Đi qua bến đời người
Tin con bé Ngân chết nước được
truyền đi khắp làng với biết bao lời xì xầm. Ai nghe xong cũng chắc lưỡi sợ sệt.
Những người trẻ thì cảnh báo nhau phải coi chừng con cháu mình, đừng như ba mẹ
con Ngân, lơ là quá nên mới ra nông nỗi. Còn những người già hơn, biết chuyện
xưa, thì rỉ tai nhau rằng con Ngân chết là do Tư Hè - ông nội nó. Mà con nhỏ chết
đuối mắc gì tới ông nội nó? Họ nói, đó là trả báo!
Chiều
hôm đó cúp điện, kéo theo cả cúp nước, trời lại nắng chan chát. Cả nhà con bé
Ngân kéo nhau xuống mương tắm. Trong lúc ba mẹ còn đang chuẩn bị thì con nhỏ
ham vui đã chạy tọt ra bến trước, phóng cái đùng xuống mương. Tới khi hai vợ chồng
xuống bến thì con gái mình đã biến mất từ lúc nào.
Họ hoảng hồn la thất thanh cầu
cứu. Cả xóm náo động. Một đám thanh niên lực lưỡng hơn chục người lặn xuống
mương, lật tung cả dòng nước để tìm kiếm. Nhưng con mương hiền hòa ngày nào dường
như đã nuốt chửng đứa nhỏ mất rồi. Gần nửa tiếng sau, người ta ẵm con Ngân lên,
nó đã tắt thở, mặt tím xanh.
Đêm đó, nơi chiếc bàn cũ kỹ
đặt ở một góc nhà, ngọn đèn tù mù vàng vọt soi rõ khuôn mặt nhăn nhúm đầy vẻ bất
an của ông già tóc bạc. Ông Tư Hè đã một phen chết đứng vì cái chết của cháu
mình, chưa kịp hết bàng hoàng lại càng sợ hãi hơn khi nghe những lời xì xầm bàn
tán từ xóm làng về cái gọi là “quả báo” của ông. Nỗi sợ chạy dọc sống lưng ông
Tư Hè rờn rợn dĩ nhiên không chỉ đơn thuần vì mất cháu nội.
Những lời đồn thổi đâu phải
là vô căn cứ. Dẫu là không muốn nghe, không muốn nhắc, nhưng chúng cứ xua ông
Tư Hè về thời trẻ với nhiều dâu bể của mình. Quá khứ đối với không đã không còn
gì xa lạ, mỗi ngày ông đều hoài niệm về nó, suy gẫm về nó. Những ký ức không đầu
không đuôi vẫn thường xuyên đến làm bạn với ông, an ủi tuổi già của ông. Nhưng
hôm nay nó lại giáng thật mạnh vào tim ông, làm ông đau điếng, làm ông bắt đầu
có cảm giác sợ. Cũng con mương đó, cái bến nước đó, cũng những cái chết nước của
bao người, cũng mảnh đất xưa với những người xưa cũ…
Cái bến nước mà con Ngân chết
nằm trên mương Ông Cả, gần khúc giữa của làng. Làng nầy có địa hình cũng thật kỳ
lạ. Một giồng đất cao như sống lưng chạy dài cỡ ba cây số, từ đầu làng đến giữa
làng. Dọc theo hai bên giồng là hai con rạch tự nhiên chạy song song nhau, một
gọi là rạch Cát, một còn lại gọi là rạch Chanh. Người xưa không ngừng tranh cãi
về phong thủy của làng. Có người nói đây là thế đất tốt, có rồng ẩn. Có kẻ cãi
lại không chịu, cho là địa hình xấu, đoản vận.
Chưa biết ai đúng ai sai thì
đến hồi khoảng sáu bẩy chục năm trước, ông Hương Cả của làng nầy cho đào một
con mương nằm ngang, cắt hai con rạch có sẵn. Người ta gọi đó là mương Ông Cả.
Dân làng không rõ ông Hương Cả đào con mương nầy để làm gì, chỉ nghĩ là để dẫn
nước vào ruộng. Vậy là mọi người lại tiếp tục bàn về phong thủy của con mương.
Chưa biết điềm lành gỡ ra
sau thì đã có người chết nước. Từ đó về sau, biết bao người tiếp tục chết dưới
con mương nầy. Khi những bàn luận về phong thủy dần dần đi theo những người cao
tuổi xuống suối vàng, lớp trẻ lớn lên không còn mấy ai quan tâm thì người ta lại
chuyển sang bàn đến một chuyện khác: mương Ông Cả bắt đầu trở nên nổi tiếng vì
có nhiều người chết nước, nên cũng la liệt… ma!
Có ma cỏ gì không? Mấy con
ma đó nó ra làm sao? Không ai biết. Ai cũng kể thao thao là gặp ma thế nầy, thế
kia, tại chỗ nọ… Mỗi câu chuyện được thêu dệt đủ thứ màu sắc rùng rợn, kỳ quái.
Vậy mà khi gặng hỏi lại: “Chính ông, bà gặp hả?”, thì họ ú ớ: “À… không… nghe
người ta kể lại”.
Người ta kể lại rằng gặp một
cô gái ngồi ở bến nước giữa đêm khuya, tóc dài tới thắt lưng, không thấy mặt.
Khi họ đến gần bến nước, cô gái đó quay lại, mặt trắng xanh, máu chảy lòng
thòng hai bên mép. Cũng có người lại kể trong một đêm mưa họ đậu xuồng ở mương
Ông Cả, có một cô gái không biết từ đâu bước vô xuồng xin đụt mưa. Cô gái trò
chuyện bằng những câu nói thê thảm, rùng rợn, rồi bỏ đi. Sau khi cô gái đi mất,
chủ xuồng nghe tiếng cười ma quái đâu đó gần mình. Có người thì nói trong khi họ
bơi xuồng qua mương Ông Cả, gặp một cô gái ngoắc vào xin cho quá giang. Khi đến
gần thì thấy cô gái đó đứng trong nước chứ không phải trên bờ, vậy mà không
chìm, hai bàn chân lơ lửng trên mặt nước…
Và còn nhiều câu chuyện khác
nữa, càng lúc chúng càng được tô vẽ. Cứ mỗi lần câu chuyện được kể lại, người
ta lại đắp lên nó thêm một lớp áo, dần dần trở nên dày cộm. Mọi người bắt đầu sợ
mương Ông Cả, ít có ghe xuồng nào dám qua lại con mương vào ban đêm.
Chỉ có ông Sáu đờn cò phủ nhận
mọi chuyện. Ông sống cạnh mương Ông Cả, đi xuồng dưới mương còn nhiều hơn đi xe
trên đường. Tụi con nít hỏi, ông trả lời gọn hơ: “Úi, cái mương quỷ xứ đó mà có
con khỉ khô gì!”. Mà thiệt, đúng là ông không sợ. Thậm chí cả ban đêm, nếu có
việc cần thiết, xuồng ông sẵn sàng bơi qua mương ào ào như đi chơi.
Tụi nhỏ nói ông Sáu đờn cò
mình đồng da sắt nên không sợ ma, có đứa còn nói ổng có phù phép. Dần dần con
nít trong xóm rất ngưỡng mộ ông. Người lớn thì nói ông Sáu đờn cò bị ma ám, bị
ghiền ma, bị ba trợn, nên ổng đâu có sợ nữa. Cũng có lý, vì nhiều đêm người ta
nghe tiếng đờn cò của ông văng vẳng bên bến nước. Con mương đã ám ảnh nhiều người,
giờ lại thêm tiếng đờn cò não nề, ai cũng thấy ớn lạnh xương sống, đố dám léo
hánh đến. Con nít và người lớn có cách giải thích riêng, nhưng dường như chỉ có
cách giải thích của những người già thì nghe hợp lý hơn cả. Người già trong
làng nói ông Sáu đờn cò mắc nợ mương Ông Cả.
Món nợ đó chắc là từ lâu lắm,
xưa lắm, khi chưa có con mương nầy. Ông Sáu đờn cò nổi tiếng với ngón nghề đờn
cò điêu luyện, tiếng nào cất lên cũng khứa vào lòng người một cơn buồn não nề.
Hồi còn trẻ ông Sáu đờn cò làm quản gia cho nhà ông Hương Cả. Ông Hương Cả giàu
nhứt xứ, đất đai rộng thênh thang. Phần đất mặt tiền ông xây dinh thự, phía sau
là đồng ruộng bạt ngàn, từ ranh đất bên nầy đi mỏi chân chưa đến ranh bên kia.
Dinh thự của ông hoành tráng, nhiều căn san sát nhau và căn nào cũng đồ sộ.
Riêng căn nhà chánh ba gian là nhà thờ dòng họ, nền xây gạch, cột gỗ vuông, có
cổ lầu, mái lợp ngói âm dương, mặt tiền trang hoàn sặc sỡ, không thua gì ngôi
đình thần của làng.
Trước đất ông Hương Cả là
sông lớn, chếch góc phía bên kia sông cũng là một dinh thự nguy nga không kém -
dinh ông Hương Quản làng bên. Đó là một khu nhà có tường rào song sắt, căn nhà
chánh nền đúc, tường xây sơn màu xanh đọt chuối, nóc bánh ít lợp ngói đại, mặt
tiền có bốn cửa lớn. Mà ông Hương Quản đó lại cực kỳ ghét ông Hương Cả, cũng giống
như hai làng trước nay không ưa gì nhau. Dinh thự của hai ông cạnh tranh với
nhau thậm chí đến cả từng lớp ngói.
Dân làng luôn trầm trồ và
thèm thuồng trước sự giàu có của hai ông Hương chức. Kia là cái cổ lầu cao nhìn
muốn trật ót, nọ là khu đất rộng thênh thang mà đất của cả một xóm dân nghèo gộp
lại cũng chưa bằng. Mấy miếng gạch hoa cẩn ở chánh diện căn nhà sao mà bóng
loáng quá, sặc sỡ quá. Người dân thường không dám tự ý vào trong nhà, nhưng từ
xa nhìn vô cũng đã thấy mấy cái tủ cẩn ốc xà cừ đen tuyền, mấy bức hoành phi,
liễn đối sáng rực. Mà dầu có thèm chải nước miếng, cả đời họ cũng không thể có
được một góc của dinh thự, dù là một góc nhỏ xíu.
Nhiều người dòm thấy ứa con
mắt, buộc miệng nói rằng hai ông Hương chức giàu có lại ông biết làm việc phước
thiện giúp đỡ người nghèo, chỉ lo cạnh tranh, trước sau gì cũng lụng bại. Không
biết có phải do họ không thể có được như hai ông nên đâm ra ghen ghét hay
không? Ờ thì chóng mắt lên mà coi!
Hai ông Hương chức chưa lụng
bại mà thù ghét nhau càng tăng lên. Không biết ông Hương Quản đi đâu nghe lời
ai, tự dưng lại cho đào một con mương nằm cạnh vườn hoa bên trái khu dinh thự của
mình. Con mương trổ ra sông cái, đối diện phần đất của ông Hương Cả bên kia
sông.
Có người giỏi phong thủy,
mách với ông Hương Cả rằng ông Hương Quản bên ấy cố tình đào con mương đâm thẳng
qua đất ông Hương Cả để trù ếm gia đình ông tán gia bại sản. Rồi họ mách cho
ông cách phục thù là đào một con mương giống như vậy để “ăn miếng trả miếng”. Vậy
là mương Ông Cả ra đời. Con mương nằm ở phía dưới dinh thự của ông Hương Cả, cắt
ngang hai con rạch tự nhiên của làng, trổ ra sông cái, chiếu thẳng qua ngôi nhà
thờ chánh trong dinh thự ông Hương Quản phía bên kia.
Không chỉ vậy thôi, sự hiềm
khích càng được đẩy lên cao hơn khi người ta kháo nhau rằng cô Út Lụa con ông
Hương Cả và cậu Tư Hè con ông Hương Quản làng bên đang có tình ý với nhau. Tin
động trời, không chỉ chấn động hai dòng họ mà còn cả hai làng. Chuyện đó có thật
hay chỉ là lời đồn? Công tử và tiểu thơ của hai nhà giàu có, quá môn đăng hộ đối
đi chứ, nhưng mặc kệ, nhứt quyết không thể cho hai người đến với nhau được.
Ông Hương Cả nói: “Mầy lấy
thằng đó trước sau gì tài sản nhà mình cũng bị nó lấy hết”. Cách nghĩ của ông
Hương Quản cũng không khác: “Hết con gái rồi hả, mầy đâm đầu vô con nhỏ đó để
nó dụ dỗ rồi chiếm hết gia sản của mình”. Cha mẹ không cho, dòng họ không cho,
cả làng cũng nháo lên không ai tán thành, vì đơn giản làng bên nầy không ưa
làng bên kia. Chuyện nhỏ thành lớn, đổ bể ra cả làng.
Lời hăm dọa của cha làm cậu
Tư Hè nao núng, một bên là người cậu yêu, một bên là khối gia sản kết sù của
cha, cậu thấy bàn cân lệch quá nhiều. Cậu Tư Hè chọn gia sản. Cậu hẹn cô Út Lụa
ra gặp mặt lần cuối cùng để nói rằng tôi không yêu cô, cô quên tôi đi, tôi với
cô lấy nhau sẽ… Cô Út Lụa không thèm nghe nữa, bởi nghe mà không biết mình đang
tỉnh hay mơ. Cô nhìn cậu trân trối: người tôi yêu là con người như vầy đây sau?
Huống hồ, cô còn tin tưởng cậu Tư Hè đến mức đã…
Khi cô Út Lụa còn đang đứng
khóc lóc bên cạnh cậu Tư Hè thì ông Sáu đờn cò chạy đến để bắt cô về theo lịnh
của ông Hương Cả. Vừa thấy Sáu đờn cò, cô Út Lụa đã hiểu chuyện gì sắp xảy ra.
Sáu đờn cò chạy đến nắm lấy hai tay cô kéo ra xa Tư Hè, hai chân cô đạp mạnh về
phía trước để chống lại, miệng gào thét dữ dội.
Do Sáu đờn cò không dám xiết
quá chặt tiểu thơ của mình, nên cô Út Lụa hất mạnh tay ra, chạy nhào đến nép
bên cậu Tư Hè. Mặc dù chuyện của cô và cậu chưa giải quyết xong, nhưng cô nghĩ
trong trong tình thế nầy có lẽ ít ra cậu cũng có thể là chỗ chở che mình. Nhưng
không! Cô không ngờ cậu nhích ra cách mình một khoảng. Cô nhìn cậu lăm lăm,
nghĩ rằng lúc nầy trông người ngợm kẻ đang đứng trước mình sao mà đê hèn
quá.
Sáu đờn cò lại chạy đến và bắt
cô kéo về. Lần nầy thì cô không kháng cự nữa, hiền như con mèo vừa mới thức giấc,
lặng lẽ lê thân mình theo Sáu đờn cò. Trước khi đi còn quét một tia nhìn bén
ngót về phía cậu Tư Hè, bén đến độ có thể cắt mấy sợi tơ vô hình nào đó mà hai
người từng cố công ngồi buộc lại. Đứt hết, chỉ trong một cái nhìn.
Qua khỏi mương Ông Cả một đỗi,
gần tới nhà mình, cô Út Lụa vùng chạy thoát khỏi Sáu đờn cò, băng băng quay lại
phía bến nước và phóng xuống. Sáu đờn cò không ngờ chuyện lại xảy ra bất ngờ
như vậy. Ông hoảng quá, không kịp hô hoán lên, một mình nhảy xuống mương tìm kiếm.
Sáu đờn cò gần như xé toạc cả con mương. Vô ích. Tới khi ông Hương Cả hay tin,
sai đám người làm chạy ra mương thì xác cô Út đã được vớt lên, không còn cứu kịp
nữa.
Đến lúc nầy người ta mới biết
là trong bụng cô Út Lụa đã có con của cậu Tư Hè. Một canh bạc và hai mạng người.
Canh bạc nầy ông Hương Cả đã để thua ông Hương Quản một vố quá lớn, quá nặng nề.
Thời bấy giờ, chưa chồng đã có con bị xem như nỗi nhục nhã của gia tộc. Huống hồ
gì cô lại là tiểu thơ đài cát, con của người danh giá nhứt làng. Ông Hương Cả tức
tối lắm nhưng không dám lên tiếng vì sợ mất mặt với làng, sợ ảnh hưởng đến địa
vị. Ông đành ngậm đắng nuốt cay ngó lão Hương Quản hằng ngày đi qua đi lại làng
bên kia sông mà không thể làm gì được. Còn thằng con trời đánh của lão thì sợ bị
trả thù nên đã nhanh chóng khăn gói lên Sài Gòn chạy trốn.
Sáu đờn cò cũng uất lắm, ước
gì có thể đập đầu thằng Tư Hè để trả thù cho cô Út rồi đi tù cũng cam. Sáu đờn
cò cảm thấy mình có lỗi, mặc dù lỗi lầm lớn nhứt không phải thuộc về ông. Nếu
không có sự ngăn cản của hai dòng họ thì chắc mọi chuyện đã không xảy ra.
Nhưng, ông vẫn giận mình hơn. Nếu hôm đó Sáu đờn cò cãi lịnh ông Hương Cả,
không bắt cô Út về thì chắc cô sẽ không chết. Mà, đời thì có ai biết trước điều
gì sẽ xảy ra đâu!
Sáu đờn cò còn mơ hồ dường
như mình cũng đã từng có đôi lần cảm mến cô Út. Mà cũng dường như là có thật.
Cô xinh đẹp và hiền dịu vậy mà. Song, phận tôi tớ thấp hèn, ông đâu dám mơ tưởng
đến viễn cảnh cao sang, chỉ đành giấu trong lòng, hằng ngày nhìn thấy cô đi
ngang, giúp đỡ cô vài chuyện vặt. Sáu nghĩ là chuyện mình thích cô Út sẽ sống để
bụng, chết đem theo, chứ có nói ra thì cũng được gì đâu. Sáu chỉ hy vọng cô được
bình an và hạnh phúc, vậy mà đâu ngờ… Cái chết nầy cũng có một phần tội lỗi của
Sáu đờn cò trong đó chăng?.
Hơn nửa thế kỷ trôi qua, những
cuộc chiến tranh, những lần loạn lạc, những phận người, những biến cố lớn nhỏ
trong làng… làm câu chuyện về hai dòng tộc dần dần bị lãng quên. Chỉ còn vài cụ
già nhớ mang máng về chuyện cũ, thỉnh thoảng nhắc cho nhau nghe. Đất đai rộng lớn
của ông Hương Cả giờ đây đã không còn, chia nhỏ ra nhiều người ở. Khu dinh thự
tráng lệ ngày nay chỉ còn sót lại vài căn nhà nhỏ của đám con cháu và một cái
Miếu Bà cạnh mé sông. Chỗ ngôi nhà thờ dòng họ ngày xưa đã bị san bằng, trở
thành trường học.
Khu dinh thự của ông Hương
Quản làng bên còn tệ hại hơn. Bây giờ nó chỉ là một khoảng đất tan hoang, cây cối
mọc um tùm. Cơ ngơi ngày xưa của ông không còn sót lại thứ gì ngoài một bức tường
rêu loang lổ và một bờ rào gần mé đường. Tư dinh đồ sộ của hai vị Hương chức
giàu có tất cả cũng còn là những dấu vết mờ nhòe, đầy bụi bặm của thời gian. Nó
còn sót lại như một góc thiệt buồn của nhân tình, để người ta còn có thể nhắc
nhớ nhau, có thể hoài niệm. Rằng đã có một thời, như thế.
Mọi người lại rỉ tai nhau rằng
hai dòng tộc bị tán gia bại sản cũng là do hai con mương lời nguyền mà nên.
Mương của ông Hương Quản chỉ đâm qua phần đất của ông Hương Cả, nên mặc dù dinh
thự không còn nhưng con cháu ông Hương Cả vẫn có nhà cửa. Còn con mương của ông
Hương Cả thì chiếu thẳng qua ngôi nhà thờ chánh của ông Hương Quản, nên cơ nghiệp
ông Hương Quản tiêu tan tất cả. Vả lại, ông dòng họ ông Hương Quản còn nợ nhà
ông Hương Cả hai mạng người. Chuyện thực thực hư hư, ai mà biết được!
Sau cái chết của cô Út Lụa
không lâu, thời cuộc thay đổi, ông Sáu đờn thoát kiếp công bộc. Nhưng ông vẫn
còn gắn bó với ngôi nhà đó như một người mang nặng nợ. Mãi cho đến khi ông
Hương Cả qua đời, ngôi nhà thay đổi chủ, ông Sáu mới ra đi. Chiến tranh qua đi,
ông Sáu đờn cò cất nhà mép dưới mương Ông Cả, cạnh nơi con mương trổ ra sông
cái, cũng là cái bến nước nơi cô Út Lụa gieo mình hồi ấy.
Ông Sáu đờn nhiều hơn ngày
xưa, ngón đờn cũng não nùng hơn ngày xưa. Nhiều đêm người ta lại nghe tiếng đờn
cò ai oán phát ra từ phía mương Ông Cả. Có ai hỏi, ông nói là mình nợ mương nầy,
muốn ở đây giữ con mương. Thì con mương vẫn nằm nguyên đó, có chạy đi đâu được
mà giữ? Hay là giữ cho những vong hồn thơ thẩn trên mương một chốn, để nương
mình.
Ông Tư Hè cũng trở về quê
sau khi chiến tranh, dắt díu theo cả một gia đình mà ông đã có ở Sài Gòn. Đất
đai ruộng vườn xưa đã không còn, ông sang làng bên kia sông để cất nhà, đó là
ngôi làng xưa kia ông từng nặng nợ với một gia đình. Nhà ông Tư Hè cũng ở gần
mương Ông Cả, nhưng là ở mép trên, nằm vào khúc giữa con mương. Từ ngày sang cất
nhà cạnh con mương, ông bắt đầu ăn chay niệm Phật, tu nhân tích đức, làm việc
phước thiện. Ông muốn sống những ngày cuối đời ở nơi đây để chờ đợi, để làm điều
gì đó, hy vọng bù đắp được phần nào tội lỗi.
Đã lâu lắm rồi không ai nhắc
lại chuyện công tử Tư Hè và tiểu thơ Út Lụa ngày xưa, kể cả Sáu đờn cò. Thì còn
có được mấy ai nhớ, nếu không phải là những ông bà già bảy tám mươi tuổi. Ông
Tư Hè không bao giờ nhắc lại chuyện đau lòng đã xa lắc lơ đó. Nhưng hôm nay câu
chuyện vốn tưởng nằm im trong lòng nước đó bỗng dưng được người ta khơi lại sau
cái chết của con bé Ngân, thì làm sao ông không khỏi suy tư?
Ngày đó ông bỏ cô Út Lụa để
mong trở thành người thừa hưởng gia tài của cha. Nhưng cuối cùng gia tài cũng
chẳng còn gì mà ông lại phải mang trên mình món nợ quá nặng nề. Món nợ đó, dài
cả đời người. Thiên hạ nói rằng cái chết của con bé Ngân là quả báo cho ông,
thì cũng không phải họ nói càng. Nhưng ông Tư Hè thì không nghĩ vậy. Không phải
là ông không tin quả báo, cũng không phải ông phủi bỏ lầm lỗi của mình năm xưa,
hay là cho rằng những việc phước thiện của mình có thể xóa bỏ tội lỗi.
Tất cả những điều trong quá
khứ mãi thuộc về quá khứ. Ông chưa bao giờ thôi hứng chịu quả báo cho việc làm
của mình. Quả báo không phải không có, chỉ là thiên hạ không thấy, họ đâu phải
là ông. Họ làm sao biết được những gì hằng ngày ông nếm trải, nó thuộc về tâm hồn.
Còn con bé Ngân… Ông lại thở dài, chỉ là con nhỏ vắn số, thiên thần nhỏ của ông
sẽ đến một thế giới khác tươi đẹp hơn. Ai lại nỡ giáng tội của một ông già già
lên đầu đứa bé gái chỉ mới mười tuổi đó chứ?
Cả ông và Sáu đờn cò, hai
con người, hai số phận, một từng là công tử, một từng là công bộc. Nay họ trở về
đây, một người sống mép trên, một người sống mép dưới con mương, để cùng chung
một sở nguyện. Họ cảm thấy mình có tội với người xấu số kia, mắc nợ với con
mương và bến nước nầy. Nửa cuộc đời đã vùn vụt trôi, cuốn theo bao thăng trầm.
Khi tóc đã lệch hơn về phía trắng, những buồn giận oán thù còn gì đâu cho một
kiếp nhơn sanh. Cuối cùng tất cả không khác những làn sóng mỏng lững lờ trên bến
nước - ngày ấy và đến cả bây giờ. Bến nước của một đời người! Những con người sống
tiếp tục làm nhân chứng cho một thời, giữ gìn những góc ký ức của ngày xa lắc,
nhắc nhớ nhau rằng mình vẫn còn cái gì đó để chờ đợi, để vương vấn, để đáp đền…
VĨNH THÔNG
(Tác phẩm Giải I Cuộc thi văn chương Thủ Khoa Nghĩa 2015)
Theo http://vinhthongts.blogspot.com/







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét