Năm 1995, tôi ở căn phòng gần hai chục mét vuông
gầm cầu thang tầng trệt chung cư 190 Nam kì khởi nghĩa, quận 3, Sài
Gòn, nơi mà cả ngày không có một chút ánh sáng trời. Nghe anh bạn cùng chung
cư mách rằng nhà thơ Diệp Minh Tuyền đang rao bán căn phòng lầu 6, tôi mua
luôn. May quá, vì căn phòng lầu 6 của tôi có hai láng giềng rất tin cậy và nổi
tiếng: Căn bên trái cầu thang là phòng vợ chồng Nhà thơ Lê Giang- Nhạc sĩ Lư
Nhất Vũ, rẽ phải là phòng Nhà thơ Hoài Anh, rồi đến phòng tôi.
Nói Hoài Anh là Nhà thơ là nói cho gọn. Ông còn
là nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình văn học, nhà báo nữa. Đây là những cái
“nhà” đúng nghĩa, đẹp, sang trọng, lịch lãm, không ai có thể hiểu khác đi được.
Ông còn tuyển dịch thơ Anh, Pháp, thơ Đường. Gần đây nhất là hai tác phẩm Bảy
thế kỷ thơ tình Pháp (NXB Tổng hợp Đồng Nai, 2001) và Một trăm bài thơ Đường (NXB
Đồng Nai, 2001). Trước năm 1975, khi chưa vào định cư Sài Gòn, ở Hà Nội, ông
còn viết cả kịch, chuyển thể kịch bản cải lương. Năm 2003, ông được giải A về
nghiên cứu phê bình của Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam. Tờ Tuổi trẻ Chủ
nhật TP. Hồ Chí Minh có hồi nhờ ông giữ mục Nhịp cầu tri thức. Đó là chuyên mục
giải đáp những câu hỏi cắc cớ của bạn đọc, kiểu tại sao lại gọi là con ông
cháu cha mà không gọi là con cha, cháu ông. Hồi đó chưa có cái công cụ tìm kiếm
Google như bây giờ…
Một bữa nọ Hoài Anh tặng tôi tập thơ tình Thơ - Thư (NXB Trẻ, 2002). Tôi mở sách ngẫu nhiên, trúng ngay bài thơ Đêm, vỏn vẹn
hai câu:
Tôi bị ban ngày đánh tử thương
Nhắm mắt vào đêm tôi sống lại.
Phải nói Hoài Anh bị chữ nghĩa hành hạ. Chữ nghĩa
như một thứ bùa ngải, thứ thuốc gây nghiện, một con ma ở trong người ông. Ông
làm việc như một cái máy từ 9 giờ đêm đến 5-6 giờ sáng hôm sau, nhiều ngày liền
như thế. Đêm khuya thức dậy, bao giờ tôi cũng nghe tiếng cóc cóc từ cái máy
chữ cổ lỗ sĩ của ông. Ông dùng mẩu bút chì, cán bút bịt giẻ chọc nhoay nhoáy
xuống các phím chữ, kiểu mổ cò. Ông bảo gõ bằng các ngón tay nhanh mệt tim lắm,
đánh thế này đỡ hơn. Tôi nhìn những tập bản thảo của ông, toàn là những tờ giấy
người ta đã dùng một mặt. Nét chữ ông gõ đậm nhạt không đều, có đoạn ông phải
dùng bút mực dặm lại, rất khó đọc. Nghe đâu, ông nhặt ở nhà in thứ mực người
ta loại bỏ về nhuộm lại các băng mực để dùng.
Hoàn cảnh ông khá đặc biệt. Ông ở một mình, ăn uống,
sinh hoạt, đi lại hoàn toàn theo tùy hứng văn chương.
Có bận tôi hỏi ông:
- Bác sinh hoạt giờ giấc ăn uống như vậy, làm sao
đảm bảo sức khỏe?
Ông bảo:
- Quen, quen rồi. Cơm thì nấu nồi điện, một lon gạo
ăn cả ngày mới hết. Đói lúc nào ăn lúc ấy. Thức ăn thì hâm lại. Ăn bao nhiêu
đâu em.
Ông chỉ có một chiếc tủ áo bằng gỗ cũ mọt, cánh cửa
đã xệ, để chứa sách. Chiếc giường một duy nhất cũng chất đầy sách. Còn ông
thì ngủ không cần mùng trên chiếc salon rách, thiếu một chân, kê bằng một chồng
gạch. Có lẽ ông là người duy nhất ở Việt Nam không coi tivi, nghe
đài. Mỗi sáng đi làm qua phòng ông, tôi thấy ông cởi trần nằm cò queo, cửa mở
toang. Ông chỉ khóa cửa khi xuống phố.
Nhưng ông cũng ít xuống phố. Hình như ông cũng ít
bè bạn thì phải. Ấy là tôi nghĩ thế, vì ít thấy khách tới thăm ông. Thời buổi
@ này, một người không thích ăn nhậu, đàn đúm chỗ đông người, không thích
đăng đàn diễn thuyết, không thích tranh luận văn chương, hồn nhiên với cái
nghèo như ông thì ít bạn cũng là cái sự không có gì lạ.
Ông hồn nhiên đến độ không biết một mớ rau muống,
một kí gạo giá chừng bao nhiêu. Ông đến chợ đưa tiền ra, người ta trả lại bao
nhiêu, đòi thêm bao nhiêu, kệ, ông cứ xách gạo muối lững thững đi bộ về nhà.
Khả năng đi bộ của ông có thể sánh ngang với nhà
văn Sơn Nam. Hoài Anh không biết đi xe đạp, càng không biết đi xe gắn
máy. Ông còn giỏi hơn ông Sơn Nam ở môn leo lầu. Gần 70 tuổi, ông
lên 6 tầng lầu một mạch, có người lắc đầu le lưỡi. Trong nhiều lí do ít người
tới thăm ông, có thể thêm lí do người ta ngại leo sáu tầng lầu cũng có. Ông
không có máy điện thoại bàn, không dùng điện thoại di động, ai dám khẳng định
là leo lên tới nơi sẽ gặp được ông.
Đã có những vị khách nhiệt tình lên phòng ông rồi
lặng lẽ gài lại mảnh giấy ở cửa. Có người sang phòng tôi để gửi lại lời nhắn
cho ông. Mãi sau này tôi mới biết vài người siêng leo lầu ấy là những đầu nậu
sách. Họ siêng vì thích làm việc với người cả tin, cả nể, không bao giờ to tiếng
như ông. Tôi đã từng nhìn thấy những cuốn sách trinh thám, sách truyện kinh dị,
truyện không nên đọc đêm khuya, ông dịch từ tiếng Pháp, tiếng Anh, có thể do
các đầu nậu ấy in chăng.
Một bữa tôi bảo ông:
- Em sẽ nối từ máy để bàn nhà em thêm một máy
sang nhà bác để bác dùng cho tiện.
Ông vui lắm. Nhưng lại sinh ra một cái bất tiện
khác, ấy là ông luôn để kênh máy nên nhiều cuộc gọi đến cho ông và cả cho tôi
không nhận được.
Lần khác tôi sang nhà ông chơi, ông than phiền
máy bơm nước bị hư từ hôm qua, không có nước pha trà. Thôi chết, tôi chạy vội
về kéo ống dọc hành lang phía sau nhà, từ bồn nước nhà tôi đến cái chum của
ông. Chỉ một loáng, chum đầy nước.
- Bác cứ dùng thoải mái, hết thì mở khóa vòi đầu ống
này nhé.
Vậy mà một ngày sau tôi sang, đột nhiên ông hỏi:
- Máy
bơm nhà em cũng hư à?
Tôi chạy vội ra chum nhà ông. Khô queo. Chao ơi,
ông vắt cái ống dẫn nước lên sào phơi, cao hơn bồn nước nhà tôi gần cả mét rồi
mới thõng đầu vòi xuống chum. Thế này thì thôi rồi, tôi… chịu ông.
Ấy thế mà nói đến thơ văn thì ông không hề đãng
trí tí nào. Trông ông hoạt hẳn lên, thông thái lạ thường. Ông như một cuốn từ
điển sống. Các tác giả lớn Đông Tây kim cổ ông nói vanh vách. Vốn kiến thức
phong phú ông có là do tự học hoàn toàn, không hề kinh qua trường lớp nào cả.
Ông bảo việc tự học với ông, giống như lượm mót, chậm nhưng chắc chắn, tùy
nhu cầu, sở thích mà lựa chọn, nhặt nhạnh cất giữ làm của để dành. Kiến thức
giảng đường khuôn phép thật, nhưng bắt buộc phải học rất nhiều điều không thiết
thực, phải học thuộc lòng. Thi cử xong rơi vãi vô khối.
Ông bảo năm 1946, ông theo kháng chiến lúc chưa đủ
tuổi, phải khai tăng. Vậy mà khi trở về tiếp quản Thủ đô 1954, ông đã trở
thành Nhà thơ với những câu thơ hay bât ngờ. Ngay cả bây giờ cũng vẫn là những
câu thơ mới lạ, hiện đại:
Một người bạn tôi gặp trong đêm ấy
Ra phố mua một bao thuốc lá
Chín năm sau anh mới trở về nhà
Ta mang ba mươi sáu phố phường đi kháng chiến
Chín năm rừng lòng vẫn nhớ Thủ đô.
Hoài Anh là người đa tài và có một sức sáng tạo
nghệ thuật dồi dào bền bỉ hiếm có. Ông đã xuất bản chín tập thơ, ba tập tiểu
luận phê bình văn học, trong đó đáng nể nhất là cuốn Tiểu luận Chân dung Văn
học( NXB Hội Nhà văn,2001). Ông viết trong sáu năm ròng( 1995–2001), gồm 1500
trang, với 114 chân dung văn học, từ Trương Vĩnh Ký giữa thế kỷ 18 đến Lê Anh
Xuân, Nguyễn Mỹ thời kháng chiến chống Mỹ. Cuốn sách là nguồn tư liệu phong
phú, rất cần thiết cho những người yêu mến văn học sử nghiên cứu, tra cứu.
Năm 2006, ở tuổi bảy mươi, Hoài Anh đã làm sửng sốt
bạn đọc. Nhà xuất bản Văn học đã lập kỷ lục in liền một lúc 16 tập tiểu thuyết
về đề tài lịch sử của ông( Trong tổng số 20 tập). Ông bắt đầu viết bộ tiểu
thuyết đồ sộ này từ năm 1965. Thế là 20 thế kỷ lịch sử dân tộc Việt Nam được
ông viết lại, mỗi cuốn ứng với một thế kỷ. Bắt đầu từ thế kỷ thứ nhất, thời
Hai Bà Trưng đến cuối thế kỷ thứ 20, thời đổi mới.
Bốn mươi lăm năm, già nửa đời người ông theo đuổi
đến kiệt sức để hoàn thành một bộ tiểu thuyết lịch sử có một không hai. Tự
nhiên tôi chợt nhớ đến câu “Hữu xạ tự nhiên hương” mà cám cảnh cho hoàn cảnh
của ông. Ngày nay, mọi sản phẩm dù tối ưu đến đâu, một chương trình nghệ thuật
dù hàn lâm đến đâu, nhà sản xuất kinh doanh cũng dành ít nhất 20-30% trong tổng
số tiền đầu tư cho quảng cáo. Sự quảng cáo giống như một trận đánh, nên người
ta mới hay dùng cụm từ Chiến dịch quảng cáo. Vậy mà tôi chưa được nghe dư luận
khen chê, cũng chưa được biết có một cuộc hội thảo tầm cỡ, qui mô nào của
ngành văn, ngành sử về tác phẩm này của Hoài Anh cả. Đó là một thiệt thòi cho
những tài năng như ông và cho cả bạn đọc nữa.
Cách nay chừng hai tháng, một anh bạn nhà thơ đã
lớn tuổi, rất ”mê” Hoài Anh, gọi điện cho tôi hỏi rằng:
- Ông đã nhận được phiếu thăm dò chỗ ông Hữu Thỉnh
gửi đề cứ các nhà văn vào danh sách Giải thưởng Nhà nước, Giải thưởng Hồ Chí
Minh về văn học nghệ thuật chưa? Nếu nhận rồi thì ông phải nhớ đề cử ông Hoài
Anh đấy nhá.
Hai hôm sau anh bạn này lại gọi tôi bảo:
- Ê ông ơi, họ khen thưởng ông Hoài Anh thì họ
sang trọng lên ấy chứ. Nhưng khen Hoài Anh bây giờ cũng như không. Tai ông ấy
điếc đặc củ tỷ rồi, nghe thấy cái quái gì nữa đâu. Khổ!...
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét