Từ đây người biết thương người
Nhà văn Nguyễn Quang
Thân
Thời Báo Kinh Tế Sài
Gòn, Xuân 2012
Hễ cứ Xuân về là tôi lại ngậm ngùi nhớ Văn Cao và bài hát Mùa
Xuân Đầu Tiên, nhạc phẩm cuối cùng sau mấy chục năm anh bặt tiếng. Ô hay,
người nhạc sĩ nếu có gọi là thiên tài cũng không có gì quá đáng, đã cho đời
nhiều tuyệt phẩm lãng mạn như Buồn tàn thu, Thiên Thai, và cả những
hùng ca được cả nước hát và thuộc nằm lòng sau cách mạng Tháng Tám 1945 như Tiến
quân ca, Thăng Long hành khúc ca, Trường ca sông Lô, Tiền về Hà Nội… đã đặt
tay lên chiếc dương cầm cũ kỹ và thề rằng sẽ không bao giờ viết ca khúc nữa là
sao?
Những năm 70, 80 thế kỷ trước tôi làm tạp chí Cửa Biển ở Hải Phòng. Tên tạp chí
được gơi ý từ một trường ca về Hải Phòng của anh Văn Cao (Những người trên Cửa
Biển - 1956). Tự hứa ngừng viết ca khúc với tâm trạng đau đớn, không biết
cógiống với Ba Nha khi đặt cây Dao cầm lên đá mộ Tử Kỳ đập vỡ tan tành, nhưng
dù sao lời thề của Văn Cao cũng bắt chúng ta nhớ lại chuyện đôi bạn tri kỷ ấy.
Có lẽ những năm đau khổ nhất của đời Văn cao là những năm tháng thiếu tri kỷ.
Anhkhông tiếp tục dòng ca khúc lãng mạn lẫn bi hùng của mình, nhưng thơ của anh
trong giai đoạn có thể gọi là tai ương ấy vẫn ngân lên với Hải Phòng quê
hương.“Sinh ra tôi đãcó Hải Phòng/Đầu nhà mới trồng cây mận/Bãi sú bồi thành
bến/Nhà máy xi măng đã dựng ven sông…” Và tình yêu của anh dành cho thành
phố Cửa Biển tri kỷ hầu như còn nguyên vẹn: “Tôi yêu Hải Phòng như Việt Nam
nhỏ lại/ Tôi yêu Việt Nam như tôi biết yêu tôi”. Hải phòng với “kíp thợ
đêm lê về đến xóm/ nghe rét mùa đông nổi cuối sông” và anh vẫn nhớ về những
năm tháng thuở “nguyên phong” Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa:“ những năm đầu
chính quyền cách mạng/ giấc mơ của Hải Phòng/ như bóng cò trắng bay về lòng tôi
thuở nhỏ”. Với những con người Hải Phòng gần gũi anh là giới cầm ca: “có
người hàng năm mặt trời không thấy mọc/ khép đùi xếp phách tiễn đêm đi/ hôm nay
ngồi chép bài ca mới/ hương cốm mùi rơm ngát giếng đình”.
Tình yêu Hải Phòng của Văn Cao, cái giận hờn của Văn Cao không
như của Nguyễn Đình Thi, nhà thơ cùng sinh ra ở thành phố Cảng như anh. Nhớ
mộtchiều tháng Chạp, đang rộn rịp làm báo Tết thì anh Thi ghé qua chơi, anh về
Hải Phòng thăm bà cụ và ông em đang ốm, Xin bài cho số Tết, anh bảo đưa bút
giấy ra đây rồi ngồi xuống chép cho tạp chí một bài thơ. Bài Nhớ Hải Phòng, thơ
hay, có máu chảy bên trong các vần chữ. Giai đoạn đó anh Thi tuy vẫn oai phong
trên lưng ngựa nhưng đang gặp rắc rối với mấy vở kịch nên cũng rất “tâm trạng”.
Nhưng tâm trạng của anh Thi cũng rất khác. Tôi nhớ được bốn câu trong bài thơ
ấy: “Nơi ấy đã cho ta mơ ước/ Cho ta suy nghĩ buổi ban đầu/ Nơi ấy bao lần
ta đã khóc/ Ta đã khinh, đã giận làm sao!” Tôi chợt nẩy ra ý nghĩ: bài thơ
này mà in kèm theo một hình nền của anh Văn thì tuyệt. Tôi gửi bài thơ cho anh
Văn Cao xin minh họa, nhưng chờ mãi vẫn không thấy anh trả lời. Phải chăng vì
cái yêu cái giận cái khinh của anh khác với anh Thi?
Mỗi lần anh về, dù ngồi trên chuyến tàu chợ một trăm cây số mà
nhiều khi mất trọn cả ngày, hay quá giang trên chiếc U-át của ai đó, hay có dịp
hiếm hoi được xe HP lên đón về như thượng khách, thì đó luôn là một sự kiện,
ítnhất cũng trong giới trí thức, văn nghệ sỹ đất Cảng. Nhiều bài hát hay nhất
củaanh không được dựng, được hát trên sân khấu, trên đài phát thanh, nhưng mỗi
lần anh về lại Hải Phòng là Thiên Thai, ĐànChim Việt hay Chiến
sĩ Việt Nam lại ngân lên trong lòng và trên miệng mỗi ai từng là fan
của Văn Cao “từ thuở ban đầu lưu luyến ấy” của cách mạng. VớiVăn Cao, không chỉ
Văn Cao mà cả Dương Bích Liên, Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái cũng vậy, Hải Phòng
và người Hải Phòng luôn là nguồn an ủi lớn. Không phải do tiền bạc, hay do thứ
rượu Thủy Nguyên trong vắt, đắm say cùng đặc sản biển chất đầy chợ Cố Đạo luôn
hào phóng chào đón theo cách của dân Cảng trọng nghĩa khinhtài, trọng “tài”
khinh tiền, không phải sự hâm mộ hư danh, vụ lợi nào. Mà vì tìnhthương yêu của
người Hải Phòng, của bạn bè cũ mới, của cả những người chưa từng là bạn bè. Tình
thương yêu ấy chắc anh cảm nhận được rõ ràng khi đặt chân lênmặt đất thành phố
quê hương, đã có sức hút mãnh liệt. Nói cho ngay, những năm tháng ấy,
anh sống “không chỉ bằng bánh mì” dù bánh mì anh cũng phải hụt hơimới kiếm ra,
mà bằng tình thương yêu của con người. “Dân không thương thì mình chết từ
lâu rồi!”. Ít nhất đã có ba người nói với tôi câu đó là anh Phùng Quán,anh
Nguyên Hồng và anh Văn Cao.
Con người luôn ở hàng đầu trong ký ức mọi người nhờ những
tuyệtphẩm âm nhạc và bài Quốc ca, người nhạc sĩ mà Trịnh Công Sơn tụng ca như
là “một ông hoàng sang trọng, làm ra thứ âmnhạc của thần tiên bay bổng”
người mà Phạm Duy vui vẻ thừa nhận là “thấp bé hơn tôi, khép kín hơn tôi,
nhưngtài hoa hơn tôi nhiều”, cây sáo đại của nền tân nhạc Việt im tiếng
nhiều năm vì những lý do ai cũng biết mà không tiện nói ra ấy, bỗng đột nhiên
ngồi vào piano vào một ngày lạnh giá ở phố Yết Kiêu Hà Nội. Và ông đã cùng cây
đàn cất lên âm thanh và ca từ cho một ca khúc mà đến nay, hơn ba mươi năm sau,
giữa mùa xuân đang về của thập kỷ thứ hai thế kỷ 21, vẫn làm ta rưng rưng khi
nghe lần nữa Thanh Thúy, Ánh Tuyết hay tự mình nghêu ngao dù sai làn, lạc chữ.
Nhà thơ Văn Thao con trai ông nhớ lại: “ Ngày 30- 4 - 1975 đất nước
hoàn toàn thống nhất, cả dân tộc reo vui. Văn Cao im lặng. Chỉ thấy đôi mắt ông
sáng lên lấp lánh. Có một cái gì đó đang chuyển động trong đầu. Một âm thanh mơ
hồ, mỏng mảnh như làn khói thoảng qua. Một tiếng gà gáy mênh mang. Một tia nắng
lấp lánh...Và một cánh én. Những âm thanh, những hình ảnh chập chờn trong đầu ông
rồi lại tan biến. Những khuôn mặt bừng sáng. Những nụ cười rạng rỡ. Những giọt
nước mắt sung sướng bên những ly rượu tràn đầy vàcó cả những khuôn mặt, một
thời không dám bước chân đến căn gác nhỏ này vì sợ“bị vỗ vai”. Văn Cao đã sáng
tác xong ca khúc MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN vào đúng dịptết Bính Thìn”.
Văn Thao không viết ra nhưng ai cũng hiểu, ca khúc tuyệt vời
nàylà trầm tích của tình yêu thương con người lắng đọng sau hơn nửa năm im lặng
từnhững ngày 30/4 đáng nhớ ấy. Và “mùa xuân đầu tiên” đã có sức mạnh hóa giải
lờinguyền “không tiếp tục viết ca khúc nữa” của nhạc sĩ tài ba.
Từ mùa xuân đầu tiên, mùaxuân mơ ước ấy với khói bay trên sông,
gà đang gáy trưa bên sông, với người mẹ nhìn đàn con nay đã về, với nước mắt
trên vai anh, với những phút giây đang long lanh. Và tuyệt vời hơn hết thẩy,
sâu thẳm hơn hết thẩy cái cảnh cái tình bên ngoài là dòng suối nhân văn, dòng
suối tình người chảy bên dưới, lúc trầm lắng, lúc ào ạt trong tâm hồn, trong
huyết quản của mỗi ai từng chialy, từng đau khổ, cõi người xác xơ vì sự ghẻ
lạnh nhân thế nơi này nơi khác, củanhững ai đã vì nghĩa lớn mà từng dấn thân,
chấp nhận điều khó chấp nhận nhất củađời người là chiến tranh. Cho nên trong “mùa
xuân đầu tiên” không thể nào quên của những ngày tháng 1975 ấy, không có gì
lạ khi vỡ òa lên trong anh, trênnhững phím đàn của anh những lời hân
hoan đáng giá nhất ca ngợi hòa bình khi người mới biết quê người, người biết
thươngngười và người biết yêu người…Cả dân tộc làm nên mùa xuân đầu tiên
nhưngngười nhạc sĩ tài năng đã nhấn đúng từng sợi giây đàn nhạy cảm trong tâm
hồn củamỗi người Việt, năm ấy và đến cả bây giờ. Vì đó cũng chính là nỗi niềm,
là kinh nghiệm sống của chính anh.
Có lẽ tất cả người Việt Nam, dù trong cuộc chiến đứng ở tuyến
nào, nơi nào đều có cùng tâm trạng, sau hàng trăm năm mất nước, lạc nòi, sau
mấy chục năm chiến tranh tàn khốc, điêu linh, mong mùa xuân đầu tiên năm Bính
Thìn ấy thực sự là một mùa xuân hội tụ. Vượt lên trên những đau khổ ngút trời
củacuộc chiến tranh 30 năm đằng đẵng, còn niềm vui nào lớn hơn hòa bình và
đấtnước bị chia cắt đã liền một giải?
Hơn ba mươi năm từ độ ấy, mỗi lần nghe Mùa Xuân đầu tiên, tôi
lại cất cái kính lão xuống, dụi những giọt nước mắt không muốn vẫn cứ chảy ra,
rờicái màn hình vô cảm nhưng lại đầy ắp nỗi niềm nhân thế, vui có buồn có, đau
khổ, tội ác, nghèo đói và cả chiến tranh đây đó nữa. Ngả vật ra vì mệt mỏi, tôi
lẩm nhẩm theo lời bài hát và tự hỏi: “ Liệu mình đã biết thương người,
liệu mình đã biết yêu người hay chưa?”





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét