Cảm nghĩ về ca khúc Trịnh Công Sơn
Từ lâu lắm Trịnh Công Sơn được giới ái mộ trao tặng danh hiệu là kẻ du
ca về tình yêu, quê hương và thân phận.
Anh lớn lên bằng tuổi
chiến tranh đứt rồi lại nối, chiến tranh dai dẳng và cùng khắp đến nỗi đứng ở
tọa độ nào trên đất nước cũng thấy và sống chiến tranh, từ đó người chiến sĩ
dấn thân tự đề ra cách thế sống và hành động phù hợp với sở nguyện mà vẫn đạt
hiệu quả mong muốn. Thế đứng trước nay ở miền Nam của anh, tối thiểu, không hại
cho uy tín và sự nghiệp của anh. Lịch sử đất nước lật hẳn sang một chương khác,
trước sau anh vẫn an nhiên (“Ðôi khi một người dường như chờ đợi thật ra đang
ngồi thảnh thơi.”, Tự tình khúc hay ít nhất anh giữ an nhiên cho nghệ thuật của
mình. Anh đi vào nhạc, anh bước xuống đường, y như người ta hít thở. Và nói như
thế, không có nghĩa anh phó mặc đời, mà có nghĩa là anh gieo trồng vào những
luống đã tự đào sẵn, không phải ngoái lui, không cần xóa đi làm lại. Nay nhạc
và lời của anh, nếu có chuyển đổi chẳng qua vì tâm hồn đến tuổi đổi mùa. Cần
nói thêm rằng cái an nhiên là món quà lưu chủ của đời, sau khi khổ chủ đã hoàn
trả cho người – người tình, người bạn, người đời – những hơn thua, ngộ nhận,
thị phi.
Nhạc của Trịnh Công
Sơn không tuyền là nhạc, bài hát không chỉ là bài hát. Mỗi bài là một truyện
ngắn, mỗi ca khúc là một chương khúc của truyện dài không có kết thúc, vẫn mở
ra như một vết thương, một vết thương người, một vết thương thời đại, vết
thương thiết thân, phải cưu mang và lưu truyền.
Nhưng không có đoạn
truyện nào kết thúc có hậu như trong truyện cổ tích, mà ngược lại đó là những
loại Tình Sầu, Tình Xa, Tình Vơi. Không còn là cái đẹp của đối xứng, vuông
tròn, thủy chung. Bởi cùng nhau tắm gội trong biển bấp bênh của thời đại, con
người xót xa khám phá ra cái đẹp chông chênh, cái ma lực của chén đắng. Ðời
dành riêng cho kẻ nào đã lên tới đỉnh buồn và xuống tới vực thẳm, một đôi mắt
bên trong để nhìn ra những vẻ đẹp của mặt đất, của nghịch lý khiến cho y nhận
chân cái tất yếu của cô đơn, cái hào quang của thất bại, cái quyến rũ của triền
dốc. Con người sinh ra là đã thua cuộc, vấn đề còn lại của con người, vấn đề
hoàn toàn nguyên vẹn, là khoác lên sự thua cuộc ấy một gương mặt người do từng
cá nhân đắp dập lấy. Theo chiều hướng này, ta sẽ mục kích hàng hiên phô bày
toàn chân dung lập thể: hoặc thiếu mắt thừa môi, hoặc mặt lật vào trong mà dạ
để ra ngoài.
Nguồn cảm hứng khơi
mạch từ đó, rất dễ rơi vào chỗ sướt mướt, ê chề, rất dễ đưa tới trạng thái
buông thả, quy hàng… là những gì nhiều người từng quy nạp cho ca khúc Trịnh
Công Sơn. Ðành rằng vài tình cảm ấy không hoàn toàn vắng bóng, và đậm nhạt khác
nhau từng nơi, từng lúc, nhưng nghiễm nhiên được biến chế, vượt qua, đủ để ta
nhận ra đó không còn là những tình cảm hoàn cảnh mà là những tình cảm bản chất
cần được khẳng định và hóa kiếp thành đức tin, động lực phản kháng những giới
hạn của con người. Không những thế mà thôi, ta phải nhặt nhạnh những tàn phai,
tóc trắng, tan tành theo giọt mưa, hạt bụi, lăn lóc như hòn cuội, không ngạc
nhiên trước những tráo trở, lật lọng, chấp nhận gươm giáo, nọc độc, gọt tỉa màu
mun của đêm, vốc bùn sóng sánh, phải nâng niu những vết thương cùng nét xanh
xao, hao gầy, cám ơn những mối tình tơi tả, phải thương yêu nỗi chết… dung nạp
tất cả vào lòng và bện thành tấm áo giáp, thứ áo giáp mặc trong.
Trịnh Công Sơn là
người khát sống. Anh muốn sống nhiều nơi cùng một lúc, ngồi nơi này, nhớ nơi
kia, muốn sống gấp đôi sợ không đủ thì giờ, lắm lúc không phân biệt ngày với
đêm. Anh thích những chuyến tàu xuyên suốt, những chuyến xe đỗ rồi lại đi, anh
thích rút ngắn không gian giữa rừng với biển, giữa đó anh tha hồ sống với
ghềnh, bãi, lũng sâu và núi, tháp, cánh đồng, anh muốn rút ngắn thời gian giữa
lạ với quen và xua tan những cánh dơi thù nghịch.
Hình ảnh phố phô mình
phân rãi trong ca khúc anh: phố xưa (Khói trời mênh mông),phố hẹn (Khói trời
mênh mông), phố xôn xao (Yêu dấu tan theo), phố rộng (Tưởng rằng đã quên), phố
thênh thang (Quỳnh hương), phố cao nguyên (Lời thiên thu gọi), phố nọ (Ðêm thấy
ta là thác đổ), phố xa lạ (Bên đời hiu quạnh)… Phố như là nơi triển lãm của sự
sống, một đại hội đời, một nơi tập cư đủ mẫu người, một bãi thí nghiệm bao thế
thái nhân tình làm thỏa lòng con người nào muốn sưu tập con người. Do những
hình ảnh phố xá như thế này, có người bảo: Trịnh Công Sơn thích lui tới những
nơi đô hội. Ðiều này đúng một phần, bởi lẽ: anh thích những nơi có bóng dáng
con người, anh thèm tiếng người hơn là cõi vắng lặng, nhưng điều cần nói thêm,
là: anh ước mơ hình ảnh xã hội được đô hội hóa chứ không phải là sa mạc hóa, và
được đô hội hóa thường trực, sao cho ngày ngày hàng cây thắplễ lạc trên tầng lá
xanh, lễ lạc trên từng nẻo đường, khắp mọi nhà và trong mỗi con tim.
Trí óc và cảm xúc của
Trịnh Công Sơn phù hợp với tổng hợp hơn là phân tích, nghiêng về kết hợp hơn là
phân chia. Hình ảnh chiếc cầu đối với anh là một lời mời gọi cất bước sang bên
kia, đồng thời chuyển biến bên kia thành bên này và ngược lại. Băng qua cầu là
để sống với bên kia và nhớ bên này. Trong nỗi sống đã tượng hình nỗi nhớ. Người
đi trên cầu không những nhìn ôm cả hai phía mà có thể nhìn cút bắt với những
khuỷu sông thấp thoáng ẩn hiện, cấu tạo dần dần trong tâm khảm cái dự cảm lìa
xa, mất mát.
Tình yêu. Quê hương.
Thân phận. Làm sao nói về những vấn đề này bằng lời hát và chuyên chở bằng
nhạc, những ưu tư thường trực của mọi người và được mọi người ít nhiều nói đến
? Trịnh Công Sơn có cách nói riêng, bằng lời và bằng nhạc. Lời tách riêng, đó là
những đoạn thơ hoặc là truyện thơ tâm sự về giọt mưa, giọt nắng, về một vùng
biển đầy ắp sự vắng mặt… Nhạc tách riêng có khi nhún nhảy như loại đồng dao hay
thanh bình ca, có khi lại rất thích hợp với ánh đèn màu và khói thuốc của vũ
trường, cũng có khi dòng nhạc Trịnh Công Sơn gần gũi với thánh ca thanh thoát…
Nhiều nhạc sĩ viết về
tình yêu và quê hương.
Tình yêu, với Trịnh
Công Sơn, là diễm tình. Trước hết là phải đẹp, đẹp trong từng lời bội bạc, bước
chân quay gót, trong dang dở và tan vỡ. Sẽ không có mối tình rách rưới hay nhầy
nhụa, sẽ không có mối tình than khóc lâm ly, sẽ không có luôn cả đau khổ, hoặc
nếu có chăng nữa thì đó là một nỗi đau khổ đã đành, dành sẵn, và cần được siêu
sắc nuôi dưỡng cái giống nòi tình. Cái đẹp ở đây là cái đẹp siêu thực, tức là
ít nhiều nhuốm màu sắc ý chí của kẻ chủ trương và đồng thời nhạt bớt hương vị
của thường tình. Tình yêu lên ngôi. Một đỉnh chiêm ngưỡng đúng hơn là một điểm
hẹn. Ðối tượng tình yêu trở thành ý niệm. Trịnh Công Sơn nguyện làm kẻ hái lộc
chứ không phải hái trái. Lộc nõn và luôn cả lộc xoang ngọn tố trở trời. Tình
yêu được thăng hoa để trở thành điểm ngắm. Nó vượt qua cái riêng tư, vị kỷ. Như
Ðức Giáo hoàng của “ái tình giáo”, người nghệ sĩ lớn tiếng hô hào mọi người
“Hãy yêu nhau đi”. Ðây là lời thần chú mở cửa địa đàng. Ðây mới thật là tình
yêu cứu rỗi. Yêu trong một tình yêu rộng lớn, chung cùng. Như mỗi giai điệu
trong đại hợp tấu. Yêu nghĩa là tỏa sáng. Phần nào giống như thủ pháp nhuộm mây
nẩy trăng theo cách gọi của Thánh Thán (Vẽ mây đẹp để làm nổi trăng), Trịnh
Công Sơn ca ngợi tình yêu bằng cách vẽ ra vùng ảnh hưởng của tình yêu qua giọt
nắng thủy tinh, cây cầu, hạt mưa, hàng cây chụm đầu vào nhau… Khi vẽ ra áo xưa
lồng lộng chẳng hạn, tác giả không vẽ vạt áo, mà vẽ kỷ niệm, vẽ không khí và
hơi hám của áo.
Ðó là những khối tình
nở ra trong khói lửa, như những cánh hoa xương rồng giữa khô cằn gai góc. Bóng
đen chiến tranh càng làm cho tình yêu thêm phần gấp gãy.
Quê hương nổi bật ở hai nét lớn: nghèo và chiến tranh. Cái nghèo của
quê hương thì có lắm truyện để nói, để tả, để mủi lòng. Cái nghèo còn là hậu
quả của chiến tranh. Dứt chiến tranh là cứu giải cái nghèo. Và chiến tranh diễn
ra không phải ở chiến trường, không phải do những người cầm súng, nó diễn ra ở
bàn tròn, ở trong đầu óc những con người mua bán chiến tranh. Những bài hát
trong hai tập Ca khúc da vàng và Kinh Việt Nam, cũng theo phép nhuộm mây nẩy
trăng như có nói ở trên, nhưng ở đây được trưng dụng những màu sắc hoàn toàn
điên đảo, không nhằm miêu tả hay tường thuật chiến tranh, mà vẽ ra những phóng
xạ của chiến tranh. Do đó, đến khi chiến tranh kết liễu, nhạc anh vẫn tồn tại,
vì nó vẫn còn công lực cảnh giác. Hình ảnh người nô lệ da vàng, vốn làm phật ý
những người quốc gia chủ nghĩa, là một lối cưỡng từ đoạt ý rất kiến hiệu trong
việc thiết lập đối thoại ban đầu. Ðây là một bước lùi giữa hai bước tiến, gần
như phương sách tự chuốt nhục của con người muốn đối phó với tình hình đất nước
nguy kịch đến độ chiến tranh không đủ để tiêu diệt chiến tranh, vũ lực không đủ
để tiêu diệt vũ lực, mà trớ trêu thay phải có nghệ thuật hỗ trợ và nhất thiết
là nghệ thuật trong nghệ thuật. Lập trường như thế này dễ hứng lấy búa rìu dư
luận. Ngay giữa chiến tranh, anh đã vẽ ra thời buổi sau chiến tranh mà con
người có quyền hưởng thụ và có nghĩa vụ tô bồi. Những dự phóng này nảy nở trên
nền tảng làm bằng những ám ảnh mất mát, cái bấp bênh của những gì hiện có, nỗi
bất lực không yêu được bội phần.
Giữa một nền trời như
vậy, thân phận của con người là một vấn nạn. Ta nên nói ngay: đây là một chủ đề
tư tưởng, nếu không muốn nói là triết lý. Chủ đề được đề cập, phân tích, lý
giải từ Ðông sang Tây, nhưng là do những nhà tư tưởng, triết gia và những nhà
viết văn xuôi đề xướng.
Giữa cõi vô thường, bị
thường trực kềm kẹp bằng một nỗi khó sống, người nghệ sĩ trong những phút xuất
thần tự đồng hóa với các vật thể vạn thù trong đời sống: có khi ta là mục đồng,
là lá cỏ, cơn gió, có khi là giọt mưa tan giữa trời, là hòn cuội, con sâu.
Nhưng trong khi cỏ suốt đời là cỏ, cuội trọn kiếp là cuội, thì con người mỗi
phút mỗi chực vong thân.
Trịnh Công Sơn chắp
cánh cho tưởng tượng, và tưởng tượng len lỏi vào các hốc hẻm của đời sống,
khiến cho anh sờ mó đến sự vật nào là sự vật ấy dường như bớt thật và trở nên
lung linh bằng một quầng mộng ảo. Cho nên anh đi trước người khác một bước:
ngạc nhiên trước người khác, mừng reo hay tư lự cũng trước người khác. Cái “có”
đang nằm trong tay, anh đã sống với cái “mất” nó rồi. Ðóa hoa nào đi qua lòng
anh cũng trở thành đẹp hơn vẻ đẹp thật và đóa hoa đương dộ lại nhuốm vẻ não
lòng của héo úa.
Sự sống bước giật lùi
mỗi phút giây như hình ảnh cuốn chiếu. Trịnh Công Sơn quả quyết Chỉ có ta trong
một đời và dứt khoát chọn lựa: Sống. Sống hết mình. Không khất hẹn, không chờ
đợi, không ủy quyền. Anh vâng theo cái mệnh lệnh “Hãy tận hưởng ngày hôm nay”
của thi sĩ Horace mà cố cách vặn lùi thời gian, sống chong chóng, thu rút giấc
ngủ, thót người trước cảnh Thành phố ngủ trưa (Ðêm thấy ta là thác đổ), xem
giấc ngủ như là một cái dợm chết: Hôm nay thức dậy, ôi ngẩn ngơ tôi (Xa dấu mặt
trời), tự ru mình bằng cách Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui và rêu rao cuộc đời
đáng sống.
Phải ôm cho hết cuộc
đời nhị nguyên cồm cộm này, bao gồm những cặp phạm trù khó dung nạp nhau nhưng
khó thể phân ly: sống chết (chết từng ngày sống từng ngày, Buồn vui phút giây),
buồn vui (Buồn vui kia là một, Nguyệt ca), hạnh phúc khổ đau (Hãy trao cho nhau
hạnh phúc lẫn thương đau, Hãy yêu nhau đi), tình yêu mật ngọt mật đắng (Lặng lẽ
nơi này)… cái mặt phải trái của sự vật sao mà cận kề nhau đến thế, như đêm
ngày, nhật nguyệt, như sum họp với chia phôi. Khổ cho kẻ nào chủ phân biệt !
Phải quên đi những ám
ảnh của tuổi tác (Chập chờn lau trắng trong tay, Chiếc lá thu phai) và chuẩn bị
tinh thần cho cái phút sau rốt của đời người:
… một trăm năm sau mãi
ngủ yên (Sẽ còn ai)
… mai kia chào cuộc đời (Những con mắt trần gian)
… một hôm buồn lên núi nằm xuống (Tự tình khúc)
… một lần nằm mơ thấy tôi qua đời (Bên đời hiu quạnh).
… mai kia chào cuộc đời (Những con mắt trần gian)
… một hôm buồn lên núi nằm xuống (Tự tình khúc)
… một lần nằm mơ thấy tôi qua đời (Bên đời hiu quạnh).
Trịnh Công Sơn là nhạc
sĩ đầu tiên viết về thân phận con người. Ðể phục vụ mục tiêu ấy anh đã sai sử
lời, nhạc và tư tưởng kết hợp thành một thể thống nhất và đã thành đạt trong
công cuộc thể nghiệm một dòng nhạc vốn không dễ nhập cảnh vào lòng quần chúng
trong buổi đầu. Có thể nói anh đã khẳng định thân phận bằng thơ và bằng nhạc:
đây là sự đóng đinh màu hồng cho con người thời đại.
Cùng một trật, ta còn
chứng kiến một công cuộc thể nghiệm của tiếng Việt trên những chặng đường mới
của ngôn ngữ với những kết hợp từ ngữ tài hoa, những góc độ thu hình lạ lẫm,
những tri giác dày dặn nhiều tầng, đồng thời làm sáng giá những sự vật thông
thường và tầm thường, khả năng tưởng tượng bay bổng.
Cuối những năm 50 và
đầu những năm 60, xuất hiện một số ca khúc với nhan đề lạ tai, như Lời buồn
thánh, Diễm xưa, Tuổi đá buồn, Vết lăn trầm, Biển nhớ, Dấu chân địa đàng… Ðó là
những cửa ngõ vào khu vườn siêu thực đang rộ lên những sắc hoa tươi mới trong
thời kỳ ấy: loài sâu ngủ quên trong tóc chiều… thương cho người rồi lạnh lùng
riêng… tiếng hát ru mình trong giấc ngủ vừa… hôm nay thức dậy không còn thấy
loài người… hãy nghe đời nghiêng… chiều đã đi vào vườn mắt em… ngày sau sỏi đá
cũng cần có nhau…
Người nhạc sĩ này đặc
biệt sâu nặng với những tính từ: đời bồng bềnh, môi rồ dại, bóng lung linh,
tiếng hát lênh đênh, một vòng tiều tụy, bờ cỏ non mộng mị, phố xá thênh thang,
mắt xanh xao, hồn xanh buốt, đêm thần thoại, cành bão bùng… Những hình dung từ
này cùng chung một thể thái, hay còn gọi là đồng vị (isotopie) và trở đi trở
lại hơn một lần qua bài hát. Trong số này, có tần số xuất hiện cao nhất là:
“mong manh” (tình mong manh, gió mong manh, cỏ lá mong manh, sống chết mong
manh, tay gối mong manh, nụ cười mong manh…) như thể là một ám ảnh lớn trong vũ
trụ quan và nhân sinh quan của nhạc sĩ.
Lời trong ca khúc
Trịnh Công Sơn đã tạo ra tên tuổi Trịnh Công Sơn. Lời ở đây, như đã nói, là
truyện thơ, là hình ảnh siêu thực, nét chấm phá, những hoa gấm cho sóng nhạc và
có những giây lát cao độ, lời được đặc cách hóa kiếp thành kinh. Kinh là những
lời ước nguyện nhằm chuyển hóa thực tại. Kinh là tinh túy của lời được kinh qua
sản xuất, lặp đi lặp lại để cuối cùng kết tinh dưới hình thức đơn khiết, cô
đọng. Trong ca khúc Trịnh Công Sơn, ta nhận ra người mẹ cầu kinh gởi gắm cho
một Ðấng Vô Hình, Siêu Nhiên nào chăng ? Không, đây là một loại kinh do chính
mình phát nguyện, dóng tiếng và gởi gắm lại cầu nguyện cho con ở chiến trường
có nghĩa là cầu nguyện cho mình có đủ sức mạnh đối phó với tình huống bất trắc,
và sức mạnh ấy phát sinh từ ngọn đèn thắp thì mờ giữa đêm khuya, chẳng hạn;
thiếu nữ cầu nguyện cho mối tình của mình ở bờ sông và lời kinh này sẽ làm bằng
im lặng, gió trời và kỷ niệm.
Trên đây là một số cảm
nghĩ về ca khúc Trịnh Công Sơn, những cảm nghĩ vụn rời, thiếu thừa không rõ,
vừa chắp nối vào những bài viết khác, vừa gợi mở những bài viết về sau chung
quanh đề tài này. Một đề tài tát không cạn.
Bửu Ý
Huế 8.1990
Huế 8.1990
Về Những Ca Khúc Phản Chiến Của Trịnh Công Sơn
Lúc 12 giờ 45, ngày 01 tháng 4 năm 2001, Trịnh Công Sơn đã ra đi. Trái
tim nhân ái và nhạy cảm ấy đã ngừng đập ; bộ óc đầy mỹ cảm và sáng tạo ấy đã
thôi vận động. Anh đã để lại cho bạn bè và những người hâm mộ anh một nỗi tiếc
thương vô hạn. Một sự mất mát lớn, một khoảng trống không gì bù đắp nổi cho nền
âm nhạc hiện đại Việt Nam. Một nhạc sĩ nổi tiếng cùng thời đã nhìn nhận một
cách vô tư rằng Trịnh Công Sơn là người viết tình ca hay nhất thế kỷ của Việt
Nam. Nói về sự ra đi của anh, những người mến mộ còn ở lại cái cõi trần ai này
đã bày tỏ bằng nhiều cách với nhiều ý nghĩa khác nhau.
Nhưng nói bằng cách gì và với ý nghĩa nào thì cũng không thể làm vơi đi
được nỗi đau thương và mất mát ấy. Rõ ràng là có một sự biến mất về hình hài
vật chất mà cha mẹ anh đã tạo nên anh. Quy luật tự nhiên của vũ trụ vô tình vốn
hữu sinh thì hữu diệt, hữu hình thì hữu hoại. Nhưng mà thật ra anh vẫn ở lại, ở
lại mãi mãi với nền âm nhạc, với nền văn minh và văn hóa nước nhà. Cả một đời
lao động sáng tạo cật lực anh đã góp được vào trong sự nghiệp nghệ thuật chung
của cả nước hơn 600 ca khúc. Một sự nghiệp đồ sộ. Và đây chính là cái phương
tiện, cái quyền năng đã giúp anh chống lại định mệnh. Cái định mệnh của đời
người vốn khắc nghiệt và độc ác đã chưa từng bao giờ cho phép ai sống đến tận
cùng niềm vui và nỗi khát vọng sống như chính mình mong muốn.
Đối với cộng đồng xã hội, một khi anh nằm xuống, anh đã thanh thỏa hết
mọi ” trái khoản” một cách sòng phẳng với trần gian. Một đời mình anh đã làm
hết mọi điều mà anh mong muốn, và đã ra đi đúng lúc. Còn tất cả những gì mà anh
đã để lại cuộc đời nó sẽ cứ tồn tại một cách hiển nhiên và minh bạch. Không có
gì đáng trách và cũng không có gì phải hồ nghi cả.
Thiên tài ư ? Anh đâu cần cái hư danh ấy. Anh là anh, chính điều này
mới lớn lao. Vả lại, chính hậu thế vốn rộng lòng và trong sáng hơn đương thời
sẽ quyết định điều này. Nhưng dù gì thì gì, đấy vẫn là hư danh. Cái hư danh
khiến cho những con người đầy tham vọng sẽ vật lộn, tranh giành nhau một cách
đau khổ. Mà thật ra chưa khi nào, dù một lần anh đã thầm ước mơ đến cái tên gọi
đầy sân hận đó.
Nhân cách của anh ? Tôi sẽ trả lời rằng Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ
đầy nhân cách. Còn lớn hay nhỏ ư ? So với ai ? – Người đời vốn hay chấp về hình
tướng, mà hình tướng thì thường làm cho con người mê.
Tôi nói nhân cách của Trịnh Công Sơn nó đầy đủ ở trong thái độ nghệ
thuật của anh. Thái độ nghệ thuật này luôn nhất quán ở trong sáng tạo nghệ
thuật của mình mà chưa hề khi nào vong thân hay thoái hóa biến chất cho đến
phút cuối cùng. Khẳng định về một điều như thế đối với một người đang còn sống
thật khó. Nhưng đối với một người đã nằm xuống ta sẽ không còn phải lo sợ rằng
họ còn có thể tốt hay có thể xấu, còn có thể đúng hay có thể sai, xứng đáng
hoặc không xứng đáng nữa.
Một con đường dẫn nhập vòng quanh như vậy đối với tôi là cần thiết, để
dọn đường vào vấn đề mà tôi đã tự đặt ra cho mình : Trịnh Công Sơn và nhạc phản
chiến của anh. Trong quá trình trình bày vấn đề này, tôi sẽ cố gắng làm toát ra
cái tài năng và nhân cách hiếm có đó nổi bật lên trên cái bối cảnh Việt Nam máu
và nước mắt, khói lửa và nỗi kinh hoàng trong cuộc chiến dai dẳng và khốc liệt
thời bấy giờ. Một cuộc chiến tranh mang tính tất yếu lịch sử của một dân tộc bị
áp bức ; nhưng sự chọn lựa và quyết tâm ấy đã không ít đau thương. Và Trịnh
Công Sơn đã xuất hiện trong bối cảnh đó như lương tâm của một con người mang
trái tim nhân ái nhạy cảm, chỉ biết nói lên những cảm xúc nồng nhiệt của mình
đối với quê hương dân tộc, dù thiếu vắng một thái độ chính trị, nhưng trung
thực. Nghĩa là tự đáy lòng mình thì mình nói.
Tôi sẽ không nói đến những ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn với tư
cách một nhà phê bình văn học về lời nhạc, cũng như không phải trong tư cách
của một nhà nghiên cứu âm nhạc đối với nghệ thuật âm thanh của anh. Mà với tư
cách của một người chứng, sống cùng thời và từng sinh hoạt với anh, tôi sẽ nói
về thái độ dấn thân bằng âm nhạc của Trịnh Công Sơn trong công cuộc vận động
hòa bình cho đất nước đầy tuyệt vọng ; nhưng cũng đầy ý nghĩa và giá trị nhân
bản đó. Nghĩa là nói về một Trịnh Công Sơn nghệ sĩ đích thực, một con dân nước
Việt mang tình yêu chân thực đối với quê hương vào cuộc. Khẳng định anh trong ý
nghĩa này là khẳng định chính sự đóng góp của anh vào trong những giá trị văn
hóa, văn minh của cả nước. Một Việt Nam luôn xây dựng trên nền tảng con người
và hòa bình.
Thế nào là nhạc phản chiến, và phản chiến như thế nào ?
Phản chiến ở đây là bày tỏ thái độ của mình không tán thành chiến
tranh, và sự không tán thành này có nghĩa là một sự đồng cảm, chia sẻ với những
con người đang phải gánh chịu những nỗi mất mát, đau thương trong chiến tranh.
Đồng cảm mà không đứng ở ngoài, đứng ở một bên ; mà đứng ở cái thế chung cùng
một số phận, một định mệnh. Sơn không nhân danh một ” Isme ” nào cả; cũng như
không chủ trương chống lại một ” Isme ” nào cả. Hoặc có chăng là anh nhân danh
cái gọi là ” humanisme “, xu hướng nhân bản. Mà thật ra cũng chỉ là một cách
gọi đấy thôi. Nói cho cùng, đó là tất cả những gì mình cảm xúc, tất cả những gì
vang vọng trong tâm khảm của mình từ một thực tại máu xương như thế của đồng
bào thì mình nói ngay ra. Nói không do dự, nói như một lời khẩn báo. Đỗ Phủ
ngày xưa ở bên Tàu làm thơ bày tỏ sự xót thương đối với hàng vạn con đỏ đang bị
dìm trong máu lửa chiến tranh mà người đời sau cho rằng ông có tinh thần chống
chiến tranh là vậy. Thật ra ông chỉ muốn nói lên niềm xúc động sâu xa của mình
đối với thời thế, mà ở bên sau cái nỗi niềm này không tiềm chứa một ý thức, một
tinh thần cơ hội nào.
Tắt một câu, trong dòng nhạc phản chiến của mình, Trịnh Công Sơn đã
chẳng có một toan tính chính trị nào cả. Mà tất cả là làm theo mệnh lệnh của
con tim mình, một con tim thương đời, thương người, để nói lên tiếng nói của
con tim đó đối với quê hương, dân tộc một cách trung thực và chân thành. Và một
khi anh đã vĩnh viễn nằm xuống yên nghỉ thì câu khẳng định này đã trở nên hùng
hồn hơn.
Ta sẽ thấy mệnh lệnh của trái tim này đi xuyên suốt trong tất cả các
sáng tác thuộc dòng nhạc phản chiến này của anh. Trước hết ta có thể tạm sơ
lược về con đường sáng tác các ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn như sau :
- Ý thức phản chiến trong ca khúc của Trịnh Công Sơn đã manh nha vào
những năm 1965, 1966. Trong giai đoạn này anh đã cho ra đời tập ca khúc Ca khúc
Trịnh Công Sơn (Thần thoại quê hương, tình yêu và thân phận) do An Tiêm xuất
bản 1966. Sau đó phát triển dần trong tập Ca khúc da vàng vào cuối 1966 và đầu
1967, tập Kinh Việt Nam năm 1968, tất cả đều do anh tự ấn hành lấy. Cùng với
những cuộc xuống đường rầm rộ của thanh niên, sinh viên, học sinh ở đô thị miền
nam Việt Nam chống Mỹ và chế độ cũ đòi hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước,
anh đã cho xuất bản tập ca khúc Ta phải thấy mặt trời vào năm 1970 (Tự ấn hành
dưới cái tên Nhà xuất bản Nhân Bản). Năm 1972, khi tình hình chiến sự ở miền
nam Việt Nam ngày càng leo thang đến độ khốc liệt nhất, anh đã cho ra đời tiếp
tập Phụ khúc da vàng (tự ấn hành dưới cái tên Nhà xuất bản Nhân Bản). Đây là
tập cuối cùng của dòng nhạc phản chiến của anh. Tổng kết tất cả gồm 5 tập, với
58 ca khúc, chưa kể những bài rời được sáng tác ngay trong những cuộc xuống
đường cùng thanh niên, sinh viên, học sinh Huế.
So với những tình khúc mà Trịnh Công Sơn đã sáng tác được trong suốt
cuộc đời mình cho đến lúc qua đời, số lượng của những ca khúc phản chiến tương
đối ít. Nhưng chính những ca khúc này đã làm cho danh tiếng của anh sáng lên
một cách chói lọi. Phải nói là độc sáng. Và chính trong cái vầng hào quang làm
nền này, tình khúc của Trịnh Công Sơn tiếp tục sáng giá cho đến hôm nay và mai
sau. Chính những ca khúc phản chiến thời bấy giờ đã chắp cánh cho danh tiếng
của anh bay ra khỏi biên giới Việt Nam để đến với thế giới, đặc biệt là Nhật
Bản. Nơi xứ sở này anh đã từng có những ” Đĩa Vàng “. Và lưu danh trong bộ tự
điển Bách Khoa Pháp Encyclopédie de tous les pays du monde.
Thật vậy, vào những năm 58, 59, 61, 62, những tình khúc như Ướt mi,
Thương một người, Nhìn những mùa thu đi, Biển nhớ v.v… đã bắt đầu nổi tiếng
trong những phòng trà ca nhạc ở miền Nam. Nhưng phải chờ đến những năm 65, 66,
67 khi tiếng hát của Trịnh Công Sơn cất lên trong các giảng đường Đại Học Sài
Gòn và Huế, trước hàng ngàn sinh viên học sinh cuồng nhiệt, với những ca khúc
trong các tập Ca khúc Trịnh Công Sơn và Ca khúc Da vàng, cái tên Trịnh Công Sơn
đã trở thành một hiện tượng. Hiện tượng Trịnh Công Sơn.
Những ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn được chép để chuyền tay,
được in ra băng cassette, hoặc băng từ loại lớn, còn gọi là băng Akai… Nghĩa là
mọi hình thức phổ biến, phương tiện phổ biến đều được tận dụng. Người ta nghe
nhạc phản chiến Trịnh Công Sơn trong quán cà phê, người ta nghe trong những
cuộc sinh hoạt tập thể của thanh niên, thậm chí người ta nghe trong khuê phòng
và nghe ở cả những tiền đồn heo hút…
Dàn trải trên nền một điệu Blue buồn đau và uất nghẹn, với nhịp hát kể
Recitativo, ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn vút lên :
“… Ôi chinh chiến đã mang đi bạn bè
ngựa hồng đã mỏi vó chết trênđồi quê hương
còn có ai không còn người, ôi nhân loại mặt trời
và em tôi này đôi môi xin thương người
ôi nhân loại mặt trời trong tôi…”
(Xin mặt trời ngủ yên – ca khúc Trịnh Công Sơn)
ngựa hồng đã mỏi vó chết trênđồi quê hương
còn có ai không còn người, ôi nhân loại mặt trời
và em tôi này đôi môi xin thương người
ôi nhân loại mặt trời trong tôi…”
(Xin mặt trời ngủ yên – ca khúc Trịnh Công Sơn)
“… Giọt nước mắt thương con, con ngủ mẹ mừng
Giọt nước mắt thương sông ấp ủ rêu rong
Giọt nước mắt thương đất,đất cằn cỗi bao năm
Giọt nước mắt thương dân, dân mình phận long đong”
(Nước mắt cho quê hương – Ca khúc Trịnh Công Sơn)
Giọt nước mắt thương sông ấp ủ rêu rong
Giọt nước mắt thương đất,đất cằn cỗi bao năm
Giọt nước mắt thương dân, dân mình phận long đong”
(Nước mắt cho quê hương – Ca khúc Trịnh Công Sơn)
Rồi,
” Mẹ ngồi ru con đong đưa võng buồn năm qua tuổi mòn. Mẹ nhìn quê hương
nghe con mình buồn giọt lệ ăn năn. Giọt lệ ăn nănđưa con về trần tủi nhục chung
thân…”
(Ca dao mẹ – Ca khúc Trịnh Công Sơn)
Hay từ một hiện thực vừa mới xảy ra trong thành phố :
” Ghế đá công viên dời ra đường phố.
Người già co ro chiều thiu thiu ngủ.
Người già co ro buồn nghe tiếng nổ.
Em bé lõa lồ khóc tuổi thơ đi…”
(Người già em bé – Ca khúc Trịnh Công Sơn)
(Ca dao mẹ – Ca khúc Trịnh Công Sơn)
Hay từ một hiện thực vừa mới xảy ra trong thành phố :
” Ghế đá công viên dời ra đường phố.
Người già co ro chiều thiu thiu ngủ.
Người già co ro buồn nghe tiếng nổ.
Em bé lõa lồ khóc tuổi thơ đi…”
(Người già em bé – Ca khúc Trịnh Công Sơn)
Và với Phúc âm buồn, Tuổi đá buồn v..v… Tiếng hát Trịnh Công Sơn như
một sợi dây vô hình đã nhanh chóng nối kết những tâm trạng riêng, những số phận
riêng của người dân đô thị miền Nam vào trong một tâm trạng chung, một số phận
chung. Tâm trạng và số phận này là gì ? Đó là tâm trạng và số phận của những
con người Việt Nam đã từng bị lừa, họ là nạn nhân của bạo lực vô minh, mà niềm
tin và hy vọng của họ đã trải qua bao lần bể dâu. Đối với họ, mọi khát vọng,
mọi dự phóng đều là hư vô. Họ đang vẫy vùng trong một cảnh sống đầy máu xương,
mất mát tang tóc của một cuộc chiến tranh phi lí mà lối thoát chưa một lần thấy
lóe sáng ở cuối con đường hầm cuộc đời tăm tối đó.
Tôi cho rằng, bằng một khả năng cảm nhận sắc bén bẩm sinh anh đã dễ
dàng biến những cảm nhận riêng của mình thành của chung. Bằng một phương cách
biểu hiện rất khéo do ở chỗ sử dụng những ẩn dụ, những hình tượng rất mới, anh
đã gây được những ấn tượng mạnh cho người nghe, và đặc biệt khi cần phải đối
kháng với một thực tại mà anh không thể nào vãn hồi được, anh dựng một thần
thoại. Nhờ thế mà tiếng nói của anh dễ dàng lọt vào lòng người, và dễ dàng được
đồng cảm.
” Người nằm co như loài thú khi mùađông về
Người nằm yên không kêu than buốt xương da mình
Từng tiếng người nhiều tiếng người gọi hoài giữa đêm. . .
Người còn đó nhưng lời nói rơi về chân đồi
Người ngồi đó nhưng trong tim máu tuôn ra ngoài
Nhuộm đất này nhuộm cho hồng hạt mầm trót vay.”
(Phúc âm buồn – Ca khúc Trịnh Công Sơn)
Người nằm yên không kêu than buốt xương da mình
Từng tiếng người nhiều tiếng người gọi hoài giữa đêm. . .
Người còn đó nhưng lời nói rơi về chân đồi
Người ngồi đó nhưng trong tim máu tuôn ra ngoài
Nhuộm đất này nhuộm cho hồng hạt mầm trót vay.”
(Phúc âm buồn – Ca khúc Trịnh Công Sơn)
Bằng một định hướng, cũng như một phương pháp sáng tác như đã được
trình bày ở trên, Trịnh Công Sơn đi vào giai đoạn “Ca khúc da vàng”. Ở đây,
những cảm nhận về quê hương và thân phận đã trở nên mãnh liệt hơn, quặn thắt
hơn và đôi khi dẫn đến sự phẫn nộ. Từ Ngày dài trên quê hương, Người con gái
Việt Nam, Đại bác ru đêm cho đến Tôi sẽ đi thăm, Tình ca người mất trí, Hãy nói
giùm tôi, Gia tài của mẹ… đã nói lên điều đó.
Ta hãy nghe :
” Người nô lệ da vàng ngủ quên ngủ quên trong căn nhà nhỏ đèn thắp thì
mờ ngủ quên quên đã bao năm ngủ quên không thấy quê hương. Bao giờ đập tan gông
cùm xiềng xích vô hình trói buộc ta bao giờ đập tan gông cùm xiềng xích vô hình
trói buộc tự do…”
(Đi tìm quê hương- Ca khúc Da vàng)
(Đi tìm quê hương- Ca khúc Da vàng)
“Hãy sống giùm tôi hãy nói giùm tôi hãy thở giùm tôi thịt da này dành
cho thù hận cho bạo cường cho tham vọng của một lũ điên…”
(Hãy nói giùm tôi – Ca khúc Da vàng)
(Hãy nói giùm tôi – Ca khúc Da vàng)
Tiếng hát đã tạo nên những hiệu quả trong đời sống xã hội thật sự. Nó
đã làm cho một số không ít thanh niên nhìn ra cái bản chất phi nhân và tàn bạo
của cuộc chiến khiến họ đi đến hành động trốn lính hay đào ngũ. Dưới con mắt
của những người cầm quyền thuộc chế độ cũ Sơn là một kẻ phá hoại tinh thần
chiến đấu của anh em binh sĩ.
Ở miền Nam lúc bấy giờ cường độ của cuộc chiến càng lúc càng gia tăng.
Người Mỹ ra sức củng cố chế độ cũ và đẩy mạnh cuộc chiến. Chiến tranh càng lan
tràn khắp nơi một cách khốc liệt. Năm 1968, với cuộc tổng công kích xuân Mậu
Thân, nhiều thành phố ở trên khắp miền Nam đã trở thành bãi chiến trường. ” Con
người trong tôi ” của Trịnh Công Sơn lại tiếp tục lên tiếng mỗi lúc một khẩn
thiết hơn :
” Xác người nằm trôi sông phơi trên ruộng đồng
Trên nóc nhà thành phố trên những đường quanh co
Xác người nằm bơ vơ dưới mái hiên chùa
Trên giáo đường thành phố trên thềm nhà hoang vu…”
(Bài ca dành cho những xác người – Ca khúc da vàng 2)
Và trong cái cảnh tượng trần gian là một lò sát sinhđó,đã có những người mẹ, những người chịđã lâm vào trong một trạng thái tâm thần bệnh lý :
“…Mẹ vỗ tay reo mừng chiến tranh chị vỗ tay hoan hô hòa bình người vỗ tay cho thêm thù hận người vỗ tay xa dầnăn năn. “
(Hát trên những xác người – Ca khúc da vàng 2)
Trên nóc nhà thành phố trên những đường quanh co
Xác người nằm bơ vơ dưới mái hiên chùa
Trên giáo đường thành phố trên thềm nhà hoang vu…”
(Bài ca dành cho những xác người – Ca khúc da vàng 2)
Và trong cái cảnh tượng trần gian là một lò sát sinhđó,đã có những người mẹ, những người chịđã lâm vào trong một trạng thái tâm thần bệnh lý :
“…Mẹ vỗ tay reo mừng chiến tranh chị vỗ tay hoan hô hòa bình người vỗ tay cho thêm thù hận người vỗ tay xa dầnăn năn. “
(Hát trên những xác người – Ca khúc da vàng 2)
Và sau đó nhiều năm, người dân ở trong các thành phố miền Nam vẫn tiếp
tục chịu đựng những cuộc nổ mìn, những trận pháo kích gây thương vong không ít
cho đám dân lành vô tội. Ngày ngày không dứt tiếng súng tiếng bom. Và hằng đêm
trong ánh hỏa châu vàng vọt ghê rợn, người dân thành phố nín thở, nơm nớp đợi
chờ những điều không may có thể xảy đến cho mình. Mỗi ngày, từ chiến tuyến
những chiếc quan tài phủ cờ được đưa về thành phố, trên đầu những trẻ mồ côi,
những góa phụ, khăn tang cứ bay như phướn.
Từ 1968 cho đến những năm 1969, 1970, 1971, thỉnh thoảng người ta lại
nghe phong thanh đâu đó về một giải pháp hòa bình cho Việt Nam. Rồi tất cả lại
tắt ngấm. Người dân Việt khát khao hòa bình như kẻ đi trong sa mạc khát đến
cháy bỏng cổ họng mà ốc đảo xanh tươi hiện ra trước mặt mình chỉ là những ảo
ảnh. Cuộc chiến khốc liệt cứ tiếp diễn. Phong trào đấu tranh hòa bình Việt Nam
ở các đô thị lại bùng lên mãnh liệt. Đặt biệt là phong trào thanh niên sinh
viên học sinh, bây giờ lập trường đã kiên định : Mỹ cút, ngụy nhào, hòa bình
đến. Tôi, kẻ viết bài này đã quyết định, đã chọn lựa đứng vào phong trào đó.
Nhưng chọn lựa nào cũng có những đau đớn. Tôi phải đứng về phía dân tộc theo
cách của tôi. Để có hòa bình thì dân tộc phải có quyền tự quyết, mà quyền tự
quyết thì phải đấu tranh mà dành lấy chứ chẳng ai cho. Nhưng càng đấu tranh thì
càng chồng chất đau thương. Những kẻ dễ quên thì dễ sống, còn tôi thì không thể
quên điều này. Và phải nói một cách thành thật rằng chính những ca khúc phản
chiến của Trịnh Công Sơn trong những năm đầu tiên đã đánh thức trong tôi tình
tự dân tộc, sau đó thì tôi chọn một thế đứng quyết liệt hơn, âu cũng là do tánh
khí riêng của mình. Nhưng về sau tôi vẫn thường tiếp tục hát những ca khúc phản
chiến của anh. Vì tôi thấy nó mang lại cho đầu óc mình sự ” mát mẻ “, khi mà
mình không thể thường xuyên chịu đựng mãi một sự căng thẳng sắt máu. Và đôi khi
nó cũng khiến cho mình mơ mộng về một nền hòa bình có thể thế này mà không phải
thế kia… Đó là con đường tự do đi đến hòa bình mà không phải đổ máu. Tôi sợ
máu!
Trịnh Công Sơn trong giai đoạn cực đoan này thì sao ? – Vẫn trung thành
với con đường mà tự anh đã vạch ra từ trước, anh tiếp tục đi, đi theo tiếng gọi
của dân tộc mà anh đã nghe thấy theo cách của mình. Có khi anh đi một cách mạnh
dạn hơn, và anh kêu gọi, anh hô hào. Và tinh thần của anh, tùy mỗi hoàn cảnh
khác nhau mà hy vọng, hào hứng hay tuyệt vọng… hoặc ngược lại. Kết quả là hai
tập ca khúc kế tiếp nhau ra đời Kinh Việt Nam (1968), Ta phải thấy mặt trời
(1970) (anh tự ấn hành dưới tên NXB Nhân Bản). Ở giai đoạn này anh cùng xuống
đường với thanh niên, sinh viên, học sinh. Anh hát :
“Nơi đây tôi chờ.
Nơi kia anh chờ.
Trong căn nhà nhỏ mẹ cũng ngồi chờ.
Anh lính ngồi chờ trên đồi hoang vu.
Người tù ngồi chờ bóng tối mịt mù…
… Chờ tin mừng sông chờ núi cũng chờ mong
Chờ trên vừng tráng mẹ thắp lên bình minh
Chờ khô nước mắt chờ đá reo ca
Chờ áo cơm nuôi cho những trẻ con không nhà
Chờ ngày Việt Nam thống nhất cho những tình thường vỡ bờ.
(Chờ nhìn quê hương sáng chói – Kinh Việt Nam)
Nơi kia anh chờ.
Trong căn nhà nhỏ mẹ cũng ngồi chờ.
Anh lính ngồi chờ trên đồi hoang vu.
Người tù ngồi chờ bóng tối mịt mù…
… Chờ tin mừng sông chờ núi cũng chờ mong
Chờ trên vừng tráng mẹ thắp lên bình minh
Chờ khô nước mắt chờ đá reo ca
Chờ áo cơm nuôi cho những trẻ con không nhà
Chờ ngày Việt Nam thống nhất cho những tình thường vỡ bờ.
(Chờ nhìn quê hương sáng chói – Kinh Việt Nam)
Hay :
” Rừng núi dang tay nối lại biển xa
Ta đi vòng tay lớn mãiđể nối sơn hà…”
(Nối vòng tay lớn – Kinh Việt Nam)
Ta đi vòng tay lớn mãiđể nối sơn hà…”
(Nối vòng tay lớn – Kinh Việt Nam)
Hoặc :
” Ta bước bướcđi, bước bước hoài, trên quê hương dấu yêu này.
Còn bao nhiêu người nhìn nhau hôm nay.
Đôi mắt bóng tối trái tim nghi ngại còn ai quanh đây
chưa góp tiếng nói chưa nối lại nắm tay…”
(Chưa mòn giấc mơ – Ta phải thấy mặt trời)
Còn bao nhiêu người nhìn nhau hôm nay.
Đôi mắt bóng tối trái tim nghi ngại còn ai quanh đây
chưa góp tiếng nói chưa nối lại nắm tay…”
(Chưa mòn giấc mơ – Ta phải thấy mặt trời)
Và:
” Huế – Sài Gòn – Hà Nội quê hương ơi sao vẫn còn xa. Huế – Sài Gòn –
Hà Nội bao nhiêu năm sao vẫn thờ ơ. Việt Namơi còn bao lâu những con người ngồi
nhớ thương nhau…”
(Huế – Sài Gòn – Hà Nội – Ta phải thấy mặt trời)
(Huế – Sài Gòn – Hà Nội – Ta phải thấy mặt trời)
Sang đến năm 1972, cục diện chiến tranh trên toàn miền nam vô cùng ác
liệt, một cuộc ” Việt Nam hóa chiến tranh ” dưới mắt người Mỹ. Bằng con đường
phản chiến lấy trái tim nhân ái mà giải quyết mọi điều, trên cơ sở tình tự dân
tộc, Trịnh Công Sơn đến đây thì đã mệt nhoài, và tuyệt vọng. Anh cho ra đời tập
ca khúc Phụ khúc da vàng, mà anh đã cho rằng đáng lẽ không nên viết. Đây là tập
ca khúc cuối cùng của dòng nhạc phản chiến Trịnh Công Sơn.
Anh hátđể kết thúc cho một nỗ lực vô vọng của chính mình :
“…Đường anh em sao đi hoài không tới
Đường văn minh xương cao cùng với núi
Đường lương tâm mênh mông hoài bóng tối
Trái đau thương cho con mới rađ ời…”
(Hãy nhìn lại – Phụ khúc da vàng)
“…Đường anh em sao đi hoài không tới
Đường văn minh xương cao cùng với núi
Đường lương tâm mênh mông hoài bóng tối
Trái đau thương cho con mới rađ ời…”
(Hãy nhìn lại – Phụ khúc da vàng)
********
Sau 1975, có một sự im lặng đè nặng lên những ca khúc phản chiến từng
một thời nổi tiếng lẫy lừng của anh. Và chính anh cũng giữ sự im lặng cho đến
ngày qua đời.
Nếu hôm nay ta nhìn nhận và đánh giá cao những tình khúc của anh, chúng
ta không thể nào bỏ qua được những ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn. Vì
chính những ca khúc này đã tạo cho anh có được một tầm cỡ như ngày nay, cho dù
những tình khúc của anh vốn đã rất tài hoa.
Có người sẽ cho rằng không phải nói đến những ca khúc phản chiến của
Trịnh Công Sơn nữa, vì chữ thời đã qua rồi. Nghĩa là không còn thời tính nữa.
Cũng có người sẽ góp ý thêm rằng các ca khúc phản chiến của anh vốn lừng khừng,
dễ dãi, nếu không muốn nói là ngây thơ, hoặc thiếu logique lịch sử, chính trị
hay là cái gì đó…
Tôi thì cho rằng, đến ngày nay, qua những trò dâu bể của cuộc thế, thời
tính của những ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn vẫn còn. Nó còn trong ý
nghĩa của tiếng nói lương tâm và nhân ái. Qua tác phẩm của mình chưa từng ai
nói dến lương tâm và lòng nhân ái đậm đà như anh. Tiếng nói này còn phải luôn
luôn được tôn trọng trước khi ta bắt tay vào một công việc, mà công việc đó sẽ
có ảnh hưởng trên hàng vạn, hàng triệu sinh linh.
Con đường anh đã chọn và anh đã đi suốt cuộc đời mình là một con đường
không dễ chọn. Nếu từ thời điểm hôm nay để nhìn lại thời bấy giờ thì rõ ràng là
anh đã đi giữa hai làn đạn. Mà bất kỳ khi nào một viên đạn từ một hướng nào đó
có thể kết liễu cuộc đời anh. Anh có lý của riêng anh. Là một nghệ sĩ chân
chính, anh đã chọn cái logique của quả tim, và bằng trực giác nghệ thuật anh đã
dựng nên sự nghiệp của mình. Đừng bắt anh phải làm chính trị, cũng đừng bắt
anh, làm một ” con buôn thời thế “. Anh sẽ không dại gì đầu cơ, cũng như đầu tư
tài năng và tâm huyết của mình cho một cuộc chơi ngắn hạn như vậy, mà kết cục
thua lỗ là một điều tất nhiên. Anh chỉ biết sống và rung cảm bằng một quả tim
trung thực, và dùng tài năng của mình để nói lên điều mà con tim muốn nói. Vì
anh là Trịnh Công Sơn, một nghệ sĩ lớn, một nghệ sĩ của mọi người, và sống giữa
mọi người. Chính sự ngưỡng mộ của mọi người đối với anh lúc anh còn sống, và
đoàn người đông đảo tiễn đưa anh lúc anh qua đời đã nói lên rằng trong sứ mệnh
nghệ thuật đối với dân tộc anh đã thành công.
Trong những ca khúc phản chiến anh còn để lại, phản chiến chẳng qua là
một cách gọi, đừng chấp, vẫn có nhiều ca khúc có thể hát đơn hay đồng ca vào
thời bấy giờ.
Hãy tiếp tục hát lên những khúc hát về lương tâm và lòng nhân ái của
anh. Vì hơn bao giờ hết, hôm nay chúng ta vẫn đang cần đến lương tâm, lòng nhân
ái cho những việc lớn lẫn việc nhỏ. Và chúng ta đừng bao giờ nhìn về bi kịch
con người bằng một cái nhìn đơn giản.
Khánh Ly và Trịnh Công Sơn
Mây Trắng
Năm đ, Dalat yên lặng hiền hòa bỗng xôn xao, hân hoan với nim vui ngỡ ngàng quanhững bài báo từ báo chí ưới Saigon ồn ào đưa lên, những bài tường thuật về những đêm hát ngoài trời trên sân cỏ quán Văn với cả ngàn sinh viên lắng nghe, những bài báo nói về sự xuất hiện của Trịnh Công Sơn và Khánh Ly như một hiện tượng, những bài báo khen tặng một giòng nhạc lạ lùng, với một tiếng hát lạ lùng hơn, tiếng hát như huyền thoại thu hút hồn người, báo chí viết về những bài hát của chàng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn với tiếng hát Khánh Ly, họ ca tụng một “nữ hoàng chân đất”, họ nhắc đi nhắc lại Khánh Ly là một ca sĩ từ Dalat . “Một ca sĩ từ Dalat” chao ơi nghe mà vui sướng quá, bạn bè tôi, gia đình bố mẹ anh chị tôi, hình như tất cả người dân Dalat và riêng tôi bỗng cảm thấy hãnh diện vô cùng, sung sướng như là người nhà mình vừa giật giải huy chương vàng thế vận hội ! Không phải “thấy sang bắt quàng làm họ” nhưng từ lâu đã có gì thân thương, từ lâu cả thành phố đều mong có một ngày cả nước sẽ nghe được giọng hát của cô Khánh Ly mà dân Dalat đã coi là “Khánh Ly của dân Dalat”, từ lâu mọi người đều mong có một ngày tiếng hát của cô sẽ vang lên vượt ra ngoài thành phố nhỏ bé này để bay cao bay xa khắp nơi, chúng tôi không mong gì hơn là Khánh Ly sẽ nổi tiếng .
Và ngày đó đã đến . Tiếng hát Khánh Ly bắt đầu vang lên trên đài phát thanh trực tiếp đài Saigon, chúng tôi xúm nhau lắng nghe, qua những bài ca của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn giọng ca Khánh Ly quả thật mới lạ làm sao, nó buồn lênh đênh, nó rã rời làm ngây ngất cả lòng người . Cả thành phố như mải mê theo tiếng hát này với những bài ca mới lạ này . Bà chị tôi đang học dưới Sàigòn trong thư gửi về nhà chị viết ” …chị ước gì có em ở đây để chị dẫn em đi nghe Khánh Ly hát với anh Trịnh Công Sơn, những bài hát thật hay và buồn lắm, em biết không Khánh Ly hát hay vô cùng, chỉ một mình cô hát mà càng nghe càng mê, nghe mãi không chán và không muốn về, tối nào chị với anh Hưng cũng đi nghe cả, đông lắm em ơi cả ngàn người toàn là sinh viên học sinh, đến nghe Khánh Ly hát, em mà được nghe cô khánh Ly hát Diễm Xưa chắc em mê lắm và chắc em cũng sẽ khóc như chị khi nghe Khánh Ly hát những bài ca về quê hương chiến tranh của anh Sơn, nghe buồn không tả được. Em ơi, nhìn cô Khánh Ly trên sân khấu thật dễ thương và thật là xinh lắm, chị và bạn bè mê cô chết thôi……”
Mây Trắng
Năm đ, Dalat yên lặng hiền hòa bỗng xôn xao, hân hoan với nim vui ngỡ ngàng quanhững bài báo từ báo chí ưới Saigon ồn ào đưa lên, những bài tường thuật về những đêm hát ngoài trời trên sân cỏ quán Văn với cả ngàn sinh viên lắng nghe, những bài báo nói về sự xuất hiện của Trịnh Công Sơn và Khánh Ly như một hiện tượng, những bài báo khen tặng một giòng nhạc lạ lùng, với một tiếng hát lạ lùng hơn, tiếng hát như huyền thoại thu hút hồn người, báo chí viết về những bài hát của chàng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn với tiếng hát Khánh Ly, họ ca tụng một “nữ hoàng chân đất”, họ nhắc đi nhắc lại Khánh Ly là một ca sĩ từ Dalat . “Một ca sĩ từ Dalat” chao ơi nghe mà vui sướng quá, bạn bè tôi, gia đình bố mẹ anh chị tôi, hình như tất cả người dân Dalat và riêng tôi bỗng cảm thấy hãnh diện vô cùng, sung sướng như là người nhà mình vừa giật giải huy chương vàng thế vận hội ! Không phải “thấy sang bắt quàng làm họ” nhưng từ lâu đã có gì thân thương, từ lâu cả thành phố đều mong có một ngày cả nước sẽ nghe được giọng hát của cô Khánh Ly mà dân Dalat đã coi là “Khánh Ly của dân Dalat”, từ lâu mọi người đều mong có một ngày tiếng hát của cô sẽ vang lên vượt ra ngoài thành phố nhỏ bé này để bay cao bay xa khắp nơi, chúng tôi không mong gì hơn là Khánh Ly sẽ nổi tiếng .
Và ngày đó đã đến . Tiếng hát Khánh Ly bắt đầu vang lên trên đài phát thanh trực tiếp đài Saigon, chúng tôi xúm nhau lắng nghe, qua những bài ca của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn giọng ca Khánh Ly quả thật mới lạ làm sao, nó buồn lênh đênh, nó rã rời làm ngây ngất cả lòng người . Cả thành phố như mải mê theo tiếng hát này với những bài ca mới lạ này . Bà chị tôi đang học dưới Sàigòn trong thư gửi về nhà chị viết ” …chị ước gì có em ở đây để chị dẫn em đi nghe Khánh Ly hát với anh Trịnh Công Sơn, những bài hát thật hay và buồn lắm, em biết không Khánh Ly hát hay vô cùng, chỉ một mình cô hát mà càng nghe càng mê, nghe mãi không chán và không muốn về, tối nào chị với anh Hưng cũng đi nghe cả, đông lắm em ơi cả ngàn người toàn là sinh viên học sinh, đến nghe Khánh Ly hát, em mà được nghe cô khánh Ly hát Diễm Xưa chắc em mê lắm và chắc em cũng sẽ khóc như chị khi nghe Khánh Ly hát những bài ca về quê hương chiến tranh của anh Sơn, nghe buồn không tả được. Em ơi, nhìn cô Khánh Ly trên sân khấu thật dễ thương và thật là xinh lắm, chị và bạn bè mê cô chết thôi……”
Rồi sau này những cuộn băng akai “Trịnh Công Sơn Khánh Ly hát cho quê hương
Việt Nam” được phát hành, như bảo vật quý giá . Chúng tôi về đến nhà là mở máy
chạy băng, tiếng hát chị lại vang lên não nùng buồn thảm đến quay quắt . Tiếng
hát chị vang vọng khắp nơi khắp phố và tôi như bềnh bồng theo tiếng hát của chị
vây quanh, trên đường đến trường tôi đi ngang những quán chè, quán café, quán
nào cũng đầy tiếng hát của chị bay ra níu bước chân tôi “Mưa vẫn mưa bay trên tầng
tháp nhỏ ..dài tay em mấy thuở mắt xanh xao …” tiếng hát đã ngày ngày đưa tôi
đi học và theo tôi tan trường về. Bạn bè tụ lại cũng để nghe chị hát “Trời còn
làm mưa mưa rơi mênh mang …từng ngón tay buồn em mang em mang đi về giáo
đường….”. Trong những chiều trời Dalat đổ mưa ướt xám, những đêm gió lộng rì
rào mấy anh em tôi lại xúm nhau cùng bạn bè pha café mở máy chạy băng ngân nga
“Mầu nắng hay là mầu mắt em …mùa thu qua đây đã bao lần …” cả bọn đong đưa hát
theo để vui buồn đê mê với chị Khánh Ly, tiếng hát chị là hạnh phúc là niềm vui
đầm ấm của chúng tôi .
Tiếng hát “ưu phiền lênh đênh”của chị làm tôi yêu những bài hát của Trịnh Công
Sơn, mà lúc đó tôi không có nhu cầu cần biết Trịnh Công Sơn là ai, tôi chỉ yêu
bài hát và tiếng hát, mãi về sau nhìn lại tôi mới chợt nhận ra tôi đã lớn lên
giữa những bài ca tuyệt diệu này và người nhạc sĩ đã ở trong tim tôi tự bao giờ
.
Tết Mậu Thân ! một cái tết thật kinh hoàng, làm thay đổi suy tưởng của tôi về
cuộc sống, trong đầu óc non nớt của một cô bé thành phố như tôi lúc đó mới thật
sự biết mùi vị chiến tranh khi một đêm với bom rơi đạn nổ ngay bên nhà mình,
sáng ra với những căn nhà đổ nát, những đống gạch vụn, những vũng máu đen thẩm
tràn lan đây đó và những đoàn người từ thôn ấp lân cận hối hả bồng bế con cái
nhỏ dại, bao gia đình nheo nhóc gồng gánh nhau kéo về thành phố “tị nạn”, những
người già nua còn phải chen chúc nhau tạm trú ở khắp các trường học, nhà thờ,
chùa chiền, lớp học của tôi biến thành nhà ở tạm cho cả mấy chục gia đình khốn
khổ và còn bao nhiêu là người khác phải chịu cảnh màn nhà tan cửa sập, những
hình ảnh đau thương đó in đậm mãi mãi trong tôi .
Có lẽ vì một phần những hình ảnh chiến tranh của cái tết Mậu Thân nên tôi phải
sững sờ, nước mắt tôi ứa ra khi nghe tiếng chị vang vọng “Đại bác đêm đêm vọng
về thành phố người phu quét đường dừng chổi đứng nghe ….” Tôi bỗng thương đất
nước tôi quá, thương những người dân tôi bất hạnh và thương cả chính mình
“người già co ro em bé lõa lồ …từng hạt cơm khô, trong miếng hững hờ ..” anh đã
nói dùm tôi chị đã hát dùm tôi bao nhiêu là tình cảm đã không nói được trong
trái tim nhỏ này. Rồi một ngày đi học về thấy Trâm cô bạn hàng xóm đứng khóc
thút thít “Anh Quang tao mất rồi” Tôi lặng cả người không tin cả tai mình, thật
sao ? mau vậy sao ? Tôi nhớ anh Quang ngập lòng, anh Quang mới vào lính đây
thôi mà, và mới ngày nào anh còn chạy chơi đánh banh với anh em tôi, anh còn
trẻ quá tôi không tưởng tượng ra được anh đã không còn nữa . Nắm chặt tay Trâm
mà lòng tôi ray rứt với tiếng hát kể lể của chị, chị kể cho chị hay chị kể cho
tôi “Tôi có người yêu chết trận Ba Gia ….tôi có người yêu vừa chết đêm qua …
chết thật tình cờ chết chẳng hẹn hò ..không hận thù nằm chết như mơ” Mãi về sau
tôi vẫn thích hát bài hát này tôi hát hoài như nằm lòng, sáng trưa chiều tối tôi
rên ư ử “Tôi có người yêu chết trận Chu Prong …tôi có người yêu nằm chết trôi
sông ….” Anh tôi la “bài này người ta cấm đấy mày hát coi chừng bị bắt đó”, tôi
chả hiểu tại sao người ta cấm mà cấm cái gì, kệ ! tôi vẫn cứ hát vì ngoài phố
tiệm nào, nhà nào cũng vẫn vang tiếng chị Khánh Ly hát suốt ngày đó, có thấy
bắt bớ gì đâu , có ai bị ở tù vì hát đâu, ông anh tôi chỉ có dọa tôi là giỏi,
tôi chẳng sợ ! Tôi càng hát bạo dĩ nhiên chỉ hát ở trong nhà thôi, tôi chẳng
dám hát cho người khác nghe, tôi vốn hay xấu hổ.
“Anh nằm xuống cho hận thù vào lãng quên
Tiễn đưa nhau trong một ngày buồn
Đất ôm anh đưa vào cội nguồn
Rồi từ đó, trong trời rộng, đã vắng anh
Như cánh chim, bỏ rừng, như trái tim bỏ tình
Nơi đây một lần, nhìn anh đến những xót xa đành nói cùng hư không!
Mặc dù tôi biết anh Trịnh Công Sơn viết bài này cho ông Lưu Kim Cương nhưng bất
cứ lúc nào khi nghe chị hát những lời này tôi bỗng thương chị xót xa, tôi cảm
thấy rõ ràng như chị hát cho chính người thương của chị, giọng chị đau thương
nức nở “bạn bè còn đó anh nhớ không anh ….người tình còn đây anh nhớ không anh
…” làm tôi nghẹn ngào, nghẹt thở . Tôi nhớ đến cái chết kinh hoàng tức tưởi của
người thiếu úy không quân trên Pleiku mà tôi đã được nghe kể lại mấy năm trước,
một chuyện thương tâm và đau đớn vì chính chị Khánh Ly là nạn nhân, là người
phải chứng kiến cảnh người mình thương kẹt trong chiếc máy bay rực lửa . Có lẽ
không có gì đau lòng hơn khi chính mắt mình nhìn thấy người thân mình ngã xuống
ngay trước mặt mà mình bó tay không làm gì được, đau đớn nào lớn hơn, đó là vết
thương lòng của chị mà không biết vô tình hay cố ý anh Trịnh Công Sơn đã diễn
đạt được tình cảm đó bằng những lời nhạc quá thiết tha cảm động như vậy. Nhưng
chưa hết, cuộc đời không ngờ như là định mệnh oan khiên, khiến chị phải gánh
chịu nhiều lần, khi người chị thương cứ lần lượt ra đi để chị vẫn còn phải chịu
đựng và tiếp tục cất tiếng đau thương ” …bạn bè còn đó anh nhớ không anh
..người tình còn đây anh nhớ không anh ?” Tiếng hát chị làm tim tôi se lại và
tôi chắc dù ở đâu, nơi nào thì ai cũng nhớ chị và ai cũng thương chị vô cùng .
Ba người anh tôi lần lượt bị động viên, làm thân trai đi lính xa nhà, nên mẹ
tôi bỗng ít nói, tư lự hơn và gầy hẳn đi, mẹ thích nghe chị hát, mẹ hay nhắc
tôi “con để cái bài tối hôm qua mẹ nghe đó con” tôi biết bài gì rồi , khi tiếng
chị ray rứt cất lên “Đêm nay hòa bình sao mắt mẹ chưa vui ..me hãy ra xem đường
phố ngập người …đêm nay hòa bình ….” là tôi thấy mẹ ngồi thật yên, để giòng
nước mắt ứa ra, một lúc lâu mẹ quay đi dấu kín nhớ thương rồi nói nhỏ “Sao cô
ấy có thể hát buồn đến thế !” Vâng giọng hát buồn, bài hát buồn và lòng người
nghe cũng buồn, tôi thương mẹ tôi xót xa . Bây giờ tôi thương nhớ me tôi nhiều
hơn nữa mỗi lần tôi nghe lại chị hát “Đêm nay hòa bình sao mắt mẹ không vui…”,
giọng chị vẫn buồn ray rứt, lênh đênh u uẩn và tôi thì buồn hơn vì mẹ tôi không
còn bên tôi nữa .
Tôi nghĩ nói về chị Khánh Ly mà không nói về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn thì thật
hơi thiếu sót nên ở đây tôi xin được nhắc một chút về anh Trịnh Công Sơn trong
cái duyên gặp gỡ buổi đầu tiên mà tôi được nghe anh hát .
Năm tôi học đệ Tam trường BTX, nhân dịp anh Trịnh Công Sơn lên Dalat chơi, cô
hiệu trưởng và một số giáo sư người Huế có mời anh đến hát cho nữ sinh của
trường tôi nghe, dịp ấy anh đến với ca sĩ Hà Thanh . Nỗi vui mừng hân hoan của
bọn nữ sinh chúng tôi thật vỡ bờ, sáng hôm đó trong hội trường đông nghẹt, mấy
trăm cô học sinh đứng ngồi kín mít, khi được giới thiệu lên sân khấu anh Trịnh
Công Sơn đứng ở bên trái và ca sĩ Hà Thanh đứng cách xa mấy bước phía bên phải
anh. Lần đầu tiên tôi được thấy nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, anh trẻ lắm, hơi gầy
làm dáng người thêm nhỏ, khuôn mặt xương xương với gọng kính cận đồi mồi, anh
ôm cây đàn guitar trước ngực .
Bọn con gái chúng tôi vỗ tay reo mừng khi thấy anh xuất hiện và dĩ nhiên bao
nhiêu cái miệng cùng la lớn “Cô Khánh Ly đâu ? cô Khánh Ly đâu ? ” Dạ thưa nhạc
sĩ sao cô Khánh Ly không đi với ông ? anh Trịnh Công Sơn mỉm cười từ tốn anh
nói ” Khánh Ly bận nhiều việc ở Saigòn nên không thể đi lên Dalat được, nhưng hôm
nay chúng ta có ca sĩ Hà Thanh sẽ hát cho chúng ta nghe” anh chỉ về phía cô Hà
Thanh, rồi như đọc được ánh mắt nghi ngờ của lũ học trò về tài nghệ “hát nhạc
TCS” của Hà Thanh, anh tiếp thêm “Hà Thanh đã hát nhạc Trịnh Công Sơn lâu lắm
rồi, từ lúc chúng tôi còn trẻ ở Huế ….”
Nghe danh tiếng hát cô Hà Thanh từ lâu mà bây giờ tôi mới thấy mặt cô, dáng cô
cao, nước da trắng, mặt cô tươi sáng rạng rỡ, cô mặc chiếc áo dài màu xanh lá
cây nhạt nhạt, suốt buổi trình diễn cô chỉ cười hiền hòa duyên dáng và hát thôi
chứ không nói gì cả .
Bắt đầu chương trình nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cầm micro tự giới thiệu một bài hát
quen thuộc của anh, anh dạo đàn và nói một chút về bài hát rồi quay ra đệm cho
cô Hà Thanh hát, liên tiếp trong buổi trình diễn là những bài tình ca nổi tiếng
của anh Diễm xưa, Hạ trắng, Nắng thủy tinh, Nhìn những muà thu đi …. Cô Hà
Thanh hát rất nhẹ nhàng điệu nghệ, lâu lâu anh Trịnh Công Sơn hát theo phụ họa
trong một vài bài thật nhịp nhàng . Giọng cô Hà Thanh trong veo, cao vút, nghe
nhạc sống nên thấy cô hát nhạc TCS hay quá, bài nào cũng được chúng tôi vỗ tay
rầm rầm. Trong buổi trình diễn này tôi nhớ nhất và nhớ mãi là lúc anh Trịnh
Công Sơn giới thiệu bài ” Như cánh vạc bay”, anh nói đây là một bài hát anh mới
sáng tác cho một cuộc tình đã mất, không nhất thiết của ai, có thể là cuộc tình
của bất cứ người bạn nào đã…có cuộc tình , anh nói như vậy và anh rất thích bài
hát này, anh vừa dứt lời thì một cô nữ sinh vụt hỏi “Dạ thưa, tại sao lại “Như
cánh vạc bay” ? Anh Sơn nhìn xuống khán giả, hơi mỉm cười rồi trả lời giọng
chậm chậm “À như thế này, khi mình đi theo sau những người con gái mặc chiếc áo
dài kiểu decoletté, mình thấy một hình ảnh hay hay, là ở chiếc khuy cài sau cổ
áo của các cô trông như một cánh chim, một cánh chim vạc nho nhỏ ….”, anh ngừng
một lúc mắt nhìn xa xa rồi mới tiếp “.. khi người con gái phụ tình mình, là
người con gái quay lưng bỏ mình mà đi , mình nhìn với theo, thấy thấp thoáng
theo từng bước chân của người con gái, nhấp nhô hai cánh chim bay, cánh vạc bay
bay càng lúc càng xa, bỏ mình lại nơi đây một mình…” Chúng tôi òa ra, đẹp quá,
lạ quá, dễ thương quá, nên thơ quá, tôi bái phục cái ông nhạc sĩ Trịnh Công Sơn
này vô cùng, chỉ có dưới con mắt nghệ sĩ giàu tưởng tượng của anh hình ảnh đơn
sơ của chiếc khuy áo dài decoletté mới được nhìn ra là cánh vạc bay bay dịu vợi
như vậy, đẹp quá là đẹp .
Bài hát còn đẹp hơn cả bội phần, hội trường mấy trăm nữ sinh im phăng phắc khi
âm thanh tiếng đàn guitar anh dạo bắt đầu vang lên và cô Hà Thanh cất tiếng hát
“Nắng có hồng bằng đôi môi em ..Mưa có buồn bằng đôi mắt em ….tóc em từng sợi
nhỏ rớt xuống thành hồ nước lênh đênh” .
Chúng tôi lặng đi mà nghe, bài hát hay
quá, cô Hà Thanh hát hay quá . Hồi đó tôi chưa để ý lời hát mấy hay phải nói là
chưa ngấm mấy, chỉ cảm thấy là êm đềm và hay quá thế thôi, sau này lớn lên qua
mối tình thơ dại rồi đi lấy chồng, hạnh phúc gia đình đầm ấm nhưng những ngày
mưa , những ngày nắng, vui buồn nhìn bầu trời trong xanh tôi hay chợt nhớ lời
hát anh Sơn đã viết, tôi mới thấm thía, ngậm ngùi ứa lệ ” Nơi em về ngày vui
không em ..nơi em về trời xanh không em …”, tôi nghe ở đó như lời hỏi thăm đầy
âu lo, của một tấm lòng ngập tràn yêu thương từ một người tình đôn hậu, tôi đã
yêu em và tôi mãi mong em hạnh phúc dù em ở nơi nào, dù em ở với ai tôi vẫn yêu
em, tôi vẫn thương em vô vàn .
Sau này tôi may mắn còn được gặp anh Sơn nhiều lần nữa để được nghe anh hát
nhiều hơn, có nhiều kỷ niệm dễ thương hơn, như lần gặp anh ở Huế mùa Hè 74,
cũng một buổi văn nghệ bỏ túi thân mật, giữa các sinh viên vây quanh anh Sơn
lại đàn, lại hát, lại nói về những bài ca của anh, hôm đó anh cho chúng tôi
nghe mấy sáng tác mới của anh, tôi nhớ có bài “Biết đâu nguồn cội”, “Ngẫu
nhiên” và “Ở trọ” (lúc đó anh gọi là “Cõi tạm”), chúng tôi rất thích thú với
giai điệu mới lạ âm hưởng ca dao trong những bài hát này, và anh Sơn tập cho
chúng tôi cùng hát “Em đi qua chuyến đò lắng nghe con sông năm kể..trăng ơi
trăng rất tệ mày đi nhớ chóng về …Em đi qua chuyến đò ối a vui như ngày hội
…tôi xin làm quán đợi buồn chân em ghé chơi”. Tôi nhớ mãi điệu bộ vui tươi,
thân hình hơi đong đưa của anh khi anh tập bài “Ở trọ” làm cho tất cả chúng tôi
hân hoan theo anh, trên chuyến về cả bọn cứ nhâm nhi những câu hát này hoài và
ê a mãi đến tận Saigon, đêm đó tôi còn nhớ thêm ánh mắt thật trìu mến của anh chàng
sinh viên khác trường nhìn mãi tôi rồi bắt chước anh Sơn hát nho nhỏ “…Tim em
người trọ là tôi …mai kia về chốn xa xăm cũng gần ….”, như là duyên nợ, câu hát
khiến sau này người ấy “ở trọ” rồi đòi “ở luôn” trong tim tôi cho đến ngày nay.
Buổi trình diễn của anh Trịnh Công Sơn ở trường BTX năm đó làm cho tôi vui
hoài, vui suốt ngày, cho đến bây giờ nhớ lại còn thấy vui, và tôi nhớ mãi buổi
đầu tiên được hội ngộ đó, được ngắm anh đàn, nghe anh hát, và nhất là giọng
nói, lối kể chuyện nhè nhẹ thật có duyên của anh, tôi thấy là mình may mắn quá,
nghĩ lại tôi cảm thấy hạnh phúc vô cùng đã được gặp anh, và tôi thật sự hãnh
diện được sống và lớn lên giữa những bài ca anh viết, anh đã cho thế hệ chúng
tôi nhiều quá, mỗi bài hát của anh là một kỷ niệm trong tôi . Không bao giờ tôi
quên được tâm hồn hiền hòa và con người tài hoa đặc biệt của anh, nên với tôi
dù anh Sơn đã ra đi về chốn xa xăm cuối trời nhưng yêu thương của anh vẫn còn
mãi nơi đây cho người và cho đời .
bacsiletrungngan





.gif)





.jpg)





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét