Mùa xuân qua cái nhình của Trần Nhân Tông
Mùa xuân chỉ là một nhưng mỗi người cảm nhận về
mùa xuân laïi khác nhau, có người dùng vô số ngôn từ mỹ miều để bày tỏ tình yêu
đối với mùa xuân, người thì ngây ngất hưởng những lạc thú của tuổi xuân, lại có
người thì bàng quang đối với xuân, lo nghĩ cho cái già đang đến, đây là cái
nhìn của những người chưa thấy thật tướng của xuân; với những Thiền sư, cái
nhìn của của họ từ những tồn tại hiện hữu này đến một bản chất bên trong nó; đi
từ những cái biến đổi đến những cái thường hằng. Với Trần Nhân Tông, Ngài dùng
ngôn từ để chuyên chở thực tại đang là-mùa xuân, và trong thơ Ngài nói lên cái
nhìn tiêu biểu của một Thiền sư.
Không ồn ào, ngôn từ giản dị, Trần Nhân Tông
dùng cách nói rất bình dị để nói lên mùa xuân. Khi mở cánh cửa, ngạc nhiên, ồ
xuân đến rồi:
Ngủ dậy mở cánh cửa,
Xuân đã về chẳng hay,
Bươm bướm một đôi trắng
Phơi phới nhắm hoa bay
(Buổi
Sáng Mùa Xuân- Lê Mạnh Thát dịch)
Xuân đến đối với Ngài laø những gì đang hiện hữu
như chính nó. Có người không thấy bản thể nên chỉ cứ theo đuổi cái bên ngoài,
còn Ngài không những thấy nó hiện hữu mà còn biết thưởng thức cái bản thể thật
kia của mùa xuân. Ðây là cái nhìn đã trưởng thành. Trước kia, Ngài đã chưa
tường lẽ sắc không nên chỉ khi xuân đến mới rộn tơ lòng nhưng giờ đây đã thấy
được bản thể của mùa xuân, Ngài ngồi đây ngắm mùa xuân đang trôi chảy:
Tuổi trẻ chưa tường lẽ
sắc không,
Xuân sang, hoa nở, rộn
tơ lòng.
Chúa xuân nay đã thành
quen mặt,
Nệm cỏ ngồi yên ngắm
rụng hồng
(Xuân Muộn - Ngô Tất Tố
dịch)
Từ trong cái thay đổi của đông sang thu, hoa nở hoa
tàn, Trần Nhân Tông đã nhận chân đươïc bản thể của nó. Chính vì thế mà cứ mỗi
độ xuân sang, Người bình thản ngắm sự thay đổi của đất trời, của tạo hóa. Chắc
chắn trong ý nghĩ của Người vẫn tự hỏi nó có thật thay đổi không.
Cuộc sống của thiền sư Trần Nhân Tông nói lên
cái nhìn của Ngài đối với cuộc đời. Cái nhìn đó không bao giờ tách rời dù đó là
xuân hay hạ. Khi xuân qua, nhìn những cánh hoa xuân tàn tạ, rơi rụng, Ngài cũng
đã biết để cho thị phi, danh lợi rơi rụng theo:
... Phải trái rụng theo
hoa buổi sớm,
Lợi danh lạnh với trận
mưa đêm.
Hoa tàn, mưa tạnh, non
im lắng,
Xuân cỗi còn dư một
tiếng chim.
(Mạn Hứng Ở Sơn Phòng - Ðỗ
Văn Hỷ dịch)
Phải chăng, Trần Nhân Tông nói đến xuân như muốn
nhắc nhở cho đệ tử biết xuân đang là và đừng để một ngày qua rồi phải luyến
tiếc ?! Ðiều này được thấy rõ qua bài thơ “Thân Như”:
Thân như hơi thở vào ra
mũi
Thế tựa gió luồn mây núi
xa
Ðỗ quyên rền rĩ trăng
ngày sáng
Ðừng để tầm thường xuân
loáng qua.
(Lê Mạnh Thát dịch)
Con người đau khổ là vì họ không biết cuộc sống
của họ rất bấp bênh và ngắn ngủi. Nếu một ngày kia thở vào mà không thở ra thì
còn gì gọi con người và cuộc sống nữa. Cho nên Trần Nhân Tông muốn nhắn nhủ cho
con người, hãy hạnh phúc với những gì đang là, hãy từ cõi tạm này hướng đến một
cuộc sống trường cửu. Muốn vậy ngay từ đây phải biết sống, phải biết chọn cách
sống làm sao để hạnh phúc cho bây giờ và mai sau. Một trong những cách đó là trói
chặt tâm ma, vọng động:
Số đời mờ mịt cả
Tình trong đôi mắt trong
Cung ma nếu quản chặt
Cõi Phật xuân không
cùng.
Tác giả làm bài thơ này để nói lên những cảm
nghiệm, cảm xúc của Ngài khi đi thăm bệnh công chúa Thiên Thụy về. Bản dịch
chưa lột tả được ý của tác giả, vì rằng nói “tình” trong đôi mắt trong” thì
rất tối nghĩa. Thật ra ở đây có thể hiểu, tùy theo từng người, từng đối tượng
nhìn mà cái nhìn thay đổi theo. Vì nguyên bản laø “tình thời lưỡng hải ngân”, theo ý của các nhà chú thích tại ‘Tổng Tập Thơ Văn Lý-
Trần’ thì “hải ngân” là đôi mắt, vì theo niêm vận nên tác
giả đã đảo chữ “ngân hải” thành ra “hải ngân”. Như vậy, tùy theo cái nhìn của chủ
thể mà đối tượng có thể được thấy khác đi. Ví như công chúa Thiên Thụy đang ốm
nặng thì rất khó cảm nhận được xuân đến trong từng ngày, trong từng sát na, còn
đối với Trần Nhân Tông, Ngài đã kinh qua những vinh hoa phú quý, đã ngộ ra được
bản thể của vạn pháp, giờ đây cho dù đứng trước nỗi đau thương nhưng Ngài vẫn
thấy được một mùa xuân bất diệt. Cái nhìn này Người đã truyền dạy cho chúng ta,
chúng ta phải biết trân trọng từng giây phút hiện tại, phải biết “quản” nội
tâm, đừng để tâm ma, ngoại cảnh chi phối thì không đợi gì ngày xuân mới có
xuân.
Có người nhận
xét cái nhìn về xuân của Trần Nhân Tông thật sự đạt độ chín, khi một mình Người
đứng trên núi Bảo Ðài, thấy thế sự, dòng đời đang trôi chảy, thì bỗng nhiên ánh
trăng Chân tâm xuất hiện :
Cảnh vắng đài thêm cổ,
Xuân sang, màu chửa già.
Gần xa mây tiếp núi,
Nắng rợp bóng xen hoa.
Muôn việc người cuốn
nước
Trăm năm ta nhủ ta.
Tựa lan, nâng sáo ngọc,
Tâm sự ánh trăng già. (Lên Núi Bảo Ðài - Giản Chi
dịch)
Hai câu Ðềù, thực tả cảnh cô tịch của ngôi tháp
đứng chơ vơ trên ngọn núi, nơi xưa nay ít có ai tới được, tác giả nhìn thấy mùa
xuân đang chuyển mình, tuy chưa rực rỡ nhưng cũng gợi cho người ta cảm thức được veû đẹp
huyền bí của thiên nhiên. Hai câu Thực ghi hiện trạng cảnh núi đồi trùng điệp.
Ðứng đây, tác giả lý hội trọn vẹn lẽ Sắc Không mầu nhiệm-“Cuộc đời là như thế
đó”-để rồi dẫn đến hai câu Luận:
Vạn sự thủy lưu thủy,
Bách niên tâm ngự tâm.
Cảnh vật là vô thường biến đổi, tất cả hiện
tượng chỉ như dòng nước chảy không bao giờ dừng nghỉ- họa chăng còn rớt lại
trên vết thời gian một chút dư âm trăm năm lòng nhủ lòng.
Hai câu Kết, tác giả đứng cô độc dựa bức lan
can, nâng sáo ngọc lên thổi, cho quên đi mọi ưu tư. Nhưng kìa! Trăng đã mọc từ
lúc nào? Rồi bỗng nhiên vầng trăng sáng ùa vào lòng ngực, khiến khắp người cảm
thấy thanh thoát như hòa mình (tiểu ngã) vào vũ trụ bao la rộng lớn (đại ngã).
Vầng trăng là biểu thị CHÂN TÂM tồn tại trên sự sinh thành, hủy diệt của vạn
pháp. Phải nói đây là bài thơ lẫm liệt, có sức cuốn hút lạ lùng nên mỗi chữ,
mỗi câu là mỗi viên ngọc sáng lung linh.
Có một điều lạ là nhiều người biết đời là khổ,
là vô thường song không ít người trong họ tự giác mà đi ra được, không biết đem
những cái gì mình biết để cuộc sống một ngày càng thánh thiện hơn. Họ chỉ quan
tâm tới ngày qua và mai sau sẽ như thế nào chứ không muốn biết ngày nay, hiện
tại ra sao. Ðiều này không phải là chỉ bây giờ mà từ thời Trần Nhân Tông cũng
đã có. Trong buổi thuyết pháp của Người tại chùa Sùng Nghiêm, có người hỏi :
Thế nào là gia phong của Phật hiện tại ?
Ngài đáp:
Bạch Thủy gia phong mê
én sớm
Ðào thắm vườn tiên say
gió xuân.
Lại hỏi: Thế nào là gia phong của Phật vị lai?
Ngài đáp:
Bãi biển chờ triều, trời
đợi nguyệt
Thôn chài nghe sáo,
khách mong nhà
Nếu chúng ta vượt ra khỏi cái nhìn ước lượng,
cái nhìn không thật -tương lai- thấy ngay được thực tại -mùa xuân- thì chắc
chắn rằng trong từng ngày của cuộc đời không lúc nào là không tràn ngập cánh
én, không chỗ nào là không tràn ngập gió xuân.
“Lỗi lầm nghiêm trọng nhất trong đời là sự xâm
hại. Vấn đề quan trọng nhất trong đời là chánh kiến và tà kiến. Ðức hạnh quan
trọng nhất trong đời là lòng từ bi. Lòng can đảm quan trọng nhất trong đời là
dám nhận lỗi”
Master Chin Kung



.jpg)
.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét