Nguyễn Du đã chịu ảnh hưởng
Viết về cụ Nguyễn Du mà chúng ta không nói đến lòng thương vô
hạn của cụ đối với chính mình đối với tha nhân, đối với xã hội thì đó
là một vấn đề thiếu sót; viết về Nguyễn Du mà không nói đến Phật giáo thì đó
cũng là một thiếu sót quang trọng, vì toàn bộ sự nghiệp văn thơ của cụ đều
phát xuất từ hai quan điểm này để từ đó cụ gởi gắm tâm sự của cụ lại cho người
hậu thế. Vì vậy cho nên khi nghiên cứu về văn thơ của cụ thì bắt buộc chúng ta
phải biết về nhân sinh của chính cụ và qua quan niệm khổ của Phật giáo. Theo
giáo lý của đức Đạo sư thì nền tảng căn bản của việc học Phật được đặt trên ba
học Giới Định Tuệ, cho nên Thiền định được coi như là một pháp môn tu học chung
cho cả hai thừa Đại và Tiểu trong việc hoàn thiện ba nghiệp thâ-khẩu-ý thanh tịnh
để chấm dứt khổ đau mà đức Đạo sư đã căn cứ vào những hiện tượng duyên khởi hiện
hữu vô thường biến dịch của nhân sinh và vũ trụ mà xác nhận rằng: “Thế gian là
giả tạm, bất toàn, trống rỗng, là đau khổ”. Ngay đến những trạng thái mà người
đời cho rằng hạnh phúc an vui cũng luôn bị luật vô thường chi phối nên chúng chỉ
là những trạng thái có được giả tạm không thật hữu, nên chúng cũng thuộc về đau
khổ. Do đó, đau khổ bao gồm tất cả mọi ý nghĩa được quan niệm có được phát xuất
từ ba phương diện: Khổ-khổ (Dukkha-dukkha), hoại khổ (viparināma-dukkha), và
hành-khổ (samkhāra-dukkha) [ba phương diện này chúng tôi đã giải thích phẩn dẫn
nhập], bằng vào giải thoát khổ đau do ba nghiệp sinh ra, khi hành giả đạt được
giải thoát hoàn toàn khổ đau thì tự nhiên an lạc hạnh phúc hiển bày.
Và theo cái học của Thiền thì gồm có: Thiền Thế gian, và Thiền
Tiểu thừa - Thiền Đại thừa (Như lai Thiền) cuối cùng là Thiền của Tối thượng thừa
(Tổ sư Thiền). Ba loại Thiền trước được y cứ vào văn tự của kinh điển để học và
thực tập, nhưng riêng Tối thượng thừa Thiền thì không y cứ vào văn tự của kinh
điển thông thường mà chỉ tạm mượn những kinh nào khế họp với căn cơ bén nhạy tạo
ra những nghi tình bất hợp lý đối với thế trí biện thông của thế gian, cộng với
những duyên sống để khai mở những vướng mắc của vô minh khổ đau cho hành giả mà
thôi, nên Tổ sư Bồ-đề Đạt-ma đã chủ trương “Dĩ tâm truyền tâm, bất lập văn tự. [1]” Ở đây Nguyễn Du tiên sinh
cũng đã từng học Thiền và thực tập thiền qua kinh Kim cương (một quyển Kinh mà
Thiền tông Trung hoa mượn làm duyên, để y cứ cho những người mới bước chân vào
Tối thượng thừa Thiền thực tập của Hoàng Mai ngũ tổ và, cũng nhờ Kinh Kim cương
mà Tổ Huệ Năng thành vị tổ sư thứ sáu của Thiền tông Trung hoa [2]. Nhưng vì sao tiên sinh đã từng thực tập
Thiền bằng cách độc tụng tư duy về kinh Kim cương hàng nghìn lần mà cũng vẫn
chưa ngộ được chỗ rốt ráo của kinh, trong khi chỉ qua cái nhìn lại “dưới chân
đài phân kinh” của Thái tử Lương Chiêu Minh xưa kia còn để lại, thì ngộ ra được
cái bổn lai diện mục rốt ráo của Kinh Kim Cương chính “Vô Tự” thị chân kinh (Tối
thượng thừa Thiền)? Thật ra ở đây cụ Tiên Điền, nếu trước đó đã không độc tụng
hàng nghìn lần kinh Kim Cương thì chưa chắc qua cái nhìn đó cụ có thể ngộ ra được
chỗ rốt ráo của kinh được! Nhưng chính nhờ đã huân tập hàng nghìn lần về nghi
tình “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm, 應無所住而生其心”[3] (nên sinh tâm mình vào nơi không có
chỗ trụ). Vậy nơi nào là nơi không có chỗ trụ? Đây chính là cái nghi tình được
tạo ra bỡi thiền Công Án hay Tham Thoại Đầu của Tổ sư Thiền mà cụ đã
được huân tập kinh qua đến mức vừa đầy; bây giờ chỉ cần giọt nước cuối cùng đổ
vào nghi tình đó thì cái nghi tình đó sẽ bùng vỡ. Ở đây chính cái nhìn lại “Dưới
chân đài phân kinh” là giọt nước cuối cùng để Tiên sinh ngộ ra được “Vô tự”
chính là chân kinh, cũng chính là không chỗ trụ. Giờ đây đích thị Nguyễn Du
tiên sinh đã trở thành một Thiền sư. Nhưng trước khi để trở thành một Thiền sư
thì Nguyễn Du tiên sinh trước đó cụ đã kinh qua những năm tháng dài độc tụng tư
duy, nghiền ngẫm về kinh Kim Cương, và trước đó nữa tuy chúng ta không biết được
cụ đã học tập những kinh sách nào được ghi lại qua văn thơ, nhưng qua tư tưởng
Phật giáo, mà cụ đã thể hiện trong văn thơ để lại ngoài truyện Kiều ra, cho
chúng ta thấy rằng Phật giáo Tiểu thừa đã ăn sâu vào trong tiềm thức của cụ qua
nhân quả báo ứng của mỗi cá thể được thay thế bỡi mệnh Trời, thể hiện tư
tưởng nhân duyên sống của nhân sinh, qua đó chúng bị luật vô thường luôn chi phối
đổi thay. Mệnh Trời ở trong truyện Kiều chỉ là một tiền đề được cụ nêu lên để đại
diện cho một quan niệm của Nho giáo, bằng vào nhân bản tính qua tác nhân tạo
nghiệp của con người theo luật tắc nhân quả báo ứng của Phật giáo mà phủ định
đi tính siêu hình Định mệnh hay Thiên mệnh của Nho giáo, điều này nếu không muốn
nói là điều sai lầm của Nho giáo mà cụ nhìn ra được. (việc này chúng tôi sẽ bàn
kỹ qua nghiên cứu truyện Kiều).
Qua tiểu sử của cụ, ngoại trừ mười năm của thời thơ ấu an ổn
sống trong vòng tay của mẹ và gia đình tại Thăng Long, nhưng sau đó những biến
cố cứ mãi dồn dập đổ lên đầu cậu bé Nguyễn Du: mười tuổi cha mất, mười hai tuổi
mẹ lại qua đời không gì bất hạnh và đoạn trường hơn là làm đứa trẻ mồ côi cả
cha lẫn mẹ vào cái tuổi đang còn ham chơi, đang cần chỗ nương tựa … và cũng từ
đó bắt đầu cụ nếm mùi thăng trầm khổ ải tủi nhục trong nương nhờ ở tạm
từ nơi này qua nơi khác và, cũng luôn tùy thuộc vào sự thăng trầm của những người
thân. Việc đổi thay triều đại, việc lên voi xuống chó chỉ trong tích tắc và, những
hậu quả đầy khổ đau tất yếu theo sau qua chánh báo (cá nhân) cùng y báo (gia
đình-xã hội), đã nói lên được tính vô thường khổ đau luôn hiện hữu qua cuộc sống
nhân sinh và riêng cá nhân cụ. Hơn bốn mươi ba năm còn lại trên cõi đời, trong
khoảng thời gian này, ngoài mười năm giang hồ cát bụi, sống xa mái ấm gia đình lúc
nào cụ cũng mang một nỗi buồn đau rộng lớn, thương mình, thương những người
thân, thương cho những đồng loại phải chịu đày đọa khổ cực. Cửa nhà tan nát đổi
thay trong kiếp người bên cạnh những đổi thay của ngoại cảnh thiên nhiên, thời
thế loạn lạc chia ly, kế sinh nhai mịt mờ phía trước, thân phận ăn đậu ở nhờ tủi
cực khôn nguôi, nỗi lo lắng luôn dằn vặt trong nếp tư duy suy nghĩ, đến nỗi mới
ba mươi tuổi trên đầu mà tóc trắng bạc phơ, tư tưởng muốn sống nơi vắng vẻ vô sự
cũng bắt đầu xuất hiện:
“… Hà năng lạc phát quy lâm khứ,
Ngọa thính tùng phong hưởng bán vân.”
何 能 落 髮 歸 林 去
臥 聽 松 風 響 半 雲
(Tự thán II)**
Dich:
… Làm sao xuống tóc về rừng ẩn,
Nằm nghe tùng hát gió đưa mây.”
Tư tưởng muốn xuống tóc vào rừng ở ẩn làm một người vô sự trước
cuộc sống là một dấu hiệu tự quy hướng vế chính mình để dọn đường cho việc
nghiên cứu Phật pháp và thực hành độc kinh Phật, trở thành một hành giả tu tập
thiền sau này của cụ. Tư tưởng này xuất hiện trong khoảng thời gian mười năm
lưu lạc giang hồ cát bụi đã hình thành qua những kinh nghiệm sống, kinh qua
trong những đắng cay khổ nhục của cuộc sống lưu đày rày đây mai đó của một thân
lữ thứ trên quê hương rộng mà không có nhà, có thể đây là thời gian từ năm
1786-1795. Sau mười năm lưu lạc giang hồ cụ đã trở về sống với núi rừng dưới
chân núi Hồng Lĩnh bên dòng Lam giang và, cuối cùng cũng không tránh được phải
ra làm quan với một thái độ bất đắc dĩ, để từ đó cụ ghi lại cuộc đời mình qua
những vần thơ chữ Hán đầy thương đau và buồn chán, nghiệt ngã cho chính mình và
tha nhân cùng xã hội. Những hình ảnh cụ ghi lại qua thơ văn không ngoài cái
quan niệm vô thường khổ không của Phật giáo như trên chúng tôi đã trình bày đối
với cuộc đời qua khổ khổ, hoại khổ, hành khổ, đầy ngậm ngùi đớn đau, đầy xúc động
trong một cái nhìn sâu xa từ hiện tượng đến bản chất của chúng. Cái nhìn tận
căn đẽ này chính là cái nhìn chánh kiến của Phật giáo, từ mê qua ngộ. Khi là mê
thì các pháp trở thành pháp thế gian, pháp hữu lậu, pháp khổ đau; còn khi chúng
ta ngộ ra rồi thì các pháp này trở thành pháp xuất thế gian, pháp vô lậu, pháp
an vui giải thoát.
Từ một cậu bé tuổi vừa lên năm đã theo gia đình về quê nội tại
Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh dưới núi Hồng Lĩnh, cạnh sông Lam, khi cha mình
cáo lão từ quan về quê vào năm Tân mão 1771[4]. Đây là dấu hiệu mở màn của bước chân đầu
cho những bước phong trần khổ ải sau này của cụ. Sau khi cậu bé Nguyễn Du theo
cha và gia đình về quê thì, năm năm sau người cha mất đi và, tiếp hai năm nữa
là mất luôn cả người mẹ thân yêu. Bây giờ cậu bé Nguyễn Du thật sự đã trở thành
trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ; mới mười hai tuổi đầu mà cậu bé phải chịu một nỗi mất
mát đớn đau đoạn trường đến thế thì cuộc đời của cậu sẽ ra sao sau này? Đây là
những kí ức được Nguyễn Du tiên sinh ghi lại khi nhớ lại ngày mới bước chân về
lại làng quê nội trên bến Giang Đình cùng cha mình và gia đình, trong đó có cậu
bé Nguyễn Du lúc 5 tuổi và, từ đó cho đến những năm biến động sau này cho cả
gia đình và cá nhân cậu bé. Những hình ảnh đó và những biến động trong cuộc sống
của gia đình sau này được cụ ghi lại một cách tổng quát, nhưng chúng nói lên được
cái quan niệm vô thường-khổ đau của đạo Phật luôn hiện hữu trong cuộc sống và,
chính cụ là người đã trải qua và kinh nghiệm trong cuộc sống của chính mình, của
gia đình, của xã hội qua bài thơ Giang Đình hữu cảm:
“Ức tích ngô ông tạ lão thì,
Phiêu phiêu bồ tứ thử giang mi.
Tiên chu kích thủy thần long đấu,
Bảo cái phù không thụy hạc phi.
Nhất tự y thường vô mịch xứ,
Lưỡng đê yên thảo bất thăng bi.
Bách niên đa thiểu thương tâm sự,
憶 昔 吾 翁 謝 老 時
飄 飄 蒲 駟 此 江 湄
仙 舟 激 水 神 龍 鬥
寶 蓋 浮 空 瑞 鶴 飛
一 自 衣 裳 無 覓 處
兩 隄 煙 草 不 勝 悲
百 年 多 少 傷 心 事
近 日 長 安 大 已 非
(Giang Đình hữu cảm)
Dịch:
Nhớ lúc xưa, cha ta cáo lão,
Tấp nập ngựa xe bến sông này.
Thuyền tiên rẽ nước rồng giao đấu,
Lọng quý trên không hạc gieo lành.
Từ khi xiêm áo không tìm thấy,
Khói cỏ đôi bờ chịu bi thương.
Cận nhật kinh thành nhiều khác lạ,
Trăm năm nhiều ít chuyện thương tâm!
Qua bài thơ này Nguyễn Du tiên sinh đã ghi lại những kí ức những
cảnh tượng đã xảy ra khi cha cáo lão từ quan về làng, khi mình còn là một cậu
bé vừa lên năm nào ngựa xe trên bến dưới thuyền, cờ lọng quý che phủ rợp trời
cho đến khi áo xiêm lộng lẫy không còn tìm thấy nữa và, những biến động gia
đình xảy ra sau đó; mọi việc vô thường đều đổi thay một cách nhanh chóng, từ
hình thức trạng thái tâm lý này đổi sang hính thức trạng thái tâm lý khác. Ngay
đến khói cỏ bên đôi bờ đê không còn xanh nữa mà đã theo lòng người bi thương
không kém và, những biến động khác thường nơi kinh đô cũng thay đổi. Lòng người
thay đổi, thế sự đổi thay. Từ những thay đổi này: nếu là lìa xa những người
chúng ta thương yêu quí mến như cha mẹ, anh chị em, bà con quyến thuộc bạn
bè và, những hoàn cảnh yêu thích của ta (thuộc về ái biệt ly);
cùng những gì mà chúng ta mong muốn đạt được: như mong cùng chung sống với
nhau, không chia lìa ngăn cách, nhưng chúng không thuận tình với mong ước
của chúng ta (thuộc về cầu bất đắc) thì, tất cả những điều đó mang đến
cho cá nhân Nguyễn Du tiên sinh và cả cho chúng ta những đều đau khổ thương tâm
hết.
Trên là những nét chấm phá về cuộc đời long đong chìm nổi khổ
đau mà Nguyễn Du tiên sinh đã kinh qua và nhìn thấy ngay trong cuộc sống của
chính mình và tha nhơn trong xã hội. Trước hết cá nhân tiên sinh đối với với
gia đình anh em họ hàng thân thích và, nơi quê hương cố chủ; vì biến cố gia
đình: cha mẹ mất sớm sau đó mang đến tình trạng gia đình ly tán, thậm chí đến
nơi ở cũng không còn nữa. Ngay bản thân của Nguyễn Du tiên sinh phải cậy nhờ
vào anh em cùng những thân nhân khác mà sống lay lất qua ngày. Thời gian ly tán
này (ái biệt ly) là một thời gian tạo ra những biến động về tâm lý cho cậu bé
Nguyễn Du, một cảm thức đau khổ về nỗi chia ly và một mặc cảm ăn nhờ ở đậu sinh
ra đau buồn và hận cho chính thân mình không làm gì được trong khi đầu đã bạc
mà thời gian cứ qua đi:
“… Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán,
Bạch đầu đa hận tuế thời thiên …”
鴻 嶺 無 家 兄 弟 散
白 頭 多 恨 歲 時 遷
Dịch:
… Hồng Lĩnh không nhà anh em vắng,
Bạc đầu hận lắm tháng năm qua…
hay:
“ … Cố hương đệ muội âm hao tuyệt,
Bất kiến bình an nhất chỉ thư.”
故 鄉 弟 妹 音 耗 絕
不 見 平 安 一 紙 書
(Sơn cư mạn hứng)**
Dịch:
… Đệ muội quê nhà bặt âm tín,
Thư báo bình an chẳng thấy nào!
Từ ly tán cửa nhà, anh em mỗi người mỗi ngả theo sự thăng trầm
của chánh báo và y báo, vì vậy tin tức quê nhà và cả anh em cũng bặt vô âm tín.
Đây là một thứ tình cảm mong muốn được tin nhau, được gặp lại nhau mà không được
nên mang bộ mặt “Cầu bất đắc”, thì sẽ sinh ra khổ đau, từ đó:
“ … Nhất phiến hương tâm thiềm ảnh hạ,
Kinh niên biệt lệ nhạn thinh sơ…”
一 片 鄉 心 蟾 影 下
經 年 別 淚 雁 聲 初
(Sơn cư mạn hứng)**
Dịch:
… Bao năm lệ biệt đầu tiếng nhạn
Một tấm lòng quê nhớ dưới ánh trăng…
Hay:
“ … Ky lữ đa niên đăng hạ lệ,
Gia hương thiên lý nguyệt trung tâm…”
羈 旅 多 年 燈 下 淚
家 鄉 千 里 月 中 心
(Xuân dạ)**
Dịch:
… Bao năm làm khách đèn chong lệ,
Lệ nhỏ dưới đèn, dưới trăng biểu hiện cho hình ảnh cụ Nguyễn
Du đang là người lữ khách sống nương nơi quê người, một thân một mình cô độc
vào những lúc nhớ nhà, nhớ quê, nhớ người thân mà không được toại nguyện trong
việc gặp lại nên phải âm thầm chịu đựng nỗi dày vò thương nhớ khổ đau. Nó là
hình ảnh giải tỏa nỗi nhớ nhung khổ nhục qua giọt lệ âm thầm rơi dưới đèn dưới
trăng; chỉ có đèn và trăng là vật chứng giám nỗi niềm riêng tư cho lữ khách.
Cho dù cụ lúc nào cũng nghĩ nhớ đến quê nhà, nhưng không có cách nào để giải
quyết nỗi nhớ thương đó nên đành chấp nhận nó như chấp nhận nỗi bất hạnh của
chính mình:
“… Hành nhân hồi thủ xứ,
Vô ná cố hương sầu.”
行 人 回 首 處
無 那 故 鄉 愁
(Tái du Tam Điệp sơn)**
Dịch:
“… Người đi quay đầu nhìn quê cũ,
Đành vậy! thương sầu cố hương thôi.”
Đành chấp nhận thân tàn xin gởi quê người, vì thân xác này trở
thành trở ngại cho việc đi đứng trở về thăm quê, nhưng hồn người, tư tưởng người
không phải là vật có chất ngại nên tự do tự tại trong việc đi về thăm viếng cố
hương. Đây cũng là một hình thức để an ủi và chia sẻ làm vơi đi nỗi thương nhớ
vì xa quê:
“… Đỗ vũ nhât thinh xuân khứ hỉ,
Hồn hề quy lai bi cố hương.”
杜 宇 一 聲 春 去 矣
魂 兮 歸 來 悲 故 鄉
(Ngẫu thư công quán bích I)**
Dịch:
… Một tiếng cuốc kêu xuân đã qua,
Hồn ơi về lại, thương cố hương.”
Và cứ như vậy nỗi thương nhớ quê nhà cứ dày vò tâm hồn và
thân xác cụ như vậy là mười năm trường, vẫn là kẻ khách lữ phong trần tha
phương cầu thực, sống bám nhờ vào người, trong khi trên đầu tóc bạc lại bạc
thêm:
“Thập tải phong trần khứ quốc xa,
Tiêu tiêu bạch phát ký nhân gia…”
十 載 風 塵 去 國 賒
蕭 蕭 白 髮 寄 人 家
(U cư II)**
Dịch:
Mười năm gió bụi quê xa cách,
Tóc bạc phất phơ cậy nhà người…”
Mười năm gió bụi khổ đau thương nhớ cũng đủ đề cho cụ nhìn rõ
ra được chân tướng của cuộc đời qua khía cạnh “ái biệt ly” là khổ, “cầu bất đắc”
là khổ. Đây chỉ mới là hai khía cạnh của tám khía cạnh khổ theo đức Đạo sư đã dạy.
Trong thời gian mười năm giang hồ cát bụi và, những năm còn lại trên cõi đời cụ
còn có những nỗi khổ khác nữa được thể hiện qua trong cuộc sống như: Sống, già,
bệnh, tử [2], oán thù đối mặt nhau, năm uẩn không đều
hòa. Đây là những hiện tượng tất yếu phải kinh qua của đời người cho bất cứ một
cá nhân nào hiện hữu thì phải bước qua và, chúng cũng trở thành những nguyên
nhân đưa đến những kết quả khổ đau khác trong cuộc đời mà cá nhân cụ và mọi người
phải gánh chịu: Hoàn cảnh loạn lạc của chiến tranh cũng đưa đến chia lìa chết
chóc người thân, tan nát nhà cửa về gia đình cũng như xã hội về măt kinh tế,
chúng là hậu quả của “Oán tắng hội” sinh ra đau khổ đổ lệ u hoài cho kiếp người;
“… Tang tử binh tiền thiên lý lệ,
Thân bằng đăng hạ sổ hàng thư
Ngư long lãnh lạc nhàn thu da,
Bách chủng u hoài vị nhất sư.”
桑 梓 乒 前 千 里 淚
親 朋 燈 下 數 行 書
魚 龍 冷 落 閒 秋 夜
百 種 幽 懷 未 一 攄
(Bát muộn)**
Dịch:
… Bà con dưới đèn vài tin nhắn,
Quê nhà binh lửa, lệ rơi xa
Đêm thu tịch mịch cá rồng lặng
Trăm mối u hoài một chưa vơi.”
[2] Tử ở đây mang ý nghĩa sống chết
trong từng sát-na một. Chỉ cho sự sống chết thay đổi nhau của những
tế bào để tạo nên sự tiến hóa, kể cả tâm lý thay đổi. Sự thay đổi này chính là
sự sống chết thay nhau trong từng giây từng khắc. Nếu không có sự thay đổi này
thì con người sinh ra lúc nào cũng vẫn là một giọt máu, không có những hiện tượng
trẻ lên ba, trẻ lên mười, để trở thành thiếu niên, thanh niên và cuối cùng già
yếu và chết đi. Ở đây nói đến tính hiện hữu của Duyên khởi tánh không của cuộc
sống.
Ai trong chúng ta không lo không sợ cho những người thân yêu
của mình trước cơn binh lửa nơi quê nhà, khi chúng ta từ nghìn dặm xa không
giúp gì được cho họ, chỉ biết cầu nguyện và dùng nước mắt của mình để tạm vơi
đi niềm đau khổ đang dày vò; trong khi đó cụ ở xa quê cũng phải kiên dè và sợ sệt
lẫn nhau khi ở quê người.
“… Dị hương dưỡng chuyết sơ phòng tục,
Loạn thế toàn sinh cửu úy nhơn …”
異 鄉 養 拙 初 防 俗
亂 世 全 生 久 畏 人
(U cư I)**
Dịch:
… Quê người tỏ vụng phòng thế tục,
Đời loạn luôn sanh sợ mọi người…”
Đây là một kế sống an toàn dành cho những nạn nhân tha hương
của thời thế loạn lạc, kẽo không vô tình sẽ làm đối tượng cho mọi sự đối đầu
thù địch nghi ngờ. Hay chiến tranh loạn lạc cũng có thể đưa người về cõi chết
hay tù tội, điều đó chúng ta không thể nào lường trước được. Ngay bản thân cụ
Tiên điền Nguyễn Du cũng là nạn nhân của tù tội do oán ghét chế độ Tây sơn đang
hiện hữu trước mắt cụ vào lúc bấy giờ mà ra:
“ … Tứ hải phong trần gia quốc lệ,
Thập tuần lao ngục tử sinh tâm …”
四 海 風 塵 家 國 淚
十 旬 牢 獄 死 生 心
(Mỵ trung mạn hứng)**
dịch:
Gió bụi khởi khắp nơi, lệ nước nhà,
Lao ngục mười tuần, lòng lo sống chết …”
Chỉ có ngục tù Nguyễn Du tiên sinh mới có đủ thời gian để ngồi
tư duy suy nghĩ về nỗi sống chết. Con người thì ai cũng có tâm lý ham sống sợ
chết, đó là một thứ tâm lý bình thường, nhưng đối với cụ vì một chút tâm sự
không biết ngõ cùng ai, vì nó sâu thẳm như dòng Quế giang dưới chân núi Hồng
Lĩnh, đó chính là nỗi khổ tâm của cụ:
“… Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ,
Hồng sơn sơn hạ Quế giang thâm.”
我 有 寸 心 無 與 語
鴻 山 山 下 桂 江 深
(Mỵ trung mạn hứng)**
Dịch:
Ta có tấc lòng không biết bày tỏ cùng ai,
Tấc lòng sâu thẳm như thế nào mà không biết đem nó ra để bày
tỏ cùng ai? Cái sâu thẳm ở đây vì nguy hiểm khó nói ra, hay là cái sâu thẳm
không ai dò biết được như đáy dòng sâu Lam dưới núi Hồng? Ở đây đối với cụ Nguyễn
Du chúng ta có thể hiểu theo nghĩa nào cũng được, vì hiện thực một nghĩa và
cũng có thế: “Bất tri tam bách dư niên hậu, thiên hạ hà nhân khấp Tố Như.” Đó
là những nỗi đau của riêng cá nhân cụ Nguyễn Du; nhưng cũng có thể là nỗi đau
chung của mọi người qua kiếp người. Thật ra cuộc đời đâu chỉ giới hạn trong những
trạng huống có thể gây ra đau khổ như vậy đâu (nhơn tai), mà còn nữa: Nào là
cái đau khổ vỉ thiên nhiên (thiên tai) có thể ập đến cho chúng ta bất cử giờ
phút nào:
“… Cố hương hạn cửu phương nông,
Thập khẩu hài nhi thái sắc đồng …”
故 鄉 亢 旱 久 妨 農
十 口 孩 兒 菜 色 同
(Ngẫu hứng IV)**
Dịch:
… Cố hương hạn hán hại nhà nông,
Mười đứa con thơ mặt xanh rờn…
Một thân một mình nơi tha hương đất khách, nhưng cụ vẫn canh
cánh bên lòng về mười đứa con thơ tại quê nhà lâm vào thiên tai hạn hán mất
mùa, không đủ cái ăn cái mặc, thân thể xanh như lá rau, không sắc tố hồng cầu
do thiếu ăn. Và có gì đau khổ lo lắng hơn khi thân đang mang bệnh nặng nằm liệt
giường, còn phải lo cái ăn cho mười miệng trẻ đang đói chờ ăn từ nơi quê nhà
đang réo gọi nữa!
“… Thập khẩu đề cơ hoành lĩnh bắc,
Nhất thân ngọa bệnh đế thành động …”
十 口 啼 饑 橫 嶺 北
一 身 臥 病 帝 城 東
(Ngẫu đề)**
Dịch:
… Mười miệng đòi ăn, bắc hoành sơn,
Một thân nằm bệnh, đông kinh thành …
Một thân một mình nơi đất khách lại bị bệnh, người thân không
có, bạn bè mới nơi ở cũng không nhiều nên đành âm thầm chịu đựng với con bệnh
cũ dằn dai, cô đơn buồn khổ trong những ngày xuân:
“Trường đồ nhựt mộ tân du thiểu,
Nhất thất xuân hàn cựu bệnh đa…”
長 途 日 暮 新 遊 少
一 室 春 寒 舊 病 多
(U cư II)**
Dịch:
Đường dài chiều tối, bạn mới ít,
Xuân lạnh một nhà bệnh cũ mang…
Trong khi sống nơi đất khách quê người thân thì nhiều bệnh tật,
tâm thì lúc nào cũng buồn bực, nhưng khi cụ đã về lại quê nhà rồi mà bệnh tật
càng ngày càng tăng chứ không giảm và nỗi buồn đau cũng theo đó mà tăng thêm,
càng ngày bệnh càng trầm trọng hơn:
“Đa bệnh đa sầu khí bất thư,
Thập tuần khốn ngọa Quế giang cư …”
多 病 多 愁 氣 不 舒
十 旬 困 臥 桂 江 居
(Ngọa bệnh I)**
Dịch:
Mười tuần nằm khổ bên sông Quế
Không có buồn nào bằng cái buồn người bị bệnh nặng mà không
người chăm sóc hỏi han và, như vậy bệnh càng nặng hơn. Nhiều lúc buồn quá cụ
Nguyễn Du phải nghĩ đến làm sao tìm loại thuốc tiên nào để cụ uống cho mau lành
bệnh, hoặc xin thấy được ánh sáng vi diệu hiển hiện chiếu xuống cõi trần gian
phá tan màng u ám cho nhân loại được nhờ:
“… Thập niên túc tật vô nhân vấn,
Cửu chuyển hoàn đan hà xứ tầm.
An đắc huyền quang minh nguyệt hiện,
Dương quang hạ chiếu phá quần âm.”
十 年 夙 疾 無 人 問
九 轉 還 丹 何 處 尋
安 得 玄 關 明 月 見
陽 光 下 照 破 群 陰
(Ngọa bệnh II)**
Dịch:
Mười năm tật bệnh không người hỏi,
Tìm đâu thuốc tiên luyện chín lần?
Mong hiện ánh sáng trăng màu nhiệm,
Ánh dương chiếu xuống phá quần âm.
Qua những bài thơ trích đoạn ở trên, chúng tôi chỉ trích ra một
ít trong những số bài thơ chữ Hán được cụ Nguyễn Du gởi gắm tâm sự của mình vào
những khổ đau buồn thương nỗi nhớ mà cụ đã trải qua trong những biến động của
gia đình trong loạn lạc chia ly, nhà tan cửa nát, con thơ nheo nhóc đói khổ,
thiên tai hạn hán, chiến tranh, tù tội, tật bệnh vây quanh suốt kiếp người cụ
Nguyễn Du cũng như mọi người trong chúng ta. Chúng là những nguyên nhân đưa đến
khổ đau cho nhân thế. Ở đây là những nguyên nhân trực tiếp giáng xuống đầu người,
chúng có thể nhìn thấy rõ được:
“Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên,
Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên.
xuân lan thu cúc thành hư sự,
hạ thử đông hàn đoạt thiếu niên.”
壯 士 白 頭 悲 向ẻ 天
雄 心 生 計 兩 茫 然
春 蘭 秋 菊 成 虛 事
夏 暑 冬 寒 奪 少 年
(tạp thi I)**
Dịch:
Nhìn trời tráng sĩ buồn đầu bạc,
Kế sống, hùng tâm vẫn mịt mờ.
Xuân lan thu cúc thành chuyện huyễn,
Hạ nóng đông hàn cướp tuổi hoa.”
Những điều đó cụ Nguyễn Du cũng không ngoài ngoại lệ. Cụ buồn
đau vì chí lớn, kế sống riêng cá nhân mình vẫn còn mờ mịt, cộng thêm gia đình
ly tán mỗi người vì miếng cơm manh áo mà phải lầm than phiêu bạc khắp nơi nên đầu
đã bạc lại bạc thêm. Đây là những điều mà chính Nguyễn Du tiên sinh đang kinh
qua và chứng kiến trong chính cuộc đời của cụ, nỗi khổ đau buồn lo đến đỗi mới
ba mươi tuổi mà đầu đã bạc trắng, trong khi công danh sự nghiệp chưa thành qua
bài thơ “tự thán” cụ viết;
“Sinh vị thành danh thân dĩ suy,
Tiêu tiêu bạch phát mộ phong xuy.”
生 未 成 名 身 已 衰
蕭 蕭 白 髮 暮 風 吹
(Tự thán I)**
Dịch:
Sống chưa thành danh thân đã suy
Chính vô thường mang lại cho chúng ta cái khổ đau. Qua đó, vì
tâm tư ý nghĩ vô thường luôn luôn thay đổi (tâm vô thường), vì hoàn cảnh hiện
tượng, vật chất chung quanh cuộc sống chúng ta vô thường luôn thay đổi (vật vô
thường) chúng ta không giữ được, nên sinh ra đau khổ cho mọi người như chúng ta
đã thấy qua những lời dạy của đức Đạo sư. Nguyễn Du tiên sinh thời gian nương
nhờ nơi Quỳnh Hải, Cụ đau lòng khi nhìn đám cỏ xanh nơi quê người khi mùa xuân
đến mà liên tưởng nhớ về Nam Phổ, nhìn nụ hàn mai mà nghĩ đến mùa xuân qua bài
Xuân nhật ngẫu hứng.
“… Nam phố thương tâm khan lục thảo,
Đông hoàng sinh ý lậu hoàng mai ...”
南 浦 傷 心 看 綠 草
東 皇 生 意 漏 寒 梅
(Xuân nhật ngẫu hứng)**
Dịch:
Nhìn cỏ xanh thương tâm Nam Phổ,
Nhú mai vàng chớm ý Đông Quân…
Nhưng còn những nguyên nhân gián tiếp mà chúng ta trong nhất
thời khó hình dung ra được, đối với Cụ, Cụ nhìn thấy tất cả từ hiện tượng bên
ngoài đến bản chất bên trong, đó chính là vô thường biến hoại, là thủ phạm
chính cho mọi bất toàn trong cuộc sống của chúng ta, tạo ra không biết bao
nhiêu là khổ nạn cho kiếp người:
“… Cổ kim vị kiến thiên niên quốc,
Hình thế không lưu bách chiến danh.
Mạc hướng thanh hoa thôn khẩu vọng,
Điệp sơn bất cải cựu thời thanh.”
古 今 未 見 千 年 國
形 勢 空 留 百 戰 名
莫 向 清 華 村 口 望
疊 山 不 改 舊 時 青
(Vị Hoàng doanh)**
Dich:
Nước nghìn năm xưa nay chưa thấy,
Hình thể mất, còn danh trăm trận.
Đừng ngóng nhìn thôn Thanh Hoa nữa,
Điệp sơn như ngày nào vẫn xanh.
Triều đại nào tồn tại nghìn năm chúng ta chưa thấy! Ngay đến
doanh trại Vị Hoàng ngày xưa là nơi đóng quân trấn giữ đời nhà Lê; nhưng nay
hình thể quân trại không còn nữa, mà chỉ còn trên cái danh là nơi xưa kia đã từng
xảy ra trăm trận chiến thôi. Đừng nhìn những cảnh đổi thay đó nữa mà hãy nhìn rặng
Điệp sơn vẫn còn xanh như ngày nào! Bản chất của màu xanh thì không bao giờ
thay đổi, nhưng chỉ thay đồi nơi hiện tượng hình dáng bên ngoài thôi. cũng giống
như Triều đại thì có thể thay vua đổi chúa, thay đổi chế độ, chứ còn dân tộc đất
nước thì muôn đời không đổi vì nó là bản chất. Trong cuộc sống có những thay đổi
bình thường về hình thức chúng ta thấy được, nhưng cũng có những biến đổi tinh
thần chúng ta không nhìn thấy được, vì nó thuộc về vô hình. còn hiện tượng thì
luôn tùy thuộc vào thời gian mà thay đổi như:
“ Đào hoa đào diệp lạc phân phân,
Môn yềm tà phi nhất viện bần.
Trú cửu đốn vong thân thị khách,
Niên thâm cánh giác lão tùy thân…”
桃 花 桃 葉 落 紛 紛
門 掩 斜 扉 一 院 貧
住 久 頓 忘 身 是 客
年 深 更 覺 老 隨 身
Dịch:
Hoa lá cây đào rơi lác đát,
Nhà nghèo cổng đóng cửa liêu xiêu.
Ở lâu quên hẵn mình là khách,
Năm tháng càng qua thân càng già…”
Những hiện tượng như lá đào hao đào, cổng đóng, cửa liêu xiêu
chúng ta có thể dùng mắt để thấy được cái thay đổi của nó; nhưng thời gian qua
đi thì chúng ta khó mà hình dung được sự thay đổi này trong nguyên nhân, mà chỉ
nhìn được qua kết quả của nó chúng ta mới nhận thấy được sự thay đổi của chúng.
Thời gian vô thường đã tác hại và biến hoại tất cả từ con người đến mọi vật
xung quanh trong cuộc sống, không gì là không bị lệ thuộc vào chúng: Hoa lá cây
trái, nhà cửa, thân người nói chung là chỉ cho vật chất vật lý v.v… không gì
không bị biến hoại thay đổi:
“Thập tải trần ai ám ngọc trừ,
Bách niên thành phủ bán hoang khư…”
十 載 塵 埃 暗 玉 除
百 年 城 府 半 荒 墟
(Bát muộn)**
Dịch:
“Mười năm bụi phủ mờ thềm ngọc,
Thành quách trăm năm nửa hoang tàn…”
Hay:
“…Thành quách suy di nhận sự cải,
Kỷ xứ tang điền biến thương hải…”
城 郭 推 移 人 事 改
幾 處 桑 田 變 滄 海
(Long Thành cầm giả ca)**
Dịch:
Thành quách đổi thay việc người đổi,
Bao cảnh ruộng dâu biến biển khơi…
Vô thường biến đổi luôn tạo ra những cú sốc đau cho những người
cố chấp luôn muốn sở hữu mọi thứ về cho mình, cho bản ngã, cho cái ta trường tồn
bất diệt mà nuôi lớn lòng tham lam, sân hận, si mê; biến chúng ta thành những kẻ
nô lệ cho chúng mà đẻ ra không biết là bao nhiêu đau khổ đắng cay cho chúng ta,
nhưng cuối cùng chúng ta sẽ được gì khi chúng ta nhắm mắt buông tay, cũng chỉ
hai bàn tay trắng. Nguyễn Du tiên sinh đã nhìn ra được bản chất của mọi sự vật
là vô thường mang đến khổ đau nên đã khuyên chúng ta:
“Cổ thời minh nguyệt chiếu tân thành,
Do thị Thăng Long cựu đế kinh.
Cù hạn tứ khai mê cựu tích,
Quản huyền nhất biến tạp tân thanh.
Thiên niên phú quý cung tranh đoạt,
Tảo tuế thân bằng bán tử sinh.
Thế sự phù trầm hưu thán tức,
Tự gia đầu bạch diệt tinh tinh [1]”
古 時 明 月 照 新 城
由 是 昇 龍 舊 帝 京
衢 巷 四 開 迷 舊 跡
管 弦 一 變 雜 新 聲
千 年 富 貴 供 爭 奪
早 歲 親 朋 半 死 生
世 事 浮 沈 休 嘆 息
自 家 頭 白 亦 星 星。
(Thăng Long 2)
Thành mới trăng xưa bóng tỏ mờ
Thăng Long nghìn trước chốn kinh đô
Dấu xưa khuất lấp đường xe ngựa
Ðiệu mới xô bồ nhịp trúc tơ
Danh lợi mồi ngon đua cướp giựt
Bạn bè lớp trước sống lưa thưa
Nổi chìm thế sự đừng tham nữa
Mái tóc mình đây cũng bạc phơ
Danh lợi quyền lực là những món mồi khá hấp dẫn đối với những
ai ham danh lợi và quyền lực; rốt cuộc những thứ đó cuối cùng cũng để nuôi lớn
lòng tham lợi, tham danh, tham quyền lực nuôi lớn bản ngã chúng ta mà thôi.
Nhưng có ai trong chúng ta được cái này rồi mà không muốn đạt được cái nhiều
hơn, cao hơn để bỏ đầy túi tham của mình không? Tâm lý thông thường của chúng
ta là “được voi đòi tiên,” hay “đứng núi này trông núi nọ”, cũng với mục đích
là để thõa mãn lòng thanh danh, tham lợi, muốn biến mọi vật chung quanh thuộc về
sở hữu cá nhân mình, gia đình mình … Nhưng càng chạy theo nó thì những khổ nhọc
cay đắng càng theo sau và, những oán đối củng tùy theo đó mà hình thành tạo
thành nghiệp nhân oán đối với tha nhân theo sau đó. Chúng ta còn được gì sau
khi nhắm mắt xuôi tay? cũng chỉ:
“… Bá đồ dẫn diệt thiên niên hậu,
Cổ mộ hoàn lương tam xích thu…”
伯 圖 泯 滅 千 年 後
古 墓 荒 涼 三 尺 秋
Dịch:
Mộ xưa ba thước thu cỏ lạnh
Nghiệp bá tan tành sau nghìn năm.














Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét