Con người và nhà thơ Xuân Quỳnh
Xuân Quỳnh là hiện tượng rất
quan trọng của nền thơ chúng ta. Có lẽ là từ thời Hồ Xuân Hương, qua các chặng
phát triển, phải đến Xuân quỳnh, nền thơ ấy mới thấy lại một nữ thi sĩ mà tài
năng và sự đa dạng của tâm hồn được thể hiện ở một tầm cỡ đáng kế như vậy, dồi
dào phong phú như vậy.
Nhưng Xuân Quỳnh không chỉ là xuất chúng trong giới “thơ phụ nữ”
(chữ dùng này quả là rất ước lệ) chỉ một gương mặt nhà thơ tiêu biểu của nền
thơ Việt Nam hiện đại. Hai chục năm nay, thơ Xuân quỳnh đã đi vào người đọc, trở
thành tiếng nói tâm tình về những ngọt bùi, cay đắng ở đời, tiếng nói của tình
yêu và tình mẫu tử, tiếng nói hồn hậu, dung dị, chứa đựng sự sống đương thời mà
cũng in dấu nếp nghĩ, nếp cảm của tâm hồn người Việt tự xa xưa. Những thiếu nữ
bước vào tuổi yêu đương đã tìm đến nhà thơ Xuân quỳnh. Những người mẹ trẻ phập
phồng ngày tháng dõi theo mỗi hơi thở mỗi bước đi của những đứa con mình, có thể
tìm được ở Xuân quỳnh một người bạn sẻ chia tâm sự... Đối với người làm thơ, được
như thế đã là hạnh phúc.
Nói đến “xuất xứ” của Xuân quỳnh giữa làng thơ lại phải nói đến sự
xuất hiện đông đảo, ào ạt của một lớp người viết mới đem vào văn học những giọng
nói mới, vào những năm sáu mươi. Nếu lấy mốc sự xuất hiện ấy là những năm 64-65
thì Xuân Quỳnh quả là có “ra trước” chút ít, giống như một người chị. Nhưng chị
đã nhập bọn như một người bạn cùng lứa. Lớp nhà thơ này, trên chặng tiếp theo,
cuộc đời và nghệ thuật của họ vừa tách biệt, phân hóa, lại vừa xen cài giằng
chéo vào nhau. Xét về nhiều mặt, chính ngay mối tình Xuân Quỳnh- Lưu Quang Vũ
và sự nghiệp văn học của cặp vợ chồng này đã là lực lượng chính của “sản xuất”
văn học, nhưng hầu như chưa ai nghĩ đến một sự tổng kết, dù sơ bộ, về họ. Chính
việc Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ đột ngột ra đi đã khiến chúng ta phải nghĩ đến
công việc ấy, hơn nữa, cho thái độ đón nhận của chúng ta đối với những thế hệ mới,
đã và sẽ bước vào văn học.
Về thế hệ này, đương thời người ta thường nói rằng họ không có gì
để từ bỏ, lựa chọn không có việc “nhận đường” tìm đường trong nghệ thuật. Cho đến
hôm nay điều đó có vẻ không phù hợp với thực tế. Văn học là quá trình, cuộc đời
sáng tác cũng là quá trình. Ở thế hệ nhà văn này, không thể hoàn toàn nói rằng
con đường nghệ thuật của họ đã không phải vượt qua những trở lực, đã không phải
trải qua những lầm lẫn, bị lừa dối và tự lừa dối, bị mê hoặc và tự mê hoặc rồi
tỉnh ngộ, tự tìm đường đi trong nghệ thuật với những mục đích khác nhau, theo
những đường lối khác nhau. Những điều này, thời gian sẽ cho thấy rõ dần, qua từng
trường hợp cụ thể.
Ai quen biết Xuân Quỳnh, hẳn sẽ để ý đến nét khác lạ nơi tay chị:
Một đôi bàn tay như già hơn khá nhiều so với gương mặt. Một gương mặt xinh đẹp,
trẻ hơn tuổi, với cặp mắt tinh anh, duyên dáng, như rất dễ mỉm cười, che hết mọi
phiền lo. Gương mặt phụ nữ đẹp và làm thơ ấy lại có đôi bàn tay giống như gương
mặt Trương Chi! Chính Xuân Quỳnh đã không ít lần viết về bàn tay mình, ví dụ mấy
câu này trong giọng dãi bày với người yêu:
Bàn tay em ngón chẳng thon thả
Vệt chai cũ, đường gân xanh vất vả
Em đánh chắt chơi chuyền thuở nhỏ
Hái rau dền rau dệu nấu canh
Tập vá may, tết tóc cho mình
Rồi úp mặt trên bàn tay khóc mẹ
Đôi bàn tay tiết lộ số phận. Một số phận đã từng không may mắn, dường
như luôn luôn phải “đánh đu” với cuộc sống, với hạnh phúc. Cũng là trớ trêu
chăng, con người có số phận như thế lại mang trong mình nhiều khao khát. Trong
một bài thơ viết năm 1962, Xuân Quỳnh viết rằng ngày bé mình chỉ mơ đến rằm
tháng tám để được vui chơi với bạn bè dưới trăng thu. “Khi
lớn khôn ước mơ cháy bỏng” mơ
ước “thành nhà thơ ca ngợi cuộc đời”, đưa thơ cùng du hành vũ trụ, sưởi ấm
vùng trăng lạnh, đưa thơ đi cập bến các vì sao... “Như
lòng ta chẳng bao giờ nguôi khát vọng - Biết bay rồi ta lại muốn bay cao”.
Hình như gốc gác tấn kịch của mỗi người sáng tạo là như thế. Ít ai
làm “nghề” này lại không luôn luôn tự cảm thấy trạng thái quá sức mình. Như
luôn luôn chới với vươn về cái đích rất khó tới. Phải đánh cuộc với số phận, với
sự sống, với hạnh phúc. Vả chăng chính năng lượng của thơ, của nghệ thuật nảy
sinh từ đó.
Quá sức vì khát vọng, có lẽ, đó cũng là trạng thái của Xuân Quỳnh.
Trong một bản tiểu sử văn học viết ngày 29/8/1982, trả lời cho đề
mục: Nguyên nhân bắt đầu hoạt động văn học, Xuân Quỳnh ghi hai điểm: “Vì thích
thú. Làm văn học cảm thấy như mình được sống thêm một cuộc đời khác nữa. Vì uất
ức. Khi mới vào nghề bị xô đẩy, bị khinh rẻ nên tôi quyết phải sống. Mà sống tức
là phải viết”.
Giá như trong cuộc đời người phụ nữ ấy đã không có những trắc trở
trong tình yêu đã không từng hơn một lần qua đò sang bến thì cũng khó hình dung
mảng thơ tình của chị sẽ mang diện mạo ra sao. Bởi “chuẩn mực” tình yêu ở nhà
thơ khao khát yêu đương ấy vẫn có vẻ gì rất đồng nội, quê kiểng, nó gắn với sự
duy nhất, sự chung tình, với tổ ấm, với mái nhà, với hạnh phúc của hôn nhân, nó
đòi tuyệt đối, nó dứt khoát không nhận mọi ngập ngừng, trù trừ, láu cá, nó
không chịu bị xẻ chia, bị vay mượn dẫu là tạm thời là thường tình, nó xòe tất cả
lông cánh, móng vuốt ra để gìn giữ tình yêu trước mọi sự xâm phạm từ phía
ngoài. Chính cái chuẩn mực thường đeo đẳng ấy lại trái hẳn với thực tế đã trải.
Hóa ra, người đeo đuổi một ý niệm tình yêu chuyên nhất lại bị mang tiếng trước
người đời như là kẻ có lắm sự yêu đương “phức tạp”, phá phách (luôn tiện, xin
nêu nhận xét thú vị của một người bạn tôi: Các nhà thơ thường không đứng ngoài
đạo đức, chính họ thường hướng tới tạo dựng một đạo đức, cho tương lai. Nhưng họ
lại thường bị người đương thời coi vô đạo đức!). Dẫu sao, đấy chuyện bề ngoài.
Điều nên nói là bề trong, là “lợi ích” của văn học do tất cả các chuyện này
chính tấn kịch ấy đã biến Xuân Quỳnh từ con người có nhu cầu tự ca hát về tình
yêu và cuộc săn đuổi hạnh phúc của mình thành một nhà thơ viết về tình yêu vào
loại phong phú nhất trong số các nhà thơ cùng thế hệ.
Những nhà thơ cùng thế hệ Xuân Quỳnh đã được nghe không ít những lời
khuyên: Hãy viết về những cái rộng hơn ngoài cái “tôi” của mình. Xuân Quỳnh đã
nỗ lực không ít để đáp ứng điều này. Và nhờ vậy chăng, thế giới sự vật trong
thơ chị được mở rộng ra không ít. Song, cái mà chị viết nhiều nhất, thành công
nhất lại vẫn là về chính cuộc đời mình, những chuyện của mình, những gì liên
quan đến mình. Có lẽ ai viết tiểu sử chi tiết của Xuân Quỳnh sẽ có thể dựa khá
sát vào thơ của chị. Tính chất tự truyện là nét đậm, quán xuyến hàng loạt bài
thơ, tập thơ và cũng là nét khác biệt rõ rệt so với thơ của nhiều người cùng thế
hệ. Gần như chị trở thành nhân vật văn học của chính thơ chị. Chị đam mê sống,
đam mê yêu, đam mê trong thiên chức làm vợ làm mẹ- những điều ấy nhân vật kia
nói lên giúp. Mọi sự vẫn như thế thôi nhưng đã là sang một thế giới khác, dịu
nhẹ hơn, có thể thêu dệt thêm màu vẻ cho cả khổ đau lẫn hạnh phúc. Vẫn chỉ là
mình và người yêu đấy thôi, nhưng đó đã là ước mơ của mình về mình và cho mình.
Phải chăng đấy là cái “cuộc đời khác nữa” mà Xuân Quỳnh tìm thấy trong văn học,
nơi thăng hoa và giải quyết độc đáo cho tấn kịch của chị? Nói một cách giản dị,
chính là sống chọn vẹn tấn kịch của chính mình, ghi lại bằng thơ những động
thái tâm hồn mình, chị trở thành nhà thơ được công chúng thừa nhận. Có thể là
chị không lưu ý lắm đến cái được gọi là “hằng số nhân bản” mà các nhà khoa học
thường nêu lên, nhưng hẳn là chị tin rằng không có chuyện gì của cuộc đời một
con người lại là quá ư dị biệt, xa lạ với cuộc đời những người khác.
Ai tiếp xúc nhiều với Xuân Quỳnh, hẳn sẽ thấy chị rất không ưa những
gì nghiêm nghị, trịnh trọng. Chị sẵn sàng phá vỡ cái không khí nghi thức đạo mạo
bằng những câu đùa hoặc hóm hỉnh, ngộ nghĩnh, nghịch ngợm, hoặc đôi khi khá
chanh chua, nhưng thường là hết sức dân dã, hết sức phố xá. Đằng sau cái tác
phong mà không phải ai cũng dễ ưa ấy, phải chăng có thể nghĩ rằng ở con người này
đang dần dần hội lại những nét gì tương tự như là sự thông tuệ dân gian, trí
khôn và cách ứng xử dân gian? Tôi vẫn ngờ rằng con người Xuân Quỳnh thuộc về
văn hóa dân gian và cổ truyền nhiều hơn là thuộc về văn hóa hiện đại. Nếu vậy,
hẳn đây lại là chỉ dẫn về một khía cạnh nữa trong tấn kịch của chị, bởi hình
như cũng ở mức nhiều hơn ai, chị cố gắng làm người của hiện đại, của đương thời,
cả trong đời sống lẫn trong văn học.
Chỉ học hết lớp 6, chị đã đi làm và từ đó, sự tự học của chị thật
bền bỉ. Chị có mặt hầu hết các loại văn hóa, chính trị, chuyên môn, ngoại ngữ
do Hội tổ chức. Vài năm gần đây chị vẫn gắng học thêm để nâng cao trình độ tiếng
Pháp, tập dịch thơ rồi nhờ thầy sửa giúp, để rút kinh nghiệm hơn là để đưa
đăng. Và chị đọc rất chăm. Phải thức thật khuya mà đọc, chị bảo thế. Nhất là
sách dịch, từ nhiều nền văn học khác nhau. Tôi còn nhớ, khi đọc xong Trăm
năm cô đơn, chị còn mượn các tài liệu phân tích, để hiểu tác phẩm của
một nền văn hóa khác, với chúng ta còn là xa cách, lạ lẫm. Cũng có thể thấy dấu
vết sự học hỏi của Xuân Quỳnh ở ngay thơ chị. Từ bài mở đầu tập Chồi
biếc in rõ dấu ca
dao, sang những tập thơ sau này, chị đã trở lên lành nghề, thậm chí đã biết tận
dụng cả sự khéo tay, tận dụng những cách cấu tứ của cả nhà thơ cùng lứa lẫn nhà
thơ lớp trước. Và chị đã văn chương hóa không ít, hơn nữa đã cùng các nhà thơ
cùng lứa tạo ra một kiểu “văn chương hóa” mới, một kiểu trang sức mới. Nhưng cốt
cách thơ Xuân Quỳnh, qua mọi biến thái vẫn gắn liền hơn với những gì đã có nơi
chị từ điểm xuất phát. Ấy là một giọng thơ ưng phô bày, kể lể, nhắn nhe, tự
tình, ví von, một giọng thơ dù biến hóa đến mức văn hoa kiểu sức vẫn còn lại
cái phần gắn bó với lối mòn, lối nghĩ, lối cảm thông thường có thể là xa xưa nữa
của người Việt, của tiếng Việt. Thơ Xuân Quỳnh bao giờ cũng dễ hiểu đối với
công chúng đông đảo. Sáng rõ, nhã nhặn, giản dị- là những đặc tính được chị ưa
thích, cả cho thơ lẫn cho văn xuôi. Không phải chị không biết đến các màu sắc
khác. Không phải chỉ không biết đến luật thay đổi của thời gian đối với các thị
hiếu nghệ thuật. Đã có lúc chị thẳng thắn chế diễu cái chất mà chị gọi là “âm lịch”,
nhất là cái cổ lỗ, cũ kỹ trong thơ văn của những cây bút nào đó. Và chị cũng
không tự coi mình là “tân thời”. Không phải là không có dụng ý khi tập thơ tuyển Sân
ga chiều em đi được kết
thúc bằng hai câu nhắn gửi người đọc: Anh hãy nghĩ khác xa điều tôi nghĩ -
Thơ tôi làm không phải để anh theo. Nhưng dẫu sao Xuân Quỳnh, với
tư cách một con người và một nhà thơ, vẫn gắn bó, vẫn hướng nhiều hơn về phía
những chuẩn mực, những nề nếp đã hình thành từ xưa của đời sống và của nghệ thuật.
Ở con người Xuân Quỳnh vẫn tiềm tàng nét đơn giản, thậm chí trẻ thơ “đã yêu củ ấu
cũng tròn”, đối với mọi người, mọi sự.
Xuân Quỳnh không thích, thậm chí không đồng tình với một số tìm tòi khác lạ của một số bàn viết mới gần đây- đó âu cũng là một sự thường. Vả chăng đây cũng là một nét thuộc nhân cách nghệ sĩ: Mọi phản ứng của một nhân cách như vậy đều nhằm bảo vệ thị hiếu nghệ thuật của mình, tín niệm nghệ thuật của mình. Một đội ngũ nghệ sĩ cùng thời cùng lứa chỉ có yêu văn chương của nhau, tâng bốc nghệ thuật của nhau, không có xung đột về thị hiếu, về xu hướng nghệ thuật- thì chưa hẳn đã là đội ngũ có thể làm nên một nền nghệ thuật thật sự đa sắc, đa dạng.
Xuân Quỳnh không thích, thậm chí không đồng tình với một số tìm tòi khác lạ của một số bàn viết mới gần đây- đó âu cũng là một sự thường. Vả chăng đây cũng là một nét thuộc nhân cách nghệ sĩ: Mọi phản ứng của một nhân cách như vậy đều nhằm bảo vệ thị hiếu nghệ thuật của mình, tín niệm nghệ thuật của mình. Một đội ngũ nghệ sĩ cùng thời cùng lứa chỉ có yêu văn chương của nhau, tâng bốc nghệ thuật của nhau, không có xung đột về thị hiếu, về xu hướng nghệ thuật- thì chưa hẳn đã là đội ngũ có thể làm nên một nền nghệ thuật thật sự đa sắc, đa dạng.
Xuân Quỳnh đã từng bảo vệ thị hiếu và quan niệm nghệ thuật của chị,
bằng chính sáng tác của chị. Công chúng nhận ra ở chị một hồn thơ gần gũi, như
đã thân quen từ lâu. Đến lượt những bạn viết mới, họ cũng phải tự tìm ra và tự
bảo vệ lấy quan niệm nghệ thuật của họ, bằng sáng tạo của họ và họ cũng sẽ tạo
ra được công chúng của mình.
QUỲNH HƯƠNG




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét