Ngày dì Út Thu Lý tròn bốn
mươi bảy tuổi, dì từ giã thêm một lượt ba cái răng. Buồn quá trời đất, dì lại
chùa Phấn, than với sư Huệ bây giờ không biết làm sao giáp mặt anh Tư Nhớ, răng
cỏ trống hơ trống hốc vầy… Bà sư già nghe xong niệm Phật mà không nén được cười.
Dì Út mượn gương, soi mình vào đấy, thấy tóc bạc, mặt nhăn, kỳ lạ thay, dì thấy
cả một nỗi buồn rất lạ thăm thẳm trong lòng mình. Dì đứng đó một chút, rồi dì
te tái cắp nón đi, hỏi đi đâu, dì bảo ra vườn thuốc.
Nhà cậu Tư Nhớ cũng ở đó,
xiêu xiêu giữa vườn thuốc Nam, quanh năm nồng nàn hương hoa cỏ. Nhưng cậu không
có nhà, cậu đang dự đám tang trên Lung Dừa. Cậu ‘đuổi quỷ’ trong đội đạo tỳ của
chữ thập đỏ xã. Gần mười lăm năm cầm đuốc múa quanh quan tài đến chai tay, lửa
phà nám mặt, mấy lần ngậm dầu phun lửa bị sặc trối chết. Càng lớn tuổi cậu càng
tưng tưng, ai cũng nói, ổng bị sặc dầu quá trời đất như vậy mà không mát dây
cũng uổng. Cậu nghèo, nhưng đèo bòng nuôi một thằng nhỏ mồ côi cha mẹ. Bình thường
thì thằng Lụm kêu bằng tía, nhưng có lúc, kêu vậy, cậu la thấu trời, “Mầy làm
như tao già lắm vậy, kêu tao bằng anh đi, bằng thằng cũng được nữa”. Một tháng
ăn cơm nhà chừng ba bữa, còn hai mươi bảy bữa cậu dọn vườn, chặt thuốc cho chùa
nên được đãi cơm chay, hết việc, cậu dắt thằng con lang thang làm mướn dài dài
theo xóm, ăn cơm ở đó luôn, đội đạo tỳ có việc thì hai cha con dùng cỗ đám
tang, lắm lúc cậu về nhà biểu thằng Lụm, “Đổ nước mắm vô kho quẹt ăn. Tao ngán
thịt heo thấu trời rồi”.
Chỉ nhà dì Út Thu Lý là cậu
không bao giờ lui tới. Hồi bà Hai, má dì còn sống, ra đường chạm mặt, tránh
không được, cậu mới mở miệng, giọng có một chút hằn học, một chút chua xót, một
chút mỉa mai : “thưa má !”, rồi cậu cun cút đi thẳng. Những chiều ngang qua
nhà, thấy bà Hai bắc cái ghế ngồi ngoài hàng ba là cậu cởi quần dài, tụt xuống
mé kinh, lội qua khỏi đoạn đó mới ngoi ngóp lên bờ. Đám trẻ trong nhà thấy cảnh
đó cười ngắt nga ngắt ngẻo, chỉ dì Sáu Thu Lý là chua xót ngẩn ngơ, người coi
tưng tưng vậy mà giận dai ghê hen. Rồi dì tự hỏi, nếu mình là anh ấy, thì mình
có giận không ?
Giận. Bởi gió kia, mưa kia,
những mái nhà chiều chiều khói tỏa kia, người phụ nữ đang na cái bụng bầu lặc
lìa qua ngõ kia, và những đứa trẻ kia, cả thằng Lụm… hết thảy đều làm cho người
đàn ông đó nhớ một mái ấm đã bị tước đoạt của mình.
Bởi nếu con cậu còn sống,
bây giờ chắc nó cao hơn thằng Lụm. Những khi ngồi nhớ lại, cậu ứa nước mắt, ước
gì mình được nhìn thấy nó một lần, một lần thôi, sau này có sặc dầu hay chết hụt
dưới mương, cậu có lẫn lộn việc này việc khác, dứt khoát cậu sẽ không quên được
hình bóng vợ con mình.
Nhưng cả mơ ước đó cũng bị
má vợ cậu, bà Hai cướp đi mất. Khi dì Ba Thu Lê để lòng thương cậu Tư Nhớ, roi đòn
mấy cũng không cản được, bà đã nghiến răng trèo trẹo khi nhắc tới cậu, “thằng
ăn cướp”. Sinh cả thảy sáu người con, chỉ có hai đứa con gái, dì Út Thu Lý vụng
về, đểnh đoảng, như trẻ con, vui buồn ra mặt, bà Hai dồn hết tình thương cho
con gái Thu Lê vén khéo, nhu mì. Hồi đó, dì Ba mới hai mươi tuổi, trong lòng
người mẹ, dì còn non nớt, dại khờ. Ai mà ngờ một bữa dì bỏ bà đi… Nhà cậu Nhớ
cách nhà bà một quãng đường xóm, những bữa đi ngang qua nhà, bà Hai nghe giận
nhói ngực khi thấy con gái mình khép nép đi cạnh chồng, mắt ráo lơ, ngó vô nhà
như thể nước lả người dưng. Cái nhìn van lơn và hối lỗi của cậu Tư Nhớ nhỏ nhoi
trước biển lửa giận hờn trong trái tim người mẹ. Không bảo nhau nhưng cả hai
người đều hy vọng, dù lâu lâu lắm nhưng sẽ có một ngày bà tha thứ.
Hồi đó, gia tài của hai người
chỉ có căn nhà dựng trong vườn chùa với chiếc xuồng. Dì Ba hay cười, an ủi,
“Anh buồn gì, xóm mình đâu chỉ nhà mình nghèo…”. Dì làm bánh bò, sáng sớm hai vợ
chồng chèo dài theo các xóm ven Đầm bán, buổi chiều họ xin rơm chở về gieo cải,
trồng rau trên liếp nhỏ kế bên nhà. Dạo đó, người ta dồn về nơi nầy để theo những
con rạch ngoắt ngoéo ra cửa sông Thầy Xúi vượt biển tìm đất hứa. Nhiều bữa thấy
người ta lỡ đường, vơ vất ngoài bờ bụi, khổ sở với bầy muỗi lá, cậu Tư cho quá
giang, cho ngủ lại, san sẻ ít chén cơm nguội. Cậu với dì không hỏi họ đi đâu,
làm gì, hỏi họ cũng không nói thiệt, chỉ nghĩ trong bụng, xứ sở mình đây mà hỏng
ở, đi làm chi cho cực thân vậy không biết. Cho tới một bữa, trên đường chở rơm
về, cậu bị công an xã bắt vì tội đưa người vượt biên. Cậu Tư Nhớ có kêu oan,
nhưng các anh công an cười, hỏi bà già vợ thưa mà còn oan ức gì ? Cậu nghẹn lời,
vì ngỡ ngàng và vì đau xót.
Lúc đó là tháng Năm, đôi vợ
chồng trẻ đang nôn nao đếm ngược từng ngày chờ đến sang Giêng sẽ đón trẻ con ra
đời…
Bốn mươi ba ngày sau cậu Tư
được minh oan. Lúc về thì cỏ đã mọc xanh lối vào. Giồng cải bên nhà trổ bông,
ngồng cao tới ngực. Lúc về, chuột cắn rơm làm ổ trong cái cà ràng trên bếp. Lúc
về, người cũ không còn ở chỗ cũ, nhà lạnh ngắt, buồn xo. Cậu Tư Nhớ uất quá vác
cây mác vót chạy tới nhà bà Hai đòi người. Bà đứng chận ở cửa, mặt thản nhiên,
lạnh tanh như đồng, bảo “Ở đây không có gì liên quan tới cậu. Con tôi nó ra chợ
ở rồi, còn con cậu hả? Ra bãi rác ngoài trạm xá xã mà kiếm”. Cậu Tư nhớ hoài,
nhớ đời đời kiếp kiếp cái vẻ mặt chai đá của bà Hai, cậu cười, sao con người đối
với nhau có thể cạn ráo đến vậy.
Cho đến bây giờ dì Thu Lý vẫn
còn nhớ giọng cười của cậu hôm ấy, nó lạt nhách, không dư âm, như thể đá cười.
Cho đến bây giờ, gặp dì, cậu vẫn hay cười như thế, có lúc cậu còn làm ngơ không
thèm nói chuyện. Nhưng dì không giận, vì nghĩ nhà mình nợ anh ấy rất nhiều, cho
tới khi má dì nằm xuống, món nợ ấy vẫn còn nguyên.
Người ở xóm Rạch Ruộng ai
cũng biết dì Út Thu Lý thương cậu Tư, họ dạy con nít ngạo chơi “Trồng tre trở gốc
lên trời. Con chị qua đời rồi tới con em”. Nghĩ cho nghiêm túc, hai người này
cũng thật xứng đôi vừa lứa. Ngày nào dì Út cũng đi làm công quả ở chùa Phấn, hốt
thuốc tiếp sư cô, lúc rảnh chạy qua nhà cậu Tư Nhớ quét cái nhà, lau bộ ván,
cho chó, mèo ăn. Dì coi nhà cậu như nhà mình, nên quen cái lối đi hẹp te giữa bộ
ván ngựa cũ kỷ và chiếc giường. Quen với căn bếp nằm chếch phía trái, đó là một
góc tù mù khói, nhưng đó là một chỗ ấm áp nhất. Mấy đứa con nít khen dì giống
cô Tấm trong truyện cổ tích quá trời.
Bây giờ gần hai mươi năm rồi,
tóc đã trắng những sợi già, chuyện tình đó vẫn chưa đi tới đâu, chiều nay lại,
thay vì lòn tay qua lổ vách mở cái móc khoá quen thuộc ra, dì Thu Lý tự nhiên
giữ lễ, đứng chờ ngoài cửa. Thằng Lụm về trước, thấy dì, nó cười, hỏi “Ủa, sao
Út không vô?”. Dì bảo, “Vô gì, nhà người ta mà”. Thằng Lụm nhìn dì lom lom, nó
thấy dì bữa nay lạ quá, không biết có phải tại rụng mấy cái răng không. Nhưng
lúc đó đã nghe tiếng đá banh dội binh binh đằng xóm, nó rảnh đâu mà thắc mắc, vọt
đi mất. Cậu Tư Nhớ qua khỏi lùm nhãn lồng, làm như không thấy dì Thu Lý, vạch
cái cửa đi tuốt vô nhà. Cậu Tư Nhớ ra ngoài giàn ôm củi vô, rồi chổng mông thổi
lửa nấu ấm nước, khuôn mặt cậu tỉnh rụi. Nước sôi, cậu đi rửa cái bình mẻ vòi,
châm trà. Cậu chống rèm cửa sau lên, lau bộ ván ngựa đầy dấu chân gà, quét cái
nhà vương vãi rác, rồi ngồi uống trà. Cái vạt áo màu bông cà của dì Thu Lý vẫn
phơ phất bên ngoài cửa. Muỗi kêu o e xà quần bên lổ tai, ờ, giờ này muỗi bắt đầu
bay khỏi đám lá đi kiếm hơi người. Ngoài sân, chắc muỗi cũng nhiều… Cậu Tư hơi
trù trừ giây lát rồi đứng lên, ra cửa trước nói trổng không :
– Sao bữa nay mắc gì mà
không vô nhà ? Ngoài này muỗi cắn chết.
Dì thở ra, cứ tưởng là thằng
chả không mời. Dì cố nén cười, nghiêm mặt bước vào, đứng lừng khừng khách sáo
như khách lạ. Cậu Tư coi bộ hơi bực :
– Sao không ngồi đi ? Coi chừng
làm nhăn bộ ván tui nghen.
Nói rồi, cậu đi gom mớ vỏ dừa
khô vô nhen mẻ ung. Cậu ngồi thổi hoài cho đến khi lửa bùng lên, cậu lại vùi
cho tắt. Rồi hì hụi chỗ này, hì hụi chỗ kia, không làm gì cũng lăng xăng, sực
nhớ ra, cậu lại đằng chái bếp lấy khúc ổi vừa được phơi dốt nắng, ngồi đẽo ngỏng
cối, ngày mai, đằng nhà Tư Biểu có đám giỗ, thể nào cũng xài. Cậu sợ rảnh tay rồi
phải mở lời nói với nhau. Mà, cậu thì không biết nói gì hết, không muốn nói gì
hết.
Bởi mỗi khi gặp nhau, lòng
người này chỉ toàn những oán giận, những nỗi đau, còn người kia tràn đầy niềm
yêu thương vô vọng mà họ đã không còn ở tuổi hai, ba mươi để nói ra tâm trạng ấy
bằng lời. Nên chiều nay lặng lẽ lạ thường, có thể nghe rõ ràng tiếng muỗi kêu,
tiếng xì xì mọng nước của thanh củi ướt cháy trong mẻ, tiếng lưỡi mác vót khứa
ngọt vào cây ổi, tiếng trái dừa chuột khoét rụng đùng xuống hào ranh… Dì Thu Lý
lên tiếng :
– Anh Tư à… Bữa nay em mới
nhổ ba cái răng.
– …
– Tính luôn hổm rày là bảy
cái rồi đó. Thấy vậy mà già rồi…
Cậu Tư Nhớ vẫn nín thinh, hì
hụi gọt đẻo, thấy mình cũng thật nhẫn tâm. Kinh kệ mỗi ngày từ chùa Phấn vọng
sang cùng tấm lòng chân thật của dì Út vẫn không làm cậu nguôi đi oán hận. Cậu
mà đáp tình dì chẳng phải là đã tha thứ cho nhà đó sao, ngu sao, đâu có dễ vậy.
Dì Thu Lý ngồi trên tấm ván
đã cong vênh, nghe lòng trống không đã sạch sành sanh những niềm hy vọng cuối.
Không biết làm sao cho hết bối rối, dì ngó quanh quất cho giống người xa lạ
chơi. Dì nhìn chiếc quai nón bằng vải nhung đã phai màu treo ở đầu giường, cái
áo bà ba màu bông cà bọc trong bọc nilong treo trên vách cùng với chiếc cặp đỏ
bằng nỉ (Hôm chị Thu Lê theo chồng, nó chỉ vừa đủ để ba bộ đồ với cái khăn tắm,
dì Út lén má xếp dùm). Dì nói bằng một tiếng nhói :
– Anh nhớ chị Ba em!?
Lần này cậu Tư Nhớ đổ quạo,
vặt lại:
Ờ, thì biết. Hơn hai mươi
năm rồi cậu Tư với dì Thu Lê đã không gặp lại nhau. Mỗi bận lễ Tết, hay đằng
nhà bà Hai tổ chức giỗ ông Hai, cậu đứng xa xa dòm ngó, nghe nhộn nhạo từng
khúc ruột. Hỏng biết cổ có về không ta? Thằng Lụm hiểu lòng cậu, nó chạy đi
coi, nó kể ở ngoài chợ người ta về nhóc. Người nào người nấy đẹp đẹp không hà,
tía. Nhưng trong đám người đẹp đó không có người cậu thương, dì Ba thì không về,
dì viết thơ gởi bà Hai (lá thơ đó nhòe nước mắt) thưa rằng dì chắc chẳng bao giờ
về quê nữa, quay lại đó, rồi làm sao, mặt mũi nào để gặp một người. Dì viết rằng,
má ơi, má đừng buồn, chừng nào nhắm mắt xuôi tay, con sẽ về để nằm trên đất nhà
mình.
Câu chuyện đó dì Thu Lý kể
cho cậu Tư Nhớ nghe vào một ngày mưa gió, cậu đội áo mưa lại chữ thập đỏ xã,
xin được giữ một chân đạo tỳ trong đội mai táng. Ai cũng hỏi sao tự nhiên đi
làm cái nghề u ám vầy, cậu cười không nói. Chỉ có một người biết, càng biết nhiều
càng nghe lòng buồn nhiều.
Dì Ba Thu Lê bây giờ đã theo
chồng sống ở nước ngoài, vò võ không con, dì cay đắng, “trời phạt vậy”. Dì hay
gởi thư, tiền và hình về nhà. Trong hình lúc nào cũng đeo nhiều đồ trang sức, mập
mạp, đầy đặn, cười thật nhiều nhưng đôi mắt lại buồn thiu thỉu, luôn luôn ngó
thẳng về phía trước mà ánh nhìn không có một chỗ vịn nào. Một người sống không
quê hương, sống đầy mặc cảm, dằn vặt, sống mà đau đáu hoài chuyện cũ thì biết
níu đâu bây giờ ?
Chiều nay ngồi trong nhà cậu
Tư Nhớ, dì Út lại nhớ chị mình. Dì chợt nghe lòng quang quẻ lạ lùng, sao mình
không giúp cho anh chị ấy gặp lại nhau một lần, bây giờ không làm, đợi tới chừng
nào. Mình làm được mà, thí dụ như mình giả đò chết. Chị Ba Thu Lê nhất định sẽ
về, sẽ gặp lại anh Tư Nhớ, dù bây giờ tóc xanh phai màu, gặp chơi vậy thôi chứ
không thay đổi được gì hết. Nhưng thương nhớ nhau thì hội ngộ lúc còn đang sống,
chứ đợi người âm kẻ dương làm chi… Đời vốn dĩ đâu có buồn dữ vậy.
Dì Sáu Thu Lý ngồi ở đó tới
chạng vạng, không nói thêm gì nữa, chỉ đau đáu ngắm cậu Tư, lòng tràn đầy
thương yêu. Lúc về, dì mới lại gần, dạn dĩ gở cây mác vót trong tay cậu ra, nắm
ngay lấy bàn tay nóng rực ấy, định cười, nhưng nhớ mấy cái răng cửa vừa nhổ nên
thôi. Rồi dì bảo, ‘Mai mốt chế Ba về, anh Tư à. Thiệt, mai mốt này…’
Khi qua cửa dì Út Thu Lý mới
hay, con mắt rửa bằng khói đã nhoè nước.
Rồi những cơn gió tháng bảy
đưa tin vui đến từng mái nhà trong xóm Rạch Chùa, người ta bần thần, vậy a ? xa
xứ biết bao lâu rồi, trôi dạt tận nước ngoài, cuối cùng, người con gái đó cũng
về thăm lại xóm Rạch. Cậu Tư cuống quýt hỏi thằng Lụm, có đúng cổ không, mậy ?
Đúng hả, về rồi hả, về một mình hả ? Vậy a ? Trời ơi! Gió thổi bời bời vào căn
chòi của cậu Tư Nhớ, thốc cuộn những tàn tro xát vào những vết cắt trong lòng .
Dì Thu Lý chỉ còn làm được một
chút đó cho Tư Nhớ để trả cho cậu món nợ nhà dì đã vay, để cậu gặp lại người
xưa nhưng cậu đã phụ lòng, khi dì Ba Thu Lê về, tận mặt nhau, cậu lắc đầu, cười,
khẳng khái “Em Lê đâu có già, đâu có mập ú ù u như vầy”. Cả ba người quay lưng
lại với nhau, bưng mặt khóc, thương cho tuổi thanh xuân đã qua mất rồi.
Nguyễn Ngọc Tư





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét