1. Chu Mạnh Trinh
(1862-1905) tự Cán Thần, hiệu Trúc Vân, quê ở làng Phú Thị, tổng Mễ Sở, huyện
Đông Yên, phủ Khoái Châu (nay là Mễ Sở, huyện Văn Giang) tỉnh Hưng Yên. Ông là
người tài hoa, thạo đủ cầm, kì, thi, hoạ, lại giỏi cả nghệ thuật kiến trúc, và
đặc biệt say mê cảnh đẹp. Hương Sơn phong cảnh ca là một trong ba bài thơ được
Chu Mạnh Trinh viết vào dịp ông đứng ra trông coi việc trùng tu tôn tạo quần thể
thắng cảnh Hương Sơn.
2. Hương Sơn là thắng cảnh nổi
tiếng thuộc huyện Mĩ Đức, Hà Tây. Bài thơ được viết theo thể hát nói, giàu nhạc
tính, là một bức tranh về phong cảnh Hương Sơn vô cùng xinh đẹp và nên thơ. Đây
là một bài thơ vịnh cảnh và thể hiện tâm sự, nhưng trước hết là một bài vịnh cảnh
rất hay.
3. Đọc chậm, diễn cảm. Chú ý
diễn tả sự thay đổi nhịp thơ linh hoạt trong bài.
1. Bài thơ có thể chia thành
ba đoạn:
– Đoạn 1 (bốn dòng thơ đầu): giới thiệu thắng cảnh Hương Sơn, nhận xét tổng quát về cảnh đẹp và thể hiện
tình cảm.
– Đoạn 2 (từ Thỏ thẻ rừng
mai chim cúng trái đến Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây): tả cảnh đẹp Hương
Sơn. Hương Sơn mang vẻ đẹp của chốn tiên cảnh, như một bức tranh đẹp và nhiều sắc
màu.
– Đoạn 3 (phần còn lại):
Suy nghĩ của nhà thơ về giang sơn đất nước. Đọc Đoạn thơ này có thể gắn với hiện
thực đất nước để hiểu rộng và sâu hơn giá trị của bài thơ. Bài thơ thể hiện
tình yêu quê hương đất nước tha thiết và tâm sự sâu kín của một nhà thơ về đất
nước, cuộc đời.
2. Bốn câu thơ đầu giới thiệu
bao quát toàn cảnh Hương Sơn và trực tiếp nêu cái thú ban đầu khi đến với Hương
Sơn. Hai nhịp cân xứng xác định nét cơ bản bao trùm lên cảnh trí Hương Sơn bằng
một nhận xét tinh tế: vừa là danh lam thắng cảnh do tạo hoá ban tặng vừa là
công trình tôn giáo. Cảnh được dựng lên vừa mang nét bình dị, gần gũi, vừa thấm
đượm không khí huyền diệu, linh thiêng. Đó là niềm “ao ước” không chỉ trong
giây lát mà đã trở thành niềm khát khao “bấy lâu nay” của bao du khách.
Câu thơ thứ ba có giá trị tạo
hình đặc sắc nhờ cách kết hợp giữa hình thức điệp từ liệt kê và thủ pháp luyến
láy “non non, nước nước, mây mây”… Vừa vẽ ra cảnh trí hùng vĩ của non nước, mây
trời Hương Sơn như một bức tranh thuỷ mặc cổ điển vừa tạo được âm điệu ngân
nga, bâng khuâng man mác như cảm xúc của du khách trước vẻ huyền ảo chốn bồng
lai tiên cảnh.
3. Ba khổ giữa miêu tả cảnh
đẹp cụ thể của Hương Sơn. Rừng mơ, suối Yến, tiếng chim ca thỏ thẻ “rừng mai”,
dáng cá “lững lờ” dưới dòng nước trong veo, phẳng lặng, tiếng chuông chùa ngân
nga… là những hình ảnh, âm thanh sinh động biến hoá như có hồn. Bức tranh phong
cảnh vừa hiện thực vừa mang màu sắc huyền thoại lãng mạn được dệt nên bởi nghệ
thuật ẩn dụ nhân hoá: “chim cúng trái”, “cá nghe kinh”. Cách phối thanh, phối
hình tài hoa tinh tế đã gợi lên được thần thái Hương Sơn. Âm điệu của “tiếng
chày kình” (tiếng chuông chùa) như dẫn dụ du khách vào giấc mộng cõi tiên cảnh
để tâm hồn được cao khiết, thánh thiện hơn.
Khung cảnh thiên nhiên đẹp
như trong cõi mộng và không gian tĩnh lặng đã khiến cho “khách tang hải giật
mình”. Cái giật mình ấy vừa làm nổi bật lên vẻ tĩnh lặng của không gian vừa diễn
tả được sự say sưa của khách khi đứng trước cảnh đẹp Hương Sơn.
Qua đoạn thơ, những lớp lang
trập trùng cao thấp của thắng cảnh Hương Sơn lần lượt hiện lên như mời gọi, như
mê hoặc. Đại từ chỉ định này được lặp lại 4 lần để liệt kê 4 thắng cảnh tiêu biểu
nổi tiếng gắn với những huyền thoại li kì về cửa Phật đã nhân lên cảm xúc say
sưa khoan khoái. Tiếp theo là những câu thơ giàu chất hoạ, chất nhạc với các từ
láy gợi hình long lanh, thăm thẳm, gập ghềnh vẽ ra vẻ đẹp mộng ảo, thần tiên
huyền bí của “Nam thiên đệ nhất động”.
4. Đoạn kết bài thơ là nơi tập
trung thể hiện tư tưởng và cảm hứng về tình yêu quê hương, niềm tự hào dân tộc
của nhà thơ. Câu hỏi “Chừng giang sơn còn đợi ai đây?” vừa kín đáo biểu lộ niềm
tự hào của người đã đóng góp nhiều công sức tôn tạo thêm vẻ đẹp huyền diệu của
Hương Sơn vừa nhắc nhở mọi người cùng có trách nhiệm làm đẹp cho giang sơn đất
nước. Bài ca kết lại trong sự hoà quyện giữa cảm hứng tôn giáo đầy thành kính
trang nghiêm và tình yêu quê hương đất nước tha thiết. Điều đó góp phần làm cho
Hương Sơn đẹp hơn, hấp dẫn hơn.
Bài này viết theo thể hát
nói, một thể nhỏ của thể lớn là ca trù. Ngày xưa các nhà trí thức phong lưu thường
sáng tác những bài hát nói rồi họp nhau năm ba người, tổ chức một hình thức
sinh hoạt văn hoá là hát ả đầu, có giọng nữ hay ngâm thơ theo các làn điệu khác
nhau, có nhạc đệm bằng phách, bằng giọng đàn đáy và tiếng trống điểm câu. Nhạc
sĩ Nguyễn Xuân Khoát dày công nghiên cứu loại nhạc độc đáo này và trong một hội
nghị âm nhạc châu á, nhạc ấy đã được công nhận là loại nhạc ưu tú.
Là một thể thơ có yêu cầu
cao về nhạc điệu nên ở bài này cũng như mọi bài hát nói khác, cứ nghe âm điệu
réo rắt ngay trong kí hiệu thẩm mĩ của âm thanh các từ ngữ đã giàu có hơn ở mọi
thể thơ. Thơ lục bát và các thể văn đều thường dùng cân đối âm thanh, đặc biệt
là thanh với nhịp 2/2 hoặc bội số của nhịp 2, lấy thanh cuối nhịp làm chuẩn, thảng
hoặc mới có nhịp 3. Câu 7 chữ trong thể song thất lục bát, nhịp gieo 3/2/2 hoặc
3/4 nhưng vẫn giữ cân đối thanh cuối nhịp 3/2/2 (cân đối thanh: Trăm năm (b)
trong cõi (t) người ta (b) – Chữ tài (b) chữ mệnh (t) khéo là (b) ghét nhau (b); Thuở trời đất (t) nổi cơn (b) gió bụi (t) – Khách má hồng (b) nhiều nỗi (t)
truân chuyên (b). Câu 7 chữ Đường luật cũng giữ cân đối như thế: Bước tới (t)
Đèo Ngang (b) bóng (t) xế tà (b) – Cỏ cây (b) chen đá (t) lá chen hoa (b)… Còn ở
thể hát nói như bài này thì cân đối thanh ở cuối nhịp vẫn là nguyên tắc nhưng
nhịp thì rộng rãi, không hạn định bao nhiêu nên chữ dòng nhạc luôn thay đổi, biến
hóa:
Thú Hương Sơn (nhịp 3-b) ao
ước (nhịp 2-t) bấy lâu nay (nhịp 3-b).
Kìa non non (nhịp 3-b), nước
nước (nhịp 2-t), mây mây (nhịp 2-b).
Đệ nhất động (nhịp 3-t), hỏi
rằng (nhịp 2-b) đây có phải ?(nhịp 3-t)…
Này suối Giải Oan (nhịp
4-b), này chùa Cửa Võng (nhịp 4-t) hoặc Này suối (1/2 nhịp 4-t), Giải Oan (1/2
nhịp 4-b), này chùa (1/2 nhịp 4-b), Cửa Võng (1/2 nhịp 4-t)…
Đó là nhịp và cân đối thanh,
còn vần cũng luôn biến đổi, lúc là vần lưng (Bầu trời cảnh Bụt, Thú Hương Sơn
ao ước bấy lâu nay) lúc cũng vần lưng nhưng đã ở trong câu mở rộng chứ không phải
lục bát (Thoảng bên tai một tiếng chày kình - Khách tang hải giật mình trong giấc
mộng; Nhác trông lên ai khéo vẽ hình - Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt…). Số
chữ trong câu cũng tự do miễn giữ được cân đối thanh =: câu 1 : 4 chữ, câu 2 : 8
chữ, câu 3: 7, câu 4: 8, câu 5, 6: 7, câu 7 =: 7, câu 8: 8… câu cuối: 6. Giọng
điệu, hơi thơ thay đổi thành 3 kiểu: 4 câu đầu =: giọng điệu háo hức, 10 câu tiếp: hơi thơ dồn dập phát hiện, chiêm ngưỡng, trong ngạc nhiên, 5 câu cuối: hơi
thơ trở lại tĩnh lặng, nghĩ suy; mở bài là một câu hỏi náo nức, hào hứng;
khép bài là một lời khẳng định lặng thầm, thành kính; giữa bài, ngăn dòng tâm
thế khách vãn cảnh ra hai đoạn trần tục và thoát tục là một tiếng chuông siêu
thoát huyền diệu. Màu sắc âm thanh, đường nét cũng đóng góp vào bản nhạc điệu
chung của bài thơ: rộn ràng, vui tươi nhưng vẫn lắng suy trầm mặc, không những
chỉ vãn cảnh mà thấm cảnh.
(Lê Trí Viễn, Đến với thơ
hay, tập 1, NXB Giáo dục, 2003).





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét