Trường từ vựng cỏ cây và các tín hiệu
58 từ thuộc ba tiểu trường cỏ cây trong Truyện Kiều đã tạo
nên các THTM với nhiều ý nghĩa thẩm mỹ sâu sắc, trong đó nổi bật là thể hiện những
phương diện khác nhau của con người, từ dáng vẻ, cử chỉ bên ngoài, đến tuổi tác, vị
thế và tâm lí tình cảm bên trong. Qua đó có thể nhận thấy một đặc điểm trong
cách tri nhận và cảm thụ của người Việt Nam: thông qua cỏ cây để thể hiện con
người, hay nhìn nhận con người như cỏ cây, là cỏ cây.
1. Có thể nói, trên trái đất không nơi nào lại vắng
bóng cỏ cây .Và theo quan niệm triết học phương Đông, mộc (gỗ, cây có gỗ) là một trong năm tố chất cấu thành vũ trụ (ngũ hành:
kim, mộc, thủy, hỏa, thổ). Vì thế mà, trong hệ thống từ vựng của
các ngôn ngữ chắc chắn đều có một trường từ vựng cỏ cây .
Đối với tiếng Việt,
trường từ vựng này bao gồm một số lượng lớn các đơn vị từ vựng. Có thể
phân xuất trường từ vựng cỏ cây trong tiếng Việt thành một số tiểu
trường như: tên gọi khái quát (cỏ, cây, cỏ cây, thảo thụ, cây
cối …), tên gọi cụ thể về các loài cỏ cây (tre, mít, ổi, xoan, đào,
mận, lim, tùng, bạch đàn,lúa, ngô, khoai, rêu, rong…), tên gọi các bộ phận
của cỏ cây (gốc, rẽ, củ, thân, cành, lá, bông/ hoa, quả/trái, ngọn, nhị,
hạt, hột…), tên gọi các quá trình sinh trưởng của cỏ cây (mọc, nảy,
nhú, bén rễ, nở hoa, kết quả, đâm chồi, nảy lộc, chín, rụng…), tên gọi
các trạng thái, đặc điểm của cỏ cây (xanh, úa, héo, vàng lá, lụi,
tàn, rậm, thưa, cằn, um tùm, xum xuê…), tên gọi hoạt động của con người đối
với cỏ cây ( trồng, gieo, cấy, tỉa, hái, gặt, ươm, bón phân, chặt, đốn, …)
,tên gọi nơi sinh sống của cỏ cây (vườn, rừng, đồi, ruộng, nương,rẫy,
đồng, bãi…) …
Đôi vơi Truyện
Kiều, một tác phẩm ưu tú của nền văn hóa dân tộc, cũng không thể vắng bóng các
từ thuộc trường từ vựng này. Truyện kể lại cuộc sống của con người ở một thời
kì lịch sử với rất nhiều nhân vật khác nhau, nhưng, cùng với hình ảnh của những
con người đó là cả một thế giới bao quanh, trong đó có thế giới cỏ cây. Từ ngữ
về cỏ cây trong Truyện Kiều khá phong phú và là chất liệu tạo nên một hệ
thống tín hiệu thẩm mỹ góp phần quan trọng làm nên giá trị thẩm mỹ cho tác phẩm. Có những câu thơ tám tiếng (từ) thì đến 4 từ chính danh thuộc trường từ vựng
cỏ cây (như: Hoa dù rã cánh, lá còn
xanh cây). Tuy nhiên, bài này không thể bao quát hết các tiểu trường
thuộc trường từ vựng cỏ cây trong Truyện Kiều mà chỉ tập
trung vào việc phân xuất và phân tích giá trị thẩm mỹ của các tin hiệu thẩm mỹ
(THTM) được tạo nên từ ba tiểu trường: tên gọi khái quát về cỏ cây,
tên gọi cụ thể các loài cỏ cây, và tên gọi các bộ phận của cỏ
cây.
2. Trước hết là hệ thống từ thuộc ba tiểu trường trên trong Truyện Kiều được
dùng làm cái biểu đạt cho các THTM.
Tiểu trường này chỉ có bốn
từ: cỏ, cây, cỏ cây, thảo thụ. Từ cỏ có 20 lần, từ cây có
21 lần, còn hai từ cỏ cây, thảo thụ chỉ có 1 lần xuất hiện trong truyện. Ngoài
ra còn có biến thể từ vựng thảo xuất hiện trong các tổ hợp thảo
am, thảo lư, thảo đường.
2.2 Tiểu trường tên gọi cụ thể các loài cỏ cây: có tới 39 từ với
192 lần sử dụng. Phân tích chi tiết tiểu trường tên gọi cụ thể các loài cỏ
cây, có thể nhận thấy:
+ Về các
loài cỏ cây trong Truyện Kiều, có những loài được coi là quý phái, thường xuất
hiện trong văn chương bác học thời kì trung đại, như: đào. mai. liễu,
trúc, lan, huệ, quế, hải đường, trà mi, phù dung, quỳnh, dao…đồng thời cũng có
cả các loài cỏ cây dân giã, quê mùa như dâu, mận, mướp, lau, bèo, rêu, sắn
bìm…, thường gặp trong văn chương dân gian . Tuy nhiên nếu so sánh với
ca dao, vẫn có thể thấy còn có những loài cây quen thuộc và rất tiêu biểu trong
đời sống của người Việt Nam nhưng lại vắng bóng trong Truyện Kiều. Chẳng hạn,
trong ca dao ta bắt gặp thường xuyên THTM lúa (hoặc những loài ngũ cốc
khác: ngô, đậu…), không chỉ trong văn cảnh tả thực một cánh đồng hay một
buổi làm việc của người nông dân, mà cả khi bộc lộ tình cảm. cảm xúc: “Thân em
như chẽn lúa đồng đòng, Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai“, hay “Ngày đi lúa chửa chia vè, Ngày về lúa đã đỏ hoe cả đồng.
Ngày đi em chửa có chồng, Ngày về em đã con bồng con mang“. Lí giải về sự
khác biệt này phải tìm đến tư tưởng nghệ thuật chủ đạo của Truyện Kiều: Truyện
chú trọng đến đời sống tinh thần chứ không phải đời sống vật chất của con
người, hơn nữa trong Truyện Kiều, đời sống tinh thần của con người được thể hiện
thông qua những nhân vật thuộc tầng lớp trung lưu trong xã hội, tầng lớp mà
trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong nhận thức, cảm nghĩ thường quan tâm tới
những loài cỏ cây thanh cao, quý phái theo quan niệm thẩm mỹ thời trung đại..
+ Về câu tạo của các từ gọi
tên các loài cỏ cây cụ thể, trong số 39 từ có 25 từ là các từ đơn mang tính chất
thuần Việt, rất dễ cảm nhận đối với người Việt Nam (đào, mai, liễu, bèo, trúc,
sen, dâu, lau, lan, rêu, cúc, hòe, lê, mận, quế, lựu, quýt, mướp, huệ, tùng, quỳnh,
dao,chàm,cải, mận). Trong số 14 từ còn lại, có bốn từ thuần Việt dạng láy hay
ghép (sắn bìm, gai góc, bèo bọt, bồ hòn) còn lại là từ Hán Việt (cù mộc, hải đường,
phù dung, mẫu đơn, trà mi, tùng quân, cát đằng, cát lũy, bồ liễu, ngô đồng) nhưng
các từ Hán Việt này, như sẽ được chỉ ra dưới đây, đều xuất hiện với tần số rất
thấp (chỉ 1,2 lần), và phần lớn cũng chỉ các loài cỏ cây có ở Việt Nam. Vì thế
chúng không ảnh hường gì đến sắc thái văn hóa của tác phẩm và sự cảm nhận của
người nghe, người đọc.
+ Về tần số sử dụng, các từ
chỉ tên cụ thể các loài cỏ cây trong Truyện Kiều có tần số rất khác
nhau. Có thể phân biệt thành 3 nhóm. Nhóm 1 là các từ có tần số từ 10 lần trở
lên, và đều chỉ các loài cây quenthuộc,bao gồm: đào (29), mai (20), liễu (17), bèo (14), trúc (10). Nhóm 2 gồm các từ có tần số từ 5 đến 9, cũng chỉ các
loài cây quen thuộc, bao gồm: sen, dâu (9), lau, lan, rêu,
cúc (5). Nhóm 3 gồm các từ có tần số từ 1 đến 3, trong đó nhiều từ chỉ cac loài cây ít phổ biến: hòe, lê (3), vi lô, hải đường, trà
mi, mận, ngô (đồng), quế, lựu (2), huệ, mướp, quýt, quỳnh,
giao, tùng, tùng quân, phù dung, mẫu đơn, cù mộc, gai góc, tranh, bồ
hòn (1). Ngoài ra còn có các từ cát lũy (1), cát đằng (1), sắn
bìm (1) chỉ gộp một số loài cây leo.
Như thế 39 từ gọi tên các loài cây cụ
thể trong Truyện Kiều có sự khác nhau về đặc điểm cấu tạo, về sắc thái bình dân
hay quý phái, về tần số sử dụng. Như sẽ trình bày dưới đây, những sự khác nhau
đó chi phối ý nghĩa thẩm mỹ của các THTM mà chúng tạo nên.
2.3. Tiểu trường tên
gọi các bộ phận của cỏ cây
Tiểu trường này cũng khá phong
phú trong Truyện Kiều: có tất cả 15 từ (đều là từ đơn, thuần Việt )với 185 lần
sử dụng. Từ có tần số sử dụng lớn nhất là từ hoa với 115 lần,
sau đó đến các từ cành (26 lần), lá (13 lần), ngọn,
gốc/cỗi (7 lần), đóa, cánh, nhị (3 lần), lộc, thân, quả (1 lần). Ngoài ra còn có từ da được chuyển từ trường động vật sang để
chỉ vỏ cây (da cây: 1 lần ).
Tóm lại, dùng làm cái biểu đạt cho
các THTM trong Truyện Kiều có 58 từ thuộc ba tiểu trường trong trường từ vựng cỏ
cây.
3. Các từ thuộc
trường từ vựng cỏ cây khi được dùng trong Truyện Kiều đã chuyển hóa thành các tín hiệu thẩm mỹ (THTM). Theo lí thuyết về
THTM thì trong văn chương, THTM được tạo nên từ các tín hiệu ngôn ngữ, tiêu biểu
là các từ. Cũng như tín hiệu ngôn ngữ, THTM có hai mặt: cái biểu đạt (là tín
hiệu ngôn ngữ với tổng thể hai mặt vốn có của nó) và cái được biểu đạt (ý
nghĩa thẩm mỹ). Do đó quan hệ giữa tín hiệu ngôn ngữ (từ) và THTM trong văn
chương là mối quan hệ giữa chất liệu và sản phẩm nghệ thuật.(về THTM x 5;
125-188)
Tuy rằng giá trị thẩm mỹ
của các từ thuộc trường từ vựng cỏ cây trong Truyện Kiều có mức độ
khác nhau ít nhiều, nhưng sự chuyển hóa từ tín hiệu ngôn ngữ thành THTM đều chịu
sự chi phối từ nhiều nhân tố thuộc các phương diện khác nhau. Sự chuyển hóa đó
diễn ra và được cảm nhận không phải chỉ do những thuộc tính nội tại của tín hiệu
ngôn ngữ (từ), mà còn do sự phối hợp của chúng và sự hỗ trợ của ngữ cảnh. Chẳng
hạn, trong câu thơ: “Một cây gánh vác biết bao
nhiêu cành “(674), các từ cây và cành trong
câu trở thành các THTM với ý nghĩa thẩm mỹ cao đẹp: quan hệ và
trách nhiệm của người cha đối với các thế hệ con cháu trong gia đình. Các tín
hiệu và ý nghĩa thẩm mỹ đó được hình thành và cảm nhận, một phần là nhờ ý nghĩa
và quan hệ ý nghĩa vốn có của các từ cây và cành (cành do
cây sinh ra), nhờ sự phối hợp của các từ khác: một/ biết bao
nhiêu (gợi ra tương quan giữa một và nhiều cá thể), từ gánh
vác (vốn thuộc trường từ vựng người, chỉ hoạt động của người ); và
còn có sự hỗ trợ của ngữ cảnh: câu thơ nằm trong lời Thúy Kiều khuyên nhủ, an ủi
người cha không nên quá đau xót về việc nàng bán mình mà có hành động quyên
sinh, vì người cha là trụ cột gia đình, quyết định sự sinh tồn của cả gia đình,
dòng tộc. Chính sự tác động tổng hợp của các yếu tố đó đã tạo nên sự chuyển
hóa của các tín hiệu ngôn ngữ cỏ cây trong câu thơ trên thành các THTM và giúp
cho người nghe, người đọc lĩnh hội được ý nghĩa thẩm mỹ cao đẹp về quan hệ
và trách nhiệm của người cha với các thế hệ con cháu trong gia đình. Những
tín hiệu ngôn ngữ khác đi vào tác phẩm văn chương và trở thành THTM đều diễn ra
theo cùng cơ chế, nguyên tắc như vậy.
Trong Truyện Kiều, các THTM được xây dựng
từ các từ thuộc trường từ vựng cỏ cây, ngoài sự khác biệt theo ba
nhóm mà trên đây đã nói đến với những đặc điểm cấu tạo, tần số sử dụng và sắc
thái quý phái hay bình dân, còn khác biệt với nhau về một số phương diện
khác có tính chất cơ bản hơn.
3.1. Về nguồn
gốc, các THTM được tạo nên từ các từ thuộc ba tiểu trường cỏ cây
trong Truyện Kiều khác biệt nhau theo hai trường hợp:
- Có nguồn gốc từ
các đối tượng trong hiện thực và được gọi tên bằng từ thuộc trường nghĩa cỏ
cây.Tác giả dùng các từ để trực tiếp đưa các đối tượng cỏ
cây từ hiện thực khách quan vào tác phẩm tạo nên các THTM. Ví dụ, để
miêu tả ngày hội mùa xuân, nhiều từ thuộc trường cỏ cây đã được
huy động để tạo nên các THTM thể hiện trực tiêp vẻ đẹp của thiên nhiên: “Cỏ non
xanh rợn chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”
(41-42).
Hoặc các THTM miêu tả cảnh hoang vắng
nơi nhà Thúy Kiều ở, khi Kim Trong trở lại sau thời gian về hộ tang người chú
và sau tai họa của gia đình Thúy Kiều: “Xập xè én liệng lầu không, Cỏ lan
mặt đất rêu phong dấu giầy, Cuối tường gai góc mọc đầy
“(2749-51).
- Có nguồn gốc từ
các thành ngữ, tục ngữ, ca dao hay điển cố trong kho tàng văn hóa của cộng đồng
và nhân loại. Khi tác giả sử dụng các ngôn liệu này thì đồng thời các từ thuộc
trường từ vựng cỏ cây cũng được đưa vào truyện và chuyển hóa thành
THTM. Ví dụ, trong câu “Mạt cưa mướp đắng đôi bên một phường”
(812), từ mướp có nguồn gốc từ thành ngữ mạt cưa mướp đắng biểu
hiện hai vật giả tạo ( kẻ bán mạt cưa giả là cám và kẻ bán mướp đắng giả là dưa
chuột lại mua phải hàng giả của nhau ).
Hoặc, trong câu:
“Khi về hỏi liễu Chương Đài, Cành xuân đã bẻ cho người chuyên
tay.”(1261- 62), các từ liều và cành trong trường hợp này đều
có nguồn gốc từ điển tích trong văn hóa Trung Hoa để gợi đến tâm trạng băn
khoăn về sự thủy chung trong quan hệ vợ chống khi người chồng đi xa.
Có khi câu thơ chỉ nhắc gợi đến ý của
một thành ngữ hay tục ngữ có từ thuộc trường nghĩa cỏ cây. Chẳng hạn
câu ”Rào cây lâu cũng có ngày bẻ hoa “(2018) là phát sinh từ tục
ngữ "Ăn cây nào rào cây ấy“ rất phổ biến trong tiếng Việt.
Như thế hai nguồn vật liệu để cấu tạo
THTM cỏ cây trong tác phẩm là hiện thực tự nhiên và kho tàng văn hóa,
nhưng chúng đều cần nhờ đến phương tiện từ vựng của tiếng Việt làm cái biểu
đạt.
3.2. Về phương thức cấu
tạo:
Phần lớn các THTM từ trường từ
vựng cỏ cây trong Truyện Kiều được xây dựng theo phương thức ẩn dụ.
Nghĩa là khi sáng tác, tác giả, qua quá trình quan sát, chiêm nghiệm, đã phát
hiện ra mối quan hệ tương đồng nào đó giữa đặc tính của cỏ cây hay bộ phận của
cỏ cây với nội dung ý nghĩa thẩm mỹ định biểu hiện, do đó dùng từ biểu hiện
chúng để xây dựng thành THTM. Sự tương đồng có thể có ở nhiều phương diện:
hình dáng, màu sắc, mùi vị, đặc điểm sinh sống, công dụng…Chẳng hạn, huệ và lanlà
những loài hoa có mùi thơm nên chúng được dùng để biểu trưng cho tình cảm vợ chồng
đằm thắm giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh: “Huệ lan sực nức một nhà”
(1471)
Trong khi đó, những loài cây
to lớn, vóc dáng khỏe mạnh đối lập với những loài dây leo, sống nhờ, lại là những
ẩn dụ cho những số phận và vị thế khác biệt của hai lớp người - có vị thế vững
mạnh, cao sang hay vị thế yêu đuối, thấp hèn trong xã hội: “Nghìn tầm nhờ
bóng tùng quân, Tuyết sương che chở cho thân cát đằng (701-2)”
Phương thức hoán dụ khi cấu tạo các
THTM từ trường từ vựng cỏ cây, cũng như thường lệ, là dựa trên quan hệ tương cận. Quan hệ tương cận được hiểu không phải chỉ là sự gần gũi về không gian, mà là
quan hệ kéo theo nhau, đi đôi với nhau, giả định sự tồn tại cùng nhau …Chẳng hạn,
như dưới đây sẽ chỉ rõ, cỏ cây tồn tại và phát triển phụ thuộc vào thời tiết bốn
mùa. Có những loài cỏ cây đặc trưng cho một mùa nhất định trong năm, vì thế có
thể dùng nó để làm tín hiệu cho mùa tương ứng .Cảnh tượng “Giếng vàng
đã rụng một vài lá ngô (1591)” chính là tín hiệu báo mùa thu đã đến.
Ngay từ ghép cỏ cây vốn đã mang
nghĩa khái quát chỉ giới thực vật nói chung, nhưng khi được dùng theo phép hoán
dụ, nó lại trở thành một tín hiệu chỉ một phạm vi rộng lớn hơn nữa mà cỏ cây
chỉ là một bộ phận, đó là: thiên nhiên, đất trời, không gian vũ trụ nói
chung. Chính nghĩa hoán dụ đó hàm ẩn một cách chua xót trong câu nói của Thúy
Kiều khi được hội ngộ với gia đình sau 15 năm lưu lạc nhưng “sự đời đã tắt lửa
lòng “nên nàng” đã đem mình bỏ am mây’’ và tự nghĩ rằng “tuổi này gởi với cỏ
cây cũng vừa “(3041-2)
Trên cơ sở cái biểu đạt là các từ
thuộc ba tiểu trường trong trường từ vựng cỏ cây và có nguồn gốc hoặc từ hiện
thực khách quan, hoặc từ kho tàng văn hóa chung, theo hai phương thức cơ bản là
ẩn dụ và hoán dụ, các THTM đã chuyển tải những thông điệp thẩm mỹ với các ý
nghĩa thẩm mỹ phong phú, hàm súc.
4. Các ý nghĩa thẩm mỹ chủ
yếu của THTM cỏ cây trong Truyện Kiều thể hiện ở những phương diện như
sau.
4.1. Trước hết, các THTM cỏ cây tạo dựng các
bức tranh miêu tả thiên nhiên hay vật thể làm bối cảnh của các biến cố, tâm trạng,
cũng là những tín hiệu chỉ báo cho các biến cố và tâm trạng.
4.1.1. Các THTM cấu tạo từ các từ thuộc
trường cỏ cây trong Truyện Kiều, như đã nói ở trên, phần lớn có nguồn
gốc từ hiện thực nhằm vẽ lên một bối cảnh thiên nhiên làm phông nền cho các biến
cố, các trạng thái tâm hồn của con người, cũng đồng thời dự báo cho các biến cố
và tâm trạng. Có thể chúng được đưa vào tác phẩm chỉ dưới dạng liệt kê mà
không miêu tả chi tiết. Lúc đó chỉ những tên gọi khái quát về cỏ cây
(cây, cỏ cây, thảo thụ) cũng đủ để làm tín hiệu về một không gian sống
khang trang, hài hòa giữa thiên nhiên của con người .Chẳng hạn, đây là cảnh
ngôi nhà của một thương gia mà Kim Trọng thuê để ở cho gần nhà Thúy Kiều được vẽ
qua đôi nét đơn sơ: ”Có cây có đá sẵn sàng, Có hiên Lãm Thúy nét
vàng chưa phai (279-280)”
Còn đây là cảnh Quan Âm
Các của nhà tiểu thư họ Hoạn danh gia: “Có cây trăm thước
có hoa bốn mùa, Có thảo thụ có sen hồ (1914-15)”
Tuy nhiên, đại đa số các trường
hợp là các tín hiệu cỏ cây hiện ra ở dạng rất cụ thể, chi tiết với các dáng vẻ,
màu sắc, trạng thái đa dạng, tạo nên các bức tranh thiên nhiên sinh động. Lúc đó có sự huy động và phối hợp hàng loạt các từ thuộc các tiểu trường tên
gọi cụ thể các loài cây, tên gọi các bộ phận cỏ cây, và cả từ ngữ chỉ các trạng
thái, màu sắc, hương vị …của chúng. Một số ví dụ:
Sau khi đi hội xuân về, buổi
tối thật là lung linh, huyền ảo nơi nhà Thúy Kiều: “Vàng gieo ngấn nước cây
lồng bóng sân, Hải đường lả ngọn đông lân, Giọt sương gieo nặng cành
xuân la đà “(174-6)
Hoặc vào thời điểm mà mối
tình giữa Thúc Sinh và Thúy Kiều đằm thắm đến đỉnh điểm thì cỏ cây trong
nhà cũng thật là rực rỡ, đầy sức sống: “Dưới trăng quyên đã gọi hè, Đầu tường
lửa lựu lập lòe đâm bông” (1307-08)
Tín hiệu cỏ cây trong những trường hợp
trên vẽ nên những bức tranh thiên nhiên sống động, phù hợp với những tâm trạng
phấn chấn, vui tươi, hay những sự kiện tích cực, tốt lành trong cuộc sống của
con người.
Mặt khác,các từ thuộc trường cỏ
cây cũng có thể phối hợp với nhau để tạo nên những bức tranh với sắc thái
u ám, ảm đạm, hoang tàn, thiếu sức sống . Những tín hiệu cỏ cây đó lại
phù hợp với những quá trình diễn biến tiêu cực, tối tăm ,những trạng thái âm
tính trong cảm xúc, tâm hồn con người. Ví dụ, cảnh một nấm mồ vô chủ trong ngày
hội Thanh minh, tảo mộ: “Sè sè nấm đất ven đường, Rầu rầu ngọn cỏ nửa
vàng nửa xanh “( 57-58). Những tin hiệu này tạo bối cảnh cho cuộc gặp gỡ giữa
Thúy Kiều với Đam Tiên – biểu tượng của số kiếp bi thương do tài mệnh tương đố.
Hoặc cảnh hoang vắng, tàn tạ
khi gia đình Thúy Kiều bị nạn oan khuất, ly tán: “Cỏ lan mặt đất rêu phong
dấu giày, Cuối tường gai góc mọc đầy“ (2750-51)
Như thế, dù trong trạng thái nào,
thì những từ chỉ cỏ cây trong Truyện Kiều cũng thực hiện được chức năng đưa
thiên nhiên khách quan vào tác phẩm và xây dựng thành các THTM, làm bối cảnh
cho diễn biến của câu chuyện và góp phần chỉ báo các sự kiện hay tâm trạng
nhân vật.
Tuy nhiên vai trò quan trọng
nhất của các từ thuộc trường từ vựng cỏ cây trong Truyện Kiều lại không phải là
để tạo nên các THTM nhằm tả chân hiện thực khách quan, tạo nên bối cảnh cho các
sự kiện hay tâm trạng, mà chủ yếu để biểu hiện các ý nghĩa thẩm mỹ khác,
không thuộc về giới tự nhiên. Chẳng hạn, từ cành xuất hiện 27 lần
trong tác phẩm, nhưng chỉ có 9 lần, chiếm 33,4%, là THTM miêu tả cảnh thiên
nhiên (vd Nhặt thưa gương rọi đầu cành – 433; Tường đông lay động
bóng cành - 1093), còn 18 lần, tức 66,6%, nó được dùng phối hợp với
các từ khác tạo nên các THTM chỉ người đẹp (Một tay chôn biết mấy
cành phù dung – 1162; Xót thay đào lý một cành – 1741; Ba
cây chập lại một cành mẫu đơn -1426, …), biểu hiện con người trong
quan hệ tình cảm (Trong khi chắp cánh liền cành – 575; Hoa kia
đã chắp cành này cho chưa – 1264; Cành kia chẳng phải cỗi
này mà ra ?– 1320…), hoặc hàm ý nói đến cảnh ăn chơi (Dập dìu lá
gió cành chim - 1231). Các ý nghĩa thẩm mỹ về con người như thế, như
sẽ được trình bày dưới đây, giữ vai trò chinh yếu trong toàn bộ tac phẩm.
4.1.2. THTM đóng vai trò định
ngữ nghệ thuật tôn vinh vẻ đẹp, vẻ sang trọng của vật thể.
Có một cách sử dụng từ thuộc
trường nghĩa cỏ cây khá phổ biến và đặc sắc trong Truyện Kiều, cũng
dùng để miêu tả, nhưng là miêu tả chủ yêu về đồ vật và tạo nên được giá trị nghệ
thuật rất rõ, trở thành một nét phong cách đặc trưng của ngôn ngữ tác phẩm. Đó
là dùng một danh từ thuộc trường nghĩa cỏ cây trong vai trò một định
ngữ nghệ thuật, đặt sau một danh từ chỉ vật thể (đôi khi là một yếu tố thuộc về
con người), để tạo nên những lời hay ý đẹp, những THTM với công thức chung là
D1- D2. Trong những tổ hợp kiểu này, 5 từ thuộc trường nghĩa cỏ
cây (đào, mai, sen, lan và hoa) được dùng vào vị trí định
ngữ nghệ thuật, chúng đều là tên gọi những loài cây thuộc nhóm quý phái, sang
trọng theo tiêu chí thẩm mỹ thời trung đại hoặc từ chỉ bộ phận xinh đẹp, tinh
túy của cỏ cây ( hoa). Theo thống kê của chúng tôi, những tổ hợp
như thế có số lượng là 33 với 43 lần sử dụng.
Việc sử dụng những tổ hợp như thế đã tạo nên sắc
thái sang trọng, kiều diễm cho vật thể, ngay cả khi các đối tượng
này ở trong một trạng thái, sự kiện hay cảm xúc âm tính .Còn gì đau xót, bi thảm
hơn khi Thúy Kiều phải bán mình, vậy mà cái đau xót, buồn tủi ấy vẫn đượm một vẻ xinh đẹp, kiều diễm nhờ một định ngữ nghệ thuật hoa: ”Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng” (634)
Khi phải sống trong cảnh
cô đơn, lạnh lẽo vì Thúc Sinh về thăm vợ cả, Thúy Kiều cũng buồn rầu. Nhưng vẫn
là nỗi buồn trong một khung cảnh sang trọng nhờ một chữ đào:
“Đêm thu gió lọt song đào“ (1637)
Ngay cả trong tình
huống Thúy Kiều và Thúc Sinh bị Hoạn Thư hành hạ đủ điều, thì sự việc dù đau đớn
đến mấy vẫn diễn ra nơi sang trọng, quyền quý nhờ một chữ mai: “Sợ
uy dám chẳng vâng lời, Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều”.
(1821-2)
Đối với con người thì không chỉ dáng vẻ bề
ngoài (gót, lệ, tiếng, nét) mà cả những trạng thái tâm li bên trong
(thề, giấc, hồn) cũng trở nên diễm lệ, sang trọng nhờ các định ngữ nghệ thuật
là các từ - tên gọi các loài cây quý phái.
Rõ ràng những định ngữ nghệ
thuật nhờ những từ là tên gọi các loài cỏ cây cao quý không phải
làm nhiệm vụ xác định cho các đối tượng được nói đến, mà chủ yếu để tạo nên sắc
thái thẩm mỹ, làm sang cho vật thể hay con người.
4.2. THTM chỉ báo thời
gian, hay tuổi tác của con người.
Có cây là một
trong các loài sinh vật sinh tồn, phát triển trong thời gian, và bị chi phối bởi
thời gian. Dòng thời gian không chỉ được phân đoạn theo ngày giờ, sáng tối, mà
còn khác biệt theo năm tháng, mùa màng. Sự trôi chảy theo mùa thể hiện
qua sự biến đổi của thời tiết, và đến lượt mình, thời tiết lại chi phối và làm
cỏ cây biến đổi. Chính vì thế, trong sự tri nhận của người Việt Nam, một cộng
đồng sống ở xứ sở nhiệt đới gió mùa, cỏ cây là một loại đồng hồ
hay là một loại tín hiệu chỉ báo về thời gian nói chung và sự đổi thay của bốn
mùa trong năm nói riêng. Có điều loại tín hiệu bằng cỏ cây không đơn thuần mang
đến những thông tin lí trí mà còn mang các sắc thái cảm xúc và thẩm mỹ. Như
trên đây đã nói đến những câu thơ có “cỏ non xanh rợn chân trời, cành lê trắng điểm một vài bông hoa“, đó chính là những
tín hiệu của mùa xuân với sự sống mơn mởn. Còn khi xuân qua, hè tới thì
chính cỏ cây cũng là một loại tín hiệu tự nhiên: “Đào đà phai thắm, sen vừa nảy xanh “(1474)
Rồi tiếp theo là:
“Sen tàn, cúc lại nở hoa “(1745), hay “sân ngô cành biếc đã
chen lá vàng“ (1386), đó chính là những tín hiệu chỉ báo một cách
sinh động, cảm tính về tiến trình nối tiếp từ mùa hạ sang mùa thu.
Ngay cả diễn tiến thời gian trong một ngày cũng có nhiều trường hợp được tác giả
Truyện Kiều chỉ báo bằng các tín hiệu cỏ cây. Đây là những tín hiệu của
buổi đầu tối: “Đóa trà mi đã ngậm gương nửa vành“ (1092), khác biệt với
những chỉ báo về đêm khuya: “Lối mòn cỏ lợt màu sương“(1121)
Cỏ
cây không chỉ được dùng để chỉ báo về thời gian khách quan, mà còn được
dùng như những dấu hiệu về thời gian sống, về tuổi tác của con người. Cũng
như muôn loài cỏ cây, trong cuộc đời, con người trải qua những đoạn đường đời
từ trẻ đến già. Bằng từ ngữ về cỏ cây, Truyện Kiều đã phân xuất những khúc đoạn
đó. Ai mà chả có một thời trẻ trung, như cỏ cây ở thời kỳ xuân sắc, lúc đó
con người là “sen ngó đào tơ“ (3137), là “hoa xuân
đương nhị “(1206) hay là “tơ liễu còn xanh“ (3171). Thế rồi đến
đầu thời kì trưởng thành thì là “quả mai ba bảy đương vừa
“(3075), và cuối đời là thời tuổi già: “một ngày một ngả
bóng dâu tà tà“ (1254), hoặc “cỗi xuân tuổi hạc càng cao”
(673). Rõ ràng những tín hiệu bằng cỏ cây đã chuyển tải một cách ý nhị cái
thông điệp về tuổi đời của con người. Nếu dùng cách nói của ngôn ngữ học tri nhận
thì dưới con mắt và cảm xúc của Nguyễn Du, chính con người là cỏ cây, có
quá trình sinh trường và phát triển chẳng khác gì cỏ cây.
4.3 THTM chỉ báo về nhiều
phương diện khác của con người.
Ngoài phương diện tuổi
tác mà trên đây đã đề cập đến, con người trong Truyện Kiều còn được khắc họa
ở nhiều phương diện khác thông qua các tín hiệu cỏ cây.
4.3.1.THTM thể hiện
dáng vẻ xinh đẹp của con người
Con người trong Truyện Kiều
cũng có những trường hợp được miêu tả dáng vẻ bề ngoài bằng những đường nét
chân thực, cụ thể, không dùng các tín hiệu cỏ cây. Đó là bút pháp thường dùng
đối với những nhân vật phản diện như Mã Giám Sinh (Quá niên trạc ngoại tứ tuần,
Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao 627-8), như Sở Khanh (Một chàng vừa trạc
thanh xuân, Hình dong chải chuốt áo khăn dịu dàng 1059-60),hay mụ Tú Bà (Thoắt trông lờn lợt màu da, Ăn gì to lớn đẫy đà làm sao, Trước xe lơi lả han
chào 923-5)
Tuy nhiên, với những nhân vật chinh diện,
nhất là người đẹp, bút pháp miêu tả dáng vẻ bề ngoài của tác giả lại thiên về ước
lệ, tượng trưng. Khi đó, các từ ngữ thuộc trường nghĩa cỏ cây thường được huy
động. Tên gọi của những loài hoa quý phái được dùng để tạo nên các THTM
cho thấy dáng vẻ yêu kiều, xinh tươi của những người đẹp: cành phù
dung (1162), cành mẫu đơn(1426), đào lý một cành (1741), một đóa trà my (845), một đóa yêu đào ( 503), hay “hải
đường mơn mởn cành tơ “(1283), Xuân lanthu cúc mặn mà cả hai
(162) hoặc là từ ngữ tạo nên vẻ cao quý “cành thiên hương“ (66)
Mặt khác, nét mảnh mai, mềm yếu
của nữ giới cũng thường được gợi tả bằng những loài cây cỏ có dáng vẻ tương ứng: “chút thân yếu liễu thơ đào“ (897), “đang tay
vùi liễu dập hoa tơi bời “(1156), “liễu bồ mình giữ lấy
mình cho hay (1752)
Ngay cả những dáng điệu, cử chỉ
của những người đẹp cũng được khắc họa nhờ các từ thuộc trường cỏ cây: “nét buồn
như cúc điệu gày như mai “(638), ‘nàng càng ủ liễu phai đào “(2603),
‘đào hoen quẹn má liễu tan tác mày “ (1428)
Một nhân vật như Kim Trọng,
tuy là nam giới nhưng cũng được khắc họa với bút pháp tượng trưng nhờ các THTM
có cây: “Tuyết in sắc ngựa câu giòn, Có pha màu áo nhuộm non da trời…Hài
văn lần bước dặm xanh, Một vùng như thể cây quỳnh cành dao” (139-44)
Như thế, cả hình dáng, cử chỉ của
con người chẳng khác gì dáng vẻ, trạng thái của cỏ cây.
4.3.2
THTM chỉ báo về vị thế của con người
Bản thân các loài cỏ cây
trong tự nhiên có sự khác nhau về hình dạng, về kích cỡ, về môi trường sống, về
sức chịu đựng trước thời tiết khí hậu. Những đặc điểm riêng đó của các loài cỏ
cây là cơ sở để từ gọi tên chúng tạo nên các THTM biểu trưng cho vị thế của con
người. Trong Truyện Kiều, tín hiệu điển hình biểu trưng cho những
con người có vị thế thấp, yếu đuối, hèn mọn là bèo (biến thể bèo
bọt/bọt bèo) với tần số xuất hiện là 14 (thuộc nhóm có tần số cao nhất). Một vài ví dụ: “Phận bèo bao quản nước sa (2019),Rằng tôi bèo
bọt chút thân (1097),Sinh rằng chút phận bọt bèo (1449), Chút
thân bèo bọt dám phiền mai sau (2198), Ngọn bèo chân sóng lạc
loài (2871), Đài gương soi đến dấu bèo cho chăng“ (330)…
Sau tín hiệu bèo,
là các tín hiệu được tạo ra bằng các từ chỉ gộp các loài cây leo - những loài
cây phải sinh sống và phát triển phụ thuộc vào những “cây cao bóng cả”: cát đằng, cát lũy, dây cát, sắn bìm: “Sắn bìm chút phận con
con (1633),Tuyết sương che chở cho thân cát đằng (902), Cũng
may dây cát được nhờ bóng cây (2280) “…
Ngược
lại, để biểu trưng cho vị thế cao sang, hùng mạnh của con người, THTM được tạo
nên bởi các từ chỉ tên các loài “cây cao bóng cả“: tùng quân (cây
tùng và cây tre to): “Nghìn tầm gửi bóng tùng quân (701)”
Như thế,
phương diện kích thước, điều kiện sống, sức chịu đựng của cỏ cây đã được khai
thác để xây dựng nên các THTM thể hiện vị thế của con người.
4.3.3.THTM biểu trưng cho tâm lí, tình cảm của con người
Không chỉ
dáng vẻ, cử chỉ bên ngoài, hay tuổi tác, vị thế, mà cả quan hệ tình cảm bên
trong của con người cũng được biểu hiện nhờ các THTM xây dựng từ các từ thuộc
trường từ vựng cỏ cây.
Trước hết là
tình yêu nam nữ và tình cảm vợ chồng. Về phương diện nay, nổi bật là
THTM trúc mai/mai trúc – hai loài cây thường được trồng hay được thể
hiện cạnh nhau, song song với nhau trong nghệ thuật hội họa, điêu khắc thời
trung đại. Trai gái tìm đến nhau được mô tả là “Xôn xao anh yến dập
dìu trúc mai - 944”, vợ chồng đoàn tụ cùng nhau là cảnh “Một
nhà sum họp trúc mai – 1381”. Khi nói lời thề nguyện chung thủy, đền đáp
tình sâu nghĩa nặng, trai gái cũng viện dẫn trúc mai: “Nát thân bồ liễu đền
nghì trúc mai- 746”, hoặc “Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc
mai – 708”. Rõ ràng trúc mai đã trở thành biểu tượng của tình cảm
thủy chung, son sắt giữa nam và nữ, vợ và chồng
Rộng hơn nữa là tình cảm
gia đình. Quan hệ tình cảm của con người trong gia đình được cảm nhận tương đồng
với mối quan hệ giữa các bộ phận của cây với nhau (gốc/cỗi, cành, lá,
hoa…) và với toàn bộ cơ thể cây nói chung. Vì thế mà khi một
người con gái như Thúy Kiều phải rời nhà ra đi thì cũng chẳng khác nào
“hoa đã lìa cành“ (1325), hay “chiếc lá lìa rừng" (2995),
lúc đó chỉ có niềm an ủi duy nhất là “hoa dù rã cánh lá còn
xanh cây “(678) và luôn luôn khắc khoải, băn khoăn một nỗi niềm về việc người em thay thế mình nối tiếp mối tình với Kim Trọng: ”hoa kia đã chắp cành này cho chưa?’(1264). Đối với một
chế độ phụ hệ truyền thống ở phương Đông, thì người cha trong gia đình là cội
nguồn của mọi quan hệ, mọi tình cảm gia tộc. Vì thế mà người cha có một trọng
trách lớn chẳng khác nào “Một cây gánh vác biết bao
nhiêu cành“ (674), và hạnh phúc nhất là cảnh cha mẹ xum vầy với con
đàn cháu đống: “Một cây cù mộc một sân quế hòe“ (3238)
5. Tổng kết, 58 từ
thuộc ba tiểu trường cỏ cây trong Truyện Kiều đã tạo nên các THTM với
nhiều ý nghĩa thẩm mỹ sâu sắc, trong đó nổi bật là thể hiện những phương diện
khác nhau của con người, từ dáng vẻ, cử chỉ bên ngoài, đến tuổi tác,vị thế và
tâm lí tình cảm bên trong. Qua đó có thể nhận thấy một đặc điểm trong cách tri
nhận và cảm thụ của người Việt Nam: thông qua cỏ cây để thể hiện con người,
hay nhìn nhận con người như cỏ cây, là cỏ cây. Điều này có sự thống nhất với
tín hiệu cỏ cây ở nhiều lĩnh vực khác trong kho tàng văn hóa dân tộc: thành ngữ
(Đâm chồi bén rễ; Cây ngay không sợ chết đứng…), tục
ngữ (Tre già măng mọc; Bầu ơi thương lấy bí cùng,
Tuy rằng khác giống những chung một dàn…), hoặc ca dao (Đêm trăng thanh anh mới
hỏi nàng, Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?...). Quả thật,
với sự nhận thức và cảm thụ của người Việt Nam, thì hoàn toàn có mức độ xác
đáng khi khẳng định: người ta là hoa đất!.
Tài liệu tham khảo
1. Đào Duy Anh, Từ điển Truyện Kiều,
KHXH 1974
2. Đỗ Hữu Châu, Cơ sở ngữ nghĩa học
từ vựng, GD 1998
3. Phan Ngọc, Tìm hiểu phong cách của
Nguyễn Du trong Truyện Kiều, nxb Thanh niên, 2001
4. Thanh Tâm Tài Nhân, Kim Vân Kiều
truyện, nxb ĐHSP, 2008
5. Bùi Minh Toán, Ngôn ngữ với văn
chương, GDVN, 2012.
Bùi Minh Toán










Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét