Thứ Bảy, 2 tháng 8, 2014

Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao dân ca Việt Nam

Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao dân ca Việt Nam 

Minh Thương
     
      Thế nào là "chơi chữ"? 
     Chơi chữ là một nghệ thuật độc đáo trong ngôn ngữ nói chung và trong Tiếng Việt nói riêng. Có nhiều định nghĩa, khái niệm, … giải thích vấn đề này, xin được nêu một số ý kiến như sau:
      Tự điển Tiếng Việt giải thích: "Chơi chữ là lợi dụng hiện tượng đồng âm, đa nghĩa, v.v, … trong ngôn ngữ nhằm gây một tác dụng nhất định (như bóng gió, châm biếm, hài hước, …) trong lời nói. (Hoàng Phê (chủ biên) – Từ điển Tiếng Việt – Nhà xuất bản Giáo Dục. H. 1994).
      Từ điển thuật ngữ văn học gọi chơi chữ là "lộng ngữ" và giải thích là một biện pháp tu từ có đặc điểm: người sáng tác sử dụng những chỗ giống nhau về ngữ âm, ngữ nghĩa, văn tự, văn cảnh để tạo ra sự bất ngờ thú vị trong cách hiểu, trong dòng liên tưởng của người, người nghe". Các hình thức của lộng ngữ rất phong phú, trong đó có: nói lái, dùng từ đồng âm hoặc gần âm, dùng từ gần nghĩa, tách một từ thành các từ khác nhau. (có thể xem đây là hình thức của nghệ thuật chơi chữ - người viết chú thêm). Các tác giả trong quyển "từ điển" này cho rằng: nhìn chung các lộng ngữ đều mang tính hài hước, thường được sử dụng trong văn thơ trào phúng (có thể xem đây là tác dụng của nghệ thuật chơi chữ - người viết chú thêm). (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi - Từ điển thuật ngữ văn học – Nhà xuất bản Giáo Dục . H. 2007
       Tác giả Hữu Đạt thì xem chơi chữ là một đặc điểm độc đáo của ngôn ngữ thơ Việt Nam và nêu định nghĩa: "Chơi chữ là một biện pháp tu từ nghệ thuật dựa vào những khả năng tiềm tàng của ngôn ngữ, vận dụng linh hoạt đơn vị cơ bản của tu từ học (là chữ hoặc tiếng) đặt nó trong mối quan hệ nhiều chiều, nhiều phía với các đơn vị cùng bậc và khác bậc, nhằm khai thác tính chất nước đôi của các đơn vị ngôn ngữ dựa vào sự hiện diện của văn cảnh". (Hữu Đạt – Ngôn ngữ thơ Việt Nam – Nxb Giáo dục. H. 1996).
       Từ những cách lý giải trên soi rọi vào ca dao chúng ta dễ dàng thấy được nghệ thuật độc đáo mà ngày xưa cha ông ta đã vận dụng.
        Từ những từ láy lại đơn giản:
       Trong chúng ta ai đó đã từng nghe câu hát của những người làm "nghề " nói thơ dạo của những năm cuối thế kỷ trước: 
Vân Tiền, Vân Tiễn, Vân Tiên
Ai cho đồng tiền tôi kể Vân Tiên. 
            Vân Tiên là tên nhân vật chính trong tác phẩm "Lục Vân Tiên" của cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu. Tác giả dân gian khi hát đã láy lại thành câu lục "Vân Tiền, Vân Tiễn, Vân Tiên" trong cặp lục bát dẫn trên cho đủ lượng chữ cần thiết của một dòng thơ. Giá trị của việc chơi chữ ở đây chỉ có vậy.
      Cũng tương tự như thế ta có thể dẫn chứng một trường hợp khác: chơi chữ bằng việc sử dụng từ láy kiểu như trên: 
Con mèo, con mẻo, con meo
Ai dạy mày trèo, mà chẳng dạy tao? 
Từ "con mèo" được láy lại hai lần nhằm tạo âm hưởng cho câu thơ!
      Với cách chơi chữ lặp đi lặp lại như thế, nhiều câu ca dao đã gợi nên cuộc sống quẩn quanh bế tắc không lối thoát của phận cái kiến, con ong ở xã hội ngày trước: 
Con kiến mà leo canh đa
Leo phải cành cụt leo ra, leo vào
Con kiến mà leo cành đào
Leo phải cảnh cụt leo vào, leo ra. 
     Hoặc như trong một tình cảnh khác, chơi chữ kiểu láy này để thể hiện nét nghĩa gắn lết không muốn xa rời nhau của đôi nam nữ "đá trót dan díu"… 
Rau má là lá lan dây,
Đã trót dan díu, ở đây đừng về.
Rau má là lá lan thề
Đã trót dan díu đừng về ở đây. 
     Đó là cách chơi chữ bình thường vốn dĩ quen thuộc trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của ng dân quanh năm "một nắng hai sương" bên cánh đồng thửa ruộng. Trong thơ ca bình dân còn có nhiều kiểu "chơi chữ" khác mà dụng ý của nó cũng rất uyên thâm.
    Chơi chữ bằng cách dùng hiện tượng từ đồng âm khác nghĩa giữa từ đơn tiết với tiếng trong từ đa tiết:
      Xin dẫn bài ca dao quen thuộc sau đây để làm ví dụ: 
Một trăm thứ dầu, dầu chi là dầu không thắp?
Một trăm thứ bắp, bắp chi là bắp không rang?
Một trăm thứ than, than chi là than không quạt?
Một trăm thứ bạc, bạc chi là chẳng ai mua?
Trai nam nhi anh đối đặng thì gái bốn mùa xin theo. 
  Muốn biết nghĩa của các từ "dầu"; "bắp"; "than"; "bạc" trong các câu hát đố trên, ta xem tiếp phần đáp lại thì hiểu được sự điêu luyện của nghệ thuật này. 
Một trăm thứ dầu, dầu xoa không ai thắp. (Một dị bản khác: Một trăm thứ dầu, dãi dầu thì không ai thắp) 
Một trăm thứ bắp, bắp chuối thì chẳng ai rang. (Một dị bản khác: Một trăm thứ bắp lắp bắp mồm, lắp bắp miệng thì chẳng ai rang) 
Một trăm thứ than, than thân là than không ai quạt.

Một trăm thứ bạc, bạc tình bán chẳng ai mua 
            Chơi chữ là cách dùng các từ đơn tiết đồng âm nhưng khác nghĩa: 
Trời mưa, trời gió vác đó(1) ra đơm
Chạy vô ăn cơm chạy ra mất đó(2).
Kể từ ngày mất đó(3) đó(4) ơi
Răng đó(5) không phân qua nói lại đôi lời cho đây hay? 
     Từ đó mà tác giả dân gian sử dụng trong bài ca dao trên vừa là danh từ chỉ một dụng cụ đánh bắt, vừa là đại từ chỉ nơi chốn được "mượn" làm đại từ nhân xưng chỉ người. Từ đó(2), đó(3), đó(4) là thú vị và đa tầng nghĩa nhất vậy.
     Gợi lên một ý nghĩa khác "tục" mà thanh bởi từ "đẩy" đa nghĩa (cả nghĩa trong khẩu ngữ) của câu ca dao sau đây: 
Em ơi nên lấy thợ bào
Khom lưng ảnh đẩy cái nào cũng êm 
    Xét từ ngữ nghĩa tường minh của văn bản thì không có gì hết, nó chỉ miêu tả một hành động bình thường của anh thợ mộc làm động tác bào cây, gỗ, nhưng xét về nghĩa hàm ẩn của nó thì thật là "độc", mà cái "độc" ấy là do nghệ thuật "chơi chữ' tạo ra.
  Công dụng của nét chơi chữ ấy dùng để phê phán. Phê phán thầy đồ đạo cao đức trọng, cố ý "thanh cao" nhưng không tránh khỏi cái bản năng bình thường của con người, tác giả dân gian chơi chữ "đồ" để mỉa mai hết sức thâm thuý trong bài ca dao sau đây: 
Nhân lúc đồ ngồi nhàn hạ
Ra hồ sen xem ả hái hoa
Ả hớ hênh ả để đồ ra
Đồ trông thấy ngắm ngay tức khắc
Đêm năm canh đồ nằm khôn nhắp
Những mơ màng đồ nọ tưởng đồ kia 
            "Đồ nọ" tưởng "đồ kia" là hai từ đồng âm nhưng một từ với nghĩa là thầy đồ - một hạng người trong xã hội, và một từ "đồ" cũng là danh từ nhưng để chỉ sinh thực khí của phụ nữ!
            Nhiều khi cách chơi chữ đồng âm này tránh được cái tục, một sự nói tránh hết sức tinh tế: 
Sáng trăng em nghĩ tối trời
Em ngồi em để sự đời em ra
Sự đời em bằng lá đa
Đen như mõm chó chém cha sự đời. 

            Cái sự đời mà câu ca dao đề cập bằng việc dùng nghĩa lấp lửng nước đôi như trên chắc chắn rằng ai cũng biết đó là cái gì rồi!
            Phê phán "bà già"  còn muốn chồng được tác giả dân gian mỉa mai bằng cách chơi chữ "lợi" trong một bài ca dao quen thuộc: 
Bà già đi chợ Cầu Đông
Xem bói một quẻ lấy chồng lợi chăng
Thầy bói gieo quẻ nói rằng
Lợi thì có lợi nhưng răng không còn 
            Lợi vừa là tính từ chỉ việc có ích, vừa chỉ một bộ phận trong vòm họng con người: cái " nướu răng"!
            Đôi khi kín đáo hơn, nhẹ nhàng, để nói đến thân phận bấp bênh về thân phận của người phụ nữ trong xã hội ngày trước dân gian có câu: 
Thân em như cá rô mề
Lao xao giữa chợ biết về tay ai. 
            Ví "thân em" với cá rô mề, quả là khó còn từ ngữ nào đắc hơn trong văn cảnh vừa dẫn, bởi nói vừa chỉ được nhiều điểu mà người sáng tạo ra nó muốn nói.
            Trái lại hiện tượng trên, là việc dùng từ đồng nghĩa để chơi chữ với dụng ý phê phán rõ ràng: 
Có cứt thì lúa mới xanh
Quần hồ áo cánh bởi anh cứt này 
            Thực ra những từ không được sạch sẽ trên đây có từ "phân" đồng nghĩa với nó, nhưng dân gian không dùng "phân" mà thay "phân" bằng …(!) để nhắc nhở những người gần bùn mà vội "quên đi mùi bùn"(!)
      Xong có lẽ hiện tượng dùng từ cùng trường nghĩa, gần nghĩa để tạo nét liên tưởng thú vị là phổ biến nhất trong ca dao: 
Con quạ nó ăn tầm bậy tầm bạ nó chết,
Con diều xúc nếp làm chay,
Tu hú đánh trống bảy ngày,
Con bịp nó dậy, nó bày mâm ra.
Con cuốc nó khóc u oa,
Mẹ nó đi chợ đàng xa chưa về. 

     Bài ca dao tập hợp những con chim sống trọng bụi quạ, diều, tu hú, bìm bịp, cuốc, cho mỗi con đóng vai trò thích hợp với đặc điểm của chúng: diều với quạ cùng loại nên đóng vai trò chính; tu hu đầu mùa hè hay kêu; bìm bịp thường hay ở trong bụi rậm, ít bay đi đêm, như người nội trợ; cuốc lủi trong bụi như tìm ai, tiếng kêu của nó sầu não như khóc như than. Đây là cách chơi chữ dùng các từ cùng trường nghĩa để khắc hoạ lên những bức tranh dân gian về một đám ma nghèo nhưng đầy đủ lễ thức. Vừa phản ảnh một phong tục ngày trước với nhiều màu sắc độc đáo nhưng cũng không giấu tính châm biếm sắc sảo.
     Cùng kiểu như vậy ta còn có thể gặp trong các bài ca dao tương tự: 
Con cò chết rủ trên cây,
Cò con mở lịch xem ngày làm ma
Cà cuống uống rượu la đà
Chim ri ríu rít bò ra chia phần
Chào mào thì đánh trống quân,
Chim chích cỡi trần vác mõ đi rao. 
       Hoặc: 
Con cò mắc giò mà chết
Con quạ ở nhà mua nếp làm chay
Con cu đánh trống bằng tay
Chào mào đội mũ làm thầy tế văn
Chiền chiện vừa khóc vừa lăn
Một bầy chim sẻ bịt khăn khóc cò 
   Chọn những con vật cùng trường nghĩa khác, bài ca sau đây cũng dùng cách chơi chữ ấy: 
Cóc chết bỏ nhái mồ côi,
Chẫu ngồi chẫu khóc :" Chàng ơi là chàng"
Ễnh ương đánh lệnh đã vang,
Tiền đâu mà trả nợ làng ngoé ơi! 
    Tác giả dân gian tập hợp trong bài ca dao này các con vật cùng loài với cóc: nhái, chẫu chuộc, chầu chàng (chẫu chàng thân và chi mảnh, dài; chẫu chuộc cũng giống như chẫu chàng nhưng lớn hơn); ễnh ương, ngoé là giống nhái bén. "Chàng" trong câu câu ca trên vừa là con vật (chẫu chàng) vừa là đại từ chỉ người trong cặp đại từ nhân xưng cổ: chàng – nàng. Như vậy, bài ca dao vừa chơi chữ bằng cách dùng từ đồng âm, vừa chơi chữ bằng cách dùng các từ cùng trường nghĩa.
      Đôi lúc ghép những từ cùng trường nghĩa để chơi chữ với tính chất "trào lộng": 
Chị Xuân đi chợ mùa hè
Mua cá thu về chợ hãy còn đông 
      Những từ đồng âm khác nghĩa (Xuân, thu, đông) và các kết hợp các từ cùng trường nghĩa với nhau tạo nên nét độc đáo: hoá ra đó là bốn mùa trong năm!
       Một bài khác: 
Anh Hươu đi chợ Đồng Nai
Bước qua Bến Nghé ngôi nhai thịt bò 
      Vui đùa với chữ là dụng ý chính của những câu ca dao này!
     Hoặc để chỉ một cảnh sinh hoạt bình thường của một gia đình làm nghề chài lưới: 
Cha chài mẹ lưới con câu
Chàng rễ đóng đáy con dâu ngồi nò. 
     Hay như để chỉ các sản vật là lương thực mà con người đổ không biết bao nhiêu giọt mồ hôi để tạo ra, tác giả dân gian gửi gắm: 
Thấy nếp thì lại thèm xôi
Ngồi bên thúng gạo nhớ nồi cơm thơm
Hai tay xới xới đơm đơm
Công ai cày cấy sớm hôm đó mà. 
    Chiết tự ra từ một từ láy, hoặc một từ ghép để "chơi chữ": 
Cô giỏi cô giang, cô đang xúc tép
Cô thấy anh đẹp cô đổ tép đi 
     Từ "giỏi giang" được chiết tự ra làm hai thành tố để rồi kết hợp lại nhằm nhấn mạnh tính cách của chủ thể "cô" trong câu ca trên. Đó cũng là một dạng của nghệ thuật chơi chữ!
    Việc dùng từ trái nghĩa trong cùng một câu thơ, cũng là một hiện tượng chơi chữ của dân gian: 
Bánh cả thúng sao gọi là bánh ít
Trầu cả khay sao dám gọi trầu không. 
            Hoặc như: 
Lươn ngắn mà chê trạch dài
Thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm. 
     Chạch là loại cá trông giống lươn cỡ nhỏ, thân ngắn. Thờn bơn là loại cá thân dẹt, miệng và mắt lệch lên phía trên đầu. Trai là loại động vật thân mềm, vỏ cứng, gồm hai mảnh, thường há ra như cái miệng. Với nghệ thuật chơi chữ để giễu nhại giống như kiểu: "Chuột chù chê khỉ rằng hôi/ Khỉ mới trả lời cả họ mày thơm" tác giả dân gian muốn châm biếm những người đem chủ quan của mình gán ghép cho người khác mà không thấy được mình cũng có khuyết điểm tương tự như thế, chả ai hơn ai, chả biết mèo nào cắn mỉu nào!
     Trong nhiều lời hát đối đáp cũng có hiện tượng như vậy: 
Giàn hoa bể cạn nước đầy
Cá vàng hoá bạc chàng rày đối chi? 
       Chơi chữ là dùng cách nói lái, tức là đảo vị trí phần vần và thanh điệu của hai từ liền kề nhau: 
Con cá đâu anh ngôi câu đó
Biết có không mà công khó anh ơi 
        Và: 
Con cá đối nằm trong cối đá
Con mèo đuôi cụt nó năm mục đuôi kèo,… 
       Chơi chữ bàng cách dùng các từ thuần Việt đồng nghĩa với nhau: 
Đi tu Phật bắt ăn chay
Thịt chó ăn được, thịt cầy thì không. 
      "Chó với cầy là những từ cùng nghĩa, gần nghĩa được sử dụng "chơi" để phê phán một hiện tượng "ngược đời"
        Hay: 
Bạn vàng chơi với bạn vàng
Chớ chơi với Vện ra đàng cắn nhau. 
     Từ "bạn vàng" của "những con chó" làm cho người nghe liên tưởng đến "bạn vàng của con người" cũng là một dụng ý thật đắc mà nghệ thuật chơi chữ tạo ra.
      Hoặc đôi lúc dùng một tiếng Việt đồng nghĩa với một từ Hán Việt để chơi chữ: 
Có răng nói thật đi nha
Lúc trăng đang tỏ thì hoa đang thì. 
   "Nha" là từ Hán Việt tương đương với từ thuần Việt "răng"!
       Hay như: 
Rắn hổ đất leo cây thục địa
Ngựa nhà trời ăn cỏ chỉ thiên. 

       Rồi thì: 
Cha con thầy thuốc về quê
Hồi hương phụ tử thì chàng đối chăng? 
   
   Cái độc đáo ở nghệ thuật chơi chữ trong câu thơ này là vừa có hai từ tương đương nghĩa "cha con" (thuần Việt) với "phụ tử" (Hán Việt); "về quê" (thuần Việt) với "hồi hương" (Hán Việt). Rồi "thầy thuốc" để chỉ nghề nghiệp của hai "cha con" mà "hồi hương", "rồi phụ tử" là những vị thuốc nổi tiếng trong đông y!
    Cuối cùng hết của các dạng chơi chữ trong ca dao mà chúng tôi khảo sát được là việc đảo trật tự từ ngữ để tạo ra nghĩa ngược với thực tế:
Bao giờ cho đến tháng ba
Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng
Hùm nằm cho lợn liếm lông
Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi
Nắm xôi nuốt bé lên mười,
Con gà mâm rượu nuốt người lao đao
Lươn nằm cho trúm bò vào
Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô
Lúa mạ nhảy lên ăn bò,
Cỏ năn, có lác rình mò bắt trâu
Gà con đuổi bắt diều hâu,
Chim ri đuổi đánh vỡ đầu bồ nông. 
  Tất cả các sự việc, các hành động và chủ thể tạo nên hành động trong bài ca dao trên đều ngược nghĩa so với hiện thực cuộc sống. Đều mà tác giả dân gian muốn gửi gắm ở đây có lẽ với hai dụng ý rõ rệt: vừa mua vui với chữ nghĩa, vừa muốn nói lên một sự bất công ngang trái trong xã hội ngày trước!
  Như vậy, tuy khác nhau về lời lẽ song có thể thấy mấy điểm chung trong các cách hiểu trên về chơi chữ.
- Chơi chữ là một biện pháp tu từ được dùng trong ngôn ngữ nghệ thuật (ngôn ngữ văn thơ)
- Biện pháp chơi chữ được thực hiện dựa trên các tiềm năng về chất liệu ngôn ngữ dân tộc. Các tiềm năng về âm thanh, chữ viết, từ đồng âm, đồng nghĩa, v.v, ...càng phong phú thì càng tạo điều kiện cho chơi chữ phát triển.
- Chơi chữ tạo nên những liên tưởng bất ngờ, thú vị về nhận thức, đồng thời có tác dụng châm biếm, hài hước, thư giãn bằng chữ nghĩa, v.v…
      Riêng trong ca dao chơi chữ đã thể hiện nét phong phú độc đáo trong tâm hồn của người nông dân "gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn".  
*Trong bài viết có tham khảo tài liệu chép tay (chuyên đề dành cho thạc sĩ Ngữ văn): "Truyền thống ngữ văn của người Việt" của T.S Trần Văn Minh, Trường Đại học Vinh.

 
 Vấn đề đố tục giảng thanh và đố thanh giảng tục trong kho tàng câu đố Việt Nam. 

Minh Thương 
Khái niệm về câu đố: Trước nay, có nhiều khái niệm được đưa ra, trong khuôn khổ bài viết này chỉ xin dẫn ra một số ý kiến như vậy:
Câu đố là tiếng cười của trí tuệ, thông minh linh hoạt . [Nguyễn Văn Trung: Câu đố Việt Nam, Nxb TP. HCM, 1986].
Câu đố là những sáng tác dân gian ngắn gọn miêu tả sự vật bằng lời nói chệch (nói một đằng hiểu một nẻo) [Theo Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Lộc (chủ biên) Văn học 10, T 1 phần văn học Việt Nam (sách chỉnh lý hợp nhất năm 2000). Nxb GD 2001]
Câu đố là một thể loại văn học dân gian mà chức năng chủ yếu là phản ánh đặc điểm các sự vật, hiện tượng bằng phương pháp giấu tên và nghệ thuật chuyển hoá gây nhiễu (chuyển vật nọ thành vật kia) được nhân dân dùng trong sinh hoạt tập thể để thử tài suy đoán, kiểm tra sự hiểu biết, mua vui. [Nhiều tác giả, Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo Dục, 2006]
Như vậy, dù định nghĩa nào thì câu đố cũng có phải đảm bảo ba yêu cầu chính: cấu tạo; chức năng; hình thức và giá trị sử dụng.
Câu đố gồm hai phần: lời đố và vật đố.
Thế nào là yếu tố tục: Theo Việt Nam Tự điển của Lê Văn Đức (cùng nhóm thân hữu soạn), Nhà sách Khai Trí, S.1970, “tục” là thói quen thành lề lối, thành luật, thành lệ: Nước trên trời có khi trong khi đục/ Người ở đời có kẻ tục, người thanh (Ca dao)
Từ điển Hán Việt của Nguyễn Văn Khôn do nhà sách Khai Trí in năm 1960 thì giải thích: tục là thói quen, trần thế. Tóm lại: tục là thói quen, nhưng hiểu rộng ra thì đó là những thói quen “trần thế”, “trần tục của con người. Nó nghiêng nhiều về tính bản năng. Đó là những nhu cầu cần thiết được con người gọi là “tứ khoái”: ăn, ngủ …
Câu đố tục trong văn học dân gian Việt Nam : Là câu đố có lời đố mang yếu tố tục, với các từ chỉ bản năng con người, hoặc khơi gợi trí liên tưởng đến những bộ phận trong cơ thể người, nhất là cơ quan sinh dục, … hoặc trong lời đố chỉ là những yếu tố bình thường, những vật đố là tục, là những bộ phận, chất thải của cơ thể,  …
3.1 Câu đố tục giảng thanh: nghĩa là lời đố có yếu tố, hoặc từ ngữ gợi “tục”, còn vật đố là những vật dụng sinh hoạt hàng ngày, là cây cỏ, hoa trái, bánh mứt, …
a. Lời đố chứa những từ chỉ cơ quan, bộ phận sinh dục, … của con người.
Từ những từ ngữ còn tương đối “nhẹ nhàng” kiểu các câu đố xuất vật danh sau đây: 
Có mái mà không có trống,
Có đái mà không ỉa?
                               Mái nhà 

Những từ không được sạch sẽ trong câu đố kia chính là một hiện tượng của tự nhiên, mưa rơi trên mái nhà, từ mái nhà nước mưa chảy xuống, lại được “cố ý” dùng chệch đi với hành động tiểu và đại tiện của con người.
Hoặc lời đố có chứa “chất thải”: 
Anh kia đội cứt đi đâu,
Tài chi mà lại mọc râu sái hàm.
                         Con tôm 
Để đố về một loại củ (xuất đầu): 
Bằng trang trái quýt,
Dưới đít có lông.
                                                 Củ hành 
Đến những từ ngữ mà ít sách vở nào viết đầy đủ chữ, để tránh phản cẩm thẩm mỹ, dù lời đố đó chỉ hướng đến đối tượng bình thường (giảng thanh).
Câu đố về các con vật: 
Lù lù như mu l … chị,
Lị sị như đầu b … tôi,
Ngày thời đi khắp mọi nơi,
Đến đêm lại chiu vào mu l … chị. 
                                  Con rùa 
Dựa vào hình dạng của “con chuột” – con vật được đố. 
Mình bằng quả chuối tiêu,
L … bằng vỏ trấu, lỗ bằng niêu. 
Đố về vật dụng, kho tàng câu đố dân gian cũng có những câu mà lời đố chứa yếu tục tương tự như trên: 
L … già da dính tận xương,
Váy xanh mỏng mảnh lại thương bìu dài.
                                          Cối giã gạo 
Đố đến cái nia để đựng khi các bà, các chị sàng gạo: 
Không chân, không tay mà hay mó l … 
Để đố cái gàu sòng tát nước, ta hãy nghe lời thơ dân gian sau đây: 
Bà Ba mà dạng chân ra,
Một ông đứng giữa mà tra c… vào. 
Để đố “miếng trầu bây giờ bà ăn”, dân gian sử dụng hình ảnh: 
L… già ăn với cà kheo,
Lại thêm c… lõ và đèo năm lông. 
Đố về một hành động: chuột bị mèo bắt ăn thịt, người đố cũng “cố ý” dùng những yếu tố tục: 
Vừa bằng cổ tay đâm ngay vào l…,
Gặp ông quan ôn bỏ l … bỏ chạy. 
Đố về hành động tác đìa (loại ao nằm giữa ruộng và vườn của người miền Tây Nam Bộ) bằng gàu vai của hai người đàn ông, tác giả dân gian khéo mượn hình ảnh sinh thực khí của người phụ nữ và động tác làm tình của phái nam để đố: 
Cái l … có bốn cọng lông,
Hai thằng cha đàn ông nấc cong xương sống. 
Hay một hành động của chị thợ may: 
Hai sợi lông l… sợi dài sợi ngắn
                                         Xỏ kim 

Hành động của một người kéo vó, với nhiều động tác không khác chi các động tác trai gái “yêu” nhau rồi sinh con đẻ cái: 
Canh một thì trải chiếu ra,
Canh hai bóp vú canh ba sờ l…,
Canh tư thì nấc xom xom,
Canh năm cuốn chiếu ẵm con mà về. 
Cũng có khi dùng yếu tố tục trong lời đố tục với nghĩa “hỏi cắc cớ”, chơi chữ cùng lúc chỉ hai ba đối tượng. Vật đố được hướng đến hình như không được chú trọng bằng “vật” của người nghe đố (!) 
Đố em l …  ở chỗ nào,
Đẻ ra ngàn trứng thì bao nhiêu l …
                                         Con cá 
Đố về một loại cây, bằng cách sử dụng từ đồng âm để liên tưởng: 
Má ơi con muốn chú này,
Hà bá đ… mày để chú ấy tao.
                                     Cây chành dành 
Rõ ràng những từ viết không nguyên vẹn ngữ âm như trên là những từ “tục”. Thế được nó lại được hướng nghĩa đến một đối tượng khác …đúng như chức năng và cấu tạo của thể loại văn học dân gian: câu đố!
b. Lời đố dùng những từ ngữ miêu tả động tác, âm thanh gợi đến cảnh ái ân, hình thể của con người, …, những từ về mặt cấu tạo ngữ âm không tục, nhưng nghĩa lại gợi tục.
Miêu tả động tác của người bào cây: 
Hai tay anh nắm lấy vai nàng,
Cái chân quỳ xuống nấc hoài không thôi,
Nắc cho đến đổ mồ hôi,
Khi nào mỏi mệt móc hoài nó ra. 
Thực ra từ “nấc” ở đây là đã viết trại đi, chính xác thì â kia phải thay bằng ă, và đó là một khẩu ngữ chỉ … hành động giao hợp nam nữ! Rõ ràng động tác của người thợ bào cây không khác gì động tác … trên giường! Mượn cái hình ảnh này để đố hình ảnh kia là nét cấu tạo thường thấy trong câu đố dạng này.
Để đố về một hành động “móc cua”, người ta cũng cố gợi đến … chuyện ấy! 
Hai bên cỏ mọc xanh rì,
Ai mà đi tới phải quỳ một chân,
Đút vô cửa động thiên thần,
Rút ra cái bóc mày quần cắn tao. 
Động tác mở khoá cũng vậy: 
Anh ơi có đút thì đút cho sâu,
Đừng lắc qua lắc lại như trâu đi cày. 
Dùng ghe xuồng đi lại là chuyện thường ngày trên con rạch, dòng sông ở miệt đồng bằng Cửu Long. Nhưng khi để đố về một hành động “chèo ghe” thì cách liên tưởng sau đây quả là “hấp dẫn”: 
Em ơi nằm dưới cho yên,
Thân anh mệt nhọc ngả nghiêng cả người. 
Đây là hình ảnh để người trả lời có thể hướng đến đối tượng được đố là “cây quạt giấy”: 
Vuông vuông góc xéo về ba,
Chính giữa lại thiếu một chút da,
Nhấp nhấp vài cái sướng quá ta,
Không nhấp thì nước lại chảy ra. 
Để đố cái cối xay lúa ngày trước, hình ảnh sau đây cũng thật dễ khiến liên tưởng đến chuyện nọ, chuyện kia! 
Ông nằm dưới trỏ ngỏng lên,
Bà nằm trên rên hừ hừ. 
Cũng đố cái cối xay, ta có một câu khác: 
Mỗi người một nước một nơi,
Làm thân con gái nằm chơi trên bụng chồng. 
Đói no thiếp lòng,
Ăn mặc cho chống thiếp chẳng bận chi, 
Thiên hạ lắm kẻ yêu vì,
Giằng đi kéo lại cũng chẳng bận chi đến chàng. 
“Chơi” ngoài nghĩa thông thường thì trong khẩu ngữ dân gian còn một nét nghĩa độc đáo khác, ở đây được tác giả dân gian khéo léo sử dụng nghĩa ấy để lồng vào trong văn cảnh đố.
Cái áo tơi đi mưa của người nông dân chân lắm tay bùn khi đã là vật đố, thì lời đố cũng gợi lên nhiều chuyện: 
Lồm xồm hai mép những lông,
Ở giữa có lỗ đàn ông chui vào.
Chui vào rồi lại chui ra,
Năm thì mười hoạ đàn bà mới chui. 
Hành động mẹ cho con bú, lại được liên tưởng đến hành động trong phòng the của “vợ chồng”:
Một người nằm, một người ngồi,
Đút vào sướng lắm em ơi,
Rút ra đánh choách,
Miệng cười toét loe. 
Một dị bản khác: 
Cục thịt đút vô lỗ thịt,
Một tay sờ đít một tay sờ đầu,
Đút vào một lúc lâu lâu,
Nhột ở múm đầu nước chảy ứa ra,
Da non nút chặt da già,
Kéo cưa đưa đẩy rút ra cùng cười. 
Một người hút thuốc lào: 
Lỗ trên toét toè loe,
Lỗ dưới toét toè loe,
Anh bịt lỗ dưới anh đè lỗ trên,
Cô mình tức cô mình kêu lên,
Đã vừa mệt nhọc lại thêm mất tiền. 
Rõ ràng tác giả dân gian đã vận dụng rất thành công hiện tượng chơi chữ đồng âm dị nghĩa trong tiếng Việt để tạo ra những tình huống liên tưởng “không ngờ” nhằm “bắt bí” người nghe đố.
Xin nêu thêm một số trường hợp lời đố gợi tục thật đa dạng sau đây:
Đố về đồ vật: 
* Trên bằng da dưới cũng bằng da,
Đút vào thì ấm rút ra lạnh lùng.
                               Đôi vớ. 
* Mình chuông vuông vắn,
Tay ngắn chân dài,
Trèo qua hai hòn động thiên thai,
Hai tay ôm lấy nàng tiên thục nữ.
                             Cái yếm 
Đố về bánh: 
Thân em vừa trắng vừa tròn,
Sao anh lại nở lột quần em ra,
Lột quần anh cũng chẳng tha,
Anh lấy miếng thịt anh tra ngay vào.
                                      Bánh dày giò 
Đố về cây: 
Tắt đèn chẳng thấy lối đi,
Chân lần tay vịn ra thì nhà sau,
Rủi ro mũi đụng má đào,
Của cô em vợ lao xao cả nhà.
                                     Rau mò om 
Đố về con vật: 
*Yếm nàng nịt,
Áo nàng gài,
Nàng yêu ai,
Nàng quẹo đít.

                   Con ốc 
*Khom khom như cái bàn tay,
Mồm thì mồm dọc ngậm ngay hạt hồng,
Hai bên có hai hàng lông,
Ở giữa hạt hồng đỏ loét đỏ loe.
                                     Con sò huyết 
Nhiều khi sử dụng cách “nói lái” quen thuộc trong khẩu ngữ: 
Giữa thanh trúc xung quanh luỹ mây,
Tồn li, không phải tồn lì,
Hoá ra tồn lì.
                 Cái nia, cái tràng 
3.2 Đố thanh giảng tục: ngược lại lời đố mang những từ ngữ bình thường, trang nhã nhưng vật đố là bộ phận của cơ thể con người, những chất thải do con người tạo ra. Vật đố đó là những từ thường được nói tránh đi, bởi nó không “sạch sẽ” cho lắm!
Miêu tả một hành động đi ngoài, tác giả dân gian lại dùng nhiều từ Hán Việt khéo gợi cho người nghe đến một vị tướng xuất quân, ý đồ “đánh lạc hướng” chính là chỗ đó. 
Anh hùng phi ngựa thật nhanh,
Mã đáo công thành mặt vẫn nhăn nheo. 
Đối với đời sống người dân quê, cái nhà vệ sinh “ven sông” ngày trước quả không phải là đều ít thấy, ít gặp. Nó được làm bằng cây dùng lá dừa nước che tạm để người cần ngồi vào cũng có cái mà che chỗ cần che. Dựa vào đặc điểm ấy, tác giả nêu câu đố: Nhà rách có khách hoài, đổ hướng đến vật đố là “nhà” mà mọi người hay “đến” đấy! Trước khi đến …, con người có những lần trung tiện, thế là tiếng kêu chẳng lấy gì làm thơm tho phát ra cũng đi vào lời đố: 
Tai nghe súng nổ cái đùng,
Thuyền quyên lánh mặt anh hùng ngả nghiêng. 
Vào “nhà rách” nọ để thải chất thải ra từ ngoài, nhìn chất thải của con người, người ta đố rằng:
Ách ửi một hồi rất đỗi lâu,
Lần ra ải khẩu xuống sông sâu,
Chẳng lo gả chó theo lôi óc,
Chỉ sợ bầy tong xúm kéo đầu. 
Sinh thực khí đàn ông đã đi vào câu đố dân gian như sau: 
Mồm ở đỉnh đầu, hay xỏ hay xiên,
Đêm đẻ con tiên cháu rồng. 
Hoặc một câu đố khác: 
Không tai không mắt miệng ở trên đầu,
Cổ lại lồm xồm một mớ râu,
Không mũi mà đánh hơi rất nhạy,
Chẳng lộ hầu mà quá lộ hầu. 
Và: 
Đầu đội mũ đỏ,
Cổ mặc áo rêu,
Hai vai đeo hai hòn đạn. 
Hay: Không mắt, không tai, mồm ở đỉnh đầu, chòm râu ở cổ. Đều cùng chung hướng về một vật đố!
Vật đố là sinh thực khí phụ nữ, có lời đố là: 
Múi mít hạt hồng,
Lá vông rễ ấu,
Xấu thì thật xấu,
Xem vẫn muốn xem,
Nghe nói thòm thèm,
Bảo ăn thì giận. 
Hoặc đố theo dạng chiết tự chữ nghĩa: 
Ông Long đầu đội mũ huyền,
Chăn dê mà lại bỏ quên dê rồi. 
Long bỏ “g” thêm dấu mũ và thanh huyền vào là lời giải của câu đố này.
Đố đến cả hai bộ vừa nêu, khi cả hai cùng tham gia vào chuyện “ngửa nghiêng loan phượng”: 
Có khi cứng có khi mềm,
Khi dài khi ngắn không chêm mà vừa. 
Theo cụ Như Ý trong bộ “Kinh thi Việt Nam"(dẫn theo Nguyễn Văn Trung, sđd) thì cách giải bằng thơ rằng: 
Anh về hỏi khẽ chị đi,
Khi mô nó cứng khi mô nó mềm.
Khi anh yêu chị suốt đời,
Anh nằm ngủ mệt nó mềm thuỗn ra. 
Tóm lại, qua những câu đố tục vừa dẫn chứng trên chúng ta thấy rằng:
- Sự liên tưởng bất ngờ thú vị giữa lời đố và vật đố.
- Câu đố vừa mang tính bình dân, vừa chất phác gắn liền với lời ăn tiếng nói hàng ngày. Nhưng nó lại là nơi thể hiện một trí tuệ tuyệt với của những người “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Nó là một hiện tượng độc đáo của văn học dân gian.
- Nhờ các hiện tượng “chữ nghĩa như vậy đã tạo nên tiếng cười khuây khoả trong cuộc sống quần quật một nắng hai sương của những kiếp người “con trâu đi trước cái cày theo sau” …


 
 
 
 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Thơ viết cho ai

Thơ viết cho ai? Trước tiên, nhà thơ viết cho chính anh ta. Theo kiểu nói của Đức Phật, tôi là bằng hữu của chính tôi. Trong con người của...