Câu nói: “Quân xử thần tử...; Phụ xử tử vong...” là của Nho gia hay Pháp gia?
Khi
tôi còn ngồi trên ghế nhà trường, mỗi khi phê phán Nho giáo và chế độ phong kiến,
thầy cô thường đem câu nói: “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung; Phụ xử tử
vong, tử bất vong bất hiếu” (Vua khiến bề tôi chết mà bề tôi không chết là
bất trung; Cha khiến con chết mà con không chết là bất hiếu) và cho rằng Nho
giáo dạy con người những điều hết sức là phi nhân bản. (Đại đa số các bài viết
trên sách báo cũng như trên google hiện nay đều ghi “Quân xử…Phụ xử…”,
đúng nguyên văn chữ Hán ghi là “Quân xử…Phụ xử…”. Khiến, sai khiến người gọi là
Xử. Quân xử thần tử: Vua khiến bề tôi chết; Phụ xử tử vong: Cha khiến con chết).
Trong các vở tuồng, chèo…
hiện nay khi phê phán, đả kích Nho giáo hay phong kiến, các nhà biên soạn thường
đem câu: “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung…” để mà chế giễu.
Giai thoại văn chương Việt
Nam có kể về tài ứng đối của Đinh Nhật Thận. Đinh Nhật Thận sinh năm Ất Hợi
(1815) tại làng Thanh Lạo, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, đỗ cử nhân khoa
Đinh Dậu (1837), đỗ tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1838) được bổ làm Tri phủ. Ông thường
giao du với Cao Bá Quát và Nguyễn Hàm Ninh. Sau Cao Bá Quát dấy binh chống lại
triều đình, Đinh Nhật Thận bị tình nghi, bắt giải về kinh giam, sau được thả ra
(Quốc triều hương khoa lục chép về Đinh Nhật Thận: “Vì là bạn cũ của tên
giặc Cao bá Quát nên bị bắt giam, sau được thả” (Cao Xuân Dục, Quốc triều
hương khoa lục, Nxb TPHCM, trang 191). Vì mến tài ông, vua Tự Đức lưu ông lại ở
kinh đô để dạy con em trong hoàng tộc và cũng là một kế để dễ bề kiềm tỏa ông.
Ông mất năm Bính Dần (1866). Quốc triều đăng khoa lục chép về ông: “Ông đọc
sách qua một lượt là nhớ. Làm văn, cất bút là xong, không cần phải nháp, í tứ mới
lạ, phần nhiều không theo khuôn sáo lối văn thời bấy giờ. văn thơ ông làm xong
là bỏ qua, không lưu lại bài nào” (Cao Xuân Dục, Quốc triều đăng khoa lục,
Nxb Văn học, trang 69).
Tục truyền khi ở kinh đô, một
hôm Đinh Nhật Thận cùng các quan đại đại thần theo thuyền ngự đi ngoạn cảnh
trên sông Hương. Nhân bàn luận về Nho giáo, ông nhắc đến câu: “Quân xử thần tử,
thần bất tử bất trung; Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu” và cho đó là
một câu chí lí. Nghe xong vua Tự Đức phán: Vậy trẫm truyền cho khanh nhảy
xuống sông này chết đi!
Nghe vua phán vậy, các quan
trên thuyền đều lo sợ thay cho ông, vì không nhảy xuống sông thì không được, mà
nhảy xuống thì bị chết một cách oan uổng. Ấy vậy mà ông vẫn bình tĩnh lạy nhà
vua xong đâu vào đấy rồi lao mình xuống dòng sông. Mọi người tưởng đây là nơi
an nghỉ ngàn thu của ông. Nhưng chỉ trong giây lát ,ông ngoi đầu lên khỏi mặt
nước và tay bám vào thuyền ngự. Vua Tự Đức hỏi: Sao khanh không ở dưới đó
luôn mà còn trở lên đây? Ông đáp: Thần định ở luôn dưới đó, nhưng khi
vừa xuống đến đáy sông thì thần gặp ông Khuất Nguyên, ông ấy đuổi thần lên và mắng
thần như sau: “Ngã phùng ám chúa hàm oan nhẫn/ Nhữ ngộ minh quân nịch tử
hà?” (Ta gặp ám chúa phải chịu oan đã đành/ Còn ngươi gặp được minh quân sao lại
trầm mình?), hạ thần nghe ông ấy mắng quá đúng cho nên phải ngoi lên tâu để bệ
hạ rõ!
Vua Tự Đức cả cười, sai thị
vệ kéo ông lên thuyền ngự, lấy quần áo cho ông thay rồi đích thân rót một chén
rượu để khen thưởng cho cái tài ứng đối mẫn tiệp, mặc dù biết đó là một câu
chuyện hoàn toàn bịa đặt.
Giai thoại nghe qua thì rất
hay, nhưng giai thoại này chỉ dành cho những người không am tường Nho giáo kể
cho nhau nghe lúc “trà dư tửu hậu” mà thôi!. Vì một người như Đinh Nhật Thận đã
nhuần nhuyễn Tứ thư, Ngũ kinh, sách Bách gia chư tử…mà lại tán dương một câu hết
sức là phi nhân bản như thế!
Nho giáo chỉ trung với ông
vua có đủ tư cách, đáng cho mình thờ; nếu không thì có thể bỏ mà thờ ông vua
khác, như Khổng tử đã bỏ vua nước Lỗ. Nghĩa Quân - Thần trong Nho giáo có định
phận rõ ràng: Định công vấn: “Quân sử thần, thần sự quân, như chi hà?” Khổng tử
đối viết: “Quân sử thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung” (Vua Định công nước Lỗ hỏi
Khổng tử rằng: “Vua khiến bề tôi, bề tôi thờ vua, phải thế nào?” Khổng tử đáp rằng:
“Vua lấy lễ mà đãi bề tôi, bề tôi lấy trung mà thờ vua” - Luận ngữ:
Bát dật,19).Vua phải có đức độ, phải biết tu thân: “Tự thiên tử dĩ chí ư
thứ nhơn, nhứt thị giai dĩ tu thân vi bổn” (Trên từ bực thiên tử lần xuống
cho đến hạng dân thường đều phải lấy sự tu thân làm gốc - Đại học). Bởi thế Mạnh
tử bảo Tề Tuyên vương rằng: “Quân chi thị thần như thủ túc, tắc thần thi quân
như phúc tâm. Quân chi thị thần như khuyển mã, tắc thần thị quân như quốc nhân.
Quân chi thần thị như thổ giới, tắc thần thị quân như khấu thù”(Vua xem bề tôi
như tay chân, thì bề tôi xem vua như bụng như lòng. Vua xem bề tôi như chó ngựa,
thì bề tôi xem vua như người lạ trong nước. Vua xem bề tôi như đất như cỏ thì bề
tôi xem vua như giặc như thù- Mạnh tử: Ly lâu ,Chương cú hạ,3).
Tề Tuyên vương hỏi Mạnh tử:
“Thần thí kỳ quân khả hồ?” Viết: “ Tặc nhân giả, vị chi tặc; tặc
nghĩa, vị chi tàn; tàn tặc chi nhơn, vị chi nhứt phu. Văn tru nhứt phu Trụ hỹ,
vị văn thí quân dã” (“Bề tôi mà giết vua, có nên chăng?”. Mạnh tử đáp rằng:
“ Kẻ làm hại đức nhân gọi là tặc; kẻ làm hại đức nghĩa gọi là tàn. Kẻ tàn,
kẻ tặc chẳng qua là một người thường mà thôi. Tôi từng nghe vua Võ vương chỉ giết
một người thường là Trụ mà thôi, chớ tôi chưa hề nghe giết vua”- Mạnh tử,
Lương Huệ vương, Chương cú hạ, 8). Tuân tử cũng nói : “ Tru bạo quốc chi
quân, nhược tru độc phu” (Giết một ông vua tàn bạo của một nước cũng như
giết một kẻ độc phu - Vua cũng chẳng phải thần thánh gì!)
Mạnh tử khẳng định: “Dân
vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (dân là quí, thứ đến là xã tắc,
vua là khinh - Mạnh tử, Tận tâm, Chương cú hạ, 14)
Mối quan hệ Phụ - Tử trên
tinh thần “ Phụ từ, tử hiếu”. Bổn phận làm con là phải hiếu với cha mẹ. Khổng
tử giải thích: “Sanh, sự chi dĩ lễ; tử, táng chi dĩ lễ; tế chi dĩ lễ” (Hễ
làm con, khi cha mẹ còn sống, phải phụng sự cho có lễ, khi cha mẹ chết, phải
chôn cất cho có lễ, rồi những khi cúng giỗ, cũng phải giữ đủ lễ - Luận ngữ: Vi chính II, 5)
Lấy LỄ mà thờ cha mẹ không
phải cha mẹ làm điều gì trái đạo cũng theo. Khổng tử nói: “Sự phụ mẫu cơ
gián,kiến chí bất tòng, hựu kính bất vi, lao nhi bất oán” (làm con thờ cha mẹ,
như thấy cha mẹ lầm lỗi thì nên can gián một cách dịu ngọt. Như thấy í tứ cha mẹ
chẳng thuận theo lời khuyên của mình, thì mình vẫn một lòng cung kính và chẳng
trái nghịch. Như cha mẹ giận mà khiến mình làm công việc cực khổ, chớ có đem dạ
oán hờn- Luận ngữ: Lí nhân IV, 18)
Khổng tử khuyên người ta thờ
cha mẹ một cách sáng suốt. Không phải bất kỳ điều gì cha mẹ sai khiến đều vâng
theo, gọi là có hiếu. Người có hiếu nên biết phân biệt những điều lành của cha
mẹ mà tuân theo, những điều dữ của cha mẹ mà can gián.
Vua Ai công nước Lỗ hỏi Khổng
tử rằng: “ Con theo mệnh cha có phải là hiếu không? Tôi theo mệnh vua có
phải là trung không?”. Hỏi ba lần mà Khổng tử không trả lời. Lúc Khổng tử ra
ngoài, Khổng tử đem chuyện ấy nói với Tử Cống và hỏi í Tử Cống thế nào. Tử Cống
thưa: “ Con theo mệnh cha là hiếu, tôi theo mệnh vua là trung, còn ngờ gì
nữa?” – Khổng tử nói: “Ngươi không biết gì. Đời xưa đấng minh quân làm vua
nước vạn thặng có tránh thần bảy người thì vua không làm điều lỗi; làm vua nước
thiên thặng có tránh thần năm người, thì xã tắc không nguy; làm chủ một nhà, có
tránh thần ba người thì lộc vị không suy. Cha có tránh tử, thì không hãm vào điều
vô lễ; kẻ sĩ có tránh hữu, thì không làm điều bất nghĩa. Cho nên con theo mệnh
cha há đã là hiếu, tôi theo mệnh vua há đã là trung. Chỉ có biết xét cái đáng
theo mà theo, mới gọi là hiếu, là trung vậy” (Khổng tử gia ngữ: Tam thứ,
IX). Xem thế làm điều hiếu, không phải cha làm thế nào cũng phải theo. Có khi
cha làm điều gì trái lẽ, thì phải hết sức can ngăn, để cho cha khỏi bị những điều
lầm lỗi. Nhưng chỉ cốt phải theo lễ mà can ngăn. Hiếu có hợp lễ mới thật là hiếu.(
xem Trần Trọng Kim, Nho giáo ,quyển thượng – in lần thứ tư, Nxb Tân Việt- Sài
Gòn, trang 142-143).

Vì nghe qua trong câu: “Quân
sử thần tử, thần bất tử bất trung; Phụ sử tử vong tử bất vong bất hiếu” xuất
hiện những từ “Quân”; “Thần”; “Phụ”; “Tử” có âm hưởng của Nho giáo nên quy
nạp câu nói ấy là của Nho gia. Câu nói ấy chính là của Thái tử Phù Tô nói khi
nhận lệnh vua cha là Tần Thủy Hoàng bắt phải chết do Lý Tư ngụy tạo di chiếu.
Tướng Mông Điềm đề nghị đem quân về kinh đô xem có thực là di chiếu của Tần Thủy
Hoàng nhưng Thái tử Phù Tô cản lại bằng câu nói: “Quân sử thần tử ,thần bất tử
bất trung; Phụ sử tử vong,tử bất vong bất hiếu”
Như chúng ta biết nhà Tần
theo chế độ Pháp gia chứ không phải Nho gia. Quản tử chủ trương: “Tôn
quân ti thần, dĩ thế thắng dã” (Tôn vua lên, hạ quan xuống, lấy cái uy thế mà
thắng lướt), thế là đặt vua trên luật, mở đường cho hơn 2000 năm chuyên chế.
Chính Pháp gia mới đưa ra quan niệm: “Trung thần bất sự nhị quân” (tôi
trung không thờ hai vua). Hơn nữa họ trọng cái “thế”(quyền thế) của vua khiến
vua hóa ra độc tài, bắt bề tôi chết thì chẳng kể phải trái, bề tôi cũng phải chết,
không chết thì không trung(Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung). Từ Hán Võ đế
trở đi, quan niệm đó được các vua chấp nhận, và hình như không có nhà Nho nào
phản đối, mà nền quân chủ của Trung Hoa hóa ra chuyên chế (Nguyễn Hiến Lê, Sử
Trung Quốc tập 1. Nxb Văn hóa, trang 191)
Nhà nghiên cứu Kim Định nhắc
nhở chúng ta: “…cái bổn gốc của Nho giáo là “chí trung” mà trung là không
cậy dựa = “ trung lập nhi bất ỷ cường tai kiểu”. Đó là cốt yếu những bài học dạy
học của ông (Khổng tử- TG). Đừng đem những câu Hán học như “trung thần bất sự
nhị quân” hay “quân sử thần tử, thần bất tử bất trung” mà gán vào miệng ông.
Làm thế là thiếu óc khoa học. Cha ông ta tuy về phê bình chưa đạt cao lắm nhưng
không để cho những câu tầm gửi kiểu trên làm thui chột chí bất khuất” (Kim Định, Căn bản trong triết lí văn hóa Việt Nam. https://www.catholic.org.tw/Xem chương VI: Từ Văn tổ tới Văn miếu; mục 6e: Vạn thế sư biểu).
Một vấn đề mà được “Chúng
khẩu đồng từ” (đông người cùng nói một lời) chưa hẳn là sự thật. Sự thật không
hẳn thuộc về số đông cho dù trong số đông có cả Ban Tuyên giáo Trung ương!.
Nguyễn Văn Nghệ
Theo http://www.tongphuochiep.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét