Vào đầu những năm 1990, trong sổ chép thơ của các thiếu nữ mới
lớn hầu như không có mấy cuốn lại thiếu những bài “Đơn phương”, “Thì anh lại sợ”,
“Bên lề”, “Ví dầu”… của nhà thơ Phạm Đức. Và có những chàng trai đã đốn gục
trái tim người con gái mình thầm thương trộm nhớ chỉ sau khi (ra vẻ) thẫn thờ lẩm
nhẩm mấy câu: “Anh đã mất em/ Lẽ ra là được/ Anh chẳng có em/ Lẽ ra có được…”.
Cứ ngỡ với những bài thơ xuất hiện rất sớm, lại đi thẳng vào
trái tim bạn đọc, nhất là bạn đọc trẻ như thế, thì Phạm Đức phải nổi đình nổi
đám trong làng văn nghệ. Nhưng những bài thơ đầu tiên (được đăng trên báo Văn
nghệ, tạp chí Văn nghệ quân đội) của anh lính thông tin Phạm Đức không được đón
chào và tung hô như một số nhà thơ mặc áo lính cùng thời, có lẽ bởi cái giọng
tâm tình sâu kín, ẩn chứa những nỗi niềm riêng tư đó nằm ngoài quỹ đạo của sự
hào hùng, bi tráng cần cho thời cuộc.
Rời quân ngũ sau ngày thống nhất, Phạm Đức chuyển ngành sang
làm báo, rồi về làm công tác biên tập tại Nhà xuất bản Thanh Niên cho đến lúc
nghỉ hưu với cương vị Phó giám đốc, Tổng biên tập. Bắt đầu viết từ khi chưa
tròn đôi mươi, đến nay nhà thơ Phạm Đức tròn 70 tuổi (ông sinh năm 1945) – nửa
thế kỉ đắm đuối với thi ca đã làm nên gia tài tác phẩm khá đầy đặn với 10 tập
thơ, trong đó có nhiều bài được chọn đi chọn lại để in vào các tuyển tập thơ
tình.
“Có thể nói Gia đình
Là một cuộc chiến chinh
Từ đầu đến cuối
Quyết liệt
Kiên trì
Giành hạnh phúc… Dồn sức lên mà giành giật
Một gia đình!”.
Thơ Phạm Đức
Nếu đã từng đọc thơ Phạm Đức, sẽ nhận thấy ngay một tâm hồn
tinh tế, nhân hậu và vô cùng cao thượng, bởi phần nhiều những bài thơ đứng về
phe…thất tình hoặc yêu đơn phương. Nhà thơ thầm gửi đến người mình yêu nỗi lòng
của kẻ đến muộn: “Trái tim tôi vẫn để dành/ Cho em – người vốn vô tình với
tôi”, rồi cũng rất khảng khái: “Mong em yêu và được yêu/ Đừng như tôi chỉ một
chiều tương tư”… Khi yêu, dẫu là song phương hay đơn phương thì đều không tránh
khỏi những phút tương tư. Trạng thái tương tư của thi sĩ luôn được khuếch tán bằng
thơ, và cũng từ thơ mà phát tán khắp nơi. Tai hại thay, những bài thơ tình được
nhiều người rưng rưng cất giữ đó lại khiến cho người ở cùng một mái nhà với tác
giả không thể chịu nổi. Vậy là xảy ra sự nghi ngờ, tra vấn, truy tìm, ghen
tuông, giận dỗi… mà bất cứ lời giải thích nào cũng như lửa đổ thêm dầu.
Cuộc hôn nhân đầu tiên chấm dứt sau 12 năm chung sống. Năm
năm sau, nhà thơ quyết định tái hôn với một đồng nghiệp làm cùng Nhà xuất bản.
Nhưng cuộc vá víu hạnh phúc lần này cũng chỉ kéo dài được 5 năm. Sau hai lần đổ
vỡ, Phạm Đức tự “đúc kết kinh nghiệm” bằng bài thơ mang tên “Gia đình” khiến
không ít người ứa nước mắt: “Có thể nói/ Gia đình/ Là một cuộc chiến chinh/ Từ
đầu đến cuối/ Quyết liệt/ Kiên trì/ Giành hạnh phúc… Dồn sức lên mà giành giật/
Một gia đình!”.
Sau khi nghỉ hưu ở Nxb Thanh Niên, ông được mời về Hội Nhà
văn Việt Nam làm Thư kí tòa soạn cho Tạp chí Thơ nhưng người phụ trách tạp chí
nhận định Phạm Đức không hợp với công việc ở đó. Chủ tịch Hội Nhà văn bèn bố
trí cho ông theo dõi các ấn phẩm của trung ương Hội và các hội Văn học nghệ thuật
địa phương, bên cạnh đó còn chịu trách nhiệm biên tập những cuốn sách, các tập
kỉ yếu khi Hội tổ chức sự kiện văn học. Vì nhiều lí do của cuộc sống, nhà thơ
Phạm Đức phải ở nhà thuê trong mấy năm. Cứ mỗi lần nhà tăng giá ông lại phải
chuyển đến một căn phòng nhỏ hơn, xa trung tâm thành phố hơn để hợp với ngân quỹ
có hạn.
Cuối năm 2012, đang trong cơn chán nản với cảnh chuyển nhà,
nhà thơ gặp được một người nhất mực yêu thơ – họa sĩ Hà Huy Hiệp. Làm điêu khắc
nhưng Hiệp đặc biệt mê thơ và anh cũng in ra đến ba tập. Chàng họa sĩ xứ Đoài sốt
sắng: “Cháu sẽ mượn cho chú một cái nhà để ở một năm không phải trả tiền. Tiền
chú để dành được bao nhiêu đưa cháu mua mảnh đất ven bờ sông, cháu sẽ cất nhà
cho chú, hàng năm chú chỉ cần trả dần như tiền thuê nhà thôi”.
Vậy là lần này cuộc chuyển nhà rời xa trung tâm đến ba mươi
cây số, bù lại, nhà thơ được sống giữa cảnh thôn quê thanh bình và không phải
lo lắng chuyện nhà tăng giá bất ngờ nữa. Ngôi nhà được ở miễn phí chẳng có một
chút cơ sở hạ tầng tối thiểu: điện không, giếng nước không, bếp không… Họa sĩ
Hiệp nhanh trí “gửi gắm” nhà thơ sang một nhà hàng xóm liền kề, hóa ra đó là tư
gia của nhà văn Trịnh Văn Túc. Duyên văn chương hội tụ, cuộc sống dần trở nên ổn
thỏa.
Số tiền dành dụm vừa đủ mua được mảnh đất 60 mét vuông ngay
bên bờ sông Bùi (thuộc địa phận xã Tốt Động, huyện Chương Mỹ), sau vài cuộc vận
động “xã hội hóa”, họa sĩ Hà Huy Hiệp bắt tay vào thiết kế và xây dựng cho nhà
thơ một ngôi nhà sàn đời mới. Toàn bộ cột nhà được đổ bê tông, nền sàn láng xi
măng phẳng lì. Phía trên là căn nhà xinh xắn với những ô cửa sổ mở rộng đón nắng
gió mỗi ngày, nội thất bài trí giản dị nhưng rất thẩm mỹ. Không gian ấm áp này
đã trở thành điểm hẹn cuối tuần cho bạn bè văn chương ngoài Hà Nội luôn thèm nắng
thèm gió ghé thăm.
Tuy nhiên, nhà thơ hóm hỉnh kể: “Nhà ven sông hơi bất tiện là
khi nước dâng cao thì có khi ngập lên đến tận tầng hai, hôm trước mình vừa cơi
nới thêm một cái chòi 9 mét vuông lên phía trên để sơ tán những đồ quý giá lên
đó. Có bận nước rút xong chưa kịp dọn bùn đất, mấy ngày sau xuống bên dưới bắt
gặp cụm hoa tóc tiên trôi từ đâu về nở hồng rực, thơm thơm ngòn ngọt đáng yêu lắm”.
Tò mò hỏi ông, đồ quý giá của một nhà thơ gồm những gì vậy?
Ông cười: “Ờ thì ngoài sách ra cũng toàn là trâu thôi mà”. Hơn hai chục năm sưu
tầm tượng trâu được chế tác bằng nhiều chất liệu: gốm, sứ, than, đá, đồng… với
đủ các tư thế trâu lao động, trâu nghỉ ngơi, trâu đấu chọi… đến nay số lượng
lên đến vài trăm nhưng ông vẫn nhớ kĩ “hoàn cảnh xuất thân” của từng chú trâu lớn
nhỏ.
Tìm được chốn an cư vào tuổi 70, Phạm Đức lại được bạn bè xắn
tay lo chuyện…nhân duyên. Thôi thì từ thành phố cho đến làng quê, ai giới thiệu
ông cũng nể tình đi “xem mặt” và mời người ta về ngôi nhà ven sông để tỏ tường
gia cảnh, nhưng chưa thấy đám nào đậu lại. Ông bạn văn láng giềng mai mối cho một
bà góa trẻ trong làng, vừa đến thăm nhà Phạm Đức một lần, bà vội vã rút lui.
Sau, hỏi mãi mới biết bà ấy mong muốn một gia đình ngăn nắp chỉn chu chứ không
phải cái cảnh khắp nhà bày đầy sách báo, tranh tượng rồi bọn trẻ con cứ chạy ra
chạy vào nhí nhéo mượn sách suốt ngày. Đồng nghiệp cũ tìm cho một cô giáo sắp
nghỉ hưu, li hôn đã lâu, xem ra đôi bên có vẻ tương đồng về trình độ. Đồng nghiệp
nhiệt tình đưa cô giáo về tận Tốt Động trúng vào ngày mưa gió, đến gần nhà thì
cây cầu bị ngập, lại phải đi vòng một quãng xa mới tới được.
Khởi đầu đã gian nan thế, ai cũng mong là kết thúc sẽ có hậu.
Một tháng sau “ông mối” hỏi nhà thơ xúc tiến tình cảm đến đâu rồi, ông trả lời:
“Chắc vẫn đang đọc…”. Thì ra trước khi chia tay, nhà thơ tặng cô giáo cuốn “Thơ
Phạm Đức – Một tâm hồn nhân hậu và tinh tế” do một người bạn yêu thơ bỏ công
sưu tầm, biên soạn với lời nhắn: “Em về đọc kĩ cuốn sách này để hiểu nhau hơn”.
Tìm gặp nhà thơ Phạm Đức không khó, chỉ cần đúng lịch, vì nhà
xa nên ông đến Hội Nhà văn làm việc vào các ngày thứ Hai, Tư, Sáu trong tuần.
Căn phòng tầng một thẳng lối vào văn phòng Hội rộng chừng sáu mét vuông lèn chặt
sách báo, ngoài bàn làm việc vẫn đủ chỗ kê một chiếc bàn nhỏ và hai chiếc ghế đẩu
làm bằng tre, trên bàn có bộ ấm chén đất nung nhỏ xíu, chỉ đủ để khách ngồi
nhâm nhi từng ngụm trà, rồi nhìn sâu vào trái tim chủ nhân mà thấm thía, rằng
đã gần cạn một đời người sao vẫn chưa dứt những “nẻo tìm, nẻo đợi, nẻo da diết
buồn…” (Ba Vì).
Lặng lẽ nhưng bận rộn với thơ
Trong khi người xung quanh cứ sốt vó về nỗi cô đơn của Phạm Đức
lúc xế chiều thì ông lại quanh năm bận rộn với đủ thứ việc liên quan đến thơ.
Nào lo kiểm đếm, bốc thăm, sắp xếp ki - ốt thơ cho các câu lạc bộ đến từ mọi miền
đất nước tham gia Ngày Thơ Việt Nam rằm tháng Giêng ở Văn Miếu; nào tổ chức hoạt
động thường kì nhằm thúc đẩy sáng tác cho CLB Sáng tác văn học Hồ Gươm do ông
làm chủ nhiệm (với 35 thành viên); nào “lên sóng” các chương trình bình thơ của
Đài Tiếng nói Việt Nam…
Chưa hết, vào sáng Chủ nhật trong tuần, ông còn có cuộc trò
chuyện văn chương với các học viên nhí quanh làng tại ngôi nhà nhỏ của mình.
Ông tự tay soạn “giáo án” với 10 chủ đề: tình yêu quê hương, lòng biết ơn cha mẹ,
thầy cô và bạn bè… và cùng chơi đố chữ, tìm nghĩa của các từ với các em. Kết
thúc buổi học bao giờ cũng có liên hoan nhẹ bằng chút bánh kẹo hay hoa quả do
nhà thơ chuẩn bị sẵn trong nhà.
Nhà thơ Phạm Đức chia sẻ, ông muốn gieo vào lòng các bạn nhỏ
tình yêu văn chương, yêu tiếng Việt từ những buổi học mà chơi như thế. Việc làm
lặng lẽ của ông được người dân quê ghi nhận và biết ơn cũng rất lặng lẽ, họ đều
là những người nông dân chân chất, chỉ biết răn dạy con cháu phải chịu khó theo
học ông Đức, may ra kiếm được thêm chút chữ để thành người lương thiện.
Nguồn tienphong





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét