Xưa nay người ta biết đến
Nguyễn Du vì Truyện Kiều đã trở thành áng văn chương trác tuyệt. Chỉ một tác phẩm
ấy thôi cũng đủ làm cho tên tuổi Tố Như sống mãi với muôn đời, muôn dân. Bởi qua
văn chương Truyện Kiều ta tìm thấy một Nguyễn Du tiên sinh với chữ Tâm sáng, ấm
như sao Khuê; một pháp sư về ngôn ngữ mà ở đó những điển
cố dù rắc rối oái oăm đến đâu cũng trở nên mĩ lệ, thanh thoát nhưng thâm thuý
uyển chuyển đến lạ lùng. Dưới ngòi bút Nguyễn Du ngôn ngữ bình dị của “dân đen
con đỏ” cùng những thành ngữ, tục ngữ được sử dung rất thần tình, được đúc
thành những câu thơ gọn ghẽ, đông đặc, sinh động đến mức khiến nhiều khi độc giả
ngần ngai không quyết định được rằng phần nào là của Nguyễn Du đã dùng thành ngữ,
tục ngữ, phần nào là câu văn Nguyễn Du đã trở nên thành ngữ tục ngữ.
Các nhà Nho học vốn thán phục
cái sự học uyên bác của Nguyễn Du đều cho rằng để làm nên kiệt tác Truyện Kiều ấy
“trong bụng Nguyễn Du phải chứa bao nhiêu sách cổ”. Và như vậy trong Truyện kiều
bút pháp hiện thực phối hợp chặt chẽ với bút pháp cổ điển khiến những cảnh, những
người, những sự tình Nguyễn Du miêu tả đều có tính điển hình cao độ. Cho nên dù
ở thời đại nào ta cũng tìm thấy trong Truyện Kiều chân dung cuộc sống mà mình
đang sống. Ta hãy nhìn và ngắm những nhân vật dưới ngòi bút thiên tài của Nguyễn
Du.Những nhân vật trong truyện, dẫu là những nhân vật bịa đặt, song không phải
là những hồn ma tưởng tượng của nhà văn tạo ra, đó là những tính cách mà nhà văn
đã do sự kinh nghiệm và quan sát mà cấu tạo, cho nên ta thấy họ không khác những
người ăn ở trong xã hội xung quanh ta. Những người ấy có tâm lý riêng, có cách
sinh hoạt riêng, có các hành động riêng ở trong những trường hợp và hoàn cảnh đặc
biệt. Tác giả viết truyện tức là tự thuật những hành động của các nhân vật, khiến
người ta thấy họ là những người sống chứ không phải là những hồn ma.
Trước hết tác giả giới thiệu
hai chị em Thúy Kiều và Thúy Vân:
“ Đầu lòng hai ả tố nga
Thúy Kiều là chị, em là Thúy
Vân
Mai cốt cách, tuyết tinh thần
Mỗi người mỗi vẻ, mười phân
vẹn mười.
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn, nét
ngài nở nang.
Hoa cười, ngọc thốt, đoan
trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường
màu da.
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần
hơn.
Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn
kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng
thành,
Sắc đành đòi một, tài đành họa
hai.
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa, đủ mùi ca
ngâm.
Cung thương, làu bực ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một
chương.
Khúc nhà tay lựa nên xoang,
Một thiên “Bạc mệnh” lại
càng não nhân.
Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cặp
kê.
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tác giả cho ta biết rằng hai
chị em, người nào cũng là dung dáng yểu điệu (mai cốt cách), tinh thần trong sạch
(tuyết tinh thần), người nào cũng là hoàn toàn, nhưng mỗi người có một vẻ
riêng.
Thúy Vân thì vẻ chững chạc
khác thường (trang trọng khác vời); khuôn mặt thì đầy đặn, nét mày thì đậm đà
(khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang), ra dáng con người phúc hậu, thùy mị. Đến
như miệng cười thì tươi như hoa, giọng nói thì trong như ngọc (hoa cười ngọc thốt),
nhưng cười nói khi nào cũng nghiêm trang, chỉnh chắn.
Vân không những là người
thùy mị nghiêm trang mà lại có sắc đẹp “tóc xanh hơn mây, da trắng hơn tuyết”,
cái sắc của một người phúc hậu, chín chắn khiến người ta, cho đến tạo hóa, đều
phải kính nhường. Ở đây tác giả dùng chữ “thua” (mây thua nước tóc) và chữ “nhường”
(tuyết nhường màu da) là cốt để ám thị cho ta rằng cái sắc và cái đức của Thúy
Vân để dành cho nàng một số phận đầy đủ hạnh phúc.
Đến như Thúy Kiều là nhân vật
chính, mà tác giả lại tả sau Thúy Vân, là dụng ý mượn nhan sắc của Thúy Vân mà
tôn nhan sắc của Kiều, tức là phép “tả khách hình chủ”. So với Thúy Vân, vẻ đẹp
của Kiều lại là sắc sảo, mặn mà hơn, mà Kiều lại hơn Vân về đường tài nữa (so bề
tài sắc lại là phần hơn). Tả Thúy Vân thì tác giả dùng những chữ “khuôn trăng,
nét ngài, hoa cười, ngọc thốt, tóc mây, da tuyết”, tuy là chữ bóng bẩy, nhưng vẫn
là hữu hình. Đến Thúy Kiều thì tác giả dùng những chữ “làn thu thủy” để chỉ con
mắt trong sáng, “nét xuân sơn” để chỉ lông mày xanh tươi, khiến cho ta tưởng
như tác giả đã muốn tả cái phần vô hình của cái sắc. Cái đẹp tươi thắm lộng lẫy
ấy khiến cho “hoa cũng phải ghen”, “liễu cũng phải hờn”, nghĩa là tạo vật cũng
phải ghen ghét mà sẽ bắt Thúy Kiều chịu một phận mệnh khổ sở bõ ghét.
Song nhan sắc Thúy Kiều như
thế, tất khiến người ta phải yêu mến say mê (một hai nghiêng nước nghiêng
thành), cái si tình của Kim Trọng ngay ở đây ta cũng có thể đoán được.
Nhưng Thúy Kiều đã có nhan sắc
thần tiên ấy, mà lại có tài hơn người (sắc đành đòi một, tài đành họa hai).
Nguyễn Du cho ta biết nàng có thiên bẩm thông minh nhất về tài âm nhạc của
nàng, để nhân đó mà cho ta biết nàng đã đặt ra một bài đàn “Bạc mệnh” để tự ngự.
Người nhan sắc, thông minh, tài hoa như Thúy Kiều tất tình cũng phải khác thường.
Ông không cần phải nói rõ ràng là người đa tình đa cảm, mà chỉ nói khúc đàn “Bạc
mệnh” thì ta đã tự khắc biết rồi. Chỉ một việc ấy đã khiến ta tưởng tượng được
cả cái lịch sử đoạn trường của Thúy Kiều sau này.
Sau khi tả nhan sắc và đức hạnh
của Thúy Vân trong 4 câu, và nhan sắc cùng tài tình của Thúy Kiều trong 12 câu,
sau khi tả hai cái chân dung khác nhau mà cùng hoàn toàn đầy đủ. Nguyễn Du lại
nói chung đến cách phong lưu cho đến tuổi tác cùng là cách ăn ở kín đáo của hai
cô con gái họ Vương.
Các nhân vật khác là nhân vật
phụ thuộc, tác giả chỉ tả sơ lược, duy có Từ Hải thì tác giả tả kỹ gần bằng
Thúy Kiều. Ở chương trên ta đã thấy khi mô tả nhân cách và sự nghiệp của Từ Hải
thì Nguyễn Du có một giọng văn đắc chí lạ thường, vì sau Thúy Kiều mà Nguyễn Du
xem là một người cùng chung phận mệnh với mình, Từ Hải là người mà Nguyễn Du mộng
tưởng.
Trong trí Nguyễn Du, Từ Hải
là một người anh hùng phi thường ta không nên biết tung tích rõ ràng – nếu biết
tung tích họ sẽ thấy họ cũng chẳng có gì phi thường cả, cho nên ông chỉ cho ta
biết rằng Từ là một người khách lạ từ miền biên thùy xa đến. Chữ “bỗng đâu”
hình như đã đoán trước vẻ kinh ngạc của ta, khi thấy một người “râu hùm, hàm
én, mày ngài; vai năm tấc rộng, thân mười thước cao”. Người có cái dung mạo to
lớn dữ tợn ấy có thể là một người anh hùng, mà cũng có thể chỉ là một người vũ
phu. Nhưng trong dung mạo ấy, tác giả đã nhận thấy cái khí sắc của kẻ anh hùng
rất là rõ ràng (đường đường một đấng anh hùng). Đã là anh hùng thì tất không phải
chỉ có dõng (côn quyền hơn sức) , mà lại phải có trí nữa (lược thao gồm tài).
Câu ấy đã cho biết thêm rằng người cao lớn dữ tợn ta thấy đó là người có tài
trí lỗi lạc. Nhưng tài trí không cũng chưa đủ làm người anh hùng, lại cần phải
có chí khí. Câu “đội trời đạp đất ở đời” cho ta biết rằng Từ có chí khi ngang
tàng độc lập, không chịu khuất phục ai.
Người khách lạ ấy, bây giờ
ta đã biết rõ ràng là “một đấng anh hào”, điều ta muốn biết thêm nữa là tên họ
người ấy. Nguyễn Du chờ đến lúc ta khao khát muốn biết, mới chịu nói cho ta biết
người ấy tên Hải họ Từ, quê quán ở xứ Việt - đông, là miền chưa quen chịu giáo
hóa và ước thúc của triều đình phương Bắc. Người ấy hiện bấy giờ còn lận đận
trong cảnh trần ai, nhưng cũng không chịu làm việc tầm thường, không chịu bó
mình trong khuôn khổ nhỏ mọn, trong phạm vi chật hẹp, mà phải lấy cả thiên hạ
làm trường thạo động của mình (giang hồ quen thói vẫy vùng), chỉ thích một mình
đi ngao du khắp phong cảnh non sông (non sông một chèo), có lẽ để kết nạp hào
kiệt và tìm nơi dụng võ. Nhưng Từ Hải dẫu có chí khí anh hùng, mà không phải là
người tự nhiệm cái thiên chức lớn lao như các anh hùng cứu quốc (Lê Lợi, Câu Tiễn).
Từ Hải chỉ làm anh hùng để cho cái phỉ cái chí ngang tàng và cái lòng bất bình,
cho nên không ép thân trong cảnh khắc khổ “nằm gai nếm mật”, mà trái lại, trong
bước phiêu lưu lại không quên cái thú phong lưu. Cho nên cùng với thanh gươm là
vật tùy thân của người võ sĩ, Từ Hải thường kèm theo cái đàn, mà cái đàn ấy ta
mới không lấy làm lạ khi ta thấy Từ Hải gặp Thúy Kiều ở chốn thanh lâu.
Còn những nhân vật phụ thuộc
khác, tác giả chỉ tả mọi người bằng hai câu, hay bốn câu mà ta cũng thấy được
hình dung và tính tình của họ hiển hiện trước mắt.
Kim Trọng:
“Nền phú hậu, bậc tài danh,
Văn chương nết đất, thông
minh tính trời.
Phong tư tài mạo khác vời,
Vào trong phong nhã, ra
ngoài hào hoa.”
Bốn câu ấy tả đủ gia thế, vẻ
người, vẻ mặt, tài năng tính tình của anh học trò họ Kim.
Mã giám sinh:
“Quá niên trạc ngoại tứ tuần,
Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh
bao.”
Hai câu ấy tả rõ một người
điếm đàng. Mấy chữ “cò kè bớt một thêm hai” khiến ta thấy anh điếm đàng kia là
con buôn lão luyện.
Tú bà:
“Thoát trông nhờn nhợt màu
da,
Ăn gì cao lớn đẫy đà làm
sao?
Trước xe lơi lả han chào
....”.
Mây câu tả rõ hình dung và
thái độ của một mụ “trùm”.
Sở khanh thì người còn
trẻ, ra vẻ học trò, nhưng học trò mà “ hình dung chải chuốt, áo khăn dịu dàng”,
tất không phải là học trò thật hiệu.
Thúc sinh thì tuy “cũng
nòi thư hương”, mà lại “quen thói bốc trời, trăm nghìn đổ một trận cười như
không”, cho nên gặp Thúy Kiều ở kỹ viện thì chàng mê mệt, mà chuộc lấy làm vợ hầu,
dẫu vợ chính của chàng là người đanh thép.
Tất cả những ngôn từ hành động
của Hoạn Thư tỏ cho ta thấy hai câu:
“Ở ăn thì nết cũng hay,
Nói điều ràng buộc thì tay
cũng già” là rất đúng.
Nguyễn Du tả Đạm Tiên:
“Sương in mặt, tuyết pha
thân,
Sen vàng lững thững như gần
như xa.”
Rõ là một nàng tiên thấy
trong mộng.
Đến khi tả Thúy Kiều chết đuối
mới vớt lên thì hai câu:
“Trên mui lướt thướt áo là,
Khiến ta thấy hiển hiện ngay
một người đàn bà sang trọng, quần áo ướt đầm lướt thướt, nằm ở trên
mui thuyền, sắc mặt tuy dầm nước đã hơi bạc, nhưng vẫn còn vẻ đẹp thiên nhiên.
Nếu ta so sánh cách mô tả của
Nguyễn Du với cách mô tả của các nhà tiểu thuyết phương Tây thì ta có thể tiếc
rằng Nguyễn Du tả hơi sơ lược. Nhưng ta phải nhớ rằng Nguyễn Du không phải là
nhà văn tả thực tự nhiên chủ nghĩa nên không tả tỉ mỉ những hình dáng, dung mạo,
thái độ, cử chỉ, ngôn từ, tính tình đặc biệt của một người nhất định. Sự mô tả
của ông chỉ cốt cho ta nhận thấy vẻ hợp nhất giữa hình dung, tính tình cùng
hành động của mỗi nhân vật ấy,mà nhân vật ấy dẫu người đặc biệt mà lại có tính
chất phổ thông, thực là một người tượng trưng tiêu biểu cho cả một hạng người
trong xã hội. Thúy Kiều tiêu biểu cho lớp con gái đẹp tài tình, Thúy Vân tiêu
biểu cho những con gái đẹp phúc hậu, Mã Giám Sinh tiêu biểu cho hạng điếm đàng
ma cô, Tú Bà tiêu biểu cho hạng trùm lầu xanh, Thúc Sinh tiêu biểu cho hạng
công tử mê gái, Từ Hải tiêu biểu cho người hào kiệt ngang tàng. Bởi các lẽ
trên, ta chỉ thấy Nguyễn Du lựa chọn một cách rất thích đáng những điều đáng
chú ý, những đặc điểm tiêu biểu dầu là ước lệ, chứ không phô bày tất cả chi tiết.
Những đặc điểm ước lệ tiêu biểu ấy, tác giả chỉ dùng những chữ lập thành và những
hình ảnh sẵn có, tức là những lời văn ước lệ, để kêu gọi nó lên là ta đủ thấy,
chứ không cần dùng những chữ đặc biệt, mới mẻ chỉ thích hợp cho những chi tiết
đặc biệt thôi. Cách mô tả những tính chất tiêu biểu bằng những lời ước lệ mà
hàm súc rất dồi dào, cách mô tả tổng hợp ấy mâu thuẫn hẳn với cách mô tả phân
tích, duy thực tỷ mỷ, mằn mờ từng sợi tóc chân tơ của các nhà văn lãng mạn và tự
nhiên chủ nghĩa.
Cách tả người đã thế, cách tả
cảnh của Nguyễn Du cũng thế.
Ngay đầu sách ta thấy một đoạn
tả cảnh rất tinh diệu, là cảnh Thúy Kiều du xuân. Trước hết tác giả dùng lời
hình tượng mà cho biết một cách bóng bẩy có duyên rằng bấy giờ tiết xuân đã đến
đầu tháng ba:
“Tiết vừa con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã
ngoài sáu mươi”
Mùa xuân vào khoảng ấy là tiết
thiên hạ kéo nhau đi chơi xuân nên tác giả tả cảnh xuân ở ngoài đồng. Tác giả
chỉ dùng có hai câu để tả phác những bông lê điểm trắng trên thảm cỏ non là một
cảnh điển hình, có lẽ tự tác giả cũng chưa thấy bao giờ, nhưng tự ta có thể nhờ
những nét phác họa để tưởng tượng ra rất rõ ràng:
“Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài
bông hoa.”
Chị em Thúy Kiều gặp tiết ấy,
mến cảnh ấy, cũng theo người ta mà đi du xuân và tảo mộ, tác giả lại tả quang cảnh
ấy bằng bốn câu khiến ta thấy cảnh du xuân náo nhiệt ở đường, chật ních áo quần,
lươn lướt ngựa xe, và cảnh tảo mộ ngổn ngang thiên hạ kéo nhau lên bãi tha ma,
mà giữa đường thì tro tiền giấy và thoi vàng hồ rải rác.
Nhân tảo mộ về, chị em Thúy
Kiều đi qua mộ Đạm Tiên, thì tác giả lại tả cảnh ấy bằng mấy câu thơ khiến ta
thấy bao nhiêu vẻ thê lương của cái mộ hoang thấp lè sè, rầu rầu sắc cỏ, như một
điềm ảm đạm giữa cảnh thanh tao “nao nao dòng nước uốn quanh, nhịp cầu nho nhỏ
cuối ghành bắc ngang”. Cảnh thứ ba này tác giả tả kỹ hơn hai cảnh trước, vì nó
là cảnh quan trọng hơn cả, tức là chỗ mà Thúy Kiều sẽ gặp Kim Trọng rồi mới
thành mối khổ tình. Song ta có thể dồn ba cảnh ấy thành một bức, từng thứ nhất
là cảnh mộ Đạm Tiên, từng thứ nhì là cảnh du xuân tảo mộ, từng sau cùng là cảnh
mùa xuân làm nền, thực là một bức họa cân đối nhịp nhàng, bố trí khít khao như
một bức họa cổ điển, mà nét bút lại đạm bạc như một bức tranh sơn thủy Trung Quốc.
Nhà văn lãng mạn hay tả thực,
gặp cảnh mùa xuân thì ắt tả tỷ mỷ tất cả những đặc sắc của xuân ở ngoài đồng, từ
sắc trời, sắc đất, đến cây cối chim muông, từ hương vị cỏ hoa đến tiếng người
tiếng vật. Nhà thi sĩ của ta chỉ dùng gọn lỏn có hai câu vì như H.Taine đã nói
về La Fontaine “nhà thi sĩ chân chính chỉ nghĩ về đại thế và chỉ mô tả để chứng
thực”. Mỗi lời nhà văn của thi sĩ, cũng như mỗi nét bút của họa sĩ, là một dấu
hiệu để tỏ một hành động hay để gợi một cảm tình, chứ không phải để mạc hay để
bắt chước tự nhiên một cách vụng về. Bởi thế phần tả cảnh trong văn Nguyễn Du
là phần phụ thuộc để giúp cho phần tự thuật hay phần tả tình được linh hoạt
thêm.
Ta xem câu:
“Lần lừa ngày gió đêm trăng,
Thưa hồng rậm lục, đã chừng
xuân qua”.
Không phải để tả cảnh mùa hạ,
mà chỉ cốt nói một cách màu mè thú vị rằng tiết trời vừa sang hạ, là lúc cha mẹ
Thúy Kiều đi mừng lễ sinh nhật ngoại gia.
Câu:
“Dưới trăng quyên đã gọi hè,
Đầu tường lửa lựu lập lòe
đâm bông”.
cùng câu:
“Mảng vui rượu sớm trà trưa,
Đào đà phai thắm, sen vừa nẩy
xanh”.
Chỉ cốt nói rằng sang mùa hè
một ngày nọ Thúy Kiều đi tắm, hay là một đêm nọ Thúy Kiều khuyên Thúc Sinh về
thăm nhà.
Những câu:
“Sân ngô cành bích đã chen
lá vàng”
“Giếng vàng đã rụng một vài
lá ngô”.
Là chỉ bày một cảnh điển
hình của mùa thu để nói rằng thì giờ thấm thoắt đã đến tiết ấy rồi.
Tả cảnh để gợi thêm cảm tình
thì như đoạn:
“Một vùng cỏ mục xanh rì,
Nước ngâm trong vắt thấy gì
nữa đâu!
Gió chiều như gợi cơn sầu,
Vi lô hiu hắt như mầu khẩy
trêu”.
Cùng là một cảnh mộ Đạm
Tiên, mà lúc ấy du xuân thì nó có vẻ thanh thanh, đến bây giờ thì thấy nó có vẻ
âu sầu cũng như tâm tình của anh chàng tương tư nọ.
Ta lại xem đoạn:
“Bạc phau cầu giá, đen rầm
ngàn mây;
Vi lô san sát hơi may,
Một trời thu để riêng ai một
người.
Đêm khuya ngất lạnh mù khơi,
Thấy trăng mà thẹn những lời
non sông.
Rừng thu từng biếc xen hồng,
Nghe chim như nhắc tấm lòng
thần hôn”.
Hai câu đầu tả cảnh mùa thu,
cầu giá bạc phau mây kéo đen rầm, nhường như cảnh vật cũng sầu thảm với người
con gái phải xa cha mẹ mà đi ra đất khách quê người, phó thân cho số phận. Hai
câu giữa tả cảnh đêm thu, mà tả luôn lòng đau đớn của Thúy Kiều vì thấy trăng
thu mà nhớ đến cố nhân. Hai câu sau cùng tả cảnh rừng thu mà tả luôn lòng ảo
não của nàng vì nghe tiếng chim kêu mà nhớ cha mẹ.
Khi tả cảnh đêm Thúy Kiều đi
trốn theo Sở Khanh, tác giả khiến ta thấy nỗi sợ hãi cùng nỗi đau đớn nhớ nhà của
người thiếu nữ:
“Đêm thu khắc lậu canh tàn,
Gió cây trút lá, trăng ngàn
ngậm gương.
Lối mòn cỏ lạt mù sương,
Lòng quê đi một bước đường một
đau”.
Khi Thúy Kiều trốn ở nhà Hoạn
Thư ra, tác giả tả cảnh đêm lại ra vẻ sợ hãi hơn nữa:
Mịt mù dặm cát đồi cây,
Tiếng gà đếm nguyệt, dấu giầy
cầu sương.
Canh khuya thân gái dặm trường,
Phần e đường sá, phần thương
giãi dầu”.
Lại xen đoạn tả cảnh tiêu điều
ở vườn Thúy khi Kim Trọng tự Liêu – dương trở lại:
“Đầy vườn cỏ mọc lau thưa,
Song trăng quạnh quẽ, vách
mưa rã rời.
Trước sau nào thấy bóng người?
Hoa đào năm ngoái còn cười
gió đông.
Xập xè én liệng lầu không,
Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu
giày,
Cuối tường gai góc mọc đầy,
Đi về này những lối này năm
xưa.
Chung quanh lặng ngắt như tờ”.
Rõ thực là cái cảnh điển
hình tác giả vẽ ra để tả nỗi đau đớn của Kim Trọng khi đứng trước quang cảnh
điêu tàn mà tuyệt chẳng thấy người thương.
Ta đã biết mục đích tả cảnh
của Nguyễn Du là thế nào, nên ta không lấy làm lạ thấy ông mô tả rất vắn tắt, gọn
gàng. Song nét bút của ông lại thần tình đến chỉ một vài câu mà tả đầy đủ một
cách rất tế nhị, dồi dào, thú vị, ví như:
“Lơ thơ tơ liễu buông mành,
Con oanh học nói trên cành mỉa
mai...
Chim hôm thoi thót về rừng,
Đóa trà mi đã ngậm gương nửa
vành...
Long lanh đáy nước in trời,
Thành xây khói biếc, non
phơi bóng vàng...”.
Trong vô luận một cảnh nào,
trực giác của Nguyễn Du biết nhận ngay lấy những chỗ quan trọng và tiêu biểu nhất,
mà ngòi bút lại khéo đem những chữ duy nhất, những chữ thực là thanh khí mà vẽ
nó ra, cho nên dẫu cảnh tả sơ sài thế nào cũng đều là tuyệt diệu. Ta hãy xem những
cảnh nhỏ sau này:
Cảnh nhà cháy từ lâu:
“Tro than một đống, nắng mưa
bốn mùa”
Cảnh lều tranh bên sông:
“Một gian nước biếc mây vàng
chia đôi”
Cảnh nhà hoang:
“Đến nơi đóng cửa cài then,
Rêu trùm kẽ ngạch, cỏ lan
mái nhà”.
Cảnh nhà nghèo:
“Nhà tranh vách đất tả tơi,
Lau trèo rèm nát, trúc cài
phên thưa.
Một sân đất cỏ dầm mưa”.
Tưởng chừng như không có
cách gì bớt đi hoặc thêm lên được.
Những người và cảnh Nguyễn
Du mô tả vẫn không phải là những người thực ta thường đụng chạm, những cảnh thực
ta từng trải qua, nhưng lại không phải là người lạ cảnh lạ gì.
Ta đã biết rằng Nguyễn Du
không tả thực . Nhưng tại sao Nguyễn Du lại không tả thực? Nguyễn Du sinh trưởng
ở cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, ở giữa hoàn cảnh quý tộc, ở giữa xã hội phong
kiến, về vật chất lẫn tinh thần, đã sống trong một thế giới ước lệ , thì nghệ
thuật của ông thế nào thoát khỏi phạm vi ước lệ được?
Về phong cảnh thì Nguyễn Du
cũng vẫn chưa thoát phạm vi hoàn toàn ước lệ, như cảnh “đôi phen gió tựa hoa kề,
nửa rèm tuyết ngậm, bốn bề trăng thâu”, thì chẳng khác gì cảnh “nơi chồng cặp
sách, nơi bầy cuốn thơ, nơi cầm, nơi rượu, nơi cờ” trong Hoa tiên truyện,
nhưng phần nhiều cảnh thì đã vượt hẳn trạng thái ước lệ mà thành những cảnh hoặc
vui tươi tế nhị, hoặc sầu thảm âm thầm, hoặc hãi hùng rùng rợn do tác giả sáng
tạo mà ta có thể cảm động ta như thực. Ta lại nên chú ý một điều nữa là những
người điển hình và những cảnh điển hình ấy, tác giả thường chỉ dùng những chữ lập
thành và những tỷ dụ sẵn có, nghĩa là những trần từ sáo ngữ; để khêu gợi trong
trí ta những hình ảnh đã quen, nhưng thiên tài của tác giả là khiến những hình ảnh
quen ấy không làm cho ta nhàm và đã khéo phối hợp nó lại mà tổ chức thành những
bức chân dung và những bức phong cảnh sinh động. Dưới ngòi bút thần tình của
Nguyễn Du, những trần từ sáo ngữ trở lại thành những lời văn hàm súc dồi dào, rất
thích hợp cho sự mô tả tổng hợp của ông.
Trong Độc Tiểu Thanh kí Nguyễn
Du đã day dứt:
Không biết ba trăm năm sau nữa
Thiên hạ ai người khóc Tố
Như!
Không đợi 300 năm mà khi
Truyện Kiều đi vào lòng người đọc từ bậc nho sinh đến các mẹ các chị ru con ầu
ơ dù khồng biết chữ vẫn thuộc làu Kiều đã tiếc thương và tôn kính biết bao người
sáng tạo Truyện Kiều tài hoa nhưng bạc phận. Đọc Truyện Kiều hay Văn chiêu hồn,
Văn tế thập loại chúngTheo sinh ta thêm yêu thêm quí cái tâm, cái tài, cái tình của
Nguyễn Du với con người và cuộc đời.
TIẾN QUANG







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét