Những nhánh rong xanh trên
dòng sông tuổi nhỏ
Buổi sáng, khi mặt trời chưa thức dậy, hắn đã ở ngoài vườn, tỉa
cành tưới nước, vuốt ve những cụm hoa đang khoe sắc. Mấy chậu hoa sứ nở ngào ngạt
hương. Hương hoa sứ thơm dịu dàng như một thiếu nữ trang đài đứng trên lầu mộng.
Hắn lượm mấy nụ hoa mới rụng dưới cội đưa lên mũi hít thở nhẹ nhàng. Mùi thơm dịu
ngọt cho hắn một cảm giác thật dễ chịu và lấy làm tiếc là nó không giữ được lâu
như những loại hoa khác. Hắn bỗng mỉm cười nghĩ tới câu “hồng nhan bạc mệnh”!
Hương hoa sứ thanh khiết nhưng mong manh như một người con gái trang đài xinh đẹp.
Hôm nay đã là ngày thứ Sáu trong tuần! Hắn có cảm tưởng như hắn
chỉ vừa chào ai đó trong ngày thứ Sáu… một hai hôm trước! Thứ Sáu đâu mà rộn rịp
thế nhỉ? Thứ Sáu đại diện cho một tuần lễ sắp hết mà càng lúc thấy nó tới nhanh
hơn mình tưởng! Tâm lý con người cũng vẫn quanh quẩn như vòng trầm luân của đời
sống, như bánh xe nước ở mấy chặng sông Trà, sông Vệ năm xưa: con nít vô tư, hồn
nhiên mong chóng lớn, người lớn sợ thời gian, người già thích trở lại cái thuở
hồn nhiên vô tư lự! Nghĩ tới cái thời “vô tư lự” lòng hắn bồi hồi chạnh nhớ những
kỷ niệm xưa dù có nhiều vết tích cũng đã lờ mờ sương khói.
Nhà hắn bên bờ xe nước sông Vệ, nơi hắn thường bơi lội với lũ
bạn sau những buổi tan trường. Học mới lớp một, lớp hai mà hắn đã “bơi lội như
rái” – theo lời kể của Mẹ hắn mỗi lần cùng Mẹ ôn lại chuyện xưa. Dưới chân bờ
xe nước thường có nhiều tôm càng, cua xanh và cá bống mú. Cá bống sông Trà,
sông Vệ mà kho rim tiêu, ăn với cơm nóng thì tuyệt cú mèo. Dòng sông này đã cho
hắn khá nhiều kỷ niệm thuở thiếu thời. Một lần vô ý bị cua kẹp dưới đáy nước, hắn
hét tướng lên làm nước tràn vô miệng, uống cành hông, từ dưới đáy ngoi được lên
mặt nước tưởng như thời gian ngưng lại, may mà không bị chết đuối! Cũng dòng
sông này đã cướp mất của hắn một người cô yêu quý! Đó là dịp kỵ giỗ hàng năm của
đại gia đình bên Nội. Cô hắn cũng còn rất trẻ, thích bơi lội, biết anh em hắn
bơi giỏi nên mỗi lần về là rủ đi tắm sông. Sự tin tưởng của cô đã bị phản bội
khi dòng nước nhận chìm cô vì chân cô bị vọp bẻ, và anh em hắn cũng suýt chết
đuối theo bà cô giã từ cuộc đời đầy bi lụy! Cũng dòng sông này anh em hắn đã từng
nhặt những trứng vịt rơi rải rác nằm sâu dưới dòng nước, trên mặt cát mỗi buổi
sáng khi những đàn vịt nuôi, hàng ngàn con được lùa qua; hay những đêm trăng
thanh gió mát mang chiếu ra trải trên bải cát trắng phau, nghe người lớn hò đối
đáp rồi cùng ngủ qua đêm với các anh chị hàng xóm. Hắn cũng nhớ Mùa Vu Lan năm
nào đó rất xa trong ký ức, giọng ca cao vút của một chị huynh trưởng, trong
đoàn Phật tử, hát trong đêm văn nghệ trên khán đài lộ thiên nằm trên mặt cát trắng
bên dòng sông Vệ. Hắn nhớ hoài giọng hát và gương mặt đó với bài hát Mục Kiền
Liên… Đìu hiu gió bóng chiều rơi theo lá thu, có đàn chim bay vấn vơ, chuông
chùa xa đưa huyền mơ! Mục Kiền Liên đứng nhìn cảnh đêm dần lan, nhớ Mẹ xót xa
tâm hồn, bóng Mẹ biết bây giờ đâu… Không biết là vì vóc dáng của chị đoàn trưởng,
hay là vì ánh sáng huyền hoặc của đêm trăng rằm hôm đó mà từng lời ca, từng
dáng điệu in hằn lên tâm khảm hắn như một tỳ vết dễ yêu mỗi khi nghĩ đến, nhớ về!
Dòng sông này cũng còn một kỷ niệm nguyên xi những lần hướng dẫn gia đình chạy
nấp máy bay oanh kích của giặc Pháp, hoặc các trận đụng độ giữa Việt Minh và
Pháp trước ngày đất nước chia đôi, trong các hầm cát bên bờ sông gần nhà hắn mà
phía trên của hầm cát là những cụm xương rồng và cây lưỡng long tua tủa gai nhọn.
Những hầm cát này đã được lũ trẻ con hàng xóm, bạn bè của anh em hắn cùng đào
móc chơi đùa với nhau sau những giờ tan học, hoặc để tránh những cơn nắng hạ khắc
nghiệt một thời. Dòng sông này cũng là nguồn thực phẩm nuôi sống cho anh em hắn
và biết bao nhiêu gia đình ở hai bên ven sông…
Khi Ba Mẹ hắn quyết định đưa đàn con đi tìm vùng đất hứa ở miền
Nam trong chiến dịch khẩn hoang lập ấp của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm, anh em
hắn đã bỏ ra mấy ngày, ngồi hàng giờ nơi chốn ấy để thì thầm những lời ly biệt,
để gửi lại những tiếc nuối khôn nguôi! Cái quyết định rời bỏ nơi chôn nhau cắt
rốn, xa lìa gốc gác, mồ mả tổ tiên đã bao đời gầy dựng để xuôi Nam “vì tương
lai con cháu” của Ba hắn là một biến cố trọng đại cho gia đình và giòng họ. Cái
quyết định đã gây sững sờ không những cho giòng họ mà còn cho cả xóm làng. Ba hắn
đã thuyết phục một số bà con và những bạn bè thân cận cùng “đi lập nghiệp” ở một
nơi chốn chỉ biết qua giấy tờ và lời thuyết phục từ các cấp chính quyền. Người
ta xầm xì, bàn qua tán lại cho là “đi về chốn rừng thiêng nước độc” khiến một số
gia đình thay đổi ý định, kẻ ở người đi! Cho tới lúc này, ngồi đây viết những
dòng này, hắn cũng cảm nhận cái quyết định của Ba hắn thời đó là một quyết định
“dữ dội”, là một sự can đảm phi thường, là một sự liều lĩnh có tính toán! Hắn
chợt nhớ nghĩ đến người cha thân yêu, hắn càng cảm phục sự nhìn xa thấy rộng của
Người, cái quyết tâm dũng cảm của Người, và càng biết ơn Người!
Nói đến thời kỳ khẩn hoang lập ấp, hắn nhớ ngay đến hai dãy
nhà tiền chế nằm hai bên con lộ đất đỏ mù trời duy nhất được ủi vội để chào đón
những gia đình mới tới! Lúc đoàn xe vận tải nối đuôi đổ người xuống, sau mấy
ngày di chuyển vô cùng vất vả trên đoạn đường dài từ miền Trung mịt mù xa lơ xa
lắc, hắn không biết là khoảng thời khắc nào, chỉ nhớ mặt trời đã nằm sâu dưới
những tàng cây đầy kỳ bí mà chung quanh là núi rừng dày đặc hoang vu! Có tiếng
khóc bất an của một vài người đàn bà và em nhỏ hòa cùng tiếng côn trùng và chim
muôn kêu rả rích tạo nên những khúc nhạc thê lương ảm đạm! Những gốc cây trơ trụi
còn sót lại chỏi lên khắp nơi, những đống cây khô khổng lồ được xe ủi gom vào từng
hàng dài càng làm cho cảnh vật thêm phần u tịch! Hắn nhớ như in vẻ mặt chịu đựng
của Mẹ hắn, dấu vội đi những giọt nước mắt lăn dài khi vừa đẩy cửa bước vào một
trong hai căn nhà dành cho gia đình hắn. Căn nhà khá rộng nhưng mái lợp bằng
tranh, vách ngăn bằng lá. Mẹ nghẹn ngào nói với đàn con “các con ráng chịu khổ
một thời gian, chắc chắn mình sẽ được chính phủ giúp đỡ để tạo dựng một đời sống
ổn định hơn cho tương lai của các con”! Hắn nhớ quá thời gian tân khổ nơi này…
những cánh đồng hoang vu mênh mông mầu mỡ, những khu rừng bát ngát vô tận, những
rừng mai bạt ngàn mỗi khi xuân về tết đến. Những hồ ao, đồng lầy đầy ắp cua cá,
con sông La Ngà lặng lờ chứa đựng dư thừa thủy sản… rồi những ruộng lúa mênh
mông, những rẫy bắp, nương đậu xanh mướt một màu, rộng bao la cũng theo thời
gian cùng với sức người hiên hữu khắp nơi. Rừng rậm và thú dữ càng ngày càng bị
đẩy xa, xa tận tầm nhìn… Đặc biệt mỗi khi lên mùa nào đậu, nào bắp, nào lúa
tràn ngập khắp nhà từ trước tới sau, từ trong ra ngoài, vun tràn từng đống lớn.
Thế mới thấy cái quyết định của Ba hắn là đúng đắn chứ không như những ngày đầu
đầy ân hận! Tuy nhiên, hắn vẫn thấy khổ ơi là khổ cho những nhà nông! Trong
thâm tâm hắn đã có ý nghĩ “một ngày nào đó mình sẽ lìa xa”… Nhớ ơi là nhớ Cánh
đồng lớn, khu rừng Mai, con sông La Ngà, ngọn Đồi Bảo Đại với những hàng cây vú
sữa rợp bóng dọc theo con đường trôn ốc từ dưới lên tận đồi cao nhưng nay đã
không còn chủ…
Hắn chợt nhớ ngày đầu tiên khai trương khu trường Trung Học
Công Lập đệ nhất cấp Võ Đắt. Anh em hắn là một thành phần trong loạt học sinh
Trung học đầu tiên vào học trường này. Ngày cắt băng khánh thành, anh em hắn được
mặc đồng phục toàn trắng, trông rất oai nghiêm đứng hàng giờ dưới trời nắng
chang chang để chờ sự xuất hiện của Cụ Ngô Tổng thống! Mặc bộ đồ đặc biệt này
lòng hắn sung sướng xiết bao, hắn thấy như mình lớn hẳn ra, đi đứng trang
nghiêm, nói năng chững chạc. Ở nhà, hắn đã phải đứng xoay qua xoay lại “cho Mẹ
nhìn ngắm thanh niên của Mẹ một lúc”. Hắn chợt nhớ quá những khuôn mặt thân
thương cùng hắn chia sẻ những nỗi vui niềm buồn của một đời học sinh trên cái xứ
đất đỏ buồn tênh xa cách thị thành! Nào Tươi, nào Thành, nào Hiền, nào Tư, nào
Ánh, nào Thu, nào Hạnh… nay kẻ còn người mất… người phương này kẻ tận mờ xa!
Hình bóng Tươi bỗng nhiên xuất hiện. Tươi là thằng bạn thân
nhất từ những ngày khốn khó đầu tiên. Hai đứa cứ quấn quít nhau từ trường về
nhà, từ ruộng qua rẫy. Đi đâu, làm gì cũng có hai đứa. Rất lâu năm, hai đứa thường
chụm đầu đánh cờ tướng mà bao giờ hắn cũng thua, có may mắn lắm cũng chỉ thí
quân theo kiểu lưỡng bại câu thương để thủ huề. Tươi nói “làm sao mầy đánh lại
tao được, tao nghĩ trước tới bảy nước cờ”. Hắn nói với Tươi “mầy cũng có đánh lại
tao đâu, tướng thư sinh của mầy chỉ cần ba mươi giây là tao cho chổng vó lên trời”!
Mỗi lần nghe hắn nói vậy Tươi chỉ cười! Tươi không thích tập võ mặc dầu Ba hắn
sẵn sàng dạy võ cho nó. Ba hắn chỉ dạy võ cho mấy anh em trai trong nhà mà
thôi, dứt khoát không nhận dạy người ngoài, mà Tươi là trường hợp ngoại lệ, thế
mà nó không chịu học mới tức chứ! Cũng vì cái tài đánh cờ của nó mà hắn cũng được
hưởng lây khi đi đấu với các người lớn tuổi ở nhiều chỗ khác nhau trong thôn
xóm hoặc các làng lân cận. Chiến thắng là những phần quà bánh tình cờ. Vâng, chỉ
là những bánh kẹo tầm thường nhưng thời đó, nơi chốn đó đã là một ưu đãi! Bù lại
thì hắn cũng giúp bảo vệ cho Tươi những lần gặp những người thua cờ nổi nóng.
Mà cái vụ bị nổi nóng, đập bàn cờ, hoàn đi hoàn lại, cãi tới cãi lui luôn là
chuyện thường tình!
Sau khi học xong lớp Đệ Tứ, Tươi với hắn tạm chia xa, vì hoàn
cảnh gia đình đặc biệt nên Tươi không cùng lên tỉnh thành với hắn và một số bạn
học cùng lớp, mặc dù Tươi học rất khá. Tươi ở lại với ruộng vườn cho đến năm 17
tuổi thì tình nguyện gia nhập Địa Phương Quân. Hắn không nhớ rõ Tươi làm chức vụ
gì nhưng lâu lâu lại đưa lính đi huấn luyện ở tỉnh lỵ Bình Tuy. Có một lần,
trong dịp nghỉ hè, hắn về thăm gia đình thì gặp lúc Tươi phải đưa lính đi. Tươi
chạy chọt cách nào không biết mà hắn được cùng Tươi đi máy bay về tỉnh cùng với
mấy chục người lính mới. Phải nói đó là lần đi phi cơ đầu tiên trong đời nên hắn
rất vui và hồi hộp lẫn hãnh diện. Sau khi làm xong công vụ, hai đứa tới ở trọ
nhà anh Cát, một người bạn vong niên trong lính của Tươi. Buổi tối hôm đó là một
đêm trăng tỏ, anh Cát rủ hai đứa mang đầy đủ mùng mền chiếu gối, lò nướng, cần
câu… đi câu và ngủ trên biển! Hắn nghe hấp dẫn quá chịu liền. Thế là ba anh em
tất bật chuẩn bị cho chuyến đi chơi đêm trên thuyền và trên biển. Anh Cát không
quên ghé một tiệm tạp hóa mua theo mấy lít rượu trắng. Đêm hôm đó là một đêm nhớ
đời. Câu được con nào nướng con đó trên lò than hồng, gió mát trăng thanh, chén
anh chén chú cụng suốt, xỉn hồi nào không hay. Khi thức dậy vào buổi sáng vẫn
thấy con thuyền lênh đênh, loanh quanh trong vùng vịnh cách bờ khá xa mà Tươi
và anh Cát vẫn đang ngủ ngáy tưng bừng! Ở Bình Tuy có một vùng biển rất đặc biệt.
Từ bờ ngó ra Hòn Bà xa xa là một vùng rộng lớn nhưng rất an toàn vì dòng nước
chỉ chảy vòng vòng bên trong vịnh, quanh năm sóng yên gió lặng. Phải nói chuyến
đi này là một kỷ niệm khó quên. Lòng hắn vẫn luôn bồi hồi xao xuyến mỗi khi
nghĩ về!
Hắn lại nhớ Thanh, đứa con gái 16 tuổi như nụ hoa quỳnh vừa
chớm nở, hương sắc dịu dàng. Hắn quen Thanh trong những sinh hoạt của gia đình
phật tử tại địa phương. Tuổi thiếu niên thuở ấy rất hồn nhiên, trong sáng. Mà
người lớn dường như không ai để tâm phân biệt nữ nam như bây giờ. Có một lần cắm
trại tại khuôn viên chùa, cả nam lẫn nữ cùng cho ngủ chung trong một “căn lều cộng
đồng”, nằm như xếp cá mòi. Cả nam lẫn nữ theo lệnh Thầy được nằm chung với
nhau, chỉ cần quay đầu ngược lại nhau. Hắn và Thanh nằm ở giữa. Lúc chưa ngủ
hai bên vẫn nghịch ngợm đạp chân nhau, nói cười vô tư lự đi vào giấc ngủ. Lúc gần
sáng, khi tiếng chuông mõ khai kinh làm hắn giật mình tỉnh giấc, hắn mới phát
giác ra cô bé đang ôm hắn ngủ ngon lành! Đứa con gái 16 tuổi đã trổ mã dậy thì
như một đóa hoa xuân phơi phới đang gác tay gác chân lên người hắn! Tự nhiên cả
người nổi gai lạnh với cảm giác nhột nhạt khắp châu thân. Hắn cảm thấy nhịp tim
loạn xạ, thở hít khó khăn vì hương tóc nồng nàn quyện với mùi thịt da con gái
làm hắn ngất ngây ngây ngất, nửa muốn gở ra, nửa muốn ôm chằm. Đầu óc phấn đấu
kịch liệt cố nghĩ tới những điều trong sáng. Hắn tự nói cho hắn biết là mình
đang ở chùa, là một phật tử thuần thành, là phải tôn nghiêm giới luật! Hắn lẩm
nhẩm lặp đi lặp lại năm điều tâm nguyện của người thanh niên Phật tử: “Phật tử
quy y Phật Pháp Tăng và giữ giới đã phát nguyện; Phật tử mở rộng lòng thương,
tôn trọng sự sống; Phật tử trau dồi trí tuệ, tôn trọng sự thật; Phật tử trong sạch
từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm; Phật tử sống hỷ xả để dũng
tiến trên đường đạo”! Hắn băn khoăn tự hỏi không biết Thanh vô tình hay cố ý,
và càng lúc càng run hơn! Có lẽ sự run rẩy của hắn và tiếng chuông mõ công phu
cũng đã làm cho Thanh thức giấc! Hắn thấy Thanh tự động buông ra và xoay người
về hướng khác! Hắn thở phào như trút được gánh nặng dù sự nuối tiếc vẫn lâng
lâng. Hắn nhanh lẹ ngồi bật dậy, ra ngoài sân chạy một vòng chùa để cố quên và
dấu sự bẽn lẽn!
Mặc dù sau đó cố tránh mặt nhau một thời gian – có thể là tại
vì đã có tình ý, và cũng muốn tránh cho nhau những cảm giác ngượng ngùng –
nhưng tình cảm của hai người ngày càng thân thiết hơn. Tới một ngày kia, trong
buổi sinh hoạt tuần lễ cuối cùng, hắn thông báo với đoàn là sắp đi học xa,
Thanh mới tìm cách nói cho hắn biết là chiều hôm sau sẽ để phong thư trên đầu
cây chuối thứ tư trên con đường chạy xe đạp nối liền hai xóm nhà. Sáng hôm sau
hắn kín đáo leo lên cành mít cao, lén viết thư tình rồi nôn nao chờ đợi buổi
chiều để trao đổi. Buổi chiều đang ngồi trước sân ngó mong ra ngõ, hắn thấy
Thanh chạy xe đạp ngang qua mà không hề ngó vào như mọi lần. Chờ cho Thanh đi
khuất một lúc sau, hắn lấy xe đạp chạy qua con đường nhỏ. Hắn tới cây chuối thứ
tư, ngó trước ngó sau mới dò tìm phong thư ẩn dấu. Phần thì hồi hộp, phần lo có
người đi qua, tim hắn đánh như trống làng mà tìm mãi vẫn không thấy thư đâu cả.
Hắn trở lại đầu đường và đếm số lại, nhưng vẫn không tìm thấy thư của Thanh.
Đang ngẩn ngơ, bối rối hắn mới kịp nghĩ hay là cây chuối thứ tư đếm từ bên kia
sang? Quả đúng như thế, phong thư được gói ghém rất cẩn thận để phía trong bẹ
chuối khuất tầm nhìn. Hắn để thư hắn vào thế chỗ rồi đạp xe ngang nhà Thanh. Thấy
Thanh đứng trước hiên nhà, hắn nhẹ gật đầu và quay mặt về phía sau ý nói có thư
chỗ đó. Thế là nguyên tuần lễ còn lại, ngày nào cũng lặp đi lặp lại bài bản cũ
cho đến ngày hắn khăn gói lên xe đò đi về Long Khánh trọ học. Lúc xe lăn bánh hắn
mới thấy bàn tay Thanh kín đáo vẫy chào!
Nhớ về những ngày trọ học ở Long Khánh thì không thể không nhớ
một cuối tuần cùng Tư và Thành rủ nhau chạy xe đạp về Võ Đắt. Đoạn đường hơn ba
mươi cây số với đồi giốc chập chùng, rừng cây cao rậm, cọp beo không thiếu… với
chiếc xe đạp “typical one speed” thời đó nặng chình chịch… thế mà ba đứa quyết
định “thử” một chuyến ra sao! Hôm đó trời mưa lất phất, ba đứa đang hân hoan đổ
giốc sau khi cặp giò tê tái vượt lên một con giốc dài. Đang ngon trớn bỗng cả bọn
xanh mặt, thắng gấp, dùng cả gót giày ép vào bánh xe vì phía trước không xa có
một con voi to cao dềnh dàng đứng chắn lối đi. Theo kinh nghiệm người đi rừng dạy
lại, ba đứa từ tốn dẫn xe vừa run vừa đi lùi lên đầu giốc… chờ một thời gian
khá lâu cho con voi đi khỏi mới ngó trước ngó sau, phóng nước đại qua truông.
Nói tới Long Khánh không thể không nhớ những vườn cà phê, sầu riêng, chôm chôm
sai trái của mấy người bạn học bản xứ. Nhớ nửa trái sầu riêng con bé nhà hàng
xóm khép nép để ở góc bàn học rồi chạy biến về nhà vào một buổi trưa khi hắn
đang ngồi ôn luyện bài thi. Nhớ gia đình anh chị Ngữ đã cho ăn cơm tháng suốt mấy
năm dài. Nhớ những lần đi biệt tăm cả tuần không dám đụng tới bát đũa vì sợ thịt
chó! Hắn đã học được cái tính “không nên giận ai quá 15 phút” của anh Ngữ. Nhớ
anh chị với nụ cười nhân hậu, tấm lòng bao dung luôn luôn khuyến khích hắn
trong việc học hành! Nhớ những mũi kim thêu hai con chim yến bay song song trên
vùng núi nhỏ ở góc chiếc khăn “mouchoir” trắng mà cô em gái của thằng bạn học
chung lớp thẹn thùng gửi tặng khi hắn từ biệt về học Saigon. Cũng vì sự tích
này mới nảy sanh ra một bút hiệu mà theo thời gian mất đi dấu sắc (vì có người
phê bình chữ “Yến” nghe yếu xìu)! Nhớ tới hãng kem đậu xanh ngon tuyệt vời ở đầu
ngõ nhà trọ là nơi lũ học trò xa nhà tụ tập sau những buổi cơm chiều. Nhớ giọng
rao hàng của ông Tàu già bán bánh bò bánh tiêu mỗi xế trưa qua xóm, nhớ tiếng
gõ lóc cóc hằng đêm của xe bán hủ tíu dạo bên đường của một ông Tàu khác mà hắn
vẫn nghĩ chưa có đâu ngon bằng… nhớ ơi là nhớ!
Ôi những kỷ niệm vẫn bám theo hắn cả đời, thật gần nhưng cũng
thật xa, xa tít mù trong tiềm thức! Có phải không khi nhìn bóng chiều rơi người
ta thường nhớ về những bình minh có muôn sắc muôn mầu, tiếc những giọt sương
long lanh trên đầu cánh lá?! Câu tiếng Pháp trong bài Triết học hồi còn lớp 12
làm cho hắn nhớ hoài: “chúng ta không bao giờ có được tâm hồn của buổi chiều
hôm nay” (nous n’aurons jamais plus l’âme de ce soir), có thể rất đúng nhưng
sao mỗi khi chạnh nhớ về những ngày thơ ấu lòng hắn cũng bâng khuâng rung động,
cũng xao xuyến bồi hồi! Tai vẫn như nghe tiếng kẻo kẹt của bờ xe nước, mắt vẫn
mơ màng thấy lũ con nít đứng trên bờ cao nhảy tùm xuống dòng sông tuổi nhỏ, mũi
vẫn thoang thoảng mùi hương thơm của lúa chín, mùi rạ nặc nồng cuối mùa gặt…
Viết ở rừng Kingwood
Sáng mùa hạ 2007
Yên Sơn
Theo http://vietnamthuquan.eu/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét