ngược lại, ông chống lại sự “xói mòn ngôn ngữ” bằng việc phục
sinh lại nghĩa của từ nguyên. Ví dụ như từ “lệ ngọc”, nghe đã chán tai, thì với
Bích Khê, ông hồi sinh lại bằng mấy câu thơ:
“Lệ
tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc”
Hay
“Những
đôi mắt, kho tang muôn châu báu
Có
những hàng đũa ngọc gắp hương yêu”.
Hoặc từ
“trắng tinh” thì được Bích Khê tái hiện lại bằng:
“Những
vú nõn: đồi cong tho, nho nhỏ
Với đôi
hàng suối sữa trắng như tinh”
Bích Khê bị ám ảnh màu
trắng. Không gian ông phủ một màu trắng siêu hình, trắng tuyệt đích, không phải
màu trắng tang tóc mà là màu trắng tinh khôi.
“Muôn
thứ đàn rung trên da thịt tuyết
Đàn và
thơ kết thành dây tinh huyết”
Hay
“Da
thịt phô bày ý tuyết băng”
Bích Khê có biệt tài
trong việc biến chuyển các ẩn dụ, tạo ra cái mới dựa trên nền cái cũ. Ví dụ
trong một lần tả trăng, Bích Khê viết:
“Lò mò
đường lên mây
Chén
trăng vừa tâm với
Chàng
ơi, vàng ròng đây
Kề môi,
say ân ái”
(Ngũ
hành sơn)
“Ẩn dụ
chén trăng đã làm nổ một dây chuyền ngữ nghĩa. Trăng màu vàng nên chén
trăng cũng màu vàng, nhưng khi thi nhân hạ bút “vàng ròng” thì chén trăng lại
thêm một lần chuyển nghĩa nữa, chén bằng vàng, biểu tượng của sự quý giá. Chén
làm liên tưởng đến thứ đựng trong chén, rượu, nên có thể kề môi và say, nhưng
say ân ái thì chén trăng lại là chén tình yêu.” Và thế giới thực về đêm trăng ở
Ngũ Hành Sơn đã thành thực tại của tượng trưng.
Một điểm đặc biệt nữa của
Bích Khê được Đỗ Lai Thúy phát hiện ra, đó là các “Biểu tượng trùng phức”. Biểu
tượng có nguồn gốc từ xa xưa để diễn ta thế giới bên trong, thế giới vô hình,
hoặc cái không thể nói ra. Nhà thơ nào cũng có một hệ thống biểu tượng riêng,
nhơ ở thơ Lãng Mạn biểu tượng mang tính đơn, chủ yếu để phản ánh cái tôi bên
ngoài, cái tôi xã hội. Nhưng từ Bích Khê trở về sau, những biểu tượng trở nên
trùng phức, phức tạp – Cái Tôi Tâm Linh Bí Ẩn.
Ví dụ như trong trường
hợp cái “Sọ Người”. Hộp sọ người xuất hiện nhiều trong nghệ thuật. Trong
Hamlet, sọ người tượng trưng cho triết lý về cái chết. Cái sọ trong Điêu Tan
của Chế Lan Viên thì ngả sang xu hướng tâm linh. Con “Sọ Người” của Bích Khê
thì đưa ra cái thực tại bên trong sọ người:
“Ôi
khối mộng của hồn thơ chếnh choáng!
Ôi
buồng xuân hơ hớ cánh đào sương!
Ôi bình
vàng! Ôi chén ngọc đầy hương
Ôi hồ
nguyệt trọng nhiều trăng lấp loáng”
Sọ Người trong thơ Bích
Khê là biểu tượng trùng phức của nhiều lớp nghĩa, vừa là”dung nhan mai hậu”,
“biểu trưng cho sự tàn nhẫn của một người đàn bà đẹp”, “hậu quả của một sự đau
khổ, có thể là tuyệt vọng”, và “sau cùng, sọ người báo trước người đàn bà đẹp
phải chết!”
Bích Khê đã tuyên bố rằng
ông tìm ra giai điệu mới. Và quả nhiên, ông đã tìm ra giai điệu mới theo đúng
nghĩa đen. Bích Khê là nhà thơ hiếm hoi cách tân nhạc điệu của thơ. Ông làm
nhiều bài thơ chỉ có thanh bằng như bài “Nhị hồ” hay “Tì bà”
“Sương
nương theo trăng ngưng lừng trời
Tương
tư nâng lòng lên chơi vơi”
“Thi
vị” cũng là một nhạc khúc kỳ diệu, với sự láy đi láy lại hai ám ảnh của “vàng”
và “rơi”:
“Lá
vàng rơi
(Tôi
khóc, anh ơi!)
Đàn
rung tiếng
Người
yêu đương ngồi…
Trăng
vàng rơi
(Tôi
khóc, anh ơi!)
Đàn
nghẹn tiếng
Người
yêu dậy rồi…
Hoa
vàng rơi
(Tôi
khóc, anh ơi!)
Đàn câm
tiếng
Người
yêu đi rồi…
Sao
vàng rơi
(Thôi
hết, anh ơi)
Đàn bẻ
phím
Người
yêu chết rồi”
Đỗ Lai Thúy gọi thơ Bích
Khê là “một cõi trời”, nơi phản ánh tâm hồn ông, phản ánh kiến trúc ngôn từ của
ông với các vật liệu mới, màu sắc mới, đường nét mới. Chính bởi vậy, nên thơ
Bích Khê quả là “một cõi trời ở ngoài trời”
HÀN MẶC
TỬ – MỘT TƯ DUY THƠ ĐỘC ĐÁO
Dường như Đỗ Lai Thúy gặp
rắc rối trong việc phong tước hiệu cho Hàn Mặc Tử. Tiểu đề này ông đặt ra một
lời khẳng định quá chung chung: “Tư duy thơ độc đáo”. Sự độc đáo của Hàn Mặc Tử
cũng được ông điểm qua một vài nét phác thảo:
Thứ
nhất, đó là sự gợi cảm. “Nhà thơ đã phóng chiếu
những rạo rực, bản năng ra ngoài vũ trụ”. Ta thấy rõ điều này
trong bài “Bẽn lẽn”
“Trăng
nằm sõng soài trên cành liễu
Đợi gió
đông về để lả lơi
Hoa lá
ngây tình không muốn động
Lòng em
hồi hộp chị Hằng ơi”
Ở phương diện này, Hàn
Mặc Tử là một thày phù thủy đã biến đổi thực tại hiện hữu thành thực tại của
chính mình, một nhà giả kim thuật của thi ca. Ông sắp xếp những thứ tưởng chừng
như chẳng liên quan thành một thể và thổi vào trong đó nguyên tố linh hồn –
nguyên tố của sự sống. Và do đó, Hàn Mặc Tử đã bước hẳn sang thế giới thơ Siêu
Thực.
“Hàn
Mặc Tử, tuy tự mình đi tìm một mạch từ cổ điển đến siêu thực, nhưng thơ ông
chính rộ vào quãng gối đầu giữa Tượng Trưng và Siêu Thực. Hơn nữ, điều quan
trọng hơn, là tạng thơ Hàn. Cái thực và cái ảo vốn nằm sẵn trong bản thân con
người, là những chiều kích khác nhau trong con người. Con người bị mất thăng
bằng do bệnh tật hay chấn động tâm lý thường là dịp cho những tiềm ẩn ấy bộc
lộ. Kiểu tư duy, khí chất và bệnh tật làm cho Hàn Mặc Tử luôn luôn phân thân,
mộng mị và hoang tưởng”. Trong cuộc lạc lối này, Hàn Mặc Tử đã
tìm về tôn giáo, một thế giới siêu thực thuần túy. Nhưng Hàn Mặc Tử không phải
là nhà thơ tôn giáo, ông là một nhà thơ có tư duy tôn giáo, tức là tinh thần
siêu thực của tôn giáo đã nhập thể với ông.
“Mới
hay cõi siêu hình cao tột bực
Giữa hư
vô xây dựng bởi trăng sao
Xa lắm
rồi, xa lắm, hãi nhường bao!
Ai tới
đó chẳng mê man thần trí
Tòa
châu báu kết bằng hương kì dị
Của
tình yêu rung động của hào quang
Những
cù lao trôi nổi xứ mênh mang
Sẽ qui
tụ thâu về trong một mối
Và tư tưởng chẳng bao giờ
chắp nối”
Sự nhập thể này đã tạo ra
một phá cách êm ái với Thơ Mới. Ông “kết hợp nhuần nhuyễn với chất trữ tình
trên cơ sở cái tôi cá nhân hiện đại” và “Tư duy tôn giáo với tính hệ thống chặt
chẽ của nó làm cho các yếu tố tượng trưng, cổ diển của thơ Đường, tượng trưng
tôn giáo, lãng mạn, siêu thực… vốn rời rạc, lẻ tẻ trước đây kết thành một cấu
trúc nghệ thuật hoàn chỉnh”. Hơn thế nữa, ông phá vỡ con người “nguyên phiến”
để tạo ra con người “đa chiều kích”: “Bóng ai theo dõi bóng mình”. Cuối cùng
thì, ông đã tạo ra những hình ảnh tân kỳ do sự kết hợp với tư duy tôn giáo:
“Lụa
trời ai dệt với ai căng
Ai thả
chim bay đến Quảng Hàn
Và ai
gánh máu đi trên tuyết
Mảnh áo
da cừu ngắm nở nang”
(“Cuối
thu”)
Nhưng chỉ với các cơn
“trăng”, Hàn Mặc Tử mới biểu hiện hết được tính siêu thực của mình. Không chỉ
tạo ra những hình ảnh trăng thi vị, Hàn Mặc Tử còn “trăng hóa” bản thân mình:
“Mới
lớn lên trăng đã thẹn thò
Thơm như
tình ái của ni cô”.
(“Huyền
diệu”)
“Không
gian dày đặc toàn trăng cả
Tôi
cũng trăng mà nàng cũng trăng”.
Cùng
với “hồn” và “máu”, “trăng” tạo thành “tam vị nhất thể”:
“Thịt
da tôi sượng sần tê điếng
Tôi đau
vì rùng rợn đến vô biên
Tôi dìm
hồn xuống một vũng trăng êm
Cho
trăng ngập dần lên tới ngực”.
Không hề nói quá khi ví
Hàn Mặc Tử là con trai kết đớn đau thành ngọc quý. Hàn Mặc Tử bị bệnh phong,
những cơn đau hành hạ ông thảm khốc, nhưng ông – một nhà giả kim thuật linh hồn
– đã hun đúc đớn đau thành thơ, và thơ ấy đã biến đổi thực tại nhàm chán này
thành một vẻ lung linh hơn, huyền ảo hơn.
XUÂN
THU NHÃ TẬP – KHÚC HÁT THIÊN NGA
Khác với “Thi Nhân Việt
Nam”, Đỗ Lai Thúy đưa vào quyển sách về Thơ Mới của mình hai tượng đài đặc biệt,
đó là Đinh Hùng và Xuân Thu Nhã Tập. Đến giờ chưa ai hiểu tại sao Đinh Hùng
không được đưa vào “Thi nhân Việt Nam”, nhưng trường hợp của “Xuân Thu nhã tập”
thì có thể lý giải, người ta thường coi “Xuân Thu Nhã Tập” như “tiếp nối Thơ
Mới”, vì sự ra đời muộn mằn của nhóm: năm 1942 – khi xã hội đã chuyển mình theo
cách cuộc Cách Mạng Vô Sản.
Ít người biết đến “Xuân
Thu Nhã Tập”, không phải vì vấn đề thời đại nữa, mà còn chính bởi các thi sĩ ấy
có thứ ngôn ngữ huyên học của Đạo học phương Đông, thứ ngôn ngữ vô cùng khó
hiểu và không đại chúng. Khi Xuân Thu Nhã Tập xuất hiện, người ta đã cho rằng
thơ Tượng Trưng làm triệt tiêu cái tôi, nhưng không phải, Đỗ Lai Thúy đã chỉ ra
được một điểm cốt lõi của Cái Tôi. Đó là Cái Tôi bao hàm cả Cái Phi Tôi, vì chỉ
với Cái Phi Tôi, Cái Tôi mới được biểu hiện. Và như vậy, thơ Tượng Trưng với
các chiến tướng của Xuân Thu Nhã Tập đã nới rộng đường biên của phạm trù Cái
Tôi Cá Nhân.
“Xuân Thu Nhã Tập” là một
tập thơ, văn, nhạc, họa của một nhóm bạn bè cùng tâm huyết, cùng chí hướng, bao
gồm Nguyễn Lương Ngọc, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Xuân Sanh, Phạm Văn Hạnh, Nguyễn Đỗ
Cung và Nguyễn Xuân Khoát.
“Xuân
Thu, theo cổ tự: cỏ hoa nảy nở dưới mặt trời, và bông lúa chính… Một biểu tượng
đương nhiên, cái nhịp của cuộc sống vô cùng. Sắc xuân và hương thu. Hai mùa quá
độ, uyển chuyển trong khoảng cao, trong, nhẹ.
Hai mùa
thực hiện Đẹp và Thơ
Hai mùa
rung động cảm thông Người với Trời Đất, Trời Đất với người”
(Quan
niệm)
Sau khi đi một vòng khám
phá, Cái Tôi lại quay về với phương Đông và tìm thấy đạo học. “Cái tôi là một
thực thể hữu hạn cả trong không gian lẫn thời gian, cả ở khả năng nhận thức.
Bởi vậy, tôi luôn luôn sống trong lầm lạc, mâu thuẫn và đau khổ. Tôi là tiểu
ngã, đối với đại ngã là cái ta không bị giới hạn, vĩnh hằng và toàn diện. Ở cái
ta mọi mâu thuẫn đều được hóa giải: Tất cả là một, một là Tất cả”. Và bởi vậy,
nghệ sĩ của nhóm này coi “nghệ thuật là rung động, rung động theo nhịp điệu vũ
trụ”.
Bởi vì, thơ, cũng là sự
rung động, nên giai điệu của thơ và các biểu cảm trong ngôn ngữ tượng
trưng chính là cột đỡ của mỗi tuyệt phẩm. Và đi tìm sự khác biết trong các nhà
thơ “Xuân Thu Nhã Tập”, chỉ cần tập trung vào tính nhạc.
Đoàn Phú Tứ với nhịp điệu
thơ miên mang với các điệp âm:
“Sớm
nay tiếng chim thanh
Trong
gió xanh
Dìu
vương hương ấm thoảng xuân tình”
(Màu
thời gian)
Còn với
Phạm Văn Hạnh, đó là “cốt cách rắn rỏi, như một thuật sĩ yoga, vừa khuôn phép,
vừa phóng túng”:
“Người
có nghe ru nhánh nhạc gầy
Dạt dào
sóng thắm xõa muôn giây
Trưa
nay gió dị òa trong tóc
Hoa
khép òa lên tiếng nước mây”
Nguyễn Xuân Sanh, nhà thơ
trẻ tuổi nhất, cũng chính là “điểm đi” của nhóm, và sớm đặt ra nhiều vấn đề của
thơ Hiện đại Việt Nam. Ông viết nhiều bài như “Buồn xưa”, “Hồn ngàn mùa”, “Bình
tàn thu”…
“Lẵng xuân
Bờ giữ trái xuân sa
Đáy đĩa mùa đi nhịp hải
hà
Nhài đàn rót nguyệt vú
đôi thơm
Tì bà sương cũ đựng rừng
xa”
(Buồn xưa)
Những câu thơ như vậy
liệu có thể là lắp ghép? Hay muốn đọc nó, không còn có thể dễ dãi của tuyến
tính mà phải đọc bằng cả trực quan phi tuyến tính. Cách viết này đã mở đường
cho các Cách tân thơ mạnh dạn hơn ở giai đoạn sau như ở Trần Dần, Lê Đạt, Đặng
Đình Hưng…
LỜI KẾT
Đi từ Thế Lữ với một Cái
Tôi Cá Nhân trực diện, Cái Tôi đã thực hiện một hành trình để mở rộng và trưởng
thành. Nhưng cho dù Cái Tôi đi đến đâu, họ vẫn là tìm về Cái Ta. Rừng, sự vĩnh
cửu, Thiên Đường, Chân Quê, hợp nhất, thời Thái Cổ, tuyệt đích… tất cả đều là
Cái Ta. Nhưng Cái Ta thật sự chỉ chạm đến khi Cái Tôi dũng cảm dấn bước.
Khi Đỗ Lai Thúy “thám mã”
từng nhà thơ, tôi tin rằng Cái Tôi của ông cũng đang dấn bước để với một cái Ta
Toàn thể. Thông qua tâm trí thơ của thi sĩ, Đỗ Lai Thúy tự mở ra cánh cửa bươc
sang thực tại khác cho mình. Nhưng nhà phê bình không dừng ở các cánh cửa lớn
ấy, ông đã dồn công sức viết “Thơ – Như là Mỹ học của Cái Khác”, có thể coi là
“Mắt thơ 2”, sắp tới là “Mắt thơ 3”. Mỗi cuốn “Mắt Thơ” như một chặng đường mới
với thử thách mới để vượt qua, để tìm thấy đỉnh cao của mình. Đúng như ông nói,
với ông “Phê bình chính là bản mệnh”.
Hà Thủy Nguyên

















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét